Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

7 Pages<1234>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
phamlang  
#21 Posted : Monday, September 15, 2014 3:40:56 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
(t.t)

Hôm qua trăng sáng lờ mờ
Em đi tát nước, tình cờ gặp Anh


Người con gái Việt Nam da vàng, ngày xưa, đã hát như thế trong ca dao, là để che dấu khát vọng tình yêu, chứ trong đời sống nông thôn thời ấy, làm gì có cái tình cờ.

Đời sống thế giới hiện nay, nghĩ cho cùng, cũng vậy thôi. Những giai điệu blues, nhạc phản kháng Bob Dylan, Joan Baez, thơ Prévert, Aragon, Eluard ... Trịnh công Sơn đã gặp gỡ, trên dòng nhạc, dòng thơ, dòng tâm tư. Và dòng lịch sử, dân tộc và thế giới. Trong cao trào lớn của loài người, giữa lòng thế kỷ hai mươi : cao trào giải phóng dân tộc, chủng tộc và giai cấp. Đừng quên việc giải phóng phụ nữ : người phụ nữ Pháp đi phá ngục Bastille từ 1789, mãi đến 1944 mới có quyền đầu phiếu.

Người phụ nữ Việt Nam cũng vậy thôi : sau khi chờ chồng hoá đá, họ bước chân vào thế kỷ XX, thì ngồi đan áo. Từ Buồn Tàn Thu của Văn Cao, qua Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền, thơ hiện đại của Ý Nhi, cho đến năm 2000, trong ca khúc Đêm Xanh của Bảo Chấn, cô ấy vẫn ngồi đan áo, trong khi dọc hè phố, áo pull bán rẻ mạt.

Đan áo là hình ảnh ẩn nhẫn, thụ động mà người đàn ông đòi hỏi. Đan áo cho ai đó, hay để tưởng nhớ, chờ đợi ai đó. Ca khúc Trịnh Công Sơn, rất nhiều phụ nữ, nhưng không thấy họ đan áo. Mà chỉ ... ngồi chơi, khi nghiêng vai, khi nghiêng đầu, khi nghiêng sầu. Ngồi chơi chán rồi thì Đứng lên gọi mưa vào Hạ. Nếu khóc, cũng chỉ khóc cho những Chiều mưa đỉnh cao .... Mai kia, có ra đi, thì cũng là Như những dòng sông nhỏ.

Người đàn bà trong Trịnh Công Sơn đẹp dung dị và tự do bình thường. Tự do với cuộc đời, với tình yêu, thậm chí với tình dục. Nhạc Trịnh Công Sơn không nói đến tình dục, vì nói đến ... làm gì ?

Người phụ nữ nghe và hát nhạc Trịnh Công Sơn thoải mái, vì chỉ hát, hay nghe, mà không phải làm gì cả, không phải Hái Mơ, Lái Đò, bán Hàng Cà Phê, Hàng Nước, không phải thay quần áo làm cô Sơn Nữ, cô Láng Giềng hay mua lấy số phận Người Yêu của Lính. Và nhất là không phải ... đi lấy chồng : hạnh phúc không thấy đâu mà chỉ nghe oán trách dài dài suốt nửa thế kỷ : Em đi trên xác pháo, anh đi trong nước mắt... Em ơi tình duyên lỡ làng rồi, còn chi nữa mà chờ ... Và, ở một chân trời khác, họ cũng không phải ba đảm đang, ba sẵn sàng, làm Người Mẹ Cầm Súng, xung phong đi gỡ mìn ở Ngã Ba Đồng Lộc ...

Sau 1975, khi " Em ở Nông trường, em ra Biên giới " thì người nghe có cảm giác cô Tấm đã trở thành cô Cám, và Trịnh Công Sơn sẽ gào gọi Bống hỡi Bống hời, cô Tấm thỉnh thoảng có tái hiện, nhưng cũng đã tân trang nhiều lắm.

Trong xã hội Việt Nam, cho đến hôm nay, chưa chắc gì người phụ nữ đã được giải phóng, và tôn trọng đúng mức. Trong ca khúc Trịnh Công Sơn, họ được giải phóng và tôn trọng. Tôn trọng người đàn bà, không phải là tán tỉnh, Trịnh Công Sơn, rất hồn nhiên đã hiểu ra và nói vào điều đó.

*

Nhạc phản chiến, đòi hỏi hoà bình của Trịnh Công Sơn thì nhiều người biết, sẽ có nhiều người viết về đề tài này. Mới đây, trong buổi tưởng niệm Trịnh Công Sơn, tại Californie, anh Đỗ Ngọc Yến có nói rõ và nói đúng, khác với Đỗ Ngọc Yến cách đây 40 năm và 20 năm.

Tôi không đủ thì giờ viết về đề tài này, nhưng sẽ đề cập đến ở một dịp khác, nay chỉ vội nói ngay mấy ý kiến chủ quan :

1.- Dù đánh giá ra sao đi nữa, nhạc Trịnh Công Sơn cũng là sản phẩm của chế độ Việt Nam Cộng Hoà, trong cả hai mặt tích cực và tiêu cực của chế độ này.

Không có Miền Nam, cũng có thể có một Trịnh Công Sơn, nhưng là một Trịnh Công Sơn khác, đại khái như một Phạm Tuyên hay Phan Huỳnh Điểu.

2.- Chính quyền Cộng Sản, sau 1975, sau những thăm dò, đã lưu dung một phần trong nhạc phẩm Trịnh Công Sơn và đã khéo sử dụng Trịnh Công Sơn. Có thể nói sau 25 năm chiến thắng, thành công hiếm hoi, nếu không phải là duy nhất, của chính sách văn hoá của chính quyền cộng sản, là tiếp thu nhạc Trịnh Công Sơn, mà công đầu là Thành Uỷ TPHCM. Dùng chữ "chính sách", là để nhìn toàn cảnh, chứ đối với một cá nhân, chắc chỉ có những quyết định cục bộ, nhất thời, bất thành văn. Dù sao, họ cũng chỉ kế thừa kinh nghiệm Liên Xô vào thời kỳ Tân Chính Sách Kinh Tế (NEP) những năm 1920, sau cuộc nội chiến, khi Lenine thu dung những nhà văn, nhà thơ "bạn đường" (Popoutchiki) như Alexis Tolstoi hay Zamiatine.

Trong chiến tranh chống Pháp, người Cộng Sản đã không thu phục được Phạm Duy. Sau 1954, họ không thu phục được Văn Cao. Nhưng sau 1975, họ thu hoạch được Trịnh Công Sơn, như vậy đã là thành công. Thành công về mặt hiện tượng, không phải về mặt bản chất. Về mặt bản chất, chuyên chính vô sản không bao giờ chấp nhận cái gì khác họ, không phải do họ tạo ra. Mặt khác, ca khúc Trịnh Công Sơn trước kia và bây giờ không có "tiêu chuẩn" đáp lại quy luật của hiện thực xã hội chủ nghĩa. Cố gắng đến đâu thì cây cam cũng không tạo được quả chanh. Trước kia "hai mươi năm nội chiến từng ngày" là sai đường lối, bây giờ hỏi "Em còn nhớ hay Em đã quên"vẫn sai lập trường.

Chấp nhận - dù trong giới hạn - những dư vang của một chế độ chính trị mà mình cố công bôi xoá, chính quyền TPHCM, trong chừng mực nào đó, đã nhượng bộ quần chúng, đã gián tiếp thừa nhận mình thất bại, trong việc ngăn chặn nhạc vàng, và nhất là trong việc đào tạo một nền âm nhạc mới đáp ứng với quần chúng. Chính quyền Trung Ương Hà Nội "wait and see" để cho TPHCM "phát huy sáng kiến" ; nếu rách việc thì ra tay chận đứng một "quyết đinh địa phương", nếu vô hại thì án binh bất động, và thêm được tiếng là cởi mở, hoà hợp.

3.- Về phía Trịnh Công Sơn, anh cũng khéo thoả hiệp với chính quyền mới. Việc anh ở lại Việt Nam sau 1975, hợp tác với các hội văn nghệ Huế, rồi TPHCM là hợp lý, sau khi đã sáng tác Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi thăm... Đó là sự chọn lựa tự do của anh. Cũng như Nguyễn Trãi xưa kia, cháu ngoại nhà Trần, mà không phò tá các phong trào kháng chiến Hậu Trần, lại đi hợp tác với đám nông dân Lam Sơn. Hay như Ngô Thời Nhậm, nhiều đời ăn lộc chúa Trịnh vua Lê, mà đã đi hợp tác với nhóm áo vải Tây Sơn. Từ đó người ta có thể thông cảm khi anh làm một số bài ca ngợi chế độ mới, không hay lắm và ít được hát, ít người biết : âu cũng là điều may mắn cho anh, vì anh đã có một số câu chữ không hay và không cần thiết.

Anh là người được hưởng nhiều bổng lộc của chính quyền, nhiều hơn những cán bộ đã vào sinh ra tử trong cả hai cuộc chiến tranh. Anh có thể hát Đời Cho Ta Thế. Thật ra, đời không cho ai cái gì mà chỉ đổi chác ; anh đã phải trả giá, có khi là giá rất đắt. Anh không trả thì nhiều người khác phải trả. Ý thức điều đó có lần anh viết : " Tôi không bao giờ có tham vọng trở thành một người viết ca khúc nổi tiếng. Nhưng đời đã tặng cho tôi món quà ấy thì tôi không thể không nhận. Và khi đã nhận rồi thì phải có trách nhiệm với mọi người ".

Nói thì ngon lành như thế. Thực tế không đơn giản : người ta cho anh bó hoa, chai rượu. Ai cho anh trách nhiệm ? Anh hát " mỗi ngày tôi chọn một niềm vui ", khi bạn anh, Thái Bá Vân, phó viện trưởng Viện Mỹ Thuật Hà Nội than : "một năm không được một ngày vui". Muốn mua vui, phải vào Sài Gòn ... chơi với Sơn. Nhưng chẳng qua là niềm vui của phận "chim lồng cá chậu" ; Hiểu như thế, bạn bè không đòi hỏi gì nhiều ở một nghệ sĩ yếu đuối, sống chết giữa trùng vây như anh.

Người ta đánh giá một tác giả qua những tác phẩm anh ta đã thực hiện, chứ không qua những tác phẩm mà "lẽ ra" anh ta phải thực thực hiện. Nhân danh cái "lẽ ra" ấy, người làm văn học nghệ thuật đã là nạn nhân của bao nhiêu là oan khiên, oan khốc và oan khuất.

Không những vì chút tình riêng, nhưng còn vì tình đời, luật công bình, luật tương đối, luật chơi, chúng ta nên gạt sang một bên nhiều cái "lẽ ra" đối với Trịnh Công Sơn, mà chỉ xét những cái anh đã làm ra.

4.- Qua bốn mươi năm truân chuyên, Trịnh Công Sơn đã có những đóng góp lớn lao vào nền văn học nghệ thuật, vào đời sống xã hội, và lịch sử chính trị. Phần lớn sự nghiệp anh đã thành hình và thành công dưới chế độ Việt Nam Cộng Hoà, mà mọi người đã biết. Bài này tạm thời chưa nói đến.

Ngoài quần chúng cũ, nghe nhạc Trịnh Công Sơn vì yêu thích hay để nhớ lại ngững âm hao xưa cũ, thì thính giả khác, giới thanh niên Việt Nam ngày nay, hay người miền Bắc trước 1975, đón nhận ra sao ?

Trong xã hội Việt Nam ngày nay, ca khúc Trịnh Công Sơn mang lại chất Thơ cho đời sống. Nhìn qua một số đĩa hát CD, thu nhiều bài của nhiều soạn giả, thì cái tên chung thường mượn tiêu đề của Trịnh Công Sơn, như Lời Thiên Thu Gọi (Hồng Nhung), Xin Mặt Trời hãy ngủ yên (Mỹ Linh), những tiêu đề nhiều âm vang, nhiều thi vị. Những nhạc sĩ khác, Dương Thụ, Phú Quang, Trần Tiến, Bảo Chấn... đều tài cao, nhưng được đào tạo và trưởng thành trong một xã hội duy dụng và thực dụng, óc sáng tạo cao siêu của họ không đặt ra những câu hỏi vớ vẩn như là Sóng Về Đâu ? Vì thực tế : sóng thì ... về đâu ? Trong một mẩu xã hội nào đó, đặt những câu hỏi như thế, là có cơ nguy bị nhốt vào nhà thương điên.

Chủ nghĩa hiện thực xã hội rất nghiêm khắc, yêu chuộng văn vần, một loại văn xuôi diễn ca (prose versifiée), với điều kiện loại văn vần ấy không có chất Thơ. Thi phẩm của "công thần" Nguyễn Đình Thi còn bị gạt ra nói gì đến "hàng thần" Trịnh Công Sơn ? Nhưng ca khúc Trịnh Công Sơn đã lọt qua được các mắt lưới, vì đã cấp thời đáp lại được "lời gọi của khoảng trống" (l"appel du vide) và ca khúc là một thể loại nhẹ, phù phiếm (genre léger), chính quyền dung dưỡng vì có khả năng chận đứng bất cứ lúc nào - như đã làm với nhạc Văn Cao ngày xưa : thậm chí bài Quốc Ca còn bị hăm doạ thay đổi. Và đang làm với Phạm Duy ngày nay. Trong các CD thu tại Việt Nam hiện nay có ai thấy Giấc Mơ Hồi Hương, nhạc Vũ Thành ?

Chính quyền dung dưỡng ca khúc Trịnh Công Sơn không phải vì động cơ nghệ thuật, nhưng như một thế phẩm (ersatz), trong thời kỳ quá độ, như bác sĩ ban thuốc an thần cho bệnh nhân mất ngủ. Trong khi chờ đợi, thính giả hưởng lạc khoản, được ngày nào hay ngày ấy. Họ đang được nghe bài Sóng Về Đâu một trong ca khúc cuối đời Trịnh Công Sơn :

Biển sóng, biển sóng đừng xô tôi
Đừng xô tôi ngã dưới chân người
Biển sóng, biển sóng đừng xô nhau
Ta xô biển lại sóng về đâu
Sóng bạc đầu và núi chìm sâu
Ta về đâu đó
Về chốn nào mây phủ chiêm bao


Xã hội chủ nghĩa có thể tạo ra nhiều bài hát hay hơn. Nhưng tạo ra được cái gì na ná như thế thì vô phương. Thiên tài không phải là người không bắt chước ai, mà là người không để ai bắt chước được mình.

5.- Chứng từ cho giá trị một tác phẩm nghệ thuật, là khả năng kết hợp rộng rãi và lâu dài của nó. Nhạc Trịnh Công Sơn được hát rộng rãi ở Miền Nam trước 1975, chúng ta đã biết. Nhưng trước 1975, Miền Bắc đã nghe và đã thích nhạc này, như Văn Cao đã kể lại7. Nguyễn Duy kể thêm rằng ở dọc Trường Sơn, bộ đội miền Bắc cũng đã nghe :

" Mặt trận Đường Chín-Nam Lào (1971)... trong căn hầm kèo bên dòng sông Sêbănghiêng ... Nghe, nghe trộm - vâng, lúc đó gọi là nghe trộm - đài Sài Gòn, tình cờ 'gặp' Trịnh Công Sơn qua giọng hát Khánh Ly... Diễm Xưa... Mưa vẫn mưa rơi ... làm sao em biết bia đá không đau ... Quỷ thật ! giai điệu ấy và lời ca ấy tự nhiên 'ghim' lại trong tâm tưởng tôi ngay từ phút bất chợt ấy. Rồi Như Cánh Vạc Bay... Quái thật ! ... Cảm nhận bất chợt, những bài hát rất mượt mà, đắm đuối ấy... ừ thì có buồn đấy, đau đấy, quặn thắt nữa đấy... nhưng còn là cái gì lành mạnh nảy nở trong đó. Hình như là cái Đẹp... Bảng lảng, lờ mờ, khó phân định cho đúng nghĩa, nhưng rõ ràng là đẹp, đẹp làm sao... Và cũng hơi ma quái thế nào ... "8

Người ác ý có thể ngờ vực : Nguyễn Duy là nhà báo có quyền nghe đài, sau này là bạn rượu của Trịnh Công Sơn, nên thêm thắt. Thì đây, một chứng từ khác đến từ một anh bộ đội, không quen biết gì, không điếu đóm gì với Trịnh Công Sơn, nhà văn Nguyễn văn Thọ, hiện ở Berlin :

" Năm 1972, khi ấy tôi là bộ đội trong rừng Trường Sơn. Thằng bạn tôi, sau chiến dịch Lam Sơn 719 vớ được cái đài Sony rất tốt.

Đêm Trường Sơn, chờ cho mọi người đi ngủ hết, chúng tôi lén mở đài BBC và cả đài Sài Gòn. Đấy là lần đầu tiên tôi được nghe tiếng hát Khánh Ly với nhạc Trịnh Công Sơn.

Chúng tôi là lớp người lớn lên từ Miền Bắc, thường quen với những khúc thức hùng tráng. Trong tiếng chộn rộn rú rít của sóng vô tuyến, tôi vẫn thấy một giọng lạ của một thứ âm nhạc mới. Một thứ nhạc da diết, đầy lãng đãng từ ca từ, tới khúc thức. Một thứ nhạc xanh không giống bất cứ nhạc xanh nào mà tôi từng nghe, kể cả trong những đĩa hát quay tay cổ mở suốt ngày rên rỉ ở đầu chợ trời những ngày sau hoà bình.

Rất lạ, với tôi khi đó nhạc Trịnh Công Sơn như làn gió khởi từ xa xăm đâu đó, tách khỏi hận thù trận mạc, tha thiết một tình yêu đồng loại, giống nòi, yêu bè bạn, hoà bình, đạo lý. Nó lạ, vì lối ca từ phi tuyến tính, không giống cách viết truyền thống trên những ca khúc của Hà Nội khi đó "

Quý hoá hơn nữa, anh Thọ đã ghi lại cảm giác khi tiến quân vào Sài Gòn, nghe nhạc Trịnh Công Sơn hát Nối Vòng Tay Lớn, buổi trưa ngày 30/4/1975, trên đài Sài Gòn :

" Mặt đất bao la ... anh em ta về ... gặp nhau trong bão lớn quay cuồng trời rộng ...

Lời ca không phải là tiếng thách thức tử thủ. Lời ca không phải là tiếng bể máu như kết cục thường của chiến cuộc, lời ca khi ấy làm chùng xuống không khí thù hận và hằn học.

Chúng tôi tiến vào Sài Gòn...

Nối Vòng Tay Lớn

Chiến tranh nào bao giờ chẳng có mặt trái, nhưng tiếng hát kia, bản nhạc ấy, mở ra cho cả hai bên nghe như một liều thuốc vô hình đã làm chùng xuống một thời khắc thường dễ nổi cáu và nổi doá.

Đấy là kỷ niệm thứ hai của tôi về anh "

Tiếng hát làm chùng tay súng. Một ngày, một giờ mà sinh mệnh của hằng triệu con người nằm trên đường tơ kẽ tóc, một sự kiện như thế không trọng đại hay sao ?

Văn học nghệ thuật Việt Nam, đã bao nhiêu lần đóng vai trò đó ?

Sau này, Thọ sang sinh sống tại Đức, theo diện xuất khẩu lao động, vẫn nghe nhạc Trịnh Công Sơn :

" Ngay cả sau này, đôi khi tự an ủi mình, nâng đỡ mình, tôi khe khẽ hát "Tôi ơi đừng tuyệt vọng"... và nhiều bài ca khác trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhưng tôi vẫn nhớ từng chi tiết và cám ơn nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ở trưa phát thanh trên làn sóng Sài Gòn ngày đó "9

Ở một chân trời khác, nhiều người oán trách Trịnh Công Sơn về việc lên đài hát Nối Vòng Tay Lớn, trưa ngày 30.4.1975. Thật ra, anh có hát hay không hát, thì chế độ Việt Nam Cộng Hoà cũng tan rã. Anh có hát, và có hợp tác với chính quyền mới, âu cũng là một cách cứu vãn vết tích văn hoá của nền Việt Nam Cộng Hoà đã đào tạo ra anh về mặt tài năng và sự nghiệp, thậm chí tạo ra cả một huyền thoại Trịnh Công Sơn.

Một lần nữa, ông Nguyễn Văn Trung, sau Ảo Ảnh Thanh Thúy nếu viết Trịnh Công Sơn Thực Chất và Huyền Thoại cũng sẽ nghĩ ra nhiều điều hay.

Nếu có ai đó nói rằng : Trịnh Công Sơn là một khổ nhục kế, để kéo dài hơi thở văn hoá của một chế độ chính trị đã bị bức tử, thì là lời đại ngôn, duy cảm, nghịch lý, vớ vẩn.

Vớ vẩn như một số lời ca trong tác phẩm Trịnh Công Sơn. Nhưng biết đâu chẳng là sự thực ? Sự thực trong bao nhiêu cái vớ vẩn, kể cả trong lịch sử.

Chế Lan Viên, năm 1984, đã viết : " Văn hoá của thực dân mới là con đẻ của chủ nghĩa thực dân mới. Quân sự, chính trị thực dân mới có chết, có băng hà thì nó cũng truyền ngôi cho văn hoá "10. Và Chế Lan Viên không phải là người vớ vẩn, viết lách vớ vẩn.

*

" Không xa đời và cũng không xa mộ người..."

Trịnh Công Sơn đã xa đời lúc 12 giờ 45 tại Sài Gòn, ngày 01.4.2001.

Đám tang ngày 4 tháng tư, nghe nói lớn lắm, hàng trăm tràng hoa ngập con hẻm 47 Duy Tân. Hàng vạn người đưa tiễn, trong đó có thể có người đi tiễn một điều gì khác, một tâm tình hay u hoài nào đó của riêng mình, chẳng hạn.

André Malraux có nói đâu đây rằng " trong Thiên Chúa Giáo, chỉ có những pho tượng là vô tội ". Trịnh Công Sơn đã sống non nửa sau cuộc đời, trong một chế độ chính trị mà các pho tượng cũng không phải là vô tội.

Những đoá hoa đặt trên mộ Toa, Sơn ơi, không phải là đoá hoa nào cũng vô tội.

Bây giờ moa mới khóc Toa đây. Tại nhà moa, ngồi ở chỗ Toa ưa ngồi vẽ, nhìn dòng sông nhỏ, mà Toa đã gọi là sông An Cựu.

Sơn ơi, đời này, và sang đời khác nữa, làm gì có đến hai dòng sông An Cựu ;

an cựu, Sơn ơi.

Đặng Tiến
Orléans, 14.04.2001

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 9/28/2014(UTC)
phamlang  
#22 Posted : Monday, September 15, 2014 4:04:21 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Đường Trịnh Công Sơn – những góc nhìn đẹp


Con đường đầu tiên của Việt Nam mang tên nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn nằm sát dòng sông Hương ở Huế, rất đẹp với những khúc quanh mềm mại, cây xanh, nhà cổ và mặt nước xanh trong. Con đường này xuất phát từ chân cầu Gia Hội chạy dọc bờ sông Hương đến vị trí giao nhau với đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, dài 600m, rộng 11m, thảm nhựa.

Loạt ảnh của Đại Dương:


UserPostedImage
Đường Trịnh Công Sơn nằm bên sông Hương thơ mộng, huyền ảo với mây nước in bóng - ảnh chụp từ trên cầu chợ Dinh

UserPostedImage

Dãy nhà và con đường hòa mình vào sông hiền hòa - ảnh chụp từ cồn Hến


UserPostedImage

Công viên cây xanh đang trong quá trình hoàn thiện


UserPostedImage

Đi qua góc phố cổ Gia Hội

UserPostedImage

Thấp thoáng mái nhà cổ


UserPostedImage

Những thảm cỏ còn đẫm sương đêm

UserPostedImage

“Đường xa ướt mưa”

UserPostedImage

Một gánh hàng rong tất tả trên đường

UserPostedImage

Phút cuối ngày nhìn từ cồn Hến đến đường Trịnh Công Sơn qua mặt nước sông Hương đẹp mê hồn.

UserPostedImage

Con đường Trịnh Công Sơn nằm sát sông Hương rất đẹp và thơ mộng. Đây cũng là con đường đầu tiên tại Việt Nam mang tên người nhạc sĩ tài hoa



Chính thức đặt tên đường Trịnh Công Sơn tại Huế

UserPostedImage


Ngày 17/3, tại kỳ họp thứ 16 khóa V, HĐND tỉnh TT - Huế đã chính thức thông qua nghị quyết đặt tên đường phố và công trình công cộng TP Huế đợt 6.
Con đường Trịnh Công Sơn đã chính thức được đặt tên cho một đoạn đường sát sông Hương.

Huế là nơi gắn bó lâu nhất với Trịnh Công Sơn và con đường mang tên Trịnh Công Sơn tại Huế cũng là con đường đầu tiên tại Việt Nam mang tên người nhạc sĩ tài hoa này.

Được biết, đường Trịnh Công Sơn sẽ xuất phát từ chân cầu Gia Hội, cạnh đầu đường Chi Lăng, chạy dọc bờ sông Hương đến vị trí giao nhau với đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chiều dài con đường mang tên cố nhạc sĩ này là 600m, chiều rộng 11m.

Đường Trịnh Công Sơn sẽ đẹp hơn vì đang được tỉnh nhà xây dựng công viên ngay bên cạnh, sát với sông Hương.

Con đường Trịnh Công Sơn nằm sát sông Hương rất đẹp và thơ mộng. Đây cũng là con đường đầu tiên tại Việt Nam mang tên người nhạc sĩ tài hoa

Đại Dương

Edited by user Monday, September 15, 2014 4:05:51 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 3 users thanked phamlang for this useful post.
tieng Viet on 9/15/2014(UTC), CatLinh on 9/17/2014(UTC), thunder on 9/28/2014(UTC)
tieng Viet  
#23 Posted : Thursday, September 25, 2014 11:49:23 AM(UTC)
tieng Viet

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 515

Thanks: 1041 times
Was thanked: 464 time(s) in 237 post(s)
BRAVO BRAVO ASIA Applause Applause Applause Applause LOL LOL
Love BigGrin TO KNOW, TO SEE, Whistle to NGHE TO ThumpUp Love ThumpUp


Asia75_ TRỊNH CÔNG SƠN Cát Bụi - Tình Xa_ Lệ Thu & Thiên Kim.



Thanh kieu Asia for ALWAYS and CONTINUE making Trinh Cong Son songs in ASIA DVD SHOWS Applause Applause Applause Love

Whoohoo, haha , Ho^HO^ Laugh LOL LOL
UserPostedImage
thanks 3 users thanked tieng Viet for this useful post.
phamlang on 9/26/2014(UTC), CatLinh on 9/27/2014(UTC), thunder on 9/28/2014(UTC)
CatLinh  
#24 Posted : Saturday, September 27, 2014 2:45:59 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
s/t

ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO TRONG NHẠC CỦA TRỊNH CÔNG SƠN
UserPostedImage


“Tôi là một Phật tử ở trong một gia đình có tôn giáo chính là Phật giáo. Từ những ngày còn trẻ, tôi đã học kinh và thuộc kinh Phật. Thuở bé tôi hay đến chùa vì thích sự yên tĩnh. Có những năm tháng nằm bệnh, đêm nào mẹ tôi cũng nhờ một thầy đến nhà tụng kinh cầu an và tôi thường đi vào giấc ngủ êm đềm giữa những câu kinh đó. Có thể vì một tuổi trẻ đã có cơ duyên đi qua những cổng nhà Phật nên trong vô thức, bên cạnh những di sản văn hoá Đông Tây góp nhặt được, còn có lời kinh kệ vô tình nằm ở đấy.”Trịnh Công Sơn được coi như một trong những nhạc sĩ lớn nhất của tân nhạc Việt Nam với nhiều tác phẩm rất phổ biến.Mặc dù ông đã mất hơn mười năm nhưng ký ức về Trịnh Công Sơn vẫn còn sống mãi trong tâm tưởng của công
chúng yêu nhạc Việt Nam. Hơn 600 nhạc phẩm của ông đã lần lượt chồng lên nhau để xây dựng trong tâm trí người nghe một ngôi chùa, một ngôi chùa bằng nhạc trong tâm để mỗi người đều biến thành những con người “hình đồng không xuất gia nhưng tâm niệm lại xuất gia”.

Nghe nhạc Trịnh Công Sơn đối với nhiều người Việt cũng gần giống như nghe một câu kinh. Có được điều đó là bởi giữa âm nhạc Trịnh Công Sơn và tư tưởng của đạo Phật đã có một cuộc hôn phối kỳ diệu. Những triết lý Phật giáo thấm nhuần trong từng nốt nhạc Trịnh Công Sơn. Nó tạo nên cho nhạc của ông một màu sắc riêng, một dòng khắc khoải mà lại bình yên, thanh thản, một dòng mát dịu giữa không khí linh thiêng, yên ắng của cõi Chân Như, cõi sắc-sắc-không-không…
Trong bài viết năm 2001 trên tờ “Nguyệt san Giác Ngộ”, Trịnh Công Sơn đã nói trực tiếp về những ảnh hưởng của Phật giáo đến cuộc đời và những sáng tác của ông : “Tôi là một Phật tử ở trong một gia đình có tôn giáo chính là Phật giáo. Từ những ngày còn trẻ, tôi đã học kinh và thuộc kinh Phật. Thuở bé tôi hay đến chùa vì thích sự yên tĩnh. Có những năm tháng nằm bệnh, đêm nào mẹ tôi cũng nhờ một thầy đến nhà tụng kinh cầu an và tôi thường đi vào giấc ngủ êm đềm giữa những câu kinh đó. Có thể vì một tuổi trẻ đã có cơ duyên đi qua những cổng nhà Phật nên trong vô thức, bên cạnh những di sản văn hoá Đông Tây góp nhặt được, còn có lời kinh kệ vô tình nằm ở đấy.”
UserPostedImage

Trong Tứ Diệu Đế của đạo Phật, chân lý đầu tiên là khổ đế. Khổ đế là một đề tài rất phổ thông trong nhạc Trịnh Công Sơn: Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người, ông đã hát
trong Gọi tên bốn mùa. Cuộc đời đầy khổ và buồn vì không có gì trường cửu cả. Theo Kinh Kim Cương (Kim cương bát nhã ba la mật kinh), một trong những bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo, tất cả các pháp hữu vi là “như sương mai, như ánh chớp”. Đây là một ý niệm mà Trịnh Công Sơn đã nhắc đi, nhắc lại trong nhiều lời ca của mình. Giống như con chim ở đậu cành tre và một con cá... trong khe nước nguồn, không ai trong chúng ta là những người định cư vĩnh viễn, tất cả đều là những người ở trọ trần gian này.

Một đề tài Phật giáo khác trong nhạc Trịnh Công Sơn là thuyết luân hồi. Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi / Để một mai tôi về làm cát bụi, ông hát trong Cát bụi. Hay Ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ khô, trong Rừng xưa đã khép. Trong các ca khúc của mình Trịnh Công Sơn có vẻ đồng ý với đạo Phật rằng “Hiện tại là hình bóng của quá khứ và tương lai là hình bóng của hiện tại”. Trịnh Công Sơn cũng tỏ ra chấp nhận thuyết luân hồi của nhà Phật trong những câu mà Trịnh Công Sơn đã làm nhòa nhạt biên giới giữa đi và về, như trong bài Phôi pha:Có những ai xa đời quay về lại / Về lại nơi cuối trời. Nếu chết là để đi đến tái sinh thì khi ta ra đi nghĩa là ta trở lại.Nhìn sống và chết cũng như nhìn nước chảy trên sông và tự hỏi
nước đang ra đi hay nước đang trở về.Đó là ý của Trịnh Công Sơn trong Gần như niềm tuyệt vọng: Những ngàn xưa trôi đến bây giờ / Sông ra đi hay mới bước
về.
Theo đạo Phật không có cái ta trường cửu nhưng mà có một chút gì trong cái ta đã mất được tiếp nối trong cái ta tái sinh. Quá trình này thường được so sánh như khi ta thắp một cây nến từ một cây nến khác, có cái ra đi và cũng có cái trở lại, một cõi đi về như Trịnh Công Sơn đã viết trong bài ca cùng nhan đề. Một ảnh hưởng khác của Phật giáo trong ca khúc của Trịnh Công Sơn là sự mập mờ và siêu lý luận của các câu văn.Nhạc, lẽ dĩ nhiên là tiếng nói của con tim không phải là của lý trí nhưng sự xác định này cũng chưa đủ dể giải thích tại sao Trịnh Công Sơn có vẻ như không muốn làm cho lời ca rõ ràng.Tôi nghĩ rằng đây là ảnh hưởng của Phật giáo, rằng người ta không thể chỉ ngồi mà lý luận để đi đến một sự bình an cho tâm hồn,
rằng ý niệm giác ngộ vượt qua biên giới của ngôn ngữ và lý luận.
Trịnh Công Sơn giống như một nhà thiền sư phủ nhận rằng tuyết thì trắng, quạ thì đen, với mục đích nói lên rằng muốn giác ngộ thì phải tránh xa cái đối lập giữa “có” và “không” để thành một tổng thể hài hòa. Lời ca của Trịnh Công Sơn giống như các công án trong Phật giáo, chẳng hạn như công án nổi tiếng nói về lắng nghe tiếng vỗ của một bàn tay, và cũng giống như công án, bài hát của Trịnh Công Sơn không thể giải thích được bằng đầu óc.

Trịnh Công Sơn có ý nói đến thuyết vô ngã trong các bài ca của ông.Ông có nói đến “phụ người” như trong bài Ru em nhưng cái buồn của ông thật ra cũng là cái buồn của nhân thế. Yêu em yêu thêm tình phụ / Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ (Ru em). “Từ bi” có nghĩa là tâm từ (maitri) và tâm bi (karuna), hai đức hạnh mà theo Phật giáo mình nên tu dưỡng.

Nhạc Trịnh Công Sơn khó hiểu nhưng lời ca của ông có khả năng xoa dịu những tâm hồn bị dao động.“Đóa hoa vô thường” là một bản tụng ca Đức Phật, có thể là Phật Quan Âm. Người nữ ở đây không mười sáu tuổi, không một chiều kia có em buồn buồn, không cười đâu đó trong phố xá đông vui. Một người mà anh đã đi tìm trong xa gần đất
trời rộn ràng, trong sương hồng, trong chiều bạc mệnh, tìm trong đàn chim ngậm hạt sương bay. Tìm ngày tìm đêm, bền bĩ một cách lạ thường không bao giờ tuyệt vọng. Và anh đã gặp một người mình hạc xương mai, với nụ cười mong manh. Nàng tinh khiết như cội nguồn nguyên thủy, nàng ngát hương giữa đôi giòng kinh. Nàng là Đạo, hay Đạo được anh hoá thân thành Nàng cho gần với Đời. Và nàng tắm gội dưới mưa bốn bề toả ngát hương trầm. Nàng dạy dỗ anh, tan chảy trong anh.

Đạo thấm vào anh, gần gũi đến nỗi có tôi trong dáng em ngồi trước sân. Từ đó hoa là em, một sớm kia rất hồng, nở hết trong hoàng hôn. Nhờ có kinh đắp bồi, nên từ đó anhlà đêm
nở đóa hoa vô thường. Khi cái Đẹp lên ngôi (lời kinh là những cái Đẹp) thì sự phụng thờ của anh, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm và tôn thờ cái Đẹp, cuộc trùng phùng chỉ là một tất yếu.

Xưa nay anh ít khi viết nhạc cho một người bạn trai, nhưng “Sóng về đâu?” là bản nhạc anh Sơn viết tặng riêng Trai. Đó là vào một buổi tối trên bãi biển Nha Trang, trong tiếng sóng vỗ ầm ì vào bờ cát anh tưởng như nghe được tiếng thở dài của người bạn trẻ đang đương đầu với con sóng lớn của cuộc đời. Anh lâm râm niệm một câu kinh Bát Nhã: Yết đế, Yết đế, Bala yết đế, Bala tăng yết đế, Bồ đề, Tát bà ha ! Và thầm thì với biển: “Biển sóng, biển sóng, đừng xô (bạn) tôi, đừng xô (bạn) tôi ngã dưới chân người”.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn như một phật tử đi lại trong cõi đời bụi bặm để giác ngộ chúng sinh. Giúp họ nhận ra cái vô ngã của con người và cái hư vô của cuộc đời. Giúp họ bình thản suy ngẫm về sự sống và cái chết. Giúp họ sống biết yêu thương và tin tưởng, sống từ bi… Tuy nhiên, cũng không nên hiểu rằng nhạc của Trịnh Công Sơn xui người ta rời bỏ cõi đời. Nhà Phật không mong có nhiều phật tử xuống tóc đi tu. Và thấm lời Phật dạy, Trịnh Công Sơn đã tu chính ngay giữa cõi đời: “Không xa đời và cũng không xa loài người Không xa ngậm ngùi và cũng không xa nụ cười Đời cho ta thế hãy cứ cất bước đi với người” Cõi cuộc đời là hư không nhưng người nhạc sĩ này luôn sống với đời bằng một tình cảm gắn
bó: “Quê hương là nỗi nhớ Đời nhẹ như là thu Yêu càng yêu quê nhà Yêu những đời bão tố Nhọc nhằn trong nắng mưa” Âm nhạc của Trịnh Công Sơn là âm nhạc của sự giải thoát nhưng cũng đồng thời là âm nhạc của sự gắn bó. Có lẽ vì thế mà nó là âm nhạc của sự vĩnh hằng. Người viết xin mượn lời của ca sĩ Khánh Ly để kết thúc bài viết này: “[…] từ ông (Trịnh Công Sơn) tôi đã thành danh và quan trọng hơn là từ ông tôi đã thành nhân.
UserPostedImage
thanks 2 users thanked CatLinh for this useful post.
thunder on 9/28/2014(UTC), phamlang on 10/4/2014(UTC)
CatLinh  
#25 Posted : Thursday, October 2, 2014 5:51:01 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
EXCELLENT! Love Love LOL Whistle ThumpUp NGHE nè, Applause Smile NGHE bạoBigGrin Laugh Flapper khakhakáaa . THANK U ASIA.ThumpUp Sneaky Applause Laugh LOL Love

Thien Kim, Tinh Nho
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 10/4/2014(UTC)
phamlang  
#26 Posted : Saturday, October 4, 2014 7:13:11 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Tản mạn Về Trịnh Công Sơn

Triệu Thần


"Bống vội vàng đi xa lìa quê nhà,
... xa lìa vườn xưa
Ngày xưa ngần ngại xõa tóc trên vai
... ngày xưa ngần ngại
Hư vô bống về câu thề đã phai
Trời như nhỏ lại ..."


Tôi nghe nhạc của anh từ lúc còn rất trẻ, chắc có lẽ tại vì mấy anh chị của tôi cũng nghe và mê nhạc của anh. Hay tại vì cái mớ dây mơ rễ má, hay những bức tranh tĩnh vật pha chút trừu tượng trong những bài nhạc, bài viết? Không biết nữa, chỉ biết tự lúc nào lâu lắm, những những bài tình ca anh viết đã ở lại trong tôi, những bài tình ca viết dễ như "lấy chữ từ trong túi ra" (NXK).

Theo người anh rể, tôi đến ngôi nhà đó, lòng hồi hộp khó tả. Tối, có cái vẻ huyền hoặc đến lạ, văng vẳng tiếng mõ từ đâu đâỵ Khi Khánh Ly viết trong "Bên Đời Hiu Quạnh" về cái người mà cô mới gặp, "mặt trái xoan, sống mũi cao, đeo kính dày cộp ..." gì đó, có nhiều người đã cườị Tôi cũng có lần đã cười khi đọc đoạn đó, nhưng không phải vì đồng quan điểm với những người khác. Đơn giản, vì tôi đã gặp anh, tuy không hoàn toàn như cô Khánh Ly tả, cũng từa tựa là thế. Tuy nhiên, phải công nhận cái đặc biệt nhất ở anh là nụ cười, vừa có cái vẻ hiền hậu của một người anh lớn, vừa có cái nét hơi e ngại của một người chuyên sống với nội tâm. Thì ra là vậy, ngôn từ phản ánh con người, bảo làm sao lời nhạc anh viết chẳng lắng sâu, nhẹ nhàng, cứ như là triết lý.

Hôm qua nghe tin anh mất, tôi lặng người đi khá lâụ Biết anh lâm bệnh cũng đã một thời gian rồi, cái biến cố vẫn còn làm tôi tức thở. Mới đây thôi, Sĩ Phú đi, rồi Lê Uyên Phương cũng đị Giờ đến anh, những cây đại thụ trong vườn âm nhạc Việt theo nhau ra đị Lớp trẻ rồi sẽ lớn lên, nhưng chẳng biết có kế tục nổi cái sự nghiệp các anh để lại hay không, khi cái gia tài quá lớn, cả "một nước Việt buồn" lận đó. Người đi, kẻ ở lại, "vui buồn hội ngộ trong kiếp con người" là vậy, biết mà vẫn không cầm được nỗi đau ứa rạ Biết làm gì hơn, tôi chúc anh và tất cả những người đã ra đi được yên nghỉ nơi cuối trời quên lãng...

Giòng nhạc đi qua, âm hưởng đọng lại trong mỗi con ngườị Nhạc TCS đọng lại trong tâm tưởng khán thính giả không chỉ ở giai điệụ Nói đúng hơn (như ai đó đã nói), lời nhạc của anh ở lại lâu hơn. Cho nên cái nguyên bản của ngôn từ trong nhạc anh quan trọng lắm, như chính anh đã nói, "tại răng mà người ta cứ muốn sửa chữ của tác giả! " Hôm nay nhớ đến anh, tôi muốn lan man viết ra đây một vài ý tưởng, mong được anh đón nhận như tấm lòng của một người em nhỏ.

… "Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ
Dài tay em mấy thưở mắt xanh xao … "

Nếu nghe nhạc Trịnh Công Sơn bằng từng chữ, chắc hẳn thiên hạ sẽ thấy nhiều nghịch cảnh lắm, cái gì mà "dài tay em mấy thưở mắt xanh xao" nghe giống … ma quá đi thôị Thế mà người ta vẫn yêu nhạc của anh, vì không ai nên "ngộ" âm nhạc theo kiểu "từ chương" như vậy hết. Thế nhưng, vẫn có nhiều trường hợp đã khiến cho anh bật cười, tôI bật cười, và bao nhiêu người bật cười rồi đó, chẳng phải vì họ ngây ngô hay mình ngây ngô mà tại vì tính người Việt Nam mình vốn vậy, chỉ muốn hiểu những gì ... mình thích hiểụ Ngay ở trong bài trên cũng có một đoạn mà không ít người vẫn còn hãy cứ mơ hồ, nhất là khi hát. "Chiều nay còn mưa sao em không lại, nhỡ mai trong cơn đau vùi làm sao có nhaụ.." Cái ý tưởng của người nhạc sĩ tưởng đã quá rõ ràng ở đó, "nhỡ mai" nghe chừng như trách móc, chừng như luyến tiếc. Đúng rồi, "nhỡ mai trong cơn đau vùi làm sao có nhau", hoàn chỉnh quá đi chứ. Vậy mà khi hát, vì âm điệu cũng được, vì biến tấu cũng được, nghe cứ như là "nhớ mãi trong cơn đau vùi, làm sao có nhau". Nhớ mãi trong cơn đau vùi thì ổn, nhưng rồi ghép chung với làm sao có nhau thì cứ như là thiếu hụt một vế nào đó. Đến lúc chép tay ra cho nhau người ta cũng đánh y như vậy, "nhớ mãi trong cơn đau vùi...", thậm chí có cả một nhà xuất bản in sách nhạc như vậy mới khổ. Nghe qua thì cũng vui, nhưng nói thiệt, có chút gì đó chẳng được như ý.

Mấy mươi năm sau, anh cho ra một hiện tượng, bài hát "Một Cõi Đi Về" được người ta đua nhau hát trong băng nhạc, trong biểu diễn, và ngay cả trong ... ngày đám cưới nữạ Thây kệ, bài hát là bài hát, dịp nào cũng là dịp, mà bài hát đó nghe như cao siêu, lọt vào lỗ tai này ra lỗ tai kia, cũng chẳng khóc than em đi lấy chồng anh về lấy vợ gì ráo, ngại gì. Chỉ là cái khổ cuối đã làm không biết bao nhiêu người tranh cãi, có lẽ chỉ có chính nhạc sĩ là không ... buồn cãị Cái "ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì" lại là cái gì đây ở anh, nghe qua thì được, nghe lại thì hoàn toàn không ổn. Ai lại để cái ngọn gió hoang vu kia thổi xuyên suốt cả xuân thì, còn gì là ấn tượng nữạ Xin thưa rằng, nguyên văn phải là "thổi buốt xuân thì" cơ, cái ngọn gió đó làm lạnh thêm, cô đơn hóa hình ảnh của tuổi xuân thì, siêu thực theo phong thái Trịnh Công Sơn vậy mới phảị Nhân đây cũng nói luôn thể, khi nghe cô Thanh Lam hát "Một Cõi Đi Về" lần đầu tiên, trời nóng như thiêu bên ngoài mà tôi cũng đã rùng mình đấỵ Gớm cái nhà cô này đầy sáng tạo, cứ hú lên như là đồng bào vùng cao gọi nhau đi ra rẫy, khổ kết lại đưa vào cái gì là "...hôm nay ta xây ...." nghe chẳng ăn nhập vào đâụ Eo ôi, tôi cũng là thính giả mà phản ứng đã vậy, anh nghe qua rồi không biết có buồn không?

Viết về nhạc Trịnh Công Sơn, có lẽ mất cả năm trời vẫn không hết, thôi tôi không dám nhiều chuyện. Nếu có gì muốn nói, có lẽ chỉ xin đề đạt một cảm nhận của chính mình. Ca sĩ của chúng ta vẫn vậy, lúc lên hát hay lúc thâu băng, quên chữ nào thì phăng ra chữ đó để "hát lấp", vô tình một truyền mười, mười truyền trăm, nguyên tác khi đã truyền lưu một thời gian trở thành một phiên bản khác. Dĩ nhiên người hát không để ý và không cố ý, nhưng biết đâu đã làm người nhạc sĩ buồn lòng. Thành thử, việc truyền bá văn hóa, ngay cả thông tin, nên có một đôi phần trách nhiệm là vậy đó. Và để kết, tôi cũng xin đăng lại bài "Nôí Vòng Tay Lớn", một tuyên ngôn của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn...

... Rừng núi dang tay nối lại biển xa, ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà. Mặt đất bao la, anh em ta về, gặp nhau mừng như bão tố quay cuồng trời rộng, bàn tay ta nắm nối liền một vòng Việt Nam....

Cờ nối gió đêm vui nối ngày
Dòng máu nối con tim đồng loại
Dựng tình người trong ngày mới
Thành phố nối thôn xa vời vợi
Người chết nối linh thiêng vào đời
Và nụ cười nối trên môi.


Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay, ta đi từ đồng hoang vu vượt hết núi đồị Vượt thác cheo leo, tay ta vượt đèo, từ quê nghèo lên phố lớn, nắm tay nối liền biển xanh, sông gấm ... nối liền một vòng tử sinh ...

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
CatLinh  
#27 Posted : Sunday, October 5, 2014 11:16:36 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 10/7/2014(UTC)
phamlang  
#28 Posted : Tuesday, October 7, 2014 4:55:22 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Trịnh Công Sơn - Ngôn ngữ Và Những Ám Ảnh Nghệ Thuật


Bùi Vĩnh Phúc


1. Phần I

Editor: Bài viết gồm 2 phần này được tác giả tự trích đoạn để đăng trên tạp chí Văn Học năm 2001 - số đặc biệt về Trịnh Công Sơn. Gần đây, toàn bộ tác phẩm đã được phát hành (tháng 3/2005) với nhan đề :"Trịnh Công Sơn: Ngôn Ngữ và những Ám Ảnh Nghệ Thuật" - nhà xuất bản Văn Mới - Hoa Kỳ. Mời bạn đọc tìm mua.

Tìm thấy nỗi nhớ từ mỗi chiếc lá
Góc phố nào cũng thấy quê nhà
(Tình Yêu Tìm Thấy, TCS)


Không ai là một hòn đảo, tự mình toàn vẹn trong chính mình (...) ;
mỗi người là một mảnh của Đại lục (...). Cái chết của mỗi một
người đều làm tôi bị mất mát đi, bởi lẽ tôi gắn liền với Nhân loại.
Và, bởi thế, xin đừng bao giờ hỏi rằng chuông gọi hồn ai.
Chuông gọi hồn anh đó.
(John Donne)


Trịnh Công Sơn đã ra đi. Những tiếng chuông gọi hồn đã được đánh lên. Và âm ba của những hồi chuông ấy vẫn còn vương đầy trong không gian tâm hồn của chúng ta. Qua những tiếc thương và suy tư của bao người còn ở lại. Nhưng thực ra, những tiếng chuông gọi hồn đó đã luôn cất lên, gióng giả, trong suốt cuộc hành trình làm người của Trịnh Công Sơn. Chúng vang vọng trong âm nhạc của anh, với những nhịp điệu đều đều, buồn buồn, nghe như những tiếng kinh cầu; trong những nhịp kể lể với những ca từ mang nặng tính siêu hình pha vào nhịp thở của thời đại. Những tiếng chuông gọi hồn đó vang vọng trong cõi thời gian chìm chìm ẩn ẩn một màu úa tàn, bềnh bồng trôi dạt về một nơi chốn thiên thu nào đó, một cõi thời gian luôn luôn in dấu những chiếc bóng trăm năm. Những tiếng chuông gọi hồn đó, chúng vang vọng trong những khoảng không gian đựng nhiều bóng tối, trong những cánh rừng xưa đã khép mắt, những cồn biển quạnh hiu và những núi đèo mờ mịt, trong những đường phố đầy bóng hư không, hay trong những quán xá bàn ghế không bầy... Nhưng những tiếng chuông cầu hồn ấy, trước hết, đã được đánh lên với những âm vang sắc buốt nhất qua những bài hát về thân phận con người, về cuộc chiến tang thương vỡ nát trên quê hương Việt Nam.

Những tiếng chuông ấy vang động khắp thế giới qua âm nhạc cũng như lời ca của Trịnh Công Sơn. Những lời ca như những dòng thơ buồn rầu vỡ sắc, tả về những kinh hoàng tưởng như không bao giờ có thật, nhưng chúng vẫn hiện hữu trong cuộc sống con người. Những lời ca như những dòng thơ đẩy con người chạm mặt với cõi siêu hình. Dù chỉ là trong những khoảnh khắc của cuộc sống. Và chính những tiếng chuông cầu hồn vang lên trong âm nhạc đó của anh đã đẩy anh, nhiều lần, ra trước những vành móng ngựa của đời. Con người là một con vật xã hội (social animal). Từ đó, nó cũng là một con vật chính trị (political animal) dù nó có muốn hay không. Và nếu chỉ nhìn về khía cạnh chính trị, từ góc độ của mình, có lẽ chúng ta có thể nhìn thấy Trịnh Công Sơn có những sai lầm, những vấp ngã; và chính anh, khi nhìn lại đời mình, cũng đã có những lúc thấy và hối tiếc về những vấp ngã và sai lầm của anh trong đời. Chúng ta, trong mắt nhìn của mình về anh như một con người của quần chúng, có quyền lên tiếng và bày tỏ thái độ của mình về những chọn lựa của Trịnh Công Sơn. Nhưng nếu nhìn từ một góc độ khác, rộng lớn hơn, người nghệ sĩ ấy là một con vật xã hội. Hơn thế nữa, Trịnh Công Sơn là một con người với tất cả những yếu đuối và mỏng dòn của nó. Anh cũng là một con người hết sức thiết tha với cuộc đời. Anh yêu thương cuộc đời và đau xót vì thấy được cái thân phận mong manh và nhiều khổ đau của kiếp con người. Thật ra, trên hết và trước hết, Trịnh Công Sơn là một nghệ sĩ, một con người đã sống hết lòng với trái tim mình. Một trái tim thật nhậy cảm trước từng máy động của đời. Trịnh Công Sơn rung động với mỗi chuyển động tế vi của trời đất, với tiếng gió qua đèo, tiếng những giọt mưa, những nụ hoa hẹn hò nhau trước sân nhà anh.

Những máy động mong manh như thế, con người nghệ sĩ ấy còn nghe thấy, thì làm sao những tiếng nổ làm vỡ nát thịt da người kia anh lại không nhận ra. Nhưng cuộc chiến nào cũng có hai phía, nếu không là nhiều phía, nên khi anh ghi nhận lại những hình ảnh đau thương tan nát và những âm thanh tàn phá ấy, anh dễ bị lôi ra trước những vành móng ngựa của đời. Cũng thế, những người góp tiếng nói để nhìn lại hoàn cảnh, vị trí, con người và những mơ ước, những thiết tha cùng những đóng góp nghệ thuật của anh cũng có thể bị ngộ nhận như thế. Nhưng, nếu ta nhìn cuộc đời này một cách rộng lớn hơn, nếu ta không đóng khung nó lại trong khoảng thời gian của một cuộc chiến; nếu ta nhìn con người như những tế bào, những sinh thể của một Đời Sống lớn hơn, những sinh thể được liên kết với nhau trong một sự gắn bó thiết tha sống chết, thì đúng như John Donne đã nói, “Không ai là một hòn đảo (...); mỗi người là một mảnh của Đại lục (...) Cái chết của mỗi một người đều làm tôi bị mất mát đi, bởi lẽ tôi gắn liền với Nhân loại. Và, bởi thế, xin đừng bao giờ hỏi rằng chuông gọi hồn ai. Chuông gọi hồn anh đó”. Nếu một người có tội, tất cả mọi người đều—trong những mức độ nào đó—chia sẻ sự liên đới của tội lỗi kia. Để đạt đến sự cứu rỗi, tất cả mọi người đều phải có những nỗ lực đóng góp để vươn về điểm tới ấy. Một gương mặt hằn sâu những vết cắt của tội lỗi và đau khổ (in bóng một cánh rừng âm u, quằn quại những sức sống vươn lên trong bóng tối), cùng lúc, cũng khuôn mặt ấy với ánh sáng thánh thiện và nét cứu rỗi mọc lên trong đôi mắt, bỗng hiện dần ra trước cái nhìn của tôi. Đó là khuôn mặt của con người nghệ sĩ Dostoevski. Tôi muốn chảy nước mắt khi nhớ lại cái ánh sáng kia trong các tác phẩm của ông. Con người là một sự liên đới. Và trong sự nhận thức về tính cách liên đới ấy, nó bước gần đến chỗ tìm ra được sự cứu chuộc cho chính mình. Ý nghĩa cuộc hiện sinh của con người nằm ở chính trong sự liên đới và sự cứu chuộc kia.

Dù sao, tôi muốn viết bài này về Trịnh Công Sơn không phải chỉ để nhắc lại những tiếng chuông gọi hồn vẫn mãi còn gióng giả trong nhạc của anh. Thật ra, tôi muốn viết về anh nhiều hơn với tất cả những khía cạnh đẹp tươi, thơ mộng mà anh đã để lại trong âm nhạc và ca từ của mình, mặc dù những nét thơ và đẹp ấy gần như luôn luôn nằm trong vùng hồi quang của những chia lìa, mất mát để, khi nhìn lại, người ta thường chỉ thấy ở đó những con gió quạnh quẽ, những chiếc bóng trăm năm đi về mãi mãi. Nhưng, bây giờ, ít nhất, trong những giờ khắc tĩnh tại của lòng mình, trong những khoảng thời gian chớp mắt của đời sống mà chúng ta thỉnh thoảng tìm được cho mình trong dòng đời này, hãy để lòng mình lắng lại những tiếng quê nhà. Hãy thử gạt bỏ đi những tạp âm trong đời sống này để nghe lại những tiếng nói thân thiết mà chúng ta hằng quen thuộc. Trịnh Công Sơn đã để lại cho tất cả chúng ta một gia tài dung chứa bao nhiêu hình ảnh đau thương, xót xa cũng như thơ mộng và đẹp đẽ về quê hương Việt Nam, nói riêng, và quê hương của con người là cõi tạm này, nói chung. Những bài hát của anh đã làm cho chúng ta sống phong phú hơn biết bao về nhiều khía cạnh. Bài viết này, về ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật trong nhạc Trịnh Công Sơn, muốn cố gắng ghi nhớ và chắt lọc những điều tha thiết được để lại trong cái gia tài ấy; từ đó, hy vọng chúng ta sẽ dễ dàng nhìn lại được chân dung và những đóng góp của Trịnh Công Sơn hơn.

Phương pháp được sử dụng trong bài này là một phương pháp tổng hợp. Tôi sẽ áp dụng phương pháp xếp chồng văn bản (superposition) cùng với phương pháp sử dụng liên-văn-bản (intertextuality) (1). Cùng lúc, tôi cũng sẽ áp dụng những thao tác và phân tích của thi pháp học (poetics). Phương pháp xếp chồng văn bản của Charles Mauron, với nỗ lực gắn phân tâm học vào phê bình văn học, sẽ cho ta những cơ hội để nghiên cứu những mạng lưới liên tưởng trong ngôn ngữ và hình ảnh được thể hiện trong thế giới nhạc ngữ của Trịnh Công Sơn. Nó sẽ giúp ta khám phá ra những ám ảnh mà anh luôn ôm ấp trong đời sống cũng như trong những giấc mơ của mình. Từ sự liên kết các mối ám ảnh này qua những văn bản là hàng trăm bài hát của Trịnh Công Sơn, ta có thể nghe ra các tiếng vọng dội âm nhau cũng như các hình ảnh phóng chiếu, khúc xạ lẫn nhau trong những giấc mơ về đời sống cũng như qua những giấc mơ về một cõi thiên thu giữa cuộc đời của anh. Tất cả những ám ảnh này làm nên con người vô thức của tác giả. Nó có thể phác họa nên một cấu trúc tinh thần, dẫn đến một thứ mà Mauron gọi là “huyền thoại cá nhân” của một nhà văn, một nghệ sĩ.

Khái niệm liên văn bản thường được coi là do Mikhail Bakhtin, một nhà phê bình văn học kiệt xuất của Nga, đề xuất. Sau đó, nó được phát triển thành hệ thống phương pháp với những áp dụng xuất sắc của Philippe Sollers và Julia Kristeva trong nhóm Tel Quel, và sau đó nữa với sự đóng góp phong phú của nhiều nhà phê bình khác (2). Khái niệm này cho rằng văn bản nào cũng là một liên văn bản (intertext), và mọi văn bản đều có liên hệ đến các văn bản khác, và không có văn bản nào có thể tự đứng độc lập với một bộ nghĩa đóng khung trong chính nó. Nói như Roland Barthes thì văn bản chỉ là một “tấm vải” được đan kết bằng vô số những lời trích dẫn được rút ra và tổng hợp từ nhiều nguồn, nhiều trung tâm văn hóa khác nhau, và không một trích dẫn nào được coi là có giá trị ưu quyết. Từ đó, ý nghĩa của một tác phẩm, một văn bản, được quyết định nơi người thưởng ngoạn (3). (...) Trong cái nhìn của tôi, qua sự nghiên cứu con người vô thức Trịnh Công Sơn với những ám ảnh và những giấc mơ giữa đời của anh, mặc dù coi những bài hát của anh là những văn bản chính để khảo sát, tôi còn muốn dựa vào một thứ “văn bản” khác. Đó là hoàn cảnh xã hội, không khí thời đại, bầu khí quyển triết học, chính trị trong đó những bài hát ra đời, và sự giáo dục cá nhân của chính con người nghệ sĩ. Đối với tôi, tất cả những điều ấy cũng là những loại “văn bản” khác nhau, cùng góp phần vào việc giúp ta nhìn rõ hơn chân dung, diện mạo của Trịnh Công Sơn (4).

Thi pháp học trong bài này giúp ta khảo sát kỹ hơn thời gian và không gian nghệ thuật trong các tác phẩm của Trịnh Công Sơn. Nó cũng giúp ta trong việc đi vào một số những phân tích trên mặt thao tác ngôn ngữ của người nghệ sĩ và phát hiện được hệ thống từ vựng của tác giả. Hệ thống từ vựng và thao tác ngôn ngữ nơi một người phản ánh thế giới tinh thần của người ấy. Thi pháp học cho ta một dụng cụ khá tốt để thực hiện những công việc trên.

Ngôn ngữ (5) được sử dụng ở đây, trong bài này, ở một số khía cạnh, là ngôn ngữ của nghiên cứu và phê bình văn học. Điều đó khó tránh khỏi. Trong một số khía cạnh khác, nó có thể là một thứ ngôn ngữ thơ. Dù sao, chủ yếu, nó là một thứ ngôn ngữ được sử dụng cho những phân tích hiện tượng học. Người viết bài này hy vọng, qua nó, sẽ đi vào một số ý nghĩa mang giá trị siêu hình trong mạch ngầm của những câu chữ, những từ ngữ và những hình ảnh nơi thế giới nhạc ngữ của Trịnh Công Sơn. Những ý nghĩa mang giá trị siêu hình này, dù thế, không đẩy người thưởng ngoạn rời xa những gì thân thiết mà Trịnh Công Sơn muốn chia sẻ với những người nghe anh. Ngược lại, chúng là những gì có cội rễ ngay trong chính bản thể của mỗi người chúng ta. Dĩ nhiên, không có một thứ siêu hình học nào tách rời con người. Nhưng, nhiều khi, trong một số văn bản khác có tính siêu hình rõ nét hơn, nó lại biến thành những đám mây bay lơ lửng và lờ lững trên trời cao. Chúng bay ngang và che trên phận người. Trịnh Công Sơn, qua những sáng tác của anh, có lẽ là một trong những người đã đưa được những đám mây ấy xuống thấp. Một cách rất tài hoa. Để nó hòa quyện cùng con người. Bằng cách biến chúng thành những cơn mưa, rơi xuống rơi xuống và hòa quyện với đất đai sông núi để trở thành bao nhiêu hoa cỏ và những nét mặt của cuộc đời. Từ đó, chúng ta cảm nhận cuộc sống với những ý nghĩa của nó một cách sâu xa đằm thắm hơn. Và cũng từ đó, ta thiết tha và trân trọng với cuộc đời này nhiều hơn nữa.

Nhạc của Trịnh Công Sơn bao gồm những khúc thức giản dị, không cầu kỳ. Và nói như nhạc sĩ Văn Cao, “Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc bác học phương Tây. Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra...” Có người coi sự giản dị này như một điểm yếu trong âm nhạc của họ Trịnh. Họ nghĩ rằng, với những khúc thức như thế, âm nhạc của anh không phong phú, và những cảm xúc của anh, vì thế, bị giới hạn bên trong một “cái vỏ” nghèo nàn. Nhận xét này có thể có những khía cạnh đúng, nhưng là đúng cho tất cả mọi nghệ sĩ, trong đó có cả những người làm nhạc. Mỗi nghệ sĩ có một phong cách riêng, và chính là với cái phong cách riêng ấy của mình, mỗi người nghệ sĩ tự định hình con người và sắc thái nghệ thuật mình. Trịnh Công Sơn, với những khúc nhạc giản dị nhưng có một phong cách riêng, đã nói được tất cả những gì mà anh muốn bày tỏ với chúng ta, những người nghe anh. Suy nghĩ này làm tôi nhớ đến Claude Lévi-Strauss. Nhà nhân học cơ cấu này tin và cả quyết rằng những thao tác trí tuệ cũng như sự hiểu biết của những con người mà chúng ta coi là “man mọi” thật ra cũng chẳng thua kém gì những thao tác trí tuệ cũng như sự hiểu biết của chúng ta cả (6). Các nhà ngôn ngữ học thời nay cũng đều cho rằng ngay trong những ngôn ngữ của những bộ lạc mà chúng ta, những con người sống trong thời hiện đại, coi là man dã đều có những quy tắc phức tạp của chúng, và những hệ thống ngôn ngữ ấy cũng có thể diễn đạt được tất cả những điều tế vi nhất mà nhu cầu của những xã hội phát sinh ra những ngôn ngữ ấy đòi hỏi. Qua sự liên tưởng và so sánh những điều này với những khúc thức được coi là giản dị của Trịnh Công Sơn, tôi chỉ muốn nói rằng họ Trịnh đã chọn đúng dạng thức cho những khúc nhạc mình để giúp chúng đi vào lòng người nghe. Anh bắt được tiếng thở dài cũng như nhu cầu tinh thần của cả một thời, lại tạo được cho mình một giọng nói không bị nhòa đi giữa nhiều giọng nói khác. Thế giới âm nhạc của Trịnh Công Sơn, lại nói như Văn Cao, “với những lời, ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt như một hình thức của dân ca hầu như không thay đổi [...] đã chinh phục hàng triệu con tim, không chỉ ở trong nước, và ở cả bên ngoài biên giới nữa.”

Trước khi đi vào phân tích một cách khá chi tiết những ám ảnh, thời gian và không gian nghệ thuật, cũng như những hình ảnh biểu tượng và những nét đặc thù trong thế giới nhạc ngữ của Trịnh Công Sơn, ta có thể tạm thời đưa ra một nhận xét tổng quát rằng, nhạc ngữ của anh rất mới. Chúng mới một cách giản dị. Không phải mới ở cách dùng những câu chữ phức tạp, cầu kỳ, nhưng là mới ở cách sắp đặt những từ ngữ và những hình ảnh bên nhau một cách bất ngờ và rất không truyền thống. Trịnh Công Sơn lớn lên trong một thời đại mà ảnh hưởng của văn hóa Âu Mỹ, đặc biệt là của Tây Phương, đã ghi những dấu ấn khá sâu đậm trong tâm hồn người Việt. Nó tạo nên một bầu khí quyển văn hóa đặc thù, và những trí thức trẻ Việt Nam là những người có nhiều cơ hội sống và hô hấp trong cái bầu khí quyển đó. Những nghệ sĩ, lại là trí thức, dễ trở nên những người nhạy cảm và tài hoa hơn ai hết trong việc khúc xạ những hình ảnh của thời đại, của thế giới, theo cách nói mới của con người thời đại. Trịnh Công Sơn có chịu những ảnh hưởng này, ở một mức độ nào đó. Và, trên khía cạnh ngôn ngữ và nghệ thuật, tôi cho rằng đây là những ảnh hưởng tốt, có khả năng giúp mở ra một thế giới hình tượng mới cho tuổi trẻ Việt Nam. Trong thi ca, chúng ta đã có nhiều nhà thơ, qua tiếp cận với những tiếng nói thời đại ở khắp nơi trên thế giới, làm mới được giọng nói và ngôn ngữ mình.

Nhớ, Apollinaire, trong bài Le Pont Mirabeau, đã có những câu thật đẹp:

Les mains dans les main restons face à face
Tandis que sous
Le pont de nos bras passe
Des éternels regards lõonde si lasse...
(Tay nắm lấy tay và mặt nhìn mặt
Trong lúc đó dưới
Cầu của những cánh tay đôi ta lướt chảy
Dòng nước mệt mỏi của những thoáng nhìn thiên thu... )


Hình ảnh cây cầu làm bằng những cánh tay bắc qua vai nhau này thật đẹp và mới. Nó cũng đã xuất hiện trong một câu thơ của ta vào những năm sáu mươi.
Cũng Apollinaire, trong bài Zone, có hình ảnh thật lạ:

Bergère ô tour Eiffel le troupeau des ponts bêle ce matin...
(Ô kẻ chăn cừu ơi hỡi tháp Eiffel, bầy cừu mà nàng chăn dắt
là những cây cầu kêu be be buổi sáng hôm nay... )


Và Trịnh Công Sơn có hình ảnh quá mới và đẹp sau đây mà chắc ít người để ý:
Ngày mai em đi / biển nhớ em quay về nguồn

Gọi trùng dương gió ngập hồn / bàn tay chăn gió mưa sang...
Bàn tay chăn gió mưa sang (7). Gió mưa được xem như một bầy cừu hay một bầy dê nhỏ đáng yêu mà bàn tay ai đã chăn dắt sang đây. Hình ảnh mưa gió được làm cho mềm mại và sinh động để hòa nhịp với nỗi nhớ thiết tha đang bay trong trời không.

Jacques Prévert nói:
L'oiseau qui chante dans ma tête
Et me repète que je t'aime...
(Con chim hót trong đầu anh /
Và nhắc lại cho anh biết rằng anh yêu em...)


Và lời ca trong bài There's A Time, mà Nana Mouskouri hát rất hay, có hình ảnh:

... Now you ride the ocean, chase the stars underneath
some far-away skies
And the bird in my heart knows youõre never coming home, never coming home till the day the sea runs dry.

(Giờ đây anh cưỡi trên biển cả, đuổi theo những
vì sao dưới những bầu trời xa thẳm
Và con chim trong trái tim em biết rằng anh chẳng bao giờ quay về, chẳng bao giờ quay về cho đến khi nào biển cạn khô dòng.)

Hình ảnh con chim hót trong đầu hay trong trái tim của một con người không phải là hình ảnh có thể xảy ra trong thời xa xưa, chẳng hạn như trong thời của “Tuyết Hồng Lệ Sử”; nhưng nó là hình ảnh tự nhiên để diễn tả cảm xúc của thời năm mươi, sáu mươi, và sau đó nữa. Trịnh Công Sơn có thể chịu ảnh hưởng trong việc sử dụng biểu tượng này. Nhưng hình ảnh chim gắn với cảm xúc trong ca từ của ông được vẽ bằng một nét mạnh bạo và độc đáo hơn nhiều:

Trong trái tim con chim đau nằm yên /
Ngủ dài lâu mang theo vết thương sâu


Trên giọt máu cuồng điên / Con chim đứng lặng câm
Khi về trong mùa Đông / Tay rong rêu muộn màng...
Trông đợi những cơn mưa, Trịnh Công Sơn viết:
Buổi chiều ngồi ngóng những chuyến mưa qua


“Mưa” được coi như những chuyến xe mà tác giả là người chờ ngóng mong đợi chúng. Để làm gì? Có thể là để lên đường đi đến cõi mộng mơ của mình chăng? Cũng nói về những chuyến mưa như thế, nhưng ở đây là những chuyến mưa đêm, Mai Thảo có viết một câu với đại ý là “từ những vùng xa thẳm, mưa bay qua những ga sao và những trạm trời để đến với ta.”

Tôi thử đưa ra một số những hình ảnh và ngôn ngữ ấy để chứng tỏ rằng thời đại làm nên con người. Và nó làm nên con người qua những hình ảnh và ngôn ngữ cùng lối suy nghĩ riêng của nó. Chính vì thế, qua thế giới nhạc ngữ của Trịnh Công Sơn, ta nhận thấy rõ anh là một người chứng quan trọng của thời đại. Âm nhạc của anh cùng với ngôn ngữ và hình ảnh trong nó đã đem lại cho chúng ta một cái nhìn rõ nét về giai đoạn mà nó ra đời. Và Trịnh Công Sơn quả thật đã là người sai sử ngôn ngữ một cách tuyệt diệu.
Sau đây, trước hết, chúng ta hãy thử khảo sát một số ám ảnh của Trịnh Công Sơn.
[...]

(...) Một ám ảnh khác, thu gọn trong thân phận riêng của Trịnh Công Sơn, với những biểu hiện rất riêng của người nhạc sĩ, là ám ảnh về sự cô đơn của chính mình.

Hãy nghe anh nói về thế giới của anh:

Trời cao đất rộng / Một mình tôi đi / Một mình tôi đi
Đời như vô tận /Một mình tôi về
Một mình tôi về với tôi
(Lặng Lẽ Nơi Này)

(...) Đời chỉ là một cuộc đi. Đi mãi đi mãi. Và đi một mình. Đi một mình như thế qua suốt cuộc trần gian này:

Có đường xa và nắng chiều quạnh quẽ
Có hồn ai đang nhè nhẹ sầu lên
(Tôi Ơi Đừng Tuyệt Vọng)

(...) Nếu có về chốn cũ của mình, anh chỉ nhìn thấy sự hoang vu quạnh quẽ. Tất cả những gì là êm ấm, gần gũi ngày xưa, bây giờ chỉ còn là sự hờ hững, vắng không, tăm tối, khiến cho nỗi cô đơn trong anh càng đầy, càng nặng:

Nhà im đứng cửa cài đóng then
Vườn mưa xuống hành lang tối tăm
Về thôi nhé, cổng chào cuối sân
Hờ hững thế loài hoa trắng hồng
(Vườn Xưa)


Trịnh Công Sơn nhìn ngắm thân phận mình như một cái gì hư ảo, chóng tàn, chóng mất. Phần nào giống như Trần Thái Tông trong Khóa Hư Lục ngày xưa:

Thân như băng kiến hiệu
Mệnh tựa chúc đương phong
(Thân như băng gặp nắng trời
Mệnh như ngọn đuốc giữa gió)


Dù sao, cái nhìn của anh về thân phận mình có chút gì mong manh, dễ tàn, dễ mất hơn:

Đời ta có khi là đốm lửa
Một hôm nhóm trong vườn khuya
(Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ)
ánh lửa ấy, rồi cũng như vệt nắng chiều mong manh hấp hối kia, sẽ đậy lại một ngày qua.
[...]


“Tâm hồn là kẻ săn đuổi cô đơn”. Đây là tựa đề tiếng Việt một novella của Carson McCullers. Kẻ săn đuổi ấy cô đơn? Hay kẻ ấy săn đuổi sự cô đơn? Nghĩa nào cũng đẩy tâm hồn con người đối mặt với chính nỗi cô đơn của mình. Tựa đề trong nguyên bản tiếng Anh rõ ràng hơn. The Heart Is A Lonely Hunter. Nghĩa thứ nhất. Dù sao, chính trong sự cô đơn, con người nghe ngóng được cuộc đời, cảm nhận được những hiện tượng thiên nhiên một cách rõ ràng hơn. Trịnh Công Sơn cũng thế. Trong tịch lặng của niềm cô đơn, thính giác anh trở nên mẫn cảm hơn bao giờ. Sự nghe ngóng cuộc đời, cảm nhận thiên nhiên của Trịnh Công Sơn, ở một góc cạnh nào đó, cũng là một nỗi ám ảnh muốn ôm lấy đời sống này, cho dù bên tai anh vẫn luôn nghe thấy những tiếng dục gọi lên đường:

Đêm nghe gió tự tình
Đêm nghe đất trở mình vì mưa
Đêm nghe gió thở dài
Đêm nghe tiếng khóc cười của bào thai ...
Đêm thân xác mịt mùng
Đêm nghe tiếng muôn trùng đẩy đưa
(Nghe Tiếng Muôn Trùng)


Tôi Đang Lắng Nghe, bài hát đã được trích khá dài ở phần trên, cho ta thấy Trịnh Công Sơn hết sức thiết tha với cuộc sống. Anh luôn muốn sống cuộc đời mình một cách đầy tràn. Có lẽ vì anh đã cảm nhận được là mọi thứ trên đời này qua đi quá nhanh.

Nghe ngóng thiên nhiên, anh có dịp sống trở lại những cảm giác, những hạnh phúc và đau đớn cũ. Đời sống anh trở nên đậm nét và sâu lắng:

Đôi khi thấy trên lá khô một dòng suối
Đôi khi thấy trong mắt em một bóng tối nhỏ nhoi ...
Đôi khi thấy trong cánh chim từng đêm tối
Đôi khi nhớ trong tóc em mùi cây trái thơm tho
Đôi khi bước qua phố xưa lòng tôi nhớ
Đôi khi thấy trăm vết thương rồi như đá ngây ngô.
(Rồi Như Đá Ngây Ngô)


Trong đời ta, biết bao lần đã xảy ra những cuộc “đôi khi” đó, nhưng mấy ai là người cảm nhận rõ được hết những buốt sắc và ngọt ngào của những gì mà ta đã có trong đời. Phải là một người hết sức thiết tha với cuộc sống trong từng nếp gấp của nó, phải là người cứ mãi nuôi nấng trong lòng những tình cảm với người đã đi qua đời mình, người ta mới có thể sống trở lại một cách tận tuyệt như thế những đau đớn và hạnh phúc của đời. Bài hát trên có lẽ là một trong những bài hát đẹp lạ lùng mà Trịnh Công Sơn đã để lại cho chúng ta.

Trịnh Công Sơn có thể “tìm thấy nỗi nhớ từ mỗi chiếc lá”. Thật sự, mỗi một nét của đời, mỗi một sự kiện trong đời sống con người đều thấp thoáng trong nó một bức vẽ hoàn chỉnh nào đó, lớn hơn chính nó. Với cảm nhận của riêng tôi, và trong cái nhìn của tâm lý hoàn hình Gestalt, tôi có thể nhìn thấy bất cứ một hình ảnh hay sự kiện nào đã xảy ra với tôi và được cất giữ lại trong ký ức của tôi qua bất cứ một nét, một dấu, một hình nào đó mà tôi gặp gỡ trong đời. Tất cả những nét, những hình, những dấu ấy, như là một vài nét phác của một bức tranh hoàn chỉnh, sẵn sàng được tái hiện trong nhận thức và cảm thức tôi. Miễn là tôi biết rung động. Và nhìn. ở đây, không phải cái nhìn đưa ta đến một phương pháp luận để đi vào phê bình văn học như phương pháp luận của Strarobinski. Dưới con mắt của nhà phê bình này, thế giới, thu gọn lại trong tác phẩm văn học, là một vật thể mờ đục chống lại cái ý muốn làm nó trở nên trong suốt. Cái nhìn giúp con người tạo nên một mối liên hệ sống động giữa nó và thế giới chung quanh, giữa cái tôi và những người khác. Mỗi một cái nhìn của ta, hay đúng hơn của một nhà văn, một con người sáng tạo, đều đặt lại vấn đề cấu trúc của hiện thực, của quá trình giao tiếp giữa anh ta với thế giới bên ngoài. Trịnh Công Sơn đã nhìn, nhưng không phải anh nhìn để tìm biết cấu trúc của hiện thực. Anh nhìn, để sống và để cảm lại những đường nét, những khía cạnh có ý nghĩa đối với anh trong cái hiện-thực-ngày-xưa mà bây giờ đã trở thành kinh nghiệm đó. Anh luôn nghe ngóng và nhìn ngắm đời sống để có thể bắt được trở lại những đường dây mong manh cũ. Những đường dây đã kết nối anh với những nỗi hạnh phúc bây giờ đã trở thành xa vắng.

Nhìn và nhớ. Từ đó, bắt đầu một quá trình làm sống dậy quá khứ. Từ đó, con người sống trong thời gian đồng hiện:

Mùa Xuân yêu em đồi núi thênh thang
Hồ nước long lanh ngàn cánh vàng
Ngày ta yêu em màu lá thanh xuân
Chờ đến thu sang rồi hãy tàn
Đàn chim bên sông chiều chiều rung cánh
Người ngồi trên bến nhớ mênh mông
(Người Về Bỗng Nhớ
)

Có những khi, cái nhìn của Trịnh Công Sơn không phóng ra ngoại giới, mà lại chiếu thẳng vào bên trong. Đó là một cái nhìn có tính cách quán chiếu. Anh nhìn vào đời mình, nhìn vào lòng mình, lắng nghe lòng mình. Rồi, với những cảm xúc do sự quán chiếu vừa mang lại, anh nhìn ra thiên nhiên. Cảm nhận ngoại giới. Nhìn như thế, ta sẽ thấy mình không còn giữ cái tâm biện biệt trong/ngoài. Nội giới hòa vào ngoại giới. Và ta là kẻ bắt đầu thấy được cái ta đang máy động những nhịp điệu của vũ trụ bao quanh. Nhìn như thế là nhìn theo cái nhịp thiên địa dữ ngã tịnh sinh. Ta và trời đất cùng sinh ra và cùng chia nhau một nhịp thở:

Ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại
Cuộc tình nào đã ra khơi ta còn mãi nơi đây
Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ
Ôi những dòng sông nhỏ
Lời hẹn thề là những cơn mưa (...)
Đôi khi ta lắng nghe ta
Nghe sóng âm u dội vào đời buốt giá (...)
Đôi khi trên mái tình ta
Nghe những giọt mưa...
(Tình Xa) [...]


Những sự mất mát trong đời sống đã mở mắt cho Trịnh Công Sơn thấy được cái vô thường của đời này. Nỗi ám ảnh về cái chết, về sự mất mát, về tính vô thường của đời sống, luôn luôn là một ám ảnh theo sát Trịnh Công Sơn từ những ngày anh còn khá trẻ. Có lẽ vì là một người sống ngay trong một thành phố mà lúc nào bom đạn cũng bủa vây tứ phía, được nhìn tận mặt chiến tranh, nghe và thấy cái chết một cách quá rõ nét trong cuộc đời, Trịnh Công Sơn đã có những cảm nhận sâu xa về những cái mất còn của đời sống. Cuộc chiến đã dựng lên những cận ảnh tang tóc và kinh hoàng ngay trong những thành phố mà anh đã từng sống với. Cái còn hay mất của tất cả mọi thứ, kể cả tình yêu, trong chiến tranh, cũng là một điều mà con người phải kinh nghiệm và chấp nhận. Hạnh Phúc hay Bất Hạnh. Nỗi Buồn hay Niềm Vui. Khổ Đau hay Hoan Lạc. Tất cả chỉ là hai mặt sấp ngửa của Cuộc Đời. Từ đó, người nhạc sĩ nhận ra rằng:

Một hôm bỗng nghe ra buồn vui kia là một
Như quên trong nỗi nhớ (...)
Vườn năm xưa em đã đến / Nay trăng quá vô vi
Giọt sương khuya rụng xuống lá
Như chân ai lần về
(Nguyệt Ca)

Anh nhìn ra là những ngày vui rồi sẽ tan mau như nắng:
Trong hội trần gian bao nhiêu ngày yêu dấu cũng không còn (...)
Người người yêu nhau đã mất nhau trong đời

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#29 Posted : Saturday, October 11, 2014 8:07:34 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

Một Cõi Đi Về Nơi Cát Bụi


Thế giới âm nhạc Việt Nam vừa mất đi một tên tuổi lớn, từng gây được một ảnh hưởng mạnh trong mọi từng lớp dân chúng, nhất là nơi những người trưởng thành trong những thập niên 60 và 70, khi đất nước đang chìm đắm trong chiến tranh.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã trút hơi thở cuối cùng vào sáng ngày Chủ Nhật vừa qua tại bệnh viện Chợ Rẫy, thành phố Hồ Chí Minh trong khi mới bước qua tuổi 62.

Trịnh Công Sơn từ lâu bị bệnh gan nặng cùng với bệnh tiểu đường. Những ngày gần đây anh còn mang bệnh sưng khớp xương, nhiều lúc phải di chuyển bằng xe lăn vì đi đứng khó khăn. Cùng một lúc anh còn bị chứng viêm phổi tác hại nặng nề trong những ngày cuối đời.

Cuối cùng, trước sự bó tay của các y sĩ điều trị, bệnh tình của Trịnh Công Sơn đã đi đến chỗ tuyệt vọng để trở về với Cát Bụi như tựa đề một nhạc phẩm nổi tiếng của anh vào đầu thập niên 70.

Trịnh Công Sơn, quê quán ở Huế, sinh ngày 28 tháng Hai năm 1939 tại Ðắc Lắc. Anh là anh cả trong một gia đình có tám người con, ba trai và năm gái. Người em út trong gia đình là Trịnh Vĩnh Trinh, những năm gần đây đã có nhiều hoạt động về ca nhạc và đang trên đà thành công với những ca khúc của người anh cả trong gia đình mà cô rất quí mến đã dành riêng cho tiếng hát của cô, trong số có nhạc phẩm Tình Yêu Tìm Thấy là một trong vài nhạc phẩm mới nhất của Trịnh Công Sơn.

Theo lời kể của những người trong gia đình thì Trịnh Công Sơn trước kia không bao giờ nghĩ là mình sẽ trở thành nhạc sĩ, nếu không được thân mẫu anh mua cho một cây guitar để anh quên đi nỗi buồn to lớn khi thân phụ anh qua đời vào lúc Trịnh Công Sơn còn rất trẻ.

Thời gian đó Trịnh Công Sơn vừa đậu tú tài chương trình Pháp ở Huế và đang sửa soạn giấy tờ sang Pháp du học thì thân phụ anh ra đi sau một tai nạn. Anh quá buồn bã đến nỗi bị ốm một trận thập tử nhất sinh, tưởng rằng khó sống. Sau đó anh quyết định ở lại Việt Nam để lo cho mẹ và các em. Và với cây đàn guitar đầu tiên trong đời của mẹ cho, anh bắt đầu cuộc hành trình vào âm nhạc.

Nhạc phẩm đầu tay mang tựa đề Ướt Mi ra đời trong khi anh sắp bước vào lứa tuổi 20. Nhạc phẩm này cũng như nhạc phẩm Thương Một Người sau đó đã được anh gói ghém tâm sự của mình dành cho nữ ca sĩ Thanh Thúy, cư ngụ cùng một ngõ hẻm với anh trên đường Cao Thắng, là nơi anh tạm trú đầu tiên khi từ Huế vào Sài Gòn.

Tuy là một nghệ sĩ với một tâm hồn phóng khoáng, nhưng Trịnh Công Sơn là một người rất gắn bó với gia đình. Anh hết lòng thương yêu mẹ và luôn lên tiếng ca ngợi người mẹ hiền đã tận tụy hy sinh và tần tảo để nuôi các con nên người. Anh thường khoe với bạn bè: “Mẹ moi là nhất! Mẹ moi là số dách! Không ai bằng mẹ moi hết!”

Với ước muốn của Trịnh Công Sơn, anh đã được gia đình an táng tại nghĩa trang Gò Dưa, tỉnh Bình Dương vào ngày thứ Tư 4 tháng Tư, 2001 vừa qua, bên cạnh mộ phần của người mẹ thân yêu qua đời cách đây hơn 10 năm với một bài viết về mẹ của Trịnh Công Sơn được khắc trên mộ.

Ðối với các em, Trịnh Công Sơn rất được thương yêu và kính mến. Anh đã trở thành một thần tượng với họ. Từ khoảng bốn năm nay, các em gái của anh ở Montréal vẫn thường xuyên thay nhau về Việt Nam chăm sóc cho Trịnh Công Sơn khi sức khỏe của anh trở nên sa sút. Thời gian này Trịnh Công Sơn chỉ còn cân nặng được 35 ký, từng phải vào bệnh viện cấp cứu và tưởng rằng khó qua khỏi.

Là một người thích uống rượu - nhất là cognac - và hút rất nhiều thuốc lá, sau tình trạng thập tử nhất sinh đó, anh đã nghe theo lời khuyên của bác sĩ cũng như của những người trong gia đình bớt rượu - để chỉ uống rượu chát và bia - và thuốc lá.

Nhưng chỉ được một thời gian anh lại quay về với những thói quen cũ, nguyên nhân của những căn bệnh nguy hiểm đến tính mạng.

Khoảng hơn một năm trở lại đây, Trịnh Công Sơn thường xuyên được đưa vào bệnh viện Chợ Rẫy trong những lúc nguy kịch. Lần cuối cùng sau khi trở về nhà được vài ngày, sau đó bị hôn mê và lại được đưa trở lại bệnh viện và từ trần tại đây sau khi những bộ phận như gan và thận của anh đã ngưng hoạt động.

Các em gái của anh từ Canada trở về mong gặp người anh cả của mình lần cuối nhưng vì bị kẹt máy bay ở Alaska nên chỉ có mặt tại Việt Nam vài giờ sau khi Trịnh Công Sơn đã nhắm mắt lìa đời.

Trước tình trạng nguy kịch của Trịnh Công Sơn, gia đình anh ở Montréal đã xin lễ cầu an cho anh vào ngày Chủ Nhật, 1 tháng Tư tại chùa Huyền Không. Tuy nhiên sau khi nhận được tin anh đã từ trần, lễ cầu an đã được đổi thành lễ cầu siêu để cầu cho hương hồn người quá cố, đã dâng hiến cả cuộc đời mình cho âm nhạc.

Với một tâm hồn rất nghệ sĩ, những ca khúc của Trịnh Công Sơn với những lời ca được coi như là những vần thơ rất đẹp, chẳng thế anh đã được mệnh danh là một thi sĩ của âm nhạc Việt Nam. Hơn nữa những sáng tác của anh trải dài qua nhiều thập niên, người nghe đã mệnh danh ông là một kẻ du ca về tình yêu, quê hương và thân phận. Ðó chính là những đề tài được Trịnh Công Sơn khai thác nhiều nhất qua hàng trăm nhạc phẩm của anh. Qua những nhạc phẩm về quê hương và thân phận con người, Trịnh Công Sơn đã được không ít người coi như đã bộc lộ tư tưởng phản chiến của mình trong thời kỳ chiến tranh ở vào giai đoạn khốc liệt nhất.

Với tư tưởng như thế trong hoàn cảnh một đất nước phân ly, anh đã bị coi như người không có lập trường chính trị rõ rệt. Tư tưởng đó còn được thể hiện bằng sự không có mặt một ngày nào trong đời sống quân ngũ của anh.

Tuy nhiên không phải vậy mà Trịnh Công Sơn mất đi lòng ái mộ của lớp thanh niên khoác trên mình bộ quân phục. Trái lại, nhạc của Trịnh Công Sơn gần như đã trở thành nằm lòng đối với lứa tuổi thanh niên thời đó, vì đã nói lên được cảm nghĩ của họ trước những thực tế thương tâm của một cuộc chiến tàn khốc.

Nhận xét về nhạc Trịnh Công Sơn, giáo sư Bửu Ý, một người bạn rất thân thiết của anh đã cho là “Nhạc của Trịnh Công Sơn không tuyền là nhạc, bài hát không tuyền là bài hát. Mỗi bài là một truyện ngắn, mỗi ca khúc là một chương khúc của truyện dài không có kết thúc, vẫn mở ra như một vết thương, một vết thương người, một vết thương thời đại, vết thương thiết thân, phải cưu mang và lưu truyền.”

Ngay cố nhạc sĩ Văn Cao cũng đã gọi Trịnh Công Sơn là một người thơ ca (chính xác là "ca thơ", VT), bởi ở Trịnh Công Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định. Từ lâu Trịnh Công Sơn vẫn ấp ủ thực hiện một tập hồi ký mà anh cho biết là có nhiều tiết lộ rất đặc biệt. Nhưng chưa có dịp viết thì anh đã ra đi. Theo những người trong gia đình cho biết thì giáo sư Bửu Ý có lẽ sẽ là người thực hiện tập hồi ký này thay cho người bạn thân của mình.

Về cuộc sống tình cảm, cho đến khi trở về với cát bụi, Trịnh Công Sơn chưa từng kết hôn với ai, ngoài một lần có ý định này với một thiếu nữ tên N. từ Pháp về Việt Nam. Hôn lễ đã được chuẩn bị, tuy nhiên vào giờ chót đã không thành.

Ngoài ra Trịnh Công Sơn cũng tỏ ra có tình cảm đặc biệt với một thiếu nữ Nhật tên Michiko, yêu anh rất tha thiết. Michiko từ Nhật sang Việt Nam thực hiện luận án về nhạc Trịnh Công Sơn. Cô thuộc rất nhiều bản nhạc của anh. Mối tình này đã đưa đẩy hai người lại gần nhau hơn để tính việc hôn nhân, nhưng rốt cuộc cũng không thành.

Với bản chất nghệ sĩ, Trịnh Công Sơn là một người đa cảm. Và với sự tài hoa và tính tình phóng khoáng của mình, đã có nhiều người đàn bà đã đi qua cuộc sống tình cảm của anh. Trong số đó có một thiếu nữ mang tên Bích Diễm mà Trịnh Công Sơn đã dùng làm nguồn cảm hứng viết lên nhạc phẩm Diễm Xưa. Một thời gian sau, anh chuyển tình cảm của mình qua người em của Bích Diễm - anh thường gọi là “Cô Diễm Xưa” - để tạo thành nhiều ca khúc tình cảm bất hủ, trong số có Mưa Hồng.

Cách đây vài năm, người tạo cho Trịnh Công Sơn nguồn cảm hứng để sáng tác nhạc phẩm này trong một dịp trở về Việt Nam có lại thăm anh. Từ đó nhạc phẩm Xin Trả Nợ Người ra đời (với dòng chữ “viết cho Hướng Dương” của Trịnh Công Sơn để tránh tên thật cho “Cô Mưa Hồng”) với những câu: “Hai mươi năm xin trả nợ người. Trả nợ một thời em đã bỏ ai. Hai mươi năm xin trả nợ dài. Trả nợ một đời em đã phụ tôi....”

Gần như trong bất cứ ca khúc tình cảm nào của Trịnh Công Sơn cũng có bóng dáng người phụ nữ trong đó, những người phụ nữ đã có ít nhiều liên hệ tình cảm với anh qua từng giai đoạn. Những nhân vật đó thường được anh gọi theo tựa đề những nhạc phẩm anh đã cảm xúc tạo nên.

Như cô “Như Cánh Vạc Bay” chẳng hạn, là một thiếu nữ tên L., người gầy và cao, rất đẹp, sinh trưởng trong một gia đình nề nếp, gia phong nổi tiếng.

Có một dạo cô “Như Cánh Vạc Bay” cư ngụ tại Ottawa và đã từng gặp lại Trịnh Công Sơn trong dịp anh sang Montréal thăm gia đình lần duy nhất vào dịp Phục Sinh năm 1992. Cũng trong dịp này, anh đã gặp lại một người phụ nữ anh gọi là cô “Hoa Vàng Mấy Ðộ.”

Ðó là chưa kể đến một phụ nữ khác là một bác sĩ y khoa tên Q. từ Pháp về và rất có cảm tình với anh, trường hợp này cũng xẩy đến với một người đàn bà khác - một công chức của công ty điện lực Hydro Quebec - khi gặp gỡ anh tại Montréal. Ðã có những giọt nước mắt chảy xuống, đã có những tiếng nấc nghẹn ngào nơi những người đã đến với cuộc sống tình cảm của anh, để thương tiếc cho một thần tượng đã vĩnh viễn ra đi.

Trịnh Công Sơn đã nằm xuống nhưng chắc chắn những ca khúc của anh sẽ không bao giờ phai mờ trong trí nhớ mọi người.

Với những gì Trịnh Công Sơn đã mang lại cho cuộc đời, cho con người và cho tình yêu thuần túy về mặt âm nhạc, anh đáng được xưng tụng là một nhà tư tưởng gần gũi nhất với cuộc đời anh cho là cõi tạm này.

Nhưng riêng đối với riêng anh, Trịnh Công Sơn thú nhận là đã mỏi dần với lòng tin. Anh chỉ còn lại niềm tin sau cùng. Ðó là niềm tin vào niềm tuyệt vọng. Có nghĩa là tin vào chính mình. Tin vào cuộc đời vốn không thể khác. Và như thế, anh đã yêu thương cuộc đời bằng nỗi lòng của một tên tuyệt vọng, mặc dù đã nhiều lần tự nhủ lòng mình Tôi Ơi Ðừng Tuyệt Vọng.

Theo gia đình Trịnh Công Sơn ở Montréal cho biết, một lễ cầu siêu cho anh sẽ được tổ chức tại chùa Huyền Không ở Montreal vào 11 giờ sáng ngày Chủ Nhật 8 tháng Tư.

Nhân dịp này một số bạn bè của anh ở Hoa Kỳ - một nơi anh rất muốn đi thăm, nhưng không thực hiện được vì nhiều lý do tế nhị - và nhiều nơi xa khác sẽ sang tham dự, trong số có Khánh Ly, một tên tuổi gắn liền với cuộc đời âm nhạc của anh từ giữa thập niên 60. Với những lời đồn đãi cũng như những huyền thoại được thêu dệt về vấn đề liên hệ tình cảm giữa anh và Khánh Ly, Trịnh Công Sơn đã nhiều lần lên tiếng phủ nhận: “Không! Tuyệt đối tôi không có gì với Khánh Ly hết!”

Kỷ niệm ngày mất thác Bản Giốc 12/29/01

Trường Kỳ

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#30 Posted : Tuesday, October 14, 2014 4:29:33 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Tạ ơn Giai Nhân, Tạ Ơn Trịnh Công Sơn

Nguyễn Ðắc Xuân


Tư liệu nhân một năm ngày mất Trịnh Công Sơn

Không biết có ai đó đã nhắc tôi câu dịch từ thơ của Anvers: Xem thơ nào biết có mình ở trong. Mỗi lần nghe người yêu nhạc nói chuyện tình của Trịnh Công Sơn (giai đoạn đầu), tôi bỗng thấy nhớ và tự bảo thầm: "nào ai có biết chuyện tình trong nhạc của Sơn cũng chính là chuyện tình của thế hệ tuổi tôi".


"Cuối cùng cho một tình yêu"


Ở Ðại học Văn khoa Huế lúc ấy có cô Trần Thị Nh. H. Cô không nằm trong danh sách người đẹp, nhưng cô hay mặc áo dài tím, với dáng đi “mềm mại như tơ”, hát hay nên H. được mến mộ không kém người đẹp. Hoạ sĩ Trịnh Cung lúc còn học Mỹ thuật Huế rất mê Nh. H. và tuyệt vọng, anh đã làm nên bài thơ Cuối cùng cho một tình yêu. Bài thơ này đã được Trịnh Công Sơn phổ nhạc và nổi tiếng gần bốn mươi năm qua. Ðiều không ai hiểu nổi là: "Cho đến nay (2002) Nh. H. đã có gia đình, đã có cháu nội, cháu ngoại mà cô vẫn chưa biết bài thơ phổ nhạc bất hủ ấy Trịnh Cung đã làm cho chính Nh. H." (lời thú nhận của Trịnh Cung với tôi).

Cùng một mẫu yêu như Trịnh Cung, Trịnh Công Sơn đã yêu Ph. Th. - em ruột của ca sĩ Hà Thanh. Bạn âm nhạc của Trịnh Công Sơn lúc ấy có Lê Gia Phàm, Hà Thanh và Thanh Hải (Hồ Quang Hải). Lê Gia Phàm yêu Hà Thanh, Trịnh Công Sơn, Thanh Hải (học đệ nhất với tôi và bác sĩ Trương Thìn sau này) đều yêu Ph. Th. Và, không chỉ hai người ấy, nói chung những người quen biết gia đình Hà Thanh, hay học cùng một lứa (promotion) với Ph.Th. đều là “đệ tử” trước vẻ đẹp thánh thiện của Ph. Th. Trong số “bái phục giai nhân Ph.Th." ấy, Trịnh Công Sơn thuộc loại quán quân. Sau này có lần Trịnh Công Sơn kể lại là: "Hà Thanh có đến bốn năm người em gái, mình ngồi nói chuyện với Hà Thanh, mỗi lần Ph. Th. đến sau lưng mình là mình biết ngay. Khi nào cô ấy đến gần thì có một mùi hương đến trước. Nhờ cái mùi hương ấy mà mình không bao giờ nhầm Ph.Th. với các cô em gái khác của Hà Thanh".

Chưa bao giờ Trịnh Công Sơn dám tỏ tình với Ph.Th. và Ph.Th. cũng chưa bao giờ có một cử chỉ khiến cho người bạn âm nhạc của chị mình hiểu nhầm là cô có cảm tình riêng với bạn chị. Thế mà Trịnh Công Sơn đã si tình và nhờ cái vẻ đẹp thánh thiện “em đứng lên gọi mưa vào hạ” ấy của Ph.Th. mà anh đã viết nên mấy bài hát Nhìn những mùa thu đi, Nắng thủy tinh và Gọi tên bốn mùa. Ph. Th. lập gia đình với ông tiến sĩ B. làm trưởng khoa luật rồi làm Bộ trưởng giáo dục, "tuổi tác không cân xứng nhưng danh vọng và sắc đẹp thì đẹp đôi”. Sau đó vì thời cuộc, tiến sĩ B. mất sớm, Ph.Th. vẫn giữ sự đoan trang, đức hạnh nuôi dạy các con ăn học đến nơi đến chốn tại Boston (Mỹ). Cuối năm 2000, gặp lại Hà Thanh và Ph. Th. tại Huế, tôi vẫn thấy hai chị em này "không sợ thời gian", vẫn đẹp như "nắng thủy tinh" thuở nào. Nhớ lại chuyện xưa, các cô rất vui và xem đó là những kỷ niệm đẹp của giai đoạn đẹp nhất của đời mình.Tuy chỉ mới một chiều, nhưng bạn bè thuở ấy của Trịnh Công Sơn vẫn xem chuyện Trịnh Công Sơn si mê Ph.Th. là "mối tình đầu" của anh.


“Hai mươi năm xin trả nợ dài"


Khoảng năm 1962, gia đình Trịnh Công Sơn gặp khó khăn kinh tế, gian phố lớn ở đường Phan Bội Châu (Ngã Giữa) phải sang cho người khác và qua thuê một căn hộ ở tầng một dãy lầu mới xây ở đầu cầu Phú Cam . Hằng ngày Trịnh Công Sơn đứng trên lầu ngắm các cô nữ sinh đi qua cầu Phú Cam, đi dọc theo đường Nguyễn Trường Tộ đến trường Ðồng Khánh. Trong đám xuân xanh ấy có cô Ngô Thị Bích Diễm, con gái thầy Ngô Ðốc Kh. - người Hà Nội, dạy Pháp văn tại trường Ðồng Khánh và trường Quốc học Huế. Bích Diễm giống bố, người dong dỏng cao, nét mặt thanh tú, bước đi thong thả nhẹ nhàng. Con người của Diễm rất hợp với cái tên Diễm và cũng thích hợp với tâm hồn bén nhạy của Trịnh Công Sơn. Anh yêu Diễm mê mệt. Những ngày không thấy Diễm đi qua anh đau khổ vô cùng. Anh trông thấy con đường trước nhà "dài hun hút cho mắt thêm sâu" (Diễm xưa). Nhưng anh cũng biết gặp Diễm để nói lên nỗi đau ấy không phải là chuyện dễ. Thầy Ngô Ðốc Kh. - thân sinh của Diễm, là một ông giáo rất nghiêm. Ông không thể chấp nhận một anh chàng chưa có bằng đại học, tóc dài, cằm lún phún râu chuyện trò với các cô con gái đài các của ông. May sao lúc ấy hoạ sĩ Ðinh Cường thuê nhà ở gần nhà Diễm để làm xưởng vẽ. Hai bạn canh chừng những khi thầy giáo có giờ dạy, mà Diễm đang ngồi ở nhà học bài thì hai bạn liền "liều mình" qua thăm. Những lần liều đầy mình ấy, có khi Diễm tiếp, có khi Diễm để cho người nhà tiếp và cũng có khi đang có bố ở nhà Diễm tránh để cho khách ngồi chơi xơi nước rồi tự ý ra về. Khác với Ph. Th., Diễm biết Trịnh Công Sơn yêu mình và trái tim cô nhiều khi cũng rung động. Nhưng lúc ấy Diễm không thể vượt qua được sự nghiêm khắc của gia đình để nói cho tác giả Ướt mi biết điều đó. Trịnh Công Sơn trút hết nỗi lòng yêu Diễm vào bài Diễm xưa như sau này Sơn đã kể lại nhiều lần.

Có một điều lúc ấy Sơn không để ý: những lúc Trịnh Công Sơn đến nhà Diễm, thì Dao A. - em gái Diễm còn là một cô bé, nhỏ hơn Diễm đến bốn năm tuổi, chạy loăng quăng theo chị. Không ngờ chỉ mấy năm sau, Dao A. trở thành một thiếu nữ xinh đẹp với khuôn mặt bầu bĩnh, dễ thương khác thường. Với cái cầu đã bắc từ hồi yêu Bích Diễm, nay Bích Diễm đã vào học đại học ở Sài Gòn, tâm hồn của Sơn qua cây cầu cũ, nói như Ðinh Cường "Sơn lại da diết với cái dáng vẻ khoan thai, áo lụa vàng của Dao A. để rồi thất vọng, để rồi…”. Khác với những lần yêu trước, thất vọng về Dao A., Trịnh Công Sơn không bắt nhạc của anh phải mang cái gánh thất tình của anh. Không ngờ hai mươi năm sau, trải qua bao nhiêu dâu bể, từ bên Mỹ, Dao A. trở về Việt Nam tìm Trịnh Công Sơn. Không rõ Dao A. nói gì với Sơn, và còn gì nữa không, mà anh đã rất hài lòng với thực tại "hai mươi năm xin trả nợ dài, trả nợ một đời em đã phụ tôi” (Xin trả nợ người). Trong hai mươi năm ấy, Dao A. đã có gia đình, đã hiểu rõ cuộc đời, nên "hết phụ” tình Trịnh Công Sơn. Như Ðinh Cường đã viết: "Tháng cuối cùng trước khi Sơn mất, Dao A. về thăm suốt tuần, sáng nào A. cũng đến ngồi bên chiếc xe lăn của Sơn, chỉ còn biết nhìn Sơn, cho đến chiều tối mới về nhà". Trịnh Công Sơn yêu Dao A. phải trải qua hai mươi năm mới “nhận” được lời đáp. Tuy đã quá muộn, nhưng trên cõi đời này có mấy ai được yêu và được nhận có một khoảng cách dài lâu đến thế đâu!


“Coi như phút đó tình cờ”


Gặp người đẹp, Trịnh Công Sơn dễ yêu, mà không riêng gì Sơn, các bạn thân sơ của anh cũng đều như thế. Sơn không nề hà chuyện yêu một chiều, không sợ đau khổ vì tình phụ, đã yêu là yêu mãi, yêu hoài, yêu hết mình. Nhưng cũng có lúc anh "chán tình", vì cho rằng mình yêu nhầm. Ngày ấy, ở bên kia sông Thọ Lộc, đối bờ với nhà tôi, thuộc phường Vỹ Dạ, có cô nàng tên Nguyệt, rất đẹp. Trịnh Công Sơn đã yêu say đắm. Vô tình, trong lúc nói chuyện với Sơn, cô buột miệng khen một anh chàng nào đó đẹp trai “vì anh ấy lai Tây". Chỉ một chuyện vô tình rất nhỏ, thế mà Trịnh Công Sơn cảm thấy bị xúc phạm, anh không thể hiểu nổi một người mình yêu mà lại có một quan niệm thẩm mỹ "lệch lạc" đến như thế. Tất cả những yêu thương Nguyệt trong lòng anh bỗng nhạt nhoà hết. Anh viết bài Nguyệt ca. Anh ca ngợi cô nàng Nguyệt hết lời khi "trăng là nguyệt". Nhưng khi anh phát hiện ra "từ trăng thôi là Nguyệt", Nguyệt không phải là người anh mơ ước, anh xem chuyện anh yêu Nguyệt “coi như phút đó tình cờ” và về sau anh không nhắc đến Nguyệt nữa. Tuy nhiên đối với tôi và nhiều bạn bè của anh, mong sao Sơn có nhiều dịp yêu "tình cờ” như thế để anh có thêm nhiều Nguyệt ca nữa.

Trịnh Công Sơn yêu rất nhiều, về sau có thêm Bích Kh. (như tôi đã viết nhiều lần), có Chu Nguyệt Ng., có Michiko, có Hồng Nhung… nhưng định mệnh vẫn cứ bắt anh phải đứng trước cái ngưỡng của tình yêu. Nếu anh còn sống thêm vài mươi năm nữa, sẽ "còn ai nữa”… và cũng thế thôi. Nếu anh bước qua khỏi cái ngưỡng ấy thì chưa chắc anh đã có được cái địa vị “người sáng tác nhiều nhạc tình hay nhất thế kỷ”. Tôi viết điều ấy với kinh nghiệm thực tế. Có một người làm thơ, bạn của Trịnh Công Sơn, cưới được một cô nàng hồi đi học ngồi cạnh Dao A. của Sơn, về sau “người ấy" không còn thơ nữa (đó không phải là một trường hợp cá biệt). Trịnh Công Sơn bị "tình phụ”, còn người ấy lại bị "thơ phụ”.

Hơn sáu mươi năm nhìn lại cuộc đời, tôi xin tạ ơn những giai nhân đã làm "sáng giá" cho tuổi trẻ của chúng tôi. Vẻ đẹp của các cô là hành trang đẹp cho suốt cuộc đời theo đuổi chân thiện mỹ của lứa tuổi tôi. Chúng tôi không những giữ hình ảnh các cô trong tâm hồn mà còn giữ được hình ảnh thực của người đẹp trong các tập album. Cám ơn nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, cám ơn Trịnh Cung, cám ơn Ðinh Cường… nhờ tài năng của các bạn mà những người đẹp trong tâm hồn, trong các tập album của thế hệ chúng ta trở thành vĩnh cửu.


Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#31 Posted : Sunday, October 19, 2014 5:05:38 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Trịnh Công Sơn Và Những Bài Ca Vượt Năm Tháng

Đặng Thị Thanh Hương


Cuối thập niên 50 đầu những năm 60 xuất hiện một số ca khúc nhan đề nghe lạ tai: Ướt mi, Lời buồn thánh, Diễm xưa, Tuổi đá buồn, Vết lăn trầm... như lối vào một khu vườn siêu thực đang nảy nở những sắc hương mới trong thời kỳ ấy. Những ca khúc này nổi tiếng ngay khi mới ra mắt công chúng. Đó là những bản tình ca buồn mang tiếng rên xiết của một trái tim thèm yêu đương. Năm ấy, Trịnh Công Sơn 20 tuổi. Hình như đường sinh mệnh trên bàn tay tài hoa ấy mọi nhánh đều rẽ vào tình sử. Từ đó đến nay, Trịnh Công Sơn trở thành người tình - người nghệ sĩ lãng du cùng nhiều thế hệ.

Nỗi cô đơn là linh hồn mà âm nhạc Trịnh Công Sơn đã đạt tới, như anh đã đi đến nơi chân thân của mình để từ đây khước từ mọi ảo tưởng cuộc đời. Trịnh Công Sơn bảo rằng: "Có những ngày cùng cực, tôi và cuộc đời đã tha thứ cho nhau. Từ buổi con người sống quá rẻ rúng, tôi biết rằng vinh quang chỉ là điều dối trá. Tôi không còn gì để chiêm bái ngoài nỗi tuyệt vọng và lòng bao dung. Hãy đi đến tận cùng của tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa...". Trịnh Công Sơn lớn lên bằng tuổi chiến tranh, đứt rồi lại nối, chiến tranh dai dẳng và cùng khắp đến nỗi đứng ở tọa độ nào trên đất nước cũng nhìn thấy và sờ thấy chiến tranh. Thế đứng từ trước đến nay ở miền nam đã không hại cho uy tín và sự nghiệp sáng tác của anh. Lịch sử đất nước lật sang trang mới, anh vẫn an nhiên gửi gắm lòng mình trong các bản tình ca. "Đôi khi một người dường như chờ đợi thật ra đang ngồi thảnh thơi... (Tự tình khúc). Anh đi vào nhạc, anh bước xuống đường, y như người ta hít thở. Nói như thế không có nghĩa là Trịnh Công Sơn phó mặc cuộc đời mà anh đã gieo trồng vào những luống đã tự đào sẵn, không phải ngoái lui, không cần xóa đi làm lại. Nhạc và lời của anh nếu có thay đổi chẳng qua vì đến lúc tâm hồn đã chuyển mùa.

Nhạc Trịnh Công Sơn không hẳn là nhạc, bài hát không chỉ là bài hát. Mỗi bài ca của anh là một truyện ngắn, một bài thơ hay một chương khúc của câu chuyện dài không có kết thúc về những người bạn, người tình, người đời, những hơn thua ngộ nhận, thị phi. Nhưng không có đoạn truyện nào kết thúc có hậu để đôi lứa được lấy nhau, mà ngược lại, là những Tình sầu, Tình xa, Tình nhớ phôi pha... Không có cái đẹp của đối xứng, vuông tròn, chung thủy. Cùng nhau tắm gọi trong biển bấp bênh của cuộc đời, con người, xót xa khám phá ra cái đẹp chông chênh, cái ma lực của chén đắng. Đời dành riêng cho kẻ nào đã lên tới đỉnh buồn và xuống tới vực thẳm để nhận rõ cái yếu của cô đơn, cái hào quang của thất bại. Nguồn cảm hứng khơi mạch từ đó rất dễ rơi vào nỗi sướt mướt, ê chề, dễ gục ngã như nhiều người đánh giá về nhạc Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn đã nhặt nhạnh những tóc trắng, những tàn phai, những giọt mưa, hạt bụi, cái lăn lóc tận cùng của hòn cuội... rồi dung nạp tất cả vào lòng, rồi thả ra trong từng nốt nhạc... Nhạc và ca từ của anh thấm vào dương gian để khi vui, lúc buồn, lúc cay đắng và thành đạt, người ta đều có thể hát vang lên. Như loài sâu ngủ quên trong tóc chiều... tiếng hát ru mình trong giấc ngủ vừa... thương cho người rồi lạnh lùng riêng...

Trí óc và cảm xúc của Trịnh Công Sơn phù hợp với sự tổng hợp hơn là phân tích nghiêng về kết hợp hơn là phân chia. Tình yêu - Quê hương - Thân phận - làm sao nói hết về những vấn đề này bằng lời ca và chuyên chở bằng nhạc? Trong tình ca của Trịnh Công Sơn, người nghe chứng kiến cuộc thể nghiệm sáng tạo và đổi mới ngôn từ tiếng Việt dưới mọi góc độ, hình hài lạ lẫm, bằng những tri giác dày dặn nhiều tầng với khả năng tưởng tượng bay bổng.

Trịnh Công Sơn nói rằng: "Với cuộc đời, tôi đã ôm một nỗi cuồng si bất tận. Mỗi đêm tôi nhìn trời đất để lục về lòng bao dung. Nhìn đường đi của kiến để viết về sự nhẫn nhục. Sông vẫn chảy đời sông. Suối vẫn trôi đời suối. Đời người cũng để sống và hãy thả trôi đi những tị hiềm...".

Tôi gọi Trịnh Công Sơn là Người thơ ca bởi ở anh nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ. Cái tài và cái tình của người nhạc sĩ cô đơn này muôn năm trước và đến muôn năm sau vẫn tỏa sáng trong tâm hồn của những kẻ đã biết yêu và biết quên, biết hạnh phúc và biết khổ đau. Chính vì sự đồng cảm ấy mà nhạc sĩ Văn Cao - người không cùng thời với anh đã tìm ra một lời hẹn của tri âm. Văn Cao đánh giá về Trịnh Công Sơn rất cao: "Cái quyến rũ ở nhạc Trịnh Công Sơn ở chỗ không định ra một trường phái nào, một triết học nào mà vẫn thấm vào lòng người như suối tưới. Với những lời, ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt như hình thức của dân ca... Trịnh Công Sơn đã chinh phục hàng triệu con tim không chỉ ở trong nước mà cả ở bên ngoài biên giới nữa...".

Những người yêu nhau trên đời vẫn tiếp tục khiêu vũ cùng với cây đàn guitar của Trịnh Công Sơn. Cùng với tiếng hát làm sương khói trần gian thêm bảng lảng để chút thiên thu còn lại mãi.


Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
CatLinh on 11/3/2014(UTC)
phamlang  
#32 Posted : Sunday, October 19, 2014 5:16:16 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
“Lặng Lẽ Nơi Này” – Viên ngọc quý nằm lặng lẽ trong kho tàng thơ nhạc Trịnh Công Sơn

hoctro

Một.

Tình yêu mật ngọt, mật ngọt trên môi
Tình yêu mật đắng, mật đắng trong đời
Tình yêu như biển, biển rộng hai vai, biển rộng hai vai …

Tình yêu như biển, biển hẹp tay người, biển hẹp tay người lạc lối


Em đi về nơi ấy, nơi đâu nơi đâu, sông cạn đá mòn
Trăng treo đầu con sóng, tan theo tan theo, chút tình xa vắng

Làm sao ru được tình vơi?
À ơi, nỗi đau này người

Tình yêu vô tội, để lại cho ai
Buồn như giọt máu, lặng lẽ nơi này
Trời cao đất rộng, một mình tôi đi, một mình tôi đi
Đời như vô tận, một mình tôi về, một mình tôi về … với tôi.
(Trịnh Công Sơn – Lặng Lẽ Nơi Này)

Hai.
Thưởng thức một bức hoạ và thưởng thức một bài nhạc có nhiều điểm tương đồng, và cũng có nhiều điểm dị biệt. Đứng trước một bức hoạ tuyệt đẹp, bạn cảm thấy choáng ngập vì mọi cá tính của bức hoạ hiện ra ngay trước mắt bạn, mọi cảm xúc về bức hoạ ấy trong một khoảnh khắc gây ngay một dấu ấn trong trí óc của bạn. Thưởng thức nhạc thì khác hẳn, người nhạc sĩ không thể nào gây một ấn tượng ở bạn chỉ trong một vài giây, mà bạn phải nghe hết bài mới có thể ít ra cảm nhận được cái hay của nó. Do vậy, nhạc sĩ phải dùng hết mọi vật liệu trong tay: lời ca, ý nhạc, tiết tấu, tưong phản, bố cục, v.v. để tạo dựng bài nhạc nhằm chuyển đạt tâm tình của họ đến bạn. Trong tiểu luận ngắn này, và trong sự giới hạn về ngôn ngữ và hiểu biết của mình, người viết cũng hy vọng sẽ phác hoạ cho bạn đọc một cảm nhận riêng về nhạc phẩm “Lặng Lẽ Nơi Này” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (TCS).

Ba.
Như đã dẫn nhập ở phần trên, thưởng thức nhạc có cái hay riêng của nó. Nghe nhạc, bạn được chính nhạc sĩ dìu dắt bạn theo dòng nhạc, ông bắt ta dừng, ta phải dừng, ông bắt ta đi nhanh, ta phải đi nhanh. Ta không được quyền chọn lựa cách ngắt câu hay đổi chữ. Nghe nhạc với tờ giấy in bài nhạc trước mặt, bạn thấy hiển hiện tất cả những yếu tố đã làm nên thành công hay thất bại của bản nhạc đó. Nghe nhạc, bạn bước đi lại từ đầu với nhạc sĩ, cùng sống lại tâm tưởng hào hùng hay bi thương của nhạc sĩ ngay khi nhạc phẩm chào đời. Phân tích một bài nhạc, do đó, phần nào cũng là đi tìm chủ đề của bài hát, cùng nơi chốn nào đã tạo nguồn hứng khởi cho tác giả, làm cho người ấy không còn cách nào khác hơn là ngồi xuống và ghi chép lại âm hưởng đó, khung cảnh đó, nỗi niềm nhung nhớ khôn nguôi đó.

Bốn.
Bạn hãy cùng tôi tưởng tượng ra một bãi biển nào đó, khi trời đã về khuya và không một bóng người, ngoài nhân vật chính là “ta” trong bài hát. Nhân vật chính của chúng ta hoặc ngồi, hoặc đi dạo lang thang một mình, chỉ có tiếng sóng biển từng cơn, từng cơn đập vào bờ, rồi lại rút về biển cả. Biển mênh mông không cùng, chẳng thấy đâu là bờ. Trời về khuya tối đen, chỉ có ánh trăng ở xa treo trên đầu con sóng, xa đến nỗi tưởng như một ngọn sóng thôi cũng đủ làm nó tan theo với dòng nước, cùng với mối tình đã chết của “ta”. Tôi không có khiếu làm văn sĩ, nhưng tôi hy vọng đã dựng được sơ khởi cái khung cảnh (setting) của bài nhạc này.

Năm.
Như đã tường trình trong tiểu luận “Thử phân tích nhạc phẩm Phôi Pha của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn”, bài hát nào cũng phải có một ý nhạc hay thì mới đủ để người nghe nhớ về nó như một căn cước riêng biệt, không giống các bài khác. Trong bài này, căn cước đó là dòng nhạc có hình dạng răng cưa (zíc zắc), thể hiện qua câu nhạc đầu tiên “Tình yêu mật ngọt, mật ngọt trên môi”, và các phát triển tiếp theo của ý nhạc trên. Cũng như phần lớn các bài nhạc khác, TCS sử dụng âm giai thứ hoà điệu (harmonic minor) ở cung La thứ. Cũng giống như bài trước, nhạc phẩm được viết theo nhịp ¾, và cũng giống như nhiều bài khác, nhạc phẩm này lặp đi lặp lại nhiều từ (Ouch!). Vậy nhạc phẩm này hay ở chỗ nào???

“Lặng lẽ nơi này” được viết theo thể loại ABA, phân đoạn A (verse A) từ đầu đến “tay người lạc lối”, phần chuyển tiếp B (bridge B) từ “Em” đến “nỗi đau này người”, và phân đoạn A’ (verse A’) là dòng nhạc nhắc lại, nhưng với phần lời khác hẳn so với đoạn A.

Sự lặp đi lặp lại của ca từ có một chủ đích hẳn hoi mà người viết sẽ “bật mí” sau với bạn, còn bây giờ thì ta hãy thử phân tích xem nó lặp đi lặp lại ra sao. Trước tiên là lặp nhau về chữ kép: “mật ngọt” -> “mật ngọt”, “mật đắng” -> “mật đắng”; rồi thì lặp lại về hai câu nhưng với giai điệu câu sau là biến thể câu trước “ Tình yêu mật ngọt, mật ngọt trên môi” -> “tình yêu mật đắng, mật đắng trong đời”; và sau cùng là một sự lặp lại (có tính toán, tất nhiên :) của hai cặp bốn chữ “biển rộng hai vai” -> “biển rộng hai vai”.

Khác với bài viết trước, trong bài này người viết sẽ đi sâu hơn về mặt ngôn ngữ để qua đó giải thích bố cục của bài nhạc cùng ngôn ngữ âm nhạc đã minh họa rõ nét ý thơ ra sao. Trước hết, TCS đưa ra hai so sánh–định nghĩa về tình yêu: Tình yêu là mật ngọt, và tình yêu cũng đồng thời là mật đắng. Mật ngọt là những khi “uống môi em ngọt”, còn mật đắng thì ảnh hưởng dài hơn nhiều, là nỗi sầu muộn cả đời người! Tại sao vậy, là tại vì “ta” đã định nghĩa “Em” là “tình yêu”. Bạn hỏi tại sao ư? Thì rõ quá rồi còn gì nữa, tác giả nói về biển, mà biển chỉ rộng có hai vai thôi, nếu không phải là “vai em gầy guộc nhỏ” thì “còn ai trồng khoai đất này”???

Vì “Biển” là “Em” nên biển mới có tay, biển chỉ hẹp bằng hai tay thôi, và một khi biển đã buông tay “ta” ra rồi thì “ta” chơi vơi và ta lạc lối, chẳng trách tại sao TCS phải cảm khái những câu khác như “Không còn ai, dường về ôi quá dài, những đêm xa người” …

Sáu.
Về phần nhạc thuật của Đoạn A, ngoài việc sử dụng các từ lặp nhuần nhuyễn như trên, và phần nào dùng cung nhạc lên xuống để mô tả tiếng sóng đập vào bờ rồi lại rút về, điều là mtôi thích thú nhất là cách bố cục câu của ông. Ta thấy từ “Tình yêu mật ngọt” đến “biển rộng hai vai”, cả đoạn nhạc đó có thể coi là hoàn chỉnh, và ta có thể yên chí tạo ra một verse khác cũng dựa trên nền nhạc đó. Nhưng đây là dấu vết (clue) mà tôi đoán rằng TCS đã đặt lời đi trước bản nhạc, do đó ông đã đi thẳng ngay vào “Tình yêu như biển, biển hẹp tay người, lạc lối” So sánh về bố cục đoạn nhạc như vậy để thấy nó toàn hảo trong sự không cân bằng, và sự trở về hợp âm La thứ đã làm cân bằng đoạn đó lại.

Trong hội hoạ, sự mất cân đối này có thể được minh hoạ bằng tác phẩm sau của Gustav Klimt “Cái chết và Sự sống”. Nhìn thoáng qua với sự sống chiếm chỗ nhiều và làm ta tưởng như bức tranh mất cân đối, nhưng thần chết với màu tối hơn nhiều đã làm bức tranh này cân bằng trong sự bất đối xứng (asymmetrical balance.) Cái nhìn soi mói của thần chết đối lại với sự e dè của cô gái như hỏi thầm “Ông gọi tôi ?” đã nối kết hai phần của bức tranh với nhau, còn trong bài nhạc thì TCS đã làm được việc liên kết này bằng cách lặp lại “tình yêu như biển” cũng như phát triển ý nhạc dựa theo ý nhạc chính ở đầu đoạn.



Bảy.
Bây giờ ta hãy bước sang phân tích đoạn B (bridge). Trước hết, nếu để ý kỹ, ta thấy đoạn đầu TCS có chủ đích là không hề nhắc đến chữ “ta” và “em”. Đây là một sáng tạo nghệ thuật đặc trưng thông qua cách hành văn ẩn dụ, và là “trade mark” (nhãn hiệu) của TCS. Liền lạc trong đoạn đầu này là ý tưởng Ta <-> Em <-> Tình Yêu, đan kết với nhau vô hình bằng những so sánh, do vậy nhân vật “em” ở đây đã bàng bạc xuất hiện rồi. Thành thử ra, nếu ai chưa quen với lối viết ẩn dụ này của TCS sẽ cảm thấy ngôn từ của ông có vẻ gì bí hiểm. Nhân tiện đây, người viết cũng xin thú thật là, có lẽ cũng như nhiều người khác, khi ở độ tuổi mới vào đời đã bị lôi cuốn bởi giai điệu của nhạc TCS nhiều hơn là ca từ. Nhưng có lẽ chính phần ca từ mới làm người nghe nghe hoài không chán, với lối nói chung chung (không cụ thể) và đầy tính ẩn dụ, do vậy rất phù hợp với tâm trạng của nhiều người. Ngôn ngữ TCS thật ra vẫn còn rất bí hiểm với người viết, nhưng có lẽ vì vậy mới là cái thú để tạo động lực tìm hiểu thêm.

Trờ lại với chữ “Em”, tác giả đã khéo léo cho chữ em đứng lại một chút (một nhịp rưỡi) để nhấn mạnh chủ thể của câu nhạc, và cũng để làm rõ hơn câu hỏi chất chứa “nơi đâu nơi đâu”. Sở dĩ tôi nói vậy là vì câu “em/đi/về/nơi/ấy” bạn có thể lấy bất kỳ 3 chữ đầu mà phổ nhạc: chẳng hạn “em đi … về nơi ấy”, hay “em đi về … nơi ấy”, nhưng chữ “em” đứng một mình đắt giá hơn. Chữ “em” này cũng khéo léo lồng vào để làm điệp khúc không bị trùng lắp như đoạn 1. Cặp chữ “nơi đâu nơi đâu” được lồng vào rất thích hợp vì nó nhấn mạnh câu hỏi quắt quay của “tôi” về hình bóng em. Vả lại, khi ta nhớ nhung về một người nào đó, ta đâu có nhớ em ở “nơi đâu” một lần thôi, rồi quay sang suy nghĩ chuyện khác? Ta nhớ đi, nhớ lại, nhớ tới, nhớ lui, lăng xăng trong tâm tưởng.

Trong điệp khúc này, “em” đã được ẩn dụ bằng “trăng”, vì nếu so sánh hai câu đầu thì ta thấy rõ ngay là Em = Trăng. (Chẳng phải trong một bài khác, TCS đã bật mí “từ khi em là Nguyệt” rồi sao?) Một lần nữa, với lối hành văn ẩn dụ, người nghe nhạc tha hồ phiêu lãng theo nỗi nhớ riêng của họ về một người tình cũ đã trở thành một phần ký ức của cuộc đời.

Tám.
“Làm sao ru được tình vơi?
À ơi, nỗi đau này người”

Một lần nữa, TCS sử dụng cách đặt câu rất nghệ thuật để kết thúc đoạn B. Trước tiên ông chuyển hoà điệu từ các hợp âm đầy tính cao trào (dominant) như Dm và E7, và chuyển sang các hợp âm bình thản hơn (tonic) là Am và G, rất phù hợp với lời nhạc. Ta tưởng chừng như sẽ đi cho trọn vòng quãng 5 (như trong bài Hello của Lionel Richie), và lời ru “à ơi” cũng đã bắt đầu gióng lên, chuẩn bị tư tưởng cho việc nghe thêm các phát triển khác về ý nhạc, thì TCS “cắt cái rụp” và chuyển nhanh về lại chủ âm la thứ. Chính ở điểm này đã làm cho đoạn Bridge bị mất cân đối, nhưng đã tạo nên được một cảm giác hụt hẫng ở người nghe, minh hoạ cho nỗi đau trống vắng của nhân vật “tôi”.

Chín.
Đoạn 2 của bài hát tiếp tục cho chúng ta thấy những hình ảnh và sự tương phản mà nhân vật “tôi” cảm nhận, như so sánh mình với một giọt máu đã lìa khỏi xác người, hoàn toàn vô dụng. Tiếp theo, TCS đã mô tả những không gian thật rộng lớn, vô tận và tương phản với nó bằng hình ảnh lặp lại của “tôi” bé nhỏ, với những bước chân đơn điệu và cô độc. Cuối cùng, tác giả đưa ra một kết luận tuy bất ngờ những cũng đã có thể thấy trước, đó là “tôi về … với tôi”. Một kết luận đơn giản, cam chịu, và rất hiển nhiên. Sau những sự lặp đi lặp lại của những chữ đôi, cặp đôi, câu nhăc đôi, cái gì cũng có đôi hết, ta thấy cái “tôi”cũng có đôi vậy, là “tôi với tôi”. Bạn tưởng tượng đem hết các từ câu lặp trong bài này về môt phía của bàn cân, rồi bỏ câu “tôi về với tôi” này qua phía kia bàn cân, mới cảm nhận được cái cô độc của nhân vật “tôi”.

Kết.
Người viết cảm ơn đọc giả đã bỏ thì giờ cùng tôi tìm hiểu bài nhạc “Lặng Lẽ Nơi Này”. Tôi cảm thấy trên mạng lưới toàn cầu cũng như trong sách báo, người ta viết về TCS quá nhiều về nghệ thuật ca từ của ông, về nhân sinh quan của ông, thậm chí còn tôn sùng ông là một nhà tư tưởng lớn hay là một thiên tài. Tôi không có định nghĩa riêng về thiên tài, ngoài việc xác nhận Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ có tên tuổi trong làng âm nhạc Việt Nam hậu thế kỷ 20, đã tạo được một “đột phá” (breakthrough) trong cách đặt lời ca, có một số lượng nhạc phẩm được yêu thích rất đáng kể; và chắc chắn nhạc của ông đã có ảnh hưởng rất nhiều đến các nhạc sĩ khác cùng thời cũng như các thế hệ nhạc sĩ sau này. Tôi cũng cảm thấy bàn chung về ca từ và nhân sinh quan của ông, dầu rất bổ ích, nếu có quá nhiều bài vở tương tự như vậy sẽ dễ trở thành nhàm chán – biết rồi, khổ lắm, nói mãi. Trịnh Công Sơn trước tiên và trên hết là một nhạc sĩ, và không có gì thiết thực hơn là đánh giá từng nhạc phẩm của ông, từng bài, từng bài, một cách cặn kẽ để có thể cùng người đọc nhận ra công phu căn bản cùng tài năng sáng tạo trong nhạc thuật của ông. Một nhạc phẩm hay không nhất thiết phải có những biến đổi âm giai hay những hành âm phức tạp cầu kỳ. Nều viết nhạc với lời ca phụ họa, thì bản nhạc phải nâng ca từ lên, và ca từ cũng phải làm cho hành âm hoặc trơn tru, hoặc gãy cạnh tương xứng. Tôi tin TCS đã làm được việc này. Tôi xin phép lập lại ý trong bài viết trước là để đạt được sự đơn giản như trong “Lặng Lẽ Nơi Này”, TCS cũng phải mang nặng đẻ đau chứ cũng chẳng phải “lấy nó dễ như từ trong túi” như nhiều người đã lầm tưởng.

Sau cùng, người viết hy vọng sẽ có nhiều người khác cũng viết lên những cảm nhận riêng về từng bài ca của TCS, để chúng ta cùng nhau chia xẻ những thành công về nhạc thuật của ông.


UserPostedImage

Edited by user Sunday, October 19, 2014 5:17:16 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
CatLinh on 11/3/2014(UTC)
phamlang  
#33 Posted : Thursday, October 23, 2014 6:45:26 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Tình Yêu Trong Nhạc Trịnh Công Sơn.


UserPostedImage

"Mùa xuân thay lá mùa đông, để nghe chim hót chuyện tình..." (Thành phố mùa xuân). Câu hát ấy là 1 trong những câu tôi thích trong ca khúc TCS.

Có 2 lý do: thứ nhất, câu ấy làm nhớ tới câu thơ ngày xưa của Vũ Thành "Đàn chim về hót trong thành phố / Kể chuyện 2 người xa cách nhau". Thứ 2 nữa, đây là 1 câu hiếm thấy trong những câu viết về tình yêu trong nhạc TCS: có mùa xuân, có cây lá đâm chồi nẩy lộc, có chim hót líu lo kể chuyện tình. Tình yêu trong nhạc TCS có 1 khí hậu riêng, có 1 bộ mặt khác, không giống như những ca khúc viết về tình yêu của những người viết nhạc khác. Dường như ông ít khi viết về 1 cuộc tình nào trọn vẹn, tròn đầy, ông chỉ viết phần cuối hoặc về 1 tình yêu đã mất.

Cứ đọc thử cái tựa của những bài hát là đủ thấy: "Cuối cùng cho 1 tình yêu", "Hãy khóc đi em", "Tình nhớ", "Tình xa", "Tình sầu"...Ông viết về những hạnh phúc buồn bã, những nỗi vui ngậm ngùi, những bất an, bất trắc của những cuộc tình không may. Những kẻ yêu nhau trong nhạc TCS có vươn tay về phía nhau nhưng không chạm tay vào nhau được. Nghe nhạc TCS cũng là nghe những lời đau xót, những nỗi dằn vặt, giằng xé, dày vò, những "mưa quanh chỗ nằm", những "đêm đổ xuống đời ta", "đêm thì thầm tiếng buồn"...Ở những lời ông viết, ta đọc thấy những lần chia tay, những nỗi chia lìa: "Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ..." (Tình xa), "Dù ngày mai em như chim bay, bỏ quên đây 1 người..." (Hãy cứ vui như mọi ngày), "Từ lúc đưa em về, là biết xa nghìn trùng...(Như cánh vạc bay), "Đâu ngờ tình như lá úa, khiến tôi chia lìa từng giấc mơ..." (Trong nỗi đau tình cờ).

Ông cũng có những lần tự thú trong tình yêu, trái tim ông quá đỗi yếu mềm đến độ lắm lúc ông rất muốn quên đi 1 hình bóng mà vẫn không sao quên được. "Tưởng rằng đã quên" chỉ là "Tình nhớ" nối dài. Chỉ có khác 1 điều, "những bước chân mềm mại đã đi vào đời người" ở "Tình nhớ" đã đổi thành "chợt từng bước em là từng mũi đinh cuồng điên" ở "Tưởng rằng đã quên". Ông đã phải thú nhận: "Tưởng rằng có thể quên đi dễ dàng 1 cuộc tình, nhưng hóa ra chẳng bao giờ quên được". Trái tim ông cũng đầy những mảnh vá. "Mượn cuộc tình này để xóa cuộc tình kia chỉ là 1 sự vá víu cho tâm hồn," ông nói, "những mảnh vá ấy chỉ đủ để làm phẳng lặng bên ngoài mà thôi...". Có lúc, ông thật hồn nhiên trong tình yêu: "Tôi đã yêu em như trẻ thơ...", hoặc "tôi đã yêu em bao ngày nắng, tôi đã yêu em bao ngày mưa, yêu em bên đời lặng lẽ..., yêu em trái tim thật thà" (Trong nỗi đau tình cờ).

Cách yêu của ông cũng có vẻ hơi khác thường. Ông yêu thật từ tốn, thật chậm rãi, không phải vội vàng, như người ngồi nhấm nháp và thưởng thức từng ngụm trà nhỏ hoặc ngồi nhìn từng giọt cà phê rớt xuống "Yêu em không cần vội vã, yêu trong nỗi vui đợi chờ" (Trong nỗi đau tình cờ). Thậm chí còn có những khi "yêu em yêu thêm tình phụ, yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ" (Ru em) nữa. Những lời lẽ nghe dịu dàng, nhẹ nhàng và đơn sơ như vậy, nhưng lại có bao nhiêu là vết thương. Những vết thương sâu mà ông gọi là..."vết thương hồn nhiên". Những nỗi đớn đau mà ông gọi là..."niềm đau ngọt ngào" hay "nỗi đau tình cờ" (trong khi ông cũng biết chắc là khó mà ngọt ngào hay tình cờ nổi). Trong lòng ông luôn luôn dâng lên nỗi khát khao muốn được đi lại từ đầu, muốn được yêu thêm 1 lần nữa, muốn được bắt đầu lại 1 chuyện tình với trái tim mới biết yêu. Ông khẩn khoản: "Cho tôi đi xây lại chuyện tình..." (Xin cho tôi), những chuyện tình chắc hẳn đã để lại trong ông rất nhiều hối tiếc.. Trong những tình khúc TCS, tình yêu vừa là mật ngọt, vừa là mật đắng, "mật ngọt trên môi, mật đắng trong đời".

Tại sao lại như vậy? Người viết những ca khúc ấy không có lời giải thích, chỉ nghe ông nói: "Con người không thể sống mà không yêu. Có người yêu thì hạnh phúc, có người yêu thì đau khổ. Nhưng dù đau khổ hay hạnh phúc, con người vẫn muốn yêu. Tình yêu vì thế mà tồn tại". Những chuyện tình ông viết thường là những chuyện tình lặng lẽ, không sóng gió, không sôi nổi, nhưng không phải là không đắm say nồng nàn. "Tôi xin là cây xa, đứng nhìn em rực rỡ. Tôi xin làm nụ cười, chờ em giữa đôi môi. Tôi xin làm mộng nhỏ, em vừa giấc ngủ say..." (Vì tôi cần thấy em yêu đời). Trong nhạc tình TCS, không có những lời thề non hẹn biển, mà chỉ có "ta gặp tình cờ như là cơn gió" và những lời hẹn thề "chỉ là những cơn mưa". Cũng không có những lời thở than sướt mướt "duyên kiếp lỡ làng", mà chỉ có những lời cố làm ra vẻ hửng hờ, dửng dưng như "ừ, thôi em về..." hoặc là "em về hãy về đi, ta phiêu du 1 đời...". Chuyện gì cũng cho là tình cờ, như cơn mưa bất chợt, vội vàng đến, vội vàng đi. Ngay đến cả tuổi thọ của những chuyện tình, xem ra cũng chẳng dài lâu, chỉ "mong manh như nắng" và "thoảng như gió vội". "Ta gặp tình cờ như là cơn gió..." (Hoa vàng mấy độ), "Em ra đi như thoáng gió thầm..." (Tạ ơn). Tình đến lặng lẽ, "tình đi âm thầm, lạnh lùng như dấu chim", trong khi ông còn ngồi lại đó, "bên đời hiu quạnh", khi mà hạnh phúc đã khô queo như 1 dòng suối cạn, nhưng vẫn cứ mong đợi hoài những giấc mơ sẽ không bao giớ đến. "Ta vẫn mong, ta chờ mải trên từng ngày quạnh hiu. Ta vẫn mong em về đây cho đời bày cuộc vui..." (Rừng xưa đã khép).

Ông cũng hay nói về những giấc mơ. Một bài hát có những lời và hình ảnh thật là đẹp nhưng lại ít được người nghe ờ đây đón nhận (ở đây tức là ở hải ngoại - chú thích của người post bài), chỉ vì có những câu mà người ta không muốn nghe chút nào, chẳng hạn "em ra đi nơi này vẫn thế, lá vẫn xanh trên con đường nhỏ, vườn xưa vẫn có tiếng mẹ ru, có tiếng em thơ, có chút nắng trong tiếng gà trưa..., hay "thành phố vẫn có những giấc mơ..." (Em còn nhớ hay em đã quên).

Nghĩ cho cùng, chẳng ai ngăn cấm được những giấc mơ. Ngay cả khi thân ta bị giam hãm tù đày, những giấc mơ vẫn còn được tự do. Người ta đã mơ và cuộc sống không thể nào thiếu được những giấc mơ. TCS có 1 cái tội mà ngay chính ông cũng khó lòng tha thứ cho ông được (vì có tha thứ rồi cũng sẽ tái phạm): đó là ông đã có những giấc mơ (chẳng hạn giấc mơ về thành phố mà ông đang sống và giấc mơ nối được 1 vòng tay lớn). Ông đã sống cùng những giấc mơ đó và chết cùng những giấc mơ đó. Chính những giấc mơ đó chứ không phải ai khác, không phải điều gì khác, đã khiến ông bị oán ghét. Nhưng ông không thể nào đổ lỗi cho những giấc mơ, mặc dù ông phải trả giá cho những giấc mơ ấy. Đã có người nào đó nói rằng, ca khúc TCS là "những bản tình ca không có hạnh phúc", tôi nghĩ, đấy còn là những bản tình ca về những giấc mơ rạn vỡ. "Sống mà giữ mãi trong lòng những hờn oán thì cũng nặng nề...Ta biết tha thứ những điều nhỏ thì cuộc đời sẽ tha thứ cho ta những điều lớn hơn", ông nói vậy, và ta cũng nhận là đúng thôi. Khi còn sống, trong những năm cuối đời, ông có được lắm kẻ yêu và cũng nhiều người ghét. Ông nhận được cả những lời ngợi ca và những câu nguyền rủa để cho ông thấy "những con mắt thù hận, cho ta đời lạnh câm..." (Những con mắt trần gian).

Yêu và ghét cũng như tốt và xấu, 2 mặt của cuộc sống, có khi chỉ là một. Những người ghét ông, là bởi vì trước đó, họ đã trót yêu ông quá đấy thôi. Nếu không yêu ông lắm, người ta đã không ghét ông nhiều đến vậy. Tình yêu biến thành tình hận. Ông giống như 1 người tình phụ bạc vậy. Đúng là do lỗi ông thôi, ông không thở than vào đâu được. "Đời tôi ngốc dại, tự làm khô héo tôi đây..." (Chiếc lá thu phai), ông cũng chẳng từng đấm ngực tự thú đó sao. Nhưng cũng đâu có phải vì mối hận tình đó mà tấm nhan sắc kia bỗng trở thành xấu xí, những bản tình ca kia chẳng còn ai muốn nghe. Còn những người yêu ông thì lại càng yêu ông hơn sau ngày ông lặng lẽ rời bỏ "một cõi đi về" này.

Thế còn về phần ông, vì ông đã nói được những lời trên, tôi chắc ông cũng chẳng cay đắng, hờn trách chi cuộc đời. Một người từng có những lúc "chuyện trò với lá cây" thì khó mà có thể giận hờn ai được. "Đời cho ta thế", ông đã nói trong 1 ca khúc. Có nghĩa là, dẫu có hay dở, tốt xấu thế nào, ông cũng sẵn sàng và vui vẻ mở gói quà tặng của cuộc đời. TCS, ông là ai vậy? "Tôi biết rõ rằng, tôi chỉ là 1 loài chim nhỏ hót chơi trên đầu những ngọn lau", ông nói. Nếu không muốn nghe những lời chim hót, tôi chắc cũng chẳng ai đành lòng ném đá xua đuổi để con chim nhỏ ấy phải bay đi nơi khác.

Tôi có người bạn, nghe tin TCS mất và thấy nhiều người tỏ lòng thương tiếc người nhạc sĩ tài hoa ấy thì anh ta nhún vai nói: "Chẳng nên bi lụy thái quá. Có những kẻ chết nhiều lần trước khi chết thật. Cái tin này chẳng qua chỉ là xác nhận lại 1 cái chết từ năm 75 mà thôi". Thế nhưng sau đấy, có 1 lúc nào đó, tôi nghe được từ miệng anh ta câu hát vu vơ: "Tình mong manh như nắng, tình còn đầy không em?..." Như vậy là anh ta bỏ TCS, chứ TCS đâu có bỏ anh ta. Tôi nghĩ là chúng ta sẽ dễ dàng quên TCS thôi, nếu 1 ngày nào đó không còn ai hát nữa những câu nhạc tình vu vơ như vậy. Chắc là phải đợi cho đến lúc ở quanh ta không còn có những cặp tình nhân, không còn có những kẻ yêu nhau và phụ nhau, cũng không còn ai muốn nói với ai những lời tình tự ngọt ngào. Và nếu như thế, cuộc sống sẽ buồn tẻ biết là chừng nào.

Nghe nhạc TCS, có được chút hạnh phúc là có ông chia sớt, san sẻ cùng ta những nỗi vui, niềm đau. Ông nói hộ ta những điều ta muốn nói. Ông cũng bày tỏ, thổ lộ dùm ta những tình cảm sâu kín nhất trong ta. Khi nghe những lời ông tự vỗ về, an ủi, ta như cũng được vuốt ve xoa dịu. Trong những ca khúc TCS, ông đã vừa nói với ông lại vừa nói với ta nữa. Nhạc TCS, như vậy, cũng có thể được gọi là những "tự tình khúc", như là tựa 1 bài hát của ông vậy.. Có ai trong mỗi chúng ta lại không có 1 chút TCS theo cái nghĩa đó.

Chỉ cần 1 chút thôi (nói theo chữ ông hay dùng), cũng đủ giúp ta có lúc tạm quên đi cái gánh nặng "đời cơm áo". Vậy thì cũng nên cám ơn ông lắm chứ, vì ông đã gánh nhẹ dùm ta những nỗi phiền muộn của đời sống.

Và cũng vì chút lẽ công bằng, biết đâu lại chẳng khiến ông phải ân hận mà rút lại lời trách móc nhẹ nhàng "đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng". Và cuộc đời như thế, cũng sẽ đẹp thêm lên 1 chút.

theo chutluulai.net

Edited by user Thursday, October 23, 2014 7:08:34 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 2 users thanked phamlang for this useful post.
tieng Viet on 10/31/2014(UTC), CatLinh on 11/3/2014(UTC)
phamlang  
#34 Posted : Thursday, October 23, 2014 6:47:08 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Cái đẹp Trong Ngôn Ngữ Trịnh Công Sơn


Có người gọi TCS là thi sĩ. Tôi không cho là như vậy. Ông có làm thơ và trong những câu nhạc của ông, ta nhặt được ý thơ và cả những câu thơ thật đẹp nữa.( Tôi còn nhớ có đọc ở đâu đó, khi được mời đề cử những bài thơ để tuyển chọn vào danh sách những bài thơ hay nhất của thế kỷ 20, một vị giáo sư nổi tiếng đã không ngần ngại đề cử ngay lời của bài "Đêm thấy ta là thác đổ". Sau đây, xin mời các bạn đọc thử 1 bài thơ tứ tuyệt của thi sĩ TCS rồi cho biết ý kiến nhé: "Chỗ em ngồi ngày xưa còn ấm lắm./ Anh gối lên và ngủ 1 giấc dài,/ Em có hiểu đời cho em là mộng./ Để anh về cứ tưởng một là hai" và đây là 2 câu lục bát: "Đường xa mỏng mộng vô thường./ Trái tim chợt tỉnh, tôi nhường nhịn tôi" trích từ "Chùm thơ vô đề" in trong tuyển tập thơ "Chút tình với thức" - Chú thích từ người post bài, LennyTruong).

Thế nhưng ông mãi mãi là nhạc sĩ, không phải là thi sĩ. (Cũng như ông có vẽ tranh, nhưng không phải là họa sĩ). Nếu ông chỉ làm thơ, tôi không chắc ông sẽ được bao nhiêu người biết tên. Không có ông, ta còn nhiều thi sĩ khác.

Nhưng chỉ có 1 TCS thôi. Tôi có đọc ít bài thơ của ông, có bài hay, nhưng vẫn không gây cho tôi ấn tượng nào rõ nét lắm, nghĩa là dưới mỗi bài thơ ông, không để lại dấu ấn đậm nét nào có khắc tên ông. Thế nhưng nhạc của ông thì đúng là nhạc TCS. Dường như chỉ khi ông viết lời nhạc, cái thi hứng mới trào ra, những lời ấy như hóa thành thơ và nhạc lẫn thơ bay lên. Người nghe đôi lúc khó phân biệt những câu dưới đây là nhạc hay thơ, là thơ hay nhạc, vì nhạc thơ, thơ nhạc quyện lẫn vào nhau: "Ta vẫn mong, ta chờ mãi trên từng ngày quạnh hiu./ Ta vẫn mong em về đây, cho đời bày cuộc vui..." (Rừng xưa đã khép). "Vườn năm xưa em đã đến, nay trăng quá vô vi./ Giọt sương khuya rụng xuống lá, như chân ai lần về..." (Nguyệt ca). "Ta nghe nghìn giọt lệ, rớt xuống thành hồ nước long lanh... (Như cánh vạc bay). "Những giọt mưa, những nụ hoa, hẹn hò gặp nhau trước sân nhà..." (Bốn mùa thay lá). "Sau lưng ngày con gái. Môi son đừng biếng lười. Cho ta còn mãi mãi. Chút mùi phấn hương bay..." (Yêu dấu tan theo). Lời TCS hay đến mức, ở 1 đôi bài, nhạc không bắt kịp lời. Gặp phải những bài như thế, tôi vẫn cứ tiếc, và đôi lúc nghĩ rằng, ông ghép nhạc vào lời hơn là ghép lời vào nhạc. Những "Nắng thủy tinh", "Như cánh vạc bay", "Ru ta ngậm ngùi", "Yêu dấu tan theo", "Nguyệt ca", "Đêm thấy ta là thác đổ"...là những bài thơ hơn là những bài nhạc. "Nắng thủy tinh" hoặc "Nhìn những mùa thu đi" chẳng hạn, là những bài đẹp cả về lời thơ lẫn ý nhạc. Những nốt nhạc mềm mại rót xuống ở cuối câu "đưa em về nắng vương nhè nhẹ..." nghe sao mà "nhè nhẹ" thế. Và tiếng hát Khánh Ly, Lệ Thu quấn quýt, đan quyện vào nhau đã luôn luôn là những tiếng hát của 1 mùa nào lãng mạn, ru tôi trong chiếc nôi đời êm ái, nhìn những cụm mây mùa thu bay đi, bay đi.

Trong nhạc TCS, không phải chỉ có thơ, mà còn có cả tranh vẽ nữa. Và những bức tranh sinh động của ông cũng thể hiện qua những lời nhạc giàu hình ảnh, có khi chỉ là những nét ký họa, có khi là những bức tranh cảnh vật đầy màu sắc, có khi là những bức chân dung của..."Người về soi bóng mình, giữa tường trắng lặng câm..." hoặc những tranh tĩnh vật như "...thấy đời là những quán không, bàn im hơi bên ghế ngồi..." và còn có cả những bức vẽ trừu tượng nữa. Thử dạo qua 1 vòng phòng tranh TCS: "Hồ Tây chiều thu, mặt nước vàng lay, bờ xa mời gọi. Màu sương thương nhớ, bầy sâm cầm nhỏ, vỗ cánh mặt trời..." (Nhớ mùa thu Hà Nội), "Mây và tóc em bay trong chiều gió lộng. Trời làm cơn mưa xanh dưới những hàng me..." (Tuổi đời mênh mông), "Trong lòng phố, mưa đêm trói chân, dưới hiên nhìn nước dâng tràn, phố bỗng là dòng sông uốn quanh..." (Em còn nhớ hay em đã quên). Một vài bức tranh khác đòi hỏi cần có chút tưởng tượng: "Ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ khô. Ta thấy em đang ngồi khóc khi rừng chiều đổ mưa..." (Rừng xưa đã khép), "Dòng nước mắt sẽ bay trong trời, làm cơn mưa rớt trên chăn gối, lời cỏ cây hát trên da người..." (Hãy khóc đi em). Có rất nhiều những bức vẽ giàu hình ảnh và màu sắc như vậy. Cái đẹp, cái hay, có khi chỉ nằm ở 1 dòng chữ trong câu hát, như là chữ "suốt" trong những câu hát dưới đây chẳng hạn: "Ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì..." (Một cõi đi về), "Gọi tên em mãi suốt cơn mê này..." (Hạ trắng), "Đường đi suốt mùa nắng lên thắp đầy..." (Hạ trắng), "Hãy nghiêng đời xuống, nhìn suốt 1 mối tình..." (Để gió cuốn đi), "Lá hát như mưa suốt con đường đi..." (Em còn nhớ hay em đã quên), "Rọi suốt trăm năm 1 cõi đi về..." (Một cõi đi về). Chữ "suốt" ở câu trên hay đến vậy lại bị 1 số ca sĩ đổi thành "xuống" thì quả là "nỗi đau phiền muộn" cho những người yêu nhạc TCS. Hát sai 1 chữ, làm hỏng 1 câu nhạc, có khi cả 1 bài nhạc.

Có những bài nhạc, tôi chắc là TCS thích, vì vẫn nghe ông nhắc đến, nhưng lại ít có người hát, ít có người nghe. Có khi ông muốn nói nhiều quá, người nghe lại ít chịu nghe. Những bài hát được ông lồng vào những triết lý, những thiền vị chẳng hạn, dường như ít được thành công, hiểu theo nghĩa ít được phổ biến. Người nghe dễ đón nhận hơn, nếu chỉ 1 vài nét chấm phá và 1 chút thiền vị : "Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ..." (Ru em) hoặc "Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ..." (Mưa hồng). Cái đẹp còn ở những lời tả tình, tả cảnh về 1 quê hương, 1 nơi chốn thân quen trong mỗi trái tim người Việt: "Chiều trên quê hương tôi, có những chốn riêng cho mọi người, những con đường lứa đôi, những góc hè phố vui..." (Chiều trên quê hương tôi) hoặc " ...quê nhà đó năm xưa có em, có bóng dừa, có câu hò, có con đò chở mưa nắng đi..." (Em còn nhớ hay em đã quên).

Thật khó mà viết được những lời đẹp đến vậy, nếu không có trái tim nặng trĩu tình yêu quê hương. "TCS đã hát về quê hương đất nước bằng cả tấm lòng của 1 đứa con biết vui tận cùng những niềm vui và đau tận cùng những nỗi đau của Tổ quốc mẹ hiền..." Văn Cao đã viết về ông như vậy. "Đời gọi em biết bao lần", "Vì tôi cần thấy em yêu đời" và "Tuổi đời mênh mông" nữa...là những bài hát thể hiện cái đẹp của lòng nhân ái.

Ngôn ngữ TCS quả đã làm giàu đẹp thêm cho kho tàng tiếng Việt hoặc ít ra có thể nói mà không sợ lầm, ông là người viết lời đẹp nhất cho những ca khúc. Những lời đó trước đây và cả về sau nữa, tôi tin vậy, chưa từng có ai viết và cũng không ai bắt chước, không ai làm giả được. Nếu có hàng mạo hóa, người nghe sẽ nhận ra ngay những TCS "giả". Như thế thì cái chết của ông, ít nhiều cũng gây nên những mất mát và thiệt thòi, ít ra là đối với những người có cái nhìn khách quan về những đóng góp của ông. Tất nhiên không phải mọi ca khúc TCS đều hay cả. Có 1 số những bài hay, 1 số những bài trung bình, có bài chỉ nhặt ra được 1 câu, 2 câu, có bài không được kể là nhạc, vì không bắt nguồn từ 1 cảm xúc nào hoặc được làm theo "đơn đặt hàng" như bài hát về công trình xây đắp thủy điện Trị An: "Dòng điện như dòng sông, cho đời 1 tấm lòng..." chẳng hạn. Cũng nói đến dòng sông, cũng nói về tấm lòng, nhưng người nghe thấy gượng ép, giả tạo. những bài hát ấy không tồn tại được, không được ai hát. Chúng biến mất ngay khi vừa mới ra đời và không được người đời nhắc tên.

Nghe nhạc TCS, giống như là nhấm nháp từng ngụm cà phê hay từng ngụm trà nhỏ. Từng ngụm nhỏ thôi, để nghe được cái hương vị đậm đà chầm chậm, từ từ thấm vào đầu lưỡi. Nghe nhạc TCS là phải nghe trong những lúc thư thả, không bận rộn, nghe "không cần vội vã", nghe với "trái tim thật thà", để nghe được từng câu, từng chữ, từng lời nhạc khe khẽ, nhẹ nhàng, len lỏi, luồn lách vào mọi ngóc ngách trong cơ thể, thấm vào từng mạch máu và chạm khẽ đến trái tim.


(Trích từ bài viết "Gió trời xin ngủ bình yên" của Lê Hữu).
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
tieng Viet on 10/31/2014(UTC)
phamlang  
#35 Posted : Thursday, October 23, 2014 6:56:12 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Dao Ánh - Một thời để nhớ - “Người yêu lạ lùng nhất” của Trịnh Công Sơn


UserPostedImage
Dao Ánh thời trẻ và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - Ảnh: tư liệu


...Ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh, em gái út của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, kể rằng nhà của Dao Ánh nằm gần nhà của Trịnh Công Sơn - chỉ cách một cây cầu nhỏ Phú Cam - nên hằng ngày Dao Ánh đi học thường ngang qua đó…

Trịnh Công Sơn nhắc đến trong một hồi ức: “Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng long não lá li ti xanh mướt để đến trường Đại học Văn khoa ở Huế. Nhiều ngày, nhiều tháng của thuở ấy, người con gái ấy vẫn đi… Có rất nhiều mùa nắng và mùa mưa theo qua. Những mùa nắng ve râm ran mở ra khúc hát mùa hè trong lá. Mùa xuân mưa Huế, người con gái ấy đi qua nhòa nhạt trong mưa… Từ ban công nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng ấy đi đi về về mỗi ngày bốn bận (…) Đi để được ngắm nhìn, để cảm thấy âm thầm trong lòng mình là một nhan sắc”.

Trịnh Công Sơn nhớ về “những con người lớn lên trong thành phố nhỏ nhắn đó đã dệt gấm thêu hoa những giấc mơ, giấc mộng của mình”. Đó là cố đô Huế với “mỗi sáng tinh mơ, mỗi chiều, mỗi tối, tiếng chuông Linh Mụ vang xa trong không gian, chuyến đi trên dòng sông để đến với từng căn nhà khép hờ hay đang đóng kín cửa. Thời gian trôi đi ở nơi đây lặng lẽ quá. Lặng lẽ đến độ người không còn cảm giác về thời gian. Một thứ thời gian không bóng hình, không màu sắc. Chỉ có cái chết của những người già, vào mùa đông giá rét, mới làm sực tỉnh và bỗng chốc nhận ra tiếng nói thì thầm của lăng miếu, bia mộ ở những vùng đồi núi chung quanh. Trong không gian tĩnh mịch và mơ màng đó, thêm chìm đắm vào một khí hậu loáng thoáng liêu trai, người con gái ấy vẫn đi qua đều đặn mỗi ngày dưới hai hàng cây long não để đến trường. Đi đến trường mà đôi lúc dường như đến một nơi vô định. Định hướng mà không định hướng bởi vì những bước chân ngày nào ấy dường như đang phiêu bồng trên một đám mây hoan lạc của giấc mơ. Người con gái ấy đã đi qua một cây cầu bắc qua một dòng sông, qua những hàng long não, qua những mùa mưa nắng khắc nghiệt, để cuối cùng đến một nơi hò hẹn.

UserPostedImage

Một chiếc lá ép trong thư gửi từ Blao về có chữ Trịnh Công Sơn ghi trên mặt lá: “Mưa lạnh đầy đó Ánh - 23 Septembre 1965” - ảnh gia đình Trịnh Công Sơn cung cấp

Hò hẹn nhưng không hứa hẹn một điều gì. Bởi vì trong không gian liêu trai ấy hứa hẹn chỉ là một điều hoang đường. Giấc mơ liêu trai nào cũng sẽ không có thực và sẽ biến mất đi. Người con gái đi qua những hàng cây long não bây giờ đã ở một nơi xa, đã có một đời sống khác. Tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Kỷ niệm nào cũng đáng nhớ nhưng cứ phải quên. Người con gái ấy là Diễm của những ngày xưa”.

Đời của Trịnh Công Sơn là thơ. Nỗi buồn của Sơn là nỗi buồn siêu hình. Nhạc của Sơn bài nào cũng có chữ em, chữ yêu, chữ tình. Người đẹp của Sơn phải là người gầy, không gầy thì không đẹp. Ví dụ, vai gầy: “Tuổi nào vừa thoáng buồn áo gầy vai” (Còn tuổi nào cho em). Tay gầy: “Bàn tay em năm ngón ru trên ngàn năm. Trên mùa lá xanh, ngón tay em gầy nên mãi ru trên ngàn năm” (Ru em từng ngón xuân nồng) - hoặc “Đóa hoa hồng tàn hôn lên môi, em gầy ngón dài” (Tuổi đá buồn). Gầy và xanh nữa: “Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ, dài tay em mấy thuở mắt xanh xao” (Diễm xưa) hoặc “Bàn tay xanh xao đón ưu phiền” (Nắng thủy tinh).
GS-TS CAO HUY THUẦN (Paris


Câu cuối của hồi ức đúng là viết về Diễm. Nhưng từ câu cuối ấy ngược lên đến câu đầu tiên đều có thể ứng với trường hợp của Dao Ánh - em gái ruột của Diễm - những năm tiếp sau đó. Nghĩa là “người con gái ấy” trước kia là Diễm - nay đã là Dao - Ánh - hóa - thân. Dao Ánh sinh ngày 24.5.1948, người gốc Bắc, lớn lên tại Huế, trong một gia đình gia giáo. Cũng như Trịnh Công Sơn, Dao Ánh giỏi tiếng Pháp, cha là giáo sư dạy tiếng Pháp, đọc tiểu thuyết của André Gide, André Maurois, thơ Jacques Prévert, Apollinaire từ nguyên bản, năm 17 tuổi chép gửi Trịnh Công Sơn mấy câu trong một nhạc phẩm lời Pháp do Richard Anthony hát: “J’attendrai l’orage et la pluie pour pleurer. Je t’aime encore mais tu dois ignorer le chagrin de ma vie. Et j’irai pleurer sous la pluie” (Em sẽ đợi giông tố và gió mưa về để khóc. Em mãi yêu anh nhưng anh chẳng màng gì tới nỗi buồn của em. Và em sẽ khóc dưới mưa đây). Trịnh Công Sơn đã trích một câu trong đoạn cuối cuốn Porte étroite (Khung cửa hẹp) của André Gide gửi đáp Dao Ánh: Et que la vie peut souffler dessus chaque jour sans l’éteindre (ngày ngày ngọn gió đời vẫn thổi nhưng chưa bao giờ thổi tắt được tình yêu).

Ngôi nhà của Dao Ánh được Trịnh Công Sơn nhắc đến với những lùm nhãn mùa hạ che mắt đường về, với hàng cây mùa đông đứng lặng bên sông vắng, trông gợi cảm vô cùng. Từ nhà Trịnh Công Sơn nằm ở số 3/11 Nguyễn Trường Tộ, bên này cầu Phú Cam nhìn sang bên kia cầu chỗ có nhà Dao Ánh buổi chiều không thể không nhớ những bụi dạ lan trồng ở đó. Dạ lan thơm lắm, nhất là vào ban đêm, tỏa từ nhà Dao Ánh đến cả trong… giấc mộng của Trịnh Công Sơn ở Blao, Đà Lạt, Dran, Sài Gòn, Đà Nẵng về sau nữa. Trịnh Công Sơn nói Dao Ánh là “người yêu lạ lùng nhất” của mình. Năm Dao Ánh 19 tuổi, Trịnh Công Sơn nói với Ánh: “Yêu nhau đã có một compromis (ước hẹn) và không có một ước hẹn nào đáng giá hơn như thế”. Dao Ánh cũng biết điều ấy. Cũng lãng mạn, song rất kín đáo. Những đêm khuya Huế lạnh, Dao Ánh thắp đèn sáp trắng một mình ngồi viết thư và nhớ Trịnh Công Sơn, hái và ép những chiếc lá dạ lan còn ướt sương vào giữa trang thư gửi đến. Có hôm nhìn màu hoa sắp tàn, nhìn màu nắng chiều phai, Dao Ánh đã viết nhắn Trịnh Công Sơn: “Ôi màu mắt rồi có ngày cũng đổi màu như thế”.

Lãng mạn vậy, nên Trịnh Công Sơn nghĩ “biết đâu Ánh không sinh ra và lớn lên từ một loài hoa nào đó”. Năm 1966, Dao Ánh vào Sài Gòn học ở cư xá Thanh Quan số 232 bis/C Hiền Vương, bỏ lại con đường có vòm long não, cây cầu nhỏ, với con sông lững lờ và một khoảng trời cô quạnh.

Giao Hưởng - Dạ Ly
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 2 users thanked phamlang for this useful post.
tieng Viet on 10/31/2014(UTC), CatLinh on 11/3/2014(UTC)
phamlang  
#36 Posted : Sunday, October 26, 2014 11:29:26 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Vài Cảm Nghĩ Về Ca Khúc


Áo xưa dù nhàu,
Cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau ...
(Trịnh Công Sơn)


Càng nghe lại những bài hát trong suốt từ thập niên 60s cho tới 90s, tôi càng sửng sốt về khả năng sáng tạo liên tục của Trịnh Công Sơn (TCS), người nhạc sĩ đã gây ra nhiều sóng gió, tranh luận trong giới chính khách và ngay cả giữa những người thưởng ngoạn trong những năm chiến tranh lên cao điểm ở Việt Nam. Ngay cả sau chiến tranh, nhiều nhãn hiệu "phản bội", "nối giáo cho giặc", vv vẫn được tiếp tục gắn lên người nhạc sĩ chỉ "hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo ..." [1]. Trong suốt hơn bốn mươi năm sáng tác, Trịnh Công Sơn đã viết hơn sáu trăm bài nhạc, xoay quanh ba chủ đề lớn: quê hương chiến tranh, tình yêu và thân phận. Có thể nói, trong cả ba đề tài, Trịnh Công Sơn đã thành công xuất sắc. Khi nhận xét về người nhạc sĩ tài hoa này, ông Nguyễn Xuân Khoát đã có lần viết "Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra". Tuy nhiên, ngôn từ và cách nói của TCS khác lạ so với nhiều nhạc sĩ khác. TCS không dùng những từ ngữ hoa mỹ để nói lên những điều hiển nhiên trong cuộc sống hay những chữ trừu tượng để nói lên những triết lý cao siêu.

Văn Cao cũng có nhận xét về phong cách sáng tác của TCS rất chính xác: "cái quyến rũ của nhạc Trịnh Công Sơn có lẽ là ở chỗ không định tạo ra một trường phái nào, một triết học nào, mà vẫn thấm vào lòng người như suối tươi. Với những lời, ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt như một hình thức của dân ca hầu như không thay đổi, Trịnh Công Sơn đã chinh phục hàng triệu con tim."

Thật vậy, trong những thập niên 60 và 70, Trịnh Công Sơn và Khánh Ly đã chinh phục biết bao sinh viên, học sinh qua những ca khúc mà tôi nghĩ là khó có ai có thể quên được: Ướt Mi, Hạ Trắng, Diễm Xưa, Như Cánh Vạc Bay, Phúc Âm Buồn, Nối Vòng Tay Lớn, Nước Mắt Cho Quê Hương, Ca Dao Mẹ, Hát Cho Một Người Nằm Xuống vv. Đối với tôi, hình ảnh Trịnh Công Sơn trong cây đàn guitar cùng Khánh Ly không giầy, không guốc, hát những bài ca về quê hương và chiến tranh trong các khuông viên đại học trong thập niên 70s quả là khó quên. Mỗi ca khúc mang một thông điệp hết sức đơn giản, hoặc về chiến tranh triền miên trên quê hương, hoặc về thân phận con người nhỏ nhoi trong thế giới cao rộng, hoặc về tình yêu lãng mạn, rạt rào cảm xúc mà tôi và chúng bạn lúc đó đã say sưa ôm đàn hát trong những dịp liên hoan văn nghệ, picnic hay cắm trại hè.

Tình yêu, một đề tài muôn thủa trong âm nhạc, chiếm một phần lớn trong các tác phẩm của TCS. Phần lớn các bài nhạc tình của Việt Nam được viết bằng những lời lẽ ray rứt, lồng trong một hoàn cảnh éo le và thường được dựng trong một không gian của mùa thu lá đổ hay mưa gió bão táp ... Nhạc tình của TCS vượt xa những cái "thông lệ" này. Tình yêu trong nhạc của TCS đến một cách rất nhẹ nhàng, thánh thiện, như:

Từ khi trăng là nguyệt đèn thắp sáng trong tôi,
Từ khi trăng là nguyệt em mang tim bối rối,
Từ khi trăng là nguyệt tôi như từng cánh diều vui,
Từ khi em là nguyệt trong tôi có những mặt trời .... [2]

và nhớ người yêu như một nỗi nhớ

"Gọi nắng ...
Cho tóc em cài loài hoa nắng rơi,
Nắng đưa em về miền cao gió bay,
Áo em bây giờ mờ xa nẻo mây,
Gọi tên em mãi suốt cơn mê này ..." [3]


Để rồi sau bao năm gặp lại người yêu cũ, nàng làm mặt lạ, làm ngơ :

Gặp nhau không nói không nụ cười [4]

Ngay cả khi gặp người tình cũ đi với một người khác, thay vì nói lên một sự cay đắng, đau lòng vô hạn, ủy mị như "thôi rồi em đã xa anh ...", thì TCS lại nói một cách tượng hình và có chiều sâu:

Có một giòng sông đã qua đời ... [4]
Có thể nói qua những bài ca trong thập niên 60 và 70 của Trịnh Công Sơn, người ta cũng có một khái quát về về lịch sử cận đại của VN. Anh đã vui buồn với vận nước nổi trôi:

Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày ... [5]


Trong hơn hai mươi năm chiến tranh đó đã có quá nhiều cảnh "những điều mắt thấy mà đau đớn lòng." [6] Và cũng có lẽ vì sự nung nấu tâm can trước những điều trông thấy chung quanh mà Trịnh Công Sơn đã viết lên nhiều tác phẩm đầy tự nhiên như một cuốn phim thời sự sống động:
"Đại bác đêm đêm dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe", hay là bi thảm hơn nữa:

Một ngày mùa đông, hai bên là rừng,
Một chiếc xe tang, trái mìn nổ chậm
Người chết hai lần, thịt da nát tan. [7]


Trong những năm chiến tranh dữ dội ở Việt Nam, người viết bài này đã từng chứng kiến những xác chết của trẻ em la liệt trên những cánh đồng cỏ xanh ở miền Nam. Những cái chết mà nếu xảy ra bên các xứ Tây phương sẽ được cho lên trang đầu của những tờ báo lớn nhất và những bản tin nóng hổi đi khắp các đài truyền hình, nhưng lại âm thầm ở Việt Nam lúc đó. May thay, Trịnh Công Sơn đã có lòng ghi lại những cảnh thảm thương đó một cách rất chân: "một buổi sáng mùa xuân, một đứa bé ra đồng, đạp trái mìn nổ chậm ... thịt da nát tan" [7].

Có người cho là âm nhạc hay nhất và đẹp nhất là âm nhạc mang tính nhân bản. Không biết nhạc của TCS có hay nhất, đẹp nhất hay không, nhưng có lẽ nhạc của anh mang nhiều tính nhân bản nhất. Ngoài những ca khúc về tình yêu và quê hương, Trịnh Công Sơn còn viết nhiều ca khúc để đời về thân phận. Một trong những bài ca mà tôi cho là có tính đại diện cho phong cách sáng tác và nhạc thuật của Trịnh Công Sơn là bài Cát Bụị Bài ca được viết theo thể điệu chậm, khoan thai (như phần lớn các ca khúc của Trịnh Công Sơn); lời rất đơn giản, không có tính cách trao chuốt, và gần như một bài thơ :

Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, Để một mai vươn hình hài lớn dậy, Ôi cát bụi tuyệt vời, mặt trời soi một kiếp rong chơi
Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, Để một mai tôi về làm cát bụi, Ôi cát bụi mệt nhoài, tiếng động nào gõ nhịp khôn nguôi
Bao nhiêu năm làm kiếp con người, Chợt một chiều tóc trắng như vôi, Lá úa trên cao rụng đầy, Cho trăm năm vào chết một ngày
Mặt trời nào soi sáng tim tôi, Để tình yêu say mòn thành đá cuội, Xin úp mặt bùi ngùi, từng ngày qua mỏi ngóng tin vui
Cụm rừng nào lá lá xác xơ cây, Từ vực sâu nghe lời mời đã dậy, Ôi cát bụi phận này, Vết mực nào xóa bỏ không hay


Nguyên bài hát bàng bạc một âm hưởng triết lý Phật Giáo về một chu kỳ sinh ra, lớn lên và chết đi, được thể hiện qua những lời ca nhịp nhàng, lãng mạn. Đời người mong manh như hạt sương: sáng ra tóc còn xanh như hạt sương còn long lanh, chiều lại đã thấy tóc mình bạc phơ như hạt sương đã tan thành mây khóị Có lẽ sự tất yếu của cái chu kỳ này đã làm ám ảnh biết bao người nghệ sĩ và con ngườị Trong cuốn băng nhạc video Ru Tình phát hành gần đây, Trịnh Công Sơn cũng đã tâm sự là anh bị ám ảnh bởi cái chết ngay từ lúc còn thơ ấu, do vậy nhạc của anh đều biểu hiện sự quan tâm đến cuộc đời chung quanh và nhân thế một cách da diết. Anh có lần nói thân phận chỉ là một "hữu hạn" và cuộc đời chỉ là "những quán không", như một lời thơ cổ xưa của nhà sư Vạn Hạnh:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô

trong triết lý "yếm thế", đã được nói đến từ xưa. Nhưng Trịnh Công Sơn đã dịch những từ ngữ khó hiểu này ra nhạc một cách dễ hiểu và gần gủi đến ngạc nhiên.

Một điều xảy ra chung quanh mà bất cứ ai cũng nhận thấy được là tính cách nhịp điệụ Hết ngày lại đêm, xuân qua hạ tớị Mỗi hành tinh có nhịp điệu riêng của mình khi quay quanh mặt trờị Các chức năng của cơ thể đạt tới đỉnh cao rồi giảm xuống cực tiểu tương ứng với thời kỳ: ngày, tuần, tháng, năm. Và, theo cái chu kỳ đó, con người được sinh ra, lớn lên rồi đi về cõi tiêu daọ Do vậy, không phải ngẫu nhiên khi Trịnh Công Sơn đã mở đầu bài hát bằng câu hỏi đơn giản "hạt bụi nào hoá kiếp thân tôỉ", cho đến ngày "để một mai vươn hình hài lớn dậy", và cuối cùng "để một mai tôi về làm cát bụi". Đứng trên phương diện khoa học, có thể nói nguyên bài ca chỉ xoay quanh cái nguyên lý tự nhiên về bảo tồn năng lượng mà ai trong chúng ta cũng đã từng học qua. Nguyên tử (atom) hay hạt bụi không được ai tạo ra mà chỉ là kết quả của một sự biến da.ng. Cái quan niệm này được TCS nhắc tới trong bài ca qua chữ "hạt bụi nào hóa kiếp" rất ví von.

Một trong những đặc điểm của sự tồn tại là tính luân chuyển (impermenance). Ngày xưa, một triết gia trứ danh của Hy Lạp, Heraclitus, có nhận xét rằng "không một ai có thể bước vào cùng một dòng sông hai lần" để nói lên sự thay đổi biến hóa không ngừng của thiên nhiên. Đây cũng là một triết lý trung dung (centrist theory) của Phật giáo: Không có sự khởi đầu và cũng không có sự tận cùng của thế giới, nhưng chỉ có một chu kỳ sinh-sống-tử (cycle of births and deaths) vô tận. Nói như TCS là "một cõi đi về" trong một ca khúc mới sáng tác sau nàỵ

Bài ca Cát Bụi còn mang một luận điểm triết lý của học thuyết tương quan (dependent origination) khá sâu sắc. Các hiện tượng trong thế giới đều chịu ảnh hưởng tương quan giữa năng lượng (energy) và phân tử (elements). Cơ thể con người cũng thay đổi hàng giây, hàng phút, để rồi "bao nhiêu năm làm kiếp con người" cho đến một ngày nào đó "chợt một chiều tóc trắng như vôi", khi "ngồi ôm tóc dài, chập chờn lau trắng trong tay..." [8], rồi cuối cùng mới nhận ra là "lá úa trên cao rụng đầy, cho trăm năm vào chết một ngày". Sự luân chuyển và phụ thuộc giữa các hiện tượng trên thế giới cũng có thể ví như sự mất còn của một cuộc tình: "Mặt trời nào soi sáng tim tôi, để tình yêu say mòn thành đá cuội ...".

Đối với một người nghệ sĩ, chỉ cần vài, hay thậm chí chỉ duy nhất một tác phẩm để đờị Có thể cần đến hai hay ba muơơi năm hay cả cuộc đời để làm nên một tác phẩm như vậỵ Tác phẩm có thể được nổi tiếng khi tác giả còn sống hay đã qua đời, mà trong đó sẽ nói lên một vài điều trực tiếp hay gián tiếp quan niệm của tác giả về thế giới chung quanh và con ngườị Trịnh Công Sơn đã để lại nhiều tác phẩm như vậỵ

Biết bao nhiêu máu lửa đã đổ trùm xuống mảnh đất Việt Nam, và từ trong ly loạn, nhiều bài ca đã được ra đờị Trịnh Công Sơn đã mang chút khói lửa của chiến tranh, bi thảm của chiến tranh vào âm nhạc Việt Nam. Nhưng anh còn đi xa hơn một bước nữa là đã mang được triết lý vào trong âm nhạc Việt Nam.


Nguyễn V. Tuấn Sydney,

[1] Quan niệm sáng tác của TCS
[2] Trích ca khúc Nguyệt Ca
[3] Trích ca khúc Hạ Trắng
[4] Trích ca khúc Có Một Giòng Sông Đã Qua Đời
[5] Trích ca khúc Gia Tài Của Mẹ
[6] Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du
[7] Trích ca khúc Một Buổi Sáng Mùa Xuân
[8] Trích ca khúc Giật Mình Ôi Chiếc Lá Thu Phai
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#37 Posted : Friday, October 31, 2014 8:56:53 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

Trịnh Công Sơn: Cái điều chưa nói

Văn-Lang Tôn-thất Phương


Người Việt Nam
quên mình sống :
Người Việt nhìn nhau xa lạ
Người Việt nhìn nhau căm hờn
(Trịnh Công Sơn:
Ngày Dài Trên Quê Hương)

Ai bảo cho ngươi gánh nạn đời
Thôi mất thì thôi, còn cũng khổ!
(Nguyễn Đình Chiểu)


Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (TCS) qua đời cũng đã một tháng. Bây giờ thì những xúc động ban đầu đã có đủ thời gian để lắng xuống, con người đã trở lại bình tỉnh để nghĩ xem do đâu mà mình yêu mến TCS. Có cái gì nơi TCS đã làm cho bao nhiêu triệu người Việt thấy rất bàng hoàng khi nghe tin anh nằm xuống ?

Tôi sống xa quê hương từ khi còn trẻ, có gặp anh Sơn một vài lần ngắn ngủi nhưng không thể bảo là thực sự có quen anh. Cái "quen biết" với anh, đúng ra, cũng chỉ như bao nhiêu người khác là "quen biết" âm nhạc của anh – thu nhận từ một khoảng rất xa – thế thôi . Nhưng trong quá trình mình sống và lớn lên, không nhạc sĩ nào gây được ấn tượng sâu sắc trong tôi như TCS.

Vì nhạc của TCS rất quyến rũ, tại sao thì tôi không cắt nghĩa được. Có lẽ do lời ca rất nên thơ, với những từ dùng rất khéo, và tất cả nằm trong một cái gì tha thiết, nhẹ nhàng. Trong lời ca lại có nhiều tính riêng chung nên đáp đúng cái tình tự sâu kín trong mỗi con người.

Nhạc của anh là nhạc tình. Tình đó là tình yêu, mà cũng là tình thương, và tình dân tộc. Tôi vốn thích nhạc trữ tình, mà nhạc của anh lãng mạn, tình cảm. Anh là người nhỏ nhẹ, lời hát cũng nhỏ nhẹ, cái yêu thương, phẫn nộ hay đau xót cũng nhỏ nhẹ mà nói lên. Vì thế mà thấm thía.

Người Việt vốn đa tình và sống thiêng về nội tâm, mà nhạc của anh rất nên thơ. Lộng trong đó thỉnh thoảng lại có man mác những tư tưởng của Nam Hoa Trang Tử, của đạo Phật (hư vô, cát bụi, vô thường, "chợt thấy trong ta hiện bóng con người” vv…). Trong nhạc của anh ta thấy được bên chữ tâm đậm nét còn có một chữ ngộ nằm tiềm ẩn. Anh lại hướng thượng: TCS không làm những loại Tục Ca bao giờ !

Và bên cái tình yêu lai láng lại có cả một tình lớn dân tộc. Thời của anh, thưở đó, có lẽ là một trong những thời kỳ đau đớn nhất của lịch sử Việt Nam: Chiến tranh với ngoại bang để dành độc lập, đồng thời cũng có những cái nghiệt ngả trong nhau giữa người Việt, để vấn đề càng phức tạp thêm. Thưở đó, từ trong lòng mỗi người, dù ở bất cứ khuynh hướng nào, cũng thấy trổi dậy một niềm thương dân tộc mình: Cuộc chiến tranh vì không tương xứng lực lượng, và không đồng văn hóa, nên đã quá dã man. Các giá trị tinh thần của xã hội miền Nam lại đảo lộn do sự trấn đóng của hơn nửa triệu quân Mỹ. Trong cái ý thức về thân phận nhược tiểu của mình, con người Việt Nam khao khát hòa bình, mong chấm dứt chiến tranh, chém giết.

Niềm đau nói trên, người Việt Nam nào cũng đều có, cọng thêm với cái đau đớn riêng của mỗi kiếp người. Nhân sinh quan Việt Nam do đó mà yếm thế, và cần có tình thương, niềm tin và hy vọng. Tất cả những tình huống này, TCS đã diễn tả được, bằng cả nhạc và lời ca.

*

Anh Sơn lớn hơn thế hệ của chúng tôi trên dưới mười năm. Ngày anh trình diễn ra mắt công chúng, tôi còn ở những năm cuối Trung Học. Thưở đó, nhạc của anh chưa có gì đặc sắc, nói chung chỉ là những bản tình ca như Hạ Trắng, Ướt Mi vv… Chúng chưa cho thấy có gì mới mẻ hơn những bản Tà Áo Xanh, Hương Xưa, Ai Lên Xứ Hoa Đào vv.. ; còn về mặt tình quê hương thì những Nương Chiều, Tiếng Nước Tôi vv… vẫn còn chiếm địa vị độc tôn. Những bài hát khác, đa số là nhạc phục vụ cho chiến tranh, thì lại đầy nhan nhãn. Không kể mấy bài tầm thường như kiểu "đi quân dịch là thương nòi giống ", những bài khá hơn, tuy mới nghe thì hay, nhưng ngay sau đó lại thấy nhàm :

Anh đi chiến dịch xa vời
Lòng súng nhân đạo cứu người lầm than (...)
Không quên lời xưa đã ước thề
Dâng cả đời trai với sa trường
Nam nhi cổ lai chinh chiến hề
[ Anh Đi Chiến Dịch ]

Đó là giai đoạn “những năm xáo trộn" sau khi ông Diệm bị giết vào tháng 11-1963. Màn đen của chiến tranh đã bao phủ khắp nơi . Con người sống trong nỗi lo âu, thấy tương lai mơ hồ, trôi nổi . Trong cuộc sống thì hằng ngày gặp hết cuộc đảo chính này đến cuộc đảo chính khác, các thế lực tôn giáo thì chống đối nhà cầm quyền và chống đối lẫn nhau… Rồi quân đội Mỹ đổ vào, xã hội miền Nam thay đổi lớn theo cuộc chiến, với thuốc khai quang, với “oanh kích tự do”, với pháo đài bay B-52 san bằng rừng núi lẫn ruộng đồng … , rồi không quân Mỹ đánh phá miền Bắc, vv…

Trước trạng huống đó, người Việt dĩ nhiên là đau lòng, và một trong những người dám nói lên suy nghĩ của mình là TCS. Giữa một cơn cuồng phong rầm rộ ca ngợi cho chiến tranh, tiếng nhạc của anh vang lên, thiết tha, trăn trở:

Ôi đêm dài và cơn bão rớt
Trên giải đất quê hương khô cằn
Ôi bom đạn cày lên những xác
Trên đồng lúa hôm nay bỏ hoang
Ôi da vàng Việt Nam vỡ nát
Xương thịt đó thiêng liêng vô vàn
[TCS: Đêm Bây Giờ, Đêm Mai]


Tiếng ca nhắc nhở về một thực tại băng hoại, trong đó những chết chóc không chỉ thuần về vật chất nhưng còn thống khổ hơn:

Ngày thật dài trong âu lo
Rồi từng đêm bom đạn phá
Người Việt nhìn nhau xa lạ
Người Việt nhìn nhau căm hờn ...
[TCS: Ngày Dài Trên Quê Hương]


*

Điều đã làm TCS khác xa với các nhạc sĩ khác là những suy nghĩ của anh tiến rất nhanh. Thoạt tiên - với những Diễm Xưa, Tuổi Đá Buồn, Nhìn Những Mùa Thu Đi, vv.., người ta ngỡ anh chỉ là một nhạc sĩ có nhiều nét đặc sắc riêng thôi, và - ngoài tình ca ra - anh sẽ không khác gì số đông văn nghệ sĩ “bềnh bồng " lúc đó:

Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ
Một đời người u uất nỗi chơ vơ
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang vu
[Vũ Hoàng Chương]


Bởi vì khi mới bắt đầu, nhạc của anh đã phản ảnh cái tình huống yếm thế của người Việt, thấy buồn về "thân phận da vàng", trong đó con nguời mang kiếp sống “từng ngày từng xót xa …" [Xin Mặt Trời Ngủ Yên]. Nhưng anh không dừng ở đó mà đi nhanh vào những suy tư về cuộc đời ("ôi quê hương đã lầm than, sao còn, còn chiến tranh"), và trong anh có nhiều nét xây dựng rất tích cực, trong sáng:

Cho tôi đi xây lại chuyện tình
Cho tôi đi nâng dậy hoà bình
Cho tôi đi qua tận gập ghềnh
Nhìn giòng máu trong tim anh
[TCS: Xin Cho Tôi]


Cái đặc điểm của TCS là dưới một hình thức uyên áo gần như lãng mạn viễn mơ, anh đã nói lên được những hiện thực phê phán. Rồi từ hiện thực phê phán, anh bước thêm một bước nữa: dấn thân nhập cuộc. Hãy nghe TCS huy động niềm tin trong lòng người Việt:

Ta bước bước đi, bước bước hoài trên quê hương dấu yêu này
Ta bước bước đi, cất tiếng cười thách đố ai cướp đất này (…)
Đạn bom ơi, lòng tham ơi, khí giới nào diệt nỗi dân ta
Triệu chân anh, triệu chân em, hỡi ba miền vùng lên cách mạng
Hãy xoá hết dấu vết buồn thương,
Ngày mai đây những con đường Nam Bắc nở hoa.
[TCS: Chưa Mòn Giấc Mơ + Huế Sài Gòn Hà Nội]


Chính anh cũng đi tiên phong, tự mình làm một "tiếng kêu trong sa mạc", kêu gọi tình thương dân tộc. Quần chúng yêu mến anh cũng vì trong ý hướng của anh luôn luôn mang ý niệm "nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một",. Anh chống lại với cái ác, chống chiến tranh, và cổ vũ niềm hy vọng :

Vì quê hương sẽ có ngày hoà bình
Máu xương hai miền chung lòng thế giới
Ngày hôm nay tôi chưa về Hà Nội
Dù hôm nay em chưa tới Sài Gòn
Nhưng trong lòng em và tôi
Đều nói tiếng: VIỆT NAM
[TCS: Chưa Mất Niềm Tin]


*

Có lẽ không phải tình cờ mà cùng lúc TCS đang tích cực dấn thân với những tác phẩm như "Huê’ Sài Gòn Hà Nội " hay "Nối Vòng Tay Lớn" ... thì trong giới trí thức trẻ ở Sài Gòn cũng đã đưa ra bao nhiêu lời nhắn gọi . Đó là nhạc:

Ngủ đi con, rồi mai khôn lớn cầm súng với cầm gươm
Ngủ đi con, rồi mai khôn lớn đi giết bạn bè anh em
Ngủ đi con, rồi mai khôn lớn bán nước mà làm quan …
[Miên Đức Thắng: Lời Ru]


Hay là thơ:

Cả giống nòi ta đang rên siết từng giờ
Đau ngất núi, oán đầy sông chẳng xiết
Hãy đứng dậy ở bên bờ cõi chết
Cứu nhau thôi, anh chị bạn bè ơi
Cám dỗ, gian nguy, tất cả hẹn nơi người !
[tác giả ?]


Giữa TCS và những người này, ai đã ảnh hưởng ai, chúng ta hãy để về sau cho những nghiên cứu gia tìm tòi. Chỉ biết là những tập Ca Khúc Da Vàng, Kinh Việt Nam vv.. của TCS ra đời từ khoảng 1967 trong khi nhạc của Miên Đức Thắng, Tôn Thất Lập vv... đến với quần chúng cũng phải từ 1970 trở đi . Nhà văn Thế Uyên kể lại (trong một bài ở tạp chí hay sách nào đó, tôi quên mất) [*1], có một nhóm người đã họp nhau tại "Tuyệt Tình Cốc" ở Huế. Theo Thế Uyên, hôm đó có người của đủ các phe phái, “quốc gia”, “cọng sản” vv.., có cả TCS. Họ bảo với nhau là "vạch ruột mà nói" và hứa "không nhìn thấy sao trắng bên này, sao đỏ bên kia" (bản thân Thế Uyên hình như là người của VN Quốc Dân Đảng). Sau này, gặp TCS vào năm 1986, tôi hỏi anh chuyện đó có hay không, anh bảo có. Nhưng anh chỉ nói vắn tắt: “họp nhau rồi chia ra mỗi đứa về làm một chuyện". Hỏi anh làm chuyện gì, anh bảo: "viết ". Tôi định hỏi viết gì, nhưng nghĩ lại những gì anh viết ra đều có xuất bản, ai cũng biết, nên thôi.

*

Một nét đặc sắc khác của TCS là tiếng kêu của anh luôn luôn phát xuất từ 1 con tim yêu thương, nhắc nhủ "Hãy Yêu Nhau Đi", hãy nối lại tình thương đã nhiều đổ nát:

Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay …
Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng
Biển xanh, sông gấm, nối liền một vòng tử sinh
[TCS: Nối Vòng Tay Lớn]

Tuy không ai nhận ra một cách rõ rệt, nhưng trong hơi hướm của nhạc TCS, người Việt vẫn cảm được một tình yêu chân thành với quê hương đất nước. Nhạc của anh là nét nối dài của tình yêu nước thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, còn man mác trong lòng mỗi cá nhân qua từng thế hệ :

Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây
Một bàn cờ thế phút sa tay
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim dáo dát bay
Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây...
[Nguyễn Đình Chiểu: Chạy Giặc ]

Tò le kèn thổi tiếng năm ba
Nghe lọt vào tai dạ xót xa
Uốn khúc sông Rồng mờ mịt khói
Vắng hoe cồn Phụng ủ dàu hoa
Tan nhà cám nỗi cơn ly hận
Cắt đất than ôi cuộc giảng hoà
[Phan Văn Trị: Qua Vĩnh Long]


Và cái tình dân tộc, trăm con của cùng một mẹ:

Lẽ nào ta lại giết ta !
Có đâu lương giáo một nhà hại nhau ?
[Phan Bội Châu: Hải Ngoại Huyết Thư]

Có mưa có gió có trời
Có non có nước có người có ta
Trước sau Nam Bắc một nhà
[Phan Bội Châu: Trùng Quang Tâm Sử]
Tôi có người yêu chết trận Pleimei
Tôi có người yêu ở chiến khu D
Chết trận Đồng Xoài, chết ngoài Hà Nội
Chết vội vàng dọc theo biên giới ...
Tôi muốn yêu anh, yêu Viêt Nam
Ngày mới lớn, tai nghe quen đạn mìn
[TCS: Tôi Có Người Yêu]

*

Ở TCS, ta còn thấy được cái chân tình cao thượng. Những năm đi “học tập" về, nhìn đi ngó lại quanh mình bỗng thấy ban bè lần lượt đi "chui" hết, anh sống trong cô đơn. Nhưng anh biết tìm niềm vui cho mình để sống ["mỗi ngày tôi chọn một niềm vui"], đồng thời quên cái cô quạnh để “lấy câu khẳng khái" mà an ủi người ra đi:

Em ra đi, nơi này vẫn thế
Vẫn có em trong tim của mẹ
Thành phố vẫn có những ước mơ
Vẫn sống thiết tha
Vẫn lấp lánh hoa trên đường đi
[TCS: Em Còn Nhơ’ Hay Em Đã Quên]


Tha thiết đến như vậy, nhưng “vô lượng chúng sinh " đã không hiểu, và nhiều kẻ đã hăng hái đi ném cả một cơn phẫn nộ vào anh. Tuy vậy đồng bào trong nước hiểu đươc. Họ biết trong câu nhạc của anh là cả một tấm lòng vị tha truyền thống của người Việt. Lời anh là lời của một người thân trong gia đình, nhắn nhủ với kẻ đi xa rằng kẻ ở lại bao giờ cũng:

Vẫn để lòng theo người lận đận
Vẫn hằng trông đếm bước "em" đi
[Thê’ Lữ: Giây Phút Chạnh Lòng]


Và đại diện cho cả gia đình là TCS, một người lẽ ra phải được hiểu là đã:

Lấy câu khẳng khái tiễn đưa nhau
" Anh " muốn cho ta chớ thảm sầu
Nhưng chính lòng " anh " đương thổn thức
(Buồn kia " anh " dấu được ta đâu !)
[Thê’ Lữ: Giây Phút Chạnh Lòng]


*

Có lẽ cái lẽ sống là điều quan trọng nhất đối với TCS, còn những thứ khác - như anh vẫn luôn nhận định - đều chỉ là cát bụi . Coi trọng lẽ sống nghĩa là luôn đi tìm một lối sống có ý nghĩa, và làm sao đạt được cái ý muốn đó. Nó chắc chắn không phải sống để :

Nỡ nghe tiếng loạn đem tai rửa
Đành thấy thằng gian để mắt trừng
[tác giả ?]


Biết như thế để hiểu được niềm đaucủa con người mang trong mình một nhân sinh quan rõ rệt về lẽ sống; nhưng lắm khi vì hoàn cảnh, phải đành im lặng, ẩn nhẫn, ngậm ngùi.

*

Ta cần nhớ rằng lịch sử Việt Nam là một lịch sử đầy bao trùm của bạo lực. Trước hết là cái "di sản đắng cay" có từ trước, như anh nói:

Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
[TCS: Gia Tài Của Mẹ]

Mẹ để lại cho con những gì? Chiến tranh do bạo lực bên ngoài mang đến. Chết chóc, lầm than. Bạo lực này lại tạo ra "một lũ bội tình", để chạy theo nó, áp bức anh em mình. Đó là bạo lực bên trong. Hai bạo lực này chung sức nhau tạo trong đầu óc người Việt những mặc cảm tự ti, sợ sệt, ích kỷ, quên tình nguời, hay thù oán vv… Hiện tượng "tha hoá trên chính quê hương mình" hay tâm lý muốn làm "những kẻ đứng bên lề" là những điều phổ biến mà giới trí thức Việt Nam đã nhận định được trong thập niên 1960-1970. [*2].

Đây không phải là một điều mới . Nó manh nha từ thời Tây mới vào, và đã sớm lan tràn từ thời cụ Phan Bội Châu kia . Các cụ goi nó là cái vạ "chết lòng", nghĩa là "xác tuy còn đó " nhưng tấm lòng đã chết. Cho nên mới có Đông Kinh Nghĩa Thục [ĐKNT] và phong trào Duy Tân đi song song với việc vũ trang giành độc lập, để “gọi hồn nước", gọi quốc dân hãy

"bỏ lòng mê lại, bỏ lòng tham đi ".

Vì các cụ thất bại nên cái "vạ chết lòng " còn sống, và khoẻ mạnh thêm ra ! Vì thế muốn sống có ý nghĩa, trước tiên người Việt Nam phải biết "dám " suy nghĩ, trước khi dám có một thái độ, và hành động.

Người cố gắng khơi dậy lại tinh thần của Phan Bội Châu và DKNT cho cả nước có lại "chút thiên lương" là tiên sinh Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Thời của Tiên Sinh, chế độ thực dân Pháp đã thành công lớn trong việc tha hoá người Việt với mơ mộng, theo mới vv… của Tây Phương qua áo quần, kiểu đầu chải bốp, mốt nhảy Tango và say mê những lãng mạn viễn mơ qua Tố Tâm Đạm Thủy , Lan và Điệp, phong trào "Học Kiều" của Phạm Quỳnh, vv… Nhà thơ Tản Đà, trong hình thức lãng mạn thoát ly hầu tránh con mắt dòm ngó của bạo lực - và cũng để làm viên kẹo bọc đường cho đám đông u tối thấy dễ nuốt - đã khéo léo kéo người Việt lại với cái ý thức non nước:

Nước non nặng một lời thề
Nước đi đi mãi không về cùng non
Nhớ lời hẹn nước thề non…
[Thề Non Nước]

Sơn hải hỡi ai lời thệ ước
Gió hiu trăng lạnh tiếng ve sầu !
[Sơ Thu Hoài Cảm]


Hay là

Nọ bức dư đồ ngắm thử coi
Sông sông núi núi khéo bia cười
Biết bao thưở trước công vờn vẽ
Sao đến bây giờ rách tả tơi
Ấy trước ông cha mua để lại
Mà sau con cháu lấy làm chơi
[Vịnh Bức Dư Đồ Rách]


Tản Đà không thành công trực tiếp, nhưng cái hạt mầm Tiên Sinh gieo đã thấm dần qua nhiều thế hệ để sống lại trong một TCS. Nơi TCS, ta có thể thấy được một loại tài hoa trữ tình mênh mông man mác và một ý hướng gắng gỏi rất "Tản Đà". TCS đã có nói về mình: " Tôi chỉ là tên hát rong, đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo" [*3]. Câu này phải được hiểu tương đương với “ta là tiếng kêu trong sa mạc ! " kêu gọi

Hãy yêu nhau đi ( khung trời u tối ) ...
Dù đêm súng đạn, dù sáng mưa bom
[TCS: Hãy Yêu Nhau Đi]

vì - như thế hệ đàn anh của mình - TCS cũng hiểu :

Ngày mai sáng lạn màu non nước,
Cốt nhất làm sao tự buổi này
[Nguyễn Bính: Hành Phương Nam]


Và muốn thế :

Tuổi thanh niên phải đi bằng những bước tiền phong
[TCS: Huê’ Sài Gòn Hà Nội]


Nói cách khác, giống như Tản Đà, TCS đã trang bị tinh thần cho người Việt bằng cách cố gắng làm sống lại cái "thiên lương" trong lòng nguời, và nhắc người Việt suy nghĩ về con người và xã hội . Ta thấy pha lẫn trong cái uyên áo gần như lãng mạn viễn mơ của Gọi Tên Bốn Mùa, Như Cánh Vạc Bay, Ru Em Từng Ngón Xuân Nồng vv... những tác phẩm khác của TCS đều có mang một nội dung tích cực dấn thân theo hướng hiện thực phê phán. Vì nhận định được “thân phận da vàng " của Việt Nam chịu đau khổ do bạo lực chiến tranh, anh chống lại bạo lực, và kêu gọi yêu thương: Hãy biết nhìn lại anh em, tìm hoà bình, thoát cái "u mê nghìn năm ".

Muốn thế, phải có một ước mơ, một niềm tin, một xác định rõ ràng "dân tộc Việt Nam là một " - để biết thương yêu nhau, "lòng Nam trông Bắc, tình dâng trong mắt", và bền lòng chờ tới lúc:

... quê hương sẽ có ngày hoà bình
Máu xương hai miền chung lòng thế giới


Suy nghĩ như thế, và dám công khai lên tiếng, anh có bị quân cảnh Sài Gòn lùng bắt liên tiếp là điều dễ hiểu . Sống trốn chui trốn nhũi, nhưng không vì thế mà TCS bỏ đi những điều ôm ấp của mình.

*

Nhưng – cũng như tất cả chúng ta – anh làm sao biết được đủ mọi thứ? Phải sau 1975 cả nước mới bắt đầu hiểu được những vấn đề xã hội và chính trị ở miền Bắc. Rồi cũng phải rất lâu sau 1975 người người mới hiểu thêm được cái hiện thực khách quan của xã hội nước ta trong gần nửa thế kỷ qua ....

Dĩ nhiên không phải vì thế mà những nhận định và chủ trương của TCS đã không đúng. Nó vẫn cao thượng, vẫn có một giá trị vững chải trong lịch sử của Việt Nam và của nhân loại tiến bộ. Ta thấy được tất cả những điều anh đã làm trước 1975 là việc làm của một sĩ phu Việt Nam sống theo truyền thống yêu nước:

Ở Hán đành lòng phò lợn
Hán Oán Tần ra sức đuổi hươu Tần
Trông Nam chạnh tủi cành hoa ủ
Ngó Bắc ngùi thương đám bạch vân
[Phan Văn Trị : Cảm Hoài]

Và:

Cương thường bởi biết nên mang nặng
Hễ đứng làm trai trả nợ đời
[Nguyễn Hữu Huân: Lâm Thì Cảm Tác]


*

Có thể nói khúc ngoặc quan trọng khác trong cuộc đời TCS là giai đoạn anh đi “học tập cải tạo". Đó là bốn năm “dựa lưng cõi chết", vì chính anh đã kể lại: "làm giữa bãi mìn, lâu lâu có người chết... Có hoài! " [*4] . Lòng anh đối với đất nước như thế, với đồng bào như thế, tại sao anh phải đi “học tập"? Đây là câu hỏi của người người khắp chốn, và cũng của mai hậu: Hà tội kiến di ? [= tội gì mà phải đi đày ?] [*5].

Nhưng hỏi như thế là không nhớ lịch sử Việt Nam: trong rất nhiều năm từ 1975 cho đến khi có “Đổi Mới", [nghĩa là giai đoạn anh đi “học tập"], cái định nghĩa chính thức của yêu nước là phải "Yêu Nước Xã Hội Chủ Nghĩa ". TCS là người yêu nước, điều đó ai cũng biết, nhưng chưa chắc anh yêu XHCN. Mặt khác, anh là người có tài, điều này không ai chối cãi, nhưng Thế Lữ, Quang Dũng, Nguyễn Bính, Văn Cao vv.. đều có tài mà vẫn phải "bị lận đận" thì sao? Vả lại, bên những cái to lớn thường có những chuyện nhỏ đi “ăn theo” - và đố kỵ cá nhân thường là một điều nhỏ nhưng vẫn đủ để làm long đong nhiều tuấn kiệt. Chỉ ví dụ một trường hợp của Quang Dũng thôi: ông “lận đận" chỉ vì tài ông sáng chói và được ái mộ hơn người khác. Sau 1975, một nguời bạn của Quang Dũng đi trong Nam về, vừa gặp anh là reo lên: "bài Đôi Mắt Người Sơn Tây của cậu, trong Nam họ thích lắm. Có tới hai bài phổ nhạc khác nhau, bài nào cũng hay cả ". Quang Dũng lật đật bịt miệng anh bạn lại, bảo nhỏ: "suỵt, nói khe khẽ chứ, kẻo khổ tôi" [*6].

Có lần TCS nói về nhạc của mình: "mỗi câu, mỗi khúc riêng thì không có nghĩa gì, nhưng tất cả hợp lại với nhau thì nó nói lên được một cái gì đó " [*7]. Với cái tài như thế, TCS bao giờ cũng có thể viết được một bản nhạc "có gì mà không có gì", nghĩa là không có gì để "buộc" được anh, nhưng hát lên ai cũng hiểu, và đó là điều tốt cho nghệ thuật mà "không tốt" cho chính trị Phải chăng vì thế nên đã có một cái gì đó cho TCS luôn luôn nhớ mà "tự kiểm duyệt " thì... "tốt nhất"? (!)

Vì nhạc đi vào lòng người dễ hơn cả thơ, mà TCS là người đã dám suy tư, và dám dấn thân ! Bên cạnh cái can đảm ấy, cái tài hoa ấy, họ Trịnh lại có được cả mấy chục triệu “tín đồ” trên suốt hai miền Nam Bắc và bạn bè ái mộ khắp năm châu . Mỗi câu, mỗi chữ mà họ Trịnh viết ra, các “tín đồ” sẽ nhớ kỹ trong lòng ...

*

Kết quả là "Từ ấy" không ai còn thấy những nét hiện thực phê phán trong nhạc TCS nữa, tuy anh vẫn còn sáng tác. Những câu:

Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
Chọn những bông hoa và những nụ cười
Và như thế tôi sống vui từng ngày

là cái thông điệp từ anh, được mọi người – bây giờ và các thế hệ mai sau – xem như là một lời nhắn nhủ rõ ràng dứt khoát. Bởi vì TCS, ngay cả những giây phút cuối nằm trên giường bệnh, vẫn còn nhắc lại [qua phỏng vấn của báo chí tại Sài Gòn ] rằng anh xem sự sống là điều quan trọng nhất trong mọi sự.

Nói cách khác, "Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui" và "Tôi Ơi Đừng Thất Vọng" là thái độ sống của anh trong khoảng 25 năm cuối của đời mình. Trong thời gian này, "Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên" là viên kim cương lớn đầy tình người mà anh đã để lại cho hậu thế.

Như đã nói ở các phần trước, con người của anh không thể là con người sống thờ ơ, quay lưng lại với tiền đồ đất nước và hạnh phúc của dân chúng. Trong 25 năm qua từ 1975, xã hội Việt Nam thay đổi rất nhiều, không phải là anh không thấy: thống nhất nhanh chóng, "Học Tập Cải Tạo" ở miền Nam, vượt biên, "Đánh Tư Sản", chiến tranh Campuchia, Trung Quốc xâm lược, hợp tác hoá nông nghiệp với "nén " rồi "bung" , Nghị Quyết 6, Đổi Mới, khối XHCN tan rã, Mở Cửa Kinh Tế, đầu tư ồ ạt, đốn rừng ồ ạt, bão lụt miền Trung vv... Anh sống với giới văn nghệ sĩ là những người nhạy cảm nhất đối với mọi biến chuyển của thời cuộc, chuyện gì anh lại chẳng biết? Kẻ ở rất xa quê hương mà còn sốt ruột theo những thay đổi lớn này [*8], huống chi anh ở ngay trong lòng quê hương ?

Nhưng TCS đã nói dứt khoát: "Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui", ai còn nỡ bắt anh nói gì thêm nữa ? Có ai trong chúng ta đã lúc nào ngừng nghỉ lại để nghe thêm một lần tiếng hát từ anh:

Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng
Ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì
[TCS: Một Cõi Đi Về]

*

Anh có cái may mắn là gia đình cũng khá giả nên không phải bươn chải kiếm ăn, thành ra không ai có thể dùng trò "thắt bao tử " để lung lay hay ép buộc anh được. Cái tính của anh ai cũng biết rõ ràng: thời trước 1975, thay vì phải trốn chui trốn nhũi, nếu anh muốn có tiền bac và chức tước, với tài năng của mình, ít ra anh không được làm thi bá [hay nhạc bá] để chủ chốt cho một chương trình 1 văn đàn nào đó - thì cũng dễ dàng được cử đi trình diễn ngoại quốc vv… Sẽ có đủ hết, nếu anh chịu đưa ra vài câu tuyên truyền cho giới quyền lực kiểu như " anh là lính đa tình " hay là

Sức mấy mà buồn, buồn ơi bỏ đi Tám
Vào nhập ngũ hết buồn
[Phạm Duy: Sức Mấy Mà Buồn]

Thời sau này, nếu cũng vì danh lợi, anh vẫn có thể có hàng vạn cơ hội để “nổi ”. Nhưng suốt đời anh, TCS đã không bao giờ dùng tài năng của mình để mưu cầu lợi lộc, hay lừa gạt dân chúng bằng cách làm mập mờ lịch sử. Không, anh có một nhận định, một chọn lựa, và sống chung tình với chọn lựa đó.

Việc anh không bỏ nước ra đi cũng là một chọn lựa . Nói như thi sĩ nào đó: "con chim cu gáy nó vốn ở đồng". Không phải là anh không đi được, nhưng anh không muốn đi. Một lần ra tiệm uống cà phê với anh [1981], tôi thấy ông chủ quán đến vồn vã bắt tay anh rồi hân hoan khoe với chú bé bán báo bên cạnh: em biết cậu này là ai không? Anh nói với tôi: "mình sống vì mấy cái tình cảm như thế nàỵ Đi quán này, bà chủ quán múc cho một tô bún ngon hơn, đi chỗ kia, có ông bán hàng đưa tay ngoắc ngoắc. Chứ đi đâu mà được mấy cái đó ".

*

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài . Anh có tài - và sống với quê hương, đồng bào, bè bạn - rất trong sáng, trọn vẹn, nên quần chúng thương anh là một điều tất nhiên. Trong những khó khăn của mọi hoàn cảnh, anh đã sống xứng đáng, chung thủy, chọn lựa được niềm vui cho chính mình và trung thành với điều chọn lựa của mình. Khi anh nằm xuống, quần chúng nhân dân làm một quốc táng cho anh - trong lòng họ và trên thực tế - cũng là điều dễ hiểu :

Làm người trung nghĩa đáng bia son
Đứng giữa càn khôn tiếng chẳng mòn
Cơm áo đền bồi ơn đất nước
Mày râu giữ vẹn phận tôi con
Tinh thần hai chữ phau sương tuyết
Khí phách nghìn thu rỡ nước non
Nhớ chuyện ngựa Hồ chim Việt cũ
Lòng đây tưởng đó mất như còn
[Nguyễn Đình Chiểu]


Anh ra đi, nhưng chúng tôi còn ở lại – luôn luôn nhớ tới anh – và sẽ thuật lại những hoài bảo, những mơ ước của anh. Chúng tôi tin rằng, anh nằm trong đất lạnh nhưng lòng anh không thấy lạnh, vì anh đã gieo hạt mầm tốt trong con tim của cả một dân tộc. Thấm qua bao thế hệ, cái mầm yêu thương - cái tình người - vẫn sẽ còn đó, và sẽ nảy nở, vì nhân tài sẽ phát xuất tự thiếu niên. Nay anh đã ra đi, nhưng "Người đã đi, ngườisẽ tới", đó mới là "Nối Vòng Tay Lớn", phải không anh ?

Văn-Lang Tôn-thất Phương, 05-2001

npttp@yahoo.com.au

****

Chú Thích

Nhà văn Đặng Tiến (hiện ở Paris) cho biết có thể ở tạp chí Bách Khoa (Sài Gòn) số 15-08-1970.
Xin xem loạt sách NHẬN ĐỊNH của giáo sư Nguyễn Văn Trung xuất bản ở Sài Gòn trong khoảng 1965-1970.
Lê Minh Quốc: Giọt Lệ Ru Người (DIỄN ĐÀN, Paris, số 01-04-2001).
Anh nói với tôi vào năm 1980.
Trích từ hai câu trong mật thư của cụ Trần Cao Vân gửi vua Duy-Tân để thuyết nhà vua chống Pháp: "Phụ Hoàng hoàng đế hà tội kiến di, Dực Tôn tôn lăng hà cớ kiến quật".
Hoài Việt: Quang Dũng, Người Và Thơ (Hội Nhà Văn, Hà Nội 1990).
Anh nói với tôi vào năm 1986.
Xin xem Nguyễn Hồi Thủ: Quả Đất – Quê Hương (Chân Mây Cuối Trời, Paris 1999. Tr 9-10).

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
tieng Viet on 10/31/2014(UTC)
phamlang  
#38 Posted : Saturday, November 1, 2014 9:25:07 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

Tình Bạn, Hồi Sinh Cơn Hôn Mê

Đinh Cường


"May thay trong đời vừa có tình yêu vừa có tình bạn. Tình bạn thường có khuôn mặt thật hơn tình yêu. Sự bội bạc trong tình bạn cũng có, nhưng không nhiều. Tôi thấy tình bạn quý hơn tình yêu vì tình bạn có khả năng làm hồi sinh một cơn hôn mê và làm phục sinh một cuộc đời tưởng rằng không còn tái tạo được nữa. "
(Trịnh Công Sơn).

UserPostedImage


Tôi và Sơn cùng tuổi Kỷ Mão. Sơn sinh ngày 28 tháng 2 (bốn năm mới có ngày 29). Theo mấy con giáp Tây Phương thì Sơn con Cá, tôi con Cua. Trở thành bạn với nhau năm 20 tuổi. Lúc tôi ra Huế học Mỹ Thuật, năm 1959. Huế là quê ngoại, và nhà thờ Nội tôi cũng ở đây (làng Nam Trung - những người trong Nam ra Huế làm việc dưới triều Nguyễn). Thời gian này, Sơn cũng vừa từ giã Sài Gòn, từ giã mái trường trung học Chasseloup Laubat (*) mà Sơn đang học năm cuối, classe philo. Để về Huế sống với gia đình.

Những năm sống tự lập, Sơn kể đã trọ tại nhà bác Kỉnh tại Sài Gòn, là gia đình người bạn thân của ba Sơn. Sau khi ba Sơn mất năm 1954 trong một tai nạn xe, khi đang đi vespa. Sơn kể là hồi nhỏ đã từng vào ở trong tù với ba Sơn ở lao Thừa Phủ thời kháng chiến chống Pháp.

Những tối đi chơi khuya về, Sơn thường rủ tôi ở lại nhà, lúc đó là tiệm Thanh Tâm, bán xe đạp ở Ngã Giữa (đường Gia Long, rồi Phan Bội Châu, nay là Phan Đăng Lưu). Tôi còn nhớ rõ, ở chân cầu thang lên lầu, bên vách, Sơn treo bức hình James Dean thật lớn, hình như Lê Vinh vẽ. Lúc đó, Lê Vinh là họa sĩ vẽ phông xi-nê rất giỏi, không ai vẽ đẹp và nhanh bằng - cả Sài Gòn và Huế.

Má Sơn thường nhường cho chúng tôi ngủ trên chiếc giường Hồng Kông rộng, có bốn cột trụ treo mùng bằng sắt đen, chạm trổ... đêm, cứ nằm nói chuyện bâng quơ, không dứt. Chuyện gì cũng tâm sự. Ngay cả chữ ký cũng hỏi nhau. Tôi còn nhớ, Sơn ký nhiều chữ ký, rồi quyết định chọn chữ có gạch ngang chạy dài trên đầu, hỏi tôi chịu không. Tôi nói, gạch ngang phía trên là cao thượng, chịu chứ. Sao ông không vẽ thêm con cá vào cho vui. Thế là Sơn vẽ con cá dưới góc mặt chữ ký, như cái triện của mình. Sơn chỉ vẽ một nét với cái vòng tròn con cá trước mặt tôi, tôi nói ông phải thành họa sĩ mới đúng... Những năm sau này, Sơn thường nói với bạn bè, Sơn vẽ là vì sự kích thích và gần gũi với những nơi chốn mà tôi đặt atelier. " Tôi là khách vãng lai thường trực của atelier Đinh Cường. Đêm cũng như ngày. Thế giới tranh của Cường đối với tôi không có gì xa lạ, bởi vì chúng tôi đã cùng sống trong thế giới ấy từ những ngày lòng chưa hề vướng bận về một tiếng thở dài..." (Trịnh Công Sơn - Thanh Niên số 47, 21.11.1988).

Chữ ký có gạch ngang kéo dài trên đầu và con cá, biểu trưng cho tuổi Sơn, đã theo Sơn suốt từ những sáng tác nhạc, tranh và trên thư từ gởi cho bạn bè. Cho đến gần mười năm sau cùng, Sơn mới đổi chữ ký, bỏ gạch ngang. Ký ba chữ với ba chữ hoa ở đầu, lên xuống tùy theo tâm trạng... " Trong từng giọng nói có màu tàn phai ", nghe Sơn hát đến câu này khi nào tôi cũng thấy rưng rưng, và tôi hay nói với Sơn " có nghe đời nghiêng ".

Đời mới nghiêng thôi mà Sơn đã rơi xuống vực... " Con diều rơi cho vực thẳm buồn theo ". Vực thẳm là tôi, đang âm thầm khóc bạn. Tôi cứ ngồi nhìn qua cửa sổ, khu rừng đàng sau nhà mà nhớ lại bao nhiêu kỷ niệm... " Giữa cuộc đời điên đảo này đây, tôi chỉ còn sống trong vùng kỷ niệm. Lạ lùng thay cho phần số tôi : quân bình giữa cuộc đời này và một cõi đời khác, giữa ranh giới những gì đã qua và những cái nhãn tiền. " (Paul Klee).

Kỷ niệm đã ghi dấu trên từng năm tháng, từng chặng đường. Còn để lại gì.

THỜI XUÂN XANH

Khi tôi ra Huế, thì đã nghe " ba Sơn, ba Hải, ba Hà ", các bạn hay gọi nhau như vậy. Đó là Trịnh Công Sơn, Thanh Hải và Hà Thanh (không phải Thanh Hải hát nhạc Sơn sau này, hiện sống ở Đức). Ba người bạn đã đàn ca với nhau rất sớm, bằng tất cả tấm lòng say mê âm nhạc thuở xuân xanh. Năm 1957, Hà Thanh đã hát trên đài Phát Thanh Huế. Sơn sáng tác những bản nhạc đầu tay và Thanh Hải thì đàn guitare rất bay bướm, hay biểu diễn cho bạn bè xem, đàn ở nhiều vị thế ... Thời đó còn có Đặng Nho thổi clarinette. Hà Thanh là ca sĩ đầu tiên bạn của Sơn và hát nhạc Sơn. Hà có nhiều em gái, Ph. Th. là đẹp nhất. Sơn ngỡ đó là mối tình đầu của mình. Đã ghi trong " Nhật Ký tuổi 30 " - " Thời gian mơ ước được làm người lớn cũng là thời gian của mối tình đầu tiên. Cũng là thời gian được yêu và được nhìn người yêu mình đi lấy chồng. Cuộc tình duyên không cân xứng về tuổi tác nhưng cân xứng về danh vọng và nhan sắc. Điều này đã trở thành cổ điển và không gây thêm được một chút ngạc nhiên nào trong xã hội nho nhỏ của thành phố. Tuy thế, riêng tôi, là một thất vọng không lường được. Sau đó là những mối tình khác nhau nhưng tôi vẫn khó xóa được mặc cảm (tuy càng ngày càng mỏng dần trong tôi) đối với thành phố này ..." (Tuổi Trẻ Chủ Nhật, 8.4.2001).

Đúng là các gia đình Huế thường chọn môn đăng hộ đối, để ý đến bằng cấp khi cưới hỏi cho con. Dạo ấy, Sơn thường rủ tôi đến nhà Hà Thanh ở đường Huyền Trân Công Chúa. Trước mặt nhà là dòng sông bến Ngự, khúc sông gần nhà ga và trường dòng Pellerin. Nhớ là tôi có đem đến tặng Hà Thanh bức tranh vẽ cô gái ngồi trước biển với con dã tràng đỏ, mà Hà Thanh cứ cười : " cổ con gái chi mà dài ngoằn rứa " - cái thời mê Modigliani mà .

Tháng 4 vừa qua, sau hai tuần Sơn mất, bạn bè ở Washington D.C. làm lễ cầu siêu cho Sơn tại chùa Hoa Nghiêm. Cách một tuần sau, Hà Thanh từ Boston lên hát cho ngày lễ Phật đản. Tôi và Hà cùng nhắc lại những ngày xa xưa ấy..., mà " Nắng Thủy Tinh ", " Nhìn Những Mùa Thu Đi ", " Gọi Tên Bốn Mùa " là cảm hứng từ một vẻ đẹp thánh thiện " em đứng lên gọi mưa vào hạ...", để rồi sau đó Ph. Th. đi lấy chồng, là một viện trưởng viện đại Học Huế , rồi Bộ Trưởng Giáo Dục... Sau năm 1975, ở trại cải tạo về, một thời gian thì mất. Ph. Th. ở vậy cho đến nay tại Boston. Là một phụ nữ Huế đoan trang, đức hạnh.

MỐI ĐỒNG CẢM NGHỆ THUẬT

Năm 1958, Trịnh Cung từ Nha Trang ra Huế học Mỹ Thuật. Làm thơ với bút hiệu Thương Nguyệt, trong nhóm bạn thơ Nha Trang, với Thanh Nhung, Cao Hoành Nhân. Những bài thơ tình đầy sương khói Huế.

Sơn đã phổ nhạc bài thơ 4 chữ " Cuối Cùng Cho Một Tình Yêu " của Trịnh Cung, và sửa câu cuối. " Lời ca anh nhỏ, nỗi buồn hôm nay " thành " nỗi lòng anh đây ". Sơn nói, " nỗi buồn hôm nay " có vẽ thời thượng quá. Thật vậy, câu Sơn sửa trong nhạc nghe thật hơn, hay hơn. Sau đó in trong tập nhạc Sơn tự chép tay 1968.

Nguyễn văn Liễu (tên thật) và Thương Nguyệt đã thành Trịnh Cung từ đó.

Tôi về Huế sau Trịnh Cung một năm. Và đã thuê chung với Trịnh Cung nhà ở đường Nguyễn thị Giang, chợ Cống. Căn nhà giữa đồng lúa hoang vắng. Chúng tôi đã vẽ với tất cả " cuồng nộ sáng tạo ". Những bức tranh cực kỳ lãng mạn của thời xanh lam. Năm 1962, Trịnh Cung ra trường, về lại Nha Trang rồi vào Sài Gòn làm việc. Sau đó nhập ngũ...

Tôi, Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường càng ngày càng thân nhau hơn. Tường đã viết những bài ký kể về một " Tuyệt Tình Cốc " (Ngọn Núi ảo ảnh - Thanh Niên 1999). Đó là một căn nhà lá thấp, xưa cổ của ba mẹ Tường trong xóm. Nơi tôi và Tường ở trong sự tịch lặng, thỉnh thoảng bạn bè thân thiết đến chơi, cũng là nơi để tiếp những bạn ở xa về . Như lần tiếp Thế Uyên từ Sài Gòn ra (Thế Uyên lúc đó là nhà văn đang ở trong quân đội, bạn Tường). Sơn đã hát, đã trao đổi những suy nghĩ về một cuộc chiến... Tường đã viết về những ngày Đà Lạt trong mùa lễ Giáng Sinh đáng nhớ nhất của chúng tôi, lần tôi và Sơn đang ở cùng nhau trên cao nguyên một thời gian dài. Thời Sơn dạy học ở Blao. Xe đò thoăn thoắt đi về giữa Blao, Đà Lạt, Đơn Dương... quá thơ mộng và giang hồ. " Những chuyến xe đò thoăn thoắt đi về, nối liền tiếng chim cao nguyên với loài hải âu vùng biển. Rồi lời sóng chưa kịp tan đã vội vàng nghe ra điệu suối. Kỳ thú như một con gió lăng loàn..." (TCS, Thanh Niên, 21.11.1998).

" Đà Lạt, Noël 1965 và Đinh Cường " (Thanh Niên, xuân 1993), và " Căn Nhà của Những Gã Lang Thang " (Thanh Niên, xuân Tân Tỵ 2001), nói về căn nhà nơi Sơn đã ở, có những hàng cây long não mà Sơn đã gửi hồn mình trên những phiến lá ánh bạc mỗi lần ra đứng ngoài bao lơn , nhìn xuống chờ D. đi ngang qua.

Tôi kể lại cũng không bằng Tường. Tường là người bạn một thời tôi gần gũi, tôi hiểu, một người chỉ thích :

Mùa xuân lên đồi cỏ thơm
Mùa hạ nhìn trời mây khói
(Dù Năm Dù Tháng, Người Hái
Hoa Phù Dung, thơ, nxb HNV 1992).

Một người yêu sự mong manh của hoa phù dung, nhớ hoài một màu hoa violette. Luôn giữ tình cảm lãng mạn thuần khiết với đời, với bạn . Mà cứ mãi gặp những oan khiên, hiểu lầm, gán ghép...
Mọi biến cố ở Huế, đều có tôi và Sơn. Từ mùa xuân Mậu Thân 1968. Lúc đó gia đình tôi tản cư về Hồ Mưng, còn gia đình Sơn vào trú trong thư viện Viện đại Học. Sau cái Tết thảm khốc đó, Sơn làm nhiều ca khúc gây những xúc động mạnh (" Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người. ") Bãi Dâu, cái tên nghe đã rờn rợn của những hố hầm chôn người... của bao nhiêu vành khăn tang trắng. Rồi mùa hè đỏ lửa 1972, những ngày trước tháng 4.1975... Huế di tản...

Lần nào Sơn cũng cùng chung lo cho gia đình bạn bè có phương tiện di tản. Nhờ anh Hồ Đăng Lễ đang làm trưởng khu công chánh, giúp cho xe chuyên chở. Việc dựng tượng cụ Phan Bội Châu, Sơn cũng nhờ anh Lễ, khi Lê Thành Nhơn đưa ra ý kiến làm và đúc tượng đồng. Vì Huế còn có Phường đúc, nơi đúc đồng nổi tiếng còn lại. Nhơn ra Huế dạy điêu khắc, có nhiều tâm huyết. Anh Lễ đã xoay xở vật liệu, tài chánh ban đầu để có thể khởi công. Ròng rã nhiều tháng, bao nhiêu công sức. Có lúc phải dở dang vì thiếu phương tiện. Sau cùng cũng hoàn thành. Tượng đúc đồng để mãi tại Phường đúc, đến sau tháng 4.1975, nhiều tiếng nói đóng góp vào, tượng được đem về dựng tại nhà thờ cụ Phan Bội Châu tại Bến Ngự.

Nhắc đến Lê Thành Nhơn, cũng là nhắc đến căn nhà 101 Nguyễn Du, nơi Nhơn ở. Những ngày trước tháng 4.75, Sơn đã đem nhiều thùng sách nhạc mới in xong đến gởi đó. Sơn và Nguyễn Trung có những ngày ở luôn tại đó. Những ngày đầu giải phóng, Sơn đến tìm lấy lại những thùng sách nhạc, thì thấy la liệt trước sân, bị lấy làm vật lấp những vũng bùn. Ứa lệ thay, những ngày đầu của thanh lọc văn hóa. Tranh của chúng tôi còn lại, tại Dolce Vita, gallery nhỏ thuộc khách sạn Continental, cũng bị xe ba gác chở đi vất.

HUẾ, NHÓM BẠN MỘT THỜI, MÃI MÃI


Ban đầu là Sơn, Tường và tôi. Sau có thêm Ngô Kha và Bửu Ý. Tường sau khi làm luận án cao học Triết, đại học Văn Khoa Sài Gòn (giáo sư Nguyễn Văn Trung bảo trợ), về dạy triết trường Đồng Khánh. Ngô Kha sau khi tốt nghiệp đại học sư phạm khóa đầu tiên của đại học Huế (1959), dạy tại Quốc Học. Kha lấy thêm cử nhân Luật (1962). Bửu Ý thì làm trưởng khoa Pháp văn, đại học sư phạm Huế. Chúng tôi thường nói với nhau : có nhạc, có triết, có họa, nay có thơ và dịch thuật nữa thì còn gì hơn. Thật vậy, với tình bạn, với say mê văn chương nghệ thuật, bổ sung cho nhau những kiến thức, chúng tôi đã một thời làm việc đầy hưng phấn. Ngô Kha cho in " Hoa Cô độc ", do Rừng vẽ bìa 1962, gây luồng gió mới cho thơ. Bửu Ý dịch " Vườn đá Tảng " của Nikos Kazantzakis, " Con Lừa Và Tôi " của Ramon Rimenez rất thơ mộng. Tường say sưa với siêu hình học. Còn Sơn và tôi với những quả chín đầu mùaấ: " Diễm Xưa " của Sơn, và " Miền Lệ Xanh " của tôi, được chọn dự triển lãm lưỡng niên họa sĩ trẻ tại Paris, 1962.

Ngô Kha bị công an Huế bắt và bị chết ngay sau khi hiệp định Paris vừa được ký kết 1973 (đến nay vẫn chưa biết đích xác bị chết như thế nào, chưa tìm ra dấu tích).

Thời gian này có thêm Bửu Chỉ. "...Trong những năm chiến tranh ác liệt nhất ở miền Nam, nếu ở địa hạt âm nhạc tôi viết những ca khúc phản chiến và khát vọng hoà bình, thì ở phía hội họa, họa sĩ Bửu Chỉ gần như là người duy nhất vẽ rất nhiều về đề tài chiến tranh và hoà bình. Anh nổi tiếng vào thời ấy với những tranh nhỏ trên giấy vẽ bằng bút sắt với mực đen..." (TCS, Bửu Chỉ Một Cuộc Truy Hoan Vô Tận Về Cõi Vô Thường).

Không khí bạn bè lúc ấy, phải kể anh chị Đỗ Long Vân, từ Pháp về. Anh Đỗ Long Vân từ đại học Sorbonne về dạy đại học Văn Khoa Huế. Đêm nào chúng tôi cũng cùng anh chị Vân, Quỳ đạp xe đạp vào cà phê Dung trong thành nội, ngồi nói chuyện với nhau cho đến khuya. Hai người bạn ngoại quốc nữa là Christian Cauro, dạy đại học Văn Khoa, và bác sĩ Eric Wulff, dạy đại học Y Khoa... Cauro và Wulff hiện ở Paris và ở Đức, vẫn liên lạc với chúng tôi, tình nghĩa như xưa...

VÀI NGƯỜI BẠN GÁI CỦA SƠN MÀ TÔI BIẾT...

Trở thành bạn thân thiết chung của chúng tôi sau đó. Cho đến nay, Tôn Nữ Bích Kh. trong "Biển Nhớ " còn ở Nha Trang, tôi có lần ghé thăm. Hai chị em Bích D., và Dao A., ở California, trong "Diễm Xưa" và "Xin Trả Nợ Người". Tháng cuối cùng trước khi Sơn mất, Dao A. về thăm, suốt tuần sáng nào A. cũng đến ngồi trên chiếc xe lăn của Sơn, chỉ còn biết nhìn Sơn, cho đến chiều tối mới về nhà. Chúng tôi thường đùa với Sơn : "D. xưa, A. nay". Dạo đó, nhà Sơn dọn về ở khu nhà mới xây của Dòng Chúa Cứu Thế, 11/3 Nguyễn Trường Tộ. Địa chỉ của Sơn cho đến sau 75. Hiện nay gia đình Hoàng Phủ Ngọc Tường đang ở : "...Hình như trong mỗi góc đầy bóng tối của căn nhà này, trên chiếc bàn viết gỗ mục của Sơn để lại, và trong chiếc ghế bằng sợi mây hèo to của Cường thường ngày vẫn ngồi vẽ, đều dậy lên mùi hương lặng lẽ của tuổi trẻ chúng tôi. " (HPNT- Căn Nhà của Những Gã Lang Thang - Thanh Niên, xuân 2001).

Căn nhà mang nhiều kỷ niệm của Sơn, nhất là tháng ngày sau giải phóng. Khi cả gia đình Sơn đã ở tại căn nhà mới xây không lâu trước 75, 47C Duy Tân, nay là Phạm Ngọc Thạch, Sài Gòn. Sơn trở lại Huế một mình với bạn bè, sống những ngày đầu sau giải phóng, còn biết bao khó khăn, nghi kị. Sơn vào sinh hoạt tại hội Văn Nghệ Bình Trị Thiên, thường đi lao động chung cùng Bửu Chỉ, khi tại Huế, khi tại Quảng Trị (không hề đi cải tạo hay kinh tế mới ở Khe Sanh như nhiều tin đã viết).

Mỗi đêm, chúng tôi vẫn đến nhà cùng Sơn uống rượu, Lữ Quỳnh và tôi ở trong Thành Nội, đạp xe qua Sơn, Quỳnh thường lấy chai đi mua rượu đế (chai mua hôm trước, hôm sau đến đổi lấy chai mới về). Phần lớn là rượu dổm, vì khan hiếm gạo nếp... còn nghe nói bỏ cả thuốc rầy vào cho trong. Ôi, một thời của những buổi rượu độc hại như thế, mà quây quần và nói cười, vẽ chân dung bạn bè treo đầy tường, nhất là Bửu Chỉ. Phải kể đến người bạn mới quen sau 75 mà chúng tôi rất quý mến: Thái Bá Vân, người viết phê bình nghệ thuật được các họa sĩ nể trọng. Vân mất trước Sơn hai năm, cũng vào tháng 4. Vân đã viết : "...Riêng tôi, mãi sau khi miền Nam giải phóng, nhờ những chuyện dạy học ở Huế, 1978-1981, tôi mới được gần Trịnh Công Sơn, trên căn nhà nhỏ đường Nguyễn Trường Tộ, đầy kỷ niệm với bạn bè trong đó. Niềm an ủi ấy là của hàng triệu người đã khuất, dành cho chúng tôi, và mỗi lần nhớ lại, chúng tôi đều thầm rơi nước mắt. " ( Thái Bá Vân - Tiếp Xúc Với Nghệ Thuật , Viện MTVN 1997).

Chính tại căn nhà này Sơn đã viết bài " Diễm Xưa ", ghi một dấu mốc cho ca từ đầy chất huyền thoại của Sơn "...Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau ". Có lần Sơn bắt gặp một nhánh hoa sầu đông tím cắm trước cửa sổ nhà. Mà còn ai, ngoài cô gái mỗi ngày vẫn đi học ngang qua đó. Tất nhiên là Sơn kể cho tôi ngay với nhiều xúc động. Và, Sơn đã bạo dạn một lần, nhờ tôi đi cùng , qua thăm D., nhà bên kia sông, qua cầu Phú Cam, rẽ mặt, đi một đoạn đường Phan Chu Trinh... Lúc này, tôi cũng đã thuê phòng trọ trong con hẻm đá gần nhà D. và nhà Tuý Hồng (chị dạy Việt văn trường trung học Hàm Nghi, đã viết truyện ngắn đăng ở Bách Khoa, gây chú ý nhiều độc giả). Tường về đó ở chung cùng tôi để đi dạy gần hơn. Tôi còn nhớ nét mặt nghiêm của ông cụ D. , giáo sư Pháp văn trường Đồng Khánh. Ông cụ đã nhìn chúng tôi bằng đôi mắt nghi kị, nhất là Sơn, tóc dài, có râu lưa thưa dưới cằm. Nhưng đã liều thì phải chịu trận. Lúc D. đưa chúng tôi ra cổng, cổng sân là hai liếp cửa gỗ thấp. Còn nhớ rõ là lúc đó, em gái D., còn nhỏ lắm, chạy theo ra nhìn Sơn. Ai ngờ sau này Sơn đã da diết với cái dáng vẻ khoan thai, áo lụa vàng của A. , để rồi, thất vọng, để rồi... hai mươi năm sau mới được : "...Hai mươi năm em trả lại rồi. Trả nợ một đời xa vắng vòng tay ...".

" Biển Nhớ ", hay bóng dáng của Bích K.. Là một giai đoạn ngắn, vì hoàn cảnh và thời cuộc lúc đó. Sơn vào Qui Nhơn nấp dưới bóng trường Sư Phạm. Hè 1962, tôi vào thăm Sơn vì Sơn ở lại, không về Huế. Đêm nào Sơn cũng rủ Bích K. cùng tôi ra biển ngồi đến khuya. Bích K. từ Nha Trang ra Qui Nhơn học, cùng lớp, hay săn sóc cho Sơn, lúc ấy chỉ thấy khi nào Sơn cũng mặt chiếc áo chemise kaki vàng. K. thường đem cà phê đến tặng Sơn. Chúng tôi đã ngồi uống cà phê với nhau dưới mái quán thấp ven biển lợp bằng lá kè. " Biển Nhớ " là cảm hứng từ muôn vàn đợt sóng lấp lánh trong những đêm khuya khoắt ấy, mà Sơn đã kéo cao cổ áo, chợt rùng mình, rồi có một ngày sẽ xa những dấu chân trên cát, có còn " trời cao níu bước Sơn Khê ...". Thời Qui Nhơn này của Sơn phải kể đến " Trường Ca Tiếng Hát Dã Tràng ", mà hè 1964, trong lễ ra trường, Sơn đã dàn dựng cùng bạn bè hát rất thành công. Sơn đã chép tặng tôi mấy trang bản trường ca này. Tôi đem về, dán đầy các ô cửa kính. Tiếc là bây giờ thất lạc, không tìm lại được.

Nhắc đến Sơn - Khê, Sơn hay ghép tên bạn gái vào lời nhạc của mình một cách hồn nhiên như vậy. Như sau này, một cô gái bình thường, có sắc đẹp quyến rũ, ở cạnh nhà Tôn Thất Văn, làng Báo Chí, Thủ Đức. Tôn Thất Văn là họa sĩ vẽ tranh lụa nổi tiếng, bạn thân của chúng tôi. Tuần nào chúng tôi cũng về nhà Văn uống rượu. Sơn đi chiếc xe PC màu vàng cam ... " Cây sẽ cho Lộc và cây sẽ cho hoa. " Lộc là cô láng giềng của Văn mà Sơn đã si tình.

Cũng như " Bống bồng ơi " sau này của Sơn. Bống là tên gọi ở nhà của Hồng Nhung :

Ngày Bống Mẹ bồng
Nhẹ quá tơ tằm
Lay nhẹ bống bồng bông
Lay nhẹ đóa Hồng Nhung.

Và còn nữa, Quỳnh H. của " nụ cười khúc khích trên lưng ", Chu Nguyệt Ng., mà chúng tôi đã sửa soạn đi ăn cưới, Michiko, cô gái Nhật rất thương Sơn, chơi bóng rổ giỏi, đã làm luận án về nhạc Sơn tại đại học Sorbonne, Paris...

ĐÀ LẠT MÙ SƯƠNG 1965

Là những tháng ngày sương khói, lãng đãng nhất. Hình ảnh phải ghi lại kẻo quên, là chiếc khoen tai lớn với mái tóc dài, đang băng qua đồi Cù. Phùng thị L. , hình ảnh của " Như Cánh Vạc Bay " :

Gió sẽ mừng vì tóc em bay
Cho mây hờn ngủ quên trên vai
Vai em gầy guộc nhỏ
Như cánh vạc về chốn xa xôi...


mà tôi đã gặp lại bên này, khi đến Canada, về thăm Ottawa.
" Tóc gió thôi bay " như một âm hưởng của nhạc Sơn khởi đi từ Đà Lạt. Như " Đàn Bò Vào Thành Phố " khởi đi từ B"lao.

Sau triển lãm tranh một mình đầu tiên ở Huế, rồi Đà Nẵng, Noël 1965 triễn lãm tại Alliance Francaise, Đà Lạt. Nơi nào Sơn cũng ở bên tôi . Thời gian này Sơn gặp Khánh Ly, mới hát ở Night Club Đà Lạt. Sau đó về hát với Sơn ở sân trường Văn Khoa, Quán Văn, Sài Gòn, được sinh viên nồng nhiệt tán thưởng.

Đà Lạt, căn phòng tôi thuê ở đường Hoa Hồng. Những chiều chúng tôi thường ra Kiosque cô Ba, gần hồ Xuân Hương, uống bia. Sơn giới thiệu tôi với cô Ba, tôi làm nghề sửa xe, vì tay chân lem luốc sơn màu. Cô Ba thấy chúng tôi còn trẻ, mà chiều nào cũng ra quán ngồi, thắc mắc lắm. Sau đó, khi bày tranh, Sơn nói tôi mời cô Ba đến dự. Lúc đó cô mới ưu đãi chúng tôi hơn nữa. Uống bia nửa giá...

Những đêm khuya Đà Lạt, lúc đó Nguyễn Xuân Thiệp, trung uý, mới nhận chức trưởng đài phát thanh quân đội Đà Lạt, có chiếc jeep, cứ tối xuống là cùng nhau uống rượu, khuya về, lái xe cứ lòng vòng vì say...

Bên cạnh Sơn, còn có em Sơn, Trịnh Xuân Tịnh. Thời ở Đà Lạt, Tịnh là người gần gũi, chăm sóc cho Sơn, lo in và phát hành nhạc, từ những bản nhạc rời cho đến in thành tập. Thời gian đầu tiên đó, tôi luôn vẽ bìa cho Sơn và được " nổi tiếng lây ", khi tờ Le Monde, tờ báo lớn và uy tín của Pháp, có bài của Pomonti viết về Sơn, in kèm cái dessin tôi vẽ Sơn rất kỹ bằng bút sắt, trong tập ca khúc đầu tiên của Sơn được in ra, rất đẹp, nhà xuất bản An Tiêm. Tô Thùy Yên viết bài giới thiệu. Chắc Tịnh không quên được cái đêm Sơn và Tịnh vơ hết tiền của anh em khi Sơn và Tịnh đánh xì tẩy thắng, lận tiền dày cộm trong áo, đi giữa khuya Đà Lạt. Sơn chơi binh xập xám và xì tẩy chì lắm.

TRỞ LẠI SÀI GÒN, THỜI "CẬU"

Còn non choẹt lúc đó, mà đêm nào chúng tôi cũng vào dancing Tự Do, được tài-pán Cường lúc nào cũng ngả người "chào cậu" và luôn dành cho cái bàn nhỏ trên lầu. Sơn nhảy bebop bay bướm và thích nhất điệu này. Những đêm đi phòng trà thường có cả Trịnh Cung, lúc đó, đang thuê căn phòng trong khu phố sau chợ Trương Minh Giảng, cạnh phòng Huy Cường, tài tử xi-nê đang ăn khách. Có những đêm tôi và Sơn lên Trịnh Cung chơi, vì hết tiền. Đang ngồi lơ mơ với nhau, đã khuya, mà có người gõ cửa mua tranh. Cung bán được tấm tranh, chúng tôi lại xuống phố...

Sơn có những cuộc si tình kỳ lạ. Kỷ niệm si tình đáng nhớ nhất, là không biết Sơn mua chiếc nhẫn bằng platine bạc lúc nào, đeo ở ngón tay. Đêm đó, sau khi nhảy xong - thường là với Dung và Thanh Thúy Tàu (vì cô lai Tàu, và để phân biệt với ca sĩ Thanh Thúy), Sơn nói là có món quà tặng Thúy, chốc nữa về sẽ trao. Khi ra khỏi cửa phòng trà, giữa khuya, đi một đoạn đường Tự Do, thì Sơn nói Thanh Thúy nhắm mắt lại, Sơn lấy chiếc nhẫn đeo vào ngón tay đeo nhẫn cưới của Thanh Thuý, làm Thanh Thúy cảm động, bỏ chạy tới trước, chiếc robe trắng tung bay trong phố khuya...

Đêm trên phố khuya ấy là một kỷ niệm đẹp. Trong chúng ta, ai mà không có những góc phố kỷ niệm:

Níu vai phố rộng xin về
Với cây gió trút với hè nắng rưng
(Bùi Giáng)

Với Sơn thì:

Về trên phố cao nguyên ngồi
Tiếng gà trưa gáy khan bên đồi


như còn nghe rõ "ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì" của chúng tôi trên phố Blao, Đơn Dương, Đà Lạt ...

Năm 1965, có lẽ là năm tháng đáng ghi nhớ nhất của tôi và Sơn. Sơn được các bạn ở Sài Gòn tổ chức buổi ra mắt đầu tiên trước quần chúng tại khu đất trống sau lưng trường Văn Khoa Sài Gòn cũ (nay là Thư Viện Quốc Gia). "...Với tôi, đây là buổi thể nghiệm xem mình có thể tồn tại trong lòng quần chúng được không. Trước mặt đám đông đến mấy nghìn người gần đủ thành phần văn nghệ sĩ, trí thức, học sinh, sinh viên, tôi cảm thấy mình quá trơ trọi và đầy lo âu trên bục gỗ với cây đàn guitare dưới ánh sáng đèn... Buổi hát đã để lại một ấn tượng khá tốt đẹp cho người trình bày lẫn người nghe..." (TCS) Còn tôi có cuộc bày tranh Noël ở Đà Lạt với đông bạn bè lên dự, có cả Phạm Duy, Nguyễn Văn Trung, Đỗ Long Vân, Tôn Nữ Kim Phượng, Christian Cauro... Tôi, Sơn và Tường không còn gì hạnh phúc hơn tình bạn... Phòng tranh này tôi đề tặng Tuyết Nhung...

THỜI GIAN XA BẠN

Tôi có 15 năm sau giải phóng, còn ở lại cùng Sơn. SàiGòn - Huế - Hà Nội. Cùng gặp những người bạn vong niên rất quý : Nguyễn Tuân, Văn Cao, Bùi Xuân Phái, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Phùng Quán, Thái Bá Vân... Các anh Tuân và Văn Cao thân thiết với Sơn nhất. Đến chơi với Sơn cũng là đến với bạn bè Sơn, vì lần nào Sơn cũng gọi chúng tôi đến cùng uống rượu. Sơn và Văn Cao có dáng dấp giống nhau. Người gầy, hai bàn tay ngón dài tài hoa. Thơ, nhạc, vẽ đều tài hoa. Hoàng Ngọc Hiến đã tiến cử một bài thơ tình hay nhất của thế kỷ, nhân một nhóm những người yêu thơ yêu cầu, đó là lời của bài nhạc " Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ ". Tôi cũng đồng ý như vậy. Mấy năm ở Sài Gòn, tôi có vẽ bức sơn dầu " Bỏ Tôi Đứng Bên Đời Kia ", cảm xúc từ mấy câu của Sơn :

Lòng tôi có đôi lần khép cửa
Rồi bên vết thương tôi quỳ
Vì em đã mang lời khấn nhỏ
Bỏ tôi đứng bên đời kia.


Sau đó bán cho người khách đem về Nhật. Tháng trước khi Sơn mất, tôi còn gọi điện thoại về đùa với Sơn : Hoàng Ngọc Hiến bình chọn ông có bài thơ tình hay nhất thế kỷ, bây giờ mình sẽ bình chọn ông là người vẽ hay nhất của thế kỷ. Sơn cười khoái chí, nói, đừng nói vậy mà người ta ghét. Sơn sợ người ta ghét lắm. Vì Sơn chẳng ghét ai bao giờ. Thây kệ (không phải thôi kệ) là chữ Sơn hay nói khi có ai xấu với mình...
Tôi cùng gia đình qua Mỹ cuối năm 1989. Những ngày đầu năm 1990, Sơn đã viết thư chia xẻ với tôi những lo toan lúc ban đầu khi đến Salt Lake city, tiểu bang Utah : " Mình nghĩ ban đầu có khó khăn, nhưng dần dà rồi đâu cũng vào đấy cả. Lẽ ra cái tuổi bọn mình, phải bắt đầu nhàn thì bây giờ chỉ mới khởi công. Cũng gay go thật. Chúc tất cả hãy can đảm và thiền trước mọi cảnh đời đa đoan phức tạp " (trích thư Sơn, 5.3.1990).

Hai năm sau, đang nhớ bạn, thì Sơn nhắn, sẽ qua Montreal, Canada thăm gia đình các em. Lúc đó là tháng 3.1992, Canada còn tuyết nhiều. Tôi qua thăm Sơn ngay, có gặp cả Khánh Ly. Lại suốt ngày lang thang ở phố thị, St. Laurent, Duluth, ... Sơn cứ chỉ bảng số xe của Canada có hàng chữ " Je Me Souviens " mà nói : thành phố này có tình. Có đêm vào quán nhạc Jazz nổi tiếng vừa uống rượu vừa nghe đàn. Tôi vẫn mê tiếng đàn trầm contrebasse. Sơn thì saxophone. Sau đó về nhà ngồi uống rượu tiếp đến 2, 3 giờ sáng và vẽ. Sơn thích vẽ trong những lúc thấm rượu và khuya khoắt như thế. Lần đó Sơn hát cho tôi nghe " Tôi Ơi Đừng Tuyệt Vọng " . Tôi thật sự xúc động, khi nghe câu : " Con diều rơi cho vực thẳm buồn theo ". Tôi cứ thầm hát cùng Sơn câu này. Nét phóng bút của lời nhạc Sơn chép tặng tôi, vẫn treo trên cánh cửa từ ngày Montreal về cho đến nay, mới đó mà đã gần 10 năm.

HỘI HOẠ, GIẤC MỘNG KHÔNG BỜ BẾN CỦA SƠN

Đến với nhạc Sơn là đến bằng linh cảm, bởi vì tâm hồn Sơn là một tâm hồn nhạy bén không cùng, với hội họa cũng vậy. Sơn cũng vẽ dễ như nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát nói : " Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra ".

Không gian tranh của Sơn bao giờ cũng dở dang, nhưng lại đầy tinh khiết, sáng tạo : " Nghệ thuật dạy cho tôi biết biên giới của hữu hạn và sự vô cùng. Riêng trong hội họa tôi còn bắt gặp thêm cái không bờ bến của một giấc mộng tự do tinh thần. " Sơn phát biểu như một tuyên ngôn nghệ thuật. Tranh Sơn thanh thoát đến hư tưởng. Người xem thấy tâm hồn mình nhẹ nhàng, khác với những " lời ca thơ " đầy nước mắt của Sơn " tôi không thể phân biệt được nước mắt với âm nhạc " (Nietzsche).

Những hình thể mảng màu trong tranh xếp đặt ngộ nghĩnh và đầy suy tính, lại rất đúng với nguyên lý của nghệ thuật mới. Những họa sĩ chuyên nghiệp đôi lúc cũng ngợ tay, khó bóp méo hình thể và sắp xếp không gian được như vậy.

Sơn rất giỏi về nắm bắt những nét đặc trưng khi vẽ chân dung, nhất là chân dung những người bạn thân thiết. Sơn vẽ nhiều chân dung Văn Cao rất đẹp. Lột tả được nét tinh tế trên từng khuôn mặt. Chân dung thiếu nữ như chân dung Linh Đan, chân dung M., là những bức tranh đẹp nhất của Sơn.

Nguyễn Trung đã viết " hôm nay chúng ta nói về Trịnh Công Sơn họa sĩ. Michel Ragon, nhà lý thuyết người binh vực nghệ thuật mới, nghệ thuật trừu tượng, có viết rằng trong thời đại chúng ta, không còn những họa sĩ vẽ chơi (peintre du dimanche) nữa. Rất đúng với Trịnh Công Sơn. Anh mới vẽ một vài năm nay và đã trở thành họa sĩ thực thụ " (phòng tranh ĐC, ĐQE, TCS, Sự Phối Hợp Thú Vị Của Ba Tính Chất Khác Nhau, Tuổi Trẻ CN, 5.1.1989).

Đó là lần bày tranh tại nhà hữu nghị Tiệp Khắc 1989. Tôi, Đỗ Quang Em và Sơn. Trước đó, năm 1988, một phòng tranh tại nhà Sơn của Tôn Thất Văn, Sơn và tôi, cũng rất thành công.

HÃY TRỞ LẠI, SƠN ƠI

Lần cuối cùng tôi và Sơn còn bên nhau là tháng 8, năm 2000. Mùa hè tôi từ Virginia về ở tại nhà Sơn một tháng, trưa chiều đều ngồi với nhau ở căn phòng đầy hơi hướm bạn bè tứ xứ của Sơn. Cái mặt bàn tròn là thân cây đại thụ chở từ Campuchia về, bốn chiếc ghế mây, và một dãy ghế để cạnh. Cái thùng ván thông lớn, trang trí đầy màu sắc, đựng những chai rượu chát. Chiếc đàn piano đen ám bụi, đống màu dầu và acrylic để trong góc. Tranh dựng, treo ngổn ngang. Sơn đã vẽ tại đây, hát tại đây. Xấp bản thảo nhạc là những tờ giấy rời luộm thuộm. Cuốn sổ ghi địa chỉ và số phone úa vàng, Sơn đã ghi chú chi chít trên đó. Mấy năm sau này, Sơn đã bỏ hẳn thuốc lá, chỉ còn uống ít rượu. Đang uống Black Label nhãn đen.

Cuộc bày tranh chung giữa ba người bạn : Trịnh Công Sơn, Bửu Chỉ và tôi tại gallery Tự Do (từ 20.8 - 3.9.2000) mà Sơn đã tự mình phát biểu : " Nghệ thuật đích thực là một thứ thông điệp còn lại sau cùng , khi mọi hình thức tồn tại khác đã mất đi . "

Là cuộc chơi cuối cùng sao Sơn ?

Tôi trở lại Mỹ, chỉ mới bảy tháng sau mà Sơn đã bỏ tôi ở lại bên đời.

Tôi thấy lòng đau và buồn bã. Lúc gần ba giờ sáng bên này, có tiếng điện thoại reo. Tôi biết là tin dữ.

Tháng 4. Mùa xuân bắt đầu, hoa rực nở , mà lòng tôi chùng xuống lạnh tăm. Như trở lại với màu xám chì của mùa đông dài tuyết phủ vừa qua.

Suốt hơn cả tháng nay, tôi còn như thảng thốt. Tình bạn có hồi sinh được cơn hôn mê không Sơn. Hãy trở lại và ra dấu, như Bửu Chỉ đã nhắn, để chúng ta lại nhận ra nhau, lại ôm choàng lấy nhau mà khóc.

Đinh Cường

Edited by user Saturday, November 1, 2014 9:32:58 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
CatLinh on 11/3/2014(UTC)
CatLinh  
#39 Posted : Monday, November 3, 2014 1:01:57 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
NGHE ne`, nghe hoai` nghe wi~.Boo hoo! Boo hoo! Whistle Dancing Boo hoo!
Đâu có ngáng ai mà không dám nghe, không dám post nhạc TRịnh Công Sơn.. FlapperRollEyes RollEyes ::: Sneaky ...CHICKEN! Brick wallRazz

Bravo Asia.Applause Applause TDancing hank u Asia, Exellente! ThumpUp ThumpUp LOLLOLWhistle Applause Dancing

Hợp ca Asia - LK Trịnh Công Sơn & Vũ Thành An

AsiaDVD57 Thế giới tình yêu (2008)Applause Applause

Whistle Dancing Môi nào hãy còn thơm, cho ta phơi cuộc tình.
Tóc nào hãy còn xanh, cho ta chút hồn nhiên
Tim nào có
bình yên, ta rêu rao đời mình
Xin người hãy gọi tên.
Khi tình đã vội quên, tim lăn trên đường mòn
Trên giọt máu cuồng điên, con chim đứng lặng câm
Khi về trong mùa đông, tay rong rêu muộn màng.
Thôi chờ những rạng đông.. Ru mãi ngàn năm giòng tóc em buồn
Bàn tay em năm ngón ru trên ngàn năm
Trên mùa lá xanh ngón tay em gầy
Nên mãi ru thêm ngàn nămThôi ngủ đi em, mưa ru em ngủ
Tay em kết nụ, nuôi trọn một đời
Nuôi một đời người
Mùa xuân vừa đến xin mãi ăn năn mà thôi...
Ru mãi ngàn năm từng ngón xuân nồng
Bàn tay em năm ngón anh ru ngàn năm
Giận hờn sẽ quên
Dáng em trôi dài trôi mãi trôi trên ngàn năm...Ôm lòng đêm
nhìn vầng trăng mới về
nhớ chân giang hồ
ôi phù du
từng tuổi xuân đã
già
một ngày kia đến bờ
đời người như gió qua
Không còn ai
đường về ôi quá dài
những đêm xa người
chén rượu cay
một đời tôi uống hoài
trả lại từng tin vui
cho nhân gian chờ đợi Ngày mai em đi
thành phố mắt đêm đèn vàng
nửa bóng xuân qua ngập ngừng
nghe trời gió lộng mà thương. Mai rồi ngọt bùi sẽ chia
Nâng niu cô đơn từng ngày
Xoa tay khi em vào đời
Mà đời còn nhiều đắng cay
Hãy đến chia nhau nghèo khó
Quên lo tương lai mịt mờ
Hãy cố yêu người mà sống
Lâu rồi đời mình cũng qua
Lâu rồi đời mình cũng qua
Xin em đôi tay nuột nà
Xin em đôi môi thật thà
Thật thà chịu nhiều xót xa Đêm vỗ về nuôi nấng
Đêm trao ngọt ngào hương phấn
Buông lơi dòng tóc mỡ
Trên vùng ngày tháng vật vờ.
Thân em rồi hoang phế
Lê theo thời gian giông gió
Thôi cũng đành cúi xuống
Cho mộng đời thoát đi Mai rồi ngọt bùi sẽ chia
Nâng niu cô đơn từng ngày
Xoa tay khi em vào đời
Mà đời còn nhiều đắng cay
Hãy đến chia nhau nghèo khó
Quên lo tương lai mịt mờ
Hãy cố yêu người mà sống
Lâu rồi đời mình cũng qua
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 11/8/2014(UTC)
phamlang  
#40 Posted : Saturday, November 8, 2014 11:16:32 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Triết học nhẹ nhàng trong nhạc Trịnh


Dưới đây là một bài viết về âm nhạc Trịnh Công Sơn qua cái nhìn tinh tế, thấu hiểu của John C. Schafer - một người Mỹ mà qua con đường nghiên cứu và tiếp xúc văn hóa đã trở về với văn hóa Việt.

Đạo Phật với Trịnh Công Sơn là hơi thở là triết học làm cho con người yêu đời hơn chứ không phải là lãng quên sự sống.

Đạo Phật đến với Ông qua nếp sống gia đình, và rồi đi vào âm nhạc của ông ngày càng sâu sắc hơn qua sự trải nghiệm thăng trầm giữa cuộc đời này.

Trịnh Công Sơn có viết: "Tôi vốn thích triết học và vì thế tôi muốn đưa triết học vào những ca khúc của mình. Một thứ triết học nhẹ nhàng mà ai ai cũng có thể hiểu được". Bài này sẽ trình bày rằng thứ "triết học nhẹ nhàng" này chính là triết học Phật giáo.

Trong Tứ Diệu Đế của đạo Phật, chân lý đầu tiên là khổ đế.Khổ đế là một đề tài rất phổ thông trong nhạc Trịnh Công Sơn: Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người, ông đã hát trong Gọi tên bốn mùa. Cuộc đời đầy khổ và buồn vì không có gì trường cửu cả. Theo Kinh Kim Cương, Tất cả các pháp hữu vi là “như sương mai, như ánh chớp”. Đây là một ý niệm mà Trịnh Công Sơn đã nhắc đi, nhắc lại trong nhiều lời ca của mình. Giống như con chim ở đậu cành tre và một con cá . . . trong khe nước nguồn, không ai trong chúng ta là những người định cư vĩnh viễn, tất cả đều là những người ở trọ trần gian này. Trong khi tạm cư ở chốn trần gian này chúng ta tìm chỗ ẩn náu trong tình yêu, nhưng rồi tình yêu cũng mất đi.

Tình yêu như tất cả mọi sự khác đều vô thường như Trịnh Công Sơn đã viết trong bài Đóa hoa vô thường và nhiều bài ca khác.Các bài tình khúc của Trịnh Công Sơn là những lời tuyên bố siêu hình rằng những đổ vỡ tình yêu không phải là những chông gai nho nhỏ trên con đường đời đẹp đẽ vô song. Các bài tình khúc của Trịnh Công Sơn, như Hoàng Phủ Ngọc Tường nói, là những “bài kinh cầu bên vực thẳm”.Các bài ca này là những lời nhắc nhở cho chúng ta về lẽ vô thường.

Một đề tài Phật giáo khác trong nhạc Trịnh Công Sơn là thuyết luân hồi. Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi / Để một mai tôi về làm cát bụi, ông hát trong Cát bụi. Hay Ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ khô, trong Rừng xưa đã khép. Trong các ca khúc của mình Trịnh Công Sơn có vẻ đồng ý với đạo Phật rằng “Hiện tại là hình bóng của quá khứ và tương lai là hình bóng của hiện tại”.

Trịnh Công Sơn cũng tỏ ra chấp nhận thuyết luân hồi của nhà Phật trong những câu mà Trịnh Công Sơn đã làm nhòa nhạt biên giới giữa đi và về, như trong bài Phôi pha:Có những ai xa đời quay về lại / Về lại nơi cuối trời. Nếu chết là để đi đến tái sinh thì khi ta ra đi nghĩa là ta trở lại.Nhìn sống và chết cũng như nhìn nước chảy trên sông và tự hỏi nước đang ra đi hay nước đang trở về.Đó là ý của Trịnh Công Sơn trong Gần như niềm tuyệt vọng: Những ngàn xưa trôi đến bây giờ / Sông ra đi hay mới bước về.

Theo đạo Phật không có cái ta trường cửu nhưng mà có một chút gì trong cái ta đã mất được tiếp nối trong cái ta tái sinh. Quá trình này thường được so sánh như khi ta thắp một cây nến từ một cây nến khác, có cái ra đi và cũng có cái trở lại, một cõi đi về như Trịnh Công Sơn đã viết trong bài ca cùng nhan đề.

Một ảnh hưởng khác của Phật giáo trong ca khúc của Trịnh Công Sơn là sự mập mờ và siêu lý luận của các câu văn.Nhạc, lẽ dĩ nhiên là tiếng nói của con tim không phải là của lý trí nhưng sự xác định này cũng chưa đủ dể giải thích tại sao Trịnh Công Sơn có vẻ như không muốn làm cho lời ca rõ ràng.Tôi nghĩ rằng đây là ảnh hưởng của Phật giáo, rằng người ta không thể chỉ ngồi mà lý luận để đi đến một sự bình an cho tâm hồn, rằng ý niệm giác ngộ vượt qua biên giới của ngôn ngữ và lý luận.

Cái mập mờ danh tiếng của Trịnh Công Sơn là do sự phá bỏ biên giới giữa các điều mà chúng ta thường xem là khác biệt, một phương pháp mà Cao Huy Thuần gọi là “đối hợp”. Trịnh Công Sơn hay dùng lối văn đối nghịch, một nghệ thuật ngôn ngữ hay dùng để nhấn mạnh sự khác nhau của hai điều, nhưng ngược lại, Trịnh Công Sơn hay đem đối nghịch làm trùng hợp như trong các câu này: Tình không xa nhưng không thật gần; Không xa đời và cũng không xa một người; Một phố hồng một phố hư không.

Trịnh Công Sơn giống như một nhà thiền sư phủ nhận rằng tuyết thì trắng, quạ thì đen, với mục đích nói lên rằng muốn giác ngộ thì phải tránh xa cái đối lập giữa “có” và “không” để thành một tổng thể hài hòa. Lời ca của Trịnh Công Sơn giống như các công án trong Phật giáo, chẳng hạn như công án nổi tiếng nói về lắng nghe tiếng vỗ của một bàn tay, và cũng giống như công án, bài hát của Trịnh Công Sơn không thể giải thích được bằng đầu óc.

Khi nói về triết lý trong nhạc Trịnh Công Sơn chúng ta cũng cần nói tới ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh nữa. Các bạn thân của Trịnh Công Sơn xác nhận rằng, ông cũng như một số đông các nhà trí thức miền Nam vào cuối thập niên năm mươi và đầu thập niên sáu mươi, rất bị lôi cuốn bởi chủ nghĩa hiện sinh.

Thái Kim Lan bảo rằng: ở Huế hồi đó nhiều người nói về lo âu (angst), hư vô (nothingness), nôn mửa (nausea) và nỗi hoài công phi lý của Sisyphus.Nguyễn Văn Trung hồi đó mới từ Bỉ về, theo Bửu Ý là “nòng cốt” của các cuộc tranh luận về triết lý tại Huế.Nguyễn Văn Trung viết nhiều bài về hiện sinh và đăng trong tạp chí Đại Học, do ông làm chủ nhiệm.

Các bạn của Trịnh Công Sơn bảo rằng ông rất ham đọc sách của Camus về huyền thoại Sisyphus.Các bạn này cũng bảo Trịnh Công Sơn rất thích các phim trong đó có tài tử James Dean đóng vai của một người lưu lạc cô đơn.Chúng ta thấy hình ảnh chàng cô đơn này trong nhiều bài của Trịnh Công Sơn trong đó có bài Dã tràng ca. Trong bài này Trịnh Công Sơn muốn so sánh mình với Sisyphus, qua một hình ảnh đã được Việt Nam hóa là con dã tràng suốt ngày “xe cát biển đông” trong Nghe thân lưu đày.

Trong cuốn Huyền thoại Sisyphus, Camus nói: trong cái thế giới phi lý này, chúng ta thường hay bị quyến rũ bởi hai cách trốn thoát: một là tự vấn thân xác, hai là tự vẩn triết lý, tức là nuôi dưỡng niềm hy vọng rằng mình sau này khi chết đi sẽ được lên chốn thiên đàng vĩnh cửu.Theo Camus, chúng ta phải từ chối hai con đường giải thoát này và phải chọn một con đường khác: con đường chống đối thế giới phi lý này giống như nhân vật Sisyphus trong huyền thoại vậy.

Ông Nguyễn Văn Trung đã giải thích thuyết của Camus theo một cách khác.Ông viết về tự vẫn triết học như thế này:“Hy vọng một đời khác, hoài niệm một quê nhà sau tù đầy là một cách phủ nhận tình trạng phi lý khác, mà không chấm dứt được phi lý.Camus gọi những giải pháp thoát ly đó là một tự vẫn triết lý (Suicide philosophique)”. Nguyễn Văn Trung cho rằng, theo Camus, chúng ta phải chấp nhận rằng “Tù đày chính là quê nhà”.

Rất có thể Trịnh Công Sơn đã bị ảnh hưởng của Camus qua cách giải thích của Nguyễn Văn Trung.Giáo sư Trung đã Việt Nam hóa lý thuyết về lưu đày và thiên đàng vĩnh cửu của Camus. Lời giải thích của Nguyễn Văn Trung đã làm lẫn lộn hoài vọng về một cõi thiên đàng trong kiếp sau với hoài vọng về quê nhà.

Trịnh Công Sơn quả thật đã bị lôi kéo từ hai dòng lực tù đày và quê nhà.Nhiều đêm muốn đi về con phố xa / Nhiều đêm muốn quay về ngồi yên dưới mái nhà, ông đã hát trong Lời thiên thu gọi. Nhưng vì đã được uốn nắn trong một nền văn hóa mà trong đó tình yêu quê nhà đóng một vai trò rất mạnh, Trịnh Công Sơn đã không do dự chọn quê nhà.Ông đã hát Chân đi xa trái tim bên nhà, trong Có nghe đời nghiêng và Tìm thấy nỗi nhớ từ mỗi chiếc lá / Góc phố nào cũng thấy quê nhà trong Tình yêu tìm thấy.

Do đó ta thấy Trịnh Công Sơn không chấp nhận sự nổi loạn chống lại thế giới phi lý như Camus đã cổ võ.Trịnh Công Sơn không thể nào chọn lưu đày làm nơi quê nhà. Tù đày theo Trịnh Công Sơn không phải là sự nổi loạn hiện sinh mà là sự nhìn nhận của một người con Phật trước nỗi khổ và tính cách tạm bợ của cuộc đời: Còn bao lâu cho thân thôi lưu đày chốn đây Trịnh Công Sơn hỏi trong Phúc âm buồn. Còn bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này.

Hiện sinh khuyến khích cá nhân đứng lên một mình để chống lại xã hội và văn hóa. Phật giáo, ngược lại, dạy thuyết vô ngã, dạy rằng không có gì khác biệt giữa ta và tha nhân, rằng mọi sự mọi việc trên đời đều hỗ tương ảnh hưởng vào nhau. Tôi tin rằng Trịnh Công Sơn có ý nói đến thuyết vô ngã trong các bài ca của ông.Ông có nói đến “phụ người” như trong bài Ru em nhưng cái buồn của ông thật ra cũng là cái buồn của nhân thế. Yêu em yêu thêm tình phụ / Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ (Ru em). “Từ bi” có nghĩa là tâm từ (maitri) và tâm bi (karuna), hai đức hạnh mà theo Phật giáo mình nên tu dưỡng.

Lúc mới bắt đầu sự nghiệp, Trịnh Công Sơn cũng như nhiều thanh niên trí thức khác tại miền Nam, thích bàn luận về thuyết hiện sinh.Triết lý nói chung và thuyết hiện sinh nói riêng hồi đó là một đề tài rất phổ thông trong giới trẻ. Các bài hát đầu của Trịnh Công Sơn đã đáp ứng được nguyên vọng này của giới trí thức miền Nam.Phật giáo và hiện sinh quả thật có gần nhau ở một vài điểm.Cả hai đều tin rằng con người phải đối diện với cái chết và với ý niệm hư vô trước khi có thể thực sự sống một đời sống đích thực.

Trịnh Công Sơn lúc mới vào nghề nổi tiếng vì đã “chịu chơi” với thuyết hiện sinh nhưng theo tôi Trịnh Công Sơn đã sáng tác nhạc của mình dựa trên các đề tài của Phật giáo.Nếu hồi đó ít ai để ý tới cái tính cách Phật giáo trong các bài của ông, có thể là vì Phật giáo và hiện sinh gặp nhau ở một vài điểm và người ta chỉ để ý đến khía cạnh hiện sinh mà thôi.Tuy nhiên lý do chính vì sao Trịnh Công Sơn vẫn tiếp tục thành công trong một thời rất dài là vì những ưu tư có tính cách rất Phật Trịnh Công Sơn đã gởi gắm trong lời ca của mình.

Nghe nhạc Trịnh Công Sơn đối với nhiều người Việt cũng gần giống như nghe một câu kinh. Nhạc Trịnh Công Sơn khó hiểu nhưng lời ca của ông có khả năng xoa dịu những tâm hồn bị dao động.

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Users browsing this topic
Guest (4)
7 Pages<1234>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.