Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

142 Pages123>»
BẢO TỒN & LƯU TRUYỀN VĂN HÓA
thunder
#1 Posted : Wednesday, March 16, 2011 9:51:19 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)

BẢO TỒN & LƯU TRUYỀN VĂN HÓA




Chào mừng tất cả quý bạn đến với vườn hoa " Bảo Tồn & Lưu Truyền Văn Hoá "
Mong được các bạn hưởng ứng, góp ý cùng bài vở giúp cho nền văn học
nước nhà thêm phần khởi sắc và phong phú .

Thân mến,
thunder
1 user thanked thunder for this useful post.
richard on 8/10/2011(UTC)
thunder
#2 Posted : Wednesday, March 16, 2011 10:04:43 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)

VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM: BIỂU TƯỢNG CHO VĂN HÓA VIỆT


Trong số hàng nghìn di tích lịch sử của Hà Nội, thì Văn Miếu là một di tích gắn liền với sự thành lập của kinh đô triều Lý, đã có lịch sử gần nghìn năm, với quy mô khang trang, bề thế nhất, tiêu biểu cho Hà Nội và cũng được coi là biểu tượng cho văn hóa lịch sử Việt Nam


Văn Miếu Quốc Tử Giám - Ảnh: cinet


Theo Đại Việt sử ký, vào mùa thu năm Canh Tuất - 1070, Vua Lý Thánh Tông đã cho khởi công xây dựng Văn Miếu để thờ các bậc tiên thánh tiên hiền, các bậc nho gia có công với nước, trong đó có thờ Khổng Tử - người sáng lập ra nền nho giáo phương Đông và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam.

Sáu năm sau - năm 1076, Vua Lý Nhân Tông quyết định khởi xây Quốc Tử Giám - một trường Nho học cao cấp nhất hồi bấy giờ nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước. Đây là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu sự chọn lựa đầu tiên của triều đình phong kiến Việt Nam về vấn đề giáo dục, đào tạo con người Việt Nam theo mô hình Nho học châu Á.

Tọa lạc trên khuôn viên hơn 54.000m2, khu di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám nằm giữa bốn dãy phố, cổng chính ở đường Quốc Tử Giám (phía Nam), phía Bắc giáp đường Nguyễn Thái Học, phía Đông giáp phố Tôn Đức Thắng, phía Tây là phố Văn Miếu. Bên ngoài có tường vây bốn phía, bên trong chia làm 5 khu vực.

Khu vực 1 gồm có Văn hồ (hồ văn); Văn Miếu môn, tức cổng tam quan ngoài cùng, cổng có ba cửa, cửa giữa to cao và xây hai tầng, tầng trên có ba chữ Văn Miếu môn.

Khu vực thứ hai, từ cổng chính đi thẳng vào cổng thứ hai là Đại Trung môn, bên trái là Thánh Dực môn, bên phải có Đạt Tài môn. Tiếp trong là Khuê Văn Các (được xây dựng vào nǎm 1805).


Khuê Văn Các - Ảnh: cinet


Khu vực 3 là giếng Thiên Quang (Thiên Quang Tỉnh có nghĩa là giếng trời trong sáng). Tại khu vực này có 82 bia Tiến sĩ dựng thành hai hàng, mặt bia quay về giếng, là một di tích thật sự có giá trị.

Qua cửa Đại Thành là vào khu vực thứ 4, cửa Đại Thành cũng mở đầu cho những kiến trúc chính như hai dãy Tả Vu và Hữu Vu, chính giữa là Toà Đại Bái đường, tạo thành một cụm kiến trúc hình chữ U cổ kính và truyền thống. Xưa, đây là nơi thờ những vị Tổ đạo Nho.

Khu trong cùng là nơi giảng dạy của trường Quốc Tử Giám thời Lê, nhiều thế hệ nhân tài "nguyên khí của nước nhà" đã được rèn giũa tại đây. Khi nhà Nguyễn dời trường Quốc học vào Huế, nơi đây dùng làm đền thờ Khi Thánh (cha mẹ Khổng Tử), nhưng ngôi đền này đã bị hư hỏng hoàn toàn trong chiến tranh...


Bia tiến sỹ - Ảnh: cinet


Bố cục của toàn thể Văn Miếu như vậy muộn nhất là cũng có từ đời Lê (thế kỷ 15 - thế kỷ 18). Riêng Khuê Văn Các mới được dựng khoảng đầu thế kỷ 19, nhưng cũng nằm trong quy hoạch tổng thể vốn có của những Văn Miếu (như Văn Miếu ở Khúc Phụ, Trung Quốc, quê hương của Khổng Tử, có đủ Ðại Trung Môn, Khuê Văn Các, Ðại Thành Môn, Ðại Thành Ðiện, bia tiến sĩ...). Khuê Văn Các ở Văn Miếu Hà Nội thường là nơi tổ chức bình các bài văn thơ hay của các sĩ tử.

Hiện trong di tích còn có 82 tấm bia đá, trên đó được khắc tên của 1306 vị đã từng đỗ tiến sĩ trong 82 kỳ thi từ giữa năm 1484 và 1780. Cũng trên các tấm bia này đã ghi lại người đỗ tiến sĩ cao tuổi nhất trong lịch sử là ông Bàn Tử Quang. Ông đỗ tiến sĩ khi 82 tuổi. Người trẻ nhất là Nguyễn Hiền, quê Nam Trực (Nam Định), đậu trạng nguyên năm Đinh Mùi niên hiệu Thiên ứng Chính bình thứ 16 ( tức năm 1247) dưới triều Trần Thái Tông khi đó mới 13 tuổi. Từ đó Văn Miếu cùng Quốc Tử Giám - được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam đã tồn tại đến thế kỷ 19.

KIẾN TRÚC VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA



Ngôi trường đại học đầu tiên của Việt Nam, Văn Miếu - Quốc Tử Giám là một trong số những công trình kiến trúc tiêu biểu. Văn Miếu - Quốc Tử Giám gắn bó chặt chẽ với lịch sử phát triển của văn hóa Thăng Long - Hà Nội, là nơi thờ các bậc thánh hiền đạo Nho, thờ thầy giáo Chu Văn An, bậc thánh hiền, người thầy mẫu mực của làng văn, làng học.

Có thể nói, kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám là một khu di tích đặc biệt của thủ đô Hà Nội, được bao quanh bởi những viên gạch vồ cỡ lớn. Tổng thể công trình ẩn hiện dưới những vòm cây toát lên một không khí thâm nghiêm cổ kính và rất đỗi huyền bí. Lối vào chính khu Văn Miếu là Văn Miếu môn (cổng phía Nam) có dạng cổng tam quan cao hai tầng, có cổng chính và hai cổng phụ, tạo nên một tổng thể kiến trúc uy nghi nhưng không kém phần thanh thoát. Hai phía trước cổng có bia hạ mã (xuống ngựa), nhắc nhở người quân tử và những người qua lại không ngồi trên ngựa hoặc trên xe để tỏ lòng thành kính nơi tôn thờ.

Trên bức tường hoa ở cuối lớp không gian thứ nhất (từ Văn Miếu môn đến Đại Trung môn) có ba cửa đi: cửa Đại Trung (lấy tên đầu hai bộ sách quan trọng của Khổng tử: Đại học, Trung dung) là cửa giữa. Hai bên là cửa Thành Đức (trở nên đạo đức), cửa Đạt Tài (trở nên tài giỏi). Cửa Đại Trung có cấu trúc khung gỗ, mái ngói, bậc thềm bó đá. Lấp ló phía sau là Khuê Văn các in hình trong Thiên Quang - ánh sáng của trời. Sự tuyệt diệu của Khuê Văn các chính là bởi ý nghĩa biểu trưng: Các là lầu; Khuê là sao Khuê, là biểu tượng của vị thần phụ trách; Văn là cái đẹp, cũng có nghĩa là văn hóa. Văn hóa là thành tựu mà con người mô phỏng, phóng tác từ quy luật tự nhiên theo sự sáng tạo khác nhau. Nhìn nhận một cách hữu hình, có thể hiểu: Khuê Văn các (ở phía Nam) là đứng ở trên lầu nhìn ra 4 phương 8 hướng. Hình tròn và hình vuông với 8 tiếp điểm thể hiện sự gắn bó giữa quy luật và thực tế nhằm phục vụ con người. Có thể coi đây là tượng đài ca ngợi vẻ đẹp của văn chương, một nét đẹp rực rỡ toả sáng soi bóng dưới “mặt gương lớn” và duyên dáng thêm với những điểm tô của vườn bia. Với đường nét kiến trúc cân đối, hài hòa giữa các tỉ lệ và bộ phận cấu thành, Khuê Văn các đã được chọn làm biểu trưng cho văn hiến Hà Nội, ban ngày thì cao sang tuyệt đẹp, ban đêm dưới ánh đèn chiếu sáng, gác Khuê Văn trở nên lung linh huyền diệu, soi bóng xuống mặt hồ Thiên Quang tỉnh (Giếng trời trong sáng). Gương nước lớn có khả năng soi bóng hình ảnh tuyệt đẹp của Khuê Văn các, chính là cách tiếp cận Văn Miếu - Quốc Tử Giám dưới tính đa diện và sự phân tích nguồn gốc căn nguyên của nguyên tắc hình thể: “Gương nước” ở giữa phản chiếu ánh sáng bầu trời, là sự hàm ý thu nhận văn hóa khai thác để khống chế ánh sáng của trời nhằm phục vụ cho đạo học của con người. Nằm ở giữa trung tâm khu Văn Miếu, tấm gương nước có thể soi bóng tổng thể công trình kiến trúc với hiệu quả thẩm mĩ cao nhất, bộc lộc một nét đẹp độc đáo của kiến trúc hòa quyện với trời mây trong sáng. Khuê Văn các, Đại Thành môn, Vườn bia… đều in hình trong đó như thách thức với thời gian, như gợi mời những nhân tài đất Việt tạo thêm nét duyên dáng vốn có của kiến trúc Văn Miếu.

Người xưa đã xây dựng công trình Văn Miếu - Quốc Tử Giám thuận theo lẽ âm - dương - trời - đất và tự khẳng định chính là nơi hội tụ nhân tài, là một quần thể kiến trúc độc đáo nơi địa linh nhân kiệt. Khởi nguồn từ địa thế: (đứng trên cao) mở rộng tầm nhìn ra 4 phương 8 hướng, từ cõi hư vô suy xét khai thác ánh sáng vẻ đẹp của trời đất mà phục vụ cho sự học của con người - học làm người, tinh luyện văn hóa vật chất mà gây dựng văn hóa tinh thần nhằm tiến tới thành tựu tuyệt diệu cuối cùng của sự tu luyện học vấn một cách đạt thành.

Ý nghĩa của công trình Khuê Văn các và các mối quan hệ với Thiên Quang tỉnh và Đại Thành môn đã thuận theo quan điểm tứ trụ, không nằm ngoài ý nghĩa hướng đạo người quân tử. Đó là do quan điểm tứ trụ mà thành: Thiên - địa - nhân. Con người phải đem (trí tuệ) để hài hòa thiên - địa - nhân, đem tri thức để giúp đời mới là người có tri thức. Tư tưởng Nho giáo do Khổng tử - nhà giáo dục tư tưởng lớn của Trung Hoa với Tứ Thư, Dịch, Lễ, Xuân Thu) đã tập hợp những tư tưởng triết lý, luân lý đạo đức mà cái phép lớn nhất là phép ứng xử: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín… Các khoa thi, các vị Tiến sĩ của nền giáo dục xưa được ghi danh lại nơi những văn bia; những câu đối, những môtíp trang trí không chỉ đơn thuần làm đẹp mà còn là sự nhắc nhở những điều hay lẽ phải. Tất cả đều là đạo đức cổ nhân. Vườn bia có 82 bia nằm thành hai dãy cân đối hai bên Thiền Quang tỉnh, với lối kiến trúc thấp, giản dị nhưng lại hài hòa với tổng thể. Việc chạm khắc chữ Hán trên bia là một công trình nghệ thuật đặc sắc. Trán bia cong thường có hình hai rồng chầu mặt nguyệt, rồng được cách điệu rất tinh tế trở thành những đám mây uyển chuyển, sinh động. Diềm bia được trang trí hoa văn hình hoa lá cách điệu kết hợp với chữ triện. Đế bia hình rùa tạo hình vững chãi, bền chắc mang ý nghĩa trường thọ, vĩnh cửu. Hình tượng con rùa biểu thị cho sự trường tồn vĩnh cửu…

Rùa, theo Từ điển biểu tượng thế giới, là thuộc nam tính và nữ tính: thuộc loài người và vũ trụ, ý nghĩa biểu trưng của nó trải rộng ra khắp các miền của trí tưởng tượng. Mai rùa phía trên như bầu trời, giống như biểu tượng của mái vòm, phía dưới phẳng như mặt đất. Riêng thế cũng đã có thể minh chứng rùa như một biểu tượng đầy đủ của vũ trụ.

Xưa kia, Nữ Oa đã cắt 4 chân rùa để thiết lập 4 cực của thế giới. Còn trong các mộ phần của Hoàng đế, mỗi cây cột đều được đựng trên một mai rùa… Liệt tử thì coi các đảo tiên chỉ có thể đứng vững khi chúng được cõng trên mai rùa… Dù là biểu thị cho những quyền năng ma thuật trong bói toán (Hà đồ, Lạc thư), hay những lập luận của các chức năng cõng vũ trụ, sinh ra tinh đẩu, tinh tòa hay đức sinh của một tổ phụ thông thái và cát tường… thì rùa vẫn là một người bạn, một biểu tượng của quán tưởng, của sự trở lại trạng thái khởi nguyên, một tư thế cơ bản của trí tuệ.

Đến với Việt Nam, đến với kiến trúc ở Văn Miếu - rùa lại mang theo tinh thần “trường thọ”, 82 rùa đội bia, trên 82 tấm bia có ghi những người đỗ đầu, đậu Tiến sĩ trong các khoa thi từ năm 1442 đến 1780, trên bia có những bài văn ca ngợi công đức các vua anh minh chăm lo việc giáo dục nhân tài, như minh chứng lịch sử của đạo học người Việt ta từ trước, gìn giữ trường tồn và nhắc nhở cháu con đời đời tạc ghi ơn trọng của Thiên đế, ơn trọng vua và những hiền tài, để học học nữa, học mãi làm rạng danh liệt tổ liệt tông.


Nội thất bên trong Văn Miếu - Ảnh:
cinet

Mỗi công trình kiến trúc trong tổng thể kiến trúc Văn Miếu đều mang đậm ý nghĩa nhân văn, dù công trình nhỏ hay lớn, chính hay phụ đều toát lên những ý nghĩa sâu xa. Trong đó, phần không nhỏ trong ý nghĩa rất nhân văn, triết lý được gửi gắm trong kiến trúc Văn Miếu, chúng ta thấy Đại Thành môn (ở phía bắc), cổng vào khu đền chính của Văn Miếu, nhìn qua, thấp thoáng hình bóng trang nghiêm của Đại Thành điện. Đại Thành môn có thể được coi là cái tiếp thu Khuê Văn (văn hóa) và ánh sáng trời (Thiên Quang), là kết quả cuối cùng (là cửa vào viên mãn của sự rèn luyện học vấn), nghĩa là, Thành Đạt lớn hay có nghĩa cổng vào của sự Thành đạt… ở đây người xưa muốn khuyên con người hãy nhớ tới môi trường học vấn, gìn lòng, tạc dạ nét đẹp tinh thần để trường học chính là nơi hội tụ giữa xã hội và loài người với tính tự nhiên trong vũ trụ và tuân theo quy luật vận động của trời đất. Khuê Văn các, Thiên Quang tỉnh và Đại Thành môn được đặt trong một kết cấu kiến trúc hết sức hợp lý, khác nào văn hóa của loài người được hun đúc, được chắt lọc từ ánh sáng tuyệt diệu của trời và đơm hoa nảy trái ở đất, mà con người là trung tâm giao hòa. Nhiệm vụ của con người là đem ánh sáng, đem tri thức mà rọi đường cho cổng vào tương lai mới có thể đạt thành viên mãn. Học là học suốt đời, học lấy cái cốt, cái tinh của người xưa mà phát triển phù hợp với thời nay…


Nơi thờ Chu Văn An - Ảnh: cinet

Qua Văn Miếu, tiếp đến với lớp không gian thứ tư, là thành phần chính của Văn Miếu với cấu trúc tòa điện gồm hai lớp nhà: phía trước là Bái đường - nơi hành lễ, hai cánh nhà phụ Tả Vu và Hữu Vu nằm ngay cạnh sân Đại bái. Phía sau là Thượng điện - nơi thờ Khổng tử và các bậc hiền triết Nho giáo. Các gian nhà chuông, nhà trống gợi không khí trường thi kết hợp với những cây cổ thụ cổ kính tạo cho tổng thể kiến trúc một phối cảnh hài hòa tuyệt vời, mang đậm tính nhân văn, yếu tố triết lý và những thâm ý mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Việt.

Tòa Phương đình nối tiếp Bái đường với Thượng điện. Phía sau Đại Thành điện có cổng đi vào khu Thái học, với cấu trúc gần giống Đại Thành môn nhưng quy mô nhỏ hơn. Đây được gọi là khu Quốc Tử Giám, từ thời Lê là nơi giảng dạy và học tập dành cho các Thái tử. Đến đời Nguyễn, Quốc Tử Giám chuyển vào Huế và là nơi thờ các vị phụ mẫu của Khổng tử gọi là đền Khải Thánh. Năm 1946 bị thực dân Pháp đốt phá nhưng đến nay được trùng tu, tôn tạo lại theo phong cách truyền thống.

Giá trị thẩm mỹ của kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám không chỉ được tạo bởi không gian kiến trúc đột phá nhưng lại hòa quyện với không gian xung quanh nó mà hơn nữa là sự kết hợp hài hòa giữa đạo và đời, là thành phẩm của công trình kiến trúc vĩnh cửu trước thời gian. Đó là một hệ thống văn hóa tinh thần bao quanh kiến trúc, là sự kết hợp trọn vẹn của văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Với sự cảm nhận sâu sắc về đạo lý của người xưa gửi gắm qua giá trị thẩm mỹ của kiến trúc, người viết muốn bày tỏ ít nhiều nét đẹp của Văn Miếu - Quốc Tử Giám, dưới góc nhìn văn hóa, một ngôi trường hội tụ tất cả tinh hoa của kiến trúc (nghệ thuật biểu hiện), mỹ thuật (nghệ thuật tạo hình) và tất cả những gì văn hóa nhất để hiền tài đất nước hướng về cội với lòng thành kính nhất mực.

Trải qua bao thăng trầm và những biến cố của lịch sử, Văn Miếu - Quốc Tử Giám không còn nguyên vẹn như xưa. Những công trình thời Lý, thời Lê hầu như không còn nữa. Song Văn Miếu - Quốc Tử Giám vẫn giữ nguyên được những nét tôn nghiêm cổ kính của một trường đại học có từ gần 1000 năm trước của Hà Nội, xứng đáng là khu di tích vǎn hoá hàng đầu và mãi là niềm tự hào của người dân Thủ đô khi nhắc đến truyền thống ngàn năm văn hiến của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội.

Nguồn: Cuộc Sống Việt

1 user thanked thunder for this useful post.
richard on 8/10/2011(UTC)
thunder
#3 Posted : Wednesday, March 16, 2011 10:21:13 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)
Ba vị vua được thờ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám


Ba vị vua, ở hai triều đại nối tiếp nhau nhưng không cùng thời gian với nhau đã có công lớn đối với Văn Miếu Quốc Tử Giám. Họ là tinh hoa của Nhà nước phong kiến Việt Nam thời thịnh trị khi biết lấy sự học và những người có học làm thành gốc rễ của nghiệp dựng nước.

Người khai móng mở nền

Người khai móng mở nền ở Văn Miếu- Quốc Tử Giám là Đức vua Lý Thánh Tông. Ngài người châu Cổ Pháp tính theo quê gốc của Đức vua Lý Thái Tổ. Đại Việt Sử ký toàn thư, quyển một (Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, xuất bản năm 2004) mục Thánh Tông Hoàng Đế có ghi:

"Vua huý là Nhật Tôn, con trưởng của Thái Tông, mẹ là Thái Hậu Kim Thiên Mai thị. Trước là nằm chiêm bao thấy mặt trăng vào bụng, thế rồi có mang, năm Quý Hợi Thuận Thiên thứ 15 (1023), tháng 2, ngày 25 sinh ra vua ở cung Long Đức. Năm Thiên Thành thứ 1, sách phong Đông Cung thái tử - Thái Tông băng, vua lên ngôi, ở ngôi 17 năm, thọ 50 tuổi, băng ở điện Hội Tiên. Vua khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, thương kẻ bị hình, vỗ về người xa, yên ủi người gần, đặt khoa bác sĩ, hậu lễ dưỡng liêm, sửa sang việc văn, phòng bị việc võ, trong nước yên tĩnh, có thể gọi là bậc vua tốt…".

Lý Thánh Tông là người chọn đổi quốc hiệu đất nước từ Đại Cồ Việt có từ thời nhà Đinh thành Đại Việt sau khi lên ngôi. Trong nhiều công việc lớn của mười bảy năm chấp chính có năm 1070, ngài đã làm một công việc quan trọng rất có ý nghĩa với sự học hành của đất nước. Đại Việt Sử ký toàn thư có viết:

Canh Tuất, Thần Vũ năm thứ 2 (1070) (Tống Hy Ninh năm thứ 3).
Mùa xuân làm điện Tử thần.
Mùa hạ, tháng 4, đại hạn, phát thóc và lụa ở trong kho để chẩn cấp cho dân nghèo.

Đặc biệt là chuyện này:

Mùa thu, tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế, Hoàng thái tử đến đây học.

Sách đã chú thích Tứ phối gồm các vị tiên Nho là Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử. Các ngài là bốn người học trò xuất sắc của Khổng Tử được người đời thờ phụng bên Thầy. Còn Thất thập nhị hiền là 72 người học trò giỏi nữa của Đức ngài Khổng Tử cũng được thờ. Đây là khuôn mẫu để làm Văn Miếu và thờ tự theo nguồn gốc Nho học bắt đầu từ quê hương của Khổng Tử, việc mà các nước phương Đông mộ đạo thường có để tỏ lòng tôn kính với chữ nghĩa của Thánh hiền!

Như vậy là dưới thời trị vì của vua Lý Thánh Tông có thể nói lần đầu tiên đất nước ta có được một cơ ngơi tương đối chính quy cho việc học hành. Người đứng đầu đất nước đã nhận thức ra tầm quan trọng của sự học trong hai lẽ là tôn trọng chữ nghĩa bằng cách dựng đền thờ người có công khai sáng ra chữ nghĩa và cử người đến để tôi rèn trong nghiệp chữ nghĩa đặng mai sau trở thành hiền tài giúp dân trị nước. Người đầu tiên phải đến đây học là Thái tử. Theo lẽ thông thường Thái tử là người nối tiếp nghiệp vua cha nắm quyền trông coi thiên hạ theo luật cha truyền con nối của chế độ phong kiến! Việc cho Thái tử đến Văn Miếu để học hành là thái độ thực sự cầu thị của người có quyền và muốn quyền đó phát huy bằng tri thức.

Người học trò đầu tiên của Quốc Tử Giám

Quốc Tử Giám là nơi dạy dỗ, rèn giũa các Quốc Tử (nghĩa là con vua) để họ có đầy đủ tư chất và phẩm hạnh thành người kế tục sự nghiệp của phụ vương khi được quyền chấp chính. Hiểu nôm na thì đây là trường dạy dỗ con vua cháu chúa và rộng ra là cả con các quan nữa khi đang trong tuổi học hành cần phải học hành.

Lịch sử về sự học hành của người Việt Nam không phải tới thế kỷ thứ XI mới có mà trước đó rất lâu, tự thuở Hùng Vương dựng nước theo truyền thuyết đã có lớp học do thầy giáo Vũ Thê Lang dạy dỗ nay còn lưu lại sự tích nơi Thiên Cổ Miếu ở Phú Thọ. Nhân dân gọi đây là Đền thờ Thầy giáo. Đền thờ thật trang nghiêm với đôi câu đối đầy tự hào về chốn nổi tiếng :

Hùng Lĩnh trung chi thắng tích
Nam Thiên chính khí linh từ

Có giả thuyết cho rằng nước ta đã có chữ ngay từ thuở trống đồng chim Lạc với lối viết mềm mại mang hình ngọn lửa và được gọi là hỏa tự. Câu chuyện trên chưa được chính sử ghi nhận nhưng có trong các truyền thuyết và các giai thoại. Còn việc ông cha ta xây Văn Miếu- Quốc Tử Giám thì đã có sách ghi.

Đại Việt Sử Ký toàn thư có kể về người học trò đầu tiên của Văn Miếu Quốc Tử Giám chính là Đức vua Lý Nhân Tông. Ngài đến đây nhập học ngay từ thuở vừa rời vú mẹ. Đấy là năm 1070 lúc cơ ngơi sự học được xây dựng và ngài được vua cha cho vào đây học khi vừa 5 tuổi, tính theo tuổi mụ - Đức vua Lý Nhân Tông sinh năm 1066!

Sử xưa kể về Đức vua Lý Nhân Tông như thế này
:

Ngài khi lên ngôi có tên hiệu là Nhân Tông Hoàng đế. Ngài là kết quả của mối tình tuyệt đẹp giữa ông vua cao tuổi hiếm con trai Lý Thánh Tông với cô gái tài sắc vẹn toàn đứng tựa gốc Lan miền Kinh Bắc.

Lý Nhân Tông có tên huý trước khi chấp chính là Càn Đức. Ngài là con trưởng của vua Lý Thánh Tông và Hoàng phi Ỷ Lan. Vua sinh vào ngày 25 tháng Giêng năm Bính Ngọ, Long Chương Thiên Tự thứ 1. Chỉ một ngày sau khi người phi yêu sinh hoàng nam, ông vua hiếm muộn ấy đã lập tức phong cho con làm Hoàng thái tử. Như vậy là Đức ngài Lý Nhân Tông đã được vua cha ươm mầm mống làm Thiên tử ngay khi mới chào đời. Năm 1072 vua cha băng hà, vua con lên ngôi khi bảy tuổi, có mẹ bên cạnh chỉ đạo và Thái sư Lý Đạo Thành lo giúp việc nước. Ngài ở ngôi rất lâu, 56 năm, từ 1072 đến 1128, thọ 63 tuổi, mất ở điện Vĩnh Quang.

Vua Lý Nhân Tông được người đời đánh giá là một quân vương mẫn tiệp. Ngài là bậc thần võ sáng suốt, lấy hai chữ hiếu nhân để trị quốc và bang giao khiến các nước lớn nể ngại, các nước nhỏ thì quý mến. Trong triều đình các quần thần chung sức thuần phục theo vua vun vén cho các công việc của xã tắc. Đức vua được sử nhận xét là người có thần giúp đỡ, người người ứng theo. Ngài được coi là bậc thông âm luật, biết chế ra khúc hát, thần dân sum vầy đông đúc cùng vua dựng nền thái bình.

Lịch sử đánh giá Đức ngài Lý Nhân Tông là vị vua giỏi của triều Lý. Việc Văn đáng ghi nhận của Đức vua khi còn trẻ là việc năm 1075, tức là chỉ ba năm sau ngày lên ngôi ngài đã cho mở cuộc thi Minh kinh bác học và Nho học tam trường. Đây được coi là khoa thi chính thức đầu tiên trong lịch sử thi cử của nghiệp học hành ở Việt Nam . Trong khoa thi này người đỗ đầu là ông Lê Văn Thịnh. Sau đó ông Lê Văn Thịnh đã được triều đình uy tín và tiến cử làm người dạy dỗ vua Lý Nhân Tông học hành khi ngài đang còn tuổi phải rèn giũa thêm nhiều về chữ nghĩa trong đạo chữ và đạo trị quốc.

Năm 1076 vua Lý Nhân Tông đã cho phép triều đình lập ra Quốc Tử Giám và chỉ thị cho việc tuyển sinh chọn quan viên văn chức những người biết chữ đưa vào học tiếp ở Quốc Tử Giám để cho trình độ được nâng cao hơn. Đây được coi là trung tâm học hành bậc nhất đất nước lúc ấy. Về việc Võ dưới thời vua Lý Nhân Tông ta đã đại thắng quân Tống trên sông Như Nguyệt qua tài chỉ huy thao lược trực tiếp của tướng quân Lý Thường Kiệt cùng sức chiến đấu quả cảm quyết liệt của muôn dân. Cuộc chiến thắng này đã lưu lại cho lịch sử một Tuyên ngôn bất tử về sức mạnh và chủ quyền đất nước:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Dịch nghĩa:

Sông núi nước Nam là của vua nước Nam
Bờ cõi ấy đã rành rành được định tại sách trời
Hà cớ gì những kẻ ngỗ nghịch dám đến xâm phạm
Nếu đến, tất nhiên các ngươi sẽ bị đánh cho không có đường lui

Đây là Võ công lớn của triều vua Lý Nhân Tông. Sau cuộc đại định giữ yên bờ cõi đất nước ấy vua đã làm lễ đại xá, đổi niên hiệu cũ thành niên hiệu mới là Anh Vũ Chiêu Thắng năm thứ 1. Liền đó vua xuống chiếu cầu người nói thẳng, cất nhắc những người hiền lương có công trạng và trình độ học vấn ra làm việc nước…

Đời cha đã làm được một công việc lớn cho dân tộc, xây Văn Miếu, khẳng định tầm vóc quan trọng và tối linh của đạo học đối với đất nước đến đời con, nối tiếp chí lớn của cha đã bồi bổ thêm cho miền đất học này một ý nghĩa chính quy mới mang tên Quốc Tử Giám. Với việc chính thức này một lần nữa thể hiện nỗi khát vọng hiền tài của dân tộc trong tầm nhìn một bậc minh quân mà ngay khi còn là Hoàng Thái tử ngài đã được cha cho vào ăn mày lộc chữ của Văn Miếu. Ta có thể coi cha con Đức vua Lý Thánh Tông là các vị có công đầu đối với miền linh học này của dân tộc!

Người kế thừa và nâng cao tầm vóc Miếu Văn

Ngài là Đức vua Lê Thánh Tông, con trai thứ tư của Đức vua Lê Thái Tông. Vua sinh năm 1442 mất năm 1497. Ngài ở ngôi 38 năm. Triều đình thời ngài cai quản có đặt hai niên hiệu, đó là Quang Thuận và Hồng Đức. Lê Thánh Tông được sử sách đánh giá là người minh mẫn, sáng suốt, thâm thúy về văn, giỏi giang về võ... Đất nước ta dưới thời ngài cai quản là một Đại Việt hưng thịnh. Nhà nước Trung ương phong kiến tập quyền của ngài đã giúp nhà vua có một bộ máy cai quản hoàn thiện từ triều đình tới địa phương. Bộ luật Hồng Đức thời ngài ra đời được coi là luật pháp thành văn bản hoàn chỉnh nhất so với trước đó.

Cùng những năm tháng này bản đồ đất nước được ra đời. Hồng Đức bản đồ được thực hiện bằng chiếu chỉ của vua ban xuống các đạo với nội dung cho bề dưới xem ở trong các hạt mình cai quản có thế núi hình sông thế nào, thuận lợi và những hiểm trở cùng các văn vật đặc sản, sự tích rồi vẽ ra và chép lại. Cuối cùng từ các bản đồ địa phương ấy triều đình đã tập hợp lại thành tấm bản đồ Đại Việt. Đây có thể coi là tấm bản đồ đầu tiên của đất nước do triều đình và nhân dân Đại Việt tạo ra thời Lê Thánh Tông.

Cũng những năm tháng nhiệm kỳ này nhà vua đã sai Sử thần Ngô Sĩ Liên soạn bộ sách Đại Việt Sử Ký toàn thư. Theo "Việt Nam sử lược" của học giả Trần Trọng Kim, Bộ sử được chia làm hai bản. Bản đầu kể chuyện từ thời Hồng Bàng đến giai đoạn Mười hai sứ quân được viết thành 5 quyển. Bản sau kể từ Đức vua Đinh Tiên Hoàng cho đến triều đại của Đức vua Lê Thái Tổ có 10 quyển. Toàn bộ sách sử ký gồm 15 quyển. Đây là Bộ sử ký hết sức giá trị thường được các nhà nghiên cứu sau này dựa vào đấy tìm hiểu, lấy các cứ liệu và sự kiện cho các công việc có liên quan của mình về lịch sử dân tộc!

Việc học hành và thi cử dưới thời vua Lê Thánh Tông được đánh giá là kết quả nhất so với trước đó và cả với những triều đại phong kiến sau này ở những kỳ thi Hán học cuối cùng của triều Nguyễn.

Được biết năm 1463 nhà vua định lệ 3 năm sẽ có một kỳ thi hội. Từ năm 1463 đến năm 1496, với 33 năm ấy nhà vua đã cho tổ chức được 12 khoa thi và lấy đỗ được 502 Tiến sĩ trong đó có nhiều người nổi tiếng như Lương Thế Vinh, Phạm Đôn Lễ, Vũ Tuấn Chiêu…

Đền thờ các bậc Thánh chữ ở Miếu Văn tiếp tục được tu sửa lại, Trường học Quốc Tử Giám được mở rộng hơn. Đây được đánh giá là một cuộc sửa sang có quy mô lớn và hình thức khang trang. Cũng từ lúc này việc tuyển người vào học ở Quốc Tử Giám trước kia chỉ chọn con vua, con quan nay được phép tuyển thêm cả con em của các người dân bình thường miễn là họ giỏi nghiệp đèn sách. Những người học ở Quốc Tử Giám được gọi là Giám sinh.

Nhà vua lệnh cho triều đình chuẩn bị và khởi xướng công việc dựng bia ở Văn Miếu vào năm 1484. Theo lệnh vua tấm bia được dựng đầu tiên là tuyên dương những hiền tài đỗ đạt trong cuộc thi năm Nhâm Tuất Đại Bảo thứ ba tức năm 1442 đúng năm Lê Thánh Tông sinh ra. Tấm bia này được làm với nội dung truy dựng có lời soạn văn bia chứa một câu văn rất nổi tiếng:

Hiền tài là nguyên khí quốc gia


Nội dung bia do Văn thần Thân Nhân Trung phụng soạn. Cũng từ đây những người đỗ đạt hiển vinh sẽ thành lệ được khắc tên lên đá, được xướng danh ghi tên trên bảng vàng, được vua ban mũ áo rồi cho lễ vinh quy về quê hương bái tổ... Đây là cái đạo chân chính của người làm vua khi biết lấy cái gốc cho sự trị vì của mình bắt đầu từ sự học và coi trọng người có học.

Có học mới có người có tài. Tất nhiên muốn nên hiền tài của quốc gia người có học vấn cao ấy cũng phải có cái tâm đức cao như vậy! Ba vị vua, ở hai triều đại nối tiếp nhau nhưng không cùng thời gian với nhau đã có công lớn đối với Văn Miếu Quốc Tử Giám. Họ là tinh hoa của Nhà nước phong kiến Việt Nam thời thịnh trị khi biết lấy sự học và những người có học làm thành gốc rễ của nghiệp dựng nước. Tượng thờ ba ngài ở lầu hai nhà Thái Học Văn Miếu- Quốc Tử Giám là sự tri ân của dân tộc với những người có công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

S/T Net
1 user thanked thunder for this useful post.
richard on 8/10/2011(UTC)
Hạ Vi
#4 Posted : Thursday, March 17, 2011 6:10:03 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,346
Points: 16,924
Location: CỏThơm

Thanks: 4138 times
Was thanked: 10023 time(s) in 2484 post(s)
"Tình Khúc Mùa Đông"

Thanh Trang





Dalat 1968.
Rời khỏi quân Trường Thủ Đức vào giữa tháng 10, cuối tháng đó tôi đã có mặt ở Dalat để trình diện tại Trường Võ Bị Quốc Gia với chức vụ Giáo Sư Kinh Tế. Qua tháng 11, mùa Đông ở vùng này, người bạn gái tôi quen ở trường Luật từ nhiều năm trước, lúc bấy giờ làm việc tại Sài Gòn, cùng với cô em gái lên thăm tôi. Hai chị em ở lại đấy một tuần lễ. Thị Xã Dalat xem trên bản đồ thì với các vùng phụ cận, Ấp này Ấp nọ, trông có vẻ rộng, thế nhưng những khu vục có nhà cửa phố xá xây cất từ sang trọng đồ sộ cho đến “coi đuợc” về mặt xây cất thì cũng “vầy vậy thôi” chứ chả có thấm tháp gì so với thị Xã Đà Nẵng chẳng hạn!

Có những sĩ quan cao cấp trong QLVNCH lên đấy tham dự các lớp học quân sự chuyên ngành chừng dăm bữa nửa tháng đã có lần đùa với tôi rằng những khu phố chính của Dalat, xung quanh chợ Hòa Bình, chỉ cần hít một hơi thờ cho sâu, đi giáp hết một vòng rồi thì mới cần hít thở bình thường trở lại !

Kể như thế là để dẫn đến sự thể là khi người bạn gái của tôi lên thăm thì chúng tôi thường quanh quẩn nơi khu phố xá trên và dưới chợ Hòa Bình, rồi vài đọan quanh bờ hồ Xuân Hương, chỗ có ngôi nhà “Thủy Tạ”, rồi dắt nhau lên mấy ngọn đồi tiếp giáp với bờ hồ. Từ đấy có thể ngó vè phía Giáo Hoàng Chủng Viện, Viện Đại Học Dalat và khu trường Yersin ở hướng Đông Bắc. Chẳng đi đâu xa hơn như Hồ Than Thở, “Thung Lũng Tình Yêu”,

… Phần vì trời lạnh, phần vì trong ngày có những giờ giấc tôi vẫn phải ra vào quân trường, và chủ yếu cũng vì khi người ta yêu nhau và có nhau bên cạnh thì hình như cũng chả cần đến ngọai cảnh cho lắm! Đi lang thang đây đó là khi người ta buồn tình đời gì đầy kìa! Gần nhau như thế khoảng một tuần thì đến ngày tạm biệt. Cô ấy về lại Sài Gòn rồi thì tôi bắt đầu có những mối băn khoăn lớn.

Quen biết, gần gụi với nhau đã nhiều năm thì tất nhiên cũng phải nghĩ đến chuyện chừng nào thì lấy nhau làm vợ làm chồng. Tôi là đàn ông con trai, năm ấy mới có hai mươi sáu thì chả có làm sao cả, thế nhưng người ta là con gái, mà con gái trên hai mươi lăm thì người ta rất “làm sao” từ cữ tuổi ấy trở đi!

Trước kia còn quanh quẩn với nhau ở Sài Gòn thì không nói làm gì, nhưng bây giờ đã là một sự “đôi ngả đôi ta” về mặt khoảng cách; và tôi lúc ấy cũng đã bắt đầu suy nghĩ cho thật kỹ về kế họach nhà trường gửi các Giáo Sư của mình đi ngọai quốc du học. Không phải tu nghiệp mà là du học, bởi trình độ giảng dạy cho Sinh Viên Sĩ Quan về mặt văn hóa trong bốn năm đã tương đuơng với bậc Đại Học trong toàn quốc.

Những ngày như thế thì chiều đến, sau giờ làm việc ở quân trường, tôi mới bắt đầu lang thang ở những quán cà-phê nổi tiếng phía bên trên khu chợ Hòa Bình! Bắt đầu lang thang đến khu nhà “Thủy Tạ” ven hồ. Bắt đầu lang thang lên mấy ngọn đồi giáp ranh với bờ hồ, nhìn ngang ngó ngửa giữa trời mây non nước trong tư thế “trầm ngâm”. Lúc bấy giờ đã qua tháng Mười Một trong năm. Có nghĩa là ban ngày trời dã lạnh thì đêm đến lại lạnh hơn, và sương sớm hay sương khuya cũng dày đặc hơn.

Một đêm như vậy, tôi trở về khu Cư Xá dành cho Sĩ Quan Độc thân là cái Khách Sạn Thủy Tiên II mà chính phủ đã trưng dụng! Người cùng phòng với tôi là một anh Kỹ Sư Điện mà trùng hợp thế nào trước đấy cùng chung Đại Đội với tôi ở Thủ Đức, cùng về trình diện một ngày với tôi ở quân trường, được bổ nhiệm làm Giáo Sư trong Khoa Điện, rồi cũng lại đuợc sắp xếp cho ở cùng phòng với tôi tại khu Cư Xá Sĩ Quan!
Suốt mấy tuần liền anh ấy mất ngù triền miên. Hỏi lý do thì khai ra rằng “vì nhớ cô bồ ở Sài Gòn”.

Tôi hỏi :”Thương nhau nhiều không ?”

Đáp :”Tụi tôi thương nhau lắm! Trước sau gì cũng lấy nhau!”

Tôi nói :”À, thương nhau và gắn bó với nhau cỡ đó rồi có mất ngủ thì ít ra cũng còn có lý“!

Vậy thì nếu như anh bạn cùng phòng có mất ngủ vì nhớ người yêu thì riêng tôi lại chả có sao cả, tôi vẫn ngủ bình thường ! Bây giờ nhìn lại thì tôi mới sực nhớ ra là suốt một cuộc đời, dù trong hòan cảnh nào đi nữa tôi cũng không bị chứng mất ngủ.

Kể cũng lạ! Có điều là khi nào “trâm ngâm” hay “tư lự” thì tôi “trầm ngâm”, “tư lự” . Nhưng bình thường ra thì tính tôi thích trào lộng. Một hôm như thế, tôi hỏi anh bạn cùng phòng :

”Này ! Cậu thương cô bồ của cậu như thế! Nhưng cậu có chung tình với cô ấy không?”

Đáp :”Chung chứ sao lại không chung?”

Tôi hỏi:”Anh em đàn ông con trai với nhau tôi hỏi thật: Vậy chứ có bao giờ cậu nằm mơ thấy mình giao du thân mật với một người con gái khác hay không ?”

Bấy giờ đến lượt anh ta trâm ngâm vài giây nhưng rồi gật gù, trả lời :”Cũng có!”

Tôi nói :”! Thế thì có khi nào cậu nghĩ rằng cô bồ cậu thương nhớ đến mất ngủ hàng đêm thì có khi chính những đêm cậu mất ngủ cô ấy lại mơ dung dăng dung dẻ với một anh nào khác?”

Anh bạn cùng phòng nhìn tôi đăm đăm, nói hấp tâp :”Ờ nhỉ? Ờ nhỉ?".

Rồi với nét mặt cau có:
”Nhưng ông ăn nói cái kiểu ấy thì tôi lại càng thức trắng đêm thêm!"

Tôi đâm chột dạ vì hình như mình có sơ hở điều gì đấy cho nên vội vàng trấn an anh bạn :
”Ấy chỉ là giả thuyết thôi cậu ạ!"

Miễn sau này người ta chịu lấy cậu là đuợc, còn họ có mơ thấy ai khác thì tốt hơn cả là mình cứ coi như không biết cho nó khỏe cái tâm thân!”

Anh bạn lại càng cau có :”Đâu có đuợc!”

Không đầy nửa năm sau thì anh bạn ấy đuợc biệt phái trở về Sài Gòn. Tôi đi du học trở về nước vào năm 73, một buổi chiều đi ngang khu Bưu Điện Sài Gòn, thấy có ai đứng một bên đuờng kêu tên mình ơi ới. Hai bên cùng băng qua đuờng để tay bắt mặt mừng với nhau thì đấy không ai khác hơn anh bạn cùng phòng năm xưa như vừa mới kể. Người đi bên cạnh anh ấy mà anh ấy giới thiệu là vợ thì cũng không ai khác hơn cô gái mấy năm xưa khiến anh chàng mất ngủ triền miên ở Dalat! Trông mặt là tôi nhận ra liền, bởi anh chàng kia để hình cô nàng nơi bàn ngủ đầu giường tại căn phòng của khu Cư Xá Sĩ Quan độc thân của Trường Võ Bị Quốc gia khi xưa!


Anh Kỹ Sư tên Đức, người bạn tôi vừa kể ở trên là người đầu tiên nghe bài “Tình khúc mùa Đông” qua tiếng đàn ghi-ta của tôi ngày ấy.
Một đêm, khoảng hai ba giờ sáng tôi chợt thức giấc, lấy giấy kẻ nhạc ra, bật đèn lên để viết các nốt nhạc cho đoạn giữa của bài hát.
Hình như trong giấc ngủ thì tâm trí của con người ta vẫn tiếp tục làm việc.

Trọn ngày hôm sau, dù là đi đâu hay đang làm gì thì đầu óc tôi cũng cứ quanh quẩn với phần lời hát. Khuya đến, tôi ngồi chép lại toàn bộ lời hát như trong ngày mình đã tạm coi như ưng ý.

Xong rồi thì lôi đàn ra đàn từ đầu đến cuối để coi xem lời hát và giai điệu đi với nhau ra sao. Ở giường phía bên kia, anh bạn cùng phòng nằm nghiệng, một tay chống cằm, lắng nghe. Nghe xong thì anh ta lò dò buớc đến bên cạnh tôi, cầm bản nhạc lên đọc lời và yêu cầu tôi đàn lại cho anh ta nghe! Nghe xong anh ta kết luận :

”Thế này thì ông lại càng làm tôi nhớ cô bồ của tôi thêm nữa! Ở chung phòng vói ông thật là tai họa !”

Cách đó ít ngày tôi gừi bài hát cho Mai Hương ở Sài Gòn. Mai Hương là người đầu tiên hát bài này trong ban nhạc của Nhật Trường bên Đài Quân Đội. Sau Mai Hương thì đến phiên Nhật Trường hát . Nhật Trường hát xong rồi thì tìm người liên lạc với tôi để xin đuợc xuất bản!
Ngày Nhật Trường lái chiếc xe “Simca 1000” đến tận nhà tôi ở ngôi biệt thự thuộc khu An Phú, trên đuờng đi Thủ Đức, để giao tận tay cho tôi mấy chục bản đặc biệt, để có dấu mộc và chữ ký của tác giả,
Thì ít hôm sau tôi đã lên máy bay Boeing rời khỏi nước, đi du học.Người vợ của tôi lúc ấy, và cả cho đên bây giờ, là nhân vật nữ trong bài “Tình khúc mùa Đông”.


Thanh Trang-2008


Lệ Thu

http://www.music.hatnang.com/node/3569


Mắt đã một chiều thu hoen lệ sầu
Tiếng đã lạc loài trong tim nghẹn ngào
Đưa em về chiều thu reo dưới gót
Âm thầm từng hồi giá buốt
Nghe tiếng đông sang

Nhớ những đường về sương rơi mịt mùng
Mắt biếc là màu riêng tôi lạnh lùng
Thương cho người về cô đơn với bóng
Mây chiều lạc loài đã xuống
Với thu mênh mông

Anh lãng du đêm dài cùng khói mây
Hôn tóc em, nghe hồn mình đắng cay
Tháng năm buồn miệt mài từng ngón tay
Khi về còn xao xuyến ru hồn người đắm say

Nhớ mãi từng chiều thu rơi ngàn trùng
Tóc đó là vùng mây trôi ngập ngừng
Đêm mong người về cho vơi giá buốt
Nghe hồn từng mùa đã khuất
Tiếc thu mênh mông....





1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
richard on 8/10/2011(UTC)
thunder
#5 Posted : Thursday, March 17, 2011 9:19:49 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)
Sông nước trong tiếng miền Nam


Nam bộ là vùng đất sông nước, ruộng vườn. Sông rạch chằng chịt gắn bó bao đời với sinh hoạt, chi phối đời sống kinh tế cũng như đời sống tinh thần của con người. Bài viết này muốn nhấn mạnh tác động của thiên nhiên đến môi trường sống, đến tính cách, tâm lý của con người và tính cách, tâm lý đó sẽ ảnh hưởng đến cách sử dụng ngôn từ đặc trưng của mỗi vùng, miền .


Sông nước là một phần, nếu không nói là phần quan trọng nhất
của sinh hoạt người miền Tây Nam bộ.


Nam bộ là miền đất nhiều sông lắm rạch. Số từ ngữ chỉ những sự vật, hiện tượng liên quan đến sông nước vì vậy vô cùng phong phú, là nguồn đóng góp của phương ngữ Nam bộ vào ngôn ngữ toàn dân (NNTD): rạch, xẻo, con lươn, bùng binh, tắt, rỏng, vàm, lung, láng, bưng, bàu, cù lao, cồn, giồng…; nước lớn, nước ròng, nước rong, nước nổi, nước kém, nước đứng, nước nhửng, nước ương…; ghe, tam bản, xuồng, vỏ lãi, tắc ráng... Những từ ngữ này không chỉ đi vào lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân vùng đất này, là yếu tố cấu tạo của nhiều địa danh mà còn phản ánh bối cảnh sáng tác của những câu hò, điệu hát dân gian và là mảnh đất tốt để nhà văn, nhà thơ khai thác.

Ngoài những ý nghĩa chung phản ánh những sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên, nhiều từ ngữ sông nước còn được dùng theo nghĩa phái sinh để gọi tên những sự vật, hiện tượng khác theo cách mở rộng nghĩa. Năm 1895, Huỳnh Tịnh Paulus Của trong Đại Nam Quốc âm tự vị đã định nghĩa từ bùng binh: “khúc sông rộng phình tròn ra”. Đến năm 1970, Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức ghi nghĩa từ bùng binh là “khu đất rộng nối các trục đường trong thành phố”: bùng binh Ngã Sáu, bùng binh Ngã Bảy… Như vậy một từ chỉ sông nước đã được dùng để gọi tên giao lộ của các con đường trong thành phố.

Nếu phương ngữ Bắc bộ gọi loại ôtô lớn chở hành khách trên các tuyến đường dài, thường là các đường liên tỉnh là ôtô ca (hay xe ca, xe khách) thì phương ngữ Nam bộ gọi là xe đò theo nghĩa đò là “thuyền chở khách trên sông nước theo một tuyến nhất định”.

Trong Từ điển tiếng Việt (viện Ngôn ngữ học), quá giang là “đi đò ngang qua sông”. Ngoài nghĩa đó, phương ngữ Nam bộ còn có thêm cách dùng phổ biến “đi nhờ một phương tiện vận tải nào đó” (vẫy xe xin đi quá giang một đoạn).

Khi thuyền chở đầy và nặng, không thể chở hơn được nữa, người ta nói là thuyền khẳm: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm...” (Nguyễn Đình Chiểu). Phương ngữ Nam bộ còn mở rộng nghĩa của khẳm là “quá nhiều, quá sức chứa”. Ví dụ: tiền vô khẳm, lời khẳm, thêm một ly nữa là khẳm… Chìm xuồng cũng thường được dùng ở nghĩa bóng: “cố ý bỏ qua, không đề cập tới nữa”: vụ đó kể như xử chìm xuồng rồi.

Phần lớn làng xã ở Nam bộ đều nằm hai bên bờ sông rạch. Từ đây dẫn đến một đặc điểm là đặt địa danh gắn liền với sông nước. Nhiều địa danh ở các tỉnh Nam bộ và Sai Gon mang tên nhóm từ sông nước này: Bàu Mây, Cồn Phụng, Cù Lao Dài, Giồng Trôm, Giồng Quéo, Láng Cò, Rạch Cá Trê, Rạch Cá Lóc, Rạch Bà Mụ… (Bến Tre); Vàm Cỏ (Long An); Vàm Cống (An Giang); Tắt Thủ (Cà Mau); Bàu Nai, Bàu Cát, Giồng Ông Tố, Bưng Sáu Xã, Rạch Chiếc, Rạch Miễu, Láng Le, Láng Thé, Rỏng Tràm, Rỏng Bàng, Vàm Sác… (Saigon).

Nếu so sánh địa danh ở các tỉnh Nam bộ với địa danh ở các tỉnh Bắc và Trung bộ, chúng ta dễ dàng nhận thấy tính bình dị, dân dã của địa danh Nam bộ, trong đó các địa danh có từ ngữ sông nước kết hợp với danh từ chỉ động vật, thực vật, tên người nổi tiếng trong vùng… chiếm một tỷ lệ khá lớn.

Những hình thức văn học dân gian như ca dao, hò, lý, cải lương… cũng đã khai thác và phản ánh những hình tượng thiên nhiên, tâm tư, tình cảm con người… qua những từ ngữ sông nước này. Trong ca dao Nam bộ, hình ảnh ghe xuồng, sông rạch xuất hiện với tần số cao.

Trong số các nhà văn Nam bộ, nhà văn lão thành Sơn Nam đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sáng tác và khảo cứu về vùng đất và con người Nam bộ. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết về Sơn Nam: “Là nhà văn, đi đâu anh cũng quá giang theo xuồng ghe của thương hồ. Anh đi sông lớn, sông nhỏ, theo kinh theo rạch, anh đi khắp cả sông nước miền Tây” (tạp chí Sông Hương, số 235, 9.2008). Bởi thế không lạ gì khi những từ ngữ sông nước xuất hiện nhiều trong các truyện và ký của Sơn Nam:

– Con rạch quá nhỏ, uốn ngoằn ngoèo như ruột ngựa, nối liền qua những lung, bàu, tròn tròn méo méo như hình mấy cái bao tử, gan, lá lách… (Hương rừng, tập Hương rừng Cà Mau).
– Dưới sông, từng dề lục bình trôi theo ngọn nước ròng (Giấc mơ ngoài bãi tha ma, tập Hương rừng Cà Mau).
– Bấy lâu nay, ở vùng sông nước chằng chịt với chợ làng, chợ nổi ven sông, đêm thanh vắng nghe những câu hò, câu lý xen nhau dài theo con rạch, con kinh dường như vô tận, qua khúc loi, khúc vịnh, về đêm, trên nhánh bần gie có đóm đậu sáng ngời. (Từ U Minh đến Cần Thơ, Hồi ký).

Một nhà văn khác – nhà văn Nguyễn Ngọc Tư – sớm thành công và nổi tiếng với những sáng tác đậm chất Nam bộ, cũng viết về vùng đất và con người Nam bộ với ngôn ngữ vừa bình dị vừa tinh tế. Trong các tập truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, những từ ngữ sông nước cũng được sử dụng khá nhiều và giàu giá trị biểu cảm.

NamKyQuoc.VN
1 user thanked thunder for this useful post.
richard on 8/10/2011(UTC)
thunder
#6 Posted : Thursday, March 17, 2011 2:51:13 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)


Tình Tự

Sáng hôm nay hồn em như tủ áo,
Ý trong veo là lượt xếp từng đôi.
Áo đẹp chưa anh ! Hoa thắm thêu đời,
Áo mơ ước anh bận giùm chiếc nhé.

Vàng rạng cùng xanh, hồng cười với tía,
Xin mời anh chọn hình sắc yêu đương.
Hồn em đây đủ muôn ánh nghê thường,
Anh hãy bận hồn em màu sáng chói.

Anh có biết hôm nay là ngày hội
Của lòng ta. Em trần thiết, trang hoàng.
Anh đã về; em nghe dưới chân vang
Hoa lá nở với chuông rền giọng thắm.

Thủa chờ đợi, thời gian rét lắm !
Đời tàn rơi cùng sao rụng canh thâu
Và trăng lu xế nửa mái tình sầu,
Gió than thở biết mấy lời van vỉ ?

Lòng em nhớ lòng anh từ vạn kỷ ,
Gặp hôm nay nhưng hẹn đã ngàn xưa !
Yêu giữa đời mà hồn ở trong mơ,
Tình rộng quá, đời không biên giới nữa,

Đây cửa mộng lòng em, anh hãy mở.
Màu thiên thanh rời rợi, gió long lanh
Hồn nhớ thương em dệt áo dâng anh.

Huy Cận
1 user thanked thunder for this useful post.
richard on 8/10/2011(UTC)
Hạ Vi
#7 Posted : Friday, March 18, 2011 3:27:15 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,346
Points: 16,924
Location: CỏThơm

Thanks: 4138 times
Was thanked: 10023 time(s) in 2484 post(s)





CÁNH LÁ PHONG

Thơ: Nhất Tuấn

Em viết gì trên cánh lá phong
Tình ta như biển rộng mênh mông
Bao nhiêu năm với ân tình ấy
Hứa với nhau rồi có nhớ không ?

Mà lỡ quên không nở trách đâu
Một đời em có bốn mùa đau
Nên anh chỉ hỏi người trong mộng,
Ðến kiếp nào ta mới của nhau ?

Thoáng giữa tình xa nét nhạc buồn
Mỗi phần đời rất đổi cô đơn
Cuối thu lá khóc thương tình chết
Từng cánh xô nhau rớt xuống đường

Trên lá khô kia thương tiếc chi
Tình theo đời lá đã bay đi
Tranh cầm sao vẫn từng đêm vắng
Như lệ rơi thầm phút biệt ly

Chỉ của nhau thôi truyện chúng mình
Như tia nắng sớm rất mong manh
Sưởi hồn anh một trời băng giá !
Thơ nhạc và em, em của ai.




1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
richard on 8/10/2011(UTC)
thunder
#8 Posted : Saturday, March 19, 2011 2:32:53 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)



Biển, núi, em và sóng

Xin cảm ơn những con đường ven biển
Cho rất nhiều đôi lứa dẫn nhau đi
Cám ơn sóng nói thay lời dào dạt
Hàng thùy dương nói hộ tiếng thầm thì

Anh như núi đứng suốt đời ngóng biển
Một tình yêu vươn chạm tới đỉnh trời
Em là sóng nhưng xin đừng như sóng
Ðã xô vào xin chớ ngược ra khơi

Anh như núi đứng nghìn năm chung thủy
Không ngẩng đầu dù chạm tới mây bay
Yêu biển vỗ dưới chân mình dào dạt
Dẫu đôi khi vì sóng núi hao gầy...

Cám ơn em dịu dàng đi bên cạnh
Biển ngoài kia xanh quá nói chi nhiều
Núi gần quá - sóng và em gần quá
Anh đủ lời để tỏ một tình yêu.

Đỗ Trung Quân

1 user thanked thunder for this useful post.
richard on 8/10/2011(UTC)
thunder
#13 Posted : Monday, March 21, 2011 5:18:27 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)
LÀNG TRANH ĐÔNG HỒ XỨ BẮC


Nam Việt là một “tặng phẩm” của sông Cửu Long. Hàng vạn năm trước là biển, sông Cửu Long chở phù sa xuống, rồi lần lần mà thành đồng ruộng. Thời tiền chiến, tôi không nhớ rõ là năm một ngàn chín trăm ba mươi mấy, người ta đào được những đồng tiền vàng La Mã ở Óc Eo (gần chân núi Ba Thê), vậy thì khoảng đầu công nguyên, biển vô tới Óc Eo hoặc cách Óc Eo không bao xa, chỉ vài ba cây số. Hồi đó các núi ở Hà Tiên, Ba Hòn, Hòn Trẹm chắc còn nằm ở ngoài biển, không biết từ thế kỷ thứ mấy, miền ấy mới được bồi xong. Ngày nay ai đi ngang qua Ba Hòn, còn thấy trên những núi đá vôi ở sát lộ Rạch Giá – Hà Tiên, có những ngấn nước cao hơn mặt đất khoảng một thước. Vậy thì vùng bờ biển ở đó chắc cũng đã dâng lên nữa, ngoài hiện tượng được phù sa bồi.

Dãy núi từ Hà Tiên tới Hòn Trẹm ấy hiện nay nằm sát hoặc gần bờ biển, nhìn ra các hòn ngoài khơi: hòn Phụ tử, hòn Heo, hòn Phú Quốc...và quay lưng lại một cánh đồng bát ngát (xưa là rừng, nay vẫn là còn đất phèn), xa xa vài chục cây số mới có dãy núi Thất Sơn. Như vậy Hà Tiên là một miền hẻo lánh ở nơi chân trời góc biển. Trước năm 1930, khi chưa có con đường trải đá Rạch Giá Hà Tiên thì thị trấn ấy gần như cô lập với các miền chung quanh: muốn xuống Rạch Giá phải dùng đường biển, mất nửa ngày, mà muốn vô Châu Đốc thì phải đi vòng lên biên giới, mượn một con đường trên phần đất Cao Miên.

Nó đã cô lập mà lại kỳ đặc, không giống một miền nào khác. Thi sĩ Đông Hồ trong cuốn Văn Học Hà Tiên(1) đã tả nó như sau:

“Ở đó (Hà Tiên), kỳ thú thay, như gồm hầu đủ hết. Có một ít hang sâu động hiểm của Lạng Sơn. Có một ít ngọn đá chơi vơi giữa biển của Hạ Long. Có một ít núi vôi ở Ninh Bình, một ít thạch thất sơn môn của Hương Tích. Có một ít Tây Hồ, một ít Hương Giang. Có một ít chùa chiền của Bắc Ninh, lăng tẩm của Thuận Hóa. Có một ít Đồ Sơn, cửa Tùng, có một ít Nha Trang, Long Hải. Ở đây không có một cảnh nào to lớn đầy đủ; ở đây chỉ nhỏ nhắn, xinh xinh, mà cảnh nào cũng có.”

Tóm lại, nó là một tiểu vũ trụ biệt lập, rất hợp cho kẻ nào có chí vẫy vùng, muốn nghênh ngang một cõi.

HỌ MẠC

Kế đó là họ Mạc ở cuối thế kỷ 17. Cũng như Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu không chịu nhận chủ quyền Mãn Thanh, bỏ quê hương mà dắt bộ hạ xuống miền Nam Hải, nhưng Trần và Dương ghé vào Quảng Nam (1679) qui phục chúa Nguyễn Phúc Tần, được chúa cho vào chiếm đất Đồng Nai và Mỹ Tho để tự kinh lý lấy mà lập nên một nơi buôn bán thịnh vượng là Cù Lao Phố(Biên Hòa); còn Mạc thì tiến xa hơn, tới địa phận Chân Lạp (cũng gọi là Giản Phố trại) – tức Cao Miên, tức Campuchia – vào khoảng 1671 (theo Trần Kinh Hòa trong Hà Tiên Mạc Thị Thế Hệ Khảo – Hoa Cương học báo) làm chức “ốc nha”, một chức quan lớn Chân Lạp năm 1700 xin vua Chân Lạp ra khai khẩn miền Banteay Meas, tức Mang Khảm, mới đầu mở sòng bạc, sau qui tụ các người Hoa, Việt, Miên lập ấp, mở hải khẩu, thành lập một tiểu quốc nhưng thường bị giặc Xiêm quấy nhiễu, nên năm 1708, nhận sự bảo hộ của chúa Nguyễn Phúc Chu. Mang Khảm từ đó đổi tên là Hà Tiên, thành một cửa ngõ Chân Lạp mà thuộc về Việt Nam, xuất cảng hầu hết các sản phẩm Chân Lạp.

Nếu chỉ là một hải khẩu thì dù tàu ghe tấp nập, cũng chưa có gì đặc biệt. Điều đáng cho ngày nay chúng ta nhắc nhở nhất là tiểu quốc đó chỉ trong nửa thế kỷ đã thành “một văn hiến quốc” ở giữa một miền hẻo lánh, y như một đầm sen giữa cánh đồng hoang vậy, khiến ai cũng phải ngạc nhiên.

Công ấy là nhờ Mạc Thiên Tích (2), con của Mạc Cửu. Thiên Tích kế nghiệp cha, là đô đốc Hà Tiên năm 1735, thì ngay năm sau, 1736, thành lập Chiêu Anh các, một tao đàn kiêm một nghĩa thục, có thờ Khổng Tử. Ông cha Trung Hoa, mẹ Việt (3), rất đa tài: trị nước, ngoại giao, cầm quân, đặc biệt là có tài văn thơ mà lại rất trọng tiếng Nôm, chiêu tập được 36 (có sách chép là 32) văn nhân thi sĩ vô Chiêu Anh các (gọi là tam thập lục kiệt), trong số đó sáu vị là người Việt còn thì là người Trung Hoa, người Minh Hương, họ từ Thuận, Quảng vô hoặc từ Gia Định tới, hoặc từ Quảng Đông, Phúc Kiến sang. Thiên Tích làm nguyên soái.

Theo Trịnh Hoài Đức, họ sáng tác được sáu bộ sách gồm ba tập truyện và ba tập thơ. Ba tập truyện này đã lạc con ba tập thơ thì có lẽ là:

_Tập Hà Tiên Thập Vịnh gồm 320 bài (4), toàn bằng thơ Hán, mỗi bài do Mạc Thiên Tích chủ xướng, còn các bài kia do các vị trong Chiêu Anh các họa.
_Tập Hà Tiên Thập Cảnh Khúc Vịnh bằng thơ Nôm của Mạc Thiên Tích.
_Tập Minh Bột Di Ngư Thi Thảo gồm những bài thi, phú chữ Hán cũng của Thiên Tích.
Hai tập truyện trên còn truyền được trọn vẹn, tập cuối nay chỉ còn sót được vài bài.

Những sáng tác của nhóm Chiêu Anh các nổi tiếng ngay từ thời đó, và Lê Quí Đôn trong tập Phủ Biên Tạp Lục (1776) đoạn chép về họ Mạc ở trấn Hà Tiên, khen rằng: “Không thể bảo ở hải ngoại xa xôi không có văn chương”, rồi trong Kiến Văn Tiểu Lục lại khen: “Văn thơ nhiều bài hay lắm”. Có giá trị nhất là những bài thơ cả Hán lẫn Nôm của Mạc Thiên Tích. Ngay những người ngoại quốc cũng nhận Hà Tiên là đất văn hiến. Các giáo sĩ dòng Franciscan bảo: “Trong xứ (Hà Tiên) có miếu thờ Khổng Tử mà từ vương (tức Thiên Tích) đến dân ai cũng thờ. Có một nhà nghĩa học dạy các thanh niên ưu tú, nghèo không thể tự túc theo học được. Những người Trung Hoa sang đây mà có khả năng văn học thời mới được mời đến đó dạy học” (5).

Còn sách Văn Hiến Thông Khảo đời Thanh vào năm 1747 chép rằng “phong tục (Hà Tiên) trong văn học , thích thi thơ, có cả một hàn lâm viện nhỏ”(6).

Trong khi đó thì đừng nói chi Gia Định, ngay ở Thuận Hóa cũng chẳng có một thi đàn nào cả. Sự kiện ấy quả thực chưa hề xảy ra trong lịch sử văn học. Ta thử tưởng tượng một nhóm người di cư qua một nước tuy là đồng văn nhưng vẫn là lạ, dựng nghiệp ở một nơi hẻo lánh nhất, mà chỉ nửa thế kỷ sau, làm cho nơi đó trở thành một đất văn bậc nhất trong cõi góp công vào văn học xứ đó bằng chữ của mình và bằng cả thổ ngữ, thì có lạ không chứ?

Tiếc thay nền văn học Hà Tiên bừng lên rực rỡ được 31 năm; đến năm 1771, Hà Tiên bị quân Xiêm đánh chiếm, Thiên Tích phải chạy về Gia Định. Chiêu Anh các tan rã, sách vở bị thiêu hủy, năm 1778 Thiên Tích phải trốn tránh Tây Sơn, qua Xiêm, và hai năm sau, 1780 ông tuẫn tiết ở kinh đô Xiêm; từ đó Hà Tiên cũng cùng với họ Mạc mà suy tàn.

HỌ LÂM

Trong một trăm rưỡi năm, Hà Tiên thiêm thiếp ngủ yên trên bờ vịnh Thái Lan, chỉ còn là một thị trấn nhỏ ở biên giới không ai nhớ tới. Tới khoảng 1926-1928 nó mới được nhắc nhở, vì là quê hương của Đông Hồ Lâm Tấn Phác, một nhà văn mới cầm bút mà đã nổi tiếng ngay về bài khóc vợ Linh Phượng (tức Trác Chi lệ ký tập – Trác Chi là tên tự của ông, Đông Hồ là tên hiệu), và bài phú Đông Hồ, lại sáng lập Trí Đức học xá, trường đầu tiên trong nước chuyên dạy tiếng Việt.

Ngày nay tên Đông Hồ đã quá quen thuộc, phải lùi lại thời đó, trên bốn chục năm trước, mới thấy ngôi sao Đông Hồ rực rỡ ra sao. Khắp nước chỉ có mỗi một tạp chí văn học, tờ Nam Phong; ai muốn được coi là trí thức cũng phải đọc Nam Phong, có thể nói ở Nam Việt làng nào cũng có người mua dài hạn Nam Phong; mà nhóm Nam Phong hầu hết gồm các học giả Bắc, chỉ có vài nhà gốc ở Trung. Vậy mà một người Nam, lại ở Hà Tiên nữa, mới ngoài hai mươi tuổi, chẳng có bằng cấp thành tích gì cả mà chen chân được vào cái “hội” đó thì quả là phi thường. Chẳng những chen chân lại còn được sắp vào hàng kiện tướng, viết nhiều và đủ loại, thơ, nghị luận, tùy bút, lịch sử, du ký. Đặc biệt nhất là giọng văn, y như của một nhà cựu học đất Bắc có pha chút tân học, bóng bẩy, tô chuốt, du dương, trang trọng, thường dùng tiếng Bắc, khác hẳn giọng quá tự nhiên và hơi thô của các cây bút trong Nam thời đó.

Sở trường ấy của ông, khoảng mười năm nay một số người chê là sở đoản. Trong văn chương cũng như trong mọi nghệ thuật khác, thị hiếu thường thay đổi, có vậy mới tiến hóa, nhưng có người quá khích không nhận ông là nhà văn miền Nam nữa, trách ông sao không theo trào lưu văn học miền Nam từ trước tới đầu thế chiến vừa rồi, nghĩa là trào lưu văn học bình dân, giữ màu sắc và ngôn ngữ địa phương, chẳng hạn như văn Hồ Biểu Chánh.

Dĩ nhiên những lời chê đó tới tai ông, nhưng tôi không bao giờ thấy ông lên tiếng, chỉ mới rồi trong cuốn Văn Học Hà Tiên, ông gián tiếp trả lời như sau:

“Đọc những sách báo quốc ngữ miền Nam xuất bản khoảng từ 1900 đến 1920, chúng ta thấy có một lối viết lỏng lẻo hời hợt, mất hẳn văn hóa cố hữu, tế nhị, cổ truyền của hai miền Trung, Bắc(...) Mãi cho đến sau thế chiến thứ nhất 1914-1918, nhờ cuộc giao thông tiện lợi, phong tráo sách báo ở Hà Nội truyền được vào Nam, tình trạng bế tắc này mới thay đổi: Bắt đầu là Nam Phong tạp chí (1917-1934), rồi đến báo Phong Hóa, Ngày Nay ở Hà Nội (1932-1940), báo Tiếng Dân ở Huế (1927) (...) Và từ năm 1925 về sau, có những nhà thơ, nhà văn già từ miền Bắc, miền Trung vào làm báo ở Sài Gòn, như Tản Đà, Ngô Tất Tố, Phan Khôi, Đào Trinh Nhất, Bùi Thế Mỹ, Thiếu Sơn v.v... Chính họ là sứ giả văn hóa cho thời kỷ này (...) Từ đó văn học miền Nam dần dần khởi sắc và cũng từ đó mất dần tính cách đặc thù địa phương mà hòa đồng, thống nhất với văn học dân tộc hai miền Trung, Bắc.”

Vậy chủ trương của ông thật rõ rệt: phụng sự văn hóa dân tộc chứ không phải văn học địa phương, để thống nhất ba miền. Sở dĩ ông có chủ trương ấy – từ hồi nào tôi không rõ, nhưng chắc là sớm lắm – là nhờ ông sinh ở Hà Tiên trong một gia đình nho học.

Hà Tiên thuộc về miền Tây mà miền Tây chịu ảnh hưởng đậm của lưu dân Trung Hoa. Sách Văn Hiến Thông Khảo (do Hãng Nguyên trích bài dẫn trên) chép về sinh hoạt ở Hà Tiên thời Mạc Thiên đến Hà Tiên, để độc giả thấy rõ hai ông bà đã đền đáp cho nơi chôn nhau cắt rốn được những gì. Phần đó là phần hai ông bà quan tâm tới suốt đời mà cũng rất quan trọng, nhưng từ trước tới nay ít ai để ý tới.

Ở trên tôi đã dẫn một đoạn Đông Hồ tả Hà Tiên, và độc giả đã thấy lòng yêu quê hương của ông ra sao, ông cho Hà Tiên gồm đủ các thắng cảnh trong nước, không khác gì một Việt Nam thu nhỏ lại cho thêm phần xinh xinh mà dễ thưởng ngoạn.

Ngay từ khi mới nhập tịch làng văn, Đông Hồ đã giới thiệu quê hương với độc giả Nam Phong. Năm 1926 ông viết thêm Hà Tiên Mạc Thị Sử (Nam Phong số 107) theo một bản Nôm của Trần Đình Quang hồi đầu thế kỷ. Ba năm sau ông can đảm nhận rằng “vì sở học còn kém mà không tìm được bản chánh gia phả họ Mạc” nên thiên đó “còn khiếm khuyết, sai suyển rất nhiều, không thể để lầm cho người đời sau được”, và ông viết lại, Nam Phong số 143 (năm 1929) đăng lại. Lần này ông dùng bản Hán văn Mạc Thị Gia Phả của Vũ Thế Dinh, tự là Thân Vi, viết năm 1818. Tài liệu này tới nay vẫn được coi là tài liệu chính, đầy đủ hơn cả, tuy nhiên có nhiều chỗ cần phải xét lại, nhất là về địa danh, niên đại.

Đông Hồ không dịch nguyên văn, chỉ dùng để viết lại, chưa ra chương tiết, sau khi đã “tham khảo thêm ở các sách Nam sử và ngoại truyện” tăng bổ những chỗ thiếu sót, cải chính những chỗ sai lầm. Năm 1948 ông sửa chữa, cho in lại trong cuốn Danh Nhân Nước Nhà của Đào Văn Hội. Sau khi lên Sài Gòn rồi, ông kiếm thêm được nhiều tài liệu khác trong các bộ sử Việt, như bộ Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, cuốn Un Chinois des mers du Sud, le fondateur de Hà Tiên, Journal asiatique 1952 của Gaspardone, bản dịch và chú thích rất kỹ lưỡng cuốn Mạc Thị Gia Phả đã kể trên, của Trần Kinh Hòa, Văn Hóa Á Châu số 7 tháng 10 năm 1958, ông thấy cần sửa lại lần nữa tập Hà Tiên Mạc Thị Sử nhưng chưa kịp làm thì đã qui tiên. Ông thực là kiên nhẫn và thận trọng. Mặc dầu chưa sửa lại, tập đó hiện nay vẫn còn tạm dùng được.

Năm 1927, nhân dịp đi chấm thi ở Phú Quốc, ông được thăm gần hết cảnh đẹp và di tích trên đảo, về viết một thiên du ký rất đầy đủ, đăng trong Nam Phong số 124 (1927), nhan đề là Thăm Đảo Phú Quốc. Ông nhận xét, ghi chép tỉ mỉ, mà văn du ký của ông tươi đẹp, nên ngày nay đọc lại còn thấy thú.

Trong khoảng mấy năm sau, ông cho đăng trên Nam Phong nhiều thơ văn tả cảnh Hà Tiên như Bơi Thuyền chơi Đông Hồ, Đông Hồ cảnh sớm, Lên chơi núi Đại Tô Châu, Chơi Tô Châu, Cảnh trăng trên Đông Hồ... đáng để ý hơn cả là bài ký Chơi Châu Nham (Nam Phong số 154, năm 1930). Núi Châu Nham tức núi Đá Dựng cách chợ Hà Tiên sáu bảy cây số, cảnh hoang tịch mà đẹp hơn Thạch động. Và bài Phú Đông Hồ rất nổi tiếng. Non hai chục năm sau, hai ông bà cho ra chung một tập nhan đề là Hà Tiên Thập Cảnh và Đường vào Hà Tiên (Bốn Phương 1969). Tập này mỏng, nhỏ chỉ bằng bàn tay, giúp độc giả biết rõ về mười thắng cảnh Hà Tiên. Về mỗi cảnh, Đông Hồ dẫn một bài thơ Nôm, thất ngôn đường luật của Mạc Thiên Tích rồi giảng giải, tả cảnh, kể tích xưa cho ta hiểu rõ thêm. Cuối tập có mươi trang tả bốn năm con đường đưa vào Hà Tiên. Tác phẩm có ích cho khách du lịch.

Trong mấy chục năm đó, Đông Hồ vẫn tiếp tục khảo cứu thêm về Hà Tiên, thu thập tất cả những sách báo Việt, Hán, Pháp viết về Hà Tiên được trên mười tập... Tôi đã thấy ông ghi chú kỹ lưỡng từng tài liệu một, gom lại thành một bó lớn, một phần được dùng trong cuốn Văn Học Hà Tiên (Quỳnh Lâm – 1970). Cuốn này dày trên ba trăm trang khổ lớn, có nhiều hình ảnh, gồm những bài giảng của ông ở Đại học Văn Khoa Saigon. Ta nhận thấy công trình khảo cứu công phu, cách trình bày sáng sủa – giọng ông ở đây là giọng một giáo sư kiêm một nghệ sĩ. Ông rất thận trọng trong phần chú giải, nhất là trong những bài dịch thơ chữ Hán của Mạc Thiên Tích. Ông dịch sát mà giữ đúng cả thể lẫn vần trong nguyên tác, như bài Lộc Trĩ Thôn Cư nguyên tác là thất ngôn Đường luật, dùng các vần tinh, thinh, thanh, linh, đình thì ông cũng dịch ra thất ngôn Đường luật và dùng những vần mình, tranh, xanh, thanh, thinh.

Ông đã trình bày cặn kẽ chẳng riêng mười bài thơ Nôm, mà trọn tập ngâm khúc Nôm và mười bài thơ Hán của Mạc Thiên Tích về mười cảnh Hà Tiên. Về phần giới thiệu nhóm Chiêu Anh các, tiểu sử Mạc Thiên Tích, tài liệu cũng dồi dào, sau này khó có ai viết hơn ông được.

Đó là công Đông Hồ đối với Hà Tiên. Tích:

“Nhà cửa không khác Trung Quốc, từ nhà Vương (Mạc Thiên Tích) tất cả đều làm bằng gạch lợp nhói. Trong cách ăn mặc, họ bắt chước triều đại trước (nhà Minh). Vương bới tóc lưới, đội khăn hay mũ bằng nhiều, mình mặc áo thêu rồng, đai bằng sưng, mang hia. Ngày thường họ dùng đủ màu (...) Gặp thì họ chắp tay chào nhau”.

Tới gần đây, nghĩa là sau hơn hai thế kỷ, Hà Tiên còn giữ được ít nhiều màu sắc Trung Hòa từ phong tục, cách ăn ở tới ngôn ngữ, giao tế; còn miền Đông, từ Vĩnh Long trở ra Biên Hòa, Bà Rịa, chịu ảnh hưởng của những lớp nam tiến cuồn cuộn từ miền Trung vô; hạng người tiền đạo này tháo vát, phóng khoáng, tự tạo một nếp sống mới, có tinh thần bình dân, tự nhiên, nên ưa thích văn học bình dân hơn.

Tổ tiên của Đông Hồ gốc gác ở Phúc Kiến (Hoa Nam) có lẽ cùng qua Việt Nam với họ Mạc (Mạc Cửu có dùng một quan ký lục họ Lâm), đời đời theo Nho học, và cụ Hữu Lân, bá phụ của Đông Hồ là một nhà nho nổi tiếng văn hay chữ tốt. Thiếu thời, Đông Hồ được cụ dạy dỗ, đào tạo trong nền cổ học, gần như không ra khỏi Hà Tiên, không được đọc gì khác ngoài văn Hán và Nôm. Vì vậy tâm hồn ông gần với tâm hồn các nhà nho Bắc, Trung hơn các người Nam đồng thời với ông ở miền đông, chẳng hạn Hồ Biểu Chánh. Vì vậy mà hai mươi hai tuổi ông làm được bài phú Đông Hồ, khiến các nhà Nho phải phục. Vì vậy mà ông được nhận ngay và phái Nam Phong và suốt đời có nếp sống của nhà Nho, có thiện cảm với các nhà văn Bắc, Trung. Lần lần tinh thần ông hơi thay đổi, mới hơn nhiều nhà Nho trong nhóm Nam Phong, mà ráng hòa với trào lưu mới, nhưng cốt cách, bút pháp thì hồi ba mươi tuổi đã định rồi. Nhờ vậy, ông là nhà văn, nhà thơ đầu tiên trong Nam bắc cầu Nam Bắc, mở đường cho sự “thống nhất văn hóa dân tộc” như ông nói.

Đó là mục đích thứ nhất trong đời sống. Mục đích thứ nhì là nối lại sự nghiệp văn học của Mạc Thiên Tích đã bị gián đoạn trong một thế kỷ rưỡi. Một thanh niên sanh trong một gia đình có truyền thống văn học, tại một nơi danh thắng đã có thời nổi tiếng là “Văn hiến quốc”, từ hồi nhỏ, mắt đã được thấy làn nước Đông Hồ, ngọn núi Tô Châu, chân được dạo những chốn còn lưu lại di tích tiên nhân như Kim Dự, Bình San, Tiêu Tự, Giang Thành, tai được nghe những chuyện hồi thịnh thời Mạc Thiên Tích cùng những nhà văn Hán, Nôm của nhóm Chiêu Anh các, một thanh niên được gặp những hoàn cảnh may mắn đó mà lại anh tuấn, mới mười bốn mười lăm tuổi đã được khen là thơ có khẩu khí, rồi hai mươi tuổi danh vang ra tới đất Bắc, nhờ một bài có giọng lãng mạn như từ Trẩm Á (bài Linh Phượng) và một bài cổ kính mà hoa mỹ như văn Lục Triều (bài phú Đông Hồ); một thanh niên như vậy nhất định là yêu quê hương tha thiết, tự hào về nó nữa và hoài bão cái chí làm vẻ vang cho quê hương, nếu không nối nghiệp được tiền nhân thì ít nhất cũng làm cho người trong nước nhớ rằng “nơi hải ngoại xa xôi này không phải không có văn chương” (lời Đông Hồ).

Ông nhũn nhặn, kín đáo, không thổ lộ tâm sự, chí hướng với bạn, nhưng trong một lúc xúc động mạnh, viết thư cho tôi đã thú rằng “làm con, tôi đã để cho bác tôi nỗi khổ tâm vì tôi nghĩ rằng tôi “quá” thông minh”. Như vậy ông đã tự tin lắm, nhận được giá trị của mình ngay từ thiếu thời và tôi đoán trúng ông có lúc muốn lập nên một sự nghiệp về văn học như Mạc Thiên Tích, điều đó chắc không xa sự thực.

Thời đại ông không phải là thời Mạc Thiên Tích, Hà Tiên không còn là một tiểu quốc mà chỉ là một thị trấn nhỏ, mà địa vị một giáo viên sơ học dưới thời Pháp thuộc lại càng không thể so sánh được với địa vị một vị hầu dưới triều chúa Nguyễn(Thiên Tích được phong là Tông Đức hầu); cho nên sự nghiệp của ông khác hẳn Thiên Tích. Không thể lập được một Chiêu Anh các nữa thì ông ráng dựng Trí Đức học xá, cũng là một nghĩa thục như nghĩa thục của Chiêu Anh các, chưa có đủ tư cách kết nạp các anh tài trong nước để thành lập một tao đàn thì ông đào tạo lấy một số môn sinh cho giỏi Việt ngữ, hiểu được thơ văn, nhất là thơ văn cổ, rồi ông lại khuếch trương thêm, mở lớp hàm thụ đầu tiên dạy Việt văn, và ảnh hưởng của ông lan khắp lục tỉnh, nhiều người yêu văn chương ở Hà Tiên, Biên Hòa, Tây Ninh...nghe tiếng gọi “hồn Đại Việt” của ông mà cùng với ông trau dồi “giọng Hàn Thuyên”.

Không có Đại Thành Điện, Khuê Văn Lâu... như Tông Đức Hầu, thì ông có Vạn Quyển thư lâu, Vương Giả hương đình, Quỳnh Lâm thư thất... tuy chẳng lộng lẫy, nhưng sách quí, tranh quí và nét bút của cố nhân và của chính ông thì chất, treo đầy tường; mà hương lan, hương huệ thường tỏa ra ngào ngạt mỗi khi có bạn văn tới; ai cũng phải nhận rằng về phương diện đó ông đúng là bậc “vương giả” trong giới tao nhân Việt Nam. Cho nên năm 1961, khi viên thư ký Hàn Lâm Viện Ấn Độ, K.F. Kripalani, qua Saigon để tìm những kỷ niệm về thi hào Tagore thì nhà Văn Hóa bối rối, không biết tiếp vị khách quí ấy ở đâu cho trang nhã, có vẻ “văn hóa” một chút, phải xin mượn Yễm Yễm thư trang vậy.

Những hoạt động cùng phong cách đó của họ Lâm có thể chỉ là ngẫu nhiên ám hợp với những hoạt động cùng phong cách họ Mạc, nghĩa là xuất phát từ phần tiềm thức, nhưng dù vậy chăng nữa, tôi nghĩ cũng cần ghi lại cho văn học sử.

Tôi không rõ môn sinh của Đông Hồ tại Trí Đức học xá và trong các lớp hàm thụ, trước sau được bao nhiêu người; một số có khiếu văn chương, nhưng rồi chẳng viết lách gì cả và ruốt cuộc chỉ còn một mình nữ sĩ Mộng Tuyết, sau thành bạn văn và bạn trăm năm của ông, là không phụ công lao của ông. Bà viết ít hơn ông, nhưng văn thơ đều có giọng như ông, cũng trang trọng, du dương, tô chuốt, có phần đa cảm hơn và nhiều khi miêu tả cảnh vật, như một khóm cây, một con ong, một cành hoa... nhận xét có phần sắc bén hơn ông. Ai đọc văn thơ của bà cũng nhận thấy ngay rằng bà chịu ảnh hưởng của ông rất đậm, mà văn thơ của hai ông bà có một địa vị riêng, phái Hà Tiên.

Phái này chỉ còn vài ba nhà nữa ( như Trúc Hà, có họ hàng với Đông Hồ, cũng quê ở Hà Tiên, hơi có tiếng tăm, mất trước 1945, và ông Trọng Toàn), nhưng sự nghiệp không kém gì phái Chiêu Anh các.
Không kể rất nhiều bài dài ngắn đăng rải rác trên các tạp chí, hiện nay chưa in thành sách, Đông Hồ đã lưu lại cho chúng ta mười lăm tác phẩm, trong số đó có sáu bảy tập thơ.

Nữ sĩ Mộng Tuyết cũng đã đăng lác đác ít bài thơ, hồi ký, đã xuất bản một lịch sử tiểu thuyết: Nàng Ái Cơ Trong Chậu Úp, một tập tùy bút Dưới Mái Trăng Non và một tập văn cảo Hà Tiên Tạp Thuyết. Bà vẫn còn sáng tác và chắc còn cống hiến cho quốc dân được vài tập nữa.

Đã có người nhận định về phần mà người ta gọi là “văn chương thuần túy”, tức thơ, tùy bút... trong sự nghiệp của Đông Hồ; ở đây tôi chỉ xin giới thiệu những trứ tác của hai ông bà liên quan. Sự đóng góp của Mộng Tuyết cũng rất đặc biệt. Bà chỉ mới có một tập truyện Nàng Ái Cơ Trong Chậu Up (Bốn phương – 1961) và vài bài ngắn, chép hồi ký về Hà Tiên trong tập Dưới Mái Trăng Non (Mặc Lâm – 1969) nhưng nội cuốn Ái Cơ cũng đáng được chú ý rồi.

Mộng Tuyết bổ túc công việc của Đông Hồ. Đông Hồ cho ta biết lịch sử của Hà Tiên, đời sống và sự nghiệp các nhân vật Hà Tiên, Mộng Tuyết cho ta thở cái không khí cổ của Hà Tiên, sống với các nhân vật Hà Tiên.

Truyện có thực còn lưu lại di tích, tức chùa Phù Dung ở Hà Tiên mà Đại Nam Nhất Thống Chí chắp đúng, là chùa Phù Cừ, người sau không hiểu nghĩa đổi là Phù Dung. Nhân vật chính, Dì Tự, một ái cơ của Mạc Thiến Tích, đã đẹp lại hay chữ, khiến bà chính thất họ Nguyễn ghen tuông mà lập mưu hãm hại, nhốt vào một cái chậu úp cho ngộp mà chết, may được Thiên Tích ngẫu nhiên cứu sống, rồi chán chường thế sự bà xin phép chồng đi tu. Thiên Tích cất cho bà ngôi chùa Phù Cừ đó để bà lánh đời.

Truyện chỉ có như vậy, tác giả đã tưởng tượng thêm để viết thành một lịch sử tiểu thuyết dài non hai trăm trang làm sống lại một thịnh thời ở Hà Tiên với những hội hoa đăng, hội thơ, cảnh duyệt binh, cảnh Tết Đoan Ngọ... Tuy là tưởng tượng nhưng vẫn dựa vào sử, theo sát tài liệu lịch sử, giữ đúng niên đại trong sử. Tác giả đã khảo cứu công phu, dựng truyện chặt chẽ mà văn thì đẽo gọt, đối với một tiểu thuyết, có lẽ đẽo gọt quá theo quan niệm hiện thời. Từ đầu thế kỷ đến nay, ít cuốn trong loại đó có thể so sánh được: tiểu thuyết của Lan Khai chỉ là chuyện tình mượn tên “lịch sử”, còn tiểu thuyết của Nguyễn Triệu Luật ngoài cuốn Bốn con yêu và ba ông đồ chỉ là lịch sử ký sự tiểu thuyết, thì chỉ có Nàng Ái Cơ Trong Chậu Úp. Tiếc thay, tác phẩm được ít người hoan nghênh có lẽ chỉ vì xuất hiện không đúng lúc.

Tuy là của Mộng Tuyết nhưng công của Đông Hồ cũng đáng kể, không phải trong việc đề tựa và trình bày (có mấy bức tranh của ông) mà cả trong việc thu thập tài liệu, xây dựng cốt truyện nữa.

Vậy ông đã trở ơn quê hương một cách xứng đáng. Hiện nay chúng ta biết được chút gì về Hà Tiên hầu hết là nhờ ông cả. Thật cũng lạ! Hai họ Mạc và họ Lâm đều gốc gác ở Hoa Nam: Mạc ở Quang Đông, Lâm ở Phúc Kiến, cùng qua Nam Việt một thời, cùng yêu ngay quê hương thứ hai của mình, rồi coi quê hương đó là quê hương thứ nhất, cùng tận tâm phục vụ cho tiếng mẹ đẻ. Họ Mạc đến đời thứ bảy chỉ còn hai người con gái, còn họ Lâm đến đời thứ tám cũng chỉ có hai người con gái (Đông Hồ là người con trai duy nhất đời thứ bảy, sanh hai con trai, đều không nuôi được).

Hiện nay ngoài nữ sĩ Mộng Tuyết ra, còn có nhà văn, nhà thơ nào gốc gác Hà Tiên nữa không? Và bao giờ Hà Tiên mới lại có được một họ làm rạng danh Hà Tiên như họ Lâm? Nếu có thì thời đại đã thay đổi, Hà Tiên sẽ không con là nơi hẻo lánh nữa, văn học Việt Nam đã thống nhất thì sự nghiệp của người sau tất khác của người trước. Và chúng ta có thể nói rằng lịch sử văn học Hà Tiên sẽ vĩnh viễn gắn liền với hai họ Mạc, Lâm. Họ Mạc làm cho Hà Tiên thành một “văn hiến quốc”, họ Mạc mở đường, họ Lâm nối nghiệp; người sau sẽ chuyển qua một hướng khác chứ không tiếp tục nữa.

1. Quỳnh Lâm xuất bản – 1970.

2. Chính tên là Tông, tự là Thiên Tứ. Chữ Tứ này bộ bối, có nghĩa là cho; sau chúa Nguyễn Phúc Chu (1725-1738) tứ danh cho, mới đổi bộ bối ra bộ kim, thành chữ tích cũng có nghĩa là cho.

3. Theo Đông Hồ (Văn học Hà Tiên – tr. 142), “căn cứ trên mộ bia dựng ở núi Bình San (Hà Tiên), hiện hãy còn, khi Thiên Tích lập thạch cho mẹ, đề thái phu nhân là họ Nguyễn, thì chúng ta có thể quyết được mẹ Thiên Tích là người Việt. Bởi người Tàu ít có người họ Nguyễn”.

Theo Gia Đinh Thành Thông Chí (quyển II), ông Hãn Nguyên dẫn trong bài “Hà Tiên, chìa khóa nam tiến của dân tộc Việt xuống đồng bằng sông Cửu Long”, tập san Sử Địa số 19-20, năm 1970 tr. 165 thì mẹ Mạc Thiên Tích là người Việt, tên Bùi Thị Lẫm, gốc ở Đồng Môn, thuộc Biên Hòa. Cũng trong bài ấy, ông Hãn Nguyên còn dẫn lời của Pierre Poivré, cũng nhận Thiên Tích là người lai. Chúng ta có thể tin lời trên mộ bia hơn lời trong Thông Chí. Dù theo thuyết nào thì mẹ Thiên Tích cũng là người Việt, cho nên Thiên Tích mới giỏi thơ Nôm được.

Lịch sử Hà Tiên còn nhiều nghi vấn: như năm sinh của Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích, mỗi thuyết một khác.

4. Có 320 bài thì ta có thể đoán rằng Chiêu Anh các gồm 32 thi sĩ thôi (mỗi nhà 1 làm 10 bài) kể cả Thiên Tích. Con số 36 cũng như con số 12, 72... không đáng tin.

5. Hãn Nguyên – Bài đã dẫn. Tập san Sử Địa 19-20 tr. 270.

6. Theo gaspardone – Hãn Nguyên trong bài kể trên. Hàn Lâm viện đó là Chiêu Anh các.

NGUYỄN HIẾN LÊ
thunder
#9 Posted : Monday, March 21, 2011 5:27:40 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)

Lê Xuyên nói về ‘Chú Tư Cầu’


Ðược bạn ra đề tài viết về “đồng quê miền Nam,” Lê Xuyên viết truyện đầu tiên trong đời: Chú Tư Cầu.

Nhà văn Lê Xuyên (1927-2004)

Nhà văn Lê Xuyên mất khoảng 21 giờ 30 ngày 2 tháng 3 năm 2004 tại Sài Gòn, hai ngày sau một cuộc họp mặt tưởng niệm đã được diễn ra trọng thể tại hội trường báo Người Việt, với di ảnh người quá cố và một bình hoa bày trên diễn đàn, cùng rất đông văn nghệ sĩ trí thức, bạn đồng chí năm xưa, và thân hữu độc giả hâm mộ, đã tới nhắc nhở về anh, kể chuyện về anh, trong không khí trang nghiêm mà ấm áp. Diễn giả Võ Long Triều, nguyên chủ nhiệm nhật báo Ðại Dân Tộc mà Lê Xuyên là tổng thư ký Tòa soạn, vừa cất tiếng đọc bài tưởng niệm “Lê Xuyên ơi!...” thì nghẹn ngào, không đọc được nữa, khiến nhà thơ Ðỗ Quí Toàn phải đọc thay. Lần lượt lên phát biểu có tác giả Viên Linh, từng viết 3 truyện dài cho tờ nhật báo Quật Cường khi Lê Xuyên làm tổng thư ký, và các nhà văn Thảo Trường, ông Hoài Sơn của Ðảng Ðại Việt, ký giả Vũ Ánh...

Người viết bài này những năm trước 1975 đã bốn lần phỏng vấn Lê Xuyên, mỗi lần phỏng vấn theo một đề tài riêng, không kể những cuộc trò chuyện vô đề, lúc này lúc khác, khi ở tờ báo này, lúc ở tòa soạn khác, hay nơi quán xá, hội trường câu lạc bộ báo chí, v.v... Trong những lần đó, đề tài “Tác phẩm đầu tay” là thú vị nhất.

Trong nghiệp văn, cho dù nổi tiếng đến đâu, hậu vận ra sao mặc lòng, đứa con đầu đời của một nhà văn - tức là tác phẩm đầu tay của nhà văn đó - hầu như chiếm một chỗ lớn nhất, đẹp nhất, trong trí tưởng của người sáng tạo ra nó. Trường hợp vào nghề của Lê Xuyên rất đẹp. Mà tác phầm đầu tay của ông, có thể nói là hiếm hoi, lại là tác phẩm nổi tiếng nhất, quan trọng nhất của ông. Câu hỏi được đưa cho ông là một lá thư đánh máy gửi đi. Và câu trả lời của Lê Xuyên là một hai tờ giấy viết tay, gửi lại.



Nhà văn Lê Xuyên:

“Chú Tư Cầu, một chuyện tình kể trong bốn bức tường nhà giam, hễ nghe ai đá động tới là tôi không được mấy yên bụng.

“Ý kiến, cảm tưởng của tôi về tác phẩm đầu tay? Thật là khó nói. Vì việc tôi vào nghề báo cũng như viết truyện dài đầu tiên đăng trên nhựt báo, bất quá cũng chỉ là một vấn đề số mạng.

“Ðành rằng hồi còn nhỏ, hồi còn đi học tôi cũng thích làm văn, làm thơ, nhưng quả tình tôi không ngờ có ngày mình lọt được vô nghề này. Truyện dài đầu tay của tôi là ‘Chú Tư Cầu’ đăng trên nhựt báo ‘Sài Gòn Mai.’ Ðang thất nghiệp, tôi được anh Vương Hữu Ðức (lúc bấy giờ là tổng thư ký tòa soạn nhựt báo Sài Gòn Mai) gọi tới để làm phụ với anh, và cũng chính anh Ðức đã bảo tôi viết cho tờ S.M. một truyện dài ‘đồng quê miền Nam.’ Có lẽ vì tin tưởng phần nào ở tôi, và chắc do khiếu ‘đánh hơi’ nhà nghề nên anh Ðức chỉ ‘hạ lịnh’ vỏn vẹn cho tôi như thế. Và tôi bắt đầu viết ‘Chú Tư Cầu.’

“Cũng may là hồi còn kẹt trong tù, tôi được mấy anh em ở miệt quê kể cho nghe rất nhiều câu chuyện sống với đầy đủ tình tiết (mà Chú Tư Cầu là một) và trước khi bị kẹt, có một thời gian tôi về ẩn náu tại miền Tây, nên chụp vô chuyện Chú Tư Cầu là tôi viết phăng tới liền, chớ nếu không, thì ‘tang gia bối rối’ biết bao nhiêu!

“Giả sử lúc bấy giờ anh Ðức bảo tôi viết truyện gián điệp hay truyện ma gì đó, tôi cũng viết như thường. Như vậy chẳng do ‘phần số,’ chẳng do ‘thiên định’ là gì?

“Chưa hết. Sau nay, khi tôi viết truyện thứ ba hay thứ tư gì đó, trong một lúc ‘tâm tình cởi mở’ với tôi, ông chủ nhiệm S.M. có tiết lộ rằng hồi tôi mới bắt đầu viết truyện ‘Chú Tư Cầu,’ có người mấy lần khuyên ông nên ‘cúp’ truyện này để thay thế vào một truyện khác, nhưng ông không nghe. (nhưng chắc có lúc ông gần xiêu lòng!) Lời tiết lộ nầy (tuy rất ‘vô hại’) cũng đủ làm cho tôi muốn đổ mồ hôi hột. Giả sử ông chủ nhiệm chịu nghe lời khuyến cáo ấy? - thì làm gì có trọn truyện ‘Chú Tư Cầu’ - cái được gọi là ‘tác phẩm đầu tay’ của tôi! Và làm gì còn có Lê Xuyên trên cõi đời này!

“Tất cả chỉ là một thứ hên xui khá toát mồ hôi lạnh đối với một kẻ sống về nghề văn, nghề báo. Bởi vậy, ngày nay, hễ nghe ai đá động đến chuyện ‘tác phẩm đầu tay’ là tôi không được mấy ‘yên trong bụng.’ Ðời tôi, tôi còn phải đương đầu rất nhiều với sự hên xui kia mà! Và bộ hên hoài được sao?”

Trong phần trả lời, nhà văn Lê Xuyên có nhắc tới mấy chữ “hồi còn kẹt trong tù.” Ðộc giả có thể không rõ lắm, nếu không tìm hiểu thêm về ông. Lê Xuyên tên thật Lê Bình Tăng, sinh năm 1927 tại Cần Thơ, hoạt động cầm súng chống Pháp từ trước năm 20 tuổi.

Ở tuổi có ý thức chính trị, ông tham gia Ðảng Ðại Việt, cùng hoạt động chung, ở chung phòng với một đảng viên khác rất nổi tiếng là Phạm Thái. Người sau này từng xuất bản tờ báo tranh đấu có tên Tự Quyết ở Sài Gòn. Một nhà cách mạng lão thành khác của Ðại Việt, là ông Hoài Sơn, có lên Diễn Ðàn hôm 5 tháng 3, 2004 tại báo Người Việt, kể rằng Lê Xuyên người thì gầy gò nhỏ bé, nặng có hơn bốn mươi mấy ký lô, nhưng “nhận định thời cuộc rất sắc bén.” Tuy vậy ông ít nói. “Nếu Phạm Thái nói không ngừng, anh em trong phòng gọi là ‘máy nói,’ thì Lê Xuyên bị gọi là ‘máy câm.’”

Lê Xuyên, vì hoạt động đảng phái, nên còn ở tù quốc gia, gia đình trị. Mãi 1960 mới được thả. Một nhà văn nói nhiều có khi chỉ viết được những cuốn sách mỏng; còn Lê Xuyên đã sản xuất những cuốn sách khoảng bảy, tám trăm trang. Không có cuốn truyện nào của ông mỏng hơn bốn trăm trang cả. Chú Tư Cầu: 907 trang. Ðêm Không Cùng: 639 trang. Rặng Trâm Bầu: 419 trang. Vợ Thầy Hương: 496 trang. Vùng Bão Lửa: 543 trang.

Wednesday, March 09, 2011
Viên Linh

thunder
#10 Posted : Monday, March 21, 2011 8:49:45 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)

KIM KIỀU HẠNH NGỘ





Ai đã từng thưởng thức tác phẩm Ðoạn Trường Tân Thanh, nói nôm na là truyện Kiều của Nguyễn Du, có lẽ cũng khó quên đoạn thơ Kim Kiều Hạnh Ngộ, tác giả mô tả mối tình đầu chớm nở giữa Kim Trọng và Thuý Kiều, trong bối cảnh một buổi chiều Xuân đẹp như mơ.

Đoạn thơ này gồm 38 câu, từ câu 133: “Dùng dằng nửa ở, nửa về” đến câu 170: “Bên cầu, tơ liễu, bóng chiều thướt tha”, được phân đoạn như sau:
Đoạn một (133-146) nói về trường hợp Kim Kiều hạnh ngộ.
Như chúng ta đã biết, vào một ngày đẹp trời trong tiết Thanh minh, nhân có lễ tảo mộ , Thuý Kiều cùng hai em là Thuý Vân và Vương Quan đi du xuân. Buổi chiều trên đường về, sau khi viếng mộ Đạm Tiên, một ca nhi tài sắc bạc mệnh, ba chị em sắp sửa rời gót thì bỗng nhiên có tiếng nhạc vàng đâu đây vẳng lại:

Dùng dằng nửa ở, nửa về
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần.

Nhạc vàng chỉ âm thanh của những chiếc chuông con con bằng đồng, buộc thành vòng lục lạc đeo quanh cổ ngựa, rung lên tạo thành những tiếng nhạc trong trẻo, rộn ràng khua vang trong không gian. Nó như có phép mầu xua tan tức khắc cái âm khí u ám nặng nề toả ra từ ngôi mộ Đạm Tiên, đồng thời nó khiến Thúy Kiều quên ngay câu chuyện thương tâm về cuộc đời người ca kỹ này, tâm hồn nàng trở lại tươi mát, trong sáng.

Chẳng bao lâu trước mặt kiều đã hiện ra một trang văn nhân, trông sao mà hào hoa phong nhã đến thế! Chàng đang ngồi trên mình một con tuấn mã, bộ lông trắng toát như tuyết của nó càng làm nổi bật màu áo xanh chàm rất mực thanh lịch của chàng. Từ đằng xa khi vừa nhận ra chị em kiều, chàng đã lịch sự xuống ngựa, đi bộ tới để trò chuyện:

Nẻo xa mới tỏ mặt người,
Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình.

Kiều âm thầm dõi nhìn đôi giày thêu văn nổi của chàng, đang khoan thai bước lần trên nền cỏ biếc… cho tới khi chàng sắp tới gần thì Kiều thật sự đã bị xúc động trước vẽ đẹp có phong thái tiêu dao của chàng:

Hài văn lần bước dặm xanh,
Một vùng như thấy cây quỳnh, cành dao.

Vương Quan nhận ra người quen vội tiến lên chào, trong khi hai kiều thấy chàng trai lạ đến gần thì thẹn thùng vội nép mình dưới bụi hoa:

Vương Quan quen mặt ra chào
Hai kiều e lệ nép vào dưới hoa.

Đoạn hai (147-162) giới thiệu về gia thế, tài mạo và tính tình Kim Trọng.
Chàng văn nhân mà Kiều vừa có dịp chiêm ngưỡng đó chẳng ai khác hơn là Kim Trọng, người họ cùng thầy cùng trường với Vương Quan. Như thế, qua cậu em trai, chắc chắn Kiều đã từng được nghe tiếng tăm về tài văn chương lỗi lạc của Kim.
Kim Trọng cũng là người ở gần vùng nhà Kiều ,chàng thuộc dòng dõi quý tộc, giàu có và nhân đức. Chàng chẳng những nổi tiếng văn hay, có dòng có giống mà còn có trí thông minh thiên bẩm:

Nguyên người quanh quất đâu xa
Họ Kim tên Trọng vốn là trâm anh.
Nền phú hậu, bậc tài danh.
Văn chương nết đất, thông minh tính trời.

Nói chung về dáng dấp, tài trí, diện mạo, cách xử sự thì Kim Trọng hơn hẳn mọi người:

Phong tư tài mào tót vời
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa.

Kim Trọng còn là một chàng trai lãng mạn, mới nghe bà con lối xóm đồn khen nức nở về gia đình họ Vương có hai cô gái đẹp, sống cấm cung, chàng đã đem lòng “trộm dấu, thầm yêu” bấy lâu. Bữa nay nhân ngày hội xuân, Kim chẳng ngờ được gặp hai kiều, thật là thoả lòng mong ước!

May thay giải cấu tương phùng
Gặp tuần đó lá thoả lòng tìm hoa!

Mới nhìn từ xa, Kim đã nhận thấy ngay hai nàng kiều đều quá xinh đẹp, duyên dáng; thật là “Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười”:

Bóng hồng nhác thấy nẻo xa
Xuân lan, thu cúc, mặn mà cả hai.

Đoạn ba (163-170) mô tả mối tình đầu chớm nở giữa Kim và Kiều. Chỉ sau một giây phút ngắn ngũi, khoảng thời gian từ “Khách đà xuống ngựa…” đến lúc “tới nơi tự tình", Kim đã biết ngay ai là đối tượng của mình. Thế rồi tiếng sét ái tình cùng lúc đã xẩy ra cho cả Kim và kiều, làm cho tâm hồn họ ngây ngất, bàng hoàng, chợt mê, chợt tỉnh:

Người quốc sắc, kẻ thiên tài
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e
Chập chờn cơn tỉnh, cơn mê…

Bóng chiều đã ngả, họ phải ra về mà lòng xiết bao lưu luyến:
Rốn ngồi chẳng tiện ,dứt về chỉn khôn.
Bóng tà như giục cơn buồn
Khách đà lên ngựa ,người còn nghé theo.

Và cuối cùng, đoạn thơ đã được khép lại bằng hai câu thơ tả cảnh chiều xuân:
Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.

Chúng ta hẳn thấy tiếng sét ái tình đã xẩy đến với Kim và Kiều một cách tự nhiên quá, nhưng thật ra nó không đến một cách ngẫu nhiên, vô tình mà tất cả đều đã được Nguyễn Du sửa soạn từ trước.

-Thứ nhất là điều kiện tình cảm, tâm lý nhân vật:

Kim và Kiều dều đang ở vào tuổi thanh niên bồng bột, bản tính lại rất mực đa tình, đa cảm, lãng mạn. Kiều dù đang sống dưới sự che chở yêu thương của cha mẹ mà đã sáng tác bản đàn Bạc Mệnh (cảm hứng qua văn chương); nhìn thấy ngôi mộ hoang thì liền động lòng trắc ẩn; vừa nghe kể chuyện xa gần về cuộc đời bất hạnh của Đạm Tiên đã lại “đầm đầm châu sa” rồi khóc than cho tất cả số phận đàn bà, rồi làm thơ viếng mộ, rồi “mê mẩn tâm thần” (điều nầy không hề thấy ở Thuý Vân).
Kim thì vừa mới nghe đồn về tài sắc hai kiều đã “trộm dấu, thầm yêu,” khát khao gặp mặt

-Thứ hai là giá trị khách quan của nhân vật: Kim và Kiều có giá trị tương xứng:

Họ chẳng những cân bằng nhau về tài sắc mà còn cả về trí thông minh thiên bẩm. Kiều thì “Một hai nghiêng nước, nghiêng thành - Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai - Thông minh vốn sẵn tính trời - Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm - Khúc nhà tay lựa nên xoang…”
Kim thì “Phong tư tài mạo tót vời - Nền phú hậu, bậc tài danh - Văn chương nết đất, thông minh tính trời”

-Thứ ba ,gia thế họ không quá chênh lệch, và họ cùng có một cuộc sống rất mực phong lưu: Kiều thì “Phong lưu rất mực hồng quần”, Kim thì “Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa…”

Thế rồi buổi chiều trên đường dự hội Đạp Thanh trở về, người “quốc sắc” (Thuý Kiều) kẻ “thiên tài” (Kim Trọng) bất ngờ may mắn gặp nhau (hạnh ngộ)
Vừa tỏ mặt, thật ra thì họ cũng chỉ mới được nhìn thoáng nhau vì khi Kim tới gần thì Kiều đã “e lệ nép vào dưới hoa” rồi. Thế nhưng chỉ một lần ánh mắt giao nhau, qua trực giác bén nhạy, họ đã đủ cảm thông nhau sâu sắc và biết ngay đã bị hấp lực của nhau thu hút, chinh phục hoàn toàn, do sự “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" tạo nên. Tiếng sét ái tình tất nhiên đã xẩy ra.

Nói khác đi, khi đã có đầy đủ cả hai điều kiện cần và đủ thì chuyện gì phải đến tất đến, theo đúng cái lý khách quan diễn tiến của sự việc.
Thế là nhờ có cơ hội gặp gỡ, tình yêu đầu đời của Kim Kiều đã âm thầm nẩy nở trong sự đồng tình tự do chọn lựa, đồng điệu và sự tương xứng về giá trị, khiến họ có đầy đủ điều kiện để trở thành một cặp tài tử giai nhân lý tưởng.

Tình yêu ấy tự nhiên quá, trong sáng quá và cũng nồng nàn xốn xang quá. Tất cả đó đã được Nguyễn Du diễn tả bằng một bút pháp hết sức linh động và tế nhị.
Giữa buổi chiều xuân êm ái như mơ ấy, tiếng sét ái tình đã xẩy ra giữa Kim và Kiều. Tâm hồn họ ngây ngất biết mấy, lòng họ rung động biết mấy và họ cũng đã trải qua cái tâm trạng xiết nỗi bàng hoàng, như mê, như tỉnh (chập chờn cơn tỉnh, cơn mê) vậy mà giữa họ không có một cử chỉ biểu lộ, một lời nói đổi trao.
Tất cả đều im lặng và im lặng, cho mãi tới khi Kim Trọng ra về Kiều mới liếc mắt “nghé theo”.

Sự im lặng nầy Nguyễn Du có ý nhấn mạnh đến nỗi e ấp thẹn thùng, đồng thời cũng là sự kín đáo tế nhị của đôi thanh niên nam nữ mới lớn, nhưng có giáo dục, trước mối tình đầu vừa chớm nở. Và cũng còn vì quá xúc động nên họ chẳng thốt được lời nào, mà ví dầu có nói gì đi nữa, họ cũng không sao diễn tả được hết nỗi bàng hoàng, ngây ngất trong lòng họ bấy giờ. Thế nên im lặng "nói "được nhiều hơn là lên tiếng. Nhờ vậy lời kiệm (ít) mà ý tứ lại dạt dào. Đây chính là nghệ thuật tả tình theo bút pháp văn hữu dư ba mà ta thường gặp trong Đoạn Trường Tân Thanh.

Thêm vào đó, Nguyễn Du còn dùng cảnh làm nền cho cuộc gặp gỡ Kim Kiều khiến cho cuộc tình của họ càng thêm thơ mộng. Nơi đây có cánh đồng cỏ xanh, có khóm hoa đẹp, có cây cầu nhỏ, có giòng nước chảy, có liễu buông tơ.
Và khi cuộc tình vừa nẩy nở giữa Kim và Kiều thì cảnh sắc thiên nhiên bỗng như cùng rung động để chia sẻ cái hạnh phúc ngọt ngào với nhân vật. Dưới mắt Kiều lúc này, dòng nước bỗng “trong veo “, tơ liễu và bóng chiều bỗng “thướt tha”. Nói đúng hơn, Nguyễn Du đã dùng hình ảnh ,màu sắc của thiên nhiên để diễn tả đời sống nội tâm phong phú của nhân vật. Nhờ đó ta khám phá ra rằng Kiều đang yêu đời, và tình yêu của Kiều đối với Kim trong sáng quá, thanh khiết quá, dạt dào quá; nó chính là tình yêu ban đầu của tuổi trẻ rất đỗi bồng bột, hồn nhiên, đồng thời cũng rất lãng mạn và lý tưởng.

Nếu hình ảnh “trong veo” của dòng nước chảy, hình ảnh “thướt tha” của tơ liễu bay bay theo gió, của bóng chiều quyến luyến, vương vấn trên mấy nhành liễu đã chia sẻ và phản ảnh niềm hạnh phúc ngọt ngào, niềm hy vọng chứa chan của Thuý Kiều trên đường về ; thì ta cũng có quyền tưởng tượng tiếng nhạc rung rinh của chiếc lục lạc đeo quanh cổ ngựa ,và tiếng vó câu nện đều đều trên mặt đường cũng đã chia sẻ, cũng đã phản ảnh tiếng lòng rộn ràng yêu đương và niềm hy vọng dạt dào của Kim Trọng trên đường trở lại gia trang.
Đúng là lời thơ đã khép từ lâu mà âm hưởng của nó còn vang vọng mãi. Bởi thế, đây cũng là những câu thơ thuộc loại tả tình theo bút pháp nghệ thuật văn hữu dư ba như vừa trình bày ở trên.

Tóm lại, nhờ Nguyễn Du nắm vững được đời sống tâm lý tế nhị và đa dạng của nhân vật (cũng là của con người), đồng thời lại có một bút pháp điêu luyện, uyển chuyển khiến đoạn thơ tả mối tình đầu chớm nở, thầm lặng giữa Kim và Kiều trong một khung cảnh chiều xuân đẹp như mơ ấy đã có giá trị của một thiên tuyệt bút. Thật khác hẳn đoạn văn Kim Kiều hội ngộ trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (một tác giả Trung Hoa đời Minh, thế kỷ18). Ở đó, văn chương thì tầm thường, nhân vật dung tục, và tâm lý thô thiển.*

*Kim Trọng mới 15 tuổi đã mơ tới chuyện gia thất, nay nghe Thuý Kiều tinh ngón Hồ cầm lại thạo thi phú thì ngày đêm ao ước….nên luôn luôn theo dõi…
Buổi chiều du xuân, Kim chẳng ngờ gặp chị em Kiều. Vừa đến nơi đã đề nghị tới chào hai nàng và nhờ Vương Quan thông báo trước. Nhưng Kim Trọmg không đợi trả lời đã theo sát ngay Vương Quan, thành ra các cô không kịp tránh, đành phải đứng lại để Kim Trọng cúi đầu thi lễ.

"Kim Trọng trong khi cúi đầu chào hai ả, cậu đã trộn liếc dong quang…Cái đẹp của hai chị em nhà ấy đã làm cho chàng mê mẩn tâm hồn. Ngay giờ phút ấy, chàng đã nhẩm ở trong dạ rằng: nếu không lấy được hai cô gái này thì trọn đời quyết chẳng lấy ai.
Bản tâm của chàng lúc ấy chỉ muốn kéo dài câu chuyện để hưởng thêm chút thì giờ, nhưng sợ chàng Vương không tiện đứng lâu, nên phải ngỏ lời từ biệt. Và ngay lúc ấy thì Vương viên ngoại cũng vừa cho người đến đón, cả ba chị em lập tức lên kiệu quay về. Còn chàng Kim thì cũng lên ngựa rẽ đi ngã khác."


( Trích đoạn Kim Kiều Hạnh Ngộ trong cuốn biên khảo Truyện Kiều và Tuổi Trẻ, do giáo GS Lê Hữu Mục, GS Phạm Thị Nhung và DS Đặng Quốc Cơ hợp soan. Làng Văn Canada xb, năm 1998, tái bản năm 2001)

GS Phạn Thị Nhung


1 user thanked thunder for this useful post.
richard on 8/10/2011(UTC)
thunder
#11 Posted : Monday, March 21, 2011 7:52:54 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)
Kỷ niệm về cụ đồ làng


Tôi lên năm tuổi, mẹ cho sang học chữ cụ đồ Nhưng. Ngày trước cụ dạy chữ nho. Sau không ai học chữ nho nữa thì cụ chuyển sang dạy chữ quốc ngữ, nhưng người trong xóm vẫn quen gọi cụ là cụ đồ.

Tôi trở thành học trò của cụ cũng là sự tình cờ.

Một lần tôi theo mẹ ra ngõ. Mẹ nhìn thấy một mảnh giấy nho rơi trên đường. Đây là loại giấy mà bọn trẻ chúng tôi rất thích, chuyên dùng để phất diều. Giấy mềm nhưng dai, người lớn gọi là giấy bản, còn chúng tôi gọi là giấy nho, vì nó thường được xé ra từ những quyển sách viết chữ nho. Kiếm được một tờ giấy nho cực kỳ khó. Đây chỉ là một mảnh nhỏ, chắc đứa nào làm diều xong còn thừa vứt ra đường.

Tôi định bước qua, nhưng mẹ tôi ngăn lại rồi cúi xuống nhặt mảnh giấy lên. Mẹ phủi sạch đất, cất vào túi áo: “Chữ thánh hiền, phải biết qúy trọng con ạ”.

Đúng lúc ấy cụ đồ Nhưng chống gậy đi tới. Mẹ tôi chào cụ, rồi kéo tôi nép vào bên đường để nhường lối cho cụ.

Cụ đồ dừng lại, nhìn mẹ con tôi rồi bất ngờ hỏi: “Cậu này năm nay lên mấy rồi”? “Dạ thưa cụ, cháu được năm tuổi nhưng vẫn còn dại lắm ạ. Kìa, khoanh tay vào chào cụ đi con!”. Vừa nói mẹ vừa nắm lấy hai tay tôi khoanh lại trước ngực.



Cụ đồ - hình ảnh quan thuộc của làng quê Việt xưa.


“Cháu chào cụ”, tôi lúng búng. “Ờ, ngoan. Năm tuổi học chữ được rồi đấy. Bà không câu nệ thì sắm cho cậu quyển vở, cây bút, đưa sang tôi”. Mẹ tôi vội vàng đỡ lời cụ: “Ôi, thế thì phúc đức cho cháu quá. Được cụ dạy dỗ còn gì bằng". Hai mẹ con tôi đi một quãng, ngoái lại vẫn thấy cụ vịn hai tay vào gậy, nheo nheo mắt nhìn theo.
Thế là mấy hôm sau, tôi trở thành học trò của cụ đồ. Cùng học với tôi còn dăm đứa trẻ nữa trong xóm, nhưng tôi là bé nhất.

Lớp học ở nhà cụ đồ không có bàn ghế. Sân gạch, hè gạch, chúng tôi cứ việc ngồi bệt xuống sân kê sách vở lên hè. Suốt buổi học tôi ngồi thu lu một góc, tập nhận mặt từng chữ trong bảng chữ cái. Rồi lấy bút chấm mực, mắm môi mắm lợi tô theo những chữ cụ đồ viết sẵn trong vở bằng bút chì. Mấy đứa kia mải nghịch, bày trò cấu chí nhau, thỉnh thoảng lại đánh đổ mực ra hè. Quần áo, sách vở, mặt mũi chúng nó lem nhem những mực là mực.

Trong lúc chúng tôi ôn bài hay tô chữ thì cụ đồ lặng lẽ ngồi đan. Cụ đan rổ rá dần sàng, đan quạt, đan cả cái rế để bắc nồi… Nghĩa là tất tật đồ dùng hằng ngày bằng tre ở trong nhà, cụ đan được tuốt. Những thứ cụ làm vừa đẹp vừa bền, dùng cả đời cũng không hỏng. Người trong xóm thỉnh thoảng đến đặt hàng, cụ có thêm đồng ra đồng vào, có khi bằng mấy dạy học.

Lâu lâu cụ ngừng tay, kiểm tra xem bọn tôi học hành thế nào. Những đứa tô chữ xiên xẹo, đánh dây mực ra sách, cụ bắt đặt bàn tay úp sấp xuống hè gạch. Cụ vừa nhăm nhăm cái thước kẻ vừa hỏi: “Hậu đậu à? Quáng gà à? Nước đổ đầu vịt à? Muốn làm thầy hay làm tớ thiên hạ?". Dứt một câu, cái thước trên tay cụ vút xuống một nhát. Năm ngón tay thằng học trò trên nền gạch giãy lên. Thế mà đâu lại hoàn đấy. Mực vẫn đổ. Chữ vẫn xiên xẹo. Đánh vần thì “bê - o - bo - huyền - bà”…

Chỉ có tôi là không bị cụ phạt theo kiểu đó. Cụ liếc nhìn vào vở của tôi một thoáng, rồi lẳng lặng quay ra.

Mùa hè năm ấy, cụ đồ Nhưng ốm một trận thập tử nhất sinh. Khi cụ nhúc nhắc dậy được, bọn tôi lại lục tục kéo đến. Cụ xọp đi ghê quá, chỉ còn da bọc xương. Ngồi hí hoáy đan ở góc sân, lưng cụ còng gập, hai đầu gối nhọn nhô lên quá tai. Cụ không đan rổ rá dần sàng nữa, mà chuyển sang đan vỉ ruồi. Những cái vỉ ruồi hình tam giác, hình vuông, hình lá sen, cả hình trái tim… Mỗi cái vỉ ruồi giá một hào. Năm nay không hiểu ruồi ở đâu nở ra nhiều quá. Đánh thuốc đĩa nước cơm, ruồi bu vào chết như xôi đậu đen, nhưng vẫn không hết. Nhà nào cũng cần thêm vài cái vỉ ruồi.

Tôi đã nhận mặt xong hai mươi tư chữ cái, ghép được vần, bập bẹ đọc chữ, thuộc lòng bản cửu chương. Mấy đứa cùng học cụ đồ “trình độ” ngấp nghé như nhau. Nhưng tụi kia vẫn nghịch, vẫn bị cụ đồ phạt. Chỉ khác là bây giờ cụ không hỏi nữa, hơi cụ yếu rồi. Mấy đứa học trò cũng ranh ma hơn. Mỗi lần cụ vụt thước xuống, chúng rụt ngay tay lại. Lần nào chúng cũng nhanh hơn cụ. “Cạch”! “Cạch”! “Cạch”! Tiếng cái thước gỗ đánh hụt xuống nền gạch.

Một lần, đang giữa buổi học, mẹ tôi ghé sang nhà cụ để trả tiền học cho tôi. Mẹ tôi chào cụ, nhưng hình như cụ không nghe thấy. Cụ cứ lẳng lặng đập ruồi. Hồi này cụ không đan nữa mà suốt ngày chỉ ngồi đập ruồi. Mẹ tôi khép nép ngồi xuống hè nhìn cụ. Cụ ngồi xổm, đầu gối quá tai, tay giơ chiếc vỉ ruồi nhúc nha nhúc nhắc quanh sân. Đập chết con ruồi nào, cụ lại nhặt cái xác của nó cẩn thận bỏ vào cái lọ thủy tinh mang theo bên cạnh. Hồi lâu, ruồi vãn, cụ đổ ruồi trong lọ ra, lẩn mẩn đếm từng con. Có đến cả trăm xác ruồi chết khô. Đếm xong lại cất vào lọ, cầm vỉ lên, nhúc nhắc đập tiếp. Cụ đập cả những cái đốm nắng lọt qua vòm lá cây lay lay trên sân…

Thỉnh thoảng cụ ngẩng lên nhìn. Đôi tròng mắt bạc phếch, xa vắng. Cụ không nhận ra mẹ tôi. Hình như cụ quên bẵng cả tụi học trò. “Cụ lẫn rồi” - mẹ tôi bảo.

Mẹ mua một chục cam sang tạ cụ, rồi cho tôi nghỉ ở nhà nốt tháng hè.

Nhờ cụ dạy, tôi đã học xong chương trình vỡ lòng. Đầu năm học mới, tôi có thể ung dung cắp sách đến trường làng để vào thẳng lớp một.

Theo Viettimes

1 user thanked thunder for this useful post.
richard on 8/10/2011(UTC)
Hạ Vi
#16 Posted : Wednesday, March 23, 2011 10:09:15 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,346
Points: 16,924
Location: CỏThơm

Thanks: 4138 times
Was thanked: 10023 time(s) in 2484 post(s)
.



VÀI NÉT THƠ PHỔ NHẠC

Đỗ Bình

Hành trình vào cõi thơ là làm một cuộc phiêu lưu vô tận. Thơ bắt nguồn từ cảm xúc tâm hồn, nơi ẩn chúa những mối tình thiêng liêng sâu kín nhất. Phải chăng làm thơ là đi giữa cõi mộng và thực để đời trổ nhánh đâm hoa và đưa thực vào mộng cho hồn vơi đi những nỗi đau trần thế.

Thi nhân nặng nợ với tình thơ nào khác chi kiếp tằm nhả tơ ? Người nghệ sĩ ước mơ lớn nhất của họ là để lại cho đời dăm ba tác phẩm, hay ít bài thơ đắc ý. Dù mai sau tác giả có đi vào quên lãng thì những vần thơ trác tuyệt đó cũng dệt cho đời những đóa hoa muôn sắc. Hồn thơ tựa làn khói, mùi hương ; mà hương thì vô ảnh người đời chỉ cảm nhận chứ không thấy được hình tướng. Nhưng ngay cả lúc hữu hình, hồn thơ hóa thể thành sợi khói, vầng mây…chúng ta đều nhìn thấy nhưng nào ai nắm bắt được ? Phải đợi đến lúc con tim rung cảm thúc đẩy, hồn thơ nhập vào thi nhân thơ mới bật. Thơ vốn sãn trong thiên nhiên, hàm chứa nhiều tính chất trong trời đất. Ngôn ngữ của thơ đôi khi ẩn trong văn, nhạc và hội họa, nhưng hình ảnh và nhạc điệu của ngôn ngữ thơ lại rất khác với văn xuôi mà chỉ có những tâm hồn thơ mới cảm nhận được. Nhà thơ không làm công việc của nhà lý luận, nhà khoa học, nhà thần học hay triết gia…để tìm cái mới lạ trong thế giới hiện hữu, cái huyền bí của vũ trụ..vv..nhưng thi nhân có thể sống với với tôn giáo, luân lý qua tâm linh để phát hiện thêm lẽ đạo của cuộc đời, và sống triết qua thơ ? Thi sĩ Bùi Giáng đã thở bằng thơ trong bài đi vào cõi thơ, thi sĩ minh họa : « …Cõi thơ là cõi bồng phiêu ».

Nhập vào thơ là sống trong cõi phiêu bồng. Cây khô cành chết làm sao có thể nở hoa, thơ cũng thế chỉ nở rộ ở những tâm hồn nghe được tiếng thở của con tim. Nhưng nghe được mới chỉ là cảm nhận giữa người và thơ cùng có chung một tần số. Muốn diễn tả những rung cảm đó qua thơ cần phải có thi hứng, mà thi hứng là do thiên phú, nhưng từ thi hứng đến nghệ thuật là bước khá dài, đòi hỏi nhiều nghiên cứu học hỏi. Thơ có thể là vần hay không vần, nhưng đó chỉ là một trong những chất liệu dự phần của cấu trúc trong quá trình hoàn thành thơ. Một chuỗi câu, nhóm từ, cắt ráp kiểu tiền chế được kết lại, nếu chỉ dựa vào vần dễ biến thành bài vè. Và một số câu , nhóm từ không vần nếu không có các yếu tố khác phụ thêm để hoàn chỉnh thơ, cũng biến thành đọan văn xuôi thiếu mạch lạc và trong sáng.


Thơ và nhạc là hai nghệ thuật riêng biệt nhưng rất khắn khít nhau làm say đắm lòng người. Thơ là nghệ thuật của «lờì», nhạc là nghệ thuật của «âm thanh». Trong thơ có chứa:Tư tưởng, triết lý, tôn giáo, hội họa, âm nhạc… ngoài những chất liệu như ngôn từ, hình tượng, vần điệu, niêm luật, ẩn dụ, hoán dụ…trong cấu trúc để hình thành nên thơ, riêng thơ Việt Nam và thơ Trung Hoa còn có thêm chất họa và nhạc.

Âm nhạc là một môn nghệ thuật dùng âm thanh làm ngôn ngữ để diễn đạt tư tưởng và tình cảm con người. Ngày nay người ta còn dùng âm nhạc trị bệnh tâm thần (musicothérapie).

Âm nhạc gồm những đặc tính : cao dộ, trường độ, cường độ,và âm sắc, được ký hiệu bởi những hình nốt. Nghe những giai điệu dìu dặt khoan thai người thưởng lãm có cảm giác lạc vào cõi thiên thai, thơ mộng. Riêng thơ chưa có một định nghĩa nào là mẫu mực, « người ta chỉ cảm thơ là một môn nghệ thuật của nghệ thuật, phát xuất từ cảm xúc tâm hồn. »

Nói đến ca khúc, người ta thường có thói quen nghe nhạc qua cảm âm dựa trên lời ca mà ít chú ý đến thẩm âm, phần cấu trúc gồm giai điệu, tiết tấu, hay cávh phối khí hòa âm vv… .


« Thơ phổ nhạc là nghệ thuật đem thêm âm hòa với âm thanh sãn có trong thơ, hoặc thay đổi âm thanh của thơ chuyển thể thành những nốt nhạc để hát. Nhưng đọc thơ, hát thơ hay còn gọi là ngâm thơ hoàn toàn khác với nhạc thơ. Ðọc và hát thơ không cần áp dụng những quy tắc kỹ thuật cũng như mỹ thuật quá phức tạp của âm nhạc, vì nhạc trong thơ là những âm phát từ thanh bằng trắc của câu thơ ; trong khi thơ trong nhạc hay còn gọi là tính nhạc gồm những hình tượng, ngôn ngữ được ngắt nhịp theo tiết tấu riêng để diễn tả giai điệu toàn bài chuyên chở tứ thơ.

Ví dụ: Thuyền Viễn Xứ, thơ Hà Huyền Chi, Phạm Duy phổ nhạc. Mộng Dưới Hoa, thơ Ðinh Hùng, phạm Ðình Chương phổ nhạc. Nguyệt Cầm, thơ Xuân Diệu, Cung Tiến phổ nhạc. Tình Khúc Thứ Nhất, thơ Nguyễn Ðình Toàn, Vũ Thành An phổ nhạc. Màu Tím Hoa Sum, thơ Hữu Loan, Dzũng Chinh phổ nhạc. Mái Tóc Dạ Hương, thơ Ðinh Hùng, Nguyễn Hiền phổ nhạc. Chiều Tím, thơ Ðinh Hùng, Ðan Thọ phổ nhạc. Áo Lụa Hà Ðông, thơ Nguyên Sa, Ngô Thụy Miên phổ nhạc vv….

Trong giai đọan đất nước còn mịt mù khói lửa chiến tranh, ở miền Nam người nghệ sĩ vẫn tự do sáng tác, một qố nhạc phẩm trữ tình có ca từ đượm chất thơ đã diễn tả thân phận con người trong thời loạn hay diễn tả sự nuối tiếc về những cuộc tình dang dở ; mà nhiều ca từ đượm chất hương thơ hơn một số bài thơ «làm dáng » sáng tác vội vã cho có số lượng, được gọi là dòng thơ «cách tân» hôm nay ? Sự vung vít chữ nghĩa đó đã làm ảnh hưởng ít nhiều đến những bài thơ có « tính khai phá sáng tạo » của những tâm hồn chân chính !Những người làm công việc khai phá, tìm kiếm những cái mới lạ là những người đã có sẵn vốn căn bản về thơ, cộng thêm kiến thúc.

Xin hãy bước vào vườn hoa nghệ thuật để thấy mùa xuân bất tận của những ca từ trong nhạc, nó đượm đầy chất thơ và chứa sãn tính nhạc. Ðìển hình những lời ca đã đi sâu vào lòng người, đó là những tài sản trong kho tàng của văn hóa dân tộc :


Trịnh Công Sơn :

… « Gió sẽ mừng vì tóc em bay
Cho mây hờn ngủ quên trên vai
Vai em gầy guộc nhỏ
Như cánh vạc về chốn xa xôi.. »
( Như Cánh Vạc Bay)



Phạm Ðình Chương :

« ..Người đi qua đời tôi
trong những chiều đông sầu
Mưa mù lên mấy vai
Gió mù lên mấy trời...
Hồn lưng miền rét mướt
Vàng xưa đầy dấu chân
( Người Ði Qua Ðời Tôi )



Lam Phương:

“...Người đi hoa lá chết trong mùa nhớ
Người về lặng lẽ, tình vẫn bơ vơ !
Thà rằng ôm kín mộng ước xa nhau
Quên đi cho hết một kiếp thương đau...”
( Thu Sầu)



Ngô Thụy Miên:

“...Nhớ tới năm xưa bên nhau
Bước trong chiều mưa phiếm du nhẹ đưa
Bến cũ đam mê say xưa lá thu còn rơi...
Mắt biếc năm xưa nay đâu, cánh sao còn đây
Tóc mây nào bay...Tình đã xa rồi !”
( Mắt Biếc)


Phạm Mạnh Cương:

« …Rồi đây mây trên đồi vắng
lang tìm kìm kiếm, đá xưa rêu mòn….
Biệt ly hôn nhau lần cuối…
Dư âm còn đây, lệ trong mắt ai… »
( Mắt Lệ Cho Người Tình)



Từ Công Phụng:

…Thôi đừng tìm đến nhau làm gì !
Thôi, đừng tìm nhau nữa mà chi !
Ðường về nhà em xa lắm,
Tương lai chưa vừa tầm hái tay này.
Trời đọa đày cho cay đắng
Nên ta không còn nương cánh nhau mà đi.. »
(Lời Cuối)



Lê Uyên Phương :

« …Ngày em thắp sao trời
Chờ trăng gió lên khơi
Mùa mưa bão tơi bời
Một ngày mưa bão không rời
Trên vai thanh xuân ướp hôn nồng trên gối đắm say
Ánh sao trời theo gió rụng rơi đầy
Cùng rót bao nhiêu ngày hoang
Cùng đếm bao nhiêu mộng tàn..”
(Dạ khúc Cho Tình Nhân)



Vũ Thành An:

“...Một làn khói trắng
Ru đời vào quên lãng
Nâng sầu thành hơi ấm
Hơ dịu tình đau.
Ngày tàn im lắng
Yêu người làn tóc trắng
Tâm sự rồi đến đắng
Như lệ giờ biết nhau...“
( Bài Không Tên Số 7)



TRường Hải:

„..Những chiều không có em
Ngõ hồn sao hoang vắng.
Ôi! Dừng chân đây,
đường phố cũ
ngùi nhớ tới người em thơ
cùng bước dưới trời mưa lòng trao chuyện lòng...”
( Những Chiều Không Có Em)



Trường Sa:

“...Tiếng hát bay trên thành phố bâng khuâng
Chiều đông đưa những bước chân đau mòn
Chợt nghe mùa thu bay trên trời không
Còn ai giữa mênh mông đời mình?
Cho nỗi đau mù lấp tuổi thơ!...”
(Xin Còn Gọi Tên Nhau)



Phạm Duy:

“...Nha Trang ngày về
ngồi đây tôi lắng nghe
đê mê lòng tôi khóc
như oan hồn trách móc
Ôi trăng vàng lẻ loi! Ôi đời!
Trời biển ôi! Không có nuôi tình tôi.
Nha Trang biển này tình yêu không có đây
Tôi như là con ốc chui sâu vào thân xác lưu đày
Dã tràng ơi sao lấp cho vơi sầu này!”
( Nha Trang Ngày Về)



Không thể trích hết lời ca đã từng vang bóng một thời của làng âm nhạc miền Nam. Những nhạc sĩ mang chút hồn thơ như:

Cung Tiến, Vũ Ðức Sao Biển, Hiếu Nghĩa, Thanh Trang, Hoàng Thi Thơ, Thu Hồ, Trịnh Hưng, Minh Kỳ, Hoài Linh, Phạm Mạnh Cương, Dương Thiệu Tước, Ưng Lang, Khánh Băng, Huỳnh Anh, Châu Kỳ, Lâm Tuyền, Tuấn Khanh, Vũ Thành, Trầm Tử Thìêng, Anh Bằng, Lê Dinh, Trần Thiện Thanh, Thanh Sơn, Hoàng Trang, Ðỗ Lễ, Lê Hoàng Long, Thanh Bình, Văn Giẳng, Y vũ, Mai Châu, Phó Quốc Thăng, Thúc Ðăng, Hoài An, Duy Khánh , Anh Việt Thu, Nhật Ngân, Trần Trịnh, Nguyễn Ánh 9, Trọng Khương, Trúc Phương, Xuân Lôi, Xuân Tiên, Hoàng Trọng, Nam Lộc ; Lê Hữu Hà , Nguyễn Trung Cang..vv….

Ðó là chưa kể đến những nhạc sĩ thời tiền chiến, họ là những nhạc sĩ mang tâm hồn thơ, đã cống hiến cho đời những lời ca đượm đầy chất hương thơ hòa trong ý nhạc, dệt lên những giai điệu đặc sắc trong vườn hoa nghệ thuật âm nhạc Việt Nam.

Phổ nhạc một bài thơ «cho có » thì rất dễ, vì chữ Việt Nam có dấu, âm điệu bằng trắc trầm bổng, uốn éo tự nó cũng đã chứa nhiều yếu tố ám nhạc. Ví dụ như câu hò xứ Huế, người phổ chỉ cần biết qua hai âm giai trưởng thứ hay ngũ cung cũng có thể phổ bài thơ, nhưng đó chỉ là khai triển cái âm bằng trắc sẵn có trong câu thơ, nên thiếu vắng tính nghệ thuật của âm nhạc. Ðó là chưa kể người phổ đôi khi cắt xén bừa bãi câu thơ, vô tình làm hỏng ý thơ ! Tiếng Việt vốn đơn âm nhưng lại hàm xúc nhiều ý nghĩa ; nhất là ngôn ngữ vủa thi ca chứa nhiều ẩn dụ và hoán dụ. Ðối với những từ đơn, từ kép, từ ghép và từ láy là những chất liệu, giúp, cho tiết tấu câu nhạc thêm phong phú. Trong một câu, nhóm từ, nếu chỉ cần thay đổi vị trí cao độ, thanh âm những từ đó sẽ đổi, hay chỉ cần đảo chữ, thanh âm và ngữ nghĩa cũng thay đổi, đôi khi rơi vào trường hợp biến cung nghịch với quy luật âm nhạc. Ví dụ :


« Nắng Sài Gòn em đi mà chợt mát,
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông… »
( Nguyên Sa )



Nếu người hát vô tình đổi vị trí cao độ và đảo ngữ ở hai câu cuối : « chợt mát, Hà Ðông » thành «mát chợt, Ðông Hả » thì qủa tội nghiệp cho thơ lẫn nhạc ! Chắc hẳn thi sĩ Nguyên Sa và nhạc sĩ Ngô Thụy Miên sẽ buồn biết chừng nào !?Nhưng có những bài thơ được nhạc sĩ cắt xén đảo chữ để hợp với giai điệu câu nhạc lại làm tăng phần nghệ thuật của bài thơ.Thân phận của thơ hôm nay thật hẩm hiu, ủ dột, vì bị lãng quên trong cái không khí xô bồ, ồn ào quyến rũ của vật chất! Cũng may nhờ có giới nhạc sĩ và dịch giả, thơ mới có chỗ hòa điệu, nương cánh. Thơ được phổ thành nhạc dễ phổ biến rộng rãi đến công chúng. Nhưng một bài thơ tuyệt vời nếu đem phổ nhạc hoặc đem chuyển ngữ chắc hẳn sẽ làm nhạt đi ít nhiều « chất kỳ bí » chứa trong thơ.


Một bài thơ có thể được nhiều người phổ nhạc, nhưng sẽ chỉ có duy nhất một bài «hay», như đóa hoa chỉ nở một lần, nếu nhạc sĩ bắt được cái «tính nhạc» trong thơ. Cứ thử tưởng tượng thơ ẩn trong phiến lá, nếu ta đem đốt chiếc lá, tiếng reo của lá trong lửa là tính nhạc, và khi chiếc lá cháy hết chỉ còn những sợi khói bồng bềnh ; cái mong manh đó chính là cõi thơ, và mùi hương khói phảng phất vị lá phải chăng là hồn thơ ? Một bài thơ phổ nhạc được gọi là « xuất sắc » đòi hỏi người phổ phải am tường cả hai nghệ thuật thơ nhạc, nếu không, âm thanh của nhạc sẽ lấn át âm thanh của thơ làm biến thể chất thơ, biến bài thơ (poème) thành bài ca (chant, chanson). Do đó trước tiên người phổ phải yêu bài thơ và thuộc để có thể thả hồn theo ý thơ để bắt được cái tính nhạc trong bài thơ, sau đó người phổ phải nắm vững quy luật và mỹ thuật của âm nhạc để có thể ghi lại và diễn tả những tình cảm luyến láy, dìu dặt, nức nở, buồn vui qua nét nhạc…. giúp hồn thơ thăng hoa nhiễm cảm vào từng tế bào, thớ thịt người thưởng lãm. Người nghe không còn cảm thấy như nghe đọc thơ ở một giọng cao do những âm bằng trắc trầm bổng, lấn át nhau tạo nên. Sau cùng, nếu đem bản nhạc trình tấu và tách phần ca từ, phần nhạc phải mang đầy đủ tính mỹ thuật của nó như một bản nhạc không lời làm gợi cảm lòng người. Phải chăng đó mới là lúc hồn thơ nhập vàp nốt nhạc chấp cánh./.



Ðỗ Bình


1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
richard on 8/10/2011(UTC)
xuan hoang
#19 Posted : Wednesday, March 23, 2011 6:45:00 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702
Points: 2,148

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)

Thư Lá Vàng






Ngồi trên bến gió chờ nàng
Lá đưa thuyền lá vàng sang bến nào?
Bờ sông thấp, nước sông cao
Lá thuyền này đã trôi vào bến anh

Vớt lên, thả xuống sao đành
Anh gửi cho mình giữ lấy mình ơi!
Nàng đẩy một chiếc lá rơi
Không, không, không phải, giấy trời thư anh....


Nguyễn Bính

1 user thanked xuan hoang for this useful post.
richard on 8/10/2011(UTC)
thunder
#17 Posted : Wednesday, March 23, 2011 9:33:51 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)
Nhớ những lần, nghe nhạc, đọc thơ, đọc truyện của Nguyễn Đình Toàn


Năm 1966, tôi đang học đại học ở Sài Gòn thì cha tôi ở quê viết thư vào bảo: “Quê mình mất an ninh rồi, cha mẹ phải bỏ quê mà tản cư xuống quận lỵ tỵ nạn. Trong một đêm, địch về làng bắn giết, đốt phá nhà cửa của cán bộ làm việc bên phe quốc gia nhiều lắm, cha mẹ sợ quá nên phải tản cư xuống quận lỵ tạm trú, chứ ở quê không yên. Con cố gắng tự túc đi học nghe con.” Tôi đọc thư mà nghe buồn bã quá. Tìm đọc trên mục rao vặt trên các báo Chính Luận, Công Luận, tôi đi dạy kèm, đi giặt đồ cho một công ty thầu giặt đồ cho lính Mỹ, mà lương lậu chẳng đâu vào đâu. Tôi học không vô nữa, bèn nộp đơn xin đi dạy theo một thông cáo tuyển lựa giáo sư tư nhân dạy giờ của Bộ Giáo Dục. Sau đó mấy tháng, tôi được giấy của bộ Giáo Dục bổ nhiệm về dạy ở trường trung học Mộ Đức, Quảng Ngãi.



Với nỗi buồn vui lẫn lộn. Buồn vì phải bỏ giảng đường đại học mới tập tểnh bước vào mấy năm. Vui vì mình sắp bước vào con đường mới, con đường dạy học. Đó cũng là mộng ước của tôi thời niên thiếu. Với lại, Quảng Ngãi tôi chưa biết đến bao giờ. Và cả Mộ Đức, một quận lỵ, vẫn nghe đồn rằng, đó là vùng xôi đậu, ban ngày quốc gia, ban đêm “giải phóng”. Nhưng tôi lại nghĩ, mình chỉ là thầy giáo quèn, gỏ đầu trẻ, có gì đâu mà sợ, nên tôi cũng vững tâm đến đó.

Mộ Đức là một quận lỵ buồn, không có phố xá, chỉ có con đường quốc lộ một chạy qua. Bộ chỉ huy chi khu và văn phòng quận hành chánh đóng chung bên kia đường, đối diện trường trung học, do một trung úy bộ binh làm quận trưởng kiêm luôn chi khu trưởng.

Tôi đã dạy học ở đó với những em học sinh tóc cháy vàng vì nắng gió và nhờ đó mà tôi vui.

Những buổi chiều quận lỵ thật buồn. Chênh chếch phía bên kia đường có một loa phóng thanh của chi thông tin bắt trên ngọn cây, hàng ngày thường mở đài Sài Gòn hay đài Quảng Ngãi cho dân chúng nghe tin tức. Một buổi chiều, cũng như mọi buổi chiều khác, tôi được nghe từ loa phóng thanh, một bài hát có tên Tình Khúc Thứ Nhất được xướng ngôn viên giới thiệu tác giả là Vũ Thành An, lời Nguyễn Đình Toàn, bản nhạc này, nhạc đã hay mà lời cũng quá hay:

Tình vui theo gió mây trôi
Ý sầu mưa xuống đời
Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi
Mấy tuổi xa người
Ngày thần tiên em bước lên ngôi
Đã nghe son vàng tả tơi
Trầm mình trong hương đốt hơi bay
Mong tìm ra phút sum vầy

Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai
Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài
Lời nào em không nói em ơi
Tình nào không gian dối
Xin yêu nhau như thời gian làm giông bão mê say

Lá thốt lên lời cây
Gió lú đưa đường mây
Có yêu nhau xin ngày thơ ngây
Lúc mắt chưa nhạt phai
Lúc tóc chưa đổi thay
Lúc môi chưa biết dối cho lời
Tình vui trong phút giây thôi
Ý sầu nuôi suốt đời
Thì xin giữ lấy niềm tin dẫu mộng không đền
Dù trời đem cay đắng gieo thêm
Cũng xin đón chờ bình yên
Vì còn đây câu nói yêu em
Âm thầm soi lối vui tìm đến

Thần tiên gẫy cánh đêm xuân
Bước lạc sa xuống trần
Thành tình nhân đứng giữa trời không
Khóc mộng thiên đường
Ngày về quê xa lắc lê thê
Trót nghe theo lời u mê
Làm tình yêu nuôi cánh bay đi
Nhưng còn dăm phút vui trần thế




Lúc này, Vũ Thành An và Nguyễn Đình Toàn chứa nổi, tác giả chỉ là cái tên, nhưng bản nhạc quá hay nên có tôi cảm tình với tác giả ngay, nhất là tác giả viết lời. Lúc đó, tôi cứ nghĩ Vũ Thành An đã phổ từ một bài thơ nào đó của Nguyễn Đình Toàn. Nhưng sau này, khi tôi đọc trên một tờ báo nào đó, mới biết là nhạc phẩm này của Vũ Thành An, Nguyễn Đình Toàn viết lời. Chúng ta hãy đọc lại mấy câu, ông dùng ngôn ngữ rất lạ mà rất thơ:

Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi
Mấy tuổi xa người
Ngày thần tiên em bước lên ngôi
Đã nghe son vàng tả tơi
Trầm mình trong hương đốt hơi bay
Mong tìm ra phút sum vầy…
Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai
Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài

Bản nhạc này, tôi nghe (sau đó được nghe lại mấy lần) và tự nhiên thuộc lời, rồi tôi đã đem lời nhạc này đọc cho học sinh trong lớp tôi dạy (vì tôi dạy môn Việt văn nên tôi tha hồ mà bình luận, bốc phét, thêm nhưn nhị vào bài thơ, những ý tưởng mà có lẽ tác giả cũng không nghĩ ra. Có thể nhờ bản nhạc này mà tôi có một (vài) mối tình rất thơ với (một, hai) cô gái Mộ Đức, một cô gái có tên là Nề, mà sau này tôi có viết trong một truyện ngắn, truyện Nề xưa. Bây giờ tất cả đã xa lắc lơ, chỉ còn là kỷ niệm. Cám ơn nhà thơ Nguyễn Đình Toàn.




Sau này, cũng thời gian năm 66 hay 67 gì đó, tôi có đọc một bài thơ của Nguyễn Đình Toàn ở đâu đó, và rất mê. Nhưng lâu rồi cũng quên nhan đề, sau khi tìm kiếm, lục lọi, mới biết đó là bài Khi Em Về. Tôi xin ghi lại như sau:

Khi em về
Quê mẹ đấy ưu phiền nhiều quá lắm
Hàng cau già mo thương bẹ quắt queo
Anh nằm đếm những ngày rồi những tháng
Đi qua dần khi nước mắt buông theo

Kỷ niệm cũ vẫn còn nguyên vẹn đó
Trời tháng giêng, tháng bảy buồn như nhau
Gió vẫn thơm mùi hoa bưởi hoa ngâu
Rồi Tết đến, rồi lòng anh nhớ quá

Khi em về bước chân chừng xa lạ
Và cỏ hoa tất cả đã lắng im
Giấc ngủ ấy một đời anh ao ước
Từ máu mình hoài rứt khỏi đường tim
Em đừng khóc, đừng buồn, đừng nhìn nữa
Cứ cúi đầu cứ thế rồi ra đi
Trời sẽ tối, tiếc thương rồi sẽ hết
Và dấu giầy mai sẽ lá sương che

Nguyễn Đình Toàn còn có bài thơ Khúc Ca Phạm Thái cũng rất nổi tiếng. Bài thơ ghi lại hình ảnh chàng tráng sĩ Phạm Thái yêu Trương Quỳnh Như, em ruột của người bạn thân là Trương Quang Ngọc, mối tình đó đã trở thành tình sử trong văn học Việt Nam mà Khái Hưng đã viết thành tiểu thuyết Tiêu Sơn Tráng Sĩ. Bài thơ với ngôn ngữ mang mang hào sảng, nói lên chí khí của người tráng sĩ mang gươm đi cứu nước, nhưng thất bại, phải dẹp bỏ cuộc tình riêng, giọng thơ hào khí ngất trời. (hơi thơ giống bài Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác). Cho nên trong những cuộc vui chơi với bằng hữu, những người thích thơ, biết làm thơ hay cảm thơ, mỗi khi ngồi uống rượu với nhau thường ngâm bài thơ này:

Ta tráng sĩ hề, lòng không mềm bằng kiếm,
Ta anh hùng hề, sự nghiệp có đầy đôi mắt Trương Quỳnh Như.
Chí nhỏ lòng kiêu, đổ thưà vận rủi,
Tài sơ sức mỏi, trách với thời cơ .
Lòng chua cay uống mãi rượu giang hồ,
Nâng chén lửa đốt tàn dần năm tháng.



Em ơi tám hướng sông hồ,
Mười năm ngang dọc, bây giờ là đây ..
Sự đời chừ đã trắng tay,
Ngủ vùi một giấc, cho đầy gối tham .
Ta say hay ta tỉnh?
Nàng buồn hay nàng vui?
Ngọc châu pha vỡ tiếng cười,
Lược gương xin chải ngậm ngùi cho nhau.

Và Bản Nhạc viết về Sài Gòn

Từ lâu, nghĩa là từ trước năm bảy lăm, tôi nghĩ là Nguyễn Đình Toàn chỉ làm thơ và viết văn thôi, nếu cùng lắm thì ông đặt lời cho nhạc như bài Tình Khúc Thứ Nhất. Nhưng sau này tôi biết ông còn sáng tác nhạc, ông viết rất nhiều ca khúc. Trong những ca khúc của ông tôi thích đâu 3, 4 bài, như bài Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên, mà nhiều người biết đến, sau đây:

“Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên – như dòng sông nước quẩn quanh buồn – như người đi cách mặt xa lòng ta hỏi thầm em có nhớ không…

Sài Gòn ơi, đến những ngày ôi thành phố xôn xao – trong niềm vui tiếng hỏi câu chào – sáng đời tươi thắm vạn sắc màu – còn gì đâu…”

Theo tôi, bản nhạc này là bản nhạc hay nhất của nhạc Việt Nam viết về Sài Gòn sau khi mất nước và lúc Sài Gòn đã thay đổi tên. Bản đứng thứ nhì đồng hạn là bài Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng và bài Đêm Nhớ trăng Sài Gòn nhạc …thơ Du Tử Lê. Sau rót mới đến bản Sài Gòn Vĩnh Biệt của Nam Lộc. Bản nhạc Sài Gòn Vĩnh Biệt được mọi người biết đến nhiều có lẽ nhạc phẩm này ra đời sớm, khoảng đâu sau bảy lăm một hai năm, trong lúc đó, lòng người Việt Nam, nhất là những người di tản từ ba mươi tháng tư bảy lăm, luôn luôn khắc khoải trong lòng nổi nhớ quê hương, mà Sài Gòn là biểu tượng một quê hương trong lòng mọi người, nên mất đi Sài Gòn, rời xa Sài Gòn, ai cũng tưởng tiếc, cũng nhớ về. Kể cả những người đi ở tù cộng sản như chúng tôi, khi nghe bản Vĩnh Biệt Sài Gòn (được đưa chui vào trại tù), chúng tôi nghe cũng thật bùi ngùi, cảm động (lúc đó tôi ở Long Khánh, có tin truyền miệng nhạc phẩm Vĩnh Biệt Sài Gòn là của một sĩ quan sư đoàn 5 bộ binh sáng tác). Đến khi qua Mỹ, tôi mới biết tác giả là Nam Lộc, và theo tôi đánh giá về nghệ thuật, bản nhạc này lời rất giản dị, bình thường, ca từ không có gì mới lạ, có nhiều câu, suy cho kỹ thì phản ý của người di tản hay người vượt biên, ví dụ như câu bây giờ tôi như con thú hoang lạc đàn, sao lại là con thú hoang? Nếu nói về đất nước Việt Nam Cộng Hòa trước bảy lăm và những người sống trong đất nước đó là đàn thú hoang sao? Lời nhạc rất phản ý của người Việt tỵ nạn cộng sản. Và sau đó có những câu như Sài Gòn ơi ta xin hứa là ta sẽ về? Sao đã vĩnh biệt rồi, như theo đề tựa, vĩnh biệt là không bao giờ gặp lại, mà sao hứa sẽ trở về? Cho nên, bản nhạc này được nhiều người nghe là do tâm trạng thương nhớ Sài Gòn có sẳn trong lòng, chứ không phải là bản nhạc hay.

*

Nguyễn Đình Toàn sáng tác nhạc rất nhiều, sau khi ra hải ngoại ông đã cho ra mắt 2 CD, đó là: Hiên Cúc Vàng với chỉ một giọng ca Khánh Ly, và Tình Ca Việt Nam với Duy Trác, Khánh Ly, Sĩ Phú, Thái Thanh, Võ Anh Tuấn, Lệ Thu.

Nhạc Nguyễn Đình Toàn mang hơi hám của một người lưu vong luôn luôn nhớ về những kỷ niệm cũ, một hoài niệm không rời với hồi ức, thường buồn hơn vui, đã đưa người nghe vào một không gian âm thanh sâu lắng, không sôi nỗi xáo động, nó trầm lắng, dịu dàng, nên lớp người cũ đã sống trước bảy lăm ở miền Nam rất thích nghe.

Từ Giờ Ra Chơi đến Áo Mơ Phai

Truyện Giờ Ra Chơi của Nguyễn Đình Toàn do nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng in năm 1970. Tôi mua quyển truyện này tại một tiệm sách ở khu Hòa Bình trong một chủ nhât đi phép. Đời SVSQ/CTCT ngày phép thường ra bát phố Đà Lạt, sau khi đã vào tiệm tắm nước nóng tắm để rũ sạch bụi đỏ quân trường, sau đó đi ăn phở Bằng hay vào quán Tùng uống cà phê hay ra bờ Hồ Xuân Hương vào Thủy Tạ ăn kem. Nhưng tôi thì hay đi loanh quanh mấy tiệm sách để tìm mua những tác phẩm mới xuất bản của các nhà văn mình yêu thích. Thời điểm đó, truyện dài Giờ Ra Chơi của Nguyễn Đình Toàn mới phát hành nên tôi nhìn thấy là chộp mua ngay.

Giờ Ra Chơi kể lại mối tình của cô gái học trò Đà Lạt tên Thục và tình yêu của tuổi mới lớn của Thục. Truyện nhẹ nhàng êm dịu, thơ mộng như trời mây non nước xứ Đà Lạt. Lúc này tôi có một người bạn gái là một cô học trò trường Hồng Đức, Đà Nẵng, tôi liền mua thêm một cuốn gởi về tặng cô gái và tả tình tả cảnh Đà Lạt, cũng như mối tình đẹp của cô học trò tên Thục trong truyện. Tôi cố rũ người bạn gái lên Đà Lạt học trường Chính Trị Kinh Doanh để được gần tôi, cuối cùng cô gái nghe lời “dụ dỗ” của tôi mà lên Đà Lạt theo học. Rất tiếc là khi cô lên Đà Lạt thì tôi cũng xong hai năm thụ huấn. Tôi đổi đi xa nên mối tình cũng bay theo sương khói.

*

Áo Mơ Phai, tập truyện dài của Nguyễn Đình Toàn đăng “phơidơtông” ở Nhật Báo Tiền Tuyến, được nhiều người đón nhận, theo dõi say mê từng ngày. Sau này in thành sách và được giải văn chương toàn quốc năm 1972.
Truyện Áo Mơ Phai kể lại những mối tình thơ mông ở Hà Nội trước ngày di cư năm 1954, khi Hà Nội còn là ngàn năm văn vật đất Thăng Long, cùng với một Hà Nội thơ mộng trữ tình là sự dùng dằng, ra đi hay ở lại của những người Hà Nội trong giai đoạn lịch sử năm 1954, chia đôi đất nước.

Chúng hãy đọc một đoạn ngắn trong Áo Mơ Phai khi tác giả tả những cái đáng yêu của Hà Nội:

“Những tiếng động nhỏ ấy, những hương vị mờ nhạt ngửi thấy, cây cối trong mùa mưa, phấn hương của người quen thuộc, những món ăn, thức uống, những câu thơ, những bài hát, Hà Nội giống như một cái chuông và những tiếng kêu ấy là những cách khua động, người ta tự gõ vào trí tưởng mình, tự xé lòng mình, để nhẹ bớt nỗi nhớ mong, ám ảnh của Hà Nội, Hà Nội đã biến thành khuôn mặt người tình đầu tiên, khi người ta ghé môi hôn thì cũng là lúc cái hình ảnh ấy khắc sâu vào tâm khảm. Những khu phố dịu dàng dưới sương đêm, sáng cái ánh sáng của vầng trăng lúc nào cũng giống như, trăng khi còn thơ ấu, và những cơn gió nhẹ thổi trên các lối đi, thổi lên các cành cây, chẳng khác những hơi thở nồng nàn tình ái, người ta không thể biết rõ cái vẻ dịu dàng của Hà Nội được tẩm đẫm nhan sắc, dáng vẻ của những người đàn bà, những cô gái Hà Nội, hay chính những người này thừa hưởng cái không khí êm đềm đó, những trận gió mang đầy hơi phù sa của sông Hồng, mùi cỏ của con đê Yên Phụ, mùi rượu ngang, rêu phong của những mái nhà cũ kỹ, của những bức tường thành của ngày Hà Nội bị xâm chiếm xa xưa, của các xưởng máy, của hoa đào, hoa sấu, sắc đỏ của những bông gạo vừa tàn rụng hết trong ngày hè với muôn ngàn tiếng chim kêu hót…”

*

Truyện, thơ, nhạc của Nguyễn Đình Toàn là ta đọc từ tâm thức nhẹ nhàng. Suốt hành trình trên 50 năm làm văn nghệ, Nguyễn Đình Toàn đã cho ra đời những tác phẩm sau:

Văn:

* Chị em Hải, nhà xuất bản Tự Do, 1962
* Những kẻ đứng bên lề, nhà xuất bản Giao Điểm, 1964
* Con đường, nhà xuất bản Giao Điểm, 1967
* Ngày tháng, nhà xuất bản An Tiêm, 1968
* Phía ngoài, nhà xuất bản Hồng Đức, 1969
* Giờ ra chơi, nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng, 1970
* Đêm hè, nhà xuất bản Hiện Đại 1970
* Đêm lãng quên, Văn Uyển, 1970
* Không một ai, nhà xuất bản Hiện Đại, 1971
* Đám cháy, Văn Uyển 1971
* Áo Mơ Phai, 1972.

Thơ:
* Mật Đắng.

Nhạc:

* Hiên Cúc Vàng (CD)với giọng ca Khánh Ly.* Tình Ca Việt Nam (CD) với giọng ca Duy Trác, Khánh Ly, Thái Thanh, Võ Anh Tuấn, Lệ Thu.

Và nhiều nhạc phẩm khác.

*

Nguyễn Đình Toàn đã hiến cho đời những tác phẩm hay, với riêng với tôi, tác phẩm của Nguyễn Đình Toàn đã theo bước chân thời gian của cuộc đời đeo đuổi tôi, qua những cuộc tình học trò, sinh viên, thơ mộng, dịu êm. Còn ngoài đời, tôi chỉ gặp ông đâu có hai, ba lần gì đó, cũng chẳng được dịp nói chuyện lâu, nhưng trong lòng tôi, lúc nào cũng mến mộ Nguyễn Đình Toàn.

Rất cảm ơn nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn

Trần Yên Hòa
1 user thanked thunder for this useful post.
richard on 8/10/2011(UTC)
thunder
#18 Posted : Wednesday, March 23, 2011 9:42:28 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)
“Thực Tướng Vô Tướng” trong quyển sách “Ðóng Cửa Sáu Nẻo Luân Hồi”
của Sư Thanh Tịnh Liên


Sau quyển “Như Lai Tạng”, năm nay Thiền Viện Sùng Nghiêm lại ấn tống thêm quyển sách mới của Sư Thanh Tịnh Liên, Thích Nữ Chân Thiền để biếu tặng đến quí đồng hương trong dịp Tết Tân Mão. Quyển sách có tựa là “Ðóng Cửa Sáu Nẻo Luân Hồi” được viết và trình bày rất công phu từ nội dung đến hình thức. Sách in đẹp, dầy gần 280 trang gồm 26 bài khai thị có kèm thơ ở phần cuối của mỗi bài.
Là một người đánh máy những bài của Sư Thanh Tịnh Liên từ phôi thai cho đến khi thành hình quyển sách, qua nhiều năm miệt mài làm việc bên cạnh Ni Sư, tôi quả là đã có cái duyên may khó gặp để trực tiếp được học hỏi Giáo Pháp vi diệu thậm thâm qua đường lối trực chỉ “Niêm Hoa Thị Chúng” của Ðức Phật.




Biển Pháp sâu rộng mênh mông nên học hoài học mãi vẫn không bao giờ đủ. Lúc nào tôi cũng là người chập chững học những bài học vỡ lòng. Mặc dù đã đánh máy nhiều lần, sửa đi sửa lại nhiều lần; hôm nay cầm quyển sách trên tay, đọc lại, tôi vẫn thấy những trang sách đang có trước mặt hoàn toàn mới, những hàng chữ hiện ra trước mắt hoàn toàn lạ, những lời khai thị hoàn toàn như vừa được nghe lần đầu. Tôi giở những trang sách còn thơm mùi giấy, đọc đi đọc lại, mỗi lần đọc là mỗi lần thâm nhập thêm nhiều điều hữu ích, mỗi lần đọc là mỗi lần rõ được thêm những thú vị tuyệt vời.

Tôi muốn chia xẻ vài điều cảm nhận với những người bạn đã gặp hay sẽ được gặp quyển sách Phật học này. Những cảm nhận rất riêng lẻ của một người hành Thiền, một hôm bắt gặp quyển sách làm cho mình thích thú. Những cảm nhận rất bất ngờ như những tiếng “à” thảng thốt chợt vang vang. Những cảm nhận rất mạnh mẽ khiến mình chợt tỉnh, như cái đập vào vai của cây kích trượng lúc ngồi Thiền.

Có người cho rằng những bài viết trong quyển sách “Ðóng Cửa Sáu Nẻo Luân Hồi” cao, người đọc cần phải có một số kiến thức cơ bản nào đó về Phật học mới mong hiểu thấu. Tôi không nghĩ như vậy. Bài viết tự nó không cao, cũng không thấp, mà tùy trình độ và sự hiểu biết của mỗi người để thâm nhập được đến cỡ nào. Hầu hết những bài viết về Ðạo nói chung, không phải chỉ đọc một lần mà hiểu hết được nghĩa lý thâm sâu ẩn hiện trong bài viết, mà phải đọc nhiều lần, có khi nhiều năm. Quyển sách “Ðóng Cửa Sáu Nẻo Luân Hồi” này cũng vậy, tôi chắc chắn phải đọc đi đọc lại, từng chữ, từng câu, từng đoạn. Mỗi lần đọc là mỗi lần hiểu thêm được nhiều điều mới mẻ hơn, sâu kín hơn mà tác giả đã gửi gấm.

Với 26 bài viết, Sư Thanh Tịnh Liên, đã dẫn dắt người đọc từng bước để hiểu rõ Thân Tâm, và ngay đó tự khai mở cho mình một đường lối thích hợp để nhận ra Chân Tính, cũng như đạt đến sự thường lạc giải thoát ngay trong cõi đời này. Cái Chân Tính ấy chưa hề bao giờ thiếu vắng nơi mọi người. Nó hiện hữu trong cuộc sống chúng ta ở từng động tác, ở mỗi phút giây, Nhưng vì ta luôn chạy theo những hình tướng, những âm thanh bên ngoài nên dù nó có sẵn đó mà ta đã vô tình lãng quên.

Bằng lối viết trực chỉ, là chỉ thẳng người đọc con đường ngắn nhất để nhận ra Chân Như Tự Tính của chính mình, là tính thấy, tính biết, tính nghe nơi chúng ta. Cái“Chánh Pháp Nhãn Tạng, Niết Bàn Diệu Tâm, Thực Tướng Vô Tướng”trong Pháp Hội Linh Sơn, khi Ðức Phật giơ cành hoa lên nhưng chỉ có Ngài Ma Ha Ca Diếp mỉm cười quả thật là khó. Khó vì đó là Pháp không nói được. Cái Pháp ấy, cái trí tuệ ấy khó có thể diễn bầy bằng lời nói thông thường cho người khác tin và hiểu được, vì nó Vô Tướng, nó là Pháp“như vậy, như vậy và như vậy ..” Cái mà nơi trang 41, Sư Thanh Tịnh Liên đã viết:”Khi ăn thì tự biết là mình no, khi uống thì tự biết là mình hết khát. Vậy, cái ấy chỉ có thể nhận ra được bằng chính tự tâm của mỗi người. Làm sao nói cho người khác hiểu về cái vô tướng khi mà chẳng có một hình dáng gì để so sánh? Chẳng có một liên tưởng nào để dẫn về? Làm sao có thể dùng ngôn từ thông thường của loài người để diễn tả cái mà chẳng có hình tướng gì cả? vì tất cả những âm thanh, lời nói đều là có tướng! Làm sao có thể nói cho người khác nghe vị ngon của ly trà khi họ chưa nếm thử lần nào? Chỉ có cách là chỉ cho người đó con đường dẫn đến quán trà, để người đó tìm đến và nếm bằng tách trà của chính họ! Ðó là tự mình biết qua cái vị ngon của tách trà chứ không qua lời nói của ai khác. Khó, nhưng không phải là chẳng làm được. Khó nhưng không phải là chẳng truyền được. Bằng cái nhìn thông suốt, sâu rộng trải dài trong gần 280 trang sách, Sư Thanh Tịnh Liên đã dùng những phương tiện gần gũi nhất mà viết ra, đã dùng những đoạn văn có tính cách biểu tượng, có tính cách gợi ý, để qua đó người đọc có thể nắm bắt được nghĩa của“Thực Tướng Vô Tướng“mà Sư muốn diễn đạt.Như trong bài“Bản Lai Diện Mục, trang 130“Sư viết:”... Chúng ta có thể tạm ví cái “Ðang Lặng Lẽ, Âm Thầm Vô Tư Nhận Ra” như một tấm gương luôn thanh tịnh, sáng ngời, không một tì vết, và diệu dụng chiếu tỏa của nó thật là tuyệt diệu! Không có một sự vật nào lọt qua sự phản chiếu của nó.Nhưng lạ thay, nó lại không dung giữ bất kỳ một sự vật nào, và cũng không một thành kiến phán xét. Nghĩa là nó vẫn nhận rõ không thiếu một chi tiết dù nhỏ tới đâu, nhưng lại vẫn vô tư, bình đẳng, cũng chẳng danh từ, lời nói gì hết. Chẳng khác gì kim cương Bát Nhã. Trong Kinh dạy rằng: Tâm vốn thường phân biệt mà thường giải thoát...” Bằng nhiều cách, Sư Thanh Tịnh Liên cũng đã dành toàn bộ những bài viết để giải thích cặn kẽ về Sắc, Không của Bát Nhã Tâm Kinh, dẫn dắt người đọc từng bước đi lần đến trung đạo, để đang nơi tướng mà không chấp tướng, đang nơi không mà không chấp không. Rồi từ đó hiểu được rằng tất cả các Pháp không có thật ngã, rằng tất cả các khổ đau đều phát khởi từ lòng tham ái, từ sự chấp ngã để rồi giác tỉnh mà nhận ra được cái“Ngũ Uẩn Giai Không”nơi Thân mình, mà thể nhập vào cái“Chân Không”nhưng diệu hữu nơi Tâm mình. Cái“Không”ấy không có nghĩa là không có gì, không phải cái“Không”đối với cái“Có”, mà là cái“Không”không có ngần mé, nó bao trùm cả vũ trụ vạn vật.

Với tựa đề “Ðóng Cửa Sáu Nẻo Luân Hồi”, rõ ràng Sư Thanh Tịnh Liên đã xác định là bất cứ ai, nếu biết quay về chuyển hóa Thân Tâm của chính mình thì cũng có thể thoát ra khỏi sự luân hồi sinh tử. Nơi trang 56, Sư viết: “& sáu Căn của chúng ta vô cùng quan trọng mà lại cũng vô cùng nguy hiểm! Biết dùng thì dù mục đích gì, khó khăn tới đâu cũng sẽ được toại nguyện! Còn không biết dùng thì mọi thương đau, tan tác, và mọi bi ai nhất của cuộc đời này lúc nào cũng chờ đón chúng ta!...”.

Tại sao vậy?

Theo Sư Thanh Tịnh Liên, thì đó là do bởi cái nhìn của chúng ta. Tùy theo cái nhìn hướng ra ngoài hay quay vào trong mà chúng ta tạo nên cái nghiệp thiện, ác, hay chẳng tạo cái nghiệp nào cả. Mọi phiền não trần lao đều bắt nguồn từ sự chấp thật. Chấp Thân mình là thật, chấp những suy nghĩ của mình là thật, chấp những hiện hữu quanh ta là thật, do Ý Thức phân biệt lấy bỏ mà tạo ra Nhân Quả và Nghiệp Báo. Những dòng nghiệp lực đó đã dẫn dắt chúng sinh đi vào sáu nẻo. May thay, nơi trang 56, Sư Thanh Tịnh Liên đã chỉ rõ:”Muôn loài động vật trên thế gian này đều không có đầy đủ sáu Căn! Ðặc biệt chỉ có loài người mới có đầy đủ sáu Căn, và vì có đầy đủ sáu Căn nên mới có cơ hội hiểu được Chân Lý Giải Thoát để vượt ra khỏi Sinh Tử Luân Hồi.” Và do có sáu căn mới có thể học hỏi, thấu hiểu và thực hành Chân Lý giác ngộ giải thoát. Ðồng thời, Sư Thanh Tịnh Liên đã vạch cho chúng ta biết rõ về Thân Tâm vô minh cũng như đề ra những phương pháp thực tiễn giúp chúng ta thực hành để thoát khỏi vòng vô minh hầu đạt đến Thân Tâm Viên Mãn ( Như Lai Tạng, trang 83). Ngoài ra, tác giả Thanh Tịnh Liên còn giúp chúng ta phương cách thực hành Lục Ðộ và Bát Chánh Ðạo trong tuyệt đối, là thu nhiếp sáu căn trở về một, tức là sự chú tâm một cách tuyệt đối vi tế trong mọi việc để khi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với những cảnh vật bên ngoài là sắc trần, không sinh ra Ý Thức nữa, mà trở về với cái tự tính rỗng rang, vô tướng, là Tính Thấy, Tính Nghe, Tính Biết vẫn luôn hiện hữu nơi con người (Ðóng Cửa Sáu Nẻo Luân Hồi, trang 63). Ngoài ra, trong bài“Bản Lai Diện Mục“từ trang 127 đến trang 165, Sư Thanh Tịnh Liên đã rất tỉ mỉ đề ra nhiều phương tiện giúp hành giã đi ngay vào gốc rễ trên con đường tìm về nguồn cội của mình. Những giải thích cặn kẽ về cách thức công phu cũng như về sự thẩm thấu qua lại giữa các Thức lần đầu tiên được tóm tắt bằng những biểu đồ một cách rất khoa học giúp người đọc dễ nhớ và dễ hiểu.

Khác với những quyển sách Phật học khác, quyển “Ðóng Cửa Sáu Nẻo Luân Hồi” còn những bài thơ làm rõ nghĩa thêm cho bài viết. Lời thơ cô đọng, vừa dễ đọc vừa dễ nhớ cũng là phương tiện khai thị mới mẻ tuyệt vời. Trong “Ðóng Cửa Sáu Nẻo Luân Hồi” ngôn ngữ thi ca đã chắp cánh cho những lời khai thị bay cao, những biểu tượng bóng bẩy, gọn gàng chứa đựng rất nhiều ý nghĩa thâm sâu, nhiều hình ảnh gợi lên cái nghi cho người đọc, là căn bản chính của người tu Thiền. Thí dụ như trong bài “Người là Ai, trang 240” có những câu: “&Ai đang cài đóa hồng trên ngực áo. Ai đang nhìn hoa mỉm miệng cười tươi. Gặp mặt thôi, mà thật chửa biết người! Cố gắng nhé, tầm cho ra người ấy ”. Chắc chắn sớm hay muộn “người ấy” sẽ được tầm cho ra, bởi “người ấy” sẽ trở thành một niềm thắc mắc, một mối nghi ngờ&và trong một tình cờ nào đó, một trong chúng ta sẽ “à” ra một tiếng khi đột nhiên bắt gặp “người ấy” hiển hiện.

Còn nhiều lắm những bài viết khác, những bài thơ khác trong quyển sách như: Phật Ðản Sinh, Phật Thành Ðạo, Vọng Tưởng Từ Ðâu, Thiền, Tu Là Sửa Ðổi, Ðóa Hoa Cài Áo, Mây Tan Trăng Hiện, Tâm Vô Sở Trụ, Chân Thiện Mỹ.. Tất cả đều là những lời khai thị, tất cả đều là những tiếng gầm Sư Tử nhằm giác tỉnh người đọc ra khỏi bờ sinh tử. 26 bài viết hiển hiện rõ ràng mọi phương tiện để giúp chúng ta nhận ra cái Thực Tướng nơi mình. 280 trang giấy phơi bày mọi lý lẽ đưa người đọc xa dần những vọng tưởng vô minh để đi lần đến bến bờ giải thoát ngay trong cõi đời này. Không có một câu nào, không có một đoạn văn nào mà không nói đến cái“Nhất Tướng!” Trong toàn bộ quyển sách, Sư Thanh Tịnh Liên đã chỉ ra nhiều con đường khác nhau, là những tấm bản đồ và những kim chỉ nam giúp chúng ta trên hành trình trở về. Mỗi người hãy tìm cho mình con đường nào ngắn nhất, thích hợp nhất mà thực hành.

Tôi quan niệm một quyển sách hay là quyển sách mà sau khi đọc xong những dòng cuối cùng, gấp sách lại, ta có được niềm an lạc, sự tự tin với đầy đủ tư lương để đi vào thực hành. Quyển “ Ðóng Cửa Sáu Nẻo Luân Hồi ” là một trong những quyển sách hiếm hoi đã cho tôi được cái hạnh phúc và cái hiện thực ấy.

Trịnh gia Mỹ
1 user thanked thunder for this useful post.
richard on 8/10/2011(UTC)
Hạ Vi
#20 Posted : Thursday, March 24, 2011 7:21:07 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,346
Points: 16,924
Location: CỏThơm

Thanks: 4138 times
Was thanked: 10023 time(s) in 2484 post(s)



Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên

Từ Công Phụng



Rồi mai, có một lần tôi đưa em,
về trên đỉnh yên bình, hiền hòa
Một mùa xuân lên cao,
hôn lên làn tóc xõa, theo mây trôi, bềnh bồng.

Rồi mai, có một lần tôi đưa em,
đưa em về miền nắng ấm.
Những con chim thôi ngủ sau mùa đông lạnh căm.
Hát lên gọi mùa xuân rạng rỡ,
Đem mặt trời tô mắt dại tuổi mơ

Trên đỉnh yên bình !
Một mùa xuân ôm kín khung trời,
của tuổi thơ thôi rã thôi rời
Xin đừng làm bão tuổi đôi mươi
Để vòng tay khắc khoải ôm xuôi
Từng niềm vui bay theo biển gió.

Hãy ôm trọn, ôm trọn tuổi xuân.
Có một lần vui thôi em,
đừng cho chết hương tình ngọt ngào
Đỉnh bình yên trên cao
Xin em giữ kín cho lâu dài,
một mùa xuân đã thắm trong tôi !





1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
richard on 8/10/2011(UTC)
xuan hoang
#28 Posted : Thursday, March 24, 2011 10:09:14 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702
Points: 2,148

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
Đôi Ta

Hàn Mặc Tử





........................

Mà anh hay em trong tim đều rạn
Đều chôn sâu hình ảnh một người mơ
Bây giờ đây quấn quít hiện bây giờ
Chỉ biết có đôi ta là đang sống
Đang cho nhau ngọt ngào và đang mộng
Cố làm lơ không biết đến thời gian
Đến bông hoa tàn tạ với trăng ngàn
Đến những tình duyên chung quanh thất vọng

Nhiều hành tinh tan đi vì đã lỏng
Ôi muôn năm! Giấc mộng đã đời chưa ?
Lúc ấy sóng triều rên rỉ chưa bưa
Cứ nhắm mắt, cứ yêu nhau như chết
Cứ sảng sốt, tê mê và rũ liệt
Đừng nghe chi âm hưởng địa cầu đang
Vỡ toang ra từng mảnh, cả không gian
Cả thời gian, từ tạo thiên lập địa
Đều trộn trạo, điều hòa và xí xóa
Thành hư không như tình ái đôi ta .

Trong im lìm, lẻ loi trong dãy động,
Cũng hình như, em hỡi, động Huyền Không
Mà đêm nghe tiếng khóc ở đáy lòng,
Ở trong phổi, trong tim, trong hồn nữa .

Em cố nghĩ ra một chiều vàng úa,
Lá trên cành - cành héo hắt, gió ngừng ru:
" Một mối tình nức nở giữa âm u,
Một hồn đau rã lần theo hương khói,
Một bài thơ cháy tan trong nắng rọi,
Một lời rung hoi hóp giữa không trung,
Cả niềm yêu, ý thơ, cả một vùng,
Hóa thành vũng máu đào trong ác lặng ",

Đấy là tất cả người anh tiêu tán,
Cùng trăng sao bàng bạc xứ Say Mơ
Cùng tình em tha thiết như văn thơ
Ràng rịt mãi cho đến ngày tận thế.



1 user thanked xuan hoang for this useful post.
richard on 8/10/2011(UTC)
thunder
#21 Posted : Friday, March 25, 2011 3:31:44 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)

TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM VIẾT VỀ LỄ VU LAN


Từ lâu, lễ Vu Lan Rằm tháng bảy đã trở thành ngày lễ lớn trong truyền thống lễ hội của dân tộc Việt Nam, vì vậy, nó đã không dừng lại ở lãnh vực phong tục tín ngưỡng mà còn có mặt trong sinh hoạt văn học. Ca dao, truyện thơ Nôm, nhiều nhà thơ cổ điển , hiện đại… đã có những cách tiếp cận và diễn tả về lễ Vu Lan Rằm tháng Bảy. Bài viết này xin giới thiệu bài thơ chữ Hán viết về lễ Vu Lan của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là một trong những gương mặt thơ xuất sắc của văn học Việt Nam thế kỷ 16. Sáng tác của ông rất phong phú, gồm cả văn thơ chữ Hán và chữ Nôm; trong ấy, mảng thi ca liên hệ tới cửa thiền đã có những ghi nhận, những đánh giá đáng chú ý. Oâng Trạng Trình đã viết về tiếng chuông chùa, về ngôi chùa, đã nhắc đến Phật Thích Ca, đến Bụt, đã nói về chữ Nhẫn, chữ Không trong Phật giáo, đã bày tỏ những cảm tưởng, những suy nghĩ của mình khi đọc kinh Phật (Độc Phật kinh hữu cảm); hoặc khi tới thăm ngôi chùa cổ Phổ Minh, là ngôi danh lam từng được cả nước biết tới vì ở đây có chiếc vạc lớn (đỉnh Phổ Minh), được xem là một trong bốn đồ vật nổi tiếng của Đại Việt (An Nam tứ khí) đời Lý (Du Phổ Minh tự) (*):

"Sau loạn lại tìm đến Phổ Minh

Chùa xưa đã cũ cỏ hoa xanh…

Vẳng không cổ đình rày đâu tá

Mới biếtvô hình thắng hữu hình".

(Hữu Thế dịch, Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nhà xb VH, H, 1983, tr234).

Cũng nằm trong chiều hướng nhằm ghi nhận những cảm nghĩ về một số vấn đề liên quan đến cửathiền, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có bài thất ngôn tứ tuyệt viết về lễ Vu Lan như sau:

"Thiên địa na dung tội ác nhân

Thị hà xá tội hữu hương thần

Ngã kim dục trượng từ bi lực

Cứu đắc vô cô đồ thán nhân".

(Trời đất nào dung tha kẻ ác

Cớ sao còn có lễ Vu Lan?

Từ bi ta muốn nhờ công sức

Cứu được bao người chịu khổ oan)

(Bài viết Gặp tiết Trung nguyên xá tội, Đinh Gia Khánh dịch, Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, sđd, tr 287-288)

Tài liệu trong sách thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm không cho chúng ta biết rõ hơn về hoàn cảnh ra đời của bài thơ trên, nhưng nội dung của nó không có gì khó hiểu, và quan điểm của tác giả đã được thể hiện rõ nét. Điều đáng chú ý là, đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm, một nhà thơ thường nói đến tính chất phóng khoáng, nhàn dật của Lão -Trang, lại không tiếp cận Phật lý qua ngả ấy, mà đứng ở lập trường Nho sĩ nghiêng về thực dụng để nhận xét về lễ Vu Lan. Tinh thần nhân ái và tiến bộ bao trùm toàn bài thơ cũnh như cái ước nguyện thể hiện nơi hai câu thơ sau rất là chính đáng:

"Từ bi ta muốn nhờ công sức

Cứu được bao người chịu khổ oan"

Đạo Phật được xem là đạo từ bi, nhưng từ bi ấy luôn gắn liền với trí tuệ và dũng lực tinh tấn, với đối tượng hướng tới là muôn loài chúng sinh, không chỉ ở một cõi mà là ba cõi. Tuy nhiên, khi đặt dấu hỏi ở câu thơ thứ hai:

"Thị hà xá tội hữu hương thần?" (Thế thì tại sao còn có ngày lành xá tội?) thì đúng là cụ Trạng Trình đáng kính của chúng ta còn bị vướng ở vòng hữu vi nên chưa thấu triệt được cái dung lượng siêu việt của tinh thần từ bi theo đạo Phật. Đã đành, kẻ làm ác thì bị đọa vào địa ngục đúng theo luật nhân quả. Nhưng vấn đề tạo nghiệp ác cũng rất đa dạng, phức tạp; nhiều đối tượng chỉ vì nhẹ dạ, nông nổi, mù quáng, hay bị xúi giục mà lầm lỡ nhất thời. Vì thế, đạo Phật với tinh thần từ bi vô phân biệt, đã luôn tạo ra cơ hội để cho các đối tượng có thể hối cải, chuyển nghiệp nhân nhằm đạt được quả báo tốt hơn.

Tạo cơ hội bằng cách nào? Có nhiều cách, bố thí là một trong những cách ấy. Bố thí là một trong sáu pháp tu tập của hạnh Bồ Tát, có khả năng giúp hành giả vượt được bến sinh tử cặp bờ giác ngộ, nên gọi đủ là bố thí Ba la mật. Bố thí gồm tài thí (bố thí bằng của cải), pháp thí (bố thí bằng chánh pháp) và vô úy thí (giúp cho đối tượng dứt mọi sợ hãi, tức là tạo cho họ niềm tin về chính mình, tin ở nhân quả, tin mình là chủ của các nghiệp do mình tạo ra, để có thể hoán cải nghiệp nhân mà có được quả báo tốt hơn). Lễ Vu Lan Rằm tháng Bảy với sự nhấn mạnh cả hai yếu tố tự lực và tha lực, cũng là một cách tạo cơ hội tốt vậy. Khi Nguyễn Du đã từng viết:

"Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh

Trong giấc mê khua tĩnh chiêm bao

Mười loài là những loài nào

Gái trai già trẻ cùng vào nghe kinh…"

(Văn tế thập loại chúng sinh, câu 165-168, dẫn theo Nguyễn Du toàn tập, T2, nhà xb VH, H, 1996, tr407)

Thi hào Nguyễn Du đã thâu tóm, một cách sinh động, đầy hình tương tính chất tự lực, tha lực, pháp thí và vô úy thí của Phật giáo. Hai câu: "Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh; trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao" không chỉ là sự nhấn mạnh yếu tố tha lực (kinh Phật, pháp Phật nhiệm màu) mà còn nói về tính tự lực. Bởi vì trong sự khua tỉnh giấc mơ ấy, chỉ có những tâm hồn thao thức với nẻo giác ngộ, thao thức với những lỗi lầm mình đã tạo ra và giờ đây muốn thay đổi… mới bắt gặp. Và hình ảnh "gái trai già trẻ cùng vào nghe kinh…" cũng chính là một cách hình tượng hóa công việc pháp thí và vô úy thí. Thực tế cho thấy có biết bao kẻ mộ Phật đã nhờ vào một câu kinh, lời kệ, mà đã chuyển hóa được cuộc đời mình, đã tìm được đáp số tuyệt vời cho bài toán về hạnh phúc. Đây là những phát biểu của chúa Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) ghi trên văn bia chùa Thiên Mụ-Huế, dựng năm 1715:

"…Coi đời sống vương giả ở nơi cung điện không thoải mái bằng đời sống ở chốn thiền quan, ngựa thắng yên cương nạm vàng giáp ngọc không quý bằng chiếc gậy kim cang, cẩm y hoàng bào rực rỡ thường làm chóa mắt thế nhân không giá trị bằng chiếc áo cà sa và những kho ngọc và châu báu xét cho cùng cũng chỉ là toàn là những trò hư ảo mà thôi…" (Phan Du dịch, in trong Mộng kinh sư, nhà xb Cảo Thơm, S, 1971, tr102).

Tiếp cận và thấu đạt diệu lý vô thường, như thế con người đã có thể đem lại cho mình hạnh phúc thực sự trong cõi đời này.

Nguyễn Bỉnh Khiêm vốn là người am hiểu kinh Dịch tâm đắc với tính nhàn dật tiêu dao của Lão-Trang, nhưng đã không từ nẻo đường ấy để tiếp cận Phật lý, mà lại đứng ở quan điểm của một Nho sĩ nghiêng về thực dụng để vấn nạn về lễ Vu Lan, nên không thể lãnh hội được tính siêu việt của tinh thần từ bi theo đạo Phật là điều dễ hiểu. Một số Nho sĩ cố chấp ở thế kỷ 15,16, thường đứng ở quan điểm chữ hiếu của Nho giáo để kích bác đạo Phật, mà không biết rằng Phật giáo đã thuyết minh rất đầy đủ về chữ Hiếu bao gồm cả Hiếu thế gian và Hiếu xuất thế gian-tức giúp cho cha mẹ cùng người thân nhận rõ nẻo chánh tà, thiện ác, bỏ ác hành thiện, diệt khổ, hướng tới giải thoát; và Hiếu xuất thế gian ấy mới là con đường cứu cánh đạt tới hạnh phúc chân thật.

Phải chăng Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn chưa vượt xa tư tưởng của tầng lớp Nho sĩ đó? Câu hỏi này không phải là không có cơ sở, bởi vì chúng ta còn gặp một bài thơ Nôm khác của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm với nhan đề rất Hán: "Giới sùng Phật vô ích" (Răn sùng bái Phật không ích gì) qua đó ông Trạng Trình đã có những nhận xét lệch lạc, sai lạc về đạo Phật (xem Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, std, tr184) và chúng tôi sẽ xin đề cập tới một dịp khác.

(Tuần báo Giác Ngộ 127/9-1998)

ĐÀO NGUYÊN

1 user thanked thunder for this useful post.
richard on 8/10/2011(UTC)
xuan hoang
#29 Posted : Sunday, March 27, 2011 5:37:12 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702
Points: 2,148

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
Bùi Giáng

Một Bài Thơ Lạc Vận






Bùi Giáng đã được nói đến nhiều. Mỗi người đọc ông nói đến ông theo một cách. Người ta nói đến thơ ông, nói đến tư tưởng của ông, nói đến cách thế ông sống, tùy theo cách nhìn của mình.

Người ta nhìn thấy ở ông, rõ hơn, kiến thức của ông, tư tưởng của ông, như một hội tụ lớn của tư tưởng Đông Tây.

Người ta cũng nói đến ông như một người điên.

Nếu ai đã có dịp nhìn thấy ông mang trên mình đủ các thứ: nồi, niêu, xoong, chảo, vành bánh xe đạp, đầu đội mũ sắt, vắt trên vai những miếng băng vệ sinh nhặt được ở đâu đó, tay cầm một chiếc gậy, đứng giữa đường, thổi còi, vung tay chỉ lối cho xe cộ, thì coi ông là một người điên cũng không có gì quá đáng.

Nhưng cũng người điên ấy, vai mang một tấm biển, đi rong qua các phố, trên tấm biển có những dòng chữ viết tay:

Hoan hô đồng chí Phạm Tuân
Khi không anh bỗng nhẩy tưng lên trời


Thì nhiều người lại cho rằng đó là một người điên giả vờ. Một sự việc quan trọng như thế, một người Việt “ đi dép lốp mà bay vào vũ trụ ” như thế, mà nói tới một cách giễu cợt vậy sao?

Ông đã bị công an bắt giam.

Nhưng rồi sau đó người ta cũng thả ông ra, vì... ông điên! Và có lẽ vì điên nên ông không biết sợ, ông nói toáng lên những điều có người nghe rồi cười, có người không muốn nghe, cả những điều người ta không dám lập lại dù là để báo cáo đi nữa!

Người ta cũng nhìn thấy ông, mặc bộ quần áo rằn ri của quân đội cũ, đứng trước cửa trường Đại Học Vạn Hạnh, nhìn các đám sinh viên nam nữ qua lại, mủm mỉm cười, bảo: “ Lịch sử bức bách tụi bay quá! ”

Còn rất nhiều những giai thoại liên quan tới Bùi Giáng, liên quan tới những cơn điên của ông, liên quan tới thơ ông.


Cũng vô lý như làn kia dưới lá
Con chim bay bỏ lại nhánh khô cành
Lá cũng mất như một lần đã lỡ
Trời đã xanh như tuổi ngọc đã xanh
Trời còn đó giữa tháng ngày lỡ dở
Hồn nguyên tiêu ai kiếm lại cho mình
Bờ trùng ngộ một phen này phen nữa
Tờ cảo thơm như lệ ứa pha hồng
Hồn hoa cỏ Phượng Thành Hy Lạp úa
Nghe một lần vĩnh viễn gặp hư vô.


Đọc một lần, đọc hai lần những câu thơ ấy của Bùi Giáng, ai có thể cả quyết ông nói tới điều gì?

Cái mất, cái còn, cái cổ xưa, cái cận đại,

Hồn nguyên tiêu
Phượng Thành Hy Lạp úa
Bờ trùng ngộ một phen này phen nữa


Điển tích và những câu nói cửa miệng xen lẫn, bờ trùng ngộ là gì mà có cả một phen này phen nữa?

Đọc liền một lúc một bài thơ của Bùi Giáng, đọc một hơi mươi mười lăm câu thơ của ông, người ta có cảm tưởng ông đùa rỡn với một điều gì đó hết sức nghiêm trọng. Nhưng đã nghiêm trọng sao lại đùa? Đọc một hai câu thơ của ông thôi, có khi chúng ta lạnh mình, tựa hồ bị thổi tạt bởi một cơn gió rét không biết tự phương nào lại.





Đất hoa khóc vĩnh biệt trời
Ngàn cây cố quận đổi lời sương thâu


Đất khóc, trời khóc hay người khóc ? Nhưng khóc cái gì mới được chứ ? Đất trời có vĩnh biệt đã vĩnh biệt lâu rồi, không còn gì để khóc. Ngàn cây cố quận đổi lời sương thâu. Hãy tưởng tượng một sớm hay một chiều nào đó, ta trở về quê cũ, ngẩng mặt trông những hàng cây, gió thổi lùa sương từ cành này qua cành khác. Cành nói với lá. Lá nói với hư vô, nói với ta, hay chỉ vì gió lay nên cành động? Cố hương. Cố quận. Cố nhân tình. Mờ mờ, ảo ảo.

Cảnh cũng là người và người cũng là cảnh, lẫn lộn trong sương mù.

Ta cười cợt, ta nghiêm chỉnh, ta nhớ quên, ta làm bộ hay ta biết rõ, tất cả đều diễn ra cùng một lúc với cái chết. Cái chết như sương mù bôi xóa.

Nhưng nghĩ như thế cũng có thể là nghĩ sai về thơ Bùi Giáng.

Hãy nghe ông nói về thơ ông:

“ Thơ tôi làm ra là để tặng chuồn chuồn, châu chấu, xin các ngài học giả hãy xa lánh thơ tôi ”.

Hoặc:

“ Muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể làm một bài thơ khác ”.

Ông còn bảo rằng:

“ Kẻ nào tự xét mình từ trong tinh thể mà ra chả có chi là phiêu bồng tí chút thì chả nên cưỡng cầu tự ép uổng ghé vào thi ca thâm xứ mà chi ”.

Như thế, Bùi Giáng vừa làm thơ vừa muốn đóng cửa thơ.

Nguyễn Vy Khanh, trong một bài viết về thơ Bùi Giáng cũng cho rằng “ người ta đã viết nhiều về hành trạng Bùi Giáng hơn là thơ của ông ”.

Nhưng hành trạng sống của ông cũng là thơ ông.

Thơ ông làm là để tặng chuồn chuồn châu chấu tại sao chúng ta lại lấy đọc rồi trách ông tư tưởng rời rạc, không có hệ thống?

Trữ tình chăng ?

Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con


Hiện thực chăng?

Bây giờ em để quần đâu
Cỏ trên mình mẩy em sầu ra sao?


Cười cợt chăng?

Que diêm que lửa que lời
Cõi trăm năm cũng một đời ba que.


Hai câu thơ vừa rồi rút trong bài “ que diêm ” Bùi Giáng viết sau năm 1975.

Thơ Bùi Giáng như vậy.

Ông không khóc nhưng hình như thơ ông có nước mắt. Ông cười cợt khi nói lời nghiêm trang. Ông nói với chính mình nhiều hơn với người khác.

Về cái chết của mình ông đã để sẵn trong tập Mưa Nguồn cách ngày ông qua đời mười năm mấy câu này:





Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian này mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu


Bùi Giáng là ai ?

Một trung niên thi sĩ như ông vẫn tự gọi ?

Một nhà thơ lớn của Việt Nam ?

Hay giản dị: ông chỉ là một người điên ?

Rất nhiều người, trong đó có cả những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học của chúng ta, đã thử trả lời câu hỏi ấy, nhưng hình như vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng.

Mỗi người nhìn ông một khác.

Người ta viết, nói về Bùi Giáng như một cách tự giải đáp những thắc mắc của mình về Bùi Giáng nhiều hơn là thơ của ông.

Và khi nói về thơ của ông dường như người ta lại nói về các giai thoại quanh ông, những điều bàn tán về ông nhiều hơn.

Nhưng nếu người ta đã có lần đọc Bùi Giáng, yêu những bài thơ, những bài phiếm luận của ông liên quan tới thi ca, triết học, tôn giáo, chuyện tào lao dính tới Brigitte Bardot, Kim Cương hay Mẹ Phùng Khánh của ông, thì người ta sẽ vô cùng thích thú vì thấy tất cả những điều đàm luận kia chẳng khác những tấm gương phản chiếu nhiều khuôn mặt của Bùi Giáng: cười cợt, đau đớn, nghiêm chỉnh, điên rồ...

Nhà thơ Huy Tưởng coi Bùi Giáng là “ Thông tuệ và tài ba ngất trời điên đảo ”.

Nhà văn Mai Thảo viết: “ Bùi Giáng chất ngất một trời chữ nghĩa, trùng trùng một biển văn chương. ”

Nhà phê bình Huỳnh Hữu Ủy cho rằng: “ Đi cho tới cùng cái sâu thẳm nhất của ngôn ngữ tới đỉnh cao chót vót của nó sống với nó trong từng mỗi giây phút, trong từng mỗi sát na, xưa nay có lẽ chỉ mới có Bùi Giáng là một. ”

Nhà văn Cung Tích Biền cho thấy một Bùi Giáng trong thơ và ngoài đời như sau:

" Sống giữa đời ông có khả năng lấy mật đắng, ớt cay làm ngọt. Ăn cơm để thiu rất nhiều ngày. Ông ăn chè ngọt nấu cả với tương chao, nêm vài con mắm. Ông nổi tam bành lúc người đời lẽ ra nên cười, được phúc, đắc lợi. Ông rất vui với những ngày chói lòa ánh dương trong một thị thành mà nhìn xe cộ tưởng hươu nai."

" Ông lạ trong sinh hoạt đời thường, lạ trong thi ca, tư tưởng. Ông rất đỗi cô đơn, tự đọa đầy, vầy cuộc chơi múa hát chỗ vô thanh, đùa giỡn quỷ thần, tương đắc kẻ ở mộ, nhớ những người sẽ tới. Ông trào lộng tuyệt cùng giữa bi đát. Nói chung, cuộc sống của ông khá bí ẩn và kỳ dị."

Như thế, có vẻ như người ta không tiếc lời ca ngợi Bùi Giáng.

Nhưng cũng không thiếu những người nghĩ khác.

Chẳng hạn như Thụy Khuê.

Thụy Khuê viết:

“ Trong gần nửa thế kỷ làm thơ, Bùi Giáng đã để lại hàng ngàn bài, có những câu thơ tuyệt hay, nhưng chính sự lập lại những khám phá ngôn ngữ buổi đầu khiến thơ ông trở thành khuôn sáo về mặt từ ngữ cũng như tư tưởng. Những dạ thưa, tồn sinh, trùng lai, phố thị của Bùi Giáng,
tà huy của Nguyễn Gia Thiều, mù sa, trăm năm của Nguyễn Du ban đầu làm xao xuyến người đọc... Nhưng vì lập lại nhiều lần, chúng bị phá giá.”

Còn Trần Hữu Thục trong một bài nhận định của mình đã viết rằng:

“ Nói cho rõ ràng ra, thơ của Bùi Giáng dở. Trừ một số câu thơ hay, chưa hẳn là rất hay, còn lại hầu hết thơ ông đều dở. Tôi có cảm tưởng rất nhiều câu thơ của ông làm chẳng khác gì những câu thơ ngây ngô của mình khi mới bắt đầu tập tễnh làm thơ hồi còn học trò.”

Xin trích dẫn mấy câu lục bát của Bùi Giáng:

Giật mình lúc chợt nghĩ ra
Rằng toàn thân thuộc đã qua đời rồi


Có những câu ta thật sự không hiểu ông định nói gì:

một hôm gầu guộc gầm ghì
hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm


Xen vào đấy là những câu có thể làm chúng ta sởn người khi đọc:

Đất hoa khóc vĩnh biệt trời
Ngàn cây cố quận đổi lời sương thâu


Hoặc chỉ một câu thôi đủ làm chúng ta ngẩn ngơ:

Còn hai con mắt khóc người một con






Bùi Giáng điên thật chăng ?

Người ta kể lại rằng, một cán bộ cao cấp của Hà Nội khi gặp Bùi Giáng đã nói, họ đánh giá cao những tác phẩm của ông, nhưng muốn rằng Bùi Giáng phải thay đổi cách suy nghĩ, phải tỏ ra tiến bộ mới có thể làm việc trở lại được, hiểu theo nghĩa mới được “ phép ” viết lách trở lại. Bùi Giáng đã đứng dậy chỉ vào mặt người này, hỏi lại:

- Thế nào là tiến bộ ? Trời đất có bắt núi non tiến bộ không ? Nếu núi non tiến bộ mãi mày đi đâu mà ở ?

Đó có phải lời nói của một người điên chăng ?

Đây là một giai thoại bịa đặt hay có thật ?

Trở lại với thơ Bùi Giáng.

Hình như ông không làm thơ theo quan niệm, theo cái cách người ta thường nghĩ.

Ông rũ bỏ thơ ra khỏi mình như những bụi bậm, như một oan nghiệp.


Mai Thảo mất trước Bùi Giáng.

Trước khi chết Mai Thảo có để lại bốn câu thơ:

Và ở Sài Gòn vẫn còn Bùi Giáng
Tối tối về chùa, đêm làm thơ
Ngày ca múa, khóc cười giữa chợ
Kẻ sĩ điên thế kỷ mù rồi


Hai người có gặp lại nhau chăng ?

Nếu có, họ sẽ nói gì với nhau nhỉ ?

Thanh Tâm Tuyền gọi Bùi Giáng là “ một thiên tài tự hủy ghê gớm nhất của thi ca hiện đại ”.

Nguyễn Hưng Quốc coi “ thơ Bùi Giáng là những phún xuất thạch phun lên từ hỏa diệm sơn của hồn ông ”.

Nguyễn Hoàng Văn cho rằng “ thơ ông [Bùi Giáng] là khối trầm hương chữ nghĩa ”.

Còn Bùi Giáng tự nói về mình thế này:

Miệng anh còn đủ lưỡi môi
Mà răng rụng hết lấy gì nhe ra
Mím môi ôm mặt khóc òa
Hôn em một chút cho đỡ già nua thôi.


Tóm lại khó có một bức chân dung Bùi Giáng. Chỉ có một hình ảnh từa tựa. Ông là một bài thơ lạc vận và đôi khi thừa chữ.

Nguyễn Đình Toàn



1 user thanked xuan hoang for this useful post.
richard on 8/10/2011(UTC)
Users browsing this topic
Guest (2)
142 Pages123>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.