Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

4 Pages<1234>
Options
View
Go to last post Go to first unread
phamlang  
#21 Posted : Sunday, December 7, 2014 1:49:45 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
BỆNH CÀ CHỚN


Cà trong cái nghĩa đầu tiên của nó là một danh từ dùng để gọi một loài thực vật cho quả ăn được. Nhưng trong cái loài quả gọi là cà này cũng còn được phân biệt ra làm nhiều giống: Nào là cà pháo, cà dái dê hay cà tím, cà dĩa hay còn gọi là cà dòn v.v… Ngoài các loại cà vốn được người dân xứ ta trồng để làm thực phẩm từ lâu đời nói trên, còn có một số cà thuộc loại ngoại lai du nhập như cà chua hay có người còn gọi là cà “tô mát” cho có vẻ ta đây cũng rành tiếng Tây, và vài thứ có tên do gọi theo phiên âm mà có tiếng cà nhưng không hẳn là cà như cà rốt, cà phê v.v…

Cà chua cũng là một loại rau quả nhưng chỉ mới xuất hiện ở xứ ta từ lúc có các ông Tây bà đầm qua “khai hóa” cho dân ta và tập cho dân ta làm quen với những món ăn Tây phương, nhờ thế mà dân ta mới biết ăn cà chua và trồng cà chua để bổ sung cho danh sách rau quả bán ở ngoài chợ.

Cà chua ngoài việc được dùng làm thực phẩm như ăn sống, nấu chín, làm thành sốt cà, nước giải khát bổ dưỡng có nhiều sinh tố v.v… còn được xử dụng như là một loại vũ khí tuy không có khả năng sát hại hay gây thương tích cho người bị tấn công nhưng cũng đủ làm sứt mẻ uy tín của người đó. Một nghệ sĩ bất tài, trình diễn bị bể dĩa thì thay vì được khán giả tặng hoa, lại được khán giả tặng cho mấy quả cà chua thối. Mấy chính khách, lãnh tụ tầm cỡ quốc gia có những chính sách, chủ trương, đường lối không phù hợp với quyền lợi hay nguyện vọng của nhân dân một nước khác, hay một tập thể nào đó thì khi công du đến các vùng ấy thế nào cũng có những cuộc dàn chào bằng cà chua thối của những nhóm người chống đối.

Còn như cà rốt cũng là một loại thực phẩm nhưng thật ra cà rốt không phải là loại quả mà chính là một loại rể củ ăn được nhưng vì gọi theo phiên âm tiếng Tây nên vẫn có tiếng cà. Tuy nhiên khi nói đến cà phê thì lại đúng là một loại trái cây nhưng không phải dùng để ăn mà chỉ dùng để lấy hột đem rang cho cháy đen ngòm lên rồi xay nhỏ để chế nước sôi vào tạo thành một loại nước uống có màu đen sẫm và vị thì đắng đắng nhưng lại có mùi hương thơm rất quyến rũ, và khi uống vào thì thấy tinh thần như sảng khoái ra. Món này cũng được các ông Tây bà đầm du nhập vào xứ ta vào thời nước ta bị Phú Lãng Sa đô hộ, tuy nhiên sau đó dân ta cũng rất đông người đâm ra ghiền cái món cà phê này đến nỗi có nhiều người sáng dậy mở mắt ra mà không có ly cà phê để nhâm nhi là không chịu được. Không những thế, hai tiếng cà phê còn được biến hóa thành cụm từ “cà phê cà pháo”, một thứ thành ngữ được dùng để chỉ một phương thức xã giao trong đời sống xã hội. Bạn bè gặp nhau vẫn hay có thói quen rủ nhau đi uống cà phê để tâm sự. Dân mánh mung hay người muốn cầu cạnh người khác một điều gì đó thì phải biết lo hối lộ, nhưng lại được nói khéo ra là lo cà phê cà pháo cho kẻ mình muốn nhờ vả thì mới mong đạt được mục đích.

Ngoài những món cà được xem là thực phẩm cho người kể trên, còn có một loại cà gọi là cà dược hay có khi còn gọi là cà độc dược là loại cà dại mọc hoang, cũng có quả nhưng nếu ăn vào thì coi như là đi đoong luôn, tuy nhiên đôi khi lại được người ta dùng để chế biến thành một vài vị thuốc đặc biệt “dĩ độc trị độc” theo kiểu Đông y, không kể cái mục đích dùng làm thuốc độc thật sự.

Mặc dù khi nói đến cà được dùng làm thực phẩm thì các loại cà như cà tím, cà dĩa thường được đánh giá cao hơn vì có thể chế biến thành nhiều món ăn khoái khẩu như đem xào với thịt ba rọi, nướng chín thoa mỡ hành, nấu với da heo thành món cà bung chẳng hạn, nhưng ăn theo kiểu này thường đòi hỏi khi nấu nướng phải kèm theo vài món phụ hay gia vị hành mỡ hơi tốn kém cho nên phải là những gia đình khá giả một tí thì mới hay ăn theo kiểu đó. Chỉ riêng có món cà pháo là bình dân nhất do cách ăn cũng rất đơn giản và cách chế biến cũng dễ dàng không tốn kém vì người ta có thể dùng nó để ăn sống chấm với tí mắm tôm hoặc thông dụng nhất là đem phơi cho héo rồi bỏ vào nước muối ngâm như kiểu muối dưa cải một thời gian cho cà trở thành chua chua mặn mặn để dành làm món mặn đưa cơm được rồi.

Chính vì vậy mà khi nhắc đến cà thì hầu như người dân Việt nào từng sinh ra và lớn lên ở mảnh đất quê hương tự hào có bốn ngàn năm văn hiến nhưng vẫn quanh quẩn với cái nghèo tất nhiên sẽ nghĩ ngay đến món cà pháo trước tiên, vì nhà nghèo thì thường bữa cơm không mấy khi có thịt cá mà chỉ có món cà pháo muối dưa làm chuẩn. Riêng trong Nam thì nhờ ruộng đồng sông rạch lắm cá nhiều tôm nên người bình dân vẫn có thể sang hơn một tí, vì người ta còn có thể đem cà muối chung với mắm cá thành món mắm gọi là mắm cà để dùng.

Cũng vì cà là món ăn rẻ tiền thông dụng cho nên xưa kia nhiều người tá điền được chủ nuôi cơm mà gặp phải chủ mang trong người dòng máu hà tiện cỡ trùm Sò lại tham công tiếc việc, chỉ muốn cho người làm thật được việc cho mình mà cho ăn cơm thì chẳng có gì khiến cho người làm công nhiều lúc quá bất mãn phải thốt lên:

Làm cho lắm cũng ăn mắm với cà.
Làm thấy bà cũng ăn cà với mắm

Vì cà là một loại cây cho thực phẩm được người ta trồng cho nên công việc trồng cà cũng có thời vụ. Ca dao có câu nói về thời điểm để trồng cà như sau:

Tháng giêng là tháng ăn chơi
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà…

Không những cà được trồng có thời vụ mà cái mảnh vườn cà đôi khi còn là bối cảnh cho những cuộc tình nên thơ của những đôi trai gái miền quê như ca dao từng có một bài miêu tả một mối tình lỡ làng, với lời lẽ tuy có đượm màu trách móc nhưng cũng lại rất nhẹ nhàng cảm động thấm thía, khởi đầu bằng mấy câu:

Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân…

Trong một bài ca dao khác, cà cũng được nhắc đến một cách khá ngộ nghĩnh hơn:

Thân anh làm rể Chương đài
Một đêm ăn hết mười hai vại cà
Giếng đâu thì dắc anh ra
Kẻo mà anh chết với cà đêm nay!

Thật ra thì khi đọc bài ca dao này tôi không hiểu cái anh chàng này làm rể kiểu nào mà một đêm lại ăn hết mười hai vại cà. Thường thì một vại cà có cả hàng ngàn quả và cà muối thì chỉ ăn độ chục quả là đủ cảm thấy mặn cả cổ và khát nước khô cả họng rồi mà anh chàng này xơi luôn một hơi mười hai vại thì tôi không tài nào hiểu nổi.

Không những ca dao nhắc đến cà mà ngay cả trong văn chương văn học cũng có nhiều câu chuyện hay giai thoại có liên quan đến cà. Trước đây thi sĩ Tản Đà vốn thích ăn và sành ăn nhưng chẳng may lại trót sinh ra làm một nhà thơ ở cái xứ mà “văn chương hạ giới rẻ như bèo” cho nên đồng tiền nhuận bút không cho phép thi sĩ mua những món ăn như thịt cá, do đó mà bữa cơm hàng ngày của nhà thơ cũng chỉ đạm bạc với mấy món đắp đổi như dưa chua, cà muối mà thôi. Ngày xuân, thấy thiên hạ trẩy hội chùa Hương, một nơi thắng cảnh lại còn nổi tiếng về món rau sắng ngon mà thi sĩ thì rỗng túi chỉ biết nằm khoèo ở nhà làm thơ, bèn phóng bút hạ luôn mấy câu:

Muốn ăn rau sắng chùa Hương
Đồng tiền ngại tốn, con đường ngại xa
Không đi đành ở lại nhà
Cái dưa thì khú cái cà thì thâm.

Sau khi Tản Đà cho đăng bài thơ này lên báo thì có một bậc nữ lưu độc giả bỗng nhiên đâm ra thương cảm cho hoàn cảnh của thi sĩ bèn tự mình đi viếng chùa Hương rồi mua rau sắng về và đem gửi biếu cho thi sĩ kèm theo bài thơ họa như sau:

Này đây rau sắng chùa Hương
Đồng tiền khỏi tốn, con đường khỏi xa
Không đi, xin gửi lại nhà
Thay cho dưa khú, với là cà thâm.

Không biết nhà thơ cảm kích tấm lòng từ hậu của người nữ độc giả này như thế nào nhưng bài thơ họa đó đã được nhà thơ đưa lên báo, nhờ thế mà văn học có thêm được một giai thoại về ăn của nhà thơ sành ăn này.

Truyện Lưu Bình Dương Lễ cũng nhắc đến cà. Lưu Bình và Dương Lễ vốn là đôi bạn đồng môn rất thân nhau từ thủa nhỏ. Dương Lễ nhà nghèo nên vẫn thường được Lưu Bình giúp đỡ, nhờ thế mà Dương Lễ mới có thể tiếp tục dùi mài kinh sử cho đến khi thi đỗ và được ra làm quan giàu sang danh vọng.

Lưu Bình vốn nhà giàu nên không mấy chuyên tâm vào việc học hành nên thi rớt rồi lại xoay ra ăn chơi cờ bạc phung phí chẳng mấy chốc gia sản của cha mẹ để lại khánh kiệt. Nhớ lại người bạn nghèo thân thiết ngày xưa mà nay đã trở thành giàu sang phú qúy, Lưu Bình bèn tìm đến để mong có chỗ nương thân.

Dương Lễ biết bạn mình vì ham ăn chơi không chịu học hành nên nghĩ rằng nếu mình cưu mang bạn theo kiểu thường tình thì không bao giờ giúp bạn tiến thân được bèn nghĩ ra cái kế làm bộ không thèm tiếp, lại còn sai lính dọn bố thí cho Lưu Bình chén cơm hẩm với quả cà thâm. Lưu Bình hận lắm bèn bỏ đi.

Sau đó Dương Lễ mới cho gọi người vợ thứ ba của mình là Châu Long lên giải bày mối ưu tư của mình với người bạn cũ và muốn nhờ Châu Long thay mình trực tiếp đứng ra săn sóc cho Lưu Bình để giúp cho anh ta có cơ hội làm lại cuộc đời. Châu Long nhận lời nên Dương Lễ bèn giao tiền nong cho Châu Long đi tìm Lưu Bình đem về nuôi, khuyên giải và khuyến khích cho Lưu Bình học hành.

Lưu Bình từ khi giận Dương Lễ vô ân bạc nghĩa đối với mình thì cũng mong có cơ hội rửa cái mối hận này cho nên khi gặp được Châu Long tự nguyện đứng ra chăm sóc bảo bọc mình thì cũng thay đổi lối sống, chuyên tâm học hành cho nên đến kỳ vua lại mở khoa thi thì Lưu bình cũng ứng thí và đã thi đỗ. Lưu Bình vinh qui trở về, lòng tràn ngập hân hoan mong gặp Châu Long để cùng nàng xe duyên vợ chồng. Thế nhưng khi về đến nhà thì chẳng thấy bóng dáng Châu Long đâu nữa cả.

Sau đó Lưu Bình được bổ ra làm quan. Nhớ mối hận năm xưa, Lưu Bình tìm đến thăm Dương Lễ mong rửa hận nhưng khi vừa đến nơi thì Dương Lễ đã vội cho gọi Châu Long ra chào hỏi rồi kể rõ ngọn ngành cho Lưu Bình biết, nhờ thế mà Lưu Bình mới hiểu tấm lòng tốt của Dương Lễ. Thì ra nhờ Dương Lễ khôn khéo biết dùng quả cà thâm như một hình thức sỉ nhục để đánh thức lòng tự ái của Lưu Bình mà cuộc đời Lưu Bình đã chuyển hóa sáng sủa trở lại.

Tuy cà pháo không phải là món ngon vật lạ và xét về mặt giá trị dinh dưỡng thì cà pháo còn có nhiều độc tính nữa vì ăn cà thường gây nhức mình, da dẻ đâm ra sần sùi ngứa ngáy v.v… Tục ngữ cũng có câu: “Một quả cà là ba thang thuốc” không phải một quả cà bổ bằng ba thang thuốc mà người đang bệnh hay yêu yếu trong người mà ăn cà vào thì thế nào bệnh cũng nặng thêm. Thế nhưng cà pháo cũng có đặc tính làm cho người ăn quen có thể trở thành ghiền. Ca dao có câu:

Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương.

Vào cái thời mà dân ta dù có đi đâu đi nữa thì cũng chỉ giới hạn trong cái mảnh đất từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu thì câu ca dao trên có lẽ cũng chỉ để nói lên cái lòng quyến luyến hương vị quê hương nghèo khổ của những người dân quê bỏ xóm làng quen thuộc để đến một địa phương khác tìm kế sinh nhai. Tuy nhiên từ khi có cuộc “cách mạng giải phóng dân tộc” giúp cho người dân Việt một cơ hội từ bỏ cái đầu óc bám víu lấy mảnh đất quê nghèo đầy ải để tung mình đi xa khắp bốn bể năm châu thì người ta mới càng hiểu thấm thía cái tình quê hương thắm thiết trong câu ca dao ấy.

Có rất nhiều người qua xứ người sinh sống, được ăn các món ngon vật lạ đầy bổ dưỡng kiểu Tây Tàu mãi cũng đâm chán nên lâu lâu lại thèm món cà pháo. Chính vì thế mà người ở quê nhà mới chế ra cái món cà pháo đóng lọ xuất khẩu. Dĩ nhiên Tây Tàu Mỹ Mễ chả ai đụng đến cái món cà muối này bao giờ, nhưng đám dân Việt lưu lạc xứ người khi bất chợt thấy giữa hàng đống thực phẩm đóng hộp mang đủ thứ nhãn hiệu quốc tế chen chúc nhau trên kệ hàng siêu thị có cả bóng dáng lọ cà muối xen vào là mắt mũi sáng lên, cứ như thể là đã tìm thấy cả bầu trời quê hương nằm gọn trong cái lọ cỏn con ấy.

Không biết có phải từ nguyên thủy tiếng cà được dùng để gọi loài cây quả không mấy giá trị cho nên khi tiếng cà được ghép vào với những tiếng khác để tạo thành những cụm từ nhằm diễn tả cách thế, hình thái, đặc tính của sự vật và con người, thì hình như tiếng gì kết hợp với tiếng cà cũng chỉ nhằm diễn tả cái mặt xấu, dở, yếu kém, hay có nhiều khiếm khuyết của một sự vật chứ không có tiếng cà nào nhằm diễn tả sự hay ho, sung mãn hoặc tốt đẹp cả.

Khi đánh giá sự vật hay con người thì loại dở dở ương ương được người ta gọi là loại “cà mèng” hay còn gọi là “cà là mèng”. Người có vẻ như mất thần, không tập trung tư tưởng thì được gọi là “cà lơ”. Chân bị đau khiến cho đi đứng cứ khập khiểng thì gọi là “cà nhắc”. Chân mà bị cà nhắc có khi còn được gọi là “cà thọt” hay là “xi cà que”.

Người nghèo ăn uống thiếu dinh dưỡng thì thân thể thường ốm “cà tong cà teo”, hình dáng trông cứ như là que củi “cà khẳng cà kheo”. Do cái bệnh ốm đói kinh niên cho nên đi đứng làm việc lúc nào cũng có vẻ uể oải theo kiểu “cà rịch cà tang”, và thường thích “kề rề cà rà” chứ không xông xáo. Đường sá quê nghèo thì lồi lõm ổ gà, lỗ chân trâu, khiến cho xe chạy không lăn bánh êm ả như trên xa lộ mà hay bị dồi xóc nên gọi là “cà tưng”. Những người đi đứng không chững chạc mà lúc đi lúc nhảy như con dê non thì gọi là “cà tửng”.

Còn nhỏ mà không được đi học thì chỉ thích chạy “cà nhỏng” ngoài đường. Người lớn mà vô công rồi nghề không biết làm gì thì thường hay “la cà” chỗ này chỗ nọ. Gặp nhau chuyện gẫu hoài nhiều khi không còn biết chuyện gì để nói đành phải nói theo kiểu “cà kê dê ngỗng”. Do cái tật cà kê dê ngỗng mà sinh ra tật nói “cà rởn” tức là nói chơi nói dỡn cho vui. Tuy nhiên đôi lúc vui quá cũng dễ sinh ra mất lòng gây bất hòa nên đâm ra “cà khịa”, có nghĩa là nói thọc ngang, nói xóc hông người khác. Nếu tự ái của người nào đó bị xúc phạm quá nặng thì người đó có thể lên cơn giận đột xuất làm cho hệ thống thần kinh không còn làm chủ được cái lưỡi phát âm khiến cho nói không nên lời, mà cứ lắp ba lắp bắp vấp váp thành ra “cà lăm”. Đúng ra thì cà lăm chính là tên gọi của một khuyết tật về nói bẩm sinh nơi một vài người mà khi sinh ra đã được trời ban cho họ một bộ máy phát âm không hoàn chỉnh, còn người bình thường thì chỉ cà lăm tạm thời rồi hết một khi cơn tức khí xung thiên đã qua đi.

Mặc dầu đã có nhiều tiếng được ghép với tiếng cà để diễn tả cái dở cái yếu kém nơi sự vật hay con người như đã nói trên, nhưng còn một tiếng nữa đáng nói đến nhất là tiếng “cà chớn”. Thật ra thì tôi cũng không biết định nghĩa tiếng cà chớn này như thế nào vì tôi không có khả năng làm tự điển, nhưng thường thì tiếng này được dùng để nói về người và cứ xem trong mối tương quan xã hội của mọi người đối với nhau thì người bị cho là cà chớn là người hay có những thái độ bốc đồng, những cách hành xử như ưa thọc gậy bánh xe hay phá thối những công việc chung, ăn nói thì lời lẽ tiền hậu bất nhất v.v…

Anh nào mà xây mộng ước với một cô nàng cà chớn là có ngày bị leo cây. Một ông chồng hiền lành mà rước được một bà vợ cà chớn là coi như cuộc đời và sự nghiệp cũng tiêu tùng. Bà vợ nào mà lấy phải một ông chồng cà chớn là chỉ ôm hận. Làm ăn với người cà chớn có ngày vỡ nợ. Kết bạn với người cà chớn có ngày mang họa vào thân hoặc bị bán đứng. Đất nước mà được lãnh đạo bởi các chính khách cà chớn thì dân chúng chỉ có nước bị gậy ăn mày.

Tôi cũng không biết cái tiếng cà chớn này bắt nguồn từ thời nào nhưng trước đây tiếng cà chớn có lẽ chỉ mới thông dụng ở miền Nam chứ người miền Bắc hình như không biết. Chính vì thế mà khi quân Bắc Việt mới vào chiếm Sài Gòn sau khi chế độ miền Nam sụp đổ, người ta mới bắt đầu truyền tụng cho nhau câu chuyện vui như sau:

Một hôm có một anh công nhân Sài Gòn ngồi nhâm nhi ly cà phê buổi sáng ở quán cóc thấy anh bộ đội Bắc Việt lảng vảng gần đó bèn mời uống cà phê và nói chuyện. Anh bộ đội miền Bắc vì đã học tập thấm nhuần chủ trương chính sách của Đảng nên không bỏ lỡ cơ hội nào để làm công tác tuyên truyền đề cao xã hội miền Bắc. Còn anh công nhân miền Nam thì bao lâu nay bị “Mỹ Ngụy đầu độc” về đời sống khốn khổ của nhân dân miền Bắc nên nay có cơ hội gặp người anh em của xã hội chủ nghĩa miền Bắc bằng xương bằng thịt thì cũng muốn tìm hiểu thêm cho rõ trắng đen. Câu chuyện bắt đầu bằng câu hỏi của anh công nhân miền Nam về cà phê miền Bắc hương vị ra sao rồi bắt qua hỏi thăm về các loại cà này cà nọ. Bất cứ nói đến thứ cà gì cũng được anh bộ đội trả lời là miền Bắc có nhiều hơn, to hơn, ngon hơn hoặc tốt hơn trong Nam. Khi hỏi đến “cà rem” thì anh bộ đội vì muốn chứng minh sự giàu mạnh của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa miền Bắc nên không ngần ngại khoe ngay là cà rem thì không những ăn không hết còn được phơi khô để xuất khẩu nữa.

Nghe đến đây anh công nhân Sài Gòn hiểu ngay là anh bộ đội này đúng là thứ cà chớn bèn bồi luôn một câu hỏi nữa là ở miền Bắc có cà chớn không? Anh chàng bộ đội ngố từ lúc sinh ra có lẽ cũng chỉ được nếm có mỗi một món cà pháo, vừa lớn lên thì lại được Đảng dạy cho ăn uống phải theo chế độ tiêu chuẩn tính theo “cà ram” cho từng đầu người của chế độ cọng sản ưu việt, sau đó thì bị lùa đi cầm súng làm “nghĩa vụ giải phóng miền Nam”, bao nhiêu năm chỉ biết lặn lội trong rừng sâu hoặc là nằm dưới hầm để tránh đạn “cà nông” cho nên giỏi lắm cũng chỉ mới học thêm được tiếng “cà mèn” là món vật dụng bằng kim khí dùng đựng cơm của lính nên nay về thành phố, được nếm mùi cà phê sao mà thơm ngon quá cho nên tuy chẳng biết cà chớn là cái gì nhưng đinh ninh cà chớn chắc phải là một món gì đó cao quý lắm nên không ngần ngại đáp luôn là cái gì chứ cái thứ cà chớn thì ê hề, ở miền Bắc đâu đâu cũng có.

Tuy câu nói của anh chàng bộ đội miền Bắc chỉ là phản ảnh sự ngây ngô kém hiểu biết của một kẻ phải sống dưới một chế độ quen bưng bít, nhưng vô tình đó cũng là một câu nói phơi bày ra cái hiện thực bi đát của bất cứ xã hội nào mà con người chỉ sống quanh quẩn với ngu dốt đói nghèo nhưng lại hay khoe mẽ.

Không biết có phải những hiện tượng cà chớn đó đều có chung một căn nguyên do độc tố của cà gây ra vì ăn cà rồi dần dà biến thành một căn bệnh có khả năng di truyền hay không, vì nhìn kỹ thì hầu như cái bệnh cà chớn này không phải chỉ thấy xuất hiện nơi người dân Việt sinh sống ở trong nước mà ngay cả trong số người dân Việt đã bỏ xứ ra sinh sống ở đất nước người, ăn những loại thực phẩm bổ dưỡng tinh khiết hơn, vẫn có nhiều người còn mang căn bệnh cà chớn mạn tính trong người. Không tin thì cứ nhìn vào các cộng đồng của người Việt ở hải ngoại sẽ thấy không thiếu gì những hiện tượng cà chớn vẫn xảy ra trong các hội đoàn từ hội ái hữu nhỏ địa phương cho tới tổ chức chính trị, kinh tế to lớn, khiến cho người dân Việt chưa bao giờ thật sự xây dựng cho mình thành một khối hùng mạnh. Không nhưng thế, trong những khuôn mặt từng đại diện cho những kẻ từng sợ ăn cà pháo, từng cho rằng mình không có mang độc tính cà pháo trong giòng máu, từng hùng hổ tuyên bố chống tới cùng những kẻ chủ trương nuôi dân bằng cà pháo, nay bỗng nhiên lại đâm ra có kẻ nhớ cà, thèm cà theo kiểu rất cà chớn là “Ăn cơm nhà nọ kháo cà nhà kia” để rồi ca bài “cà pháo muôn năm” làm cho nhiều người nghe xong đều chưng hửng.

Ôi! Không biết đến bao giờ dân ta mới trừ khử được cái nọc độc cà chớn này trong giòng máu để cho dân ta trở thành những con người lành mạnh hầu có sức tranh đua với thế giới năm châu và làm rạng rỡ con Rồng cháu Tiên?

ĐOÀN VĂN KHANH
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#22 Posted : Wednesday, December 10, 2014 6:31:15 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Dân chơi... nên nghiệp... Đế


Đoàn Xuân Thu


Thưa quý độc giả thân mến!

Lỡ thua bài mà nghe chú em Trường Vũ, người Triều Châu đến từ… Vĩnh Châu (nên nói tiếng Việt ‘hà cái lầy hơi lơ lớ!’) rền rĩ mà ai lỡ thua bài thì muốn nhảy cầu... tự vận cho rồi.

“Giờ ta chẳng còn chi/ Mãi trắng tay mà thôi/ Đời bạc gian lắm phũ phàng/ Tiền có kiếm như nước rồi cũng sẽ trôi hết/ Tay không trắng tay lại vẹn không/ Đời phiêu lưu là thế/ Không biết đến ngày mai/ Nên giờ đây mới đắng cay/ Ngồi trước tấm gương sáng rọi vào đó mới thấy/ Thân xác hoang tàn không nhận ra/ Ta mang bao tội lỗi nên thân ta giờ đây/ Kiếp sống không nhà không người thân/ Ta mang bao tội lỗi/ Người ơi ta đâu còn chi/ Xin hãy tránh xa kiếp đỏ đen...”

Chú em ‘tha thiết’ khuyên ‘qua’ như vậy, hổng có gì mới vì hồi xưa ông bà mình cũng có dạy rằng: “Cờ bạc là bác thằng bần. Cửa nhà bán hết tra chân vào cùm!” Cờ bạc sản sinh ra tội phạm. Cái đó y như kinh... khỏi cãi!

Thưa quý độc giả thân mến!

Đánh bạc sao nghe nói toàn là thua tới thua. Vậy ai ăn? Tiền mấy con bạc đó thua... nó chạy đi đâu?

Dà! Nó chạy vô túi mấy ông sở Thuế. Chạy vô túi mấy em hồ lì xóc dĩa hay ỏng ẹo đứng chia bài gọi là tiền lương. Tất nhiên, khẳm lừ đừ nhứt, là chạy vô túi mấy ‘trự’ làm chủ sòng bài chớ chạy đi đâu?

Do đó nếu là tay chơi, là con bạc…thua là phải! Xưa giờ cũng vậy! Tuy nhiên, và cũng ngạc nhiên thay... có tay thua bài mà làm nên nghiệp... Đế! Đó là anh em Nhà Tây Sơn: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ.

Theo mấy ông quan chép Sử nhà Nguyễn đặt điều nói xấu ‘Ngụy triều’ Tây Sơn là: Nguyễn Nhạc làm Biện Lại (chuyên đi thâu thuế) ở tuần Vân Đồn. Lấy tiền thuế của dân đóng thay vì nộp cho quan trên, quan huyện, quan phủ ông đi đánh bài thua hết ráo; bèn trốn vào Tây Sơn làm trộm cướp! Những tên vô lại và người nghèo đói phần nhiều phụ theo, vì thế thủ hạ có đến vài ngàn người!

Trung tuần tháng 9 năm 1773, Nguyễn Nhạc đánh thành Quy Nhơn, thừa thắng chiếm toàn bộ vùng Quảng Nam. Năm 1778, Nguyễn Nhạc cho xây thành Chà Bàn, lên ngôi Hoàng Đế, lấy hiệu là Thái Đức. (Nhãn hiệu trà ‘Thái Đức’ chắc từ đấy mà ra chăng?!)

Đây chắc là trường hợp độc nhứt vô nhị; tự cổ chí kim không giống ai và cũng không ai giống. Đánh bài thua... xong làm Hoàng Đế! Tui e rằng mấy ông quan chép Sử triều Nguyễn nầy cam tâm làm bồi bút, đặt chuyện để làm vui lòng Thánh Thượng! Vì Nguyễn Ánh đã từng bị ba anh em nhà Tây Sơn: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ đánh cho nhiều trận xất bất xang bang, chạy vòng vòng miền Nam; có lần phải dông tuốt ra ngoài đảo Phú Quốc mới thoát được! Giận quá sai tụi bây đặt điều, đặt chuyện nói xấu tụi nó cho Trẫm nghe không!

Còn chuyện bên Mỹ thì vầy: Ông Frederick W. Smith xuất 4 triệu đô tiền của gia đình cho (tương đương 23 triệu bây giờ) và huy động thêm được 91 triệu đô (tương đương 525 triệu đô bây giờ) để sáng lập ra Công ty Federal Express vào ngày 18 Tháng Sáu năm 1971. Công ty sau đổi tên là FedEx chuyên giao hàng, chuyển phát nhanh qua đêm, nghĩa là gởi hôm nay, sáng mai khách hàng sẽ nhận được dù tận nơi chân trời góc bể hay thâm sơn cùng cốc nào! Trên thế giới lúc đó chưa có ai làm như thế cả.

Xui xẻo thay, 3 năm sau, giá dầu tăng rất nhanh... công ty chuyển hàng bằng máy bay nầy trên bờ vực phá sản! Thương vụ trong 26 tháng đầu tiên lỗ 29 triệu đô! Không một ai dám cho công ty vay nợ thêm; những nhà đầu tư thì không ai muốn góp thêm vốn liếng. Công ty đang lỗ sặc gạch! Bộ ‘khùng’ mới cắm đầu nhảy vô!

Công ty chỉ còn được có 5000 đô không đủ tiền mua dầu cho ngày Thứ Hai tuần tới. Thay vì về gia đình ở Memphis, Smith đã mang 5000 đô cuối cùng nầy bay sang Las Vegas và chơi Blackjack vào cuối tuần đó… May mắn thay, ổng đánh bài ăn, tới Thứ Hai trong tài khoản nhà băng của công ty lên được 32 ngàn (nghĩa là ông ăn được 27 ngàn đô) đủ đổ dầu cho máy bay của công ty vài ngày nữa... để ông có thời giờ đi huy động thêm vốn liếng! Huy động đầu trên xóm dưới thêm được 11 triệu đô; ráng cầm cự qua cơn thắt ngặt... và cuối cùng công ty sống sót tới bình minh!

Mãi tới năm 1976, công ty mới bắt đầu có lãi được 3.6 triệu đô. Bốn năm sau lên gần 40 triệu mỗi năm với thu nhập gần nửa tỉ Mỹ kim.

Ngày nay, FedEx trị giá từ 25 tới 35 tỉ. Và tài sản của ông Smith khoảng 3.5 tỉ đô. Vừa là Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc Điều hành, lương 13.7 triệu đô một năm.

Tháng Ba năm 2014, tạp chí Fortune xếp hạng ông đứng thứ 26 trong bảng phong thần 50 nhà lãnh đạo tài ba nhứt của thế giới!

Khi báo chí hỏi ông nghĩ gì khi đem số tiền 5 ngàn cuối cùng của công ty đi tìm may rủi trên chiếu bạc như thế? Ông trả lời rằng: “Có gì khác nhau đâu? 5 ngàn không đủ mua dầu thì hết bay. Nếu đánh bạc lỡ thua hết 5 ngàn thì cũng chết!”

Ngày nay, FedEx là công ty vận chuyển hàng không lớn thứ nhì trên thế giới, làm chủ 697 máy bay và đang đặt mua thêm 49 chiếc nữa. Mỗi ngày chuyển phát 10.2 triệu kiện hàng qua lại trên 220 nước. Năm 2013, công ty lời một số tiền kỷ lục là 1.6 tỉ đô Mỹ.

Từng là một Cử nhân kinh tế tốt nghiệp đại học Yale. Rồi tham chiến tại Việt Nam hai lần trong 3 năm, xuất ngũ với cấp bậc Đại úy Thủy Quân Lục Chiến Mỹ với một rổ huy chương, được Tổng thống George W Bush năn nỉ mời làm Bộ trưởng Quốc phòng hai lần... ông đều từ chối khéo! Vậy mới ngon chớ!

Ngộ cái là: Ý tưởng thành lập công ty chuyển phát nhanh nầy, trong một bài luận văn của Smith ở một lớp học về kinh tế được các Giáo sư trường đại học Yale cho điểm C, nghĩa là rất tệ! Frederick W. Smith và Bill Gates gặp nhau ở chỗ học Thầy nhưng suy nghĩ khác Thầy... Đôi khi lại hóa hay?!

Như vậy từ một tay cờ bạc cả hai đều làm nên nghiệp Đế...

Nguyễn Nhạc, nhân viên sở Thuế, biển thủ tiền thuế đánh bài thua... sau làm Hoàng đế ‘Thái Đức’! Còn Smith lại đánh bài ăn... cũng trở thành Đế...làm chủ một đế chế chuyển phát nhanh bằng máy bay. Bây giờ việc mua bán trên mạng, trên eBay nở rộ! Ở Úc, người ta đặt mua iPhone 6 ở tận Huê Kỳ; hôm sau đã thấy nó nằm chình ình trước cửa. Rồi giao bánh pizza, giao sách bằng máy bay không người lái, (nhỏ như đồ chơi), mà trên đài truyền hình trình chiếu biểu diễn cho công chúng xem. Nội nhiêu đó cơ hội làm ăn thôi đã thấy công ty FedEx của ông Smith sẽ có một chân trời xán lạn. Tiền vô như nước!

Ngày nào đó chắc người viết cũng sẽ phải nhờ tới cái dịch vụ chuyển phát nhanh nầy.

“Hãy chuyển phát ngay cho em yêu của người viết ở Sydney cách Melbourne gần ngàn dặm, em ở số 35 đường Broken Heart, Bankstown, người đã đá đít tui một cái quá đau! Kiện hàng cho em yêu, nhỏ thôi, trong đó có chứa trái tim vừa tan vỡ của tui. Tính bao nhiêu thì tính mà!”

(Đánh bạc bằng tiền lỡ thua; còn hy vọng có ngày gỡ lại! Còn đánh bạc bằng trái tim mình, đem ra đặt cược với tình em, thua là đừng có mong mà gỡ! Thấy ‘tui’ vẫn còn ăn, còn nhậu, còn nói dóc… chứ thực ra xa em; ‘tui’ đã chết nhăn răng rồi! Hu hu!)
Thưa quý độc giả thân mến!

Chuyện ‘dân chơi… nên nghiệp Đế nầy’... Thiệt nghe chơi rồi bỏ chớ hổng có ai tin đâu! Chắc mấy ông chủ sòng bài nhờ nhà báo quảng cáo dùm em; em cám ơn ($$$) vậy mà!

Nó cũng giông giống như chuyện nầy: “Bob vác tiền cuối tuần đi Las Vegas đánh bạc. Xui xẻo quá, Bob thua hết 30 ngàn đô. Thua sạch túi không còn một cắc, lại mắc ‘xì trum’; đành phải hỏi xin một đô tiền cắc từ thằng cha lạ hoắc để mở cửa ‘toilet’ mà xả bầu tâm sự.

May mắn thay, vừa lúc đó có một ‘trự’ từ trong đi ra mà quên không đóng cửa; Bob không phải xài một đô cuối cùng nầy, bèn dùng nó bỏ vào máy kéo. Máy chạy ‘o o o’! Rồi ‘ò í o’! Màn hình hiện ra một hàng 5 cái ‘Búa’; Bob trúng độc đắc ‘jackpot’ được 500 đô.
Mang 500 đô, Bob chơi bài blackjack. Cuối cùng Bob thắng tổng cộng được 10 triệu đô!

Chuyện nầy vô tiền khoáng hậu... Mấy sòng bài ký hợp đồng để Bob, làm diễn giả đi nói chuyện may mắn của mình cho quý con bạc nó nghe... để nó hăng… mà thua tiếp!

Một hôm với cử tọa, Bob tâm sự rằng: “Từ đêm may mắn đó; tui không hề ngừng nghỉ việc kiếm tìm ân nhân đã làm thay đổi cả cuộc đời tui. Nếu tìm được! Tui sẽ chia phân nửa tài sản tui hiện có để tỏ lòng biết ơn vô hạn!” Thì có một ông từ trong hàng ghế khán giả nhảy lên sân khấu, cầm micro nói: “Tui đây! Chính tui là người đã cho anh đồng một đô đêm đó!”

Nghe vậy; Bob từ tốn trả lời rằng: “Tui không có ý định kiếm ông đâu! Tui chỉ tính kiếm cái ‘thằng cha’ nào, xài xong rồi mà quên đóng cửa ‘toilet’ đêm hôm đó!”

Thưa quý độc giả thân mến!

Bao giờ trong lòng người viết cũng tin chắc như bắp một điều là dính vô cờ bạc sẽ không còn cái quần mà mặc, như Tía Má người viết, em yêu của người viết đã từng dạy dỗ và khuyên bảo! Nó cũng y hịt như là câu chuyện dưới đây:

“Anh bạn của người viết lấy vợ Tây. Em là Tây; nên sống cũng như Tây! Sau một tuần ngất ngư lao động, Thứ Sáu em thường ‘chơi’ suốt đêm! Em đến nhà mấy đứa làm chung sở để nhậu nhẹt và đánh bài. Anh lại là người nho nhã, thích nằm nhà để đọc chữ Nho!
Dù tánh cách hai người khác nhau như trời với vực, như nước với lửa, như trắng với đen; nhưng tôn trọng tự do riêng tư của nhau nên vợ chồng ít khi gấu ó; đánh lộn thì cũng đôi khi, sặc máu mũi hay bầm con mắt tím... nhưng chưa bao giờ phải dắt nhau lôi thôi ra cò bót!

Một tối Thứ Sáu, sòng bài vãn, trời quá nửa khuya. Em về nhà, rón rén thay quần áo trong phòng khách, trần truồng như nhộng, nhón gót lên phòng ngủ của đôi ta! Chắc em nghĩ bỏ chàng đi cả đêm cũng tội nghiệp nên tính cho chàng bù lỗ?!

Em mở cửa phòng ngủ; ai dè anh vẫn còn thức. Nghe tiếng động, anh bỏ sách xuống, kéo mắt kiếng lên, nhìn ra thấy em trần truồng như nhộng; bèn la lên rằng: “Trời ơi Trời! Tối nay thua sạch bách hết rồi phải không?”


UserPostedImage
Bảo Huân
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#23 Posted : Wednesday, December 10, 2014 6:34:14 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Cống Hồ!

Tác Giả Đoàn Xuân Thu


Thưa quý độc giả thân mến!

Xưa giờ Việt Nam chúng ta là một nước nhỏ, nằm kế bên một anh chàng khổng lồ về đất đai và dân số. Lớn và láo! Rảnh, không có nội loạn, là dòm ngó lân bang, xua quân đi cướp bóc! Có thằng hàng xóm ‘cà chớn’ như vầy thiệt cũng khổ!

Chính sử Việt Nam cho thấy từ thời lập quốc tới giờ, triều đình phong kiến Việt Nam thường tìm cách né tránh cuộc chiến tranh với triều đình phong kiến Trung Quốc phương Bắc (vì quánh nhau với nó thì ‘hươu le lưỡi; chó cũng dạt móng!’). Thôi thì hối lộ cho nó chút chút, nói văn hoa là triều cống để cho nó câm cái mõm nó lại! (Còn né không được, bị chèn ép quá, không quánh không được thì buộc lòng cho nó vài chưởng để cho nó thấy 7, 8 ông Trời! Ông đã nhịn mà mầy cứ lấn nha!) Quánh nó xong… lại triều cống! Mỗi lần lên ngôi là phải đem lễ vật đến ‘cống’ Thiên tử để được sắc phong là An nam Quốc vương. (Cấm xưng Đế nha! Hoàng Đế là chỉ riêng mình Trẫm được tự xưng thôi!)

Nghe chính sử Ba Tàu nổ ‘bùm bùm’ như vậy! Ai cũng rét nhưng thực ra Thiên tử Ba Tàu đôi khi cũng chết nhát, cũng phải hạ mình mà đi ‘cống’ rợ Hung Nô, sợ mới ‘cống’ chớ…Kẻo không, nó quạu nó quánh cho Má mầy nhìn cũng hổng ra luôn! (Tháng chín Hung Nô giết biên tướng/Quân Hán tiêu tan dưới Liêu Hà/ Xương phơi muôn dặm không người nhặt /Trăm họ đầu thành cất đám ma…)

Chuyện rằng: Vương Chiêu Quân là một người con gái tài sắc vẹn toàn, cầm kỳ thi họa. Biết đàn tỳ bà, biết làm thơ phú. Bị tiến cung, làm cung nữ thời Hán Nguyên Đế (năm 49-33, trước Công Nguyên).

Rợ Hung Nô phương Bắc thời đó hùng mạnh, Vua là Thiền Vu Hô Tàn Tà đích thân đến kinh đô Tràng An ngoài mặt là thần phục nhà Hán, (nhưng trong bụng chưa biết ai ngán ai?!) muốn Hán Đế gả một công chúa nào đó cho, để mình được làm con rể. Thằng con rể nầy coi bộ đầu gấu quá! Nó muốn vợ, Hán Đế chê nó man di mọi rợ, không gả là không xong! Rét quá, Hán Đế đành bấm bụng, nuốt nhục làm theo (nhưng len lén chơi đểu) thay vì gả một công chúa, thì Thiên tử xuống chiếu chọn 5 cung nữ từ hậu cung, ai tình nguyện lấy Thiền Vu Hung Nô sẽ được coi như công chúa. Các cung nữ dù được lên chức… đều ngần ngại sang Hung Nô. Chỉ có Vương Tường - tức Vương Chiêu Quân tình nguyện ra đi.

Đến ngày hôn lễ giữa Hô Hàn Tà và Vương Chiêu Quân, Nguyên Đế thấy nàng xinh đẹp quá trời... tiếc hùi hụi. Sao bấy lâu nay Trẫm lại không biết vậy cà?! Giờ hứa gả cho nó rồi làm sao mà nuốt lời cho đặng. Nuốt lời với nó; nó ‘nuốt’ luôn mình thì chết! Té ra tên họa sĩ cung đình là Mao Diên Thọ buộc các cung nữ phải đút lót mới vẽ hình đẹp dâng lên Vua, để hy vọng còn có cơ may được đêm nào đó… vào chầu thiên tử, (nhịn hoài cũng thèm chớ phải không?!) Em nào không chịu hối lộ sẽ bị vẽ hình xấu. Khi vẽ Chiêu Quân, Mao Diên Thọ thêm một nốt ruồi dưới khóe mắt (như bây giờ người ta chơi Photoshop vậy!) và tâu với Hán Nguyên Đế đó là “Sát phu trích lệ”, tướng sát chồng; nên Hán Nguyên Đế không dám rớ tới khi Chiêu Quân bị cống sang Hung Nô, Thiên tử nhìn mặt em hổng có mụt ruồi như tranh vẽ, Nguyên Đế biết tay họa sĩ này xạo, nổi trận lôi đình; sai lính đem Mao Diên Thọ ra mà mần thịt!

Chiêu Quân được Thiền Vu Hung Nô Hô Hàn Tà sủng ái, trở thành hoàng hậu. Hai năm sau, năm 39 trước Công Nguyên, Hô Hàn Tà chết, Chiêu Quân muốn trở về Trung Quốc, nhưng không được chấp thuận, nàng lại trở thành phi tần của Thiền Vu tiếp theo là con trai lớn của Hô Hàn Tà. Nghĩa là nàng ‘quằm’ Vua cha rồi ‘quằm’ luôn ông Vua con cho nó gọn!

Trường hợp đem người đẹp đi Cống Hồ nhục nhã đó của Vua Tàu làm mấy Chú Ba đời nầy qua đời khác, các văn nhân, thi sĩ (vốn lúc nào thấy người con gái đẹp là thèm nhểu nước miếng) như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương An Thạch, Quách Mậu Thiến, Mã Trí Viễn, Tào Ngu, Quách Mạt Nhược, Tiễn Bá Tán,… đều tiếc hùi hụi, làm thơ, viết kinh kịch... ‘xì nẹt’ vị hoàng đế kém cỏi và hèn nhát, viên thừa tướng thối nát bất tài, và tên thợ vẽ tư lợi Mao Diên Thọ.

Sau đó còn vẽ rắn thêm chân cho người đẹp Cống Hồ nầy bằng nhiều huyền thoại, truyền thuyết như: “Chiêu quân xuất tái” (“Đi đến biên cương”)! Khi qua một hoang mạc lớn, lòng chứa chan nỗi buồn thân phận phải xa quê, trên lưng ngựa buồn u uất, Chiêu Quân đàn bài “Xuất tái khúc”. Có một con ngỗng trời bay ngang, nghe nỗi u oán cảm thương trong khúc điệu; liền ruột gan đứt đoạn và sa xuống đất chết ngắc. Từ “lạc nhạn” trong câu “Trầm ngư lạc nhạn” do đó mà có. Nói dóc cỡ nầy cũng thuộc hàng cao thủ võ lâm đó chớ!

Nhắc lại chuyện xưa để thấy Hoàng đế Trung Hoa cũng không có ngon lành gì; cũng chết nhát như ai. Khi yếu cũng sợ, cũng đem người đẹp đi cống Hồ cho rồi để được yên thân!

Rồi hơn hai ngàn năm sau ở Trung Quốc bây giờ, thân phận người con gái mà lỡ sanh ra Trời bắt đẹp cũng không khá gì hơn nếu không nói là còn đau đớn hơn thời phong kiến ngàn xưa. Mấy em cũng bị đem ra làm một món hàng hóa để mua bán đổi chác!

Chuyện rằng: Lôi Chính Phú, bí thư quận ở thành phố Trùng Khánh được Tiêu Diệp ‘cống’ cho một em đẹp tên Triệu Hồng Hà! Lôi Chính Phú khoái tỉ tê!

Nhưng Tiêu Diệp là một thằng chơi đểu! Hối lộ tình dục xong; còn muốn nắm thóp Bí thư Lôi. Mỗi lần vào khách sạn với Bí thư Lôi, Triệu Hồng Hà đều bí mật gài máy quay phim trong túi xách có khoét lỗ để ghi lại toàn bộ cảnh ái ân.

Sau khi đã có được ‘bản đẹp’ các ảnh nóng, Tiêu bắt đầu điều đàn em giả làm bạn trai của Triệu Hồng Hà đến bắt quả tang. Lôi Chính Phú thất sắc không biết làm thế nào cho khỏi bể bạc tùm lum... thì ‘người hùng’ Tiêu Diệp xuất hiện để giải cứu. Bằng thủ đoạn này, Tiêu Diệp đã câu và bắt được rất nhiều quan chức Trùng Khánh làm con tin, tù binh của phe ta. Lúc nào muốn xài nó thì xài!

Lôi Chính Phú chỉ là quan nhí, cấp quận, quyền lực ít, nên còn nhát, sợ nó xì ra tùm lum là chết! Nhưng cấp cao hơn thì ai dám làm gì tao?!

Chu Vĩnh Khang, trùm Công An Trung Quốc, Cựu Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc từng được thuộc cấp hối lộ 400 phụ nữ để “giải sầu”! Chu có ít nhất 6 căn nhà riêng để “vui vẻ” với các ‘em’ ở thủ đô Bắc Kinh. Vợ Chu biết được ghen tuông lồng lộn lên, ly dị… Rồi bị xe đụng chết! (Sát nhân diệt khẩu, năm 2000?!)

Em Jia Xiaoye, cựu phát thanh viên Đài Truyền Hình Trung Ương Trung Quốc (CCTV), là vợ thứ hai của Chu- cũng được cho là “một món quà” mà cựu phó chủ tịch CCTV Lý Đồng Sinh hiến cho Chu. Ngoài ra, Chu, 71 tuổi, còn bị tố đã quan hệ tình dục với phát thanh viên đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV) Ye Yingchun trong xe hơi vào ngày 29-11-2013, 2 ngày trước khi Chu bị bắt và tạm giam.

Cựu Bí thư Thành ủy Trùng Khánh Bạc Hy Lai và cựu Giám đốc Công an Trùng Khánh Vương Lập Quân bị đồn là ‘các tay ma cô dẫn gái’ cho Chu khi Chu lên làm Chủ nhiệm Ủy ban Chính pháp Trung ương vào năm 2007.

Đồng minh thân cận của Chu, Thượng tướng Từ Tài Hậu, một thời là Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương cùng đàn em là tướng Cốc Tuấn Sơn, và Bạc Hy Lai Cựu Bí thư Trùng Khánh từng chia nhau người tình là diễn viên kiêm ca sĩ Tang Can.

Tang Can sanh ngày 12 Tháng Sáu năm 1975 tại tỉnh Hồ Nam, năm nay 39 tuổi. Em đã đẹp mà còn có học hành đàng hoàng, cử nhân về Âm Nhạc, chuyên trị nhạc Cách mạng không hà, làm văn công cho đoàn hát của Giải phóng quân Trung Quốc.

Tang Can mới đầu được “giới thiệu” cho cựu Thứ trưởng Bộ Công an Trung Quốc Lý Đông Sinh! Sinh chuyền em qua tay Chu Vĩnh Khang cuối năm 1990, khi Chu đang là Bí thư Tỉnh ủy Tứ Xuyên. Tiếp đến, Chu Vĩnh Khang chuyền em Tang qua đàn em của mình là Bạc Hy Lai! Rồi Lai “bán cái” cô bồ nhí xinh đẹp nầy cho tướng Từ Tài Hậu. Con trai Từ cũng có ké vô cùng chấm mút với Tía của mình luôn. Sau đó, Từ Tài Hậu lại chuyền tay qua đệ tử ruột của mình là tướng Cốc Tuấn Sơn.

Ngoài ra theo báo chí phe Tập Cận Bình còn tiết lộ Chu Vĩnh Khang tham gia hoạt động “đổi vợ” với các đồng minh hoặc cấp dưới, cũng như có quan hệ tình ái với Cốc Khai Lai, vợ của Bạc Hy Lai, vốn là đàn em của mình.

Dưới tay mấy tên Trùm Đỏ nầy, phụ nữ đẹp Trung Quốc chỉ là một món đồ chơi tình dục không hơn không kém.

Chu Vĩnh Khang bị nắm đầu, đá đít nhưng không biết có ra Tòa hay không vì lẽ từng là Bộ Trưởng Công An, Chu biết quá nhiều, biết quá rõ về các quan chức hàng đầu khác, dù đã về hưu hay còn đương nhiệm. Bắt nó ra vành móng ngựa, nó phun tùm lum ra... Ai mà bịt miệng cho kịp chớ?

Tình hình Việt Nam cũng không khá gì hơn đàn anh Trung Quốc. Phó Ban Nội chính Trung ương Việt Nam đưa tin ra cho báo chí rất là... văn chương. Rằng “Chuyện hối lộ bằng tình dục chắc chắn có ở Việt Nam. ‘Hối lộ’ bằng tình dục cho quan chức để đạt được mưu cầu lợi ích nào có gì lạ đâu! Đã có những truyện ngắn người ta viết thành đề tài văn học phản ảnh thực trạng xã hội chủ nghĩa!?”

Việc hối lộ bằng gái, tình dục cho các quan chức Trung Quốc, cho các quan chức Việt Nam còn hiệu quả hơn nhiều so với đút lót bằng tiền mặt hay hiện vật có giá trị!

Chiêu Quân, xưa hai ngàn năm, bị Thiên Tử cống Hồ; giờ thân phận những người con gái đẹp sẽ còn bị quan em tiến cống lên quan anh dài dài... cho coi!

Do đó: “Thuyền em rách nát có lành được không?” Câu trả lời là: “Còn lâu!”


UserPostedImage

Bảo Huân


Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#24 Posted : Sunday, December 14, 2014 11:50:58 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Em đừng lo. Mai mốt thằng nầy lặn ngụp phải biết


Tắm sông

Vậy là má không cho tôi tắm sông nữa. Má nói, má coi truyền hình, người ta biểu, nước sông bây giờ ô nhiễm lắm, trẻ nít tắm hư mắt. Tôi hỏi ô nhiễm là gì, má tôi nói dơ. “Một chút thôi mà – tôi cố nài nỉ – có chút xíu thôi”. Má tôi dứt khoát, không là không.

Tôi chê lý do của má đưa ra lãng xẹt, chỉ vậy mà bắt hỏng cho tắm sông nữa. Buồn muốn chết. Những chiều ra đông chạy rong chạy ruổi thả diều về, nực thôi là nực, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, xách cái gàu ra ngoài cầu ao xối sàn sạt mà không thấy mát tí nào, thèm nhảy ùm cái xuống sông, sải tay sải chân vẫy vùng cho sướng người.
Tôi biết lội hồi sáu tuổi. Hôm đầu tiên xuống nước, tôi ở truồng ngủng ngẳng cái cu bằng trái ớt. Ba ôm tôi xuống bến, ông đặt bàn tay to bè lên cái bụng tròn ủm của tôi sướng wá, tay chân luýnh quýnh đạp lia lịa làm nước văng sáng tran mặt ba tôi (nước mát thì thôi dị chớ). Má tôi ngồi trên bờ hái đọt choại vừa nhó xuống, kêu:

- Anh khéo, ngộp con nó…

Ba cười to:
- Em đừng lo. Mai mốt thằng nầy lặn ngụp phải biết.

Chỉ năm hôm sau, khi ba tôi lặng lẽ bỏ bàn tay ra, tôi đã lủm bủm lội được một tí đường. cái đầu tôi ngoi lên còn cái mông chìm lỉm, ba cười, chê: “Cái thằng bơi y hệt con chó phèn”. Nhưng đám bạn cùng lứa của tôi đang ngồi so bì, “Sao tao ôm dừa khô tập hoài mà hông biết lội”. Tôi tài khôn, “Mầy bắt chuồn chuồn cho nó cắn rún á, biết lội liền hà”. Nó tưởng thiệt, đi bắt chuồn chuồn về cho cắn muốn tiêu cái rúng luôn. Vậy mà tôi cố đổ thừa, “Tại mầy hỏng bắt chuồn chuồn đỏ, chuồn chuồn đỏ cắn rún mới biết lội được”. Sau nầy nhớ lại, tôi nghĩ nhất định mình bơi giỏi là nhờ bàn tay ấm nóng của ba đã truyền cho tôi lòng dũng cảm và sức mánh. Ba nói, con nít ở vùng sông nước mà không biết bơi thì tội nghiệp, xuống bến trợt chân, qua cầu gãy ván… Bất trắ không biết chừng.

Ai chớ tôi thì ba tôi khỏi lo. Đi học về, vừa cất cái cặp đã nhảy um xuống sông. Tụi bạn phục lăn cái tài lặn dài hơi. Còn về khoản lội đua, mỗi con Én là dám so kè với tôi, trời đất ơi, con gái gì mà lội thoi thót như con ếch, lẹ ghê. Mà cũng tại nó cao, chân dài, tay dài, nó sải một nhịp, tôi đã lọt lại phía sạu Vừa rồi, tôi với nó bơi thi, hỏng hiểu sao tôi lúm súm thế nào mà để nó qua bờ bên kia trước, nó bắt tôi kêu nó bằng chị hai, thấy tức chết.

Thằng tèo bênh vực tôi, nó an ủi, “Mai mốt trả thù, hén mậy?” Tội nghiệp, nó thần tượng tôi từ cái năm sáu tuổi tới giờ. Tôi hứa, mai môt trả thù. Nhưng từ má tôi cấm ngặt, coi như không còn cơ hội nữa. Sông với tôi có biết bao nhiêu là chuyện với nhau, bây giờ biểu không tắm nũa, buồn ơi là buồn vậy.

Ngày xưa đúng là sông không như bây giờ. Nước sông không như bây giờ. Nước sông mát. Nước không trong như trong sách người ta hay tả mà cợn phù sa. Xứ tôi là xứ phù sa mà. Sông có mùi thơm hơi ngòn ngọt của bẹ dừa nước mọc chồm chồm ra ngoài bãi. Nước lớn, cá kìm kìm lội thành đàn nhộn nhịp. Nước ròng sát bãi, tụi tôi chạy rượt với đám ca thồi lồi. Hồi đó, đất sình dưới đáy sông chúng tôi chọi nhau cũng thơm, nên mặt mũi tèm lem bùn mà không thèm để ý, có đứa bị chọi nguyên một cục sình vô miệng, trợn trừng không noi được tiếng nào.

Từ từ, sông ngầu đục hẳn đi. Cứ nước lớn, mặt sông đầy rác. Mới đầu, tụi tôi thíc lắm, tụi tôi vớt được bao nhiêu là chai lọ, tha hồ nuôi cá lia thia. Con Én coi tay chân quều quào vậy chớ siêng, nó vớt được bao nhiêu là đồ chơi cúng cuội. Rồi tụi tôi cũng chán trò chai lọ, mặc kệ chúng, dưới sông trôi đày kia kìa. Tôi hỏi ba tôi rác đâu mà nhiều vậy, ba nói là do người ở chợ hay đổ rác xuống sông. Tôi gật gù, ờ phải, ở chợ người ta đông lắm.

Trong đám bạn, tôi biết chợ nhiều nhất. Nhà tôi có cái quán cóc nhỏ bán bánh kẹo, đồ chơi con nít. Mỗi lần đi chợ đổ hàng, má đều chở tôi theo. Ra ngoài đó, má lên chợ, tôi dom chừng chiếc xuồng. Sau nầy tôi thêm một nhiệm vụ nữa là gỡ rác quấn chân vịt máy. Rác nhiều quá, cứ đi được một chút nghe cái máy chạy rị mọ, biết thế nào chân vịt cũng bị quấn rác rồi. Một ngày nọ, tự nhiên tôi nghĩ, mình gỡ ra rồi quăng xuống, thế nào nó cũng vướn vo mấy chiếc xuồng khác, tội nghiệp người ta ghê lắm. Tôi lẳng lặng giở cía sạp xuồng lên, bỏ mớ rác vào đó. Má tôi rầy, “rác rưởi mà để vô xuồng chi con, dơ hết”. Tôi nghi! sao thưa vậy. Má tôi cười, không nói gì nhưng vẻ mặt rất hài lòng. Hôm đó, về tới nhà, được hai thúng rác đầy vun. Tôi bưng lên nhà, ba như không giận nó đã quăng con mèo chết xuống. Tụi tôi tự nhủ, bữa nay tắm lần này nữa thôi, tui tôi chờ cho tới chừng nào sông sạch, trong trở lại. Tôi lén nhìn con Én, lặng sải tay bơi một mạch qua bờ bên kia, “Mai mốt thể nào cũng trả thù chớ con trai mà để thua con gái, kỳ lắm”.

Nguyễn Ngọc Tư

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#25 Posted : Saturday, December 20, 2014 11:11:27 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Ông Già Noel

Đoàn Xuân Thu


Friday, 19 December 2014 13:39

Thưa quý bạn đọc thân mến!

Việt Nam mình, hồi xưa, gọi là Ông Già Noel! Sau mất nước, lưu lạc quê người, đa phần chúng ta đến tạm dung ở những đất nước nói tiếng Anh như Mỹ, Canada, Úc... thì họ không gọi là Ông Già Noel mà gọi là Santa Claus!

Cùng với truyền thống mùa Giáng Sinh hằng năm, nửa đêm 24 rạng ngày 25 Tháng Chạp, Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa là hình ảnh Ông Già Noel mặc bộ quần áo màu đỏ viền trắng, dây thắt lưng bằng da màu đen, đội chiếc nón đỏ, chòm râu dài, bạc trắng. Tiếng cười bất hủ “Ho Ho” ngồi bên cạnh cây thông Noel hay trên chiếc xe trượt tuyết ‘Jingo Bells’, kéo bởi chín con tuần lộc, bay vút trong không gian, tuyết rơi trắng trời lã chã!

(Nhưng tại sao là Ông Già Noel mà hổng phải là Bà Già Noel? Thì có người cắt nghĩa rằng: Phụ nữ nhứt quyết không chịu đóng cái vai nầy đâu... Vì mỗi năm cứ mặc lại cái thời trang năm cũ.... ai mà chịu cho được chớ! Phụ nữ là phái đẹp, mà phái đẹp là phải ăn diện theo thời trang, theo mốt, năm nầy năm khác... Còn vẫn như cũ! Thôi để mấy ổng làm đi! Hi hi)

Rồi cũng theo huyền thoại Ông Già Noel nầy người ta chia đời người ra làm ba giai đoạn. “Một: Tin! Hai: Không Tin! và Ba: Chính mình là Ông Già Noel!”

Giai đoạn một: ”Tin có Ông Già Noel” Trẻ thơ đều tin chắc mẻm như thế; nên đến mùa Giáng Sinh, ông nhận được rất nhiều thư của con nít toàn thế giới gởi đến để xin quà.

Và cũng theo truyền thuyết, Ông Già Noel ở Bắc Cực, đêm Giáng Sinh, như mọi năm, ông lại bắt đầu cuộc hành trình chu du toàn thế giới mang đồ chơi cho các thiếu nhi ngoan. Còn đứa nào hổng ngoan là khỏi. Nên có đứa hối rằng: “Ông Già Noel ơi! Con đang ngoan lắm nhưng sợ kéo dài hổng được lâu... Nên xin ông năm nay đến sơm sớm dùm một chút được không?”

Mới đây, tờ Thời Báo Ái Nhĩ Lan có công bố một bức thơ viết năm 1911 của một bé gái lúc đó lên 10 tuổi, tên là Hannah Howard, sống ở thành phố Dublin, Northern Ireland, gởi những điều ước của em đến Santa Claus. Bức thơ được giấu trong lò sưởi hơn một trăm năm!

(Mà tại sao lại là lò sưởi mà không phải là nơi khác? Cũng theo truyền thuyết, Santa Claus sẽ vào nhà bằng cách tuột qua lò sưởi dù ông bự “bành ki nái” do lấy bụng ở đời! Nói kiểu thời thượng bây giờ là Santa Claus bị bệnh béo phì đã rất lâu!)

Chính vì vậy nên có em viết thơ cho Santa Claus bày tỏ nỗi lo lắng của mình: “Santa thân mến! Năm nay bằng cách nào ông đến nhà con được? Nhà con không có ống khói! Và Tía con mới lắp đặt một hệ thống báo động an ninh rất tối tân!”

Rồi có em gái, rất hiếu khách, viết thơ hỏi: “Ông muốn ăn bánh ngọt uống sữa hay ăn bánh pizza? Tía con nói chắc ông thích bánh pizza hơn. Xin trả lời cho con biết nhé!”

Mùa Giáng Sinh lại tới, ngày nay, người ta không còn gởi thiệp Giáng Sinh theo kiểu cũ, qua đường Bưu Điện, mà qua email hay các trang mạng xã hội Twitter hay Facebook cho nó lẹ! Không chịu gởi thơ thường, không chi tiền mua tem nên Bưu Điện Mỹ, Bưu Điện Úc năm nào cũng lỗ cả tỉ... thiếu điều sập tiệm!

Muốn sống còn là phải thay đổi thôi! Nên mấy xếp lớn Bưu Điện chuyển qua nhận phát nhanh những kiện hàng người ta đặt mua trên eBay. Mặt khác, ráng vớt vát được chút nào hay chút đó bằng cách cho vài nhân viên giả làm Ông Già Noel dụ khị con nít, nó tin nó gởi thơ tới để mình kiếm chút đỉnh tiền tem cò mà sống sót tới năm sau chớ!

Một “trự” đóng vai Ông Già Noel, chuyên nhận thư con nít, bày tỏ chút đỉnh về cái nghề hổng giống ai và cả năm chỉ làm một tháng mà thôi như sau: Một em gởi thơ đến yêu cầu Ông Già Noel làm cách nào đó để hàn gắn lại mối lương duyên vừa gãy đổ của Tía Má nó! “Làm sao bây giờ? Ổng bả không yêu nhau nữa... Buông nhau ra là phải quá rồi; mình ráp lại... để tối ngày tụi nó “quánh lộn” hay sao? Nhưng không ráp, để hở ra là ly dị thì lại tội nghiệp mấy đứa nhỏ”

Và cũng có một trường hợp cực kỳ đặc biệt hơn nữa như vầy: “Một em không còn con nít nữa, tới tuổi cập kê, chắc nôn... cũng gởi thơ xin Ông Già Noel; nhưng không phải xin cho em đâu mà xin cho Má của em! Thơ em viết rằng: “Ông Già Noel thân mến! Mùa Giáng Sinh năm nay xin ông hãy cho Má em một thằng con rể! Ha ha!”

Còn đa phần mấy em khác viết thơ chỉ để xin quà mà thôi. Có em xin một cái ghế để em ngồi viết nhựt ký “diary” nhưng em viết nhầm là “diarrhoea” (Xin quý bạn đọc thân mến tra tự điển chữ nầy dùm, người viết không dám nói ra... Sợ nó có mùi...!)

Thưa quý bạn đọc thân mến.

Bà con mình thường nói rằng: “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh” hay: “Rau nào sâu nấy!” Cách sống của bực làm cha làm mẹ rất có ảnh hưởng đến cách hành xử của con cái của mình! Quả không sai.

Chẳng hạn như một bé: “Xin Ông Già Noel cho những tên khủng bố thiệt nhiều đồ chơi để họ không còn căm ghét chúng ta nữa!”

(Người viết nghi Tía nó chắc là một chức sắc một tôn giáo nào đó... mới có tấm lòng quảng đại “Ai tát ta má bên phải; ta đưa má bên trái cho nó tát luôn!” Đau lắm nha!)

Còn bức thơ nầy người viết nghi Tía em làm nhà báo, nhà đài, hay tò mò tọc mạch, thò mũi vào chuyện riêng tư của người ta để mà câu khách: “Ông Già Noel thân mến! Ông bao nhiêu tuổi? Làm thế nào ông quen được Bà Già Noel? Có phải ông tên thật là Noel không? Trẻ con cư xử như thế nào làm ông hài lòng nhứt? Làm sao ông chất hết quà tặng cho con nít toàn thế giới chỉ trong một chiếc xe trượt tuyết mà thôi? Con còn nhiều thắc mắc nữa sẽ gởi đến ông sau!”

Còn bức thơ nầy tui tin chắc Tía nó là tay đua xe hơi chuyên nghiệp từng dự giải Grand Prix! “Xin cám ơn Ông Già Noel về chiếc xe đua năm rồi. Năm nay mong ông cho con một chiếc khác, chạy nhanh hơn chiếc mà thằng bạn học của con nó có!”

Rồi bức thơ nầy có thể là của con ông Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ vừa nhậm chức: “Xin gởi cho con một chiếc xe tăng, một chiến đấu cơ, 20 lính TQLC và một súng chống tăng. Con dự trù lên kế hoạch tấn công anh của con. Thế nên xin Ông đừng tiết lộ cho ai biết nhé!”

Còn đây chắc là thơ của con một ông trùm xã hội đen “Ông Già Noel thân mến! Hãy để chiếc xe đạp mới tinh dưới cành thông; con sẽ cho ông thuốc giải độc trong ly sữa mà ông mới vừa uống sạch!”

Thưa quý bạn đọc thân mến!

Giai đoạn hai của đời người là không tin có Ông Già Noel nào hết ráo

“Chiều Giáng Sinh, hai anh em được ba má nó đưa về nhà ông bà nội ăn lễ. Còn ba mà nó mắc bay đi Hawaii hâm nóng lại tình ta đà nguội ngắt mà bà con mình gọi là hấp hôn mùa lễ lạt!

Bữa ăn Giáng Sinh có ba bà cháu. Ông nội bận đi nhậu cuối năm cùng các chiến hữu! Thằng em rầm rầm cầu nguyện; rồi đột nhiên hét lên làm người nghe muốn rách màng nhĩ: “Ông Già Noel ơi! Xin cho con một chiếc mountain-bike!” (Xe đạp leo núi!) Thằng anh rầy: “Sao mầy la làng la xóm chói lói lên như vậy chớ! Ông Già Noel đâu có bị điếc!” Thằng em trả lời: “Em biết ổng không bị; nhưng Bà Nội của mình bị lảng tai nặng lắm!”

Rồi khi lập gia đình, có con cái đùm đề rồi; lại càng không tin có Ông Già Noel nào hết ráo! “Ba đứa con! Đứa xin Ông Già Noel “iPod”, đứa thì “iPhone”, đứa thì “iPad”! Riêng mình thì “Ipaid” (nghĩa là tui trả; chớ Ông Già Noel nào nhào vô đây lãnh đạn? Hao quá! Hu hu!)

Giai đoạn cuối cùng của cuộc đời thì: “Mình chính là Ông Già Noel!” Thử soi gương, xem dung nhan đó bây giờ ra sao? Mập thù lù như cái lu! Râu tóc bạc hết! Nói con cháu hổng đứa nào chịu nghe! Chỉ biết la “Ho Ho!” là hết mức! Đứa nào gặp mình, hổng xin cái nầy thì xin cái nọ... Thì mình hổng phải là ông già Noel thì là cái gì bây giờ?!

Thưa quý độc giả thân mến!

Thôi đừng than thở nữa! Đời mà! Làm phước được phước! Chúa nhân từ, rất công bằng! Ai đã cho; sẽ nhận!

Chuyện rằng: Năm 2000, một bé trai, bảy tuổi, sống gần một làng sơn cước hoang vu, chỉ có 160 dân. Tía Má em làm chủ một trang trại nuôi bò trên thảo nguyên tiểu bang Idaho bên Mỹ. Mùa Giáng Sinh năm đó, em có hiến tặng cho trẻ em nghèo trên thế giới một đôi giày; vì em nghĩ mùa Đông lạnh, trẻ con cần giày nhứt! Đôi giày đó đã đi suốt 15 múi giờ để đến một trường đạo thuộc thành phố Quezon, ngoại ô Manila của nước Phi Luật Tân. Người nhận nó là một em bé gái cũng lên 7 tuổi, tên là Joana! Joana rất lấy làm cảm động...! Theo địa chỉ trong hộp giày, em có gởi một bức thơ để cám ơn: “Theo năm tháng hoài mong! Thư gửi đi một lần mà hồi âm không thấy!”

14 năm sau, Joana thành thiếu nữ, vẫn còn nhớ chuyện xưa, bèn tìm anh trên Facebook! Ông tơ bà nguyệt đã xui khiến cho hai đứa gặp nhau rồi làm đám cưới hôm Tháng Mười mới đây!

Tyrel Wolfe tặng quà Giáng sinh, một đôi giày từ 14 năm về trước, mà không ngờ rằng Santa Claus đã tặng lại anh một món quà Giáng Sinh trên cả tuyệt vời! Một người vợ thiên kiều bá mị, chịu đến vùng núi non hoang vắng nầy, từ một đảo quốc xa xôi, nơi sản sinh ra biết bao nhiêu là Hoa Hậu Thế Giới để nâng khăn sửa túi cho anh! Thiệt là một món quà Giáng Sinh đã ơi là đã!

Thưa quý độc giả thân mến!

Chắc bà con sẽ hỏi quan điểm của người viết về Ông Già Noel ra làm sao? “Tin hay không tin?” Thưa, câu trả lời là: “Tin chớ!”

Ông Già Noel có rất nhiều; chớ không phải duy nhứt một ông ở Bắc Cực theo truyền thuyết! Ông Già Noel chính là những người có lòng từ tâm, chia sẻ cái mình đang có cho những người không có!

Em yêu của người viết thì tin Ông Già Noel chỉ có một mà thôi! Muốn xin gì, cứ gởi thơ cho ổng là ổng sẽ OK cái rụp! Nên, năm nay tiến bộ hơn, thay vì gởi thơ theo kiểu cũ, em bèn “Gmail” Ông Già Noel cho nó lẹ!

Em yêu viết rằng: “Xin Ông Già Noel hãy cho em một tài khoản ngân hàng rất mập và một thân hình thon nhỏ!”

“Xin đừng lẫn lộn giữa hai thứ như năm rồi nhá! Cám ơn!” ./.

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#26 Posted : Friday, January 2, 2015 5:33:27 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Mùa Giáng Sinh lưu lạc


Đoàn Xuân Thu



Wednesday, 31 December 2014 13:54


Thưa quý độc giả thân mến!

Lụi hụi là sắp hết một năm rồi! Cái lốc lịch ngày nào dày cui; giờ chỉ còn le ngoe vài tấm. Tháng Chạp, mùa Giáng Sinh, Tết Tây lại về, mùa đoàn tụ.

Nhưng nếu quý bà con nào có con cái đi làm ăn xa, xuyên tiểu bang hay phải ra tận nước ngoài, muốn mùa Giáng Sinh nầy cả bọn tụi nó ùa nhau về thăm cho mình đỡ nhớ mấy đứa cháu nội, ngoại... (mà mình lại móc bọc, nghèo không có tiền mua vé máy bay cho tụi nó) thì nên áp dụng cái 'mánh' nầy người viết học 'lóm' của người ta thấy hay hay nên 'xì' ra cho bà con mình bắt chước, cam đoan hiệu nghiệm 100%.

Một ông già Việt Nam gọi điện thoại cho thằng con trai tên Tèo trước lễ Giáng sinh một tuần: "Tía không muốn phá bĩnh ngày vui Giáng Sinh của vợ chồng con nhưng buộc lòng phải báo cho tụi con biết một tin động trời, động đất rằng: "Tía Má sẽ đưa nhau ra tòa ly dị. Sống trong sự kìm kẹp dã man của Má con suốt 40 năm trời; giờ Tía thấy là quá đủ. Tía sẽ từ giã Má con mà đi theo tiếng gọi của tình yêu phía bên kia biển. Chốn ấy quê nhà! Quá đã!"

Tèo thảng thốt kêu lên: "Tía! Tía nói cái gì vậy?"

"Tía chịu hết nổi rồi con ơi! Ghen tuông bậy bạ, ghen bóng; ghen gió! Đồ ăn thì sáng mì gói, trưa gói mì và chiều mì gói! Nói làm sao cho hết nỗi đắng cay chớ?! Tụi con có mang đôi giày của Tía đâu mà tụi con biết! Thử một lần đi, sẽ thấy nó chật và đau lắm! Đời con, may mắn, đẻ bọc điều, gặp con vợ dịu hiền, dễ chịu... dễ thương! Con đi nhậu không ai cản, con thỉnh thoảng cười tình với mấy em khác không ai rầy... Đời con giống như mang dép Nhựt thoải mái, ngón cái ngoáy đâu thì ngoáy... làm sao con hiểu cho đặng nỗi lòng của Tía. Hãy báo tin nầy cho em gái của con biết dùm Tía! Thôi Tía dứt áo đi đây!"

Một lúc sau, Tèo hét lên với Đẹt, em gái mình, trong điện thoại :"Đẹt ơi! Tía Má thôi nhau đấy" "Đâu có được nè! Em sẽ làm ra lẽ chuyện nầy mới được!"

Đẹt đang theo chồng nuôi trừu ở đảo Kangaroo, Nam Úc, bốc phôn gọi ngay về cho Tía! "Không được! Con và anh Tèo sẽ bay về ngay! Xin Tía, Má đừng manh động mà hư bột hư đường hết trơn hết trọi!"

Gác điện thoại lên, Tía Tèo híp mắt cười hí hí, nói với vợ mình: "Thấy 'mánh' của Khổng Minh Gia Cát Lượng chưa! Mùa Giáng Sinh nầy cả nhà đoàn tụ, vui hé! Chịu khó ra chợ mua một con gà Tây về đút lò cho mấy đứa cháu tui ăn! Tụi nó sẽ bay về ăn mừng Giáng Sinh và Tết Tây với gia đình mà mình hổng tốn cắc nào tiền vé máy bay cho chúng như năm rồi! (Hao quá!)"

Thưa quý độc giả thân mến!

Hồi mới qua, thôi không còn mơ công danh sự nghiệp gì nữa, cày như trâu, ráng mua cái nhà thiệt bự cho con cái ở chung. Lúc tụi nó có vợ có chồng thì mình nhường phòng lại, de ra 'garage' mà ở. Vậy mà tụi nó đâu chịu, bồng túm nhau đi hết ráo! Hu hu! Giờ già cô đơn, nghỉ cày, nằm nhơi cỏ, dư được chút đỉnh tiền hưu, có người ta sợ chết hổng hưởng được phước, bèn lẹ lẹ đi du lịch đó đây... kẻo không còn kịp nữa! Còn vợ chồng mình già, ở nhà hủ hỉ, rủ rỉ, rù rì rau cháo có nhau! Dư được cắc nào là lo mua quà Sinh Nhựt, quà Giáng Sinh cho con cháu nó vui! Thiệt lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Biển Thái Bình chứa toàn nước nó kêu dạt dào là phải lắm. Còn tình gia đình mình dạt dào là phải đào ra tiền mới được... bằng không thì...

Chuyện rằng: 'Nội thấy năm nào mua quà Giáng Sinh cho một đám cháu mà phải là quà đúng ý, tụi nó mới hài lòng... Thiệt khó! Nên năm nay Nội quyết định rằng sẽ gởi cho mỗi đứa một tấm ngân phiếu.

Thiệp Giáng Sinh, Nội viết: "Chúc tụi con một mùa Giáng Sinh vui vẻ. Tái bút: Hãy tự mua quà cho mình nhé!"

Sau đó, ngạc nhiên thay, không nghe đứa nào gọi điện chúc mừng lại hay trả lời trả vốn gì ráo trọi?! Một hôm, sau Tết Tây, lục trong chồng sách vở, Nội hiểu tại sao rồi. Vì Nội chỉ gởi thiệp Giáng Sinh mà quên gởi đi những tấm ngân phiếu của mình cho chúng nó! Già rồi hay quên trước quên sau là vậy đó!

Còn bạc còn tiền còn đệ tử! Hết cơm hết gạo hết ông tôi! Đời là thế! Hổng có ngân phiếu thì không Nội Ngoại gì cho nó mệt!

Nội đến cái đất nước nầy từ một vùng quê mà 'Xứ nào như xứ Cạnh Đền. Muỗi kêu như sáo thổi; đỉa lội lền như bánh canh vậy!' Chỉ có muỗi và đỉa, còn Ông Già Noel và Giáng Sinh làm sao có?! Thế nên ai bao năm từng lê gót nơi quê người, Nội vẫn còn cảm thấy:
Giáng Sinh là khoảng thời gian rất lạ! Là lúc đám con nít ríu rít ngồi trước một cành cây thông đã chết... Rồi lấy kẹo bánh từ trong đôi vớ của mình ra mà nhấm nháp! Thiệt ở dơ hết biết nhe!

Nội cũng không tin có Ông Già Noel nào cho quà bánh gì đâu! Hôm qua, Nội thấy Ba Má tụi bây đi siêu thị mang kình kình về cả đống, rồi giấu trong tủ, chờ đến lúc nửa đêm ra treo trên một cành thông đèn nhấp nháy. Tốn điện cho Bà Nội bây la làng chói lói nhá!

Mùa Giáng Sinh là mùa chia sẻ giữa kẻ ăn không hết; người lần không ra, bây giờ đã bị thương mại hóa, là mùa làm ăn ì xèo của mấy thương vụ, năm chỉ có một lần hốt tiền thiên hạ! Tuy nhiên đi mua sắm xin đừng đi sớm quá như câu chuyện sau đây:

Gần tới Giáng Sinh, ông Tòa ngồi xử án nhưng trong lòng cũng hơi 'bị' vui vẻ vì không khí tưng bừng nhã nhạc, hỏi một bị cáo: "Nè! Bị cáo bị truy tố về tội gì?" "Dạ thưa quan Tòa! Tội đi sắm Giáng Sinh hơi sớm ạ!" "Như vậy thì có tội gì đâu hè?! Nhưng bị cáo nói hơi sớm là nghĩa ra làm sao? "Là cửa hàng chưa mở cửa ạ!"

Đời đâu cũng vậy mà thôi! Có tiền là có quyền mua sắm... Mà muốn có tiền là phải cày sâu cuốc bẫm. Ở nước Úc nầy hay bất cứ nước nào trên thế giới, không có gì là miễn phí đâu em! Nên nhớ lấy điều nầy! Làm gì có chuyện tự nhiên trên trời rơi xuống?! Vậy mà có chú nầy lại tin chớ. Chuông cửa reo đêm Giáng Sinh tại ngôi nhà quan chức cỡ to ở Hà Nội. Ông già Noel xuất hiện. "Ta cho con ba điều ước!" "Dạ! Con muốn một chiếc Mercedes "xì-po" đời 2014. Một căn nhà có hồ bơi sau vườn, rộng như sân tơ nít, để cho bồ nhí của con tập lặn, tập lội. Và 10 triệu đô trong tài khoản ngân hàng Thụy Sĩ!: "OK! Nhưng cho ta hỏi con được bao nhiêu tuổi rồi?" "Dạ! Con được 40 cái xuân xanh"."Trời đất! Bốn chục tuổi đầu mà vẫn tin là có Ông Già Noel sao chớ?"

Thưa quý độc giả thân mến!

Đó là chuyện Giáng Sinh của người Việt mến yêu mình; còn đây là chuyện Giáng Sinh của mấy thằng Tây! Người viết xin kể ra để quý độc giả thân mến mua vui mùa 'lễ... lạc!' Đọc, vui nhưng xin đừng có tin... như tin chuyện Ông Già Noel! Xin đừng 'giành' tin với đám con nít nhe bà con!

Mùa Giáng Sinh, đi siêu thị, thấy ai cũng có Ba, có Má mà mình hổng có Ba; nên Tony hỏi:"Ai là Ba của con vậy hả Má?" "Ông Già Noel!" Sao là Ông Già Noel cho được?" "Ngay cả Má cũng chẳng rõ... Đến phát quà một lần rồi đi... mà không một lời giã biệt!" Ôi tình ta một thoáng mà thành thiên thu!

Ba là ông Già Noel cuối năm về phát quà cho Má chỉ một lần nên Tony đi học là phải lo toan một mình kẻo bị mấy thằng bự con trong lớp nó "bú li' (bully) (ăn hiếp)

Tony đi học về méc Má: "Má ơi! Sam ở trường đánh con!" Má nói: "Được rồi! Để Má đi nói chuyện phải quấy với Ba Má nó!" "Mà Sam là đứa nào vậy?""Dạ! Sam là Thầy giáo dạy toán ạ!"

Rồi chiều áp Lễ Giáng Sinh, Thầy giáo Sam đang đi bộ trên đường bỗng để ý thấy Tony đang cố gắng nhón chân để bấm chuông căn nhà phía bên kia đường. Tony phải nhón chân nhưng vẫn không với tới nút chuông vì chủ nhà thiết kế cao quá mà chú lại lùn tịt. Sau khi thấy Tony ráng mấy lần đều thất bại nên Thầy Sam cũng tội nghiệp cho đứa học trò nhỏ của mình nên vội băng ngang qua giúp đỡ; dùng tay mình bấm một hồi chuông dài kêu inh ỏi, rồi hỏi: "Được rồi! giờ chúng ta làm gì đây hở Tony?" "Dạ! Giờ thì Thầy trò mình... chạy cho nó lẹ ạ!"

Thưa quý độc giả thân mến!

Mùa vui của thiên hạ, mình cũng muốn lấy đó làm vui 'ké'... Chớ trong lòng người viết từ độ xa quê, mùa Giáng Sinh đã chết tự lâu rồi! Ôi buồn như một câu vọng cổ Út Trà Ôn!

Nhớ xưa, gần Giáng Sinh, ở Sài Gòn, mỗi chiều tan học, hai anh em chở nhau trên chiếc xe đạp cà tàng từ Ngã Bảy Cộng Hòa qua bùng binh, xuôi đường Hồng Thập Tự tới ngã ba Hai Bà Trưng, quẹo trái để đổ dốc về Cầu Kiệu, Tân Định. Đạp xe đổ dốc rề rề qua Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi, phía trái là Nhà Thờ Tân Định với hồi chuông chiều óng ả.

Mùa Giáng Sinh, hang đá Chúa Hài Đồng, những cành thông, những thiệp Giáng Sinh bày bán dọc theo vỉa hè trước nhà thờ kéo dài cho đến Chợ Tân Định. Ôi còn đâu những ngày vui!

Tía Má ơi! Con đã mang những hồi chuông óng ả trong tâm thức buổi chiều quê nhà đến tận quê người. Quê người không còn nghe tiếng chuông giáo đường rơi rơi như ở quê mình nữa. Thiếu vắng cái gì đâu! Sao tha thiết nhớ!

Rồi lớn lên: Cuộc chiến cuốn con đi! 'Con đã qua bao giáo đường đổ nát! Duy chỉ còn sót lại gác lầu chuông! Chuông gọi hồn ai chiều thôi óng ả! Chúa gục đầu nhỏ máu khóc tang thương!'

Mùa Giáng Sinh và Tết Tây lại về thưa bà con cô bác!

Xin chúc mừng 'Merry Christmas & Happy New Year!' Và chúng ta cùng hát bài Jingo Bells, tưởng tượng đến tuyết lã chã rơi trắng trời... mặc dù Giáng Sinh ở Úc là mùa Hè nóng như cái lò bánh mì ở cái xóm Footscray!

Thưa bà con cô bác!

Mùa Giáng Sinh về, thêm một mùa lưu lạc, người viết lại nhớ những ngày se se lạnh ở Sài Gòn! Em quàng chiếc áo ấm làm duyên giữa Vương Cung Thánh Đường năm ấy! (Xin kiểm duyệt câu nầy kẻo Má nó hay!)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#27 Posted : Saturday, January 31, 2015 2:16:26 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Việt Kiều Tuyển Vợ

Cô Tư Sài Gòn


Thời xưa, thời ông bà mình, chuyện đi tìm vợ rất mực tinh tế, không thô bạo như thời nay.

Tuy rằng cũng là thực tế lúc đó, các cô muôn tìm chồng trong chôn ba quân để sau này chồng lên làm quan chốn triều đình. các chàng trai muốn tìm vợ nơi chợ đông để xem sự khéo léo, các giao tiếp của các cô.

Thế nên ca dao viết:

Trai khôn tìm vợ chợ đông,
Gái khôn tìm chồng giửa chốn ba quân...

Thế rồi, cũng có khi các chàng ướm lời thơ mộng:

Bậu về, bậu nhớ qua chăng?
Qua về, qua nhớ hàm răng bậu cười...

Hay là khi chàng trai bày tỏ hiếu lễ, lời tế nhị qua ca dao:

Ai về, tôi gửi buồng cau,
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy
Ai về, tôi gửi đôi giầy,
Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi...

Tới thời nay, các cô ngó về tương lai là tiêu chuẩn khác, cụ thể hơn, đếm được:

- Nhà mặt phố, bố làm to...

Hay là chàng phải vâng lời:

- lương nộp đủ, tối ngủ nhà...

Nhưng Việt kiều phức tạp hơn. Dĩ nhiên có người thế này, có người thế kia. Nhưng có một ông rất mực độc đáo, chơi nổi, đã đăng thông báo tuyển vợ trên báo.

Bản tin Kênh 13 kể chuyện này hôm 27-1-2015 qua bản tin “Hoảng hốt với tin tuyển vợ của một Việt kiều Mỹ.”

Bản tin này kể:

“Theo một mẫu tin chụp trên báo Mỹ được cư dân mạng lan truyền trên internet, một Việt kiều Mỹ tuyển vợ với nhiều thông tin gây bất ngờ.

Tờ thông tin tuyển vợ của một Việt kiều lớn tuổi đã làm xôn xao cư dân mạng khi có nhiều nội dung gây bất ngờ, theo đó ông này năm nay 65 tuổi có nhu cầu “tìm hôn thê ở Việt Nam để cùng sống tại Việt Nam hoặc sang Mỹ sống”. Mẫu tin không có gì đáng nói nếu theo hướng tìm hôn nhân bình thường, tuy nhiên nội dung chứa đựng nhiều điều gây tranh cãi.

Theo chủ nhân của mẫu tin này đăng tài thì ngoài miêu tả về mức sống thu nhập, ông này còn đính chính về “còn sức chăn gối” khi đã 65 tuổi. Đồng thời đặt ra hàng loạt những yêu cầu cho người phụ nữ cần tìm như tuổi 21-35 tuổi (đáng tuổi con cháu), đặc biệt phải “thích ái ân”, giỏi Anh văn và thậm chí đòi phải có bằng lái xe ô tô ở Việt Nam.

Tuy nhiên, muốn làm được vợ ông này phải lọt qua vòng phỏng vấn và tuyển chọn “coi mắt” – kiểu coi mắt ở nhà hàng theo kiểu tuyển vợ của Hàn Quốc, Đài Loan. Điều khá bất ngờ là những tưởng sẽ được chu cấp hay hứa hẹn cao cho cuộc hôn nhân này, nhưng ông này chỉ hứa chu cấp 3 triệu VND/tháng cho người vợ.

Mẫu tin tuyển vợ của Việt kiều này đã nhận được hàng loạt lời nhận xét của đọc giả trên mạng xã hội như: “Tiền hưu có 1200$ thì sao mà nuôi nổi vợ”. “Quá hớp! Đúng là hạnh phúc giống nhau nhưng bất hạnh mỗi người mỗi kiểu”. “Tuyển vợ mà như tuyển Osin, cho có 3 triệu/tháng thấp hơn cả thuê người ở.”...”(ngưng trích)

Nhiều lời bình dưới bản tin nói đủ thứ nữa... Nhưng nơi đây, xin nhắc rằng, ông bà mình không thô bạo như thế.

Edited by user Saturday, January 31, 2015 2:17:24 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#28 Posted : Saturday, February 7, 2015 5:05:50 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

NĂM MÙI NÓI CHUYỆN DÊ

Bảo Lâm


Năm nay là năm dê, năm Ất Mùi. Những năm Mùi chỉ đi cùng với 5 can là Ất, Đinh, Tân và Quí. Do đó chỉ có các năm Ất Mùi, Đinh Mùi, Kỷ Mùi, Tân Mùi và Quí Mùi.

Tháng Mùi là tháng 6 âm lịch. Giờ Mùi là từ 1 giờ đến 3 giờ chiều. Xem phương hướng thì Mùi là Tây Nam. Mùi tương ứng với Thổ. Theo thuyết âm dương thì Mùi cùng với Sửu, Mão, Tị, Dậu và Hợi là âm, trong khi Tí, Dần, Thìn, Ngọ, Thân và Tuất là dương.


Một chi tiết liên quan đến thập can và thập nhị chi có lẽ cũng nên nói ở đây. Đó là tục đặt tên ở miền Bắc và miền Nam. Tất cả tên của thập nhị chi đều có thể dùng để đặt cho nam cũng như nữ ở miền Bắc nhưng kiểu đặt tên này ít khi thấy ở miền Nam. Thí dụ có ông Thìn thì cũng có bà Thìn. Có chị Mùi thì cũng có cụ Mùi ông. Trong khi đó, tên của thập can thường chỉ được đặt cho phái nam. Phụ nữ ít có tên lấy từ thập can. Tục đặt tên này cũng thường gặp ở miền Bắc.


Tử vi Việt gọi năm nay là năm con dê. Tử vi Tầu gọi là năm con cừu. Mùi viết chữ Hán còn có thể đọc là “vị”. Mùi hay vị là chi thứ tám trong 12 chi. Việt Nam gọi là năm Ất Mùi, Tầu gọi là Ất Vị. Theo tử vi đông phương thì những người cầm tinh con dê thường nhút nhát, hay cả thẹn, hướng nội, có óc sáng tạo và có tính thích gì cũng phải toàn hảo.

Dê chữ Hán là dương. Người Tầu gọi cừu là miên dương. Miên là bông, bông gòn. Cừu là dê … có lông. Cừu, do đó, là dê lông bông nên biến thành cừu.

Dê mà người ta nuôi để lấy thịt và sữa gốc gác từ giống sơn dương đã có mặt từ rất lâu trong vùng tây nam Á châu và đông Âu. Dê đã được thuần hóa để sống với người ít ra cũng từ hơn 10 ngàn năm trước.

Dê họ hàng rất gần với cừu nên hễ nói tới dê là phải nhắc đến cừu. Có khoảng hơn 300 giống dê khác nhau nhưng cừu thì chỉ có vài chục giống. Hiện nay, theo tổ chức Lương Nông Thế Giới (Food and Agriculture Organization của Liên Hiệp Quốc) thì thế giới có khoảng hơn 1 tỉ con cừu được người ta nuôi để lấy thịt và sữa trong khi chỉ có chừng chín trăm triệu dê. Hai nước trên thế giới có nhiều cừu hơn người, đó là Úc và Tân Tây Lan. Ở Úc con số cừu hiện chỉ còn trên dưới 100 triệu. Đã có lúc, khoảng năm 2000, số cừu ở Úc lên tới hơn 120 triệu nhưng con số này giảm xuống vì tình trạng hạn hán và nhu cầu len trên thế giới giảm bớt. Số cừu nuôi ở Úc là khoảng 1/10 tổng số cừu của thế giới. Dân số Úc hiện nay là khoảng trên 36 triệu. Tân Tây Lan có 3 triệu dân trong khi nước này có tới hơn 60 triệu con cừu. Hai quốc gia này ăn rất nhiều thịt cừu. Người Úc và Tân Tây Lan ăn thịt cừu từ lúc lọt lòng ra đời đến lúc chết nên nếu có nói hai nước này là hai quốc gia thịt cừu luôn luôn xuất hiện trong menu (mutton on the menu) thì cũng không ngoa. Đi máy bay ngang qua Úc và Tân Tây Lan khi ngó xuống dưới, người ta có thể trông thấy cơ man nào là những chấm trắng trên những đồng cỏ xanh mướt. Đó là những bầy cừu của hai nước này. Tại các siêu thị ở Mỹ người ta có thể mua thịt cừu của Úc và Tân Tây Lan vài ba ngày trước còn là những con cừu nhởn nhơ chạy nhẩy tung tăng trên những cánh đồng cỏ ở Úc và Tân Tây Lan về làm món thịt cừu (hôi nhưng nếu ăn quen thì sẽ thấy) ngon vô cùng.

Ở Nigeria, Phi châu, có một giống dê nhỏ hơn những con dê thường gặp. Chúng có tên là pigmy goats tức là dê lùn, chiều cao chỉ khoảng 60 cm. Lớn nhất là giống Anglo-Nubian có thể nặng tới 250 cân Anh. Một giống dê ở tiểu bang Tennessee tên là dê myotonic xứng đáng được trao giải Oscar về diễn xuất vì chúng đóng kịch rất giỏi. Khi gặp chuyện sợ hãi, chúng biết giả chết nằm ngay đơ, các bắp thịt cứng lại trong vòng 10 giây rồi lại đứng lên … dê tiếp. Giống dê này có một nét đặc biệt : chúng có hai mắt lồi khác hẳn những giống dê khác. Mỗi năm vào tháng 10 ở quận Marshall, Tennessee nhân ngày đại hội Goats Music and More Festival, những con dê myotonic lại được cả đại hội tôn vinh.

Dê cũng cho lông tuy không nhiều như cừu. Một giống dê ở vùng Kashmere thuộc Ấn Độ và Pakistan sản xuất ra một loại len rất mềm, ấm và đẹp gọi là cashmere. Len cashmere thường được dùng để may khăn quàng cho các ông và áo lạnh cho các bà. Khỏi nói, cả hai đều rất đẹp, rất nổi tiếng và đắt tiền.

Có một vài giống dê trông khá giống cừu. Dê cũng có giống có lông dài và ấm tuy không dầy như cừu. Nhưng nhìn kỹ một chút thì thấy ngay hai loài vật này có khác nhau. Khác nhau khá nhiều là đằng khác.

Thứ nhất là chỉ cừu mới có một đường chẻ dọc từ mũi xuống miệng. Dê thì không. Giữa mũi và mịệng dê không có đường chẻ. Dê đực và dê cái đều có râu. Râu dê cái thường ngắn hơn của dê đực. Kiểu râu này chỉ mọc ở cằm rất giống râu dê nhưng không có nghĩa là cũng oai hùng như dê mà cũng chưa chắc đã dê được ai. Tướng Nguyễn Khánh chẳng hạn. Có râu dê mà vẫn bị các tướng lãnh khác đá văng buộc phải lưu vong.

Đuôi dê luôn luôn chổng ngược lên. Đuôi cừu luôn luôn cụp xuống, che kín phần dưới nên chỉ có dê mới bị chiếu cố món ông thầy . Đồ nghề của cừu cũng oai hùng và hung hãn không kém gì của dê nhưng vì khéo che đậy nên của cừu không bị lôi ra nấu nướng như của dê cho mấy người đàn ông ham hố ăn với nhau hy vọng được vợ và đào khen. Họ đâu có hiểu là phụ nữ khi lên tiếng khen là khen đồ đạc của dê chứ khen gì mấy anh đàn ông mất nết già mà ham đó.

Đầu dê cũng có nét đặc biệt hơn đầu cừu. Dê có sừng. Sừng dê đực dài hơn sừng dê cái. Sừng của dê rỗng, cong về phía sau, không chẻ ra nhiều nhánh như gạc hươu, nai. Dê dùng sừng để tự vệ hay bảo vệ chủ quyền (các chị dê cái). Sừng dê khiến cho dê không có hàm trên. Có sừng thì đừng hàm trên là vậy. Cừu thì chỉ một số có sừng. Đầu dê còn có một công dụng khác mà đầu cừu thì không. Người ta dùng đầu dê treo ngoài cửa trong khi trong tiệm bán thịt chó chứ không bao giờ treo đầu cừu bán thịt chó. Món thịt chó bán trong các tiệm này gọi là dương thế tức là món thay thế cho thịt dê.

Dê là loài nhai lại. Dạ dầy của dê rất lớn, sức chứa có thể lên tới 30 lít chia ra làm 4 ngăn có những trách nhiệm khác nhau như ngăn để chứa thức ăn chưa qua tiến trình tiêu hóa; một ngăn để nghiền lá cây và cỏ, một ngăn để tiêu hóa các chất dinh dưỡng ở thể lỏng và một ngăn có nhiều mạch máu và tuyến tiêu hóa. Vì vậy, dê ăn uống cũng khác, chỉ dùng lưỡi quơ nhanh, nhai đểu đảo qua loa rồi nuốt… rỗi rãi thì tính sau hệt như trâu bò cùng họ nhai lại với nhau cả.

Dê, giống như cừu, là loài có móng kép. Nhưng dê leo trèo giỏi hơn cừu. Dê có thể leo cây để ăn lá, ăn luôn cả gai ở trên cao trong khi cừu chỉ ăn cỏ ở dưới. Dê ăn được cả những thứ lá rất độc mà không việc gì.

Dê còn khác cừu ở chi tiết này nữa: dê thông minh và sống độc lập hơn cừu. Dê cũng được nuôi thành đàn nhưng những đàn dê thường nhiều lắm chỉ là khoảng vài chục con. Dê là giống sống hợp quần nên dê không thể nuôi làm cảnh một con như các loài thú cưng khác. Cừu thường được nuôi thành đàn, có khi cả ngàn con vì cừu dễ chăn hơn dê. Để chăn những đàn cừu ngàn con như thế người ta chỉ cần khoảng năm, mười con chó là đủ.


Dê là giống trở lại làm thú hoang rất nhanh. Chỉ cần một thời gian ngắn xổng ra ngoài là dê trở thành dê rừng ngay. Lợn và mèo là hai giống cũng nhanh chóng trở thành lợn rừng và mèo hoang. Tại Úc, Tân Tây Lan, Anh và Galapagos có những bầy dê rừng rất đông đảo trước là của người nuôi nhưng xổng ra ngoài rồi trở thành hoang dã. Tại những nơi vừa kể chúng không bị các loài thú dữ như hổ, sư tử đe dọa nên mặc sức sinh sản.

Dê sống được ở nhiều nơi phong thuỷ, thổ ngơi khác nhau. Có giống dê thân mình to lớn gọi là đại dương. Loài dê lớn xác này còn có tên là đại Tây dương sống nhiều ở bên Tây tức là nước Pháp. Dê sống ở nam bán cầu trong khu vực nước biển bị đóng băng là nam băng dương. Dê sống thành băng đảng ở biển bắc là Bắc băng dương. Dê cậy số nhiều kéo nhau đi tấn công nước Pháp là dương đông kích Tây. Dương lịch là giống dê ăn mặc chải chuốt, lịch sự lịch sàng. Trái với dương lịch là dương trần chuyên ở trần ra đường đi thả dê. Dê có râu rậm khi cười thành tiếng thường nghe be he, be he gọi là dê xồm. Phụ nữ nghe thấy tiếng cười đó ở chỗ vắng thì nên tìm mọi cách để giữ mình. Dê cao niên sống lay lứt nhờ Viagra gọi là dê cụ. Nhưng dương cụ lại là dụng cụ để dê. Cũng có khi gọi cà ông giặc. Trong môn wrestling, các đô vật còn mang tên là dê hay vật nhau tức là dương vật chơi trò vật lộn như trâu trong hội chọi trâu ở Bắc Việt Nam. Nghĩa đen là hai con dê vật nhau vui đáo để. Dê sống ở khu vực phía tây Thái Lan, Malaysia là Ấn Độ dương. Dê làm nghề thầy cúng chuyên làm lễ, đọc kinh lấy tiền để sống là dê tế thần. Có một con dê tưởng là văn minh lắm nhưng đã làm mất nguyên một quốc gia, đẩy cả nước vào vòng trầm luân bể khổ là dương văn minh. Dê không làm ăn gì được nữa chỉ chạy chơi vòng vòng ở ngoài là dương liệt hay liệt dương thì cũng vậy.

Tuổi thọ của dê, nếu không bị biến thành dê xào lăn hay lẩu dê, là khoảng 18 năm. Nhưng cũng có con sống được tới ngoài 20 tuổi. Dê cái có tuổi thọ bị giảm đi đáng kể vì sinh đẻ. Tuổi thọ của dê cái có khi chỉ còn 10 năm. Dê cũng bị những thứ bệnh của những loài thú có móng như bệnh lở mồm long móng. Dê có thể truyền một số bệnh sang người thí dụ như bệnh lao.

Có hai người chăn dê nổi tiếng, một là ông Tô Vũ. Ông này tên thật là Tô Tử Khanh người đất Đỗ Lăng, là một bề tôi trung thành của Hán Vũ Đế. Ông được vua Hán sai đi sứ sang Hung Nô để thương thuyết, hy vọng Hung Nô không đánh chiếm giang sơn nhà Hán. Nhưng vì Tô Vũ có một hành động làm phật lòng vua Hung Nô nên ông bị vua Hung Nô giữ lại, không cho về nước nữa. Tô Vũ bị vua Hung Nô bỏ vào một hang đá cho chết đói. Nhờ uống những giọt sương mà Tô Vũ sống. Vua Hung Nô nghe chuyện thì rất kinh hãi, coi Tô Vũ là một ông thần nên mới sống nổi qua tình cảnh ngặt nghèo như thế, nhưng vua Hung Nô vẫn không chịu thả Tô Vũ mà bắt Tô Vũ đi chăn dê ở một nơi xa xôi, hẻo lánh thuộc miền Bắc với lời hứa khi nào những con dê đực trong bầy đẻ ra dê con thì mới được thả cho về Hán. Vua Hung Nô nói với Hán Vũ Đế rằng Tô Vũ đã chết nên không về Hán được nữa. Trong cơn tuyệt vọng, Tô Vũ viết một bức thư cho Hán Vũ Đế và buộc vào chân một con ngỗng trong đàn ngỗng trời bay về Nam. Vua nhà Hán nhận được thư của Tô Vũ do con ngỗng đem tới liền đem thư cho vua Hung Nô xem. Vua Hung Nô không chối được đành phải thả Tô Vũ cho về Hán.

Người chăn dê kia tên là Long. Không biết người gốc gác ở đâu. Chỉ biết Long đi chăn dê (?), làm mất (?) dê tức là không còn dê nữa. Đầu đội nón (?), tay cầm một cây gậy (?) trông người đàn ông tên Long (?) này rất quái đản nhưng ai (?) cũng thích ông (?) ta.

Dê là một giống vật giúp rất nhiều cho người. Dê cho người ta thịt. Nhưng thịt dê có người thích có người không . Người Âu thích thịt cừu. Ít người Âu chuộng thịt dê. Người Ấn thích thịt dê trong khi ở Trung Đông người ta thích cả hai thứ. Người theo Hồi giáo cũng thế. Người Việt không thích thịt cừu mà chỉ ưa thịt dê. Thịt dê được nấu thành nhiều món: lẩu dê, dê tiềm thuốc bắc, tiết canh dê, dê ông thầy… Không thấy thịt cừu được nấu nhiều món như thế. Sữa dê không quá nhiều chất béo và cholesterol như sữa bò. Sữa dê không thích hợp cho trẻ con như sữa bò vì ít chất sắt, sinh tố C, B6 và acid pantothenic rất cần cho trẻ, lại có thể gây suy thận cho trẻ em. Sữa dê có khi được các phụ nữ dùng để tắm cho đẹp da và bớt (?) mùi và tính (?) dê. Tại một số nơi trên thế giới, phân dê có thể dùng để đốt thay cho than củi. Ruột dê và ruột cừu được dùng làm dây đàn đại hồ cầm (contre bass) trong khi cái archet để kéo vĩ cầm, hồ cầm, trung hồ cầm và đại hồ cầm thì lại dùng lông đuôi ngựa. Nhưng đem những thứ đàn ấy mà kéo cho trâu nghe thì hỏng hết. Ruột dê còn được chế thành chỉ để khâu các vết thương hay trong những cuộc giải phẫu.

Dê và cừu gần nhau như thế thì dê có …dê cừu không? Và cừu có dê … dê không? Có. Nhưng kết quả ra sao?

Cọp và sư tử có lạng quạng với nhau. Ngoài thiên nhiên, hai giống thú này sống ở hai châu lục khác nhau: cọp ở Á châu trong khi sư tử thì ở Phi châu và vài trăm con ở Ấn Độ. Nhưng khi cho chúng sống chung như trong các safari park thì chuyện chung chạ cũng diễn ra để đẻ ra những con tigon (cha cọp tiger và mẹ sư tử lion) hay liger (cha sư tử lion, mẹ cọp tiger). Ngựa với lừa, với ngựa vằn, cũng có … đụng độ và cũng có những con hybrid hệt như xe vừa chạy xăng vừa chạy điện. Dê và cừu vì số nhiễm thể (chromosomes) khác nhau (dê có 60 và cừu có 54) nên không thành công mấy cũng như voi Á châu và voi Phi châu vậy. Thường kết quả của những giao phối này không sống được lâu.

Thế dê có dê người không, và người có dê dê không? Dê thì không dê người nhưng người thì có dê… dê. Theo một số bài viết đọc được trong internet thì Ayatollah Khomeini, một giáo sĩ Hồi giáo, người lật đổ chế độ vương quyền ở Iran để thành lập cộng hòa Hồi giáo Iran trong một cuốn sách có đề cập tới trò chung đụng này. Theo những bài viết đó thì Ayatollah Khomeini khẳng định rằng người theo đạo Islam có thể giao phối với lạc đà, dê, cừu, bò … nhưng xong chuyện, thì phải giết những con thú này ngay. Tuy nhiên luật Sharia của Hồi giáo cấm bán thịt của chúng cho những người cùng làng xóm nhưng bán cho dân làng khác thì được. Hiện có rất nhiều tranh cãi về nguồn gốc và sự trung thực của những chi tiết nói là được ghi trong cuốn sách có tựa đề là Tahrir-al-Vasyleh ( 4th edition, Darol Elm, Qom, Iran, 1990).

Dê là giống có khả năng sinh sản cao. Dê đực khoảng 5 tháng là có thể làm cha trong khi dê cái khoảng trên dưới 7 tháng là có thể sinh con. Thường dê cái đẻ mỗi lần 1 hay 2 con nhưng cũng có những trường hợp sinh 3. Thời kỳ mang thai của dê là 140 ngày. Dê đực trong thời kỳ nổi máu dê có một mùi rất đặc biệt toát ra từ một tuyến ở gần đuôi. Mùi dê đực rất hôi nhưng lại rất hấp dẫn dê cái. Muốn loại trừ mùi hôi của dê đực chỉ có một cách là thiến. Dê có thể thiến khi được 7 tháng. Sau đó dê trở nên thất học vì không còn ông thầy (?) nữa. Một cách khử mùi dê khác thì dã man hơn. Trước khi giết thịt dê đực, người ta đánh cho nó chạy và kêu lớn, mồ hôi đầm đìa ra là bớt mùi hôi ngay.

Dê được thờ như một thứ thần linh ở cổ Ai Cập. Người Ai Cập dùng dê để tế thần ác thay cho người. Trong thần thoại Hy Lạp, thần Pan có nửa dưới là dê, đầu có sừng và có râu dê. Ông thần Pan này rất dê hay rượt các phụ nữ trẻ nếu các cô đi lạc đường vào trong rừng. Có phải vì vậy mà dê mang tiếng là dê không?

Thánh kinh cũng có nhắc tới dê. Dê cùng với cừu, lừa và bò là những con vật giúp làm ấm cho Chúa hài đồng trong đêm Giáng Sinh lạnh lẽo.Trong lễ Yum Kippur của người Do Thái, hai con dê được chọn để tế thần nhưng chỉ một con bị giết. Bằng cách bốc đại một trong hai cọng rơm, một con được thả cho chạy thoát, mang theo tất cả tội lỗi của cộng đồng. Từ chuyện này, mới có danh từ scapegoat, con dê tế thần. Scapegoat sau có nghĩa là người phải gánh chịu mọi tội lỗi thay cho người khác trong khi chính người ấy không hề phạm phải. Một số người đồng hóa hình ảnh của quỉ Sa Tăng với dê. Hình ngôi sao lộn ngược được những người thờ Sa Tăng dùng làm biểu tượng cho Sa Tăng với cặp sừng, hai tai và chòm râu.

Dê là chữ trong tiếng Việt dùng để tả tính người thích làm ẩu phụ nữ (làm không ẩu thì không phải là dê). Chữ dê với nghĩa này chỉ có sau thập niên 40 vì nó không xuất hiện trong cuốn tự điển của các cụ trong hội Khai Trí Tiến Đức. Đây là tiếng miền Nam, cũng như hai chữ “băm lăm” vậy. Sở dĩ có từ ngữ băm lăm con dê hay dê băm lăm là vì trong trò chơi đánh đề, hình ảnh con dê được cho đi kèm với con số 35.

Trong văn chương Việt Nam dê chỉ được nhắc đến trong Lục Súc Tranh Công, tác phẩm viết bằng văn vần mà tên của tác giả không ai rõ, chỉ biết tác phẩm này ra đời khoảng Lê mạt hay Nguyễn sơ tức là trong những năm thuộc thế kỷ 18. Lục Súc Tranh Công kể chuyện sáu con vật tranh nhau kể công, con này chê con kia vô tích sự hay công lao không bằng mình. Sáu con đó là trâu, ngựa, gà, chó, dê và lợn. Nhờ có chủ đứng ra hòa giải nên chúng mới sống lại được với nhau. Dê bị ngựa chê “hữu đầu vô vĩ”, như có hạ nang, sớn sác trông như đứa ăn cướp. Dê lại chê ngựa và gà là không làm được bao nhiêu công trạng gì trong khi dê tự nhận là “vật tế lễ…để hòng khi về hạng tư văn /để dành khi tế thánh tế thần … hễ có việc lấy dê làm trước / dê dâng vào người mới lạy sau…”

Dê cũng rất có ích trong việc dọn dẹp những bụi cây để ngừa hỏa hoạn như ở nhiều vùng thuộc California. Dê rất được việc vì chúng ăn bất kể loại thảo mộc nào mọc ở dưới thấp hay trên cao chúng cũng leo trèo tới được, giá thuê một bầy dê lại rất rẻ. Ở miền tây nước Mỹ người ta cho thuê những đàn dê để làm công việc phòng hỏa trong mùa hỏa hoạn.

Dê có ích như thế mà lại vẫn bị coi thường, khinh bỉ như vài ba thành ngữ trong tiếng Pháp và tiếng Anh. Người Pháp dùng danh từ bouc (dê đực) để chỉ một người đàn ông thô tục, một người chồng bị vợ khinh bỉ. Danh từ chèvre, dê cái, cũng không khá hơn bao nhiêu. Chèvre trong tiếng Pháp còn có nghĩa là một phụ nữ không có nhan sắc như khi nói Il serait amoureux d’une chèvre coiffée là thằng cha ấy thấy con dê cái (một mụ đàn bà xí gái) có tí tóc là nó cũng mê mẩn chết luôn. Trong tiếng Anh, thành ngữ play/ act the goats là làm trò điên khùng. To get the goats là làm cho ai bực mình, tức giận. To separate the sheep from the goats nghĩa là chọn lựa người tốt hay vật có giá trị từ những thứ tồi tệ, không có bao nhiêu giá trị.

Vì muốn nói lên đôi điều tốt đẹp về dê nên bài viết này được viết ra để nhớ những con dê đã đi ngang đời của người viết. Cám ơn dê nhiều lắm. Dê muôn năm.Đời đời nhớ dê.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#29 Posted : Monday, February 9, 2015 6:07:30 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
sưu tầm
Con dê trong đời sống văn hóa Việt Nam


Trong các vật nuôi, dê là loài có ý nghĩa tinh thần phong phú và giá trị biểu tượng cao. Nó thể hiện vai trò gần gũi mà quan trọng, tạo ra những ảnh hưởng mạnh mẽ, đa dạng, tích cực tới đời sống văn hoá của người Việt Nam.

Do được thuần dưỡng từ rất sớm, sử dụng phổ biến, liên tục, lâu dài, mang giá trị vật chất đa dạng và mật thiết, nên dê cũng tạo ra giá trị tinh thần phong phú, ảnh hưởng sâu rộng đến tâm linh và đời sống văn hoá nghệ thuật của người Việt Nam. Nó là một trong sáu con vật nuôi thông dụng nhất (lục súc: dê, gà, chó, lợn, ngựa, trâu) và một trong ba thứ lễ vật đặc biệt để cầu cúng, tế dâng thần thánh (tam sinh: dê, lợn, bò). Trong sự kết hợp thiên can với địa chi để tính thời gian và chu kỳ phát triển, dê nhập hệ lịch can chi 12 con vật, là biểu tượng chi Mùi - một chi quan trọng, mang những ý nghĩa triết lý và nhân văn sâu sắc. Giờ Mùi kéo dài từ 13 đến 15 giờ, thời gian mở đầu buổi chiều, con người vừa ăn trưa xong, đang thanh thản nghỉ ngơi và sung mãn bước vào buổi lao động mới (giờ Mùi là thuộc dê bởi sau khi cỏ lá bị dê ăn thì vào giờ này cũng có sức tái sinh mạnh nhất). Tháng Mùi là tháng Sáu âm lịch, thời tiết sáng sủa nhất trong năm, cây cối tươi tốt, ra hoa kết quả nhiều nhất và con người cũng vừa thu hoạch xong vụ chiêm, dồi dào sinh lực. Quan niệm tín ngưỡng còn cho rằng người sinh năm Dê (tuổi Mùi) thường mưu trí, nhiệt tình, năng động, tài giỏi, thành đạt và gặp nhiều may mắn, hạnh phúc trong đời. Câu ca dao: "Người ta tuổi Ngọ tuổi Mùi / Riêng tôi ngậm ngùi mang lấy tuổi Thân" có ý nghĩa xuất phát từ đó.

Ngôn ngữ luôn là nền tảng của đời sống tinh thần và văn hoá con người. Trong ngôn ngữ Việt Nam, hình ảnh dê xuất hiện khá đa dạng, sinh động, hấp dẫn và đầy ngụ ý. Chúng ta gặp "dê" (dương) ở nhiều lĩnh vực ngôn từ: tự nhiên và xã hội, lý thuyết sách vở và giao tiếp thực tiễn. "Máu dê" thể hiện khả năng sinh dục mạnh mẽ; "râu dê" mô tả bộ râu rậm, dài, hơi cong; "sữa dê" nói đến sự bổ dưỡng, nguồn thu nhập lớn, mới lạ; "dê cụ" ám chỉ kẻ rất dâm đãng; "thói dê" khái quát bản tính ham chinh phục người khác giới... Dê hiện diện trong nhiều loại địa danh: từ núi đồi, sông suối, bến đảo, ga chợ đến tên lãnh thổ hành chính các cấp: làng xã Dương Xá (Hà Nội), huyện Sơn Dương (Tuyên Quang), tỉnh Bình Dương v.v... Dê vốn được dùng phổ biến làm thực phẩm và dược liệu nên tên nó cũng được đặt cho nhiều loài thực vật - nhất là những cây trồng để ăn và chế thuốc: cây tiết dê, cỏ móng dê, cà dái dê, cây sừng dê, dâm dương hoắc, dương tử tô, dương đề, toả dương...

Dê còn được lấy làm đối tượng cho hàng trăm câu ngạn ngữ, phương ngữ, tục ngữ, thành ngữ, ca dao sinh động, dân dã mà thâm thuý. "Bán bò tậu ruộng mua dê về cày" mỉa mai cách thức làm ăn trái khoáy, không biết tính toán hoặc việc bỏ vật hữu ích để chuốc lấy thứ chẳng ra gì. "Cà kê dê ngỗng" đánh giá sự kể lể tản mạn, dài dòng, huyên thuyên những chuyện lặt vặt, vớ vẩn. "Chăn dê uống tuyết" ngầm chỉ nghị lực cao, sẵn sàng chịu đựng lâu dài đói khổ, thiếu thốn, tủi nhục để giữ vững lòng trung thành hoặc thực hiện mục tiêu cơ bản của mình. "Máu bò cũng như tiết dê" nhìn nhận coi hai chuyện, hai sự việc, sự vật chẳng khác gì nhau mấy về mọi phương diện. "Giàu nuôi chó, khó nuôi dê, không nghề nuôi ngỗng" là kinh nghiệm về thời điểm chăn nuôi những con vật có ích cho điều kiện kinh tế của bản thân, gia đình hoặc xác định, lựa chọn những hoạt động phù hợp với năng lực, hoàn cảnh v.v...

Dê cũng là hình ảnh tiêu biểu đi vào văn thơ, góp phần tạo nên những tác phẩm nổi tiếng thuộc nhiều thể loại và ở mọi thời đại. Từ các áng văn chính luận sắc bén chống giặc như Hịch tướng sĩ (thế kỷ 13) của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (có câu "Tắc lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ") hay Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (thế kỷ 19) của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (có câu "Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó") đến thơ ca lãng mạn trữ tình như bài Dê cỏn (thế kỷ 18) của bà chúa thơ Nôm - nữ sĩ tài hoa Hồ Xuân Hương (Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ / Lại đây cho chị dạy làm thơ / Ong non ngứa nọc châm hoa rữa / Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa) hay thi phẩm Cung oán ngâm khúc của văn thần Nguyễn Gia Thiều (có câu "Phải duyên hương lửa cùng nhau / Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào") v.v... Còn trẻ em Việt Nam khi chơi trò dung dăng dung dẻ thường thuộc lòng bài đồng dao vui nhộn: "Dung dăng dung dẻ / Dắt trẻ đi chơi / Đến cửa nhà trời / Lạy câu lạy mợ / Cho cháu về quê / Cho dê đi học / Cho cóc ở nhà / Cho gà bới bếp / Ngồi xệp xuống đây".

Hình ảnh dê trở nên sinh động, gần gũi hơn qua những trò chơi và lễ hội truyền thống. Phổ biến mà đặc sắc nhất vẫn là trò "bịt mắt bắt dê". Trò chơi này thường tổ chức trong những ngày vui (hội đầu xuân, trung thu...) hoặc các cuộc chơi thể thao văn hoá dân dã, với cách khác nhau tùy thuộc đối tượng tham dự. Nếu là trẻ em, một em nhỏ bị bịt mắt phải đuổi bắt trong khu vực sân nhiều em khác giả làm dê vừa di chuyển vừa kêu "be, be...". Nếu là người lớn, trò chơi còn ngộ nghĩnh hơn vì con dê thực được thả vào sân, hai người (một nam, một nữ) bị bịt mắt đuổi bắt nó; cả ba đều khoác áo tơi, chân đeo lục lạc nên phát ra những âm thanh giống nhau khi chạy nhảy, khiến hai người khó phân biệt nổi, vì vậy nhiều lúc không bắt được dê mà lại... tóm ôm nhầm phải nhau, gây tiếng cười sảng khoái, thích thú cho khán giả.

Ở một lĩnh vực khác, tĩnh lặng nhưng phong phú, bền vững là hình tượng dê trong kiến trúc, tạo hình, trang trí. Dê được thể hiện khá đa dạng trên tranh, bia, miếu, đình, đền, chùa, rạp, nhà, công sở... với đủ loại chất liệu: đất, đá, vữa, bạc, đồng, gỗ, mực... và bằng nhiều kỹ thuật: tạc, đắp, nặn, xăm, chạm, khắc, đúc, nung, vẽ... Trong lục súc (trâu, gà, chó, lợn, dê, ngựa), có lẽ dê là hình tượng tiên phong xuất hiện ở các chùa chiền cổ xưa - nơi vốn thường chỉ thấy hình ảnh các loài vật linh thiêng, cao quý (rồng, hổ...). Chẳng hạn, tại bệ đá đặt tượng Phật của ba chùa Bối Khê, Trung, Quế Dương ở Hà Tây (niên đại cuối thế kỷ 14) đều có khắc hình dê vui tươi, miệng ngậm cành lộc, đầu ngoảnh về phía sau. Tại bệ đá chùa Vắp ở Yên Bái cũng khắc hình dê tương tự (nhưng miệng không ngậm gì). Chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh (niên đại đầu thế kỷ 17) hiện diện hơn 50 bức chạm nổi trên lan can đá, trong đó một bức bên trái thượng điện chạm rất tinh tế ba con dê: một con nằn nhởn nhơ trên cỏ, hai con còn lại với tư thế sinh động khác nhau đang ngẩng nhìn bầu trời cao rộng có vầng dương lấp ló sau áng mây.

Cùng niên đại này, tại nhiều chùa khác, còn thấy trang trí những hình tượng dê đang đùa giỡn vui nhộn (đôi khi đến mức hài hước) trên bia và khánh đá. Trong nhóm tượng đất, tượng gốm, tượng gỗ cổ truyền thường gặp bức Tô Vũ chăn dê ghi lại cảnh sứ giả nhà Hán không chịu hàng phục bạo chúa Hung Nô nên phải uống tuyết để đỡ đói khát, bị ép buộc đi chăn dê, chịu cực nhục gần 19 năm vẫn giữ trọn lòng trung quân ái quốc; bức Hai dê qua cầu diễn tả hai chú dê húc nhau giữa chiếc cầu cong do chẳng con nào chịu nhường đối phương; bức Mẹ con nhà dê thể hiện sự âu yếm của dê mẹ đối với đứa con hiếu động. Tranh vẽ dê cũng xuất hiện khá sớm, đặc sắc nhất là bức Lục hợp đồng xuân của dòng tranh Hàng Trống (Hà Nội) vẽ cảnh ông già ngắm xem 6 cháu đang nô đùa với dê và bức Bịt mắt bắt dê của làng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh) vẽ cảnh một chú dê vừa chạy trốn vừa ngoái nhìn đôi thanh niên nam nữ mắt bịt kín đang lần mò tìm bắt nó. Những thập niên gần đây, tranh dê còn thu hút năng lực sáng tạo của không ít hoạ sĩ Việt Nam hiện đại, thuộc mọi trường phái, thể hiện dưới nhiều bút pháp. Tiêu biểu nhất là hoạ sĩ Phạm Văn Tư, đầu năm 1991, anh triển lãm 120 bức tranh vẽ toàn về dê với đủ đề tài, bằng những sáng tạo độc đáo, mới lạ, đem lại nụ cười hóm hỉnh và ấn tượng bất ngờ khó quên cho người xem.

Edited by user Monday, February 9, 2015 6:08:06 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
stormy  
#30 Posted : Friday, February 13, 2015 11:55:51 PM(UTC)
stormy

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 383

Thanks: 396 times
Was thanked: 393 time(s) in 209 post(s)
Năm Ất Mùi kể chuyện Dê

Thời gian trôi qua thật nhanh, mới đây mà nhiệm kỳ của con ngựa đã mãn, nhường chỗ cho con Dê đến thay thế. Nhìn lại những việc đã xảy ra trong năm rồi, cho thấy Nhâm Ngọ 2002 quả thật là một năm ''xúi quảy'' ! Hầu hết các nơi trên thế giới, đâu đâu cũng đều gánh chịu những hậu quả về thiên tai, bão lụt, núi lửa phun nham thạch, động đất, hỏa hoạn và cháy rừng... Nhiều tai nạn khủng khiếp về đường bộ, đường sắt đường hàng không và đường thủy làm thiệt hại về nhân mạng và vật chất rất đáng kể. Nhiều vụ cháy lớn được ghi nhận, đặc biệt ở VN vụ hỏa hoạn tại Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế, gần chợ Sàigòn đã làm cho gần 100 chết.

Về tình hình an ninh chung của thế giới là vấn đề thời sự nóng bỏng, với những hành động khủng bố, bắt cóc người để chuộc mạng, những vụ phá hoại, đặt chất nổ gây chết người ở Pakistan, cũng như tại Bali gây tử vong cho hơn 200 người, đa số là khách du lịch. Tại thủ đô Nga, một toán đặc công trên 50 người, mà phân nửa là phụ nữ, đã mạo hiểm vào một rạp hát, bắt giữ trên 300 người, với một yêu cầu là buộc quân đội Nga phải rút ra khỏi lãnh thổ Tchéchénie. Sau 3 ngày thương thảo bất thành, Nga tấn công giải tỏa con tin. Tất cả bọn khủng bố đều hy sinh. Nhưng thiệt hại về phía thường dân Nga thì có đến hơn 100 người chết.

Tại Trung Đông, nhiều cuộc đụng độ đẫm máu thường xuyên xảy ra giữa Do Thái và Palestine. Cứ vài hôm là có tin xảy ra một vụ khủng bố tự sát. Điển hình nhất là mới đây tại Kenya (Châu Phi) một vụ đặt chất nổ tại một khách sạn, có tính cách bài Do Thái và một phi cơ chở 200 hành khách, may mắn thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc do hỏa tiễn của quân khủng bố.

Cuộc thi hoa hậu thế giới tại Phi Châu đã bị một nhóm Hồi giáo quá khích nổi loạn, sát hại trên 200 người. Do đó cuộc thi phải chuyển qua Luân Đôn, Anh quốc và kết quả chung cuộc mới được công bố vào ngày 07-12- 2002.

Nhằm tránh một cuộc chiến tranh tàn khốc có thể xảy ra, cuối cùng Irak đành chấp thuận để phái đoàn chuyên gia của Liên Hiệp Quốc trở lại thanh tra kho vũ khí bị nghi ngờ có thể hủy diệt hàng loạt. Tuy nhiên hòa bình cũng chỉ như chỉ treo chuông vì thoảng như có một số sự cố hay một sơ xuất nhỏ xảy ra, cũng đủ là cái cớ để Hoa Kỳ gây chiến và lật đổ Saddam Hussein.

Một sự kiện lạc quan duy nhất đáng nghi nhớ là nhân Đại Hội Quốc Tế Giới Trẻ lần thứ 17, được tổ chức tại Toronto, Canada, đã qui tụ hơn 200.000 thanh niên tham dự. Mặc dù tuổi cao, sức yếu, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II cũng đã vượt trùng dương hơn 17.000 cây số, đến chủ tọa và cử hành Thánh Lễ. Dịp này, ĐTC đã được toàn thể đại hội hoan nghênh nhiệt liệt. Đại hội được đánh giá cao vì đã thành công mỹ mãn.

Đi vào đề tài chính, như lời tựa, năm Mùi kể chuyện Dê. Có thể nói, đối với báo Giáo Xứ Việt Nam là một thông lệ, một thói quen, năm nào cũng có bài viết về con vật liên hệ của năm đó.

Trong thập can : Giáp, Ất, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Thân, Nhâm, Qúy và 12 chi tức : Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Năm vừa qua là năm Nhâm Ngọ. Vậy năm nay là năm Qúi Mùi. Tuổi mùi là tuổi con Dê. Chữ Hán gọi Dê là Dương. Ngoài loại dê nhà tức loại gia súc, ở miền rừng núi còn có một giống dê rừng mang tên là Sương Dương, sắc lông mầu vàng sậm, còn dê nhà thì lông trắng, đen, hoặc trắng có đốm đen. Tiếng kêu của dê là ''be be''. Dê đực có sừng rỗng. Dê cái có vú và cho sữa. Một loại sữa đặc biệt ngon và bổ hơn hết. Người ta còn dùng sữa dê để làm phó mát (fromage de chèvre). Da dê thuộc (tanner) để làm giầy dép, bóp xách tay... Xưa kia ở vùng biên giới Mông Cổ và Ấn Độ rất nổi tiếng về loại hàng vải tên cát-sơ-mia (cachemire). Loại hàng này rất qúy và đắt bởi phải dùng tay để chải lông dê, nên hàng rất mịn màng.

Thịt dê cũng là thức ăn ngon và bổ qua các món ăn nổi tiếng như Càry Dê Ấn Độ, Lẫu Dê, rượu Huyết Dê và rượu Dê Hàm Nàm (Theo tự điển của Thanh Nghị gọi là Hàng Nàm).

Trước đây, ở VN khi hạ thịt một con dê, người ta cột nó lại và đánh đập cho nó chảy mồ hôi, nghĩ rằng làm như vậy, thịt dê sẽ không còn mùi. Điều này nếu ở tại một nước văn minh như Pháp chẳng hạn, mà hành hạ thú vật kiểu đó, sẽ bị truy tố. Xin mách qúi vị và các bạn một phương thức thật giản dị, trước khi nấu nướng, chỉ cần chà xát và ướp thật nhiều gừng (gingembre) thì thịt sẽ không còn mùi gì cả.

Trải qua bao nhiêu biến cố thăng trầm, người dân VN vẫn giữ được nét đặc thù cố hữu, luôn có óc trào lộng, nhất là khi nhắc đến danh từ dê. Tại sao như thế ? Ra mắt chư độc giả trong Báo Xuân năm nay, chúng tôi tuần tự ghi lại những điều hiểu biết cùng một ít kinh nghiệm nhằm giải tỏa một vài thắc mắc của một thiểu số độc giả, nhất là đối với các bạn trẻ gốc VN, nhưng sinh ra và trưởng thành tại hải ngoại, có một khái niệm sơ đẳng về phong tục tập quán của quê hương VN.

Trước hết là qua truyền khẩu dân ta thường tin vào câu ''Nam Nhâm Nữ Qúy''. Bởi thế cho nên nếu em bé gái nào chào đời trong năm Qúy Mùi này thì đa số đều có hậu vận vô cùng tốt đẹp. Sau đây xin ghi lại một vài hiểu biết về danh từ Dê :

- Thời Pháp thuộc, dân VN được học thêm chương trình Pháp, học sinh ngồi cạnh bên nhau, khi thuận thảo thường trao đổi cho nhau xem bài vở, nhưng khi bất hòa thì tả oán, là chộ, cho nhau rằng ''thả cọp bắt dê'' ý nói cọp dê (copier).
- Trò chơi bịt mắt bắt dê (Colin-maillard) chắc chắn học sinh nào cũng thông suốt.
- Nhằm mỉa mai bọn gian thương bất chính, ta có câu : Treo đầu dê bán thịt chó.
Chớ quen bán chó mua dê.
Vui cùng hạc nội, ham chi gà lồng.
- Ca dao cũng góp phần vào việc giáo dục người đời qua câu :
Thế gian, ba sự khôn chưa
Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương tơ.

Danh từ Dê còn là một ẩn ngữ có tính cách châm biếm. Thường người dân thành thị tự cho mình là văn minh nên tỏ ý chê bai khinh rẻ người dân nông thôn. Họ ngạo nghễ bảo : ''Nhà quê, thấy dê hô thuốc tễ'', hoặc như câu nói :
Ông kia coi dáng nhu mì
Cứt dê bỏ bị, mà đi suốt làng.

Nhiều danh từ không đẹp để gán cho những anh chàng sàm sỡ, đại loại như :
- Dê già : già không nên nết, già mà còn ham dâm dục
Ông già ông đội nón cồi
Ông dê con gái, ông Trời đánh ông.

- Dê cụ : Nổi tiếng nhất trong sách sử có Ông Trượng Dê Tiên Bửu chèo đò và điển hình nhất là Ông Chiêu Hổ. Một khi đã dê thì nhất định phải thành công : Ông ghè không được, ông ghè mãi, ghè mãi rồi ra cũng phải rè.

- Dê đạo lộ : Loại dê này rất bướng, rất táo bạo, nơi nào cũng thả con dê ra được cả :
Hồ Xuân Hương dã châm biếm :
Ông Đồ tỉnh, ông Đồ say
Sao ông ghẹo nguyệt giữa ban ngày.

Lại có những chàng trai thiếu nhã nhặn, không đứng đắn khi trêu chọc phụ nữ, tán gái một cách khiếm nhã và sỗ sàng :
Hỡi cô mặc áo yếm hồng
Đi trong đám hội, có chồng hay chưa ?
Cô kia, má đỏ hồng hồng
Cô chưa lấy chồng còn chờ đợi ai ?

hoặc :
Ngó lên mây trắng, mây xanh
Ưng ai cũng vậy, ưng anh cho rồi!

Đã gọi rằng dê đạo lộ thì không trừ một nơi nào, tại phố phường, trên đồng, dưới ruộng, cũng có mòi dê cả :
Chiều chiều ra chợ Đông Ba
Ngó về hàng bột, trông ra hàng đường
Nhìn mai, ngắm liễu, xem hường
Cô nào đẹp nhất xin nhường cho tôi.


Trông thấy một phụ nữ đang lao động, tay lấm chân bùn cũng buông lời hoa nguyệt :
Cô kia cắt cỏ một mình
Cho anh cắt với, chung tình làm đôi
Cô còn cắt nữa hay thôi
Cho tôi cắt với làm đôi vợ chồng.

- Dê xồm : Những ông già có bộ râu cạnh hàm dưới, giống hệt như dâu dê, mà tính tình thì cũng ba trợn với phụ nữ, nên bị phỉ báng :
Dê xồm ăn trái khổ qua
Ăn nhằm đậu đũa, chết cha dê xồm !

Các lão già dịch này, nếu nói về dê thì không kém Bùi Kiệm trong Lục VânTiên mà Đồ Chiểu đã tả :
Con người Bùi Kiệm máu dê
Ngồi trơ bộ mặt, như dề thịt trâu.

Bên cạnh những sự việc trêu chọc gái có tính cách qua đường, cũng có nhiều người thật dạ chung tình, khi đã yêu thì nhất định tiến tới hôn nhân, cưới xin hẳn hoi, cho rỡ ràng hai họ :
Cưới em tám vạn trâu bò
Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm.

Trường đời, không có gì là tuyệt đối cả. Nếu về phía nam mà có những chàng dê, thì chắc chắn phái nữ cũng không kém. Đôi khi còn hơn nữa là khác? Căn cứ vào câu ''Nam thất nữ cửu'', đàn ông chỉ có bảy thôi, còn đàn bà tới chín lận. Đại để như có một thiểu số bà, mặc dù cao niên, nhưng lại là ở tuổi hồi xuân (retour d'âge). Tuổi già mà tình không già, xuân tình còn rung động :
Bà già đã bảy mươi tư
Ngồi bên cửa sổ, biên thư kén chồng.


Riêng đối với phụ nữ, khi lửa tình đã bừng cháy, thì họ rất đường đột, tự nhiên không mắc cỡ, nghĩ sao nói vậy :
Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
Lại đây cho chị dạy làm thỏ
Ong non ngứa nọc, châm hoa sữa
Dê cỏn buông sừng, húc giậu thưa.

Hơn thế nữa, nhiều bà đã có gia đình, có chồng mà còn thích chơi ngang :
Sớm mơi xách rổ ra phía chợ đông
Xem một quẻ bói, lộn chồng được không ?

Một vài cô gái, chịu không nổi cảnh chăn đơn gối chiếc, đường đột thố lộ can trường :
Của chua ai thấy cũng thèm
Em cho chị mượn chồng em vài ngày.

- Dê ngầm: Có những người ''tình trong như đã, mặt ngoài còn e'', không dám thố lộ trước người mình thầm yêu trộm nhớ, xa vắng thì mong gặp gỡ, nhưng khi đối diện thì chẳng thốt được lên lời :
Xa xăm nơi ấy anh mong đợi
Gặp gỡ nhau rồi, biết nói chi ?

Những sự mơ ước, những chuyện yêu thương vẩn vơ này, đã được các cố thi sỹ Lưu Trọng Lư ta thán như sau :
Ai bảo em là giai nhân
Cho lòng anh đau khổ
Ai bảo em ngồi bên song cửa
Cho vương víu nợ thi nhân.

Đau khổ vì yêu mà không thốt lên lời trước người đẹp như cố văn sỹ Khái Hưng đã phiên dịch bài thơ Pháp ''Sonnet d'Arvers'' tựa đề ''Tình tuyệt vọng '':
Dẫu ta đi trọn đường trần
Tình riêng há dễ một lần hé môi.

Nhắc đến chuyện tình thầm kín, các bạn hẳn còn nhớ bài thơ ''Hai sắc hoa ti-gôn'' của TTKH, có đoạn tả :
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân nhạt nghẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim một bóng người.

Đến đây người viết xin được giới thiệu cùng bạn đọc một câu : Người mà vô lễ khác nào muông dê. Và câu hát ru em ở thôn quê Việt Nam : Em tôi buồn ngủ, buồn nghê, con tằm độ mắt, con dê độ mù.

- Dê xa : Xe dê. Ngày xưa ở Trung Hoa vào thời nhà Tần, vua Vũ Đế cò rất nhiều cung phi mỹ nữ, nên không biết chọn ai để chăn gối. Vua có một chiếc xe nhỏ khảm ngọc do dê kéo. Đêm đến, khi vua say túy túy rồi, thì ngả mình trên xe dê, nếu dê kéo đến cung nào, thì đêm ấy vua sẽ ân ái cùng nàng cung phi đó. Qua đọc ''Cung Oán Ngâm Khúc'' của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, có nhiều cung phi, vì chịu không nổi cảnh phòng không gối chiếc, nên bày cách rắc lá dâu trước sân nhà để dụ dê đến. Nhưng theo tác giả việc gần gũi với vua là do thiên định chứ không phải là sự ngẫu nhiên nên có câu :
Phải duyên hương lửa cùng nhau
Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào.

- Dê tế thần : Theo tục lệ Do Thái (Israel) cứ đến ngày lễ ''Chuộc tội'', thì họ bắt một con dê đực để thày cúng tế, đọc kinh và làm phép trút hết tội lỗi của loài người cho dê gánh chịu, rồi sau đó mới thả nó ra đồng, vì thế nên ta có danh từ ''Con vật tế thần" hay "Con dê tế thần" (bouc émissaire).

Chuyện dê rất phong phú và đa dạng, trong khuôn khổ hạn hẹp của tờ báo, khó mà lược thuật một cách đầy đủ. Chẳng hạn như chuyện Tô Vũ chăn dê và Lý Bá Hề với 5 bộ da dê, thì sách vở đã đề cập đến nhiều. Dịp này, xin được giới thiệu cùng bạn trẻ, nên tìm đọc chuyện "Con dê cái của ông Seguin" tác giả của nhà văn Pháp Alphonse Daudet. Tác phẩm mang tên "La chèvre de M. Seguin" có tính cách luân lý và giáo dục. Hy vọng khi đọc xong các bạn sẽ được hài lòng.

Giờ xin được phép trình bày hai vấn đề mà nhiều bạn chưa thông suốt, nên thường hay thắc mắc.

1. Tại sao gọi Dê là thầy là sư phụ ?

Thành thật mà nói, chuyện gọi Dê đực là Thầy hay là Sư phụ chỉ có tính cách nửa đùa, nửa thật, vừa bái phục mà cũng vừa ngạo nghễ, bởi nguyên do sau đây :

Sáng sớm, khi người chủ nông trại vừa mở cửa cổng, thì chú dê đực xông ra trước án ngữ lối đi. Cô dê cái nào muốn bước qua, phải biết điều, phải đóng thuế rồi mới được ra đồng ăn cỏ, nghĩa là phải chịu đóng thuế để con dê đực thỏa mãn tình dục, tuần tự như vậy cho đến con dê cái cuối cùng. Đến khi chiều về, thì ''đại dương'' vẫn tái diễn cái trò ban sáng. Nghĩa là cô dê cái nào muốn được vào chuồng cũng phải để ''dê đực trả bài''. Ngần ấy hành động, chứng tỏ dê đực có sức khỏe phi thường. Chúng ta đã được nghe chế độ đa thê ở Phi Châu, một người có đến 5, hoặc 7 vợ, lai rai đó đây cũng có vài ông lén lút lập phòng nhì, nhưng nếu so về sinh lý, chả ăn nhằm gì với dê cả. Cũng vì vậy, mà dân ta thường hay tếu pha trò, gọi Dê là Thầy là Sư phụ ! Nhà có tiệc mà đãi thịt dê, thì chủ nhà thường tươi cười, bảo thực khách, hôm nay mình ăn thịt Thầy, ăn thịt Sư phụ. Bởi thế cho nên, nhiều người tìm mua ''dái dê'' để mong ăn vào sẽ bổ thận. Nhưng món này rất qúi và hiếm, khó tìm mua trên thị trường vì nó ''ép phê'' hơn cả ''ngẩu pín'' và dương vật của con hải cẩu.

Chuyện đời không ai song toàn cả. Dê chỉ chứng tỏ sức khỏe qua một phương diện thôi, nhưng về các mặt khác như lao động thì rất bê bối, nên thế gian có câu chê trách ''Buồn ngủ, buồn nghê, bắt bò làm ruộng, mua dê về cày. Đồn rằng dê đực khỏe thay, bắt ách lên cày, nó lại phá ngang'' !

2. Nguyên nhân nào số 35 lại liên quan đến con Dê?


Vào năm 1945, miền nam VN nổi lên phong trào chống Pháp, để giành độc lập và chủ quyền cho xứ sở. Tham gia trong hàng ngũ kháng chiến có lực lượng Bình Xuyên. Nhưng cho đến năm 1946, thì Pháp đã chiêu dụ được Bình Xuyên về hợp tác và gắn cho ông Lê Văn Tỵ quân hàm Thiếu Tướng. Tổng hành dinh của ông Bảy Viễn được đặt bên kia cầu chữ Y. Kinh phí nuôi quân rất tốn kém. Do đó, lực lượng này đã được sự đồng thuận của chính phủ Bảo Đại, cho phép trưng dụng khu Dân Sinh cầu Ông Lãnh Sàigòn, để mở ra một tổ chức kinh tài với danh nghĩa giải trí trường Kim Chung (La cloche d'or), tựu trung chỉ là một tổ chức cờ bạc gồm đủ các môn, như tài xỉu, ru-lết, ngầu hầm, xập xám, thính cẩu và sóc đĩa... Lợi tức thu vào quá lớn, do đó Bình Xuyên lại tổ chức thêm một xóm Bình Khang ở miệt Vườn Lài, Ngã Bảy, cộng thêm một khu cờ bạc tương tợ khu Kim Chung. Địa điểm này nằm giữa địa phận Sàigòn và Chợ Lớn bên đường Trần Hưng Đạo chỉ cách tửu lầu Đồng Khánh vài trăm mét. Cơ sở mang bảng hiệu Đại Thế Giới (Grand Monde). Nhờ có các cố vấn, và các mưu sỹ người Hoa bày vẽ, họ còn bày thêm một trò chơi xổ số đề 40 con, người Pháp gọi là ''Jeu de 40 bêtes'', tính từ số 1 là con cá, đến số 40 là Ông Địa. Thể thức đặt 1 đồng, khi trúng thì được 37 đồng. Vẫn theo 40 số đề này, thì về cá có đến một cặp cá, cá trắng và cá đen (số 1 và 30), mèo thì có mèo nhà và mèo rừng (số 14 và 18), rồng thì có rồng nằm và rồng bay (số 10 và và 26). Thứ tự đến phiên con dê, người ta chỉ cần nói úp mở ''be he'' hay 35 là người ta đủ hiểu và người bị châm biếm dù cho có am tường mình bị chế nhạo nhưng cũng đành chịu.

Báo chí Việt ngữ thời ấy, vì muốn câu độc giả, nên cũng có mục bàn đề. Năm thì mười họa thì cũng trúng phong phóc, nhưng thường thì trật lất, báo hại người tin nghe, bị thua cháy túi, để rồi ngậm ngùi hát lên những lời ca não nùng ai oán, nhại theo bài ''Nương chiều'' rằng :

Đề ơi, lúc chiều về đề xổ con nai.
Nhưng mà mình đặt con Dê hỡi đề !

May thay, các khu giải trí có hại cho dân lành kém lành mạnh này đã được chính quyền Ngô Đình Diệm lúc bất giờ ra lệnh đóng cửa, khai tử vĩnh viễn thời vàng son của Bảy Viễn. Tuy nhiên huyền sử con Dê là 5 hay ngược lại là con Dê, vẫn còn tồn tại đến bây giờ và rất có thể đến muôn đời sau ...

Trong những giây phút vừa qua, khi đọc xong bài này, hẳn vấn đề sao có người hay ''tếu'' gọi con Dê là con Thày, và lại tôn xưng là Sư phụ ? Cũng như lý do nào con Dê là 35 và ngược lại số 35 là con Dê. Chắc chắn thắc mắc của qúy bạn đã được giải tỏa thỏa đáng.

Giờ đây chào đón Xuân sang, mừng ngày Tết đến. Tết Nguyên Đán Qúy Mùi 2003, chúng ta cũng cũng nâng ly rượu mừng, nâng tách trà thơm, thành tâm cầu nguyện ơn cứu độ của Chúa Giêsu và Mẹ Maria xin ban phép lành để nhân loại thoát khỏi họa chiến tranh, những thiên tai và những tai nạn khủng khiếp. Cầu mong sao cho tất cả đều được sống trong hòa bình, tự do, hạnh phúc, để được hưởng những mùa Xuân đầy ý nghĩa thiêng liêng, trong một thế giới không hận thù, bắn giết lẫn nhau, mà chỉ có tình thương và người ''ái nhân như ái kỷ'' thương người khác như thương chính bản thân mình. Kinh xin ơn trên nhận lời của chúng con. Tạ ơn Chúa.

Sưu tầm của Hoàng Anh Tài

Edited by user Friday, February 13, 2015 11:57:23 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked stormy for this useful post.
phamlang on 3/12/2015(UTC)
phamlang  
#31 Posted : Thursday, March 12, 2015 5:03:04 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
TẾT NĂM MÙI NÓI CHUYỆN DÊ

Tú Ân


Dê đực có chùm râu cằm rậm và cong. Mỗi "chàng dê" có thể kết bạn bình quân từ 30 - 50 chị dê cái. Loài dê có mùi vị "đặc biệt" của một loại "hoóc môn thông tin". Tuyến tiết ra hoóc môn này nằm ở dưới hai gốc sừng của dê. Hoóc môn đi vào máu, thấm qua da rồi theo mồ hôi vương vào cây cỏ trên đường đi.

Dê cái cứ theo mùi đặc trưng đó mà tìm ta "người tình" của mình. Dê dực thường cọ đầu vào thân cây để gửi tín hiệu cho dê cái. Ngược lại với sừng, dịch hoàn dê lại không có mùi hôi mà ngon và bổ nhất trong sồ lục phủ ngũ tạng của dê đực. Theo các nhà nghiên cứu, thịt dê có khoảng 17,5% prôtít; 40% lipit ở các ốc đảo tại sa mạc Xahara (Angiêri) người dân ở đây có tập quán uống sữa dê và ăn quả chà là. Còn ở ănggôla, hãng hàng không nước này lại lấy con dê núi ( sơn dương ) làm biểu tượng cho mình. Trong huyết dê tươi có rất nhiều chất bổ và thuốc chữa bệnh. Ngâm huyết dê vào rượu 40 độ với một phần tiết, ba phần rượu rồi lắc đều. Mỗi ngày uống từ 20 - 40ml sẽ bổ máu. Thịt dê nấu chín với một số vị thuốc Bắc rất có tác dụng cho người suy nhược cơ thể. Tinh hoàn dê trị thận yếu ngày dùng từ 25-30g ngâm rượu uống. ăn dạ dày dê chữa gầy yếu, suy nhược. Mổ thịt dê bỏ ruột, cạo lông, đun nhiều lần, sau đó lọc lấy nước trong, cô thành cao đặc, gọi là "cao dê toàn tính". Mỗi ngày uống 5 - 10 gam có thể chữa bệnh thiếu máu, gầy yếu, suy nhược cơ thể. Để khử "mùi dê" người ta dùng rượu 500ml, gừng tươi 100g sau đó cho thêm một miếng đu đủ xanh rồi ngâm vào rượu 30 phút. Lấy toàn bị hỗn hợp này tưới đều lên thân dê, vò lá gừng xát kỹ ngoài da cho sạch cáu bẩn bám trên da, cách làm này sẽ tẩy được mùi hôi của dê và làm cho da dê có độ mềm, khi xào nấu thịt dê không nên qua lửa, vì mỡ dê bị cháy sẽ làm tăng "mùi dê" lên nhiều lần, loài dê cũng được xem là "con bò sữa" của người nghèo. Vì nuôi dê không tốn kém bao nhiêu mà vẫn thu được sữa dê đáng kể. Loài dê cái Việt Nam chỉ cho khoảng 1 lít sữa/ngày, loài dê cái "sơn dương" cuả ấn Độ nặng khoảng 70kg, có thể cho tới 800 lít sữa/năm. Bình quân mỗi ngày có thể vắt được đến 6 lít sữa tươi, Dê là loài vật có thể chăn nuôi ở bất cứ chỗ nào. ở những nơi có lá xanh là có thể chăn thả dê vài dê sẽ tự kiếm ăn, tự lớn để cung cấp sữa, thịt cho con người và duy trì nòi giống của mình.

Giai thoại các loài dê

Dê cũng là loài vật gần gũi với đời sống và sinh hoạt của loài người nên có không ít giai thoại, truyền thuyết về nó. Đặc biệt, trong nền văn học cổ phương đông, hình ảnh con dê rất dễ gần, chúng chỉ cần cỏ non và lá xanh là có thể sống mãn nguyện, còn con người lại không muốn như thế, vì vậy loài dê trở thành một con vật có lắm chuyện để nói với loài người

Vào đời Tam Quốc có chuyện rằng khi Tào tháo đuổi bắt Tả Từ. Bí lối, Tả Từ liền chạy thẳng vào đàn dê, rồi dùng phép thuật biến mình thành dê. Khi phụ tá của Tào Tháo cho kiểm lại số dê thấy thừa một con, biết có Tả Từ trong đó, liền bảo: "Tả từ cứ đầu hàng, ta không giết đâu mà sợ !". bỗng một con dê trong đàn bước ra gật đầu, quỳ lạy. Phụ tá Tào Tháo xông vào bắt sống tức thời cả đàn dê liền quỳ xuống, khiến tên quan không phân biệt được con dê nào là hoá thân của Tả Từ nữa ! Câu chuyện kết luận: Loài dê có đức độ hơn người, không phản trắc, không tố giác bạn bè". Trong Sách Của Trang Tử đã ví phép dưỡng sinh phải khéo như phép chăn dê. Muốn cả đàn dê cùng tiến, chỉ cần ra roi quát khẽ vào con cuối cùng là đủ. Còn sách "Hán thư" kể chuyện Lý thức mặc áo dài, đi giày cỏ, chăn dê hàng năm trời ở Thượng lâm để lập chí.

Câu chuyện ca ngợi đức trung kiên của Tô Vũ. Khi bị giặc Hung nô đày ra Bắc Hải chăn một đàn dê đực, Hẹn khi nào dê đẻ thì cho về. Tô Vũ vẫn nắm vững ngọn cờ tiết nghĩa của nhà Hán, ngày ngày đào dế, bắt chuột ăn để sống qua ngày, không hề nản lòng thoái chí.

Trong văn học cổ Việt Nam.

Con dê cũng lăm chuyện để nói. Vua Minh Mạng lên ngôi từ 1820 - 1840) là một ông vua nổi tiếng viều chuyện.

Trong nước thời ấy hễ ai có con gái đẹp trong nhà đều lo sợ bị bắt tiến vua làm cung phi, mỹ nữ. Chuyện nàng Son chẳng hạn. Năm Quý Mùi cách đây vừa tròn 180 năm ( 1823 - 2003 ) đúng vào năm con dê. Vua Minh Mạng làm bài thơ tự trào nổi tiếng có câu: "Nhất dạ ngũ giao, tam hữu dụng". Nghĩa là một đêm ngủ với năm bà, thì ba bà mang thai!

Trong phong trào Cần Vương ở Nghệ Tĩnh ai cũng biết tên Việt gian Nguyễn Thân, khét tiếng là tàn bạo và dâm dục. Một hôm y cho gọi phường chèo tới hát phục vụ. Nửa chừng, hai anh hề chèo bước ra sân khấu, rủ nhau đánh bạc để lấy cớ chơi xỏ tên gian thần. Anh hề Giáp liền lấy 4 đồng tiền bôi vôi bỏ vào đĩa, rồi úp bát xóc. Một anh hề khác là ất móc túi bỏ ra 3 tiền đặt vào mặt lẻ. Giáp liền xoay bát rồi phán:

Dê kêu !

Ất hỏi:

Dê kêu là thế nào?

- Mày ngu lắm, không biết dê kêu là "bé bé" sao !

-Con dê còn biết chê mày đánh bé quá !

Ất liền móc túi bỏ thêm tiền:

Đây thêm 3 tiền, dê kêu nữa thôi !

Giáp liền xoay bát quát to:

- Dê kêu, dê kêu !

Ất vét túi, quát lại:

-Đấy tao đánh cả quan, mày dám không?

Ất quát lại:

-Đánh cả quan thì đánh, tao cóc sợ

"Đánh cả quan" ở đây tức là đánh cả 100 đồng tiền ( 100 đồng = 1 quan tiền). Nhưng dụng ý của hề là quát vào mặt tên Việt gian. Đòi "đánh cả quan". Thế là tên quan Nguyễn Thân hôm đó đành phải đỏ mặt tía tai, không thể bắt bẻ gì được. Khi đã chửi xỏ tên Nguyễn Thân xong, Giáp liền xoay bát 3 vòng rồi lật ra mặt chẵn. ất đánh mặt lẻ chịu thua. Giáp vơ tiền bỏ túi mình rồi vênh mặt dạy đời ất: "Cờ bạc là bác thằng bần". Vậy chi mày nên tìm phường "vào luồn ra cúi" mà kiếm ăn cho "sướng thân". ất liền ngửa hai bàn tay hát rằng :

Tài giỏi sá gì thân khuyển mã

Thà rằng ngồi tót vuốt râu dê

Những ngời cùng xem diễn trò hôm ấy được một phen tán thưởng tài nghệ "mắng quan" của hai anh hề.

(Trích tạp chí Tâm lý học)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#32 Posted : Thursday, March 12, 2015 5:05:05 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
(Trích dẫn tác phẩm Tử-Vi & Địa-Lý Thực-Hành của Gs Hàn Lâm Nguyễn-Phú -Thứ)

UserPostedImage


Sau năm Giáp Ngọ chấm đứt, thì đến năm Ất Mùi được bàn giao từ giờ giao thừa bắt đầu giữa đêm thứ tư, 18-02-2015 để cầm tinh đến 24 giờ đêm 07-02-2016. Năm Ất Mùi này thuộc hành Kim và mạng Sa Trung Kim, năm này thuộc Âm, có can Ất thuộc mạng Mộc và có chi Mùi thuộc mạng Thổ. Căn cứ theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của Ngũ Hành, thì năm này “Can khắc Chi ” tức Trời khắc Đất. Bởi vì : Mạng Mộc = Ất khắc mạng Thổ = Mùi (mạng Mộc tức Trờì được khắc xuất, mạng Thổ tức Đất bị khắc nhập). Do vậy, năm này xem như là năm xấu nhứt tổng quát, không thể thực hiện gì kết quả như ý.


Trường hợp này, giống như những người có : mạng Mộc gặp năm mạng Kim – mạng Kim gặp năm mạng Hỏa – mạng Hỏa gặp năm mạng Thủy và mạng Thủy gặp năm mạng Thổ. Được biết năm Mùi vừa qua là năm Quý Mùi thuộc hành Mộc, nhằm ngày thứ bảy, 01-02-2003 đến 21-01-2004.

Căn cứ theo Niên Lịch Cổ Truyền Á Đông xuất hiện được minh định quảng bá từ năm 61 của đời Hoàng Đế bên Tàu, bắt đầu năm 2637 trước Công Nguyên, cho nên chúng ta lấy 2637 + 2015 = 4652, rồi đem chia cho 60 năm, thì có kết quả Vận Niên Lục Giáp thứ 77 và số dư 32 năm bắt buộc rơi vào Vận Niên Lục Giáp thứ 78 bắt đầu từ năm 1984 đến năm 2043. Do vậy, năm Ất Mùi 2015 này là năm thứ 32 của Vận Niên Lục Giáp 78 và năm Mùi kế tiếp sẽ là năm Đinh Mùi thuộc hành Thủy, nhằm ngày thứ bảy tính từ 06-02-2027 đến 25-01-2028.

Năm Mùi tức Dê cũng là Dương, cho nên trong bàn dân thiên hạ cũng thường nhắc nhở luôn trong sinh hoạt xả hội hằng ngày, từ đó mới có những từ ngữ liên quan, xin trích dẫn như sau :
-Mùi là con Dê đứng hạng thứ 8 của 12 con vật trong Thập Nhị Địa Chi, nó đứng sau con tuấn mã oai hùng đã từng xong pha ra trận mạc đánh đuổi ngoại bang phương Bắc xâm chiếm đất nước chúng ta. Trong ngôn ngữ Pháp thường dùng Le Bouc n.m = Con Dê đực – Le Chevreau n.m = Dê đực con và La Chèvre n.f = Con Dê cái (Chữ La chèvre n.f để chỉ con Dê rất đúng vì Dê thuộc âm).
– Giờ Mùi : là giờ bắt đầu từ 13 giờ đến đúng 15 giờ xế trưa.
– Tháng Mùi = là tháng sáu của năm âm lịch. (Bởi vì, tháng Giêng là tháng Dần, tháng hai là tháng Mão(Mẹo), tháng ba là tháng Thìn, tháng tư là tháng Tỵ, tháng năm là tháng Ngọ và tháng sáu là tháng Mùi).

Ngoài ra, còn có tên như sau :
– Dương = Con Dê.
– Sơn dương = Con Dê rừng.
– Linh dương giác = Con Dê này, có cặp sừng có ngấn như khu ốc, thường dùng để trị bịnh bang trái.
– Dâm dương hoác = Loại cây rau cỏ, thường dùng trị bồi bổ và tăng cường cơ thể .v.v.
Trong dân gian cũng có câu: “Treo đầu Dê bán thịt Chó” ngụ ý nói không thành thật.
Viết đến đây, tôi nhớ lại sự tích Dương Xa, được truyền khẩu như sau : Thời xa xưa vào đời nhà Tấn bên Tàu, có vua Vũ Đế là một trong những vua có nhiều cung phi mỹ nữ nhứt, không biết mỗi đêm chọn ai để chung vui, nên bèn sắm một chiếc xe khảm vàng ngọc rất sang trọng do một đoàn Dê kéo cho vua đi một vòng trong cung thành, xe này được đặt tên Dương Xa, hễ xe Dê này ngừng nơi nào, thì vua sẽ nghỉ đêm nơi đó. Các cung phi mỹ nữ biết ý nhà vua, nên trước cửa phòng thường treo lá Dâu, để cho Dê đến ăn, bởi vì loài Dê bên Tàu thích ăn lá Dâu, còn ở Việt – Nam loài Dê lại thích ăn lá Sua Đủa hơn. Có phải chăng, từ đó hễ nói đến con Dê thường gọi ông thầy?
Nhân đây, xin trích đoạn liên quan trong tác phẫm Cung Oán Ngâm Khúc ” của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều như sau :
…Trên chín bệ mặt trời gang tấc
Chữ xuân riêng sớm trực trưa chiều
Phải duyên hương lửa cùng nhau
Xe Dê lọ rắc lá dâu mới vào.
Ngoài ra, khi nói chuyện Dê có rất nhiều, đặc biệt chuyện :”Vợ chồng Bá Lý Hề và năm bộ da Dê” đã được truyền khẩu trong dân gian, xin trích dẫn sơ lược như sau : Ông Bá Lý Hề tự là Tỉnh Bá, quê quán nước Ngu, trên 30 tuổi mới cưới vợ là Bà Đổ Thị và sanh được một đứa con trai, Ông vốn có học cao, nhưng vận bất phùng thời, lại có chí lớn, vì thế sống rất đạm bạc. Đỗ Thị biết ý chồng, nhưng chưa có cơ hội tiến thân, nên khuyên chồng nên tạm thời dẹp tình riêng mà ra đi để tìm đường tiến thân. Trước khi đi, Bà còn bắt con gà độc nhứt để nấu cháo thiết đãi Ông, nhưng khổ thay nhà quá nghèo, không có củi để nấu, Bà bèn gỡ tấm vách nhà làm củi. Khi ăn xong, Ông ra đi để lại nhà nghèo, vợ con bơ vơ, qua thời gian ít lâu mẹ con Bà cũng bỏ quê hương tìm đường tha phương cầu thực. Trong khi đó, Ông cũng long đong lận đận đi khắp nơi, cuối cùng gặp Tần Mục Công cho người sang nước Sở mang theo năm bộ da Dê tức ngũ dương bì làm lễ mọn để chuộc Ông và cuối cùng còn phong bá chức thượng khanh nắm giữ quyền bính trong nước. Riêng vợ con của Ông cũng trôi giật sang Tần làm nghề giặt thuê. Cứ mỗi lần xe Ông Bá Lý Hề đi ngang, Bà Đỗ Thị thường tránh né không dám nhìn. Một hôm trong dinh Ông thiếu người giặt thuê, cho nên Bà xin vào làm, rồi từ đó Bà lân la với phường ca nhạc và cuối cùng Bà được khảy đàn, ca hát rất bi ai, kể lại cuộc đời nghèo khó đau khổ của gia đình cho Ông nghe. Ông nghe xong, rất sửng sốt vì đúng gia cảnh Ông thuở hàn vi, Ông bèn cho gọi Bà lại gần thì nhận ra Bà chính là người vợ của Ông, vợ chồng Ông ôm nhau khóc than thật bi ai, khiến mọi người đều xúc động. Từ đó, gia đình Ông được sum hợp sống trong hạnh phúc giàu sang phú quý.
Có người còn cho biết thịt Dê ăn rất bổ và tráng dương, nhứt là lấy Dòn Bín hầm với thuốc Bắc ăn sẽ bổ thận, mấy bà vợ sẽ hài lòng, từ đó nhứt là mấy Ông nghe có lý, nên đua nhau tìm mua thịt quý này để ăn, bởi vì : “Ông ăn Bà khen “. Do vậy, những con Dê từ từ trong tương lai sẽ bị diệt chủng và sau cùng được thay thế Ngầu Bín Bò hayDòn Bín Trừu, nhưng nghe đâu không hiệu nghiệm bằng? Không biết có đúng vậy hay không?
Nhân đây, nói về Tết năm con Dê cầm tinh, xin trích dẫn một trong những món ăn liên quan đến con Dê, trong dịp Bà Từ Hi Thái Hậu, đời nhà Thanh Trung Hoa, khoản đãi phái đoàn sứ thần thuộc các quốc gia Tây Phương, nhân dịp mừng Xuân Canh Tý 1874. Tiệc được chuẩn bị 11 tháng 6 ngày trước, có 1750 người phục vụ, tốn kém 98 triệu hoa viên thời bấy giờ tương đương 374 ngàn lượng vàng ròng, gồm 400 thực khách và kéo dài suốt 7 ngày đêm bắt đầu giờ giao thừa Tết nguyên đán năm Canh Tý.
Đó là món Sơn Dương Trùng như sau :
Sơn dương là Dê núi, trùng là con dòi.
Tương truyền rằng: Bà Tây Dương Thái Hậu xuống chiếu đòi các thợ săn chuyện nghiệp tỉnh Hồ Bắc vào rừng phải tìm cho được một cặp Sơn Dương thật lớn. Sau thời gian băng rừng trèo núi cả tháng ở Thiểm Tây, đoàn thợ săn mới bắt được ba cặp Sơn Dương, trong số có ba con cái đều mang thai, nên được Bà Từ Hi Thái Hậu, trọng thưởng 50 lượng vàng mỗi con. Dê núi (Sơn Dương) sau đó được thả trong một khu vườn rộng đầy cỏ non xanh tốt. Cỏ lạ nuôi dê có được chất bổ dưỡng gan thận được vận tải đến mỗi ngày từ Vân Nam và Quảng Tây, cỏ này tên là “Đông Trùng Hạ Thảo” bởi mùa Hạ cỏ mịn như nhung còn sang mùa Đông thì trong cỏ quí có dược tính cùng với cỏ non, lá cây thuốc …nên sinh con khỏe mạnh và to lớn khác thường.
Đầu bếp làm thịt 14 con Dê Núi tuổi chưa quá hai tháng, cạo lông, bỏ hết tim gan phèo phổi rồi cho mỗi con vào thùng gỗ để ngâm rượu quí và nước gừng trong một ngày. Ngày thứ hai mang ra, rồi bỏ ngâm chúng nó vào thùng sữa tươi và nước sâm nhung khác. Ngày thứ ba dùng dùi vàng để đâm xuyên lủng qua gương sen và cuống hoa quỳ trắng (Phan Bạch Quỳ = Hoa Sen trắng của Đại Hàn thường nở vào mùa Đông) để cắm hoa vào mình Sơn Dương rồi tiếp tục ngâm như vậy đến ngày thứ mười thì tự nhiên xuất hiện lúc nhúc những con dòi trắng nõn. Đầu bếp lấy dòi ấy chế biến thành món ăn sơn dương trùng, món này trị các bịnh bán thân bất toại, tê liệt và lao phổi đại tài. (tài liệu này do Mọt Sách sưu tầm và tường thuật).

Trong mấy mươi năm gần đây xuất hiện bịnh thường gọi chung là Bò Điên, nhưng thật ra bịnh này có thể truyền nhiễm từ giống vật như : Bò, Trừu, Dê … và cuối cùng sang người ăn các giống vật bị điên. Bịnh này có tên khoa học là ESB = Encéphalopathies Spongiformes Bovines, là một bịnh truyền nhiễm do một vi thể không phải là vi trùng (microbe, bactérie) hay siêu khuẩn (virus), mà do một phân tử là Protéin Prion = PrP tạo thành để phá hủy trong não bộ.
Bịnh này do các nhà thực phẩm gia súc biến chế từ xác các gia súc đem nghiền nát làm bột thực phẩm, để đem trở lại nuôi các gia súc. Nhưng vì muốn lợi lộc nhiều, nên giảm bớt độ nung nóng và khử trùng từ 130 độ C xuống còn 80 độ C, làm cho không thể tiêu diệt được vi thể Prion truyền nhiễm. Từ đó, tạo nên chứng bịnh Bò, Trừu, Dê … điên và đưa đến tác hại sanh mạng con người, cho nên việc tìm Dòn Bín càng ngày càng khó khăn hơn.

Khi bàn đến tuổi Dê, chúng ta nên nhớ rằng Dê nằm trong nhóm tứ mộ là : Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, chúng nó khắc kỵ nhau, cho nên gọi là nhóm tứ xung. Tuy nhiên, nếu chúng ta xét cho kỷ thì chúng nó khắc kỵ trực tiếp từng cặp: Thìn & Tuất và Sửu & Mùi. Trái lại, còn nhóm nhị hạp là: Ngọ Mùi và tam hạp là: Hợi, Mão, Mùi (xin xem trở lại ở trước đã dẫn).
Bởi vì, trong Thập Thiên Can có 5 can dương là : Giáp, Bính, Mậu, Canh và Nhâm phải lần lượt kết hợp với 6 chi dương là : Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân và Tuất.
Ngoài ra, 5 can âm là : Ất, Đinh, Kỷ, Tân và Quý phải lần lượt kết hợp với 6 chi âm là : Sửu, Mão(Mẹo), Tỵ, Mùi, Dậu và Hợi.
Năm Quý Mùi có can âm.Vậy, chúng ta thử tìm hiểu trong 5 can âm kết hợp với chi âm để được tương sanh?
Trước hết, chúng ta tìm xem trong 5 can âm thuộc hành gì? Xin trích dẫn bảng kê như sau :

5 CAN ÂM Thuộc Hành Gì ?
Can Ất thuộc Hành Mộc
Can Đinh thuộc Hành Hỏa
Can Kỷ thuộc Hành Thổ
Can Tân thuộc Hành Kim
Can Quý thuộc Hành Thủy

Và 6 chi âm thuộc hành gì? Xin trích dẫn bảng kê như sau đây :

6 CHI ÂM Thuộc Hành Gì ?
Chi Sửu thuộc Hành Thổ (*)
Chi Mão(Mẹo) thuộc Hành Mộc
Chi Tỵ thuộc Hành Hỏa
Chi Mùi thuộc Hành Thổ (*)
Chi Dậu thuộc Hành Kim
Chi Hợi thuộc Hành Thủy

(*) thuộc nhóm Tứ Mộ, nên có cùng hành là Thổ.
Chúng ta đã biết 5 can âm và 6 chi âm thuộc hành gì rồi. Từ đó, chúng ta áp dụng luật Ngũ Hành để có được tương sanh hay bị tương khắc, thì thấy các can âm kết hợp với các chi âm được tương sanh như sau :

Can Ất (Mộc) + Chi Tỵ (Hỏa) = Ất Tỵ (1)
Can Đinh (Hỏa) + Chi Sửu hay Mùi (Thổ) = Đinh Sửu(2)
Can Kỷ (Thổ) + Chi Dậu (Kim) = Kỷ Dậu(3)
Can Tân ( Kim) + Chi Hợi (Thủy) = Tân Hợi(4)
Can Quý (Thủy) + Chi Mão (Mộc) = Quý Mão(5)

Bởi vì,

(1) Mạng Mộc sanh mạng Hỏa
(2) Mạng Hỏa sanh mạng Thổ
(3) Mạng Thổ sanh mạng Kim
(4) Mạng Kim sanh mạng Thủy
(5) Mạng Thủy sanh mạng Mộc

Riêng năm hay tuổi Quý Mùi hay Ất Mùi không nằm trong 5 cặp tương sanh, thì nó rớt vào 5 cặp tương khắc, đúng như đã dẫn khởi đầu bài ” NĂM MÙI NÓI CHUYÊN DÊ ” cho nên trong dân gian thường nói :

“Người ta tuổi Tí tuổi Mùi,
Sao em lận đận một đời tuổi Thân “

thì không đúng lắm, bởi vì mỗi tuổi đều có 5 tuổi tốt và 5 tuổi xấu, ví như năm hay tuổi Quý Mùi hay Ất Mùi đã dẫn. Ngoài ra, có người cho rằng người tuổi Mùi ưa mùi mẫn, nên rất thảnh thơi, còn người tuổi Thân có đồng âm với tủi thân, nên phần số phải vất vả, cơ cực lầm than cho cuộc đời, giải thích ngang xương như vậy có tánh cách trào lộng cho vui chớ không có chứng minh khoa học chánh xác của nó.

Trước khi tạm kết thúc bài này, tôi xin trích dẫn thời gian 10 năm những năm con Dê vừa qua và sắp tới có Hành như thế nào? để cống hiến quý bà con đồng hương nhàn lãm hoặc xem mình có phải sanh đúng năm Mùi hay không như dưới đây :

Tên Năm Thời Gian Hành Gì?
Đinh Mùi 13-02-1907 đến 01-02-1908 Thủy
Kỷ Mùi 01-02-1919 đến 19-02-1920 Hỏa
Tân Mùi 17-02-1931 đến 05-02-1932 Thổ
Quý Mùi 05-02-1943 đến 24-01-1944 Mộc
Ất Mùi 24-01-1955 đến 11-02-1956 Kim
Đinh Mùi09-02-1967 đến 29-01-1968 Thủy
Kỷ Mùi 28-01-1979 đến 15-02-1980 Hỏa
Tân Mùi 15-02-1991 đến 03-02-1992 Thổ
Quý Mùi 01-02-2003 đến 21-01-2004 Mộc
Ất Mùi 19-02-2015 đến 07-02-2016 Kim

Nhân dịp bước sang năm Ất Mùi kính chúc tất cả quý bà con đồng hương được An Lạc và mọi nhà được Thịnh Đạt Như Ý.

Hàn Lâm NGUYỄN-PHÚ-THỨ
Mừng Xuân Ất Mùi 201
5

Edited by user Thursday, March 12, 2015 5:05:47 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#33 Posted : Thursday, March 12, 2015 5:07:35 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#34 Posted : Sunday, March 29, 2015 6:09:01 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
THẰNG BỜM VÀ CHÚ CUỘI


Mỗi xã hội vào mỗi thời kỳ vẫn thường có những mẫu người lý tuởng, xuất phát từ những quan niệm triết học hay đạo đức đang lãnh đạo tinh thần xã hội đó, nhằm hướng dẫn họăc uốn nắn con người sống vào khuôn khổ. Mặt khác, do tác động của môi trường hay hoàn cảnh làm cho con người sống trong mỗi xã hội cũng đã tự động nảy sinh những lối sống, lối suy nghĩ và hành động giống nhau theo một kiểu cố định nào đó, lâu dần trở thành như những nét đặc trưng chung, từ đó đưa đến sự hình thành những mẫu người điển hình cho mỗi xã hội.

Nếu mẫu người lý tưởng là cái mẫu mực hoàn thiện để cho mỗi người noi theo thường có tính cách giả tạo và gò bó con người vào những khuôn mẫu định sẵn thì mẫu người điển hình lại là mẫu người hiện sinh và cụ thể, với những đặc tính có thật do kết quả tập thành của tác động xã hội hóa trên con người trong một môi trường và điều kiện xã hội nhất định. Chính vì tính tự phát mà mẫu người điển hình rất sống động, và mặc dù đôi khi được cường điệu hoá các khuyết điểm để mang tính chất khôi hài nhưng vẫn rất gần gũi với con người thật.

Xã hội Việt Nam cũng đã đẻ ra nhiều mẫu người điển hình qua nhiều thời kỳ nhưng tiêu biểu nhất và trở thành phổ biến trong văn học dân gian vẫn là thằng Bờm và chú Cuội. Trong chúng ta không ai là không quen thuộc với cái tên thằng Bờm và chú Cuội, và hình như mỗi người trong chúng ta không ít thì nhiều cũng đã có lần bị người khác gọi mình bằng những cái tên đó. Thông thường người ta vẫn hay dùng hai từ này để trêu đùa người khác nhưng thực ra vẫn có một chút ngụ ý chê bai nào đó.

1.-THẰNG BỜM CÓ CÁI QUẠT MO

Tên thằng Bờm có lẽ phát xuất từ cái lối để tóc của bé trai dân Việt ngày xưa, đầu tóc thường được cạo láng chỉ chừa một chỏm nhỏ phía trước trán giống như cái bờm con ngựa, còn sự tích về thằng Bờm thì không biết xuất xứ từ bao giờ. Tuy nhiên bài ca dao tiêu biểu về Bờm thì hầu như không ai là không thuộc nằm lòng:

Thằng Bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu
Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu
Phú ông xin đổi một xâu cá mè
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim
Bờm rằng Bờm chẳng lấy lim
Phú ông xin đổi đôi chim đồi mồi
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi
Phú ông xin đổi hòn xôi Bờm cười

Như vậy nói đến Bờm là nói về chuyện một đứa bé ngây ngô, chậm chạp, đôi khi quá thật thà, thường chỉ nhìn sự vật theo thói quen đơn giản nên dễ sinh ra ngớ ngẩn. Sống theo phận con nhà nghèo, vì Bờm chỉ có mỗi cái quạt mo, nên Bờm không có nhiều ham muốn cũng như không hề biết so sánh hay đòi hỏi, do đó nhu cầu của Bờm cũng không có gì khác hơn là được ăn để sống.

Từ cái hình ảnh này của Bờm người ta đã dùng Bờm để ám chỉ những ai cũng mang trong mình một số đặc tính căn bản như thật thàmột cách vụng về, chất phác đến độ gần như ngây ngô, không có những nhu cầu cao xa hay phức tạp mà chỉ thích an phận thủ thường; sống tự nhiên theo cái trật tự có sẵn trong thiên nhiên, không biết đua đòi hay bon chen cho nên hay có cái kiểu nằm chờ sung rụng; quen nhận định sự vật một cách thiển cận nên không thích lý luận sâu xa để tìm kiếm cho ra cái nguyên lý trừu tượng mà chỉ thích những biểu lộ tình cảm tự nhiên và tự phát như cái mỉm cười hài lòng khi thấy nắm xôi.

Có thể nói Bờm là hiện thân của con người của xã hội sơ khai còn giữ trong mình cái bản chất hiền lương nguyên thủy, sống một cách đơn giản, gần với thiên nhiên và tự nhiên, không có nhiều nhu cầu nên không cần vận dụng trí năng để khai thác thiên nhiên và bắt thiên nhiên phục vụ mình. Cái quạt mo phe phẩy chút hơi mát khi trời làm nóng nực và nắm xôi chắc bụng khi đói lòng đủ đáp ứng cho Bờm sống một cách bình thản và hài hòa với thiên nhiên, do đó Bờm hầu như không muốn có sự thay đổi nào phá vỡ cái trật tự đó.

Cũng vì thật thà, không biết suy luận để tìm hiểu nguyên nhân mà chỉ phán đoán theo cảm quan nên Bờm thường dễ tin qua tri giác hiện tượng bề ngoài và dễ bị lầm, và một khi Bờm đã tin thì cũng rất khó dùng lý trí để thuyết phục Bờmï từ bỏ điều sai lầm của mình trừ phi chính Bờmï cảm nhận được sự sai lầm bằng kinh nghiệm bản thân. Ngoài ra cũng vì chỉ biết hành xử theo thói quen nên Bờm cũng thường hay bảo thủ và cố chấp, chỉ muốn khư khư với sự hiểu biết hạn hẹp hay điều ham thích phù hợp với ước mơ của mình, do đó Bờm thường gây khó khăn trở ngại cho người khác khi muốn chỉ dạy cho Bờm một điều mới lạ hay muốn cùng Bờm hợp tác trong những công việc cần có óc suy luận và óc tổ chức.

Nhưng định luật tiến hóa bắt buộc theo thời gian mọi vật đều phải thay đổi và do đó Bờm cũng bị bắt buộc phải tập thích nghi với những điều kiện mới phức tạp hơn mỗi khi hoàn cảnh đổi thay. Nhưng vì bản chất vốn chậm chạp, vụng về và khờ khạo nên trong cách nhìn vấn đề và giải quyết vấn đề Bờm thường hay ngộ nhận và khi thực hiện thì dễ gây ra hư hỏng. Tuy nhiên vì thương cái bản chất hiền lương của Bờm nên người ta không nỡ trách Bờm cũng như người ta không bao giờ trách một đứa trẻ về những cái vụng dại của nó trước cuộc đời.

2.-THẰNG CUỘI NGỒI GỐC CÂY ÐA

Cái tên Cuội phát xuất từ đâu thì hình như không ai rõ nhưng cái hình ảnh thằng Cuội ngồi dưới gốc cây đa mơ mộng và cái thành ngữ “nói dối như Cuội” hay Cuội được hiểu như một tính từø đồng nghĩa với ranh mãnh dối trá thì ai cũng biết.

Thằng Cuội ngồi gốc cây đa
Bỏ trâu ăn lúa, gọi cha ới ời
Cha còn cắt cỏ trên trời
Mẹ còn cỡi ngựa đi mời ông Trăng

Theo như những giai thoại về Cuội thì Cuội là một đứa bé mồ côi cha nên được chú đem về nuôi. Do tính ham chơi nên khi được chú giao cho việc chăn trâu thì Cuội thường hay chểnh mảng bỏ mặc trâu ăn lúa. Tuy lanh lẹ và có lẽ cũng do thích đua đòi nhưng nhẹ dạ nên có lần Cuội cũng đã nghe theo lời xúi dại của chúng bạn giết cả trâu của chú làm thịt ăn với nhau cho nên mới sinh ra lắm chuyện rắc rối cho mình. Ðể tránh né bịï trừng phạt, Cuội đã phải nói dối và dùng mưu trí lừa gạt để gỡ mình ra khỏi cơn nguy khốn mà không cần biết hệ quả của sự dối trá, do đó từ sự lừa gạt dối trá này đẻ ra sự lừa gạt dối trá khác khiến cho Cuội cứ phải quanh quẩn với sự dối trá mãi mãi.

Tuy Cuội có tỏ ra khôn lanh và biết đua đòi nên có nhiều nhu cầu hơn Bờm nhưng thật ra Cuội cũng là mẫu người mang một bản chất đơn sơ nông nổi như Bờm, cho nên chỉ biết giải quyết nhu cầu theo đua đòi hiện tượng nhằm thỏa mãn tự ái chứ không biết giải quyết nhu cầu dựa trên căn bản óc tổ chức bằng những phương thức hợp lý. Do đó Cuội cũng chỉ biết dùng mưu trí để ứng phó với hoàn cảnh qua phương diện hiện tượng chứ không tìm hiểu bản chất của sự vật. Cũng vì không suy luận theo luận lý mà bằng liên tưởng của tri giác, lại hay mơ mộng hão huyền cho nên mới có câu truyện Cuội ngồi ôm gốc đa ở cung trăng.

Truyện kể có một ông Tiên cho vợ Cuội một cây đa và bảo đem về trồng trước sân. Ông Tiên căn dặn vợ Cuội phải tưới nước cho cây hàng ngày, nhưng không được tưới nước dơ bẩn vào gốc cây. Vợ Cuội dặn lại chồng điều này nhưng vốn hay nghễng ngãng nên một hôm Cuội quên mất lời vợ dặn bèn ra ngay gốc cây đa và tiểu tiện vào đấy. Cây đa liền bật rễ rồi từ từ bay lên cao. Cuội hoảng quá lại sợ mất cây đa của vợ bèn ôm lấy gốc cây cố níu trở lại, nhưng cây vẫn tiếp tục bay lên mãi và bay thẳng về cung trăng, mang luôn cả Cuội theo để từ đấy đêm đêm Cuội lại ngồi ở gốc đa trên cung trăng nhìn về trần gian.

Phải nói là dù sao thì bản chất Cuội vẫn không phải là xấu vì Cuội không hề có chủ tâm hại người khác để mưu cầu lợi cho mình mà chỉ muốn cho mình cũng được như người, nhưng vì Cuội không có cách giải quyết hợp lý ước muốn của mình cho nên mới sinh ra “túng làm càn”. Rồi cũng vì làm bậy mà Cuội đã vô tình làm phương hại đến người khác đưa đến bản thân gặp phải rắc rối nên Cuội lại mới nảy sinh ra “cái khó nó bó cái khôn”. Nhưng cái khôn của Cuội cũng rất giới hạn vì chỉ nhằm mục đích gỡ cho mình được “tai qua nạn khỏi” khi hoàn cảnh bế tắc chứ không nhằm sáng tạo để đáp ứng nhu cầu phát triển về lâu dài của mình.

Tóm lại thì thằng Bờm hay chú Cuội đều là những nhân vật điển hình trong xã hội Việt Nam. Cả hai đều mang trong mình những ưu điểm bẩm sinh nhưng đồng thời cũng có vô số nhược điểm kết thành từ những va chạm với cuộc sống. Bờm thường thụ động nên hướng nội, muốn bảo thủ; còn Cuội năng động hơn nên có vẻ như hướng ngoại, nhưng thực ra thì Cuội cũng chỉ ứng phó theo bản năng để bảo tồn mình chứ không phát huy được bản ngã của mình. Do đó mà chúng ta cũng có thể nói Bờm và Cuội chỉ là sự biểu hiện của hai cách thế phản ứng trước hoàn cảnh sống tác động trên con người, trong đó mọi hành động đều do “đói đầu gối phải bò”. Tuy nhiên vì chỉ biết suy nghĩ bằng cái bụng “suy bụng ta ra bụng người” chứ không thích suy nghĩ bằng đầu óc nên không phát triển được óc duy lý và vì thế mà Bờm và Cuội cứ luẩn quẩn mãi trong những bế tắc của chính mình mà không làm sao giải quyết được.

3.-TRĂM NĂM TRỒNG NGƯỜI

Sử Trung Quốc có kể chuyện xưa khi được vua Tề vấn kế về quốc sự, Quản Trọng đã đáp : “Nhất niên chi kế, mạc như thụ cốc; thập niên chi kế, mạc như thụ mộc; bách niên chi kế, mạc như thụ nhân.” ( Kế hoạch một năm, không gì bằng trồng lúa ; kế hoạch mười năm, không gì bằng trồng cây; kế hoạch trăm năm, không gì bằng trồng người.) Cái quan niệm trồng người này không phải chỉ riêng có Quản Trọng mới chú trọng đến mà phải nói kể từ khi con người biết tổ chức đời sống xã hội là con người đã nghĩ đến việc trồng người.

Triết gia Platon thời Cổ Hy lạp khi bàn về thể chế Cộng hòa cũng đã phác họa ra một xã hội lý tưởng phải là một xã hội được phân công theo lý trí, do đó phải được phân giai cấp và cũng đã đề ra những mẫu người xã hội cho từng giai cấp. Xã hội Ấn Độ xưa kia đã từng được phân chia thành năm đẳng cấp khép kín với năm mẫu người khác nhau. Xã hội Trung Hoa của thời đại quân chủ phong kiến cũng đã đề ra những mẫu người cho mỗi thành phần xã hội như sĩ, nông, công, thương, binh… Thời hiện đại thì có bao nhiêu triết thuyết hay chủ nghĩa là có bấy nhiêu mẫu người xã hội, nhưng đáng kể nhất trong thời gian vừa qua là hai mẫu người đối kháng được hai thế lực tranh quyền bá chủ hoàn cầu đem ra áp dụng vào tổ chức xã hội, đó là mẫu người Cộng Sản theo chủ thuyết Marx-Lenin vàngười công dân tự do theo Hiến pháp quy định của Hoa kỳ.

Vì mẫu người lý tưởng là sự kết hợp những tiêu chuẩn theo lý trí hay giá trị tinh thần, cho nên đó chỉ là những mô hình do con người quan niệm nên bao giờ cũng mang tính chất trừu tượng, khác với con người cụ thể, và mỗi khi con người thay đổi quan niệm thì mẫu người lý tưởng cũng thay đổi cho phù hợp với những tiêu chuẩn giá trị mới được con người đề ra, khác với mẫu người điển hình thường có tính cách xã hội nên sẽ vẫn còn tồn tại nếu những điều kiện tâm lý và xã hội tác động chưa thay đổi.

Xã hội Việt Nam qua hai ngàn năm huyền sử, con người đã sống và suy nghĩ như thế nào thì không có sử liệu để chứng minh. Nhưng kể từ khi bắt đầu Bắc thuộc thời đại thì người dân Việt cũng đã phải chấp nhận nền văn hóa Trung Hoa tác động lên trên nếp sinh hoạt của mình để biết đua đòi đi tìm tri thức như câu ca dao:

Chẳng tham vựa lúa anh đầy
Tham dăm ba chữ cho tày thế gian

Tuy nhiên trong cái nhìn thực tế và thiển cận bằng kinh nghiệm của người bình dân, được thể hiện qua hình ảnh thằng Bờm và chú Cuội thì tri thức và những lễ nghĩa hình thức con người nghĩ ra để vẽ vời thêm cho đời sống không cần thiết bằng cái ăn là cái bảo đảm cho sự sống con người. “Có thực mới vực được đạo”. Mà cái ăn của kẻ bị trị thì lại nằm trong tay kẻ thống trị, những kẻ rao giảng những tư tưởng cao siêu đẹp đẽ nhưng lại đang lăm le cướp đi cái lẽ sống của Bờm và Cuội. Còn Bờm và Cuội thì cứ phải “còng lưng làm cho ngỏng lưng ăn” nên không bao giờ ngóc đầu lên được. Do cái kinh nghiệm thực tế này chi phối nhãn quan của mình mà người dân Việt cũng thường khi mâu thuẫn trong những nhận định của mình như:

Quân tử là quân tử Tàu
Ăn cơm thì ít ăn rau thì nhiều

Ðôi khi lối nhận định này còn được biểu lộ một cách mỉa mai chua chát hơn như:

Ra đường võng giá nghênh ngang
Về nhà hỏi vợ, cám rang đâu mày
Cám rang tôi để cối xay
Hễ chó ăn mất thì mày với ông

Chính vì không đặt nặng vấn đề tri thức như được biểu lộ qua cách đánh giá: “nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ ” mà đôi khi người dân Việt không mấy tin vào những tư tưởng cao siêu và đã biến thái những mẫu người lý tưởng thành những con người “ngu si hưởng thái bình” hay “quân tử nói đi nói lại” để sống còn.

Nếu nhờ biết kiên trì với bản chất của mình mà người dân Việt không bị người Trung Hoa đồng hóa thì trái lại, vì cái nề nếp suy nghĩ và hành xử kiểu thằng Bờm và chú Cuội ăn sâu vào tiềm thức khiến cho con người không phát triển được tri thức nên vẫn cứ loay hoay với những bế tắc và đành cứ phải “giật gấu vá vai” khiến cho con người không bao giờ thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của bất công và đói nghèo, còn đất nước nếu không bị nạn ngoại xâm tàn phá thì dân tộc cũng lại quay ra chia rẽ, xâu xé nhau để mà tranh sống.

Khi người Pháp sang xâm chiếm Việt Nam đã dùng cái chiêu bài đem ánh sáng của nền văn minh Tây phương ra khai hóa cho một dân tộc bị cho là man di, nhưng với chính sách thực dân khai thác thuộc địa, những người dân Việt đói ăn vẫn thấy mình nai lưng ra làm giàu cho kẻ thống trị chứ chưa bao giờ thấy được ánh sáng của tư tưởng Tự do, Bình đẳng rọi tới tâm hồn. Vì thế mà khi chủ nghĩa thực dân suy yếu và đau lòng trước cảnh hai triệu đồng bào chết đói thì người dân Việt cũng đã rủ nhau vùng lên đập nát phố phường , tay tầm vông mã tấu để đi theo tiếng gọi của núi rừng âm u “thề phân thây uống máu quân thù”* mà không cần biết rồi đây mình sẽ xây dựng ngày mai bằng cách nào và ra sao.

Hồ chí Minh đã mang chủ nghĩa Cộng Sản vào Việt Nam với sự mơ tưởng làm một cuộc cách mạng xã hội trên mảnh đất ngàn đời phong kiến cũng đã không ngớt nhắc đi nhắc lại cái quan niệm trồng người. Tuy nhiên với bản chất Bờm và Cuội tiềm tàng trong người, Hồ chí Minh cũng đã không thoát ra khỏi cái vòng suy luận theo cảm quan nên những mục tiêu chính trị của dân tộc như “Ðộc lập, Tự do” vẫn gắn liền với những hình ảnh cụ thể như “cơm ăn áo mặc”, và khi muốn tỏ ra mình là kẻ chỉ biết hy sinh cho cách mạng thì lại bộc lộ những ý tưởng mâu thuẫn với mục tiêu của cách mạng mà chỉ là mơ ước của một con người chỉ biết quanh quẩn với những mơ ước của một xã hội cổ sơ: “…làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi…” (lời tuyên bố của Hồ chí Minh trong một buổi gặp gỡ với các nhà báo đầu năm 1946).

Chính vì thế mà đa số người dân Việt đã đón nhận cái gọi là cuộc Cách mạng không phải như một khởi điểm cho sự cải tạo xã hội mà như là một cơ hội để thỏa mãn ước mơ thấy mình được no cơm ấm áo và duy trì cái bản chất mơ mộng viển vông của mình. Sự mơ tưởng ngây ngô đó đã vô tình kéo con người về lại bản năng mà không còn phát triển được tri thức. Chính vì cứ “thả mồi bắt bóng” mà người dân Việt đã vô tình bị tập đoàn Cộng Sản lôi kéo vào những hy sinh phi lý mà không biết vì sao.

Người Cộng Sản nhờ áp dụng cái ranh mãnh và dối trá của Cuội nên đã thành công trong âm mưu nắm lấy thời cơ và loại bỏ mọi đối thủ, nhưng cũng vì suy nghĩ như Cuội nên họ đã không giải quyết được vấn đề kinh tế. Thêm vào đó, do áp dụng những chính sách khủng bố và phá hoại theo kiểu ” không được ăn thì đạp đổ ” để nắm lấy quyền hành đã làm cho người dân trở thành bần cùng. Còn mộng tưởng xây dựng những con người mới xã hội chủ nghĩa theo những ý niệm trừu tượng và không tưởng mà họ vay mượn từ bên ngoài để thiết lập một xã hội mới thực ra chỉ là cái áo khoác duy lý của thời đại mà họ mượn để che đậy cho cái bản chất Bờm và Cuội phản duy lý của mình.

Khi người Mỹ có ý định biến Miền nam Việt Nam thành một tiền đồn chống cộng cũng đã cho du nhập cái quan niệm Tự do Dân chủ pháp trị kiểu Hoa kỳ vào Việt Nam và cũng đã cố gắng trồng người bằng cách đào tạo một tầng lớp trí thức mới nhưng vì cái triết học thực tiễn của người Mỹ lại đi kèm với thế lực của đồng tiền cùng với sự thí nghiệm những chính sách “thử và sai lầm”, nhất là hành động can thiệp bằng quân sự đã khiến cho cái quan niệm Tự do Dân chủ pháp trị không bắt rễ được trong những tâm hồn người dân Việt giàu tình cảm quê hương nhưng mang mặc cảm đói nghèo và không quen với duy lý, do đó nếu không tỏ ra có thái độ bài bác thì lại chỉ nhìn thấy nhu cầu hiện tượng và chạy theo nhu cầu hiện tượng. Ðiều này đã đưa đến nhiều vụ chính biến tạo cho Miền Nam trở thành rối loạn và càng lệ thuộc vào Mỹ, còn ở Miền Bắc thì người Cộng Sản có cớ để khai thác thêm cho cái tinh thần yêu nước của người dân với chiêu bài “đánh cho Mỹ cút” để bắt nhân dân phải hy sinh nhiều hơn và càng lao mình vào chiến tranh. Rốt cuộc Miền Bắc thì kiệt quệ, còn Miền Nam thì một Tổng thống bị giết, một triệu người bị thương vong vì bom đạn và một quân đội đến ngày bị bức tử, mới ngỡ ngàng không biết mình đã chiến đấu cho ai, và cảm thấy công lao của mình chỉ là công dã tràng xe cát.

Suốt hơn nửa thế kỷ kể từ ngày dân tộc Việt Nam vùng lên phá bỏ xích xiềng nô lệ của thực dân và phát xít, mơ ước làm một cuộc cách mạng biến dân tộc thành phú cường, nhưng cũng vì chỉ biết lo phá hoại mà không biết xây dựng cho nên ” gậy ông lại đập lưng ông” khiến cho đất nước “đã nghèo còn vướng phải cái eo.” Rốt cuộc nền kinh tế càng ngày càng lâm vào vòng phá sản và xã hội thì trở thành băng hoại, còn con người thì đánh mất niềm tin những gì được coi là lý tưởng và hầu như cũng đang đánh mất luôn cái bản năng hiền lương của mình.

4.-ƯỚC MƠ LÀM PHÒ MÃ KHÔNG KHỐ

Huyền thoại Việt Nam có một câu truyện bộc lộ một quan niệm về nhân sinh rất độc đáo của dân tộc Việt Nam, đó là chuyện Chữ Đồng Tử lấy công chúa con vua Hùng.

Chữ Đồng Tử là một thanh niên nghèo đến nỗi gia đình có hai cha con thì cả hai phải chung nhau một chiếc khố. Khi cha chết, Chữ Đồng Tử chôn cất cha với chiếc khố nên từ đó đành ở truồng. Một hôm Chữ Đồng Tử đang xúc tép ở bờ sông thì có công chúa đi dạo qua. Chữ Đồng Tử sợ công chúa bắt gặp bèn vùi mình trốn dưới cát. Công chúa nhìn thấy sông nước mát bèn sai đám tì nữ vây mành nơi bãi cát rồi xách nước lên cho mình tắm. Do một sự ngẫu nhiên đã khiến cho chỗ vây mành lại đúng vào nơi Chữ Đồng Tử đang trốn cho nên khi công chúa dội nước thì cát trôi đi để lộ nguyên hình Chữ Đồng Tử nằm dưới chân mình. Cho là duyên số trời định nên công chúa bèn kết hôn với Chữ Đồng Tử.

Thời vua Hùng trị vì nước Văn lang, cơ cấu xã hội chưa được tổ chức thành hệ thống phân minh và chặt chẽ. Giữa Vua hay các Lạc hầu, Lạc tướng và dân chúng hình như cũng không có những sự cách biệt đáng kể. Cứ xem như việc cho rằng Chữ Đồng Tử lấy được công chúa con vua Hùng thì ta cũng có thể đoán được nếp sống bình dị vào thời ấy.

Câu truyện thật giản dị nhưng lại mang một ý nghĩa nhân bản rất lớn. Hai nhân vật trong truyện đã đến với nhau trong mối tương quan con người với con người ban sơ chứ không phải con người đã bị phân hóa và ràng buộc vào trong những ước lệ xã hội đặt ra. Và đây cũng có lẽ là thời đại mà con người dễ tìm thấy hạnh phúc nhất.

Người dân Việt Nam ngày nay cho dù đã trải qua bao nhiêu biến đổi và đang sống trong kỷ nguyên điện tử, nhưng vì không đuổi kịp nền văn minh duy lý hoặc do cảm thấy mệt mỏi vì những nhu cầu do xã hội duy lý gây ra nên nhiều khi cũng đâm ra mơ ước trở về với một thời đại Hùng vương xa xưa, khi con người chưa bị vong thân vì những quan niệm của lý trí mà chỉ biết sống theo tình người. Ðiều này phải chăng cũng là một minh chứng cho thấy trong tâm hồn người Việt Nam vẫn tiềm tàng cái bản chất Cuội và Bờm không ít thì nhiều.

Nếu nhìn vào hình ảnh thằng Bờm và chú Cuội để tìm hiểu mong muốn của người dân Việt thì chẳng qua cũng chỉ là được ăn no và được sống yên lành. Tuy nhiên cả hai nhu cầu cơ bản trên của Bờm và Cuội vẫn chưa bao giờ được thoả mãn mà Bờm và Cuội lại không chịu thoát ly ra khỏi cái nề nếp cố hữu của mình nên không bao giờ giải quyết được vấn đề một cách cơ bản. Cái nghịch lý trong tâm hồn Việt Nam là vẫn thấy được cái khuyết điểm của mình qua hình ảnh thằng Bờm và chú Cuội nhưng lại vẫn cứ thích bám víu vào những ước mơ tưởng tượng hay chạy đuổi theo nhu cầu hiện tượng một cách chủ quan và thiển cận chứ không thích phân tích và suy luận để cải đổi chính mình.

Có thể nói về phương diện tình cảm, con người Việt Nam rất đáng tự hào về tình yêu đất nước và đồng bào nhưng về phương diện lý trí, cái tinh thần tiêu cực trong sự đi tìm một sự đổi mới xã hội đã làm cho trong suốt quá trình lịch sử, mỗi khi có sự tiếp xúc với một nền văn hóa khác khiến cho điều kiện sống bị ảnh hưởng, người dân Việt dù có miễn cưỡng phải chấp nhận những đổi thay nào đó, nhưng trong thâm tâm vẫn xem đó chẳng qua cũng chỉ là hiện tượng nhất thời, nên không bao giờ cảm nhận thấy sự cần thiết phải cải tạo chính mình để xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn.

Qua bao nhiêu ngàn năm tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa ưu thắng khác nhau tác động vào đời sống xã hội, người dân Việt vẫn quen nhìn sự vật qua hiện tượng và sống theo con người hiện sinh đầy duy cảm của mình cho nên chưa bao giờ chấp nhận tinh thần duy lý, do đó mà nếu không bị cái nhu cầu ăn thúc bách thì cũng bị mê hoặc trong những nhu cầu hiện tượng cấp thời khiến cho không thể nhìn thấy cái tiến trình của một sự nỗ lực hợp lý lâu dài để giải quyết vấn đề. Chính vì thế mà muốn làm một cuộc cách mạng xã hội thực sự, người Việt Nam cần phải biết cách mạng tư duy song song với việc giải quyết vấn đề kinh tế, nếu không thì cho dù áp dụng học thuyết nào đi nữa cũng dễ sinh ra biến thái để trở thành lệch lạc đưa đến sự đổ vỡ hoặc không mang lại thành công.

ÐOÀN VĂN KHANH

* Lời trong bài Tiến Quân ca của Văn Cao

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
stormy  
#35 Posted : Wednesday, April 1, 2015 8:33:00 AM(UTC)
stormy

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 383

Thanks: 396 times
Was thanked: 393 time(s) in 209 post(s)
Đi chợ cho vợ


Khi ấy, bảy tám tuổi đầu, mình chẳng biết cái việc “đi chợ cho vợ” nó “nặng” đến cỡ nào nhưng được đi chợ với mẹ thì sướng vô cùng. .

1.Hồi nhỏ ở dưới quê, nhà mình ở gần gia đình một ông người Bắc di cư tên là Mười. Chẳng biết tên thật là gì, nhưng vì ông chạy xe lam, nên lũ nhỏ trong xóm gọi ông bằng cái tên chú “Mười Xe Lam.”

Thím Mười là người miền Nam, ít nói, hiền lành, đẻ liền tù tì cho ông một dây 4 thằng con trai đặt tên đầy “chất thơ” lần lượt là Chung, Thủy, Muôn, Ðời.

Trong 4 đứa con chú Mười, Chung và Thủy lớn hơn hẳn, thằng Muôn bằng tuổi mình, còn thằng Ðời kém 2 tuổi. Cả 4 đứa khỏe như trâu nhưng ngặt một nỗi đều học dốt, nhất là thằng Muôn. Nó chuyên môn copy bài của mình kèm theo lời dụ khị “tao sẽ nói bố cho mày đi 1 cuốc xe lam miễn phí.”

Thời ấy, sau 1975 ít năm, mọi người nghèo lắm, mà nhà chú Mười có 1 chiếc xe lam thì oai vô cùng.

Mà ông oai thật, ít nhất là chửi con. Ðiều đặc biệt mỗi lần chửi ông hay nhắc tới chữ “vợ.”

Học dốt, bị điểm kém, ông chửi “lớn lên đi chợ cho vợ.” Nặng hơn, ông chửi “giặt quần cho vợ.” Tham ăn, không nhường em, keo kiệt bủn xỉn, ông chửi “lớn lên sẽ phát tiền chợ cho vợ.”

Mỗi lần chửi thằng Muôn ông hay cài tên mình vào so sánh, “sao cái thằng K. con bác H. nó học giỏi như thế, còn mày... như thế.” Lúc nghe câu ấy dù rất thương Muôn, nhưng trong lòng mình cũng hơi khoai khoái.

2.

Khi ấy, bảy tám tuổi đầu, mình chẳng biết cái việc “đi chợ cho vợ” nó “nặng” đến cỡ nào nhưng được đi chợ với mẹ thì sướng vô cùng. Dù chỉ có nhiệm vụ trông xe đạp, nhưng vì nhà đông anh em, nên sướng nhất là được mẹ thưởng bằng cách cho chọn quà trước tiên.

Lớn lên một chút, tuổi 14, 15, mỗi khi mẹ sai ra cái chợ nhỏ gần nhà mua bó rau, bịch dầu hay mấy thứ lặt vặt thì bắt đầu biết ngượng với lũ con gái. Ngại chữ “chợ” từ đó.

Ðể rồi, trong suốt thời sinh viên tuổi trẻ ở Sài Gòn, ngủ nhà thuê, ăn cơm bụi, và ngay cả sau khi lấy vợ, hiếm khi nào mình đặt chân vào chợ.

Và rồi mọi chuyện đổi thay 180 độ khi đặt chân đến Mỹ.

3.

Ban đầu thì việc rất nhỏ: “Anh đi làm về tạt ngang mua cho con bình sữa.” Vài lần sau thì sữa kèm theo tã. Rồi thì giấy, baby food, bánh mì, trái cây...

Thấy êm êm, vợ bắt đầu lấn tới: “Nhỏ bạn em nói chợ đó bán cá ngon, anh đi mua vài ‘pao’ rồi mua cho em ít đồ em ghi cái ‘list’ đây này.”

Ít lâu sau thì giọng của vợ như “ra lệnh”: “Anh đi chợ cho em. Em ghi cái ‘list’ sẵn, cứ thế mà mua, đừng mua linh tinh, về ăn không được, bỏ phí lắm.”

Và cứ thế, “tay nghề” đi chợ của mình khá lên và trở thành chuyên nghiệp hồi nào chẳng hay, sau 10 năm ở Mỹ.

4.

Thú thật, ban đầu đi chợ Mỹ thì “chẳng có vấn đề gì” vì đàn ông Mỹ đi chợ ầm ầm. Nhưng chợ Việt Nam thì hơi oải, nhất là khi gặp vài nàng xinh xinh hay người quen nhìn mình bằng con mắt có vẻ nửa “xót thương” nửa “cảm phục.”

Nhưng “lầu dần đời người cũng qua! Như người ta nói phải tìm niềm vui trong công việc. Nếu chịu khó quan sát, bạn sẽ thấy đi chợ là một việc rất thú vị. Chợ giống như một xã hội thu nhỏ, cũng hỉ nộ, ái ố, ì xèo.

“À, cái cô cashier này mặt lạnh lắm nha, không bao giờ cười khi tính tiền cho khách. Còn ông nhân viên quày rau lười muốn chết, ớt hiểm để chần dần ngay đó mà hỏi, chả nói ‘hổng biết’... Ui, cái cô tre trẻ đi trước cái ông ngoài sáu mươi, lâu lâu ngoái lại hỏi ‘anh muốn mua gì hôn,’ đích thị là nàng vừa được ổng rước từ Việt Nam sang. ‘Thằng cha bán cá này dữ thật, bà cụ mới thò tay vào mấy khứa cá mà hắn giãy lên như đỉa phải vôi...’’”

Ðó là những “hình ảnh thân thương” mà bạn thường gặp. Chẳng thế mà nhiều ông coi việc đi chợ cho vợ là cái “thú đau thương” và đôi khi là “nỗi ám ảnh khôn nguôi” như anh bạn cùng sở với mình.

Tám giờ rưỡi tối, trước khi xô ghế ra về, anh bạn bấm phone, “Em hả, hôm nay đi chợ mua gì?” Ðầu dây bên kia tiếng vợ (hơi gắt) vang lên: “Ai nói anh hôm nay đi chợ? Không mua gì hết á, về đi cả nhà đợi cơm đây nè!” Anh bạn hơi ngượng, nhỏ nhẹ “vậy mà anh cứ tưởng...”

5.

Năm ngoái về thăm nhà, ngồi chưa ấm chỗ, ba đã giục “con sang nhà chú Mười thắp cho chú cây nhang, chú mất 6 tháng rồi.”

Mình sang ngay. Căn nhà cũ giờ khang trang, đủ tiện nghi như ở thành phố. Nghe nói 4 thằng con chú giờ đều có vợ con, theo nghề cha, khá giả, mỗi thằng làm chủ 1 chiếc xe đò liên tỉnh. Thằng Muôn giờ giữ căn nhà từ đường. Ở tuổi 40 nó trông oai vệ còn hơn cả chú Mười ngày xưa.

Sau màn chào hỏi, Muôn sai vợ: “Ði chợ mua ít đồ nhậu về làm đãi anh K. coi.” Vợ nó cung cúc làm ngay tắp lự, chưa tới nửa tiếng sau đã thấy tiếng xào nấu ì xèo dưới bếp.

Mình bảo, tao thắp cho ông già cây nhang? Thằng Muôn nhìn mình cảm động. Xong, nó hỏi, “Mày khấn gì thế?” Mình ậm ừ, “Không có gì, không có gì.”

Thực ra là mình giấu. Không lẽ kể với Muôn lời khấn này: “Chú Mười ơi, ngày xưa chú chửi sai rồi. Ðáng lý chú phải chửi là, “Học giỏi cho lắm, bôn ba cho lắm, cũng đi chợ cho vợ mà thôi!”

Hi Phạm chuyển

Edited by user Wednesday, April 1, 2015 8:33:55 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked stormy for this useful post.
phamlang on 4/8/2015(UTC)
phamlang  
#36 Posted : Wednesday, April 8, 2015 5:23:05 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Đoản văn Gửi Người Em Gái Hà Nội

Trương Phú Th1


Ngày xưa nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, một tay chơi hào hoa của đất Hà Thành, cũng đã một lần lao đao đi vào thế giới của những kẻ thất tình. Ông nhạc sĩ có một người yêu nhưng em gái chối bỏ thiên đường CS với lại cũng chẳng có cảm tình gì với râu ria Ông Hồ. Nàng chạy vào Sài Gòn với “Cụ Riệm.” Ngày Tết đến, người Hà Nội nằm gãi ghẻ trên một căn gác tối thui đầy ruồi nhặng, bụng đói meo vì tem phiếu khoai sắn cũng đã đi vào cõi mộng, nghĩ đến người tình đang cỗ bàn ê hề ở miền Nam mà tủi thân trách phận. Ông nhạc sĩ buồn năm phút rồi sáng tác ca khúc “Gửi người em gái miền Nam.” Bài hát tả oán người em gái mê dân chủ tự do, thích ăn ngon mặc đẹp, lại thấy “Cụ Riệm” đẹp giai hơn Ông Hồ nên đành cam tâm để lại người yêu ở chốn ngàn năm văn vật gặm khoai sắn thoi thóp qua ngày.

Ấy là câu chuyện của Ông Đoàn Chuẩn, người đã đi vào cõi vĩnh hằng, và cô em gái nếu còn trên dương gian này thì cũng đã lững thững bước vào tuổi cổ lai hy, nói nôm na là khứa lão cũng đã trên bẩy chục cái xuân xanh. Chuyện hôm nay là của một “nhà văn” đang lên được các em gái trong và ngoài nước ái mộ cực kỳ. “Nhà văn” Vũ Lục Bình, người đã có hai truyện ngắn tình cảm lâm ly bi đát đăng báo và đang trên đường đi vào văn học sử nước nhà. “Nhà văn” cũng muốn khoa trương tên tuổi bằng cách gửi bài đăng trên nhiều tờ báo, nhưng bài gửi đi rồi thì vài ba tuần lễ sau lại được nhắn tin một cách rất thân thiện trong mục “Bài không đăng.” “Nhà văn” bí đề tài nên đành nhắm mắt thuổng tên một bài hát có những câu tình tứ lãng mạn nghe đến xót xa. “Em tôi đi mầu son trên đôi môi, khăn san bay lả lơi trên vai ai.” Bởi vậy câu chuyện “Gửi người em gái Hà Nội” dưới đây tất nhiên phải có một thoáng Hà Nội với những từ ngữ và kiểu cách ăn nói đặc mùi xã hội chủ nghĩa mà “nhà văn” mới tiếp thu được trong một chuyến đi chơi đất Bắc.

Tôi vốn người của ruộng đồng Cái Sắn, thuộc diện Bắc kỳ di cư. Địa danh Cái Sắn của tỉnh Kiên Giang thì chẳng nói ai cũng biết là nơi sinh sống của dân ruộng từ Bắc chạy vào Nam lánh nạn CS. Tất nhiên dân cầy sâu cuốc bẫm thì phải quê kệch nhưng tôi trông chẳng đến nỗi quá cũ người. Thật tình thì cũng đã có người con gái tóc thề vừa chấm ngang vai còn khen tôi đẹp giai nữa kìa (!) Ông bạn thiết đã nhiều lần làm giám khảo Hoa Hậu Áo Dài mô tả hình dạng tôi một cách rất chân thực “cái anh cao lớn đen đen ấy.” Mấy chữ ngắn gọn này đủ nói lên vóc dáng và sắc diện của một người mà khi còn ở trong nước chỉ chuyên trị con trâu cái cầy, rảnh rỗi việc đồng áng thì đi đánh dậm kiếm vài con tôm con cá cải thiện bữa ăn quanh năm chỉ có rau muống luộc. Sang đến Mỹ, tôi lăn lộn đủ mặt ở các nông trại vùng Tây Bắc Hoa Kỳ. Khi thì đi hái táo, lúc lại chăn gà lôi. Ngày đêm dầm mưa dãi nắng mà làm sao lại không “đen đen” cho được. Nhiều anh chị Mỹ trắng tốn bộn bạc đi kiếm tí “đen đen” của tôi mà cũng không đạt yêu cầu đấy. Cái đen này là mầu nâu xậm của khối đồng hun, đen ngọt đen dòn. Một độc giả trung thành của “nhà văn” Vũ Lục Bình, cô Kim Khuê ở tiểu bang Hạ Uy Di thì lại bảo tướng tá tôi giống một võ sĩ. Chắc là người An Nam mình có nước da “đen đen” không là dân cầy ắt phải là võ sĩ (?) Tôi phải nói tí chút về cái dung nhan không xấu mà cũng không lấy gì làm đẹp của tôi vì một câu chuyện cũng có chút nước mắt nước mũi chẳng kém gì “Chuyện tình Lan và Điệp” mà “nhà văn” Vũ Lục Bình chính là nhân vật Điệp và người đẹp tên Lan lại là một cô gái Hà Nội.

Cách đây hai năm, vào dịp Tết Tân Tỵ, tôi phải về Việt Nam có “công chuyện.” Nhân tiện chuyến đi ngàn dặm, tôi đã “tranh thủ” bỏ ra vài ngày đi thăm vịnh Hạ Long mà nghe nói được liệt kê vào danh sách những kỳ quan của thế giới. Tôi ghi danh với một văn phòng du lịch ở Hà Nội dưới cái tên trên sổ thông hành Hoa Kỳ: William Fitzerald Vu. Đoàn khách du lịch gồm 11 người và cô hướng dẫn viên. Bốn cặp vợ chồng tất cả về từ Úc, hai cô Tây từ một nước Đông Âu và tôi là người duy nhất từ Mỹ, lẻ loi một mình.

Người hướng dẫn chuyến đi với cái tên đẹp và mềm mại như mái tóc đen óng ả của cô, Mỹ Lệ ở vào tuổi trên dưới ba mươi có làn da trắng mịn màng, khuôn mặt xinh xắn và miệng cười tươi như hoa. Chuyện trò một lúc thì tôi được biết Mỹ Lệ gốc Tuyên Quang. Các cụ mình ngày xưa đã nói “Trà Thái Gái Tuyên” thật chẳng sai tí nào. Mỹ Lệ đẹp lắm, đẹp hơn cả người mẫu đứng trong tủ kính. Có thể vì ngoại hình bắt mắt nên Mỹ Lệ được tuyển dụng làm công việc của một hướng dẫn viên du lịch nhưng bên trong cái nhan sắc đó lại là chỗ cư ngụ của một hòn đá vô sản, một cục đất xã hội chủ nghĩa. Tôi phải nói một cách thiếu lịch thiệp như vậy vì người đẹp đã bắt chuyện với tôi bằng một câu hỏi rất “hữu nghị:”

“Trước kia anh là lính ‘ngụy’ của chính quyền Sài Gòn hả?”

Nếu không có cái sổ thông hành mầu tím than của Hoa Kỳ chắc là tôi phải nhẩy ra khỏi xe vì câu hỏi có vẻ tra tấn của những người làm “nghiệp vụ” công an cảnh sát hay của một tên quản giáo trong trại tù khổ sai đầy rẫy khắp nuớc. Tôi có máu thích đùa dai và nhất là lại được chọc ghẹo người đẹp Hà Thành nên phản ứng tự nhiên:

“Bác và Đảng nói ‘ngụy’ có đuôi. Chiều nay tới vịnh Hạ Long tôi cởi quần áo nhẩy xuống biển bơi một lúc, nếu tôi có đuôi thì đích thị là ‘ngụy’ rồi.”

“Giời ạ! Rét như thế này mà anh dám bơi à.”

“Nếu vậy thì tôi cho cô… khám, xem cái đuôi ở chỗ nào.”

“Thôi. Em không dám đâu, xấu hổ lắm.”

Chiếc xe chạy êm ả trên con đường do một công ty Nhật mới làm. Qua lãnh địa của bánh đậu xanh Hải Dương, hai bên đường cũng còn nhiều cảnh trí và sinh hoạt của những ngày Tết. Từng nhóm người vội vã trên đường, quần áo mới mầu sắc rộn ràng còn cứng bột hồ, trong tiếng cười nói vui vẻ. Những cành đào miền Bắc đẹp như tranh vẽ vẫn còn phô sắc trước mặt tiền của những căn phố sát ngay bên đường. Đâu đó xa xa có tiếng trống hội hè đình đám của ngày Tết nơi thôn dã thân thương.

Bốn cặp vợ chồng ngủ dật dờ, hai cô Tây nhìn phong cảnh hai bên đường có vẻ thích thú và tôi an nhiên lý sự với cháu Bác Hồ:

“Thế cô đã nhìn thấy cái đuôi của ‘ngụy’ chưa?”

“Eo ôi! Em sợ lắm. Mà sao tên anh khó đọc quá vậy.”

“À, thày u tôi sợ tôi bị ma bắt nên đặt cho tôi một cái tên tiếng Việt nghe không được êm tai. Sang Mỹ tôi đổi tên, may ra có khá hơn. Cô có chồng con gì chưa”

“Nhà em nghèo lắm. Mấy thằng đàn ông chỉ thích lấy vợ giầu thôi.”

“Cô xinh đẹp như thế này thì chắc cũng lấy được một ông cán bộ làm to, rất giầu có.”

“Anh biết xem bói à?”

“Tôi không biết xem bói nhưng tôi biết xem chỉ tay. Nhìn diện mạo cô thì tôi thấy những ngày khó khăn cũng sắp qua. Sang năm thế nào cô cũng lấy được một ông cán bộ cấp trung ương đảng, tiền bạc ngập đầu ngập cổ đốt đi cũng không hết.”

Tôi không phải là một thứ lão luyện trong tình trường nhưng cái bài bản giao thiệp để chiếm đoạt cảm tình của nữ giới thì tôi rành sáu câu. Đàn bà con gái ai mà lại chẳng muốn được khen xinh đẹp duyên dáng, ai mà lại không thích lấy chồng vừa chức tước bề bề vừa giầu nứt đố đổ vách. Tôi đã áp dụng bài học vỡ lòng này nhiều lần và lần nào cũng thành công mỹ mãn. Mỹ Lệ như gặp được thánh nhân nên vồn vã:

“Tối nay đến nhà nghỉ, anh xem chỉ tay cho em nhé.”

Tôi làm bộ lạnh nhạt:

“Tính tôi có sao nói vậy, nhiều khi phải nói sự thật sợ cô buồn; mà nếu không noí ngay nói thật thì tôi không xem chỉ tay cho cô được.”

“Anh làm ơn cứ nói thật cho em nghe; có gì còn cúng giải hạn chứ.”

“Được rồi, tối nay tôi sẽ xem chỉ tay rồi xem… tướng cho cô nữa”

Tôi đã từng xem chỉ tay cho nhiều bà nhiều cô. Người nào cũng khen “thầy” nói cứ như thánh phán vậy. Sách xem chỉ tay của tôi tuy giản dị sơ sài nhưng phải là người có khoa ăn nói mới đủ chữ nghĩa diễn dịch vận mệnh của thân chủ một cách hợp lý và đáng tin tưởng. Nhiều khi để tỏ ra “tiền tiến” tôi còn phải lấy cái thước đo độ dài và vị trí của những đường chỉ tay, sau đó lấy bút giấy làm vài con toán lượng giác để nói năng cho có “cơ sở.” Sau một lúc vuốt ve bàn tay ngọc, bao giờ tôi cũng được khen là xem chỉ tay một cách khoa học chứ không vớ vẩn như mấy ông thầy bói sờ mu rùa. Nhiều cô lại còn ngẩn ngơ đòi xem chỉ tay cho “thầy.” Bàn tay mát lạnh như thạch của người đẹp bám chặt vào tay “thầy” có lúc gỡ không ra. Tôi chưa bao giờ kiếm sống bằng nghề xem chỉ tay nhưng nhờ có chút tài mọn mà cuộc đời nhiều lần tưởng chừng như rất vất vả lại đã qua đi một cách êm xuôi. Hồi năm 1964, lúc học năm thứ hai trường Luật, tôi đã xem chỉ tay cho bà vợ một ông sĩ quan nổi tiếng chửi thề luôn miệng. Vào thời điểm hỗn quân hỗn quan, đảo chánh, chỉnh lý, biểu dương lực lượng xẩy ra như cơm bữa, ông sĩ quan nào biết rào trước đón sau chụp giật thời cơ thì lon lá chức tước kể như diều gặp gió. Vấn đề khả năng và đạo đức cá nhân đã không còn là những tiêu chuẩn để thăng quan tiến chức mà là bè phái với súng đạn trong tay. Lúc xem chỉ tay cho phu nhân, tôi đã không do dự nói ngay ông nhà sắp sửa làm to vì cái đường danh vọng và tiền bạc của phu nhân rất rõ và hồng hào tươi tắn như trăng rằm. Quả tình chỉ ít lâu sau ông sĩ quan chỉ biết chửi thề luôn miệng này mang lon đại tá và được bổ nhiệm giữ một chức vụ hái ra tiền. Một hôm đang đi lang thang trước cửa nhà sách Khai Trí, tôi tình cờ gặp phu nhân. Bà đẹp và trẻ hơn xưa, ăn mặc sang trọng với một rừng kim cương hột xoàn. Bà khoe ông nhà bây giờ làm to đúng như “thầy” đã phán. Sau một lúc hàn huyên chuyện mưa nắng, bà rút trong ví ra một xấp tiền dúi nhẹ vào túi quần tôi. Với số tiền này tôi đã mua được một cái xe mô-bi-lét cũ nhưng chạy rất tốt, tạm thời giã từ cái xe đạp cà tàng tuột xích liên miên. Từ đó, cuộc đời tôi đỡ vất vả mồ hôi mồ kê.

Buổi tối nhóm du lịch chúng tôi tụ tập ăn cơm ngay trong phòng khách của nhà nghỉ trên một con dốc nhìn ra vịnh Hạ Long. Tôi vốn ít ăn vả lại mâm cơm của chuyến du lịch rẻ tiền quá èo uột nên cũng miễn cưỡng ngồi cạnh Mỹ Lệ cho vui bát vui đũa. Sau bữa ăn người nào trông cũng có vẻ mệt mỏi, lẳng lặng về phòng ngủ. Tôi và Mỹ Lệ ra phía trước phòng khách uống nước trà nói chuyện bên Ta bên Tây rồi tôi bắt đầu xem chỉ tay cho người đẹp Hà Thành.

Trước hết để chinh phục được niềm tin mãnh liệt của Mỹ Lệ tôi nói ngay thân chủ nên đổi tên đi. Mỹ Lệ có nghĩa là giọt nước mắt đẹp, tôi mù tịt chữ Nho nhưng cũng tán đại ra như vậy, khi khóc thì rất ít khi người ta rơi lệ vì vui sướng hạnh phúc mà toàn là những khổ đau bất hạnh. Cái tên tuy chẳng là gì nhưng mà cứ nghe âm thanh không lấy gì làm vui cũng đủ gặt hái toàn những điều không may mắn, không toại nguyện. Tôi chắc ăn ở cái “khâu” này vì tin rằng nhiều cô gái đã tự đặt cho mình một cái tên nghe ra cho đài các, cho cao sang diễm kiều. Chẳng có luật lệ nào cấm cản hay phạt vạ cô Phạm Thị Tẹt lấy tên gọi là Mộng Huyền cho dễ nghe, cho mộng mơ, cho “hiện đại.” Thân chủ của tôi vội vàng nói tên thật là Nguyễn Thị Ngừng. Cái tên hơi hập khiễng cũng có nguyên nhân bởi vì ông thân của Mỹ Lệ là công nhân viên nhà nước nhưng lại vi phạm luật lệ công đoàn (hạn chế sinh đẻ) vì bà vợ có bầu đứa con thứ ba. Ông bố của Mỹ Lệ phải làm kiểm điểm, chịu hình phạt cảnh cáo và bà mẹ được bố trí vào “viện triệt sản” sau khi sinh nở rồi đặt tên con là Ngừng, có nghĩa là từ nay hạ quyết tâm ngừng luôn không bao giờ dám đẻ nữa. Cô Nguyễn Thị Ngừng đang ngồi cạnh tôi là đứa con thứ ba của một cặp vợ chồng đẻ quá tiêu chuẩn. Vi phạm quy định công đoàn và luật lệ nhà nước nên ông bị buộc thôi việc. Giấc mộng được kết nạp vào đảng trở thành mây khói và tất nhiên cũng chỉ vì không có cái thẻ đảng nên cuộc đời của gia đình Mỹ Lệ đã thực sự khốn đốn chao đảo. Thật khó có thể tin được một người đã nhiều năm đói lên đói xuống, thỉnh thoảng có được một bữa no thì cũng khoai sắn độn cơm với tí rau luộc chấm nước muối mà lại có một thân hình và sắc đẹp mời gọi đến như vậy.

Sau một lúc diễn giảng, “thầy” khuyên nên đổi tên Mỹ Lệ thành Mỹ Kim và thân chủ đã nhiệt liệt đồng tình. Mỹ Kim tượng thanh tượng hình hơn và nhất là “cực hiện đại.” Kim có nghĩa là vàng, ở nước ta bây giờ già trẻ lớn bé ai cũng chỉ nói đến cây với gậy. Hình ảnh những cây vàng sắp lớp nhau trong tủ kính thì còn gì duyên dáng hữu tình hơn. Mỹ Kim lại còn là tên gọi đơn vị tiền tệ của nước Mỹ. Những tờ giấy vô tri vô giác mầu xanh ở chân trời góc biển nào cũng được nâng niu “trân trọng.” Như vậy chả còn có cái tên nào văn hoa mỹ tự và thực tế hơn Mỹ Kim và Mỹ Lệ đã chính thức trở thành Mỹ Kim kể từ giờ phút này.

Sang đến phần công danh sự nghiệp thì “thầy” phán ngay là có số nhờ chồng. Công việc hướng dẫn viên du lịch lương tháng 20 mỹ kim thì đường công danh của người đẹp đã vất vưởng đâu đó nơi a tỳ địa ngục, sự nghiệp kể như hoàn toàn bế tắc. Giời thương mà vớ được một anh cán bộ bên Công An hay nghành Hải Quan thì xe ô tô con, nhà dăm bẩy tấm kể như chuyện nhỏ. Hệ thống cai trị của đảng Cộng Sản Việt Nam tạo ra những nấc thang rõ rệt, càng làm to làm lớn thì càng giầu có. Anh đảng viên cấp trung ương thì phải giầu hơn anh cán bộ cấp tỉnh và đương nhiên là anh cán bộ cấp tỉnh phải nhiều tiền lắm bạc hơn anh cán bộ cấp huyện. Sở dĩ “thầy” dám mạnh miệng như vậy là vì ở Hà Nội nhan nhản những anh cán bộ cấp trung ương đảng già khú đế nhờ cách mạng thành công bốc hốt được cơ man nào là tiền của nhà đất. Lúc có tiền rồi thì anh nào cũng nghĩ đến ăn chơi hưởng thụ. Nhìn bà vợ già răng đen mã tấu mà ngán ngẩm. Do vậy anh nào cũng tìm đủ mọi cách ruồng rẫy người vợ quê mùa đã một đời long đong khoai sắn. Anh nào còn chút tính người thì lấy vợ hai vợ ba. Nhiều trường hợp người vợ già quê kệch đã được chồng thuê mướn bọn đầu gấu đưa về cõi vĩnh hằng bằng đủ mọi thứ tai nạn, ngộ độc thức ăn và nhiều độc chiêu khác. Bài bản này các đồng chí cũng chỉ học tập lại kiểu cách của Bác mà thôi. Sử sách chép rằng, hồi còn sinh thời Bác ra lệnh cho đàn em đi bắt một cháu gái về để “Người” giải toả sinh lý. Bọn công an lên Cao Bằng lùng xục bắt được người đẹp Nông Thị Xuân mang về hầu Bác. Cô Xuân chắc phải đẹp nghiêng nước nghiêng thành, chim sa cá lặn. Chẳng vậy mà đang khi làm công tác hộ lý phục vụ Bác mà Bộ trưởng Công An Trần Quốc Hoàn dám mò vào phòng cô Xuân bắt ủng hộ tí. Sau khi sản xuất cho Bác được một đấng nhi đồng nam, cô Xuân đã bị bọn Công An thi hành phương án của Đảng lấy cái xe vận tải va vào cho đến chết. Đảng có nhiệm vụ phải bảo vệ cái yếu tính thần thánh của Bác nên chú con trai mà Bác đã gieo giống chắc cũng đã theo cô Xuân về thế giới bên kia ( ?) Bác là thần thánh, là cha già dân tộc mà lại có vợ con thì cả là một chuyện nghịch lý!

Sang đến mục tiền bạc thì khỏi nói. Lấy được ông chồng tuy đã có tuổi nhưng lại ở cấp trung ương đảng thì tiền bạc kể sao cho hết. Nhà nước ta kiên quyết áp dụng chủ nghĩa cộng sản, một quái thai của hai anh già sáng say tối xỉn “Các Mác” và “Lê Nin.” Cộng Sản có nghĩa là tài sản của dân phải đem cộng lại, mang gộp lại rồi chia đều cho các ủy viên trung ương đảng. Bọn cóc nhái địa phương cũng ê hề với đồng rơi đồng rụng. Chỉ có dân đen là đói rách triền miên. Sở dĩ tôi phải hai ba lần nói đến người chồng tương lai của Mỹ Kim là một anh ủy viên trung ương đảng vì lẽ cái sắc đẹp lồ lộ của Mỹ Kim trông dữ dội quá. Bọn trẻ chỉ dám nhìn rồi mơ mộng viển vông nhưng mấy anh già giầu có nuốt nước bọt ừng ực thế nào cũng mang tiền bạc ra lập phương án giải quyết. Đường tình duyên của Mỹ Kim có vài chỗ lấn cấn, “thầy” dám chắc thân chủ chỉ có số làm vợ hai, vợ ba thiên hạ nhưng chẳng dám nói ra. Thôi thì “làm bé ông lớn còn hơn làm lớn ông bé” cũng sướng chán. May ra anh chồng già chê cơm chê cháo rồi êm đềm đi về bên kia thế giới thì năm rộng tháng dài cũng còn nhiều dịp làm lại cuộc đời. Sẵn tiền người đã khuất để lại, mua tiên còn được chứ xá gì một anh trẻ tuổi đẹp giai.

Sau một lúc im lặng nghe “thầy” phán, Mỹ Kim trông xúc động và vui vẻ ra mặt. Thân gái mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu mà cứ như những đường chỉ tay thì cái bến đỗ của Mỹ Kim tuy không trong veo như dòng suối nơi tiên cảnh nhưng cũng chẳng đến nỗi đục ngầu toàn bùn với đất. Nhìn lên thì không bằng ai, nhìn xuống chẳng ai bằng mình là mãn nguyện rồi. Cái gì chứ mộng ô tô con, nhà mấy tấm chẳng phải là giấc mơ. Sống dưới chế độ cộng sản thì của cải vật chất tạo ra hạnh phúc, đó là một định đề của xã hội chủ nghĩa. Bởi thế mà cả nước đi đến đâu cũng chỉ nghe nói đến tiền, đến nhà cửa xe cộ và già trẻ lớn bé ai cũng tìm đủ mọi cách để kiếm tiền, rất nhiều khi bằng những thủ thuật mánh mung lường gạt.

Thời tiết mùa Xuân miền Bắc không lạnh lẽo nhưng dễ chịu, cơn mưa xuân lất phất như giải sương mù theo chiều gió bay ra ngoài biển khơi che khuất những hòn đảo lớn nhỏ nhấp nhô trong khói sóng. Mới khoảng 10 giờ đêm mà thành phố như đã chìm vào giấc ngủ mê mệt, chẳng có một chút sinh thái tối thiểu của địa điểm du lịch. Tôi đi về phòng nghỉ. Hai chiếc giường đơn kê hai bên với một cái bàn nhỏ ngăn ở giữa tạo nên một khoảng trống cần thiết làm cho căn phòng không đến nỗi chật chội. Giấc ngủ mơ màng nơi giường lạ chập chờn theo tiếng gió rít xoáy mạnh vào khe cửa tạo nên những âm thanh nghe như tiếng sáo diều trong một buổi chiều nào nơi quê cũ.

Có tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Chẳng lẽ giờ này mà công an lại đi xét giấy tờ khách du lịch sao? Tôi bật ngồi dậy, bàng hoàng với ám ảnh khủng bố giữa khuya của những người chuyên làm công việc bắt bớ, thủ tiêu. Miền đất này đang bị đảng Cộng Sản Việt Nam hành hạ xiềng xích thì chuyện đêm hôm một người được mời đi làm việc và rồi đi luôn là chuyện đời thường như sáng nắng chiều mưa. Tôi vén màn nhìn qua khung cửa sổ ngỡ ngàng nhìn Mỹ Kim đứng rụt rè trong ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn ngoài hành lang.

“Anh… gì ơi.”

“Có chuyện gì vậy cô?”

“Anh cho em nghỉ tạm ở đây với, chẳng còn chỗ nào cả.”

Sau một lúc phân giải lý do không thể có một chọn lựa nào khác hơn là phải “ngủ” chung phòng với một anh ‘ngụy’ xa lạ, Mỹ Kim có vẻ thẹn thùng không dám bước vào mặc dầu cửa phòng đã mở rộng. Tôi vội mời mọc:

“Phòng có hai giường cơ mà. Cô một giường tôi một giường.”

“Anh cho phép em nhé.”

Mỹ Kim bước vào phòng với một túi xách nhỏ gọn, nhìn tôi hơi chút ái ngại:

“Anh cho em nhờ cái phòng ‘toa lét’ một lúc.”

Tôi vẫn ngồi trên giường chăn trùm lên tới cổ trong cái lạnh êm dịu của mùa Xuân đất Bắc và nghĩ đến những chuyện Liêu Trai đã đọc từ những ngày còn bé mà hơi chột dạ, mặc dầu chưa bao giờ tôi tin chuyện ma qủy. Người con gái trong phòng tắm có phải là cô hướng dẫn viên du lịch Mỹ Kim hay là một hồn ma vừa bước ra từ một bụi cây hoặc một nấm mồ hoang quanh quẩn đâu đây. Tôi không sợ ma nhưng tự nhiên trong đầu óc lại đầy rẫy những hình ảnh lao xao của một thế giới nơi âm phủ. Tôi lơ mơ đi vào giấc ngủ, chập chờn với những mộng mị không tên. Trong phòng tắm tiếng nước chẩy yếu ớt vẫn nhịp nhàng tạo ra một âm thanh dật dờ trong khung cảnh thinh lặng của một thị trấn đang tìm đường cố thoát ra nanh vuốt của giáo điều cộng sản và xã hội chủ nghĩa.

Buổi sáng lúc tôi thức dậy, giường bên chăn gối đã được sắp xếp phẳng phiu. Mỹ Kim lên giường lúc nào và ra khỏi phòng hồi mấy giờ tôi cũng không biết. Tôi vốn được cái dễ ăn dễ ngủ. Ăn uống thì thế nào cũng xong, chủ yếu là miếng cá kho với mấy gắp rau luộc. Leo lên giường là ngủ như chết, thiên địa tù mù để ngoài cửa sau. Tôi tu chưa đắc đạo và tôi cũng không phải là ông thánh, nhưng tôi đã ngủ không mộng mị cho đến khi mở mắt tỉnh dậy thì… Mỹ Kim đã đi rồi.

Lúc tôi xuống phòng khách thì đã thấy Mỹ Kim đang dọn dẹp bàn ăn cho bữa sáng. Nhìn người đẹp không được vui và có vẻ tư lự về một vấn đề nào đó làm cho tôi cũng không được tự nhiên thoải mái như tối hôm qua lúc ngồi cạnh nhau, bàn tay nhỏ nhắn ấm áp của cháu ngoan Bác Hồ đã có lúc nằm yên một cách hững hờ trên cái bắp đùi chẳng lấy gì làm mềm mại của anh nông dân miệt Cái Sắn. Sau bữa ăn sáng chúng tôi lên tầu ra ngoài vịnh tham quan động Thiên Cung. Mỹ Kim ngồi cạnh tôi, nét mặt không được phấn khởi hồ hởi như có một ấm ức nào đó đè nén trong lòng.

Buổi tối về lại Hà Nội, tôi chỉ nói vài lời cám ơn và từ biệt Mỹ Kim, hy vọng quả đất vừa nhỏ vừa tròn sẽ có ngày gặp nhau. Xe chuyển bánh và tôi cũng không nhìn theo. Hình ảnh người đẹp Hà Nội tuy không cào xé trái tim của lãng tử đa tình nhưng cũng đã để lại cho tôi một kỷ niệm. Mấy tháng sau cuộc trùng phùng, từ miền cao nguyên của xứ có “bờ xôi giếng mật” tôi đã viết cho Mỹ Kim một lá thư qua địa chỉ của văn phòng du lịch:

Mỹ Kim thân mến,

Chắc cô chưa quên anh “ngụy” đã xem chỉ tay cho cô vào tối ngày mùng Năm Tết Tân Tỵ, tại phòng khách của một nhà nghỉ trên một con dốc nhìn ra vịnh Hạ Long. Có thể bây giờ cô đã có chồng, một ông cán bộ chức tước bề bề và rất giầu có. Bàn tay cô có đường công danh và phú qúy rất đẹp, chẳng lẽ Ông Trời lại éo le với một người thiếu nữ xinh đẹp như cô sao!

Buổi sáng đi tham quan động Thiên Cung, tôi thấy cô không được vui. Tôi chỉ có thể nghĩ đến một vấn nạn chưa có câu trả lời đã làm cô phải ưu tư ấm ức và tôi lại là người mang trọng trách phải giải toả cái lấn cấn chẳng phải của riêng cô mà là của rất nhiều cháu yêu của Bác. Câu hỏi “Ngụy có đuôi” chắc còn vẩn vương trong tim óc của một số người dân miền Bắc. Tôi không muốn nói đến cái gian giảo của Đảng và Nhà Nước ta khi đặt tên cho những người đứng ngoài vòng rào của chủ nghĩa CS là ngụy. Cô đã có dịp vào Sài Gòn vài lần và đã thấy rõ những luận điệu tuyên truyền láo lếu của những người CS. Miền Nam Việt Nam bị xã hội chủ nghĩa kềm kẹp đã hơn một phần thư thế kỷ mà vẫn “cứ như là thiên đàng ấy.” Cô đã có dịp chuyện trò, ăn uống và ngay cả “ngủ” chung phòng với “ngụy,” rồi cô đã tự diễn “các anh ngụy người nào cũng đẹp và thơm quá.” Cô Mỹ Kim à, ngụy không có đuôi như Bác và Đảng đã vẽ ra đâu.

huyện nói về những cái giảo hoạt đảo điên của người CS thì chẳng bao giờ hết, vì đó là những phương tiện của đảng CS Việt Nam chiếm đoạt quyền hành và ngang ngược cai trị dân mình. Nhân loại càng ngày càng có những nhu cầu và đòi hỏi về tinh thần cũng như vật chất theo chiều hướng nhân bản trong tinh thần tự do dân chủ. Chủ nghĩa CS chắc chắn sẽ bị đồng bào mình đứng lên đạp đổ như những người anh em ở Liên Sô và Đông Âu đã vùng lên đem cơm no áo ấm và tự do dân chủ về trên quê hương của họ. Một ngày không xa, chế độ CS độc tài sắt máu cũng sẽ bị chôn vùi dưới hào khí bất khuất của đồng bào mình. Tôi lại sẽ có dịp về thăm Hà Nội. Thế nào tôi cũng mời cô ra nhà Thuỷ Tạ trên hồ Hoàn Kiếm uống cốc cà phê mừng cho hạnh phúc của toàn dân, mừng tự do, mừng dân chủ.

Hẹn gặp cô ở Hà Nội.
Một tháng sau, tôi nhận được thư của Mỹ Kim từ Hà Nội. Bức thư ngắn gọn với nét chữ nguyệch ngoạc:

“Anh gì ơi. Em sắp lấy chồng rồi. Anh ấy là Việt kiều ở bang Cali đấy. Bây giờ thì em biết rồi, Bác và Đảng chỉ nói dối thôi, ngụy không có đuôi đâu.”
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#37 Posted : Tuesday, April 14, 2015 12:26:21 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Mảnh bằng

Tác Giả Đoàn Xuân Thu

Monday, 30 March 2015

Nông thôn mình hồi xưa ở ngoài Bắc hễ ai có ruộng vườn bát ngát (nói bát ngát cho ‘le’ chơi... chớ chừng 5, 7 mẫu là cùng!), nhiều ao cá liền bờ là giàu, là địa chủ (Dân Lục Tỉnh Nam Kỳ không kêu là địa chủ (chủ đất) mà kêu là điền chủ (chủ ruộng)!)

Miền Tây, đồng bằng sông Cửu Long, phì nhiêu bát ngát (thứ thiệt), đất rộng người thưa, ai được cái danh ‘điền chủ’ là phải có ít nhứt vài trăm mẫu ruộng, có khi tới chục, trăm ngàn mẫu! Và có giai thoại nầy (hổng biết thiệt hay không?) là quý Hắc công tử Bạc Liêu, Trần Trinh Huy, tức Ba Huy, đi thăm ruộng phải bằng máy bay, bay mới giáp?! Sao giống chủ ‘farm’ Úc bên nầy hết sức vậy ta?!)

Cái ngộ là mấy em thôn nữ miền Bắc quê mình ‘Chẳng tham ruộng cả ao liền, Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ?’ Giữa tiền và chữ, em khoái chữ hơn khoái tiền? Tiếng rằng ‘danh lợi’, em chọn chữ, chọn danh trước... còn lợi thủng thẳng nó tới mà... thì việc gì phải lo chớ!

Nói một cách dễ hiểu là mấy em theo tam đoạn luận: có chữ, có danh, (được bổ làm quan, là mình ‘quằm’) tất có lợi! Tuy nhiên cái tam đoạn luận chắc ăn như bắp nói trên đôi khi cũng trật lất!

Sao vậy? Thưa Tú tài hồi xưa là le lói lắm như ông Trần Tế Xương đậu Tú tài nên mới gọi là Tú Xương. Nhưng cái Tú tài của ổng là Tú tài Hán học. Mà Hán học đang suy tàn trước Tây học, ổng có chữ, có danh (nhưng Tú tài chưa được bổ làm quan!) nên nghèo sặc máu, nghèo mạt rệp, nghèo rớt mồng tơi. Ðành ‘Cao lâu thường ăn quỵt/thổ đĩ lại chơi lường’ (Nhà thơ Tú Xương gan hết biết... chơi lường mà hổng sợ ‘ma cô’ nó quánh cho lòi bản họng!)

Nhà thơ nổi tiếng đất Vị Xuyên nầy còn có một bài thơ mà con vợ tui đọc xong nó cảm động quá chừng chừng. ‘Quanh năm buôn bán ở mom sông/nuôi đủ năm con với một chồng/Lặn lội thân cò khi quãng vắng/eo sèo mặt nước buổi đò đông!’ Ðọc xong, em thổn thức: “Sao đau khổ... giống đời em quá vậy? Hu hu!”

Nhưng nhà thơ Tú Xương của chúng ta đã ơn đền nghĩa trả (còn hơn là đầy đủ) công khó của vợ hiền; ông Tú dắt tay bà Tú thong dong đi guốc vông vào văn học sử dù chỉ bằng một bài thơ thôi... Rồi trăm năm sau, hay ngàn năm nữa, tình nghĩa, vợ hy sinh cho chồng nên danh phận vẫn lóng lánh như ngọc lưu ly!

(Bài thơ đó người viết ‘chôm’ để dành trong bụng hầu làm ‘biện minh trạng’ cho mình, một ông chồng hư quá là hư! Tui cũng biểu em yêu nên học tập, làm theo gương của Bà Tú... để đừng cằn nhằn, cửi nhửi lúc tui hư nữa nhe em!)

Thưa! Rồi cũng chuyện hồi xưa, đầu thập niên 60, tại rạp Hưng Ðạo (dĩ nhiên là nó nằm trên đường Trần Hưng Ðạo rồi) thường chiều Thứ Bảy có Ðại nhạc hội hay sáng Chủ Nhựt có tổ chức cuộc thi Tuyển lựa ca sĩ, được trực tiếp truyền thanh trên làn sóng điện đài Sài Gòn cho bà con cả nước nghe.

Trong chương trình phụ diễn văn nghệ nầy, ban Tam ca Trào phúng AVT hay trình diễn. Ra sân khấu, ba ông diện khăn đóng, áo gấm thụng ba màu khác nhau. Mỗi người sử dụng một nhạc cụ dân tộc: đàn sến (Tuấn Ðăng), đàn cò (Lữ Liên) và trống (Vân Sơn), hát những bài đa phần là lời thanh nhưng ý tục, hết sức ý nhị, thâm thúy... kiểu nữ sĩ Hồ Xuân Hương vậy. Khi có những câu thoại thì mỗi người nói rặt giọng của mỗi miền Trung, Nam, Bắc.

Cái bài mà tui khoái và nhớ tới bây giờ là bài ‘Mảnh bằng’ vì nó trúng ý tui ghê nha!

‘Mảnh’ là tiếng Bắc, là mạo từ, chỉ đồ vật nên hổng có giống đực, giống cái gì ráo. Nhưng tiếng Nam Kỳ Lục Tỉnh thì gọi là cái bằng, nghĩa là giống cái... Giống cái mà sao con gái lại mê quá trời?

Té ra em mê cái công danh! Như chồng làm Bác sĩ thì vợ tự động lên bà Bác sĩ vậy. Bên Mỹ cũng vậy thôi! Chồng làm Tổng thống thì vợ tự động leo lên làm Ðệ nhứt Phu nhân (The First Lady).

Năm tới, năm 2016, nếu Hillary đắc cử Tổng thống thì cựu Tổng thống Bill Clinton sẽ thôi làm cựu (cựu hổng có oai vì về ‘hưu’ rồi sao bằng ‘đương kim’ cho được chớ?) Ngài Bill Clinton sẽ là Ðệ nhứt Phu quân ‘The First Gent’ (chức nầy xưa giờ Mỹ chưa có nghe bà con!).

Nữ Tổng thống Mỹ Hillary Cliton là số 1; nhưng Bill là chồng của Tổng thống... còn ngon hơn số 1 nữa, Bill là số một La Mã... vì tui nói bả phải nghe! Sướng nhé!)

Thưa rằng xưa thì thiệt là xưa, ban AVT hát rằng: ‘Ngày xưa, lúc tuổi còn ấu thơ/Bố tôi thường nói con ráng học cho chuyên cần/Học nhiều thì ấm vào thân/Biếng lười sau chỉ vác chân đàn bà/Vợ con nó bắt coi nhà/Ðuổi gà mà biết nhục, thì ráng học mà làm to… Cái bằng nó chỉ một gang thôi/Mà sao con gái họ mê quá trời…?’

Mà tại sao con gái họ lại mê ‘cái bằng chỉ một gang thôi’ là vì: ‘Võng anh đi trước võng nàng theo sau’... ké! Anh lều chõng đi thi Hương, thi Hội rồi thi Ðình mà đỗ đầu thì được làm Trạng nguyên! (Nhớ đừng lấy công chúa con vua, rồi thành Phò mã nghe huynh. Hãy bắt chước Trần Minh (Thanh Sang) không phụ nghĩa tào khang với vợ hiền Quỳnh Nga (Thanh Nga) trong tuồng cải lương Bên cầu dệt lụa của soạn giả Thế Châu mới là thủy chung như nhứt, không tham phú phụ bần!)

Xui cái là Tây tới, cái bằng Hán học dẹp, treo giàn bếp. Giờ là cái bằng Thành chung, Tú tài, Cử nhân, Tiến sĩ dù tên mảnh bằng cũng na ná như xưa, nhưng không có Tứ thư, Ngũ kinh gì ráo mà sĩ tử thời nầy nói tiếng Tây như bẻ mía vậy!

Thời thế đổi thay! Tây nó dọt, miền Nam mình hết làm thuộc địa cho Tây, thì tiếng Tây, tiếng U nó de lại làm sinh ngữ... chớ hổng dám đòi làm ‘cha’, làm quốc ngữ vì tổ tiên chúng ta là người Gaulois (Nos ancêtres sont des Gaulois) như trước nữa... Thầy cô dạy mình bằng tiếng Việt cho nó độc lập nước nhà phải hông?

Rồi cái miền Nam trù phú của mình lại bị cái miền Bắc cộng sản nó xâm lăng nên đa phần nhân tài, vật lực phải dồn vô guồng máy chiến tranh để chống trả lại. Tuy vậy chánh phủ cũng ráng xây dựng trường lớp, đào tạo thầy cô. Nên những năm năm 50, 60 quận đã có trường Tiểu học, Trung học tới lớp Ðệ Tứ... Học trò học hết chữ ở quận nhà, nếu Tía Má khá giả thì cụ bị quần áo, sách vở, gạo muối cho thằng ‘cu’ lên tỉnh, ở trọ nhà người ta, học lên nữa... hầu theo đuổi cái mộng công hầu!

Thưa thân phận người viết thì khác. Bà con mình hồi xưa có nói ‘ăn học’. Nghĩa là ăn trước rồi học sau. Nhà nghèo không đủ ăn thì nói chi tới cái chuyện học hành cho nó viển vông chớ!

Nên Tía Má của người viết ráng hết sức cho tui hết cái bậc sơ học, tức cái lớp Ðồng ấu (Cours Enfantin), lớp Dự bị (Cours Préparatoire), lớp Sơ đẳng (Cours Élémentaire) tổng cộng 3 năm. Tía Má nói ‘oải’ quá rồi con! Bình dân học vụ vậy là đủ!

Phần người ta lấy bồ đựng lúa chớ hổng ai lấy bồ đựng chữ đâu con. (Ðừng có nghe ông Cao Bá Quát nói: Thế gian có 4 bồ chữ; mình ổng hết 3 bồ mà chi!) Cho dù có 3 bồ chữ cũng hổng làm được gì đâu... Học biết đọc, biết viết, biết làm tính cộng, tính trừ là đã đủ. Ở nhà tiếp Tía Má làm ruộng, mới có gạo mà nấu cơm! Kẻo chết đói cả đám bây giờ!

Sau nầy vì ít chữ, đi hỏi vợ... Tới đâu, thiên hạ cũng lắc đầu quầy quậy, nhà gái nào cũng đòi ‘cái bằng chỉ một gang’ thôi... làm thằng nhỏ mang mối hận lòng năm cũ biết bao giờ nguôi! Hu hu!

Thưa mãi sau nầy, trôi dạt tới Úc Châu, mối hận lòng năm cũ mới trả được! Niềm ao ước của đời ta mới trở thành hiện thực! Người viết đã cầm trong tay được cái bằng rồi! Dạ! Ðó là cái bằng lái xe của Nha Lộ vận tiểu bang Victoria, nước Australia cấp! Vẻ vang thay cho dân Việt!

Ôi mảnh bằng, cái bằng niềm ao ước của đời ta suốt bốn chục năm ròng! Mà hổng phải mình tui có, con vợ tui nó cũng có nữa bà con ơi!

Cái bằng lái xe nầy Úc nó không có sắp hạng ‘Thứ, Bình thứ, Bình, Ưu’ như cái bằng Tú tài quê mình năm cũ đâu... mà là cá mè một lứa. Chính vì vậy mới có chuyện so nạnh nhau. ‘Bằng mầy giỏi; Bằng mầy cao! Sao bằng Bằng tao?!’ Ai lái xe cũng hay hết trơn, hết trọi hà!
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#38 Posted : Monday, April 20, 2015 11:32:53 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Phơ…ơ…ở

Song Thao


Trong đầu tôi vẫn còn văng vẳng tiếng rao phở. Âm chót được kéo dài như một âm đuôi, nhắc khéo tới cái mùi bất hủ của một món ăn đã nhích quá công dụng của món ăn. Phở càng ngày càng… chễm chệ. Chắc có nhiều bạn trẻ hồ nghi về một tiếng rao phở. Phở đâu có hạ mình đi rong ngoài phố phường như những thứ lục tục tầm thường khác. Phở ngày nay không còn là thứ… ma cà bông vất vưởng ngoài đường xá. Nó yên vị trong các cửa tiệm. Dù sang hay hèn cũng là một cửa tiệm.

Thời thơ ấu của tôi ngoài Hà Nội phở vất vả hơn. Nó không có tới bốn cái bánh xe để di chuyển một cách đường hoàng cốt cách mà kĩu kịt trên bờ vai của bác hàng phở. Hai đầu gánh phở như không cân nhau. Một bên là nồi nước phở được đặt trên một lò có những khúc củi lớn hồng rực lửa than. Bên kia là một chiếc bàn có ngăn, chứa đầy đủ từ bát, đũa, thìa đến những ô bánh phở, những mảnh thịt và những thứ gia vị khác cho ra một tô phở. Tác giả Nguyễn Văn Lục, trong bài Cuộc sống ở một nơi nào khác* sau chuyến về thăm Hà Nội nhân dịp Tết Đinh Hợi 2007 vừa qua, đã… ôn cố:

“Tôi còn nhớ những hàng phở gánh sớm đông, khói toả ra nghi ngút, mùi phở thơm đến sặc mũi trên đường phố cửa Bắc, xế con đường đôi, nay là đường Hoàng Diệu. Một bên gánh là tủ kính để bánh phở và đĩa thịt thái tươm tất. Bên kia nồi nước phở nghi ngút khói. Khó quên được mùi phở, thơm ơi là thơm, sao mà nó thèm thuồng đến chảy nước dãi ra được.”

Và tiếng rao. Tiếng rao vang lên trong cái lành lạnh của trời đất, cái hoang vắng của đêm đen, uốn lượn trên những hàng cây tán lá, len lén chui qua từng cánh cửa, đánh thức cơn thèm phở của người dân đất ngàn năm văn vật.

Phở Hà Nội mới đích thị là phở… tông truyền. Ít nhất có một người đã xác tín như vậy. Đó là ông Đoàn Tiểu Long. Trong bài “Phở” trên talawas, ông đã… hiên ngang:

“Có thể khẳng định ngay: chỉ có phở nấu theo kiểu Bắc, hay chính xác hơn nữa là theo kiểu Hà Nội, mới đáng gọi là phở. Các hiệu phở ở đất Sài Gòn muốn bán được, cứ là phải treo biển ‘phở Hà Nội.’ Và cùng là phở Hà Nội, thì chỉ có phở ở Hà Nội là ngon nhất, không đâu sánh bằng.”

Tại sao vậy? Vẫn theo người đệ tử chân truyền của phở này thì nhờ ở thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Nói chuyện phở mà nghe như bàn về binh pháp Tôn Tử!

Thiên thời là cái không khí xứ Bắc, dù là cái se lạnh của mùa thu hay cái buốt giá của mùa đông, phở vẫn cứ đằm thắm với đất trời. “À phải rồi, chính là nhờ cái khí lạnh… tha hồ hít hà mà chảy nước miếng.” Địa lợi là vì nguồn nước thiêng của thành Thăng Long, thứ nước ngọt lự khiến các cô gái Hà Thành da trắng răng xinh, nấu làm nước phở nó mới ra phở; nhờ thứ rau húng láng chỉ thơm khi trỗi dậy từ đất ngàn năm văn vật. “Để ý đi: nếu chỉ cho hành hoa và rau mùi thái nhỏ… trong lá rau xinh xinh đó.” Nhân hòa là cái khó tính và bảo thủ trong việc ăn uống của người Hà Nội. “Người ta vẫn chịu khó xếp hàng… chẳng buồn để ý đến sự hớ hênh của mình.”

Ông Đoàn Tiểu Long là người có lòng với phở, nhưng anh Lê Phú Cường, hiện cư ngụ tại Úc, là người đồng đạo với tôi, đạo Phở. Thấy tôi viết hai bài về phở, ngửi thấy ngay cái tâm của tôi đối với phở, anh liên lạc với tôi bằng điện thư. Với anh, phở là nhất. Không gì có thể hơn phở. Đụng tới phở là đụng tới… thánh tích. Chơi xấu với phở là chuyện không thể chấp nhận được. Một ngày cuối năm 2006, tôi nhận được e-mail của Cường: “Chú Song Thao ơi, hôm qua lên mạng cháu thấy bài PHO* của chú trên Tuổi Trẻ Online. Họ không ghi tên tác giả gì cả, chỉ nói là trích từ mạng. Cháu gửi thư yêu cầu họ và cho họ biết tên của tác giả và website của chú nữa.” Đụng tới phở là mệt với Cường. Những bài Phiếm của tôi bị chôm lia lịa trên báo mạng và báo in, cả trong nước lẫn ngoài nước, tới mức tôi bị chai đi, không có phản ứng. Nhưng với Cường, với những bài liên quan tới phở, đó không phải là chuyện giỡn! Chàng thanh niên tự nhận là tín đồ của phở không muốn ai xúc phạm tới sự minh bạch của những bài… phở đức tụng. Bởi vì anh đã… liều mình với phở. Anh bỏ ra ba năm nghiên cứu về phở để làm một cái gì đó cho món ăn đã được anh tôn lên hàng… tôn giáo này. Cái gì đó là một cuộc triển lãm 10 ngày về phở, lấy tô phở làm hình ảnh ẩn dụ để qua phở, giới thiệu đến công chúng Úc và thế hệ trẻ người Úc gốc Việt về văn hóa và lịch sử đất nước Việt Nam. Vì sao anh mặn với phở đến như vậy? “Cuối năm 2002, tôi biết tin bếp trưởng người Pháp Didier Corlou giới thiệu về gánh phở Việt Nam tại hội thảo ‘Phở – Di Sản Của Việt Nam’ ở Hà Nội. Lúc đó, câu hỏi lớn nhất trong đầu tôi là tại sao người nước ngoài làm được, còn mình thì không?” Lúc đó Cường đang làm việc tại Trung tâm Nghệ thuật Casular Powerhouse (Casula Powerhouse Arts Center) tại tiểu bang New South Wales của Úc. Anh đưa ý định đầy mùi phở này ra phe phẩy trước mũi cấp chỉ huy. Họ bật đèn xanh cho anh. Thế là anh về Việt Nam thu thập tài liệu. Anh sống chết với phở với ý định “gánh” phở đi khắp thế giới.

“Không phải yêu đơn thuần, mà nói chính xác là tôi đã trở thành tín đồ phở mất rồi! Tôi vẫn luôn tự hỏi người Việt Nam chúng ta có thể phát triển một ‘phở đạo’ như người Nhật từng có với ‘trà đạo’ hay không? Chỉ riêng cách thưởng thức phở là cả một nghệ thuật mà những kẻ ngoại đạo cần tìm hiểu.”

Tháng 6 năm 2006, cuộc triển lãm về “Đạo Phở” đã thành công vượt bực. Mặc những cơn mưa rả rích, mặc cái lạnh tháng sáu, trên 400 người đã tới với phở, đúng hơn với một tấm lòng với phở. Say phở, đài truyền hình Úc SBS lập tức đề nghị Cường hợp tác làm một bộ phim về phở. Kịch bản do Cường và cô Joanna Savill, phóng viên ẩm thực của SBS, viết chung. Ngoài bộ phim này, Lê Phú Cường còn ráo riết chuẩn bị cho một cuộc triển lãm qui mô hơn mang tên “Phở goes Global,” phở tới toàn cầu! Xuất phát từ Úc vào cuối năm 2007, Cường sẽ gánh phở đi khắp thế giới, với sự tiếp tay của các nghệ sĩ người Nhật Bản, Đại Hàn, Đức, Mỹ, Pháp… Bạn nào có lòng với phở muốn ghé vai chung sức với Cường hoặc muốn cùng Cường hít mùi phở, có thể liên lạc với Cường qua địa chỉ: cuong@casulapowerhouse.com Gánh phở sẽ mang theo một cuốn phim, một vở kịch mang tên Phở, Feast For All Senses [Yến tiệc cho mọi giác quan], một chợ phở, một buổi thảo luận văn hóa và một cuốn sách về phở.

Cuốn sách bìa trắng nổi bật dòng chữ I Love Phở, chữ “love” được cách điệu bằng một trái tim đỏ chót đã làm tôi sửng sốt khi nhận được. Tôi có thói quen mỗi sáng đón chờ ông đưa thư mang đến những niềm vui từ bạn bè khắp năm châu bốn bể. Sáng hôm đó, cuốn sách dày 60 trang vuông vức, mỗi bề 21 phân, in trên giấy láng bóng, màu sắc như một cuốn sách thuộc loại đẹp của ngoại quốc, đã làm tôi sung sướng biết bao. Bài viết, tranh ảnh, thơ văn sực lên chỉ một mùi phở. Tất cả được viết bằng Anh ngữ, trừ hai trang thơ của Đinh Linh và Phan Nhiên Hạo.

Trong tích Hy Lạp, Narcissus
Nhìn xuống nước, thấy mặt đẹp trai
Của chính hắn. Hắn tự mê hắn
Cho đến chết cũng không chừa.
Nhìn xuống nước, tôi không thấy gì
Ngoài tái, nạm, gầu, gân, sách
(Đinh Linh)

Gánh phở của Cường chưa ra khỏi nước Úc nhưng phở đã nhanh chân nhảy nhót khắp nơi. Ở đâu có bước chân người Việt đặt tới là ở đó có phở. Mà ở đâu có phở là có tín đồ của phở. Rặt một thứ tín đồ ngoan đạo hành lễ lia chia!

Xưa, săn thú bằng cung, người ta
Cần khéo léo, kiên nhẫn và can đảm.
Săn thú to, họ phải đi cả đàn, có khi mất cả tuần.
Nếu về tay không, họ còn bị vợ xài xể.
Nay, người ta săn tái, nạm, gầu, gân, sách,
Bằng muỗng và hai que mủ
(Đinh Linh)

Đi săn phở phải bắt đầu từ nơi chôn nhau cắt rốn của phở. Phở ngon thường phát xuất từ những gánh phở dung dị, hơi tuệch toạc, xuề xòa, thân mật. Đó là phở của những Thạch Lam, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân. Con người ngày nay vệ sinh khác xưa nên phở cũng dồi phấn thoa son sạch sẽ. Theo ký giả Văn Lang của báo Người Việt, California, thì tại Sài Gòn có hai loại phở: phở đời cũ và phở đời mới. Thường thì mới bao giờ cũng hơn cũ. Cứ hỏi các ông xem có ông nào không gật đầu đồng ý như vậy không! Nhưng với phở thì hình như có biệt lệ. Dân ghiền phở lại cứ thích… bổn cũ soạn lại hơn. Nghĩ tới phở là nghĩ tới Pasteur. Cái tên Pasteur được biết tới nhờ những công trình khoa học nhiều hơn hay nhờ phở nhiều hơn? Không ai khẳng định được nhưng tôi nghĩ là ông Pasteur có cái may mắn được ăn theo phở. Trên thế giới này có bao nhiêu tiệm phở mang tên Pasteur, tôi quả không biết. Nhưng tại Montreal của tôi vẫn có ông Pasteur ngồi trên tấm bảng của một tiệm phở. Một anh bạn ngoại quốc thắc mắc với tôi: bộ ông Pasteur có dính líu với phở hay sao mà người ta lấy tên ông ấy đặt cho tiệm phở? Trong những công trình khoa học lớn lao của Louis Pasteur quả nhiên chẳng có công trình nào dành cho phở. Vậy mà ông nổi tiếng vì phở!

Louis Pasteur sinh 1822. Ông bảo phòng thí nghiệm
Là đền thờ cho tương lai. Ở đấy, nhân loại sẽ tiến bộ,
Cải tiến và tăng cường. Ông chết 1895, trước khi
Được cải tiến và tăng cường bởi phở Pasteur.
Cuộc đời quả thật oái oăm.
Được tên trên bát nhưng không ăn lời.
(Đinh Linh)

Những tiệm phở trên đường Pasteur là phở đời cũ. Phở đời mới là phở… Tổng thống 2000. Tiệm nằm bên hông chợ Bến Thành mang tên đi vào thế kỷ mới: Phở 2000. Khi Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tới tiệm phở này đánh một hơi hai tô phở thì tiệm bỗng trở thành phở… quý tộc. Bảng hiệu có thêm hàng chữ: “Phở for the President.” Và giá phở được nâng lên cho xứng đáng với cái ghế đã được Tổng thống Hoa Kỳ ghé bàn tọa vào. Phở số 2000, từ 2 năm nay, bị cạnh tranh bởi hệ thống phở có con số nhỏ hơn: Phở 24. Số nhỏ nhưng… lớn mạnh: hiện đã có trên 50 tiệm trong nước, lại còn có chi nhánh tại Nam Dương và Phi Luật Tân. Trong tương lai, Phở 24 sẽ tấn công qua Úc và Đại Hàn, trước khi đổ bộ vào Little Saigon! Con số 24 là một… tuyên ngôn của tiệm phở thuộc loại sang này: 24 loại gia vị, 24 tiếng đồng hồ ninh xương, giá 24 ngàn. Ông Đoàn Tiểu Long chép miệng tiếc rẻ: “Giá mà các cô phục vụ mặc váy ngắn 24 phân nữa thì tốt quá!” Cuộc chiến giữa những con số vừa có một anh… chân dài chen vào, với một tiệm duy nhất trên đường Hai Bà Trưng, đối diện với nhà thờ Tân Định: Phở Đà Điểu! Tiệm này có hai cái gây… ấn tượng: đưa thịt đà điểu vào phở và chơi bảnh hơn anh 24 ngàn bằng cái giá 27 ngàn một tô thường và 37 ngàn cho tô đặc biệt. Tô đặc biệt khác tô thường vì có thêm gân đà điểu! Bạn và tôi, chúng ta chắc chưa có dịp đi ăn phở đà điểu. Ông ký giả Huy Thọ* của báo Tuổi Trẻ thì ăn rồi. Ông ấy kể như thế này:

“Vừa ăn tôi vừa ngắm nhìn khung cảnh xung quanh và hài lòng khi thấy bàn ghế sạch đẹp, thậm chí khá sang trọng… Trên bàn ăn là những chiếc đĩa men bóng loáng của gốm sứ Minh Long. Bát phở được bưng lên trông khá ngon mắt với những lát thịt nâu thẫm của đà điểu. Thơm. Quả tình là rất thơm. Ngọt, nhưng không phải vị của bột nêm. Có mùi phở nồng nàn nhưng không lộ liễu vị gừng nướng để tẩy mùi thịt. Tôi an tâm chén sạch một tô to đùng. Nhưng phở đà điểu có gì khác với phở bò, nhất là miếng thịt chín có màu na ná nhau? Có. Đó chính là cái mùi vị là lạ của lát thịt không thể lẫn với bò hay trâu; nhất là những miếng gân bé bằng đầu đũa, nhai sần sật, không quá dai và không quá mềm.”

Phở nguyên thủy là phở bốn chân. Ông Nguyễn Tuân chỉ cấp bằng cho mỗi thứ phở này. Khi hạ cố xuống tới hai chân (phở gà) thì phở lại rẽ qua một hướng khác. Hóa ra cái loại gia cầm nhỏ xíu cũng làm ra chuyện được. Có những người chỉ mê có phở gà. Nhất là gà trống thiến. Phở gà trống thiến đã nâng đỡ được cô mầm non Yến Vỹ trở thành ca sĩ được giới thanh niên suýt soa một thời. Phở gà trứng non lại nâng đỡ được kiến thức về sử nước nhà của dân chơi Sài Gòn. Từ màn khói bốc lên thơm ngào ngạt mùi lá chanh, ông vua Hiền Vương mới nằm trong bộ nhớ của dân chúng. Con gà nhỏ xíu đã làm được chuyện ngoạn mục như vậy thì đà điểu, to xác hơn gà nhiều, chắc cũng làm nên đại sự. Chúng ta chịu khó chờ hồi sau phân giải!

Phở đà điểu chỉ mới xuất hiện tại Sài Gòn nhưng phở bò phở gà thì đã la cà khắp thế giới. Tìm ở bất cứ một thành phố nào trên thế giới, dù nhỏ hay lớn, mà có bóng dáng người Việt là có phở. Nó là hiện thân của Việt Nam dưới mắt người ngoại quốc. Nó phổ biến và tiếng tăm đến nỗi mọi thứ màu da đều phải thử. Mà đã thử thì dứt không ra. Ăn phở, đó là một sự thiết yếu.

Tôi ăn khuôn mặt này
Vì nó ngon như phở, món làm cho chúng ta nổi tiếng khắp thế giới.
Tôi sống phía Bắc Los Angeles
Phải chịu khó đi xa mới ăn được quê hương
Từ đây đến Little Saigon cách hai giờ lái xe, đến Sài Gòn cách mười tám giờ máy bay phản lực
Đến Hà Nội là nơi xa nhất
Từ đây đến tôi mất ba mươi mấy năm

Ăn đi, cho thêm ớt vào và tương, những gièm pha khác nữa. Gia vị
của phiêu lưu, lưu đày.
Làm thế nào để trở thành một kẻ lưu vong chuyên nghiệp?
Ăn đi. Nhìn hai bàn tay trên bàn. Đã từng
sờ mó vào sự mất mát nguồn gốc, quen thuộc như chạm ngực người đàn bà.

Tôi là một người lưu vong thèm ăn phở
Tôi không làm bộ
Và tôi ghét các đệ tử của Derrida, những kẻ bày trò chống lại sự thiết yếu.
(Phan Nhiên Hạo)

Tôi ghi nhận được hai sự kiện mới xảy ra gần đây liên quan đến sự thiết yếu của phở. Một ở Việt Nam, và một ở Mỹ. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã công bố một cuộc điều tra về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, nói nôm na là sắp hạng các tỉnh về khả năng đầu tư. Cái vui của cuộc điều tra này là người ta đã dùng đơn vị là… tô phở để sắp hạng. Thí dụ như tỉnh Long An tăng được 9 điểm, có nghĩa là thu nhập bình quân theo đầu người của tỉnh này sẽ tăng thêm 94 tô phở cho một người trong một năm! Tại thành phố Seattle và Tacoma, thuộc tiểu bang Washington, dân buôn lậu cần sa đã dùng tiếng lóng gọi cần sa là phở để đánh lừa cảnh sát. Cảnh sát tương kế tựu kế đặt tên cho chiến dịch lùng bắt nhóm này là chiến dịch “This Bud Phở You.” Phở chỉ cần sa theo tiếng lóng của chính các tay buôn lậu, Bud có nghĩa là mầm lá, búp hoa, ý nói là dập tắt được nhóm này từ trong trứng nước!

Phở đi vào đời sống sâu đến như thế. Chưa hết! Phở còn cứu được cuộc sống nữa. Ngày trước, ở Việt Nam, gia đình bên vợ tôi nuôi một cô giúp việc. Mỗi khi đau, cô ấy chỉ xin được ăn một tô phở là lành bệnh ngay tức thì. Quả thật như vậy. Chẳng cần biết là bệnh gì, cứ đánh một tô phở là trăm lần như một, bệnh lui quân ngay lập tức! Cái lối lấy phở làm thuốc đó hóa ra còn xảy ra với ông Bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn. Quý vị còn nhớ ông bác sĩ này không? Đó là ông Thị trưởng Đà Nẵng thời biến động miền Trung đấy. Sang bên Pháp, ông bị bệnh tim nặng. Bạn ông, Kỹ sư Võ Long Triều, trong hồi ký đang được đăng hàng tuần trên báo Người Việt, kể lại:

“Anh đau tim trầm trọng, không ăn uống hơn một tháng, chỉ sống dai dẳng bằng nước thuốc chuyền vào máu, cho đến khi các giáo sư thượng thặng bó tay, khuyên gia đình đem ông về nhà lo việc mai táng. Tôi vào nhà thương thăm, anh tỏ vẻ cảm động nói: ‘Ít ra trước khi chết tao cũng gặp được mặt mày.’ Gia đình đưa Mẫn về nhà, tôi phụ giúp lo việc hậu sự cho anh. Mẫn bảo với vợ rằng anh thèm phở quá, trước khi chết muốn ăn một tô phở thật ngon. Gia đình thỏa mãn yêu cầu. Ăn vào thấy khỏe, dù bác sĩ cấm và anh cũng biết là ăn vào có thể chết ngay. Ngày hôm sau anh lại đòi một tô phở nữa, gia đình cũng chìu ý. Mẫn thấy người khỏe lại hẳn, nhưng vì là bác sĩ, nên anh biết rõ đó là việc không nên, do đó Mẫn ngưng ăn phở ngay và tự giới hạn chuyện ăn uống tối đa cho đến khi bình phục khá nhiều, anh trở lại bệnh viện tái khám. Bác sĩ và Giáo sư Y khoa đã từng chữa bệnh cho anh ngạc nhiên không biết vì sao? Không thể tìm hiểu lý do nào đã làm cho anh lành bệnh?”

Phở đã đi vào huyền thoại! Cứ để nó thong dong!

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
octieu  
#39 Posted : Monday, May 11, 2015 7:02:51 AM(UTC)
octieu

Rank: Newbie

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 5/11/2015(UTC)
Posts: 2


heheh doc pho xong thi...doi bung :)
phamlang  
#40 Posted : Sunday, May 17, 2015 5:39:55 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Anh "bo" em đi!

Published: 13 May 2015
Hồi xưa thực dân Pháp chễm chệ ngồi trên tàu chiến, mang theo súng thần công, súng trường và tiếng Pháp xâm lược nước ta. Nghĩa quân chống lại: “mặc kệ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có… một ngọn dao phay, cũng chém đặng đầu quan hai nọ” (Văn tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu).

Dẫu chiến đấu anh dũng như vậy nhưng làm sao dao phay mà chống lại được với súng thần công?! Nên cái đất Nam Kỳ mến yêu của chúng ta phải bị mấy thằng Tây bắt làm thuộc địa hơn cả trăm năm.

Tuy nhiên, hổng phải cái gì mình cũng chịu thua mấy thằng ‘Bạch Quỷ’ nầy đâu?! Tiếng Việt mến yêu của quê hương mình cũng bắt được một số tiếng Tây làm tù binh chơi!

Một trong số đó là chữ ‘pourboire’. Bà con Nam Kỳ Lục Tỉnh mình đọc là ‘puộc boa’. Và cũng vì căm giận quân xâm lược nên bà con mình chặt khúc chữ ‘puộc boa’ ra làm hai cho hả giận, vụt chữ ‘puộc’ cho chó gặm, chỉ còn có chữ ‘boa’ rồi sau đó bà con mình gọt luôn mẫu tự a cho nó gọn thành chữ ‘bo’.

Chứ theo từ điển Pháp Việt, từ pourboire là uống nước! Ngụ ý cho ai tiền uống nước giải khát sau khi phục vụ mình mệt thấy bà tiên tổ!

Và cũng cái chuyện ‘bo’ nầy, anh bạn già của người viết về Việt Nam mới trở qua kể cho nghe một câu chuyện như vầy: Ảnh ham vui, lén trốn bà xã mà tụ bè, tụ đảng theo mấy ‘cha già dịch’ trong nước, Tây gọi là ‘dirty old man’ đi uống bia ôm!

“Mấy em đã hết biết… xinh xinh… phục vụ tận tình! Má tựa, vai kề… hết khăn nóng cho sạch bụi đường xa; rồi là khăn lạnh cho nó mát trời ông Địa… Bia khui lốp bốp! Em chỉ lớn hơn cháu nội tui một chút mà xưng em em anh anh ngọt xớt! Tui ráng giấu gần chết vì sợ em ‘xắt’ nhuyễn nhưng em cũng biết tui là Việt Kiều?! Vì làm bất cứ cái gì, có chút xíu thôi, là tui cũng quen thói cám ơn rối rít! Chắc vì vậy mà em biết hay chăng?”

Tàn tiệc, em thỏ thẻ… dai như cái nùi giẻ: “Anh ‘bo’ em đi!” Tui đành rút ra một ‘Bác Hồ ngó nghiêng’ dúi vào tay em. Em xì một tiếng, bĩu môi: “Việt Kiều gì mà kẹo quá! Thua Việt Cộng!”

Bị chê… hơi bị quê, tui bèn chống chế rằng: “Thông cảm chút đi mà! ‘Qua’ ăn tiền già sao đọ cho lại mấy thằng Lương Sơn Bạc chớ?”

Em hỏi Lương Sơn Bạc là cái thằng nào để em xin số điện thoại gọi tụi nó đến quán em ‘chơi’ mà thư giãn?

“Thì mấy thằng quan quyền bây giờ chuyên đi ăn cướp đó! He he!”

“Đồ già dịch! Thiệt là lãng òm!”

Người viết bèn an ủi anh bạn già rằng: “Anh ‘bo’ một ‘Bác Hồ ngó nghiêng hay ngó ngay’ như vậy là cũng sộp lắm rồi! Em chê kệ em chớ hơi sức đâu mà quê xệ!”

Coi như bên Mỹ kìa, tài tử xi nê đóng một phim không dưới vài triệu đô la tiền cát xê mà chơi ‘bần’ hơn anh nhiều!

Tài tử Sean Penn đi nhậu ở New Orleans hết 450 đô không ‘bo’ cho bồi bàn một cắc! Đỡ hơn một chút là vợ chồng tài tử Tom Cruise đi ăn ở New York, tốn hết 458 đô và ‘bo’ cho người phục vụ được tới 5 đô lận!

Mấy tay nầy tiền nó đốt mình cũng chết, mà keo kiệt như vậy đó! Nếu anh có thua là thua ông Bill Gates, người giàu nhứt thế giới bây giờ mà thôi!

Ông Microsoft nầy ăn nhậu với bạn bè hết 12,000 đô Mỹ, ‘bo’ chỉ có... 8,000 đô! Giàu nhứt thế giới chơi vậy là phải rồi! Có tay nào dám đọ chớ?!

Nhưng bà con bên Úc nầy có qua Mỹ chơi, ghé quán cà phê Lú ở Little Sài Gòn, nam Cali, xem mấy em mặc quần áo tắm bikini, hai mảnh phục vụ nói ‘bo bo’ là mấy em tưởng ý dĩ hay cao lương gì đó nha! Phải nói là ‘tip’ mấy em mới hiểu! Mỹ mà! Đâu phải Tây đâu mà xổ tiếng Pháp chớ!

Nhưng phải ‘tip’ bao nhiêu vậy cà? Thì cứ căn vào hóa đơn tính tiền, bỏ lại 15 đến 20 phần trăm là ngon rồi! Nếu mình hổng cho, coi chừng mấy em rượt theo hỏi: “Hổng cho tiền ‘tip’! Tại sao? Có phải là do quý em phục vụ quý anh chưa tới bến hay sao! Anh yêu!”

Em rượt theo đòi ‘tip’ là mình móc xỉa đi! Đừng để mất mặt bầu cua dân xứ Úc nha! Mang chuông đi ‘quánh’ xứ người là phải khỏ ‘beng’ một cái cho rõ to mới được!

Còn về Việt Nam, trốn vợ, đi uống bia ôm mà mấy em rượt theo đòi ‘bo’ là phải chạy cho nhanh… nếu hết tiền! Dù chạy đến mất dép chăng đi nữa. Nếu còn tiền trong túi mà hà tiện hổng chịu ‘bo’ là đầu gấu, bảo kê nó quánh cho một trận là về nhà má bầy trẻ nhìn hổng ra! Tưởng thằng cha Ba Bị nào hiện ra để nhát, hù con nít!

Tuy nhiên ‘bo hay tip’ cũng tùy nước! Có nước tùy tấm lòng đại bác của khách. Có nước là bắt buộc theo tập quán! Nhưng đừng tưởng cho tiền ai cũng ham là lầm to!

Đi Nhựt Bổn chơi, ăn, uống rồi còn bày đặt ‘bo bo’ ‘tip tip’ là nhân viên phục vụ nó xài xể, chửi mình là đồ ‘chảnh’ đó! “Bộ khi dể tụi tui sao? Con cháu Thái Dương Thần Nữ đây! Đi làm, hưởng lương rồi hổng cần xin xỏ ai hết á!”

Do đó qua cái đất nước võ sĩ đạo nầy, ăn bây nhiêu trả bấy nhiêu; khỏi phải lo cự cãi rồi nói mình khi dể tới lui. Cho tiền nó mà nó lại lên dầu sống, đem võ Judo ra múa, là mình đi du lịch Nhựt về… không còn cái răng mà cạp ‘bắp’!

Quên mấy chú Nhựt Bổn tự ái vặt nầy đi! Mình trở lại với chú Sam cực kỳ thực dụng một chút coi! Hỏi vậy chớ tiền ‘bo’ thường là cho nhân viên phục vụ ở nhà hàng được chia chác ra làm sao?

Có ông bà chủ tham tiền sáng con mắt họ mà tối con mắt người làm công, tiền ‘tip’ thưởng cho nhân viên mà ổng bả bỏ vô túi mình hết trơn hết trọi mới chết chớ! Không chia cho mấy đứa một ‘cent’. Đứa nào càm ràm là đuổi! Nên có khách ăn xong, tính ‘tip’, thì bồi bàn nhắc nhỏ: đừng có cho! Nó hổng tới tay tụi em đâu! Hu Hu!

Rồi cũng có tay giang hồ hiệp khách ‘tip’ coi ngon lắm! Nhưng thực ra nó là cái thằng lừa đảo, ‘tip’ con số thấy nhiều, ngộp… tưởng sộp, không kiểm tra gì hết; dè đâu vợ chồng, bạn bè, tía con nó tính đường ăn quỵt, bằng ký cái check lủng, không tiền bảo chứng!

Nước Úc nầy không có cái tập quán ‘tip’ như bên Mỹ. Vì lẽ nhân viên nào phục vụ trong nhà hàng đều được bảo đảm là ông, bà chủ phải trả lương tối thiểu cho họ theo luật định.

Nhưng nước Mỹ là ‘đại ca’ của thế giới tự do mà! Cái gì của nó bày ra mà có lợi cho mình thì ngu sao mà không bắt chước chớ! Vì vậy mấy nơi ăn chơi dành cho du khách ngoài city ở Sydney hay Melbourne, nhà hàng nào, cũng có đặt thêm cái lon hay cái dĩa để vị nào có lòng hảo tâm, thấy nhân viên phục vụ tận tình, muốn cho bi nhiêu thì cho!

Sợ bắt chước Mỹ rồi thành tiểu bang của Mỹ luôn nên báo chí hỏi mấy dân Úc thòi lòi rằng: “Ê! Tụi mình có bắt chước theo đại ca ‘Obama’ trong cái vụ ‘tip’ nầy không hả?”

Thì dân Úc trả lời rằng:

- Không đời nào! Ông bà chủ trả tiền lương cho họ rồi mà việc gì tui phải đưa thêm chớ!

- Đôi khi! Nếu nhân viên phục vụ rất tận tình; làm mình vui thì cho thêm chút đỉnh để họ vui với!

Cũng có tay Úc thẳng thừng bác bỏ cái vụ ‘tip’ nầy bằng cách lập luận rằng ở Úc cái gì cũng mắc hơn thiên hạ. Đi ăn nhà hàng ở New York chỉ tốn bằng một phần ba ở Melbourne vậy mà bây giờ còn đòi ‘tip’ nữa sao? Thiệt là lòng tham không đáy à nha!

Cái nầy người viết cũng có phần đồng ý. Một tô phở ở Bankstown, Sydney giờ cũng hơn 13 đô Úc bằng 11 đô 70 cents Mỹ, tính theo hối suất bữa nay một đô Úc bằng 90 cents Mỹ. Trong khi ở Little Sài Gòn bên Cali chỉ có 5. 6 đô Mỹ. Mắc gấp hai, gấp ba người ta rồi đó! Do đó gặp ông Việt Nam nào ở Úc nói tui đi bán phở thì cái chắc là ‘giả’ lái Mercedes đời 2014!

Nói Úc không có ‘tip’ là không chính xác lắm đâu! Khi John Howard lên làm Thủ Tướng, ổng đã nuốt lời hứa: “Em chả! Em chả làm vậy đâu!” Nắm được chánh quyền, ổng bèn trở mặt, ra ngay cái luật: từ giờ trở đi bất cứ dân Úc nào đi nhà hàng ăn nhậu, chơi bời, hay ngay cả hà tiện, đi chợ mua đồ về cho con vợ nấu mình ăn, nghĩa là hổng có ai chạy thoát hết, đều phải ‘tip’ cho chánh phủ của y lãnh đạo 10 phần trăm. Cái ‘tip’ đó gọi là thuế GST (The Goods and Services Tax! Thuế hàng hóa và dịch vụ!)

Bây giờ, đệ tử ruột của John Howard, mông xừ Tony Abbott lên, còn tính bắt dân Úc ‘tip’ thêm nữa! Thay vì 10 phần trăm thì rục rịch lên 15 phần trăm cũng hổng chừng. Mấy ‘giả’ muốn thiên hạ ghét tụi tui, phao tin đồn vậy thôi để hù dọa nhân dân, chớ hổng có đâu! Nhưng quý vị biết mà làm sao tin được mấy tay chánh trị gia nước Úc nầy cho được chớ!

Đoàn Xuân Thu

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Users browsing this topic
Guest (2)
4 Pages<1234>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.