Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

31 Pages«<2526272829>»
Nẻo Về Của Ý
Hạ Vi
#534 Posted : Saturday, September 1, 2012 10:44:18 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,640
Points: 14,706
Location: CỏThơm

Thanks: 2592 times
Was thanked: 7175 time(s) in 1914 post(s)




Chuyện về những người mẹ


Thư cho con:

Con yêu của mẹ,

Ngày từ phụ Father Day vừa qua, mẹ được Gia Ðình Chân Quê của cô Diamond Bích Ngọc mời tham dự. Ngồi bên cạnh mẹ là một bác H.O. không nói gì về ngày lễ của cha mà lại nói cho mẹ và các bạn hữu nghe một câu chuyện về những người mẹ trong đời ông ta.

Bác ấy kể rằng:


Mẹ của tôi

Ðó là thời gian năm Ất Dậu 1945, nạn đói xẩy ra trên khắp đất nước, đặc biệt ở những tỉnh miền Bắc. Số người chết vì đói lên tới hàng triệu người. Nguyên nhân vì quân phiệt Nhật khi chiếm Ðông Dương gồm ba nước Việt-Miên-Lào đã bắt dân chúng phải hủy bỏ những đồng ruộng không cho trồng lúa mà phải trồng đay là thứ mà quân đội Nhật đang cần đến cho chiến tranh. Trong khi đó số thóc dự trữ từ những vựa lúa Thái Bình miền Bắc và đồng bằng sông Cửu Long miền Nam, Nhật đã bắt chính quyền thực dân Pháp phải cung ứng cho Nhật để dùng thay thế cho than đang thiếu để đốt cho các đầu máy xe lửa vận hành chuyển quân của họ.

Do đó người dân Việt đã phải chịu một thảm cảnh không bút nào tả cho xiết được.

Khi ấy tôi mới chỉ vừa lên bẩy, lên tám gì đó nhưng tâm trí tôi đã in hằn hình ảnh mẹ tôi. Ðể tránh những vụ thả bom của Mỹ vào các thành phố lớn có quân Nhật trú đóng, gia đình chúng tôi đã phải lánh về quê, một làng ở ngoại thành Hà Nội. Hoàn cảnh này, đương nhiên cha tôi phải thất nghiệp. Ðời tư chức, tay có làm thì hàm mới có cái mà nhai nên cả nhà tôi gồm bố mẹ tôi và bốn anh chị em chúng tôi, mới đầu thì còn có bữa cơm, bữa cháo. Nhưng số tiền dành dụm của một tư chức thì có là bao, vả lại lúc ấy dù có tiền bạc, quí kim thì cũng chẳng tìm đâu ra được ngô khoai mà mua, nói chi đến gạo. Lý do vì ruộng đồng, đất đai to nhỏ gì cũng phải trồng đay hết.

Có những ngày, cả gia đình tôi đã phải ăn rau trừ bữa. Rau là thứ rau tập tàng, lèo tèo vài cọng rau dền cơm, dền đất mọc hoang trên các bờ ruộng quanh nhà, cộng với những cọng rau sam cũng mọc hang đâu đó mà mẹ tôi cứ kì cụi suốt hai buổi để có cái ăn.

Một bữa, tôi thấy mẹ tôi vắng nhà lâu quá, mãi tới gần khuya mới tất tả bước lên thềm nhà. Trong khi ấy thì, tôi thấy rất rõ, cha tôi đang nằm đọc một tờ báo cũ, giấy vàng ố. Tờ báo cứ run bần bật trên tay. Lúc ấy thì tôi cũng lờ mờ đoán ra được rằng, cha tôi đói quá nên đã không làm chủ được cánh tay cầm tờ báo nữa vì hai ngày nay, cả nhà chỉ có ăn thứ rau tập tàng trừ bữa. Thì mẹ tôi về. Bà cắp bên hông một cái rổ nhỏ được đậy kín bằng lá chuối và những manh quần áo cũ. Bốn anh em chúng tôi cũng chỉ ngước nhìn mẹ mà chẳng có ai đứng dậy đón mẹ về. Bởi chúng tôi cùng đói quá nếu đứng lên thì có lẽ sẽ quỵ xuống liền. Mẹ hào hển nói: “Ðứa nào giúp mẹ nhóm lửa lên.” Chúng tôi cùng ngước mắt nhìn mẹ dò hỏi nhưng chẳng có ai thốt được lên lời “để làm gì hở mẹ.” Biết ý, mẹ tôi thều thào, có lẽ phần vì cũng đói như cha con chúng tôi, phần vì cuộc hành trình suốt từ sáng đến tối mịt. Bà cố gắng nói cho cả năm bố con chúng tôi nghe, “Có gạo! Có gạo!”

Cha tôi ngồi nhỏm ngay dậy. Chúng tôi cũng bật ngay dậy như có một phép thần thông biến hóa cha con chúng tôi. Mẹ chúng tôi vừa đặt cái rổ lên tấm ván ngựa giữa nhà vừa nói.: “Lấy một nửa nấu cơm, còn một nửa để ngày mai ngày mốt nấu chút cháo.” Cha tôi lo xa: “Thôi lấy một phần tư nấu cháo, còn để dành cho mai kia nữa chứ.” Nghe đến mai kia, khoảng thời gian tương lai gần, dù còn bé nhưng tôi cũng chợt bàng hoàng lo nghĩ mai kia rồi cũng hết số gạo này, lại ăn rau mà rau quanh các bờ ruộng nhà cũng mọc lên không kịp.

Nhưng niềm vui sắp được một bữa cơm mà có lẽ cả tháng trời rồi chúng tôi chưa từng được ăn làm cho tôi quên ngay cái mai kia đáng sợ. Cả nhà lăng xăng quanh nồi cơm sôi. Hơi gạo thơm bay khắp gian bếp. Ở nhà trên cha tôi vui vẻ nói: “Gạo mới hay sao mà thơm quá!” Mẹ ngừng tay ghế cơm nói vọng lên: “Gạo cũ còn trong kho của ông bà ngọai san sẻ cho đấy, cũng chỉ còn chưa đầy một khạp mà cả nhà đến hai chục miệng ăn.”

Bữa cơm dọn ra nhanh chóng. Mẹ tôi sới cho cả nhà mỗi người một bát cơm đầy. Riêng mẹ chỉ có lưng bát. Mẹ nói: “Ði cả ngày mệt quá, chắc ăn không nổi.” Rồi bà kể tiếp như để khỏa lấp chuyện chén cơm của mình chỉ có một nửa. Bà kể đi khắp “trên làng “(danh từ gia đình chúng tôi thường gọi nơi làng cư ngụ của ông bà ngoại chúng tôi) mà cả bà con nội ngoại chẳng ai có một hạt thóc nào. Mỏi mệt quá về đến nhà thì bà ngoại dấm dúi cho lưng rổ gạo này rồi giục về ngay đi kẻo các bác các dì biết lại lời ra tiếng vào. Lời bà nói vui như những ngày gia đình tôi no đủ.

Hình ảnh thứ hai cũng đã in sâu trong tâm trí tôi là những ngày “hồi cư” về Hà Nội. Cha tôi thì chưa kiếm được việc làm, các anh chị tôi cũng còn đang tuổi đi học, thế mà hàng ngày chúng tôi cũng vẫn được no đủ hai bữa cơm có thịt cá. Nghe anh chị tôi nói thì mẹ “chạy hàng xách.” Tôi chẳng hiểu “chạy hàng xách “ là gì thì một hôm được mẹ cho đi theo tôi mới lờ mờ hiểu ra công việc kiếm tiền của mẹ tôi. Mẹ tôi đưa tôi đến một ngã tư rộng gần bờ hồ, bảo đứng dưới hàng hiên dài của một cửa hàng lớn của Pháp gọi là “Gô Ða.” Mẹ tôi cùng với một số các bà khác cũng trạc tuổi mẹ tôi trò chuyện, giằng co, có khi lớn tiếng rồi sau cùng mỗi người đeo một bị như cái tay nải hay một cái làn mây xách tay. Mẹ tôi kéo tôi đi về cuối phố lại gặp một số bà bạn khác. Các bà lại thì thào to nhỏ, trao đổi với nhau những xách tay rồi mỗi người đi về một ngả. Lúc này thì trên tay mẹ tôi không còn gì cả nhưng nét mặt của bà rất vui tươi, mua cho tôi một khúc bánh mì với nhân thịt trong một cửa tiệm của người Pháp.





Sau này khi lớn lên, nhớ lại cảnh ấy tôi mới hiểu ra “chạy hàng xách” là buôn chui bán lén giữa các bà mới hồi cư không có vốn nhiều chỉ mua góp nhặt một số hàng để bán lén cho những người từ trong vùng kháng chiến ra. Tội nghiệp cho mẹ tôi, vốn là con gái duy nhất của ông ngoại tôi là tri phủ cũ, có chồng là một nhà thầu khoán mà phải bươn chải chống đỡ gia đình những khi nguy khốn. Nếp sống nhung lụa đã không ngăn trở được mẹ tôi trong việc tháo vát để nuôi gia đình.

Chưa hết, khi di cư vào Nam, cha tôi có việc làm, các anh chị tôi cũng đã lớn, đi làm cả, gia đình khá sung túc nhưng bữa cơm nào mẹ tôi cũng thường nhường nhịn những miếng ăn ngon cho chồng cho con đến độ chúng tôi coi như chuyện tự nhiên chẳng có ai lưu tâm đến nữa. Cảm động nhất là những bữa cơm có món cá, bao giờ mẹ tôi cũng chỉ đặt đũa vào cái đầu cá mà cả nhà chẳng có ai ăn. Có lần anh em chúng tôi giục mẹ ăn khúc mình cá thì bà như e thẹn nói: “Tôi chỉ thích ăn cái đầu cá thôi.” Ngưng một lát bà nói thêm như để chứng minh là mình nói thật chứ không phải nhường nhịn cho chồng con, rằng: “Sau này tôi có chết đi ngày giỗ tôi các cô các cậu cứ cúng cái đầu cá cho tôi.”

Mẹ của các con tôi

Sau năm 1975, chúng tôi phải trình diện đi tù theo lệnh của kẻ thắng. Ở nhà chỉ còn có bốn mẹ con mà nhà tôi thì trước đó chỉ biết có một nghề là nội trợ. Khi tôi ra đi thì vốn liếng trong nhà chẳng có gì vì trước đó “tiền lính thì tính liền” đâu có được của ăn của để. Thế mà không hiểu làm sao trong cuộc đổi đời, gia đình lính tráng chúng tôi bị chế độ mới trù dập, kỳ thị mà nhà tôi đã nuôi được ba đứa con đủ ăn đủ mặc, cũng được đi học mà còn liên tục thăm nuôi tiếp tế cho tôi trong bao nhiêu năm trời lại còn lo đến 9 lần vượt biên mất cả năm bẩy chục lạng vàng để cho các con thoát được ra nước ngoài.

Sau này khi đoàn tụ, nhà tôi mới kể, không chỉ nhà tôi mà các chị em vợ lính đã bươn chải đầu đường xó chợ để buôn chui bán lén, mới đầu thì đồ đạc trong nhà sau thì thuốc tây, chợ trời, cả đến vàng bạc đá quí cho các “mệnh phụ” từ ngoài Bắc vô. Mạng lưới làm ăn của các bà mới đầu thì lén lút sau thì lôi kéo luôn cả vợ con cán bộ, đảng viên tạo thành một thị trường đen đồng thời tiêu hủy luôn những lý tưởng của người cộng sản để ai nấy cùng chạy theo đồng tiền nên mới có câu đồng giao “tiền là Tiên là Phật, là sức bật lò xo, là thước đo chân lý...” dài lắm tôi không nhớ hết.

Hàng chục năm bươn chải như vậy với những người đàn bà không nghề không nghiệp mà vẫn trụ vững trước biết bao lọc lừa, cám dỗ, thử hỏi đàn ông chúng tôi nếu gặp cảnh này biết có vượt qua được như các bà không.

Ðến khi “trời lại sáng” ra được hải ngoại, chúng tôi còn đang bó tay trước hoàn cảnh mới, hoàn toàn không hòa nhập nổi thì cũng lại các bà chẳng quản nhọc nhằn vinh nhục mà lăn ngay vào những công việc lao động chân tay, chắt chiu dành dụm để cho con cái được học cho bằng người. Nay thì các vị cũng đã thấy con em chúng ta phần lớn đều thành nhân trong xã hội mới với cuộc sống mà nếu còn ở trong nước khó mà đạt tới được.


Con yêu của mẹ,
Kể lại cho con câu chuyện này, mẹ mong con đọc hết biết đâu có phút nào rỗi rảnh con nhớ lại mà tìm ra được ý nghĩa nào chăng.

Với mẹ thì những người mẹ trong đời của bác H.O. ấy chính là những người Mẹ Việt Nam đấy con ạ. Con có đồng ý với mẹ không?



Từ Uyên/Người Việt





2 users thanked Hạ Vi for this useful post.
thuylinh on 9/9/2012(UTC), thunder on 9/29/2012(UTC)
Hạ Vi
#535 Posted : Wednesday, September 5, 2012 4:44:39 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,640
Points: 14,706
Location: CỏThơm

Thanks: 2592 times
Was thanked: 7175 time(s) in 1914 post(s)
.


Quán nửa khuya

Tuấn Khanh & Hoài Linh

Quán nửa khuya đèn mờ theo hơi khói
Trút tâm tư vào đêm vắng canh dài
Quãng đời tôi tàu đêm vắng không người,
vẫn lặng trôi ..

...Tôi là người tha hương đi bốn phương
Anh là người quân nhân vui gió sương
Câu chuyện tâm tình vui theo khói bay, tay cầm tay ...

Nói bạn nghe từ khi say viễn xứ
Gót chân in ngàn muôn lối sông hồ
áo sờn vai tìm đôi mắt u hoài, bóng hình ai?
Hoa nào mà không phôi pha sắc hương,
ân tình nào mà không gây vấn vương?
Lê đôi gót trên khắp chốn ngàn phương để tìm thương..

Dĩ vãng tìm đâu thấy, như bóng mây chiều
Đang lững lờ theo gió bay..
Cốt xóa tình xưa ấy,
Ngân tiếng tơ chùng để tìm quên hương đắng cay

Muốn nhắn nhủ thời gian
Ai mãi phong trần để đi tìm hương cố nhân
áo trắng màu sương gió
Ngưng gót xuôi ngược để tìm về nơi bến mơ..

Quán nửa khuya bạn tôi chia tay nhé
Nhớ nhau chăng là mỗi lúc đêm về
Xiết chặt tay để ghi phút phân kỳ, tiễn người đi..
Sa trường anh lại đi vui gió sương
Sông hồ gợi trong tôi bao luyến thương
Tôi ghi nhớ giây phút ấy nào nguôi, bạn đường ơi...



click nghe nhạc > Thanh Thúy






.


1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
coffeebean on 9/13/2012(UTC)
thuylinh
#536 Posted : Sunday, September 9, 2012 8:02:43 AM(UTC)
thuylinh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 539
Points: 1,686
Location: Canada

Thanks: 1190 times
Was thanked: 343 time(s) in 197 post(s)
Chiều hạ phố nhớ


Chiều nắng hạ buồn rơi kẽ lá
Ta thẩn thờ đếm bước chân qua
Phố Drammen chiều về chậm quá
Bỗng thèm cánh phượng thuở quê nhà

Phố rợp người kẻ qua khách lại
Sao ngồi đây như gã hoang khờ
Nhìn vầng mây cuối trời ái ngại
Thấy trường xưa gợn khúc ve hờn

Qui Nhơn ơi ! Bao năm lưu lạc
Trăng có còn treo mộ thơ Hàn
Hay buông rũ như vành tang bạc
Trải hồn đau khép cánh mơ vàng

Chiều hôm nay bên trời viễn xứ
Nhặt nắng vàng gọi chút hương xưa
Cổng trường, cánh đồng quê thôn nữ
Nhớ quá ngàn thương nuốt lệ thừa !



Vivi
Norway 20.8. 2012



1 user thanked thuylinh for this useful post.
coffeebean on 9/13/2012(UTC)
coffeebean
#537 Posted : Tuesday, September 18, 2012 12:02:19 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 2,667

Thanks: 232 times
Was thanked: 760 time(s) in 350 post(s)

Hẹn ước(tiếp ...)


Trưa chiều 30/04 trời đất Sài Gòn như bỗng dưng buồn thảm, từ đâu một cơn mưa lạ lất phất lơ phơ giăng từng sợi trên bầu không gian xam xám âm u ... Mùa mưa Sài gòn thường không đến trước tháng 5, thỉnh thoảng nuhững cơn mưa đầu mùa đến sớm khoảng cuối tháng tư là những trận mưa ào ạt, sóm chớp ngang trời, ào đến rồi đi . Không phải loại mưa phùn ray rứt của Dalat, của xứ Huế . Thế mà sớm trưa cho đến chiều cả bầu trời xám đục, ứa ra những giọt nước lặng lẽ như ngậm ngùi rưng rưng khóc thương ...
Mẹ không cho Thu bước ra khỏi nhà, sáng hôm sau Thu viện cớ lên trường, Mẹ dặn dò

- Chắc chưa học hành gì đâu, con lên một chút, ngó qua thôi, rồi về ngay, đừng có nấn ná ở lại rồi bị kêu gọi tham gia này nọ, phiền phức chưa biết được ... thời buổi đảo điên, họ nói một đàng làm một nẻo, con đừng tin tưởng gì ai hết, chỉ cố gắng học cho xong phần mình, còn nếu họ không cho học nữa thì đành chịu.

Thu lấy chiếc xe đạp ngày xưa ra lau sơ bụi bậm rồi lóc cóc đạp đi như ngày nào. Ra đường thấy người ta cũng đổ ra đường ai cũng đạp xe đạp, chắc đi liền lạc tìm người thân thiết . Chẳng biết có phải vì sợ hãi mà ai cũng mặc quần đen các bà các cô thì áo bà ba, bỏ chiếc xe gắn máy ở nhà, Sài gòn mấy ngày trước đạp xe là mấy em nhỏ trung học thôi. Với Thu, không có áo bà ba cũng như áo màu đen, nàng không thể mặc áo dài như lúc đi học, Thu mặc đơn giản như mọi ngày, đạp xe vì không mua được xăng vừa đắt đỏ vừa hiếm hoi . Hôm kia Thu tìm mãi mới còn được cây xăng với giá cắt cổ móc hết tiền túi mới đổ được lưng bình phòng khi hữu sự.
[



Thật ra Thu dối mẹ để đi ra khỏi nhà và dùng xe đạp như một điểm tựa đẩy mình đi, Thu p hải di động, phải làm một cái gì đó, không thể yên một chỗ được. Một hai tuần vừa tình hình Sàigòn thay đổi đến chóng mặt, Nghe mẹ buồn bả kể về những người chạy giặc tràn về Saigòn bơ vơ. Câu chuyên vợ chồng chú Tiến hàng xóm luồn lách rừng rậm, chứng kiến cảnh tượng thảm thương trong cuộc chiến tức tưởi làm cả xóm bàng hoàng ... mẹ ngẩn ngơ nói về sự phá giá của đồng bạc cũng như cơn sốt vàng đã tăng lên gấp 10 rồi 20 lần giá cách đây một tháng ... như vậy số tiền mẹ Thu dành dụm chẳng còn có thể làm đựợc gì ...

Cả tuần qua lớp học trở nên vắng vẻ xao xác lạ thường, có những giờ bỏ trống. Thu không có bạn nhiều chỉ mới quen một vài người trong nhóm lab thực hành, thì dường như họ cũng đã bỏ trường đi mất rồi ... Ra đường phố, ai cũng lộ vẻ lo âu ... vội vã. Ngưòi ta như sợ hãi một điều gì đó rất kinh hoàng mà không thể nói ra nhưng ai cũng cảm thấy trầm trầm đeo đẳng trong không khí.

Hai ngày cuối tháng tư, mẹ giữ Thu ở nhà vì đạn pháo kích cứ nhè đường lộ đáp xuống, cả một quãng đường đông đúc ồn ào nhao nhác người xe qua lại, chỉ sau một tiếng nổ như ai đập vỡ chiếc bình thuỷ tinh khổng lồ. Tất cả không phải đứng chựng lại như một khúc phim bị đứt mà tất cả đổ rạp xuống, rồi tĩnh lặng như một bức tranh kinh hoàng. Nhiều trái pháo rớt vào khu dân cư nổ, cháy tứ tung. Xe cứu hoả cứu thương còn thưa thớt lại phải dàn ra nhiều chỗ, hàng xóm người nhà dùng đủ phương tiệncuống quýt dúm dít chở người bị thương chạy ùa vào bệnh viện, những chiếc xe gắn máy chở ba, người lái xe rướm mình luồn lách những ngả đường đầy xe, đầy người dồn về nẻo bờ sông, ra bến tàu ..., ngồi sau cùng là người vòng tay ôm chặt eo người trước giữ kẹp cho vững một thân hình máu tươm loang lổ, cứ thế mà đi!

Một số trái đạn rớt giữa lộ trúng ngay đoàn người dắt díu chạy giặc , thân người ngổn ngang không lành lặn ... Trời hỡi! dọc hai bên đường, những em bé nhỏ lắm 5, 7 tuổi. Có lẽ vì bản năng sinh tồn đưa đẩy, mấy em bằng cách nào đó, bò lết vào lề ! Không một tiếng khóc, không một âm thanh, các em ngồi thu lu ôm lấy mẩu chân tay bị ...cụt của mình, nhìn chăm chăm ... một tay còn lại đang nhặt nhạnh mấy viên đá gạch nhỏ vụn dính vào vết thương, vất đi như thể các em đang chơi một trò chơi kỳ lạ nào đó chưa có trong đời, như bảo gạch đá: "không được dính vào đây ..." chẳng hiểu sao người lớn nằm gục hết, mà những em nhỏ đi cùng chỉ bị cụt chân tay, Có lẽ cha mẹ đã che chắn hứng trọn hết những mẩu đạn chí tử oan nghiệt chăng. nhưng cũng có nơi 4, 5 thân thể bé nhỏ chồng chất lên nhau bên cạnh chiếc xe gắn máy lủng lẳng bình nước, lon sữa ...
Người sống sót, thoát nạn lành lặn vội vã ôm dắt con cái chạy ùa đi . Các em ngồi đó ngơ ngác không hiểu gì, cha mẹ nằm bất động giữa đường ...mẩu xương cụt thân thể em dính đất cát sao lau rửa đây ! ... Tiếng còi xe cứu thương vang lên. Chẳng ai buồn để ý tránh đường . Bóng một người đứng sau xe, đập rầm rầm vào thùng xe như thêm tiếng báo động, nghiêng mình như tìm kiếm ..., lạ thật xe cứu thương có bao giờ như thế, thường đóng cửa kín mít hú còi mà chạy . Xe luồn lách, ngừng lại giữa những thân xác ngổn ngang lòng đường. Họ không phải là người cứu thương hàng ngày . Người tài xế và cái bóng đu đưa đằng sau xe bước xuống lật từng thân xác bất động, bỏ người này, quay sang tìm tòi cột cầm máu người khác, Họ khiêng một số người lên xe rồi quay lại ẳm hết mấy em nhỏ bên đường ... chạy về bệnh viện ! Những huynh trưởng hướng đạo sinh Sàigòn trong mấy ngày cuối đau thương gần cơn mất nước ấy, mọi cái đều như thiếu thốn tê liệt, họ vẫn đồng phục gọn gàng, lái mấy chiếc xe cứu thương đi gom nhặt những đồng bào bị thương tích, không thân thuộc về nơi cứu chữa ...

Bây giờ Thu mới hiểu những điều Hải nói "chiến tranh thật đau thương, khốc liệt ghê lắm. Dân mình chạy giặc khốn khổ, tội vô cùng". Nhắc đến Hải, Thu nghe ruột mình thắt lại, không biết giờ này anh ở đâu, làm gì ! Anh chắc đau xót buồn thương lắm . Đầu óc Thu suy nghĩ lung tung, nó như một cuốn phim chạy vội, hết phần này qua mục khác, quá nhanh như từng đoạn rời rạc chẳng dính líu gì đến nhau, mà cuối cùng vẫn quay về Hải.

Suốt mấy tuần qua, Thu lo lắng nghĩ về Hải mỗi khi nghe tin rút quân tỉnh này, thành phố nọ, những người dân chạy giặc hốc hác bơ phơ kể cho nhau nghe những chuyên như từ một thế giới man rợ nào vây. Nhớ tới chuyện ông hàng xóm kể Thu lạnh người, chỉ biết cầu mong sao Hải còn đó trong đời. Người hàng xóm tốt bụng sáng qua réo gọi mẹ con Thu lúc gia đình ông bỏ nhà chạy ra bến tàu, mấy tuần trước kể cho lối xóm nghe câu chuyện kinh hoàng . Hai ông bà hùn hạp với anh em mở trang trại với một xưởng cưa nho nhỏ vùng gần Long Khánh, vừa để làm ăn vừa để gây dựng một nơi nghỉ ngơi sau này, cho con cháu có chỗ về tụ họp vui chơi với thiên nhiên. Họ thay phiên nhau trông coi công việc hãng xưởng, thợ cấy .

Những vườn cây trái xum xuê đơm trái đã được mấy mùa, những thửa đất màu mỡ thẳng tắp từng luống đậu phọng chạy ngang dọc xa tít đến chân đồi ! những ruộng mía chen chúc như rừng tre trúc hoang sơ . Tháng 3 tới lượt ông coi trại, bà thấy tình hình nghiêm trọng chạy lên gọi ông về, Đang dặn dò mấy người thợ tín cẩn sắp xếp trông coi công việc vì sắp đến vụ nhổ đậu phọng thì ông bà nghe tin đường quốc lộ về Saigòn không an toàn nữa, xe đò không chạy suốt như trước, nhiều chặng đường bị cắt đứt ...

Nghe tin từ những bác tài xế xe đò đến mấy bạn hàng chở lâm nông sản ngược xuôi quốc lộ, biết là căn cứ đóng quân vùng gần Đồng Tâm của lính mình vẫn còn, nhưng có mấy khúc đường bất ngờ bị chặn, không biết họ núp ở đâu gần mé rừng. chỉ biết có những chiếc xe chạy sau họ ít giờ đã không về bến ... Họ dặn dò ông bà
"muốn tìm đường về Saigòn thì đừng chờ nữa, có đi thì đi bộ len vào rừng, nếu tìm được xe thì đi từng chặng, đường nhỏ, tránh quốc lộ chừng nào tốt chừng nấy! Nhớ mang theo đồ ăn nước uống! Gặp lính thì hổng sao, hỏi đường họ chỉ, còn gặp mấy ổng .... thì nói tìm lối đi dzìa quê, đừng có nói dzìa Sàigòn !

Hai ông bà nấu vội mấy nắm cơm vắt muốn mè, lon nước. Ông nhăn nhó khi thấy bà nhét vội mấy đòn bánh tét cũ và gói đậu phọng tươi mới nhổ thử mấy hôm, phơi sơ đập vỏ để xem dò chừng đậu tới chưa, bao lâu nữa là nhổ đậu .
- Đem làm gì cho nặng! đi đường rừng lại xa xôi, thêm một ký trên vai sẽ thành 10 ký , bà vác hết đi nghe
- Biết đâu được ông ơi, mấy vắt cơm được mấy bữa ... đậu phọng sống không hư ...
ông giật mình thẫn thờ nhớ ra, vói tay gom mấy khúc mía, chắt nhỏ thành từng lóng nhét vội vào túi đeo vai, rồi giành lấy gói đậu phọng, mấy đòn bánh tét
- Để tôi mang hết, bà đeo không nổi đâu ...
Lưỡng lự một giây, ông đưa lại cho bà một đòn bánh tét
- Bà cũng ráng mang một đòn, lỡ có thất lạc có cái ăn
- Cái gì mà lạc với thất tôi nhất định là đi sát bên ông
- Thì tôi phòng hờ vậy mà ! nhưng có chuyện gì thì bà phải ráng mà chạy nghe, con cái một bầy ở nhà

Hai ông bà phải chạy bộ băng rừng vẫn giữ lối men theo đường quốc lộ cuối cùng ông phải đổi hướng lần dò về Bình Tuy, rồi từ Bình tuy tìm theo ghe chài về Bà Rịa, Vũng Tàu, từ Vũng Tàu tìm xe đi về Saigòn.
Đoạn đường ấy mất hơn tuần lễ, nhưng nỗi đau khổ kinh hoàng mà chính bản thân họ trải qua có lẽ không sợ hãi bằng cái mà họ nhìn thấy người khác chịu đụng, vì đâu có ai thấy mình trong gương lúc chạy giặc đâu, nhưng mình thấy người khác ... Từng đám người khoảng vài ba gia đình, có thể tình cờ trên đường ly loạn tụ lại với nhau luồn lách qua từng lối mòn ven rừng. Đi được một đỗi chợt nghe tiếng nổ rất lạ tai, nghe kêu u u xé gió, mùi cháy khét đắng . Họ ngước nhìn, chỉ thấy rừng lá nghe như tiếng kêu ấy lướt ngang đầu họ, vài phút sau lại nghe nữa. Một ông có lẽ hiểu chuyện chạy ra trảng cỏ tranh gần đó ... cháy vội vào báo tin "chết rồi bà con ơi ! tui nó đang pháo kích ... bệ súng chắc đặt gần đâu đây, mình giàn mỏng ra, lẩn vô rừng lẹ đi!
Như để xác minh cho lời ông nói, bất chợt lại một tiếng nổ xé tai... trái cầu lửa bọc khói trắng bắn vọt lên xé gió rít bay ... mùi khét lét khi nãy bây giờ nặng nề hơn, mùi thuốc súng đến như nghẹt thở . Theo hướng những trái đạn vọt lên, có lẽ họ đặt súng nơi khoảng đất trống bìa rừng gần quốc lộ ... ông dặn dò:
- mọi người tản sâu vào rừng thêm chút nữa, khom người đi dưới bóng lá bụi tranh đừng đi qua trảng cỏ hay chỗ trống trải, Nếu có gì mạnh ai nấy chạy, trốn núp nghen. Chờ đợi níu kéo là dính bắt cả chùm ... " mọi người theo ông lẩn sâu vào rừng.

coffeebean
#538 Posted : Thursday, September 20, 2012 12:16:16 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 2,667

Thanks: 232 times
Was thanked: 760 time(s) in 350 post(s)

Hẹn ước(tiếp theo)


Vợ chồng ông bước vội vào mé rừng bên ngoài nơi chưa có ai lẩn vào, đi quanh co một chặp, có lẽ vì bà chậm chạp vướng mắc gốc cây, rừng lại um tùm, ông bà đã mất dấu vết của những người đi cùng. Chẳng nghe thấy tiếng chân đạp đất dẫm lá mục cành vụn, hay tiếng người thì thào lao xao quanh quẩn nữa

Bà Tiến, phần vì sợ lại mệt ngồi mẹp dựa gốc cây thở dốc. ông nhìn bà xót xa
- Phải chi bà cứ ở nhà ...
- Không tìm ông chắc gì ông đã về, ai mà biết cảnh này.
- Bà nè, để tui dò coi họ đặt bệ súng ở đâu, mình chỉ cần đì vòng khỏi chỗ đó, chớ sâu vô rừng có khi mất lối
- Ông đừng có giỡn chơi ...
- Tui có đi lính cả chục năm mà, để tui coi

Ông Tiến có đi lính thiệt, lính Công Binh. Thời ông đi lính chiến tranh chưa khốc liệt, ông vô trại ban ngày tối về nhà như mọi người ... Đến lúc chiến cuộc leo thang ông đi ra tuốt ngoài Đà nẵng, rồi Quảng Trị, Đông Hà địa đầu giới tuyến. Nơi đựợc gọi là vùng "Phi quân sự" mà ông và đám bạn lính vẫn diễu cợt "vùng phi quân sự, tha hồ mà bắn" . Có nghĩa là vùng đất ông đóng quân bị đạn pháo bắn liên tục từ phía bên kia sông Bến Hải rót qua không ngơi nghỉ, nhất là về đêm, ban ngày còn lúc bắn lúc ngưng. ông phải ở dưới hầm, đi quanh co bằng giao thông hào. Có bữa gần tết ông theo toán đi phóng cầu gần nơi nhóm phiên chợ tết của đồng bào Quảng Trị, chạnh lòng nhớ nhà ông mua con gà tính đến ngày 30 nấu cháo cúng ông bà. Cột chân con gà vào sợi dây dừa thả lỏng cho nó đi lòng vòng, một đầu cột vào cửa hầm ông thả nó lên mặt đất với một mớ cơm sấy. Qua một đêm như mọi đêm pháo đạn rền trời, sáng ngày kéo sợi dây thăm con gà ... nhẹ hều không còn vết tích chỉ còn đầu sợi dây cháy cụt ngủn quăn queo.

Ai cũng bảo lính Công binh ít khổ, thật ra khổ chẳng thua gì ai, ông và bạn bè đã chẳng thể ra khỏi nắp hầm dù một ngày nắng lửa hay một chiều đông rét mướt, nơi mà một ngọn cây, một con gà không thể sống sót qua một đêm mưa đạn pháo nã tơi bời, nơi một vùng được ký kết là " phi quân sự ".

ông được giải ngũ sớm vì thương tật trong chiến đấu hẳn hoi . Ông thường đi chung toán với mấy ông sĩ quan, mới ra trường có, thâm niên có. Đi làm đường phóng cầu, thường là loại cầu dã chiến mà đồng bào đặt cho cái tên "cầu phao" qua những đoạn sông nhỏ, có khi là để tạm thay thay cây cầu bắc ngang sông lớn bị giật sập hôm qua, rồi canh gác hai đầu cầu, phòng ban đêm đặc công, du kích đặt chất nổ phá cầu tiếp ... cầu sát mặt nước, lính tráng đồng bào qua lại gồng gánh rôm rả.

Ngày đó lính xa nhà thương đồng bào vùng quê sỏi đá thêm loạn lạc nên vất vả hơn nhiều, chẳng hề chận xét hạch hỏi có khi còn phụ giúp.
Lần gặp bà cụ gánh hai thúng khoai mì nặng trĩu trên vai , tuy còn sức để gánh nhưng trông vẻ rất mệt mỏi, chiếc đòn gánh như trải dài hơn cả phần lưng chớ không chỉ ở đầu vai. Bà đặt gánh nghỉ nơi đầu cầu, chẳng biết nghĩ ngợi sao, có lẽ vì trời xế chiều mà nhà lại xa, chưa được vài phút bà kê vai gánh lên cầu. Đi trên đường đất đã mệt mỏi lúc qua cầu phao dập dềnh, chưa quen bà lúng túng như muốn té mà vẫn gượng cố giữ gióng gánh trên vai, rồi lại như hốt hoảng cuống quýt muốn bước đi mà như người say sóng ! trông thật tội nghiệp mà lại mắc cười.
Có lẽ khoai mới đào, bà gánh về rồi mai lại phải gánh ngược ra chợ, sao không để ngoài rẫy, sáng mai gánh thẳng ra chợ đỡ biết bao nhiêu công, chắc là mang về phơi làm bột hay sợ để lại rẫy mấy ổng ra "vớt" hết . Đứng trên bót gác Tiến nói vọng xuống
- Bà để gánh xuống nghỉ chút xíu đứng cho quen, rồi gánh tiếp hông thôi té đổ khoai xuống sông hết đó!
Bà cụ ngước lên càng hoảng hốt hơn khi biết có ngườitrên bót gác nảy giờ nhìn mình, bà dấn chân bước đại. Quả thiệt sụm té, và dường như bị trặc chân hay sao đó bà đứng dậy không được, hai thúng khoai sút gánh gióng đổ văng ngổn ngang, lom khom nửa ngồi nửa quỳ gối vẻ mặt vừa đau vừa sợ bà vội vã nhặt nhạnh xếp củ này rớt củ kia.
- Nói bác rồi đừng có ráng, thôi bác vô trỏng ngồi coi có bị trặc gân hông, tui khiêng dùm bác từng thúng một nghe
Tiến bỏ bót gác bước xuống lòng cầu nhặt khoai bỏ vào thúng
- Thèng ơi, đèng có bét nhốt tui mà (thày ơi, đừng có bắt nhốt tui)
Bà cụ mếu máo hoảng sợ , vừa lắp bắp vừa ôm hai bàn tay tay trước ngực xá xá như nài nỉ cầu xin. Tiến tội nghiệp lắc đầu
- Ai mà nhốt bác, chỗ đâu mà nhốt, bác dzô coi có trặc gân thì bóp dầu cho tan máu bầm đi
- Thèng ơi, đèng có bét nhốt tui , tui còn mậy cháu nhỏ ... ai nuôi, mạ chẹt, cha nó đi tê... ở bển nớ khuông về, mấy eng nớ bét tui, tui đâu muộng, đâu ưng tề. Không khứng là chẹt con chẹt cháu, ... thúng mì ni có thuộc, tui khuông biếc thuốc chi mô, mà răng có thuộc ... tui biếc.

Nhìn đôi mắt thất thần đau đớn, bập bẹ tiếng được tiếng mất. Đóng quân vùng này cũng vài năm Tiến quen phần nào lối phát âm, giọng nói ngộ nghĩnh, Tiến hiểu chữ được chữ chăng ... dân vùng này mùa đông lạnh gắt lại thiếu lương thực. vào mùa nắng thường trồng thêm cây thuốc lá tự chế biến phơi cắt ủ để dành cuốn vào giấy quyến mỏng mà hút quanh năm nhưng đặc biệt là mùa đông gió bấc, gió Lào rừng núi đổ về mưa dầm lạnh tím môi. họ bập hơi thuốc để mong ấm lòng

Có nơi gọi là thuốc Cẩm Lệ ... nên gặp người phụ nữ nói chuyện thuốc hút là bình thường, nhưng cả thúng khoai đâu thấy cây lá nào, mà hút thuốc thì có gì phải sợ. Chạm phải ánh mắt khẩn khoản, Tiến rùng mình, linh tính chợt loé lên, ... "thuốc chi mô ? mà có thuốc " Tiến vung tay chụp nguyên thúng khoai lẫn quang thúng vùng hết sức liệng xa ra giữa sông . Bà cụ như kiệt sức ú ớ chỉ vào chiếc thúng còn lại cùng mớ khoai ngổn ngang, Tiến điếng người nhào đến chụp vội đầu quang thúng còn lại bằng tất cả sự nhanh nhẹn có thể làm mà tưởng như chậm chạp lắm Tiến vụt chiếc gióng .. vừa ra khỏi tay còn lơ lửng chưa kịp chạm nước, một tiếng nổ quên thuộc vang lên rồi tiếng nữa, nổ trên không, nổ dưới nước, bùn nước hay những củ khoai nát tan bay tung tứ tán mắt Tiến mờ đi, chỉ kịp ngã người kéo theo bà cụ nằm mẹp xuống lòng cầu phao đong đưa rung rinh, còn cảm nhận được nước văng tung toé.

Tiến giải ngũ vì thương tật tuy không nặng nhưng một bên mắt bị loà vì một vật gì đó đập vào con mắt trái, thị lực không phục hồi ... Còn bà cụ gánh khoai kể rằng bà được dặn dò đừng gánh khoai qua cầu mà đứng ở đầu cầu chớ mấy chú lính ra giúp phụ đưa qua ... vì chờ có ai rảnh nên phải đứng lâu mà càng lâu thì càng tốt, bà đặt gióng gánh bên cầu, nghỉ mệt, vốc nước sông rửa mặt, ăn trầu nhai thuốc ... chờ người đưa qua dùm (đúng ra Tiến phải chờ có ai đi qua, hay đổi gác chớ không bỏ vọng gác một mình xuống như vậy!) Nhưng đêm hôm qua lúc họ sửa soạn mọi thứ bà có tình cờ nghe được là có thuốc chi đó mạnh hung lắm độn vô thúng khoai để phá cầu, bà ráng hối hả gánh qua ... mong rằng qua được, cầu sẽ không sao.

Nếu không có Tiến chắc bà đã chìm xuống nước theo cái cầu phao bị nổ ... bọn Tiến chỉ biết lắc đầu ngao ngán, không phải như những cây cầu kiên cố, cầu phao dễ sửa dễ làm ... vậy mà họ dùng sanh mạng con cháu một bà cụ già để ép bà gánh chất nổ lên cầu. Có khi bà bị tan xác hay bị thương nặng, Bà có sống sót sau vụ nổ cũng chẳng chạy được đâu xa ... mà biết đâu, một người lính gác cầu nào đó ! thấy có ai gánh khoai sang cầu nghe tiếng nổ cầu bị phá, theo phản xạ sẽ hướng súng bắn về phía đó !


Hạ Vi
#539 Posted : Monday, September 24, 2012 5:31:29 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,640
Points: 14,706
Location: CỏThơm

Thanks: 2592 times
Was thanked: 7175 time(s) in 1914 post(s)

Kho quẹt tuổi thơ

Cao Diên


Có thể vì mình đã lớn lên từ những giọt mồ hôi của ba, từ những bữa cơm cháy, kho quẹt; cho nên cuộc sống sau này có đầy đủ mình vẫn thấy thèm, thấy nhớ cái chảo nhôm méo được chế nước mắm kho cạn rồi múc một tô cơm trắng, ngồi bệt xuống ngạch cửa và... quẹt.



Mắm kho quẹt với cơm trắng & rau sống.


Hồi nhỏ, nhà nghèo quá đỗi. Mỗi ngày ba phải còng lưng trên chiếc xích lô làm thân gà trống nuôi đàn con năm đứa. Gia đình vào thời điểm ấy rất chi là hoàn cảnh, mình không tiện kể. Chỉ nhớ mỗi cái chảo nhôm nhỏ móp méo được ba chế vô miếng nước mắm, một ít đường và bột ngọt rồi kho cạn lại làm món mặn ăn với cơm.

Năm chị em chúng tôi mỗi đứa một tô cơm trắng, năm cái muỗng quẹt lấy quẹt để. Món nước mắm kho khô kẹo kẹo mới ngon làm sao. Vừa ăn vừa hít hà, có đứa buông tô cơm, lấy tay quẹt mồ hôi hột ngang trán, có đứa kéo áo lau mũi... Ðó là món ăn đơn giản và ngon lành nhất đối với gia đình chúng tôi khi bé.

Kho nước mắm với chút đường, chút bột ngọt, chút tiêu xay và vài miếng tép mỡ là đã ngon đáo để. Hồi đó dùng bếp củi nên sau khi nấu cơm chín, ba tận dụng chút than còn sót lại để bắc chảo nước mắm lên kho. Chỉ cần cầm chén chạy ra quán tạp hóa đầu ngõ mua một chén nước mắm đầy, vừa bưng về vừa chấm ngón tay vào nếm thử. Vị mằn mặn của muối và mùi nước mắm không được thơm như các loại nước mắm bây giờ.

Bắc chảo lên bếp than, ba tôi đổ nửa chén nước mắm vào, cho ít đường, ít bột ngọt, ít tiêu... Hôm nào mỡ nước gần hết, ba tôi nghiêng lọ vét vài miếng tép mỡ vàng rộm cho vô chảo kho quẹt. Lửa than vừa tàn lụi cũng là lúc chảo kho quẹt sánh lại, chung quanh rìa chảo lớp nước mắm bốc hơi bám vào đặc cứng, ở giữa chảo nước mắm sủi bọt tạo thành những ván rỗ tròn. Mùi nước mắm kho bay khắp gian bếp nhỏ. Ở đó, trên bộ vạt tre ọp ẹp được đặt cạnh bếp, năm chị em chúng tôi mỗi đứa tay bưng một tô cơm trắng, tay kia cầm một chiếc muỗng và... chờ.

Vào những ngày mưa dầm, mưa lê thê. Một bữa cơm trắng, cá kho đối với ba là cả vấn đề nan giải vì năm đứa con nheo nhóc ở tuổi ăn tuổi học. Mẹ tôi đi biệt không về nữa. Ba đợi chờ mòn mỏi rồi cũng thôi. Hôm nào gặp mối lớn thì trưa ba về sớm, bên hông xe treo tòn teng con cá hồng biển còn duy nhất phần đầu và bộ xương. Ðó là món ăn sang trọng nhất chúng tôi có được.

Cá hồng biển nấu canh ngót, nồi canh “giàu có” mênh mông như đại dương. Ba vừa quệt mồ hôi trán vừa cười: “Ba tập cho mấy đứa biết thế nào là canh đại dương, hồi đó... (xin cắt một đoạn văn) ba ăn canh đại dương còn mênh mông hơn như vầy.” Rồi chao trắng dầm ớt cay, rồi trứng vịt muối luộc, trứng chiên mặn, có hôm chỉ là chén muối sả được đâm chung với ớt, vắt miếng chanh cho chua chua rồi trộn đều, món này ăn cũng bắt cơm lắm... Những bữa cơm tuềnh toàng ngày bé đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi đến tận bây giờ. Và nhờ thế, “kho tàng” về các món ăn dân dã đã luôn đầy ăm ắp trong tâm hồn người làm bếp như tôi.

Bây giờ kho quẹt “lên sàn” rồi. Vào nhà hàng, quán ăn gọi một dĩa cơm cháy và kho quẹt coi như là mình sành ăn, biết chọn món “đặc sản” đặc sệt chất quê. Kho quẹt bây giờ được kho bằng thịt ba chỉ cắt nhỏ và tôm khô, rưới miếng mỡ nước, rắc chút tiêu sọ được đập giập và một tép tỏi nguyên, vài trái ớt hiểm, vài cọng rau răm. Gọi kèm theo kho quẹt một dĩa rau củ luộc gồm có bầu, bí, khổ qua, củ cải, củ su hào, rau lang, rau muống luộc chín. Cứ hăm hở quẹt vào cái tộ sứ được tráng men kỹ lưỡng mà chạnh lòng nhớ ngày xưa bưng chén ra tiệm mua vài trăm đồng nước mắm...

Có thể vì mình đã lớn lên từ những giọt mồ hôi của ba, lớn lên từ những bữa cơm cháy, kho quẹt mà dư vị của nó đã ăn sâu vào huyết quản, cho nên cuộc sống sau này có đủ đầy mình vẫn thấy thèm, thấy nhớ cái chảo nhôm móp méo, sứt quai được chế nước mắm kho cạn rồi múc một tô cơm trắng, ngồi bệt xuống ngạch cửa và... quẹt.


(Nguồn: DaiHocVanKhoaSG@yahoogroups.com)







1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
thunder on 9/29/2012(UTC)
coffeebean
#540 Posted : Tuesday, September 25, 2012 11:25:27 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 2,667

Thanks: 232 times
Was thanked: 760 time(s) in 350 post(s)

Hẹn ước(tiếp theo)


Chiến tranh đã mang theo bước chân nó biết bao đau thương, mà còn chất chồng thêm những toan tính oan nghiệt não lòng ...Ông chợt lắc đầu như xua đuổi ám ảnh nào đó. Chẳng hiểu sao hôm nay ông lại nhớ về câu chuyện đã làm ông mất đi ánh sáng một con mắt ... Có lẽ vì cảnh rừng rú thâm u và tiếng đạn pháo bắn dồn dập đã làm ông nhớ những đêm đạn pháo rền rĩ lúc đóng quân ở Đông Hà ngày ấy ! ông chợt rùng mình đại bác hoả tiễn bắn vô tội vạ thế này mà ông biết sẽ rớt lên những mái nhà chen chúc ... nơi ấy có căn nhà quen thuộc mấy đứa con ông đang ngơ ngác ngóng cha mẹ về!

ông ghé tai bà thì thào dặn dò
- Bà ngồi lại đây nghỉ chút đi, tui bò đi coi phương hướng, mấy người chung đám hồi sớm đi vô rừng hết rồi ...định hướng xong tui quay lại mình đi chớ luần quần lạc trong rừng khúc này dễ bị mấy chả bắt à !
- Không, tui phải theo ông, rừng mịt mù lạc mất rồi sao !
Ông lặng lẽ thở dài
- Ừa! thì bò theo, nhưng mà xa xa đó, lỡ tui có bề gì thì nằm mọp xuống im re, không nhúc nhích, la lối gì nghe, phải giữ mạng tìm đường mà về với con
- Ông nói bề gì ...
- Là bị mấy chả bắt đó !
- Tui tưởng ông nói ...co ... cọ ... cọp

G iọng bà cà lăm sợ hãi thiệt tình. Thường ngày là ông đã phì cười vì cái tật nhát gan lãng xẹt của bà rồi, bữa nay ông cười không nổi với nỗi sợ rất đỗi ngây thơ cố hữu của bà, ém giọng ông gắt nho nhỏ
- Cọp đâu mà ở đây, sát lộ vầy! Thứ này còn hơn cọp, gặp là tránh, chạy đi! đừng nghĩ gì đến tui, phải tìm đường về nhà với con nghe bà! . Nếu như bà nghe tiếng tui kêu la, là tui bị bắt thì phải nằm mẹp núp sâu vô, chuồi sâu vô lùm bụi nào đó, trốn đi, đừng theo tui ... bà có gặp gì cũng vậy, la một tiếng báo tin.

Nói xong ông quay người trườn bò đi. Thật ra ông quay đi dấu bà con mắt rướm ứ nước, như ông đã nói xong lời dặn dò sau cùng
Ông cứ bò men men từng chặng lại ngoái cổ ngó chừng bà phía sau, ra gần đến mảng rừng trống trải mấy gốc cây già bị thợ rừng cưa gần sát đất tươm mùi nhựa thơm hăng hắc ông thấy tỉnh táo hơn, hít một hơi dài ông bò qua gốc cây to gần nhất vì dường như theo hướng đạn bắn lên thì bệ súng cũng gần đâu đây ... nơi ông đang trườn lách là dốc đồi thì phải, phía trứớc đất hơi trũng, mảng cỏ mọc dầy nhừng lùm cành lá bụi cây dại thâm thấp cũng tiện cho ông phóng mắt nhìn xa.
Núp dưới gốc cây cổ thụ ngước đầu lên một chút, tì cằm xuống đất, ông lấy mấy ngón tay vạch cỏ rồi đảo mắt nhìn quanh. Tiếng đạn xé gió bay lên, ông bàng hoàng nhìn ra xa... ở bìa rừng sát quốc lộ, nơi bãi trống đất nền, nện vững chãi để đưa súc cây đốn trong rừng về phân loại chờ xe be chở đi, đã mấy tháng nay tình hình bất ổn, bãi để trống . Họ đặt hai khẩu pháo song song gần nhau, dường như hai họng súng thay phiên nhau nả đạn ...

Trời đất ơi! cái gì thế kia!

ông lạnh người run lên, đời chiến trân ông đà gặp nhiều cảnh thương tâm, sau này ông có nghe, mà không ngờ mình lại gặp. Biết thế mà ông vẫn đưa tay dụi mắt, chỉ mong dụi mắt rồi tất cả sẽ khác đi như một cơn ác mộng ! ... Không đâu ông vẫn thấy chung quanh khẩu súng hình hài những ...con người bất động, nằm sắp lớp . Tất cả những hình hài ấy đều như nằm sấp, mặt úp xuống hay nghiêng qua một bên, rắc lên mình một lớp bụi nâu đỏ thứ bụi đặc trưng của vùng rừng rú này, không nhìn ra màu sắc quần áo, nhân dáng. ông chợt nhìn thấy trái đạn bắn ra là tung lên một màn bụi nâu đỏ trong buổi chiều úa cơn nắng gắt mùa hè, màu bụi ấy vờn bay rồi phủ lên những thân hình, trông thật kinh hoàng ... mà dường như họ không phải bất động, họ chưa chết vì có mấy cánh tay di động, như bịt lỗ tai như đang vuốt mặt ...

Ông từng nghe kể mấy mẩu chuyện từ những người hồi chánh rằng gặp lúc chiến cuộc cao điểm nhiều thương vong có những người bộ đội lái xe tăng xạ thủ và pháo thủ đã được làm "công tác tư tưởng và vận động" cho họ "tình nguyện" xích chân mình vào cạnh họng súng hay bên trong buồng lái xe tăng để đánh đến cùng, đến chết với xe tăng, với pháo chứ không leo ra, bỏ chạy đi đâu được . Cái chiến sách bất chấp phương tiện, thí mạng chính những người lính của mình để hòng đạt mục đích thì nói chi đến tánh mạng người dân đã làm những năm tháng chiến tranh VN khốc liệt tang thương hơn bao giờ hết . Có bao giờ trong lịch sử nước nhà mà người Việt thâm thù tìm giết người Việt nhiều đến thế không !
ông cũng nghe mà bây giờ đang chứng kiến họ bắt được dân chạy giặc, cột xích chùm lại với nhau đặt quanh bệ pháo ... phi cơ oanh tạc có tìm ra họng súng sà xuống mục tiêu, chợt khựng lại không nả đạn vì phi công nhận ra đồng bào bị cột quanh đó ... chỉ một ít giây ngần ngừ, máy bay có thể bị đạn phòng không bắn trúng.

Ông hiểu chiến tranh là phi lý, từng là người lính long đong, ông cũng hiểu sự tàn nhẫn đau đớn của bom đạn vô tình lên người dân vùng giao tranh xôi đậu, nhưng điều phi lý này thì không thể giải thích nổi . Họ giải phóng cho ai mà thí dân đến thế! Hay họ cho rằng những người bỏ chạy khỏi vùng giao tranh về nơi tạm coi là an lành, là người phản bội, là theo "nguỵ", thì cứ để họ làm bia cho "nguỵ" bắn, còn nếu "nguỵ" chần chừ không bắn thì "nguỵ" chết thôi .

Có lẽ lý luận này đúng vì họ đã từng giả dạng mấy chặng tiếp cư dọc đường chuyển dân di cư lúc chia đôi đất nước 1954 . Họ đón bắt nhốt tù và tàn sát biết bao nhiêu đồng miền Bắc muốn di cư vào Nam ngày ấy. ông gục đầu mấy ngón tay bấu chặt vào trán day day mớ da đầu ... phải làm sao ra khỏi khu rừng này, phải làm sao tránh gặp họ ... ông phải đưa bà ra khỏi đây, hai ông bà không thể nào nằm dưới lớp bụi đất đỏ nặc mùi thuốc súng mồi lúc một dầy thêm. Nghĩ tới đó ông rùng mình ... không dám thở sâu nữa vì sợ cái mùi thuốc súng ngấm mãi không tan ... cổ họng ông đã nhẫn nhẫn vị đắng khét của nó.

ông nằm im nghe ngóng thấy trong khu vực cánh rừng này chỉ có đạn bắn lên từ hai họng hoả tiển đó thôi ...và cũng nhìn thấy từ nơi mấy cội cây vòng quanh bãi đất nện một nhóm bộ đội, chỉ nhìn vào trang phục là biết, đứng lên ngồi xuống cạnh một súc cây lớn, đang ăn chiều thì phải, rồi đổi phiên cho mấy người đứng nạp pháo. Như thế là những người dân nằm quanh ụ súng không có gì ăn,
Lấy tay gạch xuống đất ông lầm thầm tính toán Không biết họ còn bao nhiêu bộ đội nữa, hy vọng là chỉ quanh quẩn nơi đó ... đi bọc vào rừng khoảng cỡ hơn ngàn mét theo hướng mặt trời lặn có thể an toàn qua khỏi khu vực canh gác của bệ súng.

ông nín thở chuồi mình xuống, nhắn chừng cả thân hình đã khuất sau bờ dốc, ông cẩn thận quay người lại nhìn quanh tìm bà, chẳng thấy bóng dáng bà đâu cả ! ông lại lạnh người ruột run lên. Mình nằm gục chỗ ấy cũng lâu mà chẳng thấy bà ấy mon men đến gần, bây giờ cũng không thấy nữa ... bà lúc nào cũng bò theo sau mình mà,chẳng một động tĩnh, kêu la gì! Má thằng Tín ơi! bị sao rồi . Ông nuốt miếng nứớc bọt khô đắng cổ lách người về lối cũ nhìn dáo dác, vẫn không thấy bà, ông liều mình định cất tiếng gọi bà nho nhỏ chẳng lẽ bà bị rắn ... cắn sao, rắn độc ít gặp lắm mà ... bà không thể bị họ bắt lặng lẽ như thế đâu, bà sẽ lên tiếng kêu khóc cho ông biết mà trốn chạy
Suy nghĩ chưa dứt chọt nghe như ú ớ như khiếp hãi vang lên nho nhỏ phía rừng cây, tiếng lá cây rừng lắng xào xạc sau cơn gió nhẹ, ông nghe âm thanh ú ớ sợ hãi như là tiếng vợ ông, cẩn thận nằm mẹp xuống ông chuồi mình quay đầu lại...


Hạ Vi
#541 Posted : Thursday, September 27, 2012 3:06:23 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,640
Points: 14,706
Location: CỏThơm

Thanks: 2592 times
Was thanked: 7175 time(s) in 1914 post(s)
.




h ỏ i .t h ầ m .g i ọ t .m ư a
.v à .n ó i .d ù m .t ô i .


______________________________________________________________
n g u y ễ n x u â n t h i ệ p


ơi em bé hái búp sen mùa hạ
sen thì hồng mà tay nhỏ xôn xao
em hái sen chiều nay ra chợ bán
hương hạ nồng cùng sợi khói nhà sau

mẹ già tưới cây chanh bên bờ đậu
để một mai đời ngát lộng hương chanh
mẹ còng lưng mà trời cao vời vợi
dẫu một ngày giọt nắng rụng xa cành

người chị nấu bát canh khi chiều xuống
nhớ chồng xưa đã khuất cuối rừng lau
sao cái chết vẫn gần bên sự sông
bát canh chiều thoang thoảng vị chiêm bao

ơi bò ao và ơi khu vườn biếc
em gái hiền đứng đợi trước gương xưa
em gầy ốm một đời không áo lụa
em xin trời chút nắng để cho thơ

người thi sĩ với những tờ bản thảo
uống nước mưa và thở chút khí trời
hồn có rộng đi trên đường gió bụi
mắt hôm xưa còn dõi bóng cuộc đời

xin hỏi đất và hỏi thầm hoa cỏ
hỏi giọt mưa đã rớt xuống khu vườn
trong gỗ mục có chồi lên đọt lá
trong tim người có tiếng nói nào không

hãy nhìn lại những bóng hình thân thuộc
ở quanh đời và hãy nói giùm tôi
hãy nói giùm tôi trong cơn cùng khổ
hãy nói giùm tôi hy vọng của người. 



1970







.


1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
coffeebean on 9/28/2012(UTC)
coffeebean
#542 Posted : Friday, September 28, 2012 11:50:41 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 2,667

Thanks: 232 times
Was thanked: 760 time(s) in 350 post(s)

Hẹn ước (tiếp theo)


Suy nghĩ chưa dứt chọt nghe như ú ớ như khiếp hãi vang lên nho nhỏ phía rừng cây, tiếng lá cây rừng lắng xào xạc sau cơn gió nhẹ, ông nghe âm thanh ú ớ sợ hãi như là tiếng vợ ông, cẩn thận nằm mẹp xuống ông chuồi mình quay đầu lại...

Rừng vẫn yên lặng, kể cả tiếng lá rơi ... không thấy bóng dáng bà đâu cả, cũng không có ai, ông chuồi người bò trên cánh tay lách qua từng rễ cây quay về hướng tiếng ú ớ vọng lại, đúng là nơi ông đã thấy dáng bà trước đó ... ồ bà vẫn còn gần đó, nằm mọp người xuống đất , bất động ... không đâu hai tay bà run run ôm lấy mặt, cằm tỳ lên đất, chẳng lẽ bà bị rắn rết gì cắn sao, ông vội bò đến gọi nhỏ ...
- Bà nè, bà có sao không ?
Bà vẫn yên lặng, ông thấy mấy ngón tay bà bấu vào mặt mà vẫn run run lẩy bẩy, mắt thất thần trân trối nhìn về phía trước rừng lá dày đặc lờ mờ không thấy gì hết ... ông chồm tới bên lay bàn tay bà đang ôm mặt
- Nè, mình à! má thằng Tín nè, tui đây, bà sao dzậy !
Ông chỉ gọi bà bằng ba chữ "má thằng Tín" (tên đứa con trai đầu) khi gặp chuyện gì nghiêm trang, trịnh trọng ... còn chữ "mình" là coi như hết mức bất bình thường vì đã lâu lâu lắm, từ khi anh em thằng Tín nối gót nhau chào đời lẫm chẫm bước, ông như đã cất tiếng gọi ấy vào đáy tủ khoá kín lại! hôm nay ông gọi bằng tất cả lo âu ân cần!

Bà như choàng tỉnh gục mặt vào tay ông, vai run bần bật oà lên tiếng như khóc nấc
- Ông nhìn kìa ... dưới hũng
Theo hướng mắt bà nhìn đăm đăm lúc nãy, ông cũng biết đó là cái hũng như mấy khe lạch, ngách trũng tự nhiên của rừng rậm. có khi thợ rừng đốn cây bẩy những khối đá cạnh gốc để dễ vận chuyển hoặc đất giữa mấy kè đá, gốc rễ cây cổ thụ bị nước xói lâu ngày, từ mấy con lạch suối nhỏ rí tụ lại, mùa mưa lũ nước xoáy trôi hết đi, từ bao năm để lại cái đầm nhỏ trũng sâu, chỉ mọc ít cỏ dại lùm bụi hoang rêu mềm ...

ông định tâm nhìn kỹ theo hướng mắt trân trối run rẩy của bà, dần quen với bóng nhập nhoà nơi khoảng rừng dầy lá nơi hũng sâu nhá nhem tối, ông sững sờ nhận ra ... hình dáng vài thân người nằm vắt lên nhau gần sát mặt hũng, chẳng biết hố bao nông sâu, còn xác thân nào nằm dưới ... trông như họ bị đẩy vội vã xuống đấy ... dù đã quen với cảnh chết chóc thương tật đời lính lúc xưa, ông vẫn nghe luồng hơi lạnh tê buốt nhói đau chạy suốt xương sống ...
bà định thần gục đầu vào vai ông thều thào:
- Như lính mình đó ông à, vầy thì làm sao sống được!

ông im lặng ... đã nhận ra bộ quân phục nơi những thân xác vất vưởng ấy, lại những tiếng nổ xé gió oà lên bên tai ... ông giật mình choàng tay ôm vai bà vừa như trấn tỉnh an ủi vừa như che chở
- Thôi, bà nè, mình tỉnh trí lại đi, cầu nguyện cho họ siêu thoát, an nghỉ ... rồi tìm lối ra khỏi nơi này ... đáng lẽ mình nên tìm cách chôn cất họ, chẳng mộ bia thì cũng lấp đất vùi lấy xác thân, nhưng chẳng thể làm được, không cuốc xẻng, lại đất đá rừng, mà vọng động lỡ họ nghe được thì chết ...
Hai ông bà nghiêm trang thì thầm một lúc, ông chợt trườn người về phía hũng sâu, bà hốt hoảng kêu lên
- ông làm gì vậy !
Vẻ mặt buồn xót xa ông nói thì thào
- Có gì đâu mà sợ , số mạng rủi ro đưa đẩy, người ta chết tội quá đi ! ...
... Tôi rải cho họ ít nắm đất, coi như mình có lòng đưa họ về với đất . Họ chắc cũng mới lìa đời oan ức, Hương hồn chẳng biết có thoát đi tìm về thăm mái nhà xưa một lần hay còn mơ hồ, cứ quanh quất đâu đây, hiểu được họ cũng đỡ tủi ... cũng biết số phận mình đã xong, đã mãn ... đừng lưu luyến!

ông nhoài người tới quơ cào mớ đất bổi lá vụn mục đẩy xuống hố, miệng lầm rầm than thở
- Số phận không may, các anh thoát kiếp khốn khổ đoạ đày sớm một bước,đừng quanh quẩn đây nữa, rừng hoang vu lạnh lẽo, thân xác đã về với đất ... thôi, tìm đường về quê quán thăm lại cha mẹ vợ con thân thuộc một lần, rồi tiêu diêu siêu thoát , bước chạy giặc loạn lạc bôn ba không nhang khói, vài nắm đất rừng già tiễn đưa các hồn lìa dương thế... sống khôn chết thiêng, xin chỉ đường đưa lối che chở cho vợ chồng tôi ra khỏi nơi này...
- Chú úu ơi ! ch ... u ... ú, cứu cứu con !
Ông bàng hoàng tưởng mình ù tai, mấy thân xác vẫn bất động, chỉ có lọn gió rừng quyện quanh phơ phất mấy mảnh lá cây vụn ông vừa rải xuống
Tiếng kêu cứu nhỏ nhoi yếu ớt run rẩy vo ve vọng lên từ nơi nào đó dưới hũng sâu nghe sao rờn rợn như lời gió về mang âm thanh huyền hoặc mơ hồ
- cư .. ứu co.. c ..on . c..ứu ...

Âm thanh ấy lại vọng lên âm hao như tiếng con chó con bị thương nặng chỉ còn kêu ư ử ... ấm ứ, na ná như tiếng ai kiệt lực, miệng môi bị đóng cứng
Ông giật mình ngoái sang, bàn tay lanh ngắt ... vợ ông cũng đã trườn tới gần bên mấy ngón tay run rẩy bấu chặt vai ông, đôi mắt mở tròn khiếp hải , bà
cứng môi không nói được gì, những rõ ràng bà đang sợ hãi, vì bà cũng mơ hồ nghe âm thanh ấy ! ... ông rùng mình rừng già ngả về chiều im lìm mà xao động. Cái im lìm của buổi ngày tàn thâm u, cái xao động của lá gió vi vu, lành lạnh báo hiệu giờ chuyến mình của đời sống về đêm đang như lay mình hé mở cánh cửa đen của giấc giờ huyền bí ...

ông lắc đầu quầy quậy xua đi ý nghĩ mơ hồ, đời lính đã biết bao nhiêu đêm sâu hun hút, chờ đêm qua ... một thoáng ngủ vội gần bên xác đồng đội bè bạn mới chết trận chờ chuyển đi ... có sao đâu ... nhưng hôm nay ông không bè bạn, chẳng phải chiến trường, mà sao cảnh huống quá đỗi thương tâm. Rừng lá bỗng dưng bặt gió, tất cả yên lặng tờ mờ, ông trấn tĩnh nói gọn bân
- Có gì đâu bà, gió rừng thổi qua cành cây khe lá,với tiếng côn trùng ve nhộng kêu ran đó mà!
Bà cũng ráng ngọng nghịu lắp bắp như để cho ông an lòng
- ờ ... thôi mình đi ...ông !
Bà chợt ngừng ngang trợn mắt run lập cập, cái âm thanh đó lại vang lên nho nhoi mà rõ mồn một
- cú... úu ci .. cứu ... con!

Rồi như có tiếng khóc nấc bật lên ngắn ngủi đứt đoạn ... im bặt , ông mím môi rướm người. Bà run rẩy trào nước mắt bấu vai ông níu lại
- ông ơi ...
- Bà nè, không phải ma đâu, chắc có ai bị thương nằm dưới hố, dể tui coi
Nói rồi ông vỗ nhẹ vào mấy ngón tay đang bấu chặt vai ông, gỡ ra
- Bà để tui tới gần coi, ma cỏ gì, mà có ma cũng chẳng đáng sợ như người ta đâu !
Ông bò sát lại bờ hũng nhoài đầu vào khoảng đất trống chụm hai tay lại trước miệng ông khe khẽ nói từng tiếng
- Đừng la lớn! Ai bị thương nằm dưới đó hả , lên tiếng đi, từng tiếng một
Nghe loáng thoáng như có tiếng nắc ư ứ ở dưới ... hít một hơi dài ông chụm tay nói tiếp
- Tui nói xong lập lại nè từng chữ một " ở ... dưới ... hố ... bị ... thương ..."
môt, giong yết ớt nhoi lên
... dứ ... dư ứới ... hố ..ố ..
ông xoay đầu lại vẻ mừng rỡ nói với bà
- có người còn sống ở dưới, bà ơi
Nói xong ông thừ người, rừng chiều chập choạng, xác người chồng chất chẳng biết là mấy dưới hũng này, làm sao tìm ra cái tiếng nói yếu ớt ấy ... ông bà lại tay không lạc rừng, mệt lả ... ộng nhoài đầu nói vọng xuống hố
- Lên tiếng đi, tui mới biết ở đâu
- bê .. bên ... va ...ách ... hốc ..g..ố ..c ...cây ...
Vậy là người đó nằm bên vách hố ông đảo mắt nhìn phía ông bò đến nằm dài khá trống trải, bên kia hũng có mấy cội cây mà xa xa, chỉ có một cây gần sát hũng cội rễ vươn ra vì đất như bị nước mưa chảy trôi đi lồi ra mấy cội rễ đâm ngang bám xuống đất sâu, có lẽ bên đó ... ông vội vã bò qua, vươn mình nằm lên nhánh rễ ông nói vọng xuông
- ở đây phải hông ! ngay dưới cội rễ nè
- dạ ...da.. .
ông định tâm một nhấp nháy con mắt chăm chú nhìn qua lỗ hổng dưới khúc rễ chia nhánh cho quen với bóng tối, những thân xác nằm bất động chỗng chất giữa hũng rõ ràng họ bị đẩy xuống vội vã, rễ cây choài ra tạo thành một bọng ...trống không sát vách phía dưới, đưa tay lách qua khe đất cạnh nhánh rễ quờ quạng
- Có thấy tay tui hông !
- k ...k .. hô ...ông
ông ngó quanh bẻ nhánh cây nhỏ gần bên mình đưa xuống bọng đất quơ quơ qua lại, ông cảm giác mấy chiếc lá như chạm vào vật gì, rướm mình đưa cành lá xuống sâu hơn, hắng giọng ông hỏi tiếp
- Nè có thấy cái gì hông! ... cái cành cậy có thấy hông, giữ nó lại
nhánh cây nhỏ trong tay ông bị trì lại rồi bựt ra, tiếng nấc lại bật lên ngắn ngủi hụt hẫng ... ông vội trấn an
- vậy là ở đây , chờ tui
ông quay sang tính gọi bà, ai ngờ bà đang nằm mọp phía sau ông chăm chú nhìn
Ông chỉ vào túi xách trên vai bà
- Lấy tui cuộn dây nylon ở trỏng
Cái túi xách ba lô đeo vai ông thường dùng lúc đi coi rẫy có một số vật dụng cần thiết khi cần phải xoay trở một mình nơi rẫy trại mênh mông .
Ông Tiến thắt gút sợi dây thành mấy nút cách nhau vài tấc, ông thòng sợi dây xuống
-Nè, sợi dây nylon chắc lắm, túi gút lại từng chốt, quấn dây qua lưng cột lại ghìm gữi chặt mấy nút chốt, tui phụ kéo lên nghe
Chờ ít phút ông giựt giựt sợi thừng nylông, thấy bị trì giữ ở dưới
- Xong chưa tui kéo nghe
Cái giọng yếu ớt lại nghẹn ngào vọng lên
- hô ...khô ..hổng ... được
- Sao dzậy
- Bị ... mắc .. kẹt !
Ông thừ người một thoáng bỗng rùng mình giựt nảy . Bây giờ mới sực tỉnh nhớ lại ông đang mon men bò bên cạnh cái hố chồng chất xác người, như bị đẩy đại xuống, tiếng ai nằm bên góc hố ngay bọng rễ cây có vẻ trống trải nhưng chắc là phần nào bị ...đè ! ông chợt run người, lắc đầu vài lần ông cố ém giọng hỏi
- Kẹt khúc nào
- Cái ... chưn
Vậy cũng đỡ! ông nhủ thầm, ngẩn người nhìn quanh, rừng bao la cây cối rậm rạp là thế mà chẳng có được gì cả .. may quá ông còn thấy được mấy khúc cành củi dài vừa vặn cỡ bắp vế, thợ rừng gom củi bỏ sót lại, gom mấy khúc cây để dựa vào cội rễ đâm ngang
Ông Tiến lại cầm cánh lá lúc nãy quơ xuống bọng đất,
- Nè nếu chạm trúng người lên tiếng nghe , Trúng hông, giữ lại, ... ờ ! đây hả ...
Một chặp ông tìm ra người đó nằm dưới lùm rễ ông đang bò vắt ngang
- Nè, tui sẽ xuống coi chú ra sao, tui xuống sát bên vách, ngay chồi rễ bự nè, nếu tui đụng trúng la lên nghe
ông đu người thả chân men men theo vách đất, hai cánh tay ôm lấy nhánh rễ, ông từ từ lần chân theo bờ đất đi xuống
- Đụng rồi phải hông ...
ống quần ông đã bị tay ai níu chặt...
- Biết rồi, thả ra đi tui xuống đây
ông khom thân mình lọt qua lỗ hổng .. một lúc sau ông đã đứng hẳn dưới hố lọt thỏn ló chỏm đầu lên. Cái hũng có lẽ vừa sâu bằng tầm người với. Thở mấy hơi thật sâu, ông đưa tay vẫy vẫy
- Bà nè đưa mấy khúc củi cho tui
ông đã tìm ra hai chân người mắc nạn kẹt dưới đáy hố, những chân tay phía trên như đã cứng lại thật khó mà di chuyển trong lòng hố chật hẹp, may mà có bọng trống dưới mấy lùm rễ cây, người đó đã lách người nằm ép một bên, chỉ kẹt hai cái chân! không có bọng cây là chịu ... thôi!
Chỉ bằng hai tay sờ soạng trong cái màn tối mờ mờ và âm thanh ú ớ hướng dẫn ông tìm ra chân ngườì mắc kẹt, Không còn cảm thấy mùi máu nồng tanh nữa, có lẽ lỗ mũi đã quen, mất hết cảm giác . Ông dùng mấy khúc cây làm đòn bẩy dời chuyển , ghìm giữ từng chút một ...


phamlang
#543 Posted : Monday, October 1, 2012 9:44:11 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 924
Points: 2,925

Thanks: 1131 times
Was thanked: 547 time(s) in 375 post(s)
"Baby in the Box”Tấm hình thay đổi cả một đời người (Phần I)




Tấm ảnh trắng đen nổi bật hình ảnh một em bé gái nhỏ nhoi

Mặc phong phanh chỉ độc nhất chiếc áo trên người, nằm trong cái hộp giấy bằng các tông, tay em thò ra bên ngoài như đang nắm lấy tay anh trai của mình, cũng nằm co quắp bên cạnh chiếc hộp ấy, và cái bát ăn xin thì để bên cạnh.Cả hai nằm trên nền gạch của đường phố Sàigòn lúc bấy giờ…32 năm sau, từ miền Bắc California, người nhiếp ảnh viên vẫn còn nhớ rất rõ mọi chuyện. Chúng ta hãy nghe ông thuật lại:

Hình ảnh thương tâm

Khi tôi làm việc cho Association Press, và được giao nhiệm vụ chụp hình trao trả tù binh, khi tốp người lính Mỹ cuối cùng được trao trả, năm đó là 1973, hình như tháng hai thì phải. Tôi còn nhớ ngày tôi chụp tấm hình đó là ngày tôi được lệnh đến Dinh Độc Lập để chụp buổi họp báo của tổng thống Thiệu vào buổi sáng.Người tài xế chở tôi tới Dinh Độc Lập, khi xong việc, tôi trở về thì đường phố kẹt xe quá, tôi quyết định đi bộ về văn phòng của AP nằm ngay đường Nguyễn Huệ và Lê Lợi trong một tòa nhà lớn cùng với NBC…gần đó là nhà hàng, các cửa tiệm…Vì văn phòng của tôi nằm cuối cùng của tòa nhà nên tôi đi vòng phiá sau cho tiện…Và trước khi tới cái góc nhà, đối diện với tòa nhà, là khách sạn Continental, có rất nhiều trẻ con xin ăn, có quá nhiều trẻ em mồ côi…

Tôi bắt gặp một hình ảnh vô cùng thương tâm trên đường: một em bé gái nhỏ bé đang ngủ, nằm bên trong chiếc hộp giấy bằng carton, bên cạnh chiếc hộp là đứa bé trai, lớn hơn một tí, nắm lấy tay của em gái mình thò ra, nằm co quắp, và chiếc tô dùng để ăn xin bên cạnh… Ánh sáng hoàng hôn hắt xuống thật tuyệt vời

Tôi vô cùng xúc động và lấy ngay chiếc máy ảnh Leica của mình với ống kính 50 li, chụp chừng 6 hay 8 tấm gì đó, rồi vào văn phòng ngay vì tôi rất vội phải đi công tác ở Đà Nẵng. Tôi giao cho họ và nói đây là phim chụp họp báo và đây là cuốn phim chụp trẻ em xin ăn đường phố…

10 ngày sau, khi tôi từ Đà Nẵng trở về, một tấm biển có gắn hàng chữ đùa nghịch“No More Orphan Pictures” [được để ở bàn tôi], bởi vì tấm hình đó khi AP phổ biến thì trở thành “tin nóng hổi”- Breaking News Story cho các báo chí và các đài phát thanh ở Mỹ, đặc biệt là ở New York…” Phong trào nhận con nuôi ở Việt NamThưa quí vị và các bạn, khi được hỏi tại sao tấm hình đó lại làm cho mọi người ở Hoa Kỳ hết sức chú ý đến các em mồ côi ở Việt Nam, nhiếp ảnh gia Chick Harrity kể tiếp:“Chuyện là như thế này, khi tấm hình đó được gửi về New York, mọi người đều rất thích, bởi vì nó không giống những hình ảnh khác và nó được đăng trên tất cả các báo chí ở Hoa Kỳ và rất nhiều người đã liên lạc tới AP của chúng tôi để hỏi xem có cách nào nhận hai em bé đó làm con nuôi…Các báo chí thì viết thư cho AP chúng tôi ở Sài gòn đề giúp xin địa chỉ của em bé đó.

Họ cho biết rằng, có rất nhiều, rất nhiều gia đình muốn giúp đỡ và nhận hai em bé đó làm con nuôi.Chính vì thế mà tôi phải làm sao tìm lại được hai em bé đó… Lúc bấy giờ, có vài người Việt Nam làm việc trong phòng tối, tôi đưa cho họ bức hình và thuật lại mọi chuyện. Chỉ hai ngày sau, họ đã dễ dàng tìm ra gia đình của em bé này vì có nhiều người ăn xin ở gần chúng tôi làm việc lắm.Khi gặp mẹ của em bé, bà cho biết chồng bà là một người lính đang đi chiến đấu.

Bà có 5 đứa con trai và em bé trong chiếc hộp giấy là con gái út.Vì hoàn cảnh vô cùng nghèo khổ, lương chồng không đủ nuôi 7 miệng ăn, nên các con bà phải đi ăn xin trên đường phố.Tên của em là Trần Thị Hết… Tôi đã thuật lại mọi chuyện và cho bà biết rằng có những gia đình ở bên Mỹ rất muốn nhận hai em bé trong bức hình làm con nuôi. Nhưng bà từ chối ngay lập tức, bà nói rằng cho dù hoàn cảnh khó khăn đến thế nào đi chăng nữa, bà phải giữ cho bằng được tất cả các con bà dưới một mái nhà. Và bà đã làm như thế…”Cô bé năm xưaThưa quí vị và các bạn, thế rồi người nhiếp ảnh gia Chick Harrity có cơ hội gặp lại em bé trong chiếc hộp giấy hay không? Chúng ta hãy nghe ông kể tiếp:“Khi tôi rời Việt Nam, tôi không bao giờ ngờ rằng sau này em lại được một gia đình người Mỹ nuôi…Mười năm sau, tôi không còn làm việc cho Association Press nữa và trở thành phóng viên cho tòa Bạch Ồc thì một hôm, người bạn của tôi trong AP cùng làm việc ở Sài gòn, gọi điện thoại báo rằng cô bé trong chiếc hộp giấy mà tôi chụp hình năm xưa sẽ có mặt tại tòa Bạch Ồc để gặp tổng thống Reagan và mọi người sẽ sắp xếp cho tôi để gặp lại cô bé đó.

Đó là buổi đầu tiên tôi gặp lại cô bé ấy và biết được rằng cô được gia đình bà Evelyn Heil nhận làm con nuôi từ năm 1974, khi em đến Houston chữa bệnh tim do một tổ chức từ thiện đem em sang từ Việt Nam… Khi tôi gặp em lúc bấy giờ, trông em thật là bé nhỏ so với độ tuổi 12…

Tôi trao cho em bức hình tôi chụp năm xưa nhưng em làm moị người và tôi rất ngạc nhiên vì em từ chối nhận và rất là giận dữ…Tôi không hiểu vì sao như thế… rồi thời gian trôi qua, trong lòng tôi cứ tự hỏi về điều này… Mãi cho đến ngày hôm nay, sau 32 năm, kể từ ngày tôi chụp hình ấy, tôi mới thực sự giải tỏa được, thì ra hồi ấy, trong trí óc ngây thơ của em, em sợ rằng nếu có ai nhìn thấy bức hình ấy, thì họ sẽ bắt em trả về Việt Nam…

Hôm nay, người thiếu nữ trao giải cho tôi đã hoàn toàn khác…” Giải thưởng “Thành Tựu Một Đời”
A Surprise From Long Ago And Far Away.Cuộc hội ngộ bất ngờ giữa nhiếp ảnh gia Chick Harrity và Nhanny Heil Trần Thị Hết“Em bé trong chiếc hộp giấy” tại Tòa Bạch Ốc với sự chứng kiến của Tổng thống George W. Bush và gần cả ngàn quan khách khác. Thưa quí vị và các bạn,

Chick Harrity – người nhiếp ảnh gia nổi tiếng, đã có gần 50 năm trong nghề, với 16 năm làm trong Associations Press, 10 năm làm Trưởng Phòng Nhiếp Ẳnh của U.S. News và World Report và 33 năm chụp hình cho tòa Bạch Ốc.Ông đã chụp rất nhiều hình qua nhiều đời tổng thống như John Kenney, Lyndon Johnson, Richard Nixon, Gerald Ford, Ronald Reagan, George Bush, Jimmy Carter, và Bill Clinton, những tấm hình của ông đều mang nhiều ý nghĩa và đi vào lịch sử. Khi được trao giải cao quí “Thành Tựu Một Đời”, ông đã trả lời Hội Phóng Viên Ảnh tòa Bạch Ốc rằng tất cả những tấm hình ông ghi lại trong 50 năm qua, mặc dù có giá trị đến đâu chăng nữa, đều không làm ông vui nhất và thích nhất là tấm hình “Baby In The Box” – Em bé trong chiếc hộp giấy. Vì thế, trong buổi lễ trao giải này ban tổ chức đã dành cho ông một sự bất ngờ… Ông kể lại giây phút ấy:“Khi tôi đứng ở trên sân khấu cùng với tổng thống George W. Bush, tôi nghe vị chủ tịch của Hội Phóng Viên Nhiếp Ảnh tòa Bạch Ốc nói với tổng thống Bush rằng.

“Đừng di chuyển, hãy đứng yên!” Thông thường thì ai mà nói như thế với vị tổng thống kiểu đó…

Tôi không hiểu chuyện gì đang xảy ra đây..và bỗng nhiên tôi nghe tiếng của người điều khiển chương trình xướng danh tên tôi cùng với bức hình, và người đại diện trao giải là Nhanny Heil, cô bé trong bức hình năm xưa..



Tôi vô cùng bàng hoàng và xúc động…nước mắt dàn dụa trên mặt tôi… Cuộc hội ngộ diễn ra vô cùng bất ngờ…Tất cả mọi người có mặt hôm đó đều rơi lệ, ngay cả tổng thống Bush cũng vậy…Sự kiện Trần Thị Hết Nhanny trao giải cho tôi làm cho tôi càng tin tưởng rằng: đây là bằng chứng mà bức hình của tôi đã làm thay đổi một cuộc đời và hy vọng rằng sẽ có những trường hợp khác tương tự như thế… ” Thưa quí vị và các bạn, chắc hẳn quí vị và các bạn sẽ còn một vài điều thắc mắc rằng tại sao cô bé Trần Thị Hết lại được sang Mỹ năm 1974 để chữa bệnh tim rồi được gia đình một người Mỹ nhận làm con nuôi?Thế còn cha mẹ ruột cùng các anh trai của em ra sao? Và cuộc sống của cô Trần Thị Hết Nhanny hiện nay như thế nào? Mời quí vị và các bạn nghe tiếp vào kỳ sau.Phương Anh thân ái chào tạm biệt và hẹn tái ngộ trong mục Câu Chuyện Hàng Tuần vào sáng thứ ba tuần tới.

4 users thanked phamlang for this useful post.
thuylinh on 10/1/2012(UTC), thunder on 10/3/2012(UTC), victoria on 10/6/2012(UTC), Ngoc N Hao on 10/7/2012(UTC)
phamlang
#544 Posted : Monday, October 1, 2012 9:50:17 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 924
Points: 2,925

Thanks: 1131 times
Was thanked: 547 time(s) in 375 post(s)
“Baby in the Box”Tấm hình thay đổi cả một đời người (Phần II)





Thưa quý vị và các bạn, trong kỳ trước, chúng ta đã nghe nhiếp ảnh gia nổi tiếng Chick Harrity kể lại trong hoàn cảnh nào ông đã chụp bức ảnh em bé nằm ăn xin trong chiếc hộp bằng cạc tông bên cạnh người anh trai bé nhỏ của mình.Và sau khi tấm hình được phổ biến ở Hoa Kỳ, đã dấy lên phong trào nhận trẻ em mồ côi Việt Nam làm con nuôi.Mặc dù bà mẹ của em từ chối sự hảo tâm của rất nhiều gia đình người Mỹ muốn nhận em làm con nuôi.

Thế nhưng, như một số phận đã dành sẵn, năm 1983, tức 10 năm sau, em bé trong chiếc hộp giấy có mặt tại Tòa Bạch Ốc để gặp Tổng thống Ronald Reagan và hội ngộ lần đầu tiên với người đã chụp hình mình khi mới lên hai. Tuy nhiên, cuộc gặp gỡ này đã làm cho cô bé Trần Thị Hết, nay là Nhanny Heil vô cùng tức giận và hãi sợ vì nhiếp ảnh gia Chick Harrity đã đưa tặng em bức hình Baby In The Box.Theo lời bà mẹ nuôi cô kể lại, lúc bấy giờ, trong trí óc ngây thơ của cô bé 12 tuổi, cô chỉ sợ rằng, nếu có ai biết được cô là em bé trong bức hình, thì cô sẽ bị trả về Việt Nam.Vì thế, cô rất ghét bức hình ấy.





Cô Nhanny Heil và người mẹ nuôi, bà Evelyn Heil.

Được hỏi vì sao bà lại trở thành mẹ nuôi của cô, từ thành phố Springfield, bang Ohio, bà Evelyn Heil, một nhà giáo, nay đã về hưu kể lại: “Khi tôi nhìn thấy bức hình của em trên tờ báo [ở Houston, Texas], bên cạnh là bức hình “Baby in the Box”, đôi mắt em mở lớn đầy vẻ sợ hãi như đang nhìn thẳng vào tôi như có một sự thôi thúc kỳ lạ. Lúc bấy giờ, em được bác sĩ Denton Cooley chữa bệnh tim, đem em từ Saigòn sang. Năm đó là năm 1974. Theo lời cơ quan từ thiện đưa em sang Mỹ thì mẹ em đưa em vào viện mồ côi Holt, vì em bị bệnh tim và bà quá nghèo không có tiền chữa bệnh cho em. Cũng theo lời hội từ thiện cho biết thì họ cố gắng tìm mẹ và anh trai của em nhưng nghe nói bà đã đi Đà Nẵng. Sau đó họ cũng được tin là bà mẹ của em đã qua đời vì bị bệnh lao phổi, và không còn ai biết gia đình cũng như anh trai của em ra sao nữa.

Nhưng ở Sài gòn lúc bấy giờ cũng không có đủ phương tiện chữa trị nên họ đã đưa em sang Mỹ. Khi tôi nhìn thấy khuôn mặt của em và bức hình Baby In The Box đăng trên trang báo, tôi lập tức tìm cách đến ngay bệnh viện để được ôm em vào lòng vì trông em tội nghiệp lắm, nét mặt đầy vẻ sợ hãi.” Thưa quý vị và các bạn, việc nhận em làm con nuôi không đơn giản chút nào vì lúc bấy giờ, danh sách xin nhận em làm con nuôi lên đến hai ngàn gia đình.

Thật là khó để lọt vào danh sách được tuyển chọn, tức là khoảng 5 gia đình ưu tiên, rồi cuối cùng mới được chọn. Nghĩa cử cao đẹpThế nhưng, giống như một phép lạ đã xảy ra, bà đã vượt qua hai ngàn gia đình khác để đứng đầu danh sách xin nhận em làm con nuôi, bà kể lại:“Tôi rất là kiên trì và họ biết là tôi biết nhiều về dinh dưỡng. Rồi hôm ấy, họ đến nhà tôi rồi đi cùng với tôi để đón các con tôi đi học về. Trước khi tới trường của các con tôi thì họ cho tôi biết là tôi sẽ được chọn. Tôi đã khóc vì sung sướng và không thể lái xe tiếp tục được, phải dừng lại bên đường để dằn cơn xúc động. Tôi không thể tin nổi, một điều kỳ diệu đã xảy ra.Và cũng nên nhớ lại rằng, thất bại của Mỹ trong việc bảo vệ Sàigòn đã khiến em trở thành một em bé mồ côi tị nạn. Điều này giúp cho việc xin em làm con nuôi dễ dàng hơn. Và ngày 10 tháng 10 năm 1974, em chính thức trở thành con nuôi của tôi.

Gia đình tôi đưa em về nhà, tôi đã có 4 đứa con trai và em trở thành công chúa trong gia đình của chúng tôi.” Thưa quý vị và các bạn, khi được hỏi về tình trạng sức khỏe của em lúc bấy giờ như thế nào, bà cho biết:“Em thật là nhỏ bé và suy dinh dưỡng trầm trọng. Em gần như không sống nổi, sức khỏe của em thật là tồi tệ, em không tự mình ngồi và đứng được. Chỉ cân nặng có 12 pounds mà lúc đó em đã 3 tuổi rồi. Con trai lớn của tôi chọn tên em là Nhanny.

Từ đó, tên em là Nhanny Heil.Sau khi tôi nuôi em được chừng 6 hay 10 tuần gì đó thì em bắt đầu tự mình đứng và ngồi được. Tôi đã tốn rất nhiều công sức để chăm sóc và chữa bệnh cho em.Em bị bệnh về tai, nên đã ảnh hưởng nhiều đến việc nghe và nói. Đồng thời, em còn thêm rất nhiều bệnh tật khác nữa. Trong nhiều năm, Nhanny bị chậm phát triển so với các trẻ em khác. Nhưng cuối cùng, thì mọi việc cũng đâu vào đó. Nhanny được tất cả mọi người yêu mến.” Không đầu hàng số phậnThưa quý vị, được biết, sau nghĩa cử thật cao đẹp của bà Evelyn Heil nhận em bé Trần Thị Hết làm con nuôi, một làn sóng xin nhận nuôi các em mồ côi Việt Nam dâng cao tại Hoa Kỳ, nhất là vào thời điểm trước biến cố tháng 4 năm 1975.Trong khi đó, ngoài thời gian đi dạy học, phải vất vả nuôi 4 người con trai của mình, bà dành hết thời gian cho Nhanny. Vì sức khỏe và bệnh tật, Nhanny không thể nào đến trường bình thường như các trẻ em khác.




When Nhanny had trouble learning,Evelyn Heil founded the Warren Center for Learning.This photo is from an Associated Press story on the school in 1982.Nhất quyết không chịu đầu hàng số phận, bà lập ra Warren Center of Learning, xin tạm dịch Trung Tâm Học Tập Warren, để Nhanny có cơ hội được học hành tại đây.Năm 1983, để có thêm tài chính cho trung tâm, bà nhờ các cơ quan truyền thông hỗ trợ trong việc quyên góp. Gặp Tổng thống Ronald Reagan Và cũng nhân cơ hội này, bà và Nhanny được Tổng thống Ronald Reagan cùng phu nhân mời đến Tòa Bạch Ốc. Bà cho biết:“Lúc bấy giờ, có rất nhiều phóng viên báo chí ở khắp nơi trên toàn thế giới về tham dự và muốn đặt câu hỏi với Nhanny, nhưng Nhanny cứ quả quyết đòi gặp Tổng thống trước đã. Nhanny nói với mọi người rằng hãy để cho em gặp Tổng thống đã, rồi em sẽ trả lời câu hỏi của mọi người khác.Và tôi còn nhớ rằng khi hai chúng tôi đang đi vào hành lang, thì ngay lúc ấy, Tổng thống Reagan cùng phu nhân xuất hiện. Ông cúi xuống ôm em vào lòng và hỏi tai nào của em không nghe được? Em trả lời.Tổng thống nói: Vậy thì hãy cứ đi qua phía bên đó để ông cùng nghe vì tai của ông cũng bị như thế! Thật là một vị Tổng thống tuyệt vời ! Sau khi trò chuyện với Tổng thống Reagan xong thì chúng tôi gặp Chick Harrity. Đó là lần đầu tiên chúng tôi gặp ông ấy.”Ngạc nhiên lẫn xúc động




Trước mặt Tổng thống George W. Bush,Cô Nhanny Heil trao tặng giải thưởng cho ông Chick Herrity.

AFP PHOTO Andrew COUNCILL


Thời gian trôi qua, sau lần hội ngộ đầu tiên [với Chick Harity vào năm 1983] làm cho Nhanny hãi sợ, tháng 4 năm 2005, bà nhận được điện thoại của Hội Phóng Viên Ảnh Tòa Bạch Ốc mời bà cùng Nhanny đến trao giải cho Chick Harrity. Vô cùng ngạc nhiên lẫn xúc động, mọi chuyện tưởng chừng như đã đi vào dĩ vãng, nhưng nay lại được khơi dậy với một niềm vinh hạnh. Bà còn được biết rằng, trong suốt gần 50 năm cuộc đời nhiếp ảnh của mình, Chick Harrity bao giờ cũng tâm đắc về bức hình “Baby In The Box”, và luôn tự hỏi cô bé trong ảnh giờ này ra sao.Với sự giúp tìm kiếm của hãng truyền thông NBC, Hội Phóng Viên Ảnh Tòa Bạch Ốc đã tìm ra được địa chỉ của mẹ con bà và trân trọng mời Nhanny đến tham dự để dành cho Chick Harrity một bất ngờ lớn. Thế là mọi chuyện đã xảy ra đúng như dự định.“Người may mắn nhất”Thưa quý vị và các bạn, giờ đây, khi Nhanny đã là mẹ của hai con và hiện định cư tại thành phố Springfield, bang Ohio, cô tâm sự:“Tôi nghĩ tôi là người may mắn nhất. Tôi không biết nói gì hơn. Tôi chỉ nghĩ là tôi rất may mắn đã gặp được mẹ nuôi tôi cho tôi một cuộc đời mới. Tôi biết rằng, tôi còn có cha và các anh trai của mình, và nhiều khi tôi tự hỏi không biết giờ này họ ra sao. Tôi không biết làm cách nào để tìm ra họ. Tôi thiệt không biết làm sao!”Thưa quý vị và các bạn, câu chuyện về bức hình Baby In The Box có thật nhiều điều kỳ diệu mà chúng ta không thể nào giải thích nổi. 32 năm sau, có ai ngờ em bé ăn xin nghèo khổ trên vỉa hè thành phố, nằm trong chiếc hộp bằng cạc tông, lại thay mặt cho toàn thể giới báo chí phóng viên nhiếp ảnh Hoa Kỳ, trước mặt Tổng thống George W. Bush, để trao tặng giải thưởng cho người đã chụp hình mình năm xưa, làm cho tất cả mọi người phải rơi lệ.

Và hôm nay đây, mặc dù không nói được tiếng Việt, nhưng cô luôn ghi nhớ cô là người Việt Nam, cô vẫn hằng nhớ đến những người thân nhân ruột thịt của mình. Ước mong một ngày nào đó, lại có điều kỳ diệu xảy ra cho cô, phải không thưa quý vị và các bạn?

5 users thanked phamlang for this useful post.
thuylinh on 10/1/2012(UTC), coffeebean on 10/3/2012(UTC), thunder on 10/3/2012(UTC), victoria on 10/6/2012(UTC), Ngoc N Hao on 10/7/2012(UTC)
coffeebean
#545 Posted : Wednesday, October 3, 2012 12:52:08 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 2,667

Thanks: 232 times
Was thanked: 760 time(s) in 350 post(s)
Hẹn ước (tiếp theo)


ông đã tìm ra hai chân người mắc nạn kẹt dưới đáy hố, những chân tay phía trên như đã cứng lại thật khó mà di chuyển trong lòng hố chật hẹp, may mà có bọng trống dưới mấy lùm rễ cây, người đó đã lách người nằm ép một bên, chỉ kẹt hai cái chân! không có bọng cây là chịu ... thôi!
Chỉ bằng hai tay sờ soạng trong cái màn tối mờ mờ và âm thanh ú ớ hướng dẫn ông tìm ra chân ngườì mắc kẹt, Không còn cảm thấy mùi máu nồng tanh nữa, có lẽ lỗ mũi đã quen, mất hết cảm giác. Ông dùng mấy khúc cây làm đòn bẩy dời chuyển , ghìm giữ từng chút một ...


Sau này nhớ lại ông vẫn rùng mình một chút gì gai lạnh xương sống, tại sao ông không hề nghĩ đến chuyện bật ngọn đèn pin vậy kìa! lúc đó thâm tâm ông không hề nghĩ đến chuyện bị lộ vì ánh đèn, chỉ là không nghĩ, không nhớ tới . Có thể trong tận cùng tâm thức hay vô thức của ông đã loại bỏ cái chuyện thắp đèn, Vì thử nghĩ coi dưới cái hố chồng chất ... dù là mới qua đời hồi sáng, mà ông loay hoay cạy cục khó nhọc bẩy dời từng phần thân thể người ta . Có lúc lấy thế, có lúc mất đà, và mệt quá nữa, rồi ông nhủi té dựa vào người ta thân xác ấy cái cảm giác lạnh buốt lạ lùng rờn rợn, cái cảm giác của va chạm vào tử khí, của bất khả vãn hồi. Thì một nguồn ánh sáng dẫu nhỏ nhoi yết ớt từ chiếc đèn pin ... không biết sẽ được ông cảm nhận như thế nào? khi loáng thoáng nhìn qua nét mặt hình hài đông cứng ấy? và chẳng biết vợ ông sẽ phản ứng ra sao, ám ảnh như thế nào ra sao khi bà là người rọi đèn xuống hố ...

Cuối cùng ông rút được hai chân, dựng được lưng người đó dựa vào vách đất
- Nè, cái hố cao cỡ vai tui, ngay trên có cái rễ chồi bự chắc lắm . Bây giờ tui cột dây ngang ngực, dây tui cột mối vô gốc cây rồi bả níu giúp cho căng giữ dây đừng chùng, tui đẩy chú lên, ráng lấy tay ôm cái rễ đu mình lên, rồi nằm lên đó nghe, giữ đừng có rớt trở lại ...
Loay hoay một hồi, cả hai ông Tiến và người vang tiếng kêu cứu dưới hố đang nằm sóng xoài bên gốc cây ... Ông Tiến định thần hít thở thật sâu chầm chầm ít phút, ngồi bật dậy ông nghiêng bi đông nước nhểu vào miệng người đó
- Nè uống miếng nước cho tỉnh người, có bị thương ở đâu, gãy giò trặc khớp gì không ?
Người đó như bừng tỉnh hối hả nuốt mấy ngụm nước, mấp máy môi phều phào
- Con .. không ... biết
Ông Tiến giật mình, cúi xuống nhìn kỹ khuôn mặt trong bóng chiều nhá nhem ông vẫn nhận ra khuôn mặt giọng nói non nớt bộ quần áo ...
- Không ... Không phải lính hả !
- hông, con .. nhỏ ...

Lại những tiếng đạn xé trời vang lên, giờ ông mới nhớ ra mình đang ở vùng nguy hiểm ...
- Thôi, mình đi ở đây hổng nên đâu, con .. có ráng đi được hông ?
ông bất ngờ gọi thằng nhỏ bằng tiếng "con" triù mến, mà ngay với mấy thằng con quậy phá ở nhà ông cũng rất ít khi gọi .
Thằng bé như nhận ra, lắp bắp
- Để con ráng, chắc được, đau ê ẩm mà chắc không gãy

Cũng may chỉ hai bắp chân từ phía dưới gối bị kẹt dưới lớp thân thể chồng chất cũng cả 6, 7 người. ông Tiến nghĩ thầm

Nói xong nó lom khom ngồi dậy rờ rẫm xoa nắn hai chân, ông Tiến nhoài người làm phụ, ông thở phào nhẹ nhõm
- May ghê chỉ có trầy xước bầm tím sưng chút đỉnh, phải có chút muối đắp cho đỡ sưng, xương khớp không sao , chớ mày mà bị thương hay gãy xương thì thiệt không biết làm sao đây ... Để bó lại chỗ sưng ù này đi đỡ va vấp, cánh tay tím bầm nữa ... Xoa bóp một lát rồi mình đi, bà cho nó miếng nước đi, ờ trong túi có ống thuốc cảm, cho nó một viên uống cầm đau nhức ...
Thằng bé trạc chừng 14, 15 tuổi người rắn rỏi dáng con nhà lao lực vất vả sớm, nét mặt vẫn đầy nét ngây ngô của đứa trẻ đồng rừng rẫy bái, bà Tiến đưa thuốc nước cho thằng bé xót xa

- Làm sao mà con rớt xuống đây !

Chưa kịp đón lấy bình nước, thằng bé vụt run người nấc lên như tức tưởi như run sợ không thành tiếng, nhìn trân vào hũng mờ trong bóng xám tối vẫn rõ in bóng dáng những thân người. Ông Tiến choàng tay xốc nách thằng bé nói nhỏ
- Thôi con, tội nghiệp người ta, mày sống sót là số phần may mắn lắm đó ! bây giờ mình phải đi lách vô rừng tránh ổ súng, cũng chiều tối rồi, đỡ lo bị họ thấy ! Đi vô rững kiếm hốc ngách nào đó ngủ ít giờ qua đêm, sớm mai đi tiếp!
Thằng bé líu ríu khập khiễng đi theo ông bà, Hồi lâu coi bộ nó rành rẽ đi rừng hơn vợ chồng ông nhiều. Một tay bị sưng bầm ông cột cho cái khăn quàng qua cổ giữ yên trước ngực, còn tay kia nó biết cách níu cành lá men theo giữa các rể cây mà đi không hề vấp té tuy hơi khập khiễng. ông ngước nhìn ánh mặt trời yếu ớt trên mấy chỏm lá rừng tít trên cao. Sắp tối đến nơi rồi, ông ém tiếng thở dài lo âu

Đám côn trùng bắt đầu lên tiếng mỗi lúc một râm ran. Bầy muỗi mòng đổ ra bay tứ tung vo ve, vo ve chạm vào mặt mũi rồi bay đi, vài con đậu bám vào mai tóc, vào cả bên trong cổ áo khó chịu đến lạ lùng mà cả ba đều lầm lũi mò mẫm từng bước không dám hé môi than thở . Nhìn thằng bé lặc lè khập khiễng mím môi đi trước vợ chông ông như dò lối dẫn đường, nhìn vợ mệt phờ bước thấp bước cao thỉnh thoảng vướng rễ cây hoắc bị chuồi chân té nhủi, vội vã gượng lại đi tiếp, ông xót xa mà chưa biết nghĩ sao, có lẽ bộ dạng của ông cũng thảm hại chẳng kém.

Nghĩ là mình đã lạc vào rừng thoát khỏi phạm vi gần gủi của bệ súng . Chẳng hiểu sao ông cất tiếng gọi thằng nhỏ
- Nè ... con , con tên gì ? chưn tay còn đau lắm không ? sắp đêm rồi rừng tối mịt, đâu thấy chỗ mà đi mình kiếm lùm bụi nào nghỉ chút mơi sớm có sức đi tiếp !
- Con tên Bình, tính nói mà sợ chú thiếm... la, khu này có mấy chòi của thợ rừng cất đụt mưa, chờ qua đêm thăm dỡ bẫy, hổng gặp thì cũng ráng tìm mấy lán thợ củi, chỉ có mái lá thôi cũng đỡ hả chú
Ông Tiến mừng quýnh
- Con biết khu này hả ? bộ con làm rừng ?
Cả ba người không hẹn mà cùng đứng lại sát gần nhau thì thào, thằng nhỏ lắc đầu
- Không có đâu, con làm rẫy với má trồng đậu phọng, mì . Má không cho đi làm rừng,
- Sao má không cho đi ! Bà Tiến tìm cách bắt chuyện với thằng bé
- Má nói nghề đó bạc lắm ! dễ bị thương tật, bị chết nữa . Thợ củi đốn cây bị cây đè hoài, theo xe be ngủ gục té bể đầu gãy xương, thợ rừng bị rắn rít ... có người dỡ bẫy bị con thú dùng tàn lực vùng lên húc té, có người đạp trúng bẫy người khác ...
- Vậy sao con biết
- Thì con cũng có đi rừng chút chút thôi chớ không làm rừng, Con theo mấy thằng bạn đặt dây lưới dụ bắt gà lôi, chim, bẫy thỏ mễn ... mấy con nho nhỏ bữa có bữa không dzìa cho má kho ...
Ông mừng quá lay vai thằng nhỏ lắp bắp
- Vậy còn có nhớ lán, chòi nào gần đây không, trời sắp tối mịt rồi con biết đường tới đó hông ?
- Con nhớ, phải đi một hồi nữa, chú thiếm theo con nha, tới đó là vừa tối thui đó
- Ừa, mình đi con !
Lần mò đường u tối mới đầu vợ chông ông còn đưa tay đuổi muỗi mòng trước mặt, một chặp mỏi tay, khỏi đuổi chỉ ít phút đưa tay lên vuốt xoa mặt, cổ đuổi mấy con muỗi bám lỳ ở lại ...đến lúc bà Tiến không còn màng đến giơ tay lên ... Thằng Bình đưa cánh tay còn lại chỉ về một khoảng cỏ tranh nho nhỏ giữa rừng cây
- Chú thiếm coi cà, chòi ông Ba Thú đó
ông Tiến ráng nhìn theo hướng nó chỉ ông lờ mờ nhìn thấy dáng mái lá nhỏ chìm giữa màu đêm tối và cây rừng đen đặc phía sau .Căn chòi dựa lưng vào rừng cây, mặt hướng ra trảng cỏ tranh
Ông Tiến thầm cám ơn trời xui khiến cho mình moi nó lên, chính thằng bé đó bây giờ đang cứu lại hai vợ chồng, ông linh cảm thằng nhỏ sẽ giúp ông ra khỏi khu rừng này,
- Ông Ba thợ rừng này giỏi lắm bữa nào bẫy ông cũng trúng mồi, gọi riết thành tên ông Ba Thú, má con kể vậy, ổng tốt lắm, ai vô chòi ông đụt mưa cũng được đừng phá hư , có lu nước, có mồi lửa
Bình dợm bước tới, ông Tiến chụp vai nó níu lại
- Coi chừng, ngó coi có ai quanh đây hông ?
- Hổng có đâu chú, mấy ổng ra ngoải, mé đường lộ đó
- Con biét hả
- dạ
Dạ một câu cụt ngủn thằng trầm mặt xuống nín thinh, lủi thủi từng bước khập khiễng bước về phía căn chòi như không có ông bà Tiến ở cạnh vậy !
Sửng người nhìn bóng dáng thằng nhỏ, có một cái gì lạ lẫm nhói nhói nhúc nhích trong ruột .
Thằng Bình chợt ngồi thụp xuống giữa trảng cỏ, ồ thì ra là một hũng nước giống như cái giếng nông vậy, nó rạp mình xuống nằm sát bờ nước, một tay vốc nước uống ... ông bà cũng làm theo bây giờ mới biết khát, mới biết cái ngọt ngào mát lạnh của nguồn nước đi qua đôi môi nứt nẻ, cổ họng khô rát đắng nghẹt, thấm vào từng đoạn ruột mát rượi , uống xong họ lu, nước vã lên mặt như cho trôi đi bao mệt mỏi rã rời
Ông Tiến lật đật kéo bà đi theo thằng Bình, thằng bé đã đi tự lúc nào . Thằng nhỏ đẩy tấm cửa liếp tre, chờ ông bà, chòi nhỏ trống đen nó lần mò sao đó ... một lúc xoè lên đốm lửa, thì ra nó biết mò tìm ra chỗ dấu chiếc bật lửa, lại một đốm lửa giữ hơi lâu được cỡ mươi giây, ông thấy nó ngó dáo dác, nó bắt gặp ánh mắt ông, nói như để giải thích
- Con tìm cái đèn dầu, chòi ổng lúc nào cũng có cái đèn còn để lại chút dầu
- Thắp đèn lên người ta thấy sao ?
- Vậy hả chú ! thì mình che đi, ánh đèn nhỏ xíu mà, mình tìm coi chỗ nằm ngủ rồi tắt .

chiều tím
#546 Posted : Sunday, October 7, 2012 7:21:29 AM(UTC)
chieutim

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 262
Points: 810
Location: Nha Trang

Thanks: 207 times
Was thanked: 121 time(s) in 83 post(s)





Về Trường Cũ


Trường cũ ta về mây trắng bay
Nhớ em, ngõ trúc lá rơi đầy
Áo trắng không còn trong sương trắng
Trắng chiều thu lạnh, trắng heo may .

Lớp học nhìn ra những cánh đồng
Những mùa xanh mướt lúa đơm bông
Tìm đâu bụi phấn ngày xưa ấy
Một thuở chia xa thắm phượng hồng ?

Vẫn bóng thầy xưa dưới mái trường
Vẫn lời trầm ấm lắm yêu thương
Vẫn lời thơ nở trên trang sách
Những nụ hoa đời, gió ngát hương .

Tóc cô giờ bạc màu sương xám
Lãng đãng mây chiều vạt nắng rơi
Một lần thổn thức ta thầm gọi
Gió vọng sân trường tiếng : Mẹ ơi !..
.




Thanh Trắc Nguyễn Văn





1 user thanked chiều tím for this useful post.
coffeebean on 10/14/2012(UTC)
Ngoc N Hao
#547 Posted : Sunday, October 7, 2012 1:14:11 PM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,706
Points: 8,185
Location: France

Thanks: 2255 times
Was thanked: 1524 time(s) in 874 post(s)
Mùa Thu Cuộc Tình






Vài dòng về tác giả:Tiểu Tử tên thật Võ Hoài Nam, sinh năm 1930 tại Gò Dầu Hạ (Tây Ninh). Sau khi tốt nghiệp trường kỹ sư Marseille (Pháp) năm 1955, ông về Việt Nam dạy trường Petrus Ký một năm rồi vào làm việc trong hãng dầu Shell Việt Nam từ năm 1956 cho đến ngày mất nước. Năm 1979, ông vượt biên rồi định cư ở Pháp.


Sau đó, ông qua Côte d’Ivoire (Phi Châu) làm việc cho Công ty Đường Mía của Pháp (1979-1982) và qua làm hãng dầu Shell Côte d’Ivoire cho đến lúc về hưu. Trước 1975, ông phụ trách mục biếm văn Trò Đời của nhật báo Tiến với bút hiệu Tiểu Tử, và tiếp tục dùng bút hiệu này kể từ sau 1975. Trong dịp trả lời phỏng vấn của Thư Viện Diên Hồng vào cuối năm 2007, ông cho biết, đã xuất bản tập truyện, Những Mảnh Vụn (2004), Bài Ca Vọng Cổ (2006), chuẩn bị tái bản tập truyện Những Mạnh Vụn và sẽ xuất bản cuốn thứ ba nhan đề Chị Tư Ù (xem chi tiết trang 41). Truyện của ông trong sáng, giản dị, gần gũi với đời sống đau đớn của người dân Miền Nam dưới chế độ VC kể từ sau 30-4- 1975, nên đọc truyện, ai cũng xúc động, không cầm được nước mắt. Ông viết văn bằng cả tấm lòng đôn hậu, thấm đượm đạo nghĩa của một người Việt yêu nước chống cộng, nên lời văn nhẹ nhàng, tha thiết, lay động nhân tâm, ngay cả với những người đã lầm đường lạc lối theo VC. Truyện ngắn vô cùng cảm động sau đây của ông sẽ cho quý độc giả thấy được những giá trị tuyệt vời, những hạnh phúc cao cả, những phần thưởng vô giá… trong đời sống vợ chồng, một khi hai người biết thuỷ chung yêu thương nhau, quý trọng nhau, trọn vẹn sống cho nhau…





Bữa ăn trưa đó của ông Năm thật giản dị: một trái cà tô mát không dầu không dấm và một miếng thịt bò nhỏ bằng bàn tay nướng trên vỉ sắt không muối không bơ. Quá giản dị! Nhứt là hôm nay thứ bảy, không phải đi làm. Nghĩa là có dư dả thì giờ để làm một món gì đó cho có vẻ một bữa ăn cuối tuần. Cho nó khác với ngày thường ăn vội ăn vàng cái gì cũng được. Thật quá giản dị! Nhứt là ông Năm sống một mình, không bị phiền toái bởi những chuyện vụn vặt lỉnh kỉnh phải làm vào cuối tuần của người có gia đình. Ở Paris này mà sống một mình như ông Năm thì thời gian không biết phải làm gì cho hết chớ đừng nói không có thì giờ để làm một bữa ăn cho tươm tất vào trưa thứ bảy. Nói rằng ông Năm không biết làm bếp cũng không đúng. Hồi xưa, hồi còn ở bên nhà, thật tình ông Năm không biết chiên một cái trứng gà. Ông chỉ biết đi làm ngày hai buổi, còn việc bếp núc có bà Năm lo hết. Bây giờ thì khác. Ông cũng biết nấu vài món thông thường và lâu lâu cũng biết “làm” một nồi phở để đãi đôi ba ông bạn già cùng lứa tuổi và cùng thân phận lưu vong…

Như bình thường thì trưa thứ bảy, ông hay thả xuống khu 13 la-cà ở nhà sách Khai Trí một lúc rồi sang qua mấy cửa hàng nho nhỏ trên lầu Paris Stores để coi có gì lạ không. Sau đó, ông mới tấp vô tiệm phở để ăn trưa, có khi một mình,nhưng thường thì với một vài người bạn gặp nhau ngoài phố. Ở khu 13 vào trưa thứ bảy, không gặp người này cũng gặp người nọ, bởi vì ai cũng đến đó để mua đồ, nói là “đi chợ Tàu” chớ thật ra là để tìm lại một chút gì hơi hướm của quê hương: những khuôn mặt gần gũi (gặp ai cũng thấy quen quen!), những món hàng còn giữ nguyên nét cũ (đòn chả lụa vẫn phải có màu xanh của lá, con vịt quay vẫn phải đỏ ao màu mật…) và những cái tên chỉ cần đọc lên là đủ để gợi nhớ… Hồi sáng này, ông Năm cũng đã đóng bộ để đi khu 13. Trời đã sang thu, nhưng nắng còn thật ấm. Cây marronnier nhà hàng xóm nằm ngay dưới cửa sổ nhà ông Năm đã trở màu vàng. “Chắc lá đã rụng đầy”, ông Năm nghĩ vậy khi đứng thắt cravate gần khung cửa sổ. Chỗ ông cư ngụ là một studio nhỏ ở lầu ba khu nhà cũ nằm sâu phía sau nhà thờ Sacré Coeur. Cây marronnier che hết phía dưới thành ra từ cửa sổ nhà ông Năm nhìn thẳng ra chỉ thấy bức tường cao của khu nhà đối diện chắn ngang, chừa phía trên bầu trời bị đóng khung hình chữ nhựt bởi hai dẫy nhà dài. Trên nền trời đó, tuốt phía xa, là nóc nhà thờ với cây thánh giá. Thành ra, thế giới bên ngoài nhìn từ phòng ông Năm chỉ còn lại vỏn vẹn có cây thánh giá để cái nhìn còn có một điểm tựa! Ông Năm theo đạo Phật, nhưng từ ngày dọn về đây – năm sáu năm gì rồi – cứ nhìn cây thánh giá riết mà ông có cảm tưởng như mình đã thành con chiên của Chúa! Nhiều khi ông thấy cây thánh giá thật là sinh động. Ông không hay rằng niềm suy tư của ông đã gởi trên đó từ lâu… Có lần, trong thư gởi về Việt Nam cho bà Năm, ông viết: “Anh thường nhìn cây thánh giá đứng cao vòi vọi một mình trên kia mà tự hỏi không biết anh và cây thánh giá, ai cô đơn hơn ai? Nhưng cây thánh giá hãy còn giang tay ngạo nghễ chớ anh thì từ lâu rồi anh đã buông tay đầu hàng số mệnh! Tuy nhiên, ở đây anh còn có cây thánh giá trước mắt để hướng về đó mà cầu nguyện, chớ ở bên nhà giờ đây muốn cầu nguyện em phải hướng về đâu hả em? Anh bỗng ứa nước mắt thương em vô cùng… Ở ngay trong lòng quê hương mà thiếu thốn đủ thứ, đến nỗi điểm tựa cho niềm tin mà còn không có thì em sống ra sao, em hả?” Đối với ông Năm, cây thánh giá trên chót nhà thờ Sacré Coeur mặc nhiên đã trở thành một vật gì thật gần gũi, thật trần gian, thật người, và là động cơ khơi nguồn kỷ niệm…

Hồi xưa, ông làm việc cho Air France ở Sàigòn. Đời sống rất thoải mái, nhưng hai vợ chồng lại không có con. Chạy thầy chạy thuốc mãi rồi mới biết tại vì tử cung của bà Năm nằm lệch. Điều này làm bà Năm khóc hết nước mắt. Tuy nhiên, hồi đó còn trẻ nên cũng dễ nguôi, hai vợ chồng chẳng quan tâm cho lắm. Lần hồi, tuổi đời chồng chất, sự không có con đã trở thành một vấn đề cho hai vợ chồng. Mặc dù ông Năm không bao giờ nhắc đến chuyện đó, bà Năm vẫn khơi ra để nhận lỗi về mình. Mặc cảm đó làm cho bà lúc nào cũng ân hận, áy náy. Rồi cái gì hư, cái gì trật, cái gì bậy ở trong nhà dù là do lỗi những người giúp việc, bà cũng nhận hết. Ông Năm phải mất một thời gian dài để giải thích, khuyên lơn, an ủi, bà Năm mới lấy lại đựơc quân bình. Có hôm, trong lúc hai vợ chồng đi dạo trên bãi biển Vũng Tàu, nhìn thấy mấy gia đình đông con đùa giỡn vui vẻ, bà Năm chợt thở dài than:

- Nếu không phải tại em thì bây giờ hai đứa mình đâu có bơ vơ như vầy!
Ông Năm choàng tay ôm vai vợ xoay người lại để nhìn sâu vào mắt:
- Em à! Mình không có con, nhưng mình còn có nhau. Đó là Trời thương lắm rồi, em còn đòi hỏi gì nữa? Thử tưởng tượng một ngày nào đó không còn có nhau nữa thì sao?
Bà Năm gật gật đầu nhưng chẳng bao giờ tưởng tượng đến “cái ngày không còn có nhau” đó. Vậy mà cái ngày đó đã đến cho ông bà Năm. Hai năm sau ngày mất nước, trong chuyến vượt biên ở Cà Mau, ông Năm đi thoát, bà Năm bị bắt lại với một số người không may khác! Ông Năm sang Pháp, làm việc lại cho hãng Air France. Bà Năm nằm tù hết mấy tháng. Được thả ra thì nhà cửa đã bị tịch thu, đành về quê ở Gò Công làm công nhân cho nhà máy xay lúa của gia đình mà trong đợt đánh tư sản đầu tiên, VC đã tịch thu để biến thành hợp tác xã. Từ đó, là những chuỗi dài thương nhớ, là những lo âu dằn vặt, là những lá thư nhiều ẩn nghĩa cho đúng “văn phạm Nhà Nước”. Còn chuyện vượt biên lần nữa là chuyện mà bà Năm không bao giờ dám nghĩ đến! Bên này, ông Năm chạy mãi rồi cũng được giấy nhập cảnh cho bà gởi về, nhưng phía bà Năm thì gặp quá nhiều khó khăn trong hồ sơ xin xuất cảnh, cứ bị kéo dài, kéo dài bằng những chầu chực, bằng những lời hứa hẹn suông và bằng mấy lần bị lường gạt… Để cuối cùng, mấy năm sau, mới biết là hồ sơ đã bị bác từ lâu! Tin đó đến với ông Năm bằng tờ giấy tập học trò vàng như giấy súc mà trên đó bà Năm chỉ còn đủ sức viết có mấy hàng… Vậy là vĩnh viễn không còn có nhau nữa! Ông Năm mất tinh thần hết một thời gian dài. Sau đó, dọn về khu phố này tình cờ cửa sổ mở về hướng nhà thờ Sacré Coeur, để mỗi sáng trước khi đi làm ông nhìn cây thánh giá một lúc, giống như một tín đồ ngoan đạo…

Khi ông Năm mặc xong quần áo thì trời cũng đã gần trưa. Đốt điếu thuốc để lên môi, ông đóng cửa bước chậm rãi xuống cầu thang, giống như đo từng nấc thang một! Thật ra, tại tánh ông Năm vốn đã trầm thêm tuổi đã gần sáu mươi bắt ông phải cẩn thận khi bước lên bước xuống. Ngoài ra, có gì phải vội phải gấp khi mà chẳng có ai đợi ai chờ? Đi khu 13 vào trưa thứ bảy đã thành một thói quen, chẳng có gì phải náo nức. Bỗng nhiên, ông Năm nhận thấy cuộc đời mình sao thật vô vị. Giống như tờ giấy trắng mênh mông trải dài, thẳng băng, chẳng có một dòng mực, chẳng có một đốm màu, cũng chẳng có một vết hoen ố. Hình ảnh đó làm cho ông Năm dừng lại ở giữa cầu thang, ngẩn ngơ một lúc như vừa khám phá ra một điều gì quá rõ rệt nằm ngay trước mắt mà sao lâu nay ông không nhận thấy! “Mình đi làm đều đặn. Mỗi tuần xuống khu 13 cũng đều đặn vào trưa thứ bảy. Mỗi tối thứ hai đi ciné một lần vì giá vé hạ. Đêm nào cũng coi télé vào 8 giờ tối để theo dõi tin tức, rồi đọc sách đọc báo đến 11 giờ rưỡi là tắt đèn ngủ. Đều đặn. Đều đặn. Đến như cái cầu thang này, mình cũng đều đặn trèo xuống trèo lên đến nỗi biết nó có bốn mươi tám nấc! Vậy rồi thôi! Rồi cứ như vậy cho tới về hưu,tới chết!” Ông Năm hít hơi thuốc thật sâu để thở khói ra thật dài. Ông làm mấy lần như vậy, giống như đang tìm một đáp số! Rồi ông vỗ nhẹ bàn tay lên thành lan can gỗ, tự nhủ “Thôi! Đừng nghĩ tới nữa”. Ông tiếp tục bước xuống, nhưng bây giờ sao thấy bước chân nặng hơn hồi nãy nhiều…

Khi đi qua trước phòng gác gian, có tiếng gọi:
- Ông Georges! Ông Georges!
Georges cũng là tên của ông Năm. Người Pháp phát âm Năm thành Nam, nghe lơ lớ chói lỗ tai, nên ông lấy đại tên Georges cho dễ gọi dễ kêu. Bà gác gian bước ra trao cho ông một điện tín, nói:
- Vừa mới tới. Tôi định lên nhà đưa cho ông thì ông xuống đây.
Ông Năm run tay mở bức điện tín. Giòng chữ ngắn ngủn hiện lên nhảy múa: “Đã có xuất cảnh. Lo vé máy bay cho em. Mai”. Điếu thuốc trên môi bỗng rơi xuống đất. Ông Năm có cảm giác như mình đang lên cơn sốt. Ông đọc lại điện tín một lần nữa, hai tay phải gồng cứng lại mới kềm được tờ giấy đứng yên căng thẳng dưới mắt. Ông nói cho mình nghe: “Đúng rồi! Bả được xuất cảnh rồi!”
Bà gác-dang nghiêng đầu lo lắng:
- Có sao không? Có chuyện gì không? Ông Georges?
Tiếng bà ta lôi ông Năm về thực tại. Ông nhìn bà ta, mỉm cười, rồi nắm lấy tay bà ta lắc mạnh:
- Cám ơn bà! Cám ơn bà nhiều! Tôi thật không biết nói gì cho phải. Bà thật tốt bụng! Quá tốt bụng! Cám ơn! Cám ơn!
Giọng ông thật thành khẩn, làm như chính bà đã cho giấy xuất cảnh! Bà ta không hiểu gì cả, vừa ngạc nhiên vừa buồn cười trước thái độ của ông Năm. Bà ấp úng trong lúc ông Năm buông bà ra để chạy lên cầu thang:
- Nhưng mà… Nhưng mà…”
Nửa chừng, sực nhớ ra, ông dừng lại nghiêng người nói với xuống:
- Điện tín của vợ tôi ở Việt Nam. Bả nói bả sẽ qua đây ở với tôi! Cám ơn! Cám ơn nhiều!
Rồi ông phóng lên cầu thang, nhảy hai bậc một, nhanh như sóc, nhẹ như hươu. Làm như ông mới có hai mươi tuổi!
Vào phòng, ông ngã người lên giường, thở hổn hển. Cái tuổi hai mươi bất thần tìm lại chỉ đủ giúp ông trèo hết bốn mươi tám nấc thang thôi! Một lúc sau, ông cầm điện tín lên, đọc lại một lần nữa. Thật rõ ràng mà! Đây nè, hàng chữ không bỏ dấu “Da co xuat canh. Lo ve may bay cho em. Mai”. Đọc là hiểu ngay! Còn Mai là tên của bả rồi, chớ còn ai vô đây nữa! Cái tên dễ thương mà mình đã thương từ mấy chục năm, không còn lộn với ai được. Vậy là chỉ còn có vé máy bay nữa là xong.

Ông nhỏm người lên nhìn tấm lịch tháng treo gần đó để thấy rằng mình bỗng quên mất hôm nay là thứ bảy! Vậy phải đợi thứ hai mới vào sở lo vụ này được. Ông lại nằm xuống. Dễ thôi! Nhờ thằng Durand đánh cái télex là xong ngay. Ờ… nhưng mình cũng phải gởi cái điện tín về cho bả mừng. Tội nghiệp! Không biết ai chạy lo cho bả cái xuất cảnh, chớ bả thì lo khỉ gì được với cái tánh hiền khô và nhát hít của bả. Nghĩ đến đó, ông Năm bỗng thấy thương vợ vô cùng. Cái người đàn bà hiền khô và nhát hít đó đã về làm vợ ông từ hơn ba mươi năm, trước sau như một, theo chồng như một cái bóng. Ngoài chuyện không có con, chẳng thấy bao giờ bà làm bận tâm ông. Con nhà giàu ở Gò Công, học ở Marie Curie, vậy mà cô gái có cái tên Trần thị Lệ Mai đó đã có một quan niệm sống thật cổ điển, thật Á đông. Và khi trở thành bà Trần văn Năm, luôn luôn bà đối xử với bên chồng thật vuông tròn và xem việc nội trợ như một thiên chức! Hồi xưa, bạn bè vẫn nói là “thằng Năm trúng số độc đắc” hoặc “đẻ bọc điều mới có người vợ như vậy”. Ông thì nghĩ rằng tại vợ mình hiền khô và nhát hít nên chẳng dám làm phiền ai bao giờ. Có lẽ nhờ vậy mà ai cũng thương… Ông lại nhỏm dậy nhìn tấm lịch. Trên đó ông có ghi bằng marker đỏ con số 10 to bằng nửa bàn tay ở gốc trái. Vậy mà cũng đã mười năm xa nhau! Mỗi năm mua lịch, mình ngồi nắn nót viết con số lên đó giống như người tù bị lưu đày ghi số năm mà mình biệt xứ. Có khác là người tù còn biết ngày được thả chớ còn mình thì mù tịt. Đã tưởng vĩnh viễn sống một mình rồi… chết cũng một mình trên đất lưu vong này, nào ngờ Trời còn thương mình nhiều quá!

Ông ngồi hẳn dậy đốt điếu thuốc, khói thuốc thật thơm thật ngọt. Vậy mà cũng đã mười năm xa nhau! Mười năm… lâu lắm chớ! Vậy mà sao vẫn thấy còn thương còn nhớ. Lạ quá! Có phải như vậy người ta gọi là chung thủy hay không! Rồi ông nhìn quanh. Nhà cửa thiệt là lượm thượm, phải dọn dẹp laị coi cho nó được một chút. Vậy là ông đứng lên đẩy ghế, đẩy bàn, quên mất là mình còn mặc bộ đồ lớn để đi khu 13 và làm như bà Năm sắp qua tới bây giờ! Vừa làm vừa nói một mình, lâu lâu ông ngừng lại hít một hơi thuốc thật sảng khoái. Hai cái fauteuils này cho sát vào tường, kê gần nhau để cùng ngồi coi télé. Cái télé nằm đó được rồi. Cái bàn ăn nhích qua một chút để có chỗ kéo cái nệm dưới gầm giường ra. Bả trên giường, mình dưới đất, tạm ổn trong khi chờ đợi kiếm nhà khác rộng hơn. Cái tủ búp phê đẩy tới một chút là nằm ngang với bàn ăn. Mẹ nó! Coi vậy mà cũng nặng ớn! Ông đứng lên thở hổn hển, nhìn quanh. Bây giờ coi có nét rồi đó. À! Cái màn cửa sổ, phải tháo xuống đem giặt, cho nó “sáng” ra mới được.

Rồi ông vào buồng tắm thay đồ. Đồ đạc ở đây thì sạch sẽ rồi, khỏi lo. À! Còn cái tủ quần áo ở bên phòng ngoài nữa. Phải thu gọn lại cho có chỗ để bả để quần áo chớ! Ông bỗng phì cười. Làm như mình sắp cưới vợ vậy! Mà thiệt! Sau mười năm xa cách, gặp lại nhau cũng giống như cưới nhau lần nữa chớ gì! Ông soi gương chải lại tóc. Tóc mình mới có mấy sợi bạc thôi. Mặt mũi hãy còn “nét” lắm, ai mà nói mình sắp sáu mươi? Cô dâu qua đây thấy chú rể như vầy là nhìn… rớt con mắt! Ông Năm bỗng nghe lòng vui rộn rã, giống như tâm trạng ngày xưa, thuở còn trẻ, lúc sửa soạn đi đến nơi hẹn với người con gái tên Trần thị Lệ Mai…

Vậy là trưa thứ bảy này ông Năm không thấy đói! Tuy vậy, cũng phải “bỏ bụng” một cái gì,vì thói quen hơn là vì nhu cầu. Ông mở tủ lạnh lấy một trái cà tô mát và một miếng thịt bò. Cà xắt khoanh, không dầu không dấm, thịt nướng trần trên vỉ sắt không muối không bơ. Làm cho “lấy có” và ăn cũng cho “lấy có”. Bởi vì tâm hồn ông đang mãi phiêu bồng ở đâu đâu xa lắm, hình như là ở Gò Công quê vợ, ở Gia Định quê mình, ở những ngày đầu “hai đứa gặp nhau” (những ngày đó, tiếng nói của tình yêu là một chuỗi dài im lặng!), ở rạp hát bóng Đại Nam là nơi “hai đứa hẹn hò” (Dù trời mưa anh cũng tới. Em nghe không?), ở Đà Lạt ít lâu sau đó… Chao ôi! Đẹp quá! Dễ thương quá! Tình yêu là cái gì mà sao mãi mãi vẫn còn nguyên, như mới hôm qua hôm kia…
*
Ông Năm lái xe lên phi trường Charles de Gaulle lần này là lần thứ hai. Hồi sáng, đã lên đó một lần, đợi cả tiếng đồng hồ để được thông báo là chuyến bay Air France từ Thái Lan qua sẽ đến trễ gần tám tiếng. Nhờ là nhân viên của hãng nên ông Năm được biết là máy bay bị trục trặc kỹ thuật ở Karachi. Trở về sở làm, ông ngồi đứng không yên, lâu lâu cứ nhìn đồng hồ. Bạn bè trong sở thấy vậy thương hại, mỗi người một câu an ủi trấn an. Có người ngồi lại gợi chuyện tán dóc cho ông đỡ thấy sốt ruột. Có người đặt tay lên vai ông bóp mạnh:
- Georges! Đợi chờ nhau mười năm mà mày còn chịu nổi huống gì chỉ có mấy tiếng đồng hồ nữa thôi. Can đảm lên chớ!
Vậy rồi thời gian cũng qua, chiều cũng xuống, để ông Năm lái xe đi phi trường, lòng náo nức xôn xao trong sự đợi chờ kỳ diệu. Vào phi trường, ông gắn thẻ nhân viên lên ngực áo rồi đến quầy Air France hỏi thăm. Mô phật! Lần này máy bay sẽ đến đúng giờ.. Hai cô tiếp viên trong quầy không quen ông Năm nhưng thấy đeo thẻ Air France, nên cũng hỏi đẩy đưa:
- Ông chờ đón bạn à?
Ông mỉm cười, vừa bước đi vừa trả lời:
- Không! Tôi đón nhà tôi. Chào hai cô.

Phi trường giờ này nhiều chuyến bay cùng đến một lúc nên người đi kẻ lại tấp nập. Ông Năm ngồi uống cà phê, hút thuốc, nhìn thiên hạ. Ông thấy ai cũng dễ thương hết! Ông muốn họ uống với ông một tách cà phê, hút với ông một điếu thuốc lá. Cà phê expresso thật ngon. Khói thuốc Dunhill thật ngọt. Tâm hồn ông Năm được trải rộng mênh mông…
Lại nghĩ đến bà Năm. Bả “điệu” lắm! Lúc nào cũng sạch sẽ gọn ghẽ. Tóc lúc nào cũng chải gọn về phía sau rồi cuốn thành một vòng kẹp lại phía trên ót, thành ra khuôn mặt trái soan và cái cổ tròn lúc nào nhìn cũng rõ nét. Còn về quần áo thì bả chẳng bao giờ mặc loại có màu sắc sặc sỡ loè loẹt, luôn luôn hoặc đen hoặc xanh đậm và nếu có bông thì cũng phải tiệp màu với nền vải và hình dáng phải nhã nhặn, nho nhỏ tương xứng với tầm vóc của bả. Hà! Bả hiền khô và nhát hít vậy mà về vấn đề ăn mặc bả khó đàng trời! Người ta nói bả có “gout”. Mình cũng nghĩ như vậy, nhưng nếu bả không có thân hình đều đặn cân đối thì không biết cái “gout” để vào đâu cho nó nổi! Ông hít một hơi thuốc dài sảng khoái. Hồi đó sao mà mình mê bả quá, nhứt là đôi bàn tay có ngón thon dài sang trọng và cặp mắt đen to như mắt đầm làm cho cái nhìn của bả lúc nào cũng có vẻ như ngạc nhiên. Điều lạ là sau này khi đã đứng tuổi, bả vẫn còn giữ nguyên đường nét thời con gái. Thành ra lắm khi nhìn bả, mình muốn trêu chọc bằng câu “Gái không con mà nom cũng mòn con mắt”, nhưng vì sợ bả buồn nên mình nín thinh luôn!

Ông Năm ngừng suy tư trên hình ảnh đẹp của bà vợ, mỉm cười vu vơ. Lại hút thuốc, lại nhìn thiên hạ. Hớp cà phê cuối cùng đã nguội ngắt mà sao vẫn còn thấy ngon lạ lùng. Bỗng ông bật cười. Sau bảy mươi lăm, sống với Việt Cộng mà bả vẫn tiếp tục “điệu” như thường! Trong lúc người ta lôi quần áo cũ rách ra bận và để mặt mũi tóc tai lôi thôi lếch thếch cho có “tác phong cách mạng” thì bả vẫn gọn ghẽ sạch sẽ như thường, vẫn chút đỉnh má hồng, chút đỉnh son, vẫn quần dài áo ngắn tươm tất, mặc dù phải đạp xe đi làm công nhân ở tổ may thêu xa bảy tám cây số. Mình hay trêu chọc bả bằng câu nói của Việt Cộng “Song chân lý ấy vẫn không bao giờ thay đổi”, bả cười không nói. Vậy mà có hôm, bả trả lời bằng một câu… xanh dờn: “Đàn bà phải biết tự trọng. Làm như mấy bà cách mạng tóc tai xủ xộp, quần áo xốc xếch rộng rinh hoặc ngắn ngủn như mặt đồ khín, em làm không được”…

Có tiếng nhạc chuông dìu dặt, tiếp theo là giọng bổng trầm của cô tiếp viên thông báo chuyến bay Air France số AF 199 đến từ Thái Lan đã đáp xuống sân bay. Ông Năm đứng lên trả tiền, xong đi vào phía trong qua ngả văn phòng trực của hãng. Ông nghe lòng vừa náo nức vừa hồi hộp giống như ngày xưa khi đứng chờ xem kết quả thi tú tài! Ông ra đón tận cổng vào. Có hai chuyến bay đến từ hai nơi khác nhau nhưng đổ hành khách xuống cùng một lúc, nên sân bay đầy người. Giữa cái lao xao lộn xộn đó, ông Năm nghểnh cổ tìm vợ trong luồng người thoát ra từ cổng F, cổng của chuyến bay Air France. Ông nhìn từng khuôn mặt, từng người. Ông nhìn, ông chớp mắt để nhìn cho rõ hơn. Những gương mặt Á đông phờ phạc. Những gương mặt Á đông hốc hác. Những gương mặt Á đông xanh xao. Ông nhìn, ông chờm tới, nhích tới để nhìn. Bả dễ nhìn lắm. Lúc nào cũng sạch sẽ gọn ghẽ. Lúc nào cũng điệu. Trong đám đông, bả nổi hơn người ta nhờ nước da trắng hồng của gương mặt trái soan và đôi mắt lớn, cho nên dễ nhận ra lắm. Không phải bà này. Bà này già quá cũng không phải. Bà này coi ngờ ngợ nhưng đi chung với bầy con nít, không phải bả. Ông nhón chân lên để cái nhìn được đưa ra xa thì tai thoáng nghe hình như có tiếng người gọi nhỏ: “Ông Năm!” Ông vẫn tiếp tục nhìn từng người, từng khuôn mặt. Lại có tiếng người gọi nhỏ, lần này tiếng gọi lạc đi:



1 user thanked Ngoc N Hao for this useful post.
coffeebean on 10/14/2012(UTC)
Ngoc N Hao
#548 Posted : Sunday, October 7, 2012 1:15:14 PM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,706
Points: 8,185
Location: France

Thanks: 2255 times
Was thanked: 1524 time(s) in 874 post(s)
- Ông Năm…

Nghe rõ có tiếng ai gọi mình, ông nhìn lại. Ngay phía trước, đứng cách ông chỉ mấy bước, người gọi ông là một bà già tóc muối tiêu hớt bom bê ngắn như mấy bà Tàu Chợ Lớn, mặc áo len nâu rộng thùng thình, ống tay dài phủ mất hai bàn tay đang xách mỗi bên một túi vải. Chỉ mới nhìn tới đó thôi, linh tánh bắt ông nhìn lại gương mặt: khuôn mặt gầy xạm nắng với những nếp nhăn trăng trắng ở khoé môi và đuôi mắt. Ngần đó thứ giống như miếng cau khô, chỉ trừ có hai con mắt là sinh động, là mở to như có vẻ ngạc nhiên, là nói lên, là nhắc nhở, là… là… Trời ơi! Là vợ tôi đây mà! Ông Năm nghẹn ngào bước tới, hai tay đưa về phía bà già và chỉ còn đủ sức gọi có một tiếng: “Mai!” Ông ôm lấy vợ mắt nhắm nghiền đau đớn. Tội nghiệp! Người vợ chỉ dám gọi chồng bằng hai tiếng “Ông Năm!” như người xa lạ, và chỉ dám gọi có hai lần. Và khi chồng nhìn ra mình, ôm chầm lấy mình, người vợ đó chỉ còn nói được bằng nước mắt!
Ông Năm buông vợ ra để nhìn lại lần nữa. Ông nghe nghẹn lời và nghẹn cả lòng. Ông chỉ còn nói được bằng hai bàn tay… Hai bàn tay vuốt làn tóc bạc bây giờ sao quá thẳng quá ngắn. Hai bàn tay ôm lấy khuôn mặt bây giờ sao không lấp đầy hai lòng bàn tay. Hai bàn tay đặt xuống bờ vai bóp nhẹ. Dưới lớp áo len, ông cảm rõ nét gầy của bờ vai bây giờ. Bây giờ… Hồi đó… Từ trong sâu thẳm của lòng ông, nỗi đau khổ tột cùng bỗng bật lên thành tiếng, một thứ tiếng nói lệch lạc méo mó vì uất nghẹn: “Sao vầy nè?” Rồi, không kềm chế nổi nữa, không cần giữ gìn ý tứ gì nữa, trong cái rừng người xào xạc đó, ông ôm lấy vợ, ngửa mặt lên trời thét lên một cách thống thiết: “Sao vầy nè… Trời?” Tiếng “Trời” nặng trĩu thoát ra từ lòng ngực ông như tất cả sinh lực trong người được trút ra hết… Rồi ông ôm lấy vợ, nước mắt ràn rụa. Bà Năm cũng khóc nhưng vẫn không buông rời hai cái túi vải. Hơn mười năm sống với Việt Cộng, đã trở thành một bản năng: nắm chặt, giữ chặt những gì còn thuộc về mình, những gì mà “tụi nó” chưa kịp chiếm lấy, cướp lấy!
Một lúc lâu sau, phải một lúc lâu sau, ông Năm mới lấy lại bình tĩnh. Ông nói:
- Thôi mình về đi em!
Tiếng “em” thật tự nhiên, thật nhẹ nhàng. Tiếng “em” mà đã mười năm, bà không còn nghe thấy! Bà cắn môi để kềm xúc động, nhìn chồng mà đuôi mắt nheo lại mỉm cười. Bà nghe một cái gì mát rượi đang len vào lòng, một cái gì đã làm rơi mất từ hơn mười năm, bây giờ mới tìm gặp lại. Mãi đến bây giờ, ông Năm mới thấy trong đôi mắt vợ, nét cũ ngày xưa: to tròn như mắt đầm, tròng đen lay láy. Đôi mắt đó đang nhìn ông, cái nhìn ngời lên như muốn nói thật nhiều… Ông cúi xuống định xách hai túi vải. Bà Năm lắc đầu:
- Để em xách!
Tiếng “em” cũng thật tự nhiên thật nhẹ nhàng. Giọng nói thật dịu dàng, trong trẻo. Làm như nước mắt đã tẩy sạch dấu vết của mười năm… Ông vói tay cầm lấy quai túi:
- Để anh xách cho.
Bà Năm vừa bước đi, vừa nói, tay vẫn nắm chặt hai túi vải:
- Không sao. Em xách được. Ở bển, em gánh lúa mỗi ngày cho nhà máy, có sao đâu.
Ông Năm bỗng nghe lòng quặn thắt. Thì ra “tụi nó” đày đọa bả đến nước đó! Bả tội gì? Tội gì? Tội vượt biên? Thì đã ở tù trên ba tháng rồi còn gì nữa? Vậy tội gì? Ông Năm nghiến cái căm thù trong răng để đừng chửi đổng, nhưng rồi ông cũng bật ra:
- Quân khốn nạn!
Về đến nhà thì trời đã xâm xẩm tối. Lần này thì chính ông Năm xách hai túi vải, đi trước dẫn đường, lòng vui như mở hội. Đến chân cầu thang, ông nói:
- Ở từng lầu ba lận. Em leo nổi không?
Bà Năm trả lời, giọng vẫn trong trẻo:
- Gì không nổi? Bây giờ em làm cái gì cũng nổi hết.
Rồi bà bước lên cầu thang, bước đều đặn. Ông Năm theo sau, nhìn dáng dấp nhỏ thó với mái tóc bạc hớt bom-bê cao ông bỗng thương vợ vô cùng. Mười năm… Mái tóc huyền mà ngày xưa hay kéo sát về phía sau để cuốn tròn kẹp gọn một vòng trên ót… bây giờ chỉ còn là như vầy! Cái cổ tròn dẫn xuống bờ vai thon thon của hồi đó… bây giờ gầy nhom như vầy! Mười năm… Chắc bả phải khổ ghê lắm, phải chịu đựng ghê lắm mới ra nông nỗi này! Tội nghiệp! Người đàn bà hiền khô và nhát hít đó chưa làm phiền lụy ai bao giờ, vậy mà Việt Cộng vẫn moi ra một cái cớ nào đó để hành hạ. Và như vậy suốt mười năm. Lam lũ quá nên bả già trước tuổi, chớ bả cũng còn giữ được cái nhìn, giọng nói và tâm hồn… những thứ mà Việt Cộng không cưỡng chiếm được!
Vào nhà, ông Năm bật đèn lên, bà Năm nhìn quanh mỉm cười, không nói. Ông Năm đặt hai túi lên bàn ăn, rồi cũng nhìn quanh:
- Nhà của anh đó. Nhỏ như cái lỗ mũi. Tạm một thời gian rồi mình sẽ kiếm nhà khác rộng hơn.
Bà Năm dịu dàng:
- Như vầy cũng được. Có hai đứa mà gì…
Bỗng nhiên hai người nhìn nhau. Tiếng “hai đứa” nhắc cho họ nhớ tới hoàn cảnh bây giờ, một hoàn cảnh mà từ lúc gặp lại nhau bao nhiêu thống hận dập dồn đã làm họ quên đi: bây giờ “hai đứa” vẫn còn có nhau, thật sự còn có nhau. Rồi sẽ không còn gì chia cách. Rồi sẽ đi bên nhau, đi hết đoạn đường còn lại, một đoạn đường không còn bao nhiêu xa… Bởi vì họ biết: họ đang bước vào mùa thu của cuộc đời… Cho nên họ nhìn nhau mà yêu thương dâng đầy trong mắt.
Bà Năm bước lại cửa sổ. Ngoài xa trên nền trời trắng đục, hiện lên thật rõ cây thánh giá và nóc nhà thờ Sacré Coeur. Bà Năm hỏi:
- Cây thánh giá này đây?
Câu hỏi trống không nhưng hai người cùng hiểu: cây thánh giá mà ông Năm viết đi viết lại không biết bao nhiêu lần trong thư gởi về Việt Nam. Ông bước lại khoác vai vợ, gật gật đầu. Hai người yên lặng nhìn cây thánh giá như đang tạ ơn, giống như đang rước lễ, giống như cô dâu chú rể sau khi được kết hợp thành vợ chồng… Thời gian bỗng như dừng lại, để hình ảnh trở thành bất diệt, nói lên cái cao cả của tình yêu, cái huyền diệu của niềm tin… những thứ mà Việt Cộng muốn xoá bỏ để biến con người thành gỗ đá. Một lúc lâu sao, bà Năm như sực tỉnh:
- Để em soạn đồ ra.
Rồi bà bước lại bàn mở hai túi vải. Ông Năm đốt điếu thuốc, khói thuốc lâng lâng nhẹ. Ông ngồi cạnh giường nhìn vợ soạn đồ bằng đôi bàn tay xạm nắng với những đường gân nổi lên ngoằn ngoèo. Đôi bàn tay đã từng có ngón tay thon dài khéo léo từ đường kim mũi chỉ… bây giờ là như vậy! Ông thấy thương vợ vô cùng. Bà Năm soạn đồ ra để trên bàn: vài bộ quần áo, mấy cái khăn lông, một cái mền nhỏ… Vừa làm bà vừa nói:
- Có bao nhiêu, em đem theo hết. Nói là đi chánh thức chớ không biết lúc nào tụi nó bắt mình lại. Có nhiều người lên máy bay rồi mà còn bị lôi xuống, không biết vì cớ gì. Rồi khi được thả ra là trắng tay.
Bà lấy trong túi ra một khuôn hình, trao cho ông Năm:
- Em đem hình ông già bà già qua để lâu lâu mình thắp một cây nhang.
Ông Năm nhìn hình cha mẹ, lòng bồi hồi xúc động. Hình này, hồi đó, để trên bàn thờ nhà cũ. Nhà bị tịch thu, không hiểu bả làm sao lấy được để mang qua đây? Ông đứng lên nhìn quanh, rồi treo khuôn hình lên cây đinh trên tường đối diện.
Có tiếng bà Năm nói:
- Em có đem qua cho anh chai rượu nếp than nữa. Nhớ hồi đó anh ưa lắm.
Ông quay lại, cầm chai lên mở nút. Chưa đặt miệng chai lên mũi mà mùi rượu ngọt ngào thơm phức tỏa ra thật nồng nàn.. Ông hít một hơi dài, đóng nút lại, rồi nhìn chai rượu mà ứa nước mắt. Nỗi nhớ quê hương nằm sâu trong tiềm thức, bây giờ, mùi rượu nếp than, màu rượu nếp than đã làm bật dậy, vô cùng mãnh liệt. Ông tưởng chừng như vừa hưởi thấy mùi thơm quê hương. Có mùi ngọt ngọt của lúa chín, có mùi nồng nồng của rơm của rạ, có mùi hăng hăng của đống un đốt cạnh chuồng trâu chuồng bò… Ông tưởng chừng như đang giữ trong tay một mảnh trời quen thuộc. Ở đó có màu tím lờn lợt của hoa bằng lăng, có màu tím nâu nâu của vỏ măng cụt, có màu tím học trò của trái mồng tơi, và những tà áo tím phất phơ theo gió qua cầu, với những chiều tím quê ngoại, đứng ngẩn ngơ bên sông Vàm Cỏ khi tuổi vừa mới lớn… Chao ơi! Ngần đó thứ, tưởng quên nhưng vẫn nhớ. Ngần đó thứ bây giờ xa thật xa.. Xa, không phải vì cách biệt, mà xa vì không còn thuộc về mình nữa!
Ông Năm cầm chai lắc lắc, bột nếp than tím ngát dợn lên trong lòng chai. Ông mở nút rót thẳng vào miệng một hớp. Chất rượu béo ngậy ngọt ngào cay cay nhắc ông nhớ những quán nhậu ở Hóc Môn, những món thịt rừng ở Biên Hoà, những con cá mú sữa kho tộ ở Vũng Tàu bãi sau bãi trước… Ông ngậm lấy hớp rượu để nghe rõ chất rượu đang thấm vào nướu răn, đang thấm vào các thớ thịt cổ, đang thấm lên nóc giọng, đang nồng lên mũi. Ôi! Mùi vị quê hương là đây… ông không cầm được nước mắt!
Bà Năm vẫn âm thầm soạn đồ đạc. Bà hiểu ông Năm lắm và nghe thương chồng vô cùng. Tội nghiệp! Mười năm xa quê hương… Ông Năm vào phòng tắm rửa mặt rồi ra chỉ chỗ cho vợ xếp quần áo. Xong ông bảo:
- Anh đã làm sẵn mấy món ăn cho hai đứa. Để anh đem ra hâm. Em đặt bàn đi. Đồ đạc trong tủ búp phê đó.
Bà Năm nghi ngờ:
- Anh mà làm bếp cái nỗi gì? Mua ở tiệm thì có.
Ông Năm cười sảng khoái:
- Em lầm rồi! Bây giờ, anh làm cái gì cũng được hết. Nấu bếp, giặt đồ, làm ménage … đủ thứ. Rồi em coi! À… đặt bàn em nhớ để một dĩa sâu cho món súp légume và một dĩa trẹt cho món gà nấu rượu, nghe!
Bà Năm mỉm cười, thấy chồng sung sướng mà lòng cũng thênh thang trải rộng. Một lúc sau, hai vợ chồng ngồi vào bàn ăn. Trên bàn cũng có hai cây nến. Cũng khăn trải bàn trắng phau, cũng khăn ăn màu xám lợt, cũng dĩa trắng chạy chỉ vàng, cũng nĩa dao cán gỗ có nét vẽ cong cong nhè nhẹ. Và không quên hai ly rượu có chân, đựng chút rượu nếp than có màu tím đậm đà và hương thơm mời mọc. Ông vui vẻ:
- Như vầy mới đúng là nuit de noces chứ, phải không em?
Bà Năm nhìn chồng không nói, nhưng vành tai bỗng đỏ bừng. Bà nói lảng:
- Súp ngon chớ! Anh học nấu ở đâu vậy?
Ông để ngón tay trỏ lên môi, vẻ bí mật:
- Hùm… Không nói đâu! Ông Tiên người Tàu chuyên nấu đồ Tây chỉ đó, dặn anh đừng nói cho ai biết!
Rồi cả hai cùng cười vì hình ảnh ngộ nghĩnh đó, cái cười hồn nhiên tìm lại sau mười năm xa nhau…
Bữa ăn kéo dài bằng những chuyện kể cho nhau nghe, nhớ đâu kể đó, không mạch lạc đầu đuôi, bởi vì trong thời gian mười năm có biết bao nhiêu sự việc đã xảy ra làm sao mà nhớ cặn kẽ cái nào sau cái nào trước! Dọn dẹp xong thì trời đã khuya. Hai vợ chồng chia nhau, bà nằm trên giường, ông nằm trên nệm dưới đất. Tắt đèn đã lâu mà hai người vẫn còn trằn trọc. Làm như còn thèm nói chuyện với nhau nữa! Bóng tối dầy đặc vây quanh. Không khí trong nhà êm êm mát mát. Mùi rượu nếp than và mùi thuốc lá Dunhill còn phản phất thơm thơm. Bỗng bà Năm nghe một bàn tay của chồng đặt lên mình mình. Toàn thân bà run lên nhè nhẹ. Hơi thở của bà bỗng trở nên phập phồng. Một cảm giác dường như thật cũ, mà cũng dường như thật mới, dìu dịu ngây ngây… Bà không biết nữa! Rồi, không tự chủ được, bà cầm bàn tay chồng áp lên má, lên mũi, lên môi. Bàn tay này tưởng đã vĩnh viễn không còn nhìn thấy, cầm lấy. Da thịt này tưởng đã vĩnh viễn không còn đụng chạm sờ mó được. Mười năm… Mười năm… Nước mắt bỗng chảy dài xuống hai bên tai, bà Năm thốt lên nho nhỏ: “Mình!” Chỉ có một âm đơn độc, nhưng sao tiếng “mình” nói lên thật nhiều, diễn tả thật nhiều. Tiếng “mình” mà mười năm nay ông Năm không còn nghe. Tiếng “mình” gợi lên tình nghĩa vợ chồng, nỗi niềm chia xẻ. Tiếng “mình” cũng là tiếng nói của yêu đương, của hài hoà sum họp. Và tiếng “mình” ở đây, trong hoàn cảnh này, sao nghe thật mời mọc dâng hiến… Người đàn bà mười năm khổ hận đó, vợ ông, cần được yêu thương thật nhiều để bù lại. Tiếng “mình” gọi nhỏ trong đêm bỗng nghe tiếp nối… Bồi hồi xúc động, ông Năm chồm lên ôm lấy vợ, hôn tràn lên tóc, lên má, lên môi. Ông nghe trong tay, thân xác gầy còm của vợ run lên như đang cơn sốt. Và tai ông còn nghe những tiếng “mình” đứt quãng ú ớ như tiếng nói trong chiêm bao…
Cuộc tình của tuổi vào thu âm thầm như lá rụng bên ngoài nhưng cũng nồng nàn ngọt lịm như hớp rượu nếp than cùng chia nhau khi nãy. Có mùa chớm thu nào mà không thấy còn sót lại vài tia nắng hạ?




*Tôi muốn câu chuyện này chấm dứt ở đây cho cuộc tình được đẹp như bài thơ, được vuông tròn như trong tiểu thuyết. Nhưng trên thật tế không phải như vậy. Bởi vì… Một tháng sau đó, bà Năm ngã bịnh, phải vào nằm nhà thương. Bà bị ung thư phổi, ở thời kỳ chót. Bà đã giấu ông Năm lâu nay, bây giờ bà mới cho biết: hồi còn ở Việt Nam, nhờ khám thấy ung thư nên bà mới xin được chiếu khán xuất cảnh. “Nhà nước Cách Mạng vốn khoan hồng nhân đạo, nên cho phép chị sang thăm chồng đấy! Chớ chị không nằm trong diện được cứu xét nào cả. Rõ chưa?” Gã cán bộ trao giấy phép cho bà Năm, mà nói như thật! Tụi nó dư biết rằng có giữ bà lại cũng chỉ tốn gạo tốn khoai thêm vài tháng nữa và là một miệng ăn phi sản xuất, chẳng lợi lộc gì cho “nhân dân”. Thà tống đi gấp để khỏi phải chôn thêm một người, chật đất!
Ông Năm đã ngồi bên giường vợ suốt thời gian cuối cùng. Ông đã cầm bàn tay còn mang tỳ vết của mười năm gian khổ. Ông đã ôm gương mặt phong trần chưa kịp đổi hồng sau mấy tuần sống đầy hạnh phúc. Và cuối cùng, ông đã chải lại mái tóc bạc chưa kịp dài để được cuốn tròn kẹp lên sau ót, như ngày xưa…
Ông đã gục lên thân xác gầy khô, khóc với tất cả nước mắt còn lại.
Mùa thu đó, lá rụng thật nhiều.




Tiểu Tử
1 user thanked Ngoc N Hao for this useful post.
coffeebean on 10/14/2012(UTC)
Hạ Vi
#549 Posted : Friday, October 12, 2012 6:01:17 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,640
Points: 14,706
Location: CỏThơm

Thanks: 2592 times
Was thanked: 7175 time(s) in 1914 post(s)
.




Tháng Mười của mẹ


gió thổi bời bời xô cửa liếp
mẹ già chống gậy hái mồng tơi
gom que củi đước – nồi canh vội
khản giọng : thằng con – gọi khản hơi

nước sông Tiền sông Hậu chẩy xuôi
mẹ vẫn bên hông nhà đứng đợi
trời tháng mười – chưa cười đã tối
mẹ ho khan lau vội lệ tràn

tích tịch tình tang mấy điệu đàn
lá xanh đã rụng lá vàng còn đây
đàn bầu không ai nối thêm dây
cung thương mẹ khẩy khóc ngày sầu đưa

trời tháng mười tầm tã trời mưa
con đi sao chẳng dạ thưa một lời
cơn mưa dầm rụng trái mồng tơi
tím trên tay mẹ nỗi đời lao lung




Phan Thị Ngôn Ngữ









.


1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
coffeebean on 10/14/2012(UTC)
coffeebean
#550 Posted : Sunday, October 14, 2012 10:19:53 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 2,667

Thanks: 232 times
Was thanked: 760 time(s) in 350 post(s)


Hẹn ước (tiếp theo)


Thằng nhỏ đẩy tấm cửa liếp tre, chờ ông bà, chòi nhỏ trống đen nó lần mò sao đó ... một lúc xoè lên đốm lửa, thì ra nó biết mò tìm ra chỗ dấu chiếc bật lửa, lại một đốm lửa giữ hơi lâu được cỡ mươi giây, ông thấy nó ngó dáo dác, nó bắt gặp ánh mắt ông, nói như để giải thích
- Con tìm cái đèn dầu, chòi ổng lúc nào cũng có cái đèn còn để lại chút dầu - Thắp đèn lên người ta thấy sao?
- Vậy hả chú ! thì mình che đi, ánh đèn nhỏ xíu mà, mình tìm coi chỗ nằm ngủ rồi tắt.


Nó loay hoay một hồi, ngọn đèn nhỏ như hạt đậu xanh nổi lên giữa mấy tấm ván củi che bọc chung quanh hắt chút ánh vàng vọt yếu ớt lên mái lá, bốn bức vách bằng tre chằm lá, dằm thêm mấy vạt củi tạp mà mấy hãng cưa xẻ gỗ súc vạt bỏ phần ngoài sát vỏ cây. Tuy là củi tạp vạt bỏ, nhưng cũng phải mua rồi di chuyển từ ngoài hãng cưa ngoài lộ vào đây cũng phu lắm, mái cũng thế chằm lá ...ánh đèn nhỏ nhoi leo lét thế này cũng chẳng sợ hắt xa dễ thấy ... Nhìn vẻ mặt đen sạm rắn rỏi của đứa bé sớm vất vả vẫn không xoá được nét non nớt ngây ngô, Nghĩ đến tình cảnh của nó, ông xót xa không hiểu nổi ... đang trầm ngâm, giọng vợ ông nho nhỏ vang lên
- ông nè, còn đòn bánh tét ông chia cho nó ăn với đi, chắc nó cũng đói bụng!Bà móc trong túi xách đòn bánh tét đưa cho ông.
ông chợt nhớ ra sáng giờ chưa ăn gì . Chạy vòng vòng đã qua đêm thứ hai, tối qua ông bà cùng với đoàn người chạy giặc nghỉ chân chập chờ nhắm mắt ngủ vài giờ ở sân chùa heo hút gần đó, đông người cũng đỡ lo, mấy vắt cơm đã xong lúc sáng nay, từ trưa đến giờ hốt hoảng lo sợ ông bà cũng không nhớ đến bụng đói. Ông nhớ lại, đồ ăn mang theo chia làm hai ông mang phần nhiều, phần bà mang theo ăn trước cho bà đỡ mang nặng, chạy giặc ăn cầm hơi cho có . ông vẫn còn đồ ăn nhét trong ba lô
- Nè, bọc của tui còn vắt cơm thì phải, hổng biết có thiu chưa, còn đòn bánh tét, gói đậu phọng mấy lóng mía ...
- Dạ , mình ăn chút chút, còn chừa ...đường còn xa !
ông giật mình nhìn thằng bé, nó buồn buồn nói tiếp
- Mấy ổng hà rầm ở khu này hết rồi, phải đi xa ... vắt cơm đừng bỏ có hư cũng hổng sao, bất quá mình gọt chút bên ngoài ... mấy bữa nay con hổng có miếng cơm .
Ông mở gói cơm may sao chưa nặng mùi, có lẽ nhờ làm vội, bà hối hả vắt nắm cơm lúc cơm vừa chín tới, vội vã khi cơm đang nghi ngút khói làm tay bà đỏ ran như bị phỏng ... gói ngay vào khăn rồi lá chuối bọc ngoài. ông gật đầu
- ừa, còn ăn được.
Cơm đã nguội từ lâu lại vắt ép chặt nên hơi cứng, khô ... Cắt gói cơm vắt thành 6 khoanh chia nhau, ông đẩy hai khoanh về hướng thằng nhỏ
- Bình nè, phần con đó, ăn đi!
Bình không chần chờ, nhoài người lấy khoanh cơm nguội chấm dặm dặm vài cái vào gói muối cắn ăn ngấu nghiến. Nhìn thằng nhỏ chấm muối mè đậu phọng ăn miếng cơm mà ông có cảm tưởng ngon lành hơn tất cả món ngon lạ trên đời . Hết khoanh cơm đầu nó cầm khoanh thứ hai ngần ngừ đưa lên mũi hít hà, đột nhiên bật khóc rưng rức
- Sao vậy Bình !
Cả hai ông bà đều hiểu thằng nhỏ đang thương tâm xúc động ghê lắm, nhưng không biết hỏi sao phải mở đầu như thế nào. Thằng bé hít hít mũi vài cái như ém nước mắt lại, mếu máo
- Con muốn ... cho nó miếng ... cơm này
- Cho ai, đâu có ai ở đây ?
- Nó không ở đây, em con! nó đói !

ông sững sờ nhìn thằng bé, đói bụng là thế. nằm dưới hố cả ngày, mới ăn miếng cơm vắt gần muốn thiu ngon lành như vậy, mà dàn dụa nước mắt nghẹn ngào.
- Em con ở đâu, nó bị lạc hả?
Thằng Bình vừa gục gặt vừa lúc lắc cái đầu, nước mắt cứ ứa ra . Bà Tiến đang ngồi xẹp dưới nền đất ca'ch nó cỡ sải tay, lết người tới choàng tay ôn vai nó xiết lai, một tay vỗ nhẹ nhẹ như bà đang cố an ủi mà không biết phải nói gì.
Thằng bé như cái bong bóng bị đè nén châm chích đến lúc bụp vỡ nó gục đầu vào cánh tay bả run người oà lên
- Còn .... còn má con nữa!
Ông Tiến xót xa nhìn thằng bé, nhớ lại lúc hì hục gỡ nó lên ông đoa'n hoàn cảnh nó thương tâm lắm, bây giờ nhìn nó khóc rưng rức gọi mẹ với em ... thiệt không biết nói sao, ông trầm giọng vỗ về
- Nhà con ở đâu, bộ con đi lạc hả
- hỔng phải đi lạc, bi bắt đi ...
Bị bắt, chẳng lẽ họ bắt thằng nhỏ như thế này ! rùng mình nhớ đến cái hũng hồi chiều... ông đổi giọng cho bớt phần ngột ngạt
- Bình nè, mày ráng ăn hết miếng cơm đi, rồi nói cho tao biết nhà ở đâu, có gì mơi sớm thấy đường tìm đưa mày dzìa !
Chẳng hiểu sao ông bất thần dịu giọng, có lẽ ông không thể cố làm ra vẻ tỉnh khô trước nỗi đau của thằng bé .
- Đi lạc mấy bữa rồi mà bị bắt, mấy ổng bắt con hả? sao lại rớt xuống hố ?

Thằng bé lúc đó như tỉnh lại, co người lại run rẫy nhìn ông chăm chăm lắp bắp
- Cám ơn chú .... ... chú thiếm cứu con, hông thôi chắc con chết rồi !
Bà Tiến kéo vạt áo thằng bé lau nước mắt cho nó
- Thôi con, còn sống được là ơn trời đất , con ăn hết đi, ngủ một chút, mai đi tiếp
Bà xoa lên trán nó như cố xua đuổi cái ám ảnh ghê người trong cái đầu nhỏ nhoi, Thằng bé bất chợt hỏi bà
- Chú thiếm đi rừng sáng giờ có thấy hố nào ... giống vậy hông ?
Hỏi xong nước mắt nó lại ứa ra
- Không có, chỉ thấy cái đó thôi!
Thiệt sự thì ông bà mới tạt vô rừng bò chuồi mò mẫm chút xíu là gặp chớ đâu lâu lắc gì, nhưng ông linh cảm câu trả lời đó với thằng bé có lẽ quan trọng lắm dù vuột miệng nói ra ông cũng hiểu phải nói như thế nào. Quả thiệt thằng nhỏ như nhẹ người đi quet mũi hít hít mấy cái kể lể
- Má dắt Bê, em con đó với con chạy đi....
...nhà con ở xóm rẫy, trồng đậu phọng với mì, đợt này bị hao hụt hư hại quá chừng ... Má con nói tình thế hổng ổn, sợ con bị bắt. Tuần trước má con gom nhổ hết mà hổng có lái mua, đường quốc lộ bị chốt chặn bất ngờ, chở đi không được, có khi mất mạng hổng chừng. May có người mua mão rẻ thúi chở đi miệt trên, má bán đại xong dắt tụi con đi. Một hồi gặp mấy nhà khác nhập đi chung, kéo nhau đi lòng vòng mé rừng . Ai cũng biểu đừng ra đường lộ dễ bị bắt . Đêm hôm ngủ bìa rừng, gần trảng xe be đổ súc đó chú thiếm . Tản sáng lạnh quá con thức dậy thấy mấy chú lính đi gần mé lộ, con chạy tới nói đừng đi sát đường lộ, Một chú hỏi con sao vậy, con nói: không biết nghe má với người ta nói đi đường lộ dễ bị bắt, Rồi chú hỏi con đường đi căn cứ Đồng Tâm, con đâu rành chưa tới đó mà, chỉ biết là đi theo hướng lộ dzìa Sàigòn là thấy vì khu đồn lính lớn lắm, con chỉ mấy chú đi ... mọi người cũng thức dậy bàn nhau theo mấy chú đi vô Đồng Tâm, chưa kịp gì hết thì mấy ổng ở đâu la lên bắt đầu hàng, chú lính đó nói mấy chú kia bỏ súng đầu hàng thôi, đạn hổng còn bao nhiêu chết lây hết mọi người . Mấy ổng bắt hết gom mấy chú lính qua một bên lục soát xong bắt con với hai ông nữa, cũng dân rẫy rừng thôi, ai cũng sợ quá đứng nhìn, chỉ có má con nài xin cho con ở lại, con còn nhỏ ... một ông một ông đeo súng ngắn ngang hông biểu:
- du kích, giao liên, thanh niên xung phong vượt Trường Sơn cũng tạng ấy, còn thuộc thành phần ưu tú tình nguyện vào bộ đội đi B cũng ngữ ấy . Nó lanh lẹ bắt chuyện chỉ đường liên lạc cho lính nguỵ mà nhỏ gì ! À, thế các chị chạy đi đâu, cách mạng đang chiến đấu giải phóng không ở lại để tham gia tiếp tế phục vụ mà chạy theo nguỵ à !
Mọi người sợ quá cúi gằm có người nhìn mẹ con như oán tức, tội nghiệp má con sợ con bị bắt từ lâu rồi, má con ráng nói thêm
- đi tránh đạn pháo thôi loạn lạc hoài hết gạo hết mì dắt con dzìa ngoại ít bữa , tui có tiếp tế đóng góp mà, đêm nào cũng đưa bắp mì, đậu phọng, có gì hỏi gì cũng đưa ...
- Chị này láo nhỉ công lao ơn nghĩa cách mạng giải phóng cho các chị, cho cả miền Nam thoát khỏi tay kìm kẹp bóc lột của mỹ nguỵ lớn hơn trời hơn biển, mấy củ mì cân lạc mà cũng kể lể à ! này đưa thằng con chị đi góp công với cách mạng đấy, phải tích cực mà động viên nó, mấy chị kia cũng thế nhá ! ...
Má con chỉ còn cởi chiếc áo ngoài khoáclên vai, đội nón cho con, ôm đầu con vội vã thì thào bên tai " có dịp chạy đi, đừng chờ đừng tìm má, cứ trốn đi!" . Cái áo hồi chú kéo con lên bỏ lại dưới hố rồi
Nói tới đây nó lại rung mình khóc rưng rức .

Căn chòi lặng tênh, tiếng giun dế côn trùng hoà lại với nhau thành một âm thanh nghe mơ hồ áo não , như một điều gì thôi thúc phải nói ra thằng bé lại bật lên giọng nói trong tiếng nấc
- Họ dắt vô rừng tới hố đó đó chú ơi!

Bà Tiến run người ôm chặt vai thằng nhỏ vào lòng như cố ghìm lại cái thân hình run rẩy sợ hãi và ngay cá cái cảm giác khiếp sợ của mình, thằng Bình như bị ám ảnh nó không thể ngưng lại
- Chú lính con bắt chuyện hồi sáng bị vấp té còn hỏi "đưa tụi tôi đi đâu?" bị họ lấy báng súng uýnh quá trời, đi hết muốn nổi, không cho mấy chú lính kia giúp, biểu con đỡ chú đi, chú choàng tay lên vai con cà lết, cà lết từng bước thụt lại phỉa sau, con nghe chú nói vô tai, "đi sát bên đừng đi xa chú!" con không hiểu làm sao mà đi xa được tay chú trên vai con mà! Một hồi tới cái hũng họ kêu ngừng lợi , mà sao con thấy ai cũng có vẻ thất sắc nặng nề. Lạ ghê chú đó bị thương đi hổng nổi mà kềm đưa con đi tới gần hố, đứng sau mấy người kia. Con tính gỡ tay chú ra, cho chú ngồi nghỉ, ai dè chú kẹp cứng vai con ...hồi nãy hỏi đã bị họ uýnh rồi mà bây giờ còn la lên nữa ...
- Mấy ông muốn làm gi tụi tôi ? Thả hai ông này với em nhỏ về đi, họ là dân thường, mấy ông biết mà . .. Mang họ theo lấp đất hố này phải không?, đất rừng lẫn đá khô cứng, không cuốc xẻng, cho họ về trước không ai thấy gì ...
- Thân lo không nổi, còn lo người khác ốm, một ông như là chỉ huy lên tiếng,
- Hai thằng này dắt vợ con chạy đi đâu ?, đã không vào du kích, cách mạng khoan hồng cho ở nhà làm ruộng với vợ con, giải phóng sắp thành công, không ở lại hợp tác với cách mạng mà chay theo mỹ ngụy à ! Còn thằng bé ranh tìm bắt chuyện với chúng mày sáng nay mà .
Thì ra họ đã để ý quan sát đám người chạy giặc tụi con mà không ai biết , chú lính đó lắc đầu
- Mấy ông vừa hèn vừa ác, giải phóng cho ai ? cả người dân tay không ...
- Hèn với ác đây này ! ...
chú chưa kịp nói hết thì đã bị báng súng thúc vào bụng vào vai trúng luôn đầu con xây xẩm ... con thấy hai chú đi chung xụm người khuỵu gối bật khóc như cầu khẩn ... Có tiếng ai vang lên
- Dây dưa mãi, xử đi ...
Con mơ hồ thấy một ông chĩa súng ra trước ...

- Thiên địa thánh thần ơi ! vậy là họ xử, họ bắn con ?
Bà Tiến run rẫy tiếp lời
- Dạ, Họ bắn ... hết. Tiếng nổ bụp bụp từng tiếng rời rạc nối nhau, nghe lạ quá không giống tiếng súng từ xa thường vọng về, nghe khô khan cộc lốc, khói trắng thoát bay ra bên khẩu súng, mùi hăng hắc khen khét ...thân người ngả xuống phía đầu, phía trước con rồi hai ông đó ngã xuống từng người , máu chảy ! trời ơi ! vậy là ... đầu súng chĩa tới chỗ con rồi, con sợ quá hai chân không đứng nổi chỉ nhớ mình lao xuống hố, chú lính vẫn đeo lấy vai, con như đang cõng chú bay xuống hố, nghe tiếng nổ bụp bụp đuổi theo trên lưng thân hình chú lính run giật ... lơ mơ thấy mình rớt xuống hố vai trật qua một bên sát vách ...

Không biết bao lâu con thức dậy, nghe tiếng gà rừng gáy dác trưa trưa. Đầu óc quay mòng mòng đau điếng. ngủ đi, ... tỉnh dậy ... . Một hồi ... con mới nhớ, mới biết mình nằm sát đất, nhiều người nằm chồng chất trên , tất cả im lặng không nhúc nhích ... con nhớ mũi súng đưa đi, từng tiếng bụp bụp khô gọn nhẹ bâng, từng người ngã xuống, Con nhớ như là lúc mũi súng vừa tới, như là con nhảy , bay xuống hố , mà con đâu có làm, chú lính kẹp vai kéo con nhảy xuống hố . Bây giờ chú nằm sát bên con, cánh tay còn vắt qua ngực ... con lắc tay, lay chú vẫn im lìm ... Con biết con chưa chết. Con cố lách người thêm tí xíu, nhưng kẹt cái chưn, từng chặp, nghỉ rồi rồi nhúc nhích con vẫn không thể rút chân ra, càng lúc càng nặng nề hơn ...
Lâu lắm ... Con nghe tiếng chú rì rầm, sợ là họ quay lai, một chặp nghe chú vái van, nói lấp đất ... biết chú hổng phải mấy ổng con ráng kêu cứu, chú mà đi rồi chắc không ai qua đây, con cũng chết dưới hố này thôi ...

Bà Tiến ôm vai thằng nhỏ day day
- Vậy là số trời thương con, Tai qua nạn khỏi, con ăn hết miếng cơm này đi, ngủ chút, mơi sớm còn đi ...
- Trời thương con ! vậy trời hổng thương hai chú kia với mấy chú lính hả thiếm ?
Thằng bé cất giọng ngơ ngác, bà Tiến chưa biết trá lời sao .
- Trời cũng thương chớ, mà thương hổng kịp, một ngày cỡ này biết bao người chết, ổng thương mỗi người mỗi kiểu !
ông Tiến trả lời cho qua, ai ngờ thằng bé không hỏi nữa . Vừa nhai miếng cơm, nó nhìn ông nói tiếp
- Hồi nãy con hỏi, mà chú nói hổng gặp hố nào như dzậy, con đỡ sợ cho má với em con ...
- Má với em con chắc không bị bắn đâu, đám người chạy với con cỡ bao nhiêu
- Cỡ hai mươi mấy, mà còn rải rác mấy nhóm cỡ 5, 7 người phía sau nữa chú à! mà sao chú biết má con không sao
- Muốn bắn thì họ cứ dồn chung môt chỗ làm hết đâu cần phải chia ra . Họ đưa đi mấy ông, vợ con người ta còn lại biểu gì cũng phải làm theo, chồng cha mình trong tay đang ở với họ mà ...
- Chú ơi , vậy mơi sớm cho con đi tìm má với em con ...
Rồi như sợ ông bà cản rản, nó nhẹ giọng như nài nỉ như phân trần
- ... con đi mình ên được mà !

Ông Tiến rùng mình nhớ tới đám người nằm quanh bệ súng phủ lớp bụi đỏ ... Chắc mẹ và em nó ở trong đám người đó, ông tìm cách khoả lấp
- Con đi tìm ở đâu
- a .. a ... con hổng biết nữa, chắc con về chỗ trảng xe be đổ cây súc hồi sớm, không thì dzìa nhà chờ ...
- Bình à, trước lúc dắt hai anh em con đi, má có nói sao phải bỏ nhà chạy đi ?
- Má nói lóng rày ở hổng được yên, rẫy bái bị đốt phá, còn phải đóng góp hoài, sợ con bị bắt ...
- Vậy quay dzìa nhà, con nghĩ có ở được hông ?
Thằng bé nín thinh, ông trầm giọng nói tiếp
- Quay lại trảng xe be, chắc gì má con còn ở đó hay họ dẫn má con đi chỗ khác rồi, ông hắng giọng cho câu nói láo được gọn lỏn, ...
- Nếu như gặp được má con cùng đám người hồi sáng, có phải họ bị mấy ông đó bắt giữ ? con sẽ nói sao về hai ông bị bắt đưa đi chung, con nói láo hay con nói thiệt rồi đưa vợ con ho, đến hố nhận xác ? !
Thằng Bình như chưa hiểu, nhìn ông im lặng, ông Tiến nhìn nó chậm rãi buồn bã nói nhỏ
- Đúng ra con phải làm như vậy
- Dạ !
- Con có nhớ ai đưa con và hai ông đó tách khỏi gia đình
- Dạ ! nhớ ...
- họ đã làm gì con và hai ông đó, con về gặp họ được không
- D..ạ ..., thằng bé run run trả lòi ấm ứ : d..ạ ..ạ ! con hiểu !
- Mẹ con dặn con câu gì trước khi họ dẫn con đi, nhớ không ?
Bình bật khóc, mếu máo nói
- Dạ nhớ , má biểu chạy được thì chạy
- ừa
- Vậy là má con biết ?
- Không chắc, nhưng má con lo, lành it dữ nhiều, mới biểu con như dzậy
Thằng bé lại lắp bắp
- Vậy ... vậy ... là con không gặp được má với con Bê nữa sao chú ?
- Gặp chớ , trờii còn thương mà, mai mốt yên ổn mình nhắn tin, hay chú dắt con dzìa nhà ...
- Vậy con làm gì bây giờ ...
ông Tiến gục gặt đầu suy nghĩ, số phận đưa thằng bé đến tay vợ chông ông, nó thật hiền hoà tội nghiệp. Chưa chắc mẹ và em nó qua khỏi, đói khát khủng hoảng ... và còn bao nhiêu điều không đoán được
- Thôi, con đi với chú dzìa Sài gòn ở đỡ ít bữa, yên ổn con trở về nhà. Chú có mấy thằng con cỡ tuổi mày đó , hổng sao đâu, minh phải tìm cách ra khỏi khu rừng này, vùng đất này sớm chừng nào tốt chừng nấy .

coffeebean
#551 Posted : Wednesday, October 17, 2012 11:02:35 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 2,667

Thanks: 232 times
Was thanked: 760 time(s) in 350 post(s)
Hẹn ước (tiếp theo)


- Rời đây rồi mình đi đâu , Bình ngơ ngác hỏi, con chưa đi xa bao giờ ....
- Theo chú dzìa Saigòn, nhà chú ở đó, mai mốt ổn ổn chú dắt mày về đây tìm má, mấy thằng con chú chàng chạng tuổi mày ... chú hỗng nỡ để mày lang thang trong rừng ...
- Vô Saigòn chắc hổng ffược đâu, con nghe mấy ổng nói họ đóng chốt bên đường lộ, càn quét mấy xe đò xe hàng, hên xui may rủi, có xe thoát nhưng bị bắt cũng bộn, ngay đám con chạy bộ mà xui gặp cũng bị luôn ...
- Mình không đi đường quốc lộ, theo đường rừng đi từng khúc ...
đang nói ông chợt ngừng ngang, nhớ tới lời mấy ông tài xế quen biết dặn dò cũng giống như lời thằng bé vừa kể ...
Nếu cứ đi trong rừng biết chừng nào tới, biết đâu lạc đường, mà không thể đi trong rừng mãi cũng có khúc hết rừng phải tràn ra quốc lộ, rồi lấy gì ăn để có sức đi, lỡ gặp họ coi như xong ..., coi bộ mấy ổng đóng chốt theo quốc lộ, ông chợt loé lên ý nghĩ ... đi xuôi nhiều rủi ro, đi ngược may ra. ..
- Bà với thằng Bình nè, mình đi ngược lên Bình Tuy ...
- Trời đất, đi Bình Tuy chi vậy ! Bà Tiến thảng thốt la lên, con cái ở nhà một bầy, tui đang rầu thúi ruột ...
- Về Sàigon bằng đường xuôi quốc lộ hay luồn lách trong rừng, rồi cũng phải chồ đâu ra đường lớn ... họ đang trụ chốt theo quốc lộ, dễ bị bắt ... mình ra Bình Tuy tìm ghe đáy, ghe cào, ghe đánh cá nào đó cũng được theo họ đi mình nài nỉ trả thêm chút tiền để họ thả mình vô Vũng Tàu, Bà Rịa, tới đó về Sài gòn dễ hơn
Bà Tiến trố mắt nhìn ông, thằng Bình lại ngơ ngác
- Con không biết đường đi Bình Tuy hay Vũng Tàu, Nghe nói biển đẹp lắm , con chỉ nghe nói một hướng là dzìa Sài gòn còn đi ngược là ra miền biển Bình Tuy, Phan Thiết.
- Ừa, thì bây giờ mình đi, may ra tìm được xe chở cây mình thuê họ chở ra gần mé đường đi Bình Tuy, chớ ra ngã ba giao lộ sợ không suông sẻ , vì nếu ra được ngã ba mình có thể về Sài Gòn bằng xe đò
- Thôi, ông biết đường tính sao cũng được !
- Mình phải đi ngược lại, ráng men theo dấu quốc lộ , ngặt cái đi xa lắm ...
- Con biết ở xóm trên, từ xóm con đi bộ lên cũng cả buổi, có xóm than hầm ...
Thấy bà Tiến ngơ ngơ, thằng bé cố tìm cách giải thích
- Xóm than hầm là mấy nhà hổng có đất làm rẫy, họ đắp lò đất, đốn củi chất vô hầm củi thành than ...

ồ thì ra vậy , xóm làm than, mấy anh em nhà ông cũng đắp một mớ lò gạch mà dân đia, phương gọi là lò lu để nung các loại cây cành nhỏ thành than, loại không thể xẻ gỗ như thân gốc. Mới được hai ba kỳ thì loạn lạc thế này coi như mất trắng ... ông Tiến biết rải rác một số dân địa phương từ lâu đời sống bằng nghề nung than họ vào rừng đốn củi hoặc mua lại từ các thợ rừng sau khi đốn cây vạt bỏ giá cành nhánh nhỏ rườm rà. Than chín họ dỡ lò khui than rồi gánh, chở xe thồ đi bán lân cận quanh vùng, mua tận gốc bán tận ngọn ... nghe thằng bé gọi là xóm than hầm, nung than mà gọi là hầm, thiệt là ngộ nghĩnh ... thấy ông bà thấm ý nó kể tiếp
- Họ hầm than tới cữ, dỡ lò chất lên xe lam, xe cà xịch chở than lên Bình Tuy bán, có khi là chợ Hàm Tân , Bán xọng họ mua khô, muối, mắm cá, cá thu chà bông chở dzìa chợ mình bán tiếp, có bữa kịp buổi chợ họ mang cá biển uớp nước đá còn tươi với chả cá nữa, ngon lắm đó ...
- Vậy con dẫn chú tới xóm than đi ha, đừng ra lộ, đi trong rừng con biết hướng không ?
- Dạ, mình theo dấu mấu xe thợ rừng lăn súc cây, chở củi qua mấy con suối, kè đá ... qua xóm nhà con, đi một hồi nữa mới tới
- Giờ mình tắt đèn ngủ chút xíu, mai đi sớm.

Thằng bé quơ gom mấy miếng ván vạt củi tạp dằn dưới tấm liếp cửa, mấy lỗ hổng bên vách sát nền nhà
- Chặn lợi hổng thôi mấy chú chuột rừng nghe mùi bò dzô cắn chưn chảy máu, đau lắm đi hổng được
Bà Tiến chợt co người ôm lấy hai bàn chân , thằng bé nhìn bà ra vẻ giảng giải
- Thiếm ngủ mà làm sao ôn chưn coi chừng hoài được, mấy con chuột cỡ bắp chưn khôn lắm mà hỗn dễ sợ, chun dzô nhà hoài, con phải đặt bẫy quanh nhà chặn hết mấy lỗ ngách, chừng vài con trúng bẫy thì cả bày bớt quậy, hổng sao đâu thiếm, chắc bữa đầu nó chưa vô đâu, hai ba bữa kìa !

Ngọn đèn tắt để lại bóng đêm đen đặc sóng sánh. mênh mông. Sương đêm lộp độp đều đặn rơi trên mái lá có lúc cơn gió rừng đưa về sương rơi nặng hột rớt ào ạt ngỡ như mưa, khiến ông lo sợ lỡ mà cơn mưa rừng đến sớm rừng rú ẩm ướt trơn trượt khó đi chưa kẻ vắt, mòng . Cái giống chi mà như hột é ngâm nước chỉ một hai cơn mưa là có mặt khắp nơi tha hồ cắn chích . ... một hồi ông thở phào nhẹ nhõm biết là sương rũ nặng hạt trên mái lá. Nền đất khô, lúc này như thấm lạnh da diết đặc quánh bám vào da thịt chân tóc. Ông bà còn tấm áo khoác ngoài dầy dặn, thằng Bình chỉ có manh áo thường, cũng may ông còn chếc áo thun dầy dành đi rẫy để sót lại xẹp lép trong đáy ba lô ông biểu nó "mặc thêm cho ấm được chút nào đỡ chút nấy, con nằm giữa cho đỡ lạnh". Còn manh áo mưa đắp lên ba người nằm sát rạt bên nhau .
Cả ba đều im lìm, dường như không ai ngủ được, đều thao thức , mỗi người dậm duộc suy nghĩ ngổn ngang mà ai cũng làm như không có gì hết ... thằng bé đã thở đều, những tiếng động nho nhỏ thoát ra từ cổ họng cho biết thằng nhỏ mệt lả đã chìm vào giấc ngủ ... ông choàng tay qua, xoa lên đầu bà
- Bà ngủ đi , mai còn sức để đi , trời thương mà, hoạn nạn sẽ qua
Không thấy bà trả lời chỉ nghe tiếng bà ấm ứ và đầu như gục gặc, ông biết bà đang khóc
- Nè ! cố lên, phải tỉnh trí mà tìm cách đi về ! ngủ đi cho đỡ mất sức, lo hoảng cũng không tới đâu, dành sức vượt rừng, nghe bà!

Ông Tiến lan man giật mình, ồ tiếng gà rừng gáy eo óc từ xa vọng về xa xôi mà vẫn lảnh lót, tiếng gáy đầu ngày, mấy ông cụ xưa còn gọi là tiếng gáy sang canh khi chưa ló dạng dù một chút hơi hướm gì của bình minh rực rỡ ... từ chú gà trống cộ xếp sòng đám gà rừng vùng đó nghe như một lời đánh thức, báo động. Nó đơn độc mà gan lì, như bày giải của một kẻ từng trải, lăn lóc cái nỗi vất vả lo toan của một ngày sắp tới ... cỡ nửa tiếng sau là tiếng gáy đợt hai có lẽ cũng từ con gà cồ ban đầu hay của một chú nào vai vế lắm lanh lảnh cất lên, tiếng gáy kỳ này âm vang thôi thúc như réo gọi ... và sau đó chỉ năm mười phút là có tiếng những chú gà rừng khác và gà nhà thi nhau gáy chào bình minh .

Thợ rừng, dân làm rẫy bái vùng này quen thuộc từng tiếng gà rừng gáy, nó đều đặn và thôi thúc hơn bất cứ chú gà nhà nào. Tiếng gà rừng nghe từ xa vọng về mà rất rõ ràng lảnh lót ngân nga, ra vẻ phong trần sương gió lắm, mà nó không hề gáy chung hay gáy gần tiếng gà nhà, nó chờ một chặp xa xa, từng con một hay từng đợt tiếng gáy lẻ loi. Họ thường chập chờn thức giấc sau tiếng gáy độc đầu tiên để rồi tới tiếng gáy thứ hai là bò dậy, Khi cái đám gà lao nhao gáy inh ỏi là lúc họ đã củi lửa bừng lên trong bếp hong lấy hai bàn tay bắt lên nồi khoai, bắp, đậu cho bữa ăn sáng, gói bọc lá theo ăn trưa, thợ rừng thường nấu thêm nồi cơm vắt cho chắc bụng .

ờ, trời chưa sáng, ông đưa tay rờ tìm thằng bé, nó vẫn nằm thu lu giữa hai ông bà
- Con thức dậy rồi chú à .
Thì ra ông cũng thiếp ngủ, chẳng biết được bao lâu, mà cũng tốt lắm rồi, đỡ mệt
- Mày dậy sớm ha Bình
- Con quen rồi bữa nào cũng dác này là con dậy, Má con nói giống gà rừng gáy đều lắm chú dù mưa hay lạnh, mà nó gáy theo mùa chú ơi! trời mưa nó gay như buồn buồn có nước, trời lạnh nó gáy eo óc o oo lành lạnh . Má con đang nấu bắp, con ngồi cạnh ông lò cho ấm chút xíu chờ bắp chín dỡ ăn xong đi rẫy
- Con không đi học sao
- Có chớ, mà buổi chiều . Ở đây mấy đứa nhỏ mới đi học sáng chớ tụi con đi học chiều, sớm mơi biết nhiêu chiện để làm ...
rồi như bẽn lẽn thằng Bình bớt giọng hào hứng
- ... mà con mới học tới lớp nhứt à chú , má dắt con chạy giặc lung tung, dzìa xóm này ổn rồi con mới đi học, trễ hung chú à ! biết chữ thích lắm, làm toán cho má con bán đậu nữa . Má con làm giỏi hơn con mà cứ biểu con làm hoài cho quen ...
- Ba con ...
- Chết rồi, hồi tụi con còn nhỏ xíu ... Má kể ba đi lính chết trận, hồi đó tụi con theo ba ở trại gia binh ngoài Trung, ba chết má thấy mấy chú lính kế bên về thăm nhà hoài, má khóc miết rồi dắt tụi con ra ngoài mua bán rau trái ở chợ, mà giặc giã chạy lung tung, mới dắt tụi con dzìa ngoại làm rẫy. Ngoại chết, cậu con ở Phan Thiết để hết rẫy lại cho má tới giờ.

Hít một hơi sâu thằng bé buồn buồn kể tiếp
- Khoảng cỡ năm nay làm không có dư chú, có khi không đủ ăn ... tối tối là mấy ổng tới nhà nói chữ kiểu gì lạ hoắc kêu ủng hộ hoài ! con lớn rồi chuyên gì cũng nhào ra phụ má, nhưng má dặn con hoài "nghe tiếng họ tới là phải nằm im, trùm mền đừng ló đầu ra ... con lớn rồi, sợ họ bắt đi ! má con sợ sao linh thiệt ...
Bình chợt lặng thinh, thằng bé lại nhớ mẹ ngậm ngùi , nó ngước mặt hỏi ông đầy vẻ tin tưởng mà như nài nỉ
- Bây giờ mình tìm đường đi Bình Tuy. Mai mốt chú dẫn con dzìa tìm má ha chú, con hổng biết đường từ Sài Gòn dzìa đây!
- Ừ, chú dẫn mày về, rồi nhắn tin nữa, mà nếu như hổng gặp thì dắt mày ra Phan Thiết tìm nhà cậu, biết đâu má con dắt em về đó !
Nét mặt thằng bé rạng rỡ như là nó đang nhìn thấy mẹ và em trước mặt, ông Tiến thắt ruột lại nhớ đến đám người phủ lớp bụi đỏ khói trắng quanh bệ súng, mấy người bộ đôi chia nhau canh gác ăn cơm, họ vẫn nằm đó.

LNL

1 user thanked coffeebean for this useful post.
chiều tím on 10/19/2012(UTC)
coffeebean
#552 Posted : Saturday, October 20, 2012 1:13:57 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 2,667

Thanks: 232 times
Was thanked: 760 time(s) in 350 post(s)
Hẹn ước (tiếp theo)



Thằng bé tò mò gặng hỏi
- Chú biết Bình Tuy, Bình Tuy có ghe đi dzìa nhà chú hả ?
- ông có quen biết ai ở đó hông ? Bà Tiến nằm im nãy giờ, cất tiếng
-Ừa, có quen biết chớ
ông Tiến ừ ào cho qua, ông làm gì quen biết ai thâm sâu! . Đời lính dạo xưa ông có đóng ở vùng đó một thời gian, làm đường, bắc cầu ... Bình Tuy với bãi biển cát mịn trải dài bên đồi rừng dương, hàng dừa nghiêng bóng nước xanh thẳm Bãi biển còn hoang sơ chưa bị khai phá vì ngày đó người ta chỉ biết đến những bãi biển thành danh: Nha Trang Vũng Tàu, rồi Long Hải, Quy Nhơn, Phan Thiết, Đà nẵng. Dân cư ở đây có vùng là khu "cài răng lược" ... Đa số là dân tứ xứ đổ về tụ lại, lâu đời nhất có lẽ là đoàn người xuôi Nam gốc gác từ miền Trung ven biển.

Sự trù phú của miền đất mới, mưa nắng thuận hoà, ruộng rẫy mơn mởn, biển giả đầy tôm cá ... họ dẫn dắt cưu mang bà con, người cùng xứ vô lập nghiệp về sau... Trong nhịp sống luân lưu của vùng đất miền Nam tự do này, một số người đã vô tình rồi cố ý nuôi dấu cán bộ nằm vùng trên con đường len lỏi tìm về Sài gòn hay tìm cách hợp thức hoá như những người nghèo trôi dạt tìm sống . Để rồi đêm đêm an nhàn cháo cá đèn dầu, như người dân chài hiền hoả xả hơi sau một ngày mệt nhoài, họ họp hành lên kế hoạch phá hoại sự ổn định từ địa phương, vùng phụ cận cho đến xa xôi.

Bên cạnh đó một số ít làng xóm mới, xóm những người gốc miền Bắc di cư dạo 1954 , có gốc gác nghề biển được đưa về đây . .. Họ lập làng xóm xây chùa, xây nhà thờ, trường học nề nếp như dựng lại một quê hương đã xa ... Họ sống san sát chia sẻ đùm bọc lấy nhau, theo thời thế từ thời bình đến chiến cuộc leo thang, không một anh cán bộ nào làng màng vào xóm chiêu dụ được họ ... có khi một vài âm mưu nhỏ còn tình cờ bị họ phát giác ... Họ lại chăm chỉ cần cù, đàn ông đi biển vào, vợ con lớp lo giao bán cá lớp thức đêm hôm chằm vá lưới, chỉ một hai hôm họ lại ra khơi, vợ con ở nhà làm mắm, làm chả cá, xẻ cá làm khô, nuôi heo, trồng ít rau mướp vườn nhà. Làm lụng mua bán quanh năm như thế . Ngày biển động vẫn làm không đi xa chỉ đi câu lảng vảng gần bờ. Những tối mùa ít cá họ thả thuyền mành, thuyền thúng câu mực. Biển tràn trề tôm cá ... mùa nào cá nấy những chiếc ghe khẳm mấp mé mặt nước như muốn chìm xuống bất cứ lúc nào ... mờ sáng tấp về bến đổ xuống từng đống cá chuồn, cá nục mỡ, cá ngừ, cá bạc má tươi rói óng ánh vệt sáng lân tinh đem bán trụm cho lái. Nhưng giỏ ghẹ xanh, loi ngoi dơ càng . Riêng mấy giỏ tôm sú tôm bạc búng mình tanh tách như cố bung ra khỏi màn lưới phủ. Những cần xé cá chim, những con cá thu dài tươi xanh, thoảng gặp một hai chú cá cờ thì thương lái mua ngay chở về Sài gòn. Cá vụn cá tạp họ gom về làm nước mắm, nuôi heo ... Mớ cá thu ảo roi roi bán cho người làm chả cá, gặp bữa trúng quá, bán rất hời còn bị ỷ ôi, thì họ đem về con nhỏ làm mắm cá thu muối, con lớn chút ép vào hai thanh mía làm cá thu nướng mía. Cá còn bốc khói họ ủ ngay vào cần xé bọc phủ lá chuối ràng kín giữ hơi nóng bên trong, chín hết mấy tấm lá chuối cho cá đừng mau hư rồi họ giao cá nướng, chả cá chở đi bán chợ đồng rừng hoặc những vùng không gần biển, thiếu cá biển.

Cứ thế chẳng bao năm họ giàu có ghe to máy lớn, nhà xây mái ngói khang trang, trong khi dân địa phương ít người bắt kịp họ. Thế là mấy anh cán bộ được dịp xúc xiểm cổ suý cái tinh thần địa phương "cục bộ" rằng những làng xóm đó là các ấp ... chiến lược trá hình, được mỹ nguỵ bảo bọc hà hơi tiếp sức chúng mới giàu có nhanh như thế gây ra không ít tị hiềm ghét bỏ nhau giữa những người lưu lạc trên cùng một mảnh đất.

ông còn nhớ được quán cà phê bán đủ thứ nước ngọt bia rượu, bên cạnh một quán nước hơi lạ lùng đặc hương vị miền Bắc, mấy món không thể thiếu là nưóc chè xanh, keo kẹo đậu phọng, rồi đậu phọng nguyên vỏ bổi với khoai lang luộc, mấy trái chuối nấu, mấy cái bánh ú gói vuông vức kiểu bánh chưng nhỏ, một lò liu riu mấy cục than hườm chờ ai gọi thì bà cụ bán hàng mới bỏ thên ít mẩu than quạt lửa nướng cái bánh tráng mè giòn kháu thơm thơm bùi bùi . Một điều tức cười là hai quán sát nhau đều của một gia đình, Người cháu bà mở quán cà phê bán sáng sớm đón khách chuẩn bị ra khơi, có kèm nước ngọt bia bán lai rai cả ngày . Bà cụ mở quán hơi trễ lúc mặt trời đã lên, vẫn giữ nồi nước chè xanh bọc trấu ủ nóng đón những người dân chài về xóm sau một đêm mệt lử ngoài biển, bán xong tôm cá neo thuyền ghe tu sửa, ghé lại quán bà uống chén nước chè ăn miếng quà quê: thẻ kẹo đậu phọng, mà hầu như ai cũng chỉ vào tấm mẹt tre nhỏ ung khói bóng lưỡng lót miếng lá chuối xanh mướt sắp mấy hàng bánh đúc cắt miếng vừa vặn bằng hai chiếc hộp quẹt, lẩn vẩn trong nền bột trắng xanh xanh lơ nồng nồng là ít vân tôm khô hột đậu phọng nấu nhừ. Cầm miếng bánh bẻ xé ra,từng miếng nhỏ dẻo dai chấm vào chiếc chung bé xíu như hột mít bà cụ dọn sẵn chút mắm tôm pha chanh ớt cay xè mặn mòi thấm thía, vừa ăn vừa hít hà.... Vẫn còn đói bụng, ăn thêm cái bánh chưng con, tấm bánh tráng mè quạt lửa nướng thơm giòn, thêm chén nước trà là coi như xong bữa ăn sáng về ngủ một giấc bù đến xế trưa

Tiến và mấy thằng bạn lính Bắc kỳ hay ghé quán của bà, bà bán hàng khá rẻ lại tội nghiệp, thương mấy chú đi lính xa nhà, miếng kẹo đậu phọng, miếng bánh đúc nào cũng được bà để ý săm soi tìm miếng lớn hơn một tí, có hôm ba đứa ăn được bà tặng thêm một miếng, bữa thêm ít củ khoai, nhúm đậu phọng luộc gọi là đãi khách quen ... riết rồi Tiến nghiền cái món nhai kẹo đậu phọng uống nước trà xanh của bà luôn ...

Đúng rồi ông sẽ tìm đến quán này, chẳng biết bà có còn giữ cái quán từ miền quê xa xôi cho đến giờ ? Nếu không còn, ông sẽ tìm vào mấy xóm chài bị gán cho cái tên Ấp chiến lược trá hình thế nào cũng tìm ra có ghe đi biển ... chứ lảng vảng ngoài bãi, ngoài bến xe hỏi vu vơ lung tung lỡ gặp dân nằm vùng đóng ụ thứ thiệt là coi như xong.

Tiến còn nhớ mài mại trong xóm chài có mấy bà trưa trưa đem mấy con ghẹ sót lại đáy ghe, họ dọn vét ghe bừa nào cũng tìm ra ít con ghẹ, tôm bạc, mực nang lẩn khuất. Đi tìm bán cho mấy chú lính mua về nhậu. Trưa rồi chợ quê vãn từ lâu, thương lái mua từ sớm chở đi hết rồi ... dần dà thành quen mấy con tôm cua lang thang xổng giỏ bị bắt lại, lỡ buổi chợ là đi tìm gạ bán cho mấy chú lính làm đường làm cầu ngoài kia. Có khi họ để dành một ít tôm cá theo lời đặt trước, luộc hay nướng luôn cho khách, bao giỡ cũng cho thêm chút đỉnh. Lần đầu Tiến được nếm món cá thu tươi kẹp mía nướng, theo lời một cô bán cá mở lớp dạy nấu ăn hoả tốc cho mấy ông lính chuyên viên đổ nước vào cơm sấy, khui đồ hộp ăn liền; Cắt hai thanh mía nướng lót đáy nồi sắp cá nướng chế gia vị kho liu riu , một bà lại chỉ đem cá nướng lại hoặc chiên giòn chấm nước mắm dầm me ... trời ơi là ngon, Tiến nhớ mãi ... Một lần ông Thượng sĩ già gốc Bắc nhớ món ăn quê xa, hỏi họ có làm gỏi cá cho ông đặt một ít khao anh em ăn cho biết ... Mấy bà hẹn "Để về hỏi lại gia đình vì phải tìm đúng loại cá mới làm gỏi được ... " Rồi họ nhận lời, mà thật là ngạc nhiên, họ nhận lời bằng cách mời cả toán lính đến nhà một chiều chủ nhật ăn gỏi cá với gia đình họ, một đại gia đinh mà cha mẹ ông bà con cái lẫn chú bác bà con ở sát bên nhau. Bữa gỏi cá thay vì lịch kịch xách mang về trại ăn vội vã thì lại được ăn vui vẻ linh đình như một bữa tiệc giỗ thân mật.

Uừ ông còn nhớ đường vô xóm này. Tìm đến ngôi nhà đã cho ông ăn món gỏi cá thật lạ thật ngon, chắc họ sẽ giúp ông, nếu không họ cũng chỉ người đưa ông đi.

LNL
Hạ Vi
#553 Posted : Tuesday, October 23, 2012 5:25:09 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,640
Points: 14,706
Location: CỏThơm

Thanks: 2592 times
Was thanked: 7175 time(s) in 1914 post(s)



Một Mai Giã Từ Vũ Khí


Thời gian đơn vị tôi đóng quân tại Cẩm Mỹ, một làng nhỏ hẻo lánh thuộc tỉnh Long Khánh, hằng ngày những giờ rảnh rỗi tôi thường lội bộ vào làng cùng vài người bạn cách chỗ đóng quân hơn một cây số để nhậu nhẹt, đi chợ, làm quen và tìm hiểu những sinh hoạt người dân nơi đây. Làng có một chợ nhỏ, lèo tèo với vài quán nước, một ngôi chùa nghèo trông xơ xác, một nhà thờ tương đối khang trang hơn. Ở đây có khoảng hơn năm mươi gia đình sống bằng nghề cạo mủ cao su, nhà được sở cao su cung cấp. Làng chỉ có những ông bà già, phụ nữ và trẻ con vì những thanh niên phần lớn theo Việt cộng, ban ngày thì Quốc Gia ban đêm thì Việt cộng kiểm soát. Nhiều đêm chúng về thu thuế, họp hành thường bị lính Địa Phương Quân, Bộ Binh ta phục kích. Từ khi đơn vị tôi đóng quân ở đây thì V.C. ít về và sinh hoạt của người dân bình thường hơn.

Chúng tôi thường tổ chức những buổi văn nghệ dã chiến để giúp vui cho đồng bào, đơn vị giao cho tôi phụ trách và thường trình diễn trong nhà lồng chợ. Có lần tôi hát bài Áo Anh Sút Chỉ Đường Tà thì sau khi buổi văn nghệ có một cô bé khoảng mười bảy tuổi với đôi mắt đen huyển, đôi môi đỏ hồng đẹp như một nàng tiên làm tôi bất động, ngây ngất. Cô mỉm cười nói: “Xin anh chép cho em bài hát hồi nãy anh ca rất hay!” Tôi bất ngờ, sung sướng và bị cà lăm khi trả lời: “Đ…ược, được…được, ngày mai tôi sẽ chép cho cô, mà cô tên gì, nhà cô ở đâu?” Sau khi nói tên, chỉ nhà xong, cô thánh thoát bước đi tôi nhìn theo một hồi lâu mà lòng còn ngây ngất.

Trở về đơn vị, đêm hôm đó tôi phải dùng đèn pin ngồi trong xe M113 để chép cho nàng bài hát, sáng sớm hôm sau,khi trời còn đầy sương tôi vào làng để đưa cho nàng, từ đó dần dần chúng tôi yêu nhau. Tôi biết đây là vùng xôi đậu. Có lần tôi xin phép mẹ nàng để làm đám cưới, bà từ chối, tôi rủ nàng trốn theo tôi về Sài Gòn, nàng đồng ý. Sáng hôm sau khi tôi bước lên xe đò thì không thấy nàng, tôi xuống xe trở vào nhà thì thấy nàng khóc sướt mướt bên cạnh mẹ. Mẹ nàng mở cửa nói với tôi: “Tôi cấm cậu không được vào đây nữa.” Thấy bà ấy dữ dằn quá tôi teo và bỏ đi một mạch. Một thời gian ngắn sau đó đơn vị phài đi hành quân nơi khác, sau này thì vùng này mất an ninh tôi chỉ lén về thăm nàng một lần tối lại phải lên đồn Địa Phương Quân xin ngủ tạm và bỏ lại đây một mối tình như bài hát “Áo Anh Sút Chỉ Đường Tà”.

Chiến tranh mỗi ngày một gia tăng, tôi phải theo đơn vị hành quân triền miên khói lửa, có lần một anh Chuẩn Úy Đề Lô Pháo Binh mới về hỏi tôi là đơn vị mình đi hành quân thường không, tôi nói một năm đi hành quân chỉ có hai lần, một lần khoảng sáu tháng, anh nhăn mặt. Những lúc hành quân mệt mỏi, khi đi qua những nghĩa trang tôi thấy hàng chữ “Nơi An Nghỉ Cuối Cùng” thật đúng nghĩa, lúc mệt mỏi, chán chường đôi khi tôi muốn ớ lại đây để được thanh thản không muốn thấy cảnh chết chốc của anh em chiến hữu, đồng bào, trẻ em vô tội, sự tàn phá quê hương bởi bom đạn của chiến tranh, nhiều sanh ly tử biệt. Những đêm khuya nghe tiếng chuông chùa vọng về từ xa, ôi tiếng chuông nghe quá não nùng như gọi kêu mình “Giã Từ Vũ Khí” mà đến đây để thấy được thiên đường, người người sẽ yêu thương nhau không còn hận thù nữa.

Có những lần đụng trận, tôi bị thương rất nặng và nghĩ mình sẽ chết, tôi cố mở to đôi mắt ra để nhìn cảnh vật xung quanh một lần sau cùng, hình ảnh những người thân hiện nhanh vào tâm trí và tôi thầm nói với tất cả một lời vĩnh biệt thân thương cuối cùng. Đó là những ý nghỉ của một người sắp chết mà tôi cảm nhận được từ kinh nghiệm chính mình. Trong lúc giao chiến với địch tôi nghĩ mình đã chết thì mới không còn sợ chết để vững tâm trực diện với kẻ thù, còn sợ chết lo tìm nới ẩn núp thì địch thấy ta, mà ta không thấy địch thì trước sau gì cũng “ anh thêm lon giữa hai hàng nến chong”. Một kinh nghiệm khác là khi mình còn nghe tiếng đạn pháo, tiếng súng thì biết chắc mình còn sống. Những cấp bậc Binh II, Binh I dễ chết nhưng lên đến Hạ sĩ thì khó chết. Cấp Trung sĩ mới ra trường thì dễ chết, khi lên đến Trung Sĩ I thì khó chết. Cấp Chuẩn Úy thì dễ chết nhưng khi lên được Thiếu Úy thì khó chết. Tất cả nếu vượt qua khỏi giai đoàn đầu thì từ từ chiến trường dạy cho ta thêm những kinh nghiệm để tìm cái sống trong cái chết.

Tôi mơ ước được giã từ vũ khí để trở về quê cũ, với ruộng vườn, gia đình, cuộc sống thời thơ ấu, với tình yêu mộc mạc đơn sơ nhưng chân thành và nhất là xa chiến tranh gây chia ly, chết chốc,sự tàn phá quê hương yêu dấu. Tôi không muốn giã từ vũ khí ra đi vĩnh viễn để những người thân yêu tôi phải đau khổ, mặc dù không muốn nhưng tôi vẫn sợ rồi có một ngày vì chiến trường mỗi ngày một mãnh liệt hơn, nhiều bạn bè đã giã từ vũ khí ra đi ngoài ý muốn. Tôi vào lính khi tuổi đời chỉ đôi mươi còn trong người nguyên một bầu nhiệt huyết cùng lý tưởng tự do, tôi không sợ chết mà chỉ sợ để buồn cho những người thân yêu và sợ giặc miền Bắc vô đây.

Nhưng oan nghiệt thay cuối cùng tôi cùng nhiều chiến hữu khác cũng phải đành giã từ vũ khí trong tức tưởi, nghẹn ngào và nước mắt lưng tròng vì mảnh đất ấp ủ thương yêu đã gìn giữ bấy lâu nay, hy sinh biết bao xương máu lại vào tay giặc. Từ đó mất tất cả, đất nước phải đắm chìm trong chủ thuyết phi nhân, những bạn bè xưa có người đã bỏ thân xác trong những trại tù và nhiều người đã đi tìm tự do đã bỏ mình trong đại dương, nhiều phụ nữ, trẻ em đã bị hải tặc cướp bốc, hãm hiếp dã man. Nhiều mảnh đời phải sống tha phương không biết đến bao giờ.


Nguyễn Hiếu






1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
coffeebean on 10/28/2012(UTC)
Users browsing this topic
Guest
31 Pages«<2526272829>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.