Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

31 Pages«<2728293031>
Nẻo Về Của Ý
coffeebean
#575 Posted : Thursday, February 7, 2013 1:56:27 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)

Ngày còn nhỏ, nhớ làm sao. ôi, nao nức. Mỗi khi trời ráo hẳn những cơn mưa cuối mùa, bất chợt thoáng đến rồi đi . Những sáng sớm và đêm tối về nao nao se lạnh, thường phải mặc thêm chiếc áo len đi học ... Vâng đó là mùa vui chơi, ngong ngóng chờ mong của trẻ nhỏ. Sau lễ Noel, là Tết tây và Tết ta sắp đến đây. Cả một trời tưng bừng mở hội cho lòng những bé con tíu tít mơ màng. Từ nhà đến lớp học từ mảng cỏ đến cội cây sân trường, đâu cũng là Xuân, là giăng mắc niềm hao hức chờ Tết đến ... Lớn thêm một tí, ngày chờ Tết lại càng thắm thiết vì bé con đã biết và đang tập làm cho Tết trở nên hào hứng hơn, có chút gì đó cho riêng mình ... đám thì trang hoàng lớp học, đám thì tập dợt ca hát líu lo rồi trình diễn có khi là thi đua văn nghệ tất niên, cười vui như mãi mãi sẽ là những trò ngộ nghĩnh, đoạn kịch khôi hài ... và không làm sao quên được đêm lửa trại hiếm hoi nơi sân trường vắng lặng, lửa reo tí tách thày trò bên nhau ôn mẩu chuyện vui ngây ngô ... rồi những đêm đốt lửa chập chững đưa chân vào đời ... đã chẳng giữ lại được chút êm ấm cũ . .. hong chưa ấm được bàn tay, lửa đã xém ...

Những năm tháng lưu lạc cộng với năm tháng khắc khoải lao đao đã nhiều gấp bao nhiều lần ít năm tháng vui xưa tuổi nhỏ ngày Tết, thế mà vẫn nhớ mãi khôn nguôi ... Có những nơi đi qua ở lại ít lâu không ai biết đến Tết. Có nơi xôn xao quán xá vẫn thấy mình lạc lõng giữa phố lạ đường xa. Nhưng kỷ niệm thì chỉ cần một chút gì gợi nhớ, như một cành xương gầy hao hao dáng hoa mai, bụi cúc vàng ... là dào dạt xô về sắp hàng thứ tự chờ gọi tên, giống như những đứa học trò bé con nghiêm chỉnh mà nhấp nhỏm sắp hàng chờ phần quà trong buổi học cuối năm trước khi nghỉ Tết.

Buổi học ấy thường là không học gì cả, Học trò ngồi nghe thày cô kể lại chuyện ngày Tết và những sự tích, lịch sử gắn liền với Tết ... rồi cả lớp, thày trò cùng nhau hát vang bài vua Quang Trung đại phá quân Thanh, Ly Rượu Mừng. Thày vẫn không quên hai bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên, Chợ Tết của Đoàn Văn Cừ ... Có lẽ với lời giảng giải vừa hào hùng vừa tha thiết chan chứa tình quý mến ấy ... đã làm những bài thơ câu hát còn âm vang, chỉ cần một nhánh cây khô, một lời hát, một gợi nhớ về Tết là dung dăng dung dẻ dắt díu nhau về ngay sân trường cũ.


Chợ Tết
Đoàn Văn Cừ





Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi,
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh,
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh,
Người các ấp tưng bừng ra chợ tết .
Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc.
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon,
Vài cụ già chống gậy bước lom khom,
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ .
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ ,
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu ,
Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau.




Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa,
Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa,
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh.
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh.
Người mua bán ra vào đầy cổng chợ.
Con trâu đứng vờ rim hai mắt ngủ,
Để lắng nghe người khách nói bô bô.
Anh hàng tranh kĩu kịt quẩy đôi bồ,
Tìm đến chỗ đông người ngồi giở bán.
Một thầy khóa gò lưng trên cánh phản,
Tay mài nghiên hí hoáy viết thơ xuân .
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm ,
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ.



Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ,
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau.
Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu,
Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu.
Áo cụ lý bị người chen sấn kéo,
Khăn trên đầu đang chít cũng bung ra.
Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà,
Quên cả chị bên đường đang đứng gọi.



Mấy cô gái ôm nhau cười rũ rượi ,
Cạnh anh chàng bán pháo dưới cây đa .
Những mẹt cam đỏ chót tựa son pha .
Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết ,
Con gà trống mào thâm như cục tiết ,
Một người mua cầm cẳng dốc lên xem .
Chợ tưng bừng như thế đến gần đêm ,
Khi chuông tối bên chùa văng vẳng đánh ,
Trên con đường đi các làng hẻo lánh ,
Những người quê lũ lượt trở ra về .
Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê ,
Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ .





Xin một thoáng nghe ngày tháng cũ vọng về trong một góc lặng lẽ của ký ức nào đó chưa nhạt nhoà tan tác

http://youtu.be/GZqrU3moBDU

1 user thanked coffeebean for this useful post.
thuylinh on 2/9/2013(UTC)
thuylinh
#576 Posted : Sunday, February 10, 2013 12:07:53 AM(UTC)
thuylinh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 534
Points: 1,686
Location: Canada

Thanks: 1187 times
Was thanked: 353 time(s) in 196 post(s)
Tết Nhớ Quê Nhà


Nguyên Hạ-Lê Nguyễn







Những ngọn gió hắt hiu trong buổi chiều cuối năm nơi đây làm lay lắt hồn kẻ xa quê thêm khắc khoải...Một mình dạo qua khu chợ Tết của người Việt nơi tôi đang sống vào buổi chiều cuối năm, không mục đích, không mua sắm, chỉ là muốn tìm lại chút dư hương của những ngày xưa cũ nơi quê nhà, một buổi chợ chiều ba mươi tết, buổi chợ cuối cùng của một năm....sao giống như cảnh đời mà mỗi con người mang kiếp đời xuôi ngược đã đi qua...

Kìa là những chậu hoa cúc vàng gãy nát, bên cạnh những bao bì gỡ bỏ chưa dọn dẹp, cùng với những sạp kê thêm bày bán những hàng phục vụ cho những ngày tết...Những người bán hàng cũng vội vã dọn dẹp hàng hóa để trở về nhà .
Không còn kẻ tất bật chạy mua những món hàng ế ẩm với giá được rẻ với số tiền kiếm được muộn màng hòng về kịp buổi đón giao thừa bên gia đình với sự mừng vui của đàn con trong những gia đình nghèo khó... Hình ảnh tôi đã từng nhìn thấy nơi quê hương tôi...của những ngày xa mờ còn ghi mãi trong ký ức.

Cũng thời khắc chập choạng của buổi chiều ba mươi tết , những thời khắc chờ đón năm mới sắp bước sang, khi mọi người tề tựu bên nhau chờ đón ông bà, mâm cỗ đã được chuẩn bị xong, những giấy tiền còn vương mùi khói tỏa, khi những bộn bề của một năm cũ sắp giũ sạch vào lúc nửa đêm...

Giây phút thiêng liêng này, nếu ai đó chỉ một mình lặng thầm với nỗi buồn xa xứ, một mình chiêm nghiệm lại những thăng trầm của một năm qua hay suốt chặng đường trong cuộc đời...dẫu thành công hay thất bại, lòng vẫn buồn và ray rứt một niềm riêng...và mới cảm thông cho những con người xa quê vì sao năm nào cũng chen lấn dốc hết hầu bao của chặng đường sau lưng với bao cay đắng cuộc đời vẫn tìm về bên những người thân còn ở lại...để được ấm áp bên khung cảnh thiêng liêng nơi xứ sở mình, đem những đồng tiền kiếm được bằng đôi tay và khổ nhọc ra vung vãi ...

Sau khi trở lại xứ người lại âm thầm làm kiếp con tằm, thật đáng thương hơn là mỉa mai chê trách, nhưng có mấy ai chê trách những đứa con xa trở lại nhà...

Chiều cuối năm là một khoảng lặng dịu êm của tâm hồn...nhìn lại mình và những dâu bể của cuộc đời. Bên tay lái tôi lặng thầm nhẩm lại những được mất của năm qua "Năm tuổi với những may rủi cuộc đời phải có". Cũng đã bao chiều ba mươi tết đã đi qua trong cuộc đời, tuổi trẻ đã theo những chiều cuối năm vụt biến...một thời xa xưa nơi quê nhà như một giấc mộng thoáng qua và vụt mất, còn chăng chỉ là nỗi nhớ tiếc vào những buổi chiều xuân.

Biết bao chiều ba mươi tết đã đi qua, tuổi trẻ đã đi qua và tuổi già với bao nhiêu nỗi niềm nhớ tiếc. Biết bao lần đón giao thừa một mình nỗi buồn xa xứ...Và bây giờvẫn nỗi buồn của kẻ ly hương.

Trên chặng đường trở về nhà ...kiếng xe xuống thấp cho ngọn gió hắt hiu vờn nhẹ lên mắt môi khô khốc nỗi nhớ quê hương bùng lên quắt quay trong lòng , qua những chặng đường tối đen của một chiều ba mươi tết, nhớ thương nhiều đất nước tôi và mái nhà xưa bên kia bờ đại dương xa thẳm....
Thành phố Quy Nhơn với biết bao kỷ niệm...Tôi lớn lên và có biết bao người thân, bạn bè và tình yêu cùng nỗi buồn vui bỏ lại...Những giao thừa, những cái tết bên mẹ bên cha, bạn bè tôi và những hẹn hò ngày cũ...chỉ còn là nỗi nhớ mỗi Xuân về.

Khi trời đêm lấp lánh vạn vì sao...
Khi đó - nơi quê tôi là buổi sáng
Khi trong tôi ngập tràn nỗi buồn vô hạn
Giao thừa đây- Mồng một chốn quê tôi

Ở đây vào những ngày giáp tết, không nhìn thấy cành mai vàng rung rinh trong gió Xuân chở sau những chiếc xe rất vội, không nhìn thấy những cành hoa Đào khoe lộc biếc, những vạn thọ vàng ươm bên lối ngõ...Không thấy cảnh rộn ràng dọn dẹp cổng trước vườn sau, không nhìn thấy nỗi lo toan tính toán của những cặp vợ chồng lo trang trải trứơc sau...Ki cóp những đồng tiền góp nhặt để lo toan cho những ngày năm mới...

Mà ở đây:

Khi gió đông thôi xáo xác ngoài song
Hoa chúm chím trên cành cao lộc biếc
Khi trong ai nhuốm nỗi buồn thê thiết
Là quê nhà đã bước đến giao thừa.

Nhớ cánh én năm xưa bay lượn trên cao vào những buổi chiều xuân nơi đất mẹ...như lẩn khuất trong lòng người xa cố quận, chợt bâng khuâng chao đảo giữa buổi chiều Xuân nơi đất lạ không chút hương Xuân chỉ thấy lòng người viễn xứ ngậm ngùi, cay cay nơi chóp mũi vào mỗi buổi chiều Xuân.Nỗi nhớ quắt quay đã bao lần lập đi lập lại, đã bao lần của những người xa quê khi mỗi lần tết đến...
Tuy đủ đầy những món hàng cho ngày tết cũng giông giống như của ngày xưa...nhưng nỗi nhớ quê hương vẫn thê thiết trên từng chân tơ kẽ tóc...nhớ nhớ lắm mái nhà xưa và những người thân ở đó.

Bỗng trong ta xin một điều ước nguyện:
Được trở về -xuôi thuyền ngược trên sông
Được làm chim vượt biển lượn trời đông
Về cố xứ- tưng bừng xuân quê mẹ


Tôi trở về nhà bên mâm cơm cúng rước ông bà chiều ba mươi tết.đã sẵn sàng Sáng hôm nay tôi đã chuẩn bị sẵn mâm cơm cúng rước ông bà cho buổi tối hôm nay trước khi rời nhà, Cũng vẫn các món y như ngày xưa mẹ tôi đã làm : Nồi thịt kho với trứng," tạ ơn trời đất có đủ thịt thà cho cả năm no đủ..." Bát canh khổ qua nhồi thịt " ăn cho cái khổ nó qua đi" Những nem chả , bánh mứt , bông hoa , hương thơm của ly trà thơm và khói nhang lan tỏa...

Vợ chồng tôi thắp hương lên bàn cha mẹ...với lời khấn hứa cùng mẹ cùng cha, cùng ông bà tổ tiên... Tôi thầm thì với cánh chim ngoài cánh cửa:

Xin nhắn gởi cánh chim về nói hộ
Bạn bè tôi và những kẻ thân yêu
Chiều cuối năm -buồn thao thiết muôn chiều
Năm tháng lụn- bến sông xưa nhớ mãi.




1 user thanked thuylinh for this useful post.
coffeebean on 2/10/2013(UTC)
thuylinh
#577 Posted : Sunday, February 10, 2013 12:59:38 AM(UTC)
thuylinh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 534
Points: 1,686
Location: Canada

Thanks: 1187 times
Was thanked: 353 time(s) in 196 post(s)










1 user thanked thuylinh for this useful post.
coffeebean on 2/10/2013(UTC)
coffeebean
#578 Posted : Wednesday, April 10, 2013 1:15:22 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)




Tôi Cố Bám Lấy Đất Nước Tôi


Nguyễn Đình Toàn - Khánh Ly



http://youtu.be/9A1O3Y_cfbE


Tôi đã bám lấy đất nước tôi, bằng sức người vô hạn.
Bằng sức người đầu đội trăm tấn bom,
Tim mang nghìn dấu đạn.

Tôi đã đổ mồ hôi, đổ máu tươi
Để mong ở lại đây
Dù thế nào cũng ở lại đây.

Nhưng đất đã đỏ, vì bị nung bằng những lời dối trá
Người bám vào lửa đã đốt cháy tay
Lửa hờn căm, lửa hiểm thâm, lửa khốn cùng cay đắng
Người lừa nhau, trời đất còn bưng mặt thảm thương

Ba mươi năm cuộc tương tàn chưa đủ ?
Người giết người, không kịp mở mắt trông
Ba mươi năm mạng người như rác cỏ
Dây hòa bình, còn thắt cổ người tin

Khăn tang nào, che ngang đầu,
Những kiếp người một đời giông bãọ
Trong binh lửa, giữa oán thù, hằng cầu mong đến khi bình an.

Ai đâu ngờ, sau tiếng súng, đời lại thêm một thời nát tan
Non sông buồn, đã điêu tàn, thêm máu lệ chứa chan một lần.


Khăn tang người như cây rừng, khắp chốn giờ hẳn còn in bóng.
Đêm oan hồn, đêm điên cuồng, còn chảy tuôn, máu chưa hề quên
Nửa nước này, đã cố giết một nửa kia, để lập chiến công.
Ai đau lòng, ai vô tình, ôi sách sử, dấu thiêng anh hùng.

Tôi đã bám lấy đất nước tôi, bằng sức người đã kiệt
Bằng sức người đã tả tơi ước mơ, tay chân dường rũ liệt
Tôi cố đợi ngày Việt Nam tái sinh, trong sông biển yêu thương.
Cho dẫu lòng đã ... bạc ... lòng mong.


*****

Chú thich:
Trong phần mở đầu nhạc phẩm này, không hiểu vì lý do nào, người "upload the clip" đã bỏ hình ns Trịnh Công Sơn vô ... Trong khi Tác giả là nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn, bean post bài hát từ youtube không có ý dùng clip này để đưa lên hình ảnh của TCS.

1 user thanked coffeebean for this useful post.
Leo13 on 5/12/2013(UTC)
chiều tím
#579 Posted : Sunday, April 14, 2013 7:31:13 AM(UTC)
chieutim

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 262
Points: 810
Location: Nha Trang

Thanks: 207 times
Was thanked: 121 time(s) in 83 post(s)





Nhớ Cây Đa Chùa Viên Giác

Thơ Trần Trung Đạo



Tôi chưa kịp trở về thăm Viên Giác
Mười hai năm bèo dạt bến sông đời
Cây đa cũ chắc đã già hơn trước
Biết có còn rụng lá xuống sân tôi


Ðời lưu lạc tôi đi hoài không nghỉ
Ðể niềm đau chảy suốt những mùa thu
Thời thơ ấu cây đa già tri kỷ
Vẫn còn đây trong ký ức xa mù


Tôi khổ cực từ khi cha mất sớm
Nên bà con, thân thuộc cũng xa dần
Khi tôi khóc, đa đau từng cuống lá
Khi tôi cười, xào xạc tiếng quen thân


Ða làm mẹ vỗ về tôi giấc ngủ
Ða làm cha che mát những trưa hè
Ða làm bạn quây quần khi rảnh rỗi
Ða làm người chơn thật chẳng khen chê


Mỗi buổi sáng tôi một mình ôm chổi
Quét lá vàng như quét nỗi cô đơn
Lá vẫn rụng khi mỗi mùa thu tới
Như đời tôi tiếp nối chuyện đau buồn


Chùa thanh tịnh chẳng dung hồn lữ thứ
Một chiều thu tôi lạy Phật ra đi
Bỏ lại tiếng chuông chùa vang khuya sớm
Cây đa già đứng lặng khóc chia ly


Ðường tôi qua đã không còn bóng mát
Ngày nhọc nhằn mưa lũ xuống đêm khuya
Ða ở lại âm thầm ru khúc hát
Ngậm ngùi buông theo mỗi tiếng chuông chiều


Ða thân mến dẫu có vàng thương nhớ
Cũng xin đừng gục xuống dưới sân tôi
Xin cố đứng để chờ nghe tôi kể
Chuyện trầm luân của một kiếp con người


Tôi sẽ đến ngôi chùa xưa Viên Giác
Nhặt mảnh đời rơi rớt ở đâu đây
Ôi thằng bé nghèo nàn xưa đã lớn
Ði làm người du thực ở phương tây


Tôi viết nốt những bài thơ dang dở
Vá tình người rách nát thuở hoa niên
Ða sẽ hát bài đồng dao muôn thuở
Nhạc thu buồn nước mắt chảy trong đêm.




2 users thanked chiều tím for this useful post.
coffeebean on 4/15/2013(UTC), Leo13 on 5/12/2013(UTC)
chiều tím
#580 Posted : Sunday, April 28, 2013 9:05:54 AM(UTC)
chieutim

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 262
Points: 810
Location: Nha Trang

Thanks: 207 times
Was thanked: 121 time(s) in 83 post(s)
Vuợt Biển Một Mình






Nguyễn Trần Diệu Hương
(Viết cho Lan Hương, Tiến, Tuấn và những thuyền nhân "đi biển" một mình)


Tác giả, hiện cư trú và làm việc tại vùng San Jose, đã hai lần nhận giải viết về nước Mỹ do Việt Báo chủ xướng. Ngay từ năm đầu tiên, với bài "Chương Kết Của Cuộc Đời", cô được trao giải danh dự 2001. Sau 4 năm liên tục góp thêm bài viết mới, cô nhận giải vinh danh tác phẩm Viết Về Nước Mỹ 2005, với bài về một cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà và bài về một quả phụ Mỹ thời chiến tranh Việt Nam. Bài sau đây trích, kể chuyện một mình vượt biển giữa thập niên 80’ và trở thành cô giáo cho những thiếu niên không thân nhân tại trại tị nạn.



Ngày 30 tháng Tư 1975, Saigon sụp đổ. Những gia đình đang ở trong các cư xá sĩ quan, cư xá công chức bị đuổi ra khỏi nhà. Cùng chung số phận, gia đình chúng tôi bị đuổi khỏi mái nhà thân yêu trong cư xá, nơi chúng tôi có một thời nhỏ dại êm ả. Mẹ đưa chúng tôi về căn nhà riêng Ba Mẹ đã xây nên bằng công sức của Ba Mẹ, nhưng nhà này cũng bị tịch thu. Sau hai lần mất nhà, chúng tôi lớn lên như câu ca dao:
"Còn cha gót đỏ như son,
Mất cha lăn lóc như lon sữa bò."
Ba chúng tôi còn sống, nhưng đang bị đầy ải trong trại cải tạo ở núi rừng âm u đầy chướng khí của miền Bắc. Những ngày u ám đó in hằn vào đầu óc của chúng tôi, khiến chúng tôi trưởng thành sớm hơn tuổi của mình, vì chỉ được xã hội cho nếm mùi cay đắng.

Đầu thập niên tám mươi, trước những bế tắc không lối thoát, Mẹ thu xếp gởi anh chị em chúng tôi, từng đứa, vượt đại dương để đến một vùng đất tự do, ở đó không có khủng bố tinh thần, ở đó không có trại cải tạo giam giữ những người hoàn toàn lương thiện, và ở đó chúng tôi sẽ được học hành thành người. Cũng như rất nhiều người vợ lính khác, Mẹ đảm đang, xuôi ngược nuôi chúng tôi, nuôi Ba trong các trại tù cải tạo từ Bắc vào Nam. Tất cả những điều đó đẩy chúng tôi đến đường cùng, không còn lựa chọn nào khác hơn là phải đưa chính mạng sống của mình đánh cuộc với định mệnh, với đại dương.
Còn nhớ thời đó, người dân miền Nam Việt Nam vẫn truyền miệng một câu ngạn ngữ của thời đại "Một là con nuôi mẹ, hai là mẹ nuôi con, ba là con nuôi cá." Cứ thế một hai ba Mẹ lo cho con một mình vượt biển. Khả năng vượt thoát chỉ là một phần ba. Ròng rã gần mười lăm năm dài, từ cuối năm 1975 đến đầu năm 1990, hàng trăm ngàn thuyền nhân (hay theo như cách gọi của UNHCR United Nations High Commissions for Refugees, Cao Uỷ Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc là "Boat People") đã đến được bờ bến tự do. Cùng lúc, hàng trăm ngàn thuyền nhân khác gởi thân vào lòng đại dương.

Chưa qua khỏi tuổi thơ, nước mất, nhà tan, chúng tôi, không có thời mới lớn, tự động bước vào tuổi trưởng thành trước những khó khăn của Mẹ, vượt quá nỗi khổ của bà Tú Xương ở thế kỷ mười chín, vừa nuôi chồng trong tù cải tạo, vừa nuôi một bầy con dại còn ở Tiểu học hoặc ở những năm đầu Trung học. Từng đứa một, khi có điều kiện, Mẹ gởi chúng tôi ra đi.

Đến phiên tôi, Mẹ chỉ đưa được tôi ra bến xe liên tỉnh để đi Vũng Tàu. Cả hai mẹ con đều đội nón lá rộng vành để che những giọt nước mắt lã chã rơi không ngừng. Mẹ khóc nhiều hơn những lần đưa các anh em trai của tôi ra đi, vì tôi là con gái duy nhất trong nhà, thân gái dậm trường. Ngồi trên xe đò từ Saigon về Vũng Tàu, trong một góc xe đò, tôi úp nón lên mặt, để che đôi mắt sưng đỏ vì khóc của mình.

Gần một tuần lênh đênh trên đại dương, chỉ có trời và nước, xanh thẫm ban ngày, đen kịt ban đêm, không có cả một cánh chim, tôi nhớ Ba, nhớ Mẹ quay quắt, nhưng vẫn hài lòng với chọn lựa của mình. Hai ngày đầu, như mọi người trong lòng thuyền, tôi bị say sóng, nôn ra cả mật xanh, mật vàng. Đó là lần đầu tiên trong đời, tôi hiểu thế nào là "mửa mật". Vậy mà chỉ hai ngày sau, quen dần với cảm giác bập bềnh của con thuyền nhỏ trước lực đẩy của nước ở đại dương, tôi tỉnh táo lại hoàn toàn với đầy đủ sinh lực của "tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu" mặc dù đã hai ngày không ăn uống. Khi thuyền ra hải phận quốc tế, chúng tôi được lên khoang thuyền hít thở không khí trong lành đầy vị mặn của đại dương, hình như có thoang thoảng mùi vị của tự do.

May mắn hơn những người tỵ nạn khác, chúng tôi đi bình yên, không gặp một thuyền nào khác. Trời êm biển lặng vào tháng sáu đầu mùa hè đưa chúng tôi đến thẳng đất liền của Mã Lai sau năm ngày sáu đêm lênh đênh trên biến.

Lên tới đất liền, cùng với chú lái tàu, tôi phải vận dụng vốn liếng tiếng Anh hạn chế đã tích lũy trong những tháng năm chuẩn bị vượt biên để giải thích cho nhân viên Cảnh sát Mã Lai biết chúng tôi là ai, tại sao chúng tôi đặt chân đến đây. Đó chỉ là lần đầu, một khởi đầu kéo dài mãi cho đến bây giờ, phải giải thích tương tự cho rất nhiều người khác nhau thuộc nhiều chủng tộc hiểu tại sao chúng tôi phải bỏ quê hương ra đi để sống đời lưu vong.

Những giờ phút đầu tiên trên đất liền, chúng tôi lại bị "say đất". Quen với trạng thái bồng bềnh, trôi nổi trên mặt nước; khi trở lại mặt đất bằng phẳng, mỗi lần đặt bước chân xuống, tôi có cảm giác mặt đất chao đảo như còn trên mặt sóng nhấp nhô. Sau hai ngày bận rộn với đủ thứ giấy tờ khai báo với cảnh sát địa phương Mã Lai, chúng tôi được đưa ra trại Pulau Bidong, trại tỵ nạn chính thức của Cao ủy tỵ nạn Liên Hiệp quốc đặt trên lãnh thổ Malaysia để thành một người tỵ nạn chính thức có số căn cước thuyền nhân, chờ được phỏng vấn định cư ở một nước thứ ba. Lần này, hành trình từ đất liền ra đảo Pulau Bidong vững chắc hơn trên một thuyền khá lớn của UNHCR, có tên là "Blue Dart", khoảng cách lại ngắn, nên chúng tôi không bị say sóng.

Trại tỵ nạn Pulau Bidong đã dược xây dựng tương đối đầy đủ khi chúng tôi đến đảo vào giữa thập niên 80, có đủ trường Tiểu học, Trung học cho trẻ em, trường huấn nghệ (Vocational School) cho người lớn, có thư viện, có cả Chùa, Nhà thờ trên "đồi tôn giáo", có Bệnh viện với cái tên khá ngộ nghĩnh và dễ nhớ là "Sick Bay". Chúng tôi được đón tiếp với những thùng mì ăn liền vĩ đại hãy còn bốc khói, giống hệt như những thùng mì Liên Hiệp Quốc phân phàt cho nạn nhân của thiên tai Tsunami ở South Asia cuối năm 2004.

Lần đầu tiên ăn đồ cứu trợ, sống bằng lòng nhân đạo của người khác, một thân một mình ở trại tỵ nạn của một đất nước khác, nước mắt tôi lăn dài, nghĩ đến Ba vẫn đang mỏi mòn trong ngục tù cải tạo ở núi rừng âm u đầy chướng khí của miền Bắc vẫn thiếu ăn, thiếu mặc; nghĩ đến Mẹ đang vò võ một mình ở nhà, chắc là vẫn đang cầu nguyện cho bầy con đã tứ tán mỗi đứa một quốc gia, một phương trời khác nhau, ở tuổi chưa đến hai mươi.

Tưởng là mình đã rất can đảm khi dám chấp nhận cảnh "thân gái dặm trường", không ngờ, ở trại tỵ nạn Pulau Bidong, đến khu vực Cô nhi (Minor Refugees Residential Section), dành cho các em dưới mười sáu tuổi đến trại tỵ nạn một mình, tôi thấy em nhỏ nhất chỉ mới sáu tuổi.

Ở đó, có Hanh, chỉ mới mười một tuổi, thông minh, đầy cương nghị, có Bố đang bị "học tập cải tạo" -như Ba tôi- được Mẹ gởi đi vượt biển một mình trên một thuyền bị hải tặc, mọi người đói lả gần ba ngày trước khi đến được trại tỵ nạn. Ở trại tỵ nạn, cậu bé tuy mới mười một tuổi nhưng có sự khôn ngoan và nét chửng chạc cúa một người ngoài hai mươi học hành chăm chỉ, hết học Anh Văn lại quay qua học Toán, quanh quẩn cả ngày ở trường Trung học trên đảo Pulau Bidong.

Ở đó, có Huyên, một em gái mới mười ba tuổi, cả gia đình mất tích trên biển khi thuyền bị lật. Như một phép màu, Huyên bám được một thùng plastic rỗng, trôi nổi bồng bềnh giữa đại dương gần nửa ngày, trước khi được một tàu tỵ nạn khác đi ngang vớt lên. Người ta đã thấy cô bé Việt Nam nhỏ bé mắt nhắm nghiền, gần như hôn mê bất tĩnh. thân xác mỏng manh như chiếc lá khô, hai tay vẫn còn bám chặt cái thùng nhựa rỗng bồng bềnh trên đại dương.

Ở đó, có Việt, rất thâm trầm, dù mới mười lăm tuổi, nhà cửa bị tịch thu, Ba bị giam ở khám Chí Hòa vì "tội nhà giàu", Mẹ gởi em ra đi với nhà hàng xóm để thoát khỏi tương lai đen tối của giai cấp "tư sản mại bản".

Còn biết bao các em khác nữa. Mười một tháng sau đó ở Pulau Bidong, với vốn liếng Anh ngữ từ những năm ở trường Trung học, và những sách vở của thư viện trên đảo, tôi đã có cơ hội giúp cho UNHCR và cả các phái đoàn Mỹ, Canada, Úc trong việc thông dịch mỗi khi họ đến phỏng vấn thuyền nhân.

Mãi đến bây giờ, tôi vẫn còn cảm giác xót xa khi nhớ lại những lần thông dịch cho những người đàn bà, con gái Việt Nam bị làm nhục bởi hải tặc trên đường vượt biển, em nhỏ nhất chỉ mới mười hai tuổi. Hồi đó, Cao ủy trưởng Alan ở Pulau Bidong chỉ định tôi chuyên làm công việc thông dịch đàn bà con gái trong các cuộc phỏng vấn các thuyền vượt biển bị hải tặc. Đó là một công việc rất tế nhị và đầy xót xa. Đến một độ nào đó, nỗi đau vượt quá sức chịu đựng, người ta mất cảm giác. Nhiều người nữ thuyền nhân, mặt còn đầy nỗi kinh hoàng nhưng kể lại từng chi tiết ô nhục mà chính mình phải gánh chịu với giọng đều đều, thản nhiên, lạnh lùng như nói chuyện trời mưa, trời nắng, trong khi chính tôi và cô May, Cao ủy của UNHCR đã giọt ngắn giọt dài. Mỗi lần dịch hay viết xong một hồ sơ tàu tỵ nạn bị cướp, tay áo tôi ướt đẫm vì nước mắt. Tôi vẫn tự hỏi thủ phạm trực tiếp cho nỗi đau này là hải tặc Thái Lan, thủ phạm gián tiếp thực sự là ai?

Đó là khoảng thời gian rất bận rộn với công việc thông dịch ban ngày giúp cho nhân viên Cao ủy Tỵ nạn. Ban đêm, tôi còn dạy thiện nguyện cho các em, chỉ nhỏ hơn tôi vài tuổi, ở trường Trung học trên trại Tỵ nạn. Trường chỉ dạy hai môn Anh văn và Toán. Sách học là những quyển sách đơn giản tương dương trình độ của bộ "English for Today" quyển I đến quyển III. Trước ngày ra đi, tôi chỉ mới học xong quyển IV ở Việt Nam, nhưng nhờ làm việc, tiếp xúc nhiều với các nhân viên UNHCR, và bằng lòng thương yêu các em chân thành như em ruột của chính mình, tôi mang hết kiến thức và hiểu biết của mình truyền lại cho các em, mặc dù tôi chưa hề được qua một trường lớp nào về Sư phạm. Chúng tôi, những người dạy thiện nguyện ở trường Trung hoc. vẫn đùa với nhau là mình đã theo một "trường phái sư phạm mới", lối dạy "mèo nhỏ tha chuột lớn"

Có lần, giải nghiã cho các em một từ mới, "dignity" -có nghĩa là phẩm giá- tôi không biết làm thế nào để giảng cho các em hiểu, đành viết lên bằng câu thí dụ "We lost everything, but never lose our dignity". Viết đến đó, tự dưng nước mắt tôi lăn dài, các em ở tuổi mười bốn, mười lăm lúc đó cũng khóc theo. Những giọt nước mắt đó vẫn còn đọng trong tâm khảm tôi cho đến bây giờ, cùng có niềm tin ở một thế hệ trẻ lưu vong có đầy đủ đầu óc và trái tim Chắc chắn, các em học sinh lúc đó, trên bước đường tha hương sau này, sẽ nhớ và hiểu nghiã chữ "dignity" hơn ai hết, và các em sẽ sống xứng đáng với lòng kỳ vọng của thân sinh các em, khi Ba Mẹ các em đã phải đứt ruột gởi con ra biển một mình.

Mỗi tuần hai lần, tàu "Blue Dart" của UNHCR cho nước ngọt, mì gói, gạo và thực phẩm tươi gồm gà và rau cải, đôi khi còn có dưa hấu hay thơm vào cho thuyền nhân.

Hầu hết chúng tôi đến trại tỵ nạn chỉ với một bộ quần áo dính trên người. Chúng tôi được phát áo quần từ một kho áo quần "second hand", tương tự như áo quần cũ bán trong Goods Will ở Mỹ. Áo quần thường rộng thùng thình, quá khổ, nhưng chúng tôi tự sửa lại đúng với kích thước của mình. Cao ủy tỵ nạn Liên Hiệp quốc đã rất là chu toàn trong việc bảo vệ và chăm lo cho những người tỵ nạn chính trị,

Đến lúc được chuyển qua trại chuyển tiếp Bataan ở Philippines để được hướng dẫn về đời sống văn minh của Mỹ trước khi chính thức đến Mỹ như một người tỵ nạn, chúng tôi được huấn luyện chương trình buổi sáng, buổi chiều làm "Teacher Aid" cho các giảng viên người Phi. Ở đó, đời sống đầy đủ hơn, và lạc quan hơn vì chúng tôi biết chắc chắn ngày mình được định cư ở Mỹ. Và cũng ở đó, tôi có thì giờ tự học nhiều hơn cho chính mình, chuẩn bị một thời kỳ gian nan khác, một khởi đầu từ con số không ở quê hương thứ hai. Một vài lần được đến chơi ở Manila (thủ đô của Philippines), những chuyến du lịch đặc biệt bằng xe bus dành riêng cho các "Teacher Aid", chúng tôi vẫn ngậm ngùi thương cho sự lạc hậu của đất nước mình ngay cả khi so sánh với các nước Á châu khác như Philippines.

"Nỗi buồn nhược tiểu" đó càng tăng cao khi trên đường bay qua Mỹ, tôi được dừng chân hai ngày ở Tokyo-Nhật, thủ đô của nước Á châu giàu mạnh nhất sau khi nếm bài học xương máu với hai cột khói trắng hình nấm khổng lồ ở Hiroshima và Nagasaki cuối thế chiến thứ hai. Tokyo văn minh sáng rực ánh đèn ban đêm tương phản với Saigon lạc hậu tranh tối, tranh sáng, Nước mắt tôi lại chảy xuống cho sự thụt lùi của quê hương đã bị bỏ lại sau lưng.

Tôi đến Mỹ một tuần trước lễ Giáng sinh, cùng một thuyền nhân Việt Nam khác, hoàn thành nhiệm vụ cuối cùng được giao từ UNHCR, giúp đoàn người tỵ nạn gồm 85 người kể cả một vài người Lào và Cambodia cũng trốn chạy khỏi quê hương như chúng tôi. Giữa những hành khách Mỹ tự tin, cao to, với nhiều hành lý cồng kềnh về nước đoàn tụ với gia đình nhân dịp Giáng sinh và Tết dương lịch, rất dễ nhận ra những người tỵ nạn nhỏ bé, mảnh mai mắt mở to vui mừng lẫn ngơ ngác, chỉ có hai bàn tay trắng với những túi xách của UNHCR và IOM (International Organization for Migration) chỉ có giấy tờ nhập cư vào Mỹ và giấy tờ tùy thân.

Được chuẩn bị đầy đủ với gần 6 tháng học về "American Culture Orientation" ở trại chuyển tiếp Bataan, Philippines, với trình độ Anh văn tương đối sau một năm tiếp xúc và làm thông dịch viên cho nhân viên Cao ủy Tỵ nạn LHQ, tôi không đến nỗi bị lâm vào cảnh"mán về thành", nhưng thật sự đời sống ở Mỹ khác xa với đời sống ở quê nhà như mặt trời với mặt trăng, như ngày với đêm.

Hình ảnh của Ba với mái tóc bạc trắng ở tuổi năm mươi trong lao tù cải tạo, hình ảnh Mẹ với đôi mắt buồn trong những ngày chuẩn bị gởi chúng tôi ra đi là nguồn nghị lực không bao giờ cạn, tiếp sức cho chúng tôi trong thời gian chân ướt chân ráo ở quê hương thứ hai.

Từ nhiều trại tỵ nạn ở nhiều nước khác nhau: Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines, anh chị em chúng tôi đến Mỹ trong nhiều thời gian khác nhau, được trùng phùng, như trăm sông đổ về biển, và mang sức sống của tuổi hai mươi lao vào đất nước của tự do và cơ hội.

Một người bạn cũ của Ba, qua Mỹ từ năm 1975, đang làm ở tổ chức thiện nguyện USCC, giúp tôi có được trợ cấp một lần là 650 dollars dành cho người tỵ nạn mới đến , bác viết cho tôi một reference letter và từ đó "I' m on my own way". Bác cũng giới thiệu cho tôi đến tìm việc làm ở một vài nơi. Trời thương, "thánh nhân đãi kẻ khù khờ", tôi được nhận vào làm full time ở một công ty lớn chỉ hai tuần sau ngày đến Mỹ. Lúc đó là đầu tháng giêng, giữa mùa Đông ở Mỹ, trời lạnh buốt, buổi sáng tôi thức dậy từ sáu giờ ba mươi, trời còn tối, ra đứng chỗ xe bus ở đầu đường, trời lạnh cóng, dưới 40 độ Fahrenheit (+4C), tôi phải mặc ba bốn lớp áo, nhưng áo quần cũ chị em chúng tôi đã mua từ Goods Will để vừa với túi tiền của mấy chị em lưu lạc quê người, chỉ có hai bàn tay trắng, với lòng tin của Ba Mẹ đặt ở mỗi chúng tôi. Một tuần sau, chịu không nổi cái lạnh gần đông đá, từ 32 đến 39 độ Fahrenheit của mùa đông thứ nhất ở Mỹ, tôi dùng cái paycheck đầu tiên của mình thuê người dạy lái xe và dốc hết tiền trợ cấp một lần cho người mới đến mua một cái Toyota Celica đã mười bốn tuổi, để đi học và đi làm.

Đời sống lúc đó, còn nhỏ, là một hình tam giác với ba đỉnh là nhà, trường học và sở làm không hề có giải trí, không có cả thời gian để buồn và nhớ nhà.

Đến Mỹ muộn màng, sau gần mười năm miền Nam sụp đổ, biết thân phận mình là "trâu chậm", chúng tôi lao đầu vào học, không dám để phí thêm một giờ phút nào. Mùa hè, học phí cao hơn, tôi chỉ ghi danh theo học một lớp, và làm part time cho một trạm bán xăng ở gần nhà. Nghĩa là lúc đó, tôi đi làm full time, đi học full time quanh năm. Nhiều lúc quá mệt mỏi, tôi lại tự nâng đỡ tinh thần mình bằng câu nói cửa miệng của người Mỹ "No pain, no gain", và nhớ đến kỳ vọng của Ba Mẹ đã đặt ra cho chúng tôi. Buồn nhất là những lần bất chợt nghe được những câu hát rất đúng với tâm trạng của mình "Ai trở về xứ Việt nhắn giùm tôi người ấy ở trong tù .....", nghĩ đến Ba, nước mắt tôi vẫn lăn dài, và tự bảo lòng mình phải cố gắng học giỏi hơn để Ba Mẹ vui hơn, đủ nghị lực sống trong đời sống bị khủng bố tinh thần thường xuyên ở quê nhà.

Có lần được phát biểu cảm tưởng với thời gian ba phút trong một lần nhận học bổng, tưởng là sẽ cảm ơn đủ tất cả mọi người và hứa với "scholarship foundation" sẽ cố gắng nhiều hơn, nhưng tôi chỉ nói được gần hai phút:

- Xin cảm ơn tất cả thầy cô đã có công dạy dỗ tôi, xin cảm ơn Hội đồng trao tặng học bổng cho tôi. Xin tri ân đất nước Hoa Kỳ đã cưu mang và cung cấp một đời sống tự do, no đủ cho tất cả những người tỵ nan, lưu vong. Vinh dự hôm nay xin được dành riêng cho tất cả những người đã nằm xuống cho chúng tôi có được ngày hôm nay, và xin đặc biệt danh riêng cho Ba tôi, người vẫn con đang bị đày ải trong lao tù Cộng sản vì đã ở trong một quân đội bảo vệ tự do, xin được dành riêng cho Mẹ tôi, người đã rất chu toàn trong việc nuôi dậy con cái một mình.

Một phút còn lại, tôi không nói được vì cử tọa trước mặt đã mờ đi sau màn nước mắt, mùi vị đắng cay sau năm 75 ở quê nhà vẫn kéo về với đầy nỗi xót xa, ngay cả trong giờ phút ngọt ngào nhất. Một thầy giáo người Mỹ gốc Ba Lan đã tỵ nạn Cộng sản từ cuối thập niên 60, dạy tôi từ năm đầu Đại học, hiểu rất rõ tâm trạng của một người tỵ nạn, đã lên diễn đàn giúp tôi hoàn tất lời phát biểu. Lần đó, tôi được đặc cách đề cử trực tiếp cho học bổng niên khoá kế tiếp, mà không phải qua những thủ tục bình thường. Món tiền tuy không lớn, cũng đủ để trang trải chi phí sách vở, học phí, ăn ở cho một năm học, là một yểm trợ vật chất lớn lao cho tôi trong ba năm đầu chân ướt chân ráo ở quê người.

Có những điều hằn sâu trong ký ức, lúc nào cũng tưởng như mới vừa xẩy ra, như chuyện say sóng đến độ "mửa mật" của những ngày lênh đênh trên đại dương vẫn ám ảnh tôi không nguôi. Cho nên, có lần được chọn là "Employee of the year" được tặng vé cho một chuyến đi cruise trên biển một tuần cho hai người, nhớ lại cảm giác đắng nghét ở miệng, cảm giác mất thăng bằng của những ngày mới đặt chân lên đất liền, tôi đã nhường lại phần thưởng đó cho "the runner up" trước con mắt ngạc nhiên của mọi người làm cùng chỗ.

Đó không phải là điều duy nhất người bản xứ không hiểu những người tỵ nạn, những người Mỹ gốc Việt lưu vong. Họ cũng không hiểu tại sao rất nhiều người Việt Nam nhỏ bé ốm yếu vẫn đội mưa đội gió hàng giờ giương cao những tấm biểu ngữ "Human Right for VietNam", "Freedom for VietNam" ở một góc đường nào đó trong đời sống lạnh lùng, đầy tất bật của đất nước Hoa kỳ.

Sau khi đã ổn định, -đã có một "career" đàng hoàng thay cho cái "job" để kiếm sống - có thời tôi đi dạy thiện nguyện cho một trường Việt ngữ ở điạ phương, học sinh là các em teenagers. Dù cùng tuổi nhưng học trò của tôi bây giờ vô tư, ngây thơ, khác xa các em trong trại tỵ nạn chững chạc, trưởng thành trước tuổi.

Ở trường Việt ngữ, ngoài bài giảng từ sách của trường, thì giờ còn dư, chúng tôi giảng trích đoạn từ tác phẩm "Mùa hè đỏ lửa" của nhà văn Phan Nhật Nam, từ bài thơ bất khuất "Nếu ai hỏi" của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện để các em hiểu rõ hơn giá trị của tự do, và biết yêu thương cha mẹ hơn, biết ơn cha mẹ các em đã hy sinh rất nhiều để các em có được ngày hôm nay.

Đời sống ở Mỹ vốn tất bật, nhưng một phút bình lặng nào đó của tâm hồn, dù đang bị kẹt xe trên một xa lộ xe cộ tất tả ngược xuôi hay đang ở trong một cuộc họp ở sở, đầu óc tôi vẫn lang thang về với quê nhà, và buồn thay, bao giờ cũng vậy, mùi vị đắng nghét như đang bị "mửa mật", mùi vị chua cay của một thời vẫn hiện về, rõ ràng, mồn một như chuyện hôm qua.

Và có một lần "chuyện hôm qua" càng rõ nét hơn. Đến thăm Massachusetts Institute of Technology (MIT) nổi tiếng về chuyên ngành Toán và Kỹ thuật, đang ngồi chờ người bạn ở cafeteria của trường, bỗng một sinh viên người Á châu đi qua, đi lại trước mặt tôi nhiều lần. Sau cùng, anh ta dừng lại, lịch sự hỏi bằng tiếng Mỹ:

- Xin lỗi, chị có phải là cô Thuyên ở trường Trung học Pulau Bidong năm 1988 không?

Tôi trả lời bằng tiếng Việt:

- Đúng rồi, em có thể nhắc cho tôi nhớ em là ai không?

Người thanh niên vui mừng, rồi bằng một thứ tiếng Việt rõ ràng và lễ độ, anh ta trả lời:

- Em là Hanh đây chị, em học cùng lớp với Huyên và Việt ở Pulau Bidong. Chị nhớ em không?

Hanh vẫn nhận ra tôi sau mười lăm năm không gặp, nhưng tôi thì không thể nhìn ra được anh thanh niên cao lớn chững chạc trước mặt mình là cậu bé đen nhẻm, chững chạc, chăm học ở trại tỵ nạn năm xưa

Hanh lúc đó đang ở năm cuối của chương trình Tiến sĩ Toán, như ước mong ngày nào em đã trình bày trong một giờ thực tập nói tiếng Anh ở lớp học nhỏ xíu, mái lợp tôn thô sơ giữa đảo Pulau Bidong. Hanh kể cho tôi nghe về chuyện em đến Mỹ một mình ở tuổi mười hai, cùng với một nhóm người Việt Nam tỵ nạn đặt chân đến Mỹ ở phi trường San Francisco, Hanh đổi máy bay về Massachusetts. Đi một mình, dưới mười lăm tuổi, nên Hanh được một cô Stewardess đích thân dắt lên máy bay trước.

Ra đón cậu bé tỵ nạn Việt Nam ở phi trường Logan Boston- là đại diện của một tổ chức thiện nguyện và cha mẹ nuôi của Hanh. Đó là một gia đình ngươi Mỹ gốc Tiệp Khắc, qua Mỹ tỵ nạn từ thập niên 60s. Dù chưa bao giờ có ý định xin con nuôi, nhưng thấy Hanh là một cậu bé mới mười một tuổi vượt biển một mình, không có thân nhân, nên họ muốn đưa Hanh về nuôi. Cả hai ông bà đều dạy Trung học. Ông dạy Toán, bà dạy Home Economics (tương tự như môn Nữ công gia chánh ở Việt Nam). Người con duy nhất đi học xa, ông bà vẫn làm việc thiện nguyện ở một Nhà thờ Tin lành vào cuối tuần. Khi thấy tên Hanh, một em nhỏ tỵ nạn Việt Nam mới mười một tuổi, không có thân nhân ở Mỹ, được nhà thờ tìm người bảo trợ, họ xin nhận Hanh làm con nuôi. Vẻ chín chắn cùng sự khôn ngoan trước tuổi của Hanh đã chinh phục được lòng thương yêu của bố mẹ nuôi người Mỹ từ lúc đầu. Vì cả hai ông bà đều là nhà giáo, Hanh lại có căn bản về cả tiếng Anh lẫn học lực, lại chăm chỉ học hành nền em được vào thẳng lớp bảy như các học sinh bản xứ mà không gặp trở ngại nào.

Lên Trung học, Hanh tốt nghiệp thủ khoa Trung học. Với sự hướng dẫn quý báu của cha mẹ nuôi, với thành tích học tập xuất sắc trong bốn nâm Trung học, cậu bé Hanh tỵ nạn năm xưa nhận được học bỗng toàn phần của MIT, trong niềm hãnh diện của cha mẹ nuôi ở Mỹ lẫn cha mẹ ruột ở Việt Nam.

Giữa thập niên 90s của thế kỷ hai mươi, ba mẹ sinh thành cùng hai em của Hanh được qua Mỹ theo chương trình nhân đạo HO. Vậy là Hanh có đến hai ông bố, hai bà mẹ, và hai gia đình cùng ở tiểu bang Massachusetts, trong hai thành phố kế cận nhau

Không muốn làm mất lòng gia đình nào, và để được tập trung học tập, Hanh vào nội trú trong MIT. Mổi thứ bảy về với cha mẹ ruột, ăn món ăn Việt Nam do mẹ nấu, nghe ba kể về những đọa đày ông phải gánh chịu trong các trại "cải tạo". Và mỗi chủ nhật, về lại căn phòng thân thuộc mà cha mẹ nuôi đã dành cho Hanh từ ngày cậu bé Việt Nam, da còn đậm màu nắng gió của trại tỵ nạn, chân ướt, chân ráo đến Mỹ. Căn phòng dù không còn được dùng thường xuyên, nhưng trong closet vẫn còn treo hai bộ áo quần kỷ niệm của Hanh, một bộ Hanh mặc khi mới đến Mỹ được người bảo trợ ra đón, và bộ kia là bộ áo quần đầu tiên Hanh được bố mẹ nuôi mua cho. Ở một góc bàn học, vẫn còn cái lọ thủy tinh có cắm hai lá cờ nhỏ, một sọc trắng đỏ với năm mươi ngôi sao của Mỹ, một màu vàng với ba sọc đỏ của Việt Nam. Trên tường vẫn còn hình Hanh năm mười tám tuổi, chững chạc trong áo mũ và dây choàng thủ khoa (valedictorian) ngày tốt nghiệp Trung học.

Một chi tiết rất cảm động trong câu chuyện của cậu bé tỵ nạn ở Pulau Bidong năm xưa là hồi mới đến Mỹ mỗi lần được cho kẹo chocolate, Hanh chỉ ăn một phần nhỏ và để dành hầu hết kẹo để gởi về Việt Nam cho hai em và cho các bạn. Điều "bí mật" đó bị phát hiện khi hai ông bà Mỹ thấy cậu con nuôi ăn uống rất chừng mực từ tốn nhưng luôn luôn xin được mua thêm chocolate. Kẹo "để dành" thường được Hanh gói cẩn thận trong những túi nylon dán kín để trong một góc tủ áo quần. Halloween đầu tiên ở Mỹ, đi học về, làm xong bài vở, trời vừa sụp tối, Hanh xin phép ba mẹ nuôi cho đi xin kẹo. Cậu bé miệt mài đi bộ một mình trong thời tiết se lạnh đầu mùa thu ở miền Đông Bắc trên bốn năm con đường, gõ cửa từng nhà xin kẹo. Kêt quả rất khả quan, sáng hôm sau Hanh gởi được một thủng kẹo mười hai lbs (khoảng 5kg) về Việt Nam mà cước phí còn cao hơn cả tiền mua kẹo. Có nguồn gốc là người Tiệp Khắc, một thời đã phải sống dưới chế độ Cộng sản, bố mẹ nuôi của Hanh hiểu ngay mọi chuyện. Và ông bà càng quý Hanh, cậu bé Việt Nam tuổi còn nhỏ nhưng tấm lòng đã rất lớn.

Đến phiên tôi, tôi cũng kể cho Hanh nghe giòng đời đã đẩy đưa tôi từ trại tỵ nạn năm xưa đến California như thế nào. Có nằm mơ, tôi cũng không tưởng tượng nổi mình gặp lại được cậu học trò đen nhẻm vì vị mặn của gió biển ở Mã Lai, có đôi mắt sáng nhưng lúc nào cũng buồn ở trường Trung học trên đảo Bidong ngày nào.

Ước gì tôi cũng gặp được Huyên và Việt, cũng như đã hội ngộ rất bất ngờ với Hanh ở một góc trường MIT ở miền Đông Bắc nước Mỹ. Nhưng dù chưa hay không có dịp tái ngộ với Huyên và Việt, tôi vẫn tin hai em đã rất thành công như Hanh, chứng minh mình có thể làm được nhiều điều, chẳng hạn như chuyện học hành, mà có một thời ở trong nước, sau tháng 4/75, chình quyền không cho phép mình làm.

Tất cả chúng tôi đều giống nhau ở chỗ phải xa nhà, bỏ đất nước ra đi một mình, dù lúc nào trong tâm tưởng của chúng tôi cũng có một vị trí trang trọng cho quê hương chôn nhau cắt rốn đã phải bỏ lại sau lưng. Chúng tôi đã phải mang cả sinh mạng của mình ra đánh cuộc với định mệnh, với đại dương; một cái giá không một khoán tiền nào, dù lớn đến đâu có thể mua được. Những được mất với cuộc đời hãy còn ở trước mặt, nhưng chắc chắn chúng tôi sẽ cố gắng không ngừng để xứng đáng với cái giá mình phải đánh đổi.

Chia tay Hanh hôm đó, tôi mang theo câu nói của Hanh với khuôn mặt rất nghiêm trang, già trước tuổi, và vẫn với đôi mắt buồn xa vắng như lần đầu tiên tôi gặp em ở trường Trung học trên đảo tỵ nạn:
- Điều em vui nhất là đã đền đáp được phần nào ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ ruột và ân tình cưu mang của bố mẹ nuôi. Em vẫn cố gắng hết mình, cố gắng đến hết cuộc đời để luôn làm cho cả Ba Mẹ lẫn Mommy, Daddy của em vui. Điều duy nhất không chắc em có làm được hay không, là "gánh sơn hà" mà đôi lúc Ba em và các bác, các chú cùng thời vẫn nửa đùa nửa thật là đã trao lại cho thế hệ của mình

Hanh dừng một chút rồi hỏi một câu mà đến bây giờ tôi vẫn chưa biết cách trả lời:

- Gánh sơn hà nặng lắm một mình em hay cả hai chị em mình không thể nào gánh nổi! Chị ơi, làm thế nào để cả thế hệ của mình đủ sức gánh nổi sơn hà hả chị?

Câu hỏi đó cứ quanh quẩn trong tôi và chắc là phải còn lâu, lâu lắm, tôi mới biết được câu trả lời chính xác Nhưng tôi tin là chỉ cần một phần mười của một thế hệ Việt Nam (cả ở hải ngọai lẫn trong nước) biết đoàn kết, có nhiệt tâm gánh vác non sông với chí khí của Trần Quốc Toản, với lòng yêu nước của Nguyễn Thái Hoc. và với đầu óc của Lê Quý Đôn thì gánh sơn hà sẽ nhẹ nhàng như cái cặp đi học rất thân thuộc của một thời đèn sách.

Nguyễn Trần Diệu Hương




2 users thanked chiều tím for this useful post.
coffeebean on 5/4/2013(UTC), Leo13 on 5/12/2013(UTC)
coffeebean
#581 Posted : Sunday, May 12, 2013 1:13:18 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)






Giọt Mưa Trên Lá (Phạm Duy - Khánh Ly, Lệ Thu)


http://youtu.be/0v7VELaKA3I


Giọt mưa trên lá nước mắt mẹ già
Lã chã đầm đìa trên xác con lạnh giá.
Giọt mưa trên lá nước mắt mặn mà
Thiếu nữ mừng vì tan chiến tranh chồng về
Giọt mưa trên lá tiếng khóc oa oa
Đứa bé chào đời cho chúng ta nụ cười
Giọt mưa trên lá tiếng nói bao la
Tóc trắng đậm đà êm ái ru tình già.

Giọt mưa trên lá tiếng nói thầm thì
Bóng dáng Phật về xoa vết thương trần thế
Giọt mưa trên lá tiếng nói tinh khôi
Lúc Chúa vào đời xin đóng đanh vì người
Giọt mưa trên lá tiếng khóc chơi vơi
Thế giới lạc loài chưa thoát ra phận người
Giọt mưa trên lá cố gắng nguôi ngoai
Nói với loài người, xin cứ nuôi mộng dài.

Giọt mưa trên lá bối rối, bồi hồi,
Ráo riết, miệt mài, anh biết yêu lần cuối.
Giọt mưa trên lá bỡ ngỡ, xôn xao,
Cuống quít, dạt dào, em biết yêu lần đầu
Giọt mưa trên lá thấp thoáng, bơ vơ
Khép nép, đợi chờ, xa cách nhau vài giờ
Giọt mưa trên lá dĩ vãng xa xôi
Sớm tối bùi ngùi, xa cách nhau một đời.






Giọt mưa ! giọt lệ cho người.
Thời gian để lại một trời phôi pha
Về đâu hình dáng hôm qua
Đập gương tìm bóng buồn sao là buồn
Thương người mưa đổ lệ tuôn






Đổi cả Thiên Thu ... (thơ: Trần Trung Đạo - nhạc: Võ Tá Hân, trình bày: Bảo Yến)


http://youtu.be/QQz6IV42hGQ


Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ! mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Hôm ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Con đi góp lá ngàn phương
Đốt lên cho đời tan khói sương
Con đi xin mẹ hãy chờ
Ngậm ngùi con dấu trong thơ

Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ
Con đi xin mẹ hãy chờ
Ngậm ngùi con dấu trong thơ

Nghe tiếng mẹ như tiếng nghẹn ngào
Tiếng người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao với
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Nghe tiếng mẹ ơi ! bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà con đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười





1 user thanked coffeebean for this useful post.
chiều tím on 6/10/2013(UTC)
chiều tím
#582 Posted : Sunday, June 16, 2013 7:35:09 AM(UTC)
chieutim

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 262
Points: 810
Location: Nha Trang

Thanks: 207 times
Was thanked: 121 time(s) in 83 post(s)





Ơn Cha Nghĩa Mẹ



Tại sao ta có trong đời ?

Vì ta hạt bụi thành người, người ơi!

Sanh ra khóc trước khi cười

Đó là biểu hiện trước đời gian nan



Làm người sống ở thế gian

Chịu nhiều đau khổ lầm than vô ngần

Mẹ cha tạo ra bản thân

Ta cần gìn giữ để dần lớn lên

Ơn cao nghĩa nặng đáp đền

Công ơn trời biển Thái sơn cha già

Mẹ ta lòng dạ bao la

Cưu mang chín tháng ruột rà dứt ra

Máu tươi giọt sữa trong ta

Cũng là máu thịt mẹ già phân chia

Ngày nay khôn lớn xa lìa

Đừng quên nghĩa cả mẹ chia phần đời

Công cha nghĩa mẹ ai ơi!

Dù ta hạt bụi trên đời này đây

Ơn cha nghĩa mẹ cao dày

Làm con phải nhớ ơn này người ơi!



*Tặng các phận làm con phải nhớ ơn Cha Mẹ,

nhân ngày lễ Từ Phụ 16 tháng 6.

SONG AN CHÂU



1 user thanked chiều tím for this useful post.
coffeebean on 6/20/2013(UTC)
mùa thu mây ngàn
#583 Posted : Wednesday, June 26, 2013 5:39:04 AM(UTC)
mùa thu mây ngàn

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 4/15/2013(UTC)
Posts: 23
Points: 69
Location: Quê người xứ lạ

Thanks: 35 times
Was thanked: 25 time(s) in 16 post(s)



Chuông Mơ


Áo em trắng cả sân trường trắng
Tan học chiều nay có ngẩn ngơ ?
Chiều nay anh ở xa lăng lắc
Không cách chi về đón tiểu thơ!

Chiều nay anh ở đất bon chen
Cái mộng tan theo cái thấp hèn
Cái thực lem theo ngày sống vội
Không cách chi dài phút nhớ em!

Chiều nay em bước ngang giáo đường
Mắt Chúa chắc buồn thăm thẳm hơn
Chắc cây thánhg iá thành di tích
Chuyện một người chuộc tội hoài công!

Chiều nay em còn măng tóc mai
Hay đã lao tâm luống bạc rồi ?
Chiều nay vừa đến giờ tan học
Hay vừa buông cuốc chặm mồ hôi ?

Chiều nay em bước trên quê hương
Chắc tóc không còn óng ả chuông
Chắc chuông không mượt nâng tà tóc
Chắc tóc và chuông đã ... đoạn trường!

Chiều nay em trên quê hương
Chắc Chúa chẳng nhìn như mọi hôm
Bởi vì mắt Chúa và em đã
Lóng lánh vùi chôn ngấn lệ lòng!

Áo trắng cả sân trường trắng
Tan học trong đời anh thẩn thơ
Đời anh quên, nhớ, quên... nhiều lắm!
Chiều chiều xứ Mỹ cũng chuông mơ ...


Nguyễn Tất Nhiên



Về thăm Trường cũ - Phạm Ngọc Lân




coffeebean
#584 Posted : Sunday, June 30, 2013 1:25:23 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)


Cám ơn Mùa Thu, người bạn mới ghé đến Forum, tuy mới mà chịu khó lóc cóc từng bước âm thầm ... bữa nay tới thăm xóm ý với bài thơ nhớ về thuở học trò mỗi chiều tan trường về, Mơ mà vẫn tiếc nuối.

Tan học chiều nay có ngẩn ngơ ?
Chiều nay anh ở xa lăng lắc
Không cách chi về đón tiểu thơ!


Nhớ hay mơ, vẫn là hoài niệm mà thực tại thì ngậm ngùi buồn nẫu hồn mơ

Chiều nay anh ở đất bon chen
Cái mộng tan theo cái thấp hèn
Cái thực lem theo ngày sống vội ...


Cái thực tại nghiệt ngã, mơ đến đâu cũng chẳng thể quên. Em, phương ấy

Chiều nay em còn măng tóc mai
Hay đã lao tâm luống bạc rồi ?


Để rồi quay lại bên này nhìn mình xót xa

... Tan học trong đời anh thẩn thơNguyễn Tất Nhiên, người thơ bạc mệnh. Nghiền ngẫm lời thơ ông thấy thoang thoáng bàng bạc đâu đây bóng dáng đời mình .

Cám ơn Mùa Thu (cho gọi hai chữ thôi nghe, 4 chữ dài quá, mỏi !) về bài thơ vừa dễ thương vừa xót xa ray rứt

Mời Mùa Thu và các bạn nghe một bài hát cũng thấm thía vô cùng


Nếu Mai Mốt tôi về ...


http://youtu.be/S0obOk2pA2g



Có còn nhận ra tôi không
Hỡi thành phố cũ ...
Những mái ngói xanh rêu, Bờ tường vôi loang lổ
Bài thơ xưa ghi dấu một phần đời.

Có còn nhận ra tôi không !
Hỡi mơ ước tuổi hai mươi
Bờ bến cũ ngậm ngùi thân sỏi đá
Tôi về đây sông xưa dòng nước lạ
Ngó mây trời mà tiếc tuổi thanh xuân

Có còn nhận ra tôi không !
Hỡi bè bạn anh em
Ai còn sống và ai đã chết
Ai ở lại lao đao, ai phương trời biền biệt
Ngày chia tay ... sao chẳng hẹn quay về

Có còn nhận ra tôi không !
Hỡi ghế đá công viên
Những mái lá che tôi thời mưa nắng
Từ nơi đó trong đêm dài im lặng
Tôi ngồi nghe sông núi gọi tên mình

Có còn nhận ra tôi không!
Có còn nhận ra tôi không !
Nếu mai mốt tôi về
Có còn nhận ra tôi không
Hay phải chính tôi quên


mùa thu mây ngàn
#585 Posted : Tuesday, July 2, 2013 6:52:18 AM(UTC)
mùa thu mây ngàn

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 4/15/2013(UTC)
Posts: 23
Points: 69
Location: Quê người xứ lạ

Thanks: 35 times
Was thanked: 25 time(s) in 16 post(s)


" Có còn nhận ra tôi không
Hỡi thành phố cũ ...
Những mái ngói xanh rêu,
Bờ tường vôi loang lổ
Bài thơ xưa ...ghi dấu một phần đời
..... "

Thanks coffeebean !!!
coffeebean
#586 Posted : Wednesday, July 3, 2013 1:00:05 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)





Thề Non Nước

Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu


Nước non nặng một lời thề,
Nước đi, đi mãi, không về cùng non.
Nhớ lời "nguyện nước thề non",
Nước đi chưa lại, non còn đứng không.

Non cao những ngóng cùng trông,
Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày,
Xương mai một nắm hao gầy,
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.
Trời tây ngã bóng tà dương,
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.

Non cao tuổi vẫn chưa già,
Non thời nhớ nước, nước mà quên non.
Dù cho sông cạn đá mòn,
Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa.

Non cao đà biết hay chưa?
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.
Nước non hội ngộ còn luôn,
Bảo cho non chớ có buồn làm chi.

Nước kia dù hãy còn đi,
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.
Nghìn năm giao ước kết đôi,
Non non nước nước không nguôi lời thề.






Thề Non Nước
Y Vân, ý thơ: Tản Đà, Hoàng Oanh và Mai Hương


http://youtu.be/Jd51iO80hNM


Tình bằng nước nước, ý với non thề
Nước chưa về, chảy mãi chớ quên non
Thề chẳng quên non, hãy nhớ lời nguyền
Lại chảy hoài, nên non còn đứng trơ

Tình bằng những ngóng, ý với trông cùng
Suối khô dòng, ngày tháng nhớ mong chờ
Dù rằng mai đây, sóng gió hao gầy
Đành mai một, tóc đã dầy tuyết sương

Trời tây nắng soi, nắng tà dương soi lối
Càng phô nét châu, vẻ ngọc phôi pha mãi
Kìa non vẫn cao, kiếp già như chưa tới
Tình non vẫn xanh, nước đành quên non hỡi

Tình bằng dẫu đá, ý có hao mòn
Nước non còn, thề nước vẫn chưa quên
Này đầu non ơi, có biết mưa nguồn
Dù giã biệt, nước đã về với non

Hội ngộ luôn luôn, nước với non ngàn
Bảo non đừng buồn, nước chớ quên non
Dù rằng hay đi, nước vẫn quay về
Ngàn dâu còn, non xanh thì cứ vui

Nghìn năm giao ước kết đôi
Non non nước nước chưa nguôi lời thề
Non non nước nước chưa nguôi lời thề




chiều tím
#587 Posted : Sunday, July 14, 2013 10:10:40 PM(UTC)
chieutim

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 262
Points: 810
Location: Nha Trang

Thanks: 207 times
Was thanked: 121 time(s) in 83 post(s)
BẢN TÌNH CA
CỦA MỘT NGƯỜI TỊ NẠN






Hai năm sau ngày đất nước chia đôi, từ miền Bắc hoang tàn, tôi lặn lội tới vùng giới tuyến mong vượt thoát vào miền Nam tự do.
Lần tới gần sông Bến Hải, đêm tối âm u bờ Bắc, tôi đã nhìn thấy cầu Hiền Lương vì bờ Nam rực sáng ánh đèn. Trên cột cờ cao vút, bóng cờ vàng sọc đỏ lung linh. Giọng ca ngọt ngào từ loa treo vọng về miền Bắc:
"...sông Bến Hải là nơi chia cắt đôi đường...
hỡi ai... lạc lối... mau quay... về đây ...!"

Tôi đứng đó chơi vơi định hướng, đăm đăm nhìn cờ vàng bên kia bờ sông lịch sử, uống từng lời ca trong cơn đói khát, rồi bừng tỉnh, lao lên phía trước. Từ đâu đó, mấy cái nón cối xông ra. Tôi bị trói hai tay bằng sợi thừng oan nghiệt, theo nón cối về lại địa ngục trần gian.
Mười chín tuổi, lao tù đầy đọa, tôi đã mất mẹ, mất cha, bị qui là tư sản, xa vắng họ hàng vì chia rẽ giai cấp. Tôi mất Hà nội là nơi tôi sinh ra làm người Việt Nam. Không có tang cha khi cha gục xuống, không có tang mẹ khi mẹ xuôi tay, không hy vọng có đám cưới đời mình.
Bạo quyền cộng sản Việt Nam bắn giết hàng trăm ngàn người, bị qui là địa chủ. Nhiều trăm ngàn người bị tập trung lên rừng, để lại vợ con không nhà không đất. Thời gian làm ngưng nước mắt, oán than cũng vô ích, chỉ còn tiếng kêu vang vọng khắp miền: "Chúng tôi muốn sống!"
Hai mươi lăm năm sau (1981) tôi vượt biển, thoát tới Hong Kong. Bốn mươi tư năm từ lúc chào đời, tôi thành người tị nạn cộng sản.
Ngày tiếp kiến phái đoàn Mỹ xin đi định cư, một ông Mỹ dáng nghiêm trang, nghe tôi trả lời, đột nhiên hỏi "Anh có biết nói tiếng Pháp?". Tôi nhìn ông, giọng run run: "L'exilé partout est seul!" (Kẻ lưu đày nơi đâu cũng cô độc).
Ông gật đầu hiểu cả tiếng Tây, hiểu lòng tôi đau xót. Xưa tôi học trường Albert Sarraut, Hà Nội.





Đứng bên rào kẽm gai, sau dãy nhà tôn của trại tị nạn Hong Kong, một mình, suy tư thân phận. Tôi sẽ đến nơi xứ lạ là nước Mỹ xa xôi, tìm quê hương mới, chỉ trở về khi đất nước Việt Nam tự do, không còn cộng sản.
Đứa bé chừng 5, 6 tuổi, tung trái banh, toan bắt thì trượt chân trên sân trại. Tôi đã kịp giang tay đỡ cháu khỏi ngã thì người đàn bà chạy tới, đứng im, lặng lẽ nhìn tôi.
Tiếng trẻ thơ kêu "Má", tôi nhìn nàng... Sự thầm lặng và ánh mắt trao nhau là chân tình của người tị nạn Việt Nam nhẫn nhục, khổ đau, nói được nhiều hơn lời nói. Rồi những ngày sau đó, tâm sự, nỗi niềm, tôi đã cùng Mai kết thành bạn đường và bạn đời, đi Mỹ định cư.
Chồng Mai là người lính Cộng Hòa hiên ngang dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ, quyết bảo vệ quê hương. Anh tử trận, mang thân đền nợ nước, để lại con thơ. Mai trở thành góa phụ, miền quê Đà Nẵng, cuốc đất trồng khoai, nuôi mẹ già con dại. Sau năm 1975, mất nước. Mẹ già khuất núi, con chậm lớn vì cháo loãng, bo bo thay cho sữa mẹ và cơm.

Một đêm mưa bão, Mai bị tên Việt cộng trưởng công an xã cưỡng hiếp, du kích xã canh gác quanh nhà. Mai phải sống vì con mới lên ba, mất cha còn mẹ. Người dân Đà Nẵng ra đi, đã mang theo vợ con người lính chiến tới Hong Kong năm 1981. Đứa con lên sáu không biết tiếng gọi "Ba"!
Tôi mang nặng tủi nhục, đọa đày triền miên từ đất Bắc đi tìm tự do. Mai gánh những thương đau, mất mát, cơ cực của miền Nam, bồng con đi tị nạn. Lấy dĩ vãng chia xẻ cùng nhau, chúng tôi sắp xếp lại hành trang cho bớt gánh đoạn trường, đi Mỹ.
Con đã có Má, có Ba. Má bồng con, Ba xách túi. Con có đồ chơi, cầm chiếc máy bay vẫy chào các chú, hai người lính chiến Quảng Nam đưa tiễn. Tôi nhìn con tự nhủ: "Ba sẽ dạy con tiếng "Cha", chỉ cho con hình người lính Cộng Hòa, ở bất cứ nơi đâu đều là Cha con đó!".
Mai đã nhất định không đi kinh tế mới. Tôi đã trốn công trường, vào tù chịu đựng, bây giờ dù bỏ lại quê hương nhưng còn Tổ quốc Việt Nam. Bốn ngàn năm lịch sử, thăng trầm, người dân nước Việt sẽ không trở thành Cộng sản.
Quê hương mới của chúng tôi là vùng đông bắc nước Mỹ. Căn apartment hai phòng, hai chiếc giường nệm, một chiếc bàn con, đã cho tôi ấn tượng đẹp những ngày đầu tới Mỹ.

Lúc tôi khôn lớn, không có chiếc giường làm nơi cư trú, vì đã thành vô sản. Rồi tôi hiểu, vô sản cũng vẫn còn giai cấp. Phải lên rừng, một miếng nylon bọc vài manh vải gọi là quần áo, thì mới thành "người vô sản chân chính"!
Nhìn con ngon giấc ngủ thần tiên, vợ chồng tôi thao thức, không phải lo âu mà thì thầm những dự định tương lai. 18 tháng welfare trợ cấp, đủ thời gian cho mình đi học tiếng Anh. Đọc dòng thư hội M&RS nhắc trả nửa tiền nợ vé máy bay sang Mỹ "Xin bạn trả dần 12 tháng, giúp cho người sau bạn định cư", theo ý Mai, ý nghĩ nhân hậu của người đàn bà làm mẹ, "mình trả ngay từ tháng thứ hai".

Việc đơn giản là tại sao người ta không khấu trừ vào trợ cấp, lại đòi riêng. Mai chỉ nhẹ nhàng "nợ thì mình trả, ở hiền sẽ gặp lành", nhưng tôi lại suy nghĩ mung lung. Đây là bước đầu thử thách, cái thước đo lòng người tị nạn. 72 đô tiền nợ một tháng, có thể không trả và quên đi. Một lần để lòng vẩn đục sẽ trở thành bất lương. Cha mẹ bất lương con cái sẽ chẳng nên người.

Một sáng mùa Xuân, "bé Nam" gọi Má, gọi Ba, chỉ bông hoa mầu vàng mầu đỏ đung đưa bên vườn hàng xóm, kêu lên "hoa tu-líp". Bà già người Mỹ đứng trên thềm, giơ tay vẫy vẫy. Mai đã nói "Thank you", ngọt ngào, mạnh dạn, tay chỉ trỏ, diễn tả được những gì muốn nói.
Bà Jenny hiểu chút ít về "chiến tranh Việt Nam" qua tivi, sách báo hồi bà còn dạy học. Bà đã thấy "Boat people", những thuyền nhân tị nạn, nhưng lần đầu bà thấy một gia đình người Việt đến vùng này, lại là hàng xóm nên bà có cảm tình. Đây là ứng nghiệm "Ở hiền gặp lành" hay là sự may mắn cho gia đình tôi? Nói thế nào thì cũng đúng vì vài nơi trên đất Mỹ vẫn còn kỳ thị chủng tộc.

Thời gian trôi đi nhưng hai tiếng "lần đầu" lặp lại: lần đầu ra nhà Bank, lần đầu tới Post Office. Có những lần đầu chưa biết, nhưng có hai lần đầu quan trọng: "bé Nam" đi học, chúng tôi xin được việc làm. Bà Jenny cùng chúng tôi đưa "cháu" tới trường, bà cho chiếc mũ baseball và đôi giầy sneaker trắng muốt, khen "Cháu cute." Vợ chồng nhìn nhau, không hiểu, lát nữa về tra tự điển.
"Từ nay chúng mình có Má, bé Nam có Bà...!" Mai thốt lên khi chúng tôi đồng lòng nhận "Má Nuôi". Bà Jenny thành "Má Jen". Chuyện xảy ra vào ngày Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving), 17 năm về trước.
Sống một mình trong căn nhà rộng rãi, bà Jenny vốn là cô giáo nên rất yêu trẻ. Bà mời "cả nhà" sang ăn turkey.
Bé Nam lên bảy, đi học, hiểu nhiều về Thanksgiving hơn Má và Ba. Ăn uống vui vẻ, vợ chồng tôi nói chuyện với bà, có lúc ngồi im lặng hơi lâu vì vốn tiếng Anh ít ỏi. Bỗng bé Nam kêu "Má...!", bà Jenny toan đứng dậy thì Mai buột miệng nói: "Má... let me do it!".

Nghe tiếng "Má" lỡ lời của Mai, tiếng Việt, vừa lạ, vừa thích, bà bâng khuâng giây lát.
Mai kể chuyện xưa, miền Đà Nẵng cuốc đất trồng khoai, nuôi mẹ già con dại... Tôi góp phần thông dịch, bớt thêm: Người Việt Nam coi việc chăm sóc cha mẹ già là bổn phận, dù chịu nhiều cơ cực cũng cố gắng đền ơn sinh thành, dưỡng dục.
Bà suy nghĩ mấy ngày, bỏ dự định chuyển về Florida, tỏ ý muốn nhận gia đình tôi làm Con, làm Cháu.
Chúng tôi dọn nhà sang ở chung với "Má Jen", điều này ít thấy trong các gia đình người Mỹ có con trưởng thành. Các con nhờ Má, nói được tiếng Anh. Cháu quấn quít bên Bà, xem chú chuột Mickey. Mùa đông buốt giá nhưng trong nhà nồng ấm tình người. Má vui tươi hơn trước, thích ăn bánh xèo và phở Việt Nam.

Mai vẫn cặm cụi hàng ngày, làm những chiếc ví tay của phụ nữ. Mấy người bạn Việt Nam đặt cho Mai biệt danh "Bà đầm hãng bóp" vì "giỏi việc, lại biết tiếng Anh," nhiệt tình giúp đỡ bà con.
Cũng như Má Jen, Mai không thích sa hoa, theo Má vào tiệm sách trong Mall nhiều hơn vào tiệm bán phấn son, make up. Việc từ thiện đã thành sở thích, Mai gửi 200 đôla, mỗi lần, giúp đồng bào bão lụt miền Trung, miền Bắc, vì lương tâm, đạo lý. Kẻ cầm quyền ăn chặn của dân, như đám cướp, có bao giờ được mãn kiếp yên thân. Đức Phật từ bi dạy Mai lòng độ lượng.
Tôi làm technician, ngành điện tử. Nhớ xưa, học sửa radio bị nghi làm gián điệp. Bộ công an Hà nội lấy công nông lãnh đạo, coi "điện tử" là CIA. Mười bẩy năm trong ngành điện tử, nay chắc tôi thành CIA ngoại hạng!

Bây giờ, ngồi trước máy computer, nối vào mạng Net, đọc Website tiếng Anh, tiếng Việt, thông tin thế giới bằng email, việc hãng, việc nhà, công tư hòa vào nhau từng ngày làm việc, tôi đã có cuộc sống an hòa, hạnh phúc, một gia đình thật sự yêu thương.
"Ngày mai, chúng mình đi New York thăm con".
Mai nắm tay tôi, hân hoan về ngày mai.
Ngày mai là tương lai của bé Nam ngày trước, giờ là một thanh niên cao 6 feet, đầy nghị lực bước vào đời. Xong đại học, Nam Nguyen trở thành chuyên viên tài chánh, làm việc trong văn phòng, tầng thứ 32 của một nhà "chọc trời" New York.
Ngày con ra trường là ngày vui trọn vẹn, ngày con nhận việc mới là niềm sung sướng của Má, của Ba, của Gia Đình tị nạn, mong ước từng ngày cho Con thành Người.*

Lâu lắm rồi, tôi mới có một đêm không ngủ để nhìn lại đời mình. Tháng chín, trời sang Thu se lạnh vùng đông bắc nước Mỹ. Tôi đã sống nơi đây 18 năm tị nạn, không thất vọng mà tin tưởng vào tương lai.
Người cộng sản muốn làm hung thần cai quản địa cầu, dựng lên Địa Ngục. Dựng được vài phần thì sụp đổ, sót lại từng mảnh vỡ điêu tàn. Hung thần đã chết.

Thoát kiếp lưu đày làm người tự do, tôi kính cẩn tri ân người phá ngục: người lính Cộng Hòa, giương cao lá cờ vàng ba sọc đỏ, chính nghĩa Quốc Gia. Việt Nam, từ tinh thần đến lãnh thổ.
Người lính chiến Cộng Hòa hiên ngang đi làm Lịch Sử. Không có Anh, tôi đã không có niềm tin để sống sót, đã thành nấm mộ hoang trên rừng xơ xác. 21 năm kiên cường giữ vững miền Nam, Anh đối mặt hung thần, cứu sống thêm hàng triệu người vô tội.

Người lính của miền Nam tự do tử trận. Anh để lại người Vợ hiền, cuốc đất trồng khoai, chúng vẫn không tha, chà đạp nhân phẩm. Tôi lê bước chân vô định, gặp Mai làm Bạn Đường, nhìn mắt con thơ thấy hình người lính chiến.
Anh đã để lại Con Thơ cho tôi được làm "Ba" mang tròn trách nhiệm. Con đã trưởng thành, mai này sẽ góp phần xây dựng lại Quê Hương. Tôi muốn níu lại thời gian để được thương vợ, thương con nhiều hơn nữa.

Đã quá nửa đêm về sáng. Nhìn Mai ngon giấc ngủ thần tiên như "bé Nam" ngày đầu tới Mỹ, tôi ngồi im lặng bên bàn viết, đợi chờ sớm mai để được nhìn bình minh bừng sáng Phương Đông, được nhìn Mai thức dậy, mỉm cười, âu yếm nhìn chồng.
Cuộc sống an vui. Ngót 20 năm rồi, không biết khóc, đêm nay tôi nhỏ từng dòng lệ, xúc động, bùi ngùi.

Tôi đang sống và đang viết Bài Tình Ca của Một Người Tị Nạn.


TỰ TRUYỆN NGUYỄN VĂN LUẬN
1 user thanked chiều tím for this useful post.
coffeebean on 7/17/2013(UTC)
coffeebean
#588 Posted : Monday, July 15, 2013 12:32:29 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)

ồ, Cám ơn Chiều tím ghé qua xóm ý ... với câu chuyên thiệt cảm động, dường như mỗi cuộc đời tỵ nạn là một câu chuyện buồn thương... kể sao cho xiết
bean lu bù quá, có chút thì giờ thì phải dành cho hai đề tài kia ... bỏ lửng xóm ý mốc meo, rêu phủ ... bụi mờ . Cám ơn nghe
1 user thanked coffeebean for this useful post.
chiều tím on 7/17/2013(UTC)
coffeebean
#589 Posted : Monday, July 15, 2013 12:43:28 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)





Đường Em ĐiPhạm Duy - Duy Trác

http://youtu.be/-a6EoGZorHg


Em, lạc về đâu? đêm vẫn buông!
Trăng non có soi tỏ dặm buồn ?
Bước vơi hụt giữa dòng đen bạc
Em! còn ánh lửa trong mắt trong ?

chiều tím
#590 Posted : Sunday, July 21, 2013 8:45:35 AM(UTC)
chieutim

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 262
Points: 810
Location: Nha Trang

Thanks: 207 times
Was thanked: 121 time(s) in 83 post(s)




CĂN NHÀ XƯA


Em có nhớ căn nhà xưa bên khu vườn cà
Nơi những sớm mai nằm nghe
Nắng ròn trên mái

Ở đó có những lũ sên bò quanh
Những vết nứt rêu tường xanh
Ở đó có lá cuốn giây ngoài song
Có giếng nước soi trời trong
Có gió mát đêm bình yên
Có những tiếng chuông gần lắm
Pha hòa tiếng cầu kinh
Ngân nga vang qua sân giáo đưòng
Từng ngày nghe đã quen

Ở đó có những tháng năm buồn tênh
Khốn khó quyết nuôi tình duyên
Đã trốn thoát qua nhiều phen
Ở đó ngó thấy nghĩa trang kề bên
Có tiếng khóc hơi đèn nhang
Có những sớm em tình đến
Với những đóa hồng khép nép giữa vòng tay ôm
Nghe sau lưng em có chiếc lá mừng
Đã đổi màu xanh lấy hương nồng



Nguyễn Đình Toàn - Tuấn Ngọc

http://www.youtube.com/watch?v=Eu2ElUc44q4



coffeebean
#591 Posted : Wednesday, August 7, 2013 12:20:31 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)



Đêm Buồn Như Thánh Ca
(Nguyễn Trung Cang - Dạ Nhật Yến)

http://www.nhaccuatui.com/m/Neeg2-CvCo

[i]Đêm về âm u như lòng im vắng
Đêm về liệm đắng như tình nhạt nắng
Giá băng tiếng sầu lén trong tiếng đàn
Gió gieo xác lòng những đêm muộn màng
Ai còn thao thức nhớ ai canh tàn

Đêm ngàn thương nhớ xếp trong câu thơ
Gởi trong cung đàn nguyện cho những xót xa ngày qua
Đêm tàn liệm chết lá rơi xào xạt
Gieo mưa nhạt nhoà bừng lên giông tố
Những ngàn khát khao, ngàn nỗi đau vật mãi tuôn từng ngón tơ sầu

Như còn đâu đây cung đàn câu hát
Nhạt nhoà quặn thắt cho lòng tan nát
Chút hương ấm nồng thoáng trên giấy hồng
Mây kêu não nùng chiếc hôn cuối cùng
Như lời buồn thánh tiễn đưa ân tình


Đêm về âm u như lòng im vắng
Đêm về liệm đắng như tình nhạt nắng
Giá băng tiếng sầu lén trong tiếng đàn
Gió gieo xác lòng những đêm muộn màng
Ai còn thao thức nhớ ai canh tàn

Muôn đới còn nhớ phút giây bên nhau
Má môi hương nồng bừng lên trong chiếc hôn đầu tiên
Muôn đời còn nhớ tiếng ca lỡ làng
Thoát đưa tơ tình ngọt như lời ái ân từng phím ngân
Quyện chúng ta về cõi xa lỡ bước chân thiên đàng

Nghe còn đâu đây cung đàn câu hát
Nhạc nào quặn thắt cho lòng tan nát
Chút thương ấm nồng thoáng trên giấy hồng
Mấy câu não nùng chiếc hôn cuối cùng
Như lời buồn thánh...
... Thánh ca đêm buồn!





chiều tím
#592 Posted : Tuesday, August 13, 2013 10:25:50 PM(UTC)
chieutim

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 262
Points: 810
Location: Nha Trang

Thanks: 207 times
Was thanked: 121 time(s) in 83 post(s)
Bánh canh quê em 'kênh' bánh canh quê anh .




WESTMINSTER (NV) - Nếu như không phải đứng chờ hai anh bạn đồng nghiệp hút cho xong điếu thuốc sau khi “vét sạch” mỗi người một tô bánh canh trong cái quán có tên khá ngộ nghĩnh “Quê Em Quê Anh,” có lẽ tui cũng chẳng bao giờ để ý đến điều mà một người đàn ông cũng ngồi ngoài sân hút thuốc, sau này tui biết là chủ quán, nói, “Phở, bún, cháo... thì ở đâu cũng giống nhau, chỉ riêng bánh canh là mỗi miền mỗi khác.”

À há, ngẫm nghĩ lại thì quả đúng như vậy.

Không bánh canh miền nào giống miền nào hết. Nó khác nhau không chỉ ở khẩu vị mà cả đến cọng bánh canh, nhân bỏ trong tô bánh canh cũng khác nhau xa lơ xa lắc. Bánh canh quê em 'kênh' bánh canh quê anh là vậy.





Chọn tô bánh canh Ba Miền để khỏi "mích lòng" nội ngoại. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


***

Nhớ hồi nhỏ, mỗi sáng má cho tiền ra đầu ngõ gần bến xe miền Tây ăn bánh canh.

Khi đó, cứ nói đến bánh canh là trong đầu liên tưởng liền đến chiếc tô sành cũ kỹ, mẻ miệng, được bà bán hàng cầm lên, rồi lấy một đôi đũa dài thò vào trong cái nồi to vớt lên những cọng bánh canh dài, trắng đục. Nhắm chừng vừa đủ cho số tiền khách mua thì bà miết đôi đũa lại với nhau, cọng bánh canh bị cắt ngang đó. Rồi thì chan nước lèo trong như nước hủ tíu vô, có thêm vài tay nấm rơm nhỏ nhỏ, mua nhiều tiền thì được thêm vài lát thịt đùi xắt mỏng hay có thêm cái móng heo hay miếng giò heo be bé. Rồi hành lá, hành phi. Thêm chút tiêu, rưới tí nước mắm, ít ớt đỏ bầm. Và múc ăn.

Mùi thơm của hành lá, hành phi, của tiêu bốc lên, hòa với vị dai dai của những cọng bánh canh bột lọc, vị ngọt ngào của thịt nạc, giò heo hay nấm rơm. Ui chao là… nuốt nước miệng ực ực.

Đến tuổi vào đại học, thoát khỏi xóm nghèo, tiến vào trung tâm Sài Gòn, tui được biết thêm một món bánh canh mới, gọi là bánh canh cua, bán tại góc đường Kỳ Đồng-Nguyễn Thông.

Khác hẳn với bánh canh giò heo, bánh canh cua có màu cam cam của gạch cua, nước bánh canh sền sệt chứ không trong và lỏng như nước bánh canh giò heo. Cọng bánh canh cũng khác. Nó không tròn dài, trắng đục mà trong veo, một thứ bột trong mà những ai ghiền ăn bánh bột lọc của người Huế đều biết, và ngăn ngắn, có bản dẹp dẹp hình chữ nhật, dai vừa phải.

Bánh canh cua dĩ nhiên là phải có thịt cua được gỡ ra cho vào dưới đáy tô, rồi chả tôm, chả thẻ. Rau nêm bánh canh cua không chỉ có hành lá, ngò rí, mà còn có cả rau răm xắt nhỏ, tất cả đều đặt vào dưới tô, sau đó bánh canh được múc chan lên trên. Khi tô bánh canh mang ra, mới nhìn chỉ thấy toàn một màu cam. Lấy muỗng khuấy nhẹ lên từ đáy tô, thế là nhân, rau thơm bốc lên, ngào ngạt...

Bánh canh cua được ăn kèm thêm với giò cháo quẩy, nếu thích. Bánh canh cua không ăn với ớt bằm bình thường mà phải là ớt sa tế mới đúng điệu. Vị ớt cay đến nỗi mũi lấm tấm mồ hôi, nhưng cứ xì xà xì xụp múc từng muỗng bánh canh sền sệt, quyện trong mùi cua biển, chả tôm, chả thẻ lực xực những hột tiêu mà nghe ra sự ấm áp của một chiều mưa phùn cố đô.

Ra trường đi làm, tui lại có dịp được thưởng thức một món bánh canh khác, gọi là bánh canh Trảng Bàng.

Bánh canh Trảng Bàng na ná như bánh canh giò heo ăn thuở nhỏ, chỉ có khác là nếu như tô bánh canh giò heo bao giờ cũng thấy loang loáng váng mỡ trong tô thì bánh canh Trảng Bàng nước trong, ít mỡ hơn. Đặc biệt, cọng bánh canh Trảng Bàng chỉ lớn hơn cọng bún bò một tẹo, và làm bằng bột gạo không pha bột năng hay bột mì tinh, nên nó không dai như bánh canh bột lọc, nhưng cũng không bở. Bánh canh Trảng Bàng luôn luôn có giò heo hay thịt nạc, thịt đùi xắt lát. Tinh ý sẽ thấy, người Tây Ninh khi ăn bánh canh, trong chén nước mắm dùng để chấm thịt của họ sẽ có rắc thêm chút tiêu
.





Bánh canh Cần Thơ có tôm, có giò heo, giò sống, thịt nạc, lại thêm nấm đông cô và huyết. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


***

Nhớ lại vài món bánh canh thuở nào từng ăn, giờ nghe người đàn ông chủ quán, ngoài 65 tuổi, gương mặt chất phác, hiền lành, xưng tên là Andy Trần, nhắc lại “chỉ có bánh canh là mỗi miền mỗi khác” mới thấy quả là đúng thật.

Và không biết có phải vì bánh canh mang đặc trưng rất riêng của mỗi vùng, mỗi miền hay không mà quán bánh canh "Quê Em Quê Anh” ra đời chưa đầy một năm đã được thực khách chiếu cố tìm đến mỗi lúc một đông, như đi tìm lại chút hương vị quê mình.

Nhớ lần đầu nghe quảng cáo quán này trên radio trong lúc chở thằng nhóc đi học, tui đã phì cười. Một cái gì đó vừa thật ngộ nghĩnh, vừa thật nhà quê, vừa dân dã, chân chất trong cách đặt tên quán.

Đã vậy, xưa nay bánh canh chưa bao giờ trở thành một món ăn chính được bán trong các nhà hàng, quán ăn. Bánh canh là món phụ, bán kèm. Người ta có thể gọi thêm tô bánh canh cua khi vào các quán ăn Huế như Hương Giang, Vĩ Dạ, hay có thể gọi bánh canh khi vào bất kỳ một nhà hàng nào như Song Long, Brodard,... Người ta chỉ thường thấy quán phở, tiệm cơm, quán bún, hay bánh cuốn, cháo vịt. Chưa ai nghe một quán ăn chuyên về mỗi món bánh canh, đặc biệt là ở xứ đa văn hóa, đa sắc tộc này, cái gì cũng phải nhiều hàng nhiều món thì mới cạnh tranh nổi.

Vậy mà từ đâu lững thững một quán bánh canh "Quê Em Quê Anh” ra đời.

Ừa, dân mình vốn tò mò, cái gì là lạ, ngộ ngộ thì cứ tới thử. Tui và nhóm bạn mình cũng không ngoại lệ.

Tài là dân gốc Phan Rang, nhưng chắc có mối tình nào rơi rớt lại nơi miền biển Nha Trang, thế nên vừa liếc nhìn tờ thực đơn với gần 30 món bánh canh, toàn bánh canh, là Tài gọi ngay tô bánh canh Nha Trang.

Trọng gốc người miền Tây miệt Cần Thơ nên nhanh nhẩu, “Cho tô bánh canh Cần Thơ.”

Tui là “đứa con lai,” như tui vẫn thường nói với nhiều người, ba miền Tây, mẹ gốc Huế, tui sinh ra ở Kiên Giang và lớn lên tại Sài Gòn, thế nên ngó trước ngó sau, tui chọn món bánh canh Ba Miền cho khỏi mích lòng nội ngoại.

Ba tô bánh canh được mang ra. Rất bắt mắt. Rất khác nhau. Đúng là quê em không là quê anh, nên bánh canh quê anh cũng chẳng giống bánh canh quê em.

Bánh canh Nha Trang thì có những miếng cua đỏ, có chả chiên, chả hấp, nước bánh canh sền sệt, ngả sắc vàng óng ả.

Bánh canh Cần Thơ có tôm, có giò heo, giò sống, thịt nạc, lại thêm nấm đông cô và huyết, nước bánh canh lỏng và hơi đục.

Bánh canh Ba Miền làm thèm thuồng thực khách ngay vì có một con tôm càng đỏ au nằm ngạo nghễ trên tô, một khoanh giò heo chìm bên dưới và nước bánh canh sền sệt hòa quyện trong những miếng thịt cua được đánh tơi, cũng một màu vàng mỡ gà óng ả tươi ngon.



Tô bánh canh Nha Trang tại quán bánh canh "Quê Em Quê Anh". (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)



“Cũng gần gần giống bánh canh mình từng ăn ở Nha Trang ngày xưa, tức cũng có chả chiên, chả hấp, nhưng mà nước bánh canh kia lỏng, trong chứ không phải sệt như vầy.” Tài nhận xét. “Nhưng ngon." Tài nói thêm.

Trọng thì hơi đắn đo không biết trí nhớ mình có đúng không, “Nhớ hồi đó ăn bánh canh dưới Lộ Tẻ không có nấm đông cô, cũng không có giò sống. Chỉ nhớ có giò heo, thịt nạc và cọng bánh canh giống giống như cọng bánh lọt vậy đó.”

Chắc Cần Thơ 2013 khác Cần Thơ gần 30 năm trước Trọng từng sống nên nhân bánh canh cũng đổi theo.

Với tui thì món bánh canh Ba Miền này tui chưa từng ăn ở bất kỳ đâu. Cho nên không có sự so sánh. Chỉ biết là tui cũng có thể ăn hết một tô, húp hết được món nước lèo sền sệt có cua hòa trong đó, rồi từ từ lột vỏ con tôm càng mà nhấm nháp, rất đã đời.

Ừa, có thể nơi đây, trong một quán ăn vừa vừa chỉ chứa chừng hơn 20 khách, với gần 30 loại bánh canh thì khó mà có thể đòi hỏi phải thực sự giống y chang như bánh canh Bình Tuy, Qui Nhơn, Phan Thiết, Cà Mau, Trà Vinh, Đà Nẵng... từng một thời nuôi mình no bụng. Nhưng trong một chừng mực nào đó, tên gọi các món bánh canh nơi “Quê Em Quê Anh” gợi cho mình nhớ về một miền đất mình từng tắm sông, thả diều, chèo xuồng, giăng câu, hò hẹn...

Lần sau có dịp quay lại, nhưng phải đợi giờ văng vắng khách, chứ ngay đúng giờ ăn chiều, ăn trưa phải chờ lâu mệt quá, tui sẽ thử món bánh canh Tam Tài hay các loại bánh canh Cung Đình xem sao. Nghe nói miền Bắc không hề có món bánh canh, nhưng ông chủ quán sẽ chế ra một món, gọi là bánh canh Hà Nội. Ừm, tui cũng muốn thử luôn.
.


Tác Giả Ngọc Lan
mùa thu mây ngàn
#594 Posted : Thursday, August 22, 2013 5:47:16 AM(UTC)
mùa thu mây ngàn

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 4/15/2013(UTC)
Posts: 23
Points: 69
Location: Quê người xứ lạ

Thanks: 35 times
Was thanked: 25 time(s) in 16 post(s)



Cúng Mẹ.

May 9, 2011 at 1:13am


ngày mẹ mất, vẫn còn trong túi áo
mấy chục đồng con cho mẹ hôm xưa
món tiền nhỏ, từ công con làm chổi
hết cau trầu mà mẹ chẳng kịp mua


con biết mẹ phải nhịn trầu mấy bữa
sau khi ăn, nghe tiếng mẹ thở dài
chiếc ống ngoáy nằm trên bàn lặng lẽ
mẹ không tiền mà chẳng dám hỏi ai !


đi tù về, gia đình cùng khó nhọc
con xin làm chổi đót sống qua ngày
hàng đã nộp mà tiền công chưa nhận
gạo sắn nhờ hàng xóm giúp cho vay


lát sắn sượng cỏng hạt cơm nhẹ quá
không còn răng đành mấy hạt cơm thôi
bụng mẹ đói nhưng cau trầu ấm miệng
bảy mươi năm đậm nhạt cũng quen rồi


nơi quê người mỗi lần con cúng mẹ
trên mâm cơm luôn có đĩa cau trầu
nhìn vôi trắng con nhớ vầng tóc bạc
mất mẹ hiền đời dồn dập thương đau


mạc phương đình





Ngoc N Hao
#595 Posted : Monday, August 26, 2013 11:19:42 AM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Points: 8,485
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
1 user thanked Ngoc N Hao for this useful post.
coffeebean on 9/11/2013(UTC)
Users browsing this topic
Guest
31 Pages«<2728293031>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.