Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

4 Pages123>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
phamlang  
#1 Posted : Saturday, October 4, 2014 7:21:27 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
WARNING/NOTICE: ALL PHOTOS IN THIS PAGE ARE REMOVED DUE TO IMAGES COPYRIGHT

9/7/2016
ADMIN FORUM








“Chồng Tây?!”

Tác Giả Đoàn Xuân Thu


Thưa quý độc giả thân mến!

Lóng rày tui thấy mấy em trong nước ùn ùn lấy chồng ngoại, chồng Tây. Đến nỗi mấy ông nhạc sĩ sợ ‘chim’ bay hết ráo… nên khóc than bi thiết hết biết: ‘Rồi con chim đa đa, ngẩn ngơ đứng trông về chốn xa. Còn âm vang câu ca, ngày em bước chân đi theo chồng. Lời ru nghe mênh mông, ngày đưa tiễn em về bến sông. Nhìn mây trôi mênh mông, nơi quê chồng em còn buồn không?’

Người viết mới đầu cứ tưởng mấy em như cái cột đèn muốn bỏ chạy cái vụ ‘Xạo Hết Chỗ Nói’ (XHCN) chớ! Hôn nhân với người ngoại chủng như một chiếc cầu em bắc qua biển Đông mà mục đích cuối cùng là tự do… là tới quận Cam… để hái được hai trái cam mà em thường mơ ước.

Ai dè… Mấy em, tham vàng phụ ngãi; khoái tiếng đãi bôi… còn lanh chanh lên báo khoe khoang: ‘mi nhon’ như em đây mới lấy được chồng Tây; rồi quay lại chê bai mấy ông chồng Ta tơi bời hoa lá… Làm ‘qua’ cũng hơi nóng mũi đó nhe!

‘Chồng Tây nó giỏi, nó ga lăng, nó xách giỏ cho em đi chợ, nó địu con trước bụng như con Kangaroo cái, nó thay tã, nó cho bú bình!’ Bộ chồng Ta hổng làm hay sao chớ!’ Vậy là thấy cây hổng có thấy rừng đó nha!

Chồng Tây, chồng Ta cũng có thằng tốt thằng xấu! Chớ hổng phải ‘Made in USA’ hay ‘Made in Australia’ là tốt hết đâu nha! Còn ‘Made in Việt Nam’ là xài hổng có được?!’ Tổng quát hóa như vậy là trật lất!

Thưa quý độc giả thân mến!

Người viết chủ trương là yêu rồi mới lấy. Mà yêu thì không phân biệt Tây, Ta gì hết ráo. Giống ‘hịt’ nhau thì phân biệt làm gì? Phân biệt nó nói mình kỳ thị! Chỉ cần em đẹp và giàu là ‘lấy’. (Ý quên tui có vợ rồi mà!)

Sau hôn nhân lỡ chén trong sóng có khua rổn rảng thì Tây, Ta giải quyết rất khác nhau.

Chồng Ta có giận vợ là bỏ nhà đi nhậu chớ chẳng bao giờ than phiền, cằn nhằn, cửi nhửi, xỏ xiên, nói xấu con vợ mình đâu.(Sao dám?!) Phần trộm nghĩ ‘Trăm năm may rủi một đời! Cưới nhầm con vợ lắm lời… cũng vui!’

Ngược lại, chồng Tây, nó càm ràm đến nhức xương luôn? Càm ràm nhiều thứ lắm!

Trước hết là than phiền con vợ hổng coi bà già nó ra cà ram nào hết! (Chớ đừng tưởng lấy Tây là hổng có vụ làm dâu, là vô tư… là nhìn bà già chồng bằng con mắt rưỡi đâu nha!). ‘Có con nhỏ ‘dâu Tây’ bực mình chuyện bà già chồng cứ xía vô cách dạy con cái của nó nên mới ‘email’ cho bả như thế nầy: ‘Thưa Má! Xin Má đừng chen vô! Má nói con không biết cách dạy con nên thằng Bill nó mới hư đốn?! Thằng con trai của Má, con dạy chừng ấy năm rồi tới giờ mà nó có tiến bộ gì đâu… cũng hư đốn như ngày mới cưới con về đó má thấy không? Lỗi tại ai chắc má thừa biết!’ Hi hi!

Rồi than phiền về tánh tham lam của vợ nó như vầy: ‘Có một cách chuyển tiền từ tài khoản nầy sang tài khoản khác nhanh hơn nhà băng nữa. Cách đó là cưới vợ!’

Rồi than phiền về tánh hoang phí! ‘Một đám mấy ngài đáng kính đang thay đồ trong phòng để chuẩn bị ra sân chơi golf, thì chuông điện thoại kêu inh ỏi. Một quý ông đáng kính mở cái ‘speaker’ thiệt to vì hơi bị lảng tai, nên ai nấy tò mò lắng nghe!

‘Hello!’ Rồi một giọng nũng nịu vang lên: ‘Anh yêu! Em đây! Anh đang ở Câu lạc bộ phải không?’ ‘Phải!’ ‘Em đang đi mua sắm ngoài ‘city’; có cái áo lông thú tuyệt đẹp mà chỉ có 1000 đô thôi! Em mua nó được không anh yêu?’ ‘Được chớ! Nếu em thích!’ ‘Em cũng mới vừa ghé chỗ bán xe Mercedes. Có một chiếc đời mới.’ ‘Bao nhiêu?’ ‘Chỉ có 80 ngàn hà!’ ‘Được nhưng phải đoan chắc là nó thiệt ‘xịn’ nhe!’ ‘Rồi căn nhà tụi mình coi hồi năm ngoái, trả giá, họ không chịu bán; giờ thấy quảng cáo trên báo giá 1 triệu.’ ‘Được!
Nhưng trả giá 900 ngàn thôi.’ Rồi giọng nũng nịu: ‘Cám ơn anh yêu nhe! ‘Chụt chụt’ Bye! Em yêu anh!’ ‘Bye!’ Chụt chụt’ Anh cũng yêu em nữa!’

Ai nấy nhìn quý ông đáng kính nầy một cách cực kỳ ngưỡng mộ… thiếu điều trật cái cần cổ; nói: ‘Ông yêu bà nhà quá xá há!’ ‘Bà nhà nào? Số điện thoại nầy của em nào đó… chớ đâu phải của con vợ tui. Vợ tui mà xài kiểu nầy chắc là tui chết. Còn thằng cha nào có con vợ hay bồ nhí mà xài kiểu bà hoàng, bà chúa như thế nầy thì tui lấy làm tội nghiệp cho thằng chả nên mới trả lời thay… để thằng chả khánh kiệt sớm, chết luôn cho rồi… Sống chi nữa… thêm khổ cái thân già… Hi hi!’

Mấy em có qua Mỹ, qua Úc đi du lịch nghe mấy thằng Mỹ, mấy thằng Úc tán tỉnh, dụ khị em: ‘Lady First!’. Tin nó là em bán lúa giống.

Hãy nghe David Letterman của Late night show, đài CBS nói rằng: ‘Người phụ nữ được ưu tiên, cái gì cũng trước (Lady First) thì thế giới sẽ ra sao?’ Dave tự hỏi rồi tự trả lời luôn là: ‘Phụ nữ ưu tiên làm trước? Thế giới nầy sẽ thành một đống rác!’

Chê vợ nó dở ẹt về tài năng; còn về thể hình của ‘em yêu’? Sau mấy chục năm chung sống ít nhiều gì cũng phải tàn phai đi chớ! 40 năm, nước chảy đá còn mòn huống hồ gì nhan sắc của ‘em yêu’?! Vậy là chồng Tây háo sắc, tham đó bỏ đăng; thấy trăng quên đèn! Vợ chồng Tây ở với nhau được 5 năm… là hơi hiếm rồi nên nó phải ăn mừng, đó là Lễ Cây (5th Wooden); mười năm hiếm hơn một chút là Lễ Thiếc (10th Tin); hiếm hơn chút nữa là: 15 năm, Lễ Pha Lê (15th Crystal); rồi 20 năm, Lễ Sứ (20th China), cũng còn dễ bể lắm nha. Cứng hơn nữa là 25 năm, Lễ Bạc (25th Silver); 30 năm, Lễ Trân Châu (30th Pearl) 40 năm; Lễ Hồng Ngọc, (40th Ruby); 50 năm, Lễ Vàng (50th Gold); 60 năm; Lễ Kim Cương (60th Diamond). Nếu xui xẻo là hai vợ chồng sống với nhau hơn 60 năm thì khỏi kỷ niệm gì ráo mà lúc đó cho hai vợ chồng hai cái gai quýt… làm ‘Lể (chớ hổng phải lễ) ốc gạo’ chấm nước mắm sả có giằm ớt… ăn chơi cho nó ‘cay’. He he!

Sống với nhau 40 năm rồi, tưởng chồng Tây chung thủy, một dạ yêu em, đi suốt cõi đời ô trọc nầy chăng? Hổng có đâu! ‘Hai vợ chồng trên 60 tuổi. Ăn mừng 40 năm ngày cưới mà Tây gọi là lễ Ruby, chứng tỏ tình ta cứng ngắc như ngọc. Ông Trời thấy cũng ‘nể’…nên cho vợ chồng hai điều ước. Em yêu ước có một chuyến du lịch vòng quanh thế giới với anh yêu. Ước nguyện được đáp ứng ngay lập tức! Trong bàn tay nhăn nheo của con vợ già là 2 vé máy bay, 2 vé tàu, không tốn một cắc nào. Còn anh yêu lại ước rằng: Xin ông Trời cho con có một người đầu ấp tay gối trẻ hơn 30 tuổi. Và ông Trời đáp ứng ngay lập tức! Anh yêu biến thành cụ ông 90 tuổi! Đáng đời mầy nha! Ai biểu già rồi còn khoái gặm cỏ non!

Khi kiếm vợ thì nó cũng ‘vụ lợi’ như tụi tui thôi! ‘Một thằng Úc tối ngày nhậu lè phè, khoái đi câu cá để làm mồi nhậu cho đã; bèn rao bố cáo tìm vợ trên báo như vầy: ‘Rất thích đi câu! Tìm vợ biết đào trùng, biết móc mồi vô lưỡi câu, biết làm cá và nhứt là phải có tàu đi câu, có gắn động cơ xịn. Xin vui lòng đính kèm hình chụp chiếc tàu!’’

Mấy em cứ nghĩ chồng Tây chỉ biết cơm nhà quà vợ hay sao? Lầm… lầm to! Nó chỉ chung thủy… khi đi chợ là em phải xích nó vô cạnh giường kẻo nó bò qua cắt cỏ nhà hàng xóm!’ Mùi nước mắm của em nó tò mò nó nếm…chớ làm sao nó quên cho được mùi bơ sữa với ‘da ua’?!

Thưa quý độc giả thân mến!

Còn mấy ‘anh yêu’ khoái lấy vợ Tây vì chán cái tật nói dài, nói dai, nói miệng hổng kéo da non của vợ Ta; bộ vợ Tây hổng có ‘đức tính’ đó hay sao chớ?! Tổng Thống Mỹ Bill Clinton đã từng: ‘Mỗi lần tui có vài lời với con vợ tui là Hillary; thì em yêu bèn đáp lại bằng một bài diễn văn!"

Còn nếu mấy em muốn tìm hiểu theo tiêu chuẩn Mỹ một người vợ ngoan như thế nào? Tổng Thống Barack Obama xin giơ tay, trả lời ngay là: ‘Một người vợ ngoan là một người vợ luôn tha thứ cho chồng mỗi khi chính mình làm bậy!’

Tóm lại, Tây hay Ta cưới vợ rồi ít khi muốn bỏ nhau; còn chẳng đặng đừng… trước khi bỏ, Tây nó cũng ráng sức nối lại tình ta cho khỏi đứt. Cựu Tổng Thống Mỹ thứ 43, George W. Bush, hiến kế như vầy: Muốn yêu em dài lâu là: ‘Phải đi nhà hàng tuần hai lần. Bữa tối ngon lành, đèn nến lung linh lãng mạn, nhạc dịu dàng và khiêu vũ! Quá đã! Nhưng cái quan trọng nhứt là: Em yêu đi vào bữa Thứ Ba… còn Anh yêu đi vào bữa Thứ Sáu!’

George W. Bush có vẻ thành công trong hôn nhân; nhưng Cựu Phó Tổng Thống Hoa Kỳ, Al Gore lại thất bại, mới bị vợ bỏ, ổng than nghe thấy thương luôn: ‘Cưới nhau rồi, chồng với vợ như hai mặt của một đồng xu. Không thể nào nhìn thấy mặt nhau được nữa nhưng vẫn cứ phải dính vào nhau…Và tổ ấm có nghĩa là gì? Là chiến tranh; là nơi bạn phải ngủ chung với kẻ thù.’

Cái nầy là do hai vợ chồng dám ăn thua đủ: ‘Em yêu tới đâu tui tới đó!’ Còn nếu anh yêu tính theo đạo Lão, thì nên bắt chước Socrates: ‘Khi cưới vợ, gặp vợ hiền bạn hạnh phúc, gặp vợ dữ bạn sẽ trở thành nhà hiền triết!’

Còn nếu hên, chó táp phải ruồi, bất chiến tự nhiên thành, được tháo cũi sổ lồng, có một tay rù quến ‘em yêu’ đi xây tổ uyên ương. Xin đừng tự ái! Cách trả thù ngọt ngào nhứt là hãy để yên như vậy cho thằng đó… chết ‘cha’ nó luôn!

Tóm lại, mấy em sính chồng ngoại là ‘qua’ không cản vì đó là quyền tự do luyến ái của mấy em; được hiến pháp bảo vệ đàng hoàng! Nhưng ông bà mình cũng có nói: ‘Trăm năm may rủi một chồng! Dù ai thêu phượng vẽ rồng mặc ai!’ Còn cứ la quác quác là chồng Tây ‘number one’ còn chồng Ta ‘number ten’ là không đúng đâu.

Vợ chồng là duyên số! Còn tối ngày mấy em cứ nằm mơ, quần nát nước để mong kiếm được một người đàn ông thông minh, đẹp trai và giàu có? Nhân vật đó chỉ có trong huyền thoại mà thôi hỡi mấy em ơi!

Wednesday, 27 August 2014

Edited by user Tuesday, November 1, 2016 5:10:27 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 2 users thanked phamlang for this useful post.
De on 11/18/2014(UTC), Hai lua on 11/18/2014(UTC)
phamlang  
#2 Posted : Saturday, October 4, 2014 7:24:37 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Người Việt dễ thương!

Tác Giả Đoàn Xuân Thu



Một người Úc, một người Pháp và một người Việt Nam tị nạn bù khú với nhau trong quán nhậu, tán dóc về hạnh phúc của đời người.

Người Úc nói rằng không có gì hạnh phúc hơn là đi làm về nhà được con vợ nấu cho bữa ăn tối thiệt ngon. Ăn xong, nằm dài trên sa lông trong phòng khách, xem trận đá banh cà na kiểu Úc.

Người Pháp cắt ngang: mấy thằng Úc bây không lãng mạn như Tây gì hết! Với tao, đêm dắt người yêu đi dạo dọc sông Seine, rồi ăn tối cùng nhau dưới ánh nến lung linh trong một nhà hàng chọc trời, trên tầng cao của tháp Eiffel. Đó là hạnh phúc của cuộc đời.

Anh Việt Nam bác bỏ: Vậy mà hạnh phúc cái gì? Còn tui hả? Sau 75, đêm đang ngủ trong nhà ở Sài Gòn rồi nghe tiếng gõ cửa. ‘Nguyễn Bình An mở cửa ra mau!’

Run rẩy vì sợ, tui mở cửa ra thì có hai tay công an chìm ùa vào, tra còng vào cổ tay tui, rồi nói: Nguyễn… ‘Bình An’, ông đã bị bắt vì hoạt động chống phá nhà nước ta. Ông sẽ phải đi học tập cải tạo một thời gian dài.

Run run, tui trả lời: “Anh đội ơi! Nguyễn ‘Bình An’ là hàng xóm, sát vách, chớ hổng phải là tui! Tui là Nguyễn văn Tèo”

Nè hai anh bạn: Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhứt của đời tui khi nhớ lại. Và chính vì vậy bữa nay tui mới có mặt ở đây, ở Melbourne nè! He he!

Rồi khi vượt biên đến Úc tạm dung gần vài chục năm, làm ăn cực khổ nên cũng có chút tiền; bèn về quê cũ thăm lại người em năm ấy bây giờ ra sao; đôi má đào như ngày nào?

Trên chuyến bay từ Sài Gòn trở lại Melbourne, Tèo ngồi gần một thằng Úc mới đi du lịch Việt Nam trở về. Nó hỏi: Ông là ‘ese’ nào?

Tèo lịch sự hỏi: Xin lỗi! Tui hổng hiểu câu hỏi của ông!

Thằng Úc lên giọng làm cha: Thiệt là ngu! Tui hỏi ‘ese’ nghĩa là ông bạn là Vietnamese (người Việt), Chinese (người Tàu) hay Japanese (người Nhựt)! Có vậy mà cũng không hiểu!

À! Tui là Vietnamese!

Tèo tức lắm khi bị thằng Úc vô cớ chửi mình là đồ ngu. Quân tử trả thù mười năm chưa muộn! Nhưng không chờ tới mười năm, chỉ hai tiếng đồng hồ sau, Tèo quay sang hỏi lại, lần nầy giận quá không ông bạn gì ráo mà: ‘Mầy là loại ‘ey’ nào?’ ‘Cái gì? Tui hổng hiểu!’

‘Mầy thiệt là ngu nhe, tiếng mẹ đẻ của mình mà còn không hiểu nữa! Ngu gì mà ngu vậy hổng biết! Ý tao muốn hỏi: Mầy là monkey (con khỉ), donkey( con lừa) hay Ozzie (Úc) vậy thôi! Hi hi!’

Công bình mà nói người Việt lúc mới tới đôi khi cũng bị vài thằng Úc kỳ thị, nhưng sau vài chục năm, thấy con cháu mình giỏi quá, bác sĩ, kỹ sư không hà nên Úc hết dám kỳ thị… lại đâm ra đố kỵ nhỏ nhen… ghen ăn tức ở?!

Chúng ta ra đi mang theo quê hương, người Việt mình luôn luôn tự hào là con cháu Lạc Hồng, bốn ngàn năm văn hiến, là dân tộc siêu Việt nhứt Á Châu; nên đối với các sắc dân khác dù hùng mạnh, có bom nguyên tử, bom khinh khí, máy in tiền đô Mỹ, (hết tiền cứ bật công tắc điện lên, in thoải mái ra xài, không cần vàng bạc làm bảo chứng gì hết trơn hết trọi. Ai biểu tụi bây tin vào giá trị của nó làm chi) cỡ Hoa Kỳ, yếu yếu hơn một chút như Pháp, Nhựt thì người Việt mình đều kêu bằng thằng hết ráo. Kêu bằng thằng không phải là mình hổng có lễ phép, hổng có nói năng đứng đắn đàng hoàng, cũng hổng phải là khi dể tụi nó (nghèo sặc gạch nào dám khi dể ai) mà vì lòng tự hào dân tộc, coi thiên hạ dưới trời nầy bằng nhau… bằng vai bằng vế!

Người Việt bỏ nước ra đi cũng vì cái vụ tối gõ cửa dẫn đi nói trên. Đất lạ quê người, cày sâu cuốc bẫm, làm ăn khấm khá: chủ tiệm giặt, tiệm neo hay mua nhà rồi cho mướn… mà người đến xin mướn nhà là thằng đen thì đừng có hòng! Còn mở thương vụ gì… chỉ khoái làm ăn với người Việt mà thôi, cùng lắm là với Á Châu, cùng màu da là hết hạng! Thì tinh thần dân tộc hơi quá ‘đô’ một chút là qua kỳ thị chủng tộc chỉ có một bước chân thôi!

Thí dụ như con gái muốn chồng hay con trai muốn vợ mà một hôm dắt về một đứa đen hay trắng, không phải là vàng, thì bất hạnh tình con rồi đó con ơi!

Cái đó là dở nhưng cái nầy là giỏi nè! Mấy ông tị nạn, thương vợ, thương con hết biết; dù hồi xưa ở Việt Nam có làm quan quyền gì đi chăng nữa… đến Úc, đến Mỹ đều lăn thân ra làm nuôi vợ, nuôi con. Với đàn ông Việt Nam, nghĩa vụ thiêng liêng nhứt của đấng nam nhi là không bao giờ để vợ con đói khổ. Thành thử mấy công việc hồi xưa là hạ đẳng theo thang cấp trong xã hội kim tiền, như nhân viên vệ sinh đi nữa, cũng làm… nhưng không để công việc mà thiên hạ coi thường nầy làm giảm đi niềm hãnh diện ta đây.
Như ông Cao Tần chẳng hạn: ‘Mai mốt anh về có thằng túm hỏi: Mầy qua bên Mỹ học được củ gì? Muốn biết tài nhau đưa ông cây chổi. Nói mầy hay ông thượng đẳng cu li!’ Cu li mà có thượng đẳng nữa? Hí hí!

Đi làm mà lỡ có đụng chạm thì chẳng ngán ai, kể cả thằng boss, (vì bị đuổi chỗ nầy qua chỗ kia thì mình cũng cu li thôi, job thiếu gì… Úc có chịu làm đâu, vì ngại cực… nên người Việt dễ thương của chúng ta móc giấy 500 ra xài, nghĩa là chửi thề tá lả tà la và dĩ nhiên bằng tiếng Việt!

Johnny, người bạn Úc cùng sở, Johnny tâm sự rằng nó rất ‘kết’ phụ nữ Việt Nam vì mấy lần đến nhà chơi thì thấy con vợ cực mà ông chồng rất sướng… cứ nằm phè trên ghế sa lông, coi Paris by Night (dù đang ở Melbourne) hay mở internet lên nghe ra dô tiếng Việt!

Mệt và nuốt nhục kiếm cơm; về tới nhà, mình, vua lại là vua… ngồi cà nhỏng suốt cuối tuần; còn quý hoàng hậu thì làm tất cả! Rửa chén, giặt đồ, bồng con, nấu bếp! ‘Quân bây! Nghe lịnh Trẫm!’

Khi khách đến chỉ cần: ‘Em ơi! Có khách!’ là mười phút sau đã dọn ra món đầu trong loạt bò bảy món và trân trọng giới thiệu với người bạn Úc: món nầy là của Việt Nam?!

Ngoài ra nó cũng biết là người Việt mình có một số khoái, mê ăn thịt chó mà nó cho là rất dã man… Nên sau vài chai bia VB, thưởng thức bò bảy món do bà xã, em yêu, trổ tài nấu nướng, nó hứng chí kể câu chuyện tiếu lâm như vầy:

Có hai sinh viên Việt Nam, con ông cháu cha mới có tiền sang Úc du học. Thèm thịt chó, nên gọi: ‘Two dogs!’ Cho món ‘hot dog’. Khi giở miếng giấy bạc gói khúc bánh mì có ‘hot dog’ ra, đứa nầy hỏi đứa kia: ‘Mình ăn cái ‘phần’ nào của con chó vậy ta?’ Thấy… mà còn hỏi?

Mình biết nó đặt chuyện nầy để chơi khăm, xỏ ngọt người Việt mình nên người viết chờ cơ hội cho mầy một bài học nhớ đời nha con!

Johnny thường than thở, chán đàn bà con gái Úc lắm rồi! Tối ngày cứ đòi nam nữ bình quyền, nấu ăn thì không biết gì ráo. Rửa chén bằng máy cũng hổng chịu làm, mập thù lù như cái lu, chỉ chờ cuối tuần là dông ra ‘pub’ bù khú với bạn bè, bỏ thằng chồng ở nhà quạnh quẽ phòng không chiếc bóng với cái ti vi!

Trong khi đó, phụ nữ Việt Nam rất siêng năng, nấu ăn, giặt đồ, dùng máy rửa chén để làm sóng chén, đựng chén sạch, còn chén bát dơ em rửa bằng tay vì sợ hao nước, hao tiền. Thiệt là tam tòng tứ đức. Vợ như vậy mới là vợ chớ!

Johnny kết em Việt Nam tên Lan. Lan Huệ sầu ai Lan Huệ héo. Lan Huệ sầu đời trong héo ngoài tươi. Vì Lan ngoài tươi nên Johnny cứ tò tò theo khen em dễ thương (cute); xin số điện thoại nhưng em cứ lắc đầu. (Hey, babee, you cute! Can I hab yo fone numba?”)

Người viết hiến kế Johnny rằng: Con gái Việt Nam mà chú ‘dê’ kiểu Úc là thua rồi! Tại tui có vợ rồi nếu chưa thì…!

Muốn lấy lòng em thì phải lấy lòng ba em, anh em trước đã! Chú em nhảy ngang hông là không ăn thua gì đâu.

Nó hỏi gặp tía, gặp má, gặp anh em thì chào hỏi bằng tiếng Việt như thế nào? Người viết bèn dạy nó vài câu chửi thề. Kết quả hôm sau đi làm là thấy ngay lập tức! Bầm con mắt trái (giống y như tỉ phú Úc James Parker quánh lộn với người bạn nối khố David Gyngell, từng là phù rể cho y, đang làm xếp lớn của đài số 9) mà Johnny không hiểu tại sao lại bị ‘dợt’.

Tại sao! Cho chú em đừng giỡn mặt với tui khi tui đã nhậu sương sương! Tốn bia, tốn rượu, tốn mồi, tốn thời gian mà chú em không biết cám ơn (dù thi ân bất cầu báo) mà còn dám bày đặt chuyện xỏ xiên người Việt của tui ăn… chó!

Dù bị ăn vài đấm vô mặt như vậy nhưng Johnny chắc tuổi con đỉa nên bám hơi dai… Lần nầy xuống nước nhỏ nhờ tui dạy thêm cho vài mánh nữa.

Chẳng hạn như lại nhà người Việt được tía má em mời ăn cơm thì đừng có dại dột mà từ chối. Quất bốn chén, no cành hông rồi, mà má em bảo ‘Ăn thêm đi con!’ thì ráng làm thêm bốn chén nữa. Nói ‘không’ má em nghĩ mình chê bả nấu ăn dở ẹt! Thì phiền! Nên nhớ cho dù mình ba, bốn chục gì đi nữa mà muốn nhào vô làm rể nhà má thì má đối xử mình như mới 14, 15 tuổi thôi.

Nghèo, mua quà ít tiền tặng má thì nhớ mua dầu xanh hiệu con Ó; vì má Việt Nam nghĩ rằng dầu xanh con Ó trị bá bịnh: từ sổ mũi, nhức đầu, ăn không tiêu hay bị Tào Tháo rượt.

Còn nếu đua ngựa thắng nhiều tiền, rủng rỉnh, muốn giựt sộp mua chiếc xe tặng ba em chạy chơi lấy thảo thì cách tốt nhứt là mua xe Nhựt Bản, made in Japan, Toyota Camry chẳng hạn! Nhớ đừng mua xe Mỹ vì ba sợ hao xăng!

Còn cho má giải trí… thì chơi một dàn máy karaoke; tuy già rồi nhưng má rất thích làm ca sĩ. Tiền chưa đủ mà còn phải tài nữa! Ráng đi học lấy cái bằng bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư gì đó thì may ra. Cha mẹ Việt Nam rất không muốn gả con cho Tây ít học như chú mầy!

Johnny coi bộ tuyệt vọng trước những đòi hỏi cao quá tầm tay với. Thiệt là uổng công! Thôi bỏ cuộc! Johnny gặp lại em Lan lần cuối đòi lại những món đã trót nghe lời xúi dại của người viết mà đầu tư! Em Lan tiễn Johnny bằng một cái bạt tai. Người viết an ủi Johnny rằng: ‘Cuối cùng thì chú cũng đã toại nguyện vì Lan đã chạm đến thân thể của chú rồi… Thôi hãy quên em đi! Để đó cho tui!’

Kết luận là: Người Việt dễ thương! Nhưng thương không dễ!

Edited by moderator Wednesday, September 7, 2016 5:32:47 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
De on 11/18/2014(UTC)
stormy  
#3 Posted : Monday, October 6, 2014 5:37:56 AM(UTC)
stormy

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 383

Thanks: 396 times
Was thanked: 393 time(s) in 209 post(s)
Nên chăng về xem... chim ở Hà Nội?



VienDongDaily.Com -27/08/2014 .Sau hai tháng “về chơi Việt Nam,” hôm qua bà xã tôi vừa hồi gia. Trong đêm tái hợp, bà đã kể cho tôi nghe về một hiện tượng đương thời mà bà cho là “hết xẩy” nhất ở quê nhà. Đó là “sự cố” chim lên ngôi. Tôi chẳng hiểu tí gí, thầm nghĩ tại sao bỗng bà xã lại đề cao nhiều thứ chim.....

[/center]Sau hai tháng “về chơi Việt Nam,” hôm qua bà xã tôi vừa hồi gia. Trong đêm tái hợp, bà đã kể cho tôi nghe về một hiện tượng đương thời mà bà cho là “hết xẩy” nhất ở quê nhà. Đó là “sự cố” chim lên ngôi. Tôi chẳng hiểu tí gí, thầm nghĩ tại sao bỗng bà xã lại đề cao nhiều thứ chim. Bà khoái chim hồi nào? Không lý bà mê chim “hàng nội” hơn chim “hàng ngoại”? Hơn thế nữa, bà còn chứng minh bằng cách cho tôi xem nhiều tấm hình mà bà đã “tự sướng” bên cạnh nhiều con chim lạ, to... để rồi sau cùng bà chê rằng, để cho “bọn đàn ông” về Việt Nam chỉ tổ phí tiền dù mang tiếng “thăm cha già, mẹ yếu,” nhưng không lần nào biết mở mắt mà “đi một đàng học một sàng khôn”; chim quí đầy ra đấy mà không thấy, chỉ vục mặt vào những chỗ ăn chơi, khác chi con trâu già vốn răng đã chiếc rụng, chiếc lung lay, nay phải dùng đến cả lợi mà gặm đám cỏ đã bị cháy nắng trên hòn... non bộ.

Không lý vợ chồng lại khẩu chiến ngay trong đêm tái ngộ, tôi cố nén tức giận và tự ái, tiếp tục tỏ vẻ vẫn nhớ vợ, vẫn nóng lòng trông đợi vợ sớm đi chơi trở về, đêm nay quá “sướng mé đìu hiu,” hơn cả vua Tự Đức xưa kia ước mơ mà bất thành: “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng - Xếp tàn y lại để dành hơi,” trong khi tôi quá thừa mứa, phát sợ. Tuy nhiên học lấy sự khôn ngoan của cố nhân: “Tránh voi chẳng xấu mặt nào,” tôi đành nằm yên, ngoan ngoãn như học trò truớc ngọn roi của ông thầy nghiêm khắc... mà vểnh tai nghe vợ kể chuyện chim ở Việt Nam.

Tuy nhiên cũng nhờ thế mà có câu chuyện lai rai tuần này - về hiện tượng chim hiện nay ở Việt Nam. Vâng, đó là do bà xã tôi tường thuật; tôi chỉ có công viết lại và sắp xếp cho có “hệ thống quân giai” mà thôi.


‘Chim hót trong... lồng vàng’
Chưa bao giờ trong lịch sử Cộng Sản Chủ Nghĩa ở Việt Nam, chim lại chiếm một vị thế vừa cao cả, vừa sáng chói hơn.... răng vàng như hiện nay. Bằng chứng hiển nhiên đến độ cả người khiếm thị cũng có thể... chứng kiến. Chẳng thế mà trong nhà tất cả lãnh tụ từ cấp lớn xuống cấp nhỏ - mà ngôn ngữ cách mạng vẫn gọi là “thượng tầng kiến trúc và cơ sở hạ tầng” - đầy chim. Đủ loại. Đủ kích thước. Tất cả được phô ra phơi phới. Ngoài phòng khách, trong phòng ngủ... Những con chim bằng vàng thật, bằng ngà thật của thời xưa, nay chỉ còn là “chuyện nhỏ như con thỏ,” không đáng động tới bởi chúng vô cảm, không cử động được trong các bàn tay vuốt ve. Ở đây nói đến chim thật, dĩ nhiên có lông và phản ứng được theo sự sờ mó hoặc ôm ấp của người ta. Mô tả như vậy vẫn chưa “chuẩn” với “đường lối và chính sách.” Chim thì nhà lãnh tụ nào cũng có; lãnh tụ càng lớn thì chim càng to. Vẫn có sự thi đua kích thước chim giữa các lãnh tụ Việt Cộng.

Thế nhưng, lối cạnh tranh này kể ra đã lỗi thời, lạc hậu rồi, đến như các bà vợ lãnh tụ nay dường như cũng vô cảm trước kích thuớc của chim. Thì bỗng, các đàn em đã “sáng tạo” được một hình thức mới để hối lộ cho các ông lãnh tụ hay để đút, để lót các bà vợ lãnh tụ. Vẫn là chim thật, nhưng bộ lông được “mặc” lớp vàng thật óng ánh; mỏ và chân, móng chim được dát vàng thật. Chim hết bay nổi nhưng khi cần vẫn di chuyển được một cách... chậm rãi, oai vệ, trong khi lại thích phủ phục nhiều hơn. Hình ảnh được ví là của chính lãnh tụ. Các bà vợ càng khoái chí tử, nhất là những khi nâng niu chim vàng trên đôi tay ngà ngọc của các bà, khiến đàn em và giới hội lộ càng tìm cách “sáng tạo” hầu lấy điểm nhiều hơn. Thế là lồng chim bằng vàng xuất hiện. Chim hót trong... lồng vàng!

Chim của ‘dân ngu khu đen’
Thế nhưng, bà xã tôi bảo là bà vốn là “dân tị nạn cộng sản” thứ thiệt nên nay có mang nhãn hiệu “Việt kiều” cũng vẫn không cảm thấy thích thú thứ chim lãnh tụ có lông vàng trong lồng vàng cho dù được sờ mó sơ sơ hay ngắm nghía qua loa. Bà xã “thành thật khai báo” rằng “ta về ta tắm ao ta; dù trong dù đục,... chim nhà vẫn hơn.”

Theo nàng, dân chúng ở trong nuớc đã từ lâu “thi đua” nuôi chim, khoe chim, thi chim. Chim ngày nay không là của riêng ai. “Thời thượng” vốn chỉ giới thượng lưu, rảnh rang, ăn không ngồi rồi nên có nhiều thời gian để chơi chim, o bế và chăm sóc chim. Nay, “dân ngu khu đen” cũng có chim mà chơi, có khi còn chơi bạo hơn bất cứ giai cấp nào, bởi vì một khi chơi chán, họ có thể “vô tư” mà làm thịt chim mình để nhắm rượu hay đem chim mình bán cho tiệm nhậu lấy tí tiền còm.

Nói cách riêng về chim; tuy vẫn ganh nhau tiếng hót, ghét nhau bộ lông mượt và kình nhau lồng tre mộc hay lồng son, thanh tía, nhưng các thứ chim này vẫn là chim thật, lông mộc mạc theo màu sắc tự nhiên, chân móng trời sinh sao, để vậy, chứ chủ nhân không tô son chét phấn cho lạ đời. Sáng sáng, ngoài Bắc thì bờ hồ Hòan Kiếm; trong Nam thì vườn Tao Đàn, cả đàn ông lẫn đàn bà thi đua mà mang chim đi khoe cùng, ra điều chỉ có chim ta đẹp, chim ta to, chim ta khỏe. Nay không còn là cảnh lạ khi thấy các ông cụ “diễu hành” với lồng chim trong tay trên đường phố. Ngay cả trong tiệm ăn, tiệm hớt tóc, khách chẳng cần giấu chim nơi kín đáo hay chỗ trên cao nhưng nghễu nghện để chim bên cạnh hoặc khơi khơi trưng bày chim cả những nơi ông đi qua, bà đi lại.

Đó là cảnh “ngoại thất,” chứ “nội thất” thì chim chẳng còn là của riêng giới nào; già trẻ, lớn bé đều chơi chim. Thế nhưng trong nhà thì chật chội lại đông nguời, sợ chim khó thở mà lâm vào tình trạng “xìu xìu ển ển” rồi dần dà liệt đi, đoạn chết thật. Chính vì “cái khó nẩy sinh cái khôn” mà người dân Việt đã biến dây điện bên ngoài nhà thành phương tiện treo chuồng chim và phơi quần áo.

Người ngoại quốc nói chung, Việt Kiều nói riêng mà “nhập cảnh” bất cứ thành phố Việt Nam nào, thảy đều giật mình liên tục rầm rầm nếu ngước mắt “hướng thượng,” vốn chẳng thấy trời mây đâu, chỉ thấy cả rừng dây điện, chằng chịt còn hơn màng nhện, giăng từ nóc gia này sang nóc nhà khác, từ ban công này sang bao lơn khác, từ bên đường này sang phía phố kia... Vậy mà khi cần sửa chữa, nhân viên nhà đèn vẫn tìm ra dây “thủ phạm” để điều trị. Chẳng thế mà thợ điện Việt Nam đã được “đánh giá” là tài giỏi nhất thế giới. Trong khi đó, dân chúng lại càng tỏ ra điệu nghệ hơn nữa khi nhận ra sự “tiện và lợi” của dây điện trong việc phơi quần áo và treo lồng chim như trên đây đã giới thiệu.

Chợ chim trong cảnh hoang tàn

Có lần cá nhân tôi đã từng kể quí độc giả nghe về chợ chim trên vùng cao nguyên Sơn La. Tưởng rằng nơi đây là một khám phá vừa “cao cấp” lẫn “ấn tượng,” nào ngờ dịp này bà xã tôi đi Việt Nam về, tiết lộ một chợ chim ngon lành khác mà ở ngay thủ đô Hà Nội, cạnh Hồ Tây. Trong khi chợ chim trên cao nguyên một tháng họp hai kỳ, rằm và ngày đầu mỗi tháng âm lịch, chợ chim Hồ Tây họp nhiều ngày hơn: Mồng 4, 9, 14, 19 và ngày 24, 29 theo lịch ta.

Đúng ra, chợ chim này nằm trong khuôn khổ chợ Bưởi, nhưng vì nhà nước “dọa” cách nay hơn 5 năm nhân dịp mừng đại lễ Thăng Long 1,000 năm lịch sử, sẽ quy hoạch để xây cầu vượt ở khúc Hoàng Hoa Thám và Liễu Giai đồng thời lập ra đường Văn Cao và Hồ Tây mà Chim đã bị tách ra khỏi Bưởi thành hai chợ khác nhau nhưng cầu vượt thì vẫn chưa ra đời và đường mới cũng vẫn chưa thành hình.

Thế nhưng cũng bởi nhà nước “dọa” kỹ quá mà nhiều ngôi nhà đã trở nên trống vắng hoặc các bức tường bị đập nham nhở đồng thời nhiều khu đất bị bỏ hoang, ngổn ngang... Nhờ thế khu chợ chim đã xuất hiện với đặc tính đông đúc và hỗn loạn.

Vào những ngày chợ chim nhóm họp kể trên, từ lúc mặt trời chưa ló dạng, dân chúng “của” chim đã “đến hẹn lại lên.” Nói dân “của” chim có nghĩa là giới bán chim, khách mua chim, kẻ khoe chim, người xem chim... Cảnh tượng nhếch nhác nhộn nhịp này kéo dài cho tới hoàng hôn. Chim thì cũng “bẩy ba thứ chim” chứ không phải các loại chim “thượng vàng hạ cám.” Dĩ nhiêm chim bự, có; chim bé, có nhưng phải nói chim hiếm cũng có, chim bình dân cũng có luôn.

Nếu khách hàng chưa xứng danh chuyên nghiệp để mô tả đúng tên từng loại chim thì cứ xem lông mà gọi, chẳng hạn chim lông sặc sỡ; chim lông đen nhánh; chim lông loăn quăn; chim lông bạc... Hoặc là khách “vô danh tiểu tốt” thì hãy lắng nghe những tiếng rao hàng, mời mọc của người bán chim, nào “hoàng yến màu sặc sỡ,” nào “sơn ca dạng sẻ mầu nâu nhạt,” nào “sáo đen mượt, viền mỏ vàng...”; chớ bị cám dỗ bởi lời mời mọc, “nào mua chim tôi đi; chim tôi to lại khỏe,” hoặc, “chim tôi nhỏ nhưng cứng cựa, cỡ nào cũng dám chơi.”..

Ở chợ chim này, không chỉ có duy nhất chim, còn nhiều thứ khác, chẳng hạn những sạp bán dế, châu chấu, những thức ăn cho chim, được bày trên những tấm bạt hay hộp xốp. Một số người lạm dụng đất bỏ hoang, nhà bỏ trống, bèn cứ “tự nhiên như ở chùa” mà chiếm cứ cho tới khi có lệnh mới. Khách đi chợ thấy gà vịt nhởn nhơ, chó đi rong, hỏi mua thay vì mua chim. Chủ nhân bán luôn!

Thế nhưng, một thứ mà bà xã tôi chỉ úp úp mở mở, chứ không dám “nói toạc móng heo” là thứ gì. Bà xã chỉ vạch hé ra cho biết là ở chợ chim này còn có cả những “cơ sở” sẵn sàng phục vụ.... chim, “mat-sa” chim. Các cô “chiêu đãi.”.. xinh ra phết nhưng đều... nghèo cả, nên không ai có đủ quần áo mặc, bất kể thời tiết ra sao. Ngược lại, thứ chim nào các cô cũng thạo; có ông khách vô tình hay cố ý hỏi thì các cô trả lời vanh vách, đặc biệt cách chăm sóc rồi tận tình mời vào tận trong “cơ sở” để gọi là “có học phải có hành.”

Vì biết tôi thích chim, mê đủ loại chim mà ở hải ngoại này tôi không có điều kiện để chơi chim nên bà xã buông một câu xanh rờn: “Bây giờ là lúc nên về xem... chim ở Hà Nội.” Tôi mở cờ trong bụng nhưng không hiểu câu nói của bà xã là lời khuyên chân thành hay thứ giăng bẫy? Tôi sực nhớ bản tin một đức ông chồng được vợ đãi rượu và mồi để “lai rai ba sợi.” Say! Đến khi tỉnh dậy, chim của đương sự đã “tan xương nát thịt” trong máy nghiền... rác!

Hoài Mỹ

Edited by moderator Wednesday, September 7, 2016 5:30:47 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked stormy for this useful post.
phamlang on 10/7/2014(UTC)
phamlang  
#4 Posted : Tuesday, October 7, 2014 4:59:37 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
“Cầu thủ thứ 12!”


Tác Giả Đoàn Xuân Thu


Thưa quý độc giả thân mến!

Hồi xưa ở quê mình, các trường trung học lớn, niên học nào, mấy thầy dạy thể dục thể thao đều tổ chức giải vô địch đá banh toàn trường, cho tất cả các cấp lớp. Ở cấp trung học đệ nhị cấp gồm đệ tam, đệ nhị và đệ nhứt tranh với nhau. Thường thường là các lớp đệ nhứt ăn đứt… Vì tụi nó ‘già’ hơn, bự con hơn; chạy lẹ hơn; lấn giỏi hơn!

Người viết nhớ năm cuối cùng của bậc trung học cũng theo đội lớp mình mà đi đá. Nhưng cái tướng ốm nhom, ốm nhách, cao lêu khêu như cây tre miễu, cặp giò như hai cái ống điếu mà lừa, mà đá cái gì… nên thằng trưởng lớp giao cho mình cái chức thủ môn tức giữ gôn. Học trò nghèo có đồng phục thi đấu gì đâu! Ra sân, hai bên mặc quần xà lỏn, chạy rung rinh, lắc qua lắc lại y hệt như cái quả lắc đồng hồ…He he! Một bên mặc áo thun; một bên ở trần với trái banh…. Rượt, xúm tùm hụm, giành nhau chí tử! Không có đội hình hậu vệ, tiền vệ hay trung phong gì hết ráo! Mà vui thôi kể gì mà nói!

Trận đó thua 0-1, (như Argentina thua Đức), mất chức vô địch trường. Sau trận đấu, mấy thằng cùng lớp xúm lại giũa cho mình một trận te tua. Từ đó giận lẫy… không thèm đi đá banh nữa nhưng vẫn khoái coi thiên hạ đá… từ thuở thanh xuân cho đến lúc bạc đầu!

Dẫu mê đá banh như vậy nhưng so với người em sầu mộng nầy là mình phải dở nón chào thua!

Chuyện rằng: Ai cũng biết mỗi đội bóng có 11 cầu thủ. World Cup 2014 tại Brazil vừa rồi dành cho thanh niên, đàn ông, con trai. Chúng ta cũng có World Cup dành cho nữ nữa đó… để không thôi em yêu than phiền anh ‘sút’ bắt em chụp không hà (trái banh em ôm gọn… chín tháng mười ngày sau hóa ra thằng nhỏ?) mà không cho em ‘sút’ với!)

Và khi tường thuật một trận đấu có một trọng tài bất công, chăm chăm binh đội nầy, xử ép đội kia thì mấy nhà báo thường gọi thằng cha trọng tài nầy là cầu thủ thứ 12 của tụi nó!

Nhưng trường hợp cầu thủ thứ 12 của đội Đức lần nầy không phải là thằng cha trọng tài mà là một nữ lưu, 59 tuổi, sanh ngày 17/07/ 1954 ba ngày trước khi nước Việt Nam mình chia đôi lằn ranh quốc cộng qua dòng sông Bến Hải.

Báo Đức chơi chữ như vầy: “Our twelfth man is a woman.”

Mà người viết xin dịch là: ‘Cầu thủ thứ 12 của đội tuyển chúng ta là một nữ lưu”

Đó là Angela Merkel, Thủ tướng Đức từ ngày 22 tháng 11 năm 2005 tới nay. Bà có nhiều kỷ lục: nữ Thủ Tướng trẻ nhứt từ sau Đệ nhị thế chiến; xuất thân từ Đông Đức, bây giờ Tây Đông gì bà cũng là người quyền lực nhứt. Mà không phải riêng nước Đức không thôi, tạp chí Forbes cho là bà là ‘number one’ trong 100 người phụ nữ quyền lực nhứt trên thế giới ba năm liền 2006, 2007 và 2008. Nói theo kiểu đá banh là 3 năm liên tiếp bà đoạt quả bóng vàng!

Bố làm mục sư; mẹ là cô giáo, lớn lên học giỏi tới tiến sĩ Vật Lý! Tiếng Anh, tiếng Nga rốp rốp như bẻ mía. Hồi mới tốt nghiệp Tiến Sĩ xin vô trường đại học tiếp tục nghiên cứu nhưng không được vì Mật vụ Đông Đức kêu làm điềm chỉ, chỉ chọt lung tung nhưng bà không chịu.

Năm 1986 được phép đi Hamburg, Tây Đức thăm bà con; bà đã tính vọt luôn rồi nhưng suy đi, nghĩ lại sợ ba má ở nhà bị tụi nó nhốt nên đành phải quay trở về mà nộp mạng cho chằn?

Mãi 3 năm sau, năm 1989, nghe bức tường Bá Linh sụp đổ, bà khui một lon beer, nhậu để ăn mừng! Cha! Lon beer đó mới đã khát làm sao?

Rồi vật đổi sao dời, lên làm Thủ tướng Đức từ năm 2005. Đầu năm 2006, các cuộc thăm dò dư luận cho thấy Angela Merkel, sau 100 ngày cầm quyền, giành được sự ủng hộ cao nhất trong các Thủ tướng nước Đức kể từ năm 1949.

Angela Merkel là Thủ tướng Đức đầu tiên đi thăm nhà tù Hohenschonhausen nơi Stasi, cơ quan an ninh Đông Đức Xã hội Chủ nghĩa (hồi xưa đã từng cà khịa với bà) giam người một cách bí mật! Bà minh họa cho thế giới hiểu thêm về chủ nghĩa cộng sản: “Đây là ví dụ cho thấy sự tàn bạo, vi phạm nhân phẩm của con người”.

Chỉ 60 năm sau khi Hitler đi bán muối; để lại một đất nước tan hoang vì bom đạn rồi bị mấy thằng quánh ăn xâu xé; chia cho mỗi thằng một miếng?! Với GDP của nước Đức thống nhứt và tự do là 3 ngàn 3 trăm tỷ USD, nền kinh tế lớn nhất Châu Âu. Thiệt đáng nể!
Mới đây, ngày 8 tháng 7 năm 2014, với sinh viên tại đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh, bà Merkel nói: ‘Pháp luật phải bảo vệ người dân. Muốn vậy! Phải đa nguyên, đa đảng, tự do mới được!”

Ở Bắc kinh về, sau khi cho tập đoàn Trung Nam Hải một bài học (trúng không chê vào đâu được) thì theo lịch, bà Thủ tướng Đức Merkel phải đón tiếp và làm việc với ông Thủ tướng Bảy Cà Ri Ấn Độ vừa mới đắc cử; nhưng bà bỏ ông khách ở nhà! Xin lỗi Chú Bảy Chà nán lại chút chơi… Tui còn bay đi Brazil để ủng hộ đội Đức đá chung kết với Á Căn Đình…. Rồi mình nói chuyện ‘mần ăn’ sau nhá!

Như quý độc giả đã biết: Đức thắng 1-0! Lúc phát giải vô địch bóng đá thế giới, bình luận viên nhiều nước khác nhau đều hết lòng ca tụng vị Thủ tướng 59 tuổi nầy là một fan cuồng nhiệt của bóng đá Đức. Đứa nào đi qua bà cũng ưu ái ôm một cái; dù người ngợm mấy thằng nhóc nầy nhễ nhại. Chạy suốt 120 phút, mồ hôi… hôi thôi hết biết; mà bả vui quá nên hổng thấy nó hôi…He he!

24 năm rồi mới được ôm cái cúp vàng về nước… dù đổ quá xá mồ hôi nó cũng thơm?!

Ca khúc khải hoàn! Máy bay về Bá Linh, vòng vòng chưa kịp đáp xuống mà hơn nửa triệu người dân Đức đã tụ tập dưới đất để chào đón ‘anh hùng’! Kìa đoàn quân chiến thắng quay về dưới nắng hồng…

Báo chí Đức ăn theo, tăng số phát hành, chọc quê đội Á Căn Đình bằng bức tranh biếm họa, đăng trên tranh nhứt, vẽ miếng thịt bò bít tết ‘Made in Argentina’. Dao, nĩa thì ‘Made in Germany’. Thiệt là đểu! Xát muối vào vết thương lòng của Lionel Messi đó nha!

Uy tín trong nước của bà Thủ tướng cũng được ăn theo, vọt lên như pháo thăng thiên! Nghe tin bà sẽ rũ áo từ quan sớm, cho người khác lên thay, chứ hổng chịu tiếp tục hy sinh tới năm 2017 lúc hết nhiệm kỳ. Dân Đức năn nỉ: ‘Đừng đi!’

Bàn rộng ra, Anh với Đức có yêu nhau bao giờ; vì ai cũng muốn làm cha, làm mẹ Châu Âu! Nhưng lần nầy, mấy nhà báo ‘đời’ của Anh Cát Lợi phải buột miệng, đồng loạt hoan hô Angela Merkel như: ‘Tôi yêu Angela Merkel bởi vì bà ấy yêu bóng đá nhứt nếu so với mấy cha lãnh đạo trong nhóm G8!’

Rồi một người khác hứa là sẽ bỏ phiếu cho bà Thủ tướng Đức Angela Merkel nầy trong cuộc tổng tuyển cử sắp tới…của Anh?!

Tay nầy chắc tính đá giò lái đương kim Thủ tướng Anh Cát Lợi David Cameron đây! ‘Ê! Nói vậy làm tui tự ái lắm nha!’

Chiến thắng nầy của đội tuyển Đức rõ ràng đã cứu bồ, vớt uy tín lãnh tụ đảng ta lên! Chẳng qua dân Đức đang quạu vụ hai nhân viên chánh phủ Đức làm do thám cho Mẽo! Rồi điện thoại của Thủ tướng Đức mà tụi Xịa (CIA) dám gắn con bọ vào từ năm 2002, mà nghe lén chớ!

Cái tình yêu bóng đá và tài kinh bang tế thế của nữ Thủ tướng Angela Merkel còn lan tỏa… xa tới Việt Nam nữa nhe!

Một người nói rằng mình hổng biết nhiều về bóng đá (tội nghiệp hông?) không phân biệt được thủ quân và tiền đạo?! Nhưng thấy bà Angela Merkel hay như vậy bèn ca tụng bà ấy hết lời luôn! Thú thiệt, tui thấy: ‘Đúng là yêu nhau cau sáu bổ ba!’

Rồi ước bà Thủ tướng Đức Angela Merkel thành người Việt Nam! Chi vậy? Tui cho rằng nếu bả thành người Việt Nam thì trong cái hệ thống ‘đua một mình’ đó bả cũng bó tay chấm cơm mà thôi! Hi hi!

“Người dân Đức may mắn có một Thủ tướng như thế! (?)

Làm gì có chuyện may mắn ở đây? Người ta thường nói ‘Hay không bằng hên’! Dân Đức hay (có hên xui may rủi gì đâu?) vì chọn được một Thủ tướng giỏi! Vì họ được quyền chọn và biết chọn! Đơn giản như 1 cộng với 1 là 2 vậy!!

Rồi sau đó, bà Angela Merkel được đem ra so sánh với quý ‘quan lớn’ ‘Lãnh đạo chúng tôi như con giun con dế….Một đất nước không may khi quá nhiều lãnh tụ có tham vọng chính trị nhưng lại thiếu trầm trọng một chút tài năng’

Thưa! Xin đừng đổ thừa cho ông Trời làm đất nước mình không may; nên không có được một minh quân! Tội nghiệp ông Trời lắm!

Theo ngu ý của tại hạ là: Muốn có được một lãnh tụ anh minh, yêu nước, thương nòi, có tài và đức… không phải là chuyện trên trời rớt xuống hay dưới đất nẻ chui lên. Nên hổng có cái vụ hên xui ở đây?!

Lãnh tụ nầy là con đẻ của nhân dân và từ nhân dân mà ra.

Và muốn có ‘hiền tài’ xuất hiện thì phải tạo điều kiện cho họ ra đời chớ. Điều kiện đó giống như bà Thủ tướng Angela Merkel đã từng nói với Tập Cận Bình là: ‘Dân chủ, tự do và đa nguyên’. (Dễ ợt nhưng hổng muốn làm vì sợ thua nên hổng dám rủ ai đua! Chạy một mình tui là tui về hạng nhứt!)

Kinh tế thị trường cho đua mà chánh trị thì cấm…Tỉ như chiếc xe hổng xả thắng tay thì làm sao nó chạy chớ?

Đã không dám xài cái hệ thống chánh trị tiến bộ đó… dù cầu Trời, khẩn Phật cho ‘hiền tài’ xuất hiện chỉ là chuyện nằm mơ và mớ… rồi đổ thừa tại Trời nên đất nước tui sao xui quá xá! Cứ ở đó mà đổ thừa đi nha!

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#5 Posted : Sunday, October 12, 2014 11:37:14 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Tiền và tình nghĩa ruột thịt

Đoàn Dự ghi chép

Thưa quý bạn, trước năm 75 ở trong nước không có cái nghề gọi là nghề làm người mẫu thời trang, trong khi đó ở các nước tiên tiến như Mỹ hoặc Pháp đã có rồi. Tôi phải phân biệt giữa người mẫu thời trang (fashion model) với người mẫu nghệ thuật (artistic model), tức người làm mẫu cho các họa sĩ, điêu khắc gia hoặc nhiếp ảnh gia, kẻo quý bạn tưởng tôi quên, vơ đũa cả nắm hai loại người mẫu nói trên. Không, tôi không quên, đối với người mẫu nghệ thuật tôi rất quý trọng. Tuy nhiên, ở trong nước hiện nay, cụm từ “người mẫu” thường được dùng để chỉ các cô người mẫu thời trang hay còn gọi là “gái chân dài” chứ không ám chỉ các cô người mẫu nghệ thuật. Vậy thì, trong phạm vi bài này, chúng ta cũng dùng “người mẫu” để chỉ các cô gái chân dài.

Tại sao lại gọi là “gái chân dài”? Thế các cô hoa hậu, á hậu, v.v… bắt buộc phải cao từ 1 mét 60 trở lên thì chân không dài hay sao? Thưa không, hoa hậu hay á hậu chân cũng dài nhưng dù họ có được chấm đậu nhờ tiền chăng nữa thì nhan sắc của họ cũng phải kha khá chứ không đến nỗi hoàn toàn nhờ vào hai cái chân. Còn các cô người mẫu, ngay cả các cô siêu mẫu (super-model), nhiều cô xấu ơi là xấu, trông chẳng đáng làm người mẫu một tí nào cả. Như vậy, các cô nhờ vào cái gì? Nhờ vào thân hình dong dỏng cao và hai cái chân dài, nên gọi các cô là “gái chân dài” rất đúng.

UserPostedImage

Nói tóm lại, trước năm 75 chưa có người mẫu thời trang. Sau năm 75, cả nước nghèo đói phải ăn bo bo, khoai lang khoai mì, tất nhiên cũng chưa có người mẫu. Từ 1986-1987 trở đi, bắt đầu thời kỳ mở cửa, đời sống dân chúng tuy vẫn còn nghèo nhưng đã tàm tạm. Đến năm 1992-1993, từ kinh tế bao cấp đổi sang kinh tế thị trường, dần dần đã có quảng cáo và các nhà tạo mẫu thời trang, các cô người mẫu bắt đầu được đào tạo, xuất hiện trên các sàn diễn – thường gọi là sàn “cat-walk” – để quảng cáo cho các nhà tạo mẫu này.

Lúc ban đầu, dân chúng tưởng rằng làm người mẫu là ngon lành lắm, sang trọng lắm, lịch sự lắm, tiền bạc hà rầm. Thậm chí, nếu bạn hỏi một cô bé cỡ 5, 6 tuổi rằng sau này lớn lên bé làm gì, thì cô bé sẽ trả lời ngay không cần suy nghĩ: bé làm người mẫu, và cha mẹ bé sẽ mỉm cười, rất hài lòng với câu trả lời đó. Thời gian qua đi, người ta thấy các cô người mẫu (kể cả các cô hoa hậu hay á hậu nữa) đa số là hạng ít học, tiền bạc kiếm được trên các sàn diễn chẳng đáng bao nhiêu, mỗi cô thường kiếm cho mình một “đại gia” hay người nước ngoài để sống bám vào những người đó, moi tiền của họ để có phương tiện ăn diện, se sua, xe này xe kia, nhà cao cửa rộng, xài tiền như nước. Cũng có những cô không may mắn kiếm được đại gia hay người nước ngoài thì đi làm “gái gọi” – một thứ điếm hạng sang, đến khách sạn ăn nằm với khách, kiếm bốn năm trăm đô một đêm. Cũng có thể các cô làm “má mì”, giới thiệu khách cho bạn bè để ăn tiền đầu, hễ cơ quan công lực bắt được thì truy ra cả bọn, đưa vào trại “phục hồi nhân phẩm”, báo chí đăng tải, mang tiếng mang tăm. Do đó, ngày nay, nếu hỏi các cô bé 5, 6 tuổi là sau này lớn lên bé làm gì, không bao giờ các bé trả lời rằng lớn lên bé làm người mẫu nữa. Như vậy, ngay đến trẻ con cũng biết “gái chân dài” không ít người rất bê bối, không đáng hãnh diện. Chỉ có các “đại gia” là không biết điều đó mà thôi. Họ vẫn nhào vào các cô như những con thiêu thân đâm đầu vào lửa.

Thơ của bà Hồ Xuân Hương có câu: “Thịt da đâu cũng thế mà thôi”. Có đúng như vậy chăng? Tôi là thứ hạng bét, không phải đại gia, nên không hiểu da thịt người mẫu hay hoa hậu, á hậu thì nó thế nào, có khác với da thịt các cô gái khác hay không. Sau đây xin mời quý bạn coi phần ghi chép lại cuộc tình mười mấy triệu đô giữa một đại gia Việt kiều Mỹ Nguyễn Đức An với cô siêu mẫu Phạm Thị Ngọc Thúy. Cô này lại vừa mới chơi một cú rất kỳ cục, không còn đạo lý tình nghĩa mẹ con gì hết, khiến dư luận trong nước rất chú ý, đó là cô kiện bà mẹ ruột tên Trương Thị Bê ra TAND Sài Gòn để đòi 5 ngôi biệt thự mà cô đã chiếm được từ ông Việt kiều và nhờ bà mẹ đứng tên nhưng bà lại định đem trả lại cho ông An. Vụ án hết sức rắc rối, khoản tiền ông An bị mất tới 288 tỷ đồng VN, tức hơn 14 triệu Mỹ kim theo giá hiện nay hay hơn 20 triệu Mỹ kim cách đây mấy năm, chứ không phải là ít. Sau đó chúng tôi sẽ kể hầu quý bạn câu chuyện hai chú cháu ruột nhà kia, luôn luôn chửi nhau, xưng mày tao với nhau rồi chém chết nhau chỉ vì một tí đất, do khi làm nhà người chú cố tình lấn sang bên phía nhà cháu. Thiệt tình mà nói, chẳng ra sao cả cái tình nghĩa mẹ con hay tình chú cháu trong thời buổi này. Xin mời quý bạn coi qua cho biết…

I. Câu chuyện siêu mẫu Ngọc Thúy kiện mẹ ra tòa

Ông Nguyễn Đức An (Việt kiều Mỹ, ngụ tại phường Bến Nghé, Q.1, Sài Gòn, chồng của siêu mẫu Ngọc Thúy) cho biết năm 2006 ông tình cờ quen biết Ngọc Thúy ở Mỹ. Cả hai đăng ký kết hôn tại Mỹ vào ngày 7/9/2006 (không làm thủ tục thông báo kết hôn ở Sở Tư pháp Sài Gòn). Sau khi đăng ký kết hôn, Ngọc Thúy làm thủ tục trở thành thường trú tại Mỹ và có thẻ xanh. Tuy nhiên, mối quan hệ này chỉ kéo dài được hơn một năm (chính xác là 13 tháng) do xuất hiện nhiều bất đồng.

Ngày 20/11/2007, Ngọc Thúy và ông An đã ký một thỏa thuận ly hôn tại văn phòng luật sư của ông An. Tòa án quận Cam ở California cũng đã ghi nhận sự thỏa thuận ly hôn giữa đôi bên. Theo đó, Ngọc Thúy được quyền nuôi con, ông An có bổn phận cấp dưỡng mỗi tháng 500 đô-la để Ngọc Thúy lo cho con, và ông An được quyền giữ các tài sản riêng vì trong hôn nhân họ không có tài sản chung. Tòa xác nhận các bất động sản, xe cộ và tài khoản gửi trong các ngân hàng ở Việt Nam là của ông An.

Vào thời điểm nói trên, giữa ông An và Ngọc Thúy chỉ mới có một con gái đặt tên là Angelina Dior Nguyễn (sinh năm 2007).

Sau khi ký thỏa thuận ly hôn, mối quan hệ giữa ông An và Ngọc Thúy vẫn chưa có gì căng thẳng. Bằng chứng là hai người lại có tiếp một bé gái thứ 2, đặt tên là Valentina Dior Nguyễn (sinh tháng 10/2008).

Cái khó của ông An là năm 2006 (lúc ấy Ngọc Thúy 26 tuổi) chỉ đi du lịch, sang chơi bên Mỹ với người bạn để xem xét thêm về nghề người mẫu ở Mỹ. Vô tình gặp ông An, ông này cũng giống như các “đại gia” Việt Nam khác dù ông là Việt kiều, thấy người mẫu, hoa hậu, á hậu, v.v… là trọng vọng lắm, bèn nhào vô ngay với bất cứ giá nào không cần tìm hiểu. Ngọc Thúy OK ngay lập tức. Họ đi làm đăng ký kết hôn (hình như bên Mỹ kêu là lập hợp đồng hôn nhân, cái này tôi không biết rõ vì tôi chưa sang Mỹ bao giờ cả). Họ “mau lên nhé, vội vàng lên với nhé”, nhanh đến nỗi Ngọc Thúy chỉ kịp gọi điện thoại về cho mẹ: “Má ơi, con kết hôn rồi. Tụi con sẽ về tổ chức đám cưới thêm ở Sài Gòn và con sẽ nói chuyện nhiều cho má nghe”.

Sau đó họ về Sài Gòn, làm đám cưới thật lớn nhưng lại sơ ý hay không hiểu rõ nên không lập thủ tục thông báo đã làm hôn thú ở bên Mỹ để có sự chứng nhận là đã kết hôn với nhau của Sở Tư pháp Sài Gòn. Chuyện này bình thường thì không sao nhưng khi bỏ nhau, rất khó trong việc phân chia tài sản bởi vì không có giấy tờ gì chứng minh họ là vợ chồng tại Việt Nam.

Ông An giàu có tới hàng trăm triệu đô la, như vậy ông phải là một người từng trải. Không hiểu tại sao ông lại tin tưởng Ngọc Thúy đến mức đã bỏ ra tới 288 tỷ đồng VN (khoảng hơn 20 triệu Mỹ kim lúc ấy) để mua các bất động sản, xe cộ, v.v… đều đứng tên Ngọc Thúy vì ông là Việt kiều không thể đứng tên được. Đến lúc kiện tụng, tòa án bên Mỹ căn cứ vào các chứng từ của các nhà ngân hàng mà ông đã gửi tiền về cho Ngọc Thúy mua bất động sản, xe cộ…, nên phán quyết rằng tất cả các tài sản cả ở bên Mỹ lẫn bên Việt Nam đều là của ông An, Ngọc Thúy phải trả lại cho ông. Tài sản bên Mỹ thì đã đành rồi, nhưng các tài sản tại Việt Nam đều do Ngọc Thúy và bà Trương Thị Bê mẹ của Ngọc Thúy đứng tên, giữa Ngọc Thúy và ông An không có giấy tờ kết hôn, tức trên phương diện luật pháp không liên quan gì với nhau, tòa án Việt Nam không thể căn cứ vào án lệnh của tòa bên Mỹ mà trả tài sản đứng tên Ngọc Thúy và bà Bê cho ông An được, chuyện này hết sức rắc rối. Đồng thời, Ngọc Thúy lại kiện ngược lại ông An về tội không làm tròn trách nhiệm của người cha đối với các con và nhiều tội khác. Sau đây là quan điểm của Ngọc Thúy…

Ý kiến Ngọc Thúy


Theo Ngọc Thúy, khi ở tuổi 26, thời điểm được coi là “độ đã chựng lại” của nghề người mẫu. Trước lời cầu hôn của người đàn ông tỏ vẻ thương yêu, chăm sóc và đặt niềm tin vào mình, cô rất xúc động nên bèn nhận lời. Và để đáp lại tấm chân tình của người chồng tương lai, cô bày tỏ ý muốn được ký bản hợp đồng hôn nhân theo luật pháp Mỹ, với mong muốn ông An hiểu rằng cô đồng ý làm vợ không phải vì tiền.


Nhưng kết hôn mới được mấy tháng thì có chuyện. Siêu mẫu nói, một lần gặp phải cú sốc trong đời sống vợ chồng, cô bày tỏ quan điểm rằng nếu vợ chồng chia tay vì không còn yêu nhau, cô sẽ thực hiện lời hứa là ra đi mà không đòi hỏi trách nhiệm gì từ chồng. “Còn nếu anh dối trá, xúc phạm tình cảm của tôi vì người thứ 3, tôi buộc phải tranh đấu tới cùng”.

Sau lần đó, chồng cô không nhắc đến cái hợp đồng hôn nhân nữa. Nhưng cô cho rằng: “Ông ấy đã âm thầm chờ cơ hội rồi chủ động tạo ra một cuộc cãi vã, đẩy tôi vào tính cách của mình là hiếu thắng, tự ái và sĩ diện. Ông ấy đã thành công: tôi ký vào đơn đồng ý ly hôn với mức trợ cấp nuôi con 500 đô la mỗi tháng”.

Tại thời điểm ký đơn ly hôn là ngày 26/9/2007, Ngọc Thúy vẫn nghĩ là chồng… thử lòng mình. Bởi theo cô, thứ nhất, không thể vì một cuộc cãi vã mà vợ chồng ly hôn. Thứ hai, chồng không thể ly hôn khi con gái đầu lòng mới 4 tháng tuổi. Thứ ba, cô mới ở Mỹ được có một năm nên nếu việc cư trú bằng thẻ xanh bị ảnh hưởng, sẽ không thể nuôi con ở Mỹ…

Ngọc Thúy khẳng định đó là một cái bẫy của ông An, vì hai ngày sau khi ký đơn ly hôn, mâu thuẫn hóa giải, vợ chồng vui vẻ trở lại, chồng cô quả quyết đã hủy đơn xin ly hôn. Nhưng trên thực tế, siêu mẫu không hề hay biết rằng ba tháng sau đó, ngày 20/11/2007, người chồng đã âm thầm nộp đơn xin ly hôn lên Tòa án gia đình quận Cam thuộc tiểu bang California bên Mỹ.

Đơn ly hôn được tòa án Mỹ chấp nhận và có hiệu lực pháp lý vì không ai làm thủ tục xin hủy. Đến ngày 26/3/2008, tòa án đã ban hành phán quyết công nhận sự thỏa thuận của đôi bên, trong đó nêu rõ: “Cấp quyền giữ lại làm tài sản riêng, không có tài sản chung mà các bên có được trong hôn nhân. Các bên đồng ý rằng tất cả bất động sản, xe cộ và tài khoản ngân hàng ở Việt Nam là tài sản độc quyền của nguyên đơn (tức ông An -ĐD), do nguyên đơn mua bằng tiền riêng”.

Trong thời gian đó, siêu mẫu nuôi con nhỏ ở Việt Nam và cô bảo rằng, đau đớn nhất là không hề biết ở bên kia bán cầu, cuộc đời của mình đã được xếp đặt, cô hoàn toàn không có thông tin gì về vụ ly hôn.

Cuối cùng, trong một cuộc cãi vã tại Việt Nam, cô rất bị sốc khi người chồng cũ lạnh lùng tuyên bố: “Nên nhớ, tôi và cô đã ly hôn”. Lúc ấy cô mới vội vã nhờ chồng của người bạn gái liên lạc giúp với một luật sư ở Mỹ và tá hỏa tam tinh khi biết sự thật: cô đã bị bước ra khỏi hôn nhân chỉ với 500 đô la trợ cấp mỗi tháng cùng đứa con gái mới hơn một tuổi, và chua chát nhất là cô đang mang thai 4 tháng đứa con thứ hai với người chồng vừa ly hôn với mình.

Tháng 2/2009, Ngọc Thúy quyết định gửi đứa con 3 tháng tuổi ở Việt Nam để trở về Mỹ xin gia hạn thẻ xanh. Nhưng ngay khi bước xuống sân bay cô đã bị bắt giữ, vì theo luật, cô không được ra khỏi nước Mỹ quá 6 tháng nếu đang thuộc diện thường trú nhân. Đã vậy, thêm một bất lợi nữa là với cuộc hôn nhân chỉ mới 13 tháng, cô gần như khó có thể xin tiếp tục được là thường trú nhân tại Mỹ sau thời hạn 2 năm.

Nhưng sau khi biết rõ sự tình, người Mỹ phụ trách di trú đã giúp cô lật ngược tình thế. Chính người này đã chỉ dẫn cho cô thủ tục xin gia hạn thẻ xanh cũng như giới thiệu các trang web để tìm kiếm luật sư di trú. May mắn là sau 3 tuần ở Mỹ với tình trạng bị tịch thu giấy tờ tùy thân và mỗi tuần phải trình diện cảnh sát, Ngọc Thúy đã gia hạn được thẻ xanh thêm 10 năm.
Sau khi ly hôn, tình trạng pháp lý của con gái thứ hai gặp rắc rối. Vì Ngọc Thúy sinh con sau khi đã ly dị chồng, nên cháu bé được xếp vào diện… con ngoài giá thú. Khi vết thương sau sinh vẫn chưa lành, cô phải ẵm đứa bé sơ sinh đi thử ADN và chấp nhận buổi phỏng vấn tại Lãnh sự quán Mỹ mới nhập quốc tịch cho con được.

Rút kinh nghiệm vì sự ngu ngơ khi tự ái “ký đại” vào đơn ly hôn, siêu mẫu đã nhờ luật sư lập thủ tục xin hủy án ly hôn. Đến ngày 26/8/2009, tòa án ra phán quyết giữ nguyên tình trạng ly hôn nhưng hủy bỏ phần phân chia tài sản và cấp dưỡng nuôi con. Và đó chính là mấu chốt dẫn đến việc chồng cũ của cô phải ra tòa án Mỹ ký bản thỏa thuận liên quan đến toàn bộ phần tài sản ở Việt Nam ngày 7/12/2011.

Ý kiến ông An

Tiếp xúc với các phóng viên tại Việt Nam, ông An nói: “Tôi không muốn tranh luận hay đôi co với Ngọc Thúy. Tôi khởi kiện đòi tài sản chỉ với mục đích giữ tài sản đó cho hai đứa con của mình. Thật chua xót khi mẹ lấy tiền của con đi kiện bố. Theo Thúy khai với tòa án ở bên Mỹ, vụ kiện đầu tiên chi phí luật sư hết 250 ngàn đô la, vụ kiện sau nghe đâu Thúy cũng đã chi đến 60 ngàn đô la cho luật sư. Ban đầu, Thúy thừa nhận các tài sản do Thúy đứng tên tại Việt Nam là tài sản của tôi, sau đó đòi chia 10%, rồi tăng lên 50% và có những dấu hiệu tẩu tán, chuyển nhượng cho người khác nên buộc lòng tôi phải kiện. Nếu thỏa thuận được, tôi mong các tài sản đó phải được giữ nguyên trạng, những người tạm thời quản lý không được chuyển dịch, mua bán nếu không có sự đồng ý của tôi vì tương lai của các con tôi”.

Khi có bản án ghi nhận sự ly hôn, giữa hai bên không tìm được tiếng nói chung liên quan đến vấn đề tài sản. Ngọc Thúy không đồng ý trả lại các tài sản mà cô đứng tên giùm cho ông An.

Tháng 3/2008, Ngọc Thúy chính thức khiếu nại với lý do là văn bản ly hôn viết bằng tiếng Anh, lúc ấy cô bị ép ký và có dấu hiệu lừa dối. Cô yêu cầu ông An phải trả tiền cấp dưỡng cùng các chi phí thuê luật sư đồng thời đề nghị tòa xem xét lại vấn đề tài sản. Ngày 26/8/2009, Tòa thượng thẩm tiểu bang California, quận Orange, xem xét khiếu nại, quyết định chấp nhận bản ly hôn và không xem xét các tranh chấp về tài sản ở Việt Nam, không xem xét lại tiền cấp dưỡng nuôi con và các chi phí thuê luật sư của Ngọc Thúy.

Ít lâu sau đó, Ngọc Thúy khởi kiện ông An ở thành phố San Jose bằng một vụ kiện mới. Ngoài những yêu cầu về tiền cấp dưỡng, Ngọc Thúy còn đòi chia cả phần tài sản ở Mỹ. Tiếp đó, Ngọc Thúy đề nghị tòa án tiểu bang California, quận Orange, mở lại vụ kiện đã bị đình chỉ trước đó. Nếu tòa này chấp nhận thì hai vụ trên sẽ được nhập chung thành một vụ kiện. Hiện hai vụ kiện này vẫn đang được tòa án ở Mỹ thụ lý và chưa có phán quyết cuối cùng.

Trong khi đó, tháng 3/2010, ông An có đơn khởi kiện Ngọc Thúy ra TAND Q.1 Sài Gòn, yêu cầu giao lại những tài sản ở Việt Nam mà ông đã bỏ tiền mua và đòi quyền nuôi hai con. Theo đơn kiện, từ năm 2007 đến 2008, ông An đã dùng tiền bạc đã tạo lập được trước hôn nhân mua bất động sản, các cổ phần, xe cộ, v.v… tại Việt Nam. Nhưng vì mang quốc tịch Mỹ nên ông phải nhờ Ngọc Thúy đứng tên giùm hàng chục căn hộ, lô đất, biệt thự tại các dự án lớn ở Sài Gòn và Phan Thiết, như Avalon Building, Sailing Tower, Sea Links Golf & County Club; nhiều xe hơi… với tổng giá trị ước tính khoảng 288 tỷ đồng VN. Chỉ tính riêng số tiền tạm ứng án phí đã lên đến gần 200 triệu đồng VN.

Bà Trương Thị Bê tiết lộ những chuyện “động trời”

Trong phiên tòa tại TAND Sài Gòn, đối chất về các loại tài sản tranh chấp sau ly hôn giữa ông Nguyễn Đức An với siêu mẫu Ngọc Thúy, bà Trương Thị Bê, mẹ của siêu mẫu, được mời đến với tư cách người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
Giống như phiên đối chất lần thứ nhất, điều khiến dư luận bất ngờ là bà Bê, từ người bảo vệ cho con gái trong suốt giai đoạn đầu của vụ án, đã bất ngờ có đơn và lời khai trước tòa rằng số tài sản trong danh mục tranh chấp từ số 1 đến số 39 hoàn toàn là tài sản của ông Nguyễn Đức An.

Bà Bê thừa nhận bà đứng tên tài sản từ số 9 đến số 13 nhưng giấy tờ và tài sản thì lại do Ngọc Thúy nắm giữ. Còn một số tài sản do bà đứng tên (4 căn hộ từ số 1 đến số 4) mà Ngọc Thúy cho rằng cô đã chuyển nhượng cho người khác, bà Bê nói các việc chuyển nhượng này bà chỉ là người ký tên theo ý muốn của Ngọc Thúy chứ không liên quan.
Trong khi tin tức bà Bê “quay lưng” lại với con gái khiến dư luận bất ngờ, thì mới đây hàng loạt chuyện “động trời” của Ngọc Thúy đã được bà Bê phơi bày.

Theo tiết lộ của bà Bê trên một trang điện tử, người tình của Ngọc Thúy mà bà Bê nhớ rõ nhất là một doanh nhân có tiếng trong lãnh vực chứng khoán tên là N.H.N. Chỉ một thời gian ngắn sau khi Ngọc Thúy và chồng cũ ly hôn, rất nhiều người nhìn thấy siêu mẫu và N.H.N thường xuyên cặp kè sáng tối.

Giải thích về mối quan hệ của Ngọc Thúy với ông N., bà Bê cho hay, trước đây Thúy đã từng có thời gian đi học bên Mỹ nên có cơ hội gặp N. Sau đó, N. về Việt Nam và làm việc trong một công ty chuyên về chứng khoán tại Sài Gòn. Mối tình của Thúy với ông N. sau đó kéo dài khoảng vài tháng, và Thúy rất muốn công khai người tình này với gia đình.
Một dịp nhân tiện ngày sinh nhật đứa con gái lớn, Ngọc Thúy có đưa N. về nhà giới thiệu, nhưng rồi hai người cuối cùng cũng phải chia tay vì ông N. không được mọi người chấp nhận.

Bà Bê cho hay, trong số tài sản tranh chấp giữa Ngọc Thúy với ông An có một số căn hộ ở khu chúng cư cao cấp tại tòa nhà Avalon (Quận 1). Trước đây, bà Bê được con gái cho ở nhờ một trong số căn hộ giấy tờ mang tên cô. Trong khoảng thời gian yêu đương với N., con gái bà cũng cho người tình nương nhờ tại đây.

Biết được điều này, bà Bê lớn tiếng với Thúy, bày tỏ sự không đồng tình, bởi ông N. mang tiếng là đại gia mà phải đi ở nhờ nhà của người tình. Tuy nhiên, vì con gái đã quyết định nên bà Bê dù bực cũng không làm gì được. Sau này, vì bà truy hỏi nhiều lần, Thúy mới cho mẹ biết sở dĩ cô cho N. ở nhờ là vì thời gian này căn nhà của N. ở Quận 2 – Sài Gòn đang được sửa chữa.

Trong thời gian Ngọc Thúy yêu N., có lúc bà Bê không khỏi ngạc nhiên khi thấy con gái yêu cầu bà chuyển tiền qua tài khoản cho người yêu. Trong lòng không muốn thực hiện lời yêu cầu này, nhưng vì tiền là của Ngọc Thúy nhờ bà giữ giùm nên khi con yêu cầu, bà đành nhắm mắt chấp thuận.

Chừng năm 2010, Thúy đang ở bên Mỹ cùng người quen. Đây cũng chính là khoảng thời gian kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam tụt dốc, chứng khoán cũng không tránh khỏi “tai nạn” này. Khoảng cuối năm đó, N. đáp máy bay từ Sài Gòn sang Mỹ tìm đến chỗ ở của Ngọc Thúy.

Bà Bê cho hay, trong cuộc gặp gỡ ấy, N. nhờ Thúy về Việt Nam mua giúp ông ta gần 5 tỷ đồng cổ phiếu, với lý do nếu Thúy không giúp, anh ta sẽ rơi vào vòng lao lý.

Sau chuyến đi đó của N. không lâu, Ngọc Thúy đưa cả con cái về nước. Lần đó, cô dốc hết tiền túi và nhờ mẹ rút nốt số tiền cô đã gửi trước đó để mua cổ phiếu theo lời nhờ cậy của N. Tuy hết lòng hết dạ như thế, nhưng kể từ đó, bà Bê không còn thấy N. hẹn hò với con gái mình nữa.

Ngoài N., bà Bê còn nhắc đến ông Tr., luật sư kiêm người tình của Ngọc Thúy. Cựu người mẫu và ông Tr. gặp nhau trong một vũ trường. Trong lúc tranh chấp tài sản về vụ ly hôn, Ngọc Thúy nhờ ông Tr. bảo vệ quyền lợi cho mình. Về sau, ông này cũng có bay qua bay lại giữa Mỹ và Việt Nam giúp đỡ Thúy trong vụ kiện.
Theo lời bà Bê, ban đầu giữa Thúy và ông Tr. chỉ có mối quan hệ thân chủ với luật sư. Về sau, họ nảy sinh tình cảm và có chung với nhau một con trai.

Điều khiến bà Bê buồn nhất là từ khi Ngọc Thúy có thêm đứa con, cô hoàn toàn lơ là việc chăm sóc hai cô con gái đầu. Bên cạnh đó, bà Bê cũng cho hay, con người ông Tr. luôn khiến bà không có cảm tình và không có lòng tin.


Ông An và Ngọc Thúy kết hôn vào năm 2006, cuộc hôn nhân kết thúc chóng vánh chỉ sau 13 tháng. Ngọc Thúy ly hôn chồng khi đứa con thứ hai mới sinh, trước đó cô đã về Việt Nam với những tâm sự về sự không bình yên và những nỗi buồn ít người thấu hiểu.

Thế nhưng, việc nhanh chóng kết hôn rồi nhanh chóng ly hôn của Ngọc Thúy cũng không khiến dư luận sốc bằng việc cô bị chồng cũ kiện đòi 288 tỷ đồng. Theo đó, đây là số tiền mà chồng cô –ông Nguyễn Đức An – dành dụm làm ăn ở Mỹ và gửi về Việt Nam nhờ Thúy mua nhà, bất động sản vì ông An không có quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, Ngọc Thúy không thừa nhận điều đó và không chịu trả lại số tài sản cô đã đứng tên.

Ngoài khối tài sản tranh chấp nói trên, cuối tháng 8/2013, ông An đã nộp đơn khởi kiện bổ sung đòi thêm 7 danh mục tài sản khác, bao gồm 3 căn hộ tại Đà Nẵng và Quận 4, Quận 7 Sài Gòn; 1 khoản tiền ông chuyển cho Ngọc Thúy mua cổ phiếu của ông N.H.N tại Công ty Bản Việt; số tiền 32 tỷ đồng ông chuyển cho Ngọc Thúy; tiền gửi tại Ngân hàng Vietcombank mà chủ tài khoản là bà Bê và số tài sản để thành lập Công ty TNHH MTV Nhà An, Quận 3, Sài Gòn.

<em>Ngọc Thúy khởi kiện mẹ ruột ra tòa

Siêu mẫu này cho rằng mình và ông An đã bỏ tiền ra mua biệt thự, còn mẹ ruột của cô chỉ đứng tên giùm. Do mẹ ruột có ý định trả lại các bất động sản này cho ông An nên cô đã kiện bà ra tòa để đòi quyền lợi.
TAND Sài Gòn vừa có văn bản thông báo thụ lý vụ án dân sự sơ thẩm số 267/2014/DSST về việc tranh chấp quyền sở hữu theo đơn khởi kiện của nguyên đơn là Phạm Thị Ngọc Thúy (tức siêu mẫu Ngọc Thúy, ngụ tại phường 25, quận Bình Thạnh). Bị đơn trong vụ án này chính là bà Trương Thị Bê, mẹ ruột của Ngọc Thúy.

Theo TAND Sài Gòn, Ngọc Thúy khởi kiện, yêu cầu tòa công nhận 5 căn biệt thự mua của Công ty Rạng Đông, gồm các biệt thự số 41, 42, 43, 60, 61 thuộc khu Sea View trong sân golf Sea Link Phan Thiết (đường Nguyễn Thông, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận) là của cô.

Trong thông báo, thẩm phán Trịnh Ngọc Thúy, người thụ lý vụ án, nói rằng, theo đơn khởi kiện được gửi từ San Francisco (Mỹ), nguyên đơn cho biết, trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến 2009, Ngọc Thúy mua 5 ngôi biệt thự nói trên của Công ty Rạng Đông. Việc thanh toán tiền mua các căn biệt thự này là do Ngọc Thúy thực hiện với tổng số tiền thanh toán hơn 17,5 tỷ đồng.

Do đương sự thường xuyên đi nước ngoài để chăm sóc các con nên cô đã nhờ mẹ ruột là bà Trương Thị Bê đứng tên để tiện việc quản lý giùm. Cô viết: “Bà Trương Thị Bê đã đồng ý đứng tên giùm cho tôi và đồng ý sẽ giao lại khi tôi yêu cầu. Vậy mà vào tháng 9/2012, tôi đã yêu cầu bà Bê chuyển nhượng lại 5 căn biệt thự trên cho tôi nhưng bà không đồng ý. Thời gian gần đây, bà có ý định chuyển nhượng các căn biệt thự này cho ông Nguyễn Đức An. Việc bà Trương Thị Bê không giao trả lại 5 căn biệt thự nêu trên cho tôi mà định chuyển nhượng cho người khác là xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của tôi”, Ngọc Thúy viết trong đơn.

Chính vì vậy, siêu mẫu này đã khởi kiện mẹ ruột của mình ra tòa để yêu cầu tòa công nhận quyền sở hữu của Thúy đối với 5 căn biệt thự đó và buộc bà Bê phải trả lại 5 căn đó cho Thúy.
Ô hô ai tai, chiếm đoạt của chồng cũ tổng số tài sản lên tới 288 tỷ đồng nhưng khi mẹ ruột muốn trả cho người ta 5 căn biệt thự mà giá chỉ có 17,5 tỷ đồng theo lẽ công bằng thì kiện luôn cả mẹ ruột. Thiệt, hết chỗ nói!

II. Chuyện hai chú cháu


“Người ta thường nói sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì. Tại sao gia đình bị cáo lại xảy ra sự việc đáng tiếc? Tại sao bị cáo là chú ruột lại giết chết cháu ruột của mình? Bởi vì cháu ruột đã nhiều lần đến nhà chú ném gạch, chửi bới. Khi chú không phản ứng thì bỏ về nhà. Về rồi lại trèo tường sang, vào nhà chú gây sự tiếp…”, đó là những lời bào chữa mà vị luật sư biện hộ cho bị cáo Trịnh Xuân Cường (38 tuổi, ngụ tại quận Tây Hồ, Hà Nội), bị TAND Hà Nội đưa ra xét xử trong một ngày vào tháng 8/2014 về tội giết người.

Vị luật sư bênh vực cho phía bị hại cũng không kém phần gay gắt: “Tòa nên xem xét, đừng để bị cáo đổ hết tội lỗi cho người đã chết. Bị cáo khai chưa thành thật nhằm đánh lạc hướng Hội đồng xét xử. Gia đình bị cáo chưa bồi thường cho gia dình người bị hại một đồng nào cả, đề nghị phải bồi thường…”.

Máu người ruột thịt

Cáo trạng cho biết ông Trịnh Xuân Thắng và bị cáo Trịnh Xuân Cường là hai anh em ruột, được cha mẹ chia cho hai miếng đất gần nhau.

Tháng 9/2013, ông Cường xây phòng trọ trên phần đất của mình gần nhà ông Thắng thì con trai ông Thắng là Trịnh Xuân L. sang ngăn cản.

Lúc nửa đêm, hôm 26/9/2013, anh L. sang nhà chú chửi bới, đe dọa sẽ mang súng, lựu đạn giết chết cả nhà chú. Chửi chán rồi L. bỏ về, khoảng 30 phút sau lại sang, mang theo con dao chặt củi và trèo tường vào nhà chú đập phá đồ đạc. Chú từ trên tầng hai đi xuống, giằng co với cháu ở bếp. Thấy cháu cầm dao, chú bèn chạy lên tầng hai lấy một thanh kiếm Trung Quốc xuống, chém đứt rời cánh tay phải của cháu đồng thời chém thêm nhiều nhát nữa, cháu gục xuống cửa bếp.

Chú gọi xe đưa cháu đi cấp cứu nhưng cháu đã tử vong. Khuya cùng ngày, chú ra công an Tây Hồ đầu thú.
Tòa hỏi nhiều câu liên tiếp: “Tại sao bị cáo lại giết cháu? Đó là cháu ruột của mình kia mà? Máu mủ ruột thịt của bị cáo kia mà?”. Bị cáo trả lời kiên quyết: “Tại vì nửa đêm nó sang nhà tôi gây sự. Người ta nói giặc đến nhà đàn bà phải đánh. Tôi là người dân bình thường, có người muốn hại gia đình tôi thì tôi phải tự vệ. Tôi bị tấn công, trong hoàn cảnh đó tôi vô cùng nóng nẩy”.

Tòa hỏi tiếp: “Lý do tại sao nửa đêm anh L. lại sang nhà bị cáo gây sự?” Bị cáo trả lời: “Tôi và bố mẹ L. tức anh ruột tôi bất đồng quan điểm về việc phân chia tài sản của bố mẹ để lại, nhưng đã thỏa thuận xong rồi, không liên quan gì đến L. mà nó vẫn sang gây chuyện”.

Tòa hỏi: “Bị cáo nói đã thỏa thuận xong nhưng trên thực tế thì không phải vậy. Nếu đã xong, không còn chuyện gì nữa thì kẻ bị hại đã không đến nhà bị cáo mà bảo: “Ai cho phép mày xây nhà trên phần đất ông nội tao để lại cho gia đình tao?”.

Suốt phiên tòa, hai gia đình bị cáo và bị hại không ai nhìn ai. Ông Trịnh Xuân Thắng cũng không lần nào nhìn đến người em ruột đang ngồi trên ghế bị cáo. Ông ủy quyền cho vợ tham gia phiên tòa. Vợ ông yêu cầu tòa phải xử nghiêm khắc và bị cáo phải bồi thường cho gia đình bà gần 4 tỉ đồng tiền mai táng cũng như tổn thất tinh thần.
Hàng xóm láng giềng nói bố mẹ bị cáo đã ly thân từ lâu. Ông Thắng tức người anh và các em ở với bố, còn ông Cường tức bị cáo thì ở với mẹ.
Từ khi ông cụ bà cụ qua đời không để lại di chúc, hai anh em trở nên bất hòa trong việc phân chia tài sản. Từ lâu, hai gia đình không ai nhìn ai. Khi bị cáo phá dãy nhà trọ cũ để xây dãy nhà trọ mới cao và rộng hơn thì mâu thuẫn của họ càng thêm sâu sắc. Nghe bố kể lại những mâu thuẫn ấy, L. cho rằng chú ruột xây nhà lấn sang phần đất nhà mình nên bèn sang gây sự.

Không ai nhìn ai

Vợ bị cáo có mặt tại tòa với tư cách người làm chứng. Chị bảo nửa đêm, khi cháu của chồng mang dao sang nhà, chị đã bốn năm lần điện thoại cho người hàng xóm, nhờ người này nhắn bố mẹ L. sang khuyên L. về nhưng không thấy ai sang.
Tòa gọi người hàng xóm hỏi có đúng như vậy không? Tại sao chính bà không sang khuyên giùm? Bà này bảo: “Đêm hôm tôi không thích can thiệp vào chuyện người khác. Tôi đã nhắn chị Cường tức mẹ của L. nhưng chị ấy không sang”.
Như muốn truy tìm nguyên nhân của sự việc đau lòng mà không có ai khuyên can, tòa gọi mẹ của nạn nhân đứng lên, hỏi: “Tại sao con bà sang nhà chú ruột gây sự mà vợ chồng bà không ai can ngăn?”. Bà Cường nói ngắn gọn: “Vợ chồng tôi chân đau, còn các em của L. đi vắng nên không ai sang kéo L. về được”.

Vị luật sư bênh vực cho bị cáo nói gay gắt: “Thái độ của bố mẹ người bị hại như vậy là thờ ơ, mặc kệ mọi chuyện xảy ra, từ đó nên một người chết, một người nóng nảy lỡ tay gây nên tội ác”.

Tòa tuyên án bị cáo Trịnh Xuân Cường bị tù chung thân về tội giết người.
Sau phiên tòa, mẹ của nạn nhân nói tù chung thân là quá nhẹ, phải kháng cáo. Còn bị cáo cũng cho biết sẽ làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt vì cho rằng nạn nhân là người có lỗi.

Sau phiên tòa, bị cáo được nán lại gặp người thân ít phút. Ông Thắng và gia đình thì nhanh chân đến gặp luật sư để bàn thủ tục kháng cáo. Gia đình bị cáo – bị hại vẫn không ai nhìn ai.

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#6 Posted : Tuesday, October 14, 2014 4:54:13 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
“Xin hãy tha thứ cho em!”

Tác Giả Đoàn Xuân Thu



Gởi má thằng ‘cu’!

Bài viết nầy không phản ảnh quan điểm chính thức của ‘anh yêu’!

(Né trước cho chắc ăn bà con ơi!)

Trộm nghe nhà văn Khiêm Cung, Sydney, viết một bài tán dương nồng nhiệt nhà văn Tràm Cà Mau là người có phước; vì cưới được vợ hiền! Đọc xong, nghĩ phận mình, tui muốn khóc ‘hu hu’ quá xá bà con ơi!

Tui cũng tin ‘làm phước được phước’. Còn kiếp trước mình lỡ… chưa hề và chưa từng muốn làm phước… thì kiếp nầy trời cho con vợ như thế nào mình cũng đành chịu trả hết kiếp. Trả cho xong cái quả báo luân hồi nầy cho nó ‘phẻ’, bởi kiếp nầy không trả; kiếp sau cũng phải trả, chạy trời không khỏi nắng, nên hổng có tính giựt chạy đi đâu nhá ‘em yêu’!

Ông Tràm Cà Mau chắc có ‘căn tu’ nên cưới được một người vợ rất dịu hiền như lời ông thuật lại:

“Vợ tôi chỉ là một người đàn bà trung bình trên tất cả mọi mặt. Với một vóc dáng tầm thường bên ngoài, không vêu vao xấu xí khó nhìn. Bên trong nàng mang một tấm lòng hiền hậu, bao dung, biết hành xử khôn ngoan khéo léo, để đem lại cho gia đình hạnh phúc êm ấm lâu bền mà tôi vô cùng biết ơn mỗi khi nghĩ đến. Trong nhiều năm chung sống, chưa bao giờ nàng nặng lời với tôi, chưa bao giờ có cử chỉ hay ngôn ngữ thiếu lịch sự, cũng chưa lần khóc lóc giận hờn đòi hỏi điều này điều kia, hoặc đặt điều kiện làm khó, hay so đo chuyện nhà với gia đình người khác”

Rồi nhà văn Khiêm Cung cũng kể một câu chuyện thiệt và tui cũng tin là thiệt: “Vợ chồng chị đã có mấy mặt con. Chị thường hay nhìn toàn là khuyết điểm của chồng rồi cằn nhằn cửi nhửi, chồng chị nhức xương lắm, thường tâm sự với tôi. Bất ngờ chồng chị lâm trọng bịnh rồi mất. Chị rất cang cường, trong đám tang chồng, chị không khóc. Sau đám tang chừng mươi ngày, vợ chồng tôi đến thăm để an ủi chị. Trong lúc nói chuyện, chị rưng rưng nước mắt: Có đêm tôi thức giấc, nhìn đồng hồ thấy quá 12 giờ khuya, không thấy anh ấy ngủ bên cạnh, tôi thầm hỏi “đi đâu mà tới giờ này chưa về?”. Rồi tôi liền nhớ ra là anh ấy đã chết!”

Hối hận hình như hơi muộn màng rồi đó nha! Cách đây hơn một trăm năm, có bà vợ người Nga cũng hối hận muộn màng y hệt như vậy.

Lev Tolstoy, văn hào Nga, tác giả tuyệt tác “Chiến Tranh và Hòa Bình”, đồ sộ cả về nội dung lẫn nghệ thuật trong lịch sử văn học Nga nửa đêm bỏ nhà ra đi. Hành động can đảm, vượt thoát đó, dầu muộn vì ông đã 82 tuổi rồi, đã đưa đến cái chết của một trong những nhà văn vĩ đại nhất của nước Nga, làm chấn động thế giới! Bi kịch về cái chết của nhà văn lừng lẫy nầy được sánh với bi kịch chìm tàu Titanic hay sự khởi đầu của Đệ nhất thế chiến hoặc cuộc Cách mạng tháng 10 Nga xảy ra một thời gian không lâu sau đó.

Chuyến đi của Tolstoy từ Yasnaya Polyana đến nhà ga Satapovo rồi quay trở về chỗ ra đi mười ngày sau đó trong chiếc quan tài bằng gỗ sồi đơn giản.

Lúc 3 giờ sáng ngày 28 tháng 10 năm 1910, Tolstoy mặc áo ngủ, chân trần không vớ, mang dép; khuôn mặt đầy nỗi thống khổ, xúc động nhưng cương quyết bỏ ra đi. Nửa đêm về sáng, cái giá lạnh khắc nghiệt của mùa Đông nước Nga làm ông sưng phổi. Trên giường bệnh, gần hấp hối, bác sĩ chích cho ông một mũi morphine, ông trăn trối: “Tôi muốn đi đến nơi nào đó mà không một ai có thể làm phiền tôi! Tôi muốn trốn ra đi...”

Lúc ông sắp chìm vào hôn mê, vợ ông, Sofya Andreyevna, mới được bác sĩ cho phép vào, nhìn mặt chồng lần cuối. Mới đầu bà đứng cách xa chỉ giương mắt ra nhìn, sau, bước tới hôn vào trán chồng; rồi quỵ gối xuống, nói: “Xin hãy tha thứ cho em” “Forgive me”. Sáu giờ năm phút sáng hôm đó (20 tháng 11 năm 1910), Tolstoy từ trần!

Một số người cho rằng ông không thể chịu đựng nổi nữa cuộc sống chung với người vợ đã gắn bó với ông trong 48 năm. Sóng gió phủ lên những năm tháng tuổi già, mâu thuẫn giữa ông và vợ ngày càng sâu sắc. Lỗi hoàn toàn ở vợ? Cũng chưa chắc! Vì thời trai trẻ, Tolstoy từng là kẻ ăn chơi… gái gú… từng phải bán nhà vì cờ bạc?!

Còn người viết, thú thực sống dưới sự kềm kẹp của CS cũng khá lâu, nên biết cách cư xử với em yêu, một con người toàn trị, nắm trong tay toàn quyền sinh sát trong nhà; nên luôn luôn tâm niệm năm điều là: “Đừng nghĩ xấu về em yêu. Còn có nghĩ thì đừng dại dột nói thiệt ra cho em yêu nghe. Mà lỡ có nói thiệt ra thì đừng có ghi lại. Mà lỡ có ghi lại thì đừng có ký tên, mà lỡ có ký tên khi vợ hỏi thì bảo là anh không nhớ”. Nghĩa là mình phải trơn lùi như con lươn, con chạch; ‘em yêu’ mới không bắt được thóp, nắm đầu mình được. Áp dụng cái chủ thuyết 5 không đó, nên giờ mình vẫn sống hạnh phúc với ‘em yêu’ đó! Đâu có đau khổ quá cỡ thợ mộc như ông Lev Tolstoy, giận vợ, bèn trốn đi trong đêm Đông lạnh lẽo đến nỗi chết ngoẻo cù từ!

Nói vậy nhưng đôi khi buồn tình cho một kiếp đời nô lệ gác tía lầu son, đem so với ông Tô Hoài, cũng vừa mới qua đời, thì mình cũng phải công nhận rằng: ổng ‘anh hùng’ hơn, ‘ngon’ hơn mình nhiều!

Ông Xuân Sách trong quyển “Chân dung các nhà văn”, vẽ ông Tô Hoài như thế nầy: “Dế Mèn lưu lạc mười năm. Để O Chuột phải ôm cầm thuyền ai. Miền Tây sen đã tàn phai.Trăng Thề một mảnh lạnh ngoài Đảo Hoang.” (Chữ in đậm là tên những tác phẩm nổi tiếng của Tô Hoài)

Một giai thoại về Tô Hoài do nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn (không ai ‘quánh’ mà khai tùm lum) như vầy:

(Khi Tô Hoài nói về vợ thì tên ông (xin lỗi)… thêm dấu sắc thành ‘Tố (khổ) Hoài’)

“Bà vợ tôi chả hiểu gì về nghề của tôi, bà ấy chỉ biết tôi đưa tiền về nhà thì là được. Ở nhà, tôi sống một mình trên cái gác xép, đến quần áo cũng phải giặt lấy vá lấy. Ấy, vợ tôi cũng thế, toàn cho ăn mồng tơi rau đay. Tôi mà đi vắng thì ở nhà mâm dọn ra toàn xoong cả, để khỏi phải rửa bát mà!”

‘Xì nẹt’ vợ như vậy; trong đám nhà văn phải nói là Tô Hoài đúng là một tay hảo hán giang hồ. Mà thực sự ổng có đứng đắn, đàng hoàng gì cho cam. Theo nhà thơ Hoàng Cầm cho biết: “Về khoản gái, Tô Hoài ghê lắm, hơn bất cứ ai, chỉ có điều tâm ngẩm tầm ngầm như thế, nên chết voi, mà chả làm sao cả. Đến vợ cũng không ghen thì thôi chứ gì?”

Ông Lê Đạt cũng thuật lại một giai thoại là: “Có lần, hồi kháng chiến, phải họp để phê bình Tô Hoài đánh vợ. Tô Hoài cho một câu gọn lỏn, các cậu không biết chứ đánh vợ xong, vợ nó chiều lắm!” Hi hi!

Sống ngon lành như vậy hèn chi khi ông mất, theo mấy tay viết báo trong nước cho biết: “Hà Nội mưa như trút nước tiễn đưa nhà văn Tô Hoài”. Làm nhà văn mà dám ‘dọng vô mặt vợ’ như vậy xưa rày hiếm! Hà Nội khóc là phải?!

“Rồi vợ ông cũng tiễn đưa người bạn đời nhạt nhòa trong nước mắt. Bà từng day dứt, không được gặp ông trước giây phút nhắm mắt xuôi tay...?”

Sao vậy hả? Lev Tolstoy của Nga không sợ vợ. Tô Hoài của Việt Nam cũng không sợ vợ; còn ‘dợt’ vợ lên bờ xuống ruộng! Cuối cùng hai ông chết mà hai bà vợ không ai gặp mặt. Trùng hợp quá nên xin xếp ngồi chung một chiếu!

Còn những nhà văn sợ vợ, nể vợ nhứt vợ nhì trời; xin cho ngồi một chiếu khác. Kẻo cho mấy ổng ngồi chung lại hoạnh họe lẫn nhau; chê nhau sao ông chết nhát quá vậy thì thêm phiền…

Người viết có anh bạn là nhà văn khá nổi tiếng! Anh có quan niệm sống rất đáng học tập; nhưng những người khác xấu miệng, lại nói là ảnh sợ vợ thầy chạy luôn?! Người viết có lần hỏi: ‘Người ta đồn rằng anh sợ vợ lắm phải không?’ Ảnh tỉnh bơ mà trả lời rằng: “Sợ chớ! Hổng sợ sao được? Con nó nó đẻ ra nó còn dám đánh… Huống hồ chi tui là người dưng!”

Người viết có thằng bạn Úc làm chung sở, vợ nó là ‘senior’, nghĩa là làm ‘boss’ của nó. Một hôm, người viết hỏi để học tập kinh nghiệm sợ vợ của người nước ngoài: “Lúc vợ giận thì bồ làm sao cho nó hết giận?” Nó cười he he trả lời: “Tui mở tủ lạnh, xách một ‘pack beer’ sáu chai, trốn xuống ‘garage’ uống hết! Ngủ một giấc, thức dậy, rồi bò lên nhà. Dễ ợt! Vợ mình giận thì mình ‘biến’ là xong!”

Anh bạn văn cũng gật đầu tấm tắc khen thằng Úc nầy khôn! Vì có câu rằng phải hai người mới nhảy được bản tango. Vợ chồng cãi lộn cũng y như vậy. Ông bỏ bom; bà bắn pháo mới có chiến tranh chớ! Còn bà pháo kích; ông chui xuống tản xê thì làm sao mà dính miểng cho được!

Một hôm, người viết lơn tơn tới, rủ ảnh đi nhậu. Lâu quá không uống cũng chua miệng. Bước vô cổng, thấy ảnh đang lúi húi làm vườn. Ảnh khoát tay nói nhỏ: “Ông đợi tui ở ngoài kia; gọi vô điện thoại nhà, nhớ nói tiếng Anh cho con vợ tui hổng biết, để tui viện cớ mà ‘dzọt’ nha.” “Nhưng tui có biết tiếng Anh tiếng u gì đâu!” “Thì cứ nói đại ‘hi, hu’ gì đó một tràng cũng được!” Nghe lời ảnh, tui né qua một bên, rồi gọi vào. Ảnh dịch tiếng Anh ba rọi của tui cho chị nhà nghe rồi ‘dzọt’. Hai đứa vù ra pub Úc ở cuối đường, gọi một chai rượu đỏ, rót ra ly, nhấm nháp với hột điều rang muối. Vui hết biết! Bỗng tiếng mobile phone reo. Vợ hỏi: “Anh đang ở đâu vậy?” “Em yêu! Chu choa! Công việc sở bữa nay nhiều quá nên thằng boss mới gọi anh vô làm giờ phụ trội đó cưng!” “Còn em, em ở đâu?” “À! Em ngồi ngay ở sau lưng anh nè!”

Thiệt là quê xệ! Đành dắt con vợ đến ngồi cùng bàn, nhậu chung một chút cho đỡ quê vì bị bể mánh; bị bắt ngay tại trận; hết chối. Chị nhà cầm ly rượu đỏ lên nhắp môi rồi nhăn mặt la: “Trời đất ơi! Sao anh lại uống cái quái quỷ gì mà đắng nghét vậy nè!” Ảnh cười hè hè trả lời: “Em thấy chưa? Vậy mà em cứ rầy anh khoái nhậu cho lắm. Nó đắng thấy mồ tổ đi chớ phải không cưng?”

Ôi! Miệng lưỡi sợ vợ của nhà văn sao mà giống như con lăng quăng quá vậy!

Còn vợ nhà văn mà yêu chồng kiểu ‘toàn trị’ như vầy chắc chắn sẽ có ngày quỵ hai đầu gối xuống mà: ‘Xin hãy tha thứ cho em!’


[/size]

Edited by moderator Wednesday, September 7, 2016 5:34:07 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#7 Posted : Friday, October 17, 2014 4:50:43 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Má Vợ!

Tác Giả Đoàn Xuân Thu



Má vợ Ta

Thưa quý bạn đọc thân mến!

Theo từ điển Hán Việt chỉ ra rằng: Nhạc gia là nhà bên vợ, còn Nhạc mẫu: Má vợ. Bài lần nầy xin đề cập đến 3 phần. Phần một: Má vợ Ta. Phần hai: Má vợ Tây và Phần kết: Má vợ tui!

Má vợ là người đẻ ra vợ mình. Khi nói chuyện với ‘em yêu’ thì chúng ta hay dùng một từ ngữ rất êm đềm là ‘Má của em’. Khi nói chuyện với Má ruột của mình mà có chuyện gì đề cập tới bả thì mình gọi là ‘Má vợ con’. Còn khi đi nhậu, bù khú, tán dóc với bạn bè thì mình gọi bả là ‘Bà già vợ tao!’

Tiếng Việt mình phong phú như vậy đó nên mấy thằng Tây muốn học tiếng Việt để nói chuyện với ‘em yêu’ của nó... cũng phải bù đầu, bứt hai cái lỗ tai... rồi chịu thua luôn!

Nhưng cũng có một trường hợp ngoại lệ là: cựu Thượng Nghị Sĩ tiểu bang Virginia Hoa Kỳ, Jim Webb, có vợ là người Việt chánh tông, tính ứng cử Tổng Thống Mỹ vào năm 2016, dù đã 68 cái xuân xanh, nghe báo chí hải ngoại mình ‘lăng xê’ ông quá cỡ thợ mộc...
vì nếu ổng may mà đắc cử thì người Việt chúng ta sẽ có một Đệ nhứt Phu nhân Hoa Kỳ là người Mỹ gốc Việt đó nhe!

Dẫu báo chí nói ông Jim Webb nầy nói tiếng Việt rất sõi nhưng người viết tin rằng ông không cách nào biết được lúc nào dùng ‘Nhạc mẫu’, lúc nào dùng ‘Má vợ’, lúc nào dùng ‘Bà già vợ’ trừ trường hợp ngài Thượng Nghị Sĩ nầy có đi nhậu với tui mà khiêm tốn học hỏi. Hi hi!

Theo luận lý học là trước khi có Má vợ là mình phải có vợ. Mà trước khi có vợ là mình phải có em yêu. May mà có em đời còn dễ thương đến lúc có Má vợ quả là một đoạn đường chiến binh phải ráng mà vượt qua; nhưng là đối với mấy chú: ‘Áo vũ cơ hàn’, nhà cửa không có phải ‘Đêm lạnh chùa hoang’ thì khó quá xá là khó... cũng như là lực sĩ chạy vượt rào. Vì sao vậy? Vì má em yêu bao giờ cũng muốn giao con gái cưng của mình vào tay một ‘đại gia’ chớ nhứt quyết không chịu gả cho một thằng ‘Trần Minh khố chuối!’

Hồi cuối thập niên 60, chắc anh em mình, ai cũng nghe trên đài Phát Thanh Sài Gòn, Giáng Thu rền rĩ bài ‘Thân phận’ của ông Lê Mộng Bảo? Thu hát cho người rằng: “Tối qua có người, đến nhà xin bỏ trầu cau. Ba mẹ đón chào, chuyện hỏi cưới bàn thật lâu. Em buồn em khóc biết bao nhiêu. Nhớ anh và thương anh thật nhiều. Nhưng lòng giận anh mình yêu nhau. Cớ sao không tìm nhau?!”

Em yêu hối lẹ lẹ đi anh, kẻo trễ phà. Vì có thằng ‘ôn dịch’ nào đó theo Tía má nó đến tính cưới em về làm vợ! Mà nghe thiên hạ nói Tía má nó giàu lắm; có xe Huê Kỳ nên má em ham dù em hổng chịu... Vậy là:“Mẹ thương em đến bên giường nằm. Hôn trán em thì thầm: Con nhỏ nầy dại ghê đi! Mẹ chọn nơi quyền quý! Người ta thế mà chê?! Nhà họ sang giàu lắm!

Một bước lên xe hơi! Con khỏi phí cuộc đời. Cưng nghe mẹ đi con. Hai lần hai là bốn. Thực tế vậy là khôn!”

Nghe ‘Me em’ đem tình ta ra làm toán cộng, thực tế, tính lời tính lỗ; nhưng em cứ lắc đầu quầy quậy. Khóc hoài hai con mắt biếc bị bụp hết trơn: “Vắng anh thấy buồn khóc hoài không ngủ cả đêm. Gió mưa trước thềm đèn le lói càng buồn thêm. Em là con gái yêu hôm nay. Biết sao ngày mai trong cuộc đời. Xin đừng bỏ em đừng xa em dưới cơn mưa trời đêm!”

Nghe Giáng Thu ‘xin đừng bỏ em; đừng xa em!’ như vầy hỏi không nát lòng sao được?! Thôi thì lỡ sinh ra nhà nghèo, không có của ăn của để, thì mình thí công đi ở rể vậy. Nên ‘Bước vô nhà Má cái tay con xá; cái cẳng con quỳ. Lòng thương con má xá gì cái thân con!’ Sở dĩ con phải xá Má (vợ) vì dù không có đi học Đại học Khoa học, ban Toán Lý, mà Má em gõ bàn tính rẹt rẹt làm anh cũng nhứt bộ nhứt bái Má em luôn.

Thời gian ở rể thí công dài lắm... dài tới 3 năm. Làm túi bụi; làm đủ thứ! Từ chẻ củi, gánh nước đêm trăng, nấu rượu lậu, lấy hèm nuôi heo và cắt cỏ cho bò. Vậy mà tới bữa chỉ có cơm trắng và cà... ‘Giếng đâu thời dắt anh ra! Kẻo anh chết khát vì cà nhà em!’ Sợ tốn, má em bỏ vào cà hơn chục ký muối mà anh vẫn ráng nuốt trợn trắng trợn dọc... dù bác sĩ có khuyên rằng đừng ăn mặn quá coi chừng lên ‘tăng xông’ máu!

Em thấy anh vì tình ta cực quá cũng thương nên bày kế: ‘Đặt cày trước trâu’! ‘Khuya nay, đợi Má ngủ say, bò vô với em, mình ‘ván đóng thuyền cho chắc nhe anh’. Nhưng cẩn thận: ‘Chuột kêu chút chít trong rương. Anh đi cho khéo; đụng giường má hay.’

Lửa gần rơm sao không cháy? Nhứt là trai tráng lửa phừng phừng, còn em rơm đang khô nẻ. Vài tháng sau, thấy me, em thèm... kêu anh hái cho ít trái... là mình kiếm đường vọt! Vô nói với Má em rằng: ‘Thưa Bác mệt quá con kham không nổi nữa... xin Bác cho con ‘ô rờ lui!’ Má em nhìn cái bụng em lúp lúp là hiểu ngay cớ sự bỏ chạy nửa chừng của mình liền hà. Vì con người vốn giỏi toán như Má của em chắc hẳn rất thông minh?!

Chừng đó, vốn mình lấy lại đủ, mà còn lời thằng nhóc ngọ nguậy trong bụng ‘em yêu’ nữa. Má em nói: “Thôi con về nói anh chị sui qua đây định ngày lành tháng tốt cho hai đứa... Lẹ lẹ lên kẻo trễ!” Hi hi!

Bây giờ là mình chiếm thế thượng phong rồi... Ngu sao mà không làm eo làm sách để kiếm chút của hồi môn. Thì cũng theo từ điển Hán Việt của ông Thiều Chửu dạy rằng: ‘Của hồi môn là tiền của mà người con gái đem theo về nhà chồng.’

Còn nghĩ rằng mình là nam nhi chi chí, tính toán như vậy là bần... thì đừng cưới vợ Việt Nam. Cưới vợ Ấn Độ đi. Má vợ ‘Cà ri nị’ nầy sẽ bù của cho... mệt nghỉ!

(Của hồi môn mà các cô gái Ấn Độ mang theo về nhà chồng thường là tiền, vàng, đồ gia dụng, đôi khi còn được cha mẹ ruột cho giường ngủ, nhà lầu, xe hơi… trong đó vàng là phổ biến nhất!) Mà sao ngộ nha! Nghe tới vàng là con mắt tui sáng lên, lấp lánh hết biết!

Má vợ Tây

Thưa quý độc giả thân mến!

Đó là bàn về Má vợ Ta. Còn phần nầy là bàn về Má vợ Tây.

Cuối tuần rồi, người viết với một người bạn chí thân đi ‘pub’ nhậu. Hai đứa đang nói chuyện rôm rả về Má vợ thì Johnny và Tony đang nhậu ở bàn bên thấy vui quá là vui cũng nhào vô nhập bọn!

Anh bạn người viết nói: “Bà già vợ của tui là một ‘thiên thần’!” Johnny không hiểu... tưởng chết; ‘Xin chúc mừng! ’ Xong thở than: ‘Bà già vợ của tui còn sống mới chết chớ!’

Sau đó nó đem bà già vợ nó ra mà đấu tố: ‘Cách đây hai mươi năm tui và bà già vợ tui đều vui vẻ hạnh phúc. Rồi sau đó tui cưới con gái của bà ấy!’

Rồi: ‘Hai mươi năm nay tui chưa hề mở miệng nói một lời nào với bà già vợ của tui hết. Thực ra thì cũng hổng có cãi lộn, cãi lạo gì đâu. Chẳng qua là tánh của tui không thích ngắt lời người khác. Vậy thôi!’

Chê bà già vợ nói dai như cái giẻ rách rồi còn chê cái từ tâm của ‘mẫu hậu’ nữa chớ. ‘Tôi đau buồn báo cho ông hay rằng Bà già vợ của ông bị nhồi máu cơ tim!’ ‘ Không tin bác sĩ. Bà già vợ tui có tim đâu mà bị nhồi máu chớ!’

Rồi sau đó Johnny còn cà nanh với ông Adam, thủy tổ con người, ‘Adam là người sung sướng nhứt trần đời vì ông có vợ là Eva mà không có Bà già vợ!’

Cả bốn đứa lại bàn về tình hình thế giới, về cái tổ chức “Nhà nước Hồi Giáo” gì gì đó ở Bắc Iraq và Syria giết người như ngóe. Ai ai cũng đều căm giận, lên án bọn ác ôn, mất tính người nầy thì Tony tỉnh bơ nói: ‘Mình là Úc không cần phải trả thù tụi khủng bố cực đoan nầy mà chi cho bẩn tay... để người khác làm. Ai vậy? Thì tay nào cũng có năm ba con vợ. Mà năm ba con vợ là có năm ba Bà già vợ. Mình có một thôi mà đã ngất ngư! Nó có năm bảy chắc chắn là nó chết!’

Xong Tony còn kể tội bà già vợ nó như vầy: Mấy hôm trước, Bà già vợ nó đường đột đến nhà, đòi ở chơi năm ba bữa dù là khách không mời mà đến.

‘Trước khi bà già vợ tui đến ở chơi, tui đã mang con chó ở nhà đến viên thú y sĩ “Xin ông cắt cái đuôi con chó cho tôi!” Viên thú y sĩ khám cái đuôi con chó xong rồi nói: ‘Cái đuôi chó có bị gì đâu mà ông đòi cắt bỏ?’ Tui trả lời ổng là: ‘Bà già vợ tôi sẽ đến thăm và tui muốn cho bả biết rằng không có ai trong nhà nầy vẫy... chào... mừng khi bà ấy đến!’

Rồi nó còn trù cho bà già vợ nó lỗ đầu nữa chớ!’Bà già vợ tui đi ngang cái đồng hồ treo trên tường; rồi một phút sau cái đồng hồ mới chịu rớt xuống... nên hụt. Thiệt là đồng hồ ‘Made in China’ nên bao giờ cũng trễ!’

‘Rồi mấy bữa sau Bà già vợ tui đi dạo trong công viên bị một con chó nó cắn!’

Cả bọn ngừng nhậu, kêu lên: ‘Trời ơi! Chó pitbull hả? Rồi có sao không?’ Tony trả lời tỉnh rụi: ‘Bà già vợ của tui thì không sao? Nhưng con chó thì chết!’

‘Rồi mấy hôm sau nữa, theo bả đi chợ, tui ra ngoài hút thuốc, rồi trở vô thấy 6 bà nhẩy vô quánh Bà già vợ tui một trận te tua. Tui đứng nhìn! Ông hàng xóm hỏi:’Sao tui hổng chịu nhẩy vô chớ! Tui trả lời 6 bà là đủ rồi!’

Má vợ tui

Johnny và Tony chiếm đài phát thanh, phát liên tục đề tài Bà già vợ của tụi nó hoài coi cũng kỳ... không có vẻ đa văn hóa gì hết nên quay qua người viết hỏi: ‘Có đụng chạm gì với Bà già vợ không mà trông cái bản mặt tui dài như mặt ngựa, buồn bã hết biết như vậy?’

‘Mấy bạn biết đó gia đình bên vợ tui giàu lắm. Tháng Hai rồi ông nội vợ chết để lại cho tui mười ngàn đô. Rồi Tháng Tư, bà nội vợ chết để lại cho tui hai chục ngàn đô. Rồi Tháng Sáu, ông già vợ chết để lại cho tui bốn chục ngàn đô. Tháng nầy, tui còn Bà già vợ mà Bà già vợ tui chưa chịu chết! Hỏi mấy anh là làm sao tui không buồn cho được chớ!’

Thưa quý độc giả thân mến!

Chuyện nầy vui do tui đặt ra thôi. Nghe qua rồi bỏ xin đừng học tam học tể với ‘em yêu’ của tui giùm một cái nha! Xin cám ơn nhiều... nhiều!

Edited by moderator Wednesday, September 7, 2016 5:34:45 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#8 Posted : Sunday, October 19, 2014 4:59:15 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Ông Thần Ve Chai

Tác Giả Đoàn Xuân Thu


Trước năm 1975, nước ngọt xá xị, là thức uống để giải khát, bán rất chạy tại miền Nam Việt Nam phần lớn do hãng BGI sản xuất, chứa trong chai thủy tinh, nhãn hiệu hình con cọp, nên còn gọi là "xá xị con cọp". Hay là "xá xị con nai" của hãng Phương Toàn.

Con cái có bữa ấm đầu nhõng nhẽo, thương con, Má mua cho chai xá xị. Đứa nhỏ khoái quá trời, cũng như con nít bên nây nhìn thấy lon Coke vậy!

Uống hết nước, còn cái chai không, Tía sẽ giữ lại để sai con đi mua rượu đế về nhậu chơi. Và chai xá xị, chứa được 220ml, là đơn vị căn bản đo lường tửu lượng của phe ta. Từ đó có tên: Anh Ba Xị, Chú Tư Xị ...vv...

Một xị chỉ chứa được 220ml, nhưng mấy chú Ba Chợ Lớn, đong 4 xị tính thành 1 lít. Với cách bán lẻ như thế thì 1 lít Chú Ba ăn gian mấy ông thần ve chai được 120ml! Còn ông thần ve chai nào kỹ tính, vác chai nước biển đi mua lần một lít là chú Ba hết cách ăn gian nhưng ngặt một cái là con vợ nó hổng cho mua nhiều... Vì mua bao nhiêu là thằng chả nhậu hết bấy nhiêu! Chịu sao thấu!

Thưa xin cắt nghĩa vòng vo tam quốc một chút về cái dụng cụ đo lường thân thiết của bạn nhậu chúng ta. Và cách đây hơn 40 năm, sáng sớm mới mở hàng mà thấy một ông mặc bộ đồ pyjama ngả màu cháo lòng bước vô, kéo ghế đẩu nghe cái rột; ngồi kiểu nước lụt "Cho tui một xị!" Thì bà con biết rằng dạ chính là 'tui' đó ạ!

Ở những quận lỵ quê mình hồi xưa có cái nhà lồng chợ! Trong nhà lồng thường có bán cháo lòng, bún thịt xào, hủ tiếu, cà phê và rượu đế…Mỗi sáng sớm lỡ vừa ghiền cà phê uống cho tỉnh ngủ, vừa như xe cần xăng người cần rượu thì các sư phụ của mình thi nhạc giao duyên bày ra cái thức uống xây chừng chẩu; vừa cà phê vừa rượu. Chủ quán rót cà phê đen tới cái khấc của ly xây chừng gọi là chệt đẻo, tức phân nửa, phân nửa còn lại thì rót rượu đế. Gọi một tô cháo lòng, chút tiêu cho ngọt, chút hành cho thơm, cộng với tim gan phèo phổi. Múc muỗng cháo đưa vô miệng húp; đưa cay một cái trót! Thưa quý độc giả thân mến: Thiên đường là đây!

Rượu là chỉ dấu thời hoàng kim của nhân loại! Thức ăn thời hái lượm là trái cây mình ăn dư dật, để lâu chín rục… mới thành rượu! Con người là con vật thông minh nhứt nên tìm hiểu rồi làm chủ cái tiến trình chuyển hóa nầy tự mình làm ra rượu uống chơi. Những dân tộc trên toàn thế giới dù trong rừng rậm Amazon chưa hề tiếp xúc với thế giới văn minh mà cũng có rượu uống tì tì nên người ta nói rằng Thượng đế chế ra nước và người ta chế ra rượu!

Hai nhân vật đầu tiên của nhân loại là Adam và Eva. Để che cái tài sản quý nhứt của mình, họ dùng lá nho! Có lá nho là phải có trái nho. Mà trong nước trái nho lúc chín rục có chứa đường. Đường sẽ chuyển hóa thành rượu khi men có sẵn trong không khí tình cờ rơi vào. Nên có thể nói mà không trật chút nào là rượu có trước cả con người!

Mà không phải chỉ có con người khoái nhậu mà thôi, mấy con khỉ trong rừng cũng khoái lắm, xỉn xỉn, khèn khẹt nhảy tới nhảy lui, chuyền từ cành nầy sang cành khác vui như Tết. Hay rượu từ mật ong cũng có chứa đường, làm mấy con gấu xỉn lăn quay.

Tàu thì nói: "Dục tửu phá thành sầu…" Tây thì khác… Vui cũng nhậu mà buồn cũng nhậu luôn… để tìm vui. Hoàng đế Napoleon của nước Pháp sinh ra đời để dắt lính đi đánh nhau với các nước khác. Đánh thì có ăn có thua. Ăn thì khui rượu sâm banh ăn mừng. Còn thua cũng khui rượu sâm banh để quên đi nỗi buồn thất trận. Mà Napoleon thua cũng vì rượu mà thôi! Cách đây hơn 200 năm, Napoleon dẫn mấy thằng Tây đánh vào tới Moscow. Tây uống sâm banh mà sâm banh nhẹ độ rượu thì cách chi chống lại được mùa Đông nước Nga lạnh quéo, hàn thử biểu, cột thủy ngân rớt xuống trừ vài chục độ C. Lính Nga thì uống vodka, mạnh độ rượu hơn, làm một chai là mùa đông nước Nga coi như pha! Kết cuộc lính Tây rút chạy sút quần tây luôn! Hí hí!

Tây nhậu lai rai, lâu lâu nhậu một lần, tự sắc phong mình là ‘social drinker!’ Việt mình gọi là nhậu xã giao. Xã giao chớ không phải ‘xả dao’; vác dao đi mà xả. Nhậu xã giao là nhậu nhẹt với bạn bè đến nhà mình hay mình tới nhà nó hay cả bọn kéo nhau ra quán. Lâu lâu một lần chớ không phải ngày nào cũng nhậu xã giao hết nhe! Ngày nào cũng rủ bạn bè tới nhậu xã giao thì tui e rằng em yêu sẽ xách dao ra mà xả cả đám nhậu tụi mình!

Khi uống rượu mấy ly đầu vui lắm, và phải có bạn nhậu mới vui. Trà tam rượu tứ. Rượu có ít nhứt là 4 người. Một xị nhâm nhi tình bạn. Hai xị uống cạn tình sầu. Ba xị mũi chảy tới râu. Bốn xị ngồi đâu gục đó! Sau cùng sợ chàng đi đứt, em bèn đè xuống cạo gió.

Một xị, tinh thần sảng khoái, vui vẻ, thích trò chuyện, vui đùa, ca hát…'Mặt hồng sáng trong trong!'. Nghe nói năm 2015 các nhà khoa học sẽ chế ra một dụng cụ có thể biến những điều suy nghĩ trong đầu ta ra thành lời nói. Chuyện xưa như trái đất mà cũng bày đặt phát minh. Tui đã có cái dụng cụ đó hàng cả bao năm rồi. Tên nó là chai rượu Jack Daniel's. Cạn chai, có bao nhiêu trong đầu đều tuôn ra hết ráo!

Rồi chuyện Thiếu úy Bảnh đi cưới vợ! Thiếu Úy Bảnh mang đại đội ĐPQ đóng đồn ở ngã ba sông. Chẳng bao lâu Thiếu úy Bảnh phải lòng em Bông, con ông Tư Xị, ở xóm trong. Thiếu úy Bảnh nhờ Thượng sĩ Tỏn, Thường vụ Đại đội, tuổi cũng khá cứng làm đại diện nhà trai vì ba má Thiếu úy ở tuốt Mỹ Tho lặn lội lên cực khổ. Đàng gái vui vẻ đón chào, rước ngay Thiếu úy Trưởng đồn vào mâm rượu. Em Bông e thẹn núp sau rèm cửa! Thiếu úy trình lễ vật, một bao thơ trọn một tháng lương cho nhà gái. Ông già vợ tương lai lấy làm hạp ý! Thôi mời Thiếu úy à quên cháu làm một ly! Chia hai cho thắm tình quân dân cá nước! Xị đầu thì bác bác cháu cháu. Qua xị thứ hai, thứ ba, thứ tư…thì hai đứa mình người một ly, cạn trăm phần trăm đi! Thiệt là vui hết biết! Thượng sĩ Thường vụ Đại đội kề tai nói nhỏ: “Ông Thầy ơi! Chiều rồi! Thầy trò mình rút!”

Nhưng hai bác cháu nói còn sớm mà! Một lúc sau, ông già vợ tương lai của Thiếu úy Bảnh gục gặc hỏi: "Tụi mình đang nói tới chuyện gì vậy?" Thiếu úy Bảnh nghĩ ngợi một lát rồi kêu lên: "A, tao nhớ ra rồi, tụi mình đang nói: Rót thêm ly nữa đi!" Thượng sĩ Thường vụ Đại đội ra lịnh rút, cho mấy thằng em cõng ông Thầy về đồn... kẻo hết bốn xị, ông Thầy sẽ nói năng vô nghĩa, say mèm! Thêm xị nữa là ông Thầy… đi đứt. (Chuyện hơn 40 năm rồi, chắc ông Thầy không còn nhớ thằng em đã từng đưa lưng cõng ông Thầy độ ấy! Thôi thì huynh đệ chi binh nhắc chuyện cũ cho vui... Xin ông Thầy đừng rầy cái thằng em nhiều chuyện... không ai đánh lại khai!)

Trên là chuyện bạn nhậu quê mình. Còn phần nầy là chuyện nhậu của mấy thằng Tây. Gần giao thừa, chủ quán đứng lên nói: “Nào! Chúng ta hãy sẵn sàng. Tôi muốn các bạn hãy đứng gần người mà các bạn yêu dấu nhứt; đã mang đến niềm vui, làm cuộc đời buồn tẻ của bạn trở nên rất đáng sống. Và chuông giao thừa nổi lên! 'Ò e Ro be đánh đu'… Em yêu phục vụ bia rượu trong quán bị đám đông quý ông chen lấn tới, để được đứng gần bên, nhém chết!

Johnny được mấy chiến hữu kêu đi nhậu, con vợ cứ chàng ràng hoài hổng biết làm sao mà vọt cho được; nên để các chiến hữu chờ lâu. Cuối cùng em xách giỏ đi chợ; Johnny phóng cái vù nhưng đến muộn nên vừa ngồi vào bàn, tụi nó đã thi hành kỷ luật: "Tới trễ! Phạt! Phạt chục ly!" "Phạt hả! Thôi thì cứ rót ra đi!" Tàn tiệc nhậu, khuya trời tối hù, Johnny lái xe về, quên mở đèn pha, cảnh sát kêu lại phạt! "Phạt nữa hả? Thôi thì cứ rót ra đi!"

Còn Tony, bạn nhậu của Johnny, hơi quá chén không dám chạy xe về nhà, bèn thả bộ. Thầy đội chận lại, hỏi: "Ông làm gì mà lang thang lúc 2 giờ sáng vậy hả?" " Thưa thầy đội tui đi nghe diễn thuyết!" "Diễn thuyết! Ai mà ngu diễn thuyết cho ông nghe lúc 2 giờ sáng?" " Dạ! Con vợ tui!"

Trên là chuyện nhậu của Ta rồi của Tây. Còn phần cuối nầy là chuyện nhậu của Ta và của Tây giao duyên đa văn hóa với nhau: Tiệc cuối năm tưng bừng rộn rã tại nhà Tèo và rất nhiều khách đến nhậu. Giữa tiệc có một ông Tây đến gõ cửa và được mọi người tiếp đón rất niềm nở dù không ai biết ổng là ai. Thôi thì cạn ly đầy và đầy ly cạn suốt gần hai tiếng đồng hồ. Cuối cùng ông Tây xin từ giã. "Xin cám ơn các bạn đã đón tiếp, chiêu đãi tui nhiệt tình đến thế dù tui không có tên trong danh sách khách mời. Chẳng qua tui muốn vào đây để nói là: "Anh bạn nào đã đậu xe chắn lối xe ra của nhà tôi, xin làm ơn dời qua một chút vì con vợ tui đang ngồi đợi trong xe nãy giờ mà vui quá tui quên nói với quý bạn!"

Người Việt mình cũng vậy bà con ơi! Đi qua bàn nhậu là ai kêu tui đó? Dẫu không ai kêu, tui cũng làm một ly để tạ lỗi nha! Vì thấy rượu như lân thấy pháo! Việt và Tây giống nhau ở chỗ đó đa: "Tay cầm bầu rượu nắm nem. Mải vui quên hết lời em dặn dò!"

Mấy ông thần ve chai bọn mình nhằm thuyết phục vợ nhà cho anh nhậu... nên phao cái tin đồn thất thiệt như vầy: Rượu giúp ích cho việc "tù ti tu tí"! Đó là tin đồn thôi, mấy em cực kỳ thông minh nên hổng có ai tin. Phần mấy em có đọc câu chuyện nầy đây nên 'phe ta' đừng mong xí gạt 'phe nó' mà chi! Chỉ uổng công!

Chuyện rằng: Châu Long được Dương Lễ cho qua cơm bưng nước rót để bạn mình là Lưu Bình ăn no cái bụng mà an tâm dùi mài kinh sử. Một hôm, Châu Long nấu một nồi canh chua với cá ba sa mùa nước nổi; rồi mua cho Lưu Bình một xị rượu đế để nhâm nhi. Sáng hôm sau, Châu Long vừa giặt lụa bến sông vừa cười lỏn lẻn. Tối về, lại canh chua cá ba sa mùa nước nổi, Châu Long bèn tăng 'đô' lên gấp hai. Hai xị. Dứt xong hai xị, Lưu Bình ngã lăn ra đất, ngáy pho pho!

Thưa quý độc giả thân mến!

Người viết có gia nhập vào Hội của những người khoái làm thơ. Tất niên nầy, các thi sĩ nhà ta họp bàn nên tổ chức đón Tết như thế nào ở quê người xứ lạ. Một nhà thơ tiếng tăm lừng lẫy đứng lên phán rằng: "Tụi mình cứ khiêng về chục thùng Ken (Heineken) rồi nhậu suốt đêm giao thừa vậy thôi!" Nhưng ông Chủ tịch Hội thơ đứng bật dậy, giơ tay chém gió, thẳng thừng bác bỏ: "Không được! Tết chỉ có một lần trong năm, chúng ta không thể làm như những ngày thường được!"

"Hi hi! Như vậy nhậu là hư mà đâu phải chỉ có một mình tui hư!"

Edited by moderator Wednesday, September 7, 2016 5:35:13 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#9 Posted : Thursday, October 23, 2014 8:43:35 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
“Lè phè như Úc?!”

Tác Giả Đoàn Xuân Thu


Người Việt chúng ta, trước 75, chắc ít có người biết nhiều về nước Úc. Ở đâu? Bao lớn? Dân tình sống ra sao? Rồi sau khi mất nước, bà con mình ồ ạt trốn ra đi, may mắn tấp được vô Bidong, Mã Lai, Galang, Nam Dương, chờ đợi mấy phái đoàn (tùm lum nước) đến để phỏng vấn cho đi định cư ở một nước thứ ba, thì trong đầu thuyền nhân, ai cũng nghĩ trước hết là nước đồng minh đã bỏ ta đi, là Hoa Kỳ?!

Thế nên có chuyện vui là trong giờ học địa lý, Thầy hỏi: “Mặt trăng và Úc Châu; nơi nào xa hơn?” Trò lại trả lời là: “Úc Châu, vì mặt trăng mình còn thấy được đêm đêm!”

Kiến thức về địa lý được một nút (được 1 điểm vì ít nhứt mình còn biết trên quả địa cầu nầy có một nước tên là Úc Châu, một nước mà chiếm trọn một Châu trong năm Châu). Về lịch sử nước Úc, mình cũng bù trất luôn!

“Tí! Em tìm cho tôi nước Úc trên bản đồ đi” “Dạ thưa thầy! Nó đây! Quay sang Tèo, thầy hỏi: “Ai tìm ra Úc Châu? Dạ thưa thầy! Trò Tí ạ!”

Thưa quý độc giả thân mến!

Mãi vài năm sau 75, những người tình cờ tiên phuông đến Úc sống! Chu choa sao mà quá đã, lè phè hết biết... nên báo tin vui quá vui cho những người còn ở đảo biết về nước Úc... một đất nước, bia đổ tràn như suối là có thiệt trăm phần trăm chớ không cần phải đến thiên đàng mới có... thì số người Việt của mình đến Úc định cư tăng vùn vụt!

Ngày đầu tiên đặt chân tới Melbourne cách đây hai mươi năm... Từ phi trường Tullamarine, mấy đứa em chở u về nhà ở Coburg, vùng phía bắc Melbourne. Thay đồ, tắm rửa xong xuôi... là nhảy tót ngay lên bàn nhậu ăn mừng ‘tù nhân’ đã vượt ngục… chạy thoát tới trời tự do. Quá đã! ‘Welcome to Melbourne!’ Lon bia đầu tiên uống là Victoria Bitter (còn nhớ tới giờ); sao mà nó mát lạnh gì đâu... chạy khỏi cổ họng, bia xuống tới đâu là mình biết tới đó!

(Sau nầy, thì thấy cũng hơi lạ mỗi tiểu bang Úc đều uống loại bia khác nhau. Lý do là: Trước khi thành lập liên bang, Úc châu có những tiểu bang riêng lẻ thuộc địa của Anh. Với luật lệ rất khác nhau về sản xuất và tiêu thụ rượu bia.

Mãi đến cuối thập niên 1880, hệ thống hỏa xa mới được thiết lập nối liền thủ phủ các tiểu bang Úc; chớ trước đó phải chuyên chở rượu bia bằng tàu. Vận chuyển khó khăn, cước phí cao như vậy nên mấy hãng bia địa phương khó lòng bành trướng nhãn hiệu của mình đến các tiểu bang khác. Dân tiểu bang nào thì uống bia của tiểu bang đó... Riết rồi thói quen tạo thành một truyền thống... từ đời ông, tới cha, tới con, rồi tới cháu! Nhậu hết ráo! Thế nên nếu là dân NSW thì uống Tooheys, Reschs, Hahn. Dân Victoria thì Carlton Draught, Victoria Bitter, Melbourne Bitter! Uống bia loại nào cũng là một hình thức giới thiệu rất dễ thương với dân thổ địa là ‘tại hạ’ từ tiểu bang nào mà tiếu ngạo giang hồ, hạ cố tới chơi đây!)

Rồi sau đó, mười năm liền nước Úc hạn hán, những rừng bạch đàn khô nẻ, cháy rừng liên tu bất tận. Hồ chứa Thomson lớn nhứt cho thành phố Melbourne xài, mực nước tụt xuống chỉ còn 19% dung tích. Chánh phủ cấm dùng nước bừa bãi. Người Úc, vốn cực kỳ yêu nước, nghe chánh phủ bảo cái gì đúng cho đất nước là răm rắp tuân theo. ‘Để tiết kiệm nước! Chúng ta hãy uống bia! Save water! Drink beer!’

Nhưng theo dã sử, trước khi khoái uống bia, những người Úc đến từ Anh khoái uống rượu mạnh hơn! Sir John Robertson, năm lần làm Thủ hiến New South Wales, suốt 35 năm, sáng nào ông cũng ‘quất’ một pint (hơn nửa lít) rượu rum. Giống như xe cần xăng, ông có ‘rum’ mới chạy! Nhậu đã rồi còn nói "đâu phải mình tui! Không có ai đặt chân lên cái xứ nầy mà lại uống nước lã cả!”

Theo thống kê, những người từ Châu Âu đến Úc định cư, tính theo đầu người, uống nhiều, đứng nhứt nhì hơn bất cứ cộng đồng nào khác của nhân loại. So với mẫu quốc Anh, sáng xỉn chiều say; tối ôm chai mà ngủ chắc chắn là Úc ăn đứt nước mẹ quê mình; nếu có thua là thua Boris Yeltsin một Tổng thống xỉn có tiếng của nước Nga thời hậu chế độ cộng sản mà thôi! Vẻ vang dân Úc nhá!

(Ai cũng biết Yeltsin là người uống rượu nhiều. Hơn nữa, chứng nghiện rượu của ông làm vận mệnh thế giới đổi thay!? Xưa thì vận mệnh thế giới trong tay mấy đứa khùng như Hitler, Stalin, Mao… Sau thì trong tay mấy ‘ông thần ve chai’ Sao tui thương, tui tội nghiệp thế giới của mình quá bà con ơi!)

Năm 1989, Yeltsin tới Hoa Kỳ để phát biểu về đời sống xã hội và chính trị tại Liên bang Xô viết. Chuyến đi ấy được một bài báo trong tờ La Repubblica, Italia mô tả là thảm họa. Yeltsin thường xuất hiện trong tình trạng say sưa trước công chúng.

Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã biết được về chứng nghiện rượu của Yeltsin trong cuộc nói chuyện điện thoại đầu tiên của họ khi Yeltsin gọi tới chúc mừng nhân lễ nhậm chức của Clinton năm 1993, Yeltsin khi ấy đang ‘xỉn’. Ông cũng say rượu trong cuộc gặp thượng đỉnh đầu tiên với Clinton tại Vancouver. Yeltsin đã rất xỉn quắc cần câu khi ông tới sân bay vào tháng 9, 1994 tới mức ông có thể ngã khỏi máy bay. Trong đêm ấy Yeltsin loạng choạng đi quanh với độc chiếc quần lót và kêu gào đòi bánh pizza. Trong vụ ném bom Kosovo, Yeltsin, rõ ràng đang say rượu, đã đề nghị rằng ông và Clinton nên gặp nhau trên một chiếc tàu ngầm!

Người viết hoàn toàn thông cảm với ông bạn già Boris Yeltsin vì phải bị sống quá lâu trong chế độ cộng sản thì con đường tình ta đi: một là khùng; nếu không muốn khùng thì chỉ có thể uống rượu để tìm quên những nỗi đớn đau…Vì khi xỉn rồi Boris Yeltsin đã tới thế giới đại đồng, không còn áp bức bất công… He he! Vậy thì ngu sao mà không nhậu chớ?!)

Bây giờ người viết may mắn đang sống trong xã hội tư bản giẫy chết, mà mình không muốn chết, chỉ muốn vui thôi! Và cũng theo kinh nghiệm cá nhân của người viết, uống rượu mà xỉn, nó vật mình vặn vẹo, quậy quạng... lôi thôi rắc rối với vợ nhà quá... nên người viết cũng như người Úc từ từ chuyển ‘ton’ rượu đế, rượu bọt đường… ra uống bia lon! Nhứt là vào mùa hè trời oi bức, gió từ sa mạc trong đại lục thổi ra, ào ào nóng rát. Uống bia làm cho mình đã khát! Còn không khát, uống trước khi bị khát cho chắc ăn! Để phòng ngừa!

Còn về sức khỏe: “Tui không bao giờ uống nước; vì nước rất độc, chứa rất nhiều vi khuẩn... nó làm cho ống dẫn nước dù làm bằng sắt, bằng gang đi chăng nữa cũng trở nên rỉ sét!”

Thưa quý bạn đọc thân mến!

Người viết cũng xin thành thật tự thú trước bình minh rằng mình đang có vấn đề về bia rượu rồi chăng?! Bằng cớ là: Chưa hề đặt chân vô quán rượu đó... mà tại sao người em xứ Úc dễ thương hết biết, em đi áo mỏng buông hờn tủi, thường hay ló ló ra hai trái bưởi Biên Hòa không vàng khè… mà trăng trắng trong nắng chiều xứ Úc, phục vụ bia bọt lại biết tỏng tên tui?! Danh trấn giang hồ ‘Đông phương bất bại!’ Nhậu chưa ai nhậu lại hết trơn he?!

Người viết sở dĩ uống bia vì bia rẻ hơn nước vậy thôi chớ đâu có ghiền nè! Nhưng có người bạn dang dở đường tình, than thở: ‘Uống để tìm quên!” Thì nghe cũng được đi; nhưng khi dắt người viết đi nhậu để tìm quên... xin nhớ trả tiền trước nghe hông huynh!

Nhập gia tùy tục! Đến xứ Úc mình làm như Úc thôi! Bài bạc, Cá cược và Bia! Gần mực thì đen gần đèn thì sáng! Nên xin phép quý độc giả thân mến kể một câu chuyện vui như vầy:

“Ba đứa đang làm việc trên một tòa cao ốc. Macca, Chook và Simmo. Chook bị trợt chân, té chết ngắc. Khi xe cứu thương chở xác Chook đi khỏi thì Simmo nói: ‘Phải có ai đi báo tin nầy cho vợ nó chớ!’ Macca giơ tay xin đi. Hai tiếng đồng hồ sau, Macca quay trở lại vác một thùng bia VB trên vai. ‘Ê bồ! Bia ở đâu ra vậy?’ ‘À! Vợ thằng Chook cho tui đó!’ ‘Thật không thể nào tin được! Bồ tới nói cho người vợ một tin buồn chồng bà ấy té chết ngắc… vậy mà bà ấy lại cho ông một thùng bia hả?’ Macca trả lời: ‘Đúng ra là vợ nó không có cho tui. Chẳng qua là khi gõ cửa, bà ấy ra mở, tui bèn hỏi: “Bà đây có phải là Bà góa phụ của ông Chook hay không?” Vợ Chook trả lời: “Tôi đâu phải là góa phụ!” Vậy là tui nói: “Bà có dám bắt cá với tui một thùng bia không?”’

Dân dã uống bia, quan quyền dù có nhiều tiền hơn cũng uống cùng loại bia như vậy! (Còn ‘chảnh’ không chịu; đòi uống cỡ chai rượu chát 700ml Grange Hermitage hơn ba ngàn đô như Thủ hiến NSW Barry O’Farrel là về nhà đuổi gà cho vợ!) Thiệt là một nước Úc bình đẳng; đã san bằng mọi giai cấp trong việc ăn nhậu mà không cần phải ngu để đi làm cách mạng đổ máu; đấu tranh giai cấp làm chi cho chúng nó khi! Bất chiến tự nhiên thành!

Còn quan quyền và dân ngu khu đen làm ăn ra sao thì từ từ tính tới! Mà đất nước Úc nầy thực ra đâu cần mần ăn chi cho nó mệt! Mới đây Úc khám phá ra mỏ dầu trong đá ở Nam Úc, rồi ngoài khơi Tây Úc nữa… Khi nhậu hết tiền, hút dầu lên bán cho Tàu… thì Úc sẽ qua mặt nước Saudi Arabia một cái rột! Giàu tài nguyên đến nỗi chủ chợ, Thủ Tướng Singapore, đất nhỏ thó, con chó nằm còn ló đuôi, cà nanh: "Úc đâu cần làm… Hết tiền, cứ đào mỏ, hút dầu lên bán… là phẻ re như con bò kéo xe!" Hi hi!

Do đó: dân nhậu Úc khi phải đi cày, bị bắt buộc chẳng đặng đừng; thì khóc lóc, thở than là mình bị một lời nguyền từ chính mấy con vợ của mình là: "Úc! Đàn ông không được ở không! Phải kiếm việc làm đi chớ!"

"Không! Không bao giờ! Cứ mặc kệ cho em nguyền rủa! Thiệt là lè phè như Úc!"

Edited by moderator Wednesday, September 7, 2016 5:35:44 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#10 Posted : Sunday, October 26, 2014 11:48:58 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Tình bạn thời lưu lạc!
Tác Giả Đoàn Xuân Thu


Thưa quý độc giả thân mến!

Người Việt mình ngày xưa vì lý do nào đó phải tha hương tình cờ gặp bạn cũ thường hay nói: “Cửu hạn phùng cam vũ; Tha hương ngộ cố tri.” diễn Nôm là: “Nắng hạn lâu ngày gặp mưa nhuần; Nơi xứ người gặp được bạn cũ!” Gặp như vậy là khoái, là đã lắm! Nhưng lại có ông còn muốn khoái hơn nữa, muốn đã hơn nữa nên tự động biên tập thơ của người ta thành ra thơ của mình bằng cách thêm vào hai chữ ‘Thập niên’ vào câu một, thành “Thập niên cửu hạn phùng cam vũ”. Mười năm hạn hán, mưa không có một hột mà bất ngờ được trận mưa rào, ào ào ướt như chuột lột. Quá khoái! Rồi thêm hai chữ ‘Thiên Lý’ vào câu hai thành “Thiên lý tha hương ngộ cố tri” Ngàn dặm xa quê gặp bạn xưa! Nhứt là gặp lại thằng bạn nầy khoái nhậu, khoái nói dóc như mình thì tình bạn cố tri nầy quý như đồ cổ đời Khang Hy, đời Càn Long gì đó... ai mua (trả được giá) tui cũng không bán dù có nghèo mạt rệp đi chăng nữa!

Nhưng ông bạn trong câu chuyện dưới đây, không phải là người cùng quê Hốc Bà Tó với tui đâu. Chẳng qua là trời xui đất khiến ta gặp nhau nơi đất khách quê người xa ngàn dặm!

Chuyện rằng tui mướn được cái ‘flat’ trong một chung cư của chánh phủ, cao tới hai mươi tầng, mà tui ở tầng 10. Một hôm đi làm về, bước vô thang máy với một ông da vàng, mũi tẹt, cũng đẹt ngắt như tui nhưng có mang mắt kiếng! Hổng biết ổng là người Tàu, người Nam Dương, người Đông Timor, người Cam Bốt hay người Lào? Cả hai cùng bấm số 10! Cái thang máy re re chạy lên, dừng lại rồi mà cửa nó không chịu mở. Ổng buột miệng xài giấy năm trăm. “Mình mắc kẹt trong nầy rồi má bầy trẻ ơi!” Tui ra vẻ thầy đời; đừng có lo để tui kêu cứu. Bấm cái nút khẩn cấp trong thang máy nối với người em xứ Úc ở đầu dây.”Help! Help! Stuck! Stuck!” (Giúp! Giúp! Kẹt! Kẹt!). Dạ tiếng Anh trong túi có nhiêu đó, tui móc ra xài hết.

Em õng ẹo rằng: “Cool down! Technician’s on the way!” Hai đứa sợ đổ mồ hôi hột, lạnh run chưn cẳng! Gần nửa tiếng đồng hồ sau, ông thợ sửa thang máy mới lù lù vác cái bản mặt tới. Khi ra khỏi thang máy anh bạn mới quen lại là hàng xóm sát vách tui chớ có đâu xa, mà hơn tuần nay dọn vô tui đâu có biết.

Ảnh khen: “Anh nói tiếng Anh giỏi quá xá! Úc nghe, nó hiểu liền!” Quen cái thói khoe khoang, tui nổ luôn. Hồi xưa tui học hết lớp 12 của Hội Việt Mỹ ở 55 Mạc Đĩnh Chi Sài Gòn đó nha. “Vậy sao?” Anh hỏi: “Mà Hội Việt Mỹ bộ có nuôi ‘heo’ nữa hay sao mà tui nghe anh nói “Heo! Heo (Help)” vậy!” Tui biết thằng cha mới quen nầy xỏ ngọt tui đây!

Cuối tuần, thấy giỡn mặt như vậy là quá đáng, chắc lòng ăn năn hối hận, nên ảnh có mời tui bước qua căn ‘flat’ của ảnh nhậu chơi! Ảnh ở một mình. Trong phòng khách, có cái máy vi tính và một loạt sách trên kệ, đa phần là sách tra cứu bằng tiếng Anh không hè!
Mới biết ảnh qua đây đi dạy đâu chừng chục năm, về hưu, nhà ảnh mua đã trả hết nợ ngân hàng, ảnh cho mấy đứa con, xin mướn nhà chánh phủ nhưng trả theo giá thị trường, ở một mình cho khỏi bận bịu con cái; vì tụi nó còn phải lo cho vợ con nó nữa chớ!

Dạ xin hỏi (lúc nầy tui cũng hơi ê càng rồi!) ở Việt Nam anh dạy môn gì? Dà! Tui dạy tiếng Anh! Vậy mà trời đất quỷ thần ơi! Tui dám vác cái rìu tính múa qua mắt thợ. Cho đáng đời mầy nha! Thằng hay nổ sảng!

Rồi biết thêm thời gian rảnh rỗi, nhàn tản, anh hay viết bài bình luận đăng báo, mà toàn đăng trang nhứt. Từ chuyện Trung Đông, Do Thái, Palestine, Iran, Iraq, Libya... tới chuyện Huê Kỳ và Anh Cát Lợi... Nghĩa là chuyện ta bà thế giới; chuyện tào lao nào cũng có ảnh hết trơn!

Thưa quý độc giả thân mến!

Người viết có tánh tốt là thấy ai có vẻ thua kém hơn mình là vác đại liên M60 ra nổ cho nó sợ chơi. Còn thấy ai tài giỏi hơn mình thì ngậm ống đu đủ phóng xuống sông, chém vè mất tiêu..

Thứ Bảy vừa rồi, trưa quánh một giấc quá xá, giựt mình thức dậy là bóng đã xế tà. Rồi nghe bên nhà anh Giáo hình như có tiếng ồn ào như gây lộn, chén bát kêu loảng xoảng. Tò mò dỏng cái lỗ tai để lắng nghe! Gì vậy ta?

Thì: “Thế gian tình là gì?” Rồi tiếng khóc thút thít của người con gái: “Thiếp đang mang trong mình cốt nhục của chàng!”.

Trời đất ơi! Té ra thấy đạo mạo như vậy mà ông thần nầy không nên nết; dám dụ dỗ gái tơ làm cho con người ta có bầu bì như vậy... Rồi sau đó có tiếng ạch đụi! "Ngươi đã tuyệt tình, cũng đừng trách ta bất nghĩa! Ngày này năm sau sẽ là ngày giỗ của ngươi”.

Trời đất ơi! Họ tính giết nhau đây! Sợ án mạng, sợ có người chết sẽ thành ma ở sát phòng mình nên người viết đập cửa, tính nhào vô can gián, chuyện đâu còn có đó... trước khi quá muộn!

Cửa mở ra! “A! Anh vào... vào đi!” Bước vào phòng khách, tiếng nói từ chiếc ti- vi vọng ra: “Nghe danh các hạ đã lâu, nay mới có dịp diện kiến!”

Trái với những điều tưởng tượng như tưởng voi của tui, té ra là ảnh đang xem phim cổ trang Hàn quốc có chuyển âm tiếng Việt. Ảnh không ngồi xem một mình mà có một ông Úc, tên Johnny, cũng trạc tuổi ảnh, chăm chú ngồi xem. Giới thiệu hai bên xong xuôi, ảnh xin phép xách xe chạy đi chợ mua ít mồi về lai rai nhân dịp có tới hai người bạn đến chơi cùng một lúc!

Thưa quý độc giả thân mến!

Nhậu mà bạn hiền đòi để tự ên mình đi mua bia và mua mồi thì người viết không bao giờ dám phản đối hết trơn!

Tiệc nhậu vui hết biết luôn. Johnny là dân có học, trí thức, hài hước nhưng không màu mè ra vẻ ta đây... Ổng ráng nói tiếng Anh chầm chậm để mình theo. Còn cái gì mình không hiểu ‘what? what?’ thì anh giáo hàng xóm nầy nhảy vô phụ đề Việt Ngữ. Ba đứa tán láo sôi nổi về tình bạn mà Tây gọi là ‘friendship’! Johnny định nghĩa như thế nầy: “Tình bạn như cái nịt ngực, ở gần trái tim và luôn sẵn sàng nâng lên khi của bạn bị xệ xuống!” “Ê! Cái nầy là dành cho hai người bạn nhưng khác phái nha. Một trai một gái chớ phải không?”

Johnny gật đầu: “Anh quả là thông minh! Đúng vậy!” Bạn cùng phái với nhau ở Úc cũng có hà rầm nhưng đi chơi ngoài đường đừng có nắm tay nhau, như mấy thằng Ấn Độ hay làm. Úc thấy, nó sẽ nghi ngờ giới tính tình dục của đôi ta?!

Thưa quý độc giả thân mến!

Người viết xin khoe là một người rất tò mò và ham học... hỏi. Nhân có bạn Johnny ở đây; bèn làm một cuộc phỏng vấn nho nhỏ: “Tui nghe Úc hay nói: “Lady First!” mà không hiểu nó nghĩa làm sao?” Thì Johnny cắt nghĩa rằng: “Mấy thằng Úc nầy cái gì cũng ‘Lady First!’ Ra vẻ ta đây là dân tộc văn minh, tôn trọng người phụ nữ; nhưng sự thực không phải vậy đâu! Đứng xếp hàng vô quán nhậu bao giờ nó cũng để cho em đứng trước mặt. Bồ biết chi hông? Để nó nhìn cái ‘mông’ em cho đã đó mà! Chớ lịch sự cái gì!”

Chu choa! Trộm nghe có người hay tự hào là người Tràng An, thanh lịch thủ đô Hà Nội, ngàn năm văn hiến! Hay là cố đô Huế, sông Hương núi Ngự mà tay Úc, Kangaroo nầy, lại thuộc băng tần khác, không tự hào mà dám tự trào quê mình chớ!

Johnny còn kể thêm một câu chuyện về tình bạn của Úc như vầy: “Con gấu tiến tới hai người bạn đang cắm trại trong rừng. Johnny tuột giày, tụt vớ. Tony hỏi làm gì vậy mầy đâu có chạy nhanh hơn con gấu? Đâu cần chạy nhanh hơn con gấu chỉ cần chạy nhanh hơn bồ mà thôi! Hi hi!” Tình bạn lựu đạn như vậy đó!

“Người Việt tụi tui không hề bỏ bạn như vậy đâu; từng cắt máu ăn thề mà. Không bao giờ để người bạn thân nhứt của mình làm chuyện gì ngu ngốc một mình hết trơn: Bạn khóc! Tôi khóc! Bạn cười! Tui cười! Bạn nhảy cầu tự vận... tui sẽ nhớ bạn biết bao nhiêu!” Ngu sao mà nhảy theo nó chớ?!

“Bạn đang vui hãy gọi cho tui. Bạn đang buồn hãy gởi tin nhắn cho tui. Nhưng lúc bạn đang cần tiền thì hãy nhớ số điện thoại nầy không còn hiện hữu nữa nha!”

Bạn của Johnny tên Tony cũng vui! Có lần đi pub nhậu, nó phải ra ngoài hút thuốc một chút rồi trở vô nhậu tiếp. Cẩn thận, Tony viết một hàng chữ, lót dưới ly rượu đang uống dở dang của mình: “Tao đã phun nước miếng vào ly rượu nầy rồi!” Khi nó trở vào, thì có câu y hệt của ai đó. “Tao cũng vậy!”

Rồi chủ quán rượu khóa cửa về nhà lúc 2 giờ khuya, đi ngủ. Mới leo lên giường nằm thì chuông điện thoại reo inh ỏi. Phía bên kia đầu dây hỏi: “Ngày mai mấy giờ quán ông mở cửa?” Làm việc cả ngày mệt mỏi, ông dằn mạnh cái điện thoại xuống, không thèm trả lời. “Thiệt là cái thằng khùng!” Vài phút sau điện thoại lại kêu inh ỏi cũng cái thằng cà chớn hồi nãy: “Ngày mai mấy giờ quán ông mở cửa?” “Nè cái thằng hâm hâm kia! Khuya lơ khuya lắc mà mầy cứ gọi hỏi ngày mai mấy giờ quán tao mở cửa hoài! Tao sẽ không cho một tay tửng tửng như nhà ngươi bước vô quán của ta đâu.” “Ông chủ ơi! Tui đâu có muốn bước vô... Tui chỉ muốn bước ra thôi!”

Một hôm hai đứa rủ nhau đi săn, về nhà, nó nói với con vợ nó rằng: “Tháng nầy khỏi mua thịt ăn!” Con vợ tưởng bở, hỏi:“Anh bắn được con nai hả?” “Đâu bắn được con nào, nản quá... anh ghé quán, nhậu... sạch bách hết tiền chợ tháng nầy rồi!”

Rồi tuần rồi tui gọi điện thoại mà không gặp, gặp con vợ nó! “Nè! bạn Johnny của tui gọi có chuyện gì vậy?” “Ảnh nhờ em nói lại với anh rằng ngày mai không có đi săn nai. Tại sao không? Vì quán rượu đóng cửa để tân trang lại!”

Khi quán rượu mở cửa lại, Tony quày quả lại gặp bạn hiền bấy lâu bóng chim tăm cá, gọi một ly whisky. Uống xong, lại giở bóp ra nhìn, rồi kêu một ly whisky nữa. Rồi lại giở bóp ra nhìn. Hết ly thứ ba trình tự cũng diễn ra y như vậy. Người bồi bàn tò mò hỏi: “Mỗi lần xong một ly, ông lại giở bóp ra nhìn. Đã 3 ly rồi! Dám tò mò hỏi ông trong bóp có gì bộ ông sợ không có đủ tiền trả hả?” “Tiền, tui có thiếu gì. Chẳng qua là trong bóp có hình con vợ tui! Lúc tui giở ra nhìn mà thấy em yêu chuyển thành em xinh đẹp... là đủ ‘đô’ rồi... tui sẽ đi về nhà!”

Thưa quý độc giả thân mến!

Người viết xin trân trọng kết luận: Johnny và Tony là hai thằng Úc rất thông minh, là bạn của người viết thời lưu lạc. Lâu lắm, gần 20 năm quê người, mình may mắn lắm mới gặp được nhau!

Bữa tiệc là một bài học Anh Ngữ rất đáng đồng tiền bát gạo mà mình không phải tốn cắc nào. Nên trước khi ra về, người viết nói với anh giáo rằng “Lúc nào Johnny có ghé nhậu nữa anh nhớ kêu tui ví nhe anh!”

Edited by moderator Wednesday, September 7, 2016 5:36:13 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#11 Posted : Monday, October 27, 2014 6:09:42 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
CHUYỆN THÀNH “HỒ”



(HNPĐ) Tháng tám trong một câu chuyện nói về Saigon xưa, mỗ tôi có nói đến chuyện nhà nước xã nghĩa đã đi đến cái quyết định là đập cái Thương Xá TAX, lý do chúng đập như chúng nói là để xây dựng cái mới cần thiết cho người dân (metro), đồng thời xây dựng một Saigon xứng đáng mang tên “bác”. Thời đại @, sự bùng nổ thông tin như sức nóng và ánh sáng đang làm tan đi những âm u sương khói, bọc quanh thánh bác, mọi người nay đều biết bác từ thành phố này ra đi là kíu đói cho chính bác, và đã bị dựng thành chuyện tìm đường kíu cuốc, vậy thì có gì để gọi là xứng với không?.

Hôm đó nghe nói chúng sẽ làm, nay thấy chúng ra tay!. Bác của chúng vĩ đại đến mức cứ phải xây thêm cao ốc để thành Hồ được ngon lành như bác? Chi cho tốn tiền thuế thằng dân, bộ quên rằng dân nghèo cơm không có ăn, cầm cố sổ đỏ đi lao nô xứ người bán sức, bán thân (như bác khi xưa), một cái Bến Nhà Rồng làm “làng bảo tồn” di tích không đủ sao? Muốn thêm nữa ư? Không tốn kém là bao, mỗ tôi để nghị ngay chỗ Cột Cờ Thủ Ngữ ta làm bệ cho bác đứng trên đó, tay xách bị gậy nhìn xuống giòng nước con sông Saigon, vừa làm biểu tượng nhớ bác và cũng là cho người dân xã nghĩa hôm nay. Xin lỗi đụng tới bác (thằng bần) là mỗ tôi lại đi lạc đề.

Trở lại chuyện cái thương xá TAX – Nhớ lại thời “đổi mới hay chết” cuối thập niên 80, mỗ tôi đi tù về rồi, thấy rõ các ông cắt mạng sáng suốt, các ông đã không chết mà lại mập ú, riêng tại Sàigòn mấy cái chợ Bến Thành, An Đông, Bình Tây được đưa vào tân trang cho dân buôn bán. Mấy cái chợ này sau khi phỏng giái, vì cùng chính sách chung bao cấp, Saigon phải giống Hà Lội, nay cho xả cảng các quan dậm vá, sơn phết, chia lại lô, sạp… Chuyến đó lời khẳm, giới tiểu thương mấy chợ này khen ông cắt mạng người rừng rú mà làm tiền thiệt giỏi, cũng mánh cũ nay là năm 2014, bên nhà các quan đang đòi tân trang chợ Tân Bình để kiếm ăn.

-Vậy tại sao không xây chổ khác, mà đập đi cái thương xá TAX? Có người lại nói là vì nó là tàn tích của thực dân Pháp, sai tuốt luốc chỉ vì tiền thôi! Than ôi, thời hậu phỏng bao lần cái thương xá này bầm dập, nó bị giải thể, nghề buôn bán là chỉ độc quyền của nhà nước, những ai kinh doanh trong thương xá cuốn gói đi kinh tế mới, và TAX trở thành cửa hành quốc doanh, cửa hàng phục vụ thiếu nhi thành Hồ bán đồ chơi con nít làm bằng nhôm nhựa. Cuối cùng cái tên cắt mạng đặt cho nó là cửa hàng bách hóa tổng hợp thành Hồ do nhà nước quản lý, nhưng dân Sai gòn không là dân Hà Lội, mà cái cửa hàng nhà nước này sống dở chết dở.

Trước khi chết, cái tên thương xá TAX đến mãi cuối thế kỷ trước (1998) mới được trả lại cho nó, nhưng nó chết trong đau đớn vì những con người vừa dốt lại vừa tham, để kiếm ăn mà các quan cắt mạng nhiều lần đè nó xuống làm thịt. Chúng đắp chổ này, vá chổ kia gọi là nâng cấp chỉnh trang, chúng khoác cho công trình kiến trúc đầy nghệ thuật này với bộ cánh diêm dúa rẽ tiền. Số phận TAX thật tội, nay quan xã nghĩa gặp món bở chúng nhân danh là kẻ đi xây dựng cái mới, mà thẳng tay đập phá, đầu óc đỉnh cao của chúng không bao giờ hiểu được thế nào là giá trị, nhất là giá trị lịch sử.

Một tòa nhà 40 tầng sẽ thế vào chổ đó, bạn tôi một nhà giáo vẫn còn lại trong nước, sáng 15/10/2014 đi ngang qua khu Lê Lợi đã thấy bị đập mất 1 phần, gọi phôn cho mỗ tôi trong xúc động không kềm được, mà anh gọi đây là việc làm ngu xuẩn của lũ dốt (do tham lam đục khoét). Một Passage EDEN, nay đã đến TAX, chúng vây lưới kẽm, ngăn xe hơi lưu thông, chúng đốn sạch những cây cổ thụ hằng trăm năm tuổi, cứ thế chúng đập phá, những gì chúng đã, đang, và sẽ làm, đều phát xuất từ bới ra để ăn, nên những gì chúng vừa làm xong, do rút ruột cũng là lúc bắt đầu xuống cấp.

Mỗ tôi hỏi anh nghĩ gì về một metro trong tương lai, anh chua chát trả lời đó là lại thêm một tụ điểm lớn về tệ nạn, những nhà văn hóa phường xã (xây hàng loạt có cái cả trăm tỷ) bỏ hoang, những bến xe, những công viên, tất cả về đêm là những tụ điểm xì ke ma túy, đĩ điếm. Ngay tại thành Hồ các công viên cũng không tránh được chuyện này, không ai dám vào, cái to nhất là công viên 23/09 đêm cứ mò đến đó mà xem, đĩ đen, đĩ vàng, đĩ đực, đĩ cái, còn ban ngày vào đó may không đạp nhằm kim chích thì cũng bị dân nghiện dí kim xin tiền.

Còn cái tòa nhà thế chỗ của TAX, nếu không vì có ăn thì cũng chỉ những cái đầu bã đậu mới làm chuyện đó, đem cắm tòa nhà 40 tầng vào giữa những công trình cổ, những tòa nhà như thế ở thành Hồ chúng đã xây loạn lên rồi chứ đâu phải chưa. Cái đẹp của Sài Gòn là ở những công trình cổ, những công trình đó đã cho Saigon một cái hồn, tạo cho nó cái không gian riêng, nay những tòa nhà, mà những con khỉ vùng u minh chúng gọi là tân kỳ, với đủ thứ kiểu dáng vay mượn lai căng, và cái hỗn loạn trong xây dựng đã giết chết Sàigòn, để thay vào đó là một thành Hồ, một quái thai rẻ tiền, diêm dúa, kệch cỡm.

Một hành lang EDEN, không khác cái bách hóa tổng hợp Hà Lội cũng đã bỗng biến đi, để thay vào một thứ lai căng, giả tạo không ai muốn vào! Nhiều quốc gia phát triển, trong khi xây dựng thêm những đô thị hiện đại chung như các nước, thì họ vẫn giữ lại và trân quí những thành phố xưa của riêng họ, nó là điểm đến của du khách. Nghe nói chúng cũng bắt chước dự án của thời Ông Diệm, với một thành phố dân cư bên kia con sông Sàigòn (An Khánh), tại sao không làm? Với gần 700 héc ta không đủ để cho chúng bày trò khỉ sao mà phá sập những công trình giá trị của một Sai gòn xưa?.

Từ chỗ thày thuốc về mỗ tôi ghé thăm ông Tư Bến Nghé, bên tách trà xanh Blao được nghe ông nói về Saigon của ông một thời, với ông nó là một cô gái vừa đẹp người vừa đẹp nết, thành phố Saigon một cô gái đẹp người, dân Saigon là cô gái đẹp nết, hai cái đó đã chiếm lấy lòng người, nên không quá đáng chút nào trước khi dép râu nón cối đạp đất Saigon, nó đã được người ta gọi là hòn ngọc Viễn Đông. Cái ví von Saigon với cô gái của ông nghe rất ngộ, nhưng lại gợi trong lòng mỗ tôi, một thằng vẫn tự cho mình là con người Saigon một tiếc nuối xa xôi, rồi đây tìm đâu lại một Saigon xưa với những con người Saigon đầy bản sắc phóng khoáng, trượng nghĩa.

Ông Tư chợt hỏi mỗ tôi, nghĩ gì chuyện bọn cốt đột bên nhà họp nhau chuyện bảo tồn, khi vào đầu tháng 10/2014 đại diện Tổng Lãnh sự quán Phần Lan, gởi cho chúng có đề xuất một số giải pháp nhằm giúp bảo tồn một phần Thương xá Tax. Bằng cách giữ nguyên trạng “phần sảnh lobby chính, cùng sàn lót gạch mosaic và cầu thang chính của Thương xá Tax” để sau này sẽ được “tích hợp vào phần thiết kế của tòa nhà mới sẽ được xây dựng thay thế”. Còn không thì đề nghị “tháo dỡ, di chuyển, và giữ lại các phần thiết kế sàn khảm mosaic, lan can, tay vịn và các đầu cầu thang chạm trổ của cầu thang, và lobby sảnh chính”.

Không cản được bọn khốn nạn đập phá, người ta (có cả người nước ngoài) xót mà xin nó nương tay, chứ đây là lợi ích nhóm, mà lợi ích nhóm nay nó chi phối cả cái đảng An Nam cộng rồi. Chúng không nghe ai ngoài tiền, nhằm nhò gì một cái thương xá TAX, một trăm cái nó cũng đập, bao nhiêu nhà cao từng xây cả lô cả lốc nào có xài hết, thành Hồ có biết bao cái trung tâm thương mại cũng có khách đâu?. Nay xây trung tâm thương mại 40 chục tầng đào đâu ra người vô mua, chúng thừa biết chuyện đó, nhưng vẫn cứ xây thì ta phải hiểu!.

Bức ảnh minh họa hôm nay là con đường Lê Lợi xưa, đứng nhìn từ thềm tòa nhà hát lớn, hai hàng cây nay không còn nữa, đã bị đốn từ hôm đầu tháng, cuối đường đầu đàng kia là chợ Bến Thành. Cái chợ này trước đây không lâu chúng cũng đã có 2 lần quyết định đập, nhưng gặp phản đối mà chúng ngưng, nói ngưng chứ chúng không nói thôi, với bọn khốn nạn này chẳng có gì là chắc chắn, một khi cần tiền thì mả cha nó cũng đập thôi!.

Việt Nhân (HNPĐ)

Edited by moderator Wednesday, September 7, 2016 5:36:42 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
stormy  
#12 Posted : Tuesday, October 28, 2014 5:02:27 PM(UTC)
stormy

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 383

Thanks: 396 times
Was thanked: 393 time(s) in 209 post(s)
Váy ngắn, váy dài: Một ‘dòng thác cách mạng’ mới của Việt Cộng


(VienDongDaily.Com) Nói tổng quát, “cách mạng” theo nguyên nghĩa là đổi cũ thay mới cho tốt đẹp hơn. “Mạng” bởi chữ “mệnh” (sự sống) mà ra nên còn gọi là “cách mệnh,” tức thay đổi cuộc sống cho khả quan hơn.

Nói tổng quát, “cách mạng” theo nguyên nghĩa là đổi cũ thay mới cho tốt đẹp hơn. “Mạng” bởi chữ “mệnh” (sự sống) mà ra nên còn gọi là “cách mệnh,” tức thay đổi cuộc sống cho khả quan hơn.

Thế nhưng, cộng sản nói chung, từ các chế độ đã ngủm cù tì vào năm 1991, điển hình là khối cộng sản Sô Viết và ở Trung Âu, cho tới một vài chế độ lỗi thời lèo tèo hiện đang còn chờ “chuyến tàu suốt” như Trung Cộng, Cu Ba, Bắc Hàn, cách riêng Việt Cộng, thảy đều rất khoái sử dụng chữ “cách mạng”; việc to nhỏ gì cũng nâng cấp thành “dòng thác.” Thế mới khiếp! Ừ thì muốn “nổ” thì cứ “vô tư” thôi; có điều thực thi dù ít hay nhiều sao cho “chuẩn” với ý nghĩa của từ “cách mạng” thì mới đáng nói, chứ còn cộng sản thì muôn thuở và bất kỳ ở đâu, luôn luôn đi ngược chiều. Dưới các chế độ cộng sản, làm gì có chuyện “đổi cũ thay mới cho tốt đẹp hơn,” càng chẳng bao giờ “cuộc đời được khả quan hơn.”

Hai mốc thời gian 1954 và 1975 ở nước Việt Nam, quả đã quá rõ ràng, trước thời cộng sản và từ thời cộng sản trở đi, cảnh sống của đồng bào đã khác biệt một trời một vực, đang an cư lạc nghiệp thì bị “xuống hàng chó ngựa.” Vậy mà các chế độ cộng sản sống còn, cách riêng Việt Cộng vẫn hô hào “cách mạng.” Bất cứ “sự cố” nào, không kể bé hay bự đã đành mà tốt đẹp đâu, khả quan đâu cũng chẳng thấy, chỉ toàn đem lại những hậu quả đưa dân chúng “xuống hố cả lũ,” ấy thế chế độ Việt Cộng vẫn vỗ ngực tự khoe, “Dòng thác cách mạng” đấy!

Mạn phép nêu chứng minh dưới đây dù đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần đến độ “khổ quá, biết rồi, nói mãi”:

“Sự cố” to như năm 1958, Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đại diện cho toàn thể các bộ mặt của trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) để ký một văn thư - còn gọi là công hàm - để dâng hai hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam cho quan thày Trung Cộng. Lập tức, tất cả các cấp trong “đảng ta” được học tập về “dòng thác cách mạng” này vì tính lịch sử của nó, bởi từ đó Trung Cộng đã chính thức trở thành một thực khách hợp pháp với một “gift card” vốn có giá trị vô thời hạn để bất cứ lúc nào cũng có thể “sực” miễn phí các phần thân thể của Mẹ Việt Nam. Đấy, năm tỏ rõ mười nhé, mấy năm trước đây, bọn Trung Cộng đã nuốt chửng một số “thịt cổ họng” Mẹ Việt Nam mà “các con của Mẹ” vẫn gọi là vùng biên giới ải Nam Quan. Toàn thể lãnh tụ Việt Cộng trong lúc đứng hầu bàn, đều tỏ ra “hồ hởi phấn khởi” để mong được Bắc Kinh cho “tip.” Lại gần đây, “thực khách” Trung Cộng; tay cầm dao, tay cầm đũa dưới dạng giàn khoan HD 981 để đòi “sực” món “hải sản” Mẹ Việt Nam. Người dân Việt trong và ngoài nước đã biểu tình, xuống đường đòi đánh đuổi bọn hành khất Tàu phù này ra khỏi lãnh hải Việt Nam thì “đảng ta” bèn lôi thủ đoạn “ác với dân - hèn với giặc” ra ngăn cản.

“Sự cố” nhỏ - “nhỏ” là nhỏ đối với dân thường, đồng nghĩa với “chuyện nhỏ,” nhưng vẫn vĩ đại đối với chế độ nên “đảng ta” vẫn gọi là “dòng thác” và vì thế cũng mang tính “cách mạng” đã đành mà còn mang tính lịch sử nữa. Vâng, thêm một “dòng thác cách mạng” mới vừa được các “đỉnh cao trí tuệ” Việt Cộng “tự chế.”

Số là bộ Nội Vụ đã thay mặt chế độ Việt Cộng để một lúc đưa ra nhiều “chính sách và đường lối” cho các công chức thực thi nơi công sở; trong số đó nổi bật nhất là sự quyết tâm lẫn phương cách mà chính quyền ra tay “xử đẹp” váy ngắn, váy dài của toàn thể chị em công nhân viên nhà nước. Nói “xử đẹp” ở đây nhằm đề cao sáng kiến về phía chính phủ đồng thời ca ngợi nỗ lực “đáp lời sông núi” từ phe mặc váy.


Hết ‘ngực lép, thân lùn’...

Cũng cách nay khoảng hai năm, bộ Giao Thông - Vận Tải của nhà nước Việt Cộng đã “sáng tác” xong xuôi một đạo luật có tính siêu lịch sử nhằm cấm “vận hành” (lái) xe ô tô và gắn máy đối với những công dân nào, không phân biệt giới tính nhưng dĩ nhiên nghiêng về nữ giới nhiều hơn, ngực lép (dưới 172cm) và toàn thể công dân lùn (1.1m), cũng bất kể giống nào. Thế nhưng vì bị phản đối dữ dội mà “thiểm bộ” đã phài lùi một bước, rút lại dự luật hầu chờ “dịp may hiếm có” khác, thề sẽ cho “tái xuất giang hồ.” Có nhiều động lực khiến người dân bất mãn với nghiêm lệnh cấm cản này, tuy nhiên chính yếu là bởi đa số người dân Việt “chạy ăn từng bữa toát mồ hôi” mà vẫn “đêm đêm vỗ bụng rau bình bịch” nên thiếu dinh dưỡng trầm trọng, thành ra ngày nay thân thể cao lớn thuộc độc quyền của “con ông cháu cha” những đảng viên Việt Cộng và giới tư bản đỏ.

Trong khi đó, dân số “ngực lép” vẫn cao, ở tận “thượng tần kiến trúc.” Thử hỏi mấy ai “tiền rừng bạc biển” mà đi bơm, đi độn cái vòng 1 khiêm nhượng ấy. Không lý vì tình trạng “ngực-bình-nguyên” mà mất quyền di chuyển kiếm ăn thì quả “đau hơn hoạn” nên đành “uống thuốc liều” chống lệnh của nhà nước. Thật phước bẩy mươi đời, bộ Giao Thông - Vận Tải đã chịu nhường bước nên tới ngày nay ở Việt Nam, những bộ “ngực lép” vẫn tiếp tục “chậy đầy đường”!


... Lại đến ‘váy ngắn, váy dài’
Cơn ác mộng “ngực lép - thân lùn” chưa hẳn đã hoàn toàn phai mờ trong ký ức của nhân dân Việt Nam thì nay bỗng lại sắp có đạo luật ấn định kích thước váy phụ nữ. Nói trắng ra, nhà nước sẽ “xử lý” các chị em nào mặc váy ngắn quá “chỉ tiêu.” Chữ “ngắn” trong trường hợp này tức là “cao” đấy. Nói “nhỏ ấy mặc chiếc váy ‘ngắn’ chưa tới đầu gối” vẫn có nghĩa là “cao” gần bằng đầu gối.

Tin trên đây thuộc loại “chính sách và đường lối của đảng và nhà nước,” chẳng thế mà lại được đặt tên là “Văn Hóa Công Sở”; hơn nữa đồng thời được chính Thứ Trưởng bộ Nội Vụ Trần Anh Tuấn đích thân gặp giới truyền thông để “bật mí” trong buổi họp báo vào chiều Thứ Ba, ngày 3 tháng 6, 2014. Trong các cuộc liên hoan hoặc những khi “chén cha chén chú,” Anh Tuấn luôn luôn tỏ ra “chịu chơi,” nghĩa là vui vẻ, hòa đồng, thường xác quyết một cách danh dũng rằng “ai tới đâu, tui tới đó”; thế nhưng khi nói về “váy ngắn, váy dài,” ông đã tỏ ra rất “nghiêm túc” bằng cách mổ xẻ kỹ càng như khi “thày đồ đồ chữ bà đồ.”

Ông tuyên bố một câu hết sức xứng đáng “đồng tiền bát gạo” rằng, “Có những vấn đề tưởng là đơn giản khiến ta có cảm tính lơ tơ mơ, nhưng đâu ngờ khi xét kỹ mới giật bắn mình khám phá ra đó là một thứ văn hóa.”

Sợ thính giả không hiểu cao kiến của mình, Thứ Trưởng Tuấn bèn đưa ra rất nhiều thí dụ cụ thể, chẳng hạn: Trong buổi họp bất cứ ở đâu, tại tổ dân phố hay trong quốc hội, muốn phát biểu ý kiến thì phải đứng lên, không nên vừa ngồi vừa phát biểu cho dù ngồi kiểu nào.

Bắt tay chào hỏi giữa mọi người, chớ bao giờ nắm chặt tay người khác mạnh quá mà lắc qua lắc lại, chỉ vừa vừa thôi kẻo đau người ta, nhất là phải nhè nhẹ chứ đừng bóp tay đàn bà con gái hay các ông già bà lão. Sau lúc đi “tiện” lớn hay “tiện” nhỏ, “hãy rửa tay của bạn.” Xỉa răng nơi công cộng thì làm ơn lấy một tay che miệng lại trong khi tay kia làm công tác. Xưng hô trong quan hệ công tác thì phải ăn nói sao cho hợp lý, với Tổng Bí Thư hay Thủ Tướng thì chớ có quen miệng mà mày, tao như giữa đồng chí với nhau. Trong nhóm bạn thân nối khố với nhau tuy chửi thề thì chấp nhận đuợc nhưng đừng văng tục... Đặc biệt, Thứ Trưởng Nội Vụ còn cho rằng lối xưng hô “chú cháu, bác cháu” nơi công sở là không còn phù hợp, đã cổ lỗ sĩ rồi; theo ông dù già hay trẻ, cấp trên hay hàng dưới, cứ thoải mái “anh anh, em em” cho “tiện và lợi” đồng thời làm cho tinh thần trẻ trung có cơ hội mà “trăm hoa đua nở...”

Cách riêng về lối ăn diện của công nhân viên nhà nước ở văn phòng và nơi sở làm, ông Anh Tuấn không “chỉ đạo” cho phái nam, nhưng chỉ nhấn mạnh vào nữ giới, “Phải biết cách mặc váy, đừng ngắn quá mà cũng chẳng nên quá dài.”

Đáp một câu hỏi của ký giả báo Tiền Phong về kích thước cụ thể “ngắn,” “dài” hầu làm hài lòng phụ nữ, Thứ Truởng Nội Vụ chỉ he hé ra thôi là sự kiện rất tế nhị và phức tạp, tùy từng chị em cao hay thấp, nghĩa là chân cụt hay chân dài, thành ra vấn đề cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng. Ông hứa bộ Nội Vụ nay mai sẽ cho phát hành một cuốn “cẩm nang” về váy ngắn, váy dài, giống các tập sách cầm tay, bìa dày màu đỏ, trong đó in “Tư của Tưởng Mao Trạch Đông” hay “Tư Tưởng Hồ Chí Minh” mà tất cả đảng viên và giới trẻ Tàu và Việt xưa kia đã phải lấy làm gối đầu giường.

Phản ứng của dân chúng

Đối với đảng và nhà nước, các vấn đề gọi là “Văn hóa công sở” quả có mới thật, có tính sáng tạo thật nhưng đối với dân chúng thì nghe đâu... quen quen. Hầu hết các chủ đề mà bộ Nội Vụ đề ra, phần đông dân chúng cũng đã biết tới, bởi đó là những vấn đề văn hóa giáo dục căn bản mà trong một gia đình đàng hoàng tự tách khỏi chiếc dù của chế độ, cha mẹ vẫn dậy dỗ, nhắc nhở con cái mình tuân thủ hầu nên người và làm thăng hoa cuộc sống.
Cuối cùng, nghe đâu nữa là chẳng cứ bộ Nội Vụ mà tất cả cơ quan nhà nước khác cũng sắp sửa tuyển dụng một đội ngũ thật hùng hậu - không phải để đánh lại bọn Trung Cộng xâm lăng nước nhà - nhưng để được huấn luyện hầu trở thành chuyên viên đi đo váy ngắn, váy dài ở các công sở Việt Nam.... (hm)

Hoài Mỹ

Edited by moderator Wednesday, September 7, 2016 5:37:08 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked stormy for this useful post.
phamlang on 10/30/2014(UTC)
phamlang  
#13 Posted : Friday, October 31, 2014 4:09:11 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
”Bờm ơi là bờm !”
Bùi Công Thuấn



1.”Bờm ơi là bờm !”

Có lần, tôi hí hửng đi chợ mua một miếng heo quay về ăn, gọi mừng món mới ngày lĩnh lương. Những tưởng thế nào cũng được người bạn đời khen, “ trời ơi! sao hôm nay anh đảm đang thế!”, và tôi sẽ ưỡn tấm ngực ra đầy tự hào:”Xưa nay anh vẫn đảm đang, ấy chứ lị”. Ai ngờ, nàng cầm miếng thịt lên nhìn và lắc đầu, “bờm ơi làm bờm! đàn ông đàn ang các anh đi chợ là dễ bị lừa lắm. Nó bán được cho anh chỗ này nó vừa mừng lại vừa cười vào mũi cho, bờm ạ!. Tôi ớ người ra, tôi bị nàng gọi là bờm, mà sao là bờm ? Tôi hỏi nàng, sao em bảo anh bờm? Nàng nói, chính câu hỏi của anh đã chỉ ra anh là thằng bờm thứ thiệt rồi chứ còn là sao nữa. “Bờm ơi là bờm! lại còn hỏi”. Tôi là thằng bờm, tôi là thắng bờm? thế nào là bờm ?
Tôi chợt nhớ đến bài ca dao.

Thằng Bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu
Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu
Phú ông xin đổi một xâu cá mè
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim
Bờm rằng Bờm chẳng lấy lim
Phú ông xin đổi con chim đồi mồi
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi
Phú ông xin đổi nắm xôi Bờm cười


Bài ca dao giúp tôi hiểu Bờm là thằng khờ, là thật thà quá đến mức không biết tính toán lợi lộc gì cả. Ba bò chính trâu, ao sâu cá mè, bè gỗ lim không lấy, lại lấy nắm xôi! Vâng bờm là khờ, là quá thật thà, dưới mức trung bình của thói thường tình trong đời sống.

Tôi những tưởng rằng bài ca dao thằng bờm do nhân dân làm ra là để giải thích thuộc tính “bờm” của một loại người chất phác, thật thà, không biết tính toán lợi lộc cho mình. Nhưng khi đọc bài viết của Nguyễn Trọng Bình, Lê Tiến Dũng, Đỗ Minh Tuấn thì các tác giả “giải mã” ý nghĩa bài ca dao không phải là vậy. Nguyễn Trọng bình tổng kết ý kiến người đi trước và đưa ra các lý giải ý nghĩa bài ca dao như sau:

1.” Bài ca dao Thằng Bờm là tiếng cười châm biếm, đả kích những hạng người giàu có nhưng tham lam, ngu dốt và đặc biệt là rất hay khoe khoang, vênh váo, tự đắc, mình là số một trong thiên hạ – một dạng “trọc phú” hay “trưởng giả học làm sang” trong xã hội mà Đông Tây, kim, cổ đều có.

2. Bài ca dao Thằng Bờm phản ánh sự bất công trong xã hội. ..Tiếng cười của thằng Bờm ở cuối bài ca dao là tiếng cười để tác giả dân gian qua đó bộc lộ những khát vọng, những ước mơ chính đáng về một cuộc sống, một xã hội công bằng, dân chủ.

3 Bài ca dao thể hiện một triết lý nhân sinh có ý nghĩa muôn thuở của người xưa đó là: trong cuộc sống không phải anh có tiền, có của là anh muốn gì cũng được, mua gì cũng được, đổi gì cũng được, làm gì cũng được...

4 Bài ca dao Thằng Bờm khẳng định chiều sâu của vẻ đẹp trí tuệ và tư duy dân gian sâu sắc và độc đáo của người xưa: những kẻ mà trong cuộc sống tuy giàu về tiền bạc, của cải nhưng chưa chắc đã “giàu” về trí tuệ, ngược lại những người nghèo khó về tiền bạc nhưng có khi họ rất “giàu” về trí tuệ “(Kiến thức ngày nay, số 740,ngày 01/03/2011

2. Hạn chế của phương pháp phê bình.

Bây giờ thì tôi hoang mang thật sự, không còn biết ý nghĩa thực của bài ca dao là gì. Ý kiến của những nhà nghiên cứu trên có thật là chân lý của vấn đề hay không. Tôi mơ hồ rằng những kiến giải ấy nằm ngoài văn bản bài ca dao, điều này thúc giục tôi bước vào một cuộc truy tìm ý nghĩa khả tín mà nhân dân muốn gửi trong bài ca dao này

Nguyễn Trọng Bình cho rằng Phú Ông là kiểu người như Thạch Sùng, tự hào có mọi thứ, chỉ thiếu cái quạt mo. “Lão trọc phú đã huênh hoang cho rằng nhà ta “cái gì cũng có” nhưng khi thằng Bờm trưng ra “cái quạt mo” thì lão mới tá hỏa. Nếu “Thạch Sùng thiếu mẻ cá kho” thì tên Phú Ông này thiếu cái “cái quạt mo” cũng không có gì là lạ và khó hiểu.”(đd). Tôi đọc đi đọc lại bài ca dao, rõ ràng là trong văn bản bài ca dao trên tuyệt nhiên không có bất cứ một dấu chỉ nào, rằng nội dung cuộc trao đổi của thằng bờm với phú ông giống như cuộc trao đổi trong truyện Thạch Sùng. Tác giả bài viết đã tưởng tượng ra câu chuyện Thạch Sùng ngoài văn bản bài ca dao, hay nói cách khác tác giả đã áp đặt cái nghĩa chủ quan của mình cho văn bản mà bản thân văn bản không hề có. Vì thế, những suy diễn tiếp theo càng lạc xa ngoài văn bản hơn nữa. Ấy là, tác giả kết luận :“Bài ca dao Thằng Bờm là tiếng cười châm biếm, đả kích những hạng người giàu có nhưng tham lam, ngu dốt và đặc biệt là rất hay khoe khoang, vênh váo, tự đắc, mình là số một trong thiên hạ”.


Kết luận rằng :” Bài ca dao Thằng Bờm phản ánh sự bất công trong xã hội, bộc lộ những khát vọng, những ước mơ chính đáng về một cuộc sống, một xã hội công bằng, dân chủ.”nghe như là tác giả đang nói về thằng bờm trong thời đại hôm nay, ước mơ xây dựng một nước Việt Nam XHCN văn minh, tiến bộ, công bằng, dân chủ, và giàu mạnh. Đọc bài ca dao, người đọc đều nhận rõ Bờm đâu có ước mơ gì. Tất cả những gì phú ông hứa đổi đều bị Bờm gạt phăng đi. Bờm đâu có mơ giàu có để công bằng với phú ông. Phú ông cũng không dùng quyền lực để tước đoạt quạt mo của thằng bờm. Trong tương quan xã hội, địa vị Bờm, vẫn ngang hàng với phú ông. Nó vẫn làm chủ tài sản của nó. Phú ông chẳng làm gì được.

Kết luận sau đây có lẽ là một ngẫu hứng lãng mạn không hơn không kém:” Bài ca dao Thằng Bờm khẳng định chiều sâu của vẻ đẹp trí tuệ và tư duy dân gian sâu sắc và độc đáo của người xưa: những kẻ mà trong cuộc sống tuy giàu về tiền bạc, của cải nhưng chưa chắc đã “giàu” về trí tuệ, ngược lại những người nghèo khó về tiền bạc nhưng có khi họ rất “giàu” về trí tuệ”(đd). Hóa ra tác giả ám chỉ thằng bờm là nhân vật trí tuệ, là người giàu có, còn phú ông mới là kẻ ngu dốt, nghèo nàn ! nếu được như vậy thì quả là phúc đức 10 đời cho thằng bờm. Hoan hô Bờm, hoan hô thằng Bờm rất giàu có về trí tuệ !!! (hoan hô người bạn đời đã mắng yêu tôi là Bờm! Hóa ra nàng khen tôi trí tuệ!)

Tôi không tin điều ấy, bởi đã là bờm thì làm gì có trí tuệ! Dân gian không ai gọi Bờm là người tuy nghèo về vật chất mà rất giàu có về trí tuệ cả. Bờm là bờm, là khờ khạo, thậm chí thiểu năng trước những người khôn ngoan.Thế thôi. Vậy do đâu lại có những giải mã như vậy. Tôi nhận ra rằng các tác giả đã áp dụng phương pháp phê bình Marxist và Phản ánh luận của Lê Nin để phân tích bài ca dao. Đọc tác phẩm văn học bằng phương pháp này, người ta luôn tìm xem đâu là cuộc đấu tranh giai cấp được phản ánh trong tác phẩm, tìm xem ý nghĩa xã hội của tác phẩm là gì, và luôn đứng trên lập trường quần chúng, lập trường cách mạng để đánh giá tốt xấu, hay dở. Từ đó người ta gán cho phú ông là giai cấp địa chủ bóc lột muốn cướp đoạt hết thành quả lao động của người nông dân kể cả cái quạt mo là thứ chẳng có giá trị gì; Từ đó suy ra câu chuyện trong bài ca dao là cuộc đấu tranh giai cấp mà nhân dân là kẻ chiến thắng; cũng từ đó nói đến sự “phản ánh sự bất công trong xã hội” và phản ánh khát vọng về một cuộc sống, một xã hội công bằng, dân chủ. Những suy diễn như thế hoàn toàn là áp đặt chủ quan của tác giả, nằm ngoài ý nghĩa của chính văn bản bài ca dao.

3.Đâu là căn cốt của vấn đề ?

Bài ca dao này nói đến phú ông - thằng Bờm, nói đến trâu bò, ao cá, bè gỗ… chắc chắn nó đã ra đời trước khi chủ nghĩa Marx truyền vào Việt Nam. Như thế tác giả dân gian đâu có sáng tác theo quan điểm cách mạng, đâu có xây dựng nhân vật điển hình cho các giai cấp trong xã hội, đâu có miêu tả hoàn cảnh điển hình mà ở đó tập trung mâu thuẫn giai cấp, đâu có mở ra tương lai theo cách nhìn lãng mạn cách mạng. Bờm không đại diện cho một giai cấp nào trong xã hội Việt Nam. Cuộc đổi chác giữa bờm và phú ông không phải là một cuộc đấu tranh giai cấp, nó rất khác với “cảnh mua bán ở nhà Nghị Quế “ trong Tắt Đèn. Người ta không thể tìm thấy bất cứ yêu cầu nào của của chủ nghĩa Hiện Thực Xã Hội Chủ nghĩa trong bài ca dao này. Vì thế, làm gì có chuyện tố cáo giai cấp thống trị bóc lột, làm gì có “ai thắng ai ”. Rõ ràng phương pháp phê bình Marxist không phù hợp để phân tích bài ca dao này, đơn giản phương pháp này chỉ áp dụng cho các tác phẩm viết bằng phương pháp tả thực. Tức là những tác phẩm mà nhà văn hướng về hiện thực để sáng tác, tìm nhân vật, tìm cốt truyện, quan tâm đến những vấn đề xã hội. Nhà văn viết tác phẩm là để lên tiếng nói với hiện thực, để góp phần cải tạo xã hội. Nói như Sóng Hồng :“Dùng bút làm đòn chuyển xoay chế độ/ mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền” hay như Thạch Lam, “văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có , để vừa tố cáo vừa thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác , vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn” . Bút pháp tả thực buộc nhà văn phải tuân thủ những quy luật vận động khách quan của hiện thực.

Bài ca dao Thằng Bờm được viết bằng bút pháp gì?

Tác giả dân gian thuật lại câu chuyện trao đổi giữa phú ông và thằng Bờm. Như vậy bài ca dao là một câu chuyện (phương thức tự sự), nhưng người thuật truyện đã tước bỏ hết không gian, thời gian, tước bỏ những chi tiết về nhân thân của nhân vật. Ta không biết sự việc xảy ra ở đâu, vào lúc nào, mặt mũi, thái độ của nhân vật ra sao. Câu chuyện chỉ còn là lời thoại được thuật gián tiếp :”Bờm rằng bờm chẳng lấy…”. Xem xét thái độ trong cuộc đối thoại của hai nhân vật, ta thấyThái độ của phú ông rất ẩn nhẫn và từ tốn. Tác giả dân gian thuật lại rằng: “Phú ông xin đổi”nhiều lần, có vẻ như nài nỉ. Phú ông không quát nạt, hăm dọa hay tạo bất cứ áp lực trên Bờm. Phú ông xin đổi, đó không phải là thái độ trịch thượng, bất nhân như vợ chồng Nghị Quế khi thương lượng mua ép mua rẻ cái Tý và đàn chó của chị Dậu (Tắt Đèn). Trong thực tế không hề có câu chuyện trao đổi như thế. Chuyện ngã giá, lẽ ra phú ông phải tăng giá để đổi được quạt mo, trái lại ông cứ giảm giá dần dần. Điều này trái với quy luật khách quan của hiện thực. Như vậy ta có thể khẳng định bài ca dao Thằng Bờm không được viết bằng bút pháp hiện thực. Thế nghĩa là ta không thể khai thác ý nghĩ bài ca dao như một câu chuyện có thật trong đời, không thể coi những chi tiết của câu truyện là thật, để từ đó chỉ ra ý nghĩa xã hội của bài ca dao. Tất cả hệ thống truyện chỉ có ý nghĩa biểu trưng như một câu chuyện ngụ ngôn.

Chẳng ai lại tin rằng trong ngụ ngon Trí Khôn Của Ta Đây (1), cọp lại đi đứng nói năng như người, và để bác nông dân trói vào cây mà đập, mà đốt. Chủ đề của truyện Trí Khôn Của Ta Đây thật đơn giản: con người hơn loài vật, làm chủ muôn loài nhờ có trí khôn. Truyện cũng giải thích tại sao trâu không có răng cửa , tại sao trên mình cọp lại có những sọc vằn. Cũng vậy câu chuyển trao đổi giữa phú ông và thằng bờm chứa đựng một bài học nào đó cần khám phá như một ngụ ngôn.

Thông điệp từ bài ca dao Thằng Bờm cũng thật rõ ràng. Trước tiên bài ca dao giải thích thuộc tính “bờm”. “Bờm” là “khờ”, là không biết gì, là ngây thơ trước thực tại. Đơn giản là vậy, như truyện Trí Khôn của Ta Đây giải thích tại sao trâu không có răng cửa, tại sao cọp lại có vằn vện trên thân. Tuy nhiên, cũng cần xem xét vấn đề này là, khi thuật lại câu chuyện trao đổi này, thái độ tình cảm của nhân dân nghiêng về nhân vật nào ? phú ông hay thằng Bờm? Câu trả lời hiển nhiên là, nhân dân dành cho bờm nhiều thiện cảm. Tại sao vậy? bởi Bờm chân thật, thẳng thắn, không thủ đoạn để vụ lợi, không ham mê vật chất, không thấy kẻ giàu có mà xun xoe đeo bám, nhờ vả, không hạ thấp nhân cách trước những kẻ có quyền lực trong xã hội. Những phẩm chất này vốn là những giá trị căn bản của nhân dân ta. Bạn có thể kiểm tra điều này: Nếu về thăm quê, bạn giản dị, chân thực, nghĩa tình, hòa đồng với mọi người, bạn sẽ được mọi người quý mến, trái lại nếu bạn ăn diện, bộ dạng khệnh khạng trưởng giả, thái độ quan cách trịch thượng, chắc chắn sẽ bị xa lánh.

Có một bí mật cần giải mã là thái độ “bờm cười” ở cuối bài ca dao. Có người cho rằng bờm đồng ý đổi lấy xôi cho chắc ăn, vì tính thực dụng nông dân vốn thế. Có nguời cho đó là thái độ minh triết. “dù thằng Bờm cười - đồng ý hay cười - không đồng ý đổi “cái quạt mo” thì trong cuộc đấu trí giữa tên “trọc phú” và anh “dân đen” cuối cùng tên trọc phú cũng thua một cách thật thảm hại và nhục nhã”(đd). Tôi không nghĩ vậy. Thái độ của bờm trước sau chỉ một mực từ chối :”bờm rằng bờm chẳng lấy..” Khi đã quá nhiều lần Bờm nói thẳng ra ý kiến của mình mà phú ông vẫn nài nỉ, thì Bờm không thèm trả lời nữa, mà bày tỏ thái độ bằng một nụ cười. Nụ cười ấy tiếp tục là sự từ chối, là không đối thoại nữa, là sự bày tỏ thái độ khinh miệt vào mặt phú ông, bởi lão đang dùng thủ đoạn. không phải Bờm đồng ý đổi lấy nắm xôi như người người đã giải thích một cách bôi bác tính thực dụng, tính phàm ăn tục uống, thói dĩ thực vi tiên của người nông dân. Bài ca dao kết lửng, ta không rõ thái độ phú ông thế nào sau cái cười của Bờm, có điều chính nụ cười này làm lộ ra rằng Bờm không “bờm” chút nào.

Muốn biết Bờm không “bờm” chút nào , ta hãy xem chiến thuật chiến lược của phú ông trong cuộc thương lượng, và thái độ ứng phó của Bờm. Phú ông liên tiếp đưa ra các đòn nặng cân để hạ knock out “đối thủ”. Phú ông đặt trước mặt Bờm “ba bò chín trân”, “ao sâu cá mà”, “ một bè gỗ lim”. Theo lẽ thường, chẳng đối thủ nào chống đỡ nổi với lòng tham trước những lợi lộc lớn lao như vậy. Ngày xưa người nông dân làm việc cật lực, dành dụm mãi mới có thể mua được hai chân sau con trâu cày, rồi lại làm cận lực và dành dụm nữa mới mua được cả con trân, vậy mà nếu Bờm chỉ cần đồng ý là có ngay “ba bò chín trâu”. Quả là một tài sản hết sức lớn đối với một nông dân nghèo. Nếu bây giờ, bỗng dưng có ai đem một triệu USD đến đổi cái nhà rách của mình, hẳn nhiều người sẽ choáng ngợp không cưỡng lại được. Thí dụ, Ngày 3/5/ 2012, Công an tỉnh Vĩnh Phúc bắt tạm giam ông Lại Hữu Lân, nguyên chủ tịch UBND và Bí Thư Thành Ủy TP Vĩnh yên (Vĩnh Phúc ) về tội nhận quà biếu là một chiếc ô tô Toyota Camry biển số 30T-7703, mà theo thời giá hiện nay là khoảng một tỷ rưỡi đồng VN. Làm sao từ chối lòng tham một món quà như thế? Thế nhưng trước những món lợi lớn như vậy, Bờm đã không bị lòng tham quật ngã. Bờm từ chối dứt khoát, một thái độ thẳng băng, trước sau lập trường không thay đổi, bụng dạ không nao núng, không đắn đo nghĩ suy hơn thiệt. Điệp ngữ “Bờm rằng bờm chẳng lấy” bộc lộ một thái độ lạnh lùng như không của Bờm trước những dụ dỗ vật chất.

Phú ông chuyển sang đổi con chim đồi mồi, nắm xôi . Chiêu gì đây ? là đánh vào cái sở thích của trẻ con, trẻ con vốn thích chim, trẻ thích xôi, bởi nông thôn xưa, xôi là món quý. Phú ông đánh vào lòng tham không được thì đánh vào sở thích. Mấy ai trong cuộc sống lại không có sở thích, nhiều khi đam mê một thứ gì đó. Mê đánh cờ, mê thả diều, chơi chim hoa cá cảnh, hòn non bộ, thích đi du lịch, mê đánh bạc, mê gái, mê nổi tiếng (thói háo danh), mê quyền lực (ngồi bắt ốc vít vào cái ghế quyền lực). Đối phương có thể dùng cái đam mê này mà quật ngã ta. Hãy lấy thí dụ , mới đây (24&25/12/2011), cơ quan CSĐT công an tỉnh Sóc Trăng đã đề nghị truy tố quan chức đánh cờ bạc tỷ là các ông Nguyễn Thanh Lèo, nguyên PGĐ Sở GTVT Sóc Trăng; Trần Văn Tân, nguyên Giám đốc TT Đào tạo lái xe loại 3 và Đinh Văn Mười, nguyên Phó chủ nhiệm UBKT thành ủy Sóc Trăng. Số tiền đặt cược trong mỗi ván cờ từ 500 nghìn đồng rồi tăng lên 5 tỷ đồng. Máu mê cờ bạc đã quật ngã các quan chức. Thế nhưng phú ông đã không quật ngã được Bờm, dù liên tiếp đánh vào sở thích trẻ con của Bờm.

Đến đây thì ngụ ngôn thằng bờm lộ ra thông điệp về giữ gìn nhân cách làm người trong đời. Bao nhiêu kẻ đã thân bại danh liệt vì lòng tham không cùng trước những lợi lộc do hợp đồng, do quà biếu, do hối lộ đem lại, để rồi tự bán thân làm nô lệ. Cũng vậy không biết bao nhiêu người vì “máu mê” mà đánh đổi tất cả. Những thí dụ tôi nêu ở trên đủ làm rõ bài học mà ngụ ngôn thằng Bờm nhắc nhở chúng ta. Thế còn thằng Bờm, nói với chúng ta thông điệp gì? Bờm không chỉ giữ vững nhân cách trước những cám dỗ vật chất, nhưng Bờm còn sáng lên nhiều phẩm tính đẹp khác, Bờm không sợ hãi, không quỵ lụy, trước phú ông (kẻ giàu có, quyền lực), Bờm biết rõ giá trị cái mình có và không đánh mất giá trị đó (cái quạt- có người bảo đó là cuộc sống thanh thảnh nhàn nhã). Bờm có cách ứng xử khôn khéo khi từ chối phú ông bằng nụ cười im lặng. Nụ cười vượt lên tất cả. Có người bảo nụ cười của Bờm là nụ cười của Thiền Sư :” Nụ cười của Bờm quả là nụ cười của thiền sư, vì trở thành câu hỏi cho nhiều người. Hãy thử hình dung vào buổi trưa hè ấy, ngài cầm quạt mo, cử chỉ ung dung tự tại, an lạc...”,” Chẳng thấy đức Phật, các vị cao tăng đắc đạo, nét mặt luôn hoan hỉ, lúc nào cũng cười đó sao? (2). Xin thưa rằng, bài ca dao không thể hiện tư tưởng Thiền, không viết bằng thi pháp Thiền mà đặc trưng là vô ngôn, vì thế không thể áp đặt nụ cười của Bờm là nụ cười Thiền được.(Xin cứ so sánh với thơ Thiền Lý-Trần)(3)

Quả là thú vị. Bài ca dao thằng Bờm gợi mở ra nhiều điều cho bạn đọc. Đó là sự giao thoa về thi pháp giữa kiểu truyện hiện thực và kiểu ngụ ngôn, có những điều nghịch lý trong truyện so với hiện thực, khiến cho thật khó nắm bắt ý nghĩa đích thực của bài ca dao (phú ông năn nỉ xin đổi một gia tài lớn để lấy cái quạt chẳng có giá trị gì, nghịch lý về sự giảm giá), một kết thúc mở bằng nụ cười đa nghĩa của thằng Bờm (Bờm đồng ý- Bờm từ chối- Bờm Thiền sư…). Bản thân tôi hiểu đơn giản Bờm là “bờm”, và mỗi lần làm việc gì, tôi phải hết sức ý tứ nếu không lại được nghe người bạn đường cười cười bảo “Bờm ơi là bờm!!!”

Ôi! thằng Bờm thật đáng yêu.

Tháng 5.2012

( 1) Trí khôn của ta đây

Bác nông dân hàng ngày dắt trâu đi cày. Con trâu đi trước kéo cái cày thật nặng theo sau. Dù công việc nặng

nhọc nhưng trâu ta vẫn vui vẻ đi làm.

Một hôm, sau buổi cày, bác nông dân đang ngồi nghỉ dưới gốc cây, cho trâu ăn cỏ bên bờ ruộng. Cọp đến hỏi trâu rằng: "Này trâu, sao mày to xác như vậy mà lại để cho một thằng người bé nhỏ xỏ mũi kéo, đánh đập, mà mày cứ chịu lép vế". Trâu trả lời cọp: "Tuy người bé nhỏ, nhưng nó có trí khôn".

Cọp đến chỗ bác nông dân chặn hỏi: "Nghe trâu nói là người tuy bé nhỏ nhưng có trí khôn. Vậy trí khôn đâu, cho ta xem với". Bác nông dân đáp: "Trí khôn tôi để ở nhà". Cọp bảo: "Hãy về nhà lấy trí khôn cho ta xem". Bác nông dân trả lời: "Được chứ... Nhưng e rằng trong lúc tôi vắng mặt, thì ông cọp ăn mất trâu của tôi thì sao?"

Cọp không biết trả lời thế nào. Bác nông dân thấy vậy nói: "Vậy, cọp có bằng lòng cho tôi trói lại đã, rồi tôi về nhà lấy trí khôn cho mà xem?". Cọp ta bằng lòng. Bác nông dân bèn lấy dây thừng, cột cọp thật kỹ vào gốc cây, lấy tay cày đập vào đầu cọp rồi châm lửa đốt. Bác vừa đốt, vừa nói rằng: "Trí khôn của tao đây... Trí khôn của tao đây".

Trâu thấy vậy, nó cười ngã nghiêng, cắm đầu xuống đất, gãy mất hàm răng trên. Lửa cháy làm đứt sợi dây trói, cọp thoát được. Từ đó trên mình cọp có vết vằn, cọp sợ lửa là vậy.

(1) http://rongmotamhon.net/...500&p_id=16&tg=2

(2) Thơ Thiền Lý-Trần

Không Lộ Thiền Sư

言 懷

宅 得 龍 蛇 地 可 居

野 情 終 日 樂 無 餘

有 時 直 上 孤 峰 頂

長 叫 一 聲 寒 態 虛

Ngôn hoài

Trạch đắc long xà địa khả cư
Dã tình chung nhật lạc vô dư
Hữu thì trực thượng cô phong đỉnh
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

Tỏ lòng

Kiểu đất long xà chọn được nơi
Tình quê nào chán suốt ngày vui
Có khi đỉnh núi trèo lên thẳng
Một tiếng kêu vang lạnh cả trời.

(Người dịch: Phan Võ)

Mãn Giác Thiền Sư:

告疾示眾 春 去 百 花 落

春 到 百 花 開

事 逐 眼 前 過

老 從 頭 上 來

莫 謂 春 殘 花 落 盡

庭 前 昨 夜 一 枝 梅

Cáo tật thị chúng

Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.


Có bệnh bảo mọi người

Xuân ruổi trăm hoa rụng
Xuân tới, trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua, sân trước một nhành mai
(Người dịch: Ngô Tất Tố)

Vạn Hạnh Thiền Sư

示弟子 身 如 電 影 有 還 無

萬 木 春 榮 秋 又 枯

任 運 盛 衰 無 怖 畏

盛 衰 如 露 草 頭 鋪


Thị đệ tử

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,
Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô.
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy,
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

Dặn học trò

Thân như bóng chớp, có rồi không,
Cây cối xuân tươi, thu não nùng.
Mặc cho thịnh suy đừng sợ hãi,
Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông.
(Người dịch: Ngô Tất Tố)

Edited by user Friday, October 31, 2014 4:11:26 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#14 Posted : Friday, October 31, 2014 4:40:08 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
BẰNG CẤP HAY BẰNG CẮP?

Thằng Mõ TNB


Mười năm bác đảng trồng cây,
Những rừng danh mộc mỗi ngày hiếm hoi
Trăm năm bác đảng trồng người
Khỉ trình phương án, đười ươi giảng bài.

Mậu Binh Hà Huyền Chi, “Trồng Người”

Theo tin tức báo chí Việt Cộng từ trong nước, ở Việt Nam tính đến cuối năm 2006 có gần 15 ngàn tiến sĩ và hơn 16 ngàn thạc sĩ, tức nhiều hơn Mã Lai và Thái Lan là hai quốc gia láng giềng an hưởng thái bình và nền kinh tế phồn thịnh lâu đời.

Cũng cần nói rõ cái gì của Việt Cộng (VC) cũng khác người, không giống ai hết vì Việt Cộng là… Việt Cộng. Cho nên, đọc giả đừng nghe bằng “thạc sĩ” của VC mà hoảng sợ. Nó không phải là bằng thạc sĩ của Pháp (algrégé) như thạc sĩ Vũ Quốc Thúc và thạc sĩ Nguyễn Văn Bông, giáo sư đại học luật khoa Sài-gòn trước 1975. Nó là bằng Cao Học ở trong Nam trước 1975 hay bằng Master của Mỹ, bằng Maitrise của Pháp hiện nay, nhưng phẩm chất và giá trị của nó có thể tóm tắt bằng bốn chữ, “bằng cấp Việt Cộng,” hay “bằng cắp Việt Cộng” Người viết sẽ giải thích tại sao có hai chữ “bằng cắp” thay vì “bằng cấp.”

Thật sự không ai biết rõ trước khi đoàn quân viễn chinh cộng sản Bắc Việt vào tận Sàigòn, bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã in và cấp phát bao nhiêu bằng cấp trên bậc đại học, phó tiến sĩ và tiến sĩ. Đây là một “bí mật quốc gia,” trừ bộ chánh trị không ai được quyền biết. Nhưng người viết tin chắc… không nhiều lắm. Trong mấy năm đầu tíếp thâu và điều hành các trường đại học thuộc Viện Đại Học Sàigòn, Cần Thơ, Huế, người ta chỉ thấy le que mấy ông xưng phó tiến sĩ XHCN tốt nghiệp ở Liên Sô và các quốc gia Đông Âu Cộng sản, và một đội ngũ giáo viên dạy đại học chi viện từ Bắc vô mà trình độ không quá bốn năm học đại ở Hà Nội!

Vì không có bằng cấp đúng tiêu chuẩn nên người dạy ở đại học “khiêm nhường” xưng và được gọi là giáo viên thay vì giáo sư như trong Nam trước 1975. Quan chức nhà nước không ai dám khoe bằng như hiện nay vì “trình độ văn hóa” nhiều lắm là ngang với các đồng chí lãnh đạo đảng như Lê Duẫn, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng… “đọc một trang diễn văn đánh máy hai lần mà không biết” (lời cụ Nguyễn Văn Trấn trong “Viết Cho Mẹ và Quốc Hội”). Nhờ đó mà các phụ khảo, giảng viên có bằng master Mỹ còn kẹt lại ở các trường đại học trong Nam trở nên trân châu bảo ngọc của chế độ, nhất là kể từ khi đảng chủ trương đổi mới mà không đổi màu, tức làm kinh tế thị trường (tư bản) theo định hướng xã hội chủ nghĩa (cộng sản), một loại ốc mượn vỏ để sinh tồn.


BẰNG CẤP HAY BẰNG CẮP?


Thế gian biến đổi vũng nên đồi…

Trước tháng 4-1975, xã hội miền Nam như một gia đình nề nếp, gia phong từ lâu đời, ai cũng biết tiếng, nghe danh nên không cần phải khoe bằng cấp, chức tước hay tiền của. Hiện tượng… chó nhảy bàn độc thật họa hiếm. Người học hành đỗ đạt không có nhu cầu phải khoe, lòe thiên hạ, trừ một trường hợp duy nhất, ông tiến sĩ Nguyễn Văn H. Giới khoa bảng đại học ở Sàigòn gọi ông là “tiến sĩ hão!” Đi đâu hay làm gì, ông cũng thích khoe cái bằng “tiến sĩ hão” của mình ra. Ông nhờ chuyên viên ngân hàng Phát Triển Nông Nghiệp và Quỹ Phát Triển viết bài để ông đăng báo với tên “Tiến Sĩ Nguyễn Văn H.” Thiên hạ đồn rằng… ông tiến sĩ thi rớt tú tài Tây, không vào đại học Tây được nên sang Thụy Sĩ học đại học và mò lên đậu tiến sĩ kinh tế học. Năm 1970 nhờ một “thủ tục quanh co” ông được nhận làm giáo sư HVQGHC làm ban giảng huấn trường nầy… té ngửa. Rồi ông cũng dạy môn kinh tế học như ai, nhưng sinh viên chẳng hiểu ông nói gì nên ông phải chạy đi làm tổng đốc Quỹ Phát Triển.

Dẫu sao thì ông cũng có đi học thiệt (khác với “học giả” hiện nay), bằng thiệt, có đến trường, đến lớp… Còn ông soạn luận án cách nào là điều bí mật, không ai biết. Trình độ văn hóa của ông đáng được thạc sĩ, tiến sĩ VC tôn làm sư phụ. Điều này không thể chối cãi. Nội cái chuyện ông phao tin để đánh lừa mà con cháu của “bậc thầy trí trá” tin nghe cũng đáng bậc “siêu sư phụ” của VC rồi: ông phao tin là ông có công giữ 16 tấn vàng cho chánh phủ cộng sản, không để cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lấy đi. Hồ Chí Minh mà sống cùng thời với ông tiến sĩ chắc phải bắt chước Châu Do ngửa mặt lên trời mà than: thiên sinh Thành, hà sinh Hão! Thời Tổng Thống Clinton, nhiệm kỳ 1, chính “tiến sĩ hão” đã đại diện cho CSVG đi “lịch sự” với bộ trưởng thương mãi Hoa Kỳ Ronald Harmon Brown để xin bãi bõ lệnh cấm vận.


Bây giờ trở lại vấn đề: bằng cấp hay bằng cắp XHCN?

Theo từ nguyên, bằng là bằng cớ, bằng chứng, cái gì đó để làm bằng, làm chứng việc đã xảy ra, như nhân viên cảnh sát lập vi bằng một tai nạn. Cấp là thứ bậc, trình độ như sĩ quan cấp cao, nhân viên cấp dưới. Vậy bằng cấp là giấy chứng nhận trình độ học thức của một người ở một cấp nào đó: tiểu học, trung học, cử nhân, cao học/ thạc sĩ, tiến sĩ. Giấy chứng nhận này là thành quả của công khó nhọc mài (mòn) quần trên ghế nhà trường, dù thông minh cũng phải thức khuya, dậy sớm chăm lo việc đèn sách.

Còn bằng cắp ai cũng biết, không cần phải giải thích dài dòng. Cắp là một hành động lén lút, lấy của người hay của chung làm của mình. Nếu công khai thì không còn là cắp nữa mà là cướp. Người không đi học, không đến trường, không đi thi mà có bằng thì đó đúng là “bằng cắp” rồi. Học lực bổ túc văn hóa lớp 5, viết một câu tiếng Việt không thông mà có bằng cử nhân, thạc sĩ, hay tiến sĩ thì đúng là đoạt… bằng cắp, dù có dấu ấn hay triện son của “bộ giáo dục và in bằng cắp” nhà nước XHCN ta.

Thử lấy một trường hợp cụ thể bằng cắp hiện nay ở quê hương… toàn chùm khế ngọt: Ông Lâm Xiếu, giám đốc Sở Bưu Điện An Giang hiện nay. Ông là một đảng viên công thần, xuất thân từ du kích xã. Học chưa hết lớp 5 trường làng, ông theo làm du kích VC. Cách mạng thành công, ông được thưởng công theo học lớp bổ túc văn hóa. Năm nào cũng thi đậu lên lớp dù ít khi đến lớp. Ông được kết nạp vào đảng, làm phó giám đốc, rồi giám đốc Sở Bưu Điện. Trong ba năm liên tiếp, ông đậu ba bằng cắp: cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Năm 2006, báo chí (VC) phanh phui trường hợp “bằng cắp” của ông. Ông trả lời tỉnh khô, thật trơn tru, đúng bài bản XHCN: ông không dè ông có nhiều bằng cắp như vậy. Có vài nhân viên thấy ông ăn ở hiền lành, lãnh đạo tốt nên tự động đi thi dùm mà không cho ông biết. Đến bây giờ, nhờ báo chí nói ông mới biết. Rồi nhà nước vẫn để ông yên lành làm… “dám đốc!” Nếu bắt tội ông thì phải cách chức 99 phần trăm giám đốc hiện nay, lấy ai làm “đầy tớ nhân dân?” Nhân dân mà thiếu loại đầy tớ nầy thì lấy ai phục vụ? Đất nước sẽ ra sao? Hơn nữa, ông đâu có tội gì ngoại trừ tội… không hiếu học mà thích bằng cắp! Nguyễn Tấn Dũng cũng xuất thân từ du kích như ông, có học luật ngày nào đâu mà cũng ghi là đậu cử nhân luật và làm thái thú đại diện thiên quốc?

Đó là những con số “bằng cắp thật” do “bộ giáo dục và in bằng cắp” phát ra cho các quan chức giám đốc nhà nước: bằng cắp thật, cấp cho người thật, chỉ có kiến thức là giả thôi. Còn loại bằng giả người thật, bằng thật người giả, hay loại bằng thuê mướn để “tạm dùng” một thời gian (như thuê mướn áo cưới cô dâu, chú rể) thì như lá cây rừng, nước đại dương…, nhiều hơn bằng cắp của Wal*Mart, Viện Đại Học Nhân Dân lớn nhứt thế giới, bán ra.

Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh, xã hội Việt Nam ngày nay quý chuộng bằng cấp và bằng cắp hơn bất cứ dân tộc nào khác trên thế giới. Khi đăng tên ông giám đốc thì báo chí, cơ quan truyền thông nhà nước luôn luôn phải ghi thêm bằng cấp thạc sĩ, tiến sĩ… như tiến sĩ giám đốc Lê Văn Đực, thạc sĩ giám đốc Nguyễn Văn Mít. Còn giáo sư thì phải có ”học vị” tiến sĩ đi kèm như giáo sư tiến sĩ Phạm Văn Rớt để phân biệt với… giáo sư Lý Chánh Trung hay loại giáo sư chỉ có học hàm mà không có học vị tiến sĩ. Mục đích là để cho thế giới tư bản không dám nghĩ lãnh tụ đảng và nhà nước ta thuộc loại mít đặc. Phóng viên, ký giả nào viết bài đăng báo -- tất cả phóng viên, ký giả đều là quốc doanh, ăn lương nhà nước và viết bài cho 700 tờ báo đảng -- mà quên chi tiết “bằng cắp” là chưa làm tròn thiên chức nhà báo (đời) XHCN; có thể bị kỷ luật vì làm giảm “chất lượng” các đầy tớ của nhân dân anh hùng ta!

HỌC VỊ

Xin mở ngoặc để nói về hai chữ “học vị”. Học vị nghĩa là bằng cấp. Thế thôi. “Bằng cấp” là chữ Việt. “Học vị” là tiếng Tàu phát âm Việt theo chủ trương “Việt Trung muôn năm hữu nghị” của bác và đảng! Trước 1975, trong Nam không ai dùng chữ học vị vì nó chứng tỏ tinh thần nô lệ trong cách dùng chữ. Mình có chữ mà không dùng, phải dùng từ Hán Việt để chứng tỏ là đỉnh cao trí tuệ. Mấy ông trí thức khoa bảng miền Bắc XHCN muốn chứng tỏ mình khác người, dùng chữ “học vị” thay bằng cấp cho oai hơn. Trước đây từ “học vị” chỉ dùng cho bằng cấp phó tiến sĩ và tiến sĩ thôi. Bây giờ thời đại đổi mới, mở cửa, dùng thêm cho thạc sĩ và cử nhân. Không ai nói bác Hồ có “học vị tiểu học sơ cấp” (lớp ba trường làng) dù đó là sự thật, trừ phi muốn mất chỗ đội nón.

Cho nên cái (mắc) dịch hiện nay ở xã hội Việt Nam là dịch bằng cấp và dịch bằng cắp. Nó nguy hiểm hơn dịch cúm gà. Nó giết mòn lòng tự trọng của cả dân tộc. Người ta tìm mọi cơ hội để trưng bằng cấp và bằng cắp, thiệt giả khó phân biệt. Có khi hàng giả trông lại bén mắt hơn hàng thiệt. Có “học vị” chẳng liên hệ gì đến công việc đang làm nhưng vẫn được trưng khoe ra:


•Thạc sĩ Lê Văn Khiên, Giám đốc Nhà Táng Ba Đình, Hà Nội

•Tiến sĩ Trần Văn Sai, chuyên đoán (mò) tương lai, tình duyên, gia đạo, làm ăn, lập gia đình, đầu tư, móc ngoặc, vượt biên…

•Cử nhân Đặng Thị Giả, chuyên viên tiếp thị, cung cấp hàng dỏm cho các chợ trời từ Nam ra Bắc…

•Phó Giáo sư Phó Tiến sĩ Vũ Văn Chơm, Giám đốc Hãng Xe Hàng Quá Tải chạy suốt…

Ngày xưa thì phú quý sinh lễ nghĩa. Nhưng lễ nghĩa đã bị chế độ XHCN và phương cách trồng người của bác Hồ đập phá tan hoang nên không còn mấy ai muốn “sinh lễ nghĩa” cả. Ngày nay đảng viên cán bộ cao cấp đã trở thành đại gia đỏ. Để vượt thoát mặc cảm bần nông thất học, lái heo thiến lợn, phu cạo mủ đồn điền cao su…, các đại gia đỏ ngày nay chơi trò “bằng cắp” như phú ông dốt đặc chơi cây kiểng. Chơi mà không biết trồng, không biết chăm sóc, không biết lịch sử của từng loại cây, ngay cả không cần biết tên cây kiểng. Do đó, giáo dục trở thành buôn chữ, bán bằng; bằng cấp biến thành bằng cắp!

Descartes, nhà toán học kiêm triết gia Phú-Lang-Sa trước đây, đã bạo phổi tuyên bố: “Tôi suy nghĩ, vậy tôi hiện hữu.” Câu này không còn hợp với trào lưu duy vật biện chứng pháp đang lộng hành ở đất nước ta. Suy nghĩ làm cho con người nhức đầu, nhức óc, đâu còn sáng suốt làm việc trị nước. Phụ nữ suy nghĩ nhiều quá thì trán nhăn, má lõm, tốn thêm tiền tân trang da mặt. Phải có cái gì cụ thể hơn để chứng minh sự hiện diện của mình và của người khác. Còn gì rõ rệt hơn mảnh bằng dán trên trán? Bằng cấp hay bằng cắp không thành vấn đề, ai có thời giờ “suy nghĩ” để biết thiệt hay giả? Tôi có bằng cấp/bằng cắp, càng to càng có thể. Vậy thì tôi có, tôi hiện hữu. Và ai muốn hiện hữu… như tôi thì phải biết, phải công nhận là… tôi có bằng cấp. Giản đơn như vậy!

Riêng có ba ngành “công an tra tấn,” “giải tán biểu tình,” và “khủng bố phá hoại” thì đảng ta vô địch, gồm nhiều nhân tài đỉnh cao trí tuệ, cả thế giới đều biết tiếng. Bộ Giáo Dục và bộ Công An nên phối hợp để lập học vị thạc sĩ và tiến sĩ ba ngành này cho các quốc gia như Miến Điện, Zimbabwe, Sudan, Somalia, Venezuela… gởi người đến học và tu nghiệp. Chắc chắn sẽ thu được nhiều ngoại tệ, đi buôn một vốn bốn lời!

Nếu nhân tài của chế độ CHXHCNVN mà có khả năng thì chỉ cần ¼ số thạc sĩ và tiến sĩ hiện có cũng đủ làm cho nước giàu dân mạnh. Rất tiếc!

Năm 2007, nhà nước cộng sản qua Bộ Giáo Dục và Đào Tạo lên kế hoạch “trồng người” khác: Từ nay đến 2020, tức 12 năm nữa, sẽ đào tạo thêm 20,000 tiến sĩ. Xin viết lại bằng chữ “hai chục ngàn tiến sĩ” để độc giả không nghĩ là người viết ghi thừa hai con số không. Hai chục ngàn, không phải 200 hay 2000! 10.000 tiến sĩ đào tạo trong nước và 10.000 tiến sĩ đào tạo ở các nước Tây Phương, đặc biệt là Hoa Kỳ. Nghĩ tới cảnh 10.000 tiến sĩ bằng cấp ngoại quốc về nước làm việc dưới sự lãnh đạo của các tiến sĩ “bằng cắp XHCN”…thật kinh hoàng, như trường hợp thạc sĩ Trần Đức Thảo, giáo sư đại học từ Pháp về chiến khu Việt Bắc năm 1950, phục vụ dưới quyền các đảng viên cán cuốc, cán mai. Rồi đâu cũng vào đó hết!

Nhà nước ta “trồng người” như nuôi gà nuôi lợn, nuôi trâu bò công nghiệp! Cứ nuôi ăn đủ tháng, đủ năm, đủ ký thì cho vào lò sát sinh lấy thịt. Đảng và nhà nước quen sử dụng thi nô, nhạc nô, nghệ nô, giáo nô theo đơn đặt hàng nên không thể nào hiểu ý nghĩa của sáng tạo và nghệ thuật. Học lên cấp tiến sĩ là phải có óc sáng tạo và sự sáng tạo không thể ấn định thời gian khi nào có, khi nào thành, và không phải ai cũng có thể nghĩ ra cái mới. Có người chỉ học tới cấp cử nhân hay cao học và dừng lại mà không thể đi xa hơn, trừ phi “đoạt lấy” bằng cắp tiến sĩ XHCNVN!

Anh thiến lợn dạo không thể lên kế hoạch mỗi tháng thiến bao nhiêu con heo vì còn phải tùy thuộc vào số heo nuôi và chủ heo có muốn thiến hay không. Ông bác sĩ không thể lập phương án mỗi tháng phải chữa lành bao nhiêu bệnh nhân vì không biết rõ bao nhiêu bệnh nhân đến khám, khám xong có tiền mua thuốc uống không và tình trạng sức khỏe hiện tại. Đảng có thể định mỗi tháng bắt bỏ tù bao nhiêu người vô tội, thả bao nhiêu người vô tội, cướp bao nhiêu mẫu đất của dân… vì những vấn đề này thuộc quyền sinh sát trong tay của đảng. Nhưng vấn đế chất xám và trồng người không phải là chuyên môn của bác, của đảng! Tội nghiệp quá! Thiên hạ chỉ có bốn bồ ngu, sao lại dành trọn hết?

Để có thể nghĩ ra cái mới, có óc sáng tạo là cả một quá trình học vấn, được khuyến khích suy nghĩ, tự do suy nghĩ, tìm thấy cái sai trong hiện trạng. Chế độ cộng sản chỉ muốn mọi người “nhứt trí” với đảng, với lãnh tụ đảng dù lãnh tụ là những người ít học, cán mai cán cuốc, chuyên chế về suy tư hơn bất cứ chế độ chính trị nào trong lịch sử loài người, thì làm sao có người dám nghĩ ra cái mới để làm luận án tiến sĩ?

Tìm khắp các quốc gia tiên tiến Tây Phương, các trường đại học danh tiếng, không có nơi nào dám bạo phổi định số người lãnh bằng tiến sĩ hàng năm như định mức trâu bò giết thịt. Các bịnh trầm kha của những người được tôi luyện bằng “tư tưởng HCM” là ở chỗ suy nghĩ tầm bậy tầm bạ mà cứ tưởng mình khôn nhất thiên hạ!

TU SĨ VÀ BẰNG CẤP

Người không đi tu háo danh, gian dối, lấy không làm có… là những việc làm sai trái thường xảy ra. Bởi đó mà người ta gọi cõi đời là thế gian, trần tục. Nhưng người tu hành mà gian dối, háo danh, khoe khoang, khoe bằng, khoe chức, khoe của… là điều không ai có thể chấp nhận được. Người tu hành bất cứ đạo nào phải là hình ảnh khiêm cung, siêu thoát, đơn giản trong cung cách sống và lời nói. Nếu không, sao xứng đáng gọi là lãnh đạo tinh thần, hướng dẫn đời sống tâm linh? Vậy mà bịnh khoe bằng cấp/bằng cắp vẫn không tha giới tu sĩ Việt Nam trong nước và nhất là ở hải ngoại.

Một thượng tọa có bằng Ph. D. chủ lễ cầu siêu cho người chết có gì khác hơn một thượng tọa không có Ph. D.? Sao lại phải khai ra? Đức Phật Thich Ca sau khi xuất gia tu hành đâu còn xưng mình là Thái Tử? Chính cái tâm, cái đức của người tu hành, không phải cấp bằng hay chức tước, mới thật sự quan trọng.

Linh mục là chức thánh do Đức KiTô lập nên trước khi thọ hình. Chức này phải cao cả hơn hết ở thế gian, không gì có thể so sánh được. Người ta có thể bỏ tiền ra mua bằng cắp, chạy chọt quan chức nhưng không thể dùng tiền mua chức linh mục. Trong thời gian 15 năm qua ở Việt Nam, có trường hợp gia đình phải cắn răng chi tiền, “lịch sự” với quan chức cộng sản để chi bộ đảng cộng sản chấp thuận cho con em được phong chức linh mục, nhưng đây không phải là mua chức vì ứng cử viên đã hội đủ mọi điều kiện đối với Hội Thánh và giáo quyền:

Thế chiến quốc thế Xuân Thu

Gặp thời thế thế thời phải thế!

Nhưng một số lớn linh mục đã không cảm thấy chức linh mục là chức cao quý nhất nên mới có thêm những tước vị lòng thòng đi kèm, để phân biệt cá nhân mình với các linh mục... tầm thường khác: linh mục nhạc sĩ Nguyễn Văn A, linh mục tiến sĩ Vũ Văn M, linh mục giáo sư tiến sĩ Lê Văn X... Soạn nhạc, viết nhạc thì giáo dân biết mình là nhạc sĩ rồi, cần gì phải xưng danh là “linh mục nhạc sĩ”? Và xưng để làm gì? Bán CD, DVD nhạc? Ở Hoa Kỳ hầu hết các giáo sư đều có bằng Ph. D. Giáo sư mà không có bằng Ph. D. thật là họa hiếm và phải thật giỏi, xem bằng Ph. D. chẳng vào đâu nên không bận tâm đạt lấy, như trường hợp linh mục Henri Nouwen, tác giả hơn 40 quyển sách nổi tiếng. Vậy đâu cần thiết phải xưng danh là “giáo sư tiến sĩ”? Trừ phi muốn phân biệt mình với các “giáo sư” từ Việt Nam chạy sang! Đôi khi chính các ông các bà giáo dân đã tự động gọi nâng các cha cố, các thầy của mình lên khiến các ngài lỗi đức khiêm nhường và bị “tục hóa!”

Một vấn đề khác đáng nói là hiện tượng manh nha trong giới tu sĩ VN ở hải ngoại trong mười năm qua là hiện tượng học tiến sĩ hàm thụ online từ một số trường, nhất là các trường hàm thụ ở tiểu bang California. Tiểu bang California có quy chế xin mở trường đại học khá đặc biệt và lỏng lẻo. Vài người có bằng Ph. D. hợp lại là có thể xin mở trường đại học gồm... một thầy, một cô, một chó cái! Các trường này không được các hội nghề nghiệp chuyên môn liên hệ công nhận (accredited). Sinh viên học hàm thụ online, một năm hai lần về trường để ôn tập một tuần. Nhưng học phí thì rất đắc, và khi “tốt nghiệp” chỉ dùng bằng cấp/học vị để treo tường, in trên thiệp mà không tìm được việc làm tương xứng. Nói khác, đây là những trường chuyên phân phát “bằng cắp,” dành cho các sinh viên ngoại quốc thuộc thành phần con ông cháu cha, cô chiêu cậu ấm thích du hí mà không thích học, nhưng lại muốn có... bằng cấp to để về nước lòe thiên hạ và nối nghiệp cha ông! Vậy rõ ràng những trường... học đại này được lập ra không phải vì mục đích giáo dục, và người theo học cũng không phải muốn học mà chỉ muốn có... bằng cắp! Một linh mục VN theo học trường loại này, đỗ bằng “Psych Doc” (Tiến sĩ Tâm Lý Học!), đã ghi hai chữ này khá to sau chức linh mục và tên mình trên các bài viết trên mạng! Nhưng cũng có linh mục tự trọng, đậu bằng cắp loại này không dám khoe!

Trong ba năm qua, vài ba linh mục Việt Nam có bằng tiến sĩ họp nhau lại lập chương trình học tiến sĩ hàm thụ về tôn giáo/thần học/mục vụ ở California để giúp các linh mục VN... hiếu học. Chương trình học ba năm, bằng tiếng Việt với học phí hơn 20.000 đô la một năm. Vài giáo xứ, cộng đoàn VN phải... gánh chịu học phí này một cách bất đắc dĩ để linh mục chánh xứ/ quản nhiệm của mình... tu học thêm, để giảng Lời Chúa về phép công bằng cho đúng hơn?!

Từ cát bụi hình thành, con người sẽ trở về với bùn đất, cát bụi. Danh vọng, quyền hành, bằng cấp/bằng cắp… không làm đổi thay thân phận con người: chết! Người tu hành há chẳng biết câu “Việc đời thành hay bại, muôn sự cũng là không?” Sao lại thích bon chen giữa chợ đời trần tục, thế gian đầy gian dối?

*

“Bác hỏi tôi đi học để làm gì?”

Câu hỏi này khởi đầu một bài tập đọc trong quyển “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” lớp ba mà nhiều đọc giả có học qua, thời 1947-1954. Nếu câu trả lời là:

“Tôi đi học để biết đọc, biết viết, biết tính toán... và làm quan để cả họ được nhờ...” thì học tiến sĩ ở đâu, trường nào cũng không thành vấn đề. Nếu mục đích chỉ có vậy thôi thì hà tất phải học đến “học vị tiến sĩ” chi cho mệt xác thân. Và nếu là con cháu đại gia đỏ thì cứ theo nguyên tắc “trước là du hí, sau là online, hàm thụ” để về tiếp nối sự nghiệp cha ông làm lãnh đạo! Dịch ra tiếng Việt thì “tiến sĩ” nào cũng là tiến sĩ. Ph. D. của phái bạch đạo và Ph. D. hay Doctor của phe hắc đạo hàm thụ online đâu khác gì! Có dấu trademark Made in USA mang về Việt Nam là nhứt rồi. Ra Wal*Mart mua mẫu bằng Ph. D., Doctor, Master, Bachelor... rồi viết tên mình vào, về Việt Nam ai biết? So với bằng cắp của nhà nước CHXHCNVN còn đẹp hơn nhiều!

“Là người trí thức trước hết là phải biết ngượng” (Nguyễn Văn Lục). Còn biết ngượng là còn muốn hướng về cùng đích Chân, Thiện, Mỹ. Trong xã hội Việt Nam hôm nay, tìm ra ông thạc sĩ, tiến sĩ được nuôi dưỡng bằng “tư tưởng Hồ Chi Minh” biết ngượng quả là điều rất khó. Lãnh tụ đảng, nhà nước, quốc hội, cả bộ chánh trị và trung ương đảng, quan chức, nói khác cả bộ máy cầm quyền thống trị nói láo thật trơn tru, không mắc cỡ thì bảo đàn em dưới trướng “biết ngượng” sao được? Biết ngượng thì sao gọi là… con người mới xã hội chủ nghĩa? Biết ngượng là dấu chỉ của con người trưởng thành, văn minh. Thử hỏi Trần Huy Liệu có biết ngượng khi gia công nặn đẽo “anh hùng liệt sĩ Lê Văn Tám” làm thần tượng cho các cháu ngoan bác Hồ?

Với phương cách trồng người của bác và đảng, “khỉ trình luận án, đười ươi giảng bài” thì thành quả “bằng cấp” trở thành “bằng cắp” đâu có chi lạ! Điều lạ là lòng tự trọng của cả một dân tộc bị kẻ cầm quyền cưỡng bức mà chế độ vẫn tiếp tục tồn tại…

Edited by user Friday, October 31, 2014 5:05:10 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#15 Posted : Friday, October 31, 2014 5:03:34 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
“I HAVE A DREAM”


(nguoiviettudo)

“I have a dream”... Martin Luther King đã mơ cho nước Mỹ của ông. Tôi, một người Việt Nam tầm thường cũng đã có một giấc mơ cho tổ quốc mình. Giấc mơ đó như thế này:

Tự nhiên một buổi sáng tốt trời, toàn bộ đảng viên Đảng Cộng Sản lăn đùng ra chết. Chết không có nguyên nhân. Mà chẳng những đảng viên, tất cả mọi thành phần liên quan tớ ĐCSVN (goi nôm na là Việt Cộng) đều từ mạnh khỏe bỗng chuyển sang từ trần hết trọi.

Các phái bộ y tế thế giới lập tức gởi những chuyên gia uy tín nhất của mình tới VN để tìm hiểu nguyên nhân . Dù đã bỏ biết bao công lao thời giờ nghiên cứu, cuối cùng trong bản báo cáo cho Hội đồng Liên Hiệp Quốc, những bác sĩ lừng danh đành phải thú nhận: chúng tôi không tìm ra lý do, có lẽ là họ bị …dịch vật!!!.

Ở nước ngoài, nhiều trường hợp mất tích kỳ lạ xuất hiện. Tất cả bọn cảm tình viên, bọn đã từng được ăn học nhờ sự ưu ái của dân miền Nam, nay thành tài, trở cờ nịnh bợ vc, bọn có bằng cấp cùng mình, (cỡ tiến sĩ, giáo sư ăn trên ngồi trước), lại dở thói bưng bô, hòa hợp hòa giải với vc, chúng biến mất như những giọt sương mai bốc hơi bởi sức nóng của mặt trời. Không ai thương tiếc bọn này vì người ta biết ngoài mấy tấm bằng to như cái bảng, chúng chẳng ích lợi gì cho nhân loại.

Chỉ có một nhóm nhỏ thanh niên biết được nguyên nhân . Danh xưng của họ là Nhóm Hốt Rác. Họ tự đặt cho mình cái nhiệm vụ phải dọn dẹp sạch sẽ tất cả những rác rưới có liên quan tới VC. .Họ thành lập bởi những thanh niên yêu nước. Xong nhiệm vụ, họ giải tán, êm ái và lặng lẽ như lúc tập họp với nhau, không chờ đợi những lời khen ngợi nhiệt liệt của đồng bào .

Nước Việt Nam bỗng dưng dành lại được tự do mà không tốn một giọt máu. Một chính phủ dân chủ được thành hình qua lá phiếu của người dân. Tổng thống là một người đã từng trải những tháng năm ngục tù của VC. Ông đuoc dân chúng biết đến bởi tấm gương sáng yêu nước, thành tích đấu tranh không mỏi mệt cho hạnh phúc của người dân và cho sự trường tồn của tổ quốc. Điều không ngạc nhiên là ông mang họ Nguyễn, một cái họ rất phổ thông ở VN.

Người dân thành lập chế độ tự do dân chủ ở VN bằng lá phiếu của mình. Họ bầu Tổng Thống và Phó Tổng Thống, họ cũng bầu lên các bộ trưởng, Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện, cùng những viên chức Lập Pháp. Mọi chức vụ đều được thông qua bởi lá phiếu. Dù không cùng một ê kíp, nhưng dân chúng biết rằng họ sẽ làm việc ăn khớp với nhau vì tất cả có chung một lý tưởng: sự thịnh vượng của đất nước và hạnh phúc của toàn dân.

o O o

Mọi thứ đều thay đổi nhanh chóng. Trước tiên, Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục, người đứng đầu một cơ quan có trách nhiệm rất lớn với gần một trăm triệu người VN, tuyên bố: VN sẽ đặt trọng tâm hàng đầu vào việc giảng dạy đạo đức cho học sinh từ bậc mẫu giáo. Bộ trưởng, một phụ nữ đã chứng mình được tình yêu của bà đối với thế hệ tương lai của tổ quốc. Bà cũng đã từng trải qua những năm tháng trong ngục tù vì đấu tranh cho đất nước dân tộc. Dân chúng yêu mến bà, họ biết họ đã đặt đúng người vào đúng chỗ.

Học sinh được dạy dỗ và khuyến khích làm tròn những bổn phận đối với quốc gia, dân tộc. Các em học yêu tổ quốc, yêu đồng bào. Biểu tượng cao quý nhất trên hết mọi thứ là Quốc Kỳ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ mà mọi người có bổn phận và trách nhiệm phải bảo vệ (kể cả bằng chính mạng sống mình.) . Mỗi lần Quốc Ca được hát lên, dù đang ở đâu và làm gì, mọi công dân đều đứng nghiêm , trang trọng. Họ hòa theo từng lời, mắt họ rơm rớm, và họ hát với tất cả tấm lòng. Bao nhiêu năm rồi những người con VN mới lại được cùng nhau chào kính ngay giữa Saigon Tổ quốc thân thương của họ qua lá Quốc Kỳ phất phới.

Đó là hình ảnh diễn ra vào mỗi buổi sáng trong tuần. Nhiều người ngoại quốc ngạc nhiên khi đến VN lần đầu sau CS. Họ ngạc nhiên vì bỗng chốc tất cả trở nên nghiêm trang yên lặng đến lạ lùng trong khoảng thời gian mười lăm phút, thời gian mà mọi người VN coi là thiêng liêng nhất trong ngày. Người ngoại quốc không biết rằng bao nhiêu anh hùng tử sĩ tiền nhân Việt Nam đă thí mạng mình để con cháu có được phút giây đó ngày hôm nay.

o O o

Ngày N, tháng N , một thương gia Ấn Độ đến VN dự một phiên họp quan trọng,đã hốt hoảng phác giác ra mình lạc mất chiếc cặp chứa đựng hồ sơ và số hiện kim đáng kể. Ông nhớ lại mình bỏ quên trên taxi từ phi trường về khách sạn. Phòng ngừa tình huống xấu nhất, ông gọi điện thoại cho Lãnh sự Quán nước mình báo cáo sự việc.

Khi nhân viên khách sạn cho biết có người muốn gặp, ông tưởng là đại diện của sứ quán, cho tới khi ông giật mình nhận ra đó chính là tài xế chiếc taxi đã chở ông.. Kiểm tra lại thấy mọi thứ còn nguyên ông kinh ngạc ôm chầm người đàn ông gầy gò trước mặt cảm ơn rối rít. Để tỏ lòng biết ơn, ông xin phép được biếu vị ân nhân- xem ra không giàu có gì- một món tiền lớn. Nhưng người tài xế lịch sự từ chối. Ông lễ phép nói:

- Thưa ông đó chỉ là bổn phận của tôi , tôi làm những gì phải làm. Những người tài xế khác mà nếu ông có gặp, cũng sẽ làm như tôi thôi. Đối với chúng tôi, Danh Dự của Tổ Quốc , Dân Tộc là trên hết. Chúng tôi thà đói nghèo, chứ không thà bán rẻ danh dự của tổ quốc dân tộc mình

Nhà doanh nhân Ấn Độ đã kể câu chuyện trên cho tờ báo “India News”, tờ báo lớn nhất ở nước ông, lập tức câu chuyện được biết đến nhanh chóng trên khắp thế giới.”Chỉ có ở Việt Nam ngày nay mới xảy ra câu chuyện mà tôi kinh nghiệm qua bản thân” ông kết luận.

o O o

Ngày N tháng N, báo chí VN đăng một mẫu chuyện thương tâm vừa xảy ra tại một trạm xe điện ngầm:

- Thiếu niên lớp năm tiểu học, mười tuổi, bị tử nạn bởi xe điện – . Theo nội dung “Em Nguyễn Văn Hữu đã nhảy xuống đường ray xe với mục đích cứu lấy lá quốc kỳ (Nền Vàng Ba Sọc Đỏ) bằng giấy bị gió thổi bay đi từ tay một bạn đồng học. Tờ báo tiếp “Cô giáo Nguyễn Thị Dung, người hướng dẫn các em trong chuyến đi, xin nhận lấy trách nhiệm và hình phạt cao nhất vì chăm sóc, canh chừng các em chưa đúng mức.”

Ở thủ đô các trường học đã treo cờ rũ để tang hành động anh hùng này và trạm xe điện ngầm nay được đặt tên em .

Không chỉ học sinh tiểu học, ở bậc trung và cả đại hoc, các em được dạy dỗ đầy đủ về tinh thần trách nhiệm, về kính già mến trẻ, về những nhân bản tốt đẹp của con người. . Sinh viên trước khi tốt nghiệp phải tình nguyện ba tháng thực tập về đạo ssức. Bác sĩ phải sinh hoạt, hòa mình với bệnh nhân, kỹ sư phải xuống công xưởng với công nhân để “thấu hiểu và chia sẻ với những tình huống sẽ đối mặt trong tương lai” như lời Bộ Trưởng Bộ Nghề Nghiệp nhấn mạnh.

o O o

VN giờ đây là một nước giàu mạnh. Không quốc gia nào trên thế giới muốn gây hấn với Việt Nam mặc dù trên lý thuyết họ không có lực lượng hiện dịch lớn. Sự bí mật của họ nằm ở chỗ nếu biến động, chỉ trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ (từ khi lời kêu gọi của Tổng Thống, vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao,) quân đội sẽ động viên ngay bốn triệu quân nhân dưới cờ, sẵn sàng tác chiến. Đó là chưa kể đến lực lượng yểm trợ khoảng mười triệu thiếu niên nam nữ từ mười ba tới mười sáu tuổi tình nguyện tham gia. Nhiều binh chủng tổng trừ bị :Nhảy Dù TQLC, BDQ và nhất là LLĐB đã từng vang danh nay được tái thành lập. Các cơ sở thuộc Bộ Quốc Phòng đã sản xuất vũ khí thế hệ tân tiến hiện đại, tách khỏi sự lệ thuộc vào công nghiệp Quốc Phòng với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới .

Tuy nhiên VNđã xử dụng chính sách ngoại giao khôn khéo để giao hảo với thế giới, như lời vị Bộ Trường Bộ Ngoại Giao cho biết. Ông nhấn mạnh : Chiến tranh dem lại đau thương đổ vỡ , mất mát, chẳng lợi lộc gì cho bất cứ ai, nhất là thường dân.” Từ khi nước VN được tự do, thoát khỏi sự kềm kẹp của chủ nghĩa CS, Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Văn Hạnh đã áp dụng triệt để và thành công với những di huấn của tiền nhân Nguyễn Trãi;

- Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân mà thay cuồng bạo

o O o

Bộ Trưởng Xã Hội là một người đàn bà sâu sắc.. Được người dân tín nhiệm bằng lá phiếu , bà đã hăng hái lao đầu vào cuộc chiến chống nghèo đói bao nhiêu năm nay. Nạn tứ đổ tường, hút xách, biến mất. Chẳng có phép lạ gì ở đây cả, bà nói, chỉ là tình thương giữa người với người. Cờ bạc rượu chè hút xách bởi vì người nghiện không có cơ hội để sống đàng hoàng. Nếu mình cho họ một cơ hội khả dĩ có thể lo cho chính cuộc sống của mình và của những người thân, tự khắc những tệ nạn sẽ biến mất.

Và đó là những gì bà và Bộ của bà đang thực hiện: tạo công ăn việc làm cho người dân. Rất hiếm khi thấy bà có mặt ở văn phòng, muốn tìm bà phải đến những cơ quan, xí nghiệp vừa mở cửa. Nạn buôn hương bán phấn cũng vậy, triết lý của bà khá ngộ nghĩnh “Chẳng có người phụ nữ nào muốn mình lớn lên sẽ làm nghề này, Ho muốn trở thành người vợ, người mẹ . Bổn phận của tôi là tìm hiểu lý do và giúp họ. Không thể trừng phạt, vì họ không có tội. Dạy dỗ hướng dẫn và ủi an hỗ trợ là phương cách tốt nhất để giúp họ. Trên hết, hãy tôn trọng họ. Tin tôi đi, tôi hiểu vì tôi cũng là đàn bà.”

o O o

Mức sống của người VN bây giờ trở thành mức sống cao nhất trên thế giới. Thu nhập bình quân mỗi đầu người là một trăm ngàn đồng /năm. Người ta sẽ hình dung ra được con số thực tế nếu người ta biết rằng một VND=3.75 USD ( USD vẫn còn giữ được tính quốc tế trong lưu thông tiền tệ ). Nạn con nít bỏ học đi bán vé số đã là dĩ vãng đau thương từ thời CS, nay không còn nữa . Người già không còn gồng gánh bán buôn hay đạp xích lô kiếm từng đồng bạc khốn khổ như trong thời CS..Tổng thống đã ký luật cho phép chính quyền chăm sóc lo lắng cho các học sinh từ bậc tiểu học cho tới đại học. Đi học là một bổn phận bắt buộc. Mọi chi phí thuộc về sự bảo trợ của nhà nước.

Nhiều quốc gia trên thế giới đã cố gắng học tập theo VN, nhưng đành bỏ dỡ vì không chịu nổi. Nếu họ biết rằng chính quyền đã dành tới hơn bốn mươi lăm phần trăm ngân sách quốc gia để đầu tư cho giáo dục, chắc họ sẽ không ngạc nhiên.

o O o

Ông Lê Huy, Bộ Trưởng Bộ Phát Triển Đô Thị đã có một sáng kiến độc đáo, trở thành mô hình cho toàn thế giới: ông cho dẹp bỏ hết những trại mồ côi và câu lạc bộ người già. Thay vào đó ông để họ chung sống với nhau trong môi trường gia đình. Làm như vậy người già sẽ không còn cô đơn và trẻ mồ côi có một mái ấm với ông bà . Họ sẽ chăm sóc và lo lắng cho nhau. Nhà nước sẽ chu cấp mọi thứ cần thiết .

o O o

Một vị Bộ Trưởng rất đặc biệt là cô Chung Thị Mai , hai mươi bốn tuổi, Tiến sĩ Lịch sử Cận Đại. Toàn văn phòng chỉ có ba người : Bộ Trưởng và hai nhân viên. Nhiệm vụ duy nhất của họ là đóng gói những anh “Tử” cho vào thùng gởi về Tàu, cố quốc của các anh. Khổng Tử, Trang Tử, Lão Tử… (ngoại trừ Giang Tử và Chu Tử) tác giả của những câu nói vớ vẫn “Quân tử thần tử, thần bất tử bất trung “ hay “ Tại gia tòng phụ , xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” đã từng phá nát tương lai biết bao góa phụ đương xuân , lũ lượt “mua vé xuất ngoại” về Beijing.

Bộ trưởng Mai còn đệ trình ý kiến của mình trên Quốc Báo- sau khi đã được xét duyệt bởi Tổng Thống -, đề nghị huỷ bỏ Tết Trung Thu, một cái tết tào lao của anh vua tào lao Đường Minh Hoàng trong một giấc mơ du nguyệt điện. Lý do cô đưa ra là “Anh Đường này rất vớ vẩn vì cho rằng Hằng Nga đẹp tuyệt trần trong một giấc mơ. Rồi khi tỉnh dậy (sau cơn say xỉn ) đã đứt giây thần kinh tỉnh táo, nằng nặc đòi lập nên cái tết Trung Thu để tưởng nhớ nàng” Cùng với đề nghị trên, cần phải loại bỏ tất cả việc đốt vàng mả múa lân, đốt pháo … đã làm người nước ngoài đến VN tưởng rằng họ lạc vào một tỉnh nào ở bên Tàu .Mọi ý kiến của cô Tiến Sĩ trẻ tuổi thông minh tài cao này được đại đa số nhân dân tán đồng.

o O o

Kể từ khi đời sống và con người VN thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp tăng trưởng một cách chóng mặt. nhiều người ngoại quốc đã tìm cách được trở thành người VN. Họ cố gắng kết hôn với người Việt, nhưng nay việc này không dễ thực hiện. Con trai con gái VN đẹp nhất so với dân các nước Á Châu còn lại. Họ có khuynh hướng lấy nhau để giữ sự tinh tuyền của nòi giống Lạc Hồng hơn là kết hôn với người nước khác. Thời con gái VN phải chịu nhục để đàn ông Đại Hàn, Đài Loan trả giá như cá ngoài chợ hết rồi. Đối với người nước ngoài, lấy được vợ VN chẳng khác nào trúng tờ vé số..

Việc thi tuyển để nhận quốc tịch VN vì thế rất gay gắt. Nhưng điều đó vẫn không cản được hàng chục ngàn người nộp đơn mỗi ngày để hy vọng nhờ may mắn họ sẽ có ngày cầm tờ chứng nhận là người VN trong tay.

Họ phải học về lịch sử VN, những vị anh hùng dân tộc xưa và nay, họ phải học và hiểu it nhất một câu thơ Lục Vân Tiên hoặc Thúy Kiều. Họ phải hiểu tại sao Tướng Trần Bình Trọng đã khẳng khái “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vua xứ Bắc”. Chưa hết , họ còn phải học về bọn tay sai bán nước, tội đồ của dân tộc thời CS, lý do gì chúng nó bị người VN nguyền rủa đời đời.

Cuộc khảo sát rất khó khăn, nhưng nhiều người đã không nản. Một thanh niên Đài Loan suýt chút thành công sau khi trải quá hai ngày thi cử. Anh bị rớt vào ngày thứ ba vì ban giám khảo phát giác anh nêm xì dầu vào tô bún riêu nóng hổi. Lời phê của ban giám khảo như sau: “Về nhà học lại. Bún riêu phải kèm mắm tôm “

o O o

Chỉ có ở VN cảnh sát không cần trang bị súng ống. Bộ cảnh phục trên người và chiếc còi tu huýt là vũ khí duy nhất . Vậy mà bất cứ một hỗn loạn nào trong dân chúng, người ta cũng đều nhờ cảnh sát phân xử. Người ta kính trọng bộ đồ anh mặc và cái nón anh đội trên đầu. Đối với mọi người đó là dấu hiệu của luật pháp và không ai có thể hối lộ anh để dành phần thắng cho mình. Lương hướng anh được hưởng từ người dân đủ cho anh làm tròn nhiệm vụ mà không cần nguồn thu nhập nào khác. Anh không cần phải đứng đường , chờ cơ hội để chộp tiền của người lương thiện. Dân coi anh là bạn vì việc phân xử của anh luôn phận minh . Chính nhà nước Hoa Kỳ đã phải cử những nhân viên giỏi nhất của mình từ FBI sang thụ huấn ở Trung Tâm Huấn Luyện Cảnh Sát Quốc gia VN. Ho kinh ngạc khi thấy tội phạm ngoan ngoãn đứng yên và giơ tay chiu trói khi nghe tiếng còi của cảnh sát. Nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả Nhật Bản đã ký thoả ước để mời Cảnh Sát Viên VN sang làm huấn luyện viên cho lực lượng cảnh sát của họ.

Chỉ có một vài nhà tù được xây dựng ở VN, dùng để giam giữ tội phạm nước ngoài. Người VN không chịu được cái nhục mang danh tội phạm. Hình phạt khủng khiếp nhất là bị tước quốc tịch. Đã xảy ra khi một người VN gây án ở ngoại quốc và bị toà án nơi anh sinh đẻ phán quyết anh không còn là người VN. Hai ngày sau anh tự tử để lại tuyệt thư:

- Tôi xin lỗi đã xúc phạm tới danh dự tổ quốc dân tộc. Nay tôi xin lấy cái chết để chuộc tội.

o O o

Bởi sự nghiêm chỉnh và công bằng trong phân xử, thừa hưởng từ một nền giáo dục nhân bản, nhiều giao ước kinh tế hợp đồng tài chính , các bên tham gia có khuynh hướng mời cho được một trọng tài VN. Nếu cuộc làm ăn mua bán được chứng nhận bởi trọng tài VN bản hợp đồng sẽ có giá trị quốc tế. Chữ ký đó coi như một bằng chứng xác thực nhất bảo đảm một sự trung tín và đúng đắn. Các Đặc Trách Uỷ Viên này sẽ được công ty của họ gởi đi để thi hành những thương ước ngoại quốc . Họ luôn nhớ nằm lòng “Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm” một khái niệm có giá trị sống còn. Cái thói làm ăn cẩu thả, trục lợi , tiếm quyền như xảy ra dưới thời Cộng Sản- nay không còn chỗ đứng trong công việc làm ăn mua bán. Đặc biệt với nước ngoài.

Tiếng Anh giờ là thứ tiếng được xử dụng thứ hai sau tiếng Việt. Vì sự trong sáng của Việt ngữ, người ta dùng tiếng Việt trong nhiều lãnh vực, nhất là lãnh vực ngoại giao. Các văn bản quan trọng đều được viết bằng tiếng Việt và điều đó hoàn toàn làm hài lòng các phe liên hệ. Kể cả trong văn chương, trước đây các học giả và nhà văn VN có khuynh hướng thường hay chêm. những từ tiếng Anh và tiếng Pháp trong tác phẩm của mình (để khoe kiến thức bác học, hay trình độ khoa bảng?). Người ta thường trích những câu nói của Jean Paul Sartre, André Gide, George Bernard Shaw….trong bài viết của mình. Nay chính những nhà văn nước ngoài nổi tiếng lại rất hãnh diện được thêm vào vài câu nói, bài thơ của các bậc danh nhân Việt Nam như Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ, Trần Hưng Đạo để chứng tỏ sự hiểu biết sâu xa . Nguyễn Công Trứ đuợc trích dẫn rất nhiều bởi những triết lý độc đao của ngài như :

- Ngũ thập niên tiền, ngã thập tam (năm mươi năm trước tôi mới mười ba tuổi)

Hay:

- Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc….(biết Đủ,dùng Đủ, ..tức là đã Đủ)

Nhiều nhà Đạo Đức Học nổi tiếng (điển hinh Jean Jacque Letrand , Pháp ) đã trịnh trọng trích “Gia Huấn Ca” của tiền nhân Nguyễn Trãi vào tác phẩm mới ấn hành của ông . Riêng Tướng ba sao John Ulysses Jr. chỉ huy trưởng trường Võ Bị West Point nổi tiếng của quân đội Mỹ vừa ra thông báo sẽ giảng dạy cho sinh viên tác phẩm “Binh Thư Yếu Lược “ của Đức Trần Hưng Đạo, và chiến thuật thần tốc chiến thắng xuân Kỷ Dậu của Quang Trung Hoàng Đế. vào đầu niên học tới.

o O o

Việt ngữ trở nên thước đo về trí thức, trình độ khiến nhiều nhà lãnh đạo thế giới dù bận rộn cách mấy cũng ráng sắp xếp thời gian để tổ chức một lớp Việt ngữ cho gia đình và bạn hữu tại tư dinh. Tổng thống Pháp đã hãnh diện khoe bức ảnh chụp ông cầm mảnh bằng tốt nghiệp Việt Ngữ lớp Tư (tiểu học) , bức hình này được loan truyền khắp nước Pháp thông qua mạng lưới báo chí nội địa.

o O o

Dù người dân rất chán ghét CS, đảng CS vẫn được phép hoạt động. Đảng trưởng là một ông già sáu mươi chín tuổi , bệnh lao phổi vì hút thuốc lào quá nhiều.

Đảng viên gồm đứa con mười ba tuổi , ngủ còn đái dầm, và con chó vá luôn luôn được đảng trưởng dòm ngó bằng con mắt thèm thuồng..

Vợ đảng trưởng chết đã lâu, còn thằng con mười tám tuổi thì thẳng thừng tuyên bố

- Sao bố không dẹp luôn cái đảng lưu manh đó cho rồi, còn bám vào nó làm gì

Lão thở dài:

- Thế mày xem bố sẽ sống thế nào nếu không có nó?Ít nhất cũng còn tí phân (fund) của nhà nước.

o O o

Ngay sau ngày vui mừng của dân tộc- ngày toàn bộ đảng CS có tên trên trang cáo phó, nhiều người VN đã xếp hàng trước văn phòng hộ tịch để xin được đổi họ.Những người nầy vốn mang họ Hồ, nhưng cho biết “Chúng tôi không muốn dính dáng gì tới tên chó đẻ Hồ Chí Minh. Cùng một họ với nó nhục lắm!!”

Rồi lũ lượt tới những người mang họ Lê, Tôn, Phạm, Nguyễn . Đoàn người rồng rắn mỗi ngày trước văn phòng hộ tịch cuối cùng đã làm chính Tổng Thông phải lo ngại. Ông gấp rút lên truyền hình trấn an:

-Kính thưa đồng bào, đồng bảo không phải lo lắng gì cả về sự trùng họ với bọn bán nước. Những ai có liên hệ đến chúng đều đã chết bởi trận dịch Trời cho vừa qua. Nay đồng bào vẫn còn sống ở đây có nghĩa là chẳng vương vấn gì tới bọn đó . Tôi cũng họ Nguyễn nhưng bởi dòng dõi Đức Nguyễn Huệ, chứ không liên quan gì tới Nguyễn Tấn Dũng, cũng như Đức Lê Lợi, Đức Tôn Đản hoặc Đức Phạm Ngũ Lão chứ không phải đám Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng hay Phạm văn Đồng. Đồng bào hãy yên tâm.

Chỉ những ai mang họ Hồ thì sẽ được toại nguyện.

o O o

Nhiều công trình nghiên cứu đã đem đến lợi ích thiết thực cho cuộc sống của người dân nhờ vào những kỹ sư trẻ. Tiến sĩ kỹ sư Nguyễn văn Chui, xuất thân từ vùng Cà Mau đã chế tạo được máy cấy lúa mà nông dân không phải ngâm nước và cúi gập người trên cánh đồng. Ông bùi ngùi kể lại vì nhìn thấy bà ngoại còng lưng lúc tuổi già, hậu quả của việc khom người cấy lúa thời trẻ là nguồn cảm hứng cho ông. Các nước nông nghiệp như Nhật ,Đại Hàn, Thái Lan đã đặt những khối lượng lớn máy của ông để trang bị cho nông dân xứ ho.

o O o

Chính quyền VN đã nhìn thấy trước tương lai của thế giới với nạn nhân mãn và tình trạng thiếu lương thực, do đó họ đầu tư rất cao vào nông nghiệp. Nông dân được giảm thuế, được bảo đảm bán sản phẩm mình làm ra với giá cao cho nhà nước. Họ cũng được hưởng tất cả những thành quả tốt đẹp về đời sống, điều này đã cuốn hút rất nhiều người bỏ đời sống thành thị để trở về thôn quê., mặc dù ở đâu trên đất nước họ cung được no đủ. Nhờ đó thành thị trở nên thoáng đãng hơn, đường sá trống vắng hơn. Không có cảnh không khí ô nhiễm, người lái xe bất chấp luật lệ như trước đây dưới thời VC (lại cũng VC!!).

Cô Tạ Thị Hường và rất đông người khác đã về nhà trễ hơn nữa tiếng hôm thứ sáu tuần qua vì phải dừng xe chờ đèn xanh tại một ngã tư. Đèn giao thông hôm đó có trục trặc khiến đèn đỏ kéo dài tới ba mươi phút. Một phóng viên nước ngoài, ngạc nhiên khi thấy đoàn xe máy kiên nhẫn chờ đợi , đã đến gặp cô Hường để làm một cuộc phỏng vấn chớp nhoáng.

Khi nghe anh hỏi tại sao cô không vượt đèn , nhất là không có sự hiện diện của cảnh sát, (như anh từng nghe trong quá khứ),cô đã trợn mắt trả lời:

- Anh nghĩ tôi là ai? và tôi đang ở đâu?. Tôi rất hân hạnh cho anh biết tôi là người Việt Nam và tôi đang sống trên quê hương mình. Anh nghĩ là chúng tôi sẵn sàng vi phạm những luật lệ mà chính chúng tôi đã đồng ý lập ra à?

o O o

Về Ngoại Giao, thế giới công nhận Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao có một biệt tài: ông hòa giải được những cuộc đối đầu nguy hiểm trên thế giới. Hễ ở đâu có điểm nóng, người ta lại hy vọng chính phủ VN sẽ nhanh chóng phái ông đến . Có lần, ông đã đồng ý đứng ra làm trung gian hòa giải cho một cuộc xung đột tưởng chừng như sẽ châm ngòi Thế Chiến Thứ Ba. Theo người biết chuyện kể lại, họ nghe những tiếng cười khoái trá vẳng ra từ phòng họp đóng kín cửa. Ba mươi phút sau một thông cáo chung cho thấy những khó khăn đã giải quyết xong .

Chỉ nhờ vào hồi ký của ông sau này người ta mới tìm ra câu giải đáp: ông kể cho hai phe nghe chuyện tiếu lâm của VN. bởi vì khi hai kẻ thù mà cười được với nhau thì chuyện gì cũng có thể giải quyết..

Chính các nhân viên ngoại giaoVN đã rất thành công khi áp dụng bí quyết này vì “Chuyện tiếu lâm VN vui thấy mẹ!! ” như lời Ngoại trưởng Hoa Kỳ xác nhận.

o O o

Tiến Sĩ Y khoa Nguyễn Văn Tèo đã khiêm nhường trả lời câu hỏi sao ông không đổi một tên khác đẹp hơn, như sau:

- Đó là tên của cha mẹ tôi đặt cho. Đối với tôi tên VN nào cũng đẹp cả. Tôi cũng muốn luôn luôn nhớ về xuất thân của mình. Chinh nhờ đồng bào cưu mang mà tôi có được cơ hội ăn học thành tài như ngày nay.

Tiến sĩ Tèo nổi tiếng nhờ vào việc tìm thấy thuốc trị bệnh AIDS từ huyết thanh của con dê đực. Ông để tâm nghiên cứu và đã đi đến kết luận :

.- Nếu một con dê đực có thể làm tình với nhiều con dê cái hàng ngày không cần bao cao su mà vẫn chẳng bệnh hoạn gì thì hẳn nó phải có một lý do rất đặc biệt trong máu. Cái đó là cái gì?

Câu hỏi giúp ông để nhiều thời gian quan sát, cuối cùng sáng chế được thuốc tiêu diệt căn bệnh thế kỷ này. Nhờ vào thành tích có một không hai trên, chính phủ VN đã trao tặng ông giải thưởng “Y Khoa VN Phục Vụ Thế Giới,” một giải thưởng được công nhận về giá trị hoàn cầu , thay thế cho giải Nobel nay đã quá cũ và mất nhiều uy tín.từ khi một trong chúng được trao cho Lê Hữu Thọ và Kissinger, hai hung thần trong chiến tranh VN .

o O o

Về Canh Nông, bà Hoàng Thị Lợi, Tiến sĩ Thực Phẩm cùng với hai mươi bốn kỹ sư VN đã sáng chế được một loại bom mới trong nông nghiệp. Gọi là bom vì nó có hình dáng như trái bom và cách xử dụng cũng giống một trái bom được thả từ máy bay. Điều khác biệt là nó không giết người, trái lại, khi thử nghiệm trên sa mạc nó có khả năng biến đất cát thành đất trồng trọt . Phát minh của bà đã giải quyết rất nhiều cho nạn nhân mãn. Trong một cuộc họp báo, bà đã hóm hỉnh trả lời:

- Quí vị sẽ ngạc nhiên khi biết rằng đất nước và dân tộc chúng tôi không dành một ngân khoản lớn để nghiên cứu về không gian như các quốc gia khac . Đó là bởi vì chúng tôi quan niệm: hãy lo cho trọn vẹn cuộc sống của người dân ở dưới đất cái đã, sau đó sẽ tính tới chuyện trên trời.

o O o

Cuối cùng người ta vẫn thường cho rằng nguồn gốc của võ thuật bắt nguồn từ chùa Thiếu Lâm bên Tàu. Thực ra nó có xuất xứ từ VN. Đỉnh điểm của võ thuật là vào thời Đức Quang Trung Hoàng Đế. Chính bởi bộ môn trống trận và kỹ thuật chém. chân ngựa của ngài đã đem chiến thắng vang dội vào năm 1789, đuổi cổ bọn lính Tôn Sĩ Nghị chạy thục mạng về Tàu. Bọn chúng ỷ có kỵ binh hùng mạnh tưởng chừng nuốt chửng nước VN nhỏ bé dưới vó ngựa kinh hoàng . Rồi thình linh chúng phải rụng rời thất dởm khi nghe tiếng trống dồn dập,cùng lúc hàng trăm ngàn dũng sĩ lăn xả vào chém đứt chân ngựa, quật chúng té xuống đất làm mồi cho người lính VN đang say máu giặc. Nếu võ thuật phát xuất từ bên Tàu làm sao có thể giải thích được bao lần thất trận của chúng khí điên cuồng xâm lược VN?

o O o

Kính thưa người Việt Nam trên khắp thế giới, tôi tin rằng giấc mơ của tôi cũng là giấc mơ của quí vị. Mọi chuyện sẽ trở thành sự thật nếu chúng ta Xóa Sạch và Tiêu Diệt chế độ CS cùng những Hệ Lụy của nó . Lúc đó chúng ta sẽ kể chuyện cho con cháu nghe cái thời khốn khổ nhất trong cuộc đời mình: Chúng ta sẽ bắt đầu bằng cụm chữ “Hồi đó, vào cái thời VC còn cai trị…” (như một quá khứ khủng khiếp) . Hãy chắc chắn rằng chúng và con cháu của chúng sẽ không bao giờ quên được những gì đã xảy đến cho mọi người VN “Sau 30/4 năm 75, cả nước phải đi tù…”.

TRANG PHỤ

- Nước Việt Nam mới có tên Việt Nam Cộng Hòa Đệ Tam. Biểu tượng Quốc Huy là Ba Cây Lúa với hàng tre bao ngoài. Quốc kỳ nền vàng mang ba sọc đỏ .

- Tất cả mọi công dân nam nữ (từ 18 đến 35) đều gia nhập quân đội trong thời hạn mười tám tháng. Không có ngoại trừ. Con cái giới chức chính quyền khi hoàn tất huấn luyện đều tình nguyện về các đơn vị chiến đấu. (Nguyễn Văn Nam, con cả của bộ trưởng quốc phòng Nguyễn Văn Tính hiện là ĐĐT/ ĐĐ1/81 thuộc LLĐB )..Lính văn phòng dành cho con nhà thường dân.

- Thương Binh Tử Sĩ là Anh Hùng Quốc Gia . Mộ phần Tử Sĩ đuoc dân chúng chăm sóc và kính viếng trang trọng nhiều lần trong năm (dưới sự bảo trợ của bộ Quốc Phòng). Khi một thương binh qua đời, họ sẽ được mai táng theo lễ nghi quân cách. Con cháu họ mang danh xưng Quốc Gia Nghĩa Tử (với mọi quyền lợi xứng đáng). Nhiều Quốc Gia Nghĩa Tử đã làm rạng danh cha ông, điển hình như khoa học gia Trần Quốc Tuân ( cha đẻ của hệ thống ” năng lượng mới ” biến chế từ nước biển) và tiến sĩ Y khoa Trình Viết Toàn ( người chế tạo ra máy chẩn bệnh thay thế bác sĩ với hiệu quả 100% chính xác).

- Tổng thống thỉnh thoảng xin phép “Bả” để đi bù khú với anh em thương binh một đêm (tại Làng Thương Binh). Có lần ông đã không thể trở về tư dinh cho tới sáng hôm sau vì quá “xỉn”.

- Người Việt Nam nay là dân tộc văn minh nhất thế giới : họ luôn luôn xử dụng hai chữ “xin lỗi” và “cám ơn” (kèm nụ cười) trong tất cả mọi giao tiếp

- Tỷ lệ tử vong vì tai nạn thấp nhất trên thế giới. Khi có một nạn nhân, người ta nhanh chóng giúp đỡ. Người gọi cấp cứu, kẻ áp dụng CPR. Trong vòng năm phút, một trực thăng (vâng, trực thăng) cứu thương sẽ đưa nạn nhân tới bệnh viện, ở đó đội ngũ bác sĩ đã túc trực sẵn. “Sinh mạng bệnh nhân trên hết” là tâm niệm của giới chức ngành y tế.

- Bệnh viện và trường học được xây dựng đến tận đơn vị hành chánh nhỏ nhất trong nước và được điều hành bởi những chuyên viên giỏi (thầy cô giáo, bác sĩ y tá) trong lãnh vực .

- Nhiều nhà nước trên thế giới tỏ vẻ ganh tỵ với hệ thống Y tế và Giáo Dục ở VN, điển hình như China, N. Korea, Cuba, Laos, Campuchia….một số quốc gia Tây Âu, đứng đầu là Hoa Kỳ và Đức đã đề nghị cử các chuyên viên của họ sang du học ở VN. Đề nghị của họ đang được chính quyền VN cứu xét

- Hãng bia Heinneken dự tính sẽ nộp đơn kiện VN vì họ cho rằng chính quyền đã khuyến khích và giáo dục dân chúng giảm tối đa nạn bia bọt. Người dân VN nay chê thức uống có cồn, họ giải khát bằng nước ” rễ tranh mía lau”. Chỉ duy nhất ở đám cưới họ mới xử dụng hai loại rượu nội địa : rượu đế và rượu cần. Nếu có phải dùng bia, họ vẫn thích bia “Saigon” (để ủng hộ sản xuất trong nước), nhưng việc này vẫn rất hạn chế vì họ không muốn mang tiếng “ngu” ( cố gắng chiếm vị trí tiêu thụ bia rượu hạng nhất nhì trên thế giới) vào thời VC .

- Mc Donald, Burger King, tuyên bố đóng cửa hàng loạt điểm bán ở VN vì không có khách hàng như lời TGĐ các công ty trên than phiền. Dân VN thích ăn canh chua, cá kho tiêu hơn fast food độc hại và vô bổ. .

Edited by moderator Wednesday, September 7, 2016 5:38:29 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#16 Posted : Saturday, November 1, 2014 9:14:00 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
NHẬN DIỆN “THƠ PHỈNH THƠ” VÀ CON LŨ BUỒN!

Trần Hoàng Vy


Tôi nhặt những câu thơ hay, xâu chuổi huyền hồ và tặng cho nàng Thơ, dè đâu vàng thau lẫn lộn, đêm nằm nghe nhói đau buốt tận miền mơ mà ú ớ, hoảng loạn, ác mộng…

Biết làm thế nào được. Khen thì ai cũng thích, nhưng chê chỉ là “ loáng thoáng”, cố gắng nâng câu từ lên bằng… lời chào xã giao thế là bàn ra tán vào, âm ĩ hờn giận. Có lúc sấm sét nhoáng nhoàng, mệt tâm và cả mệt… bàn phím!

Người khen chê không là thầy, là bạn. Biến đi trong mắt nhau mà cười buồn. Thế mới là đời! Cái bản lĩnh của một con người nhiều khi như giòng nước mắc nghẹn. Dồn ứ mà óc ách đến tức? Mà sao phải “nhận diện”, vì rằng thì là, người ta cứ la toáng toàng toang, thơ bây giờ như nấm dại mọc sau mưa với thiên hình vạn trạng,biến hóa khôn lường. Cứ như Tề Thiên mà không phải Tề Thiên, đến Phật Tổ, Ngọc Hoàng thượng đế còn khó nhận ra đâu là … thứ thiệt! Thơ cách tân, thơ hiện đại, hậu hiện đại, thơ tắc tị, bí xị và bí hiểm? Và trong sự rậm rật của chữ nghĩa có cả sự dâm dật, cả những “ Sút xổ đổ tháo” của niêm luật, câu từ, con chữ. Trong mớ hỗn độn,ảo mờ nhân ảnh. Nhìn kỹ,xuyên thấu thật khó. Thôi cố mà hình dung, nhận diện. Dù sao cũng nhìn thấy cái bóng. Mà thơ hay, thơ dở đều… bay cao, bay xa, chắc là dễ thấy?

Còn vì sao là “phỉnh” ư? Tôi nhấn mạnh “ PHỈNH” chứ không phải “ phản”. Phỉnh đồng nghĩa với “lừa”, “gạt”, không “đâm sau lưng” như cái anh “phản”. Trắng phớ ra là cái anh “thơ này” mượn xiêm áo nàng thơ mà “lừa”,mà “gạt” mọi người, cũng ỏng à,ỏng ẹo,uốn éo, ma mị câu chữ từ… ngây thơ con cóc cụ như “ Con cóc trong hang” đến bẻ gãy vụn từ, gán ghép từ thành những câu “Bùa chú”,mê hoặc người đọc cả tin,nhẹ dạ hoặc luôn có tư tưởng “Bụt chùa nhà không thiêng”, phải mượn hơi giao lưu,hòa nhập,nhập ngoại mới là thi vương, thi bá! Đúng đà, đúng điệu?

Có người bảo,xứ mình nó thế. Đi đâu cũng gặp nhà thơ,lại phân chia từ cấp xã phường,câu lạc bộ đến huyện, tỉnh và thành phố? Chẳng biết đây có phải là “giả bộ khiêm nhường” hay cái bệnh “tự ti mặc cảm” nó hành ra làm vậy? Người người làm thơ, nhà nhà làm thơ. Thôi thì cứ bình quân, chí ít một hộ gia đình cũng có một người làm thơ. Một đất nước làm thơ vinh dự và tự hào lắm chứ? Có người còn khẳng định,cứ để mọi người làm thơ xã hội sẽ tốt đẹp hơn,chí ít cũng bình yên hơn là sa vào các tệ nạn khác như đề đóm,bài bạc, ăn nhậu. Kể cũng có lý. Nhưng làm sao cấm việc “chia chiếu”để ngồi, và mỗi người có làm thơ, có đăng thơ,in thơ là tự coi như mình là cái rốn của … nàng thơ. Tất tần tật các người khác làm thơ đều thua ta một cái…nheo mắt!

Người ta lại ca cẩm cái sự dễ dãi của các nhà xuất bản trong việc duyệt thơ và cái thời có tiền là có thể… mua được thơ và in thơ. Cứ làm một phép tính đơn giản. Cả nước có bao nhiêu nhà xuất bản,nhân lên với số tập thơ được chào đời. Không ai kinh doanh và làm giàu bằng thơ, nhưng thơ vẫn in ra đều đều và vẫn… tặng hết. Thế mới tài?

Nhân nói chuyện tặng thơ mới buồn vì dường như có nhiều người sợ (bị) tặng thơ. Các tòa soạn báo, có nhận được thơ tặng thì cũng… nín thinh, không có một lời giới thiệu hoặc cảm ơn. Chỉ có mấy người mua ve chai,sách báo cũ thì…khoái vì mua được sách mới mà giá lại…cũ xì! Ấy vậy mà cái danh xưng “nhà thơ” nó cứ…huyễn hoặc lắm người, cố để được một tiếng gọi là “nhà thơ”.

Lan man một chút,nhưng nói phải có sách,mách có chứng. Cái “thơ phỉnh thơ” ấy nó tròn méo thế nào,hiện diện ra sao. Tôi vào một tuyển thơ… cấp tỉnh,lại toàn những bậc trí lự cả. Đọc câu thơ: “ Mười mấy năm rồi xa xóm nhỏ/ Từ ngày binh lửa đến thôn quê”, chợt thấy… hơi thơ quen quen, thì đúng là mang cái mùi vị của câu thơ: “ Lâu quá không về thăm xóm đạo/ Từ ngày binh lửa cháy quê hương”, trong bài thơ “Hoa trắng thôi cài lên áo tím” của nhà thơ Kiên Giang- Hà Huy Hà, làm cách đây hơn nửa thế kỷ. Ừ thì,cứ coi như bị… ảnh hưởng, nhưng khi đọc hai câu : “ Hoa lý, giờ anh cài nấm mộ/ Chập chờn em đẹp tóc mây mưa…”, thì tôi não cả lòng, không biết tác giả có hiểu hai từ “ mây mưa” là chỉ cái gì không? Và khi ghép với từ “tóc”nó sẽ mang ý nghĩa gì? Nhất là đối với một người đã khuất! Cũng tuyển thơ ấy, đọc mấy câu: “ Tôi làm nghề…. đã bao năm/ Nay đã nghỉ hưu sống cùng con cháu/ Nhưng vẫn nhớ mãi những ngày xưa ấy”, thì cứ thấy giống như những câu khẩu ngữ trong hỏi đáp được ghép lại mà thành? Ở một tập thơ khác, do một nhà XB danh tiếng về văn chương cấp phép, lại bắt gặp những bài thơ, câu thơ đại loại: “ Tìm hồn thu thảo mong manh/ Lối xưa xe ngựa Huyện Thanh Quan Bà”, thì có mà… bóp mũi thơ lục bát. Hoặc ý tứ như: “ Ngắm dáng Quan Âm hiền như lá/ Lắng lời Kinh Kệ lệ như mưa”, cái “lắng lời kinh kệ”, tiếp theo thì “lệ như mưa” thì không hiểu “lắng” ra làm sao nữa rồi! Hay như: “ Nước đầu nguồn, rối rắm chảy về xuôi”, cái nghĩa rối rắm ở đây, cũng “rối rắm” như chính câu thơ của tác giả? Còn đây là lỗi “ thằng đánh máy”hay cũng là lỗi “ phỉnh thơ” trong một thể loại thơ Đường nghiêm cẩn: “ Non nước tưng bừng trổi vậy thôi/ Ngói dột dựng xây nhà ngói rực/ Mai tàn dung dưỡng cánh mai ngời”. Dễ dãi ở biên tập đã đành, nhưng lỗi quá dễ dãi theo cách nói “dung dưỡng” của người làm thơ mới thật đáng tội nặng!?

Tất nhiên mỗi người thơ có quyền cho mình chọn những hình tượng, ngôn từ để mà hả hê vui sướng trong xúc cảm kỳ lạ của thơ ca, song tung hô, hay “hét” lên theo cái kiểu thơ… đường phố thế này, thì … thường quá: “ – Các ông cho chúng tôi được từ chối các ông nhé! / - Các ông cho chúng tôi được ước gì chúng tôi chẳng ước điều gì nhé!”, và đậm đặc những ngôn ngữ phi nghệ thuật đến hồn nhiên, huyễn hoặc: “ Tôi không biết phải làm gì/ Khi mỗi sợi lông trên người tôi đều không phát sáng” ? Và không hiểu sao, trong một bài thơ tưởng là “tưởng nhớ” song lại là những từ … tào lao nhất: “ Dám giao cấu mặt trời, thủ dâm thượng đế”. “Thi trung” giờ không còn “hữu họa”, “hữu kim ngọc” nữa mà chất chứa “rác thải” từ đẩu từ đâu, xưa lơ xưa lắc mà người ta cứ tưởng “vàng”, tưởng mới, tải về từ các trang mạng, từ những nguồn “nghẽn” của sự bế tắc tâm linh, tâm tình và cả tâm tưởng!

Không còn cái gọi là “suối nguồn” thơ ca, mà nó đã dềnh dàng lên thành ngập, thành lũ. Đó không phải là “ con lũ đẹp” trong cảm nhận của đồng bào miền Tây sông nước mà là con lũ buồn của các phố thị mỗi khi có đợt triều cường “cỗ vũ”, lênh lang, lai láng nhưng chẳng ích lợi cho ai, và chẳng ai tìm trong con lũ buồn ấy những thi vị của cuộc đời. “Thơ phỉnh thơ” giờ cũng tràn ngập trôi nổi trên cái thị trường chữ nghĩa đầy thượng vàng hạ cám này vậy.

Tới lúc người ta chán làm thơ, chán đọc thơ, chán in thơ và… chán luôn cái danh hờ “nhà thơ”, may ra lúc đó không còn con lũ buồn và “thơ phỉnh thơ” xuất hiện…

Edited by moderator Wednesday, September 7, 2016 5:39:24 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#17 Posted : Saturday, November 8, 2014 11:05:07 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
“Con Thiên Nga ‘dấu’…yêu!”

Tác Giả Đoàn Xuân Thu


Thưa quý độc giả thân mến.

Mấy bữa nay trời bớt lạnh, đêm ấm dần lên, những hàng cây ven đường tuần qua còn trụi lủi mà bữa nay đã nhú những chồi xanh. Cây mai làm kiểng trước sân nhà người viết đã lác đác trổ mấy nụ mai vàng. Nếu chúng ta đừng căn theo lịch mà căn theo thời tiết thì xuân tới phải là Tết tới. Mà Tết là khoảng thời gian đoàn tụ gia đình! Trăm núi ngàn đèo cũng lặn lội về thăm! Chắc quý độc giả thân mến hỏi: mùa xuân đến rồi; tui có bay về Việt Nam du xuân và du hí không? Làm sao khỏi! Nhưng hồi năm ngoái về, chẳng có gì vui! Sài Gòn bây giờ bin-đinh vài ba chục tầng được cất lên nườm nượp vì người ta sợ mỗi lần mưa là ngập; mỗi lần mưa là phố bỗng thành dòng sông uốn quanh. Người Sài Gòn bây giờ rất giỏi; ai cũng biết lội hết ráo mà tui lại không biết nên ra đường trời mưa sợ sụp ống cống ngỏm củ từ bỏ vợ con lại hổng ai nuôi!

Nhưng điều làm tui thất vọng nhứt là những điều tưởng tượng, mơ ước trong lòng đột nhiên trước thực tế phũ phàng phang cho một cái quá đau nên tui quyết không thèm về nữa!

Về Việt Nam, em yêu (dù ghen thầy chạy đi) cũng thử cho tui về một mình, một lần xem sao? (Em nói tình ta là vàng thiệt, vàng 24 cara, nên không sợ lửa? Mà lửa có đốt anh cháy thì anh sẽ cháy đứt một nửa cái nhà, một nửa chiếc xe, một nửa chiếc tàu câu cá, luôn một nửa tiền hưu trí… nên em nghĩ dù anh có thèm chảy nước miếng tới rún cũng không dám manh động mà ra tay động thủ! Kẻo mất tiền!)

Không có con vợ kè kè theo kiểm soát 24/7 nên tui lén kiếm tìm, thăm lại người xưa. Quán hủ tiếu của em yêu một thời dang dở tình ta vẫn còn đó, dù hơi tiêu điều hoang phế, rêu mọc tùm lum! Bước vô, ngồi xuống cái bàn sát bên chỗ tính tiền, tui kêu một tô hủ tiếu mì hoành thánh có thêm cái đuôi heo… ăn cho nó lên mỡ máu, để hồi ức về yêu thương ngày tháng cũ!

Em thâu ngân là một em tóc dài, em cài hoa thiên lý, miệng em cười anh để ý... nhớ giống ghê nha! Nhưng em không nhìn ra tui. Hơn 40 năm rồi, vật đổi sao dời! Chắc có lẽ tui đã già quá đi rồi! Thời gian đã hủy hoại tất cả hồi ức và cái nhan sắc của tui! Quất sạch tô hủ tiếu mì hoành thánh, cạp hết cái đuôi heo, cạn hết mấy chai bia, móc túi trả tiền, tui lấy hết can đảm hỏi em: “Anh tên Tèo ở Melbourne, Úc Châu về; xin hỏi em có phải là em Đẹt của ngày xưa? Nàng nhìn tui trân trân một hồi không chớp mắt; rồi kêu vọng vô phía trong: “Ngoại ơi! Có ai kiếm ngoại kìa!” Nghe vậy tui quày quả bước ra khỏi cửa quán như bị ma đuổi.

Bay trở qua bên nầy, tui giấu biệt chuyện đó... Sợ con vợ tui buồn vì trước khi về Việt Nam, em yêu cũng có lên một lớp ‘moral’ cho tui rồi. Em nói: “Con cá làm ra con mắm! Vợ chồng già thương lắm mình ơi!” Anh có về Việt Nam đừng bày đặt như người ta, bia ôm bia iếc, rồi cặp bồ cặp bịch, kiếm mấy ‘con gà móng đỏ’ làm tan nát tình ta!” Vì: “Gà tơ xào với mướp già! Vợ hai mươi mốt chồng đà sáu mươi. Ra đường, chị giễu em cười. Rằng hai ông cháu kết đôi vợ chồng. Đêm nằm tưởng cái gối bông. Giật mình gối phải râu chồng nằm bên. Sụt sùi tủi phận hờn duyên. Oán cha trách mẹ tham tiền bán con!”

Mấy em bên đó đẹp thì chắc phải có người yêu rồi chớ! Anh rước về; chẳng qua là anh xài đồ ‘second-hand’; có gì đâu mà hãnh diện? Em tuy già nhưng lúc anh cưới, em là hàng hiệu, hàng ‘brand- new’, sau về nâng khăn móc túi anh rồi chỉ một đời chủ, chung thủy với anh. Còn tụi nó là lũ bạc tình, nó dám bỏ tất cả kép già, kép nhí, dù hẹn thề bán mạng…để theo anh...vì anh có tiền, có cái mác Việt Kiều thôi! Chớ chừng tuổi nầy còn cơm cháo gì nữa mà ham. Anh không có nghe chuyện: Một ông Việt Nam mình, mùa hè xứ Úc lên tới 42 độ C, tắm xong, trần truồng bước ra nói với con vợ: “Nóng quá mặc quần áo làm gì!” Nhưng nếu anh để vậy mà ra trước sân cắt cỏ hổng biết con nhỏ Úc hàng xóm nó sẽ nghĩ ra sao?” “À! Nó nghĩ là em lấy anh chỉ vì tiền mà thôi!”

Đang tán dóc với vợ nhà thì anh bạn văn gọi điện bảo tới nhậu chơi! Bèn lễ phép xin em cho anh đi chơi một chút. Em yêu miễn cưỡng gật đầu!

Anh bạn văn già của người viết là một người có máu tiếu lâm! Tán dóc với ảnh mình cứ ôm bụng cười bò lăn bò càng; nên người viết rất lấy làm ái mộ. Anh đã 71 nhưng cười hoài nên trông giống như 17. Nếu là phụ nữ, chắc người viết đã ‘ưng’ ảnh lâu rồi!
Không những có máu tiếu lâm mà ảnh còn là một con người khéo ăn, khéo nói. Anh gọi bà xã ảnh là ‘thiên thần’; gọi mấy thằng con là ‘thiên tử’; gọi gia đình bên vợ là ‘thiên triều’. Tự xưng mình là ‘phò mã’ nghĩa là thằng giữ ngựa!

Tuần rồi đích thân anh bạn văn nầy đưa ‘thiên thần’ ra phi trường để chắc là em yêu đã bước chân lên máy bay về bệ kiến thiên triều; để vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm!

“Nhưng vợ vắng nhà cũng buồn lắm nha anh. Tui lại đang nghỉ phép thường niên một mình! Trong vòng vài tiếng đồng hồ mà tui đã mở tủ lạnh tới hơn một trăm lần rồi đó. Ăn nhiều mà không uống sợ lên cân nên bữa nay mời anh tới nhà tui, hai đứa mình lai rai một trời tâm sự!”

“Hỏi sao anh không đi với chị cho vui? Cho ‘chỉ’ đi một mình bộ anh không sợ bọn đạo tặc hay sao? Tốn tiền lắm nên năm rồi tui đi, năm nay bả đi... thay phiên nhau đi; để có đứa coi nhà... không thôi đạo chích đến dọn là không còn một cái chén ăn cơm!”

Anh nói: “Thiên thần của tui năm nay về bệ kiến thiên triều nhưng em vốn là người lo xa lắm, biết trước sau gì đồ ăn trong tủ lạnh tui sẽ rủ bạn bè đến quất sạch sành sanh nên em có để lại cuốn thiên thư nầy đây. Để tui mở ra coi em nói cái gì?” Mở thiên thư ra có vài chữ chỉ cách nấu mì gói. Nước sôi, bỏ bột nêm, bỏ mì vào bắc xuống rồi ăn. Hết!

Căn vào thiên thư của thiên thần để lại, anh lui cui nấu hai tô mì gói hiệu con Ngỗng!

Anh nói khi em đáng yêu thì tui âu yếm gọi em là ‘thiên thần’; nhưng khi em quạu, thì tui âu yếm gọi em là ‘thiên lôi!’

Vợ thì thay đổi xoành xoạch vậy đó nhưng em gái vợ, Dì Út, thì chẳng bao giờ. Mãi mãi trong lòng anh, em là con Thiên Nga, đẹp hết biết!

Ảnh nói có lần tui hỏi em yêu: “Nếu anh chết trước, em có đi thêm bước nữa không?” “Dĩ nhiên là không! Vì em ngán tới cần cổ rồi!” (Dì Út mấy bữa trước có gởi qua cái học bạ hồi còn học mẫu giáo của anh, lúc vượt biên mình không thể đem theo được. Trong đó cô giáo phê anh là ham chơi, khoái ăn, mê ngủ; và không chịu làm gì hết. Bốn chục năm nay từ khi anh cưới em về.... cũng đâu có thay đổi gì đâu!) Nên nếu lỡ anh chết trước em, em không lấy chồng, ngu gì cơm bưng nước rót, hầu hạ như một kiếp tôi đòi nữa, em sẽ về ở với em gái của em!”

“Còn nếu lỡ em chết trước anh... thì sao?” “Thì anh cũng vậy. Anh sẽ về ở với em gái của em!” Hi hi! (Chết cha tui lỡ miệng) Con vợ tui trừng mắt. “Ê nói chơi hè!” Cho qua chuyện nhưng trong lòng tui nghĩ y vậy đó anh ơi!”

Anh đừng vội rầy tui là thằng anh rể lựu đạn. Kim Trọng cũng vậy mà có ai đàm tiếu gì đâu?! Thúy Kiều và Thúy Vân, Trọng ta đòi quằm hết ráo! Dì Út của tui đây cũng đẹp như là Thúy Vân vậy đó! Tại sao anh thắc mắc là tui không để ý ai khác mà lại để ý đến Dì Út, em vợ mình. Để tui cắt nghĩa cho anh nghe! Thứ nhứt là hồi tui mới tính cưới vợ; bà già vợ chơi khăm, bày trò thử lòng tui, coi tui có háo sắc, quơ quào tầm bậy tầm bạ không? Gần ngày cưới, Dì Út mới thỏ thẻ với tui là: (tui nghi đó là kịch do bà già vợ tui làm đạo diễn) “Em muốn tặng anh món quà đặc biệt trước khi anh nên duyên giai ngẫu với chị em. Em lên lầu nằm đợi. Rượu nằm trong nhạo chờ nem. Em nằm phòng vắng chờ anh một mình!” Tui suy nghĩ nhanh như máy tính! Bắt cá hai tay là xôi hỏng bỏng không…

coi chừng vuột hết! Bèn dứt khoát bước đi cái rột ra cửa… kẻo mình lại đổi ý! Sau đó tui nghe phong phanh bà nhạc của tui khen rằng tui là thằng anh rể tốt. Chớ bả đâu biết rằng ở đâu thì còn ở đó. Mất mát, hao mòn gì đâu mà sợ... thì việc gì phải gấp gáp chớ?!

Phần Dì Út cũng kén lắm nha. Nên tui hổng sợ có trự nào quỡn đến hớt tay trên. Muốn lọt vào mắt xanh của em là phải có vô số điều kiện. Dì Út muốn tìm một người chồng đẹp trai, lễ độ, có óc hài hước, ưa chuộng thể thao, có kiến thức sâu rộng, hát hay, khiêu vũ giỏi và biết nấu ăn! Anh ấy phải luôn bên em, cùng vui vẻ với em khi em ở nhà. Anh ấy phải kể cho em nghe những câu chuyện thú vị và biết im lặng khi em cần phải nghỉ ngơi.

Tui đã trả lời Dì Út là: “Giờ thì anh hiểu Dì Út muốn gì rồi. Để anh mua cho em một cái máy truyền hình!”

Cục mỡ vẫn còn đó, vẫn còn lủng lẳng trước miệng mèo bao năm nay. Meo meo!

Tui có thằng bạn, con vợ nó có đứa em gái sanh đôi, giống hịt nhau như hai điếu thuốc. Có lần vợ nó sanh em bé. Bà già vợ thương con gái nằm cữ, gởi đứa em lên chăm sóc cho chị... và nó cứ lộn hoài không phân biệt ai là ai… Thiệt là cái thằng có phước hết biết?!

Dì Út là em ruột của vợ mình, ít nhiều cũng giống con vợ mình. Phận làm chồng, ai mà không thương yêu con vợ? Không thương, mình cưới nó làm chi? Vì thương em như biển hồ lai láng, không tính tháng tính ngày như thế nên thấy Dì Út hao hao là tui thương luôn… là hợp lẽ, hợp tình thì có gì đáng phải phàn nàn dị nghị phải không? À anh hỏi tui sao chị vợ cả bầy cũng giống hao hao... sao tui hổng chịu thương? Hỏi anh nè! Bác sĩ có cho anh xài thuốc quá ‘đát’ hông?

Phần tui chấm Dì Út, vì tui không muốn mình có tới hai bà già vợ chi cho nó mệt. Một bà là đủ nhức đầu lắm rồi.

Tôi chắc như bắp, Dì Út đối với đám con của tui cũng là bà con; hổng lẽ em nỡ lòng nào đanh đá, chơi trò mẹ ghẻ con chồng, hát tuồng Phạm Công Cúc Hoa và Nghi Xuân Tấn Lực.

Anh còn cẩn thận dặn người viết rằng: “Ê! Cái vụ tui chấm Dì Út nó được mười điểm trên mười; anh nhớ đừng thày lay nói ai hay nhen. Chờ thời cơ, mai phục! Thiên cơ bất khả lậu!” Kẻo tui lại quỵ chết trước cổng Khải hoàn môn thì uổng lắm nhe anh bạn!

Edited by moderator Wednesday, September 7, 2016 5:39:53 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#18 Posted : Wednesday, November 12, 2014 5:23:12 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

Vui Buồn Với Cái Tên Cúng Cơm

Bs Nguyễn Thượng Chánh

Sống tại hải ngoại, người Việt Nam mình thường hay bị rắc rối vì cái tên cúng cơm.

Sao rắc rối quá vậy!

“Muốn chỉ một cá nhân nào đó, tùy theo giai cấp, tín ngưỡng, tùy theo lúc sống hay chết, tùy theo già hay trẻ, người Việt Nam có rất nhiều tên để gọi. Ngôn ngữ Việt có những từ sau đây chỉ các loại tên: bí danh, bút hiệu, nhũ danh, nghệ danh, pháp danh, pháp tự, pháp hiệu, tên, tên cái, tên đệm, tên họ, tên gọi, tên chữ, tên cúng cơm, tên hèm, tên hiệu, tên húy, tên riêng, tên thánh, tên thụy, tên tục, tên tự, thương hiệu.” (Ngưng trích: Nguyễn Long Thao- DANH XƯNG ĐẶC BIỆT CỦA THƯỜNG DÂN VIỆT NAM)

Tên Ta, Tên Tây, Tên Mỹ…

Theo kiểu Việt Nam, mình bắt đầu bằng cái họ, kế tiếp là chữ lót (nếu có) và cuối cùng là tên gọi.Thí dụ: Nguyễn Thượng Chánh

Theo kiểu Mỹ, Canada thì bắt đầu bằng tên gọi (first name, given name, forename), kế đến là chữ lót (middle name), rồi cuối cùng mới là cái họ (family name, surname, last name) và cần nhớ là tên Việt Nam viết không được bỏ dấu...Thí dụ: Chanh T Nguyen.

Mình tự hỏi hổng biết các tên gồm một hơi 5-6 chữ thì họ sẽ bị rắc rối tới đâu...

Nội cái vụ chữ lót không thôi mà đôi khi cũng đủ để nhức đầu rồi.

Thường thì chữ lót dùng để bổ thêm nghĩa cho cái tên. Tây họ thường hay hỏi mình, nó là cái gì vậy? Mà thật ra đôi khi mình cũng không biết tại sao phải cần có chữ lót để làm gì, tại sao có người thì có chữ lót còn người khác thì lại không! Rồi mình lại phải cắt nghĩa vòng vo Tam Quốc cho họ hiểu, mà cũng không chắc gì họ hiểu cho lắm đâu…

Thôi thì mình bỏ quách chữ lót cho nó nhứt cử lưỡng tiện, và khỏi rắc rối. Đối với các giấy tờ chánh thức (passeport, bằng lái v,v…) mình phải bắt buộc ghi tên y như trong khai sanh.

Các trường hợp bình thường hằng ngày không quan trọng thì mình sử dụng tên Chanh Nguyen cho nó giản tiện và lẹ hơn.

Bạn bè da trắng, da đen, trong sở thì mình biểu tụi nó gọi mình bằng Chanh, toi, moi. Các người lạ, ít thân thiện, xếp lớn thì lúc nói chuyện họ đều gọi mình là Dr Nguyen (Họ đọc là Ngu –Yen).

Có nhiều người còn có tên đôi tên kép, và đôi khi kèm theo tên Tây hay tên Mẽo ở sau chót nữa.

Mèn ơi! có tên thì dài ngoằn dài ngoèn một hơi bốn năm chữ, cho nên mỗi khi cần điền vào hồ sơ hay giấy tờ thì gặp rất nhiều khó khăn, vì không đủ chỗ viết, mà cũng hổng biết điền biết viết vào hàng nào, ô nào cho nó đúng tên đúng họ của mình nữa.

Thôi thì viết đại vô. Thật là rắc rối.
Cái mode đổi tên Việt thành tên Tây tên Mỹ.

Các con em Việt Nam sống tại hải ngoại cũng thuờng được cha mẹ đặt cho thêm tên Tây tên Mỹ cho hợp thời và cũng cho bạn bè hay thầy cô của chúng dễ kêu, dễ gọi hơn.

Một số người thì thêm tên Tây tên Mỹ cho dễ làm ăn, dễ giao thiệp, và cho nó có vẻ Tây vẻ Mỹ một chút cho nó le vậy mà. Thôi thì nhập gia tùy tục nhập giang tùy khúc vậy. …

Cái hơi kẹt, có khi các tên lạ tai nầy thường hay bị bà con trong nhà, Việt Nam hóa cho gọn lại thành tên mít hết ráo cho dễ gọi và dễ nhớ. Thí dụ như thằng Lít (Philippe), con Ri (Marie), con Rết (Henriette), thằng Na (Bernard), thằng Ni (Tony), thằng Tom (Tommy) có khi là Tôm, thằng Bob (Robert), thằng My (Remy).

“Việc đổi tên ở nước ngoài là chuyện chẳng đặng đừng. Nó giúp cho cuộc sống nơi xứ người dễ dàng thêm một chút. Hơn nữa mình sống ở nước nào lấy tên thường gọi ở nước đó thì cũng không có gì gọi là vọng ngoại hay mất gốc….”(Ngưng trích Vì sao người Việt nước ngoài lấy tên Tây- Thái Phạm –VietnamExpress 7/3/2011)

Lại còn cái vụ tên Việt Nam, bên nầy mình không được bỏ dấu theo kiểu tiếng Việt cũng gây rất nhiều phiền toái hết sức, vì không biết gọi sao cho đúng tên cúng cơm của người ta chớ không thì kỳ chết đi, mích lòng lắm…

Bên nhà đọc tên ngoại quốc theo “kiểu hơi đặc biệt”.

Theo nhà báo Bùi Văn Phú trong bài:

Không có cách viết đồng nhất cho danh từ riêng tiếng nước ngoài?

“Một thí dụ khác, trích dẫn từ báo Nhân dân, phần Tin giờ chót, ngày 20.03.2010:

* Tại cuộc họp của Nhóm “Bộ tứ” về Trung Đông ở Mát-xcơ-va, Tổng Thư ký LHQ Ban Ki Mun đã yêu cầu I-xra-en chấm dứt ngay việc xây dựng các khu định cư mới, đồng thời kêu gọi Israel và Palestine nối lại các cuộc thương lượng trong vòng 24 tháng tới.

* Chính phủ Nhật Bản thông báo sẽ cho Indonexia vay 27 tỷ yên để xây dựng nhà máy điện địa nhiệt ở Lu-mút Ba-lai, Nam Xu-ma-tơ-ra. Việc cho vay sẽ được thực hiện thông qua Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA).

* Phó Tổng Thư ký LHQ A. Mi-gi-rô kêu gọi cộng đồng quốc tế hãy nỗ lực hơn nữa để kết thúc Vòng đàm phán Đô-ha về tự do thương mại quốc tế trong năm nay.

* Giám đốc Cơ quan tình báo quốc gia Mỹ Đen-nít Ble đã thăm Ấn Độ và thảo luận với Bộ trưởng Nội vụ P. Chi-đam-ba-ran về những biện pháp chống chủ nghĩa khủng bố.

* Bộ trưởng Ngoại giao Argentina Hoóc-hê Tai-a-na thúc giục Chính phủ Anh đáp ứng yêu cầu của LHQ sớm bắt đầu cuộc đàm phán với quốc gia Nam Mỹ này về chủ quyền đối với quần đảo Man-vi-nát đang tranh chấp.

Đọc hết các tin ngắn trên, tôi chỉ có thể giải mã được địa danh Indonexia (Indonesia), Xu-ma-tơ-ra (Sumatra), I-xra-en (Israel) và tên một người là Đen-nít Ble (Dennis Blair) và đoán ra một vài tên khác, nhưng không chắc lắm. Nếu muốn tìm trên Internet thêm thông tin về những nhân vật hay địa danh in đậm và dùng từ khoá như cách viết trong bài báo thì sẽ khó có thể tìm được đúng những gì muốn biết thêm” (Ngưng trích Bùi Văn Phú).

Tây Mỹ đọc tên Việt


Đây là chưa kể đến chuyện một số tên Việt Nam mà người ngoại quốc đọc không được hay khi họ đọc thì nghe như là tên Ma Rốc, tên Á Rạp, hay tên gì lạ hoắc.

Riêng cái họ Nguyễn, tại Quebec họ đọc là Nu Yen, ráng mà nghe.

Vậy trường hợp có ngồi đợi ở đâu đó như tại bệnh viện hoặc tại phi trường thì mình phải chú ý không được ngủ gà ngủ gật, hãy lắng tai mà nghe cho rõ lúc người ta gọi tên.

Đây là chuyện phiền phức cười ra nước mắt đã từng một lần xảy ra cho người gõ tại phi trường Ohare Chicago

Hai vợ chồng ngồi chờ United Airlines connection đi Los Angeles (Lax). Chở lâu quá, vừa mỏi lưng vừa buồn ngủ, và vừa bị lùng bùng lổ tai vì quá ồn ào nên không nghe rõ họ kêu ai trên loa phống thanh 2-3 lần. Tưởng đâu không phải họ gọi mình. …Cô Mỹ đọc tiếng Việt mà. Sinh nghi mình đến hỏi quầy vé, thì đúng là họ muốn gặp mình. Hú hồn hú vía. Xém vuột chuyến bay.

Úm ba la tên ta thành tên ngoại

Tên Việt Nam mà dịch ra tiếng ngoại quốc cũng ngon lành lắm chớ bộ, thí dụ như Thắng là Frein, Brake hoặc Victory; Bạch Tuyết là Blanche Neige; Tốt là Bon hay Good; Tân là Nouveau, New; Thu là Automne, Fall; Xuân là Printemps, Spring; Giàu hay Phú là Rich; Đức là Allemand; Lễ là Fête; Lan là Orchidée; Thơm là Good Smell hay Pineapple; Mai là Demain, Tomorrow…

Tên ngoại thành tên ta

Còn tên Tây tên Mẽo mà dịch ra tiếng Việt đôi khi cũng thấy ngồ ngộ lắm, như Toronto là Tổ Rồng To, Montreal là Mộng lệ An, San Francisco là Một Trăm Quan Tiền Sáu Cô, Jean Talon là Jean Tà Lởn, Côte des Neiges là Dốc Tuyết, Bush là Bụi Cây, Charette Xe Bò, LeBoeuf Con Bò, Paradis là Thiên Đàng, Bouvier là tên một loài chó, Armstrong là Cánh Tay Mạnh, Pierre hay Stone là Đá hay Thạch, Gate Cái Cổng, LeBlanc là Trắng hay Bạch, LaMontagne là Núi hay Sơn, PainChaud Bánh mì nóng, Claire Lavoie là Đường trống, LaRivière là Con Sông hay Hà, và Sovo là cái tên quốc tế rất độc đáo của đại đa số đàn ông trên thế giới!

Tại Québec, bà con mình gọi người “québecois de souche, pure laine” là dân còi chánh cóng. Đó là người da trắng, nói tiếng Tây, gốc Pháp, sống tại tỉnh bang Québec.

Cựu Thủ tướng Pháp Jean Marc Ayrault có người gọi là... “Giăng Mặc Ê Rô”.

Nhưng trong tất cả các tên ngoại quốc có thể nói là chỉ có tên ANDI là tên tuyệt điệu nhứt vì nó hội đủ cả tứ khoái âm dương ngũ hành trong đời. Nam hay nữ đều có thể dùng chung tên nầy.

Tiệm sushi Fukyu tại Montreal bị rắc rối vì tên Nhật bị đọc theo giọng Mẽo

Nhà hàng Sushi Fukyu nằm trên vùng Côte des Neiges Montreal (4820, rue Jean-Talon O. (coin Victoria)Montréal, bị các tiệm buôn lân cận thưa trước tòa. Lý do họ không muốn cơ sở kinh doanh của mình chịu mang tiếng xấu vì ở cùng khu vực với Fukyu.

Theo chủ nhân, Fukyu là một từ trong võ thuật Nhật Bản. Nhưng quan tòa không đồng ý. Cuối cùng để xin hai chử binh an, chủ nhân Fukyu dành bóp bụng chửi thầm phải đổi tên tiệm lại là Kebuki, tên một loại bi kịch cổ truyền Nhật Bản.

Tên gì kỳ cục quá: ****ing village (Làng múa lân) bên nước Áo.

Đây là một làng nhỏ, chỉ dành riêng cho mấy người trẻ tuổi, còn xí quách ở mà thôi?

Có dạo họ tính đổi tên lại thành Fugging mà dân chúng không đồng ý. Tên “****ing” ấn tượng hơn. Tên nghe “lạ tai”, ý nghĩa duy trì nòi giống, sướng, có sức khỏe đồng thời cũng có tính cách khuyến mãi, marketing dễ thu hút du khách vui tánh.

Tên ta đọc theo giọng Mỹ

Cũng có những cái tên Việt Nam rất ư là thanh tao, nhưng nếu phát âm theo đúng giọng Mỹ thì kẹt lắm. Thí dụ: Dung, Dũng (đống caca thú vật), Cần, Can (can,cái lon), Cao (cow bò cái), Vân (van, xe camion nhỏ), Phát, Phúc ( ****, múa lân trên giường), Đại (die, ngỏm), Trúc (truck, xe camion lớn)…


Hình ảnh về cái tên.

Việt hóa tên Hoa, tên Hàn

Người mình cũng khônng vừa gì. Tên Tàu, tên Đại Hàn của người ta cũng bị mình sửa lại thành tên Việt hết ráo như: Tập Cận Bình (Xi Jinping),Ôn Gia Bảo (Thủ tướng Trung Quốc). Hồ Cẩm Đào (Hu Jintao),

Các chức sắc cao cấp trong chánh phủ Đại Hàn là Kim Dân Chu, Li Dân Xớp, Kim Thê U, Chô Miêng Chun, Tổng thống Kim Đạt Trọng ( Kim Dae Jung) từ 1998-2003, nhận Nobel hòa bình 2000,và Tổng thống Đại Hàn (2006-2008) là Lư Vũ Huyến (?) Roh Moo Hyun.

Còn nhà độc tài Bắc triều Tiên Kim Chính Nhật (Kim Jon Il) 69 tuổi vừa mới ngỏm và nhường chỗ cho cậu ấm là Kim Chính Ân (Kim Jon Un) (sanh 1971?) lên cầm quyền. Hai cha con không bao giờ biết cười cho nên đất nước Triều Tiên khó khá lên được.

Về phía các tài tử thì có Tôn Nghệ Trân (Son Ye Jin), Củng Lợi (Gong Li), Chương Tử Di (Zhang Ziyi), Thành Long (Jackie Chan)…

Còn nhớ 40-50 năm về trước thần tượng của tác giả là các tài tử Khương Đại Vệ (David Chiang), Địch Long, Trần Quang Thái, Lý Tiểu Long (Bruce Lee), Lý Lệ Hoa (trong phim Áo Người Trinh Nữ, xem xong mấy bà mấy cô khóc sướt mướt)…Chắc ngày nay họ cũng già khú đế hết ráo, và lê lết trong các nhà dưỡng lão sang trọng hay cũng đã quy tiên theo Lý Tiểu Long rồi.

Tên tại các xứ khác

Tên Thái Lan, tên Nhật Bản, tên Ấn Độ, tên Tây, tên Mỹ thì ít thấy bị sửa thành tên Việt. Abhisit Vejjajiva là Thủ tướng trẻ tuổi của Thái Lan (2008-2011), Taro Aso Thủ tướng Nhật Bản (2008-2009), Mammohan Singh Thủ tướng Ấn Độ, Nicolas Sarkozy (TT Pháp), Aung San Suu Kyi (Miến Điện), Bachar El Assad (Syrie), Barack Obama (TT Hoa Kỳ), Nicole Kidman, Brad Pitt, Angelina Jolie…

Riêng chỉ có cái tên Yamaha của Nhật Bản rất nổi tiếng khi qua tới Việt Nam liền bị mấy cụ ông giành nhau quá xá cỡ và đổi lại thành YAMAHAM.

Tên không giống ai: Tên ảo

Đây là tên bạn phài sử dụng (user name) và kèm theo mật khẩu (password) khi mở Email! Đôi khi có nhiều địa chỉ email quá nên thỉnh thoảng mình lộn user name và password cái nầy qua cái kia nên mở hoài không ra. Một hồi nhớ lại thì mới biết. Té ra là vậy.

Nái lói hay nói lái
Còn cái vụ nói lái nữa chớ…

Chỉ cần thêm một vài chữ sau cái tên cúng cơm là nó sẽ trở thành một cái tên mới thật ác liệt lắm, thí dụ như các tên Hậu, Thu, Đạm, Lan, Lài, Công, Tốt, Tôn, Nắng, Môn, Paul, Đức, Đậu, Đôn, Bồn, Chú, Đại, Dồn, Dũ, Đệ, Đạo, Dụ, Tôn, Tu, Tú, Đội, Đạo, Cự, Cao, Tặc, Bắc, Mao, Thái, Hai, Hải, Hách, Chánh…và còn nhiều lắm…

Họp lại nhau kỳ cục lắm.

Cũng có một số tên rất tương khắc lẫn nhau, nếu cặp đôi lại thì nghe kỳ lắm như các tên: Chơi, Lâu, Sướng, Khoái, Thôi, Hứng…

Các tên quá rõ rệt, nghĩa trắng nghĩa đen lẫn lộn như Tôn Thất Nghiệp (không nên viếng thăm bạn bè ngày đầu năm), Tôn thất Hứa (không nên đi vay mượn tiền người khác), Tôn Thất Đức, Tạ Đức Thắng (không nên đi chung xe với cha nội nầy), Lê văn Giàu (không nên xin tiền xã hội), Trần văn Rớt (Không nên đi thi khó đậu…) và còn nhiều lắm.

Còn trường hợp Bác sĩ Robert Vũ văn Sang tại Hoa Kỳ, mỗi khi tự giới thiệu thì đứng lên nói Im Dr Bob Vu….(làm mấy bà mấy cô giật mình đỏ mặt!)

“Có một ông thuộc thế hệ người Việt thứ nhất khi còn ở Việt Nam mang họ Bùi, tên Liêm: Bùi Liêm. Sang đến Mỹ, tên của ông được chính thức trở thành Liêm Bùi theo cách viết tên trước họ sau của người Mỹ. Nhưng khổ nỗi, trong tiếng Anh không có dấu nên tên của ông trên giấy tờ được viết là Liem Bui. Các bạn đồng hương nói đùa:

“Tên gì mà kỳ cục quá, nghe như… liếm b…!”.

Để không bị chế giễu, ông vẫn giữ họ Bùi nhưng tên Liêm đổi thành Robert hầu tránh ngộ nhận chết người… Tưởng đâu thoát nạn nhưng ông lại gặp thêm rắc rối vì cái tên mới. Số là người Mỹ thường gọi Robert qua cái tên thân mật Bob. Hóa ra tưởng đã yên thân với tên Robert Bui, nay ông lại khốn đốn vì cái tên thân mật Bob Bui. Bạn đồng hương lại có dịp chọc quê: “Liếm b… chưa đủ hay sao mà lại còn đổi là bóp b…”.(Ngưng trích)

…Các cô có tên đẹp như Mỹ Dung, Hạnh Dung, các cậu quý tử như Anh Dũng, Hùng Dũng đều nhanh chóng đổi tên vì những bất đồng về ngôn ngữ và văn hóa giữa tiếng Anh và tiếng Việt. Những tên như Dung hoặc Dũng lại trở nên khó nghe đối với người bản xứ vì khi phát âm hoặc khi viết nó lại đồng nghĩa với từ dung trong tiếng Anh, có nghĩa là… phân súc vật. Hóa ra, Mỹ Dung lại biến thành my dung.” (Ngưng trích: Tên của người Việt)


Tên tốt tên xấu

Tên mình do cha mẹ đặt ra nhằm mục đích đề cao một đức tính, một ước mơ, hay một kỷ niệm nào đó…Nếu mình lỡ phải mang một tên hơi xấu, hơi lạ thường thì cũng phiền phức lắm vì có thể gây sự chú ý, thậm chí cả sự chế ngạo của người khác nữa. Tình trạng càng bi đát khổ sở hơn nếu nạn nhân là phái nữ.

Bởi vậy, cái tên cúng cơm rất quan trọng trong đời sống của một người.

Nếu trường hợp không thích tên cúng cơm của mình nữa, thì mình cũng có thể làm thủ tục xin tòa án đổi tên, nhưng rất rắc rối, hao tài và phiền phức lắm.

Tên cúng cơm hỗn danh, bí danh và nghệ danh

Rồi còn vụ gán thêm cái bí danh vào tên cúng cơm làm cho nó càng thêm rõ nghĩa, thêm đậm nét nữa chớ, chẳng hạn như Tuấn mập, Minh cò (vì ốm nhom ốm nhách và cao như con cò), Big Minh (TT cuối cùng), Hùng mụn, Lộc bụng (vì có mang thùng nước lèo khá đồ sộ ở trước), Phước móm, Châu ô (vì da hơi đen), Châu ởi (vì vậy đó…)Tâm rổ (mặt đầy xẹo vì bị té trong thùng đinh hồi nhỏ), Hùng lé, Hương bàn nạo (cần đi nha sĩ niềng răng lại), Cô Hồng coi bói, Cô Xuân bánh cuốn, Cô Cúc chả giò (chuyên bỏ mối ở Montreal), Cô Thủy áo dài (vì chuyên may áo dài), Đức garage (chuyên sửa xe), Thầy Ba Cầu Bông, Tám thẹo (dân anh chị ngày xưa), Đại Cathay…

Còn mấy người chủ mới của miền Nam thì tên của họ cũng là một điều rất bí mật vì mỗi cha đều có cả lố bí danh không biết đâu mà rờ. Thí dụ như Vũ Đình Liệu (Tư Bình), Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc), Phan Đình Khải (Lê Đức Thọ, Bác Sáu, Sáu Búa), Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt): Tham khảo Hồi Ký Lớn Lên Với Đất Nước (Vy Thanh tức Nguyễn Văn Thùy).

Các ông, các bà viết lách, văn sĩ, « nhà thơ nam, nhà thơ nữ » nhà báo, nhà gõ nam, nhà gõ nữ, thầy bói, thầy đông y, thần y trị đâu chết đó, hầu như đều có bút hiệu hay biệt hiệu riêng. Có người thì lấy ba bốn bút hiệu, biệt hiệu cho nó oai.

Những nghệ sĩ, nhạc sĩ, kịch sĩ… phần lớn chẳng có ai dùng tên cúng cơm mà xài nghệ danh.

Trước đây là tên hai chữ, như Thái Thanh, Thanh Thúy, sau đó dài thêm ba chữ như Phương Hồng Quế, Trang Thiên Kim…

Gần đây, dù không phải ở ngoại quốc, có phong trào các nghệ sĩ trẻ thêm tên Tây vào nghệ danh của mình.

Mấy em bán bia ôm, cà phê đèn mờ vì nhu cầu bảo mật gốc gác và làm ăn nên các em cũng có cả lố tên riêng để dễ bề làm việc.

Vậy có trốn vợ đi chơi, bạn chớ dại mà khai tên thiệt của mình làm chi. Cứ lấy đại tên của mấy đứa bạn hay tên cúng cơm của xếp mình mà xài đỡ.

Tên cúng cơm thầy Nguyễn Văn Lúa biến thành huyền thoại

Đôi khi cũng có những tên cúng cơm trở thành huyền thoại, và nhập vào kho tàng văn chương bình dân truyền khẩu Việt Nam vào một thời điểm nào đó.

Thập niên những năm 50 và 60, dân miền Nam thường hay dùng chữ lúa để chỉ một sự việc không như ý, một thất bại hay một mất mát nào đó. Có thể từ nầy đã bắt nguồn từ tên của vị Giáo Sư Lúa.

«Theo tài liệu trong quyễn hồi ký của một tác giả CS, được biết Gs Lúa đầu tiên dạy tại Trung Học Mỹ Tho, sau đổi về Pétrus Trương Vĩnh Ký, Chasseloup Laubat rồi qua Đại Học Sư Phạm và Đại Học Văn khoa Sài Gòn. Gs Lúa nổi tiếng là rất khó và hay tìm cách chiếu bí (Tây gọi là coller) sinh viên trong các kỳ thi. Ai nấy đều ê càng mỗi khi nghe đến tên Thầy Lúa. Đi thi vấn đáp (oral) xui tận mạng mới trúng nhằm Thầy Lúa. Gặp Thầy Lúa là kể như đời tàn,tiêu tán đường, và Lúa vàng luôn: thi không ăn ớt thế mà cay, ý nói thi bị rớt».

(Tài liệu do Gs Lâm Văn Bé, cựu Hiệu Trưởng Trường Trung Học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho đã gởi cho người gõ).

Trong bài viết: Bóng dáng ân sư-Nhắc lại thầy Võ Thành Cứ, nhà văn Nguyễn Thị Cỏ May có đề cập đến Thầy Nguyễn Văn Lúa như sau:

“Lúc này, Trường Nguyễn Văn Khuê còn Lớp Seconde và Première. Pháp văn do giáo sư

Nguyễn Văn Lúa, bạn của Ông Đốc Nguyễn Văn Khuê dạy. Ông Nguyễn Văn Lúa nổi tiếng

cho điểm bài luận văn dưới 0 ( - 2, - 3, …). Khi học sinh được điểm trên 0, ông trừ lại. Học

sinh thi Tú Tài I, vào vấn đáp Pháp văn, gặp ông, lúc ra, mặt mày thường toát mồ hôi. Bạn

hỏi điểm hay đề thi, thí sinh chỉ kịp trả lời «…Lúa...». Tức ý muốn nói ông Lúa hỏi …và chắc

rớt môn vấn đáp Pháp văn. Từ đây, ở Sài gòn, trong giới học sinh, có tiếng lóng rất phổ biến

«LÚA» có nghĩa là thất bại.

Nhưng có lẽ nhờ vậy mà Đại Học Sư Phạm Sài Gòn trước 75 đã đào tạo được nhiều thế hệ giáo sư gương mẫu và tài ba cho ngành giáo dục VNCH.


Tên dài nhứt Việt Nam?

“Cho đến thời điểm này,chúng tôi tạm xác nhận chị Đào Thị Long Lanh Kim Ánh Dương ở xóm 6, xã Tân Linh,Đại Từ là người có cái tên dài nhất trong huyện. Không biết chừng cô gái này còn là người có cái tên dài nhất tỉnh Thái Nguyên hoặc Việt Nam cũng nên” ( Ngưng trích-Nguyễn Tiến Phong)

Tu trong chùa cũng không yên

Các Sư đi tu trong chùa đều có pháp danh là Thích… nhưng cũng không yên. Đôi khi pháp danh bị bọn trẻ sửa lại rất là phàm thế (Mô Phật xin cho người gõ miễn nêu ra đây, sợ bị chửi).

Phật tử thì cũng phải có pháp danh, như Minh Cảnh, Minh Đức, Diệu Hiền, v.v…để khi quá vãng, lúc cúng vong hương linh nghe biết được tên mình mà bước tới bàn thờ dùng bữa, nhận tam bái tứ bái, hoặc để thân nhân đăng cáo phó cho ra vẻ là Phật Tử thứ thiệt 100%.

Tín đồ Thiên Chúa Giáo cũng như các Cha ngoài tên cúng cơm thì cũng có tên thánh (sacred name) như Giuse, Phaolô, Gioan, Maria, Anna…

Bị Tây Mẽo đặt tên.

Qua bên nầy, người gõ thỉnh thoảng cũng bị mấy đứa nhỏ ngoài đường đặt cho mình vài cái tên là lạ không mấy thiện cảm chút nào như Le Chinois, Chop Suey...kêu sao cũng được, có sao đâu.

Người da trắng thường lầm tưởng người Việt mình là dân Tàu.

Họ không hiểu mình

Trong sở, lúc bắt phone, mình vừa mới xưng tên mình thì bên đầu dây bên kia họ pardon lia lịa vì họ không có hiểu mô tê gì đâu. Vậy phải nói lại cho chậm, cho rõ ràng và uốn lưỡi phát âm theo kiểu Tây kiểu Mẽo, đôi khi phải đánh vần từng chữ một rất mất thì giờ mà hổng biết họ có hiểu nổi không.

Đi làm giấy tờ thì đôi khi mình thường bị người ta gạn hỏi tại sao vợ you với you có cùng một họ với nhau. Còn tên con gái (nom de fille, maiden name) của madame là gì? Ý họ muốn biết tên thật của bà xã trước khi đụng mình là tên gì. (tại nhiều xứ, mấy cô sau khi lấy chồng thì phải mang họ chồng)

Bóng thời gian: Kẻ Nam Người Bắc

Nhớ hồi năm 1956, mình đang học lớp 5e M3 (đệ lục) tại một trường trung học Sài Gòn. Trong lớp có anh Nguyễn Thượng Chính, người Bắc, còn mình là người Nam. Có một lần giám thị Tây (surveillant) vì lầm lộn nên lúc biên consigne phạt anh Chính mà lại viết tên Chánh. Thế là chúa nhựt mình phài khăn gói đến trưỏng « thọ án » hết nửa buổi. Oan ơi Ông Địa.

Trò Chánh (X), trò Chính đứng nghiêm ngoài bìa hàng thứ nhì bên phải cô Pancrazi dạy Anh văn. Hình chụp 58 năm về trước(1956).

Họ Nguyễn tại Québec cũng ngon lành lắm chớ bộ

Theo phỏng đoán có vào khoảng 40% người Việt sống trên thế giới mang họ Nguyễn.

Tại Québec, Canada họ Nguyễn không những đứng trước nhiều họ mang âm hưởng ngoại quốc, nhưng nó còn vượt qua mặt các họ của người “Còi” chẳng hạn như Gélinas, Giguère và Robitaille…(“Còi” là người Québécois da trắng, gốc Pháp chánh hiệu con nai).

Tại Montreal họ Nguyễn là họ phổ biến đứng thứ nhì sau họ Tremblay của người “Québecois pure laine” nghĩa là “còi” thứ thiệt.

Họ cũng thường hỏi tại sao tại thành phố Montreal (Mộng Lệ An), người Việt Nam có đến hơn 2.000 người đều mang cùng họ Nguyễn ngang ngữa với cả họ Tremblay, là họ phổ biến nhứt của Québec? Ai mà biết tại sao đâu. Nhưng đôi khi mình nói giỡn với họ là những người họ Nguyễn đều là bà con nhau cả. Coi chừng đó.

Tại Úc Châu, Nguyễn cũng nằm trong những họ thường gặp nhất trong niên giám điện thoại.

“Tại thành phố Sydney, những họ thông dụng nhất theo thứ tự là Smith, Lee, Nguyễn, Chen và Kim. Trong khi tại thành phố Melbourne, tên Nguyễn đứng hàng thứ nhì sau tên Smith, và thứ tự như sau Smith, Nguyễn, Singh, Williams và Wilson”. (Trích Thời Báo online)

Nhứt quỷ nhì ma thứ ba học trò

Hồi còn đi học, thì nhứt quỷ, nhì ma thứ ba là học trò, nên thầy cô gì cũng đều bị học trò ưu ái đặt thêm cho một cái tên hết…

Người gõ cũng từng một thời là dân nhà giáo tại Đại học Cần Thơ chắc cũng không thể thoát ra khỏi ba cái vụ nầy. Có vay thì phải có trả mà thôi...

Nghĩ lại thấy cũng vui vui./.

Đọc thêm

- Wikipedia- Tên người Việt Nam
http://vi.wikipedia.org/...%BB%9Di_Vi%E1%BB%87t_Nam

- Không rõ tác giả- Tên của người Việt
http://www.luanhoan.net/...l/bm%2001-02-13%2017.htm

- Bùi Văn Phú

Không có cách viết đồng nhất cho danh từ riêng tiếng nước ngoài?
http://www.talawas.org/?p=18807

- Nguyễn Thị Cỏ May-Bóng dáng ân sư-Nhắc lại thầy Võ Thành Cứ
http://namkyluctinh.org/...su/ntcomay-vothanhcu.pdf

- Trang Nguyên-Đổi tên cúng cơm
http://baotreonline.com/...i-cai-ten-qcung-cmq.html

- Chuyện nói lái.
https://www.facebook.com...83/posts/450921264999134

- Nguyễn Long Thao-Danh xưng đặt biệt của thường dân Việt Nam.
http://www.erct.com/4-Ch...am/Tinh_danh-Ten_tuc.htm

Montreal, 2014

Edited by moderator Wednesday, September 7, 2016 5:41:02 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#19 Posted : Tuesday, November 18, 2014 6:34:33 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
sưu tầm

Phiếm Luận về Phở


Món ăn thuần Việt từ lâu đã tỏa sáng rực rỡ trong ngoài nước là phở.

Từ thế kỷ trước, người đầu tiên có bài viết trong đó có nói tới phở là nhà văn Thạch Lam với “Hà Nội 36 phố phường” ở phần nói về gánh phở trong nhà thương Phủ Doãn tại Hà Nội. Chỉ bằng vài lời văn tả thật tự nhiên mượt mà của một cây đại thụ trong nhóm “Tự lực văn đàn” mà gánh phở rong của Hà Nội như được thăng hoa :

- Nước thì trong và lúc nào cũng nóng bỏng, khói lên nghi ngút. Rau thơm tươi, hồ tiêu bắc, giọt chanh cốm gắt, lại điểm thêm một chút cà cuống, thoảng nhẹ như một nghi ngờ.

Bài viết của nhà văn Thạch Lam giống như phát súng lệnh đầu tiên, sau đó các nhà thơ nhà văn tên tuổi đều có bài viết và đã không tiếc lời ca ngợi món phở, bài ký “Phở” đã đưa đại chúng biết đến nhà văn Nguyễn Tuân như một bậc thầy về phở, nhà văn Vũ Bằng với bài “Phở bò – Món quà căn bản” khiến đọc giả lâu nay quá quen với bát phở rẻ tiền giờ mới biết Hà Nội xưa còn có cả một ông vua phở, đọc giả đến giờ mới biết bát phở hóa ra còn là một bức tranh ẩm thực tuyệt đẹp… Thế là công chúng có cái nhìn trân trọng đối với món quà bình dân vẫn ăn hàng ngày ấy, nhà thơ trào phúng nổi tiếng Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu cũng phải động lòng mà múa bút cho ra bài “Phở đức tụng” làm người đọc càng hứng thú với ý nghĩ bát phở còn là một bài thơ đầy ý tứ…

Từ phương Nam – Sài Gòn xa xôi, tay chơi người tàu lai rất nổi tiếng nhưng đại khó tánh Vương Hồng Sển chỉ quen ăn mì xá xíu, hủ tiếu tàu cùng bánh bao há cảo xíu mại… thế mà sau khi được thưởng thức món phở chính thống của tiệm phở Huỳnh đã không đừng được mà phải cầm bút viết những dòng ngợi ca tán thưởng.

Lại xuất hiện cả giai thoại thi sĩ Tản Đà khi ở Sài Gòn từng cậy nền gạch bông nhà trọ lấy đất trồng rau thơm để ăn phở…

Cùng song hành với món phở, suốt chiều dài thế kỷ đã có hàng trăm, hàng ngàn bài viết ca tụng món phở của các cây bút chuyên nghiệp có, không chuyên có, thậm chí dốt đặc cán mai như nhà cháu đây do ngẫu hứng đột xuất mà múa tay gõ bàn phím cũng là để quảng bá cho món phở qua những dòng mà các quan bác đang đọc đấy ạ.

Những cái vừa kể đã cùng nhau đưa món phở lên tột đỉnh vinh quang, mặc nhiên phở trở thành món ăn quốc hồn quốc túy. Trong lãnh vực ẩm thực thì chừng mực nào đó phở còn là biểu tượng của Việt Nam.

Xin hỏi rằng thế giới có món ăn nào của dân tộc nào mà lại được sùng bái, được tôn vinh như vậy ?[ Lại khiến người ăn khổ sở vất vả đến vậy?

Này nhé :

- … buổi sáng, hàng trăm người chen chúc khổ sở vào cái ngõ con bề ngang không quá một thước ở phố Hàng Khay, bên cạnh nhà Bát Si Nha hay xuống tận đằng sau chợ Hôm, trong một cái quán lá tồi tàn để thưởng thức cho kỳ được một hay hai bát phở….

Lại còn gánh phở Tàu Bay mà: “… sáng sáng, người ta đứng đầy cả ra ở ngã ba đầu Hàm Long, xế cửa Sở Hưu bổng để mà tranh nhau ăn…”

Còn nữa, mỗi buổi sáng, người thích phở ở Hà Nội phải: “ … chen chúc vất vả, hò hét đứt hơi được một bát phở…” ở hàng phở Tráng, người được tôn xưng là vua phở của Hà Nội năm 1952.

Cái nhà ông nhà văn Vũ Bằng còn kể lể :

- … biết bao nhiêu bận đứng chờ làm phở, tôi đã thấy những người đàn bà, đàn ông, người già, trẻ con, bưng lấy bát phở mà đôi mắt sáng ngời lên. Người ta chờ lâu thì bực thật đấy, nhưng cũng vẫn cứ chờ cho được, tuồng như đã đến mà không được ăn thì chính mình lại phải tội với mình, vì đã đánh lừa thần khẩu - hay nói một cách khác, đến đấy mà không cố ăn cho kỳ được thì rồi sẽ hối hận như một người tình đã để lỡ cơ hội chiếm người yêu….

Thử hỏi, có món quá sáng nào mà: “… Hàng năm bảy chục người, hàng tám chín chục người đứng vòng lấy gánh hàng của anh ta, chật cả một cái hè đường để mua ăn” theo như lời kể của nhà văn Vũ Bằng.

Thế thì bát phở bò truyền thống Hà Nội như thế nào mà được ca ngợi quá vậy ?

Cũng vẫn theo như lời của tác giả cuốn "Món ngon Hà Nội" thì:

- Một nhúm bánh phở; một ít hành hoa thái nhỏ, điểm mấy ngọn rau thơm xanh biêng biếc; mấy nhát gừng màu vàng thái mướt như tơ; mấy miếng ớt mỏng vừa đỏ màu hoa hiên vừa đỏ sẫm như hoa lựu... Trên tất cả mấy thứ đó, người bán hàng bây giờ mới thái thịt bò từng miếng bày lên. Ông muốn xơi chỗ thịt nào cũng có: vè, sụn nạm, mỡ gầu, mỡ lật, vừa mỡ vừa nạc, vừa nạm vừa sụn, thứ gì anh ta cũng chọn cho kỳ được vừa ý ông. Ăn phở chín thì như thế là xong, chỉ còn phải lấy nước dùng và rắc một chút hạt tiêu, hay vắt mấy giọt chanh (nếu không là tí dấm). Nếu ông lại thích vừa tái vừa chín thì trước khi rưới nước dùng, anh Tráng vốc một ít thịt tái đã thái sẵn để ở trong một cái bát ôtô, bày lên trên cùng rồi mới rưới nước dùng sau. Nước dùng nóng lắm đấy, nóng bỏng rẫy lên, nhưng ăn phở có như thế mới ngon. Thịt thì mềm, bánh thì dẻo, thỉnh thoảng lại thấy cay cái cay của gừng, cay cái cay của hạt tiêu, cay cái cay của ớt; thỉnh thoảng lại thấy thơm nhè nhẹ cái thơm của hành hoa, thơm hăng hắc cái thơm của rau thơm, thơm dìu dịu cái thơm của thịt bò tươi và mềm... rồi thì hòa hợp tất cả những vị đó lại, nước dùng ngọt cứ lừ đi, ngọt một cách hiền lành, êm dịu, ngọt một cách thành thực, thiên nhiên, không có chất gì là hóa học... không, ông phải thú nhận với tôi đi: “Có phải ăn một bát phở như thế thì khoan khoái quá, phải không?


Có lẽ do quá yêu món phở mà nhà văn Vũ Bằng còn cho rằng:

- … Quả vậy, ăn một bát phở như thế, phải nói rằng có thể “lâm li” hơn là nghe thấy một câu nói hữu tình của người yêu, ăn một bát phở như thế, thú có thể ví như sau một thời gian xa cách, được ngã vào trong vòng tay một người vợ đẹp mà lại đa tình vậy!.

Phải nói rằng yêu phở, mê phở như cái nhà ông nhà văn Vũ Bằng thì chỉ đến thế là cùng. Nhà cháu dám cá rằng người đọc ở miền Nam cho dù nếu chả biết "phở truyền thống" là gì mà khi đọc những dòng này ắt phải tìm nơi mà ăn cho kỳ được một bát phở bò truyền thống Hà Nội cho biết với đời vậy.

Lại nói, nhà cháu vì dốt chữ không thể hiểu được ý nghĩa cao siêu trong những lời nói của mấy ông nhà văn nhà thơ, duy có điều này thì nhà cháu công nhận tắp lự, đó là “… Gặp phải ngày ta se mình, ngửi mùi thịt thấy sợ, hàng phở ngon vẫn có thể làm cho ta ăn ngon miệng với một bát phở chay, chỉ có bánh và nước thôi. Làm như thế mà ngon, thế mới là ngon đấy…”

Phở, người ta còn ví phở với những cô nhân tình của các đức lang quân chán cơm thèm phở, muốn tò tí với bồ nhí.

Phở có mặt mọi lúc mọi nơi, phở được thi vị hóa khi nhà văn Nguyễn Tuân mô tả :

- … Mùa đông ở Việt-nam, không gì nên thơ bằng cái hình ảnh một bếp lửa hàng phở bến ô tô nhiều hành khách quây quanh chờ đợi bát mình, vai rụt xuống một tí, người nhún nhẩy như trẻ em đang thú đời.

Phở còn là món ăn đầu tiên người ta nhớ, người ta muốn ăn sau những ngày ê hề với những bữa cỗ ngày tết. Nhà văn Nguyễn Tuân cũng vậy:

- Tết, nhà ai cũng bánh chưng, cá kho, thịt đông, nhưng vẫn rất đông người tình cờ mừng tuổi nhau ở những hiệu phở khai trương từ mùng hai Tết….

Nhà văn họ Nguyễn còn viết rằng phở cũng bị mang ra ví von khi một cô gái làm đĩ than thở:

- Đời hồi này như một gánh phở bánh trương mỡ nguội đóng váng.

Đến đây, nhà cháu mạo muội mà nói rằng đã là phở thì không cứ gì là phở bò hay phở gà, chỉ có cái ông nhà văn họ Nguyễn là người kiêu ngạo khó tính bậc nhất trong việc thưởng thức món phở, ông ta nhất định không công nhận phở gì khác ngoài phở bò chín nhưng nhà cháu thấy cái nhà ông họ Nguyễn ấy cũng phải buộc lòng nhắc tới hàng phở gà đầu tiên của Hà Nội xưa :

- … có một hàng bán phở gà ở Hà nội mà nhiều người thủ đô không bằng lòng chút nào. Y bán vào buổi sớm, người xúm lại kêu ăn gạt đi không hết.

Cho dù nhất định không thèm ăn cái món phở gà mà đã bị ông ta gọi là thứ phở sa đọa, ấy dưng cái nhà ông Nguyễn Tuân vưỡn cứ do tò mò mà đi tới phố Huyền Trân công chúa để đứng xa xa mà nhìn những tín đồ của đạo phở chen lấn vòng trong vòng ngoài ồn ào đòi ăn làm náo động cả một quãng đường buổi mai:

- Hãy đứng ở đây một buổi sớm mà xem người ta ăn phở gà. Sốt ruột đáo để. Người ăn mề gà, người ăn đùi, ăn thịt đen chứ không ăn thịt trắng nó chua, ăn lá mỡ, phao câu, ăn đầu cánh. Miếng ăn ở đây đích thị là một miếng nhục, nhục theo cái nghĩa một miếng thịt ngon hợp khẩu vị, và cũng đi theo cái nghĩa nhục nhằn túi bụi. Ở vỉa hè đường ấy, cứ nhao nhao cả lên quanh một ông hàng mặt phớt tỉnh như đế quốc Ăng lê và bán hàng rất cửa quyền, khách phải đi lấy lấy bát. Có người đã dắt sẳn từ nhà đi một củ hành tây, có người quả trứng gà... đập trứng bỏ hành tây vào cái bát mình đã thủ sẵn và đánh dấu vào bát, dúi dúi bát trước mặt ông hàng, cười cười, nhắc nhắc, xuýt xoa nói to nói nhỏ, cứ như là sợ cuộc đời nó quên mình, nó nhầm mình... .

Chưa hết phở còn chen vào những cuộc ngả giá mua bán, nhà văn Nguyễn Tuân kể :

- Có những kẻ sống không nhà cửa, chuyên môn đứng đường, chạy hàng sách chợ đen đủ các thứ, lúc tính tiền hoa hồng, lấy bát phở tái năm xu làm đơn vị giá cả,"việc này mà trôi chảy, ông bà chị cứ cho em một trăm bát tái năm, vân vân...

Nhà văn Nguyễn Tuân vẫn kể lể :

- Chúng tôi ngồi trên bờ một cái hồ xứ Bắc ở ngoại thành Hen xanh ky tưởng nhớ đến một bát phở quê hương, và đối với món ăn đó của dân tộc đáng yêu chúng ta ở Đông Nam Châu Á, chúng tôi đã phát hiện những đức tính dồi dào của phở, tự mình cho đó là những cơ sở vững chắc để dựng lên một nền lý luận cho món phở. Sau đó mấy tháng trở về nước, đặt chân lên đất Hà nội, bữa cơm đầu tiên của tôi là một bữa phở.

Còn nữa, nhà cháu xin góp một câu in hình mới có từ mãi sau này đã được truyền khẩu trong nhân gian, và phở còn được ví von một cách rất sinh động:

- Phở là cơm nguội nhà ta
Nhưng là phở tái thằng cha láng giềng.


Ở xứ Cocchinchine xa xôi, tay chơi tài hoa Vương Hồng Sển lên tiếng họa với tài tử đất Bắc khi hồi tưởng lại lúc ngồi trong tiệm phở Huỳnh ở quận Phú Nhuận trong làn sương mờ tỏa ra từ nồi nước dùng. Giữa làn hơi nghi ngút quyện mùi phở thơm lựng lại thấp thoáng yểu điệu hai cô con gái chủ quán đi tới lui bưng phở cho khách ăn mà một phút xuất thần mơ màng Vương tiên sinh thấy mình sung sướng hơn hai chàng Lưu Thần và Nguyễn Triệu đi hái thuốc trên núi vô tình lạc vào vườn đào tiên gấp bội :

- Trời sáng lạnh lạnh, tô phở bay hơi nghi ngút, tay cầm đũa, vít miếng thịt mềm nhừ, hay miếng "mỡ gầu" vừa giòn vừa dai, gion gion giòn giòn, chấm một chút tương cay, mắt liếc tay ngọc bưng tô cho bàn bên cạnh, tưởng đâu chừng mình đã theo Lưu Nguyễn lạc lối thiên thai, với mười bảy đồng hay hai chục đồng mà nếm tô phở Huỳnh buổi ấy, hơn Lưu Nguyễn bội phần vì hai chàng lạc lối cảnh ăn đào thiếu bổ !

Có vẻ khi nói tới phở đã khiến tác giả của “Sài Gòn tạp pín lù” hứng chí, tay chơi điệu nghệ đất Sài thành lan man thả hồn tưởng như lang thang vô định theo mùi hương thảo quả quế hồi gừng hành từ một nồi phở đang tỏa khói của gánh phở rong trong cơn gió đêm lạnh cắt da miền phương bắc :

- … ngoài thịt bò, xương bò, xương heo, người ta còn cho đuôi bò. Điều này, cuối chợ, khi sắp đóng cửa hàng, phần "xí-quách" ấy là một món ăn còn có thể nói là hơn lương-trân, dành riêng cho các ông thích nhậu. Hỡi ôi, gặm cục xương đã mềm nhừ hay ăn cái đuôi bò thấm đượm, chiêu một ngụm rượu cay nồng, giữa cái lạnh lùng giá buốt của mùa Đông, tưởng chừng như thiên-đàng cũng không bằng !!!

Bằng sự trải nghiệm “Hơn nửa đời hư” từ bản thân, lại là người Nam bộ nên có lẽ tác giả của “Sài Gòn năm xưa” ngạc nhiên lắm khi thấy các tài danh đất Bắc đều bị nghiện món phở. Từ đó ông cất công tìm hiểu, sau khi tìm tòi, phân tích về cách thức để làm thành bát phở truyền thống Hà Nội, tay chơi người tàu lai họ Vương như chợt hiểu đã cả cười mà nhái vui giọng của người miền bắc:

- Úi giời, thế thì phở quả nhiên "nhiệt" thật, toàn là thứ để làm thành rượu thì ăn phở đâm ra... nghiện cũng đúng thôi.

Phở còn là cảm hứng của nhiều người, nhiều giới, xưa có giai thoại rằng nữ sĩ Đoàn Thị Điểm ra vế đối “Da trắng vỗ bì bạch” làm khó tay chơi người Thanh Hóa, người Sài Gòn cách nay mấy chục năm cũng có một giai thoại về bà chủ hàng phở ra một vế đối khiến giới mày râu đô thành vò đầu bứt tóc:

- Nạc, mỡ nữa làm chi, em nghĩ chín rồi không tái giá.

Người miền Bắc với món phở thì như đã nói, thế còn người miền Nam đối xử với phở thế nào ngay tại đất Sài Gòn là nơi tập trung và rất sẵn đủ loại món ngon thức lạ? Hãy nghe tác giả Phan Nghị kề lại trong phóng sự “Alo. Saigon” của ông:

(Trích)- Hồi đó nữ ca sĩ Thái Thanh và nữ ca sĩ Tấm Vấn ở tít trong chợ lớn, sáng nào cũng ngồi xích lô ra sân quần vợt không phải để đánh banh lông mà là để đớp phở.

Cao thủ Trần K. có ông anh cũng tên Trần K. và cũng là cao thủ bóng lông, còn mê phở hơn cả ông em. Sáng nào ông K. anh cũng gò lưng đạp chiếc xe đạp ọp ẹp chở người tình 200 pao từ Chợ Lớn ra sân quần với mục đich cao quý duy nhất là đớp phở của con gái ông BH. Có nhiều lần, có lẽ tại tối trước ông K . anh chơi bóng lông hơi nhiều và hơi khuya, sáng ra chân chùn gối lỏng, ông đạp xe hơi chậm, tới hơi trễ, đã thấy cái thùng nước phở chổng mông lên trời. Phở chính thống là thế: bao nhiêu thịt là bấy nhiêu nước. Hết nước là hết thịt, hết thịt là hết nước. Và hết là hết, chứ không có cái trò đổ vài lon nước lèo hộp, hay ném mấy cục bouillon vào nước, thêm tí mắm tí bột ngọt, đun sôi lên bán với thịt tái. Sau mấy lần đạp xe phờ râu tôm tới nơi lại hụt ăn, ông K. anh đành thương lượng với cô chủ phở như thế này: “Mỗi sáng cô cứ vui lòng để riêng ra hai tô, cất đi cho tôi. Tôi tới kịp để ăn hay không tới ăn được cũng kệ cha tôi. Tôi vưỡn cứ trả tiền như thường”.

Lại còn cái nhà ông Đoàn Tiểu Long nào đó đã múa bút mà nhận xét :

- … Chính là vì người Hà Nội vô cùng bảo thủ và khó tính trong chuyện ăn uống. Thời các cụ Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, phở phải như thế nào mới được coi là ngon, thì giờ đây vẫn vậy. Người ta vẫn chịu khó xếp hàng, chen chúc nhau trong một cái quán chật chội, bẩn thỉu, với những chiếc bàn gỗ cũ kỹ, thấp lè tè, để ăn một bát phở ngon. Bát, đũa, thìa vẫn y như thời bao cấp, dù chủ quán rõ ràng thừa tiền để sắm loại đẹp hơn: bát ô tô bằng sứ rẻ tiền, đũa tre đen thui, cong queo; thìa nhôm cán ngắn, và tuyệt nhiên không dùng bát đũa bằng nhựa melanine. Dùng bát đũa nhựa để ăn phở chỉ tổ phí đi! Tương ớt cứ phải là loại làm thủ công còn nguyên xác ớt, để trong lọ thuỷ tinh miệng rộng và dùng thìa múc, chứ dùng loại tương ớt công nghiệp xay nhuyễn đựng trong chai nhựa là vứt. Người miền Nam vốn quen ngồi bàn cao, rộng rãi, dùng tô lớn, đũa nhựa, thìa inox, ớt công nghiệp pha bột cà chua và phẩm màu, ra đây không hiểu được điều này. Họ hết sức ngạc nhiên (và khoái chí nữa) thấy các cô gái Hà Thành xinh như mộng, mặc váy ngắn, ngồi bên chiếc bàn gỗ cáu bẩn thấp lè tè, còn thấp hơn cả đầu gối các cô, mà mê mải húp từng thìa phở làm má và môi hồng rực lên, chẳng buồn để ý đến sự hớ hênh của mình.


Cái cách ăn của người Hà Nội nghiện phở cũng khác. Anh ta không vội vã bỏ đủ thứ rau giá, dấm ớt, tương đen tương đỏ vào bát phở, trộn nháo nhào lên như đánh vữa rồi ăn ào ào như người Nam. Người Nam, nhất là dân Sài Gòn, làm gì cũng ào ào, khiến các bà vợ tức phát khóc, nhưng các em gái bán hoa lại thích. Người Hà Nội, trái lại, cừ từ từ, nhẩn nha như chẳng có gì vội vã. Trong công việc mà thế thì đáng ghét lắm, nhưng trong chuyện ăn uống lại đâm ra hay. Anh ta rất từ tốn, dù trong bụng sôi sùng sục và nước miếng tứa ra đầy mồm. Thoạt tiên, anh ta hãy hít hà mùi thơm bốc lên từ bát phở đã. Chà chà, khá đấy, nhưng hình như hôm nay chủ quán bỏ hơi nhiều hoa hồi thì phải, chắc mới bị cảm nên nghẹt mũi chăng? Rồi anh ta múc một thìa nước dùng nóng rãy đưa lên miệng nếm. Chao ơi, ngon chết người đi. Nước dùng thế này mới là nước chứ! Xem thịt thế nào nhé, được đấy, miếng tái mềm ngọt, miếng nạm cũng mềm mà không bở xác. Vị hơi gây gây thế này đích thị là thịt bò chứ không phải trâu. Bánh phở vẫn trắng mềm như mọi khi, quán này có nguồn cung cấp khớ đấy. Không biết có hàn the, phoóc-môn không nhỉ, chắc là có thì mới ngon thế chứ! Chỉ sau khi đã ăn vài ba thìa phở “nguyên chất” đó rồi, đánh giá đầy đủ bát phở hôm nay so với mọi hôm để chốc nữa còn phê bình chủ quán, anh ta mới từ tốn cho dấm tỏi, tương ớt vào. Những thứ này, nếu cho ngay từ đầu, một mặt làm bát phở nguội đi mất cả ngon, mặt khác khiến ta không cảm được cái vị thực sự của nước dùng mà lão chủ quán vẫn khoe khoang là “ngon nhất Hà Nội”. Ngon nhất Hà Nội tức là ngon nhất thế giới đấy!

Lại nói, phở từ Hà Nội theo chân những người di cư năm 1954 vào Sài Gòn và đã lập tức chinh phục khẩu vị vốn dễ dãi ba phải của người miền nam. Phở được biến tấu tùy theo khẩu vị ảnh hưởng theo sở thích của những người bán hàng là dân bản địa. Món phở khi nhập gia cũng phải tùy tục là gia giảm rau tương giá sống hành trần nước béo cho phù hợp khẩu vị nên đã được người dân phương nam chấp nhận và tán thưởng. Phở còn góp phần tái tạo nguồn năng lượng sức khỏe cho giới thợ thuyền, còn là nguồn cảm hứng lao động, đối với giới phu xe xích lô thì có món lương trân gì hơn được bát phở lúc đói lòng trong khi vất vả ngược xuôi bôn ba kiếm sống hàng ngày:

- … những bác phu xích lô, ba bánh, kiếm đồng bạc khó khăn, coi bữa phở như một đại tiệc. Thế nào bác ta cũng phải củ vào túi áo một nửa xị đế và một khúc bánh mì. Ực một ngụm rượu, đưa cay bằng gắp bánh phở với chút thịt, phải ăn từ từ để ngẫm nghĩ cái ngon, cái thơm, cái bùi, cái béo. Bẻ miếng bánh mì chấm vào nước phở ăn cho đủ no vì tiền đâu mà gọi tô nữa, lấy làm vô cùng mãn nguyện, xe lăn bánh ào ào!

Tài thật, đọc những dòng văn tả của cái nhà ông Phan Nghị, nhà cháu đoan chắc những người đã sinh sống tại Sài Gòn thời điểm những năm tám mươi tám mấy thế kỷ trước hẳn ai cũng từng quen với cảnh như vừa nêu trên.


Tổng kết lại, ngoài món phở thì có món ăn nào mà có thế khiến người ta tốn lời, tốn giấy mực để mà ca ngợi mãi không thôi như vậy.

Có thể có ai đó cho rằng nhà cháu võ đoán khi quả quyết phở là món thuần Việt, nhất là cái nhà ông nhà văn Tô Hoài, ông ta từng tuyên bố chắc nịch :

- Nguyên chữ "phở" gốc xuất phát từ người Trung Quốc, nhưng cách đây mấy năm tôi có đi Quảng Châu ăn phở thì tồi quá, không nuốt được. Người Việt mình đã từ món "rất xoàng" của Trung Quốc chế biến thành món rất ngon, thậm chí trở thành món ăn truyền thống.

Theo nhà cháu đọc trên mạng Internet thấy lời của nhà ông Vũ Thư Hiên kể rằng:

- Khi bay qua Bắc Kinh tôi được ăn phở Tầu do đạo diễn kiêm nhà văn Ngô Y Linh thết. Ngô Y Linh, tức là Nguyễn Vũ về sau này, hồi đó đang học trường kịch nghệ Bắc Kinh. Trong cái quán lúp xúp gần chợ tầm tầm Đông Tứ (Tung Sư), người ta dọn cho tôi một bát phở lõng bõng, phở thịt lợn chứ không phải phở thịt bò, bánh thì to bản giống bánh canh miền Nam, không rau thơm, không hành hoa, hành củ, không ớt tươi, không chanh cốm, bên trên lềnh bềnh mấy lá hẹ dài ngoẵng. Vị nước dùng của phở Tầu nhạt thếch, hoàn toàn không giống vị phở Việt. Ngô Y Linh nhìn tôi bằng cặp mắt thương hại rồi an ủi tôi rằng chữ phở là do anh đặt, ăn cho đỡ nhớ, chứ tên món ăn này khác, anh nói tên nó cho tôi biết, tất nhiên bằng tiếng Tầu, tôi nhắc lại rồi quên ngay lập tức. Anh lại nói tôi đang được hân hạnh làm quen với tổ tiên của phở đấy, thứ phở này có trong lịch sử Trung Quốc từ đời ông Bành Tổ kia, ở Trung Quốc có rất nhiều loại phở, đa dạng lắm, chắc hẳn phở của ta là con cháu nó lưu lạc xuống phương Nam…

Đến đây thì nhà cháu đã hiểu thế nào là cái món phở Tàu mà nhà ông Tô Hoài đã nói. Cũng giống như nhà ông Ngô Y Linh nọ, cái nhà ông Tô Hoài cũng tự cho rằng cái thứ "...một bát phở lõng bõng, phở thịt lợn chứ không phải phở thịt bò..." của ông Vũ Thư Hiên đó là món phở của Tàu… và là nguồn gốc của phở Việt Nam (?)

Vậy thì nhà cháu hẵng xin hỏi ông Tô Hoài và cũng xin hỏi luôn cả cái nhà ông ngô Y Linh nào đó rằng Trung Quốc có chữ “bánh cuốn” không ạ?

Nhà cháu hẵng xin hỏi ông Tô Hoải và cũng xin hỏi luôn cả cái nhà ông Ngô Y Linh rằng Trung Quốc có món bún xáo trâu không ạ?

Nhà cháu hẵng xin hỏi ông Tô Hoài rằng cứ theo lời ông nói thì chữ gừng nướng người Tàu có không? Chữ rau thơm (rau sống) người Tàu viết thế nào?

Nhà cháu tưởng chả nhẽ chỉ vì sự liên tưởng rồi tự ý đặt tên vớ vẩn cùng võ đoán chủ quan vô căn cứ của ông Ngô Y Linh mà phở Việt Nam có xuất xứ từ Trung Quốc?

Nhà cháu tưởng chả nhẽ chỉ bằng vào mấy câu nói vu vơ của cái nhà ông Tô Hoài mà phở Việt Nam lại là có nguồn gốc Trung Quốc?

Nhà cháu đây không thể chỉ căn cứ vào lời nói của nhà anh Cồ Cừ, một cây đại thụ trong làng phở của Hà Nội hiện nay đâu nhé, nhà anh Cồ Cừ đó in hình là người gốc Nam Định, nghe nói anh ta theo cha mẹ bán phở ở Hà Nội từ năm 13 tuổi, anh ta nói:

- Theo các cụ ngày xưa kể, thì phở không phải là xuất xứ từ người Tàu. Nó từ các gánh quà bán bánh đa cua, thịt lợn rồi dần dần là thịt bò…

Lại theo tìm hiểu của nhà văn hóa Vương Hồng Sển thì:

- Trong quyển gia-chánh "Nữ-công thắng-lãm" của Hải-Thượng Lãn Ông Lê Hữu-Trác (1720-1791), viết vào năm 1760, không có nói đến phở.

- Trong hành-trình đến Việt-nam từ 11/01/1884 đến 19/04/1886 của Bác-sĩ Hocquard, tường-thuật lại rất cặn kẽ cách ăn nếp ở của người dân ta trong"Une campagne au Tonkin", nhắc đến cả mắm tôm, nhưng chẳng có một lời nói đến món ăn có tên là phở cả.

Image

Nhà cháu được biết rằng một trong những nguyên liệu quan trọng bậc nhất để góp phần làm nên nồi phở là con sá sùng khô, thứ này thì các chú chệc Quảng Tây tìm mua để bỏ vào cho ngọt nồi nước dùng mà bán mì (mỉn)

Nhà cháu xin có nhời thế này ạ:
1/- Cả ngàn năm nay, chú chệc đã theo chân lính Tàu mà qua sinh sống bên xứ mình.
2/- Cùng với chú chệc là các món ăn Tàu sủi cảo, xíu mại, há cảo, bánh bao, mì hoành thánh (vằn thắn) và mì xá xíu cũng nhập hộ khẩu Việt Nam.
3/- Trong các món vừa kể thì có mì xá xíu, sủi cảo và mì vằn thắn là món ăn phải chan nước dùng.
4/- Thế nhưng nhà cháu từng ăn mì xá xíu và mì vằn thắn do người Tàu bán thì thấy nồi nước dùng của chú chệc là được nấu bằng xương heo. Riêng người Tàu Chợ Lớn ở Sài Gòn còn không biết con sá sùng là cái giống gì nữa kìa. Năm xưa nhà cháu từng ăn hủ tiếu mì sườn heo ngon tuyệt của ông già Tàu bán trong quận 11 ở Sài Gòn, tô hủ tiếu mì sườn còn có một ít lá hẹ cùng một lá xa-lat xé làm ba. Và nước dùng để chan cũng được nấu bằng xương heo mà cho bột năng để trở nên sền sệt. Nói thêm, ở Sài Gòn không thấy tiệm ăn Tàu nào có bán món sủi cảo tôm tươi, chỉ vài năm gần đây mới có một tiệm từ Hà Nội vào bán tại căn phố gần ngay ngã tư Passteur – Nguyễn Đình Chiểu (hay Võ Văn Tần?) quận 3.

Vẫn cái nhà ông Vũ Thư Hiên nọ trong lúc ra sức quảng bá cho món phở cá gì gì đó của quê nhà ông ta thì ông ta cũng hời hợt nhắc tới phở trâu phở bò như sau:

- Ngày xưa người ta không chuộng thịt trâu, các cụ lang kêu thịt trâu lạnh, ăn dễ sinh bệnh. Hơn nữa, con trâu là đầu cơ nghiệp, chẳng ai bỗng dưng vật trâu ra mà giết. Chỉ những con trâu sa hố gãy chân, hoặc trâu từ mạn ngược đưa về ngã nước mới bị làm thịt. Lại cũng theo lời khuyên của các ông lang, trâu có màu đen, thuộc âm-lạnh, làm món ăn thịt trâu thì phải cho gừng tươi (sinh khương) vào cho nó khắc cái lạnh ấy, thành thử nước phở thịt trâu hiếm hoi ngày ấy (thỉnh thoảng cũng có) bao giờ cũng có nhiều vị cay của gừng. Bò thường không có bò đen như trâu, nhưng cho đến nay phở bò phải có gừng, ấy là nó mang cái vị truyền thống của phở trâu, hẳn vậy.

Nhà cháu căn cứ vào tìm hiểu của mình nên dám cả quyết rằng món phở tuy có ảnh hưởng cách nấu món ngầu nàm của người Tàu, bằng chứng là sự hiện diện của hồi quế đinh hương trong nồi phở, thế nhưng bánh phở thì dứt khoát phải là từ món bánh cuốn của người Việt. Củ gừng nướng là do thừa hưởng từ gánh bún xáo trâu. Rốt cuộc thì phở vẫn phải là có nguồn gốc từ món bún xáo trâu của ông bà ta, tức là của người Việt vậy.

Nghe nói ở ngoài nước, bà con ta khi có dịp là mời bạn bè ngoại quốc để khoe, cùng là giới thiệu món phở của Việt Nam ra thế giới. Còn cả hàng vạn người gốc Việt tự nhận mình là tín đồ trung thành của đạo phở.

Edited by moderator Wednesday, September 7, 2016 5:42:31 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
stormy  
#20 Posted : Friday, December 5, 2014 9:01:38 AM(UTC)
stormy

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 383

Thanks: 396 times
Was thanked: 393 time(s) in 209 post(s)
Áo trắng


Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong. (Huy Cận)

Chiếc áo tôi muốn nói, nhìn xa tưởng đâu em gói mây trong áo, tới gần mới biết là hai phần gió thổi một phần mây.

Một phần mây thôi, nhưng cũng đủ làm choáng váng vì áo em trắng quá nhìn không ra.

Đó là chiếc áo đồng phục của nữ sinh. Người ký cái lệnh xinh tươi đó, trước khi là nhà mô phạm cũng đã là một nhà thơ. Không chừng còn là một họa sĩ nữa. Nhờ vậy, từ những ruộng đồng xa xôi đến những phố phường rộn rã, ngập tràn những làn mây trắng đẹp.

Nhà thơ Hoàng Trúc Ly một lần nằm mộng thấy nữ sinh đã phải buột miệng:

Ô hay con gái bay nhiều quá
Những cánh tay mềm như cánh chim!


Tưởng không còn hình ảnh nào bay bổng đẹp hơn được nữa.

Không chừng những khách du lịch, cả những chính khách ưa cái đẹp (và gái đẹp) như Clinton cũng nằm mộng như thế giữa ban ngày, khi thấy các em tan trường về.

Một chiếc áo đơn sơ, không cứ gì phải lụa Hà Đông để nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát, cũng không lòe loẹt kiểu cọ, chỉ thuần một màu trắng tinh khôi, cùng với quần trắng, nón trắng. Nó bay bổng lên được, đương nhiên nhờ hai phần gió thổi, nhưng nhẹ đến thế, mềm đến thế vì nó được mặc bởi những nàng con gái.

Tôi không chối cãi rằng, có một thời ngồi ở bến Thừa Phủ chỉ để nhìn những nữ sinh trong thành nội, đúng là mềm như cánh chim, ríu rít như chim, rủ nhau xuống đò cho kịp giờ vào lớp ở trường Đồng Khánh.

Thưở nọ, tôi là một anh học trò cả ngố chín năm kháng chiến ở đất Bình Định, được nhắc nhở rằng màu trắng là màu có lý lịch xấu. Địch đã từng dùng những mảnh gương soi ra hiệu cho máy bay bắn phá kho thóc, trường học. Các cô gái chỉ có một cái kẹp tóc thôi để làm dáng, cũng phải che cái lấp lánh đi, nếu không muốn bị kết tội là Việt gian! Còn nón trắng thì quét lọ nghẹ hay bùn! Nên chi tôi cứ đứng ngẩn ngơ suốt cả buổi mà trông vời, tuy rằng ở thành nội, đâu phải ai cũng là tiểu thư.

Với một làn áo trắng như mây đó, trông ai cũng đẹp, cũng thơm tho tinh khiết, là nét xinh rất chung của tuổi em tuy mới mười lăm mà đã lắm người thăm.

Ai thăm thì mặc họ, em vẫn cứ mộng bình thường. Em chưa mộng nhà lầu xe hơi, chưa mộng lấy chồng bác sĩ kỹ sư hay làm người yêu của sĩ quan trẻ tuổi đẹp giai.

Em chỉ mộng, mà mộng gì em cũng không biết nữa, có thể là bay lên như chim, có thể là lạc vào một hoang đảo, hay mộng thấy mình bất ngờ thành con giai để xem bọn họ nghĩ gì về con gái. Nói chung là mộng trắng trong như nhà thơ Huy Cận đã nói quá hay và quá đủ.

Chính vì mộng trắng trong nên em nào cũng hồn nhiên trong sáng. Hồn em như tủ mới, các ngăn đều trống thênh thang, chưa phải xếp đầy những lo toan chất chồng khi bước vào đời. Các em bay lên là phải.

Nói về cái bay bổng, cái thướt tha, cái tinh khôi của chiếc áo nữ sinh, có lẽ một ngàn năm sau cũng vẫn có người còn nói. Tôi có nói thêm nữa cũng bằng thừa. Tôi muốn dành những dòng này để nói về một thoáng buồn.

Một thoáng là so với một ngàn năm sau, chứ với những ngày sau tháng tư đáng nguyền rủa, cũng khá là dài, nhất là với các cô bé mười lăm hay mười bảy.

Các cô được “rải phóng”, không còn phải mặc áo dài. Kẻ thắng cuộc “ní nuận” rằng, đi học chứ đâu phải đi ở tù mà phải mặc đồng phục!

“Thế thì cho chúng em xin mặc một ngày thứ hai thôi!”

“Đó là pháp lệnh! Mặc là để học và lao động chứ không phải để làm đẹp”

Không phải chỉ một vài em nài nỉ xin với thầy cô như thế, mà ít ra cũng đến cả triệu nữ sinh của bên thua cuộc, nếu cho các em khóc xả láng chắc cũng đủ nước để làm thủy điện!

Chưa bao giờ các em buồn như hôm chiếc áo trắng bị tuyên án tử. Nhiều em bỏ học nằm miết trên giường. Buổi sáng đầu tiên không đồng phục, các em thấy ngỡ ngàng xấu hổ, như thể vừa bị lột mất áo.

Cái lệnh đó cũng giống như vua Minh Mạng cấm quần không đáy!

Sau này, các em mới hiểu ra, chỉ có bốn tấc vải một năm, vừa đủ che những chỗ cần che, cấm là phải. Lúc đầu cất kỹ, lâu lâu lại đem ra ướm thử cho đỡ nhớ. Nhưng bao nhiêu áo mặc thường ngày, cứ mòn dần rồi rách te tua. Thì đành mua thuốc nhuộm, cắt hai tà may thêm được một chiếc. Rồi cũng thành giẻ rách!

Từ đó, các em không còn mộng trắng trong, mà đục ngầu vì bị đẩy lên kinh tế mới hay lênh đênh giữa trùng khơi vô định.

Đến nay, các nữ sinh ấy cũng đều ngấp nghé ở tuổi sáu mươi. Cũng đã là bà nội bà ngoại, nhưng kỷ niệm một thời áo trắng vừa đẹp vừa buồn ấy, không một ai quên được.

Giờ, dẫu sao cũng có cái ăn cái mặc, người ta lại ra pháp lệnh mới, đồng phục nữ sinh. Thế là chiếc áo trắng tưởng bị chôn vùi cùng chế độ cũ nay đội mồ sống dậy.

Nhưng nó không còn là mây dù màu cũng trắng. Nó chỉ có xác chứ không hồn, khi người mặc nó dù trời nóng hay lạnh cũng đều khoác thêm một chiếc áo lụng thụng có mũ trùm đầu, chân mang giày và mặt thì che khẩu trang kín mít. Ăn mặc như thế, còn tệ hơn là chim cánh cụt.

Đâu còn cảnh tung tăng, nói cười nhí nhảnh. Đâu còn tiếng guốc khua trên hè phố nghe động tận tim ai. Và đâu còn cảnh nữ sinh bay nhiều quá/ những cánh tay mềm như cánh chim.

Áo đã như thế nên mộng cũng không còn trắng trong. Chiếc tủ hồn em chật ních những ước mơ làm người mẫu chân dài, làm ca sĩ, lấy chồng đại gia, có tệ lắm cũng phải là một anh Đại Hàn nhà quê.

Thế thì áo trắng ơi, sống lại mà làm gì. Đã là mây thì xin mây cứ bay đi. Bạch vân thiên tải không du du!*

Khuất Đẩu

Những chữ in nghiêng: tác giả thiếu chữ phải mượn đỡ các nhà thơ, chứ không phải cố ý cầm nhầm.

Edited by user Saturday, December 6, 2014 10:21:31 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked stormy for this useful post.
phamlang on 12/7/2014(UTC)
Users browsing this topic
Guest
4 Pages123>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.