Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

7 Pages«<4567>
Options
View
Go to last post Go to first unread
phamlang  
#101 Posted : Sunday, May 31, 2015 5:32:45 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Đời và Nhạc Trịnh Công Sơn

Đặng Tiến


Trịnh Công Sơn chánh quán Huế, làng Minh Hương, tổ tiên gốc Trung Hoa. Làng Minh Hương nay sát nhập vào Bao Vinh thành xã Hương Vinh. Bao Vinh là thương cảng của Huế ngày xưa.

Anh sinh ngày 28 tháng 2 năm 1939, tại Lạc Giao, tỉnh Đắc Lắc, lớn lên trong một gia đình buôn bán giữa trung tâm thành phố Huế. Nhà đông anh chị em, ba trai năm gái, mà anh là con trưởng. Tuy có thăng trầm, nhưng nói chung là khá giả.

Trịnh Công Sơn theo học chương trình Pháp, tại Trung học Pháp tại Huế, đến hết cấp 2. Năm ấy, 1955, cùng lớp có ca sĩ Kim Tước (Giáo sư Decoux, dạy khoa học, thỉnh thoảng mang đàn vĩ cầm vào lớp, đàn đệm cho học sinh hát). Lúc này Trịnh Công Sơn chơi guitare đã hay. Trường giải thể, dời vào Đà Nẵng, Trịnh Công Sơn có lúc theo học trường Thiên Hựu, Providence ở Huế. Rồi chuyển vào Sài Gòn, học tại trường Jean Jacques Rousseau. Sau đó vào học trường Sư Phạm Quy Nhơn, rồi đi dạy học vài năm tại Lâm Đồng.

Anh tự học nhạc một mình, và đã kể lại:

Thưở ấy, tôi là một đứa bé thích ca hát. Mười tuổi biết solfège, chép lại những bài hát yêu thích đóng thành tập, chơi đàn mandolin và sáo trúc. Mười hai tuổi có cây đàn guitare đầu tiên trong đời và từ đó sử dụng guitar như một phương tiện quen thuộc để đệm cho chính mình hát.

Tôi không đến với âm nhạc như một kẻ chọn nghề. Tôi nhớ mình đã viết những ca khúc đầu tiên từ những đòi hỏi tự nhiên của tình cảm thôi thúc bên trong... Đó là những năm 56 - 57, thời của những giấc mộng ngổn ngang, của những viễn tưởng phù phiếm non dại. Cái thời tuổi trẻ xanh mướt như trái quả đầu mùa ấy, tôi rất yêu âm nhạc nhưng tuyệt nhiên trong tôi không hề gợi lên cái ham muốn trở thành nhạc sĩ... Dạo ấy ba tôi đã mất... 1

Những câu hỏi người tò mò có thể đặt ra: một người chỉ học trường Pháp, giáo trình Việt ngữ rất hạn chế và lỏng lẻo, khi đặt lời ca, sao có thể sử dụng tiếng Việt điêu luyện đến như thế? Thỉnh thoảng anh viết truyện ngắn, tham luận, đều xuất sắc. Bạn bè nhận được thư riêng, đều nhớ rằng Sơn chữ đẹp văn hay.

Tự học đàn hát, rồi sáng tác một mình, Trịnh Công Sơn không thuộc một nhóm sáng tác nào, như những người đi trước, như Lê Thương, Hoàng Quý trong nhóm Đồng Vọng ở Hải Phòng, như Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước trong nhóm Myosotis tại Hà Nội, nhóm Hoàng Mai Lưu tại Nam Bộ. Cũng như sau này, anh sẽ tự học vẽ một mình.

Câu hỏi tò mò thứ hai: tự học nhạc, rồi từ rất sớm đã lao mình vào đời sống sáng tác và tranh đấu, làm sao anh có thể liên tục sáng tác khoảng 600 ca khúc, phần lớn được yêu chuộng?

Nói rằng Trịnh Công Sơn là thiên tài, cũng dễ thôi. Nhưng trở thành thiên tài trên một đất nước như Việt Nam, được thừa nhận là thiên tài trong một xã hội như Việt Nam - nhất là sau cuộc đổi đời 1975 - thật không đơn giản.

Mục đích của bài này là giải thích sự hình thành của thiên tài Trịnh Công Sơn, giải mã hiện tượng Trịnh Công Sơn và tìm hiểu vị trí của Trịnh Công Sơn trên những trầm luân của đất nước, chủ yếu là khúc quanh 1975.

Chúng tôi cũng muốn cung cấp cho các nhà nghiên cứu về sau một số tư liệu rải rác đây đó, e mai đây khó kiếm, khi những than khóc và tung hô đã lắng xuống.

*

Về hoàn cảnh sáng tác ban đầu, Trịnh Công Sơn đã tuyên bố với Vĩnh Xương, báo Đất Việt, năm 1985 : " Đến năm 1957, tôi sáng tác, gọi là để bạn bè nghe chơi. Sau đó thấy có hứng thú sáng tác và thử viết thêm một số bài. Năm 1959, tôi viết bài Ướt Mi và được bạn bè khích lệ. Tôi mới tìm sách nghiên cứu thêm về nhạc, trao đổi thêm về nhạc lý với bạn bè. Sau đó, tôi phổ nhạc cho khoảng một chục bài thơ tình yêu (như Nhìn Những Mùa Thu Đi chẳng hạn). Năm 63, tôi có một số sáng tác khá thành công như Diễm Xưa, Biển Nhớ, Hạ Trắng. Từ đó, tôi đi vào con đường sáng tác "2.

Và từ đó, Trịnh Công Sơn nổi tiếng.

*
Khi đặt câu hỏi : sao một thanh niên, rất trẻ, chỉ học "trường Tây" mà sử dụng tiếng Việt tài hoa đến vậy, tôi không có thành kiến - vì bản thân mình cũng chỉ học "trường Tây"- mà để tìm hiểu nguồn sáng tạo trong ngôn ngữ.

Trịnh Công Sơn, có lẽ - đây là giả thuyết dè dặt - không học nhiều văn chương Việt Nam được giảng dạy ở nhà trường thời đó, nên không bị nô lệ vào những khuôn sáo trường quy, không suy nghĩ bằng điển cố sẵn có, mà tạo được một hình thức mới cho lời ca. Lời ca ấy sử dụng nhiều hình ảnh, biểu tượng bị xé lẻ, đi thẳng vào tâm tưởng người nghe, mà không đòi hỏi họ phải hiểu nghĩa chính xác. Ví dụ bài Tình Sầu :

Tình xa như trời/ Tình gần như khói mây/
Tình trầm như bóng cây/ Tình reo vui trong nắng/
Tình buồn làm cơn say
... Cuộc tình lên cao vút / Như chim mỏi cánh rồi / Như chim xa lìa bầy / Như chim bỏ đường bay /
Mạch lạc nội tại (cohérence organique) của ca khúc không dựa vào tương quan ý nghĩa : "tình xa như trời" thì hợp lý, nhưng gần, sao lại như "khói mây" ? "Tình lên cao vút", sao lại "như chim mỏi cánh rồi"? "Tình reo vui trong nắng", thì phải đối ngẫu với "tình buồn cơn mưa bay" mới chỉnh, sao lại say sưa vào đây?
Thật ra, mạch lạc nội tại được cấu trúc trên hình thức ngôn ngữ : những từ lặp lại : tình, chim, như, những vần luyến láy : mây, cây, say, bay, những từ đối lập : xa/gần, vui/buồn. Hình ảnh nối tiếp nhau, không cần ăn khớp với lý luận, lại được tiết điệu, âm giai nâng đỡ, bay bổng, bay thẳng vào tâm tưởng người nghe.

Chúng ta thử so sánh, để tìm hiểu chứ không phân định hơn thua, một lời nhạc tương tợ của Đoàn Chuẩn-Từ Linh :

Gửi gió cho mây ngàn bay
Gửi bướm muôn màu về hoa
Gửi thêm ánh trăng màu xanh lá thư
Về đây với thu trần gian ...
Hai ca khúc na ná, vì đều là ẩn dụ xâu chuỗi (métaphore filée), nhưng câu sau của Đoàn Chuẩn và Từ Linh được cấu tứ theo ngữ nghĩa và quy ước, theo điển cố : gió+mây, bướm+hoa, gió+trăng, trăng+thu. Nét mới là màu xanh lá thư bị xoá nhoè giữa những ước lệ được liên kết thành một xâu chuỗi kiên cố, chặt chẽ quá làm mất chất thơ. Thêm vào đó là những câu thất ngôn đường luật rất chỉnh chu :
Lá vàng từng cánh / rơi từng cánh
Rơi xuống âm thầm / trên đất xưa
Bài Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay rất hay, nhưng hay một cách khác, được yêu chuộng ở một giới thính giả khác.
Phạm Duy, thời trẻ, đã có những sáng tạo tân kỳ :

Buồm về dội nắng đôi vai
Bao nhiêu màu hoa ngát trên đôi môi
(Tiếng Đàn Tôi), 1947
Sau đó, anh trở về với ngôn ngữ duy lý:
Bao giờ em giở lại vườn dâu (hỡi em)
Là một câu thơ tuyệt vời : vườn dâu là niềm thương nhớ muôn trùng một nền văn minh đã khuất bóng. Nhưng Phạm Duy lại bồi thêm câu sau:
Để anh bắc gỗ xây nhịp cầu (anh) bước sang...
(Quê Nghèo, 1948)
Thì cái ý đã thu hẹp cái tứ. Câu hát trở thành thô thiển, và giới hạn âm vang.
(Tôi đã có dịp trình lên anh Phạm Duy ý này, anh cười vui : thế à ?)
Tác phẩm Lê Thương uyên bác cả nhạc lẫn lời, đã đựơc người đời yêu thích.
Trịnh Công Sơn sẽ không viết được những câu văn vẻ như Lê Thương :

Bên Man Khê còn tung gió bụi mịt mùng,
Bên Tiêu Tương còn thương tiếc nơi ngàn trùng ...
(Hòn Vọng Phu)
nhưng đã viết :
Đàn bò vào thành phố
Reo buồn tiếng hạt chuông
(...)
Đàn bò tìm dòng sông
Nhưng dòng nước cạn khô
Đàn bò bỗng thấy buồn,
bỗng thấy buồn ...
(Du Mục)
Những hình ảnh ngoài trí tưởng tượng của Lê Thương - ông vua đặt lời ca - theo sự đánh giá của Phạm Duy.
Đi vào nền tân nhạc với một tâm hồn mới mẻ, Trịnh Công Sơn đã dần dần xây dựng một nhạc ngữ mới, phá vỡ những khuôn sáo của nền âm nhạc cải cách, thành hình chỉ hai mươi năm về trước.
*

Trịnh Công Sơn tự học nhạc, chứ không được đào tạo theo hệ thống trường quy. Khi bắt đầu sáng tác, được khích lệ, mới "trao đổi nhạc lý với bạn bè", anh không nói rõ là những ai.

Câu hỏi thứ hai người tò mò đặt ra là : học nhạc một mình, thì vốn liếng nhạc thuật lấy đâu ra mà sáng tác nhiều, nhanh và hay như thế ?

Nhiều người cho là tác phẩm anh đơn giản về mặt nhạc thuật, nói là nghèo nàn cũng được.

Văn Cao nhận xét : "Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển, theo cấu trúc bác học phương tây. Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra" 3.

Lối nhạc hồn nhiên, dung dị này lại đáp ứng lại với nhu cầu thời đại, theo Phạm Duy :

"Về phần nhạc, toàn thể ca khúc Trịnh Công Sơn không cầu kỳ, rắc rối vì nằm trong một số nhạc điệu đơn giản, rất phù hợp với tiếng thở dài của thời đại" 4.

Một thính giả bình thường, yêu quý Trịnh Công Sơn, đã viết sau khi anh qua đời : "Xét cho cùng, Trịnh Công Sơn là một nhà thơ. Một nhà thơ lớn. Nhạc là cái xe tải anh lắp lấy để chở thơ anh đến với chúng ta" (Vũ Thư Hiên, Varsovie, 4/2001). Nhận xét không đúng nhưng tiêu biểu.

Dù cho rằng nhạc thuật đơn điệu, thì cũng phải thừa nhận tài năng, có phần học tập, có phần thiên phú. Hoa hồng đẹp là do cây hồng, nhưng cũng còn nhờ vào đất đai, phân tro, mưa nắng, người chăm sóc, thậm chí cần cả người ngắm, hoa hồng mới có giá trị cái đẹp hoa hồng. Dù ở đây chỉ là một đoá vô thường.

Ta thử nhớ lại thời đại phát sinh tài năng Trịnh Công Sơn.

Năm anh 15 tuổi, 1954, Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, cả hai miền Nam Bắc đều hoá thân trong hoàn cảnh chính trị và văn hóa mới.

Ở miền Nam, văn hoá phương Tây tràn ngập thị trường, nhất định phải ảnh hưởng mạnh mẽ đến tuổi mười lăm.

Sách báo, đĩa nhạc Pháp du nhập ồ ạt vào Việt Nam hằng ngày, giá thực tế rẻ hơn tại Paris nhờ trợ cấp hối đoái, và đây lại là thời kỳ phát minh và phát triển của loại sách bỏ túi và đĩa hát rảnh mịn (microsillon), phát hành rộng rãi, kèm theo những phương tiện truyền thanh mới. Thời trước, tuy Việt Nam là thuộc địa Pháp, nhưng văn chương Pháp chỉ du nhập qua nhà trường, giáo trình dừng lại ở cuối thế kỷ XIX : uyên bác như Xuân Diệu mà không biết Apollinaire. Sau 1954, văn hoá Pháp - và phương Tây - du nhập thẳng vào thị trường. Công chúng đọc Françoise Sagan tại Sài Gòn cùng lúc với Paris. Trên hè phố, nhất là tại các quán cà phê, người ta bàn luận về Malraux, Camus, cả về Faulkner, Gorki, Husserl, Heiddeger.

Nhà văn Bửu Ý, bạn Trịnh Công Sơn - học trước Sơn hai lớp tại Lycée Français Huế - hát Lá Rụng (Les Feuilles Mortes) một lần với Juliette Gréco ; Đời Hồng Tươi (La Vie en Rose) một lần với Edith Piaff, Barbara một lần với Yves Montand ; trong khi Thanh Tâm Tuyền dịch Barbaracủa Jacques Prévert,đăng trên Sáng Tạo và nhà văn trẻ Nguyễn Xuân Hoàng cũng ngân nga Barbara. Nguyễn Trần Kiềm, bạn cùng lớp với Sơn, đi cyclo che nắng bằng sách của Sartre.

Người ta thắc mắc về những tên ca khúc Trịnh Công Sơn cầu kỳ như Mưa Hồng, Tuổi Đá Buồn, trong khi Thanh Tâm Tuyền viết Đêm Màu Hồng, về sau trở thành phòng trà lừng danh, lại viết thêm Lệ Đá Xanh, được danh hoạ Đinh Cường, bạn thân Trịnh Công Sơn, vẽ thành tranh trừu tượng, v...v... .

Song hành với sách báo, các cơ quan văn hoá tây phương mở cửa hoạt động : Phòng Thông Tin Hoa Kỳ, Pháp, Trung Tâm văn hoá Đức ... dĩ nhiên là với những động cơ chính trị trong thời kỳ chiến tranh lạnh, mà chúng tôi không đề cập ở đây, chỉ nhấn mạnh ở ảnh hưởng văn hoá phương Tây thời đó trên đời sống trí thức miền Nam. Những Chiều Chủ Nhật Buồn nằm trong căn gác đìu hiu.. ô hay mình vẫn cô liêu, rồi đến Ngày chủ nhật buồn còn ai, còn ai : ... Tuổi buồn Em mang đi trong hư vô, ngày qua hững hờ... Không thể không nhắc đến bài Chủ Nhật Buồn, Sombre Dimanche của Seress Rejso, nghe nói đã có người tự tử vì nó. Hay vì những hư vô, cô liêu, hững hờ, thịnh hành một thời. Trong bài viết "Nỗi lòng của tên Tuyệt Vọng" anh đã tiết lộ " tôi vốn thích triết học và vì thế, tôi muốn đưa triết học vào những ca khúc của mình ". Ví dụ như : Vết lăn trầm hằn lên phiến đá mà anh gọi là di thạch : roche errante, người hát không hiểu gì, nhưng vẫn thích hát ! Nhưng nói là Rolling Stones cũng không sai.

Ca khúc Trịnh Công Sơn gợi suy tư, đáp ứng lại nhu cầu trí thức chính đáng ở một thiểu số và ảo tưởng trí thức thời thượng ở một đa số, trong đó có các cô cậu, ở mục Tìm Bạn Bốn Phương trên các báo, tự giới thiệu là "yêu màu tím" và "nhạc họ Trịnh", hay "nhạc TCS" viết tắt.

Thời kỳ này, Nguyễn văn Trung đã viết bài Ảo Ảnh Thanh Thuý. Nói về ảo ảnh Trịnh Công Sơn, ông ấy cũng có thể viết một bài hay.

Nhạc Trịnh Công Sơn đơn giản : một nhược điểm tạo dựng thành công. Phạm Duy nhận xét về Trịnh Công Sơn " Bài hát chỉ cần một chiếc đàn guitare đệm theo, nếu hoà âm phối khí rườm rà thì không hợp với những bài hát soạn theo thể ballade này ". Lại là một yêu cầu khác của thời đại : những Georges Brassens, Joan Baez lẫy lừng với cây đàn ghi-ta. Ca khúc Trịnh Công Sơn, có thể hát cho vài người nghe, cho một nhóm, hay trước quảng đại quần chúng. Nó đi vào quần chúng, nhất là giới thanh niên : Nó khác với nhạc phòng trà, có giàn nhạc và do ca sĩ hát, và thính giả đi nghe (và nhìn) ca sĩ nhiều hơn là nghe ca khúc.

Thời Trịnh Công Sơn cũng là thời của các tác-gia-soạn-giả-trình-diễn (auteur compositeur interprète) chẳng bao năm mà trở thành huyền thoại : Jacques Brel, Bob Dylan. Báo chí Mỹ gọi Trịnh Công Sơn là Bob Dylan Việt Nam, vì nội dung phản chiến, mà còn vì phong cách trình diễn.

Nhạc Trịnh Công Sơn không phải là nhạc giao hưởng. Những soạn giả bậc thầy của nhạc lý Việt Nam thời đó, như Vũ Thành, Văn Phụng, Nghiêm Phú Phi không có quần chúng.

Trịnh Công Sơn có tài đặt nhạc, soạn lời, lại biết bắt mạch thời đại, sống đúng thế hệ của mình, trong lòng đất nước, trong nhạc cảnh thế giới. Ngần ấy cái tài dồn lại, gọi là thiên tài, cũng không quá đáng.

*

Phân chất những lớp phù sa đã tấp vào dòng nhạc của mình qua những giao lưu văn hoá, Trịnh Công Sơn có nói đến những ảnh hưởng ngoại lai : " Thưở nhỏ tôi rất thích nhạc tiền chiến và có nghe một số nhạc nước ngoài. Những năm 60, tôi có nghe nhạc Blues nói về thân phận của người da đen ở Mỹ. Tôi rất thích nhạc của Louis Amstrong, D. Ellington... Tôi thấy loại nhạc này gần gũi với mình và thấy có khả năng muốn lấy nhạc này để nói lên tâm sự của mình ". 5

Và cũng trên số báo Đất Việt đó, anh cho biết thêm về ảnh hưởng : " Những năm 64-66, sáng tác có chất Blues, những năm 67-72, lại mang nhiều chất dân ca ".

"Chất dân ca" ở đây, phải hiểu theo nghĩa folk songs của Bob Dylan và Joan Baez thịnh hành thời đó. Cả hai danh ca đều hơn Sơn hai tuổi, cùng một thế hệ, cùng một lý tưởng chống chiến tranh, cùng một cây ghi-ta, cùng một điệu hát; "Dân ca" ở đây không phải là hò mái nhì, hò giã gạo của quê hương. Nhạc dân tộc trong thời gian đầu, dường như không mấy ảnh hưởng đến anh. Những bài theo chủ đề ru con của Trịnh Công Sơn không mấy âm hưởng những bài hát ru em Việt Nam.

Sau này, thỉnh thoảng người nghe có nhận ra chút âm hưởng hò Huế, như trong " Thuở Bống là Người ", hay điệu ru dân tộc, như " Lời Mẹ ru Con " thì cũng chỉ là đôi biệt lệ, không tiêu biểu.

Gần đây, sách báo thường trích dẫn câu Trịnh Công Sơn:

"Tôi chỉ là tên hát rong, đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo".

Lại phải hiểu chữ "hát rong" theo nghĩa hiện đại: không phải là ông sẩm chợ, hát vè Thất Thủ Kinh Đô ở phố Đông Ba mà Huy Cận đã mô tả, mà hình ảnh người du ca hiện đại, những baladins itinérants trong ca khúc Bob Dylan, trong quan niệm Nhạc Du Bất Tận, Never Ending Tour (1988). Nhà thơ Tô Thùy Yên, chuộng thuyết chính danh, nên đã nói rõ điều này và gọi Trịnh Công Sơn là "người du ca chính hiệu":

" Người du ca là một nghệ sĩ đặc biệt đứng giữa âm nhạc và thi ca, đúng hơn, người du ca là một thi sĩ nhiều hơn là một nhạc sĩ.

Người du ca thường khi xuất hiện và nổi bật trong những thời đại được coi là u uất nhiễu nhương, những thời đại mà tiếng nói con người bị lấn át, tự do con người bị cưỡng chế, giá trị con người bị hạ thấp, hạnh phúc con người bị tước đoạt và ước vọng con người bị bao vây.

Thành thử những tác phẩm du ca có thể là những tác phẩm yếu hơi, dễ dãi, sơ sài, những tác phẩm thành hình trong một thoáng cảm hứng nhất thời, những tác phẩm như những ký tự ghi chép vội vàng trên một trang giấy tình cờ, và thả bay ngay theo thời thế".

Trong Cõi Tạm, ăn xổi ở thì này, nơi con người chôm liền chộp lẹ mọi cơ hội để mua lẻ và mua rẻ chút hư danh, có người còn viết được những lời như vậy, là nghiêm túc và tâm huyết. Nhất là viết cho một người vừa khác phe, vừa khác phái.

Văn Cao cũng là một người sành chữ nghĩa. Trong câu chuyện thân mật, anh thường nói "Sơn là một troubadour (kẻ hát rong) có tài". Nhưng khi viết về Trịnh công Sơn, anh dùng chữ chantre, trang trọng hơn, trong nghĩa "kẻ ngợi ca" : " bởi Sơn đã hát về quê hương đất nước bằng cả tấm lòng của một đứa con biết vui tận cùng những niềm vui, và biết đau đến tận cùng những nỗi đau của Tổ Quốc Mẹ hiền " 6. Troubadour hát nhạc mua vui cho trần thế, Chantre hát những Lời Buồn Thánh. Tuy nhiên, Trịnh Công Sơn cũng chỉ tự xưng là troubadour, như tên đặt cho phòng tranh anh triển lãm chung với Đinh Cường, Bửu Chỉ tại Gallery Tự Do, tháng 8/2000.

Năm 1969, bạn anh, họa sĩ Trịnh Cung, đã vẽ bức tranh đẹp, tên là Le troubadour = Kẻ du ca, hát để kêu gọi hoà bình. Những chuyện này đều tương quan với nhau.

Khi Phạm Duy gọi ca khúc Trịnh Công Sơn là những ballades, không cùng một nguồn gốc với chữ baladin, cũng là có ý trang trọng.

Các vị ấy tài cao, ý sâu mà lòng thì rộng rãi ; cho nên lời cũng khoáng đạt.

*

Hôm qua trăng sáng lờ mờ
Em đi tát nước, tình cờ gặp Anh
Người con gái Việt Nam da vàng, ngày xưa, đã hát như thế trong ca dao, là để che dấu khát vọng tình yêu, chứ trong đời sống nông thôn thời ấy, làm gì có cái tình cờ.
Đời sống thế giới hiện nay, nghĩ cho cùng, cũng vậy thôi. Những giai điệu blues, nhạc phản kháng Bob Dylan, Joan Baez, thơ Prévert, Aragon, Eluard ... Trịnh công Sơn đã gặp gỡ, trên dòng nhạc, dòng thơ, dòng tâm tư. Và dòng lịch sử, dân tộc và thế giới. Trong cao trào lớn của loài người, giữa lòng thế kỷ hai mươi : cao trào giải phóng dân tộc, chủng tộc và giai cấp. Đừng quên việc giải phóng phụ nữ : người phụ nữ Pháp đi phá ngục Bastille từ 1789, mãi đến 1944 mới có quyền đầu phiếu.

Người phụ nữ Việt Nam cũng vậy thôi : sau khi chờ chồng hoá đá, họ bước chân vào thế kỷ XX, thì ngồi đan áo. Từ Buồn Tàn Thu của Văn Cao, qua Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền, thơ hiện đại của Ý Nhi, cho đến năm 2000, trong ca khúc Đêm Xanh của Bảo Chấn, cô ấy vẫn ngồi đan áo, trong khi dọc hè phố, áo pull bán rẻ mạt.

Đan áo là hình ảnh ẩn nhẫn, thụ động mà người đàn ông đòi hỏi. Đan áo cho ai đó, hay để tưởng nhớ, chờ đợi ai đó. Ca khúc Trịnh Công Sơn, rất nhiều phụ nữ, nhưng không thấy họ đan áo. Mà chỉ ... ngồi chơi, khi nghiêng vai, khi nghiêng đầu, khi nghiêng sầu. Ngồi chơi chán rồi thì Đứng lên gọi mưa vào Hạ. Nếu khóc, cũng chỉ khóc cho những Chiều mưa đỉnh cao .... Mai kia, có ra đi, thì cũng là Như những dòng sông nhỏ.

Người đàn bà trong Trịnh Công Sơn đẹp dung dị và tự do bình thường. Tự do với cuộc đời, với tình yêu, thậm chí với tình dục. Nhạc Trịnh Công Sơn không nói đến tình dục, vì nói đến ... làm gì?

Người phụ nữ nghe và hát nhạc Trịnh Công Sơn thoải mái, vì chỉ hát, hay nghe, mà không phải làm gì cả, không phải Hái Mơ, Lái Đò, bán Hàng Cà Phê, Hàng Nước, không phải thay quần áo làm cô Sơn Nữ, cô Láng Giềng hay mua lấy số phận Người Yêu của Lính. Và nhất là không phải ... đi lấy chồng: hạnh phúc không thấy đâu mà chỉ nghe oán trách dài dài suốt nửa thế kỷ : Em đi trên xác pháo, anh đi trong nước mắt... Em ơi tình duyên lỡ làng rồi, còn chi nữa mà chờ ... Và, ở một chân trời khác, họ cũng không phải ba đảm đang, ba sẵn sàng, làm Người Mẹ Cầm Súng, xung phong đi gỡ mìn ở Ngã Ba Đồng Lộc ...

Sau 1975, khi "Em ở Nông trường, em ra Biên giới" thì người nghe có cảm giác cô Tấm đã trở thành cô Cám, và Trịnh Công Sơn sẽ gào gọi Bống hỡi Bống hời, cô Tấm thỉnh thoảng có tái hiện, nhưng cũng đã tân trang nhiều lắm.

Trong xã hội Việt Nam, cho đến hôm nay, chưa chắc gì người phụ nữ đã được giải phóng, và tôn trọng đúng mức. Trong ca khúc Trịnh Công Sơn, họ được giải phóng và tôn trọng. Tôn trọng người đàn bà, không phải là tán tỉnh, Trịnh Công Sơn, rất hồn nhiên đã hiểu ra và nói vào điều đó.

*

Nhạc phản chiến, đòi hỏi hoà bình của Trịnh Công Sơn thì nhiều người biết, sẽ có nhiều người viết về đề tài này. Mới đây, trong buổi tưởng niệm Trịnh Công Sơn, tại Californie, anh Đỗ Ngọc Yến có nói rõ và nói đúng, khác với Đỗ Ngọc Yến cách đây 40 năm và 20 năm.

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#102 Posted : Sunday, May 31, 2015 5:41:34 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

tt

Tôi không đủ thì giờ viết về đề tài này, nhưng sẽ đề cập đến ở một dịp khác, nay chỉ vội nói ngay mấy ý kiến chủ quan:

1.- Dù đánh giá ra sao đi nữa, nhạc Trịnh Công Sơn cũng là sản phẩm của chế độ Việt Nam Cộng Hoà, trong cả hai mặt tích cực và tiêu cực của chế độ này.

Không có Miền Nam, cũng có thể có một Trịnh Công Sơn, nhưng là một Trịnh Công Sơn khác, đại khái như một Phạm Tuyên hay Phan Huỳnh Điểu.

2.- Chính quyền Cộng Sản, sau 1975, sau những thăm dò, đã lưu dung một phần trong nhạc phẩm Trịnh Công Sơn và đã khéo sử dụng Trịnh Công Sơn. Có thể nói sau 25 năm chiến thắng, thành công hiếm hoi, nếu không phải là duy nhất, của chính sách văn hoá của chính quyền cộng sản, là tiếp thu nhạc Trịnh Công Sơn, mà công đầu là Thành Uỷ Sài Gòn. Dùng chữ "chính sách", là để nhìn toàn cảnh, chứ đối với một cá nhân, chắc chỉ có những quyết định cục bộ, nhất thời, bất thành văn. Dù sao, họ cũng chỉ kế thừa kinh nghiệm Liên Xô vào thời kỳ Tân Chính Sách Kinh Tế (NEP) những năm 1920, sau cuộc nội chiến, khi Lenine thu dung những nhà văn, nhà thơ "bạn đường" (Popoutchiki) như Alexis Tolstoi hay Zamiatine.

Trong chiến tranh chống Pháp, người Cộng Sản đã không thu phục được Phạm Duy. Sau 1954, họ không thu phục được Văn Cao. Nhưng sau 1975, họ thu hoạch được Trịnh Công Sơn, như vậy đã là thành công. Thành công về mặt hiện tượng, không phải về mặt bản chất. Về mặt bản chất, chuyên chính vô sản không bao giờ chấp nhận cái gì khác họ, không phải do họ tạo ra. Mặt khác, ca khúc Trịnh Công Sơn trước kia và bây giờ không có "tiêu chuẩn" đáp lại quy luật của hiện thực xã hội chủ nghĩa. Cố gắng đến đâu thì cây cam cũng không tạo được quả chanh. Trước kia "hai mươi năm nội chiến từng ngày" là sai đường lối, bây giờ hỏi "Em còn nhớ hay Em đã quên"vẫn sai lập trường.

Chấp nhận - dù trong giới hạn - những dư vang của một chế độ chính trị mà mình cố công bôi xoá, chính quyền Sài Gòn, trong chừng mực nào đó, đã nhượng bộ quần chúng, đã gián tiếp thừa nhận mình thất bại, trong việc ngăn chặn nhạc vàng, và nhất là trong việc đào tạo một nền âm nhạc mới đáp ứng với quần chúng. Chính quyền Trung Ương Hà Nội "wait and see" để cho Sài Gòn "phát huy sáng kiến" ; nếu rách việc thì ra tay chận đứng một "quyết đinh địa phương", nếu vô hại thì án binh bất động, và thêm được tiếng là cởi mở, hoà hợp.

3.- Về phía Trịnh Công Sơn, anh cũng khéo thoả hiệp với chính quyền mới. Việc anh ở lại Việt Nam sau 1975, hợp tác với các hội văn nghệ Huế, rồi Sài Gòn là hợp lý, sau khi đã sáng tác Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi thăm... Đó là sự chọn lựa tự do của anh. Cũng như Nguyễn Trãi xưa kia, cháu ngoại nhà Trần, mà không phò tá các phong trào kháng chiến Hậu Trần, lại đi hợp tác với đám nông dân Lam Sơn. Hay như Ngô Thời Nhậm, nhiều đời ăn lộc chúa Trịnh vua Lê, mà đã đi hợp tác với nhóm áo vải Tây Sơn. Từ đó người ta có thể thông cảm khi anh làm một số bài ca ngợi chế độ mới, không hay lắm và ít được hát, ít người biết : âu cũng là điều may mắn cho anh, vì anh đã có một số câu chữ không hay và không cần thiết.

Anh là người được hưởng nhiều bổng lộc của chính quyền, nhiều hơn những cán bộ đã vào sinh ra tử trong cả hai cuộc chiến tranh. Anh có thể hát Đời Cho Ta Thế. Thật ra, đời không cho ai cái gì mà chỉ đổi chác ; anh đã phải trả giá, có khi là giá rất đắt. Anh không trả thì nhiều người khác phải trả. Ý thức điều đó có lần anh viết : " Tôi không bao giờ có tham vọng trở thành một người viết ca khúc nổi tiếng. Nhưng đời đã tặng cho tôi món quà ấy thì tôi không thể không nhận. Và khi đã nhận rồi thì phải có trách nhiệm với mọi người ".

Nói thì ngon lành như thế. Thực tế không đơn giản : người ta cho anh bó hoa, chai rượu. Ai cho anh trách nhiệm ? Anh hát " mỗi ngày tôi chọn một niềm vui ", khi bạn anh, Thái Bá Vân, phó viện trưởng Viện Mỹ Thuật Hà Nội than : "một năm không được một ngày vui". Muốn mua vui, phải vào Sài Gòn ... chơi với Sơn. Nhưng chẳng qua là niềm vui của phận "chim lồng cá chậu" ; Hiểu như thế, bạn bè không đòi hỏi gì nhiều ở một nghệ sĩ yếu đuối, sống chết giữa trùng vây như anh.

Người ta đánh giá một tác giả qua những tác phẩm anh ta đã thực hiện, chứ không qua những tác phẩm mà "lẽ ra" anh ta phải thực thực hiện. Nhân danh cái "lẽ ra" ấy, người làm văn học nghệ thuật đã là nạn nhân của bao nhiêu là oan khiên, oan khốc và oan khuất.

Không những vì chút tình riêng, nhưng còn vì tình đời, luật công bình, luật tương đối, luật chơi, chúng ta nên gạt sang một bên nhiều cái "lẽ ra" đối với Trịnh Công Sơn, mà chỉ xét những cái anh đã làm ra.

4.- Qua bốn mươi năm truân chuyên, Trịnh Công Sơn đã có những đóng góp lớn lao vào nền văn học nghệ thuật, vào đời sống xã hội, và lịch sử chính trị. Phần lớn sự nghiệp anh đã thành hình và thành công dưới chế độ Việt Nam Cộng Hoà, mà mọi người đã biết. Bài này tạm thời chưa nói đến.

Ngoài quần chúng cũ, nghe nhạc Trịnh Công Sơn vì yêu thích hay để nhớ lại ngững âm hao xưa cũ, thì thính giả khác, giới thanh niên Việt Nam ngày nay, hay người miền Bắc trước 1975, đón nhận ra sao ?

Trong xã hội Việt Nam ngày nay, ca khúc Trịnh Công Sơn mang lại chất Thơ cho đời sống. Nhìn qua một số đĩa hát CD, thu nhiều bài của nhiều soạn giả, thì cái tên chung thường mượn tiêu đề của Trịnh Công Sơn, như Lời Thiên Thu Gọi (Hồng Nhung), Xin Mặt Trời hãy ngủ yên (Mỹ Linh), những tiêu đề nhiều âm vang, nhiều thi vị. Những nhạc sĩ khác, Dương Thụ, Phú Quang, Trần Tiến, Bảo Chấn... đều tài cao, nhưng được đào tạo và trưởng thành trong một xã hội duy dụng và thực dụng, óc sáng tạo cao siêu của họ không đặt ra những câu hỏi vớ vẩn như là Sóng Về Đâu? Vì thực tế: sóng thì ... về đâu? Trong một mẩu xã hội nào đó, đặt những câu hỏi như thế, là có cơ nguy bị nhốt vào nhà thương điên.

Chủ nghĩa hiện thực xã hội rất nghiêm khắc, yêu chuộng văn vần, một loại văn xuôi diễn ca (prose versifiée), với điều kiện loại văn vần ấy không có chất Thơ. Thi phẩm của "công thần" Nguyễn Đình Thi còn bị gạt ra nói gì đến "hàng thần" Trịnh Công Sơn ? Nhưng ca khúc Trịnh Công Sơn đã lọt qua được các mắt lưới, vì đã cấp thời đáp lại được "lời gọi của khoảng trống" (l"appel du vide) và ca khúc là một thể loại nhẹ, phù phiếm (genre léger), chính quyền dung dưỡng vì có khả năng chận đứng bất cứ lúc nào - như đã làm với nhạc Văn Cao ngày xưa : thậm chí bài Quốc Ca còn bị hăm doạ thay đổi. Và đang làm với Phạm Duy ngày nay. Trong các CD thu tại Việt Nam hiện nay có ai thấy Giấc Mơ Hồi Hương, nhạc Vũ Thành?

Chính quyền dung dưỡng ca khúc Trịnh Công Sơn không phải vì động cơ nghệ thuật, nhưng như một thế phẩm (ersatz), trong thời kỳ quá độ, như bác sĩ ban thuốc an thần cho bệnh nhân mất ngủ. Trong khi chờ đợi, thính giả hưởng lạc khoản, được ngày nào hay ngày ấy. Họ đang được nghe bài Sóng Về Đâu một trong ca khúc cuối đời Trịnh Công Sơn :

Biển sóng, biển sóng đừng xô tôi
Đừng xô tôi ngã dưới chân người
Biển sóng, biển sóng đừng xô nhau
Ta xô biển lại sóng về đâu
Sóng bạc đầu và núi chìm sâu
Ta về đâu đó
Về chốn nào mây phủ chiêm bao
Xã hội chủ nghĩa có thể tạo ra nhiều bài hát hay hơn. Nhưng tạo ra được cái gì na ná như thế thì vô phương. Thiên tài không phải là người không bắt chước ai, mà là người không để ai bắt chước được mình.
5.- Chứng từ cho giá trị một tác phẩm nghệ thuật, là khả năng kết hợp rộng rãi và lâu dài của nó. Nhạc Trịnh Công Sơn được hát rộng rãi ở Miền Nam trước 1975, chúng ta đã biết. Nhưng trước 1975, Miền Bắc đã nghe và đã thích nhạc này, như Văn Cao đã kể lại 7. Nguyễn Duy kể thêm rằng ở dọc Trường Sơn, bộ đội miền Bắc cũng đã nghe :

" Mặt trận Đường Chín-Nam Lào (1971)... trong căn hầm kèo bên dòng sông Sêbănghiêng ... Nghe, nghe trộm - vâng, lúc đó gọi là nghe trộm - đài Sài Gòn, tình cờ 'gặp' Trịnh Công Sơn qua giọng hát Khánh Ly... Diễm Xưa... Mưa vẫn mưa rơi ... làm sao em biết bia đá không đau ... Quỷ thật ! giai điệu ấy và lời ca ấy tự nhiên 'ghim' lại trong tâm tưởng tôi ngay từ phút bất chợt ấy. Rồi Như Cánh Vạc Bay... Quái thật ! ... Cảm nhận bất chợt, những bài hát rất mượt mà, đắm đuối ấy... ừ thì có buồn đấy, đau đấy, quặn thắt nữa đấy... nhưng còn là cái gì lành mạnh nảy nở trong đó. Hình như là cái Đẹp... Bảng lảng, lờ mờ, khó phân định cho đúng nghĩa, nhưng rõ ràng là đẹp, đẹp làm sao... Và cũng hơi ma quái thế nào ... "8

Người ác ý có thể ngờ vực : Nguyễn Duy là nhà báo có quyền nghe đài, sau này là bạn rượu của Trịnh Công Sơn, nên thêm thắt. Thì đây, một chứng từ khác đến từ một anh bộ đội, không quen biết gì, không điếu đóm gì với Trịnh Công Sơn, nhà văn Nguyễn văn Thọ, hiện ở Berlin:

" Năm 1972, khi ấy tôi là bộ đội trong rừng Trường Sơn. Thằng bạn tôi, sau chiến dịch Lam Sơn 719 vớ được cái đài Sony rất tốt.

Đêm Trường Sơn, chờ cho mọi người đi ngủ hết, chúng tôi lén mở đài BBC và cả đài Sài Gòn. Đấy là lần đầu tiên tôi được nghe tiếng hát Khánh Ly với nhạc Trịnh Công Sơn.

Chúng tôi là lớp người lớn lên từ Miền Bắc, thường quen với những khúc thức hùng tráng. Trong tiếng chộn rộn rú rít của sóng vô tuyến, tôi vẫn thấy một giọng lạ của một thứ âm nhạc mới. Một thứ nhạc da diết, đầy lãng đãng từ ca từ, tới khúc thức. Một thứ nhạc xanh không giống bất cứ nhạc xanh nào mà tôi từng nghe, kể cả trong những đĩa hát quay tay cổ mở suốt ngày rên rỉ ở đầu chợ trời những ngày sau hoà bình.

Rất lạ, với tôi khi đó nhạc Trịnh Công Sơn như làn gió khởi từ xa xăm đâu đó, tách khỏi hận thù trận mạc, tha thiết một tình yêu đồng loại, giống nòi, yêu bè bạn, hoà bình, đạo lý. Nó lạ, vì lối ca từ phi tuyến tính, không giống cách viết truyền thống trên những ca khúc của Hà Nội khi đó"

Quý hoá hơn nữa, anh Thọ đã ghi lại cảm giác khi tiến quân vào Sài Gòn, nghe nhạc Trịnh Công Sơn hát Nối Vòng Tay Lớn, buổi trưa ngày 30/4/1975, trên đài Sài Gòn:

" Mặt đất bao la ... anh em ta về ... gặp nhau trong bão lớn quay cuồng trời rộng ...

Lời ca không phải là tiếng thách thức tử thủ. Lời ca không phải là tiếng bể máu như kết cục thường của chiến cuộc, lời ca khi ấy làm chùng xuống không khí thù hận và hằn học.

Chúng tôi tiến vào Sài Gòn...

Nối Vòng Tay Lớn

Chiến tranh nào bao giờ chẳng có mặt trái, nhưng tiếng hát kia, bản nhạc ấy, mở ra cho cả hai bên nghe như một liều thuốc vô hình đã làm chùng xuống một thời khắc thường dễ nổi cáu và nổi doá.

Đấy là kỷ niệm thứ hai của tôi về anh "

Tiếng hát làm chùng tay súng. Một ngày, một giờ mà sinh mệnh của hằng triệu con người nằm trên đường tơ kẽ tóc, một sự kiện như thế không trọng đại hay sao?

Văn học nghệ thuật Việt Nam, đã bao nhiêu lần đóng vai trò đó?

Sau này, Thọ sang sinh sống tại Đức, theo diện xuất khẩu lao động, vẫn nghe nhạc Trịnh Công Sơn :

" Ngay cả sau này, đôi khi tự an ủi mình, nâng đỡ mình, tôi khe khẽ hát "Tôi ơi đừng tuyệt vọng"... và nhiều bài ca khác trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhưng tôi vẫn nhớ từng chi tiết và cám ơn nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ở trưa phát thanh trên làn sóng Sài Gòn ngày đó "9

Ở một chân trời khác, nhiều người oán trách Trịnh Công Sơn về việc lên đài hát Nối Vòng Tay Lớn, trưa ngày 30.4.1975. Thật ra, anh có hát hay không hát, thì chế độ Việt Nam Cộng Hoà cũng tan rã. Anh có hát, và có hợp tác với chính quyền mới, âu cũng là một cách cứu vãn vết tích văn hoá của nền Việt Nam Cộng Hoà đã đào tạo ra anh về mặt tài năng và sự nghiệp, thậm chí tạo ra cả một huyền thoại Trịnh Công Sơn.

Một lần nữa, ông Nguyễn Văn Trung, sau Ảo Ảnh Thanh Thúy nếu viết Trịnh Công Sơn Thực Chất và Huyền Thoại cũng sẽ nghĩ ra nhiều điều hay.

Nếu có ai đó nói rằng : Trịnh Công Sơn là một khổ nhục kế, để kéo dài hơi thở văn hoá của một chế độ chính trị đã bị bức tử, thì là lời đại ngôn, duy cảm, nghịch lý, vớ vẩn.

Vớ vẩn như một số lời ca trong tác phẩm Trịnh Công Sơn. Nhưng biết đâu chẳng là sự thực? Sự thực trong bao nhiêu cái vớ vẩn, kể cả trong lịch sử.

Chế Lan Viên, năm 1984, đã viết: " Văn hoá của thực dân mới là con đẻ của chủ nghĩa thực dân mới. Quân sự, chính trị thực dân mới có chết, có băng hà thì nó cũng truyền ngôi cho văn hoá "10. Và Chế Lan Viên không phải là người vớ vẩn, viết lách vớ vẩn.

*

" Không xa đời và cũng không xa mộ người..."

Trịnh Công Sơn đã xa đời lúc 12 giờ 45 tại Sài Gòn, ngày 01.4.2001.

Đám tang ngày 4 tháng tư, nghe nói lớn lắm, hàng trăm tràng hoa ngập con hẻm 47 Duy Tân. Hàng vạn người đưa tiễn, trong đó có thể có người đi tiễn một điều gì khác, một tâm tình hay u hoài nào đó của riêng mình, chẳng hạn.

André Malraux có nói đâu đây rằng " trong Thiên Chúa Giáo, chỉ có những pho tượng là vô tội ". Trịnh Công Sơn đã sống non nửa sau cuộc đời, trong một chế độ chính trị mà các pho tượng cũng không phải là vô tội.

Những đoá hoa đặt trên mộ Toa, Sơn ơi, không phải là đoá hoa nào cũng vô tội.

Bây giờ moa mới khóc Toa đây. Tại nhà moa, ngồi ở chỗ Toa ưa ngồi vẽ, nhìn dòng sông nhỏ, mà Toa đã gọi là sông An Cựu.

Sơn ơi, đời này, và sang đời khác nữa, làm gì có đến hai dòng sông An Cựu ;

an cựu, Sơn ơi.

ĐẶNG TIẾN

--------------------------------------------------------------------------------

1 Trịnh Công Sơn, Nhạc và Đời, nxb Tổng Hợp Hậu Giang
2 Đất Việt, Canada tháng 6, 1986
(Thật ra bài ướt Mi, làm năm 1958, nxb An Phú, in 1959)
3 Văn Cao, Lời Bạt cho tập nhạc Trịnh Công Sơn Em Còn Nhớ hay Em đã Quên, nxb Trẻ, 1991, tr. 115
4 Phạm Duy, Hồi Ký Thời Phân Chia Quốc Cộng, nxb Phạm Duy Cường, California, 1991, tr. 287
5 Đất Việt, Canada tháng 6,1986
6 Văn Cao, Lời Bạt cho tập nhạc Trịnh Công Sơn Em Còn Nhớ hay Em đã Quên, nxb Trẻ, 1991
7 Văn Cao, Lời Bạt cho tập nhạc Trịnh Công Sơn Em Còn Nhớ hay Em đã Quên, nxb Trẻ, 1991.
8 Nguyễn Duy, trong Tôi Thích Làm Vua, nxb Văn Nghệ, 1987
9 Nguyễn văn Thọ, Nhớ Trịnh Công Sơn, Nước Đức, ngày 4.4.2001
10 Chế Lan Viên, Văn hoá thực dân mới chết hay chưa chết, trong "Ngoại Vi Thơ", tr. 121, nxb Thuận Hoá, Huế, 1987
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
CatLinh  
#103 Posted : Wednesday, June 3, 2015 6:18:00 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 6/8/2015(UTC)
phamlang  
#104 Posted : Monday, June 8, 2015 5:55:55 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Trịnh Công Sơn và bức thư tình xúc động gửi người yêu 16 tuổi


Dao Ánh khi 16 tuổi, đang là nữ sinh cấp 3 trường Đồng Khánh (Huế) đã là nàng thơ của Trịnh Công Sơn. Mối tình kéo dài từ năm 1964 đến 1967, chất chứa biết bao hoài niệm.

UserPostedImage

Ngô Vũ Dao Ánh lúc 16 tuổi và Trịnh Công Sơn thời trẻ.


Mối tình Dao Ánh và Trịnh Công Sơn đã được viết thành sách vừa xuất bản gần đây có tên “Trịnh Công Sơn - thư tình gửi một người”. Cuốn sách in hàng trăm thư tình Trịnh Công Sơn gửi cho Dao Ánh, mối tình kéo dài từ năm 1964 cho đến 1967.
Lúc đó, Trịnh Công Sơn đang đi dạy trên B’lao (Lâm Đồng) mới 25 tuổi sau khi tốt nghiệp Sư phạm Quy Nhơn và Dao Ánh đang là cô nữ sinh 16 tuổi học tại Huế. Nhiều ca khúc nổi tiếng được Trịnh Công Sơn viết tay tặng riêng cho Dao Ánh trong thư như "Còn tuổi nào cho em", "Tuổi đá buồn", "Mưa hồng"...

Mới đây, bà Dao Ánh đã gửi tặng Gác Trịnh (Huế) bức thư tình của Trịnh Công Sơn gửi bà năm 1965. Trịnh Công Sơn với vốn ngôn ngữ tài hoa đã làm rung động tận tâm can bao nhiêu thế hệ nghe nhạc. Một lần nữa, những ngôn ngữ tài hoa ấy lại chảy tràn trên những trang thư tình lãng mạn.

Chúng tôi xin được trích đăng lại bức thư tình của nhạc sỹ tài hoa Trịnh Công Sơn để những ai yêu mến Trịnh thêm một lần được chạm tới tâm hồn ông...

B’lao, 23 tháng 9/ 1965

Ánh
Buổi trưa anh không ngủ được nên lang thang ra phố. Mưa nhỏ rồi lớn dần đuổi anh về đây. Anh đang ngồi ở câu lạc bộ sát bờ hồ. Bờ hồ bây giờ đã điêu tàn lắm. Người ta đã chặt bỏ những cây khô sống bao nhiêu năm nay trong hồ. Có một vài chỗ nước rút xuống chỉ còn bùn đen.
Buổi chiều gió thật lạnh. Anh đã mặc áo ấm suốt ngày ở đây.

Anh nhớ Ánh lắm mà ngôn ngữ thì quá chật hẹp, quá cũ kỹ không chuyên chở nổi sự nhớ nhung này. Nên anh đã nói đã nhắc mãi mỗi ngày mà vẫn chưa đỡ nhớ tí nào.
Ngồi ở đây nhìn ra từng ô cửa kính rất lớn anh mơ hồ thấy mình như lạc về một vùng đất nào mới sơ khai. Cả thành phố chỉ xanh rì những cây cối và từng khoảng đất đỏ.
Hiện giờ ở Tỉnh đang có một buổi văn nghệ sẽ tổ chức vào cuối tháng. Anh phụ trách chương trình này nên bây giờ vẫn còn được rỗi rảnh không làm việc gì cho đến cuối tháng.
Anh nhớ Ánh lạ lùng đó Ánh. Mà Ánh thì chỉ mong anh chóng đi xa, anh nghĩ thế. Mùa thu hầu như không có trên miền này. Ở đó lá đã bắt đầu vàng chưa Ánh.

Những bụi bờ dọc theo những con dốc đất đỏ ở đây anh vừa đi qua ban sáng và thấy lá của hoa mặt trời xanh um. Anh ngắt gửi về Ánh một ngọn. Hoa thì vẫn chưa nở. Có lẽ đợi hôm nào có mặt trời thì hoa mới bắt đầu hiện diện và cũng là mùa mà anh đã gọi là mùa sinh nhật của hướng dương.
Anh đang nhớ thầm về những buổi chiều thứ năm ở đó. Chỉ mới có vài ngày mà tưởng chừng như ngàn đời qua đi trên anh. Anh chợt nghĩ rằng cuộc đời buồn bã như thế này sao chúng mình không tha thiết với nhau hơn.

Những ai chưa bao giờ đi, chưa bao giờ sống qua nhiều nơi, sống qua những ngày mưa ngày nắng trên bao nhiêu vùng đất khác nhau, chưa bao giờ nhìn sâu vào bên sau của con người thì hẳn mới còn đua đòi vào những hời hợt nhạt nhẽo của đời sống được.
Buổi trưa trời âm u và hơi lạnh. Anh vẫn không thể nào không thấy sự lạc lõng của mình nơi đây.
Ở trường Đồng Khánh giờ này chắc Ánh đang mài miệt với những bài vở mới. Sân trường đã có những cây hoa vàng, tím mọc nhoi lên trên từng bãi cỏ xanh. Đúng không. E cũng phải mất đến hằng mấy tháng anh mới tạm ổn mình được vào với thành phố này lại.

Bây giờ anh không còn làm người gác hải đăng, Ánh cũng thôi làm người mang lửa. Chúng mình làm sao níu cho được tay nhau trong suốt mùa Đông này?
Cơn mưa như thác đổ ngoài trời. Đồi trà bây giờ mù mịt không còn thấy gì.
Anh đang có Ánh – tuổi – nhỏ trước mặt trong chiếc hộp nhỏ anh mang theo đó.
Mưa rất buồn. Như một điệp khúc dai dẳng trong mấy tháng mùa Đông này.
Ánh ơi
Nếu còn sự yêu thương và nhớ nhung nào trong Ánh thì hãy gửi làm quà cho anh để anh coi thường những tháng ngày ẩm mục nơi đây.
Nhớ vô ngần
Thân yêu, yêu dấu

Trịnh Công Sơn
(ký tên)

Theo Dân trí

Edited by user Monday, June 8, 2015 5:57:44 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#105 Posted : Monday, June 8, 2015 6:06:45 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Trịnh Công Sơn - Người thơ ca


UserPostedImage


Tôi gọi Trịnh Công Sơn là người thơ ca (Chantre) bởi ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ. Và bởi Sơn đã hát về quê hương đất nước bằng cả tấm lòng

của một đứa con biết vui tận cùng những niềm vui và đau tận cùng những nỗi đau của Tổ quốc mẹ hiền.

Mãi hơn một năm sau ngày 30 tháng 4, chúng tôi mới thật sự mặt nhìn mặt tay cầm tay lần đầu, nhưng tôi có cảm giác như chúng tôi đã là bạn của nhau tự bao giờ, mặc dù giữa tôi và Sơn còn cả một thế hệ đệm. Nói cách nào đó, tôi đã gặp Sơn từ những ngày đất nước còn chia hai miền và còn chìm trong khói lửa. Tôi muốn nhắc đến ở đây một kỷ niệm không thể quên ở nhà một người bạn trẻ. Đêm ấy lần đầu tiên tôi nghe (cũng có nghĩa là gặp) Trịnh Công Sơn...

Những bạn trẻ hát cho tôi nghe gần suốt đêm hàng loạt ca khúc Trịnh Công Sơn (không biết họ học ở đâu?) hát say sưa đến nỗi đứt cả dây của cây đàn ghi-ta duy nhất có trong nhà
Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc bác học phương Tây. Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra. Nói như nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, người bạn già của tôi, "Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra". Cái quyến rũ của nhạc Trịnh Công Sơn có lẽ chính là chỗ đó, ở chỗ không định tạo ra một trường phái nào, một triết học nào, mà vẫn thấm vào lòng người như suối tưới. Với những lời, ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt như một hình thức của dân ca hầu như không thay đổi, Trịnh Công Sơn đã chinh phục hàng triệu con tim, không chỉ ở trong nước, mà cả bên ngoài biên giới nữa. Và nếu không lầm thì dấu ấn của Sơn đã ít nhiều in trên tác phẩm của một số nhạc sĩ thời kỳ sau 1975.

Có lẽ cũng không cần nghe lại nữa, dù bây giờ và sau này Sơn có in thêm, một lần là đủ, từ cái đêm chiến tranh ấy, tôi biết mình đã gặp một tâm-hồn-chị-em xẻ chia "Một cõi đi về". Và tôi viết lời bạt này cho tập nhạc Sơn như giữ một lời hẹn thầm chưa ngỏ, lời hẹn của một tri âm với tri âm ..

Văn Cao
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
CatLinh  
#106 Posted : Thursday, June 25, 2015 12:19:09 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
phamlang  
#107 Posted : Thursday, July 2, 2015 11:11:22 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Trịnh Công Sơn Và Tôi

Lang Lê


Ðôi khi có mưa giữa khuya, hồn tôi bỗng ngẩn ngơ..."

Tôi biết đến tên Trịnh Công Sơn lúc tôi học đệ thất, vào khoảng niên học 61-62.

Tôi trọ hoc ở nhà một người cô, gia đình tôi vào Saigon một năm trước đó, tôi ở lại Huế vì vừa thi đậu đệ thất trường trung học Hàm Nghi trong Thành nội. Cô tôi có ba con gái, hai cô lớn đã lấy chồng, chỉ còn cô út, nữ sinh đệ tứ Ðồng Khánh, khá nổi tiếng thời đó vì cũng khá xinh.

Thuở ấy, vang danh ở Huế là ba chị em Kiều My, Trà My, Trầm My. Cô Kiều My dạy tôi Việt văn năm đệ thất đã lập gia đình, còn hai đóa My kia vẫn còn phong nhụy.
Nhà văn Túy Hồng lúc bấy giờ chưa nổi tiếng, mặc dù đã xuất bản tập truyện "Thở dài ", cô Túy Hồng cũng dạy Việt Văn ở Hàm Nghi.

Huế lúc ấy và hình như cho đến bây giờ vẫn là một phần đất của văn nghệ, nên sự kiện có một nhạc sĩ xuất thân từ Huế là một hiện tượng để cho các "anh chị" học sinh bàn tán.
Hình như cũng trong giai đoạn ấy, Họa sĩ Trịnh Cung ra Huế học trường Mỹ thuật, hai ông họ Trịnh, bỗng chốc trở thành những đề tài cho các cô Ðồng Khánh, các anh Quốc Học thầm thì.

Văn Phụng cho ra đời "Tôi đi giữa hoàng hôn", Trịnh Công Sơn cho ra "Ướt mi"; Buổi họp văn nghệ bỏ túi nào ở Huế cũng có người lên hát hai bài này. Tôi vì có cô em họ xinh và nổi tiếng, nên cũng được các anh sinh viên hay các anh Quốc Học chìu chuộng, mua chuộc cho đi theo ké. Từ các buổi họp văn nghệ này tôi dược nghe đến tên tuổi Trịnh Công Sơn.

Hè 64 thì tôi rời Huế, vào Saigon với gia đình, chuyển vào Petrus Ký. Giai đoạn này Trịnh Công Sơn đã rất nổi tiếng với Diễm xưa. Trước "Diễm xưa" thì có bài "Lời buồn thánh", cũng rất hay, nhưng không nổi bằng Diễm xưa.

Từ ấn bản "Lời Buồn Thánh", đám học sinh chúng tôi bắt đầu biết đến lối viết chữ mà chúng tôi gọi là kiểu chữ Trịnh Công Sơn. Ðến bây giờ, 40 năm sau, tôi vẫn còn viết theo lối chữ này và vẫn còn gọi là kiểu chữ Trịnh Công Sơn.

Nếu nói rằng thế hệ học sinh, sinh viên miền Nam thâp niên 60, 70 lớn lên chịu ảnh hưởng rất nặng từ Trịnh Công Sơn cũng không phải là ngoa. Chúng tôi suy nghĩ, chúng tôi lo buồn, chúng tôi ray rứt, chúng tôi băn khoăn, chúng tôi phẫn nộ rất Trịnh Công Sơn, và ngay cả khi chúng tôi viết thư tình cũng dùng lối chữ rất "văn nghệ" này của họ Trịnh.

Những bài hát phản chiến, khóc than thân phận con người, những ca khúc da vàng, gia tài của mẹ cho người nằm xuống ... của Trịnh Công Sơn đã theo chúng tôi từ tuổi học trò cho đến những tháng năm nhập ngũ. Những bài tình ca bất diệt của anh mãi mãi là những bài tình ca của thế hệ chúng tôi.

Trịnh công Sơn có cái nhìn rất khác người thường, lại càng khác xa những người hiện thực chủ nghi塬 thành ra sau năm 75 , có một số người chống cộng quá khích ở hải ngoại kết án anh đã "theo đuôi Việt cộng". Làm sao Trịnh công Sơn theo VC được khi mà chúng ta thấy trên giòng suối có trôi những cọng lá khô, còn anh thì ngược lại : " đôi khi thấy trên lá khô, một giòng suối..." Con người ấy, với cái nhìn "hay" như thế thì làm sao hòa nhập được với đám người phàm nhìn đâu cũng thấy kẻ thù.

Tôi bắt đầu nghe đến tên ông năm tôi 11 tuổi, và trong một quãng đời 40 năm, biết thương, biết yêu, biết hạnh phúc, biết khổ đau, biết mình trẻ và biết mình già, tên tuổi Trịnh Công Sơn và những bài tình ca của ông vẫn lànhững hành trang rất dấu yêu. Tôi biết chắc là từ đây đến chết, tôi cũng sẽ còn hát thầm thì những lời ca đã một thời thân thiết , tôi cũng sẽ còn viết hoài một kiểu chữ ngả nghiêng của anh. Vĩnh biệt Trịnh Công Sơn, người nhạc sĩ tài hoa của thế hệ tôi.



Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#108 Posted : Saturday, July 11, 2015 8:54:12 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Trịnh Công Sơn với cao nguyên bụi đỏ sương mù



Lân đầu tiên những người yêu thích âm nhạc Việt Nam chúng ta đón mùa Xuân về mà không có nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Đây là một sự hụt hẫng mà có người bảo rằng "phải tập làm quen trong nhiều mùa xuân nữa mới quen được". Nhưng đối với tôi - một người bạn chưa bao giờ ở với Sơn ngày nào nên tôi vẫn cảm thấy Sơn đang sống ở đâu đó. Tôi không gặp Sơn như lúc tôi đến nhà 47C Phạm Ngọc Thạch mà Sơn ngủ chưa dậy. Tôi đành quay xe và tự hẹn với mình lần sau vào Thành phố Hồ Chí Minh sẽ lại đến.

Cho đến nay, Trịnh Công Sơn vẫn chưa - như gia đình tôi hay dùng- exit (thoát) khỏi đời sống của tôi. Bởi vì, tôi là một người luôn luôn thích khám phá bí ẩn nhưng có nhiều giai đoạn trong cuộc đời của bạn tôi, tôi chưa công bố. Tôi vẫn còn nợ giai đoạn Trịnh Công Sơn dạy học và bắt đầu làm nhạc phản chiến ở Blao-Lâm Đồng. Đây là một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời Sơn nhưng Sơn rất ít viết, ít đề cập đến và tất nhiên bạn be ẵ-những người yêu thích âm nhạc Sơn, cũng ít biết. Để chuẩn bị cho việc "trả nợ nầy", tôi đã làm một cuộc hành hương trở lại vùng cao nguyên bụi đỏ sương mù Blao để làm sống dậy những điều mà Trịnh Công Sơn đã chôn chặt nơi đây.

Người cung cấp những thông tin đầu tiên về những năm tháng Trịnh Công Sơn dạy học và sáng tác ở Blao cho tôi là chị Lê Thị Ngọc Trinh - bạn học Sư phạm khóa I (1962-1964) với Sơn ở Qui Nhơn và đồng nghiệp của Sơn ở Blao. Người dẫn đường là thầy giáo Lê Quang Kết ở Blao. Những người hiểu rõ những năm tháng Trịnh Công Sơn ờ Blao là cụ Lê Cao Lợi - nguyên trưởng ty Tiểu học, lãnh đạo của thầy giáo Trịnh Công Sơn lúc ấy và cụ Phạm Trung Thành, nhân viên cũ của Ty Tiểu học (từ năm 1964) - người chơi đàn violon, hay trao đổi về âm nhạc với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ở Blao. Tư liệu bổ sung do hai ông bạn họa sĩ Đinh Cường và Trịnh Cung giúp.

Trịnh Công Sơn - trưởng giáo trường sơ học Bảo An

Như chúng ta đã biết, Trịnh Công Sơn học khóa I thường xuyên trường Sư phạm Qui Nhơn (1962-1964). Năm 1964 mãn khóa được bổ lên Blao cùng một số bạn cùng quê, cùng khóa, trong đó có Lê Thị Ngọc Trinh - người trong ban đồng ca của trường Sư phạm Qui Nhơn đã từng lĩnh xướng trường ca Dã Tràng của Sơn. Lê Thị Ngọc Trinh được bổ về trường Nữ Bảo Lộc ở ngay trung tâm Thị xã, Trịnh Công Sơn bổ đi xa hơn một chút là trường sơ học Bảo An cách Tỉnh đường và Ty Tiểu học Lâm Đồng gần một cây số. Trường Bảo An có ba lớp 1,2,3, sĩ số mỗi lớp chừng vài mươi em, đa số học sinh là người dân tộc ít người, chỉ có dăm ba em là người Kinh. Cơ sở của trường có hai phòng đứng cho vơ trên một bãi đất trơ trụi, mái lợp tranh, vách nứa; học sinh mặt mày lem luốt, mũi dãi lò thò, áo quần rách rưới, nhuộm bụi đỏ trông rất thê thảm. Bảo An thuộc loại trường sơ cấp, không có chức Hiệu trưởng. Người phụ trách trường có cái tên cổ cổ là trưởng giáo giống như ông Ngô Đình Khả lúc mới được bổ nhiệm làm trưởng giáo trường Quốc Học hồi cuối thế kỷ XIX vậy (1896). Trịnh Công Sơn được "đào tạo chính qui" nên làm trưởng giáo và đứng dạy lớp ba vào buổi sáng, ông giáo Tạ Văn Thống sắp về hưu dạy hai lớp 1 và 2 vào buổi chiều. Hằng ngày ông trưởng giáo họ Trịnh đi về dạy học phải cuốc bộ trên con đường dốc mà vào mùa nắng thì bụi đó mịt mù, vào mùa mưa bùn lầy nhoe nhoét rất khó bước. Tuy đi về hơi vất vả một chút nhưng chuyện soạn bài và đứng lớp rất thoải mái. Học trò miền núi dễ bảo. Vào mùa hái chè các em ở nhà giúp cha mẹ, đến lớp chỉ có mươi mười lăm em. Phòng học không có cửa, nhiều hôm mây mù bay tràn vào lớp làm cho thầy giáo và học trò cũng lảng đảng theo mây. Nhiều ý nhạc khởi dậy trong lòng ông trưởng giáo Trịnh:

"Bụi về với mây. Người còn đó gieo hạt lúa trên ruộng đất nầy" (Phúc Âm Buồn, 1965).

"Qua khoảng trời trống trơn của lớp học Sơn đã vẽ nhiều ký họa đẹp và sinh động những người dân tộc trên nương rẫy, dưới bóng suối mát". (Đinh Cường kể).

Dạy học ở vùng thượng du thế ấy. Không vui. Nhưng dù sao với chỉ số lương (indique) 320 cộng thêm phụ cấp đắc đỏ vùng cao, mỗi tháng Trịnh Công Sơn cũng lĩnh được 5.200$. So với vật giá lúc ấy: Cà-phê loại ngon 1$/ly, phở 3$/tô, cơm 600$/ tháng, vàng 2.000$/ lượng. . . lương như thế là cao, có của ăn, của để.

Nhà trọ của Trịnh Công Sơn tại Blao là một ngôi nhà kiểu biệt thự mới xây trên khu đất khoáng đạt ở gần Ty Công chính Lâm Đồng. Chủ ngôi nhà là cô Phi - trưởng phòng kế toán Ty Công chính. Trịnh Công Sơn thuê nhà cùng với ba đồng nghiệp họ Nguyễn là Thanh Ty (Nha Trang), Hảo Tâm và Văn Ba (Sư phạm Sài Gòn). Mỗi người phải trả tiền nhà 300$/tháng. Bà chủ nhà có dáng người mảnh dẻ, hơn ba mươi tuổi, cùng với đứa con gái ở chung trong nhà. Nhờ thế các thầy giáo trẻ sống xa nhà đỡ bớt khô khan.

Những khi lễ lược, Blao có tổ chức văn nghệ, Trịnh Công Sơn được mời sinh hoạt với các đồng nghiệp. Ngoài Trịnh Công Sơn, những cây văn nghệ lúc đó mà đến nay dân Blao còn nhớ là Hoàng Thị Ni Na, Lê Thị Ngọc Trinh, Đỗ Thị Nghiễm. Lúc ấy dân địa phương Blao ít có người chơi nhạc. Mỗi khi muốn nói chuyện âm nhạc Trịnh Công Sơn hay đến 24 đường Tiên Dung gặp ông Nguyễn Trung Thành làm việc ở Ty Tiểu học. Ông Thành được đào tạo đễ chơi đàn violon trong ban nhạc lễ của nhà thờ Bảo Lộc. Ông không thích nhạc của Sơn nhưng ông phải công nhận với Sơn rằng :" Ca từ (parole) của Trịnh Công Sơn rất tuyệt vời. Sau nầy anh có được người đời biết tiếng chính là nhờ cái phần ca từ". Đến nay thì ông Thành xin nói lại với tôi :" Ca khúc của Trịnh Công Sơn, ca từ hay mà nhạc cũng rất hay !".

Sinh hoạt văn nghệ thường xuyên của Trịnh Công Sơn lúc nầy là hát cho học sinh nghe và dạy cho học sinh hát. Từ hồi còn học Sư phạm, Trịnh Công Sơn đã sáng tác nhiều bài hát cho thiếu nhi. Lúc lên dạy học ở Blao, anh lại sáng tác thêm nhiều bài nữa. Ngày nay nhiều người còn thuộc bài Ông Tiên Vui. Cô giáo Lê Thị Ngọc Trinh vừa kể chuyện cũ ở Blao vừa hát cho tôi nghe:
Ông Tiên vui ông có cái râu dài Đêm ông thường ngủ yên trên đỉnh mây Ông tiên vui ông thường hay nhắc đến Chốn Thiên đình chẳng còn tháng ngày trôi Ông tiên vui ông có cái căn nhà Trên ngọn đồi hằng đêm ông ghé qua Hôm em lên ông chợt đi đâu vắng Lúc em về em buồn đến ngẩn ngơ"
Từ "Tuổi đá buồn" đến "Ca khúc da vàng"

Buổi chiều nghỉ dạy, sau giấc ngủ trưa, Trịnh Công Sơn sửa lại chiếc áo ka-ki vàng, bỏ vô quần tẹc-gan nghiêm chỉnh rồi xỏ chân vào đôi giày Batar rảo bước ra quán Cà-phê bi-Da Ngọc Trang. Anh chơi ở đó cho đến tối. Cũng có hôm, anh cùng với vài người bạn dạo quanh hồ Bảo Lộc hoặc đi dọc theo quốc lộ Sài Gòn Đà Lạt chạy qua Thị xã nói chuyện phiếm. Nhiều hôm thiếu bạn, anh dạo phố một mình với nỗi buồn da diết mà anh đã thể hiện trong bài Chiều Một Mình Qua Phố hồi còn học ở Sư phạm Qui Nhơn (1963). Lúc đầu thanh niên Blao nhìn mái tóc thưa mềm, chạy dài xuống gảy và hàng râu mép hung hung nâu của Sơn, họ lấy làm lạ. Về sau có dịp đến gần và biết Trịnh Công Sơn vừa là thầy giáo vừa là nhạc sĩ hiền hậu hồn nhiên họ đâm ra cảm mến và rất hân hạnh được gần anh. Những chiều không thấy anh dạo phố hay khom mình trên bàn bi-da Ngọc Trang họ cảm thấy vằng vẽ và có ý chờ trông.

Vào dịp nghỉ lễ hay nghỉ cuối tuần, Sơn hay lên xe đò về Sài Gòn chơi với Đinh Cường hoặc Trịnh Cung, chiều Chủ nhật trở lại Blao để sáng thứ hai lên lớp. Anh về Sài Gòn còn có mục đích xuất bản tập nhạc đầu tay của anh. Nhiều lần Trịnh Công Sơn không lên kịp vào đầu tuần, ông giáo Thống đã giúp dạy hộ cho anh. Sự vắng mặt không xin phép của một giáo viên là phạm kỷ luật, may mắn sao ông Lê Cao Lợi - trưởng ty Tiểu học, là người biết mến mộ nghệ sĩ nên dù Trịnh Công Sơn vắng mặt nhiều lần (có lần đến ba tuần) ông vẫn không khiển trách. Từ sau ngày Nguyễn Văn Ba - người bạn đồng nghiệp và cùng thuê chung nhà, chết vì trúng mìn trên đường Blao-Sài Gòn, Trịnh Công Sơn phải tiêu phí những ngày nghỉ ở Blao. Một mình "nằm trong căn gác điều hiu", nghe gió lướt thước kéo qua rừng lau dưới những cơn mưa không dứt, Sơn nghĩ về đời mình, nghĩ về cái chết của Nguyễn Văn Ba, nghĩ về tiếng chuông nhà thờ Bảo Lộc ở phía bên kia đường sáng sáng chiều chiều dội vào sự cô đơn của anh. Và, chính trong những ngày bó gồi ở nhà ấy, anh phát hiện có một người đẹp hằng ngày đi Nhà thờ bằng con đường qua trước cửa phòng anh. Trịnh Công Sơn hơi ân hận. Lâu nay anh bù khú với bọn bạn trai nên không để ý đến người hàng xóm gái ấy. Người có tên là Ngà. Ngà không sắc sảo, không quý phái như các cô gái Huế đã "hờp hồn" anh như Ph. Th., Bích Diễm, nhưng với cái dáng mảnh mai, tóc thề chấm vai, khuôn mặt thánh thiện như mặt Đức Mẹ Đồng Trinh của cô cũng đã làm cho Trịnh Công Sơn mất ngủ. Sự phát hiện trong cõi cô đơn ở Blao có Ngà như một cái nhấn làm bật dậy những dồn nén cô đơn mang tính tâm linh trong Sơn lâu nay. Anh viết bài Tuổi đá buồn.

"Trời còn làm mưa mưa rơi mênh mang. Từng ngón tay buồn em mang em mang, đi vào giáo đường, ngày chủ nhật buồn còn ai còn ai. Đóa hoa hồng cài trên tóc mây, ôi đường phố dài, lời ru miệt mài ngàn năm ngàn năm, ru em nồng nàn, ru em nồng nàn"

Bản in lần đầu Ca khúc Trịnh Công Sơn (Nxb An Tiêm, SG 1967), bài Tuổi Đá Buồn được soạn với nhịp 4/4, đoạn mở đầu với 30 nhịp rưỡi mới có một dấu lặng, phần ca từ suốt 55 từ không hề có một cái chấm phẩy nào. Hình ảnh cô Ngà mang ngày chủ nhật buồn (Sombre dimanche) đến nhà thờ, con đường quốc lộ Sài Gòn - Đà Lạt dài hun hút đi qua Thị xã. . . . nối tiếp nhau. Đoạn nhạc dài lê thế ấy diễn tả những cơn mưa không dứt của Bõ lao trong tâm hồn Sơn. Sự cô đơn của Trịnh Công Sơn không phải của người trần thế, của con người với con người, của xác thịt với xác thịt mà chính là của thân phận làm người. Sự cô đơn hư vô nhuốm một chút siêu hình:

" Trời còn làm mưa rơi mưa rơi, từng phiến băng dài trên hai tay xuôi. Tuổi buồn em mang đi trong hư vô ngày qua hững hờ".

Sự cô đơn "hư vô" của thân phận làm người nên bao giờ còn "làm kiếp con người" thì còn cô đơn. Vì thế những ý tưởng ấy cứ ẩn hiện không ngừng trong cảm xúc của Sơn.

. . ." Trời còn làm mưa mưa rơi thênh thang. Từng gót chân trần em quên em quên. Ôi miền giáo đường ngày chủ nhật buồn còn ai còn ai"

(Ca khúc Trịnh Công Sơn, Nxb An Tiêm, SG 1967)

Nếu không có những ngày chủ nhật buồn ở Blao có lẽ Trịnh Công Sơn không có những ca khúc buồn đến thế. "Người nằm co" trong Phúc Âm Buồn chính là hình ảnh Trịnh Công Sơn trong những ngày ấy.

" Người nằm co như loài thú khi mùa đông về
Người nằm yên không kêu than buốt xương da mình"

Muốn tránh xa mọi người, một người nằm yên nhưng không thể nằm yên được.

"Từng tiếng người nhiều tiếng người gọi hoài giữa đêm"

Trịnh Công Sơn viết bài Phúc Âm Buồn vào năm 1965 - Đấy là năm quân Mỹ đổ bộ ồ ạt lên bến phá Toà Khâm Huế, nhiều bạn bè của anh xuống đường đấu tranh chống chiến tranh, chống lại việc dùng tuổi trẻ như một thứ củi đốt cho chiến tranh của Mỹ. Cũng có một số bạn của Trịnh Công Sơn bị động viên, bị bắt đi quân trường (nhà thơ Ngô Kha), hay đang trốn lính. Ngày 20.7.1965, Uỷ ban Thanh niên Sinh viên của Nguyễn Cao Kỳ mời sinh viên miền Nam về Sài Gòn hội thảo "chuẩn bị giải phóng miền Bắc". Trong hội thảo nầy bà Ngô Bá Thành, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân đã công khai chống chiến tranh, kêu gọi hòa bình. Ở Huế Thái Luân cho ra đời tập thơ phản chiến Vùng Tủi Nhục lên án chiến tranh do Mỹ đạo diễn được sinh viên học sinh chuyền tay nhau đọc. Tận bên Mỹ Bob Dylan, Joan Baez ôm đàn du ca hát phản chiến. . . . Qua thư từ, Trịnh Công Sơn hiểu rõ hết tính hình chiến tranh và đấu tranh kêu gọi hòa bình ấy. Những người bị mời dự hội thảo của Nguyễn Cao Kỳ chống chiến tranh vì tinh thần dân tộc. Trịnh Công Sơn là một người hiền hòa nhân hậu, rất sợ chuyện chém giết. Năm 1963, lúc còn theo học Sư phạm ở Qui Nhơn, đọc Mythe de Sysiphe của Albert Camus (1942) Trịnh Công Sơn đã thấy sự hiện hữu của con người là phi lý (absurde) giống như anh chàng Sisyphe bị khổ sai bằng việc hằng ngày phải lăn một tảng đá lên núi rồi thả tay cho đá lăn xuống núi không tạo ra một tác dụng nào cả :
" Người chợt nhớ mình như đá . Đá lăn vết lăn buồn". (Vết Lăn Trầm, 1963)
Đến năm 1965, chiến tranh làm bi thảm hơn sự phi lý của thân phận con người. Đúng như tình hình anh đã thấy trước đó một năm:
"Ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè ngựa hồng đã mỏi vó chết trên đồi quê hương"
(Xin Mặt Trời Ngủ Yên, 1964)

Với một ý thức dân tộc chung chung, Trịnh Công Sơn không còn thụ động được nữa, anh phải dấn thân. Suốt cả mùa hè năm 1965, Trịnh Công Sơn nằm lại Bõ lao, đóng cửa soạn những ca khúc chống chiến tranh, kêu gọi hòa bình như các bài Gia Tài Của Mẹ, Ca Dao Mẹ, Người hát Bài Quê Hương, Du Mục, Lại gần Với Nhau, Người Già Em bé, Người Con Gái Việt Nam Da Vàng . . . . Lúc ấy hai chữ "hòa bình" bị cấm kỵ. Nói hòa bình là "Cộng sản". Cho nên những ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn soạn xong phải giữ kín và chỉ hát trong giới bạn bè thân thiết thôi. Những bạn bè thân thiết đó ở Đơn Dương, Sài Gòn, Huế, và đặc biệt là Đa Lạt. Bạn bè nghe nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn rất thích, tác giả cất lên tiếng nói bất lực trước cuộc chiến tranh và thể hiện khát vọng hòa bình hộ cho nhiều người thế hệ anh. Nhưng cũng có nhiều người không thích. Những ca khúc phản chiến "nguy hiểm" đến như thế thì có ca sĩ nào dám hát ? May sao, trong những chuyến lên về Đà Lạt, Trịnh Công Sơn đã gặp được một cô "bé quê" trong một phòng trà và cô bé đã lột xác hóa thân thành ca sĩ Khánh Ly hát nhạc phản chiến bắt đầu từ Quán Văn Đại học Văn khoa Sài Gòn (1965-1966). Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn gắn liền với giọng ca Khánh Ly. Gặp gỡ Khánh Ly là một bước ngoặt mang tính định mệnh của Trịnh Công Sơn. Không có những tháng năm dạy ở Blao để tiện đường lên về Đa Lạt thì làm sao Sơn có thể gặp được Khánh Ly ?

Đến năm 1967, không chỉ có bạn bè anh mới bị "chinh chiến mang đi", mà các đồng nghiệp của anh ở Blao và chính anh bị gọi nhập ngũ . Trịnh Công Sơn không chấp nhận cuộc chiến tranh của Mỹ nên anh trốn lính. Trốn lính từ Blao. Trốn lính và chấp nhận cuộc sống bất hợp pháp, điều đó có nghĩa là anh phải giả từ cuộc đời làm thầy giáo ngắn ngủi của anh. Trịnh Công Sơn không tự ý bỏ nghề thầy mà vì chính quyền miền Nam lúc ấy đã buột anh phải nghỉ dạy học để đi lính. Anh trốn lính để có thể đi đến cùng sự nghiệp đấu tranh cho hòa bình, cho quyền tự quyết dân tộc.

Trịnh Công Sơn ăn lương dạy học tại Blao chỉ có ba năm (1964 đến 1967). Thời gian ấy ngắn so với cuộc đời sáu mươi ba tuổi của anh (1939-2001). Nhưng không ai có thể viết tiểu sử nhạc sĩ Trịnh Công Sơn một cách trung thực khi chưa rõ giai đoạn "bụi đỏ sương mù" của anh ở Blao. Bởi vì chính trong giai đoạn nầy anh đi làm thầy giáo rồi buột phải thôi dạy, anh cho xuất bản những tập nhạc đầu tiên của anh, anh soạn loạt bài phản chiến mang tên Ca Khúc Da Vàng, anh gặp gỡ ca sĩ Khánh Ly và khẳng định sự nghiệp làm nhạc sĩ cho đến cuối đời anh.

Gác Thọ Lộc, một ngày Đông, 2001.

Nguyễn Đắc Xuân

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
CatLinh  
#109 Posted : Tuesday, July 14, 2015 1:56:02 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 7/31/2015(UTC)
phamlang  
#110 Posted : Friday, July 31, 2015 12:01:15 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
UserPostedImage


Ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh, em gái của cố nhạc sĩ cho biết đến nay vẫn chưa thể tin được là ông đã đi xa. Nhân dịp này chúng tôi cũng đề nghị chị giới thiệu sơ qua các chương trình đang được tổ chức tại Việt Nam để kỷ niệm Trịnh Công Sơn.

Mười năm nhớ Trịnh Công Sơn

Trước hết tôi xin chào quý thính giả của đài RFI. Thực sự theo tôi cái sống và chết thì cũng là lẽ tự nhiên của trời đất. Tuy nhiên đối với tôi sự ra đi của anh Sơn là một cái mất mát mà anh em chúng tôi không thể nào tin được. Đến giờ này cũng vẫn không tin đó là sự thật, mà bây giờ là đã mười năm trôi qua rồi.

Dạ thưa chị, mười năm nhưng nhiều khi có cảm giác như mới hôm qua phải không chị ?

Đúng rồi. Ở đây thì mỗi năm trên khắp cả nước Việt Nam, năm nào người ta cũng tổ chức những đêm nhạc để nhớ về anh Sơn rất lớn, và năm nay cũng vậy. Năm nay có lẽ là lần đầu tiên gia đình đứng ra cùng với bên Tập đoàn Truyền thông Thanh Niên và công ty BHD để làm một chương trình dài, gồm có sáu chương trình. Chương trình đầu tiên là ở Sài Gòn, đang chuẩn bị ở Hà Nội, sau đó ra Huế.

Năm nay chuỗi chương trình dài là tại vì ngày xưa thì anh Sơn sống gần gũi với sinh viên, vì vậy mà năm nay có ba đêm làm cho sinh viên ở Huế, Sài Gòn, Hà Nội và không có bán vé.

UserPostedImage

Lần này gần như có đầy đủ các ca sĩ nổi tiếng của Việt Nam, ví dụ như Cẩm Vân, Hồng Nhung, Mỹ Linh, Thanh Lam rồi Quang Dũng, Đức Tuấn vân vân, nhưng đó là chương trình cho Nhà hát Lớn. Còn chương trình cho sinh viên thì cũng có những ca sĩ này hát, ngoài ra còn có thêm những ca sĩ trẻ nổi tiếng. Đặc biệt năm nay có Uyên Linh, Lân Nhã, Kasim Hoàng Vũ, nhiều lắm…

Chương trình đã được chuẩn bị hơn sáu tháng nay. Đạo diễn của chương trình Mười năm nhớ Trịnh Công Sơn ở Nhà hát Lớn là Phạm Hoàng Nam, còn tổ chức ngoài trời cho sinh viên là đạo diễn Nguyễn Quang Dũng, đạo diễn âm nhạc là nghệ sĩ saxophone Trần Mạnh Tuấn. Tất cả cũng toàn là những anh em rất là gần gũi với anh Sơn, thành ra chương trình lần này có lẽ cũng đặc biệt hơn, vì đây là một nhóm những người rất thân, rất thương anh Sơn cùng nhau đứng ra làm.

Trao đổi với chúng tôi khi đang có mặt tại Hà Nội để chuẩn bị cho đêm diễn đầu tiên trong loạt chương trình mang tên Bóng núi, ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh bày tỏ sự ngạc nhiên về sự đón nhận nồng nhiệt của người hâm mộ miền Bắc. Tuy đã có khoảng mười chương trình nhạc Trịnh do nhiều đơn vị khác tổ chức, nhưng hai chương trình do gia đình Trịnh Công Sơn đứng ra làm vẫn không đủ vé bán.

Mình thấy năm nay ở Hà Nội cũng làm rất nhiều chương trình, đi đâu cũng thấy người ta nói về nhạc của anh Sơn. Riêng Hà Nội đã thấy tổ chức trên mười chương trình rồi. Bây giờ lần này gia đình tổ chức ở Hà Nội hai đêm thôi thì khán giả cũng yêu cầu làm thêm. Nhưng đã dự định trước chỉ hai đêm ở Hà Nội thôi, không thể làm thêm được mặc dù cũng rất muốn, vì còn lệ thuộc vấn đề xin phép. Không hiểu tại sao ở Hà Nội làm như vậy mà vẫn không còn vé để đáp ứng nhu cầu khán giả ở đây.

Chị Trịnh Vĩnh Trinh cho biết một trong những sự kiện mới của năm nay là việc một con đường ở Huế đã được đặt tên Trịnh Công Sơn. Bên cạnh các hoạt động âm nhạc, còn có các cuộc triển lãm một số tác phẩm hội họa của cố nhạc sĩ, và một số cuốn sách được xuất bản. Trong đó có tác phẩm Tôi là ai, là ai… gồm di cảo của Trịnh Công Sơn và các bài viết về ông. Đặc biệt tác phẩm Thư tình gởi một người, gồm trên 300 bức thư tình của nhạc sĩ gởi cho người tình đầu tiên, đã được bà gìn giữ suốt hơn bốn mươi năm qua, đến bây giờ mới được công bố.

Cũng có một điều lạ là ngày diễn đầu tiên của chương trình này là vào ngày 18/3, thì ngày 17/3 được tin các anh ở Huế báo vào là đã được chính thức đặt tên con đường Trịnh Công Sơn. Một điểm đặc biệt nữa là sẽ có ba cuộc triển lãm tác phẩm của anh Sơn tại Huế, Sài Gòn và Hà Nội. Bên cạnh đó cũng có hai cuốn sách. Một cuốn là Thư tình gởi một người, tập này dày gần 400 trang, và một tập thứ hai đa số là các bài viểt của anh Sơn cũng như các bài của bạn bè viết về anh Sơn. Tập Thư tình gởi một người bây giờ cũng rất nhiều người chờ đợi, thư tình của anh Sơn mình thấy cũng hơi đặc biệt, không giống như những lá thư tình mà chúng ta thường biết.

Có lẽ gia đình cũng không ngờ là có người đã giữ được suốt hơn bốn chục năm qua ?

Cũng nhờ lần này gia đình tổ chức kỷ niệm mười năm, tất cả các anh chị em mới hết sức lấy can đảm để bước vào phòng anh Sơn. Từ ngày anh ra đi, thực sự cũng không ai đủ can đảm để vào phòng anh ngồi thật lâu. Đây là dịp để nhìn lại, xem lại những tư liệu của anh Sơn. Và đến bây giờ thì đã đọc và scan được trên 6.500 tư liệu của anh. Đây là một tài sản vô giá đối với gia đình, nhưng đến ngày hôm nay thì cả gia đình thấy đây là tài sản chung của tất cả những người yêu thương anh Sơn.

Thưa chị như vậy có lẽ những người hâm mộ Trịnh Công Sơn sẽ có dịp được xem qua ?

Đúng rồi. Bây giờ thì trong gia đình mình ai cũng lớn hết rồi, mà đã có khoảng trên 17 cuốn sách viết về anh Sơn, trong đó cũng có một số điều chưa đúng. Thành ra mình phải scan để sưu tầm lại tất cả những cái liên quan đến anh Sơn. Mình mong thế hệ sau này khi cần tìm hiểu sẽ tham khảo những cái này để được chính xác hơn.

Tức là sẽ có một địa điểm để tập trung các tác phẩm, các di vật của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ?

Bây giờ thì cũng đang chuẩn bị, rồi cũng sẽ làm một website. Sau này bằng cách nào đó có thể cho ra dần những tư liệu của anh Sơn, để những ai muốn nghiên cứu thì coi những tư liệu từ gia đình mà mình nghĩ rằng đó là chính xác nhất.

Một dòng nhạc không hề đứt đoạn…

Bên cạnh loạt chương trình mà ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh đã giới thiệu ở trên, còn rất nhiều đơn vị và cá nhân khác đã đứng ra tổ chức những đêm nhạc kỷ niệm Trịnh Công Sơn. Đặc biệt tại hội quán Hội Ngộ ở Bình Quới, Thành phố Hồ Chí Minh, năm nào vào dịp này cũng diễn ra chương trình ca nhạc dành cho người yêu nhạc Trịnh. Nhà thơ Đỗ Trung Quân, người thường xuyên tham gia biên tập và giới thiệu chương trình tại đây nhận xét :

Đây là nhận xét cá nhân của tôi : Trịnh Công Sơn là một trường hợp phải nói là rất đặc biệt. Khi sống ông đã nổi tiếng, khi mất đi dường như ông còn nổi tiếng hơn rất là nhiều. Và mười năm qua thì tôi thấy là dòng nhạc của ông nó không hề đứt đoạn. Hình như cũng rất là hiếm hoi có một nhạc sĩ Việt Nam mà không cần có sự can thiệp, tổ chức của nhà nước, hàng năm cứ đến ngày mất là công chúng yêu nhạc người ta tự tổ chức. Tôi thấy ở Sài Gòn, Hà Nội, miền Trung – Huế, Đà Nẵng…thì hàng năm cứ đến tháng Ba, tháng Tư, tháng Ba hình như là sinh nhật, tháng Tư là ngày mất, thì đều có tổ chức những đêm nhạc của ông, một cách hết sức là tự nhiên. Có lẽ đây là một hiện tượng mà chúng ta cũng phải đi tìm câu trả lời về sự yêu mến rất là sâu sắc của công chúng đối với Trịnh Công Sơn.

Và tôi cũng nghĩ là không chỉ ở Việt Nam đâu, có lẽ là ở hải ngoại cũng vậy. Ở nơi nào có người Việt thì thế nào cũng sẽ có người tổ chức một đêm kỷ niệm ông trong tháng Tư này. Tôi đoán là như thế, và tôi cũng tin là như thế.

Bình Quới là khu du lịch có một cái Hội quán, nơi để khán giả người ta đến nghe nhạc của ông trong mười năm qua. Thì năm nay là năm thứ mười, Hội quán Hội Ngộ của Bình Quới tiếp tục làm kỷ niệm ngày tròn mười năm Trịnh Công Sơn qua đời. Chương trình như chúng tôi làm mười năm nay thì thường là gởi vé mời cho khán giả, không có bán vé. Các ca sĩ thì chúng tôi cũng kêu gọi tham gia, và hầu hết họ cũng không nhận tiền cát-sê. Ở đây hoàn toàn là tinh thần của những người yêu nhạc Trịnh Công Sơn, kể cả người hát lẫn người nghe. Những năm đầu tiên thì khoảng hai ngàn người tham dự, rồi tiếp tục tăng lên ba ngàn, năm ngàn, và năm ngoái thì chúng tôi thấy là khoảng gần mười ngàn người. Năm nay có lẽ cũng tương đương, xấp xỉ như thế.

Trong số các hoạt động tự phát của những người yêu mến nhạc Trịnh, chúng tôi thấy cần phải nhắc đến việc kiến trúc sư Nguyễn Tài My và các thân hữu, một tháng sau ngày Trịnh Công Sơn mất, đã lặn lội từ Sài Gòn ra Bắc, lên đến tận đỉnh Fansipan, đỉnh núi cao nhất Đông Dương. Họ mang theo một bức tượng của cố nhạc sĩ, và một chiếc rương chứa các nhạc phẩm của ông để đặt tại đây. Kiến trúc sư Nguyễn Tài My kể lại chuyến đi này :

Cái ngày đó là đúng một tháng sau khi Trịnh Công Sơn qua đời, tôi mới đi chung với nhóm Điện lực Chợ Lớn để đem tượng và nhạc Trịnh Công Sơn lên chôn ở đỉnh núi Fansipan, đỉnh núi cao 3.200m để ngưỡng mộ anh Trịnh Công Sơn. Những ngày anh vừa qua đời, có nhiều bài báo rất hay viết về anh. Tôi nghĩ là tôi không thể viết được như thế, thành thử tôi phải tỏ lòng ngưỡng mộ anh bằng cách mang tượng Trịnh Công Sơn và nhạc lên chôn trên đỉnh Fansipan – đỉnh cao thường được gọi là mái nhà Đông Dương.

Lên tới đỉnh ngày 1/5, tức là đúng một tháng sau khi anh qua đời. Đây là tượng do điêu khắc gia Đinh Xuân Lai làm, trước đây anh Trịnh Công Sơn thường ngồi nhìn tượng mình. Khuôn mặt tượng khá giống anh, tôi nghĩ là tượng đó hay hơn là các tượng khác về Trịnh Công Sơn. Tượng nặng, nên sau đó được đúc bằng composite để đi nhẹ nhàng hơn. Chúng tôi cũng mang theo một cái hòm trong đó chứa bốn trăm bài nhạc Trịnh Công Sơn, và một số bài báo nữa.

Khi đi lên đỉnh Fansipan là đi tới ba ngày trên rừng, lên trên núi Hoàng Liên Sơn, thành ra tôi phải mướn ba người dân tộc Hmông. Khi lên đó chôn tượng và nhạc, thì rất sợ người ta mang tượng đi và mang nhạc đi bán. Thì tôi có ghi trên cái hòm là ai mang hòm nhạc này ra khỏi đỉnh Fansipan thì bị bịnh ngặt nghèo, bịnh ung thư chẳng hạn. Và tôi nghe người ta nói – những người gần đây lên coi thì nó vẫn còn chôn trong chỗ góc đá đó. Thật ra tôi nghĩ rằng miễn là chúng tôi mang tượng đi là được rồi, lên chôn đàng hoàng để làm kỷ niệm, chứ còn lỡ nếu người ta gỡ đi thì cũng chẳng sao. Nhưng mà nghe nói tới bây giờ cũng còn – nghe nói thôi chứ tôi cũng không ra đó kiểm tra được.

Cái hồi đó đi khó lắm, phải chặt tre mà đi chứ không có đường như ngày nay đâu. Nghe nói bây giờ người ta làm đường sá rõ ràng lắm. Kỷ niệm hay nhất là ngủ trên đỉnh trâu – tức là cái chỗ đó nếu mình ngủ mà lăn lăn là chết đó, nó nhọn lắm. Đi ăn mì gói là chính, tại vì lạnh 1 độ, do đó nấu nước sôi hơi khó, thành thử chỉ có ăn mì gói là gọn nhất, ăn mì gói liên tục. Đó là cái kỷ niệm hồi tôi lên đỉnh Fansipan chôn tượng và nhạc Trịnh Công Sơn.

Trả lời câu hỏi, vì sao lớp thanh niên Việt Nam chưa hề biết về chiến tranh cũng yêu mến nhạc Trịnh Công Sơn, nhà thơ Đỗ Trung Quân cho rằng :

Cái thế hệ hát nhạc Trịnh Công Sơn bây giờ trẻ lắm. Ở trong khu Hội quán Hội Ngộ thì tôi thấy hàng năm có tổ chức những cuộc thi hát nhạc của ông, thì hầu hết những người dự thi là thế hệ bây giờ. Họ còn rất trẻ, chưa đến ba mươi đâu, hai mươi, hai mươi lăm thôi. Và tất nhiên vì họ không ở thế hệ chiến tranh nên họ không hát Ca khúc Da Vàng, không hát Kinh Khổ, Kinh Việt Nam vân vân. Họ hát tình ca của ông. Họ là một thế hệ hoàn toàn mới. Và hiện tại ở Việt Nam thế hệ ca sĩ trẻ bây giờ cũng hát nhạc Trịnh Công Sơn rất nhiều, tất nhiên họ hát tình ca.

Trịnh Công Sơn: “Nghệ sĩ Nhân dân” không danh hiệu chính thức

Lúc nãy anh có nói Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ mà người dân yêu mến tự tổ chức kỷ niệm. Nhưng hình như cho đến bây giờ Việt Nam có khá nhiều Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú, nhưng Trịnh Công Sơn thì không phải là Nghệ sĩ Nhân dân…

Vâng, đấy, thực ra cái danh hiệu đó với Trịnh Công Sơn nó thiết thực ở chỗ là, đấy, ông chính là Nghệ sĩ Nhân dân rồi. Người dân người ta tổ chức, những người yêu nhạc, những người hâm mộ, những người nghe nhạc của ông thuộc nhiều thế hệ tổ chức hát, vẫn luôn luôn nhớ tới ông. Tôi nghĩ cái đó nó trên mọi danh hiệu.

Được biết là ở Huế đã có đặt tên đường Trịnh Công Sơn rồi, nghe nói là có một vài địa phương khác cũng muốn có một con đường mang tên Trịnh Công Sơn phải không thưa anh ?

Tôi cũng được biết thông tin như chị, tức là Huế thì cũng đã có một con đường mới dọc theo sông Hương, là một con đường khá đẹp được mang tên của nhạc sĩ. Thực ra việc đặt tên đường là các nhà văn, văn nghệ sĩ thì cũng đã có ở Việt Nam, mặc dù khuynh hướng đặt tên đường là các nhà lãnh đạo nhiều hơn. Khu tôi ở – Phú Nhuận giáp ranh với Bình Thạnh thì tôi thấy vẫn có con đường Nam Cao, Thạch Lam, Nhất Linh trong cư xá quen gọi là Cư xá Lam Sơn. Bây giờ đối với một nhân vật như Trịnh Công Sơn, nếu nhà nước thấy rằng đóng góp của ông đối với nghệ thuật, đối với công chúng là xứng đáng, thì chuyện đặt tên đường cũng không nên quá là khắt khe. Tôi thì tôi ủng hộ việc không chỉ anh Sơn, những văn nghệ sĩ trong nhiều lãnh vực nghệ thuật, họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ vân vân, những nhân vật xứng đáng đã đóng góp cho nghệ thuật Việt Nam nói chung, nếu có tên đường thì cũng là điều đáng quý.

Nhưng đối với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nghe nói là vẫn còn một số tác phẩm vẫn còn đợi xin giấy phép thì việc được đặt tên đường có lẽ cũng đáng chú ý ?

Tôi nghĩ là việc xin giấy phép biểu diễn những tác phẩm của anh với việc đặt tên đường là hai vấn đề khác nhau. Thí dụ Ca khúc Da Vàng tôi được biết là có nhiều bài chưa được phép hát, vì nó ở một bối cảnh lịch sử khác, một thời điểm khác, vì nó không ngả hẳn về một phía nào cả. Nhưng đó là chuyện tác phẩm, còn chuyện đặt tên đường, công nhận sự đóng góp của nhạc sĩ thì, dù muốn dù không điều đó cũng rất là rõ ràng. Không phủ nhận được ảnh hưởng của ông đối với công chúng nhiều thế hệ. Bây giờ hòa bình rồi, nghe những ca khúc chiến tranh cũng chỉ để nhớ lại cái giai đoạn khói lửa thôi. Thế nhưng đến một lúc nào đó nếu được phép hát thì nó cũng làm ầy đặn cho di sản của ông. Còn hiện tại mảng Ca khúc Da Vàng chưa được cho phép hát nhiều. Chúng tôi làm chương trình chúng tôi biết chứ, mỗi lần đều phải xin phép và có những bài không được phép trình bày. Thì thôi chúng ta tạm để đó vậy.

Chúng tôi xin thành thật cám ơn ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh, nhà thơ Đỗ Trung Quân, và kiến trúc sư Nguyễn Tài My đã vui lòng tham gia chương trình Góc vườn âm nhạc mang tên Trịnh Công Sơn, Cát bụi mười năm, nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của cố nhạc sĩ.

Mời quý vị bấm vào phần âm thanh để nghe ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh, nhà thơ Đỗ Trung Quân, kiến trúc sư Nguyễn Tài My tâm sự nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, cũng như một phần nhạc phẩm Cát bụi qua giọng hát Khánh Ly, và nhạc phẩm Ở trọ trần gian do chính nhạc sĩ trình bày.

RFI

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#111 Posted : Sunday, August 9, 2015 3:54:37 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

Khánh Ly: Trịnh Công Sơn vẫn còn đâu đó

Nguyễn Khanh


Nguyễn Khanh: “Sống giữa đời này chỉ có thân phận và tình yêu. Thân Phận thì hữu hạn, tình yêu thì vô cùng”, đó là lời anh Trịnh Công Sơn nói. Khi cất tiếng hát những ca khúc của anh Trịnh Công Sơn, chị thấy gì về tình yêu và thân phận con người trong những ca khúc đó?

Khánh Ly: Thưa anh tôi thấy tôi trong những ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tình khúc cũng như da vàng. Tôi thấy cả quê hương của tôi, quan trọng là tôi thấy tổ quốc của tôi, thấy cả dân tộc của tôi. Dẫu tổ quốc nghèo, dẫu dân tộc điêu linh, tôi vẫn yêu quê hương và tổ quốc của tôi.

Tôi yêu nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bởi vì qua nhạc của ông, tôi thấy lại đầy đủ tất cả những cái mà một người sống trong cuộc đời này cần phải nhìn thấy, nhìn rõ hơn, để định hướng mình đi cho đúng, và làm đúng hơn việc mình sẽ làm.


UserPostedImage


Những kỷ niệm giữ kín

Tôi thấy tôi trong những ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tình khúc cũng như da vàng. Tôi thấy cả quê hương của tôi. Tôi yêu nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bởi vì qua nhạc của ông, tôi thấy lại đầy đủ tất cả những cái mà một người sống trong cuộc đời này cần phải nhìn thấy.

Nguyễn Khanh: hơn 30 năm rồi, có một lần chị bảo với tôi anh Trịnh Công Sơn nói “sóng trong đời sống cần có một tấm lòng” và chị bảo “anh dạy tôi như vậy”. Chị có nghĩ đó có phải là một lời chung cho tất cả mọi người, trong đó có chị hay không?

UserPostedImage
Mai – Khánh Ly

Khánh Ly: Dạ thưa anh nói dạy chung tôi không dám đâu nhé. Tôi không hề dám nói nhạc sĩ Trịnh Công Sơn dạy ai cả. Tôi chỉ nói là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bảo tôi như thế và đó là lời nói đâu tiên, còn cái lời nói sau cùng của ông, ông nói là “hãy sống tử tế với nhau”.

Tôi tâm niệm lúc nào cũng giữ kín những điều nhạc sĩ Trịnh Công Sơn dặn tôi, vì ít nhiều, dù ít học, tôi cũng hiểu nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã dạy tôi làm những việc đúng.

UserPostedImage
Khánh Ly và Trịnh Công Sơn tại Quán Văn


Vóc dáng Khánh Ly trong nhạc Trịnh

Nguyễn Khanh: Lúc nãy có dịp nói chuyện với ca sĩ Cẩm Vân, thưa với chị Cẩm Vân có nói rằng “cứ nghe nhạc Trịnh Công Sơn là thấy phảng phất vóc dáng của Khánh Ly”. Có khi nào chị nghĩ anh Trịnh Công Sơn đã viết những bản nhạc, những nốt nhạc, những lời ca đó cho chị hay không?

Khánh Ly: (cười) Thưa anh, tôi không bao giờ chủ quan cả. Tôi không bao giờ dám nghĩ là tất cả những bài này anh Trịnh Công Sơn viết riêng cho mình.

Tôi rất yêu Cẩm Vân, yêu tiếng hát Cẩm Vân. Tôi yêu tất cả những người trẻ đã đến với nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và tôi hy vọng, tôi ước ao là các bạn trẻ của tôi giữ được sự chung thủy với nhạc của anh Sơn, để mai kia mốt nọ tôi đi ra khỏi cuộc đời này, vẫn còn có những người hát, hát lên những tình khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, để chúng ta cùng nhớ lại cái thủa biết yêu lần đầu và có thể chiêm nghiệm được khi tình đã vào lần cuối.

Nguyễn Khanh: Liệu có thể nói rằng từ 1975 đến giờ, đã 33 năm chị xa anh Trịnh Công Sơn, và từ năm 2001 đến giờ đã 7 năm chị mất anh Trịnh Công Sơn. Có đúng như thế không?

Khánh Ly: Thưa anh tôi chẳng giờ thấy mất ai cả. Những người thân của tôi từ ông Cụ tôi – Cụ mất trong Lý Bá Sơ ngày tôi còn bé lắm -, rồi những người thân của tôi hy nsinh trong cuộc chiến, và ngay cả anh Trịnh Công Sơn, tôi chưa hề bao giờ nghĩ rằng đó là những người đã chết, không còn liên quan gì đến cái đời sống này. Không phải. Họ vẫn còn quanh quẩn đâu đây thôi, và họ vẫn ảnh hưởng đến tôi rất nhiều, và tất cả những người đã ra đi đó đều là những người tử tế.

Hình bóng Trịnh Công Sơn

Nguyễn Khanh: Khi chị nói rằng những người đã mất, những người đã xa chị nhưng vẫn quanh quẩn với chị, phải chăng chị muốn bảo rằng chị vẫn gặp anh Trịnh Công Sơn và chị vẫn nói chuyện với anh Trịnh Công Sơn?

Khánh Ly: (cười) Thưa anh, tôi biết nói thế nào khi mà nói một cách bình thường là đường đời chia hai ngả thì làm sao mà nói. Nhưng thật tình tôi với anh Trịnh Công Sơn hình như không bao giờ cần phải nói ra lời, ngồi với nhau và trong ánh mắt không thôi, chỉ nhìn là tôi biết anh Sơn muốn cái gì và anh Sơn biết tôi định nói gì, muốn gì.

Vả lại, tất cả những điều anh Sơn cần phải dặn dò, nhắn nhủ tôi cũng chỉ thu gọn vào trong câu nói đầu tiên và câu nói cuối cùng, tức là “sống trong đời sống cần có một tấm lòng” và “hãy sống tử tế với nhau”.

Chẳng bao giờ có sự xa cách giữ chúng tôi cả. Lúc nào chúng tôi cũng ở bên nhau, thành ra những tiếng gọi đó tôi vẫn nghe, và hình ảnh của anh Sơn hay là chính anh Sơn, tôi vẫn thấy anh đến ngồi cạnh tôi. Không có gì thay đổi cả, chỉ có một điều là… Tôi không thể nói thêm được gì nữa, vì anh Sơn sẽ nói rằng như vậy là tôi quá tham lam.

Tôi nghĩ rằng đó là tất cả quan niệm sống của anh Sơn. Anh Sơn muốn tôi đi theo và may mắn là trong 40 năm nay, tôi đi theo được đúng cái điều đó. Tôi không hề phụ ai trong đời sống này, nhưng tôi sẵn sàng đón nhận sự phụ bạc của mọi người đối với tôi, mà tôi không hề buồn gì cả. Tôi cũng để thả đi cho gió cuốn đi thôi. Chẳng có gì quan trọng cả.

Nguyễn Khanh: Và đó cũng chính là Trịnh Công Sơn?

Khánh Ly: Thưa vâng. Anh Sơn đã đi trước tôi thôi. Anh đi không vương vấn gì cả. Anh đi là để che dấu những vết thương, anh che dấu những vết thương của anh, anh không chia sẻ với cả như anh viết trong “Hoa Vàng Mấy Ðộ” là “một vết thương thôi riêng cho một người”, tức là anh sẵn sàng nhận cái vết thương đó, đừng làm tổn thương ai cả.

Mọi người cứ bình an đi, cứ yêu nhau đi, cứ vui đi, cứ hạnh phúc đi, tất cả những khổ đau trong đời sống này anh Sơn gánh chịu hết. Tôi mong mỏi được theo chân của anh Sơn.

Nguyễn Khanh: Lúc anh Sơn còn sống và khi ở Việt Nam, đã biết bao nhiêu lần không chỉ mình tôi mà rất nhiều người được nghe anh Sơn gọi chị “Mai ơi, Mai à”. Thưa chị, có khi nào chị mong được nghe lại tiếng nói đó, lời gọi đó hay không?

Khánh Ly: Thưa anh, chẳng bao giờ có sự xa cách giữ chúng tôi cả. Lúc nào chúng tôi cũng ở bên nhau, thành ra những tiếng gọi đó tôi vẫn nghe, và hình ảnh của anh Sơn hay là chính anh Sơn, tôi vẫn thấy anh đến ngồi cạnh tôi. Không có gì thay đổi cả, chỉ có một điều là… Tôi không thể nói thêm được gì nữa, vì anh Sơn sẽ nói rằng như vậy là tôi quá tham lam.

Tất cả những gì anh muốn tôi làm, anh đã nói hết rồi. Cho nên giữa chúng tôi chẳng có gì để thắc mắc, để tiếc nuối. Chúng tôi luôn luôn có nhau, có từ ngày xưa và cho đến cuối đời.

Nguyễn Khanh: Ai cũng biết chị là người gần gũi nhất với anh Trịnh Công Sơn. Xin chị một phút nói thật: có khi nào chị giận anh Sơn đến mức chị bảo “anh Sơn ơi, Mai không chơi với anh Sơn nữa”…

Khánh Ly: (cười) Dạ không anh. Tôi không bao giờ giận dỗi ngu như thế. Dĩ nhiên là ông Trịnh Công Sơn đâu có cần chơi với tôi, anh thấy không, chỉ có mình cần ông ấy thôi. Không bao giờ chuyện đó xảy ra cả, chưa bao giờ tôi cãi lại anh Sơn một điều gì vì đối với tôi, tất cả những điều anh Sơn nói, anh Sơn làm, đều đúng.

Nguyễn Khanh: Cám ơn chị, chị Mai, chị Khánh Ly. Cám ơn chị rất nhiều.

Khánh Ly: Dạ vâng, cám ơn anh.

RFA

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
CatLinh  
#112 Posted : Thursday, August 27, 2015 4:23:47 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)

UserPostedImage
UserPostedImage
phamlang  
#113 Posted : Thursday, September 3, 2015 5:13:32 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

TRỊNH CÔNG SƠN : CÁI ĐIỀU CHƯA NÓI


Người Việt Nam
quên mình sống :
Người Việt nhìn nhau xa lạ
Người Việt nhìn nhau căm hờn
(Trịnh Công Sơn:
Ngày Dài Trên Quê Hương)

Ai bảo cho ngươi gánh nạn đời
Thôi mất thì thôi, còn cũng khổ!
(Nguyễn Đình Chiểu)


Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (TCS) qua đời cũng đã một tháng. Bây giờ thì những xúc động ban đầu đã có đủ thời gian để lắng xuống, con người đã trở lại bình tỉnh để nghĩ xem do đâu mà mình yêu mến TCS. Có cái gì nơi TCS đã làm cho bao nhiêu triệu người Việt thấy rất bàng hoàng khi nghe tin anh nằm xuống ?

Tôi sống xa quê hương từ khi còn trẻ, có gặp anh Sơn một vài lần ngắn ngủi nhưng không thể bảo là thực sự có quen anh. Cái "quen biết" với anh, đúng ra, cũng chỉ như bao nhiêu người khác là "quen biết" âm nhạc của anh – thu nhận từ một khoảng rất xa – thế thôi . Nhưng trong quá trình mình sống và lớn lên, không nhạc sĩ nào gây được ấn tượng sâu sắc trong tôi như TCS.

Vì nhạc của TCS rất quyến rũ, tại sao thì tôi không cắt nghĩa được. Có lẽ do lời ca rất nên thơ, với những từ dùng rất khéo, và tất cả nằm trong một cái gì tha thiết, nhẹ nhàng. Trong lời ca lại có nhiều tính riêng chung nên đáp đúng cái tình tự sâu kín trong mỗi con người.

Nhạc của anh là nhạc tình. Tình đó là tình yêu, mà cũng là tình thương, và tình dân tộc. Tôi vốn thích nhạc trữ tình, mà nhạc của anh lãng mạn, tình cảm. Anh là người nhỏ nhẹ, lời hát cũng nhỏ nhẹ, cái yêu thương, phẫn nộ hay đau xót cũng nhỏ nhẹ mà nói lên. Vì thế mà thấm thía.

Người Việt vốn đa tình và sống thiêng về nội tâm, mà nhạc của anh rất nên thơ. Lộng trong đó thỉnh thoảng lại có man mác những tư tưởng của Nam Hoa Trang Tử, của đạo Phật (hư vô, cát bụi, vô thường, "chợt thấy trong ta hiện bóng con người” vv…). Trong nhạc của anh ta thấy được bên chữ tâm đậm nét còn có một chữ ngộ nằm tiềm ẩn. Anh lại hướng thượng: TCS không làm những loại Tục Ca bao giờ !

Và bên cái tình yêu lai láng lại có cả một tình lớn dân tộc. Thời của anh, thưở đó, có lẽ là một trong những thời kỳ đau đớn nhất của lịch sử Việt Nam: Chiến tranh với ngoại bang để dành độc lập, đồng thời cũng có những cái nghiệt ngả trong nhau giữa người Việt, để vấn đề càng phức tạp thêm. Thưở đó, từ trong lòng mỗi người, dù ở bất cứ khuynh hướng nào, cũng thấy trổi dậy một niềm thương dân tộc mình: Cuộc chiến tranh vì không tương xứng lực lượng, và không đồng văn hóa, nên đã quá dã man. Các giá trị tinh thần của xã hội miền Nam lại đảo lộn do sự trấn đóng của hơn nửa triệu quân Mỹ. Trong cái ý thức về thân phận nhược tiểu của mình, con người Việt Nam khao khát hòa bình, mong chấm dứt chiến tranh, chém giết.

Niềm đau nói trên, người Việt Nam nào cũng đều có, cọng thêm với cái đau đớn riêng của mỗi kiếp người. Nhân sinh quan Việt Nam do đó mà yếm thế, và cần có tình thương, niềm tin và hy vọng. Tất cả những tình huống này, TCS đã diễn tả được, bằng cả nhạc và lời ca.

*

Anh Sơn lớn hơn thế hệ của chúng tôi trên dưới mười năm. Ngày anh trình diễn ra mắt công chúng, tôi còn ở những năm cuối Trung Học. Thưở đó, nhạc của anh chưa có gì đặc sắc, nói chung chỉ là những bản tình ca như Hạ Trắng, Ướt Mi vv… Chúng chưa cho thấy có gì mới mẻ hơn những bản Tà Áo Xanh, Hương Xưa, Ai Lên Xứ Hoa Đào vv.. ; còn về mặt tình quê hương thì những Nương Chiều, Tiếng Nước Tôi vv… vẫn còn chiếm địa vị độc tôn. Những bài hát khác, đa số là nhạc phục vụ cho chiến tranh, thì lại đầy nhan nhãn. Không kể mấy bài tầm thường như kiểu "đi quân dịch là thương nòi giống ", những bài khá hơn, tuy mới nghe thì hay, nhưng ngay sau đó lại thấy nhàm :

Anh đi chiến dịch xa vời
Lòng súng nhân đạo cứu người lầm than (...)
Không quên lời xưa đã ước thề
Dâng cả đời trai với sa trường
Nam nhi cổ lai chinh chiến hề
[ Anh Đi Chiến Dịch ]


Đó là giai đoạn “những năm xáo trộn" sau khi ông Diệm bị giết vào tháng 11-1963. Màn đen của chiến tranh đã bao phủ khắp nơi . Con người sống trong nỗi lo âu, thấy tương lai mơ hồ, trôi nổi . Trong cuộc sống thì hằng ngày gặp hết cuộc đảo chính này đến cuộc đảo chính khác, các thế lực tôn giáo thì chống đối nhà cầm quyền và chống đối lẫn nhau… Rồi quân đội Mỹ đổ vào, xã hội miền Nam thay đổi lớn theo cuộc chiến, với thuốc khai quang, với “oanh kích tự do”, với pháo đài bay B-52 san bằng rừng núi lẫn ruộng đồng … , rồi không quân Mỹ đánh phá miền Bắc, vv…

Trước trạng huống đó, người Việt dĩ nhiên là đau lòng, và một trong những người dám nói lên suy nghĩ của mình là TCS. Giữa một cơn cuồng phong rầm rộ ca ngợi cho chiến tranh, tiếng nhạc của anh vang lên, thiết tha, trăn trở:

Ôi đêm dài và cơn bão rớt
Trên giải đất quê hương khô cằn
Ôi bom đạn cày lên những xác
Trên đồng lúa hôm nay bỏ hoang
Ôi da vàng Việt Nam vỡ nát
Xương thịt đó thiêng liêng vô vàn
[TCS: Đêm Bây Giờ, Đêm Mai]


Tiếng ca nhắc nhở về một thực tại băng hoại, trong đó những chết chóc không chỉ thuần về vật chất nhưng còn thống khổ hơn:

Ngày thật dài trong âu lo
Rồi từng đêm bom đạn phá
Người Việt nhìn nhau xa lạ
Người Việt nhìn nhau căm hờn ...
[TCS: Ngày Dài Trên Quê Hương]

*

Điều đã làm TCS khác xa với các nhạc sĩ khác là những suy nghĩ của anh tiến rất nhanh. Thoạt tiên - với những Diễm Xưa, Tuổi Đá Buồn, Nhìn Những Mùa Thu Đi, vv.., người ta ngỡ anh chỉ là một nhạc sĩ có nhiều nét đặc sắc riêng thôi, và - ngoài tình ca ra - anh sẽ không khác gì số đông văn nghệ sĩ “bềnh bồng " lúc đó:

Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ
Một đời người u uất nỗi chơ vơ
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang vu
[Vũ Hoàng Chương]


Bởi vì khi mới bắt đầu, nhạc của anh đã phản ảnh cái tình huống yếm thế của người Việt, thấy buồn về "thân phận da vàng", trong đó con nguời mang kiếp sống “từng ngày từng xót xa …" [Xin Mặt Trời Ngủ Yên]. Nhưng anh không dừng ở đó mà đi nhanh vào những suy tư về cuộc đời ("ôi quê hương đã lầm than, sao còn, còn chiến tranh"), và trong anh có nhiều nét xây dựng rất tích cực, trong sáng:

Cho tôi đi xây lại chuyện tình
Cho tôi đi nâng dậy hoà bình
Cho tôi đi qua tận gập ghềnh
Nhìn giòng máu trong tim anh
[TCS: Xin Cho Tôi]

Cái đặc điểm của TCS là dưới một hình thức uyên áo gần như lãng mạn viễn mơ, anh đã nói lên được những hiện thực phê phán. Rồi từ hiện thực phê phán, anh bước thêm một bước nữa: dấn thân nhập cuộc. Hãy nghe TCS huy động niềm tin trong lòng người Việt:

Ta bước bước đi, bước bước hoài trên quê hương dấu yêu này
Ta bước bước đi, cất tiếng cười thách đố ai cướp đất này (…)
Đạn bom ơi, lòng tham ơi, khí giới nào diệt nỗi dân ta
Triệu chân anh, triệu chân em, hỡi ba miền vùng lên cách mạng
Hãy xoá hết dấu vết buồn thương,
Ngày mai đây những con đường Nam Bắc nở hoa.
[TCS: Chưa Mòn Giấc Mơ + Huế Sài Gòn Hà Nội]


Chính anh cũng đi tiên phong, tự mình làm một "tiếng kêu trong sa mạc", kêu gọi tình thương dân tộc. Quần chúng yêu mến anh cũng vì trong ý hướng của anh luôn luôn mang ý niệm "nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một",. Anh chống lại với cái ác, chống chiến tranh, và cổ vũ niềm hy vọng :

Vì quê hương sẽ có ngày hoà bình
Máu xương hai miền chung lòng thế giới
Ngày hôm nay tôi chưa về Hà Nội
Dù hôm nay em chưa tới Sài Gòn
Nhưng trong lòng em và tôi
Đều nói tiếng: VIỆT NAM
[TCS: Chưa Mất Niềm Tin]


*

Có lẽ không phải tình cờ mà cùng lúc TCS đang tích cực dấn thân với những tác phẩm như "Huê’ Sài Gòn Hà Nội " hay "Nối Vòng Tay Lớn" ... thì trong giới trí thức trẻ ở Sài Gòn cũng đã đưa ra bao nhiêu lời nhắn gọi . Đó là nhạc:

Ngủ đi con, rồi mai khôn lớn cầm súng với cầm gươm
Ngủ đi con, rồi mai khôn lớn đi giết bạn bè anh em
Ngủ đi con, rồi mai khôn lớn bán nước mà làm quan …
[Miên Đức Thắng: Lời Ru]

Hay là thơ:

Cả giống nòi ta đang rên siết từng giờ
Đau ngất núi, oán đầy sông chẳng xiết
Hãy đứng dậy ở bên bờ cõi chết
Cứu nhau thôi, anh chị bạn bè ơi
Cám dỗ, gian nguy, tất cả hẹn nơi người !
[tác giả ?]


Giữa TCS và những người này, ai đã ảnh hưởng ai, chúng ta hãy để về sau cho những nghiên cứu gia tìm tòi. Chỉ biết là những tập Ca Khúc Da Vàng, Kinh Việt Nam vv.. của TCS ra đời từ khoảng 1967 trong khi nhạc của Miên Đức Thắng, Tôn Thất Lập vv... đến với quần chúng cũng phải từ 1970 trở đi . Nhà văn Thế Uyên kể lại (trong một bài ở tạp chí hay sách nào đó, tôi quên mất) [*1], có một nhóm người đã họp nhau tại "Tuyệt Tình Cốc" ở Huế. Theo Thế Uyên, hôm đó có người của đủ các phe phái, “quốc gia”, “cọng sản” vv.., có cả TCS. Họ bảo với nhau là "vạch ruột mà nói" và hứa "không nhìn thấy sao trắng bên này, sao đỏ bên kia" (bản thân Thế Uyên hình như là người của VN Quốc Dân Đảng). Sau này, gặp TCS vào năm 1986, tôi hỏi anh chuyện đó có hay không, anh bảo có. Nhưng anh chỉ nói vắn tắt: “họp nhau rồi chia ra mỗi đứa về làm một chuyện". Hỏi anh làm chuyện gì, anh bảo: "viết ". Tôi định hỏi viết gì, nhưng nghĩ lại những gì anh viết ra đều có xuất bản, ai cũng biết, nên thôi.

*

Một nét đặc sắc khác của TCS là tiếng kêu của anh luôn luôn phát xuất từ 1 con tim yêu thương, nhắc nhủ "Hãy Yêu Nhau Đi", hãy nối lại tình thương đã nhiều đổ nát:

Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay …
Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng
Biển xanh, sông gấm, nối liền một vòng tử sinh
[TCS: Nối Vòng Tay Lớn]


Tuy không ai nhận ra một cách rõ rệt, nhưng trong hơi hướm của nhạc TCS, người Việt vẫn cảm được một tình yêu chân thành với quê hương đất nước. Nhạc của anh là nét nối dài của tình yêu nước thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, còn man mác trong lòng mỗi cá nhân qua từng thế hệ :

Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây
Một bàn cờ thế phút sa tay
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim dáo dát bay
Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây...
[Nguyễn Đình Chiểu: Chạy Giặc ]

Tò le kèn thổi tiếng năm ba
Nghe lọt vào tai dạ xót xa
Uốn khúc sông Rồng mờ mịt khói
Vắng hoe cồn Phụng ủ dàu hoa
Tan nhà cám nỗi cơn ly hận
Cắt đất than ôi cuộc giảng hoà
[Phan Văn Trị: Qua Vĩnh Long]


Và cái tình dân tộc, trăm con của cùng một mẹ:

Lẽ nào ta lại giết ta !
Có đâu lương giáo một nhà hại nhau ?
[Phan Bội Châu: Hải Ngoại Huyết Thư]

Có mưa có gió có trời
Có non có nước có người có ta
Trước sau Nam Bắc một nhà
[Phan Bội Châu: Trùng Quang Tâm Sử]

Tôi có người yêu chết trận Pleimei
Tôi có người yêu ở chiến khu D
Chết trận Đồng Xoài, chết ngoài Hà Nội
Chết vội vàng dọc theo biên giới ...
Tôi muốn yêu anh, yêu Viêt Nam
Ngày mới lớn, tai nghe quen đạn mìn
[TCS: Tôi Có Người Yêu]


*

Ở TCS, ta còn thấy được cái chân tình cao thượng. Những năm đi “học tập" về, nhìn đi ngó lại quanh mình bỗng thấy ban bè lần lượt đi "chui" hết, anh sống trong cô đơn. Nhưng anh biết tìm niềm vui cho mình để sống ["mỗi ngày tôi chọn một niềm vui"], đồng thời quên cái cô quạnh để “lấy câu khẳng khái" mà an ủi người ra đi:

Em ra đi, nơi này vẫn thế
Vẫn có em trong tim của mẹ
Thành phố vẫn có những ước mơ
Vẫn sống thiết tha
Vẫn lấp lánh hoa trên đường đi
[TCS: Em Còn Nhơ’ Hay Em Đã Quên]


Tha thiết đến như vậy, nhưng “vô lượng chúng sinh " đã không hiểu, và nhiều kẻ đã hăng hái đi ném cả một cơn phẫn nộ vào anh. Tuy vậy đồng bào trong nước hiểu đươc. Họ biết trong câu nhạc của anh là cả một tấm lòng vị tha truyền thống của người Việt. Lời anh là lời của một người thân trong gia đình, nhắn nhủ với kẻ đi xa rằng kẻ ở lại bao giờ cũng:

Vẫn để lòng theo người lận đận
Vẫn hằng trông đếm bước "em" đi
[Thê’ Lữ: Giây Phút Chạnh Lòng]


Và đại diện cho cả gia đình là TCS, một người lẽ ra phải được hiểu là đã:

Lấy câu khẳng khái tiễn đưa nhau
" Anh " muốn cho ta chớ thảm sầu
Nhưng chính lòng " anh " đương thổn thức
(Buồn kia " anh " dấu được ta đâu !)
[Thê’ Lữ: Giây Phút Chạnh Lòng]

*

Có lẽ cái lẽ sống là điều quan trọng nhất đối với TCS, còn những thứ khác - như anh vẫn luôn nhận định - đều chỉ là cát bụi . Coi trọng lẽ sống nghĩa là luôn đi tìm một lối sống có ý nghĩa, và làm sao đạt được cái ý muốn đó. Nó chắc chắn không phải sống để :

Nỡ nghe tiếng loạn đem tai rửa
Đành thấy thằng gian để mắt trừng
[tác giả ?]


Biết như thế để hiểu được niềm đaucủa con người mang trong mình một nhân sinh quan rõ rệt về lẽ sống; nhưng lắm khi vì hoàn cảnh, phải đành im lặng, ẩn nhẫn, ngậm ngùi.

*Ta cần nhớ rằng lịch sử Việt Nam là một lịch sử đầy bao trùm của bạo lực. Trước hết là cái "di sản đắng cay" có từ trước, như anh nói:

Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
[TCS: Gia Tài Của Mẹ]


Mẹ để lại cho con những gì? Chiến tranh do bạo lực bên ngoài mang đến. Chết chóc, lầm than. Bạo lực này lại tạo ra "một lũ bội tình", để chạy theo nó, áp bức anh em mình. Đó là bạo lực bên trong. Hai bạo lực này chung sức nhau tạo trong đầu óc người Việt những mặc cảm tự ti, sợ sệt, ích kỷ, quên tình nguời, hay thù oán vv… Hiện tượng "tha hoá trên chính quê hương mình" hay tâm lý muốn làm "những kẻ đứng bên lề" là những điều phổ biến mà giới trí thức Việt Nam đã nhận định được trong thập niên 1960-1970. [*2].

Đây không phải là một điều mới . Nó manh nha từ thời Tây mới vào, và đã sớm lan tràn từ thời cụ Phan Bội Châu kia . Các cụ goi nó là cái vạ "chết lòng", nghĩa là "xác tuy còn đó " nhưng tấm lòng đã chết. Cho nên mới có Đông Kinh Nghĩa Thục [ĐKNT] và phong trào Duy Tân đi song song với việc vũ trang giành độc lập, để “gọi hồn nước", gọi quốc dân hãy

"bỏ lòng mê lại, bỏ lòng tham đi ".

Vì các cụ thất bại nên cái "vạ chết lòng " còn sống, và khoẻ mạnh thêm ra ! Vì thế muốn sống có ý nghĩa, trước tiên người Việt Nam phải biết "dám " suy nghĩ, trước khi dám có một thái độ, và hành động.

Người cố gắng khơi dậy lại tinh thần của Phan Bội Châu và DKNT cho cả nước có lại "chút thiên lương" là tiên sinh Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Thời của Tiên Sinh, chế độ thực dân Pháp đã thành công lớn trong việc tha hoá người Việt với mơ mộng, theo mới vv… của Tây Phương qua áo quần, kiểu đầu chải bốp, mốt nhảy Tango và say mê những lãng mạn viễn mơ qua Tố Tâm Đạm Thủy , Lan và Điệp, phong trào "Học Kiều" của Phạm Quỳnh, vv… Nhà thơ Tản Đà, trong hình thức lãng mạn thoát ly hầu tránh con mắt dòm ngó của bạo lực - và cũng để làm viên kẹo bọc đường cho đám đông u tối thấy dễ nuốt - đã khéo léo kéo người Việt lại với cái ý thức non nước:

Nước non nặng một lời thề
Nước đi đi mãi không về cùng non
Nhớ lời hẹn nước thề non…
[Thề Non Nước]

Sơn hải hỡi ai lời thệ ước
Gió hiu trăng lạnh tiếng ve sầu !
[Sơ Thu Hoài Cảm]

Hay là

Nọ bức dư đồ ngắm thử coi
Sông sông núi núi khéo bia cười
Biết bao thưở trước công vờn vẽ
Sao đến bây giờ rách tả tơi
Ấy trước ông cha mua để lại
Mà sau con cháu lấy làm chơi
[Vịnh Bức Dư Đồ Rách]


Tản Đà không thành công trực tiếp, nhưng cái hạt mầm Tiên Sinh gieo đã thấm dần qua nhiều thế hệ để sống lại trong một TCS. Nơi TCS, ta có thể thấy được một loại tài hoa trữ tình mênh mông man mác và một ý hướng gắng gỏi rất "Tản Đà". TCS đã có nói về mình: " Tôi chỉ là tên hát rong, đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo" [*3]. Câu này phải được hiểu tương đương với “ta là tiếng kêu trong sa mạc ! " kêu gọi

Hãy yêu nhau đi ( khung trời u tối ) ...
Dù đêm súng đạn, dù sáng mưa bom
[TCS: Hãy Yêu Nhau Đi]

vì - như thế hệ đàn anh của mình - TCS cũng hiểu :

Ngày mai sáng lạn màu non nước,
Cốt nhất làm sao tự buổi này
[Nguyễn Bính: Hành Phương Nam]


Và muốn thế :

Tuổi thanh niên phải đi bằng những bước tiền phong
[TCS: Huê’ Sài Gòn Hà Nội]


Nói cách khác, giống như Tản Đà, TCS đã trang bị tinh thần cho người Việt bằng cách cố gắng làm sống lại cái "thiên lương" trong lòng nguời, và nhắc người Việt suy nghĩ về con người và xã hội . Ta thấy pha lẫn trong cái uyên áo gần như lãng mạn viễn mơ của Gọi Tên Bốn Mùa, Như Cánh Vạc Bay, Ru Em Từng Ngón Xuân Nồng vv... những tác phẩm khác của TCS đều có mang một nội dung tích cực dấn thân theo hướng hiện thực phê phán. Vì nhận định được “thân phận da vàng " của Việt Nam chịu đau khổ do bạo lực chiến tranh, anh chống lại bạo lực, và kêu gọi yêu thương: Hãy biết nhìn lại anh em, tìm hoà bình, thoát cái "u mê nghìn năm ".

Muốn thế, phải có một ước mơ, một niềm tin, một xác định rõ ràng "dân tộc Việt Nam là một " - để biết thương yêu nhau, "lòng Nam trông Bắc, tình dâng trong mắt", và bền lòng chờ tới lúc:

... quê hương sẽ có ngày hoà bình
Máu xương hai miền chung lòng thế giới

Suy nghĩ như thế, và dám công khai lên tiếng, anh có bị quân cảnh Sài Gòn lùng bắt liên tiếp là điều dễ hiểu . Sống trốn chui trốn nhũi, nhưng không vì thế mà TCS bỏ đi những điều ôm ấp của mình.

*

Nhưng – cũng như tất cả chúng ta – anh làm sao biết được đủ mọi thứ? Phải sau 1975 cả nước mới bắt đầu hiểu được những vấn đề xã hội và chính trị ở miền Bắc. Rồi cũng phải rất lâu sau 1975 người người mới hiểu thêm được cái hiện thực khách quan của xã hội nước ta trong gần nửa thế kỷ qua ....

Dĩ nhiên không phải vì thế mà những nhận định và chủ trương của TCS đã không đúng. Nó vẫn cao thượng, vẫn có một giá trị vững chải trong lịch sử của Việt Nam và của nhân loại tiến bộ. Ta thấy được tất cả những điều anh đã làm trước 1975 là việc làm của một sĩ phu Việt Nam sống theo truyền thống yêu nước:

Ở Hán đành lòng phò lợn
Hán Oán Tần ra sức đuổi hươu Tần
Trông Nam chạnh tủi cành hoa ủ
Ngó Bắc ngùi thương đám bạch vân
[Phan Văn Trị : Cảm Hoài]

Và:

Cương thường bởi biết nên mang nặng
Hễ đứng làm trai trả nợ đời
[Nguyễn Hữu Huân: Lâm Thì Cảm Tác]


*

Có thể nói khúc ngoặc quan trọng khác trong cuộc đời TCS là giai đoạn anh đi “học tập cải tạo". Đó là bốn năm “dựa lưng cõi chết", vì chính anh đã kể lại: "làm giữa bãi mìn, lâu lâu có người chết... Có hoài! " [*4] . Lòng anh đối với đất nước như thế, với đồng bào như thế, tại sao anh phải đi “học tập"? Đây là câu hỏi của người người khắp chốn, và cũng của mai hậu: Hà tội kiến di ? [= tội gì mà phải đi đày ?] [*5].

Nhưng hỏi như thế là không nhớ lịch sử Việt Nam: trong rất nhiều năm từ 1975 cho đến khi có “Đổi Mới", [nghĩa là giai đoạn anh đi “học tập"], cái định nghĩa chính thức của yêu nước là phải "Yêu Nước Xã Hội Chủ Nghĩa ". TCS là người yêu nước, điều đó ai cũng biết, nhưng chưa chắc anh yêu XHCN. Mặt khác, anh là người có tài, điều này không ai chối cãi, nhưng Thế Lữ, Quang Dũng, Nguyễn Bính, Văn Cao vv.. đều có tài mà vẫn phải "bị lận đận" thì sao? Vả lại, bên những cái to lớn thường có những chuyện nhỏ đi “ăn theo” - và đố kỵ cá nhân thường là một điều nhỏ nhưng vẫn đủ để làm long đong nhiều tuấn kiệt. Chỉ ví dụ một trường hợp của Quang Dũng thôi: ông “lận đận" chỉ vì tài ông sáng chói và được ái mộ hơn người khác. Sau 1975, một nguời bạn của Quang Dũng đi trong Nam về, vừa gặp anh là reo lên: "bài Đôi Mắt Người Sơn Tây của cậu, trong Nam họ thích lắm. Có tới hai bài phổ nhạc khác nhau, bài nào cũng hay cả ". Quang Dũng lật đật bịt miệng anh bạn lại, bảo nhỏ: "suỵt, nói khe khẽ chứ, kẻo khổ tôi" [*6].

Có lần TCS nói về nhạc của mình: "mỗi câu, mỗi khúc riêng thì không có nghĩa gì, nhưng tất cả hợp lại với nhau thì nó nói lên được một cái gì đó " [*7]. Với cái tài như thế, TCS bao giờ cũng có thể viết được một bản nhạc "có gì mà không có gì", nghĩa là không có gì để "buộc" được anh, nhưng hát lên ai cũng hiểu, và đó là điều tốt cho nghệ thuật mà "không tốt" cho chính trị Phải chăng vì thế nên đã có một cái gì đó cho TCS luôn luôn nhớ mà "tự kiểm duyệt " thì... "tốt nhất"? (!)

Vì nhạc đi vào lòng người dễ hơn cả thơ, mà TCS là người đã dám suy tư, và dám dấn thân ! Bên cạnh cái can đảm ấy, cái tài hoa ấy, họ Trịnh lại có được cả mấy chục triệu “tín đồ” trên suốt hai miền Nam Bắc và bạn bè ái mộ khắp năm châu . Mỗi câu, mỗi chữ mà họ Trịnh viết ra, các “tín đồ” sẽ nhớ kỹ trong lòng ...

Kết quả là "Từ ấy" không ai còn thấy những nét hiện thực phê phán trong nhạc TCS nữa, tuy anh vẫn còn sáng tác. Những câu:

Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
Chọn những bông hoa và những nụ cười
Và như thế tôi sống vui từng ngày


là cái thông điệp từ anh, được mọi người – bây giờ và các thế hệ mai sau – xem như là một lời nhắn nhủ rõ ràng dứt khoát. Bởi vì TCS, ngay cả những giây phút cuối nằm trên giường bệnh, vẫn còn nhắc lại [qua phỏng vấn của báo chí tại Sài Gòn ] rằng anh xem sự sống là điều quan trọng nhất trong mọi sự.

Nói cách khác, "Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui" và "Tôi Ơi Đừng Thất Vọng" là thái độ sống của anh trong khoảng 25 năm cuối của đời mình. Trong thời gian này, "Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên" là viên kim cương lớn đầy tình người mà anh đã để lại cho hậu thế.

Như đã nói ở các phần trước, con người của anh không thể là con người sống thờ ơ, quay lưng lại với tiền đồ đất nước và hạnh phúc của dân chúng. Trong 25 năm qua từ 1975, xã hội Việt Nam thay đổi rất nhiều, không phải là anh không thấy: thống nhất nhanh chóng, "Học Tập Cải Tạo" ở miền Nam, vượt biên, "Đánh Tư Sản", chiến tranh Campuchia, Trung Quốc xâm lược, hợp tác hoá nông nghiệp với "nén " rồi "bung" , Nghị Quyết 6, Đổi Mới, khối XHCN tan rã, Mở Cửa Kinh Tế, đầu tư ồ ạt, đốn rừng ồ ạt, bão lụt miền Trung vv... Anh sống với giới văn nghệ sĩ là những người nhạy cảm nhất đối với mọi biến chuyển của thời cuộc, chuyện gì anh lại chẳng biết? Kẻ ở rất xa quê hương mà còn sốt ruột theo những thay đổi lớn này [*8], huống chi anh ở ngay trong lòng quê hương ?

Nhưng TCS đã nói dứt khoát: "Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui", ai còn nỡ bắt anh nói gì thêm nữa ? Có ai trong chúng ta đã lúc nào ngừng nghỉ lại để nghe thêm một lần tiếng hát từ anh:

Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng
Ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì
[TCS: Một Cõi Đi Về]


*

Anh có cái may mắn là gia đình cũng khá giả nên không phải bươn chải kiếm ăn, thành ra không ai có thể dùng trò "thắt bao tử " để lung lay hay ép buộc anh được. Cái tính của anh ai cũng biết rõ ràng: thời trước 1975, thay vì phải trốn chui trốn nhũi, nếu anh muốn có tiền bac và chức tước, với tài năng của mình, ít ra anh không được làm thi bá [hay nhạc bá] để chủ chốt cho một chương trình 1 văn đàn nào đó - thì cũng dễ dàng được cử đi trình diễn ngoại quốc vv… Sẽ có đủ hết, nếu anh chịu đưa ra vài câu tuyên truyền cho giới quyền lực kiểu như " anh là lính đa tình " hay là

Sức mấy mà buồn, buồn ơi bỏ đi Tám
Vào nhập ngũ hết buồn
[Phạm Duy: Sức Mấy Mà Buồn]

Thời sau này, nếu cũng vì danh lợi, anh vẫn có thể có hàng vạn cơ hội để “nổi ”. Nhưng suốt đời anh, TCS đã không bao giờ dùng tài năng của mình để mưu cầu lợi lộc, hay lừa gạt dân chúng bằng cách làm mập mờ lịch sử. Không, anh có một nhận định, một chọn lựa, và sống chung tình với chọn lựa đó.

Việc anh không bỏ nước ra đi cũng là một chọn lựa . Nói như thi sĩ nào đó: "con chim cu gáy nó vốn ở đồng". Không phải là anh không đi được, nhưng anh không muốn đi. Một lần ra tiệm uống cà phê với anh [1981], tôi thấy ông chủ quán đến vồn vã bắt tay anh rồi hân hoan khoe với chú bé bán báo bên cạnh: em biết cậu này là ai không? Anh nói với tôi: "mình sống vì mấy cái tình cảm như thế nàỵ Đi quán này, bà chủ quán múc cho một tô bún ngon hơn, đi chỗ kia, có ông bán hàng đưa tay ngoắc ngoắc. Chứ đi đâu mà được mấy cái đó ".

*
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài . Anh có tài - và sống với quê hương, đồng bào, bè bạn - rất trong sáng, trọn vẹn, nên quần chúng thương anh là một điều tất nhiên. Trong những khó khăn của mọi hoàn cảnh, anh đã sống xứng đáng, chung thủy, chọn lựa được niềm vui cho chính mình và trung thành với điều chọn lựa của mình. Khi anh nằm xuống, quần chúng nhân dân làm một quốc táng cho anh - trong lòng họ và trên thực tế - cũng là điều dễ hiểu :

Làm người trung nghĩa đáng bia son
Đứng giữa càn khôn tiếng chẳng mòn
Cơm áo đền bồi ơn đất nước
Mày râu giữ vẹn phận tôi con
Tinh thần hai chữ phau sương tuyết
Khí phách nghìn thu rỡ nước non
Nhớ chuyện ngựa Hồ chim Việt cũ
Lòng đây tưởng đó mất như còn
[Nguyễn Đình Chiểu]


Anh ra đi, nhưng chúng tôi còn ở lại – luôn luôn nhớ tới anh – và sẽ thuật lại những hoài bảo, những mơ ước của anh. Chúng tôi tin rằng, anh nằm trong đất lạnh nhưng lòng anh không thấy lạnh, vì anh đã gieo hạt mầm tốt trong con tim của cả một dân tộc. Thấm qua bao thế hệ, cái mầm yêu thương - cái tình người - vẫn sẽ còn đó, và sẽ nảy nở, vì nhân tài sẽ phát xuất tự thiếu niên. Nay anh đã ra đi, nhưng "Người đã đi, ngườisẽ tới", đó mới là "Nối Vòng Tay Lớn", phải không anh ?

Văn-Lang Tôn-thất Phương, 05-2001
npttp@yahoo.com.au


Chú Thích
1.Nhà văn Đặng Tiến (hiện ở Paris) cho biết có thể ở tạp chí Bách Khoa (Sài Gòn) số 15-08-1970.
2.Xin xem loạt sách NHẬN ĐỊNH của giáo sư Nguyễn Văn Trung xuất bản ở Sài Gòn trong khoảng 1965-1970.
3.Lê Minh Quốc: Giọt Lệ Ru Người (DIỄN ĐÀN, Paris, số 01-04-2001).
4.Anh nói với tôi vào năm 1980.
5.Trích từ hai câu trong mật thư của cụ Trần Cao Vân gửi vua Duy-Tân để thuyết nhà vua chống Pháp: "Phụ Hoàng hoàng đế hà tội kiến di, Dực Tôn tôn lăng hà cớ kiến quật".
6.Hoài Việt: Quang Dũng, Người Và Thơ (Hội Nhà Văn, Hà Nội 1990).
7.Anh nói với tôi vào năm 1986.
8.Xin xem Nguyễn Hồi Thủ: Quả Đất – Quê Hương (Chân Mây Cuối Trời, Paris 1999. Tr 9-10).

[Nguồn: Tác giả Tôn Thất Phương gửi tặng - tháng 9 2004]
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#114 Posted : Saturday, September 12, 2015 5:58:32 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#115 Posted : Tuesday, September 15, 2015 6:22:17 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

Diễm Xưa!

Ngô Vũ Bích Diễm và Ngô Vũ Dao Ánh
UserPostedImage


Diễm xưa là một bài hát nổi tiếng của cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn viết năm 1960, được phát hành trong băng nhạc Sơn Ca 7, lấy từ ý “Diễm của những ngày xưa”. “Diễm xưa” cũng được dịch ra tiếng Nhật dưới nhan đề 美しい昔 (Utsukushii mukashi) và được Khánh Ly trình bày ở hội chợ Osaka năm 1970.

Bài hát mà Trịnh Công Sơn đã cảm hứng viết ra qua mối tình rất lãng mạn với một người đẹp xứ Thần Kinh: Ngô Vũ Bích Diễm.

Trịnh Công Sơn đã kể lại:

Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến Trường Đại học Văn khoa ở Huế.

Nhiều ngày, nhiều tháng của thuở ấy, người con gái ấy vẫn đi qua dưới những vòm cây long não. Có rất nhiều mùa nắng và mùa mưa cũng theo qua. Những mùa nắng, ve râm ran mở ra khúc hát mùa hè trong lá. Mùa mưa Huế, người con gái ấy đi qua nhạt nhòa trong mưa giữa hai hàng cây long não mờ mịt…

Nhà cô ấy ở bên kia sông, mỗi ngày phải băng qua một cây cầu rồi mới gặp hàng long não để đến trường.
Từ ban công nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng ấy đi đi về về mỗi ngày bốn bận. Thời buổi ấy những người con gái Huế chưa hề dùng đến phương tiện có máy nổ và có tốc độ chóng mặt như bây giờ. Trừ những người ở quá xa phải đi xe đạp, còn lại đa số cứ đến trường bằng những bước đi thong thả hoàng cung. Đi để được ngắm nhìn, để cảm thấy âm thầm trong lòng, mình là một nhan sắc. Nhan sắc cho nhiều người hoặc chỉ cho một người thì có quan trọng gì đâu. Những bước chân ấy từ mọi phía đổ về những ngôi trường với những cái tên quen thuộc, đôi khi lại quá cũ kỹ.

Đi để được những con mắt chung quanh nhìn ngắm nhưng đồng thời cũng tự mình có thì giờ nhìn ngắm trời đất, sông nước và hoa lá thiên nhiên. Long não, bàng, phượng đỏ, muối, mù u và một dòng sông Hương chảy quanh thành phố đã phả vào tâm hồn thời con gái một lớp sương khói lãng mạn thanh khiết. Huế nhờ vậy không bao giờ cạn nguồn thi hứng. Thành cổ, đền đài, lăng tẩm khiến con người dễ có một hoài niệm man mác về quá khứ hơn và một phần nào cũng cứu rỗi cho con người ta khỏi vành đai tục lụy. Và từ đó Huế đã hình thành cho riêng mình một không gian riêng, một thế giới riêng. Từ đó con người bỗng đâm ra mơ mộng và ước mơ những cõi trời đất như không có thực.

Nhưng thật sự thực và mơ là gì? Thật ra, nói cho cùng, cái này chỉ là ảo ảnh của điều kia. Và với những ảo ảnh đó đã có một thời, khá dài lâu, những con người lớn lên trong thành phố nhỏ nhắn đó đã dệt gấm thiêu hoa những giấc mơ, giấc mộng của mình. Đó cũng là thời gian mà mỗi sớm tinh mơ, mỗi chiều, mỗi tối, tiếng chuông Linh Mụ vang xa trong không gian, chuyền đi trên dòng sông để đến với từng căn nhà khép hờ hay đang đóng kín cửa.

Thời gian trôi đi ở đây lặng lẽ quá. Lặng lẽ đến độ người không còn cảm giác về thời gian. Một thứ thời gian không bóng hình, không màu sắc. Chỉ có cái chết của những người già, vào mùa đông giá rét, mới làm sực tỉnh và bỗng chốc nhận ra tiếng nói thì thầm của lăng miếu, bia mộ ở những vùng đồi núi chung quanh.

Trong không gian tĩnh mịch và mơ màng đó, thêm chìm đắm vào một khí hậu loáng thoáng liêu trai, người con gái ấy vẫn đi qua đều đặn mỗi ngày dưới hai hàng cây long não để đến trường. Đi đến trường mà đôi lúc dường như đi đến một nơi vô định. Định hướng mà không định hướng bởi vì những bước chân ngày nào ấy dường như đang phiêu bồng trên một đám mây hoang lạc của giấc mơ.

Người con gái ấy đã đi qua một cây cầu bắc qua một dòng sông, qua những hàng long não, qua những mùa mưa nắng khắc nghiệt, để cuối cùng đến một nơi hò hẹn. Hò hẹn nhưng không hứa hẹn một điều gì. Bởi vì trong không gian liêu trai ấy hứa hẹn chỉ là một điều hoang đường. Giấc mơ liêu trai nào cũng sẽ không có thực và sẽ biến mất đi.
Người con gái đi qua những hàng cây long não bây giờ đã ở một nơi xa, đã có một đời sống khác. Tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Kỷ niệm nào cũng đáng nhớ nhưng cứ phải quên. Người con gái ấy là “Diễm của những ngày xưa”.


Theo Nguyễn Đắc Xuân

Khoảng năm 1962, gia đình Trịnh Công Sơn gặp khó khăn kinh tế, gian phố lớn ở đường Phan Bội Châu (Ngã Giữa) phải sang cho người khác và qua thuê một căn hộ ở tầng một dãy lầu mới xây ở đầu cầu Phủ Cam (Nhà số 11/3 Nguyễn Trường Tộ, hiện nay là nhà của anh chị Hoàng Phủ Ngọc Tường – Lâm Thị Mỹ Dạ).

Hằng ngày Trịnh Công Sơn đứng trên lầu ngắm các cô nữ sinh đi qua cầu Phủ Cam, đi dọc theo đường Nguyễn Trường Tộ đến trường Đồng Khánh. Trong đám xuân xanh ấy có cô Ngô Thị Bích Diễm – con gái thầy Ngô Đốc Kh.- người Hà Nội, dạy Pháp văn tại trường Đồng Khánh và trường Quốc Học Huế. Bích Diễm giống bố, người dong dõng cao, nét mặt thanh tú, bước đi thong thả nhẹ nhàng. Con người của Diễm rất hợp với cái tên Diễm và cũng thích hợp với tâm hồn bén nhạy của Trịnh Công Sơn.

Anh yêu Diễm mê mệt. Những ngày không thấy Diễm đi qua anh đau khổ vô cùng. Anh trông thấy con đường trước nhà “dài hun hút cho mắt thêm sâu”. Nhưng anh cũng biết gặp Diễm để nói lên nỗi đau ấy không phải là chuyện dễ.
Thầy Ngô Đốc Khánh – thân sinh của Diễm, là một ông giáo rất nghiêm. Ông không thể chấp nhận một anh chàng chưa có bằng Đại học, tóc dài, cằm lún phún râu chuyện trò với các cô con gái đài các của ông. May sao lúc ấy họa sĩ Đinh Cường thuê nhà ở gần nhà Diễm để làm xưởng vẽ. Hai bạn canh chừng những khi thầy giáo có giờ dạy, mà Diễm đang ngồi ở nhà học bài thì hai bạn liền “liều” mình qua thăm. Những lần liều đầy mình ấy, có khi Diễm tiếp, có khi Diễm để cho người nhà tiếp và cũng có khi đang có bố ở nhà, Diễm tránh để cho khách ngồi chơi xơi nước rồi tự ý ra về. Khác với Ph.Th. (em ruột của ca sĩ Hà Thanh), Diễm biết Trịnh Công Sơn yêu mình và trái tim cô nhiều khi cũng rung động. Nhưng lúc ấy Diễm không thể vượt qua được sự nghiêm khắc của gia đình để nói cho tác giả Ướt Mi biết điều đó.

Trịnh Công Sơn trút hết nỗi lòng yêu Diễm vào bài Diễm Xưa như sau nầy Sơn đã kể lại nhiều lần. Có một điều lúc ấy Sơn không để ý: Những lúc Trịnh Công Sơn đến nhà Diễm, thì Ngô Vũ Dao Ánh – em gái của Diễm còn là một cô bé, nhỏ hơn Diễm đến bốn năm tuổi, chạy loăng quăng theo chị. Không ngờ chỉ mấy năm sau Dao Á trở thành một thiếu nữ xinh đẹp với khuôn mặt bầu bĩnh, dễ thương khác thường. Với cái cầu đã bắc từ hồi yêu Bích Diễm, nay Bích Diễm đã vào học Đại học ở Sài Gòn, tâm hồn của Sơn qua cây cầu cũ, nói như Đinh Cường “Sơn lại da diết với cái dáng vẻ khoan thai, áo lụa vàng của Dao Ánh để rồi thất vọng, để rồi…”.


Khác với những lần yêu trước, thất vọng về Dao Ánh, Trịnh Công Sơn không bắt nhạc của anh phải mang cái gánh thất tình của anh. Không ngờ hai mươi năm sau, trải qua bao nhiêu dâu bể, từ bên Mỹ, Dao Ánh trở về Việt Nam tìm Trịnh Công Sơn. Không rõ Dao Ánh nói gì với Sơn, và còn gì nữa không, mà anh đã rất hài lòng với thực tại “Hai mươi năm xin trả nợ dài, Trả nợ một đời em đã phụ tôi” (Xin Trả Nợ Người). Trong hai mươi năm ấy, Dao Ánh đã có gia đình, đã hiểu rõ cuộc đời, nên “hết phụ” tình Trịnh Công Sơn. Như Đinh Cường đã viết: “Tháng cuối cùng trước khi Sơn mất, Dao Ánh về thăm, suốt tuần sáng nào cô cũng đến ngồi trên chiếc xe lăn của Sơn, chỉ còn biết nhìn Sơn, cho đến chiều tối mới về nhà.” Trịnh Công Sơn yêu Dao Ánh phải trải qua hai mươi năm mới “nhận” được lời đáp. Tuy đã quá muộn, nhưng trên cõi đời nầy có mấy ai được yêu và được nhận có một khoảng cách dài lâu đến thế đâu!

Dạ lý hương

Hồi ức của Hoàng Tá Thích, em rể của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn:

…ngày ngày người con gái mang tên Diễm trong chiếc áo lụa trắng của trường Đồng Khánh, vẫn thường đi ngang, băng qua cầu, rẽ tay mặt về nhà. Hình ảnh người con gái thùy mị mang nét kín cổng cao tường rất cổ điển đó đã làm cho anh không ngày nào không nhìn xuống đường chờ đợi:

Lụa áo em qua phủ mặt đường
Gót nhỏ xanh xao tựa khói sương

UserPostedImage

Diễm mang đến cho anh một mối tình nhẹ nhàng và lãng mạn như hai chữ Diễm xưa. Có hôm thức dậy muộn, nhìn thấy bên cửa sổ có cài một nhành dạ lý hương, anh biết người đẹp đã đi qua nhà mình. Và mỗi lần thức dậy anh đều mong nhìn thấy cành hoa cài trên cửa: “Chiều nay còn mưa, sao em không lại, nhớ mãi trong cơn đau vùi, làm sao có nhau, hằn lên nỗi đau, bước chân em xin về mau”.

Edited by user Tuesday, September 15, 2015 6:23:11 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#116 Posted : Tuesday, September 22, 2015 4:39:19 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Nhạc Trịnh và triết lý cuộc sống


Tôi quan niệm: nghe nhạc phải đi từ âm mới tới nhạc, do vậy tôi yêu những ca từ đẹp trong các ca khúc của nhạc sĩ tài năng Trịnh Công Sơn.

UserPostedImage

Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - Ảnh tư liệu

Tôi luôn bắt gặp đâu đó trong ca khúc của ông một triết lý cuộc sống. Khi đầy giáo lý nhà Phật: “Tôi nay ở trọ trần gian/ Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời”. Cuộc sống là vô thường, con người tồn tại trên cõi nhân gian như một kiếp ở trọ, để cuối cùng “Một mai tôi về làm cát bụi”.

Lại có khi, sự gặp gỡ, chia ly, kiếp luân hồi, vật chất tồn tại hữu hình mà như vô hình hư hư thực thực“Giữa đường trưa có tôi bơ vơ/ Chợt tôi thấy thiên thu/ Là một đường không bến bờ” hay “Có những ai xa đời quay về lại/ Về lại nơi cuối trời/ Làm mây trôi”. Cuộc đời nhẹ nhàng lắm, chen chân tranh giành được mất thì lúc nằm xuống đất sâu cũng chẳng mang được gì trong tay.

Nhưng đôi khi, cuộc sống đâu cần gì cao siêu, đâu cần phải đứng trên vai vạn người, cuộc sống chỉ cần“Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”.

Trước đây, tôi nghĩ mỗi bình minh thức giấc phải hơn người khác nửa bước chân thì mới mong sống hạnh phúc. Tôi gồng mình lên để ganh đua danh lợi, tôi muốn mình là tốt nhất. Nhưng lẽ dĩ nhiên, tôi không bao giờ là nhất, vì luôn có người tốt hơn tôi. Cứ như thế, mỗi ngày tôi trở về nhà với bộ dạng tồi tệ thua cuộc, mệt mỏi.

Rồi một ngày, cô bạn cùng phòng nghêu ngao giai điệu “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui/ Chọn những bông hoa và những nụ cười…”.Từ đó, tôi nhận ra rằng 24 giờ trôi qua tôi đã bỏ biết bao nhiêu phút giây hạnh phúc. Nếu đặt mọi thứ xuống chân mà đi thì cuộc đời rất đỗi nhẹ nhàng, cớ chi phải vác hết lên vai để nặng mình.

Cuộc sống có thể ném vào mặt tôi những khó chịu, đau khổ, uất hận… tôi không thể lựa chọn hoàn cảnh và thái độ mà người khác dành cho tôi, nhưng tôi có thể chọn thái độ để ứng xử lại với tất cả “Mỗi ngày tôi chọn đường mình đi/ Đường đến anh em đường đến bạn bè”. Đạp người này xuống thì tôi cũng không cao hơn thiên hạ, vậy cần chi bày mưu tìm kế. Yêu nhiều thì sẽ được thương, tôi chọn cách cho đi để nhận lại, trồng hạt giống tốt để thu về trái ngọt.

Ai đó từng nói “hạnh phúc là con đường chứ không phải đích đến”. Hạnh phúc là tận hưởng chứ không thể cầm nắm. Nhưng nếu cứ cắm mặt chạy đua theo danh vọng, làm việc quên thời gian để có được tiền tài thì làm sao tôi tận hưởng những phút giây hạnh phúc. Cho nên “Mỗi ngày tôi chọn ngồi thật yên/ Nhìn rõ quê hương ngồi nghĩ lại mình”.

Một chút thời gian soi gương và tự cười. Một chút thời gian nhấm nháp vị đậm đà của cà phê sáng. Một chút thời gian đùa với em nhỏ. Một chút thời gian thăm hỏi gia đình… Một chút thôi, nhưng đủ để thấy rằng mình thật may mắn và hạnh phúc khi có mặt trên cõi nhân gian này, được yêu thương, được biết đến. Chỉ khi nào, người thương nằm dưới mộ phần mới hiểu được một chút đó giá trị biết bao nhiêu.
“Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”, sống chậm hơn để cảm nhận hạnh phúc nhiều hơn. Giai điệu và triết lý trong âm nhạc Trịnh Công Sơn đến với tôi đơn giản chỉ có thế “Và như thế tôi sống vui từng ngày/ Và như thế tôi đến trong cuộc đời/ Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi”.

Chẳng ai biết tương lai ra sao, chẳng thể tính đoạn đường đời dài hay ngắn cho nên “Hãy cứ vui chơi cuộc đời/ Đừng cuồng điên mơ trăm năm sau”.

ĐOÀN LY

Edited by user Tuesday, September 22, 2015 4:40:05 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#117 Posted : Sunday, October 4, 2015 4:05:52 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
UserPostedImage
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
ASIAlcoholic on 10/12/2015(UTC)
phamlang  
#118 Posted : Thursday, October 22, 2015 5:15:32 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Người nữ trong nhạc Trịnh Công Sơn


Sau khi anh đi bỏ lại con đường, nhiều người đã nói tới những người nữ
mà theo họ là người tình của anh. Một cô con gái yêu của người thầy
dạy tiếng Pháp. Một nữ giáo sinh ở sư phạm Qui Nhơn. Một ca sĩ thời
danh mà anh viết tặng Ướt Mi. Một người đã có chồng hai con ở Blao.
Sau này còn có cả nột nữ doanh nhân thành đạt. Đó là chưa kể đã hai
lần, để làm vui lòng mẹ, anh suýt nữa đã lên xe hoa. Có người còn ồn
ào tự cho mình là người tình cuối! Nói chung, ai cũng muốn tìm ra một
Mộng Cầm hay T.T.KH, những người nữ đã để lại bóng hình khá lộng lẫy
trong văn chương Việt.

Nhưng, nhà văn Sâm Thương, bạn thân anh, lại bảo chẳng có người phụ nữ
nào in đậm bóng hình lên cuộc đời anh. Tôi cũng tin như vậy mặc dù ai
cũng bảo còn Diễm đó. Diễm là ai mà anh gọi thiết tha đến thế trong
những cơn mưa trên tầng tháp cổ hay trong những căn gác đìu hiu chiều
chủ nhật buồn? Theo tôi Diễm không là ai cả. Diễm là Đẹp, là Nhan Sắc
như Nguyên Sa đã từng gọi.

Đã là nghệ sĩ, đương nhiên anh yêu cái Đẹp. (Yêu cái Đẹp chứ không
phải gái đẹp). Một người nữ chân dài với ba vòng có số đo tuyệt hảo
chưa chắc đã là người Đẹp dưới mắt nhìn của anh.

Người nữ của anh trước hết phải là một người con gái Việt Nam da vàng
yêu quê hương như yêu đồng lúa chín. Anh yêu tóc em từng sợi nhỏ nhưng
không phải tóc vàng như Cung Trầm Tưởng. Lại càng không phải là gái
Phù Tang dù có người đã từng lặn lội sang tìm anh, học tiếng Việt, làm
luận án về anh và được trao bằng tiến sĩ.

Nàng đứngbên trời tự do, yêu đời thiết tha, luôncười đâu đó trong
lòngphố xá đông vui. Nàng đi lễ chùa, lễ nhà thờ, qua công viên, với
tà áo rộng, với hài nhung gấm, thanh thoát đài trang nhưng không quá
kiêu kỳ. Nàng chỉ cười mà không nói, chỉ ngồi hát khi mây bay ngang
trời. Nàng muời sáu tuổivớimôi hồng đào, tay măng trôi trên vùng tóc
dài. Nàng rất gần mà cũng rất xa, rất thực mà cũng rất kỳ ảo. Nàng rất
bình thường nhưng không tầm thường.

Một người như thế sẽ được BùiGiáng thốt lên:
Em ơi em đẹp vô cùng

Vì em có cái lạ lùng bên trong. Cái lạ lùng bên trong là cái Đẹp, chỉ
có những nghệ sĩ sâu sắc như anh hay thi sĩ họ Bùi mới cảm nhận được.
Cái Đẹp của hồn thơm cây trái của môi hôn lần đầu, của một chiều kia
có em buồn buồn. Cái đẹp thay màu rất chậm, đến nỗi:
Một ngàn năm trước(…) môi em hồng nhạt
Một ngàn năm sau môi em hồng vừa. Cái Đẹp gần như ngừng lại, hay anh
muốn chậm lại. Vì sao? Vì tôi cần thấy em yêu đời, yêu hoài.
Hãy nghe
anh nói:

Tôi xin làm chút gió
Mát thêm những bờ vai
Tôi xin làm hôm nay
Cho đời em trẻ mãi
Tôi xin làm mây êm
Trôi vào trang nhật ký
Hay tôi làm mực hồng


Chờ em giữa trang thư. Như thế, anh mãi mãi là người tình của tuổi học
trò, của Tuổi Trẻ, không chỉ một thời mà của nhiều thời, không chỉ hôm
nay mà của cả ngàn sau.

Môi em cho ta một cánh hồng
Lụa là phút ấy chưa quên.


Một cuộc tình nhỏ bé, bên đôi môi hồng đào thì không có chi là ồn ào,
không có chi là đớn đau dù có hơi xót xa, dù có hôn nhau lần đầu cũng
là hôn nhau lần cuối. Cho dù anh bảo

Em phụ tôi một thời bé dại
Thơ dại ra đi không nhớ gì tôi


Phụ, là cách nói để tiếc thương cho tuổi trẻ đã qua hay đã mất. Mười
năm xưa nàng đứng bên bờ dậu khiến lòng anh như khăn mới thêu. Nhưng
chỉ mười năm sau, nhìn nhau ôi cũng như mọi người, nên lòng anh
buồnnhư nắng qua đèo.

Từng người tình bỏ ta đi như những giòng sông nhỏ. Buồn nhưng không
thể không để sông về với biển, không thể không để các nàng đi về nơi
bế bồng. Họ không thể không lớn lên, không thể không lấy chồng, đẻ
con.

Thuyền nào đã chở mất thuyền quyên
Với những thuyền bườm lớp lớp ra sông
Xin có lời mừng giữa chén rượu nồng


Phải vậy thôi. Phải rất đàn ông, từ bi, độ lượng. Xin có lời mừng.
Không đau đớn tiếc thương đến nỗi phải gào lên như Vũ Hoàng Chương “Tố
của Hoàng nay Tố của ai!”. Hay như Phạm Duy đắm đuối quằn quại “ngày
nhà em pháo nổ, anh cuộn mình trong chăn, như con sâu làm tổ trong
trái vải cô đơn, tâm hồn anh nhuốm máu, ôi nhấp chén hư vô”
Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ. Rất bình yên tự tại, bỡi vì còn rất
nhiều em bên đời, tuổi mười sáu như mưa vẫn tiếp nối làm đầy nhiều con
sông nhỏ khác. Và đời anh vẫn bốn mùa thay lá, vẫn nhớ em và nằm mộng
suốt đêm trong thiên đường.

ĐÓA HOA VÔ THƯỜNG

Đây là bản nhạc lạ thường nhất của anh. Ai cũng bảo anh yêu một nữ tu.
Có một vidéo, người ta dàn dựng người nhạc sĩ vội vã chở chiếc chuông
đi như chạy trốn một cách phản cảm.

Theo tôi đây là một bản tụng ca Đức Phật, có thể là Phật Quan Âm.
Người nữ ở đây không mười sáu tuổi, không một chiều kia có em buồn
buồn, không cười đâu đó trong phố xá đông vui. Một người mà anh đã đi
tìm trongxa gần đất trời rộn ràng, trong sương hồng, trong chiều bạc
mệnh, tìm trong đàn chim ngậm hạt sương bay. Tìm ngày tìm đêm, bền bĩ
một cách lạ thường không bao giờ tuyệt vọng.

Và anh đã gặp một ngườimình hạc xương mai, với nụ cười mong manh. Nàng
tinh khiết như cội nguồn nguyên thủy, nàng ngát hương giữa đôi giòng
kinh.

Nàng là Đạo, hay Đạo được anh hoá thân thành Nàng cho gần với Đời. Và
nàng tắm gội dưới mưa bốn bề toả ngát hương trầm. Nàng dạy dỗ anh, tan
chảy trong anh.

Đạo thấm vào anh, gần gũi đến nỗi có tôi trong dáng em ngồi trước sân.
Từ đó hoa là em, một sớm kia rất hồng, nở hết trong hoàng hôn. Nhờ có
kinh đắp bồi, nên từ đó anhlà đêm nở đóa hoa vô thường.
Khi cái Đẹp lên ngôi (lời kinh là những cái Đẹp) thì sự phụng thờ của
anh, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm và tôn thờ cái Đẹp, cuộc trùng phùng
chỉ là một tất yếu.

NGƯỜI NỮ ĐẦU TIÊN VÀ NGƯỜI NỮ CUỐI CÙNG

Đó là người đã mang anh đầy bụng. Người đã ru anh từ tiếng khóc ban
đầu, ru anh qua cả cuộc đời, và ru anh cho đến lúc bạc đầu.
Người ấy đã ru anh với tiếng hát trên trời để anh đượcngủ trên mây.
Người nữ đó không ai khác hơn là Mẹ.
Người anh chịu ơn đầu tiên và chịu ơn cuối cùng. Người dù đã đi về nơi
cuối trời vẫn chờ anh để ru anh hoài ru mãi ngàn năm.

NGƯỜI NỮ CAO CẢ VÀ VĨ ĐẠI

Đó là mẹ của những em bé loã lồ khóc tuổi thơ đi. Mẹ cùa những đứa con
hai mươi năm đã lớn ra ngoài chiến trường, những đứa con cùng cha
vẫnkhông quên hận thù. Đó còn là người đàn bà hoá điên khi vỗ tay reo
mừng xác con, chảy dàigiọt lệ ăn năn trong những đêm ngồi nghe đại bác
dội về thành phố. Đó là Mẹ của mộtnước Việt buồn.

Có thể kết một lời, trong văn học Việt Nam chưa có một tác giả nào yêu
người nữ sâu sắc, tinh tế, từ ái và trân quý đến mức phụng thờ như
Trịnh Công Sơn./.


(KHUẤT ĐẨU)

Edited by user Thursday, October 22, 2015 5:17:27 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
ASIAlcoholic  
#119 Posted : Sunday, October 25, 2015 7:19:03 AM(UTC)
ASIAlcoholic

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 12/21/2011(UTC)
Posts: 1,213
Location: USA

Thanks: 2319 times
Was thanked: 1592 time(s) in 850 post(s)
T U Ổ I . Đ Á . B U Ồ N


t r ị n h . c ô n g . s ơ n



UserPostedImage


" Tháng sáu trời mưa, trời mưa không dứt
Trời không mưa, anh cũng lạy trời mưa
Anh lạy trời mưa phong tỏa đường về
Và đêm ơi, xin cứ dài vô tận...
"
(thơ: Nguyên Sa)

Đúng vậy, tháng 6 trời mưa giông nhiều ở Virginia, có lẽ vì thế mà Tâm Hảo bỗng
nhớ đến những bản nhạc nhắc đến mưa và đã hát từ hồi còn thiếu nữ, thí dụ như:

" Trời còn làm mưa, mưa rơi mênh mang
Từng ngón tay buồn, em mang em mang
Đi về giáo đường, ngày chủ nhật buồn
Còn ai, còn ai, đóa hoa hồng cài lên tóc mây ...
"


Giai điệu và lời ca của bài "Tuổi Đá Buồn" ở trên gợi cho tôi nhớ những kỷ niệm đẹp về Sài Gòn, về những tháng ngày ở trung học, về những buổi ca nhạc ngoài trời trong khuôn viên gần Quán Văn, tiếng hát trầm và diễn tả có hồn của "nữ hoàng chân đất" Khánh Ly với những ca khúc về tình yêu, thân phận, chiến tranh, quê hương của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. (Thật may mắn vì có người còn giữ bản thu âm bài Tuổi Đá Buồn do Khánh Ly hát ở Quán Văn với lời giới thiệu và tiếng đàn guitar của TCS). ​

T​ôi cũng nhớ đã đọc ​một số bài viết ​trên mạng về Ngô Vũ ​Dao Ánh​, một nữ sinh rất trẻ ở Huế, khoảng giữa thập niên 1960 ​là nguồn cảm hứng cho TCS viết một số bản nhạc nổi tiếng, trong đó có Tuổi Đá Buồn. ​Điều này đã được minh chứng k​hi ​n​hà xuất bản Trẻ phát hành "Thư Tình Gửi Một Người" năm 2011, công bố những bức thư tình viết tay của TCS gửi riêng cho Dao Ánh. (Dao Ánh cũng là em ruột của Bích Diễm, nguồn cảm hứng để TCS sáng tác ca khúc trữ tình "Diễm Xưa".)

Trong mấy ngày liên tiếp tôi nghe lại Tuổi Đá Buồn do một số ca nhạc sĩ trình bày, thích thú khi đọc một số thư tình của TCS ở trên và thưởng thức những tranh vẽ đăng trên mạng liên quan đến bản nhạc này. ​Cố họa sĩ Bửu Chỉ có vẽ một tranh ​về ​Trịnh Công Sơn và đặt tên "Tuổi Đá Buồn"​. Họa sĩ Đinh Cường, ​hiện cư ngụ ở Virginia, một trong những người bạn thân nhất của TCS đã trả lời một vài thắc mắc nhỏ của tôi và ưu ái gởi cho tôi 2 tranh anh vẽ rất đẹp cho trang nhạc đặc biệt này: tranh "Chân Dung Dao Ánh" thời trẻ - nét mặt thánh thiện, đôi mắt buồn, có nét huyền ảo với chiếc áo dài, nền là những hoa dã quỳ (một loại hoa hướng dương) - và tranh "Đốm Lửa Miền Đồi Núi" để nhớ kỷ niệm về thị trấn Đơn Dương, gần Đà Lạt (đó là nơi Đinh Cuờng, TCS từng cư ngụ vào thời điểm TCS viết những lá thư tình lãng mạn qua lại với Dao Ánh). Tôi cũng "khám phá" được một tranh minh họa đen trắng cho bản nhạc Tuổi Đá Buồn, cũng của họa sĩ Đinh Cường ​​(TCS đã ghi chú thêm chung quanh tranh minh họa đen trắng này những dòng chữ tình cảm để riêng t​ặng cho Dao Ánh!).

Mời quý vị nghe nhạc, thưởng thức tranh, hình ảnh, tài liệu về ca khúc trữ tình Tuổi Đá Buồn trong trang dưới đây.

Phan Anh Dũng (Richmond, Virginia USA - Đầu Hè, 2014)


* * *



Yêu Một Người Tên Hoa Hướng Dương


Năm 25 tuổi (1964), nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lên Blao dạy học, ở đó ông viết nhiều bức thư gửi về một người - người mà ông gọi bằng tên riêng là: dao - ánh - hướng - dương (viết thường như tên một loài hoa) đang nở…

UserPostedImage
NS Trịnh Công Sơn thời yêu “hoa hướng dương Dao Ánh”
Ảnh do gia đình nhạc sĩ TCS cung cấp


UserPostedImage
Ngô Vũ Dao Ánh năm 16 tuổi


Cũng từ Huế, dao - ánh - hướng - dương hồi âm, gửi đến ông những tờ thư “ướt từng giọt nến” đọng lại, vì thư viết về khuya, dưới ánh sáng của đèn sáp trắng, có bức ép vài chiếc lá long não nhặt được trước nhà ông ở đường Nguyễn Trường Tộ (Huế). Nhận được, ông trả lời:

“Ngọn lá long não vẫn còn màu nâu đỏ” và hồi tưởng: “Anh phải bắt đầu nhớ lại một Ánh của lần đầu xa nhà, Ánh của hôm ở quán cà phê, Ánh ở bãi biển và Ánh của những ngày tháng sau này (…) Ánh ơi, anh đã ghi trên từng bao thư Ánh gởi lên đây cho anh: tournesol 1, tournesol 2, tournesol 3. Ôi những lời yêu dấu kia là đời sống (của anh) đó Ánh ạ (…) Bình hoa hồng trước mặt anh có những cánh hoa đều đặn thật đẹp. Anh vẫn thường nghĩ đến hình ảnh một người con gái cầm nhánh hoa hồng buổi chiều đi trên hè phố một mình. Hè phố thì vắng. Hè phố dẫn về một giáo đường. Buổi chiều người con gái tay cầm nhánh hoa hồng, đầu cúi gập trên những hàng ghế gỗ nhà thờ… mang khuôn mặt của Ánh. Của Ánh. Của Ánh”. Tiếp đó là: “tấm carte visite với hình vẽ cái hoa hướng dương và hàng chữ Ngô Vũ Hướng Dương đề ở dưới anh đã dựng ở kệ sách trên đầu giường
(thư Blao 21.10.1964).

Vài ngày sau, vào 26.10 năm ấy, ông viết:
“Ánh ơi, bỗng nhiên anh thấy nhớ Ánh mênh mông… Sao con đường không ngắn hơn để anh có thể quay về đó thường xuyên nhìn thấy Ánh. Nhìn Ánh cười, Ánh buồn, Ánh nói, Ánh đi. Nhìn chiếc nơ màu nâu nhạt đã có lần cài sau tóc. Giờ này Huế có mưa không. Mùa đông đã về chưa cho bàn tay Ánh lạnh như một đêm mưa nào anh đã giữ bàn tay Ánh và bảo lạnh vô cùng. Ánh ơi anh còn gọi đến bao giờ như thế. Cầu mong Ánh bình an và thản nhiên như núi rừng, mặt trời và tournesol - hoa hướng dương”
(thư Blao 26.10.1964).

Khi đi các vùng cao khác, như Dran (Đơn Dương), ông vẫn nhớ, vẫn gọi:
“Dao Ánh, Dao Ánh, Dao Ánh. Anh từ Blao 2 giờ lên đến đây lúc hơn 5 giờ, suốt con đường đó bụi hoa tournesol mọc vàng hai bên. Rừng núi mùa này hoa vàng đó sáng rực. Sao không là sinh nhật Ánh. Anh có ý nghĩ muốn thay đổi ngày sinh của Ánh đó. Ánh có bằng lòng không. Đây rất gần Đà Lạt, chỉ đi có 30 phút thôi. Anh đến đây thì anh Cường (họa sĩ Đinh Cường) chưa về. Anh leo lên căn nhà gỗ sàn – chung quanh là núi cao, là mây mù, là suối reo, là giá rét, là quạnh quẽ. Anh ngồi trong căn phòng riêng của anh Cường, xung quanh là những bức tranh mang hình ảnh màu sắc của núi đồi này mới lên xong. Và cơn mưa xám mù chợt đến… Ánh ơi, Ánh ơi. Anh nhớ Ánh lắm, nhớ lắm. Làm sao cho Ánh có thể biết được điều đó… Mùa hoa vàng tournesol huy hoàng trên khắp vùng cao nguyên. Anh cười nói với chúng như cười nói với Ánh - hướng - dương đêm..."
(thư Dran 11.11.1964).


UserPostedImage

(Đốm Lửa Miền Đồi Núi - Tranh: Đinh Cường)


Nhiều lúc viết liên tục, trong nhiều ngày, mỗi ngày viết nhiều lần. Vào buổi trưa, buổi chiều, và cả trước khi đi ngủ nữa:

“Ánh ơi, khuya đã khuya hơn… nhớ muôn trùng muôn trùng đó Ánh”. Thức dậy thấy “hoa mặt trời và hoa hồng cắm chung ở chiếc lọ nhỏ đã héo rũ cả. Mai anh sẽ hái một hoa mới cắm vào. Ánh vắng viết thư cho anh có đến gần một tháng. Anh ngỡ như một hình phạt dành cho kẻ tử tội không biết được lý do… Cơn mưa vừa ngưng. Mây đã trắng hơn từng cuộn và trăng nhỏ tuổi hơn Ánh. Thời kỳ trăng đẹp nhất là trăng bằng tuổi Ánh - 16 tuổi
(thư Blao 14.12.1964).

Khi Dao Ánh bước sang tuổi 17 (1965), Trịnh Công Sơn viết:

“Ánh ơi, tâm hồn anh có những lúc thanh thản xanh như chồi non, có lúc đen - điu - vực - thẳm. Anh cũng cố gắng viết nhạc đúng như thế. Mỗi lần viết xong một bản thấy như mình nhẹ nhàng, như vừa trút bớt những ưu tư nặng nề trên vai, trên đầu xuống. Anh vừa viết xong một bản nữa: Tuổi buồn của em, anh nghĩ đến Ánh ngày chủ nhật đi đến nhà thờ, tay cầm một nhánh hồng nhung, nhà thờ chủ nhật thì vắng bởi vì đó là nhà thờ của riêng anh tạo ra…”
(thư Blao 21.1.1965).

Năm Dao Ánh 18 tuổi (1966), Trịnh Công Sơn viết:

“điều quan trọng nhất là Ánh đã yêu anh! Như thế là quá đủ. Khi yêu người ta ngẫu nhiên như đã chọn lựa. Và thái độ chọn lựa dù muốn dù không đã tiềm ẩn một ý chí tự do. Đó cũng là dấu hiệu một phát hiện của trưởng thành. Sống rồi sẽ chín muồi dần, sẽ đơn giản. Tất cả những điều đó sẽ nở ra trong chính mình một cách hồn nhiên như hoa cỏ. Điều đáng vui mừng là chúng mình đang có nhau, đang cần nhau, đang yêu nhau. Anh thì mỗi ngày mỗi nhớ nhiều hơn. Và như thế cũng đã an tâm để đủ sống, đủ vui, đủ tin yêu trong hiện tại. Buổi trưa thật yên tĩnh. Trời như giục bàn chân chạy rong suốt ngày ngoài đường… Anh vừa học được cách viết bằng chữ nho tên của Ánh. Và cũng nhờ thế anh biết được vì sao Ánh thích hoa mặt trời (hoa hướng dương) và bài Xin mặt trời ngủ yên lại tình cờ có câu: “Ôi nhân loại, mặt trời trong tôi”. Lúc viết bản này anh đã có câu trên, vì anh nghĩ là Ánh thích hoa mặt trời và mặt trời là nơi hoa hướng dương nhìn về đó. Nên anh đã đem mặt trời nhốt vào trong anh (để Ánh luôn hướng đến). Hãy nhớ anh mỗi ngày như anh đã nhớ em”.

UserPostedImage



UserPostedImage

Ngô Vũ Dao Ánh - Tranh: Trịnh Công Sơn


UserPostedImage

UserPostedImage

Dao Ánh thăm Trịnh Công Sơn 1993


UserPostedImage


Cuốn sách tập hợp khoảng 300 bức thư tình của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn dự kiến được NXB Trẻ phát hành trong tháng 3, 2011. Gia đình nhạc sĩ đã nhờ nhà thơ Nguyễn Duy biên tập cuốn sách.

Các bức thư tình này do Trịnh Công Sơn gửi cho Dao Ánh, người trong mộng của ông từ năm 1964 đến năm 1967. Dao Ánh đã giữ gìn các trang viết dành riêng cho bà. Cả những chiếc phong bì, nhành hoa, cọng cỏ mà Trịnh Công Sơn ép vào thư, bà cũng nâng niu cẩn thận đến ngày hôm nay.

Trong 4 năm đó, tình cảm giữa người đẹp và nhạc sĩ là mối tình thật đẹp qua những cánh thư. Cho đến khi kết thúc vào năm 1967, Trịnh Công Sơn và Dao Ánh vẫn tiếp tục thư từ qua lại, trao đổi với nhau nhiều chuyện vui buồn trong cuộc sống. Bức thư cuối giữa hai người là bức email duy nhất gửi vào tháng 1/2001, 3 tháng trước khi Trịnh Công Sơn qua đời. Đến nay, Dao Ánh đồng ý cho gia đình nhạc sĩ xuất bản những bức thư này."


UserPostedImage




Edited by user Sunday, October 25, 2015 7:22:19 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked ASIAlcoholic for this useful post.
phamlang on 11/10/2015(UTC)
ASIAlcoholic  
#120 Posted : Sunday, October 25, 2015 7:34:58 AM(UTC)
ASIAlcoholic

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 12/21/2011(UTC)
Posts: 1,213
Location: USA

Thanks: 2319 times
Was thanked: 1592 time(s) in 850 post(s)
UserPostedImage


( Nhạc rời - Minh Phát xuất bản năm 1967)



T U Ổ I . Đ Á . B U Ồ N


t r ị n h . c ô n g . s ơ n


Trời còn làm mưa, mưa rơi mênh mang
Từng ngón tay buồn, em mang em mang
Đi về giáo đường, ngày chủ nhật buồn
Còn ai, còn ai, đóa hoa hồng cài lên tóc mây
Ôi đường phố dài
Lời ru miệt mài, ngàn năm ngàn năm
Ru em nồng nàn, ru em nồng nàn

Trời còn làm mây, mây trôi lang thang
Sợi tóc em bồng, trôi nhanh trôi nhanh
Như dòng nước hiền, ngày chủ nhật buồn
Còn ai còn ai đóa hoa hồng vùi quên trong tay
Ôi đường phố dài
Lời ru miệt mài, ngàn năm ngàn năm
Ru em giận hờn, ru em giận hờn

Trời còn làm mưa, mưa rơi mưa rơi
Từng phiến băng dài trên hai tay xuôi
Tuổi buồn em mang đi trong hư vô
Ngày qua hững hờ

Trời còn làm mưa, mưa rơi mưa rơi
Từng phiến mây hồng em mang trên vai
Tuổi buồn như lá gió mãi cuốn đi
Quay tận cuối trời

Trời còn làm mưa, mưa rơi thênh thang
Từng gót chân trần, em quên em quên
Ôi miền giáo đường ngày chủ nhật buồn
Còn ai còn ai, đóa hoa hồng tàn hôn lên môi
Em gầy ngón dài
Lời ru miệt mài, ngàn năm ngàn năm
Ru em muộn phiền, ru em bạc lòng...





UserPostedImage
thanks 1 user thanked ASIAlcoholic for this useful post.
phamlang on 11/10/2015(UTC)
Users browsing this topic
Guest
7 Pages«<4567>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.