Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

7 Pages«<23456>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
ASIAlcoholic  
#61 Posted : Friday, January 2, 2015 6:22:59 AM(UTC)
ASIAlcoholic

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 12/21/2011(UTC)
Posts: 1,213
Location: USA

Thanks: 2319 times
Was thanked: 1592 time(s) in 850 post(s)

UserPostedImage


RU TA NGẬM NGÙI

TRỊNH CÔNG SƠN

Môi nào hãy còn thơm, cho ta phơi cuộc tình.
Tóc nào hãy còn xanh, cho ta chút hồn nhiên
Tim nào có bình yên, ta rêu rao đời mình
Xin người hãy gọi tên.

Khi tình đã vội quên, tim lăn trên đường mòn
Trên giọt máu cuồng điên, con chim đứng lặng câm
Khi về trong mùa đông, tay rong rêu muộn màng.
Thôi chờ những rạng đông..

Xin chờ những rạng đông
Đời sao im vắng
Như đồng lúa gặt xong
Như rừng núi bỏ hoang
Người về soi bóng mình.
Giữa tường trắng lặng câm.

Có đường phố nào vui, cho ta qua một ngày
Có sợi tóc nào bay, trong trí nhớ nhỏ nhoi
Không còn, không còn ai, ta trôi trong cuộc đời
Không chờ, không chờ aị

Em về, hãy về đi, ta phiêu du một đờị
Hương trầm có còn đây, ta thắp nốt chiều nay
Xin ngủ trong vòng nôi, ta ru ta ngậm ngùi,
Xin ngủ dưới vòm cây ...



KHÁNH LY
thanks 2 users thanked ASIAlcoholic for this useful post.
phamlang on 1/5/2015(UTC), CatLinh on 1/12/2015(UTC)
ASIAlcoholic  
#62 Posted : Friday, January 2, 2015 6:33:02 AM(UTC)
ASIAlcoholic

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 12/21/2011(UTC)
Posts: 1,213
Location: USA

Thanks: 2319 times
Was thanked: 1592 time(s) in 850 post(s)
UserPostedImage


PHÔI PHA


tác giả: TRỊNH CÔNG SƠN


UserPostedImage


Ôm lòng đêm
Nhìn vầng trăng mới về
Nhớ chân giang hồ
Ôi phù du
Từng tuổi xuân đã già
Một ngày kia đến bờ
Đời người như gió qua

Không còn ai
Đường về ôi quá dài
Những đêm xa người
Chén rượu cay
Một đời tôi uống hoài
Trả lại từng tin vui
Cho nhân gian chờ đợi

Về ngồi trong những ngày
Nhìn từng hôm nắng ngời
Nhìn từng khi mưa bay
Có những ai xa đời quay về lại
Về lại nơi cuối trời
Làm mây trôi

Thôi về đi
Đường trần đâu có gì
Tóc xanh mấy mùa
Có nhiều khi
Từ vườn khuya bước về
Bàn chân ai rất nhẹ
Tựa hồn những năm xưa.


THÙY DƯƠNG

thanks 1 user thanked ASIAlcoholic for this useful post.
phamlang on 1/20/2015(UTC)
CatLinh  
#63 Posted : Monday, January 12, 2015 2:40:10 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 1/20/2015(UTC)
phamlang  
#64 Posted : Tuesday, January 20, 2015 7:13:59 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Khánh Ly- giấc mộng dài qua hình bóng Trịnh Công Sơn


Từ Kế Tường


Trước năm 1975 ở Sài Gòn hầu như mọi người đều ít nhất một lần nghe giọng hát của Khánh Ly. Nhưng một lần đó, giọng hát Khánh Ly như một thứ “ma túy” đã làm cho người ta ghiền lúc nào không biết. Điều này có thể giải thích được hiện tượng băng đĩa của Khánh Ly tràn ngập thị trường âm nhạc Sài Gòn và cả miền Nam. Hồi ấy vào bất cứ quán cà phê nào từ bình dân đến sang trọng cũng đều nghe giọng hát Khánh Ly.

Ra đi và trở về

Không chỉ ở các thành phố lớn mà địa bàn nông thôn cũng thế, có thể nói giọng ca Khánh Ly không kén người nghe, cô không chọn khán giả mà chính khán giả đã chọn cô. Họ gồm đủ thành phần, nông dân, lao động, trí thức thuộc mọi lứa tuổi, đặc biệt là giới học sinh, sinh viên.

Khánh Ly hát rất nhiều loại nhạc, của nhiều nhạc sĩ từ “sến sến” đến tiền chiến được cho là “sang trọng”. Nhưng hẳn không ai phủ nhận Khánh Ly hát nhạc Trịnh Công Sơn thì khó có người vượt qua, dường như Khánh Ly sinh ra là để hát nhạc Trịnh Công Sơn và Trịnh Công Sơn tuy không có ca sĩ để hát riêng nhạc của mình nhưng thực tế gần như Trịnh Công Sơn sinh ra là để sáng tác nhạc cho Khánh Ly hát.

Chính vì thế nên nói đến ca sĩ Khánh Ly mà không nói đến nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sẽ là một thiếu sót lớn giống như một người đi hai chân không đồng đều, bước thấp, bước cao khập khiễng. Và không ai khác, chính ca sĩ Khánh Ly đã từng nói cô và Trịnh Công Sơn như hình với bóng.

Khánh Ly rời Việt Nam định cư ở Mỹ sau năm 1975. Ở hải ngoại cô vẫn đi hát liên tục theo thời gian từ tuổi thanh xuân cho đến nay đã ở ngưỡng gần thất thập, thuộc lứa tuổi “xưa nay hiếm”.

Nhưng giọng ca của chị vẫn không thay đổi nhiều, giọng khỏe, vang xa, đầy nội lực không cần cả micro như ngày xưa trên sân cỏ hội quán Văn trong sân trường đại học Văn Khoa Sài Gòn nhưng vẫn còn khá thu hút và người ta nghe Khánh Ly hát bây giờ không phải để phân biệt Khánh Ly trẻ hay già, mà chính là nghe giọng hát của kỷ niệm.

Và kỳ thực, đó không phải là giọng ca của “một thời vang bóng” mà là giọng ca đang tiếp diễn…vẫn có ma lực làm cho người nghe “say” và “ghiền” giống như một thứ hương thơm, một thứ mùi vị rất quen thuộc của người tình xưa bỗng hiện về sau những tháng năm xa cách.

Thời gian gần đây ca sĩ Khánh Ly đã được Cục Nghệ thuật biểu diễn ký quyết định cho phép về Việt Nam biểu diễn. Đây là một tin vui không chỉ cho ca sĩ Khánh Ly mà cho cả khán thính giả ở quê nhà đã từng hâm mộ giọng ca rất đặc biệt, không lẫn lộn của nữ ca sĩ này. Khánh Ly đã và đang về Việt Nam thường xuyên hơn để thực hiện những chương trình riêng do công ty Đồng Dao tổ chức tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM và tới đây ở Bình Dương.

Con chim sơn ca ở thành phố sương mù

Ca sĩ Khánh Ly tên thật là Nguyễn Thị Lệ Mai, sinh ngày 6-3-1945 là người gốc miền Bắc. Vào năm 1954, khi đó cô bé Lệ Mai mới 9 tuổi, do có năng khiếu ca hát bẩm sinh đã được gia đình cho tham dự một cuộc thi tuyển lựa “ca sĩ nhí” ở Hà Nội.

Cô bé 9 tuổi Lệ Mai lần đầu tiên bước lên một sân khấu lớn, phía dưới rất đông khán giả nhưng vẫn không run sợ mà vẫn mạnh dạn cất cao giọng hát chưa qua trường lớp đào tạo nào, vẫn còn nguyên chất trẻ con, hồn nhiên, trong sáng mà cô bé đã học lóm được từ đĩa nhạc phát ra tại các cửa hàng trên phố Hàng Bông. Lệ Mai hát bài “Thơ Ngây” để dự thi và… không được giải gì cả, khi đó gia đình và bé Lệ Mai đi thi chủ yếu vui là chính.

Sau cuộc thi, Lệ Mai theo gia đình di cư vào Nam và tới TP. Đà Lạt sinh sống. Năm 1956, Lệ Mai được 11 tuổi vừa xong bậc tiểu học, nhưng với ước mơ được lên sân khấu thể hiện giọng hát thiên phú của mình, một lần nữa gia đình lại động viên, khuyến khích cô con gái sớm mê nghề ca hát này tham dự cuộc tuyển lựa “tiếng hát nhi đồng” do đài phát thanh Pháp-Á tổ chức tại rạp Norodom ở Sài Gòn.

UserPostedImage

Cô bé Lệ Mai được gia đình gửi đi nhờ xe hàng chở rau cải về Sài gòn để ghi danh dự thi. Lần này Lệ Mai hát bài “Ngày trở về” của nhạc sĩ Phạm Duy và chiếm giải nhì, năm đó thần đồng Quốc Thắng chiếm giải nhất. thế là ước mơ của cô bé 11 tuổi với giấc mộng ca sĩ đã trở thành sự thật.

Khi bước lên bậc Trung học phổ thông, ở tuổi mới lớn, cô nữ sinh Lệ Mai đã nổi tiếng trong trường với giọng ca khá đặc biệt của mình, một giọng ca khàn đục, ngọt ngào như xoáy vào tận tâm can người nghe. Thế là năm 1962, lúc đó vừa 17 tuổi Lệ Mai quyết định rời Đà Lạt về Sài Gòn thực hiện giấc mơ của mình.

Không giống như một số ca sĩ cùng trang lứa, được đào tạo qua các lò luyện ca sĩ thời bấy giờ, với giọng ca đã được khẳng định, Lệ Mai bước thẳng lên sân khấu của phòng trà Anh Vũ , một phòng trà nổi tiếng của thế giới giải trí về đêm lúc bấy giờ nằm trên đường Bùi Viện, Sài Gòn và lập tức thu hút sự chú ý của khán thính giả trẻ lẫn tuổi trung niên.

Phòng trà Anh Vũ lúc đó đã có những giọng ca nổi tiếng khác, cùng trang lứa như: Lệ Thu, Minh Hiếu, Thanh Thúy, Hoàng Oanh, Phương Dung… nhưng giọng hát Lệ Mai vẫn nổi bật lên trong hàng ngũ những “giọng ca vàng” thời đó.

Nhưng dù đất Sài Gòn là “Hòn ngọc Viễn đông” lúc ấy có đủ điều kiện để giọng ca Lệ Mai cất lên và con đường danh vọng trải bằng thảm hoa hồng nhưng con chim sơn ca của núi rừng Đà Lạt vẫn không quên mặt nước hồ Xuân Hương mờ ảo trong sương sớm, những đồi thông bạt ngàn, những ngôi nhà có mimosa vàng và những con phố thoải dốc đầy một màu hoa dại, trong đó có loài hoa trâm ổi ngũ sắc đưa hương thơm tới tận những bước chân lang thang khi dạo phố buổi chiều.

Nhớ quá Đà Lạt của một thời thiếu nữ nhiều ước mơ và lãng mạn, thế là nhân có lời mời của một Night Club mới khai trương ở thành phố sương mù, Lệ Mai quyết định rời sân khấu phòng trà Anh Vũ, bỏ Sài Gòn ở lại sau lưng quay về Đà Lạt hát ở Night Club này với cương vị ca sĩ chính. Đó là vào cuối năm 1962.

Cuộc gặp định mệnh với nhạc sĩ họ Trịnh

Chính ở câu lạc bộ ca nhạc này, 2 năm sau đó, tức là vào năm 1964, ông thầy giáo, và là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bỏ dạy học ở Bảo Lộc làm một cuộc lãng du lên Đà Lạt tới Night Club uống cà phê vào một đêm mưa gió đầy trời Đà Lạt, nghe cô ca sĩ có chất giọng khàn đục, đặc trưng và… gây nghiện như “ma túy” này hát đã “kết mô đen” Lệ Mai và làm quen.

Hai người nhanh chóng trở thành đôi bạn thân thiết như đã quen nhau từ kiếp trước. Lúc ấy chàng nhạc sĩ họ Trịnh chưa nổi tiếng, chỉ mới có vài bản nhạc đầu tay như “Ước Mi”, “Thương một người”, “Diễm xưa”… và rất nghèo. Khi tình bạn đã trở nên gắn bó, Trịnh Công Sơn mở lời mời Khánh Ly về Sài Gòn đi hát với anh và họ đã trở thành thành một cặp đôi “hoàn hảo”, người đàn, người hát, thỉnh thoảng phụ họa hay song ca.

Đây là mô hình ca nhạc của thập niên 1960 trở về sau mà người sành điệu thưởng thức ca nhạc Sài Gòn thường thấy như: Trầm Tử Thiêng-Thanh Lan, Lê Uyên-Phương, Từ Dung-Từ Công Phụng… và họ đã trở thành những “cặp đôi hát” rất máu lửa làm say mê giới sinh viên, học sinh một thời.

Trước lời đề nghị tha thiết của Trịnh Công Sơn, ca sĩ Lệ Mai khéo léo từ chối vì con chim sơn ca của núi đồi Đà Lạt không thể dứt áo bỏ Đà Lạt ra đi một lần nữa bởi thành phố sương mù này có quá nhiều kỷ niệm với cô. Lệ Mai có cả một thời thơ ấu ở đây, và bây giờ là một thời con gái với những bước chân in đậm trên những dốc hoa vàng khi mùa dã quỳ nở rộ.

Thành phố này không chỉ đẹp, lãng mạn mà còn cho cô ca sĩ những phút giây bình yên sau những đêm đi hát chứ không như Sài Gòn lúc nào cũng nhộn nhịp, đua chen đến khó thở và thường làm cho người ta phải mất ngủ. Nhưng đã là định mệnh thì không thể khác được, không gặp lúc này cũng gặp lúc khác.

Và vào năm 1967, trong một dịp về lại Sài Gòn, ca sĩ Lệ Mai tình cờ gặp nhạc sĩ họ Trịnh lang thang trên phố trong lúc Lệ Mai cũng đang đi dạo phố. Họ gặp nhau trên đường Lê Thánh Tôn vào một buổi chiều nắng đẹp và êm ã rất hiếm hoi của Sài Gòn. Lúc đó Trịnh Công Sơn là một trong những thành viên sáng lập ra Hội quán Văn, gọi tắt là quán Văn.

Quán Văn, tất nhiên được hiểu là nơi sinh hoạt văn nghệ có bán cà phê dành cho mọi người, nhưng đông nhất vẫn là cánh học sinh-sinh viên, văn nghệ sĩ thành phố. Quán nằm sau lưng Đại học Văn Khoa Sài Gòn, ngay góc đường Lê Thánh Tôn-Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) Q1.

Quán được hình thành bởi sáng kiến của một nhóm anh em, bằng hữu gồm: Hà Tường Cát, Phan Văn Phùng, Phạm Phú Minh là những người phụ trách Chương trình phát triển sinh hoạt thanh niên học đường (CPS) một tổ chức quy tụ thanh niên, sinh viên, học sinh có tinh thần phụng sự xã hội, nên được Bộ Giáo dục chế độ cũ giao cho quản lý luôn khu đất trống đầy cỏ dại nằm phía sau lưng Trường đại học Văn Khoa mới vừa xây xong.

Và chính Phạm Phú Minh là người có sáng kiến thành lập Hội quán Văn, biến khu đất trống đầy cỏ dại này thành nơi sinh hoạt cho thanh niên mà quán cà phê Văn làm nòng cốt.

Lúc ấy Hoàng Xuân Sơn được giao nhiệm vụ coi sóc quán Văn, trong nhóm CPS này gồm có: anh em Hoàng Xuân Sơn, Hoàng Xuân Giang, Nguyễn Huỳnh, Ngô Vương Toại, Cao Sơn, nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn…

Họ gắn bó, sinh hoạt với nhau như anh em một nhà, cùng xây dựng quán Văn và thường ăn ngủ tại đó. Trịnh Công Sơn là bằng hữu của nhóm này và sau những ngày tháng lãng du, chàng nhạc sĩ họ Trịnh đã về “đóng đô” tại đây, nghiễm nhiên được xem là một thành viên sáng lập quán Văn.

Để có kinh phí “nuôi quân”, quán Văn bán cà phê phục vụ sinh viên học sinh và khách vãng lai. Vào mỗi tối cuối tuần thứ bảy, chủ nhật có sân khấu để trình diễn văn nghệ. Nói sân khấu chứ thật ra chỉ là một bãi cỏ trong khoảng sân rộng trước quán cà phê Văn. Người viết còn nhớ quán Văn xây dựng rất sơ sài, mái lợp tôn, vách bằng cót ép, bàn ghế thấp, trang trí cũng rất văn nghệ.

Vị trí đẹp nhất của quán là quầy thu tiền có cô thu ngân xinh đẹp Nhuệ Giang mặc áo dài màu vàng ngồi trên ghế cao, trước mặt luôn có một bình hoa màu tím được thay hàng đêm, nhưng dù hoa gì cũng duy nhất một màu tím.

Cô thủ quỹ xinh đẹp này có rất đông anh chàng tới uống cà phê để “trồng cây si”, trong số đó có nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn (đã mất), tác giả của những tập truyện ngắn nổi tiếng như “Cô bé treo mùng”, “Thư về đường Sơn Cúc”… và chính Nhuệ Giang là nhân vật trong truyện ngắn “Ở một nơi ai cũng quen nhau” lấy bối cảnh từ quán cà phê Văn khá dễ thương của Hoàng Ngọc Tuấn.

Edited by user Tuesday, January 20, 2015 7:15:01 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#65 Posted : Tuesday, January 20, 2015 7:19:25 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Khánh Ly- giấc mộng dài qua hình bóng Trịnh Công Sơn (kỳ 2)


UserPostedImage


Nếu tính từ thời điểm nhạc sĩ Trịnh Công Sơn gặp ca sĩ Lệ Mai ở hộp đêm nổi tiếng Tulipe Rouge (hoa tulipe hồng) tại thành phố Đà Lạt vào năm 1964 rồi chia tay, tới cuộc tái ngộ vào buổi chiều nắng đẹp ở Sài Gòn vào năm 1967 thì khoảng cách thời gian của cuộc chia tay và gặp lại rất tình cờ là 3 năm.

Còn nếu tính thời gian Khánh Ly hát trên sân khấu phòng trà ca nhạc Anh Vũ rồi rời bỏ Sài Gòn về Đà Lạt thì khoảng cách thời gian-không gian là 6 năm. Trong cả hai khoảng thời gian-không gian đó ở hai con người có hai số phận khác nhau này đều có những thay đổi, biến chuyển theo dòng đời và mỗi bước đi của lịch sử.

ĐỐT CHÁY SÂN CỎ QUÁN VĂN

Để có một không khí hoàn toàn mới trong một không gian mới cho quán Văn và con chim sơn ca núi đồi Đà Lạt xuất hiện nên thay vì lấy tên ca sĩ Lệ Mai, anh em quán Văn, Trịnh Công Sơn và Lệ Mai nhất trí dùng tên Khánh Ly để “lên” pano quảng cáo. Tối đó không cần bán vé, chỉ tăng tiền cà phê và tăng… ghế ngồi không cần bàn. Những chiếc ghế ngồi hình vuông bằng gỗ, thấp lè tè với một khoảng đất trống đầy cỏ không cần dựng sân khấu thì rất phù hợp với kiểu ngồi dã chiến vừa uống cà phê vừa nghe nhạc mà những chiếc ghế vuông, thấp vừa dùng làm ghế ngồi vừa làm bàn đặt vài ly cà phê cho một đôi tình nhân hay nhóm bạn ngồi vòng quanh thì không còn gì “tận dụng khoảng trống” hơn.

Khánh Ly là nghệ danh của Nguyễn Thị Lệ Mai. Nó mang ý nghĩa gì? Khánh Ly là tên được ghép lại từ tên hai nhân vật lẫy lừng trong bộ “Đông Chu Liệt Quốc”, hai người này là Khánh Kỵ và Yêu Ly, bỏ chữ cuối tên đầu, lấy chữ cuối tên sau thành ca sĩ Khánh Ly. Hay lắm, từ bây giờ và về sau trên vòm trời ca nhạc sẽ có một con chim sơn ca giọng không lãnh lót mà khàn khàn, đục đục, nhừa nhựa, một vài chữ phát âm hơi đớt đớt không “đụng hàng” làm người nghe cô hát ấn tượng đến phát ghiền như một thứ “ma túy” tinh thần phi vật thể xuất hiện. Thế là nhóm nhạc 2 người mới được thành lập còn nóng hổi bắt tay vào tập các ca khúc của Trịnh Công Sơn kết hợp giữa tình ca và “phản chiến”.

Trịnh Công Sơn ôm cây ghi-ta thùng cũ kỹ đã theo anh suốt những ngày lãng du từ Huế-Sài Gòn-Bảo Lộc-Đà Lạt rồi lại Sài Gòn lúc nào cũng dựng ở góc quán Văn. Khánh Ly say sưa hát: Diễm xưa, Tình nhớ, Tình sầu, Tình xa, Ưới mi, Thương một người, Như cánh vạc bay, phôi pha… chuyển qua Đại bác ru đêm, Ca dao mẹ, Xin mặt trời ngủ yên, Người con gái việt Nam da vàng, Ngày dài trên quê hương, Gia tài của mẹ…

Tối đó không thể ngờ, cả một rừng người ngồi phía dưới hướng mắt lên sân khấu. Anh em quán Văn mừng rỡ ôm nhau tự chúc mừng thành công bước đầu của quán cà phê “văn nghệ” đã mở được lối ra tài chánh để “nuôi quân” và nuôi sức bền của một loại hình giải trí mang tên “quán cà phê văn nghệ” khởi thủy ở Sài Gòn trước năm 1975.

Anh em quán Văn có sáng kiến dựng sân khấu cơ động bằng cách lấy những két bia đâu lại với nhau thành một cái sân khấu hình vuông vừa chỗ đứng cho Khánh Ly, còn Trịnh Công Sơn không cần sân khấu, anh ôm đàn cây đàn thùng đứng dưới cỏ. Từ lúc 7 giờ tối, khách đã ngồi dài từ trong ngôi quán nhỏ hẹp ra chật sân cỏ, mỗi người một tách cà phê, ly đá chanh, chai nước ngọt…anh em quán Văn bưng bê, chạy bàn phục vụ khách mệt xỉu, cô thủ quỹ xinh đẹp Nhuệ Giang áo dài vàng, sau bình hoa tím ngồi trên quầy cao thu tiền cũng mệt nghĩ. Đúng 8 giờ chương trình bắt đầu, Khánh Ly bước ra sân cỏ trong chiếc áo dài trắng, mang guốc cao gót y như một nữ sinh trung học. Năm đó cô 20 tuổi, cao vừa, vai gầy guộc, gương mặt trang điểm nhẹ, tóc dài xõa vai, đôi mắt to, sâu đen thăm thẳm. Trịnh Công Sơn tóc dài, bồng bềnh phủ gáy, kiếng cận gọng đồi mồi quen thuộc, đóng thùng, áo mi tay dài rộng thùng thình cố hữu, quần jean xanh bụi bặm một nét rất đặc trưng của phong cách ăn mặc Trịnh Công Sơn thời đó. Anh rất gầy gò, nghệ sĩ từ tâm hồn ra tới hình hài.

Sau mấy dòng “phi lộ” của MC, nhà thơ Hoàng Xuân Sơn giới thiệu Khánh Ly và Trịnh Công Sơn khởi đầu cho những đêm văn nghệ cuối tuần đặc biệt của quán Văn tiếng vỗ tay rào rào không ngớt nổi lên từ khán giả, mà số đông chỉ biết nhiều về Trịnh Công Sơn chứ chưa biết mấy về Khánh Ly nhưng bầu không khí về đêm của mảnh đất trống trước mặt quán Văn trong khuôn viên phía sau trường đại học Văn Khoa Sài Gòn đã được hâm nóng lên thành một mồi lửa. Hoàng Xuân Sơn giới thiệu ngắn gọn rồi bước xuống, Khánh Ly trong chiếc áo dài trắng nữ sinh nhẹ nhàng vịn vai Trịnh Công Sơn bước lên sân khấu đứng sau micro có chân đứng cao. Ca khúc “Diễm Xưa” được mở đầu cho phần một: “Tình ca”, bằng tiếng đệm đàn quen thuộc của nhạc sĩ họ Trịnh. Khi ca sĩ Khánh Ly cất giọng: “Mưa vẫn hay mưa trên tầng tháp cổ, dài tay em mấy thủa mắt xanh xao…”, cả mấy trăm khán giả ngồi bên dưới im phăng phắc. Sau mỗi bài hát là tiếng vỗ tay vang lên để tiếp thêm lửa và khi Trịnh Công sơn chuyển tiếng đệm đàn qua phần nhạc “phản chiến” với bài “Dồng dao hòa bình” giai điệu sôi nổi và Khánh Ly cất giọng ca thì gần như sân cỏ của quán Văn như bị đốt cháy. Khánh Ly hát liên tục hết bài này đến bài khác, hát say sưa và phấn khích đến nổi cô bỏ guốc bước hẳn xuống sân cỏ khi tiếng đệm đàn của Trịnh Công Sơn bị tiếng vỗ tay “át giọng” và chỉ còn giọng hát Khánh Ly với tiếng vỗ tay làm nhịp. Có bài Khánh Ly phải hát tới lần thứ 8 theo yêu cầu của khán giả mà không khí vẫn còn ngùn ngụt. Từ đêm hát như thế, khán giả đã đặt cho Khánh Ly biệt danh”nữ hoàng sân cỏ” hay “nữ hoàng chân đất”. (còn tiếp)

Ở MỘT NƠI AI CŨNG QUEN NHAU

Đây là tên một truyện ngắn của nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn viết về quán cà phê Văn của trường đại học Văn Khoa Sài Gòn cũ. Thời đó, quán cà phê này không chỉ dành cho khách đến đây uống cà phê rồi quen nhau thành bạn hay thành những đôi tình nhân đầy lãng mạn của nhữ đêm cà phê nhạc Sài Sòn mà chính bạn bè thân hữu của nhóm chủ trương quán cũng có thêm bạn mới và đặc biệt Khánh Ly đã không trở về Đà Lạt mà ở luôn lại Sài Gòn để gắn bó với quán Văn, anh em chủ trương quán và nhất là với Trịnh Công Sơn. Họ trở thành một “cặp đôi” văn nghệ của định mệnh mệnh và nhạc của Trịnh Công Sơn được tiếng hát của Khánh Ly đẩy bay vút lên, lan xa và không thể phủ nhận nhờ giọng hát Khánh Ly mà nhạc Trịnh Công Sơn đi sâu, lan rộng vào quần chúng bắt đầu từ ngôi quán Văn, nghèo nàn, xập xệ nhưng hừng hực “máu lửa”. Ngược lại Khánh Ly cũng nhờ nhạc Trịnh Công sơn mà thành danh, trở thành một hiện tượng đặc biệt của thế giới âm nhạc Sài Sòn.

Giai đoạn này Khánh Ly xuất hiện “độc quyền” trên sân cỏ quán Văn vào những đêm cuối tuần và góp phần làm nên hiện tượng “cà phê văn nghệ” của Sài Gòn vì sau đó là hàng loạt các quán cà phê văn nghệ dạng quán Văn được mở ra như Thằng Bờm của nhóm sinh viên Luật khoa ở góc đường Nguyễn Thái Học-Phạm Ngũ Lão, Hầm Gió của nhóm Nam Lộc-Tùng Giang ở đường Võ Tánh ( Nguyễn Trãi) bây giờ. Khánh Ly hòa nhập vào sinh hoạt quán Văn cũng như anh em chủ trương quán như người nhà. Ban ngày hầu như tất cả đều có mặt ở quán để duy trì hoạt động quán và tập những ca khúc mới của Trịnh Công Sơn. Khánh Ly rất vui tánh, tếu táo đủ thứ chuyện trên đời với anh em và gắn bó với điếu thuốc lá như một người bạn không rời. Khánh Ly hút thuốc cán Salem rất sành điệu trong cách cầm hờ hứng điếu thuốc ở hai đầu ngón tay, cách rít thuốc, nhả khói trắng thành vòng tròn khi tư lự.

Chính ở ngôi quán nhỏ này, tiếng hát Khánh Ly đã bay lên như những vòng khói trắng, tản ra trên bầu trời vừa lãng mạn, huyền hoặc để rồi trở thành một Khánh Ly nổi danh, đình đám trên bầu trời ca nhạc miền Nam sau này. Và “ở một nơi ai cũng nhau” ấy Khánh Ly trở thành một cái tên… ai cũng quen biết dù chỉ nghe giọng chứ chưa từng biết mặt cô.


Nhà văn Từ Kế Tường

Edited by moderator Sunday, April 5, 2015 10:19:40 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#66 Posted : Tuesday, January 20, 2015 7:24:37 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Khánh Ly - Giấc mộng dài qua hình bóng Trịnh Công Sơn (kỳ 3)


Sự xuất hiện của Khánh Ly bên Trịnh Công Sơn trên sân cỏ quán Văn đã trở thành một hiện tượng mới trong sinh hoạt của thanh niên, sinh viên, học sinh lúc bấy giờ. Người ta chờ đợi những đêm cuối tuần để đến đây uống cà phê và nghe Khánh Ly hát...

UserPostedImage

Phải nói rằng giọng hát của Khánh Ly rất khỏe, mỗi đêm thứ bảy, chủ nhật Khánh Ly hát không dưới 20 ca khúc của nhạc sĩ họ Trịnh.

Đêm cướp micro và 2 phát súng trên sân cỏ quán Văn

Chương trình văn nghệ được sắp xếp theo một công thức “3 phân khúc, đoạn đầu hát “tình ca”, đoạn giữa hát “du ca-phản chiến”, đoạn cuối trở lại “tình ca” và những ca khúc của Trịnh Công Sơn được khán giả yêu cầu Khánh Ly hát lại. Hầu như ca khúc nào hát tuần trước, tuần sau khán giả cũng đều yêu cầu Khánh Ly hát lại trong “phân khúc 3” trước khi quán Văn đóng cửa.

Thường thì quán đóng cửa rất muộn, nhưng đó chỉ là đối với khách bên ngoài chứ từ giờ phút này mới thật sự là thời gian, không gian riêng của anh em quán Văn và thân hữu ngồi nán lại sinh hoạt nội bộ, chè cháo, ăn khuya và… lai rai tới tận giờ giới nghiêm, có người vội vã phóng xe máy ra về, có người ở lại. Lúc đó Khánh Ly hát mộc, không cần micro, tiếng hát về khuya của Khánh Ly có “chút men cay đắng” và khói thuốc Salem càng nghe càng nghèn nghẹn, nhất là khi Khánh Ly hát “Phôi pha” của Trịnh Công Sơn.

Tất nhiên với những đêm nhạc “phản chiến” tổ chức công khai như vậy trong đám đông khán giả hàng mấy trăm người, có đêm cả ngàn người ngồi chật kín sân cỏ không thể không có an ninh, cảnh sát chìm của chế độ Sài Gòn, nhưng quán Văn nằm trong khuôn viên trường đại học Văn Khoa Sài Gòn, lại dưới sự bảo trợ của tổ chức CPS nên an ninh, mật vụ của chế độ cũ cũng chỉ theo dõi rồi báo cáo về cấp trên chứ chẳng dám làm gì khi chưa có lệnh.

Hơn nữa, sinh hoạt quán cà phê nhạc kiểu quán Văn trong thời gian này đã mở ra rất nhiều trong thành phố. Thà để cho thanh niên, sinh viên, học sinh có chỗ giải trí mỗi đêm, thưởng thức nhạc “du ca”, “phản chiến” vẫn còn hơn là kéo nhau xuống đường biểu tình chống đối chính quyền và đốt xe Mỹ. Có thể những quán cà phê sinh hoạt văn nghệ như thế không phải là vô thưởng vô phạt, nhưng chính quyền Sài Gòn thấy chưa đến lúc cần thiết phải ra tay trấn áp, tém dẹp. Nếu không muốn nói làm như thế là đổ xăng vào lửa làm khơi dậy những cuộc biểu tình.

Nếu đã có sự hiện diện của an ninh, mất vụ chế độ cũ trong những đêm ca nhạc của Trịnh Công Sơn - Khánh Ly thì trong đám đông sinh viên, học sinh chắc chắn cũng có người của cách mạng hoạt động nội thành.

Tôi còn nhớ đã từng gặp Tôn Thất Lập ở đây, hồi đó anh hoạt động trong phong trào và tôi cùng Đặng Tấn Tới in tờ báo lậu mang tên Vận Động, báo chỉ có mấy anh em làm, tự bỏ tiền ra in, và có khi in thiếu ở một nhà in nằm trên đường Trần Kế Xương Gia Định. Báo in xong tự mang đi phát hành dạng ký gửi ở mấy sạp báo trên đường Lê Lợi, nhất là quầy sách báo của cô Nga ốm ngay góc đường Nguyễn Trung Trực - Lê Lợi, cạnh quán nhạc Minh Phát, đối diện bên kia đường là cà phê Kim Sơn. Mấy anh em mà vừa làm báo vừa làm xuất bản, lấy tên là Nhà xuất bản Vận Động in tác phẩm đầu tiên là tập ca khúc “Tiếng hát về khuya” của Tôn Thất Lập. Đêm trước khi Tôn Thất Lập ra chiến khu, Đặng Tấn Tới và tôi đã mang mấy chục tập “ Tiếng hát về khuya” tới quán Văn để trao cho anh.

Rồi một đêm trong không khí náo nhiệt của quán Văn như thường lệ, giữa “phân khúc 2” của chương trình nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn, Khánh Ly đang hát rất “máu lửa” thì Ngô Vương Toại đề nghị tạm nghỉ giải lao 10 phút để lên micro thông báo việc chuẩn bị kế hoạch bầu ban chấp hành sinh viên trong năm tới.

Bất ngờ một đôi nam nữ thanh niên từ dưới đám đông đi rất nhanh lên chỗ Ngô vương Toại, cô gái cướp micro tuyên bố kỷ niệm 7 năm thành lập “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”. Ngô Vương Toại giật lại liền bị anh thanh niên rút súng giấu trong người ra bắn ngã quỵ, Ngô Văn Tấn nhào lên cố lấy micro liền lãnh ngay một phát đạn vào chân.

Hai phát súng đủ làm náo loạn đêm nhạc ở quán Văn và đôi thanh niên nam nữ hoạt động nội thành nhanh chóng biến vào dòng người hỗn loạn tháo chạy ra ngoài trước khi công an, mật vụ chế độ Sài Gòn có mặt.

Quán Văn đóng cửa, Khánh Ly đi đâu?

Sau đêm náo loạn ấy quán Văn chỉ còn bán cà phê cầm chừng chứ không tổ chức sinh hoạt văn nghệ nữa. Không lâu sau đó, nhóm chủ trương quán Văn được thông báo dẹp quán để người ta đập đại học Văn Khoa ra lấy đất trống xây Thư viện quốc gia còn đại học Văn Khoa dời về đường Cường Để (Đinh Tiên Hoàng) bây giờ.

Quán Văn đóng cửa, anh em, bạn bè tản mác dần, mỗi người đi mỗi nơi. Khánh Ly không còn gắn bó với Trịnh Công Sơn nữa mà đi hát phòng trà, trong nhóm anh em thân hữu với quán Văn thì Trịnh Công Sơn và Hoàng Ngọc Tuấn là hai người rời nơi đây muộn nhất. Hoàng Ngọc Tuấn bị động viên vào trường Bộ binh Thủ Đức, ra chuẩn úy rồi thành anh sĩ quan bộ binh rày đây mai đó.

Riêng Trịnh Công Sơn thì tiếp tục sự nghiệp…trốn quân dịch, lang thang ở Sài Gòn tối về ngủ trong khu nhà tiền chế của đại học Văn Khoa mới, tuy không phải là sinh viên của trường nhưng ở đây anh có rất nhiều bạn bè để có thể tá túc, vừa trốn lính, vừa sáng tác.

Khánh Ly lúc bấy giờ đã nổi tiếng như cồn, thành giọng ca chính của rất nhiều phòng trà lớn, được các hãng băng, đĩa mời thu âm như Phạm Mạnh Cương, Trung tâm Trường Sơn, Sơn Ca, Họa Mi, Jo Marcel…

Đây là thời kỳ lẫy lừng của Khánh Ly với những ca khúc của Trịnh Công Sơn, băng, đĩa của Khánh Ly tràn ngập thị trường âm nhạc Sài Gòn và miền Nam, quán cà phê nào cũng mở nhạc có giọng hát Khánh Ly. Không nghi ngờ gì nữa, chính sân cỏ quán Văn là bệ phóng để trong chưa đầy một thập niên từ một giọng hát chưa có tên tuổi, Khánh Ly đã trở thành một ca sĩ hàng đầu, ngang với Thái Thanh, Mai Hương, Kim Tước, Lệ Thu, Quỳnh Dao, Hà Thanh…

Khi đã lên đến đỉnh vinh quang, Khánh Ly muốn làm bà chủ một dạng quán cà phê giống như quán Văn và cô đã mở Hội quán Cây Tre tọa lạc tại số 2bis Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao, Q1 (gần sân vận động Hoa Lư) vào năm 1968. Quán cà phê có sân khấu trình diễn ca nhạc của Khánh Ly khá bề thế, khách thuộc thành phần văn nghệ sĩ, trí thức, thanh niên, sinh viên, học sinh cấp II-III.

Vào thứ bảy, chủ nhật cuối tuần cũng có chương trình văn nghệ. Chính ở đây các cặp Từ Dung-Từ Công Phụng, Lê Uyên-Phương, Trầm Tử Thiêng-Thanh Lan rồi về sau Vũ Thành An-Thanh Lan, Nguyễn Đức Quang-Ban Trầm Ca… mới có đất để tung hoành, góp phần tạo nên một diện mạo văn nghệ Sài Gòn của thập niên 1960-1970. Cũng chính ở Hội quán Cây Tre, Khánh Ly đã sản xuất và phát hành những cuốn băng nhạc Trịnh Công Sơn, giọng hát Khánh Ly mang tựa đề: “Trịnh Công Sơn-Khánh Ly, hát cho quê hương Việt Nam”.

Nhưng Hội quán Cây Tre dù rất nổi tiếng, quy tụ được những cặp đôi ca hát lừng lẫy cũng không trụ được lâu, khách thưa vắng dần vì quanh đi quẩn lại cũng chỉ có bao nhiêu gương mặt nên Khánh Ly dẹp quán đi kinh doanh phòng trà.

Cô đứng ra khai thác phòng trà Khánh Ly ở số 12-14 Tự Do (Đồng Khởi) bây giờ, cùng với cô em gái cũng là ca sĩ Ngọc Minh. Thời điểm này Khánh Ly đã là bà chủ một phòng trà bề thế, nổi tiếng ở khu trung tâm thương mại lớn nhất thành phố Sài Sòn thời cực thịnh của thế giới giải trí. Là một trong những nghệ sĩ giàu có kiếm được nhiều tiền bằng giọng hát của chính mình và biết khai thác tên tuổi cũng của chính mình trên lĩnh vực kinh doanh.

Điều đặc biệt là trong lúc ca sĩ Khánh Ly quy tụ về hát cho phòng trà của cô rất nhiều ngôi sao, nghệ sĩ thời bấy giờ nhưng không có Trịnh Công Sơn và ca sĩ Lệ Thu.

Về Trịnh Công Sơn, lý do để anh không xuất hiện trên sân khấu phòng trà của Khánh Ly hay bất cứ phòng trà nào của Sài Gòn thời đó, thứ nhất do Trịnh Công Sơn trốn quân dịch, không thể đường hoàng xuất hiện trước những nơi mà an ninh bản thân không bảo đảm và với bất cứ lý do nào cảnh sát chìm, cảnh sát nổi cũng có thể bắt giữ anh chỉ với… một lý do đơn giản là tội trốn lính trong khi ở thời điểm này Trịnh Công Sơn lại mang danh là “nhạc sĩ phản chiến, thân cộng”.

Thứ hai, phong cách Trịnh Công Sơn không phù hợp khi đứng hát ở chốn ăn chơi, giải trí hào nhoáng, phù phiếm như sân khấu phòng trà, vũ trường. Ở những chỗ ấy anh chỉ làm khán giả thì được nhưng hầu như sự có mặt của anh cũng chỉ là xã giao, bạn bè rồi tìm cách rút lui. Phong cách trình diễn và nhạc của Trịnh Công Sơn một là ở một không gian nhỏ hẹp, thân mật với một nhóm bạn, hai là ở các sân trường trước đám đông học sinh, sinh viên, thanh niên.

Còn về Lệ Thu, chị không hát ở phòng trà của Khánh Ly cũng rất dễ hiểu nguyên nhân. Thời đó, có dư luận cho rằng Khánh Ly và Lệ Thu không ưa nhau chỉ vì “con gà tức nhau tiếng gáy”. Nơi nào có Lệ Thu là không có Khánh Ly và ngược lại. Do đó khi xếp giờ hát ở phòng trà, trưởng ban nhạc cũng xếp lệch giờ để Khánh Ly không chạm mặt Lệ Thu và ở các chương trình biểu diễn văn nghệ khác cũng thế.

(còn tiếp)

Từ Kế Tường
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#67 Posted : Tuesday, January 20, 2015 7:30:09 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Khánh Ly - Giấc mộng dài qua hình bóng Trịnh Công Sơn (kỳ 4)


UserPostedImage



Trước năm 1975, chuyện văn nghệ sĩ nổi tiếng vướng scandal là chuyện thường ngày ở huyện, bởi báo chí thời nào cũng phải cạnh tranh khốc liệt để tồn tại, nên phải dùng nhiều chiêu trò để hấp dẫn độc giả. Mà đối tượng để thả một trái bom tấn khiến dư luận phải “choáng váng” là những văn nghệ sĩ nổi tiếng.


Scandal Khánh Ly nghiện ma túy

Do đó chuyện diễn viên A, ca sĩ B, người đẹp C, bất ngờ bị lên báo là chuyện bình thường, vấn đề là các tờ báo đó khai thác theo dưới góc độ nào, cái nhìn ra sao, có tâm, có tầm hay… chơi xả láng. Có tâm là không đánh nốc-ao cho khiến cho nghệ sĩ đó chết luôn, có tầm là chỉ đưa 70% sự việc chừa 30% để đối phó, ứng xử và phải biết lượng giá tiềm năng của sức hút dư luận vào vấn đề. Nhưng đó là vấn đề khác không thuộc phạm vi bài này khi nào viết hồi ký “làm báo ở Sài Gòn” tác giả sẽ đề cập đến, nhiều chiêu trò đã vực dậy nhiều tờ báo sắp ngủm củ tỏi vì… rớt độc giả thê thảm.

Trở lại việc ca sĩ Khánh Ly bị vướng sancal nghiện ma túy vì cô cũng không ngoại lệ. Chuyện rằng, một hôm Khánh Ly đi chung trên xe ô tô của một “ông cớm” quận 1 lên Thủ Đức có việc cần, đi được nửa đường thì bị một nhóm cảnh sát thuộc quyền của một “ông cò” đối nghịch chận lại kiểm tra, khám xét cốp sau xe phát hiện có một bộ bàn đèn hút thuốc phiện.

Trên xe của một “ông cò” mà có bàn đèn hút thuốc phiện là chuyện “động trời”, không cần biết bộ dụng cụ “bắn khỉ” này từ đâu mà có, nhưng nếu để “ông cò” quận 1 mà “lãnh thẹo” vụ này, rồi báo chí chộp lấy đưa tin thì cuộc đời của “ông cớm” một quận trung tâm Sài Gòn sẽ đi đứt. Do đó Khánh Ly liền nhận bộ bàn đèn đó là của cô, nhưng không phải để hút thuốc phiện mà là để trang trí cho vui.

Khánh Ly là một ca sĩ nổi tiếng, ai cũng quen mặt, biết tên và với việc chỉ phát hiện bộ bàn đèn mà không bắt được quả tang đang hút thì cũng chẳng có cơ sở nào để xử lý nên chuyện… cho qua.

Tuy nhiên báo chí thì vớ được một món bở nên hê lên là ca sĩ Khánh Ly… nghiện thuốc phiện, đi du hí mà còn mang theo bộ bàn đèn để “bắn khỉ” khi tới cử. Dư luận lập tức bị “sốc” với tin này, một số tờ báo khai thác sự việc thì số lượng tăng lên đột xuất, còn ca sĩ Khánh Ly thì khóc dở, mếu dở cậy nhờ một số nhà văn, nhà báo thân tình tìm cách viết tin, viết bài đính chính.

Lại một dịp bán báo nữa, nhưng Khánh Ly thì không làm sao đính chính được hết dư luận. Thêm vào đó giọng hát Khánh Ly “nhừa nhựa” như ma túy, các báo phết luôn cho Khánh Ly “thương hiệu”… ”giọng hát ma túy” thì cô hết đỡ.

Sầu nữ lận đận đường tình

Khánh Ly hát hay, nói chuyện tếu táo, đấu hót với anh em văn nghệ rất vui và rất thông minh, có duyên. Nhưng không phải là một phụ nữ đẹp đến hớp hồn đàn ông, thời mới ở Đà Lạt xuống Sài Gòn đi hát với Trịnh Công Sơn Khánh Ly mới 20 tuổi, gương mặt tròn, đôi mắt to, sâu đen thăm thẳm, mái tóc dài bồng bềnh xõa vai lúc ấy Khánh Ly là một cô gái dễ thương chứ không phải là một mỹ nhân sexy dù là một ca sĩ trẻ có cuộc sống phóng khoáng.

Khánh Ly sở hữu nước da ngăm nên chụp hình rất “ăn ảnh”, bây giờ nhìn lại những tấm ảnh ngày xưa không ai phủ nhận Khánh Ly là một trong không nhiều nữ ca sĩ đẹp ở Sài Gòn thời đó.

Nhưng đàn ông không phải yêu Khánh Ly vì nhan sắc mà vì cả hai, trong đó giọng hát Khánh Ly là chính vì nó có sức thu hút mãnh liệt, nhất là khi Khánh Ly đứng trên sân cỏ quán Văn mặc áo dài, đi chân trần mà hát rất “máu lửa” những ca khúc phản chiến của nhạc sĩ họ Trịnh, khiến khán thính giả ngồi bên dưới nghe và nhìn cũng “máu lửa“ theo. Tiếng hát Khánh Ly là tiếng hát “truyền lửa” cho đám đông, không chỉ là nhạc “Phản chiến” mà khi cô hát tình ca của Trịnh Công Sơn cũng thế, làm người nghe phải nghẹn lòng với “Ướt mi”, “Thương một người”, hay “Phôi pha”…

Trước năm 1975 tôi đã gặp Khánh Ly nhiều lần và một lần ở Hội quán Cây Tre trên đường Đinh Tiên Hoàng Đa Kao để phỏng vấn cô, viết bài.

Tôi còn nhớ hôm ấy vào buổi sáng, khoảng hơn 9 giờ có hẹn trước với Khánh Ly và tôi đã đến đúng hẹn. Khánh Ly nằm trên chiếc ghế sô-pha hóng nắng đang lên ngoài thềm cửa qua những tán lá tre xòe ra. Chắc là vừa thức dậy sau một đêm khó ngủ nên trông chị có vẻ lười biếng, mặt không trang điểm, váy hoa màu vàng có những bông cúc trắng đại đóa, hai ngón tay hờ hững cầm điếu thuốc Salem hút dở. Cứ thế chúng tôi nói chuyện không đầu, không đuôi, không ra một bài phỏng vấn nhưng khá đầy đủ.

Hồi đó là sau giai đoạn quán Văn và trong cách nói chuyện, tôi nhận ra Khánh Ly sẽ là một người phụ nữ lận đận trong tình duyên vì cá tính khá mạnh mẽ.

Quả y như rằng, sau đó Khánh Ly gặp một người đàn ông giàu có không dính dáng gì với giới nghệ sĩ, anh ta là một dân chơi thứ thiệt, nghe “hổn danh” là biết: Minh “đĩ”. Anh ta có bà chị ruột lấy một đại tá không quân và nhờ uy thế của ông anh rể, Minh “đĩ” đã vào binh chủng không quân làm lính kiểng, cấp bậc trung sĩ. Sau khi có 2 mặt con họ chia tay nhau.

Chẳng bao lâu sau, Khánh Ly “đụng” Mai Bá Trác, một đại úy biệt kích thuộc lực lượng đặc biệt (LLĐB) và anh này làm trưởng trại LLĐB Thiện Ngôn đóng ở Tây Ninh sát biên giới Camphuchia. Hồi ấy đừng tưởng chức trưởng trại LLĐB ở biên giới là một chức “quèn” mà đích thị là “làm vua một cõi”. Bởi lẽ Mai Bá Trác nắm trong tay 5 Đại đội biệt kích gồm toàn lính Miên (Khmer) và lính dân tộc thiểu số. Lính biệt kích thì không anh nào có số quân nhưng được Mỹ trả lương hậu hĩ, đây là những cảm tử quân và một khi đăng lính biệt kích thì coi như đã cầm chắc… cái chết, không chết sớm cũng chết muộn. Nói chung là ra đi không về nên vợ con được hưởng tiền tử tuất trước một lần, trọn gói.

Mai Bá Trác ở cương vị trưởng trại lực lượng biệt kích chơi trò tuyển dụng “lính ma”, “lính kiểng. Chỉ trong một đại đội có vài chục “lính ma”, “lính kiểng” thì hàng tháng Mai Bá Trác bỏ túi khoảng “lương ma” này khá bộn. Bởi thế nên anh ta có cả xe ô tô, nhà lầu ở Sài Gòn, tháng nào “lãnh lương” xong Mai Bá Trác cũng về Sài Gòn ăn chơi một chuyến xả láng, tiêu tiền như nước. Mai Bá Trác đóng đô ở vũ trường của Khánh Ly và với đồng tiền nặng túi, khí thế ngang tàng của sĩ quan biệt kích Mai Bá Trác đã “cưa đổ” được Khánh Ly. Cô sống với anh ta được một mặt con rồi chia tay.

Một người đàn ông khác lại đến với cuộc đời Khánh Ly, đó là Trung tá Đỗ Hữu Tùng, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 6 Thủy quân lục chiến. Khánh Ly gặp Đỗ Hữu Tùng trong một dịp đi tiền đồn hát năm 1972 mùa hè đỏ lửa. Hai người vừa gặp nhau thì bị “tiếng sét ái tình”, họ đã trở thành một cặp tưởng như “hoàn hảo” nhưng Đỗ Hữu Tùng đã tử trận tại bãi biển Đà Nẵng năm 1975, gần ngày thống nhất.

Sau năm 1975, trên đường sang Mỹ, Khánh Ly đã gặp Nguyễn Hoàng Đoan, ký giả của một số tờ báo trước năm 1975 và trở thành vợ chồng gắn bó cho tới bây giờ. Đoan trước khi vào Sài Gòn làm báo là một nhà thơ, cùng với Huyền Anh trong nhóm “Bằng hữu giới tuyến” ở Quảng Trị. Đoan sau này lập gia đình với nhà báo Lam Thiên Hương, có 2 đứa con gái. Năm 1972 Đoan vẫn còn làm báo, nhưng nghe đâu đã chia tay với Lam Thiên Hương.

Tháng 5.2000, Nguyễn Hoàng Đoan và Khánh Ly có về Việt Nam rồi trở về Mỹ. Chuyến đi này chỉ có mỗi mục đích là thăm gia đình chứ không dính gì tới ý định biểu diễn của Khánh Ly, dù có thể đã có nhiều lời mời. Hiện Khánh Ly định cư ở thành phố Cerritos bang California, Mỹ.

Khánh Ly ở hải ngoại

Sau khi định cư ở nước ngoài, Khánh Ly vẫn hoạt động ca hát và là một ngôi sao trong giới ca sĩ Việt Nam ở hải ngoại. Chị xuất hiện thường xuyên ở các show của chương trình Thúy Nga Paris By Night và những chương trình ca nhạc khác trong và ngoài lãnh thổ nước Mỹ.

Năm 1979, hãng đĩa lớn, uy tín của Nhật: Nippon Columbia đã mời Khánh Ly thu băng các nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, đây là lần thu băng thứ nhì của Khánh Ly ở Nhật. Trước đó vào cuối năm 1970 lúc còn ở Sài Gòn Khánh Ly đã có chuyến trình diễn tại 3 nước: Mỹ, Canada và Nhật Bản, đặc biệt tại Nhật Bản, hãng Nippon Columbia đã mời Khánh Ly thu băng lần thứ nhất vào dĩa vàng 2 nhạc phẩm của Trịnh Công sơn là “Diễm Xưa” và “Ca Dao Mẹ” và được chuyển dịch sang tiếng Nhật bán tới 2 triệu đĩa.

Lần đó Khánh Ly cũng được mời trình diễn ở Osaka Fair… Và trước đó nữa vào năm 1969 cặp Khánh Ly-Trịnh Công Sơn đã có chuyến lưu diễn tại Châu Âu, là ca sĩ đầu tiên của Việt Nam được mời trình diễn tại đây cũng như nhiều nước trên thế giới.

Đặc biệt Trịnh Công Sơn và Khánh Ly đã được các trường đại học lớn mời biểu diễn trước sinh viên với phong cách “du ca” nhóm nhạc có hai người: Trịnh Công Sơn đệm đàn ghi ta thùng cho Khánh Ly hát chứ không phải trình diễn với dàn nhạc hiện đại. Thế nhưng sức thu hút rất mãnh liệt, nghe kể Khánh Ly phải hát tới 4-5 tiếng đồng hồ và hát tới 45 ca khúc của Trịnh Công Sơn, có ca khúc Khánh Ly được yêu cầu hát đi hát lại nhiều lần nhưng chị vẫn hát rất say mê.

Ở Mỹ, Khánh Ly đã thành lập Trung tâm băng nhạc Khánh Ly và Khánh Ly Production đã sản xuất được 50 đĩa nhạc, 4 băng video của Khánh Ly, đồng thời Khánh Ly cũng cộng tác với trung tâm băng nhạc nổi tiếng khác như Asia Production, Mây Production… Bên cạnh việc hoạt động văn nghệ có doanh thu, Khánh Ly cũng rất nhiệt tình tham gia các chương trình văn nghệ mang tính từ thiện gây quỹ xây chùa, nhà thờ, trại mồ côi, các hội đoàn, trại tị nạn. Năm 1992, Khánh Ly được mới tham dự ngày Hội Thiếu Niên Thế Giới tổ chức tại Denver, Colorado (Mỹ) và Khánh Ly cũng là ca sĩ Việt Nam đầu tiên được gặp đức giáo hoàng Paul đệ nhị tới 2 lần.

Dù ở Việt Nam hay hải ngoại, Khánh Ly cũng vẫn là một ca sĩ nổi tiếng được thế giới biết tên tuổi và giới sinh viên, học sinh rất hậm mộ. Đài truyền hình NKH của Nhật Bản đã chọn Khánh Ly là 1 trong 10 nhân vật nổi tiếng để làm cuốn phim tài liệu về cuộc đời và gia đình cô, phim dài 50 phút do đạo diễn Nhật Bản - Hideo Kado dàn dựng và trình chiếu vào ngày 29.4.1997, đến tháng 9.1997 một quyển sách viết về cuộc đời Khánh Ly dày 270 trang viết bằng tiếng Nhật được đài truyền hình NKH của Nhật phát hành và bán tại Nhật.

(còn tiếp)

Từ Kế Tường

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#68 Posted : Saturday, January 24, 2015 8:00:31 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Khánh Ly - Giấc mộng dài qua hình bóng Trịnh Công Sơn (kỳ 5)


UserPostedImage


Nếu tính từ lúc Khánh Ly tái ngộ với Trịnh Công Sơn ở Sài Gòn sau cuộc gặp định mệnh ở hộp đêm Tulipe Rouge Đà Lạt mà Khánh Ly trong vai trò ca sĩ còn Trịnh Công Sơn là người đệm đàn thì khoảng cách thời gian đó là 3 năm.


GIẢI MÃ TÌNH YÊU CỦA KHÁNH LY &TRỊNH CÔNG SƠN


Nhưng nếu tính từ đêm Khánh Ly hát trên sân cỏ quán cà phê Văn trên bãi đất trống phía sau lưng của Trường đại học Văn Khoa Sài Gòn cho tới khi quán Văn đóng cửa làm hai người phải chia tay nhau thì sự gắn bó giữa Khánh Ly và nhạc sĩ họ Trịnh là 10 năm. Thời gian 3 năm đầu là mối tình sơ ngộ, 10 năm sau là mối lương duyên văn nghệ. Nếu như Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ tài hoa đã sáng tác ca khúc bằng thơ, hình ảnh, và màu sắc thì Khánh Ly chính là người sinh ra để hát nhạc Trịnh, để đưa những ca khúc này bay lên cao. Không ai có thể phủ nhận hai người là một “cặp đôi hoàn hảo” mà tạo hóa đã ban tặng cho nhân gian để làm đẹp cuộc sống bằng thứ âm nhạc mang nặng nỗi niềm mà người ta cần nó để yêu thương nhau hơn, dù nghe Khánh Ly hát tình ca hay ca khúc phản chiến của họ Trịnh, đôi lúc người ta chỉ muốn khóc.

Trong 10 năm sát cánh bên nhau mà như Khánh Ly đã từng nói hát chẳng có thù lao, đôi khi phải nhịn đói, nhịn khát mà hát, nếu không có một niềm đam mê và một tình yêu lớn lao thì chắc chị không trụ vững bên cạnh Trịnh Công Sơn tới ngần ấy năm cực kỳ gian khó. Nhiều người đã thắc mắc rằng có phải Trịnh Công Sơn đã yêu Khánh Ly và ngược lại, hai người đương nhiên là một đôi bạn diễn trên sân khấu cũng như trong tình yêu trải qua mọi buồn vui, sướng khổ của cuộc đời? Về phía Trịnh Công Sơn thì đã mất, nhưng ngay lúc còn sống, trải qua bao biến cố, thăng trầm của lịch sử, biến chuyển của xã hội và buồn vui thuộc về số phận không ai nghe anh nói về Khánh Ly với danh phận một người yêu của Trịnh Công Sơn đúng nghĩa theo tình yêu nam, nữ. Trịnh Công Sơn đã yêu thương Khánh Ly bằng một tình yêu lớn hơn tình yêu trai gái, đó là tình yêu đối với một người bạn, một cô em gái. Quả thật họ là một đôi bạn khác phái gắn bó với nhau 10 năm giữa đời, trải qua bao gian truân, nhọc nhằn, vui buồn, đau khổ, hạnh phúc, chất ngất kỷ niệm. Và vì quá hiểu nhau, yêu thương nhau mà không thể trở thành… hai người yêu nhau được.

Sau giải phóng một vài năm, khi tôi còn công tác ở quận 4, có mời Trịnh Công Sơn qua Nhà văn hóa Q4 nói chuyện và hát. Rồi thỉnh thoảng những tối thứ bảy cuối tuần Trịnh Công Sơn, Ngụy Ngữ, Nguyễn Trọng Khôi và tôi hú nhau tụ tập lại nhà anh Nguyễn Quang Sáng lúc đó còn ở góc Ngô Thời Nhiệm-Nam Kỳ Khởi Nghĩa ngồi dưới tán mận trong sân nhà anh Sáng uống rượu nói chuyện khào, tưng tưng lên Nguyễn Trọng Khôi ôm đàn hát “Như chiếc lá thu phai” của Trịnh Công Sơn. Anh chàng họa sĩ đàn hát tài tử này có chất giọng trầm, ấm từa tựa như Sĩ Phú hát “Như chiếc lá thu phai” thật buồn và được Trịnh Công Sơn khen hay. Khôi bèn cười hì hà và khiêm tốn: “tôi hát làm sao bằng Khánh Ly, bóng hồng trong tim anh”. Trịnh Công Sơn liền đính chính ngay: “ Tầm bậy, moa chỉ xem Lệ Mai như em gái, như một người…bạn trai thôi, ai nói sao mặc kệ”.

Còn Khánh Ly khi chị kể lại những kỷ niệm của thập niên 60 cơ cực nhưng ngập tràn hạnh phúc ấy đã khẳng định giữa chị và Trịnh Công Sơn thương nhau vô cùng, trên cả tình yêu trai gái. Khánh Ly thú nhận là chị đã rất can đảm, vì chỉ mới 20 tuổi mà dám bỏ nhà ở Đà Lạt về Sài Gòn đi hát với “anh Sơn”, hát 10 năm mà không có đồng xu cắc bạc nào, phải chịu đói, chịu khát, không cần biết đến ngày mai, không cần biết đến ai cả mà vẫn thấy cực kỳ hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi được hát. Và quả thật hai người đã đi bên nhau suốt cuộc hành trình 10 năm, một chặng đường dài với hình ảnh của một

”cặp đôi” văn nghệ, vượt ra ngoài mọi định kiến, phá vỡ quan niệm xưa cũ của dư luận và hồn nhiên sống, hồn nhiên ôm đàn hát giữa đời. Quả thật, Khánh Ly đã thú nhận chị xem Trịnh Công Sơn như một người anh, một người thầy và không hiếm al62n trước mặt bạn bè, Trịnh Công Sơn vẫn ngang nhiên la rầy Khánh Ly như một đứa em nhỏ, chị không buồn mà còn cảm thấy rất vui và hạnh phúc.


HƠN 17 NĂM XA CÁCH MỚI GẶP LẠI BÊN TRỜI TÂY


Thế rồi hơn 17 năm, tính từ ngày chia tay, Khánh Ly mới có dịp gặp lại Trịnh Công Sơn ở Canada. Khánh Ly kể rằng: “Chúng tôi đã ôm choàng lấy nhau, lúc này tôi mới cảm nhận chúng tôi thật sự có nhau, phải trong giấc mơ 17 năm. Hình như chúng tôi có cách nói mà chỉ hai chúng tôi mới hiểu, một cách nói ở bốn con mắt im lặng…Tất cả những điều cần nói, chính là những điều không bao giờ nói được bằng lời”. Và Khánh Ly-Trịnh Công Sơn một “cặp đôi” ca hát ngày nào ở tuổi thanh xuân hừng hực lửa sống và niềm đam mê, khát vọng cháy bỏng một thời tuổi trẻ, giờ đã ở ngưỡng cửa “tri thiên mệnh” lại sóng đôi bước dạo trên đường phố mùa đông không phải ở Sài gòn mà ở tận phía trời Tây. Khánh Ly đã chia sẻ thật lòng về cuộc gặp Trịnh Công Sơn năm ấy: “Bao nhiêu ngày tháng đi qua giữa chúng tôi. Anh vẫn không thay đổi nhiều, tôi cũng thế. Cả hai không thắc mắc về đời sống của nhau bởi 30 năm trước không hỏi thì 30 năm sau cũng không hỏi…Tôi quý những giây phút ở bên anh và tôi nghĩ, anh sẽ nói với tôi điều cần nói, nếu có”.

Nhưng có lẽ Trịnh Công Sơn đã không nói với Khánh Ly điều mà anh cần nói vì nó đã trở nên quá vô nghĩa và cũng vì giữa hai người quá hiểu nhau đến không thể nói điều gì khi trước ở Sài Gòn cũng như bây giờ ở trời Tây. Điều này cũng lý giải vì sao một con người tài hoa, đa cảm, tinh nhạy với mọi lẽ vô thường như Trịnh Công Sơn mà trong kho tàng âm nhạc đồ sộ của anh những hơn 600 ca khúc, chỉ nói riêng về tình ca luôn thấp thoáng bóng những người con gái như “Ướt mi”, “Thương một người”, “Diễm xưa”, “ Chiều một mình qua phố”, “Tình xa”, “Tình nhớ”, “Tình sầu”, “Như cánh vạc bay”, “Ru em từng ngón xuân nồng” đã không có bóng dáng của một Khánh Ly, một Lệ Mai thậm chí một “Mai đen” tên thân mật của Khánh Ly mà Trịnh Công Sơn vẫn thường gọi. Chính Khánh Ly cũng đã nhận biết điều này và chị cũng đã không thắc mắc vì đó là chuyện bình thường. “Ở đời, chỉ cần một tấm lòng”, Trịnh Công Sơn đã thường nói câu này và Khánh Ly đối với Trịnh Công Sơn hay ngược lại, chỉ cần “một tấm lòng” nghĩ về nhau là quá đủ.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mất vào ngày 1-4-2001, giữa bao nhiêu bạn bè thân, sơ đến phúng viếng, đưa tiễn người nhạc sĩ tài hoa về cõi thiên thu không có mặt của Khánh Ly, chị không về được, nhưng xuất phát từ một tấm lòng, Khánh Ly đã thốt lên: “Tôi đã chết nửa cuộc đời theo anh Sơn”. Thiết nghĩ một câu nói ấy đã quá đủ. Và quả thật như vậy, khi có dịp gặp nhau ở nước ngoài, Trịnh Công Sơn và Khánh Ly trở lại thành một “cặp đôi” đi biểu diễn thân mật cũng có, trên sân khấu hoành tráng cũng có. Hai người bạn với mối lương duyên văn nghệ này đã tiếp nối một cuộc hành trình sau hơn 17 năm gián đoạn mỗi người một bờ đại dương và tưởng rằng sẽ còn “ôm đàn đi hát giữa đời” với nhau nhiều năm nữa. Nhưng giờ đây Khánh Ly đã “chết nửa cuộc đời”, chắc chắn trong nửa cuộc đời còn lại Khánh Ly vẫn là người đàn bà hát nhạc Trịnh Công Sơn hơn nghĩa của một ca sĩ khi nào chị vẫn còn đứng trên khấu. Nhưng trong giấc mộng dài của đời mình đã thiếu đi hình bóng của một người nhạc sĩ tài hoa đã sáng tác ra những ca khúc như dành riêng cho Khánh Ly hát. Người nhạc sĩ tài hoa đó đã không thể có được một lần thứ hai.


Từ Kế Tường

Edited by moderator Sunday, April 5, 2015 10:15:09 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
CatLinh  
#69 Posted : Friday, January 30, 2015 3:04:33 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
Diễm xưa (Trịnh Công Sơn): Diễm của những ngày xưa

Thưở sinh thời, nhạc sỹ Trịnh Công Sơn từng rung động trước nhiều người con gái. Tuy nhiên câu chuyện với hai chị em ruột là Ngô Thị Bích Diễm (tức nhân vật trong bài ‘Diễm xưa’) và cô em Ngô Vũ Dao Ánh có lẽ là một giai thoại khó quên với giới yêu nhạc.

UserPostedImage

UserPostedImage

Có một câu chuyện vui về 2 chữ trong bài ‘Diễm xưa’: thay vì phải hát ‘nhỡ mai‘, rất nhiều người đã hát là “nhớ mãi’, mặc dù cái sai này khó phát hiện do cao độ của 2 nốt này làm ‘nhỡ mai’ rất giống ‘nhớ mãi’!

UserPostedImage

UserPostedImage

LỜI KỂ CỦA NGUYỄN ĐẮC XUÂN VỀ ‘DIỄM XƯA’

Khoảng năm 1962, gia đình Trịnh Công Sơn gặp khó khăn kinh tế, gian phố lớn ở đường Phan Bội Châu (Ngã Giữa) phải sang cho người khác và qua thuê một căn hộ ở tầng một dãy lầu mới xây ở đầu cầu Phủ Cam (Nhà số 11/3 Nguyễn Trường Tộ, hiện nay là nhà của anh chị Hoàng Phủ Ngọc Tường – Lâm Thị Mỹ Dạ).

Hằng ngày Trịnh Công Sơn đứng trên lầu ngắm các cô nữ sinh đi qua cầu Phủ Cam, đi dọc theo đường Nguyễn Trường Tộ đến trường Đồng Khánh. Trong đám xuân xanh ấy có cô Ngô Thị Bích Diễm – con gái thầy Ngô Đốc Kh.- người Hà Nội, dạy Pháp văn tại trường Đồng Khánh và trường Quốc Học Huế. Bích Diễm giống bố, người dong dõng cao, nét mặt thanh tú, bước đi thong thả nhẹ nhàng. Con người của Diễm rất hợp với cái tên Diễm và cũng thích hợp với tâm hồn bén nhạy của Trịnh Công Sơn.

UserPostedImage

Anh yêu Diễm mê mệt. Những ngày không thấy Diễm đi qua anh đau khổ vô cùng. Anh trông thấy con đường trước nhà “dài hun hút cho mắt thêm sâu”. Nhưng anh cũng biết gặp Diễm để nói lên nỗi đau ấy không phải là chuyện dễ. Thầy Ngô Đốc Kh. – thân sinh của Diễm, là một ông giáo rất nghiêm. Ông không thể chấp nhận một anh chàng chưa có bằng Đại học, tóc dài, cằm lún phún râu chuyện trò với các cô con gái đài các của ông. May sao lúc ấy họa sĩ Đinh Cường thuê nhà ở gần nhà Diễm để làm xưởng vẽ. Hai bạn canh chừng những khi thầy giáo có giờ dạy, mà Diễm đang ngồi ở nhà học bài thì hai bạn liền “liều” mình qua thăm. Những lần liều đầy mình ấy, có khi Diễm tiếp, có khi Diễm để cho người nhà tiếp và cũng có khi đang có bố ở nhà, Diễm tránh để cho khách ngồi chơi xơi nước rồi tự ý ra về. Khác với Ph.Th. (em ruột của ca sĩ Hà Thanh), Diễm biết Trịnh Công Sơn yêu mình và trái tim cô nhiều khi cũng rung động. Nhưng lúc ấy Diễm không thể vượt qua được sự nghiêm khắc của gia đình để nói cho tác giả Ướt Mi biết điều đó. Trịnh Công Sơn trút hết nỗi lòng yêu Diễm vào bài Diễm Xưa như sau nầy Sơn đã kể lại nhiều lần.

Có một điều lúc ấy Sơn không để ý: Những lúc Trịnh Công Sơn đến nhà Diễm, thì Dao A. – em gái của Diễm còn là một cô bé, nhỏ hơn Diễm đến bốn năm tuổi, chạy loăng quăng theo chị. Không ngờ chỉ mấy năm sau Dao A. trở thành một thiếu nữ xinh đẹp với khuôn mặt bầu bĩnh, dễ thương khác thường. Với cái cầu đã bắc từ hồi yêu Bích Diễm, nay Bích Diễm đã vào học Đại học ở Sài Gòn, tâm hồn của Sơn qua cây cầu cũ, nói như Đinh Cường “Sơn lại da diết với cái dáng vẻ khoan thai, áo lụa vàng của Dao A. để rồi thất vọng, để rồi…”.

Khác với những lần yêu trước, thất vọng về Dao A., Trịnh Công Sơn không bắt nhạc của anh phải mang cái gánh thất tình của anh. Không ngờ hai mươi năm sau, trải qua bao nhiêu dâu bể, từ bên Mỹ, Dao A. trở về Việt Nam tìm Trịnh Công Sơn. Không rõ Dao A. nói gì với Sơn, và còn gì nữa không, mà anh đã rất hài lòng với thực tại “Hai mươi năm xin trả nợ dài, Trả nợ một đời em đã phụ tôi” (Xin Trả Nợ Người). Trong hai mươi năm ấy, Dao A. đã có gia đình, đã hiểu rõ cuộc đời, nên “hết phụ” tình Trịnh Công Sơn. Như Đinh Cường đã viết: “Tháng cuối cùng trước khi Sơn mất, Dao A. về thăm, suốt tuần sáng nào A. cũng đến ngồi trên chiếc xe lăn của Sơn, chỉ còn biết nhìn Sơn, cho đến chiều tối mới về nhà.” Trịnh Công Sơn yêu Dao A. phải trải qua hai mươi năm mới “nhận” được lời đáp. Tuy đã quá muộn, nhưng trên cõi đời nầy có mấy ai được yêu và được nhận có một khoảng cách dài lâu đến thế đâu!

LỜI KỂ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN VỀ ‘DIỄM XƯA’

Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến Trường Đại học Văn khoa ở Huế. Nhiều ngày, nhiều tháng của thuở ấy, người con gái ấy vẫn đi qua dưới những vòm cây long não. Có rất nhiều mùa nắng và mùa mưa cũng theo qua. Những mùa nắng, ve râm ran mở ra khúc hát mùa hè trong lá.

Mùa mưa Huế, người con gái ấy đi qua nhạt nhòa trong mưa giữa hai hàng cây long não mờ mịt… Nhà cô ấy ở bên kia sông, mỗi ngày phải băng qua một cây cầu rồi mới gặp hàng long não để đến trường. Từ ban công nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng ấy đi đi về về mỗi ngày bốn bận. Thời buổi ấy những người con gái Huế chưa hề dùng đến phương tiện có máy nổ và có tốc độ chóng mặt như bây giờ. Trừ những người ở quá xa phải đi xe đạp, còn lại đa số cứ đến trường bằng những bước đi thong thả hoàng cung. Đi để được ngắm nhìn, để cảm thấy âm thầm trong lòng, mình là một nhan sắc. Nhan sắc cho nhiều người hoặc chỉ cho một người thì có quan trọng gì đâu. Những bước chân ấy từ mọi phía đổ về những ngôi trường với những cái tên quen thuộc, đôi khi lại quá cũ kỹ. Đi để được những con mắt chung quanh nhìn ngắm nhưng đồng thời cũng tự mình có thì giờ nhìn ngắm trời đất, sông nước và hoa lá thiên nhiên.

Long não, bàng, phượng đỏ, muối, mù u và một dòng sông Hương chảy quanh thành phố đã phả vào tâm hồn thời con gái một lớp sương khói lãng mạn thanh khiết. Huế nhờ vậy không bao giờ cạn nguồn thi hứng. Thành cổ, đền đài, lăng tẩm khiến con người dễ có một hoài niệm man mác về quá khứ hơn và một phần nào cũng cứu rỗi cho con người ta khỏi vành đai tục lụy. Và từ đó Huế đã hình thành cho riêng mình một không gian riêng, một thế giới riêng. Từ đó con người bỗng đâm ra mơ mộng và ước mơ những cõi trời đất như không có thực. Nhưng thật sự thực và mơ là gì? Thật ra, nói cho cùng, cái này chỉ là ảo ảnh của điều kia. Và với những ảo ảnh đó đã có một thời, khá dài lâu, những con người lớn lên trong thành phố nhỏ nhắn đó đã dệt gấm thiêu hoa những giấc mơ, giấc mộng của mình. Đó cũng là thời gian mà mỗi sớm tinh mơ, mỗi chiều, mỗi tối, tiếng chuông Linh Mụ vang xa trong không gian, chuyền đi trên dòng sông để đến với từng căn nhà khép hờ hay đang đóng kín cửa.

Thời gian trôi đi ở đây lặng lẽ quá. Lặng lẽ đến độ người không còn cảm giác về thời gian. Một thứ thời gian không bóng hình, không màu sắc. Chỉ có cái chết của những người già, vào mùa đông giá rét, mới làm sực tỉnh và bỗng chốc nhận ra tiếng nói thì thầm của lăng miếu, bia mộ ở những vùng đồi núi chung quanh. Trong không gian tĩnh mịch và mơ màng đó, thêm chìm đắm vào một khí hậu loáng thoáng liêu trai, người con gái ấy vẫn đi qua đều đặn mỗi ngày dưới hai hàng cây long não để đến trường. Đi đến trường mà đôi lúc dường như đi đến một nơi vô định. Định hướng mà không định hướng bởi vì những bước chân ngày nào ấy dường như đang phiêu bồng trên một đám mây hoang lạc của giấc mơ.

Người con gái ấy đã đi qua một cây cầu bắc qua một dòng sông, qua những hàng long não, qua những mùa mưa nắng khắc nghiệt, để cuối cùng đến một nơi hò hẹn. Hò hẹn nhưng không hứa hẹn một điều gì. Bởi vì trong không gian liêu trai ấy hứa hẹn chỉ là một điều hoang đường. Giấc mơ liêu trai nào cũng sẽ không có thực và sẽ biến mất đi. Người con gái đi qua những hàng cây long não bây giờ đã ở một nơi xa, đã có một đời sống khác. Tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Kỷ niệm nào cũng đáng nhớ nhưng cứ phải quên. Người con gái ấy là “Diễm của những ngày xưa”.

s/t
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 1/31/2015(UTC)
phamlang  
#70 Posted : Saturday, January 31, 2015 2:24:47 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Trịnh Công Sơn, Cỏ Xót Xa Người...


“... người đã đến và người đã về bên kia núi...”

Như thế là suốt cả tuần, suốt cả tháng... qua bao nhiêu ngày nối ngày, đêm nối đêm... tôi ngồi một mình trong căn gác nhỏ, nghe đi nghe lại từng câu từng lời Trịnh Công Sơn (TCS) đã viết nơi những bài thơ và cũng là những bản nhạc của Anh.

Và, rất nhiều lần, tôi lặng đi để mặc cho con tim tái tê điếng ngất, mặc bóng chiều thoi thóp bên ngoài, mặc sương mù loang phủ những ngọn cây, và mặc nửa khuya chập chờn se giá...

Đây là lần đầu tiên tôi muốn nghe kỹ TCS để tìm hiểu đầy đủ hơn về con người Anh, tài năng Anh, trí tuệ Anh, và đặc biệt về tấm lòng của Anh trước Tình Yêu, trước Cuộc Đời, trước Chiến Tranh và trước Thân Phận Con Người...

Từng lời, từng lời trong Thơ và cũng là Nhạc của TCS đều mang những dấu tích của thảm thương bi đát, của chán chường, của hoang mang rã rời, mệt mỏi, của ray rứt, vò xé, tiếc nuối, đớn đau - nhưng rất thiết tha, rất chân thành, thật giàu có và đầy quyến rũ...

Bởi thế, cả mấy trăm nhạc phẩm của Anh, ngôn ngữ mà TCS sử dụng, là những lời thơ rất mới lạ, rất trí tuệ, hoàn toàn sáng tạo, hoàn toàn mở đường, hoàn toàn khai phá...

Có thể, trong suốt chiều dài lịch sử văn học nghệ thuật của chúng ta, dường như rất ít có một nhà thơ, một nhạc sĩ nào đã dùng những ngôn từ xuất phát từ con tim mình thiết tha đến thế và nồng nhiệt đến thế... Cũng rất ít có một nguồn thơ và ý nhạc nào phản ảnh trung thực được những ê chề quằn quại, những đớn đau tủi hận về thân phận con người, về sinh mệnh cuộc đời, về những tê tái ngỡ ngàng khi phải chia xa, về những bẽ bàng buốt nhói khi phải dứt lìa tan vỡ - như nguồn thơ và ý nhạc của họ Trịnh đã thủy chung dâng hiến cho đời...

Lần đầu tiên tôi gặp TCS ở Huế. Những ngày xuân mưa bụi buông phủ nhạt nhòa. Quán cà phê nhỏ trong Thành Nội. Những rặng sầu-đông mới nhú lộc non. Anh bạn nhà giáo giới thiệu. Tôi bắt tay TCS chào Anh thân thiết như gặp lại người bạn cũ lâu ngày xa cách. Bằng cả hai bàn tay gầy guộc, Anh ôm giữ tay tôi và nhìn tôi rất lâu. Đôi mắt thật thông minh, long lanh sáng sau cặp mắt kính dầy. TCS hỏi: “Chắc anh ra cùng với anh Mai Thảo?” Tôi đáp không, và nói: “Tôi ra ngoài này ăn Tết với gia đình anh Song-Linh”. TCS cười: “Ạ Anh Song-Linh(1) mới lấy vợ...” Chúng tôi ngồi xuống bên nhau, cùng uống cà phê và cùng châm thuốc hút. Mới chỉ biết nhau ít phút, nhưng tôi đã thấy TCS rất dễ thương.

Giọng nói của Anh thật nhỏ nhẹ ôn tồn. Nụ cười của Anh thật đôn hậu rạng rỡ. Và ánh nhìn của Anh thật cởi mở nhu hòa... Tôi hỏi TCS về mấy bản nhạc Anh vừa sáng tác. TCS trả lời chậm rải. Anh nói hết những gì ẩn chứa trong trái tim và trong đầu óc Anh qua những ngôn từ và nét nhạc Anh sử dụng. Tôi phải thú thực với TCS là tôi rất “i-tờ-rít” về nhạc, nhưng về lời thì tôi thấu đạt được những gì Anh muốn tỏ lộ giãi bày... TCS cười. Anh khen cái tựa đề của cuốn tiểu thuyết tôi vừa cho xuất bản. Giọng Anh ngậm ngùi: “Đó là nỗi buồn của tuổi trẻ chúng ta... Nỗi buồn đó sâu xa ghê gớm lắm. Nội cái tên đó thôi, cũng đã phản ánh được bao nhiêu tâm trạng của những người trẻ trong giai đoạn bi thảm này...” Tôi đặt tay lên vai TCS. Bờ vai thật gầy, thật còm cõi. Tôi không biểu tỏ bằng lời, nhưng ngụ ý là nhạc của TCS hiện nay cũng vậy, nếu chưa muốn nói là còn thiết tha và còn đầy đủ hơn...

Tôi hỏi TCS sao không vào Sàigon để cùng sinh hoạt với các anh em. Sơn trả lời, Sơn thích sống ở Huế và sáng tác ở Huế. “Anh thấy đó, Huế rất trầm lặng. Sàigon quá hỗn độn, quá ồn ào...”

TCS hút thuốc liên miên. Vừa hết điếu này lại mồi ngay điếu khác. Và cà phê thì cũng 3, 4 tách rồi. Thứ cà phê pha qua phin, rất đậm đặc và bỏ rất ít đường... Chúng tôi ngồi với nhau thật lâu. Chung quanh là những người trẻ, những khuôn mặt trẻ, những giọng nói trẻ, những tiếng cười trẻ... Khoảnh khắc, tôi thấy mình như được trẻ lại để chia sớt với bằng hữu bạn bè bầu không khí thảnh thơi thanh thoát giữa một thành phố êm đềm tĩnh lặng và giữa một không gian tĩnh lặng êm đềm...

Lần thứ hai, tôi gặp TCS ở nhà Thanh-Tuệ. Căn nhà nhỏ, nóng bức trong một hẻm-của-hẻm đường Lý Thái Tổ, Sàigon. Bữa đó, chủ nhân nhà xuất bản An Tiêm rất nhiều khách. Trên lầu, đại đức T.N.T. đang diện bích. Phòng kế có P.C.T. đang “truyền tâm ấn” cho H.T.Ụ. Mấy thiếu nữ nói tiếng Huế đang sắp xếp chén đĩa và sửa soạn thức ăn. TCS ngồi cô đơn ở chiếc ghế bố, hai mắt lim dim mỏi mệt như buồn ngủ. Tôi định kéo TCS ra tiệm kem Cẩm Bình ở đầu ngõ làm chai bia lạnh hay ly cà phê đá. Nhưng Thanh Tuệ nói TCS mới ở phi trường về nên có lẽ hơi mệt. Tôi đành lẳng lặng rút lui, tuy trong lòng vừa nhen lên một chút bùi ngùi tội nghiệp, vì thấy cái dáng nửa nằm nửa ngồi của TCS trong chiếc ghế bố ở một góc nhà chật chội giữa mùa nắng khô oi ả...

Chiều hôm sau, tôi trở lại tìm TCS, nhưng căn nhà đã khóa trái cửa. Mọi người đi vắng. Tôi lẩm nhẩm hát nho nhỏ trong lòng một dòng thơ tuyệt vời của họ Trịnh: “Tôi ru em ngủ, hạ cũng vừa sang... Em hôn lên tay mình. Để chua xót tình trần...” rồi bẵng đi rất lâu, bận bịu nhiều chuyện, tôi không còn dịp nào gặp lại TCS. Nhà xuất bản An Tiêm (cũng là nhà riêng của Thanh Tuệ) lúc đó chưa có điện thoại, nên việc liên lạc để tìm kiếm nhau rất khó khăn. Và thời gian đó, TCS sáng tác liền tay, hầu như không ngưng nghỉ. ở đâu và lúc nào cũng tràn ngập nhạc TCS. Có thể nói, những năm tháng đó hai dòng nhạc Phạm Duy và Trịnh Công Sơn gần như chia nhau thao túng “thị trường”. Nhớ một lần, nhà văn Song Linh từ một tiền đồn gần quận Bồng Sơn - Phủ Cũ gửi thư về cho tôi. Song Linh viết: “Chiến tranh càng ngày càng khốc liệt, mà trông về đằng trước thì mịt mù, ngó về phía sau hay hai bên cạnh, chỉ thấy toàn xác chết và xác chết.

Trận đánh khốc liệt vừa qua ròng rã suốt 3, 4 ngày đêm. Bọn Bắc quân chết nhiều vô kể. Họ là những người trẻ, thật trẻ, có khi chỉ là những cậu bé khẳng khiu gầy ốm. Họ chết la liệt ở phía ngoài những vòng kẽm gai hoặc trên những bãi mìn. Thân xác họ trần truồng, đen đúa và cây cỏ cũng vàng cháy thê lương cùng khắp vì bị dội bom napalm và bom hạng nặng... Bắc quân chết nhiều quá, họ không thể mang hết xác đi, nên mùi tử khí sau mấy ngày nắng gắt đã xông lên muốn nôn muốn mửa... Bọn tôi không dám uống nước suối, chỉ dám uống nước giếng và nước dừa... Lát nữa, được một trung đội khác thay phiên, tôi sẽ về Bồng Sơn uống một cái gì, và bỏ thư này cho H... H. ơi, tôi vừa được nghe loáng thoáng một bản nhạc của Trịnh Công Sơn, khi một người lính của tôi đang nằm dưới bóng mát một bụi cây, nghỉ ngơi và ôm máy nghe nhạc... Giọng ca như nức nở, thản nhiên, ai oán. Nói về chiến tranh ly loạn, nói về thân phận một kiếp người... Tôi như bị nổi gai và thấy lòng chùng xuống xót xa.. Mỗi lần về thành phố, thấy các sinh viên học sinh đua nhau nghe TCS, nhất là những bài ca có màu sắc không chấp nhận chiến tranh, tôi bực bội và thấy bất bình... Nhưng ở ngay ngoài mặt trận, sau khi đã phải một sống một chết với quân thù, thì cũng chính mấy bản nhạc đó, nghe mới thấm thía ai oán và thấm thía xúc động...

H. ơi, có một điều chúng ta cần ghi nhận là anh em binh sĩ đã nghe nhạc TCS như được nghe những nỗi niềm tâm sự. Tâm sự của chính mình và nỗi niềm của chung một thế hệ... Nghe riết, rồi thấy cảm thông, rồi thấy tan hòa với những kể lể thiết tha và những giải bày trung thực của người làm nhạc...”

Lá thư đầy cảm khái của nhà văn Song Linh tôi đã trích dẫn một hai đoạn khi viết tiểu thuyết “Hương Cỏ May”, và tôi thấy đồng ý với Song Linh vì không hề có một người chiến binh nào của chúng ta đã trốn khỏi quân ngũ, khi cái được gọi là “nhạc phản chiến” của TCS rầm rộ lan tràn.


Và một buổi tối, nơi nhà riêng của Lưu Kim Cương trong Tân Sơn Nhất, tôi gặp lại TCS giữa bao nhiêu bằng hữu bạn bè. Có Mai Thảo. Có Phạm Đình Chương. Có Lê Uyên Phương. Nhiều sĩ quan cao cấp thuộc binh chủng Không Quân cũng đều có mặt. Không khí rất vui, rất thân mật. Thức ăn khá ngon và nhiều loại rượu hảo hạng. Bữa đó, TCS ăn rất ít. Anh uống nhiều rượu và hút nhiều thuốc lá. Nét mặt anh trầm ngâm. Không phải buồn. Vẫn tươi cười khi trò chuyện, nhưng đôi mắt thoáng xa xôi sau cặp kính dầy. Thấy tôi, TCS tới gần bắt tay. Anh hỏi nhỏ: “Viết được nhiều không, T.H.?” Tôi nói đùa: “Cố gắng, nhưng không thể chạy đua với ông được”. TCS ngửa mặt cười: “Có những lúc, bao nhiêu inspirations (nguồn cảm hứng) nó đến với mình dồn dập. Nếu mình không mau chóng ghi nhận và khai triển nó, nó sẽ biến mất ngay như người con gái đẹp biến mất sau một nụ cười...” (Ghi chú của người viết: TCS tốt nghiệp ban Triết trường Chasseloup Laubat, nên khi trò chuyện thân thiết, Anh thường dùng một vài tiếng Pháp chen lẫn vào câu nói). Chúng tôi cũng đưa ly cho người chiêu đãi, châm thêm rượu.

TCS đong đưa ly rượu mạnh màu hổ phách trong tay. Tiếng những cục đá va vào thành ly kêu lanh canh. Đôi mắt TCS trở nên mê đắm: “Et tu bois cet alcool brulant comme ta vie. Ta vie que tu bois comme une eau de vie”... Tôi gật đầu rồi thì thầm nói với riêng Sơn: “Apollinaire... Tuyệt vời. Uống rượu và đọc thơ Apollinaire thật tuyệt vời. Tôi mê Apollinaire lắm...” Moa cũng vậy. Những ngày còn đi học, moa chỉ cầm tập thơ của Apollinaire lâm râm đọc từng lời thơ trác tuyệt và nhìn mơ màng ra những dải mây trắng bay ngoài cửa sổ... Moa thích nhất hai câu thơ: Jeunesse adieu Jasmin du Temps, Jõai respiré ton frais parfum... “ Vâng. Chúng tôi đành giã biệt tuổi xuân, hoa thời gian ngào ngạt. Tôi đã được hít thở bao mùi hương thơm mát của Em”.

Vĩnh biệt tuổi thanh xuân đầy thơ mộng, để rồi chúng tôi cùng phải đối diện với những cái chết thảm thương. Lưu Kim Cương(2) đã chết. Song Linh sau đó cũng đã chết... TCS đã ngậm ngùi khóc Lưu Kim Cương. Và tôi cũng đau đớn khóc Song Linh. Cho đến khi đôi cánh của thời gian đã mang theo đi được một phần nào nỗi xót xa khổ lụy, TCS và tôi lại được gặp nhau. Bữa cơm tối thân mật ở ngôi nhà nhỏ đường Ngô Tùng Châu Gia Định. Bên những bức vẽ in loang nhiều bóng tối của Trịnh Cung và Đinh Cường, chúng tôi, TCS, Duyên Anh, Nguyễn Hữu Bào, Ninh Chữ... Cả 5 anh em đều say mèm. Nhưng rượu - và thuốc lá nữa - không thể làm nguôi tan những quằn quại, những đớn đau, những xót xa, những thống hận của mọi người, về những mất mát, những nát tan, những chia xa, những tủi hận - đang thấm lan, đang bão hòa trong trái tim rướm máu và cõi lòng tê điếng. Chúng tôi không nhắc đến Lưu Kim Cương và cũng không nhắc đến Song Linh, nhưng cả 5 chúng tôi như cùng đang hình dung đến những con người cao cả, đã bằng lòng hiến dâng trọn vẹn sinh mạng của mình, để giữ gìn đất nước...

Chúng tôi không khóc, nhưng cả 5 đôi mắt đã là nhạt nhòa ngấn lệ. Chúng tôi không kể lể, nhưng cả 5 tấm lòng đã như cùng hướng về một chốn xa xăm... Cho đến khi TCS nhặt lấy cây đàn. Từng âm thanh nức nở bật lên buồn đau dâng lên man mác...

Phút giây, tôi tưởng như những dây tơ đã loang hồng màu máu. Từ những ngón tay “bắt được của trời” (nói theo ngôn ngữ nhà văn Mai Thảo) của người nhạc sĩ họ Trịnh đã vương đầy huyết lệ... Ninh Chữ nghêu ngao hát theo dòng nhạc: “Anh nằm xuống cho hận thù vào lãng quên. Tiễn đưa nhau trong một ngày buồn. Đất ôm anh đưa về cội nguồn. Rồi từ đó trong trời rộng đã vắng Anh... Như cánh chim bỏ rừng. Như trái tim bỏ tình. Nơi đây một lần nhìn Anh đến, những xót xa đành nói cùng hư không...” Duyên Anh đến gần chiếc dương cầm, mở nắp, rồi ngồi xuống, dạo theo trên phím ngà những tiếng đàn thổn thức... Những ly rượu được châm thêm. Những điếu thuốc đốt tiếp. Chẳng bảo nhau, nhưng cả năm chúng tôi cùng cất tiếng hát nho nhỏ nhịp nhàng... “Anh nằm xuống, sau một lần đã đến đây. Đã vui chơi trong cuộc đời này. Đã bay cao trong vòm trời đầy... Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai... Không có ai từng ngày. Không có ai đời đời ru anh ngủ vùi... Mùa mưa tới, trong nghĩa trang này có loài chim thôi...” Chợt có tiếng ho của ai đó. Chúng tôi ngưng hát, người nhấp lên môi chút rượu đắng, người bập miệng hút hơi thuốc cay. Rồi TCS bắt giọng cho chúng tôi cùng nghêu ngao hát tiếp: “... Bạn bè còn đó, Anh biết không Anh? Người tình còn đó, Anh nhớ không Anh? Vườn cỏ còn xanh. Mặt trời còn lên. Khi bóng Anh như cánh chim chìm xuống...” Vẫn cố gắng góp cùng mọi người tiếng hát, tôi vẫn nhìn không rời TCS.

Khi TCS đàn và hát, khuôn mặt, đôi mắt, những ngón tay, dáng Anh ngồi, đều toát ra một nỗi đam mê, đều toát ra một vẻ say sưa, đều toát ra một cái gì thảm thê bi tráng. Hai mắt Anh nhắm nghiền. Khóe môi run run khép mở. Đàn ghì ôm trong lòng. Những đầu ngón tay lướt nhanh thoăn thoắt... “Vùng trời nào đó, Anh đã bay qua. Chỉ còn lại đây những sáng bao la. Người tình rồi quên. Bạn bè rồi xa. Ôi tháng năm, những dấu chân người cũng bụi mờ...” Tiếng dương cầm đang thánh thót rơi vỡ như những giọt mưa, như những hạt sương, như những lớp gió... tiếng đàn và tiếng hát của chúng tôi giây phút đó là những hồi kinh chiêu niệm. Âm vang đê mê chùng héo, nức nở, nghẹn ngào... “Anh nằm xuống như một lần vào viễn du. Đứa con xưa đã tìm về nhà. Đất hoang vu khép lại hẹn hò. Người thành phố trong một ngày đã nhắc tên. Những sớm mai lửa đạn. Những máu xương chập chùng... Xin cho một người vừa nằm xuống thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang...” Tôi tham lam ghi lại những lời ca này của TCS. Những lời ca tràn đầy triết lý sâu xa và ngập ngụa trí tuệ cao cả. Binh chủng không quân vừa hào hoa vừa anh kiệt của chúng ta, trong cuộc chiến đã có hai con chim đầu đàn hiên ngang nằm xuống. Cả hai, đã được hai nhạc-sĩ-hàng-đầu vinh danh, ngợi ca, tưởng niệm. Một, Phạm Phú Quốc với bài “Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc” của Phạm Duy. Và hai, Lưu Kim Cương với bài “Hát Cho Người Nằm Xuống” của TCS mà tôi đang kể lể. Lời Phạm Duy khiến ta đằng đằng hào khí với những đắng cay thương tiếc. Lời của TCS đã khiến ta tê tái, quằn quại, bàng hoàng đau đớn. Về sự ra đi. Về nỗi tử sinh. Về định mệnh nghiệt ngã của cuộc đời và về nỗi cô đơn, nỗi bất lực của thân phận con người...

TCS là một thiên tài, là một con người có một tâm hồn lớn lao giầu có, hay là một thanh niên học thức, trọn đời lủi thủi lang thang ngay trên quê hương khốn khổ, dù là trong chiến tranh giặc giã, điêu tàn thống khổ, hay ngay cả trong thanh bình yên ổn, nhưng vẫn còn trầy trụa tươm máu bởi những vết thương bi đát không thể hàn gắn, không thể nào lành khỏi được.

Bởi thế, trọn cuộc đời Anh sống, TCS là một người lữ hành cô đơn - mãi mãi cô đơn - vì rất ít, quá ít, người hiểu Anh được một cách trọn vẹn tận tường...

Thấm thía với sự cô đơn quạnh quẽ của mình, TCS thường tự ôm vai mình than thở: “Tôi vui chơi giữa đời nhưng biết đâu nguồn cội... Cây chưa phủ bóng dài, mà tôi đã phủ bóng tôi... Tôi thâu tôi bé lại làm mưa tan giữa trời. Tôi xin làm đá cuội và lăn theo gót hài... Tôi tự làm khô héo tôi đây...” Và: “Đời ta hết mang điều mới lạ. Tôi đã sống rất ơ hờ... Đời ta có khi tựa lá cỏ... Lòng tôi có đôi lần khép mở. Ngồi bên vết thương tôi quỳ... Một hôm bước qua thành phố lạ... Nhiều khi bỗng như trẻ nhớ nhà...”

Riêng đối với cái nhìn hạn hẹp của tôi, TCS là một nhà thơ lớn, là một triết gia đáng kể, là một thiên tài không thể chối cãi. Mỗi bài ca của TCS đều như một thông điệp rất xúc tích, rất tốt đẹp gửi đến cuộc đời, gửi đến con người những điều chói lòa nhân bản về tình yêu, về cuộc sống, về tình người, về lòng nhân ái rạng ngời cao cả...

Như vậy, TCS là một trong những tài năng hàng đầu của chúng ta. Nhất định tài năng đó không phải - và không bao giờ phải, của phe cộng sản. Nhất định, chế độ cộng sản không thể - và không bao giờ có thể - đào tạo nên được một tài năng đầy lòng từ ái rất nhân bản như TCS. Mà chính là thể chế của người Quốc Gia, Tổ Quốc của người Quốc Gia, đất nước của người Quốc Gia mới là những môi trường thuận lợi cho một tài năng cỡ tài năng của TCS nẩy mầm và xanh tươi phát triển.

Sau 30-4 ít ngày, tôi có gặp TCS một buổi sáng đầu tháng 5 năm 1975. Ngã ba đường Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp. TCS đang bụm tay bật lửa châm điếu thuốc. Tôi rà chiếc xe đạp cũ đến gần Anh. Thấy tôi, Anh như hơi ngỡ ngàng, lên tiếng hỏi: “H. không đi à? Xe hơi đâu rồi mà đi xe đạp?” Tôi nhớ, giây phút đó, tôi không trả lời TCS mấy câu TCS vừa hỏi. Tôi hỏi lại TCS giọng như hơi gay gắt: “Tại sao nông nổi vậy? Tại sao hấp tấp làm việc đó?”

Lẽ ra, tôi không nên hỏi TCS câu hỏi ấy, vì tôi không được quyền, và nhất là không thể nhân danh một cái gì mà hạch hỏi TCS cả. Nhưng có lẽ giây phút đó, tôi nóng lòng muốn giãi tỏ với TCS phản ứng chân thành của một người bạn hằng quý mến và ngưỡng mộ tài năng của TCS, khi thấy Anh đã có một “hành động khác thường” trưa ngày 30 tháng 4 như vậy. Nhưng TCS không bận tâm câu nệ, Anh vẫn ôn tồn điềm đạm nói: “Không phải nông nổi. Mà là một sự bồng bột” (TCS dùng tiếng Pháp: “Cõest une effervescence”.) Tôi thở dài. Buồn hay giận TCS thì việc cũng đã qua rồi. Tôi nhìn Sơn kỹ hơn. Chắc mấy ngày nay râu ria Anh không cạo. Chiếc quần jean và chiếc sơ-mi màu xám nhăn nhúm. Không đâu, tôi chạnh lòng tội nghiệp cho Sơn. Việc Anh làm trong biến cố vừa qua là sai hay đúng? Thái độ đó chỉ phát xuất từ một sự bồng bột, như lời Anh vừa nói, hay chính là chủ ý của Anh đã ấp ủ từ lâu? Thực tình tôi không thể biết và cũng không thể hiểu. Tuy nhiên, vì kính trọng niềm riêng tư của cá nhân Anh, tôi không muốn hỏi thêm gì nữa. Tôi rủ Anh đến một cái kiosque gần đó để ăn sáng. Anh gật đầu. Chúng tôi đang bước đi, tự nhiên Anh khựng lại. Anh nhìn thẳng vào hai mắt tôi rồi thầm thì: “Một sự bồng bột... hay đúng hơn một sự bồng bột vì bị bắt buộc phải bồng bột. Không phải tự moa muốn làm việc đó. Entre nous (giữa chúng ta) moa mới nói, nhưng H. đừng kể với ai nghe, mấy người bạn cũ trong nhóm sinh viên pro-com. (thiên cộng) quá khích đã bắt buộc moa phải làm... Một ngày nào đó, H. sẽ biết rõ hơn. Bây giờ moa không thể nói được, vì moa đã lấy danh dự hứa với họ...” Tôi thở dài. Rồi nắm nhẹ bàn tay gầy nhỏ của Sơn.

Cả hai chúng tôi câm lặng nhìn nhau... Tôi dựng chiếc xe đạp chỗ cột đèn đường. Minh Châu, cô chủ quán, ngơ ngác ngó hai chúng tôi hỏi giọng buồn rầu cam phận: “Không đi được hà anh H.? Gia đình Châu cũng bị kẹt lại...” Không biết Minh Châu, người con gái tài sắc một thời của các vũ trường Sàigon, có nhận ra được TCS không. Có lẽ không, vì cô chỉ hỏi chuyện tôi mà không đá động gì đến sự có mặt của TCS cả. Như vậy cũng là may, vì dường như tất cả dân Sàigon đang bất mãn về việc TCS đã làm. Chúng tôi ăn bún chả (món quà ngon nổi tiếng của kiosque này), và uống cà phê sữa đá. Tôi mừng khi thấy TCS ăn hết được phần bún chả của mình và đang châm thuốc hút. Nét bơ phờ mỏi mệt thấy rõ trong dáng điệu và qua ánh nhìn buồn bã của TCS. Sau đó, tôi chia tay TCS lặng lẽ, vì cũng chẳng muốn hỏi TCS những ngày sắp tới Anh sẽ làm gì? Vừa chậm chạp, vừa chán nản đạp xe trở về nhà ở vùng Gia Định, tôi nhẩm đi nhẩm lại mãi câu TCS nói: “Ce nõest quõune effervescence”. Đó chỉ là một sự bồng bột, vì bị ép buộc... Tôi, cá nhân tôi, có thể thông cảm được sự giải thích của TCS. Nhưng còn bao nhiêu người khác? Những người đã hằng ngưỡng mộ và quý mến TCS, liệu có thể hiểu được việc làm của Anh trưa ngày 30-tháng-4 chỉ là một hành động bồng bột vì bị bắt buộc? Riêng phần tôi, sau bữa ăn sáng nặng nề đó, chẳng bao giờ tôi còn được gặp TCS nữa.

Khi vợ tôi mang các con vượt biên, và Nàng bị tử nạn trên biển Đông đầy bi thảm, ít năm sau, tôi có được một người bạn thân hiện định cư ở Úc, nói TCS có nhờ ảnh nhắn gửi tới tôi lời chia buồn. (TCS có quen biết gia đình ỤH. ở Huế). Và một câu mà TCS nhờ người bạn nói lại với tôi ngay từ năm đó là “T.H. ơi. Đừng quá sầu khổ và đừng tuyệt vọng...” Tôi vô cùng xúc động, và rất trân quý lời Anh an ủi. Và cũng hy vọng rằng, một ngày nào đó sẽ được trùng phùng với TCS và cùng cụng ly ruợu đắng với Anh để nhắc lại một câu thơ Anh đã đọc trong bữa ăn tối ở nhà L.K. Cương: “Jeunesse adieu Jasmin du Temps. Jõai respiré ton frais parfum...”

TCS ơi. Chúng ta đã phải đành lòng giã biệt tuổi thanh xuân cùng với muôn hoa thời gian ngào ngạt... Chúng ta đã được hít thở vô lượng mùi hương thơm ngát của cuộc đời...

Xa quê hương khốn khổ và xa những tài năng hàng đầu của đất nước như TCS hơn nửa vòng trái đất, tôi hệt như một con vụ nhỏ bé đang quay cuồng trong cơn bão lốc của cuộc đời... Thỉnh thoảng chỉ được biết tin Anh qua những bạn bè và vài người quen biết. Nghe nói, TCS bị nhiều thứ bệnh trầm kha, mà nặng nhất là bệnh gan và bệnh tiểu đường. Mỗi lần Trịnh Cung đến Mỹ, câu đầu tiên tôi thường hỏi TC là TCS hồi này thế nào? Lần nào thì họa sĩ TC cũng lắc đầu và thở dài ngán ngẩm. “Mới phải nhập viện” - “Bây giờ Sơn gầy yếu lắm” - “Không còn uống ruợu mạnh nữa. Phải uống rượu chát” - Một lần khác, nhạc sĩ Đỗ Hậu kể: “Moa có ghé thăm. TCS yếu rồi, phải ngồi xe lăn” - “Sinh nhật của TCS mới rồi, có Anh P.D. đến. Một già một trẻ, chưa biết ai đi trước ai...” Những ngày tháng cuối đời, TCS đã đến với hội họa. Phải chăng Anh đã mệt mỏi với những tiếng nói và những âm thanh? Phải chăng Anh muốn tìm đến những đường nét và những mầu sắc để gửi gấm được trọn vẹn lòng mình: một tấm lòng rất nhiều màu sắc tinh khôi và rất nhiều đường nét nguy nga hoành tráng...

Một hôm, có được số điện thoại của TCS, tôi gọi cho Anh. Bữa đó, nhà Anh rất ồn ào. Như đang có đông người. Như đang là bữa tiệc. Tôi hỏi. Sơn đáp: “ừ. Tụi bạn bè họ kéo đến chơi... Cho moa đỡ buồn, đỡ lẻ loi...” - Tôi đùa: “Nghe nói ông đang có cô bồ nhí thơm lắm mà”. TCS cười rộ: “Cũng vậy thôi. Cô đơn thì lúc nào mình cũng thấy cô đơn, ngay cả khi đang hôn một người tình...” “Sức khỏe ông thế nào?” - “Bết bát. Rất bết bát... Bên chân phải của moa đau lắm. Đau ghê gớm. Phải cắn răng chịu đựng... Nhưng nhiều khi đau quá. Đau đến tận óc. Đau muốn khóc...” Rồi có nhiều tiếng động quá ồn. Cuộc điện đàm trở nên bị phá nhiễu khó nghe. Tôi định chào TCS để chấm dứt, thì giọng TCS lại rành rọt, tuy có nhỏ đi, yếu ớt: “H. viết được nhiều không?” - Rất giới hạn” - “Sao nghe TC nói H. đã bỏ viết? - “Tại mắc bận phải đi làm. Bây giờ về nghỉ hưu rồi, chắc sẽ viết lại”. - “Nên lắm... H. nên viết lại. Đừng bỏ cuộc. Đừng tuyệt vọng...” Tôi muốn nói cảm ơn TCS đã hơn một lần khích lệ tôi như vậy. Nhưng, tôi không còn nghe được tiếng Sơn nói. Đường điện thoại bị nhiễu âm trầm trọng. Một lúc sau, mới có tiếng một người đứng tuổi: “Ông bạn ơi. TCS tự nhiên bị mệt rồi... Thôi, lúc khác ông bạn gọi lại nhé... Xin lỗi...” Tôi đặt máy xuống, không giữ được tiếng thở dài. Tôi thầm nói một mình: “Tôi cho TCS... Không biết rồi Anh sẽ ra sao? Anh có vẻ đang kiệt sức quá rồi...”

Tôi còn tin tưởng ở một Phép Lạ được nữa không, hay cũng như TCS, tôi đã mất hết tin tưởng? Và lại cũng như TCS, tôi đang đặt niềm tin vào sự tuyệt vọng? Câu TCS nói cuối cùng trong cuộc điện đàm lúc nãy là “H. ơi, đừng tuyệt vọng...” Nhưng niềm tin cuối cùng của TCS lại là niềm tin vào sự tuyệt vọng. Như vậy có nghịch lý quá không? TCS giải thích với nhạc sĩ Đỗ Hậu, khi Đỗ Hậu đến thăm TCS lần sau chót, trước khi TCS qua đời: “Tin vào niềm tuyệt vọng, là chỉ còn tin được vào chính mình... Rồi TCS chậm rãi đọc nhỏ nhẹ từng lời thơ của Anh: “Đừng tuyệt vọng. Tôi ơi, đừng tuyệt vọng. Lá mùa thu rơi rụng giữa mùa đông... Đừng tuyệt vọng. Em ơi, đừng tuyệt vọng. Em là tôi và tôi cũng là Em. Con diều bay mà linh hồn lạnh lẽo. Con diều rơi cho vực thẳm buồn theo. Tôi là ai mà còn ghi dấu lệ? Tôi là ai mà còn trần gian thế... Tôi là ai, là ai, là ai... Mà thương yêu quá đỗi cuộc đời này”. Đọc xong những vần thơ, TCS như mệt mỏi nằm ngoẹo đầu và nhắm nghiền hai mắt lại. Nơi chỗ Anh nằm có những con búp bê nhỏ bé và xinh đẹp lạ thường. Nghe Đỗ Hậu kể, tôi liên tưởng là những con búp bê dễ thương đó, do một Nàng Tiên Dịu Hiền nào đó gửi xuống tặng Anh...

Chuyện trò với TCS qua điện thoại rồi, người tôi rã rời chán ngán. Cả con tim tôi cũng chán ngán rã rời... Tôi như linh cảm một điều gì của mất mát hẫng hụt... “Trời cao đất rộng, một mình tôi đi. Đời như vô tận, một mình tôi về. Tôi về với tôi...” Những dòng thơ xé ruột. Những dòng thơ buốt tim. Và bằng tái tim nồng nàn tha thiết nhất, TCS yêu cuộc đời, yêu quê hương và yêu hết thảy mọi người, hết thảy muôn loài... TCS thiết tha, yêu vô cùng vô tận, nên đôi khi Anh phải tự hỏi để tra vấn mình: “Tôi là ai, là ai... Mà yêu quá đời này”. Và trọn cả một đời, TCS đã nói thay cho chúng ta những âu lo, những vò xé, những thao thức, những băn khoăn, những đớn đau, những tiếc nuối những tủi hận, những ngỡ ngàng và cả những chán chường, và cả những hoài nghi, và cả những mê đắm... về thân phận con người, về chiến tranh ly loạn, về tình yêu thương gắn bó, về sự tan nát chia xa... Bởi thế, TCS là một tài năng trác tuyệt, là một thiên tài lừng lẫy. Điều đó, chúng ta không thể chối cãi được, nhưng phải cần nhấn mạnh thêm một điều: “TCS trọn vẹn là một Tấm-Lòng, một Trái-Tim, một Tâm-Hồn-rực-rỡ-Việt-Nam...”


Và rồi, Tin Đau đã đến... Sau 26 năm, dòng thời gian lại quay về một Tháng Tư Đen... Nhưng chỉ mới vừa từ đầu tháng, vòm Mây Tang đã che phủ Sàigon. Người con yêu dấu của Bà Mẹ Việt Nam, một Tài Năng Hàng Đầu của bao Dòng Thơ Nhạc, một Người Tình Mê Đắm nổi trôi trên sông đời hư ảo... đã âm thầm bỏ đi, đã trở về bên kia núi... TCS ra đi, để trọn vẹn Tình-Yêu-Bao-La ở lại.

“Thôi xong rồi. Tout est fini... Như một lần nào Anh đã nói... Chúng ta muốn được nắm những ngón tay khẳng khiu gầy nhỏ của Anh và nói với Anh những lời thân thiết nhất: “Chúng tôi hiểu. Chúng tôi đã hiểu. Anh là một con người đầy lòng từ ái. Cả cuộc đời Anh, Anh chẳng biết hận thù oán ghét là gì...”


“Sống giữa đời này, chỉ có Thân Phận và Tình Yêu. Thân Phận thì hữu hạn mà Tình Yêu thì vô cùng... Chúng ta làm cách nào nuôi dưỡng Tình Yêu để Tình Yêu có thể cứu chuộc Thân Phận trên cây thập giá của đời”. Trịnh-Công-Sơn đã từng viết như thế, và còn viết tiếp: “Mỗi đời sống của chúng ta ẩn náu một Định Mệnh. Có những định mệnh đời đời là cây kiếm sắc. Và một đôi lần trong giấc mơ, tôi bừng lên những ánh thép sáng ngời đó. Nhưng tôi biết rõ rằng, tôi chỉ là một loài chim nhỏ cất tiếng hát chơi trên đầu những ngọn lau hoang...” Tôi không thể nhớ hết, mà chỉ nhớ đại ý những điều TCS đã tâm sự. Tâm sự của TCS mang đầy những dấu vết của Bi Thảm, của Đắng Cay... Nỗi ám ảnh khôn nguôi hằn đọng trong tâm thức TCS là nỗi ám ảnh thảm sầu bất biến về Tình yêu, về Thân Phận, về Con Người...

Cho đến khi anh bỏ đi về nơi vĩnh cửu, nỗi ám ảnh đó vẫn còn nguyên vẹn tràn đầy trên khuôn mặt khắc khổ của Anh, trong ánh nhìn vừa xa xăm vừa thảng thốt của Anh, và qua nụ cười vừa tái tê vừa thơ dại của Anh...62 năm vật vã trên dòng đời... Cả mấy trăm ý thơ và men nhạc dâng hiến cho cuộc đời... Tâm hồn Anh đã trải ra. Trí tuệ anh đã trải ra. Nỗi niềm Anh cũng đã trải ra. Và tâm thức Anh thì ngời ngời rạng tỏ. Chúng ta như nghe được từng nhịp đập của trái tim Anh, từng rung động của hơi thở Anh, và từng khắc khoải dày vò của vô vàn xúc động...

Cho nên, vừa nghe tin Anh đã đành lòng đòi đoạn ra đi, suốt cả một tuần, suốt cả một tháng, tôi đã vừa câm nín vừa bàng hoàng, nghe lại từng câu từng lời mà TCS đã phơi trải ra trong Thơ và trong Nhạc... Tôi muốn được cúi đầu, được quỳ xuống và được cùng thổn thức với Anh: “Trên đời người trổ nhánh hoang vu. Trên ngày đi mọc cánh lá mù. Những tim đời đọc lời hoang phế. Dưới mặt trời ngồi hát hôn mê. Dưới vòng nôi mọc từng nấm mộ. Dưới chân ngày cỏ xót xa đưa... Người đã dến và người sẽ về bên kia núi. Từng câu nói là từng cánh buồm rong cuối trời. Còn lại, tiếng cười khóc giữa đời... Dưới ngọn đèn một bóng chim qua. Giữa đường đi một người đứng gọi. Có biết gì về ngày chưa tới. Những ngày ngồi rủ tóc âm u. Nghe tiền thân về chào bóng lạ. Những mai hồng về nhớ thiên thu...” Từng giọt dương cầm não nùng tê buốt. Từng tiếng kèn thê thiết đắng cay. Và giọng hát của người con gái vương đầy máu lệ. Cùng những tấm lòng tiếc thương vô bờ bến của bao người... Đó là khúc hát tiêu biểu của Trịnh Công Sơn. Khúc hát thảm sầu chiêu niệm...


Tuấn Huy

Edited by user Saturday, January 31, 2015 2:26:14 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
CatLinh  
#71 Posted : Monday, February 2, 2015 12:57:42 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 2/7/2015(UTC)
phamlang  
#72 Posted : Saturday, February 7, 2015 5:13:03 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)


Trời Cao Đất Rộng Một Mình Tôi Đi


UserPostedImage

Từ1975 cho tới năm 2000, suốt 25 năm xa quê hương đất nước, tôi không có cơ hội để theo rõi sinh hoạt của âm nhạc Việt Nam và không biết sau cơn hồng thủy, nhạc Trịnh Công Sơn ra sao, là nhạc chắp cánh bay lên hay nhạc la đà chìm xuống? Nhưng qua dăm bẩy băng nhạc sản xuất tại Hoa Kỳ trong đó có vài ba bài ca mới soạn của Trịnh Công Sơn thì tôi thấy nhạc của anh vẫn là nhạc tình yêu và nhạc thân phận làm người.

Nhưng vào năm 1980, ngẫu nhiên Trịnh Công Sơn và tôi cùng có mặt ở Paris, trong nỗi vui mừng gặp nhau của hai người cùng có chung một phận, Trịnh Công Sơn hát cho tôi nghe bài hát Lặng Lẽ Nơi Này mà anh vừa mới viết ra :
Trời cao đất rộng,
Một mình tôi đi
Một mình tôi đi
Ðời như vô tận,
Một mình tôi về
Một mình tôi về...với tôi !
... thì tôi thấy nghệ sĩ nào rồi cũng phải mang số phận cô đơn truyền kiếp, ở quê hương hay xa quê hương, vào thời bình hay chinh chiến, giữa đám đông hay khoảng trống, nơi thiên đàng hay địa ngục... Chỉ còn có thể về với mình, về với tôi như Sơn đã nói.

Trời cao đất rộng, một mình tôi đi ... Cô đơn truyền kiếp phải chăng là kiếp của nhiều ca nhân ? Văn Cao khi mới chỉ là chàngTrương Chi tuổi còn rất xanh, tài hoa đang nở rực, chưa hề biết phận mình mỏng manh ra sao trong cơn gió lốc sẽ tới, mà cũng đã chỉ muốn :
Ngồi đây ta gõ mạn thuyền
Ta ca, trái đất còn riêng ta !

Còn tôi ? Tôi còn phải sống, đôi khi phải đổi chỗ đứng, đổi chỗ ngồi cho đỡ buồn trong cõi trần ai sầu muộn này, từ rất lâu ngồi đâu thì cũng chỉ là ngồi một mình trong cái TA.

Hôm nay là ngày an táng Trịnh Công Sơn. Vào giờ phút anh đã thực sự về với đất, với trời, nghĩa là về với mình rồi, chúng tôi biết rằng anh đã nghìn lần nói lên nghìn lời trối trăn qua tác phẩm, lời nào cũng làm cho mọi người thấy được nỗi đau làm người, nỗi đau tình cờ, cơn đau chưa dài và cơn đau lên đầy, quá nửa đời người không một ngày vui...

Nhưng theo tôi, có lẽ sau đây là lời trăn trối tuyệt diệu nhất, lời cuối cùng Trịnh Công Sơn nói với Trịnh Công Sơn :
Ðừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng,
Lá mùa Thu rơi rụng giữa mùa Ðông
Ðừng tuyệt vọng, em ơi đừng tuyệt vọng
Em là tôi và tôi cũng là em.
Con diều bay mà linh hồn lạnh lẽo
Con diều rơi cho vực thẳm buồn theo
Tôi là ai mà còn ghi dấu lệ ?
Tôi là ai mà còn trần gian thế !
Tôi là ai, là ai... là ai
Mà yêu quá đời này !

Phạm Duy
Thị Trấn Giữa Ðàng-
(Ðọc trong đêm họp mặt của bạn bè, 3 April 2001 trong khi Saigon đang làm lễ an táng TCS)

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#73 Posted : Monday, February 9, 2015 6:42:13 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Đinh Cường

Ngày giỗ Sơn nhớ Má, nhớ Me vô cùng [1]

UserPostedImage

Thân mẫu Trịnh Công Sơn – Đinh Cường – Trịnh Vĩnh Thuý ( em gái đầu TCS )
Montreal – Canada 1991

Với tôi ai yêu mẹ là anh hùng
Sơn yêu mẹ là anh hùng thôi
sáng nay 1 tháng 4 bên này
tôi dậy sớm phone về Sàigòn

trưa gặp Thuý. chiều gặp Tịnh
em gái đầu. em trai thứ hai của Sơn
Thuý rất giống mẹ. Tịnh bên Sơn
lo in bao nhiêu tập nhạc thời trước

tôi nhiều kỷ niệm với Sơn và Tịnh
những tháng năm trên Blao – Đàlạt
những đêm sương giữa phố khuya
nhiều đêm thấy ta là thác đổ

hồi đêm chừng như không ngủ
nhớ ngày giỗ bạn. không về thăm
vòng hoa thay. với bao ngày cũ
Sơn ơi Sơn ơi mười ba năm …

Sơn ơi Sơn đã về bên Má
chúng ta yêu Má yêu Me vô cùng .

Virginia, April 1, 2014

[1] Mẹ: ngoài đời Sơn gọi Má, tôi gọi Me

trong các ca khúc Sơn đều dùng Mẹ
Mẹ bỏ tôi đi
Đường xa vạn dặm
Me bỏ con đi
Đường xa mịt mùng …
( TCS – Đường xa vạn dặm – 1992 )


UserPostedImage

Ngày giỗ Trịnh Công Sơn, Sàigòn 1- 4 – 2014
Trịnh Quang Hà ( em trai kế TCS ) – La Quang Thanh
– Lữ Quỳnh ( hai bạn thân ) – Trịnh Xuân Tịnh ( em trai thứ hai TCS )


Và có khi nào Sơn trở lại

gởi Dao Ánh, ngày giỗ Sơn 1- 4
Auras-tu jamais le temps de revenir ? (*)

Và dòng sông cũng mang tên người
về mộ phần. như câu bạn tự hỏi về
đời mình. có bao giờ còn thời gian trở lại
thư cho Dao Ánh năm mươi năm còn đó

nửa thế kỷ rồi sao. cô bé đẹp như Anne Frank
đẹp thánh thiện. đôi mắt tròn xoe ra mở cổng
trước sân nhà. có cây dạ lý hương lâu năm
từng chùm bông trắng nở. ẩn trong cành lá

một buổi sáng hôm nào rất lạ. mở cửa sổ ra
thấy cành bông ai cắm. người nhạc sĩ cảm động
từ đó ra mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ
dài tay em mấy thuở mắt xanh xao …

nhưng cũng từ khi đó mặt trời lại mọc
hoa mặt trời hướng đến mặt trời kia
khi mặt trời tắt trên vùng núi lạ
là Đơn Dương. từng đêm bao lá thư về

bao lá thư đã ố vàng. một thời mộng mị
bạn có về không. ánh nến chập chùng đây …

Virginia, March, 31, 2014
Đinh Cường

(*) Trong bản nhạc J’ENTENDS SIFFLER LE TRAIN
của Hedy West và Jacques Plante.

UserPostedImage
Dao Ánh lúc 16 tuổi

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
CatLinh  
#74 Posted : Friday, February 13, 2015 10:03:50 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 3/12/2015(UTC)
ASIAlcoholic  
#75 Posted : Wednesday, February 25, 2015 10:08:00 PM(UTC)
ASIAlcoholic

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 12/21/2011(UTC)
Posts: 1,213
Location: USA

Thanks: 2319 times
Was thanked: 1592 time(s) in 850 post(s)
UserPostedImage

RỪNG XƯA ĐÃ KHÉP

Ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ cây
Ta thấy em đang ngồi khóc khi rừng chiều đổ mưa
Rừng thu lá úa em vẫn chưa về
Rừng đông cuốn gió em đứng bơ vơ

Ta thấy em trong tiền kiếp với mặt trời lẻ loi
Ta thấy em đang ngồi hát khi rừng về nhiều mây
Rừng thu thay lá mưa bay buồn rầu
Rừng đông buốt giá mưa bay dạt dào

Ta vẫn mong ta chờ mãi trên từng ngày quạnh hiu
Ta vẫn mong em về đây cho đời đầy cuộc vui
Mùa xuân đã đến em hãy quay về
Rừng xưa đã khép em hãy ra đi...


Y PHƯƠNG

thanks 1 user thanked ASIAlcoholic for this useful post.
phamlang on 3/12/2015(UTC)
CatLinh  
#76 Posted : Sunday, March 1, 2015 4:52:59 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 3/12/2015(UTC)
thunder  
#77 Posted : Sunday, March 1, 2015 8:59:27 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)


UserPostedImage

Hát cho một người nằm xuống

Sáng tác : Trịnh Công Sơn
Trình bày: Khánh Ly


https://www.youtube.com/watch?v=RkMmRE_5W-4

Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây
Đã vui chơi trong cuộc đời nầy
Đã bay cao trong vòm trời đầy
Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai
Không có ai, từng ngày, không có ai đời đời
Ru anh ngủ vùi, mùa mưa tới
trong nghĩa trang này có loài chim thôi!

Anh nằm xuống cho hận thù vào lãng quên
Tiễn đưa nhau trong một ngày buồn
Đất ôm anh đưa vào cội nguồn
Rồi từ đó, trong trời rộng, đã vắng anh
Như cánh chim, bỏ rừng, như trái tim bỏ tình
Nơi đây một lần, nhìn anh đến
những xót xa đành nói cùng hư không!

Bạn bè còn đó anh biết không Anh?
Người tình còn đó anh nhớ không anh?
Vườn cỏ còn xanh, mặt trời còn lên
Khi bóng anh như cánh chim chìm xuống.

Vùng trời nào đó anh đã bay qua?
Chỉ còn lại đây những sáng bao la
Người tình rồi quên, bạn bè rồi xa
Ôi tháng năm, những dấu chân người cũng bụi mờ.

Anh nằm xuống, như một lần vào viễn du
Đứa con xưa đã tìm về nhà
Đất hoang vu khép lại hẹn hò
Người thành phố, trong một ngày, đã nhắc tên
Những sớm mai, lửa đạn
những máu xương chập chùng
Xin cho một người vừa nằm xuống
thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang...


thanks 1 user thanked thunder for this useful post.
phamlang on 3/12/2015(UTC)
phamlang  
#78 Posted : Thursday, March 12, 2015 5:13:47 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

Trịnh Công Sơn - Chim Họa mi và Nàng thơ


Trên khắp nẻo lãng du cho một cuộc tình, cho cuộc đời, thân phận, quê nhà, hay cả một-cõi-đi-về, có một người làm thơ mà không mang danh là thi sĩ: Trịnh Công Sơn, người chép sử tương lai trên lưng sóng nhạc, trên lưng thời gian, hay đó là gã du ca có trái-tim-làm-bến-hẹn, thật tự nhiên và cũng thật tình cờ, của họa mi với nàng thơ, và, là thiên-đàng-của-những-cuộc-tình-đã-mất: cái gì đã mất thì còn lại mãi mãi, “On ne possède éternellement que ce qu'on a perdu” (Ibsen). Biết bao phút giây yêu dấu ngậm ngùi, họa mi đã hót, đã hát, hát bằng hơi thở và cả hiện sinh của nàng thơ - tiếng hát vẳng từ cõi bất định đến vô hạn - tiếng hát sao rạt rào ước mơ đang trôi xuôi vào lòng vĩnh cửu, mà sao cũng mênh mông mênh mông một nỗi tàn phai: “Tôi như trẻ thơ ngồi bên hiên nhà chờ xem thế kỷ tàn phai [...] Tôi như là người ngồi trong đêm dài nhìn tôi đang quá ngậm ngùi”: cảm thức về nỗi tàn phai, in như, có thể là chủ đề chính yếu vừa là mẫu số chung cho hết mọi chủ đề khác trong suốt khoảng sáu trăm ca khúc. Cảm thức này ta nghe vang dội vào lòng mình từ NHạC hay từ nỗi bâng khuâng không nơi nương tựa trong LờI CA, hay từ sự kết hợp tự nhiên của nhạc và lời? Một trường hợp tương tự ta có Charles Trénet: “La poésie? Je ne l'ai jamais cherchée. Elle est venue à moi, de temps en temps comme elle va à tous ceux qui savent regarder les choses. Parfois une phrase musicale nait en même temps que les rimes. Ce hasard n'est pas extraordinaire”. Thơ làm cho nhạc thêm màu ray rứt, và nhạc lại tạo cho lời thêm nhiều mộng mơ. Ca khúc của Trịnh Công Sơn quả là đám cưới của lời-thơ-và-ca-khúc “nhạc và thơ quyện chặt cho nhau đến độ khó phân biệt cái nào là chính cái nào là phụ.”


Bây giờ ta thử đi vào khu vườn lãng du kia xem người nhạc sĩ đã trồng cấy loại kì hoa dị thảo gì khiến tình chàng buồn tha thiết trong một thông điệp Nàng thơ gửi lại cho nhân gian khiến cho nhân gian cũng buồn tha thiết, như trang phúc âm buồn gửi cho một-cõi-đi-về, và nhất là, một nỗi tàn phai vương vương đầy tiếng hát mà ta nghe cũng như chính lòng mình vương vướng một nỗi tàn phai. Hai chủ đề mà chúng ta muốn nghe tiếng du ca kể lại cũng chính là những ám ảnh lớn của một đời người giữa cuộc đời đầy những bất trắc đó sao? là những gì mà chàng đã từng gọi là những giấc mơ đời hư ảo?

I. Gã Du Ca Giữa Lòng Biện Chứng Của Tình Yêu:

Có ai nghe tiếng hát giữa trời khuya: “Tình ngỡ đã phôi pha nhưng tình vẫn còn đầy” “Trời buông gió và mây về lưng đèo. Mùa xanh lá loài sâu ngủ quên trong tóc chiều. Cuộc đời đó nửa đêm tiếng ca lên như than phiền (Dấu chân địa đàng). Môi nào hãy còn thơm cho ta phơi cuộc tình [...] Không còn không còn ai. Ta trôi trong cuộc đời (Ru ta ngậm ngùi). “Con sông là quán trọ và trăng tên lãng du” (Biết đâu nguồn cội). Ai hát giữa trời khuya? Trầm mình trong một cảm thức về nỗi tàn phai, gã du ca hát lớn giữa trời khuya. Chàng tự gọi tên mình - vì không còn không còn ai, Ta trôi trong cuộc đời -, tự ru lấy tim mình, trong một cõi tình xa, tình nhớ, khi tình đã vội quên - không chờ không chờ ai - từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ “Ôi những dòng sông nhỏ lời hẹn thề là những cơn mưa” (Tình Xa). Gã du ca chỉ muốn, cũng như bao thi sĩ lãng mạn, trốn chạy chốn đang ở, đang cư ngụ, đang sống, những mong chờ một chốn nào khác, một nơi yên tĩnh trên mây, ngoài địa cầu, phía bên kia hành tinh, như một gã trăng-tên-lãng-du. Chàng muốn làm một trăng kia (chứ làm gì có trong vũ trụ này một trăng tên lãng du!). Hẳn , chỉ có một người chĩu nặng tâm thức lưu đày mới ước mong một quê nhà để trốn chạy cái hiện tại vô nghĩa buồn nôn không chịu nổi, như chính “Người đàn bà ngoại tình” trong LõExil et le Royaume của Ạ Camus. Tâm thức lãng mạn với cảm thức lưu đầy chắp đôi cánh thơ mộng, cho chàng du ca bay vào cõi mênh mông của nhớ thương của vời vợi tình buồn “Khi bước chân ta về đêm khuya nhìn đường phố thành phố hoang vu như một lần qua cuộc tình. Làm sao em biết đời sống buồn tênh.” (Tình xa) Nơi này đã là nơi không còn không còn ai; chàng du ca muốn ẩn thân vào một chốn-xa-xăm-nào-đó-cũng-không-còn-ai-không-còn-ai để, nơi ấy, tháng ngày, chàng gậm nhấm nỗi tịch liêu tâm hồn cho vừa cơn yêu dấu, để ta ru ta ngậm ngùi “Con chim đứng lặng câm, khi về trong mùa đông. Tay rong rêu muộn màng. Thôi chờ những rạng đông. Xin chờ những rạng đông” (Ru ta ngậm ngùi). Vào cuối thế kỷ trước, một thi sĩ Pháp đã từng gọi trần gian này là một bệnh viện mà mỗi kẻ trần gian là một bệnh nhân chỉ muốn trốn chạy này: “Cette vie est un hôpital où chaque malade est possédé du désir de changer le lit” (Baudelaire, Invitation au voyage).


Từ khước nơi này và hôm nay là cảm thức lãng mạn từ đó mà nàng thơ đã xây nên bao lâu đài thi ca tuyệt mỹ. “Il est un pays superbe [...] que je rêve de visiter avec une vieille amie [...] Un vrai pays [...] où tout est beau, riche, tranquille, honnête; où le luxe a plaisir à se mirer dans lõordre; où la vie est grasse et douce à respirer [...] Oui, cõest là quõil faut aller respirer, rêver, allonger les heures par lõinfini des sensations”. (Invitation au voyage, Petits pòemes en prose). Trong thơ tiền chiến, tâm thức ấy được gọi dậy hơn một lần. “Hỡi thượng đế!Tôi cúi đầu trả lại. Linh hồn tôi đà một kiếp đi hoang. Sầu đã chín xin người thôi hãy hái! Nhận tôi đi dầu địa ngục thiên đàng” (Huy Cận, Trình bày). “Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh. Một vì sao trơ trọi cuối trời xa. Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh. Những ưu phiền đau khổ với buồn lo.” (Chế Lan Viên, Những sợi tơ lòng). “Tha phương réo gọi mong chờ. Con tàu luân lạc đêm mờ còn say.” (V.H. Chương, Con tàu say). “Nhổ neo rồi thuyền ơi xin mặc sóng! Xô về đông hay lạc tới phương đoài. Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng. Lòng cô đơn, cay đắng họa dần vơi. Lũ chúng ta, lạc loài, năm bảy đứa. Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh. Bể vô tận sá gì phương hướng nữa, Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh. Lũ chúng ta, đầu thai nhầm thế kỷ. Một đôi người u uất nỗi chơ vơ; Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị; Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang sơ. (V.H.C, Phương xa).
Lãng mạn như những tâm hồn ấy, gã du ca đã từng hôn lên nỗi đau lưu vong để hát vọng lên non tiếng khóc thầm mà tình yêu là men say là chất đời vĩnh cửu. “Một hôm buồn ra ngắm dòng sông. Một hôm buồn lên núi nằm xuống... Tôi như trẻ nhỏ tìm nơi nương tựa mà sau vẫn cứ lạc loài. Tôi nghe sa mạc nối dài. Đừng nghe tôi nói lời tăm tối. Đừng tin tôi nhé vì tiếng cười (...). Tôi như người ngồi trong đêm dài nhìn tôi đang quá ngậm ngùi” (Tự tình khúc). Có một điều thầm kín nhất và cuối cùng mà chàng muốn nói với người yêu, với một ai đó, nhưng không còn không còn ai, chung quanh chàng chỉ có sa mạc nối dài. Chỉ có tình yêu là men say là chất đời vĩnh cửu và tình yêu cũng ra đi bây giờ không còn không còn ai... Hồn muốn trốn chạy, chân vướng địa cầu, giấc mộng phiêu lưu chìm vào ưu uất để một hôm vang lên thành tiếng họa mi “Anh đi về đâu? Về cõi chiêm bao. Lìa những cơn đau. Hồn tuyết bao la” (Có một ngày như thế). Có dòng sông nào để chàng ra ngắm? Không. Đó là một dòng đời nào khác với dòng đời hiện tại, đó là một dòng đời nào chàng những thầm mơ ước để đánh đổi cuộc đời này, để nơi ấy chàng có thể nói với ai đó một lời thầm kín nhất và cũng là lời cuối cùng của một đời người - Khúc tự tình - nhưng chung quanh chỉ có một sa mạc nối dài, và, không còn không còn ai. Chàng vội úp mặt xuống địa cầu để gửi những giọt lệ câm vào lòng núi để không còn ai biết lý lịch đời chàng, không còn ai không còn ai vì đời chàng quá ngậm ngùi vì “Tôi như nụ hồng nhiều khi ưu phiền chờ tôi rả cánh một lần” (Tự tình khúc).


Bằng một khát khao sống, chàng du ca chỉ những muốn mở phơi nỗi lòng cho tình yêu, một dáng xuân nồng, cỏ hoa, cây lá mọi người và cả cuộc đời. “Tôi như là người lạc loài trong đô thị một hôm đi, về biển khơi (...) (Tự tình khúc). Sống giữa đô thị mà vẫn lạc loài giữa đô thị: chàng du ca cô độc chạy trốn đô thị để về biển khơi. Biển khơi là một phạm trù không gian mơ ước nhằm hóa giải cho hiện tượng lạc loài giữa đô thị, nơi đó có mặt trời, hoàng hôn, biển, màu tóc nhân ngư, đường chân trời quằn quại cùng sợi buồn kết dệt trong hồn chàng, và đêm đêm về, để chàng thấy rõ hơn hồn chàng là một ngọn đèn vơi cạn lửa thắp sáng lên một niềm riêng. Lòng chàng muốn là biển kia, nơi đó ý thức đam mê vượt thoát được nỗi lạc loài, và cảm thức lạc loài sẽ bật lên thành những tiếng nấc trong cổ họng chim họa mi “Tôi đi tìm ngày tìm đêm lâu dài một hôm thấy được đời tôi (...) Đừng tin tôi nhé vì tiếng cười”(Tự tình khúc) Làm sao cứu chuộc được cuộc đời lạc loài này! Làm sao vượt thoát được chiếc lưới cô độc bủa vây! Một thành trì không tường ngăn song chắn mà sao kín bưng giam lỏng một ngọn đèn vơi cạn lửa từng đêm từng đêm!
Thôi cũng đành. Đành sống với đời này vậy. Gã du ca đành phải trốn chạy lạc loài bằng cách lao mình vào cõi lạc loài. “Hãy cứ vui chơi cuộc đời. Đừng cuồng điên mơ trăm năm sau, còn đây em ngọt ngào, đứng bên ngày yêu dấu. Nhìn mây trôi đang tìm về núi cao.” (Hãy cứ vui như mọi ngày). Chàng tìm vui trong tình buồn, tình nhớ, tình xa và tình ngọt ngào đã chết. Bởi giữa chốn lạc loài này còn gì nữa đâu nếu không là hát khúc tình ca bình yên. “Rồi từ nay em gọi tình yêu dấu chiêm bao, gọi thân hao gầy, gọi buồn ngất ngay. Ôi tóc em dài đêm thần thoại vùng tương lai chợt xa xôi”. (Gọi tên bốn mùa). “Thôi ngủ đi em, mưa ru em ngủ, tay em kết nụ nuôi trọn một đời, nuôi một đời người.” (Ru em từng ngón xuân nồng).
Lãng mạn như những thi sĩ lãng mạn, nhưng tình yêu trong cõi Trịnh Công Sơn không lãng mạn theo kiểu giục giã ái ân, tình kÿ nữ vội vàng nhòa nhạt gối chăn, cũng không than van cầu khẩn, dan díu thiết tha rồi sầu xa giẫy dụa, mà tình yêu hóa thân từ những người tình theo một biện chứng đến chỗ vô thường.


Từ cụ thể đến trừu tượng, từ trừu tượng đến nên thơ siêu hình: đó là hành trình biện chứng của tình yêu xuyên suốt sáu trăm bài ca khúc của gã du ca vì gã là trăng và, trăng tên lãng du. “Có khi mưa ngoài trời là giọt nước mắt em (...) Ngoài phố mùa đông đôi môi em là đốm lửa hồng (...) Ru đời đi nhé ôi môi ngon này giữa trần gian” (Ru đời đi nhé). Chàng du ca không bao giờ muốn giữ lại một cơn yêu dấu: tình yêu chợt đến như bóng mây thì chàng ca ngợi rồi trả nó về cho bóng mây. Tình yêu đối với chàng không phải là tổng thể yếu tố thế gian kết cấu trong một pho tượng sống mà là chất đời và từ đó chất đời thăng hoa thành chất thơ và chất nhạc để lòng chàng phổ vào nỗi tàn phai. Những người tình không còn nữa. Những Diễm xưa, những Quỳnh hương, những người tình bỏ ta ra đi.. thảy đều không còn nữa: chỉ còn lại những cuộc tình. “Không có em còn ai với ai (...) Em đã như ngọn gió quạnh hiu. Không có em đường cũ tiêu điều. Em đã xa lìa trong nổi đau. Em đi biền biệt muôn trùng quá (...) Từng nổi nhớ trùng trùng nỗi nhớ” (Còn ai với ai). Người tình đã biền biệt: chỉ còn lại cuộc tình quạnh hiu, như một ngọn gió quạnh hiu. Chàng không còn biết người tình là ai mà chỉ có một điều chàng không thể không biết được: còn lại một cuộc tình và những cuộc tình. Từ đó lòng chàng mở phơi cho niềm rung cảm dệt xanh chất đời để hương đời tỏa ngát như một nỗi tàn phai nhè nhẹ. Chàng chỉ còn biết hát lời tình buồn mà không ngần ngại, chỉ còn biết thả hồn lang thang về thành phố cũ, giữa đô thị lạc loài, giữa mênh mông mênh mông phôi phai, Và, bây giờ còn lại là có sợi tóc nào xanh, có sợi tóc nào bay, có còn môi nào thơm có còn môi nào yên cho chàng hát rêu rao đời mình, cho chàng mượn làm thuyền buồm mà rong chơi trên đường phố quạnh hiu, trên biển khơi lặng yên, trên núi cao xanh xao. “Một buổi chiều kia có người tình trẻ đi lang thang quanh ngôi thành cổ. Từ bờ môi hát lên nhè nhẹ. Từ lời ca rớt thành cơn mưa (Níu tay nghìn trùng).


Cuộc tình, những cuộc tình là chất sống; men đời còn lại từ những người tình đã ra đi, và trở thành dưỡng chất trần gian (đã một lần thăng hoa) nuôi nàng thơ và họa mi trong cõi ca khúc của chàng-lãng-tử-là-trăng. Người tình đã ra đi: bây giờ còn lại là cơn mưa, mây, con đường hiu quạnh, ngôi thành cổ, như cánh vạc bay, tóc-em-dài-đêm-thần-thoại, nắng nghiêng cao... “Khi bước chân ta về đêm khuya nhìn đường phố. Thành phố hoang vu như một lần qua cuộc tình. Làm sao em biết đời sống buồn tênh. Đôi khi ta lắng nghe ta nghe sóng âm u dội vào đời buốt giá. Hồn ta gió cát phù du bay về. Đôi khi trên mái tình ta nghe những giọt mưa. Tình réo tình âm thầm sầu réo sầu bên bờ vực sâu (Tình xa). Muốn cho hồn chàng trở thành cõi hoang vu phì nhiêu để từ đó dấy lên lời thơ tiếng nhạc vang dội vào hàng triệu trái tim người thì hồn chàng phải bốn bề bỏ ngỏ cho người-tình-xa-cách-trong-không-gian, để chàng-được-gần-mãi-với-tình-trong-thời-gian mà hoang vu là bến hẹn mà bản chất là nỗi tàn phai. Chim họa mi bèn hát lên bên bờ quạnh hiu, trên đường phố chỉ có sa mạc nối dài, dưới thung lũng mưa mưa hồng, bên dòng sông nắng đang chờ, đang chờ ai, trên đường về chỉ có bóng chàng đổ dài hiu hắt chung quanh chàng không còn không còn ai và lòng chàng là cõi tình réo tính âm thần, sầu réo sầu trên bờ vực sâu. Chỉ có một mình chàng-là-trăng-là-lãng-du lắng nghe hồn mình nói với hồn mình, là mưa rơi từng giọt âm thầm bên vách tim chàng. Chàng im lặng, úp mặt xuống nghe, để kể cho lòng đất nghe một khúc tình tự mà sao hoang vu hoang vu bay đầy và mênh mông mênh mông một cõi tàn phai... “Ru mãi ngàn năm giòng (sic) tóc em buồn (...) Ru mãi ngàn năm từng ngón xuân nồng (...) Còn lời ru mãi vang vọng một trời. Mùa xanh lá vội ru em miệt mài, còn lời ru mãi, còn lời ru này, ngàn năm ru hoài, ngàn đời ru ai” (Ru em từng ngón xuân nồng).

Khi người tình chưa vội đi thì hồn chàng còn gắn chặt với bây giờ, hôm nay, còn kết chặt với hiện tại và ở đây, với một người, với một ai; nhưng khi người tình đã vội đi thì chàng cũng đã cởi trói ra khỏi một người, khỏi cái-hôm-qua-và-ở-đây để một hôm chàng phiêu lãng vào một không gian phi không gian, một thời gian phi hiện tại và một cuộc tình phi người tình: cõi hoang vu của thơ-và-nhạc. “Cúi xuống bên bờ xót xa, trên cơn lửa đỏ trên khuôn mặt đã im lìm. Cúi xuống nhìn sâu trong mắt và nghe mưa bão tan đi trong đại dương. Cúi xuống cúi xuống thật buồn (...) Cúi xuống cho tắt nụ cười cho chút da thịt người trong tan hoang vẫn còn bóng mát che ngang” (Cúi xuống thật gần). Chàng vội khép mi lại nhìn lòng mình rõ hơn! Chàng bèn gọi tên mình giữa mưa gió, nắng, bão, trên núi, ngoài biển, trên cánh đồng phù du, bên dòng suối cũng thật quạnh hiu. Chàng bèn ca nỗi buồn cho chính mình nghe và cũng để cho người tình đã vội ra đi nghe cùng trong một không gian xa cách mịt mùng. “Rồi từ nay em gọi tình yêu dấu chim bay, gọi thân hao gầy, gọi buồn ngất ngây. Ôi tóc em dài đêm thần thoại vùng tương lai chợt xa xôi” (Gọi tên bốn mùa) “Thôi ngủ đi em, mưa ru em ngủ, tay em kết nụ, nuôi trọn một đời, nuôi một đời người” (Ru em từng ngón xuân nồng). Gọi tên em bốn mùa trong cõi thiên thu cũng chính là chàng du ca kia tự gọi tên mình cho đỡ nhớ vì không còn không còn ai để gọi tên mình. Quả nhiên, chàng không gọi tên một người tình nào, không gọi một ai, mà chỉ gọi chính lòng mình qua hình ảnh các em-phi-em; các em đã vội đi cho nên có còn gì chăng cũng chỉ là một mái tóc thần thoại, đôi cánh vạc bay, một môi hồng một nghìn năm trước một môi hồng một nghìn năm sau, những cơn mưa phi không gian, những đêm tối phi thời gian. Các em đã vắng mặt như một hư vô thì hư vô này lại còn hiện hữu hơn sự có mặt của các em: những cuộc tình dần dần chuyển sang tình yêu man mác mông lung, bao la là tàn phai và mông lung là hiu quạnh.

“Chìm dưới cơn mưa và chìm dưới đêm khuya. Trời đất bao la còn chìm đắm trong ta. Hạt cát ngu ngơ nằm chìm dưới chân đi. Bờ biển thiên thu nằm chìm dưới hư vô. Chìm dưới cơn mưa một nghìn năm trước mây qua mây qua môi em hồng nhạt. Chìm dưới cơn mưa một ngàn năm nữa mây qua mây qua môi em hồng vừa. Chìm dưới cơn mưa, một người nằm chết đêm qua. Chìm dưới đất kia một người sống thiên thu. Chìm dưới cơn mưa một dấu chân đi chìm dưới đất kia hạt cát bao la” (Chìm dưới cơn mưa). Hẳn chàng du ca không hề sẵn sàng xoay lưng với một người tình nào chợt mất mà “hình như” lúc nào chàng cũng sẵn sàng đợi chờ sự mất ấy bởi cái đẹp cái thơ mới thật sự bắt đầu bằng sự mất mát kia: những cuộc tình còn lại mang đến cho cõi-hoang-vu-là-lòng-chàng những tiếng hát dưới cơn mưa thật ngậm ngùi, những ngôn ngữ của nhạc-và-thơ trong một hạt cát bao la, bao la.
Những cuộc tình rồi cũng tàn phai úa rữa để mọc dậy, phục sinh những tình yêu của nhạc-và-thơ. Em đã ra đi, sầu ở lại. Em đã chết đi, anh vĩnh viễn nhớ. Tình em thu gồm trong một cá thể, bây giờ anh thấy em thần thoại nối hết mọi tha nhân. Hiện hữu mới thật bộc phát từ hư vô. Trong hiện hữu mọi hiện tượng đều bị giới hạn; trong hư vô mọi biên cương đều bị phá vỡ, tưởng tượng sẽ phong phú với hư vô hơn với hiện hữu. Nét môi em bây giờ là vần thơ anh viết trên trán một người chìm trong cõi hư vô. Mắt em bây giờ xanh thẳm và hút sâu như đôi ngôi sao cổ tích lúc nào cũng lấp lánh trong anh, trong cảnh hoang vu, cõi lạc loài, cõi sa mạc nối dài, em em ơi, làm sao em biết đời sống buồn tênh... Tình yêu đối với trăng-lãng-du là tình yêu đã ra đi và tình yêu đã ra đi trong suốt một hành trình biện chứng của hóa thân và thăng hoa. Từ cụ thể - người tình- tình yêu của em hóa thân thành trừu tượng - cuộc tình; Tình yêu trừu tượng này dần dần thăng hoa thành nhạc và thơ: “Hoa thanh quý nở bừng trong diễm sử” (Đinh Hùng). Tuyệt đối, Trịnh Công Sơn không bao giờ muốn giữ lại trong tay chàng một người tình nào cả; thật ra, chàng cũng chẳng ý thức cụ thể về điều đó. Hồn chàng là cõi hoang vu dệt bằng hai canh chỉ nhạc và thơ. Trong hai từ nhạc và thơ đã bao hàm vô định lẫn vô biên, hư vô lẫn hiện hữu, buồn vui không biên giới, hạnh phúc và nỗi niềm thân phận cũng chỉ là một. Mọi cuộc tình đều mang yếu tính thế gian, chỉ có tình-yêu-nhạc-và-thơ mới phi thế gian, phi đời. Sự hoang vu dày dặc trong hồn chàng là cả một hiện sinh đợi thời gian đến để khước từ, đợi không gian đến để gọi tên rồi lặng yên. Tình yêu là gì? Là màu xanh rừng sẽ giữ mãi, là hương đời sẽ gửi mãi cho gió, là buồn vui đang nằm chờ để hợp nhất. “Tấm lòng em như lá kia còn xanh.

Rừng ơi hãy giữ cho bền nhé (...) Em đã đến nơi này tựa như cánh én. Dịu dàng trao chút hương hoa mùa xuân. Nhớ gì mà nắng vàng cánh rừng. Thương gì mà sương khuya vội buông. Chiều nay bên trời xao xuyến, còn em trong từng nhớ thương.” (Vẫn có em bên đời). Tình yêu của chàng du ca không chỉ là hiển thể (étant) mà tất yếu phải biện chứng sanh hữu thể (être). Hiện thể thì tất yếu tàn phai tan tác như một vật chất thuần túy; và hữu thể thì cũng tất yếu và luôn luôn khai phóng để phong phú hơn và mãi mãi phong phú hơn như bất tử. Khi tình yêu thế gian bắt đầu ngả đổ tan tác thì cũng là lúc tình-yêu-hữu-thể bắt đầu thơ mộng. “Có khi mưa ngoài trời là giọt nước mắt đã nương theo vào đời làm nỗi ưu phiền. Ngoài phố mùa đông đôi môi em là đốm lửa hồng (...) Ru đời đi nhé ôi môi ngon này giữa trần gian” (Ru đời đi nhé). Em như cơn gió quạnh hiu. Không có em đường cũ tiêu điều. Em đã xa lìa nỗi đau. Em đi biền biệt muôn trùng quá. Từng cơn gió và từng cơn gió. Em đi gió lạnh bến xa bờ. Từng nỗi nhớ trùng trùng nỗi nhớ.” (Còn ai với ai). Hình như nhạc sĩ du ca lúc nào cũng muốn nói rằng: này tình yêu, em ơi, không bao giờ em chết trên cung tay ta như một loài côn trùng ngủ sâu, mà chính ta sẽ chết theo năm tháng hạnh phúc đã thăng hoa từ mắt em, từ môi em, từ ngón xuân nồng, từng ngón chân xưa dội về phố cũ - Ôi tóc em dài đêm thần thoại - Không, không bao giờ em chết trên tay ta theo tháng năm trần lụy mà ta sẽ ru em. Ru mãi ngàn năm giòng tóc em buồn. Ru mãi ngàn năm từng phiến môi mềm.

Còn lời ru mãi, vang vọng một trời. Mùa xanh lá vội, ru em miệt mài, còn lời ru mãi, còn lời ru này ngàn năm ru hoài, ngàn đời ru ai. Người du ca không còn ru những người tình nữa mà ru những cuộc tình đã thăng hoa thành tình-thơ-và-nhạc để rồi những tình này cũng sẽ thăng hoa thành một đóa. “Hoa thanh quý bừng trong diễm sử”. Ngàn đời ru ai. Ai. Không còn ai, là tất cả các em đã ra đi, là những cuộc tình cũng đã vội trôi; giờ đây, không còn một ai, tức là còn tất cả. Tất cả các em bây giờ là một: ai. Các cuộc tình đã thăng hoa để đạt đến chỗ đồng nhất một: một là ai; ai là tất cả, là em, là những em. “Ru em ngủ những đêm khuya, ru em ngủ tháng âm u ru em cùng những u mê ru em dù đã chia xa. Ru em vì những đêm xưa (...) Ru em từng giọt bùi đã qua (...) Cuối đời còn gì nữa đâu, đã tàn mộng mị khát khao” (Ru em). Những cuộc tình bây giờ chỉ còn là kỷ niệm. Kỷ niệm là thời-gian-hoài-mộng, mà cũng là thời-gian-phóng-hiện-vào-tương-lai trên con đường sáng tạo nghệ thuật. Nhớ lại các em, những cuộc tình: người du tử bèn chép sử tương lai vì tương lai là quê hương của khát vọng, của mộng mị, là bến hẹn của tục lụy đầu thai làm thanh quý, để những tình yêu đầu thai làm tình-yêu-nhạc-và-thơ để tình-yêu-nhạc-và-thơ đầu thai làm đóa hoa vô thường.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#79 Posted : Thursday, March 12, 2015 5:15:34 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
tt

Không, không bao giờ các em chết trong những quạnh quẽ của tháng năm, của bẽ bàng thân phận, của hững hờ định mệnh và, và, của bội bạc lẽ sống. Không. Các em sẽ ngủ mãi trong lời ru này, trong tiếng hót của họa mi, ngủ mãi trong lòng ta, trong hơi thở của nàng thơ. Chim họa mi và nàng thơ cùng ta sẽ ru các em mãi mãi trên lưng sóng nhạc, trong giấc ngủ thiên thu của đóa hoa vô thường . Đối với trăng-lãng-du, không có một tình yêu nào mất đi cả. Những cuộc tình đã vội qua là những thăng hoa của tình yêu vội thăng hoa theo cấp số nhân mà thời gian chỉ trôi giạt theo cấp số cộng, hỡi các em, xin đa tạ các em đã cho ta, giờ đây, sự bất tử của tình yêu. Xin đa tạ các em. Em đã cho tôi bầu trời là những mênh mông vô hạn. Em đã cho tôi yêu thêm loài người: tình yêu các em là dưỡng chất trần gian nuôi hồn tôi thêm cao quý: mở rộng cho tha nhân... Và, chiều nay em muôn đời nằm xuống là lúc tôi có em đời đời vì từ đây tôi xót xa chờ đợi, vì từ đây không còn có ai phụ người. (Em đã cho tôi bầu trời). Những cuộc tình đã vội quên là những hóa thân vội vã của những cuộc tình thành những Tình xa, Tình nhớ, Biển nhớ, Ru em từng ngón xuân hồng, Ru ta ngậm ngùi, Ru em... Nỗi bận bịu lớn nhất đối với trăng-lãng-du không phải là “sợ tình yêu sẽ ra đi hay đã quên đã chết” mà chính là hăm hở chờ cho tình yêu đã ra đi (vô thức) để tình-thật-sự-là-tình-trở-về-mãi-mãi bên chàng. “Tình ngỡ chết trong nhau, nhưng tình vẫn rộn ràng. Người ngỡ đã quên lâu nhưng người vẫn bâng khuâng” (Tình nhớ).


“Cuộc tình nào đã ra khơi ta còn mãi nơi đây. Từng người tình bỏ ta đi như những giòng (sic) sông nhỏ. Ôi những giòng (sic) sông nhỏ lời hẹn thề là những cơn mưa (...) Đôi khi ta lắng nghe ta nghe sóng âm u dội vào đời buốt giá. Hồn ta gió cát phù du bay về. Đôi khi trên mái cuộc tình ta nghe những giọt mưa, Tình réo tình ta âm thầm, sầu réo sầu bên bờ vực sâu” (Tình xa) “Tình yêu như trái phá con tim mù lòa. Một mai thức dậy chợt hồn như ngất ngây, chợt buồn như mắt nai, rồi tình vui trong mắt, rồi tình mềm trong tay (...) Tình như cơn bão đi qua địa cầu. Tình khắp cơn sầu, tình dìu qua hố sâu tình vời lên núi cao rồi trong cơn yếu dấu, tình đầy tình xa nhau. Cuộc tình lên cao vút như chim mõi cánh rồi, như chim xa lìa bầy như chim bỏ đường bay. Tình yêu như trái chín trên cây rụng rời. Một mai thức dậy chuyện trò với lá cây, rồi buồn như lá bay (...) Tình cho nhau môi ấm một lần là trăm năm” (Tình sầu).

Tình yêu như trẻ thơ, như người ngu si, như tên mù lòa mới sống được với cõi thật của tình yêu, để rồi, khi tình thế gian gian dối, thì ta còn lại mãi chất đời và men yêu trong mưa, trong nắng trong bóng đêm, trên đường phố, trên chiếc lá, và, trên môi trên tóc ai ôi những đêm dài thần thoại. Kẻ có mãi những nét đẹp của tình yêu là kẻ đã không giữ lại trong tay một đôi môi nào, một mái tóc nào, một ánh mắt nào. Hạnh phúc chính thống trong tình yêu nào phải là cười cợt lả lơi với người tình, mà là chính mình gặm nhắm những miếng thời gian ghi dấu ánh mắt ấy môi sầu kia, một mình trên lưng thành phố cổ, trong bóng đêm heo hút, trong quạnh hiu. Hỡi các em, xin giã biệt, để ta trở về, trở về... để thở theo nhịp thở nàng thơ và ca tụng một đóa hoa thanh quý theo giọng họa mi. Chàng đang gặm nhắm những miếng tình khuất bóng bên bờ vực sâu tâm hồn để nghe hư vô réo gọi tình về hiện hữu trong những phát sóng mông mênh, mênh mông bên đời quanh hiu, bao la trong nỗi tàn phai, bao la... Tình yêu trở về từ cõi xa xăm - ôi áo xưa lồng lộng; người ngỡ quá xa xăm bỗng về quá thênh thang. Tình yêu thật là đời sống buồn tênh, tình yêu đẹp là những giọt mưa long lanh trong mắt em, làn hơi thở mỏng trên màu lá úa trong cõi hoang vu, là tình âm thầm réo gọi bên bờ vực sâu. Tình xa không phải là tình đã mất đi mà là tình mãi-mãi-chờ-ta-bên-bờ-quạnh-hiu. Tình sầu không phải là tình gục ngã đớn đau mà là tình cấy trong thời gian và không gian những bó hoa ngát hương bốn mùa ảo giác.

Tình nhớ không phải là tình ủ dột quÿ lụy van xin ố (mà van xin tình yêu sao không là một hạnh phúc kia chứ) - mà là tình thế gian đã chết và chờ ngày phục sinh để vĩnh viễn đẹp như Môi (các em), Tóc (các em) và mãi mãi thành điệp khúc của nỗi tàn phai... “Có những nghìn năm xưa hóa thân em bây giờ Nên tôi vẫn nhìn thấy em, Giữa đám đông xa lạ Vì em như chim trắng giữa đồng trống bước ra (...) Vì em như Hoa lá Giữa thiên nhiên hiền hòa” (Em đến từ nghìn xưa). P. Eluard đã từng nói “Anh còn nghe giọng em ngân vang trong mỗi tiếng lòng tạo vật” (Jõentends vibrer ta voix dans tous les bruits du monde). Chàng du ca Việt Nam vẫn còn thấy em đi quanh từng giọt nước mắt, đi quanh từng ngọn nến tắt, còn nghe tiếng em gọi xa xôi nghìn trùng, run theo từng ngọn gió “Những con mắt bình minh tắt trên giòng (sic) sông. Những con mắt mùa đông tắt trong hoàng hôn. Ta thấy em bâng khuâng vì ngọn lá úa. Ta thấy em đêm đêm đòi lại tiếng nói. Ta thấy em lênh đênh trên giòng (sic) nước lũ. Ta thấy em đêm đêm đồi bại bóng tối. Ta thấy em vang trong một ngày bão tố”. (Ru đời đã mất).

Những người tình đã đến với chàng đều dạy cho chàng mỗi một điều duy nhất: Cái đẹp của tình yêu là chính cái còn lại của những tình yêu đã mất. Những gì còn lại của những cuộc tình là hơi thở của Nàng thơ, là tiếng hót của họa mi: bây giờ, bóng tối gợi dậy trong lòng chàng những ánh mắt âm u, huyền hoặc, mưa, những giọt nước mắt, bão, những đợt nước mắt chứa chan, gió, tóc các em bay bay, thần thoại, hoàng hôn, bình minh, ôi những đôi môi nồng nàn dường ấy, con đường, hôn những gót chân em, những hẹn hò, những chia tay, những nỗi nhớ; tất cả, và tất cả đã làm nên thế giới ca từ của Trịnh Công Sơn. Hơn thế nữa, những gì còn lại của những cuộc tình đều hóa thân để không còn một dấu vết gì cho thế gian. “Tìm trong vô thường có đôi dòng kinh sấm bay rền vang. Bỗng tôi thấy em dưới chân cội nguồn. Tôi mời em về đêm gội mưa trong em ngồi bốn bề thơm ngát hương trầm. Trong vườn mưa tạnh tiếng nhạc hân hoan. Trăng vàng khai hội một đóa hoa quỳnh (...) Từ nay anh đã có nàng. Biết ơn núi đáp đền tiếng ca. Mùa xuân trên những mái nhà. Có con chim hót tên là ái ân (...) Từ đó ta nằm đau. Ôi núi cũng như đèo. Một chút vô thường theo. Từng phút cao giờ sâu. Từ đó hoa là em. Một sớm kia rất hồng nở hết trong hoàng hôn. Đợi gió vô thường lên. Từ đó em là sương. Rụng mát trong bình minh. Từ đó ta là đêm nở đóa hoa vô thường. Từ đó trong vườn khuya. Ôi áo xưa em là một chút mây phù du. Đã thoáng qua đời ta. Từ đó trong hồn ta. Ôi tiếng chuông não nề. Ngựa hí vang rừng xa. Vọng suốt đất trời kia. Từ đó ta ngồi mê. Để thấy trên đường xa. Một chuyến xe tựa như vừa đến nơi chia lìa (Đóa hoa vô thường).

II Người Du Tử Với Cảm Thức Tàn Phai:

Nếu đóa hoa vô thường là sự kết tinh của cái đẹp và nỗi buồn còn lại từ những cuộc tình đã ra đi, từ những tình yêu thăng hoa, thì, thường xuyên, nỗi buồn và cái đẹp ấy lướt trôi, lướt trôi, qua bình diện ý thức của người du tử, để một lần nữa, có những lúc, hóa thân thành nỗi cô đơn giữa lòng hiu quạnh, hoang vu, khiến chàng chợt giật mình trong cơn buồn dày đặc và hút sâu. “Giật mình nhìn quanh phố xa lạ (...) Đường nào dìu tôi đến cơn say. Một lần nằm mơ thấy tôi qua đời. Lòng thật bình yên mà sao buồn thế. Giật mình nhìn tôi khóc bao giờ (Bên đời quạnh hiu). Cô đơn quả nhiên đã trở thành một nội lực thúc đẩy mọi sinh hoạt tâm lý khác trong đó nổi bật nhất là hiện tượng hãi hùng trước cuộc đời, xao xuyến trước nỗi niềm khiến chủ thể phải trốn chạy cuộc đời bằng vận tốc siêu-siêu-thanh, nhanh nhất là khước từ cuộc đời, toàn diện nhất là trốn chạy cuộc đời; và, có sự trốn chạy nào nhanh hơn mà không là giã từ nhân thế. Nơi mỗi con người đều có một ý lực muốn sống “Vouloir vivre” (Schopenhauer). Thế mà có kể chỉ những muốn khước từ cuộc sống. “Người là một con vật ham sống, kẻ cả những kẻ sắp chết” (Pascal). Trịnh Công Sơn nằm mơ thấy mình qua đời. Nếu giấc mơ là sự hóa giải những ẩn ức thì quả nhiên ca từ là bến hẹn của ẩn ức trên bình diện thực tại, và thực hữu. Ngày xưa, vào khoảng những năm sáu mươi, có một thi sĩ muốn dập tắt nỗi cô đơn đang dày xéo tâm hồn vì chàng rất cô độc, chàng đành phải buộc mình gọi tên mình cho đỡ nhớ; tiếng gọi ấy thất thanh vang vào vũ trụ khiến cho một loài sao phải vỡ tan từng mảnh, những mảnh vỡ ném vào chuông giáo đường như một ngôn ngữ khước từ thượng đế: không có thượng đế trong cuộc đời này vì nếu có thì tại sao ta phải cô độc và quá cô đơn; và, nếu có thì thượng đế cũng đã chết từ lâu chỉ còn ta, ta, cô độc giữa lòng cuộc đời này: “Ném mẫu thuốc lá xuống dòng sông.

Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ, Thanh Tâm Tuyền. Buổi chiều. Sao vỡ vào chuông giáo đường” (Tôi không còn cô độc). Trịnh Công Sơn trốn chạy cô đơn bằng cách yên lặng hơn, nhìn ngắm lại nỗi cô đơn. “Lòng thật bình yên mà sao buồn thế. Giật mình nhìn tôi khóc bao giờ”. Giật mình là một thức tỉnh siêu hình: từ lúc ấy trăng-lãng-du thấy cuộc đời toàn là những cấu trúc của tàn phai. Nhìn người đi như mây vô danh. Thấy mình lạc loài giữa phố cũ. Chung quanh mình sa mạc sa mạc nối dài. Nghe tuổi buồn em mang đi trong hư vô. Nhìn đường phố hoang vu. Sầu réo sầu bên bờ vực sâu. Thành phố không hồn. Lòng ta là ngọn đèn hết lửa để thắp lên một tí niềm tin trong đêm tối. Quanh ta không còn không còn ai. Ngày đi đêm tới trăm tiếng mơ hồ. Ngày đi đêm tới trăm tiếng hư không. “Có còn sợi tóc nào bay. Trong trí nhớ nhỏ nhoi. Không còn không còn ai. Ta trôi trong cuộc đời. Không chờ không chờ ai. Em về hãy về đi. Ta phiêu du một đời. Hương trầm có còn đây. Ta thắp nốt chiều nay. Xin ngủ trong vòng môi. Ta ru ta ngậm ngùi. Đời sao im vắng” (...)


Người về soi bóng mình
Giữa tường trắng lặng câm (Ru ta ngậm ngùi)


Giật mình nhìn tôi khóc bao giờ. Tiếng khóc hòa lẫn bất ngờ làm nên nỗi tàn phai. Một hữu thể phiêu du soi bóng mình trên tường trắng lặng im. Phiêu du hòa lẫn với màu trắng và lặng yên làm nên cảm thức tàn phai. “Linh hồn rất mong manh. Tôi như con chim buồn. Thôi quên đi thiên đường. Tôi như con chim buồn thiếu hạnh phúc trần gian. Có những mùa đông Ngồi khóc rất âm thầm (hu, hu)” (Như con chim buồn). Trong hiện tại, tàn phai là một hiện tượng tan tác, tàn tạ, phôi phai, nhạt nhòa, mờ xa, hiu quạnh, hoang vu, lặng yên, trong quá khứ là xa xôi, không-còn-nữa, luyến lưu từ cái đã mất, và, trong tương lai sắp trở thành hư vô. Và, trong yên lặng, sao nỗi tàn phai ầm vang đến thế! Quạnh hiu. Ngậm ngùi. Cảm thức về nỗi tàn phai không phải là một hiện tượng tâm lý ở đó chủ thể dửng dưng ngắm nhìn sự tàn phai lướt trôi qua bình diện ý thức mà là hiện tượng bộc phát hiện sinh của vô thức nhằm trốn chạy tàn phai bằng cách bắt tàn phai dừng lại, bảo hiện hữu đừng tan tác, cột trói đôi cánh thời gian đang là suối nguồn của tan tác và phôi pha, phá vỡ quá khứ để chụp bắt lại những xa xôi, nuối tiếc, ngậm ngùi. Nếu đã từng nói “Có còn sợi tóc nào bay. Trong trí nhớ nhỏ nhoi (...) Hương trầm có còn đây. Ta thắp nốt chiều nay” thì không những chỉ muốn, một lần nữa “Ta ru ta ngậm ngùi, cho một cuộc tình đã ra đi bây giờ những gì còn lại là nỗi tàn phai đang trãi rộng trong tâm hồn...” mà còn muốn thét rằng: cuộc tình nào đã ra đi sao ta còn mải mê chi, trời hãy lộng gió lên trong tóc em, để ta lùa bàn tay nhiệt đới vào cho tóc em thêm thần thoại cho tóc em thơm nồng hơn trong quá khứ và cho ta say sưa với tất cả những nồng nàn còn giữ mãi trong tóc em, xin đa tạ, và đâu rồi, đâu rồi một làn môi êm, hỡi em, ta muốn thời gian đứng lại cho tình yêu không tàn tạ, cho tóc em thơm mãi trong tình ta, cho tàn phai không đến, cho hiện hữu thêm rào rạt phấn hương yêu chiều nay và chiều nay ta thắp lên một ngọn nến nhỏ mà soi rõ được cả một quá khứ trong đó, ôi đôi môi em là bến hẹn của hồn du mục khát khao về miền viễn xứ... Cũng như một Baudelaire đã từng thèm khát ngụp lặn trong một làn tóc như kẻ khát nước bên dòng suối ngọt và gặm nhai những sợi tóc bềnh bồng mà cứ ngỡ rằng mình đang ăn ngồm ngoàm bao kỷ niệm “Laisse-moi respirer longtemps longtemps lõodeur de tes cheveux, y plonger tout mon visage, comme un homme altéré dans lõeau dõune source, et les agiter avec ma main comme une mouchoir adorant pour secouer les souvenirs dans lõair. Mon âme voyage sur le parfum comme lõâme des autres hommes sur la musique (...) Quand je mordille tes cheveux élastiques et rebelles, il me semble que je mange des souvenirs” (Un hemisphère dans une chevelure).

Tàn phai là, gọi theo thời gian, khoảnh khắc cuối, và gọi theo không gian, là trên một biên cương, những gì sắp chuyển thành hư vô mà bản thể là một nỗi buồn sâu lắng hoang vu đồng lõa với một nỗi cô đơn nào ngậm ngùi nhất, thỏa hiệp với một nỗi buồn nào quạnh hiu nhất và là suối nguồn của một khát khao nào bỏng cháy nhất và là ngôn ngữ chính thống của một tâm thức nổi loạn nào bất lực nhất và là tên gọi chính danh nhất của bất cứ thực tại nào. Và có hiện hữu nào thực hữu và vĩnh hằng hơn mà không bột phát từ hư vô! Đó là chủ đề của phim La Strada của (Pellini), của một vở kịch nổi tiếng bật nhất của Ionesco: Les chaises. Cho nên, tàn phai, bến hẹn của hiện hữu với hư vô, là thiên thai của nỗi buồn vời vợi rung bật lên bao âm vang trong nỗi lòng nhạc sĩ, bao tiếng khóc âm thầm, bao ngôn ngữ tha thiết, vừa tha thiết vừa ngậm ngùi, quạnh hiu, vừa rộn rã vừa quạnh hiu. Nhưng có là gì đi nữa, dù sao đi nữa thì cứ mặc cho nó tình cờ mà lướt qua bình diện ý thức, rồi mặc nó; đằng này chủ thể tư duy phải giáp mặt với chính nó từ một ý thức đã được phản tỉnh bao lần thì quả thật nói sao cho vừa, kể sao cho xiết tính hung hãn, bạo chúa, dã thú của nỗi tàn phai! “Tôi như trẻ thơ ngồi bên hiên nhà chờ xem thế kỷ tàn phai. Tôi như người lạc trong đô thị một hôm đi về biển khơi. Tôi như người trong đêm dài nhìn tôi đang quá ngậm ngùi” (Tự tình khúc). Tàn phai là xót xa thế ấy mà chàng ta phải chờ phải đợi. “Tôi chờ xem thế kỷ tàn phai” là một ngôn ngữ tràn đầy nước mắt, là những nước mắt tràn đầy tiếng khóc câm bặt, một lời tự tình tràn đầy uất ức và phẩn nộ. Hiện hữu là thế đó. Hiện hữu của những tâm hồn, của tư duy. Hiện hữu là nỗi niềm, là thân phận.

Thân phận làm người là phải sống như một cô đơn lạc loài, hoang vu, một nỗi niềm quạnh hiu, ngậm ngùi. “Người nằm yên không kêu than chết trong căn phần. Một góc trời người vẫn ngồi một đời nhỏ nhen. Người còn đứng như tượng đá trong rừng cây già. Người còn đứng như trăm năm vết thương chưa mờ từng đêm về từng đêm về mang đời ngẩn ngơ. Còn bao lâu cho thân thôi lưu đầy chốn đây. Còn bao lâu cho mây đen tan trên hồn người. Còn bao lâu tôi xa em xa anh xa tôi”. (Phúc âm buồn) Tự đặt cho mình bao câu hỏi chính là chủ thể tra hỏi đang ý thức về thân phận mình giữa lòng biển sâu vì để trả lời cho những tra hỏi ấy thì chàng nhạc sĩ lãng du cũng chỉ có thể trốn chạy chính những tra hỏi hay, hay, cũng chỉ có thể cúi đầu và lặng yên: một nỗi cô đơn (lũy thừa theo vận tốc cấp số nhân và thời gian thì u hoài theo cấp số cộng), bởi từ-khi-sinh-ra-đời-con-người-đã-bị-kết-án-làm-người! “Người còn đó nhưng bơ vơ mắt chong đêm dài. Người còn đó nhưng trong tim máu tuôn ra ngoài” (Phúc âm buồn). “Cúi xuống cho máu ngược dòng cho nước sông cạn nguồn cho cây khô trên cành trút lá bơ vơ (...) cho da thơm trên người nay cũng phôi pha. Cúi xuống nghe đời nhấp nhô nghe tim rạng vỡ nghe trong tuổi nhỏ khóc òa (...) Cúi xuống nhìn sâu trong mắt và nghe mưa bão tan đi trong đại dương (...) Cúi xuống cho tắt nụ cười, (Cúi xuống thật gần) “Hai mươi sầu dâng mắt biếc. Nghe tháng ngày chết trong thu vàng. Thương cho người rồi lạnh lùng riêng” (Nhìn những mùa thu đi).

Tàn phai đồng nghĩa với buông thả, xóa tan, rã rời, chầm chậm trôi, xa xôi biết bao chừng, hoài mơ trong im vắng, tịch liêu, chiều mờ vàng úa. Tàn phai là nhạt nhòa như nước mắt em một thuở nào, như nắng hồng hoang trong mắt em, như nỗi nhớ của tình xa còn chờ trên đôi môi mềm, ngọt, ngọt ngào, em ơi, em, và không còn nữa. Tàn phai là hờ hững ngủ trên vai em trong tim anh, là hơi thở cuối của một cuộc tình còn vương, còn vương (ở đâu em ơi?) trên đôi-môi-chiều cho nên bây giờ còn vương mãi nơi đây (ở đâu em ơi?) trên mái-tóc-chiều cho nên bây giờ nó thần thoại biết mấy, em ơi, tàn phai đã tàn phai, anh ngồi chờ thế kỷ tàn phai... Tàn phai là những phút giây vô tình của một bờ môi mỏng thoáng gối đầu lên một bờ tóc mong manh và tóc đã bay xa bây giờ mây còn lại , môi, quạnh hiu, ngậm ngùi khiến ta nhớ, nhớ em, trong gió, trên lá, trên mây, trong đêm, trong bóng tối, trong nắng, giữa khuya ta nhớ ố có lẽ vì ta còn yêu, tình yêu có thật, các em ơi, có thật không nơi ta, cho ta, không nơi em, cho em, ta nhớ ố cho nhạc-và-thơ ố ta nhớ biết bao chừng như lòng mãi hoang vu...” Ngày nào vừa đến. Đã xa muôn trùng. Ngày nào vừa đi lạnh lùng bước chân. Đôi khi thấy trong gió bay đi lời em nói. Đôi khi thấy trên lá cây ngày nào em đã xa tôi. Đôi khi nắng lên phố xưa làm tôi nhớ. Đôi khi có mưa giữa khuya hồn tôi vẫn vu vơ. Đôi khi nhớ trong tóc em mùi cây trái thơm tho. Đôi khi thấy trăm vết thương rồi như đá ngây ngô”. (Rồi như đá ngây ngô).

Nếu tình yêu đã biện chứng thăng hoa thành một đóa hoa vô thường khiến cho ngàn năm qua cũng chính là ngàn năm sau thì tàn phai là thừa số của hết thảy mọi cảm thức của người nhạc sĩ về cuộc đời mà tình yêu là độc đạo đưa chàng vào cõi u-mê mà tàn phai vừa là suối nguồn vừa là miền đất hứa của những cảm xúc ấy. Cho nên “Tự tình khúc”của Trịnh Công Sơn khiến ta liên tưởng đến một “Tự tình khúc” của Cao Bá Nhạ, một kẻ sĩ lỗi vận bị bắt giam ngục muốn đời hiểu cho mình một nỗi oan. Với Trịnh Công Sơn thì nỗi oan gì? “Đời tưởng ta vui lắm sao? - Không đâu, ta buồn lắm, đời ơi đời!” “Đời tưởng ta đẹp lắm sao? - Không dám đâu đời ơi đời!” “Đời tưởng ta hạnh phúc lắm ư? - Không dám đâu, đời ơi là đời!” Bởi, đối với mọi hồn cảm tế nhị thì tàn phai đã nằm chờ hạnh phúc khi hạnh phúc ra đời; hay, tàn phai với hạnh phúc nào cũng chỉ là một? Bởi tàn phai là những gì còn lại từ những ánh mắt giao thoa trong một không gian tự tình bây giờ đã xa xôi, xa xôi lắm rồi! Bởi tàn phai là hương gây màu nhớ từ sự va chạm mỏng thoáng của hai bờ môi của một thuở mà hai người tình đều u mê để thời gian ngự trị giữa lòng biến động của tình tự, và, bây giờ, cũng đã xa xôi, xa xôi rồi! “... ru em cùng những u mê, ru em dù đã chia xa. Ru em vì những đêm xưa (...) ru em quỳ gối vong nô. Ru em mệt lả cơn đau, ru em về giữa chiêm bao. Cuối đời còn gì nữa đâu, đã tàn mộng mị khát khao” (Ru em). Tàn phai là mộng mị, vu vơ, hững hờ, quạnh hiu, cô liêu, sa mạc. Và, tàn phai cũng là một loài hữu thể NHớ. “Đôi khi nắng qua mái hiên làm tôi nhớ. Đi khi nắng lên phố xưa làm tôi nhớ. Đôi khi bước qua phố xưa làm tôi nhớ. Đôi khi bước qua phố xưa hồn tôi bỗng vu vơ” (Rồi như đá ngây ngô). Tàn phai là một thứ chất đời làm cho tình yêu phôi pha, làm cho cái đẹp phai tàn; nhưng nếu không có tàn phai thì cũng chẳng có luôn một tình yêu để phôi pha, hay một tình yêu phôi phai, không có luôn một cái đẹp để tàn phai, hay một cái đẹp tàn phai. Tàn phai làm cho tóc thêm thần thoại trước khi thần thoại kịp tàn phai, làm cho môi em thêm mộng mị trước khi mộng mị kịp hư vô.

“Bến bờ thiên thu nằm chìm dưới hư vô. Chìm dưới cơn mưa một ngàn năm trước mây qua mây qua môi em hồng nhạt. Chìm dưới cơn mưa một ngàn năm nữa mây qua mây qua môi em hồng vừa (...) Chìm dưới đất kia một người sống thiên thu. Chìm khuất trong ta một lời nói vu vơ. Chìm dưới sương thu là một đóa thơm tho. Chìm dưới cơn mưa một dấu chân đi. Chìm dưới đất kia hạt cát bao la” (Chìm dưới cơn mưa). Tàn phai là hiện tượng pha trộn ngoại giới lẫn nội giới: đúng hơn là một cảm thức tàn phai. Cảm thức này chính là sự lướt trôi của một ý thức qua bình diện thực tại nhằm chụp bắt những hoài niệm đã mờ phai, đã xa xôi, xa xôi lắm rồi. Còn gì nữa đâu, hay có còn chăng cũng chỉ là những-gì-không-còn-nữa-còn-vương-vương. “Nghe tháng ngày chết trong thu vàng. Thương cho người rồi lạnh lùng riêng. Đơn côi bàn tay quen lối đưa em về nắng vương nhè nhẹ (...) Tay trơn buồn ôm nuối tiếc. Nghe gió lạnh về đêm. Gió heo may đã về, chiều tím loang vỉa hè, và gió hôn tóc thề. Rồi mùa thu bay đi. Anh nghe hồn mình trên ấy. Anh ghi bằng nhiều thu vắng, đến thu này thì mộng nhạt phai” (Nhìn những mùa thu đi).

Ca từ của Trịnh Công Sơn là thế giới của tàn phai trong đó tình yêu là nhân vật chính của một bi kịch “Làm người”. Có một người sinh ra để làm gã phù thủy của tình yêu để rồi, cuối cùng, là kẻ hiu quạnh trong nỗi nhớ, ngậm ngùi giữa sa mạc nối dài và gục đầu lên nỗi tàn phai mà viết bản chúc thư gửi lại cho không gian và thời gian: “Tự tình khúc”. Nếu gã không là phù thủy thì tóc em làm sao thần thoại những đêm dài: “Ôi tóc em dài đêm thần thoại”. Cũng chính bằng tình yêu mộng mị, chàng đã ém xì bùa cho lũ chí chết hết hay phải chạy trốn khỏi mái tóc em để từ đó mỗi sợi tóc em là một nẻo cổ lý đưa tình gã lên miền thiên thai, và mái tóc em trở thành một vườn tóc mượt ngát hương bốn mùa ảo giác, và, là một trong những suối nguồn hoài niệm tạo nên chất tàn phai. “Tôi như trẻ nhỏ ngồi bên hiên nhà chờ xem thế kỷ tàn phai. Tôi như trẻ nhỏ tìm nơi nương tựa mà sao vẫn cứ lạc loài. Tôi như là người một hôm quay lại vì nghe sa mạc nối dài. Tôi như nụ cười nở trên môi phòng khi nhân loại biếng cười”. (Tự tình khúc). Trẻ thơ nào cũng mơ giấc ngủ thiên thần, lứa tuổi mộng mị, lòng cả tin, không gian đối, chỉ trực diện với thực tại. Chàng như “trẻ thơ ngồi bên hiên nhà đợi chờ thế kỷ tàn phai”. Không có nhà mà cội nguồn cũng chẳng biết, là trăng-lãng-du, gã du ca lãng tử, và đứa con lãng tử ấy, đã từ giã quê nhà từ độ ấy, chàng chỉ “ngồi bên hiên nhà”, ở trọ như một sương, một mây kia. Mây kia ở đậu từng không, nắng kia ở trọ bên trong mắt người. Sương kia ở đậu miền xa cơn gió ở trọ bao la đất trời. Chàng đang ngồi trọ bên hiên nhà vì thật sự không có nhà để ở. Muốn được ở trọ thì phải có một không gian để trọ; trọ là trọ trong một không gian và thời gian.

Nhưng chính cái hiên nhà kia cũng đang ở trọ, tức là không gian đang ở trọ và thời gian cũng đang ở trọ. Không gian và thời gian là hai phạm trù cấu trúc cho mọi vật, con người hiện hữu, hay, ở trọ; nhưng bây giờ chính không gian và thời gian cũng ở trọ luôn. Trăm năm ở đậu ngàn năm đêm tối ở trọ chung quanh nỗi buồn. Không gian (mây, sương, gió, nắng, mưa...) và thời gian (trăm năm, đêm tối...) mà cũng ở trọ thì tất cả chỉ còn là hư vô. Chính gã du ca đang ngồi bên hiên nhà là một hiện hữu như hư vô giữa một cõi hư vô. Hư vô là quán trọ (của không gian và thời gian và) của tất cả. Chàng đang đợi chờ. Đợi chờ bao hàm một hướng vọng vị lai (à venir). Nhưng cái chàng đợi chờ lại là dĩ vãng trong đó kết tinh cả một thế kỷ tàn phai vì tàn phai chỉ là tàn phai, đã-có-bây-giờ-không-còn-nữa hay đang biến dịch vào cõi không còn nữa. Vậy gã du ca đó là ai? Người đó đã vẽ tặng nhân gian một bức chân dung tự họa: một trăng-lãng-du ngây thơ cả tin vào đời (nhưng đời đã lừa dối!) đang ở trọ trong một chốn không bình yên tí nào và đợi chờ một ánh sáng đến nhưng đó chỉ là tàn phai kết tinh từ bao thế kỷ. Và đó chính là hiện hữu đích thực của chàng, mà cũng là điều mà chàng muốn đời phải hiểu trong một “Tự tình khúc”. Những gì vốn thường được ước mơ là vĩnh cửu thì cũng dẫy đầy những chốc lát và hư không: trọ: “Tim em người trọ là tôi. Mai kia về chốn xa xôi cũng đành”. Quả thật đời buồn quá, buồn quá, buồn quá đời ơi đời “Ngàn năm í a buồn như í a”.

Buồn quá nghẹn ngào không nói nên lời! Bức chân dung tự họa này lại vừa là một tĩnh vật (và ngôn ngữ của im lặng nói nhiều hơn ngôn ngữ của những sự vật được gọi tên): một thân phận làm người mà không biết đâu nguồn cội (“Con sông là quán trọ và trăng tên lãng du. Tôi vui chơi giữa đời biết đâu nguồn cội”) không có hoài niệm, không có ngày mai, chỉ là một chiếc bóng trọ trong một cõi quạnh hiu, ngậm ngùi cho nên chàng đã khóc tự bao giờ “Đường thật lặng yên lòng không gì nhớ. Giật mình nhìn quanh ồ phố xa lạ. Tưởng rằng được quên thương nhớ nơi quê nhà lòng thật bình yên mà sao buồn thế. Giật mình nhìn tôi ngồi khóc bao giờ”.
Tàn phai vừa là bản chất vừa là hiện tượng chi phối nguyên một đời người buồn: một Trịnh Công Sơn. Hơn thế, chính đời chàng kết dệt bằng chính hiện tượng lẫn bản chất ấy: đời chàng là cả nỗi tàn phai đang ở trọ giữa lòng tàn phai. Một hôm lên núi cao nằm xuống, úp mặt hôn lấy địa cầu một lần cuối, và bèn nói: xin đa tạ nỗi tàn phai...

Trần Nhựt Tân

Edited by user Thursday, March 12, 2015 5:17:19 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#80 Posted : Sunday, March 29, 2015 6:18:23 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Mùa xuân với Trịnh Công Sơn

Nguyễn Đặng Trí


UserPostedImage


Ru em từng ngón xuân nồng là một khúc ru đẹp, đơn giản như khúc ru của mẹ; ở đây là ru em, nhạc sĩ ru em ngủ vì giấc ngủ hồn nhiên ấy nuôi cả một đời người còn đang ngụp lặn với biết bao vọng động cuồng si.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mất ngày 01/04/2001. Dù không hò hẹn, hằng năm vào độ đầu tháng tư trong thành phố này và trên hầu khắp đất nước, các phòng trà, các quán cà phê nhạc, trên truyền hình hay các tụ điểm “hát với nhau” mọi người đang nghe, đang hát, hay cùng hát cho nhau nghe những ca khúc bất hủ của anh. Khi bạn hát một bản tình ca là bạn đang muốn hát về cuộc tình của mình. Hãy hát đi đừng e ngại. Dù hạnh phúc hay dở dang thì cuộc tình ấy cũng là một phần máu thịt của bạn rồi. Có lẽ thế, và hơn nữa vì trong nhạc của anh ai ai cũng bắt gặp trong đó những bóng dáng của đời mình.

Những bài hát về mùa xuân

Xuân về tết đến, những người nghe nhạc TCS như bỗng thấy thiếu một điều gì đó gắn liền nhạc sĩ này với mùa xuân, với tết. Lục lại những ca khúc anh viết về mùa xuân thật ít ỏi, những sáng tác trước 1975 viết riêng về không khí rộn ràng mùa xuân lại càng hiếm, thậm chí đôi bài nói về mùa xuân với nỗi u buồn và xót xa, khi đất nước bị chia cắt, khi bom đạn đang cày xé trên quê hương hình chữ S này.

Chúng ta hãy nghe một đoạn trong bài Xuân nguyện với tiếng hát của Khánh Ly, bài hát với nhịp điệu nhanh theo kiểu hành khúc, kêu gọi mọi người cùng nhau đem hoà bình cho đất nước, đem cơm áo cho dân nghèo, cho dù con đường nào để đến đích, đấu tranh dưới ngọn cờ nào, tác giả còn mơ hồ:

Xin cho lá mùa xuân xanh trên rừng hoạn nạn
Xin cho những bàn chân hãy nối trên tật nguyền
Xin cho mặt đường lặng lẽ đêm đêm
Xin cho bầu trời rộn tiếng chim muông
Và còn bao cánh đồng đang chờ lúa mới lên thơm
Trên quên hương còn lại, ta đi qua nửa đời chưa thấy được ngày vui1. Với hoàn cảnh như vậy, một nhạc sĩ dấn thân với nỗi đau trần thế như anh không thể có tâm trạng “Xuân trong tôi đã khơi trong một đêm vui” 2. Mùa xuân đã thay lá ở đất trời ngoài kia nhưng ở đây lòng vẫn nghe ơ hờ:


Dù mùa Xuân đã đến đây
Sao lòng vẫn ơ hờ
Nhìn ngoài sân thay lá cây
Biết rằng đã sang mùa
Một bàn chân bước thêm
Rời dĩ vãng chưa rời máu xương
[Xanh lòng phai tàn]
Chúng ta hãy nghe thêm một bài có vẻ đượm chất xuân hơn, vì ở đây có tình yêu chắp cánh, có núi đồi bình yên, có đàn chim chiều chiều rung cánh bay trên hồ biếc :
Mùa xuân yêu em đồi núi thênh thang
Hồ nước long lanh ngàn cánh vàng
Ngày ta yêu em màu lá thanh xuân
Chờ đến thu sang rồi hãy tàn
Đàn chim bên sông chiều chiều rung cánh
Người ngồi trên bến nhớ mênh mông
Nhưng có lẽ cái nỗi đau triền miên cũng không khỏi ám ảnh tác giả khi viết bài này :
Mặt đất âm u ngày tháng hoang vu
Chợt thấy em qua rợp bóng cờ
Nhìn ra quanh đây đồi núi reo ca
Chờ nắng lên thưa rồi hãy về
Bàn chân đi xa người về bỗng nhớ
Từng đêm nghe gió ru ơ hờ ...
[Người về bỗng nhớ]
Nghe kỹ, tác giả còn cất giấu một điều giấu kín trong tim mà chúng ta còn chưa giải mã được. Khi người yêu về thì đồi núi reo ca, nắng lên thưa, nhưng khi bàn chân đi xa rồi thì từng đêm nghe gió ru ơ hờ.

Một bài ca đẹp, giai điệu khoan thai rung lên những cung bậc tình yêu; lại được sáng tác lúc anh đang còn sung sức nên dù mang trong mình nỗi sầu nhân thế, vẫn rộn tiếng ca vang về tình yêu về cuộc đời. Nét nhạc mềm mại bay bỗng hơn những bài tình ca viết sau 1975. Về lời thì như hai khổ thơ đẹp, lời một, chỉ cần vài điểm chấm phá nhẹ nhàng cũng đã vẽ nên khung cảnh thơ mộng của một vùng trời lãng mạn, bình yên. Lời hai, như ảnh ảo của lời một, chứa đầy tâm trạng, và như bao bài tình ca khác, tình yêu đang cứu chuộc thân phận, cứu chuộc cuộc đời, cứu cả mùa xuân. Một bài tình ca viết về mùa xuân và tình yêu sao nghe buồn quá !
Chúng ta hãy nghe một số bài về mùa xuân sau 1975. Bài Sài gòn mùa xuân viết năm 1982, có thể do hoàn cảnh giai đoạn đất nước đang chuyển mình (từ 1976 đến 1984), cái tôi phải được dấu đi, hơn nữa cái tôi phải biến thành cái ta chung; cái buồn cũng phải là buồn tích cực không phải là cái buồn bi luỵ, nhưng làm sao phân tích hết buồn nào là bi luỵ, buồn nào là tích cực một cách rốt ráo. Có lẽ thế nên giai đoạn này nhạc của Trịnh Công Sơn không còn những hình ảnh như : mặt đất âm u, ngày tháng hoang vu; đời người mãi âm u; đang ngồi khóc khi rừng chiều đổ mưa hoặc nhẹ hơn, em nghe sầu lên trong nắng, nghe tháng ngày chết trong thu vàng. Hoặc những hình ảnh, những ý tưởng đẹp bất ngờ, mà người đời còn nhắc mãi, cho dù họ không thuộc hết bài hát như :đường phượng bay mù không lối vào, nước dâng lên hồn muôn trùng, vòng tay đã xanh xao nhiều, chiều đã đi vào vườn mắt em, ngồi khóc tình đã nghìn thu, dài tay em mấy thuở mắt xanh xao…đẹp hơn nữa, lá hát từ bàn tay thơm tho, tóc em từng sợi nhỏ rớt xuống đời làm sóng lênh đênh…
Trong tay tôi đang cầm cuốn Những tình khúc Trịnh Công Sơn do tác giả tự ấn hành trước 1975, gồm 13 bài tình khúc, bất cứ bài nào cũng nhặt nhiều hình ảnh đẹp đi vào tâm khảm của nhiều thế hệ.

Trở lại bài Sài gòn mùa xuân :
Sài gòn mùa xuân còn thoáng lá vàng bay,
Có mùa thu nào đang ở lại,
Mặt đường bình yên nằm ngoan như con suối,
Kết hoa vàng cho lộng lẫy đời.
Trước đó trong bài Rồi như đá ngây ngô, đôi khi tác giả thấy trên lá cây một dòng suối; ở đây đẹp hơn, những chiếc lá vàng tơi tả trên đường phố, thứ mà phải quét đi để khỏi làm nghẽn ống nước, nhưng bằng con mắt của người nghệ sĩ, những chiếc lá vàng kia đang kết thành bông hoa dâng tặng cho đời.
Đặc biệt hai chùm nốt đang ở lại và lộng lẫy đời, rất độc đáo, rất Trịnh Công Sơn, rất gần với âm điệu ngọt ngào, âm vực thấp của giọng Huế. Vẫn hay, vẫn độc đáo, nhưng với tôi lại ít cuốn hút, mặc dù bài này là một trong ít bài tác giả viết về mùa xuân.

Cây sẽ cho lộc và cây sẽ cho hoa
Xuân đến bên kia đồi trời mở ra cánh én
Em đến bên tôi ngồi đời mở ra cuộc tình
Đời sẽ cho lộc và đời sẽ cho hoa
Em líu lo bên đời dạy tôi biết xa gần
[Hoa xuân ca]

Gần đây hơn, bài Hoa xuân ca (1986), một bài hát viết trên lưng của một người bạn khi bạn chở anh trên đường về nhà, ngôn ngữ trong sáng, ý tứ đầy tính chiêm nghiệm; nghe kĩ lại thì hình như Trịnh Công Sơn đang ngắm tình yêu chứ không phải yêu như người trong cuộc, như cái thuở nhỡ mai trong cơn đau vùi. Thời kì này đã có nhiều cởi trói trong văn hoá văn nghệ, nhưng ở tuổi 47 tình yêu không còn bay bổng, không còn ngồi hát mây bay ngang trời hay mơ dấu chân chim qua trời. Có lẽ tình yêu đến với anh lúc này để tìm một cõi bình yên, để từ đó chàng nhạc sĩ thấy xa gần cũng vô thường như nắng mưa, để hoá giải tâm trạng chứ không phải để yêu. Với tuổi trẻ thì hơi khác, yêu và đang yêu vẫn là tuyệt vời nhất.
Trong một dịp xem tranh của Anh với Đinh Cường và Tôn Thất Văn tại nhà riêng, tôi có dịp hỏi điều này, anh trả lời nhẹ nhàng, đại ý như sau : Nhiều người cũng đặt câu hỏi như em, hiện tại tôi muốn viết những điều lạc quan mang đến cho cuộc sống những nét tươi vui trong đời thường. Đọc những bài phỏng vấn anh giai đoạn này tôi cũng thấy như vậy.
Giai đoạn cuối đời của anh nét nhạc có khác hơn. Lúc đó ám ảnh của cái chết, của một lời chia tay, tiến thoái lưỡng nan một cõi đi về nên trong âm nhạc của anh mang đầy tính triết lí về thân phận và hoá giải tâm trạng, giai đoạn này nhạc buồn hơn vì vậy cũng gần với đời hơn.
Tình yêu là mùa xuân của đất trời

Tôi muốn bàn đôi chút về những bản tình ca của anh, những bản tình ca đã đi nhẹ vào đời của mỗi người, những bài hát dù buồn, dù có tuyệt vọng nhưng khi hát lên con người cao sang hơn, sống với nhau tốt đẹp hơn; những bài hát mở ra cho tôi những chiều kích không gian mới trong cõi vô thường đầy mông lung biến ảo.
Ngay thời còn trẻ, khi tuổi xuân thì còn cầm trong tay, TCS đã cảm nhận được cái phi lí của cuộc đời như kiếp dã tràng xe cát. Bốn mùa trong năm thật đẹp, thật diệu kỳ, mùa nào cũng có buồn, có vui, nhưng đời có ý nghĩa hơn khi có bước chân của em, em làm ấm khoảng trời cô đơn lạnh giá từ thuở hồng hoang.
Mùa hạ, khi em gọi thì từng cơn mưa thì thầm dưới chân ngà. Rồi mùa thu dù hàng cây khô cành có bơ vơ nhưng chỉ cần được cái ân huệ đưa em về thôi thì giọt nắng cũng nhấp nhô. Không biết giọt nắng có nhấp nhô không, nhưng Trịnh đã nhấp nhô rồi. Mùa Đông có nhạt nhoà, có lạnh từng ngón sương mù cũng tô điểm thêm cho cuộc đời ngắn ngủi đáng yêu bởi nó là cột mốc cho mùa xuân sắp nở nụ xuân xanh, cành thênh thang. Có thể nói rằng mùa xuân chỉ là ước lệ, bất cứ mùa nào có tình yêu dâng tràn trong lòng người nghệ sĩ cũng được coi là mùa xuân diệu vợi.

Nhưng rồi mùa xuân cũng không về, mùa thu cũng ra đi, mùa đông vời vợi, mùa hạ chỉ còn khói mây, không có mùa nào ở lại; để lại trái tim chàng nhạc sĩ mang tin buồn, cái buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người. Đặc biệt chú ý ở đây tác giả nói lên lòng mình bằng ngôi thứ hai, em. Sao vậy, em là em, tôi là tôi, hai chủ thể khác nhau cơ mà. Đó là cái độc đáo của Trịnh, bạn cứ nghe đi rồi sẽ nhận ra, “em là tôi, và tôi cũng là em”. Bài hát. Gọi tên bốn mùa là tiếng kêu tuyệt vọng, là tiếng hót của loài chim gởi vào giữa hư không rằng hãy yêu nhau và yêu cuộc này.

Trong ca khúc của TCS, mang lại mùa xuân không phải nắng vàng, chẳng phải gió, chẳng phải mai vàng hay bánh chưng xanh. Mặc dù đôi khi một vài hình ảnh đócũng tồn tại trong một số bài hát của anh, nhưng đó chỉ là hiện tượng như là hiện tượng của thời tiết mà thôi. Mùa xuân chỉ về trong anh khi tình yêu chắp cánh cho những tháng ngày hiu quạnh, khi tia nắng ấm xua tan đi cái lạnh của nỗi cô đơn, hoặc khi vô tình bắt gặp nụ cười chào nhau giữa con đường. [xin chào nhau giữa con đường/ Mùa xuân phía trước miên trường phía sau3]. Hay chỉ đơn giản khi Trịnh ngắm bàn tay em ngủ, bàn tay kết nụ, nuôi cả cuộc đời, khi đó chẳng cần nắng vàng, chẳng cần mai nở… thì mùa xuân cũng đến.
…mưa ru em ngủ, tay em kết nụ, nuôi trọn một đời, nuôi một đời người, mùa xuân vừa đến…
[Ru em từng ngón xuân nồng].

Ngày xưa Mãn Giác có câu : “Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết, đêm qua sân trước một nhành mai”, nhờ tu tập thiền sư thấy được mùa xuân trong tâm thức vẫn đến dù vạn vật có đổi thay. Đối với Trịnh cần thêm một thứ trợ giúp đó là bóng dáng của tình yêu, tình yêu hoá giải mọi nỗi đau, tình yêu mang mùa xuân đến cho đất trời. Xét về nhạc đó là một khúc ru đẹp, giai điệu đơn giản như khúc ru của mẹ; ở đây là ru em, nhạc sĩ ru em ngủ vì giấc ngủ hồn nhiên ấy nuôi cả một đời người còn đang ngụp lặn với biết bao vọng động cuồng si. Về lời chỉ cần các câu đã đề cập ở trên đã cho thấy đó là một bài thơ kiểu Haiku Việt, ngắn gọn mà tràn đầy.

Mùa thu mưa bay, khi em bước âm thầm qua công viên, không cần đi theo không cần nhìn trời đất cũng biết ngoài kia gió mây đang về ngàn, cỏ cây lên màu nắng. Phải chăng mùa thu chỉ là cái cớ để Trịnh nói lên niềm ấp ủ trong lòng mình, đó cũng là mùa xuân ngập tràn trong lòng nhạc sĩ, cũng như trong mỗi chúng ta.
Với một nhạc sĩ mà nắng có khi lại buồn hơn mưa, có thể đón gió heo may trên từng góc phố để dệt nên những ước mơ hư ảo của tình yêu, phố đang ngập lụt có thể xem như phố là dòng sông uốn quanh, thì mùa xuân có thể đến trong mùa đông nhạt nhoà, với mùa hạ khói mây hay mùa thu tàn tạ.
Những bài hát này TCS viết khi rất còn trẻ, thời của những giấc mộng ngổn ngang, của những viễn tưởng phù phiếm non dại. Cái thời tuổi trẻ xanh mướt như trái quả đầu mùa ấy…Ôi, nhờ những viễn tưởng phù phiếm non dại ấy đã đánh động biết bao thế hệ, tốn biết bao bút mực, dù người đời cũng như anh biết rằng điều ấy chỉ là hư ảo. Độc giả chỉ tiếc rằng cái tuổi trẻ xanh mướt ấy không kéo dài thêm một thời gian nữa.

Mùa xuân, tết đến, bạn muốn vui tươi mang chút nỗi buồn vô thường hãy cùng tôi nghe Nắng thuỷ tinh, Gọi tên bốn mùa, Mưa hồng, Diễm xưa, Ru em từng ngón xuân nồng, Tôi ru em ngủ, Như cánh vạc bay, ... Dù trời có mưa bay bay, trời có lạnh giá hay đang nóng bức bạn cũng thấy nắng nhẹ đang trải dài trên phố, hàng cây xanh biếc đang nở nụ cười như bàn tay ai đang vẫy gọi.

Với nhạc Trịnh Công Sơn, những bài hát về mùa xuân không riêng cho mùa xuân, những bài tình ca không nhắc đến mùa xuân cũng tràn đầy hơi ấm mùa xuân.

1 Những con mắt trần gian
2 Xuân ca (Phạm Duy)
3 Thơ Bùi Giáng

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Users browsing this topic
Guest
7 Pages«<23456>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.