Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

7 Pages«<4567>
Options
View
Go to last post Go to first unread
phamlang  
#101 Posted : Saturday, October 17, 2015 7:30:18 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
October 2, 2015

NHỚ MỘT NGƯỜI TINH QUÁI


UserPostedImage


Hồi còn đi học, tôi có mấy cái hộp giầy bằng các tông để trên nóc tủ sách, mỗi lần nhận được thư từ gia đình, bạn bè… đọc xong tôi đều bỏ vào đó. Những bức thư cứ đều đặn tới và tất cả được giữ lại trong những cái hộp giầy ấy. Một hôm tôi viết vài chữ trên chiếc hộp đựng thư để phân biệt chúng với những hộp đựng các thứ giấy tờ khác. Tự nhiên không hiểu tại sao tôi lại viết xuống hai chữ “thư nhà” trên những cái hộp giầy đựng những lá thư của gia đình và bạn bè từ Việt Nam gửi sang. Đáng lẽ tôi đã có thể viết “thư gia đình” hay “thư Việt Nam”. Nhưng không biết tại sao tôi lại viết thành “thư nhà”. Nghe “thư nhà” tôi thấy nó thân tình hơn, gần gũi hơn là những chữ kia. Những bức thư nhận được từ nhà, từ những người bạn ở cái thành phố thân quen đó.

Một thời gian sau, tôi không nhớ là bao nhiêu lâu, kể từ lúc tôi đặt tên cho mấy cái hộp giầy đựng những thư từ của gia đình và bạn bè, thì một người bạn gửi cho qua đường bưu điện một cuốn sách của Võ Phiến có tên là Thư Nhà vừa được xuất bản. Đó là năm 1962.

Những bức thư mang dấu bưu điện Việt Nam hồi đó, đến bây giờ, sau nửa thế kỷ, tôi vẫn còn giữ và vẫn gọi chung chúng là “thư nhà”, cái tên Võ Phiến đặt cho cuốn sách của ông và tôi vô tình chọn để gọi chung những lá thư nhận được từ quê nhà.

Những gần gũi với tác giả của Mưa Cuối Năm, Nửa Đêm Trăng Sáng … cũng bắt đầu từ đó. Bạn tôi gửi cho tôi gần như tất cả những tác phẩm của Võ Phiến xuất bản ở Việt Nam. Phải nói ngay là những cuốn sách đó đã ảnh hưởng không ít tới đầu óc, cảm quan của một thanh niên mười chín hai mươi vừa rời trung học. Tôi đọc ông với một thái độ hệt như người đọc kinh thánh, nhưng không như người bị bịt mắt dẫn đi. Đó là suốt những năm đầu của thập niên 60. Rồi sau đó tôi về nước, và trong công việc hàng ngày, khi có dịp tôi vẫn đọc ông, mãi cho đến năm 1975.

Ra khỏi Việt Nam, trong số sách vở tôi đem theo được, là mấy cuốn sách của Đinh Hùng, Mai Thảo, Nhật Tiến và của ông. Vậy là tôi lại mang được ông, những thứ tưởng là không còn bao giờ còn ở được với mình nữa.

Những đẩy đưa của cuộc sống mới đưa tôi tới một công việc với một đài phát thanh ở Washington, và sau vài tháng, một hôm tôi thấy trong số sách tôi mang đến đài, có một cuốn Tùy Bút của ông. Tôi đề nghị với người phụ trách chương trình Việt ngữ của đài phát thanh Tiếng nói Hoa kỳ để thực hiện mục Điểm Sách cho đài, một mục nhắm gìn giữ và phổ biến di sản văn học cho những cộng đồng người Việt ở những nơi ngoài Việt Nam. Và cuốn sách đầu tiên được đem giới thiệu cho những người đọc còn ở Việt Nam sau việc đốt cho bằng hết những sách vở thời Việt Nam Cộng Hòa là cuốn Tùy Bút 1 của Võ Phiến. Liền ngay sau khi cuốn sách này được gửi tới thính giả ở Việt Nam thì tác giả liên lạc với tôi và cho biết một người trong gia đình ở Việt Nam đã cho ông biết điều đó qua một bức thư gửi từ Việt Nam qua. Một người khác liên lạc với chúng tôi là một người có rất nhiều công trong việc gìn giữ nền văn học Việt Nam sau chiến dịch “phần thư khanh nho” ở trong nước, đó là ông Võ Thắng Tiết, người đàn ông hiền lành mà chúng tôi gọi tên một cách thân mật là anh Năm, người đã xuất bản toàn bộ tác phẩm của Võ Phiến ở hải ngoại, và nhờ đó, những tác phẩm của Võ Phiến đã tới được với người Việt ở nước ngoài .

Sau những bài viết về Võ Phiến được phát thanh về Việt Nam, chúng tôi mới quen ông, nhưng phải tới khi ông về hưu và dọn về ở tại Santa Ana tôi mới có dịp gặp ông, và theo mô tả của Nguyễn Xuân Hoàng, Võ Phiến là một ông già rất tinh quái. Và càng đọc, càng nhớ lại những tác phẩm của ông thì càng thấy đó là những mô tả rất đúng về ông. Nhất là trong những tùy bút của ông. Ông chẻ những sợi tóc không phải làm tư, mà thành 16, 18. Một cọng giá ông tìm thấy trong một tô hủ tiếu ở Gia Nghĩa, cái bóng đèn hột vịt, tiếng rao hàng buổi trưa, ly cà phê ở một tiệm nước tỉnh lẻ, sợi khói quằn quại từ một cánh đồng … đọc lên mà ứa nước mắt nhớ về quê hương cũ.

Võ Phiến cho người đọc nhiều thứ lắm, như một ngày để tùy nghi, giọt mưa bên một hàng hiên, những cánh chim én chao đi trên trời, ly trà tầu trong một tiệm mì, tiếng một con chó hực lên trong đêm tối, dấu bùn trên bắp chân của một người đàn ông, vài ba câu đối thoại dấm dẳn… Gấp lại những chi tiết ấy, càng thấy yêu ông hơn… .

Cách đây khoảng mấy năm, bà Võ Phiến gọi tôi, nói qua điện thoại rằng “ông già” , hai chữ bà vẫn dùng để gọi ông, rằng ông muốn gặp tôi. Tôi vừa dọn sang sống tại miền Tây, đồ đạc còn ngổn ngang trong phòng. Tôi thấy bộ đồ trà mua ở New York chưa bao giờ dùng. Tôi mang biếu ông cùng với một gói trà Long Tỉnh. May mà tôi làm việc đó, vì trong chuyến viếng thăm ông hôm đó, ông cho tôi một cái gói nhỏ rất đẹp. Mở ra, là một chiếc hộp đựng cây bút có khắc tên của ông. Ông nói là ông muốn cho tôi. Tôi nghĩ ngay đến chuyện một kiếm sĩ lên núi tầm sư học đạo và sau khi thọ giáo, người kiếm sĩ được vị thầy trao tặng một thanh gươm làm kỷ niệm. Cây bút vẫn còn đây và nó sẽ còn được giữ mãi.

Sang sống ở miền Tây tôi có nhiều dịp gần ông trong những bữa ăn với sự có mặt của Trúc Chi Tôn Thất Kỳ, Ngự Thuyết, Phạm Phú Minh…Những thân tình với ông càng ngày càng sâu đậm thêm. Bà Viễn Phố liên lạc với tôi nhiều lần khi có vài ba chuyện không vui. Chính vì thế tôi thấy mình được coi là thân tình. Cám ơn chị Võ Phiến. Hôm nay tôi chỉ xin được nói lên vài ba chuyện ít nhiều có dính dáng tới những thân tình ấy.

Hôm trước tự nhiên có hai câu này hiện ra trong óc, cũng chưa phải là những câu đối, xin đọc lên ở đây, gọi là để tiễn chân ông già tinh quái nhân dịp ông ra đi:

Võ Phiến vẫn mãi gần bên Viễn Phố
Thế Nhơn luôn còn ở với người đời

Chào anh Võ Phiến…

Tuổi già hạt lệ như sương
Hơi đâu chuốc lấy hai hàng chứa chan

Xin được nhỏ những giọt nước mắt chân tình nhất như của Nguyễn Khuyến với Dương Khuê, như đã với Mai Thảo, Trần Hồng Châu, Trần Bích Lan, Thanh Tâm Tuyền … như đã khóc trong ngày qua đời của hai người thân yêu nhất trong đời tôi.

Vĩnh biệt ông già tinh quái của tôi.

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#102 Posted : Saturday, October 17, 2015 7:31:59 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
October 9, 2015

NỢ MỘT LỜI XIN LỖI


Tính tới nay, bốn mươi năm đã qua. Gần một nửa thế kỷ, thời gian đủ dài để nhìn lại những sai sót, những lầm lẫn, những chuyện không hay đã xẩy ra để tránh lập lại, và ít nhất là nhận lỗi, để đưa ra một lời xin lỗi. Mặc dù lời xin lỗi đó có muộn màng, có quá muộn màng đi chăng nữa. Tôi rất thích cách nói này của tiếng Anh: tôi nợ anh một lời xin lỗi, I owe you an apology. Khi mắc hay thiếu nợ thì phải trả, không có chuyện bỏ qua được.

Ngay sau khi những chiếc T-54 chạy vào thành phố Sài Gòn, ủi sập một cánh cổng và cầy nát thảm cỏ của dinh Độc Lập (một cách không cần thiết), thì cái việc không hay đó cũng bắt đầu.

Trong cuốn Giải Phóng (1976) củaTiziano Terzani, một nhà báo người Ý, viết về ngày 30 tháng Tư năm 1975, có một bức ảnh đen trắng chụp một nữ du kích đứng tại góc đường Tự Do và Lê Lợi, có thể là trong ngày đầu tiên khi quân đội miền Bắc tiến vào kiểm soát thủ đô miền Nam. Người nữ du kích mặc quần áo đen, khăn rằn, mặt mũi vẩu viu, vẫn chưa hoàn hồn, vẻ kinh ngạc còn nguyên trong ánh mắt. Cảnh Sài Gòn đã tạo ra nét hoảng hốt đó.

Người Sài Gòn sau những kinh hoàng đầu tiên, đã kéo nhau ra đường tung hô những thay đổi, ngây thơ tưởng như làm như thế, họ sẽ được những bánh sắt xe tăng đối xử tử tế, nhẹ nhàng hơn. Những hình ảnh chụp cảnh đốt sách báo ở ngoài đường, hay cảnh tham dự cuộc diễn hành của quân “giải phóng” người ta thấy nhiều phụ nữ mặc những chiếc áo dài đẹp để mừng “đoàn quân chiến thắng”.

Nhưng chỉ vài ba ngày sau đó, cái ngây thơ đó đã bị dội cho những chậu nước lạnh buốt và tàn nhẫn. Nói là tàn nhẫn thì cũng vẫn còn là nhẹ. Phe chiến thắng quay lại đưa ra những đối xử tàn bạo ngay sau đó. Những kiểu ăn mặc của người Sài Gòn bị chiếu cố lập tức. Ở đầu đường, góc phố, các thanh niên bị chặn lại, những mái tóc bị những nhát kéo nham nhở làm cho ngắn đi, những chiếc quần ống hơi chật bị cắt cho rộng ra để có thể lọt một cái chai. Thời trang cách mạng, bưng biền không chấp nhận kiểu ăn mặc như thế.

Những chiếc quần jean biến mất vào trong những góc tủ quần áo hay chạy ra chợ trời cùng với những kiểu quần áo “đồi trụy” tàn dư của Mỹ Ngụy phản động.

Về phía phụ nữ thì những chiếc áo dài cũng ngừng xuất hiện.

Những chiếc không hoa lá, mầu mè sặc sỡ thì với mấy nhát kéo để làm cho mất đi những nét thời trang bay bướm của những ngày trước khi bưng biền tiến vào. Hai chục năm Hà Nội nhem nhuốc áo cánh, quần vải thô không thể chốc lát điều chỉnh để có lại được cảm quan nghệ thuật trong lãnh vực ăn mặc. Cách ăn mặc của phụ nữ Sài Gòn chắc chắn làm cho những người như cô nữ du kích vừa từ bưng vào thành phố không vui.

Thế nên phải dẹp cái thứ thời trang không thích hợp với lối ăn mặc của cách mạng. Kiểu ăn mặc đó là kiểu đồi trụy. Cái đẹp cách mạng không có lối ăn mặc như thế.

Chỉ một thời gian ngắn sau đó, những chiếc áo dài mini của tuổi trẻ Sài Gòn, những kiểu áo đẹp thầm kín chững chạc hơn, vai raglan, không eo cũng biến mất…

Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều
Cánh tay tà áo sát vòng eo…
Guốc cao gót nhỏ mây vào gót
Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ…(Nguyên Sa)


Nhưng rồi cũng không lâu sau đó, những chiếc áo dài đồi trụy thấy dần dần xuất hiện trở lại. Chúng được mua ở chợ trời của những người chủ của chúng để giải quyết những cơn túng quẫn của trận phá sản kinh tế diễn ra ở miền Nam. Những chiếc áo ấy được đem ra Bắc, được đem ướm vào những hình hài thô kệch, và bỗng biến những nét thô kệch ấy giảm đi ít nhiều. Những chiếc áo đó được đem ra mặc, và từ từ xuất hiện nhiều hơn khi người ta thấy chúng giúp làm bớt đi những nét quê kệch của người mặc. Chúng được dùng làm kiểu mẫu để đo may và cắt những chiếc áo mới.

Những chiếc áo dài từ đó dần dần không còn bị coi là đồi trụy nữa. Cán bộ nhà nước quay sang mặc chúng trong các dịp lễ lạc, tiếp tân và vợ của các lãnh tụ cũng diện chúng trong những chuyến xuất ngoại với chồng. Hết vợ Trương Tấn Sang lại đến vợ Ba Ếch… mụ nào cũng lôi những chiếc áo may theo kiểu áo dài của thời đồi trụy Mỹ Ngụy, nhưng không thấy một con khỉ đột nào đòi cắt hai vạt trước sau như hồi năm 1975 nữa. Những cuộc trình diễn thời trang ở trong nước cũng đem trình diễn toàn những chiếc áo dài từng có lúc bị coi là đồi trụy và thiếu cách mạng tính, không tượng trưng cho nét đẹp bưng biền, giải phóng…

Bọn ngợm từng xúc phạm, mạ lị, bôi bẩn những chiếc áo dài phải xin lỗi những chiếc áo dài mới phải.

Nhưng có lẽ cũng chẳng cần tới lời xin lỗi của một bọn quen trò nhổ rôì lại liếm nữa. Cứ lôi những chiếc áo dài đồi trụy ra mặc cũng đã là tự chúng nó chửi cha chúng nó lên rồi.


Những chiếc áo dài đều biết điều đó!
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#103 Posted : Tuesday, November 10, 2015 5:51:58 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
October 23, 2015


QUÊN


Theo Sigmund Freud, cha đẻ của môn phân tâm học, quên là một việc làm cần thiết. Không quên, cứ nhớ đủ thứ thì sẽ đến một lúc, trí nhớ đầy kín, không còn nhồi nhét thêm được nữa, những chuyện cần được giữ lại cứ bỏ chúng ta mà ra đi thì cũng rất khốn khổ. Nhưng có những chuyện cần phải quên đi trong khi có những chuyện cần phải nhớ. Do đó, chuyện nhớ hay quên cũng cần phải chọn lựa. Trí nhớ, do đó, có khả năng lọc lựa, chuyện cần thì giữ lại, chuyện không cần nhớ thì quên đi. Selective memory là những hồi ức có tuyển chọn. Chuyện này rất cần thiết, Trí nhớ chọn ra những gì đáng nhớ thì giữ lại, những gì không đáng và không cần giữ lại thì gửi gió cho mây ngàn bay. Chứ cứ ôm hết để nhớ hoài thì mệt quá.

Gần đây, cái tính hay quên có vẻ càng ngày càng thấy ở khá nhiều người Việt. Thay vì quên có thể giúp cho người ta đổ bớt những rác rến cho những bộ nhớ của những cuộn não như Freud nói, thì có những trường hợp quên cũng gây vất vả không ít cho những người mắc chứng hay quên.

Có những chuyện quên gây rắc rối cho người hay quên như vụ mới đây, một phi công lái máy bay chở khách của hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) vào một cửa tiệm có thể là một department store ở Nhật và mua một số hàng hóa rồi quýnh quáng làm sao bỗng bệnh quên vùng lên và chàng quên trả tiền cho những món chàng mua. Chàng cứ tự nhiên như người Hà Nội đi thẳng ra cửa. An ninh của tiệm chạy theo túm lấy công dân Việt Nam đãng trí quên trả tiền này thì chàng khai là đang bận suy nghĩ về bác Hồ kính mến nên không nhớ trả tiền khi ra về cho mấy món chàng bỏ quên trong các túi áo và túi quần. Thế là chàng bị giữ lại, không cho ra phi trường lái máy bay về Việt Nam nữa. Vụ này xẩy ra hôm 8 tháng 10 năm 2015. Không biết chuyện này được giải quyết xong chưa mặc dù có sự can thiệp của sứ quán.

Như vậy là người Nhật hay làm khó những người đãng trí. Người Nhật không hay quên như người phi công nọ. Người Nhật có vẻ ghen ghét những người có tính hay quên. Thấy những người hay quên, đầu óc thư thái vì quên đi được nhiều chuyện thì đâm ra ghen ghét rồi… phạt người ta.

Chuyện người phi công hay quên nọ là chuyện rất thường và càng ngày những vụ quên này càng xẩy ra nhiều hơn. Theo cảnh sát Nhật, con số người Việt mua hàng quên trả tiền tại các cửa hàng, siêu thị chiếm hơn 40% những vụ quên trả tiển của những người nước ngoài. Nhiều nơi phải trưng bảng cảnh cáo viết bằng tiếng Việt để cảnh cáo nhưữg vụ mua hang mà quên trả tiền của người Việt mà người Nhật gọi là ăn cắp.

Một đằng gọi là quên trả tiền, là nóng tính cầm nhầm, là nhấc tiệm (chắc dịch từ chữ shoplifting), là vồ, là thuổng, là xoáy, là bàn tay nhám, là … trong khi phía Nhật thì gọi đó là ăn cắp và phạt đến nơi đến chốn.

Nhưng chẳng phải chỉ có Nhật mới ngôn ngữ bất đồng (?) như thế mà ở cả các nước như Thái, Hàn quốc, Đài Loan … cũng gọi những vụ quên trả tiền đó là ăn cắp rồi bắt giữ và phạt nhiều người Việt chỉ vì họ vừa đi mua sắm vừa mải suy nghĩ làm sao phục vụ đảng đắc lực hơn, kính yêu bác Hồ nhiều hơn… nên quên cha nó việc trả tiền rồi bị người ta làm khó.

Chứ mấy cái vụ quên trả tiền như vậy có đáng gì. Kìa như cô Vũ Kiều Trinh một khuôn mặt rất nổi tiếng của truyền hình trong nước đã quên trả tiền khi đi mua sắm ở Thụy Điển và Anh lại còn được sứ quán can thiệp nói là cô bị bệnh tâm thần, về nước, vì gốc lớn, vẫn lên đài truyên hình nói chuyện văn hóa dân tộc cho đài VTV. Hay là một cặp quên trả tiền mấy căp kính đắt tiền ở Thụy Sĩ rồi cũng có sao đâu. Ngoài ra còn nhiều tiếp viên hàng không cũng hay mua sắm rồi quên trả tiên ở Nhật đó thôi.

Vì đã xẩy ra quá nhiều vụ mua hàng quên trả tiền nên các sứ quán của nước ta phải yêu cầu cảnh sát ở các nước từng xẩy ra nhiều vụ người Việt đi mua sắm rồi quên trả tiền viết lại những tấm bảng cảnh cáo bằng những câu khác hơn là những cảnh cáo không nên ăn cắp để thành những lời cảnh cáo nên nhớ trả tiền, hay đừng quên trả tiền.


Hai chữ “ăn cắp” thì nặng quá. Ăn cắp thì chỉ có những thằng to đẩu ở Hà Nội chứ quên trả tiền khi đi mua sắm ở siêu thị thì có gì đâu mà làm lớn chuyện như vậy. Cứ bắt giữ, phạt thật nặng rồi đuổi về nước là đủ rồi.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#104 Posted : Tuesday, November 10, 2015 5:53:13 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
October 30, 2015



TỰ HÀO


Bút Tre , thiên tài thi ca của nước ta hồi tháng 4 năm 1961, một hôm không biết làm gì cho vui, ra sân đứng nhìn lên trời tự nhiên thấy vui quá liền chạy vào nhà lấy giấy bút viết ngay hai câu thơ lục bát mà có thể không người nào có chút máu thi ca trong huyết quản mà không biết:

Chúng ta sung sướng tự hào
Có Ga-ga-rỉn bay vào vu tru ( *)

Thế là thành tích của phi hành gia Liên Xô Yuri Gargarin đi ngay vào thi ca của nước Việt.

Nước ta thì sau đó, như vừa tìm được mấy chữ mới, đem ra dùng lia lịa bất kể những điều mà nước ta có thật sự xứng đáng để tự hào hay không thì cũng vẫn cứ la hoảng lên là rất tự hào.

Tự hào là tình cảm kiêu hãnh, sung sướng, hưng phấn về chính mình, về khả năng, về những điều thành đạt mà mình làm được vượt trội lên trên, hơn hẳn những người khác. Yuri Gargarin là một phi công Liên Xô, thành tích của chàng là ngồi trong một phi thuyền gắn trên đầu của một hỏa tiễn Vostok 1 phóng lên thượng tầng khí quyển rồi đáp xuống trái đất an toàn. Kể ra thành tích ấy có đáng nể thật. Gargarin được tặng không biết bao nhiêu là huân chương cao quí. Tin tức loan ra khắp nơi về chuyến bay vào vũ trụ của chàng. Mỹ thua to quả này. Nước ta thì lúc đó không ưa Mỹ, thấy Mỹ thua Liên Xô thì sướng chết đi được. Liên Xô là đàn anh, mà đàn anh thì cũng như người nhà. Người nhà đạt được thành tích lớn như thế thì mình vui là phải. Thế là bất kể cậu Yuri Gargarin có coi Việt Nam là người nhà của cậu hay không, và có bao giờ cậu thoáng qua trong đầu ở cái nước Việt Nam xa xôi ấy có những người chỉ lăm lăm đợi đi một đường lưỡi, liếm cho đôi gầy của chàng được thêm bóng hay không, thì kết cuộc chàng vẫn được nhà nhà thơ Bút Tre viết hai câu lục bát ca ngợi chàng, coi chuyến đi của chàng là một thành tích làm cho cả cái đám dân bần cùng nước Việt chết lên chết xuống đang không biết tìm đâu được một chút tự hào nào cho bớt đói.

Và bất kể luật bằng trắc của thơ lục bát, ông Bút Tre cứ tự tiện chỗ nào cần vần bằng thì quăng vần bằng vào, chỗ nào cần vần trắc thì ông phang vần trắc vào, các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng ông cứ dùng một cách rất tùy nghi. Và Gargarin được viết thành Ga-ga-rỉn… vũ trụ thành vu tru là thế.

Niềm tự hào của dân tộc cứ thế phăng phăng mà đi, thừa thắng xông lên lia lịa. Trước ngày 2 tháng 9 vừa qua, báo chí trong nước ta cứ nhắng lên mà tự hào về đủ mọi chuyện, tô hồng chuốt lục cho chính mình làm nhân dân ai cũng tưởng thật.

Không còn Gagarỉn để tự hào nữa thì phải moi móc ra những chuyện khác để mà tự hào với nhau vậy. Thế là tự hào loạn lên. Tự hào về người Việt, về tiếng Việt, về bác Hồ, về thành tích chống Mỹ cứu nước, về quân đội nhân dân anh hùng, về đại tướng Phùng Quang Thanh, mặt mũi giống lợn ỉ nhất, ăn nói ngu nhất, về Ba Ếch không học luật ngày nào vẫn có bằng cử nhân luật hệt như áo dài Thiết Lập không có eo cắt vẫn có eo, tà búp, bâu tươi, về thành tích tham nhũng không thua gì Zimbabwe, về chuyện con cái bọn to đầu được đưa vào những chức vụ cao, không như bọn con cái của Thiệu, Kỳ, Nhu Diệm chẳng đứa nào được bố nhét vào những nơi đầy mưa móc, tiền bạc ê hề vân vân…

Đang sung sướng đến độ chết được thì có người dí ngay vào tay một bài báo trong nước một bản tin cho biết chỉ trong có 6 tháng đầu của năm 2015 đã có 1,515 phụ nữ Việt Nam bị nhà cầm quyền Singapore từ chối không cho nhập cảnh mặc dù tất cả đều có giấy tờ hợp lệ. Nhiều người bị thẩm vấn gay gắt trước khi không cho nhập cảnh. Nhà cầm quyền Singapore không cho biết những lý do không cho vào đảo quốc của họ. Nhưng nếu thông minh một chút thì người ta biết ngay lý do đó và lý do mà Singapore từ khước không cho những phụ nữ này vào Chiêu Nam Đảo tức là Singapore là sợ các phụ nữ này đem thân thể của họ bán cho những người đàn ông Singapore. Chao ôi là tự hào!

Người bạn độc ác của tôi còn đưa cho tôi xem hình chụp những bức ảnh chụp mấy tấm biểu ngữ viết bằng tiếng Việt cảnh báo các công dân Việt Nam không nên trộm cắp bằng tiếng Việt tại các cơ sở thương mại ở Nhật, Đài Loan, Thái Lan, Hàn quốc …

Bạn tôi chua chát nói rằng tiếng Việt được dùng trong những trường hợp như thế thì có đáng tự hào, kiêu hãnh không…

Tôi nhớ cụ Phạm Quỳnh và tình yêu cụ dành cho tiếng Việt rồi nối kết sự tồn tại của tiếng Việt vào với sự tồn vong của nước Việt và bài thơ của Nguyễn Đức Quỳnh trong nhóm Đàm Trường Viễn Kiến mà đau sót cho tiếng Việt, “tiếng nước tôi, tiếng mẹ ru từ lúc nằm nôi” mà muốn … khóc chứ chẳng tự hào cái quái gì cả.

May quá, cái ngày 2 tháng 9 đã qua rồi. Mong đừng có một ngày như thế nữa!


(*) yêu cầu các thầy cò thông thái của các báo sử dụng bài này đừng sửa sang gì câu này vì nếu sửa thì chắc chắn sẽ có mấy con lợn què chay lông nhông ngoài đường ngay!
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#105 Posted : Tuesday, November 10, 2015 5:54:20 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
November 7, 2015


… ĐAU TAY

Ông Tản Đà, trong tập Khối Tình Con (1913) và Tản Đà Văn Tập, có hai bài thơ thất ngôn bát cú chỉ khác nhau có 4 câu đầu còn 4 câu sau thì giống hệt. Hai bài có hai cái tựa khác nhau nhưng đều nói về chuyện một ông thầy đồ nham nhở bị một phụ nữ tặng cho bàn tay thích đi lang thang của ông một gậy đau gần chết.

Hành động ưa phiêu lưu của ông được mô tả rất rõ trong tựa của bài thơ in trong tập Khối Tình Con: “Bóp Vú Đau Tay”. Bài thơ ấy nguyên văn như sau:

Hàng xứ đồn lên lắm chuyện hay
Con người như thế hóa non tay

Gớm cho cô bé nhiều gan tệ
Chết nỗi làng chơi phải miếng cay
Hùm đã biết tay sao cứ mó?
Chim chưa vỡ bọng dễ mà bay
Từ đây buộc chỉ chừa thôi nhé

Đừng có chơi dao liệu có ngàyCó lẽ cái tựa “Bóp Vú Đau Tay” vào thời ấy (1913) nghe sỗ sàng quá nên Tản Đà sau đó đổi lại là “Thầy Đồ Ve Gái Phải Đánh Đau Tay” và viết lại 4 câu đầu của bài thơ thành:

Em mới nghe đồn lắm sự hay

Đồn rằng bác mới phải đau tay
Gớm ghê cô bé già gan tệ
Lẩy bẩy thầy nho mắc miếng cay

Còn 4 câu sau thì giống hệt 4 câu của bài trước. Đọc cả hai bài thì thấy người bị đánh đau tay là một ông thầy đồ chắc đã có tuổi (lẩy bẩy) bề ngoài đạo mạo chữ nghĩa thánh hiền một bụng, nhưng lúc vắng người thì thầy ma mãnh hơn bất cứ ai, những trò nhí nhắt (mà Nguyễn Khuyến kể trong bài Lựu : … ông già ông khác người ta / những cái nhí nhắt ông ma bằng mười) thầy chẳng hề thua người nào. Cho đến khi thầy bị người phụ nữ (mà thầy nham nhở) cho bàn tay của thầy một đòn đau nhớ đời. Chuyện được truyền miệng khắp Hà thành, đến tai Tản Đà nên bị ông già núi Tản sông Đà cho một bài thơ lên báo. Chắc ông thầy đồ cũng là chỗ quen biết, lại là vai vế đàn anh của Tản Đà nên Tản Đà mới xưng “em” và gọi ông thầy đồ bằng “bác”.

Thực ra chuyện nham nhở, cho bàn tay lang thang một chút thì cũng thế gian thường tình, nhưng chuyện mới xẩy ra gần đây tại Hàn quốc thì lại là chuyện không nhỏ chút nào.

Một tờ báo ở Bucheon, một thị trấn gần thủ đô Hán Thành, tuần trước cho biết một cán bộ lãnh đạo công an Việt Nam đã bị cảnh sát Hàn quốc bắt về tội có hành vi sàm sỡ với một phụ nữ lảm việc cho một khách sạn nơi người này đang tạm lưu trú. Người đàn ông này đã có những hành vi nham nhở với người phụ nữ 21 tuổi trong thang máy, bị cự tuyệt, chàng ra khỏi thang máy chạy về phòng làm như không có gì xẩy ra. Nhưng máy thu hình đặt trong thang máy đã thu được tất cả nội vụ. Người phụ nữ ngay sau đó đã trình báo với cảnh sát nên người công an mất nết này đã bị bắt giữ ngay sau đó. Chàng chối bay chối biến làm như còn ở Việt Nam không bằng. Nhưng camera trong thang máy thì không ăn gian nói dối như công an cảnh sát Việt Nam. Hình ảnh camera thu lại rất rõ hành vi mất dậy của viên công an cao cấp này. Được biết chàng được cử đi Hàn quốc để tham dự một khóa tu nghiệp trau dồi "nghiệp vụ". Vậy là mới sang đất nước người ta được 5 ngày, chàng đã giở trò khốn nạn ngay với một phụ nữ Hàn quốc. Báo chí ở Bucheon không nêu đích danh chàng mà chỉ cho biết tên tắt của chàng là A. năm nay 51 tuổi, Chưa biết cảnh sát Hàn quốc sẽ giải quyết vụ này ra sao. Có thể chàng sẽ tống xuất về nước và sẽ đựợc thăng thưởng vì không ăn cắp trong siêu thị như nhiều người Việt khác ở Hàn quốc và Nhật không chừng!

Khốn nạn hết chỗ nói!

Trong khi đó, báo chí trong nước hồi tuần trước loan tin hồi tháng 5 năm nay, ông Ban Ki Moon, tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đã đến thăm nhà thờ họ Phan Huy ở Sài Sơn nhận là có liên hệ họ tộc với dòng Phan Huy ở Việt Nam. Ông Ban Ki Moon đã viết trong sổ lưu niệm của nhà thờ tên Việt Nam của ông là Phan Cơ Văn và hứa sẽ hành sử sao không hổ danh dòng họ Phan Huy của ông.

Đặt hai chuyện bên nhau mà thấy buồn. Một người trở về đem vinh dự cho dòng họ Phan. Một thằng khốn nạn làm nhục nhã người Việt vì một cái bóp vú người phụ nữ Hàn quốc.

Chỉ vì chủ nghĩa Cộng Sản khốn nạn ở Hà Nội.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#106 Posted : Friday, December 4, 2015 12:35:47 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
November 13, 2015

POUR TOI MON AMOUR

Trong tập Paroles xuất bản năm 1945, Jacques Prévert có một bài thơ nhan đề Pour Toi Mon Amour mà tôi rất thích, thích ngay từ lần đầu tiên đọc nó. Bài thơ vỏn vẹn chỉ có 17 dòng nguyên văn như thế này:


Je suis allé au marché des oiseaux
Et j’ai acheté des oiseaux
Pour toi
Mon amour

Je suis allé au marché aux fleurs
Et j’ai acheté des fleurs
Pour toi
Mon amour

Et je suis allée au marché à la ferraille
Et j’ai acheté des chaines
De lourdes chaines
Pour toi
Mon amour

Et je suis allé au marché aux esclaves
Et je t’ai cherchée
Mais je ne t’ai pas trouvée
Mon amour

Đại khái chàng thi sĩ nhà quê đi chợ chim, mua mấy con chim cho người yêu bé bỏng, rồi lại ghé chợ hoa mua mấy bông hoa cho nàng, vòng qua chợ chợ sắt mua mấy sợi xích (chắc để xích nàng lại không cho đi lăng quăng nữa) rồi chàng đến chợ nô lệ tìm nàng mà chẳng thấy nàng đâu.

Chàng mua đủ thứ quà cho nàng, nào chim, hoa bướm lãng mạn (cùng mình) luôn cả mấy sợi xích để giữ nàng…Nhưng khi chàng muốn nàng là nô lệ của riêng chàng thì nàng biến mất, kiếm không cách nào ra. Tỏ tình như vậy là khéo lắm: có chim chóc, hoa bướm… lại đòi giữ nàng lại bằng xích nặng chình chịch nhưng vẫn để cho nàng thở, tự do phơi phới. Mượn thơ của ông Tây Prévert để tán như thế thì cách gì nàng thoát được.

Bèn chép vào giấy bắt chước ông Tú Xương, “dán ngay lên cột, hỏi (nàng) rằng dốt hay hay” (thực ra là lén kẹp vào cuốn sách đưa nàng). Nhưng nàng đọc không hiểu câu cuối, suốt mấy hôm cứ lẵng nhẵng đi theo thắc mắc mãi nên chàng chán quá. Có câu hay nhất trong bài thơ mà không chịu hiểu (hay cũng có thể là cố tình không hiểu) để bắt chàng tán thêm cho bõ ghét nên … cho nàng đi luôn. Thời ấy của chàng thì làm quái gì còn chợ nô lệ nữa mà bắt chàng dẫn ra chợ để cắt nghĩa lôi thôi.

Có mấy cái chợ như ở Annapolis, Baltimore hồi nước Mỹ còn cho mua bán nô lệ thì đã bị dẹp từ hồi trước nội chiến Nam Bắc hơn một trăm năm trước. Hồi ấy, những người da đen chở từ Phi châu sang được bầy bán như nông súc cho người mua tha hồ lựa chọn. Nhưng lúc đọc được bài thơ của Prévert thì không còn những cái chợ như thế nữa. Thế là dẹp luôn mối tình ấm ớ thời thơ dại (dột).

Kể ra thời còn trò mua bán nô lệ cũng vui chứ. Người mua tha hồ sờ nắn bắp thịt, lựa chọn những người đàn ông coi có khỏe mạnh không, có thích hợp với công việc đồng áng trong các đồn điền không, còn lao động được bao nhiêu năm nữa vân vân. Người mua cũng được dịp xem xét kỹ các phụ nữ coi có đủ sức làm việc nhà và có còn đẻ thêm vài ba nô lệ con nữa không. Những cảnh khủng khiếp như vậy không còn nữa. Kiếm cái chợ còn không ra thì làm sao tìm được nàng nữa. Ít nhất cũng là thời ông Tây Prévert khi viết bài thơ ấy. Và vì thế, người yêu bài Pour Toi Mon Amour cũng được mối tình(?) đầu (lâu) buông tha.


UserPostedImage


Nhưng nay những cái chợ nô lệ ấy muốn kiếm thì cũng chẳng khó khăn gì. Hàng hóa được bầy bán công khai ở Malaysia, rao bán trên báo ở Hoa lục (bảo đảm nếu bỏ trốn sẽ được đền ngay, không thích có thể trả lại hay hoàn lại tiền) hoặc cũng có thể mua tận gốc ở thành phố Hồ Chí Minh (xưa kia gọi là Sài Gòn, nay bị tha hóa nên bị thay bằng tên mới). Cũng có cảnh các hàng nữ được bóc trần cho khách tha hồ chọn. Và để theo kịp với tiến bộ của thời đại “a còng: @”, hàng còn được rao bán trên mạng với giá không cao lắm là 1,500 đô la Mỹ. Cơ sở bán nô lệ còn cho biết ở Vân Nam hiện có 98 nô lệ sẵn sàng để vô thùng gửi đi khắp toàn quốc. Hàng là phụ nữ Việt, được gọi ngụy trang là cô dâu trẻ và đẹp. Cái quảng cáo lăng mạ phụ nữ Việt Nam đó được đọc thấy trên một tờ báo ở Trung quốc cách đây mấy hôm.

Như vậy, muốn tìm mua nô lệ là mua được ngay khỏi phải mât công đi kiếm ngoài chợ, kiếm không ra về nhà làm bài thơ bằng tiếng Tây cho bõ ghét.


Có điều khốn nạn là lời ra bán nô lệ đầy nét xúc phạm danh dự và nhân phẩm của phụ nữ Việt đã không có được một phản ứng nào của sứ quán Việt Nam. Ít ra thì cũng phải đòi dẹp cái quảng cáo chó đẻ đó, đòi cái cơ sở buôn người đó phải xin lỗi chứ im thin thít như những con sò mà nhà ngoại giao Lê Văn Bàng năm xưa khom lưng mò ở New Jersey thì không được chút nào.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#107 Posted : Friday, December 4, 2015 12:37:45 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
November 20, 2015


CUỘC THẢM SÁT KINH HỒN MỖI CUỐI NĂM


Năm nào cũng thế, người Mỹ, từ nhiều năm nay, đều thẳng tay thực hiện hai cuộc tàn sát bi thảm làm thiệt mạng cả mấy chục triệu sinh linh mà không hề có một tổ chức nhân đạo nào trên thế giới lên tiếng để buộc phải chấm dứt việc làm vô nhân đạo, vô ích mang đầy tính diệt chủng đó.

Trong khi đó, lễ hội chém lợn ở Tiên Du, Bắc Ninh, hay hội chọi trâu ở một số nơi tại Việt Nam thì bị nhiều tiếng nói chỉ trích kịch liệt. Còn những vụ thảm sát ở nước Mỹ thì gần như không tạo được bất cứ một sự quan tâm nào. Lễ chém lợn có tàn bạo thật, nhưng cũng chỉ hóa kiếp cho vài ba con lợn. Còn hội chọi trâu thì hai ba chục ‘ông’ trâu được nuôi cả năm, được vỗ cho béo rồi bị xúi bẩy để húc nhau một trận tanh bành mua vui cho cả mấy ngàn người xem. Những con trâu không hề thù oán nhau, không tranh chấp đồng cỏ của nhau mà cũng chẳng vì tranh nhau “ân huệ” của vài ba chị trâu nái, hay ganh ghét nhau về vẻ đẹp trai của mình, đã bị người ta bầy chuyện cho đâm nhau trí mạng rồi cuối cùng, được hay thua, cả hai đều bị phanh thây xẻ thịt bán cho khán giả ngay tại cửa vào đấu trường. Năm nào cũng diễn ra những cảnh chọi trâu kinh hoàng như thế.

Nhiều tổ chức bảo vệ thú vật trên thế giới đã lên tiếng yêu cầu chấm dứt trò giải trí dã man đó nhưng chưa có kết quả. Dẫu vậy thì cũng đã có tiếng nói chống lại. Nhưng những cuộc tàn sát hết sức vô nhân đạo ở Mỹ thì vẫn được để cho diễn ra một cách bình thường như không hề có gì xẩy ra cả. Hai cuộc thảm sát ở Mỹ đều nhắm vào loài gà tây, một sinh vật thuộc giống chim đã được thuần hóa để nuôi làm thực phẩm cho người. Nhưng nếu giết chúng để ăn thì cũng không đáng nói như khắp nơi trên thế giới người ta giết trâu, bò, lợn, cừu, dê, gà, vịt… Nhưng giết để mừng một dịp lễ hội hè nào đó thì người Mỹ cứ nhắm vào loài gà tây mà tàn sát thì tội quá.

Giết hơn 60 triệu con gà tây thì phải gọi là thảm sát ở mức diệt chủng nếu chuyện chém giết đó diễn ra ngoài thiên nhiên. Nguyên nhân đưa tới những bất hạnh này của loài gà tây là khi những người di dân Thanh Giáo từ Anh sang lập nghiệp ở tân thế giới trong thời gian đầu đã gặp phải rất nhiều khó khăn. Đói khát, bệnh tật đã cướp đi mạng sống của một số người trong mùa đông đầu tiên. Qua mùa xuân, những di dân này đã được những người da đỏ sống trong vùng giúp đỡ, chỉ cách trồng bắp và vài thứ rau trái khác. Người da đỏ cũng bầy cho các di dân săn hươu nai trong rừng và những con chim thuộc bộ gà thuộc chi Meleagris họ hàng xa với loài trĩ.

Những di dân Thanh giáo nhờ những lòng tốt và những giúp đỡ của người da đỏ đã thoát được những khó khăn trong miền đất mới. Sau vụ mùa đầu tiên thành công, những người di dân cảm tạ Thượng Đế bằng một bữa tiệc mời cả những người da đỏ ân nhân đến dự. Trên bàn tiệc ngoài rau trái, còn có gà tây từng đã cứu đám di dân này qua cơn đói khát.

Thế là thay vì mời vài ba con gà tây đến dự tiệc để cám ơn chúng, ít ra thì cũng phải mời chúng vài ba thùng bắp. Nếu chúng ăn không hêt thì cũng cho chúng “to go” mang về nhà ăn tiếp. Nhưng các ông bà di dân Thanh Giáo biến món thịt của những con gà ân nghĩa ấy thành một món ăn không thể thiếu trên bàn tiệc của lễ Tạ Ơn mỗi năm.

Và đó là khởi đầu cho cuộc thảm sát hàng năm những con gà tây. Dân số nước Mỹ càng tăng thì số gà tây bị thảm sát mỗi năm cũng tăng theo. Không có một dấu hiệu nào cho thấy số gà tây bị thảm sát mỗi năm sẽ giảm đi.


Trong khi đó, loài chim này bị đối xử không được tử tế cho lắm. Người Mỹ coi chúng là giống vật đần độn. Gọi ai là “turkey” thì đó là cách nói người ấy rất thiếu thông minh. Loài chim này sau đó được thuần hóa, được nuôi ở nhà, hay qui mô hơn là trong các trại. Chúng được nuôi chỉ để cung câp thịt cho người. Chúng ra đời trong một cái chuồng lớn và lớn lên ở trong đó cho đến khi đủ một sức nặng nào đó thì bị lôi ra thảm sát.


Vừa nở ra, chúng bị cắt ngay một khúc mỏ để khỏi mổ nhau. Do đó, việc ăn uống của chúng trở nên khó khăn không ít. Kế đến, chúng bị chích, bắt uống đủ mọi loại thuốc để ngừa bệnh tật và kích thích cho chóng lớn. Chúng không một lần được hưởng cái thú đi bộ như những con gà nuôi theo kiểu Việt Nam để khi vào nồi phở giúp cho tô phở ngon hơn. Chúng được cho ăn để mập nặng đến độ đôi chân của chúng cũng không đỡ nổi cái thân mình quá nặng của chúng nữa. Chúng chỉ nằm một chỗ, cố gắng lắm cũng chỉ đủ sức lết ra chỗ ăn hay uống nước. Những con gà tây nuôi trong trại để lấy thịt đã mất hẳn khả năng bay như tổ tiên của chúng. Chúng chỉ là những cục thịt chờ ngày lên bàn tiệc Thanksgiving hay Giáng Sinh. Có phải vì thế mà tiếng kêu của chúng nghe hết sức tội nghiệp hay không. Cùng là gà nhưng tiếng gáy của những con gà trống Việt Nam nghe oai biêt là bao nhiêu. Ngay tiêng quang quác của những chị gà mái cũng rộn ràng một góc sân. Gà tây thì chỉ những con trống mới biết kêu nhưng tiếng kêu của chúng nghe như tiếng của một con vật bị bóp cổ : nghẹn ngào và bi thảm.

Tội nghiệp những con gà tây hết sức.

Tôi đã quyết định không đụng vào bất cứ một con gà tây nào từ cả hơn hai chục năm nay tức là kể từ khi hiểu được những khốn khổ về cuộc đời của những con gà tây đáng thương này. Chẳng gì ông bà ta ngày xưa cũng đã nói rằng:

Dù xây chín đợt phù đồ
Không bằng làm phúc cứu cho một … gà


Thôi hay là đợi cho đến khi “leo lên nóc tủ ngắm gà (ta) khỏa thân” cũng vui chán ! Bây giờ thì tha cho những con gà tây.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#108 Posted : Friday, December 25, 2015 7:26:45 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

November 26, 2015

CÁM ƠN CÁI CỐI CÁI CHẦY

Trong cuốn The Importance of Living của Lâm Ngữ Đường (Nguyễn Hiến Lê dịch là Một Quan Niệm Sống Đẹp) có một chương đề cập tới Kim Thánh Thán, một nhà phê bình và cũng là một nhà văn nổi tiếng sống trong thế kỷ 17 dưới triều nhà Thanh. Lâm Ngữ Đường kể là trong một chiều mưa khi ngồi với một người bạn trong một ngôi miếu cổ, Kim Thánh Thán đã ghi lại những chuyện trải qua trong đời sống mà ông cho là đã đem lại cho ông những niềm vui lớn nhất trong đời. Ông kể lại được tất cả 33 điều. Đọc những điều đem lại lạc thú cho Kim Thánh Thán người ta thấy đó không phải là những gì vĩ đại cho lắm mà hầu hết chỉ là những chuyện khá tầm thường, như một cơn mưa ào đổ xuống giữa trưa hè, đống tuyết ngoài sân, mầu đỏ của ruột trái dưa hấu, xóa nợ cho một người quen, con mèo thình lình xuất hiện khiến lũ chuột phá phách phải bỏ chạy… Những chuyện đó đều kết thúc bằng một câu hô thán: “Chẳng cũng khoái ư!”

Đọc hết những điều đó, những điều mà Kim Thán Thán cho là đem lại sướng khoái cho ông, thì người ta có cảm tưởng là ông kể chúng ra như một cách cảm ơn chúng. Ông cảm ơn những điều đã đem lại cho ông những niềm vui trong đời sống. Những điều ấy sau đó được ghi chung trong bài phê bình Tây Sương Ký rất nổi tiếng của ông. Những điều ghi xuống trong lúc ngồi trong miếu nhìn mưa rơi đó được coi là một bài tản văn hay nhất cổ kim của văn học Trung quốc.

Vậy thì ngay cả những chuyện tầm thường cũng vẫn có thể là những thứ đáng để được cảm ơn trong đời sống chứ chẳng cần phải là những điều gì cao siêu khó làm, khó thấy trong đời sống.

Tự nhiên tôi nhớ mấy câu tội nghiệp này, chắc là của một cô gái nghèo ở một vùng quê nào đó:

Cảm ơn cái cối, cái chầy

Đêm đêm giã gạo có mày, có tao
Cảm ơn cái cọc cầu ao
Nửa đêm vo gạo có tao, có mày…

Người phụ nữ trẻ đầu tắt mặt tối lo công việc nhà cho chủ quần quật vẫn tìm được an ủi nơi những đồ vật vô tri gần gũi chung quanh: cái cối, cái chầy giã gạo, cái cầu ao … Cô đơn và tội nghiệp biết chừng nào. Có lẽ vì thế mà cô cảm ơn chúng.

Ngày lễ Tạ Ơn năm nay tôi cũng thấy phải cảm ơn nhiều thứ ngoài những điều vẫn tâm nguyện cảm ơn mỗi đầu ngày khi thức dậy với ngày mới chứ chẳng cần phải đợi cho đến Thanksgiving…

Thí dụ cha mẹ, gia đình chị, em, con cháu … cả những người đã ra đi, bạn bè, nước Mỹ đem cho đời sống bình an, những ân tình của bạn bè suốt chiều dài đời sống, những năm tháng đã sống trên đời này, quá khứ, tuổi thơ kỷ niệm, những cuốn sách đã đọc, những bài thơ, những bản nhạc nghe rồi vẫn còn ở lại trong trí, mùi nước hoa, mùi mái tóc, mùi cà phê buổi sáng, mùi đất khi những giọt mưa vừa rơi xuống… Bằng ấy điều phải cảm ơn mỗi lúc thoáng qua trí nhớ. Nhưng cũng còn biết bao nhiêu điều, biết bao nhiêu thứ chưa kể ra vì trí nhớ cũng có lúc mỏi mệt không tìm lục thấy.

Chẳng hạn như cái mở chai tire bouchon đang nằm trước mặt. Thiếu nó thì làm sao … giải quyết cái chai đỏ tối khuya hôm nay. Nó không là cái cối giã gạo, cái chầy, cái cọc cầu ao nhưng không có thì khổ. Hai ba giờ sang đi mua ở đâu? Hay cái hộp viễn khiển remote control giữa lúc bệnh lười vùng lên không muốn đứng dậy đổi đài khác để khỏi phải xem những đoạn pha trò vô duyên hay … lại đổi đài để tránh một cuốn phim Tầu cho đầu óc khỏi bị nhiễm độc. Hay là cái ly chân dài rót đầy Pinot Noir, Cabernet Sauvignon… bị (?) ánh sáng đèn chiếu hắt qua. Hay một bản nhạc có giọng ca thân thiết một thời. Rồi cũng phải cảm ơn cuốn sách cũ đọc từ mấy chục năm trước vừa tìm lại được và mở lướt qua vài trang là bao nhiêu thứ lũ lượt kéo trở lại, lôi theo cả những cơn mưa trong cái thành phố chưa trở lại từ gần nửa thế kỷ nay. Hay đôi mắt mà Đinh Hùng thấy “có thơ mùa hạ / má phấn hồng lên bóng phượng hoa”. Nhiều khi chỉ là một câu hát lạc lõng trong đầu cứ trở lại hoài trên môi…”Gió chiều thầm vương bao nhớ nhung…”. Hay cũng cần cảm ơn một chuyện tử tế bất ngờ đến nào đó, như tô mì Quảng treo tòn ten ở cửa trong lúc không có nhà giữa lúc đang phân vân không biết làm sao đối phó với cái ông dạ dầy khó tính đang thức giấc. Hay những giấc mơ gặp lại dăm ba người, ngửi lại được mùi hơi thở thơm của những đứa con và luôn cả mùi khai của chiếc giường trong căn nhà cũ ở Sài Gòn. Những buổi sáng chủ nhật chở chúng đi chơi, nét hân hoan trên mặt chúng, những âm thanh của thành phố không còn trở lại được nữa. Lại cũng phải cảm ơn “mảnh tàn y” còn giữ lại được như như chiếc áo thị Bằng còn gây quyến luyến cho nhà vua sau sự ra đi vĩnh viễn. Thôi cũng phải cảm ơn cái iPhone: không có nó làm sao sống.

Vậy nên hôm nay, ngày Thanksgiving, phải cảm ơn thêm những thứ vừa kể ở trên, sợ rằng vài ba năm nữa, trí nhớ bỏ đi thì làm sao nhớ lại được mà … Thanksgiving chúng.

Cảm ơn tất cả. Cảm ơn đời sống (coi vậy mà) rất đáng sống này.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#109 Posted : Friday, December 25, 2015 7:29:12 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
December 11, 2015



TRẺ TRÂU


Danh từ "trẻ trâu" xuất hiện ở Việt Nam cách đây không lâu. Hai chữ này được dùng để mô tả những thiếu niên hư hỏng, ăn nói vô giáo dục, thô tục, mở miệng là chửi thề bằng những ngôn từ hết sức dơ bẩn, độc ác và tục tĩu, sẵn sàng tung chưởng giao chiến dữ dội ở bất cứ mọi nơi, trong lớp, ngoài đường. Những thành phần này xuất hiện rất nhiều ngay sau khi miền Nam đổi chủ với những đợt bộ đội, cán bộ cùng gia đình và đám dân từ miền Bắc kéo vào. Chúng gây kinh hoàng trong các lớp học ở miền Nam, cả tiểu học lẫn trung học. Không chỉ những thành phần nhỏ tuổi, mà luôn cả các sinh viên đại học, kể cả các giáo sinh sư phạm ở Hà Nội cũng ăn nói cùng một loại ngôn ngữ như thế. Chính báo chí trong nước, từ những năm 70 kể cả tờ Nhân Dân cũng lớn tiếng phàn nàn nhiều lần.

Mới đây còn xuất hiện hai chữ "sửu nhi" để gọi bọn trẻ trâu này cho có tí hơi hướm Tầu mặc dù người Tầu không hề có cách gọi này bao giờ.

Danh từ trẻ trâu được cho vào tiếng Việt chắc là để thay cho hai chữ cao bồi đã được du nhập vào tiếng Việt từ những năm 1950 ở Hà Nội, rồi cao bồi lô canh nghĩa là cao bồi nội địa chứ không phải là những anh chăn bò trong các phim kể chuyện miền viễn tây nước Mỹ. Thực ra những thứ gọi là cao bồi lô canh hồi đó cũng không mất dậy và khốn nạn như bọn trẻ trâu hiện nay. Nhiều lắm thì cũng kiếm cái áo sơ mi ca rô mặc vào, tay khuỳnh khuỳnh ăn nói hơi du côn một chút là cùng.

Trẻ trâu thì dữ dằn hơn nhiều. Bọn này thường tuổi tác khoảng 9 hay 10 tuổi cho đến 14 hay 15, bé thì không còn bé nữa, mà lớn thì cũng chưa lớn hẳn. Nhưng mức độ mất dậy thì đúng là không đợi tuổi. Gọi chung chúng là "trẻ trâu" vì chúng bị coi là những đứa trẻ thất học hư đốn, mất dậy như bọn chăn trâu chăn bò vậy. Thế là chú bé mục đồng của bài tập đọc trong bộ Quốc Văn Giáo Khoa Thư mà ai cũng yêu quí bỗng nhiên bị làm bẩn đi rất nhiều vì hai chữ trẻ trâu ngày nay ở trong nước.

Với sự phổ biến ngày càng rộng rãi của những chiếc điện thoại di động, hình ảnh, ngôn từ của chúng được đưa đi khắp nơi chỉ trong tích tắc. Vào internet, đánh những chữ "trẻ trâu đánh nhau" là người ta có thể xem hàng mấy chục video clip thu lại cảnh chửi bới, đánh nhau kinh hoàng của chúng.

UserPostedImage

Những vụ đánh nhau như thế diễn ra gần như ở khắp nơi, không chỉ ở vài ba vùng nam hay bắc. Chỉ cần nghe những câu chửi bới của chúng là có thể biết chúng là người vùng nào ngay. Chúng dùng những đòn độc để đánh nhau: túm tóc, đá đạp vào mặt, vào bụng, nhắm những chỗ hiểm, ghì đầu xuống, lên gối... Trong những vụ bạo hành đó, người ta thấy đa số các bên là giữa các trẻ gái, ăn mặc sạch sẽ rất thời trang và gần như luôn luôn có cảnh xé quần áo của nhau giữa những tiếng cổ võ của đám đông đứng chung quanh. Đặc biệt là những đám đông đó rất ít khi can thiệp, ngăn cản những vụ bạo động đó, trái lại chỉ đứng xem, cổ võ, xúi đánh những đòn mạnh hơn, tụt quần áo của nhau và dùng điện thoại thu hình để bỏ lên face book phổ biến rộng rãi. Ngay giữa Hà Nội, một ngôi trường đã phải dựng bảng yết thị nói rõ là các học sinh không được cởi quần áo của nhau. Điều này cho thấy những vụ xé quần áo của nhau rất thường xẩy ra. Trong những vụ đánh nhau như thế, thành phần đứng xem phần lớn bao giờ cũng là các nam sinh và rất ít khi bước vào can ngăn. Các trẻ gái này vừa đánh vừa chửi những câu thông thường tưởng chỉ từ mồm miệng của những người đàn ông tục tĩu xúc phạm mẹ của nhau.

Nguyên do đưa tới những vụ bạo động ấy nhiều khi chỉ từ những mâu thuẫn nhỏ ở trong lớp, ở cửa trường. Và cũng còn cả những vụ tranh giành bạn trai của nhau. Những vụ đánh ghen như thế diễn ra giữa những trẻ gái chỉ mới 11 hay 12 tuổi. Rất nhiều vụ đánh nhau diễn ra với sự tham gia của ba bốn trẻ ở một bên nhắm vào một đối tượng hệt như cảnh đấu tố giữa sân làng...

Xem những video clip đó người ta không thể không thắc mắc chúng là những thành phần như thế nào. Nhìn quần áo, giầy dép của chúng, người ta thấy chúng là những đứa thuộc gia đình không đến nỗi túng thiếu. Có cả những thứ hàng hiệu trên người của chúng. Một số còn đeo ở cổ những chiếc khăn quàng đỏ. Biết đâu gia đình của chúng lại chẳng được coi là "gia đình văn hoá" có gắn bảng ghi rõ ngoài cửa. Chúng có thể là những "cháu ngoan bác Hồ" giao chiến ngay trong lớp, dùng bàn ghế đánh nhau trong khi trên tường treo những tấm bảng kêu gọi chúng "học tốt theo gương đạo đức của Hồ Chí Minh"...

Những đứa trẻ trâu ấy vài ba năm nữa chúng sẽ thành niên và sẽ hội nhập vào xã hội của người lớn. Lúc đó chúng sẽ là những người như thế nào?

Lại nhớ một câu trong Kiều:
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh...
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#110 Posted : Wednesday, January 20, 2016 12:15:24 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
January 1, 2016


SÀI GÒN ĐẸP LẮM SÀI GÒN ƠI! SÀI GÒN ƠI!...



Những người thường xuyên đọc báo trong nước gần đây nhận ra một điều là càng ngày người ta càng thấy danh xưng cũ nguyên thủy của thành phố này càng được dùng nhiều hơn. Thực ra thì ngoài những trường hợp giấy tờ chính thức, cái tên mới của nó mới được đem dùng, còn thì rất nhiều người dân vẫn dùng tên Sài Gòn từ nhiều năm nay, từ ngay sau khi Sài Gòn bị đổi tên. Đó là những người không chấp nhận chuyện đổi tên Sài Gòn. Một nhà thơ đã khẳng định điều này từ những năm 1970 :

...Tánh danh là tánh danh rồi
Ai thay đặng tánh, ai dời đặng danh... (Nguyễn Đức Liêm)

Ông là một người lớn lên tại Hà Nội nhưng đã sử dụng toàn những tiếng đặc biệt của miền Nam như "tánh", "đặng"... trong hai câu lục bát dẫn ở trên của ông.

Khoảng vài tuần nay, tờ Tuổi Trẻ, tờ báo của Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh có đăng liên tiếp một số bài viết về Sài Gòn, về thành phố (với cái tên cũ), về đời sống của nó trước khi đổi tên, về con người, về nếp sống, tính tình của người Sài Gòn và những cái hay, cái đẹp của cái thanh phố này. Tất cả những bài viết về Sài Gòn được xếp chung vào một mục đặt cho cái tên là Góc Sài Gòn để người đọc có thể truy cập đọc lại những bài đăng trên các số báo trước.

Đó là những bài viết của nhiều tác giả khác nhau viết về Sài Gòn, cái thời thành phố này còn cái tên cũ, chưa có những đổi thay bi thảm.
Có rất nhiều thứ về Sài Gòn được ghi lại. Từ những ly cà phê đá buổi sáng không thể thiếu của người Sài Gòn, tiếng cái muỗng kêu lanh canh chạm vào thành ly cà phê trong không khí hơi lạnh của buổi sáng, tiếng của những chiếc xích lô máy phun khói mờ trời đất, chuyến xích lô đạp chạy tới cây cầu thì khách tự động xuống xe để bác xích lô đẩy xe không qua cầu cho đỡ mệt... Một số bài khác thì kể lại lai lịch của những cái tên đường mà ngày nay không còn mang những cái tên cũ nữa. Những cái tên đọc lên như vọng lại từ những năm nghe như đã xa vắng lắm. Một số hình ảnh cũ cũng được tìm ra như một quán cà phê lề đường, chiếc xe hủ tiếu mì, những chiếc Citroen, Peugeot, Renault... thân thuộc, một phụ nữ trên chiếc vélo solex tà áo dài bay trong gió, chiếc xích lô đạp chở hai phụ nữ đặc vẻ miền Nam, một rạp chiếu bóng với tấm bảng quảng cáo vẽ một cảnh trong cuốn phim đang chiếu, một chiếc thuyền chở ba phụ nữ kèm theo hai câu hò : bắp non mà nướng lửa lò / đố ai ve được con đò Thủ Thiêm... Những cái tên đường kéo ra một chuỗi kỷ niệm cho những người từng sống tại thành phố này.

Nhưng đáng nói nhất là mấy bài viết về những người Sài Gòn, những đặc điểm của những người Sài Gòn, những người ra đời, lớn lên trong thành phố này, đâu là những chi tiết khiến người Sài Gòn khác hẳn những người từ những thành phố, những nơi khác của Việt Nam. Một ý kiến khẳng định rằng cho dù sống cả đời ở Sài Gòn cũng chưa chắc trở thành người Sài Gòn. Nhưng thế nào là người Sài Gòn? Theo ý kiến này thì người Sài Gòn sống đơn giản, hồn nhiên lắm, có khi quê hơn cả nhà quê nữa. Do đó, lịch sự, lịch sàng chưa chắc đã là người Sài Gòn. Sài Gòn là cái tính người rất khác những người ở các vùng khác. Thí dụ buổi sáng cầm cái chổi ra quét cái sân trước nhà thì tiện tay quét luôn cả cái sân trước cửa nhà bên cạnh. Một bài báo khác thì ngợi ca cái anh hùng, độ lượng, rộng rãi của những người Sài Gòn, cái đặc điểm khó tìm thấy ở những nơi khác.

Đó cái hào phóng, theo một ý kiến khác, có thể là một sự văn minh miệt vườn cộng lẫn với văn minh Tây phương nên vừa hào phóng Nam bộ lại vừa lịch sự tôn trọn luật lệ...

Những bài viết thình lình xuất hiện trên một tờ báo Cộng Sản chắc cũng chẳng vì một lý do hay một chỉ thị nào. Có thể chỉ vì những cái nhốn nháo mất trật tự của một thành phố đang càng ngày càng bầy rõ ra những cái xấu xa học được từ những cái xấu xa của những nơi khác.

Còn về cái tên mới của Sài Gòn thì chắc chẳng ai có thể đổi được. Rồi cái tên cũ sẽ trở lại. Thí dụ Tsaritsyn đổi thành Stalingrad vài chục năm rồi lại đổi thành Volgograd sau khi Stalin bị hạ bệ, rồi Petrograd đổi thành Leningrad và nay thì lại thành St Petersburg. Mà đó là tên của những tên to đầu nhất một thời ở Liên Xô mà còn như vậy chứ đáng gì một cái tên được áp đặt lên Sài Gòn!
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#111 Posted : Wednesday, January 20, 2016 12:16:39 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
January 8, 2016


LY CÀ PHÊ CŨ


Tôi thích cà phê ngay từ khi chưa được uống một giọt cà phê nào. Ở nhà, "cụ giáo" của tôi rất nghiêm khắc không cho con cái đụng tới nó, hình như vì một bài viết trong tờ Sélection cho là cà phê có hại. Vì thế, cà phê không được tiến vào qua cái ngưỡng cửa nhà chúng tôi. Nhưng hồi học năm đầu của trung học, mỗi lần đi học về qua một cửa tiệm trên đường Nhân Vị, Chợ Lớn (bên kia là Cơ Thể Học Viện), tôi đều ngừng lại xem một ông già người Hoa rang cà phê trước cửa nhà ông để hít lấy cái mùi kỳ diệu của những hạt cà phê nâu đen trong cái chảo trên cái bếp than của ông.

Thế rồi chuyện phải đến (?) đã đến : tôi uống lén được ly cà phê đầu tiên cùng với một điếu Bastos xanh hôm đi tập thể dục với một người bạn học lớp đệ lục (năm thứ hai trung học đệ nhất cấp), bạn tôi người tài không đợi tuổi, đã mỗi ngày hút 2 điếu Mélia vàng.

Người Sài Gòn oai hơn người Hà Nội. Ở Hà Nội hồi trước di cư, phải sang lắm mới biết uống cà phê. Nhưng ở Sài Gòn, gần như ai ai cũng uống cà phê. Ông xích lô, ông lái taxi, ông thư ký, mấy ông già, đàn ông, đàn bà đủ mọi hạng tuổi đều uống cà phê. Có một cách uống cà phê mà chỉ ở Sài Gòn mới có, đó là uống ngồi kiểu nước lụt, tức là ngồi chồm hổm, cà phê được đổ ra cái đĩa và... húp xì xụp. Cảnh uống cà phê như thế trông không quí phái lắm nhưng cách uống đó rất có lý: buổi sáng trời lạnh, ngồi co ro như vậy cho ấm. Ly cà phê nóng đổ ra đĩa sẽ nguội đi, dễ uống hơn.

Mãi đến năm học thi Tú Tài 1 thì chuyện uống cà phê (lén) của tôi mới là chuyện thường xuyên. Mỗi ly cà phê bít tất hồi ấy có 2 đồng bạc. Gần như hôm nào tôi cũng đến một quán cà phê trên đường Hai Bà Trưng gần nhà thờ Tân Định để uống cà phê với Đinh Ngọc Mô (người phụ trách chương trình Đố Vui Để Học của Trung Tâm Học Liệu bộ Giáo Dục sau này) và cũng để ngắm cô hàng cà phê tên là Y. (ngó em hổng dám ngó lâu / ngó qua một chút đỡ rầu rồi thôi).

Cà phê trở thành một phần của đời sống của tôi từ đó. Sau trung học, tôi đi học xa khỏi Việt Nam và cà phê càng không rời tôi mặc dù cà phê ở ngoài Việt Nam không thể nào ngon bằng cà phê phin Việt Nam, thua xa những ly cà phê đầu đường xó chợ mà tôi uống ở Sài Gòn hồi học trung học

Sau mấy năm, về lại Sài Gòn, tôi lại trở về với cà phê Sài Gòn nhưng chuyện cà phê của tôi có đổi khác. Không còn là học sinh... nghèo nữa. Chúng tôi thay đổi phần nào nơi uống cà phê. Chỗ chúng tôi hay ngồi là quán Cái Chùa, tên thật là La Pagode ở góc đường Tự Do và Lê Thánh Tôn. Đó là chỗ để ngồi đấu hót thì đúng hơn, để gặp bạn, đủ các thứ bạn, còn cà phê thì nói cho ngay, không đáng kể lắm nếu không nói là dở. Chúng tôi đến đó là vì những lý do khác. Cũng như thế, cà phê ở Givral, Brodard và Continental... đều không có gì đáng nói. Những nơi như thế chỉ để ngồi chứ không vì cà phê.

Chính những tiệm cà phê không tên tuổi, không bảng hiệu lại là những nơi có cà phê ngon nhất. Hai nơi chúng tôi hay tới đều ở trong hai con đường nhỏ, một ở khu Bàn Cờ và một ở Tân Định. Ở trong con hẻm từ đường Cao Thắng rẽ vào, là căn nhà nhỏ của gia đình cụ Phong mà chúng tôi vẫn gọi là cà phê Phong. Tiệm không có bàn, chỉ có mấy cái ghế thấp, khách khứa bao giờ cũng chỉ năm, sáu người. Cà phê phin của cụ rất ngon. Chủ tiệm bao giờ cũng ngồi trên chiếc ghế xích đu. Khi có khách gọi cà phê thì ông cụ gọi vọng vào nhà trong, và cũng chẳng buồn đứng dậy. Ông cụ ngồi xích đu nghe lỏm đủ các thứ chuyện của khách, thỉnh thoảng góp vài câu với khách thường bằng câu "Cậu không bằng tôi..." bất kể khách nói gì, làm gì. Thỉnh thoảng có một người khách rất đặc biệt ghé vào, trong cả những buổi tối mưa ướt lướt thướt, gọi một ly cà phê đen không đường, không sữa ngồi uống một mình, uống xong lại lặng lẽ ra về trong mưa, hệt như bài Déjeuner du Matin của Jacques Prévert:

...Il s'est levé
Il a mis
Son chapeau sur sa tête
Il a mis son manteau de pluie
Parce qu'il pleuvait
Et il est parti
Sous la pluie
Sans une parole
Sans me regarder...

Đó là ông Đinh Hùng. Tôi chưa kịp làm quen để chào ông một câu thì ông qua đời. Năm ấy là năm 1967.

Tiệm cà phê kia nằm trên đường Lý Văn Phức từ đường Hiền Vương rẽ vào. Chủ nhà là một phụ nữ khoảng ngoài bốn mươi. Tiệm cũng không bàn ghế như những tiệm cà phê khác. Cũng chỉ vài cái ghế đẩu thấp. Chủ nhà rất tiết kiệm lời nói nhưng bù lại cà phê rất ngon. Chắc chắn còn nhiều người nhớ tên của bà: cà phê Thái Chi.

Trong khi có người uống cà phê với rất nhiều đường, thì cũng có người không uống với đường, vì vị ngọt (quá đáng) có thể làm mất đi mùi cà phê.

Tôi uống đủ các thứ cà phê từ cà phê bít tất đên cà phê bột, cà phê dở và nhạt như nước mắt ma của 7-Eleven đến cà phê Ả Rập, cà phê espresso của Ý, của Pháp, cà phê Áo, cà phê kiểu Thổ Nhĩ Kỳ... và cà phê Starbucks...

Nhưng cho tới khi đọc một tùy bút của Võ Phiến tôi mới học được cách gọi cà phê ít sữa hay cà phê nhiều sữa một cách giản dị và dễ dàng, lại không thể lầm lẫn. Chú phổ ky ở cái tiệm mì nhỏ có cách gọi rất vắn tắt: "một cà phê sữa, một sữa cà phê" là có ngay hai ly cà phê đúng ý của hai ông khách khó tính từ Sài Gòn xuống miền Tây công tác.

Cạnh tiệm phở Tầu Bay trên đường Lý Thái Tổ có một ông cụ bán cà phê bên một gốc cây to. Cà phê đá của cụ rất ngon tôi thường ghé trong những sáng chủ nhật trước khi lên ngồi cà phê cái chùa.

Bây giờ những ngày không đi làm tôi pha cà phê lấy ở nhà bằng những cái ấm cà phê tôi góp nhặt suốt nhiều năm qua. Cái của Ý, cái của Đức, Áo... thỉnh thoảng thay đổi cho đỡ chán. Nhưng hệt như người ta không bao giờ quên hẳn mối tình đầu, những ly cà phê thời tuổi trẻ vẫn trở lại hoài hoài. Tôi vẫn yêu những ly cà phê uống với những người bạn trung học. Tưởng tượng làm sao có cách nào trở lại với những ly cà phê rẻ tiền mà ngon đến thế.

Nhưng giấc mơ trở lại với những ly cà phê ấy chắc không bao giờ làm được nữa. Tuần qua một bài báo ở Sài Gòn viết về cà phê ở trong nước hiện nay, theo đó cà phê mà người dân Sài Gòn uống hiện nay được làm bằng 30% cà phê, còn 70% là đậu đỏ, đậu xanh pha cùng với một hai thứ hóa chất có nhiều phần độc hại khác cho khách.

Nhớ những ly cà phê ở mấy cái quán bình dân thời ấy biết là bao nhiêu nhưng nay làm thế nào còn tìm thấy được. Có phải lúc ấy đời sống hiền lành và giản dị hơn bây giờ như một câu trong bài Memories của Barbra Streisand không?

"...can it be that it was all so simple then..."
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#112 Posted : Wednesday, January 20, 2016 12:18:25 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
January 15, 2016


LẢNG XẸT

Bầy trước mặt một bát cơm và một bát không phải là cơm mà lại là một thứ (nếu dám ăn) thì cũng không được ngon lắm, lại rất khó ăn thì người bình thường, (không cần phải có bằng cử nhân luật giả trong rừng) cũng chọn bát cơm để ăn. Bát kia thì để dành tính sau (?).

Ấy vậy mà vẫn có những người cầm bát kia (bát cứt) lên ăn lấy ăn để. Phải như Câu Tiễn nằm gai nếm mật (ngọa tân thường đảm) nghe lời Phạm Lãi nếm phân của Ngô Phù Sai để có được lòng tin của vua Ngô rồi từ đó khôi phục lại được giang sơn thì cũng đáng những hy sinh nhục nhã đó đi, Nhưng bưng bát cứt lên đớp thì chỉ có chó là dám làm. Thực ra thì ngay chó Mỹ, chó Ăng Lê cũng không con nào làm như thế nữa. Chó có đồ ăn thức uống riêng của chúng. Nhiều con không thèm ăn cả thức ăn của người nữa kể chi tới cứt. Vì thế, đi ăn tiệm nếu không ăn hết, người ta mang về và gọi cái bao đựng đồ ăn mang về đó là doggie bag mặc dù ở nhà không có chó hay có chó thì chó cũng không thèm ăn. Gần đây, để tránh nhục mạ loài chó, người ta gọi những cái bao đó là brown bag.

Vậy mà vẫn có những thứ cứ chọn cứt mà ăn mới ngu tận mạng chứ.

UserPostedImage

Sinh Vinh Ngô Nguyễn

Một người đàn ông gốc Việt ở quận Cam tên là Sinh Vinh Ngô Nguyễn ra đời tại Mỹ trong một gia đình tị nạn Việt Nam, học hành cũng không cao lắm, làm an ninh cho một cơ sở thương mại tự nhiên bỏ theo Hồi giáo rồi bị ma đưa lối quỉ đưa đường bỏ nhà theo Al Queda, lần mò sang tận Syria cầm súng làm khủng bố. Sau vài tháng, đương sự trở lại Mỹ và lại tìm đường trở lại Trung Đông làm khủng bố tiếp. Bị FBI gài bẫy, người này bưng bát cứt lên ăn trên đường đi Mexico rồi định đi Syria thì bị bắt. Cách đây 2 năm, đương sự bị truy tố về tội theo khủng bố. Không biết ăn xong bát cứt thì phải ngồi bóc mấy chục quyển lịch nữa nhưng có điều chắc là cũng "thiếu tiểu ly gia lão đại hồi" như ông thi sĩ đời Đường nọ, tuổi trẻ ra đi, già mới trở về, về đến nơi thì cha mẹ anh chị em chắc cũng không còn nữa chỉ vì chuyện ăn cứt của mình. Tử tế, yên lành thì không muốn. Lại muốn để "ma đưa lối, quỉ đưa đường, cứ tìm những lối đoạn trường mà đi" nên đời mới thập phần khốn nạn. Ăn cứt thật là khổ.

UserPostedImage
Phạm Quang Minh

Mới đây, lại một người đàn ông gốc Việt tên là Phạm Quang Minh sống tại Anh bị dẫn độ sang Mỹ về tội theo khủng bố với toan tính dùng bom tấn công phi trường Heathrow ở ngoại ô Luân Đôn. Năm 2010, Phạm Quang Minh bỏ nhà ở Luân Đôn sang Yemen và gia nhập Al Qaeda, rồi được chính Anwar al- Awlaki (đã bị phi cơ không người lái của Mỹ tiêu diệt) dậy cho kỹ thuật làm bom và kỹ thuật đánh bom khủng bố. Minh cũng giúp làm một tờ báo truyên truyền để tuyển mộ người cho Al Qaeda, Năm 2011 Minh trở lại Luân Đôn bị tạm giữ vì có mang theo một số đạn bắn thủng áo giáp nhưng một năm sau, năm 2012 mới chính thức bị bắt và qua tháng 2 năm 2015, sau khi tìm mọi cách để chống lại lệnh dẫn độ, đương sự bị đưa sang New York để ra tòa về tội âm mưu khủng bố. Tại tòa án New York, Minh đã nhận tội và chắc chắn sẽ lãnh một án tù nặng. Khi bỏ sang Yemen thì vợ của Minh đang có thai. Đứa bé ra đời không biết mặt cha. Người phụ nữ trẻ cuộc đời dở dang chắc cũng sẽ không bao giờ gặp lại chồng. Minh mới ngoài 30 tuổi, có học. Nhưng cũng chỉ vì bát cứt mà ra nông nỗi.

Trong cả hai trường hợp, người ta đều không thấy một lý do nào để cả hai vục mặt vào đớp bát cứt. Cả hai đều không dính dáng gì tới mục tiêu tranh đấu của Al Qaeda, của ISIS (Islamic States In Iraq and Syria) hay của IS (Islamic State). Tự dưng tự địa đang có một đời sống yên lành tử tế vồ lấy bát cứt mà ăn nên đời mới khốn nạn. Cho chết!

Tiếng Việt miền Nam có hai tiếng hay tuyệt: lảng xẹt.

Từ điển Lê Văn Đức ghi là lảng xẹt với dấu hỏi. Nhưng lảng (dấu hỏi) xẹt hay lãng (dấu ngã) xẹt thì cũng không quan trọng. Thế nào cũng hiểu được.


Vì hỏi hay ngã cũng đều nói đúng trường hợp của hai người đàn ông thích ăn cứt này cả. Ai bảo dại thì cho chết đáng đời.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#113 Posted : Saturday, February 13, 2016 11:32:18 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
February 5, 2016


CẤM CẢ NHỮNG ƯỚC AO
BÌNH THƯỜNG NHẤT


Mới đây, tin từ trong nước cho biết một trong những ca khúc nổi tiếng nhất của Phạm Đình Chương, bài Ly Rượu Mừng, ca khúc không thể thiếu trong dịp xuân về, từng được hát lên từ hơn một nửa thế kỷ nay ở trong nước cũng như ở ngoài nước, cuối cùng đã được "cho phép" cất lên ở trong nước.

Tức là trong 40 năm qua, bài hát này chỉ được hát một cách lén lút ở Việt Nam.

Phạm Đình Chương sáng tác bản nhạc này năm 1955 chứ không phải năm 1952 như một số chi tiết trong nước đã cho biết về ca khúc này. Người ta không muốn cho ca khúc này được viết ra dưới chế độ miền Nam.

Nhưng phần ca từ của bản nhạc cho thấy nó không thể ra đời trước năm 1954.

Chuyện cấm không cho một tác phẩm nghệ thuật được phổ biến là chuyện không hiếm trên thế giới. Lý do có thể là vì nó không phù hợp hay đi ngược lại đường lối, lập trường chính trị của một chế độ hay một chính phủ nào đó. Hay cũng có thể tác giả là người phía "bên kia". Trong trường hợp này, phải nói là miền Nam cởi mở hơn miến Bắc rất nhiều. Các ca khúc của các tác giả ở lại miền Bắc đều được trình bầy tự do ở miền Nam. Các tác phẩm của Đoàn Chuẩn, Tô Vũ, Nguyễn Văn Tý, Phan Huỳnh Điểu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Văn Cao... đều được phổ biến ở miền Nam trong khi chúng lại bị cấm ở miền Bắc. Trong khi đó, ngay cả những tác giả thiên về phía bên kia tác phẩm của họ cũng không hề bị ngăn cấm. Trịnh Công Sơn là một. Phạm Trọng Cầu, Miên Đức Thắng... là những trường hợp khác.

Một lý do khác để cấm phổ biến những tác phẩm nghệ thuật là nội dung, ca từ không phù hợp với khung cảnh, tình hình, cục diện. Miền Nam, về phương diện này cũng cởi mở và dễ dàng hơn miền Bắc.

Bài Ly Rượu Mừng bị cấm hát lên từ 40 năm nay ở trong nước vì nó rơi vào cả hai trường hợp để phải cấm. Nhưng chuyện cấm nó, tuy không có ghi trong một văn bản rõ ràng nào, là một quyết định thậm vô lý.

Tạm bỏ qua chuyện chính trị như Phạm Đình Chương viết bản nhạc này ở Sài Gòn, không ở Hà Nội. Hay Phạm Đình Chương đã cùng gia đình vượt biên đi tìm tự do. Nghe lại các tác phẩm của ông, người ta bao giờ cũng thấy những ao ước, những cơn mơ tốt đẹp, những hy vọng tươi đẹp cho một ngày mai, cho một tương lai hạnh phúc chan hòa, cho con người. Cho dù đó là Hò Leo Núi, Nhạc Tuổi Xanh, Xóm Đêm...

Trở lại với phần ca từ của Ly Rượu Mừng.

Bản nhạc được viết với nhịp 3/4, nhịp valse vui tươi trẻ trung đã trở thành một ca khúc được cất lên trong suốt nhiều năm ở miền Nam. Nó là những ngợi ca cho một đời sống tươi đẹp, những ao ước cho một tương lai ngời sáng.

Nhưng đó lại là những điều nhà cầm quyền không muốn.

Hãy nghe lại những ước muốn ấy!

Chỉ là những lời chúc cho anh nông phu, người thương gia lợi tức, người công dân ấm no. Có gì sai quấy trong ước vọng ấy?

Hay lời chúc gửi tới người mẹ già mắt vương lệ nhòa trông chờ người con đi chiến đấu xa nhà? Chỉ là lời chúc cho bà mẹ sớm gặp lại người con yêu quí.

Hay lời chúc người nghệ sĩ làm đẹp cho đời sống của chúng ta?

Hay lời chúc tốt đẹp nhất cho một quê hương hòa bình?

Toàn những lời chúc tốt đẹp, những giấc mơ, những ao ước rất bình thường nhưng đều bị coi là những đe dọa cho chế độ nên cần phải cấm tiệt.

Cấm cả những giấc mơ thì khốn nạn hết sức, Mà cũng không cách gì cấm nổi! Bài hát của Phạm Đình Chương chỉ đưa ra những mơ ước hiền lành giản dị cho một đất nước thanh bình tốt đẹp đầm ấm, nó vẫn được cất lên cho một dân tộc hạnh phúc, thương yêu nhau. Vậy mà những hát vọng ấy cũng không được hát lên. Vì lẽ những ước ao khát vọng ấy không nhắc đến cái đảng tàn độc vẫn còn đầy đọa đất nước và một người mà bàn tay của nó đẫm máu của người Việt chúng ta, bóp chết tất cả những mơ ước hiền lành và tội nghiệp nhưng lại vô cùng tươi đẹp của dân tộc trong gần một thế kỷ nay.


Ly Rượu Mừng sẽ sống mãi trong lòng và trên môi của người Việt.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#114 Posted : Friday, February 26, 2016 6:43:53 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
February 19, 2016


CÁM ƠN ÔNG GIÁO NGUYỄN DUY KHÁNH



Chắc cơ hội để cho tôi gặp ông sẽ chẳng bao giờ có. Thôi thì cứ nói đôi ba lời cám ơn gửi tới ông, dù biết những lời cám ơn đó cũng khó (hay nói thẳng ra) sẽ chẳng bao giờ đến được tới ông. Nhưng ông cũng hiểu là có những việc chúng ta làm mà chính chúng ta chẳng cần biết phía bên kia có tiếp nhận được hay không, nhưng chúng ta vẫn làm. Chỉ vì chúng ta thấy cần phải làm. Thế thôi.

Xin cảm ơn và rất cảm phục ông đã làm một công việc đẹp vô cùng trong mấy lớp học ông phụ trách.

Ông giáo Nguyễn Duy Khánh năm nay 35 tuổi, là giáo sư của một trường ở An Thới huyện Phú Quốc. Ông dậy môn (Việt) văn đã từ hơn một chục năm nay. Hôm 17 tháng 2 vừa qua, trước khi giảng bài thường lệ, ông hỏi các học sinh trong lớp rằng trong tháng 2, có một ngày quan trọng nào trong lịch sử Việt Nam đáng ghi nhớ không, thì tất cả các học sinh của ông đều trả lời là không biết. Cũng có mấy học sinh khác nói rằng tháng 2 có ngày Valentine, ngày lễ tình yêu, ngày một số quốc gia Tây phương dùng làm để tôn vinh tình yêu của nam nữ.

Thôi thì cũng hiểu là tuổi trẻ mới lớn muốn có một dịp để vui với nhau trong một đời sống chẳng có được bao nhiêu ngày vui (ta đi qua nửa đời không có một ngày vui: Trịnh Công Sơn. Nhưng ông thấy rất đau khi tất cả các học sinh của ông đều không biết ngày 17 tháng 2 năm 1979 là ngày đã diễn ra một cuộc chiến ngắn ngủi nhưng vô cùng tàn khốc ở vùng địa đầu của Việt Nam, nơi tiếp giáp với Trung quốc. Trong ngày 17 tháng 2 năm 1979 đó, đã bùng nổ một loạt những trận đánh khốc liệt của quân đội Trung quốc nhắm vào, không phải một, mà là nhiều thành phố của Việt Nam. Những loạt tấn công này kéo dài trong một thời gian tương đối ngắn, khoảng một tháng, nhưng sau đó vẫn còn những trận giao tranh lẻ tẻ giữa hai bên trong suốt 10 năm kế tiếp. Con số thương vong lên đến hai ba chục ngàn người. Đích xác là bao nhiêu đến nay cả hai bên đều không đưa ra những con số rõ ràng. Nhưng phải là một con số rất lớn, rất đáng kể.

Nhà cầm quyền Việt Nam đã ém nhẹm mọi chuyện, không hề nhắc tới cuộc chiến này trong rất nhiều năm. Bằng cớ là các học sinh trong lớp của ông giáo Nguyễn Duy Khánh, những em ở những lớp tương đối là khá lớn (lớp 9 và lớp 10) đều chưa một lần nghe nói về cuộc chiến ấy. Trong cuốn sách lịch sử dùng để dậy các em, cuộc chiến đẫm máu đó được đề cập tới chỉ vỏn vẹn có 11 (mười một) dòng. Việc các em không biết gì về cuộc chiến ấy hoàn toàn không phải lỗi của các em, và cũng không phải lỗi của các thầy cô dậy các em. Với 11 dòng vùi lấp trong những trang sách của một chương trình bề bộn ấy, các em không biết về cuộc chiến khủng khiếp đó là một điều dễ hiểu.

Các binh sĩ Trung quốc, mà theo chính những tài liệu của họ, được lệnh là giết hết những người Việt Nam mà họ gặp trên lãnh thổ Việt Nam. Và các binh sĩ này đã làm đúng các chỉ thị đó. Mục tiêu tàn sát ấy không phải chỉ là các binh sĩ Việt Nam, mà còn là những thường dân tại các khu vực Trung quốc tấn công. Giải phóng quân Trung quốc không chỉ bắn giết những người lính và các thường dân Việt nam các vùng này, mà bọn chúng còn thực hiện những hành vi vô cùng thâm độc khác. Chúng hãm hiếp tất cả các phụ nữ mà chúng gặp. Hãm hiếp xong, lính Trung quốc còn đâm chém giết các phụ nữ Việt, cắt vú, mổ bụng, phanh thây các nạn nhân rồi quăng xuống những giếng nước trước khi đổ thuốc độc xuống các nguồn nước này và rút đi. Một tấm bảng nhếch nhác viết tay được dựng lên để ghi nhớ những hành động tàn ác ấy nay đã bị cây cỏ dại mọc lên che kín.


UserPostedImage


Những cảnh thương tâm và dã man ấy đã được nhà cầm quyền Việt Nam tìm đủ mọi cách để lấp liếm che dấu, xóa hết khiến cho hơn một thế hệ người Việt không hề biết tới những hành vi bạo ngược của bọn xâm lăng Trung quốc.

Các học sinh trong các lớp học ông giáo Nguyễn Duy Khánh phụ trách đã không biết gì về cuộc chiến tàn bạo ấy. Cho đến khi ông giáo Khánh giảng cho các em, sau khi đã nhìn trước nhìn sau, sợ bị các biện pháp kỷ luật vì dám nói ra những chi tiết cấm kỵ liên quan đến cuộc chiến biên giới Việt Trung đó.

Những hy sinh của những người lính, những cái chết oan khiên tức tưởi của những người dân vùng địa đầu hoàn toàn bị chối bỏ trong suốt gần bốn chục năm nay, và nếu không có ông giáo Khánh thì lại một số học sinh ở Phú Quốc cũng chỉ biết có ngày Valentine trong tháng 2.

Ông giáo Khánh là một người can đảm. Một người yêu nước can đảm. Ở Việt Nam ngày nay yêu nước cũng phải can đảm. Phải can đảm mới dám yêu nước. Ông đã phải ngó trước, ngó sau mới dám kể cho các học sinh của ông về cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Ngay việc tưởng niệm những người đã khuất đó cũng bị ngăn cấm, cũng bị phá hoại thì việc làm của ông giáo Khánh cần phải được ghi nhớ và cảm tạ.


Có một chi tiết khác cũng nên nhắc ở đây. Đó là sau khi nghe thầy Khánh kể về cuộc chiến ấy, các học sinh của thầy đã khóc và đứng lên cúi đầu mặc niệm những người chết trong cuộc chiến năm 1979. Những bức hình chụp cho thấy các học sinh của thầy Khánh không có em nào đeo trên cổ những chiếc khăn quàng đỏ.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#115 Posted : Saturday, March 26, 2016 1:04:28 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
March 8, 2016

LẠI TIẾNG VIỆT Ở HẢI NGOẠI


Tờ Herald Sun, một nhật báo ở Melbourne, trong số phát hành đề ngày 22 tháng 2 vừa qua cho biết trên các chuyến xe điện chạy giữa các trạm Victoria Gardens và St Kilda tức là trên tuyến 12, và tuyến 109 chạy giữa ga Box Hill và Port Melbourne, kể từ tuần trước, tiếng Việt đã được dùng trong các thông báo gắn trên các toa xe. Tuyến đường này chạy ngang qua khu Abbotsford, một khu có đông đảo người Việt sinh sống mà theo một tài liệu, thì cứ 10 người dân sinh sống ở đó thì có 1 người Việt. Đây là một tỉ số rất lớn.

Phải như bản tin này được đọc thấy trên báo trước năm 1975 khi chúng tôi còn đang du học ở Úc, Tân Tây Lan thèm nói, thèm đọc tiếng Việt, thèm nghe tiếng Việt, thèm gặp người Việt, thuở xa quê hương nhớ mẹ hiền... thì chúng tôi đã mừng vui biết là bao. Nhưng hôm nay, đọc bản tin này tôi giật bắn mình lên, vừa hoảng hốt, vừa lo sợ. Tôi nghĩ đến những tấm bảng viết bằng tiếng Việt ở Thái, ở Đài Loan, Hàn quốc, ở Nhật... với nội dung mang đầy nét nhục mạ người Việt. Nhẹ thì nhắc khi ăn buffet đừng lấy quá nhiều, ăn bao nhiêu lấy bấy nhiêu, đừng xả rác, khạc nhổ, nặng thì cảnh cáo máy thu hình chống trộm cắp đang hoạt động, tội ăn cắp sẽ bị nghiêm trị. Nặng hơn nữa thì nói thẳng người Việt hay ăn cắp trong siêu thị như tại một cửa tiệm ở Đài Loan. Tất cả đều được viết bằng tiếng Việt, bằng thứ chữ (quốc ngữ) do cố Alexandre de Rhodes góp công sáng chế và được các ông Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Tản Đà... nâng niu gìn giữ.

Chao ơi là thảm thương cho cái tiếng Việt, "chữ quốc ngữ, chữ nước ta, con cái nhà đều phải học, miệng thì đọc, tai thì nghe..." Cái tiếng Việt mà các cảnh sát viên Nhật ở thị trấn Yoshikawa và Saitama phải phái người sang tận Việt Nam để học, nhưng không phải là để đọc và thưởng thức văn chương của Đoàn thị Điểm, Cao Bá Quát, Trần Tế Xương, Nguyễn Công Trứ, Phan Huy Vịnh, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng... mà là để thông dịch trong những cuộc điều tra những vụ trộm cắp mà những người Việt chiếm đa số những vụ phạm pháp ở Nhật hiện nay. Theo báo chí, trong số 1197 vụ trộm cắp ở Nhật trong năm qua thì có 814 là do người Việt phạm phải, tức là 68%.

Hỡi ơi, hình ảnh tốt đẹp mà các cụ Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, Cường Để... trong phong trào Đông du trước đây, rồi mấy thế hệ du học sinh Việt Nam tạo được trong lòng người dân Nhật trong những năm 50, 60 và 70 đã trở nên tồi tệ như vậy rồi sao?

Tôi hốt hoảng và lo sợ, nghĩ là những tấm bảng trên những toa xe điện ở Melbourne nội dung cũng như những tấm bảng ở Nam Hàn, Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan... thì đau biết là bao nhiêu.

Tưởng tượng trên những toa xe điện, xe bus ấy xuất hiện những tấm bảng song ngữ Anh Việt nhắc nhở các hành khách một số chuyện mà người ta không thấy ở một ngôn ngữ nào khác thì chúng ta thấy thế nào? Không bằng tiếng Tây Ban Nha, không bằng tiếng Hàn, không bằng tiếng Nhật, không bằng tiếng Hoa... tất cả đều là những tiếng được rất nhiều người sử dụng.

Đó là những câu tiếng Việt như thế nào?

Những câu hỏi thăm đường tôi viết cho mẹ tôi hồi năm 1976 trong những tấm flashcards để mỗi khi ra đường ở Canada khỏi phải nói tiếng Anh bằng phương pháp... Trần Ra Hiệu?

Hay là những tấm bảng nội dung làm tởn hồn cả những người lăn lộn khắp ngang cùng ngõ hẻm của Sài Gòn năm xưa?

Thí dụ đừng xả rác, đừng khạc nhổ, đừng phóng uế, đừng nói to, đừng nói chuyện về Việt Nam kiếm mối đem bạch phiến trở lại Úc kiếm tí tiền du lịch, buôn bán ma túy để đầu độc thanh niên Úc trả ơn cho quốc gia này đã cưu mang những người đến Úc tị nạn... biết bao nhiêu điều có thể viết trên những tấm bảng gắn trên những tấm biển gắn trên những toa xe điện và xe bus ở Melbourne.

Ở khu town house tôi ở có một tấm bảng viết bằng tiếng Việt cảnh cáo đừng đem những chiếc shopping carts vào trong khu. Đọc những dòng chữ Viêt đó là thấy máu sôi lên. Tại sao không là những dòng chữ viết bằng tiếng Tây Ban Nha mà phải bằng "tiếng nước tôi, tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi "?

Tôi chưa đọc được những tấm bảng trên những toa xe điện ở Melbourne nhưng vẫn mong nội dung của nó chỉ là để chỉ đường, lên xuống các ga, ấm ớ như mấy câu tôi viết cho mẹ tôi ở Toronto hồi mấy chục năm trước.
Chứ nếu không thì,,, đau lòng cò con lắm!


CHẾT / QUA ĐỜI / QUÁ VÃNG / MẤT...



Tối thứ tư (2/3/2016) rạng ngày thứ năm khoảng gần 2 giờ sáng tôi còn thức, đang ngồi một mình với một chai Châteauneuf du Pape, không biết làm gì, bèn mở e-mail ra, thì đọc được lời nhắn của một người bạn vỏn vẹn mấy chữ : "NNBích chết rồi, trên chuyến bay đi Manila."

Chỉ có thế. Phải đợi tới hôm sau tôi mới có được những chi tiết khác về sự ra đi của Bích.

Tôi hơi ngạc nhiên nghĩ tại sao người nhắn lại cộc lốc thế. Một cái tin về một người mà cả hai chúng tôi đều rất thân và yêu mến, mà chỉ mấy chữ như vậy thôi sao. Ít ra thì cũng vài ba chi tiết khác cho cái tin khủng khiếp và quá đột ngột ấy nhẹ đi phần nào chứ. Chẳng hạn cũng phải cho biết nguyên do làm Bích qua đời, bên cạnh có ai không, sự ra đi có yên lành, thanh thản, nhẹ nhàng không... Nhưng thực ra, điều làm cho tôi "sốc" nhiều hơn hết, là chữ "chết" trong cái tin nhắn. Tôi nghĩ chữ "chết" nặng quá, vô tình quá, lạnh nhạt, dữ dội quá. Tại sao lại không là một chữ khác? Không là những chữ dành cho vua chúa ngày trước như "thăng hà" hay "băng hà" đã đành. Nhưng thiếu gì những cách nói, những chữ khác hơn là chữ "chết" để có thể dùng cho sự ra đi của một người mà chúng tôi rất thân như Nguyễn Ngọc Bích, một người chúng tôi yêu quí từ gần nửa thế kỷ nay?

Tại sao không là "mãn phần", "ra đi", "quá vãng"...và hàng chục chữ khác để nói về chuyện Bích không còn ở với chúng tôi nữa. Nhưng khi tôi thử dùng những chữ ấy thay thế cho chữ "chết" trong câu nhắn qua e-mail của bạn tôi để thông báo về chuyện Bích không còn ở với chúng tôi nữa thì tôi thấy... "không được" như cách nói của Mai Thảo khi ông còn sống.

Đúng vậy, không thể dùng những chữ nghĩa lạnh tanh đó để nói về sự vắng mặt rồi sẽ là mãi mãi của Nguyễn Ngọc Bích.

Người đàn ông luôn luôn với với một nụ cười, một ánh mắt lạc quan suốt bằng ấy năm mà tôi biết ông, từ năm 1972 cho đến nay, ở Sài Gòn rồi qua Virginia, và cuối cùng trong những năm một người ở Virginia, một người ở California... lúc nào cũng nhiệt tình, trẻ trung, vui vẻ như hồi còn ở Princeton, Columbia, Georgetown, George Mason... nơi chàng đi học trong những năm 50, 60, 70.

Nói Nguyễn Ngọc Bích "quá vãng"... "mãn phần "... nghe không ổn chút nào. Nghe không... thân tình chút nào. Ai lại nói Bích "quá vãng" trên máy bay. Cũng không ai nói Bích "qua đời" trên chuyến bay đi Manila. Nghe không được. Đó là những sự ra đi hình như không nhanh chóng. Sự từ giã không nhanh chóng và thanh thản, nhẹ nhàng như sự ra đi của Bích, bạn tôi.

Lẩm nhẩm đọc lại e-mail của người bạn trong internet bỗng nhiên tôi thấy chính bạn tôi mới đúng khi dùng chữ "chết" trong thông báo về Bích. Lời nhắn ngắn ngủi và hơi cộc lốc của chàng mới hay nhất và đúng nhất, đúng với tâm trạng của chúng tôi trước sự ra đi vĩnh viễn của Bích.

Phải thân lắm, phải gần gũi lắm mới dùng chữ ấy.

Nguyên Sa, một người không thiếu gì chữ nghĩa, trong một bài thơ viết nhân đám tang của một người bạn mà tôi nghĩ là rất thân của ông, Nguyễn Duy Diễn, đã mở đầu như thế này :

Diễn đã chết, Diễn đã chết
Chúng tôi nhẩy múa hò reo...
(Đám tang Nguyễn Duy Diễn)

Vậy thì lạnh nhạt, vô tình... ở chỗ nào? Phải thân tình, gần gũi... lắm đấy chứ!

Bỗng tôi chợt nhớ chính tôi cũng đã có vài ba lần chữ nghĩa như thế. Có một vài lần tôi hỏi ông chú tôi về ông bà nội của tôi, hai bà cô, hai ông chú của tôi, những người không còn ở với chúng tôi nữa, tôi luôn luôn dùng chữ "mất". Thí dụ "ông mất hồi ấy chú mấy tuổi?"... Tôi không dùng những chữ như "qua đời", "thất lộc", "quá vãng"... những chữ nghe sách vở, không gần gũi, thân mật, gia đình chút nào. Chữ tôi dùng trong những câu hỏi là chữ "mất", nghe có sự kính trọng ở trong, nhưng thân tình và gần gũi thì không có. Những người ấy đều đã ra đi từ lâu, tôi không biết gì về "họ" cả. Vẫn có những xa cách mà tôi thì không làm sao cho gần gũi hơn được.

Nhưng khi ông bà cụ của tôi qua đời, thì khi ngồi nhớ lại, tôi thấy sau những xúc động ban đầu, tôi đã nói về cái chết của hai ngưòi một cách rất bình thản và tự nhiên. Không phải chữ nghĩa cao siêu, văn học nghệ thuật, sách vở... gì hết.

Này đây là Đinh Hùng:

Khi anh chết các em về đây nhé...

Vậy thì cứ thoải mái nói Nguyễn Ngọc Bích đã chết. Nhưng lòng thương mến dành cho người bạn này thì to lớn vô cùng,

Bích đã chết. Bích ơi là Bích!


Tôi nhớ và tiếc bạn.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#116 Posted : Saturday, March 26, 2016 1:05:57 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
March 11, 2016


"NGƯỜI XƯA" của TRẦN ĐÌNH KHẢI


Đó là cuốn sách tôi chưa bao giờ có dịp cầm lên. Nó ra đời năm 1956. Mãi 60 năm sau tôi mới có nó trong tay.

Chỉ cần nhìn qua tấm bìa, tôi cũng biết ngay là nó do nhà xuất bản Tự Do (nhật báo Tự Do của Phạm Việt Tuyền) ấn hành. Nó cùng có một cách trình bầy với hai mầu vàng và cam như những cuốn "Hoàng Lê Nhất Thống Chí", "Liêu Trai Chí Dị", "Trước Vành Móng Ngựa"... (cũng do Cơ Sở Báo Chí và Xuất Bản Tự Do cho ra đời) hồi những năm 50 và 60. Cuốn sách nhan đề "Người Xưa" của Trần Đình Khải, giải thưởng Văn Chương 1957.

Vậy tại sao chỉ mới gần đây tôi mới thấy nó? Lý do là khi nó ra đời thì tôi còn quá nhỏ, và khi lớn thêm vài ba tuổi thì nó đã tuyệt bản.

Theo chỗ tôi biết, hiện nay ở Mỹ chắc chỉ có hai cuốn: một của gia đình tác giả và một cuốn khác gia đình tác giả mới mua được qua craig list cách đây không lâu.

Gia đình tác giả giữ được một cuốn thì cũng dễ hiểu. Bỏ nước ra đi, người ta có thể bỏ lại nhiều thứ trong lúc hốt hoảng, nhưng cuốn sách của người cha viết, món quà còn để lại cho con cháu, thì không thể bỏ lại. Cuốn mua lại được qua craig list thì thân thế của nó chắc ly kì hơn nhiều. Biết đâu nó lại chẳng từ trong tủ sách của một sinh viên du học được gia đình từ Việt Nam gửi sang cho đọc trong những năm xa nhà như chính tôi cũng đã nhận được những cuốn sách như thế hồi đó. Những cuốn sách của Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, Bình Nguyên Lộc, Nhật Tiến... mà tôi có hồi ấy và nay lưu lạc đi những đâu, qua tay những ai, đang nằm trong một tủ sách nào, tôi không thể tưởng tượng, hay nhớ ra nổi.

Cuốn "Người Xưa" của Trần Đình Khải chắc cũng có một cuộc đời truân chuyên không kém. Người cuối cùng có nó quyết định không giữ nó nữa. Nhưng thay vì để cho nó giã từ thế giới này ở một hố rác, một cái landfill nào đó đang càng ngày càng đầy và càng khó kiếm, ông (hay bà) quyết định đem bán trên craig list. Việc đem bán nó trên craig list là một việc làm rất đáng quí. Quăng nó đi thì dễ quá. Nhưng đem bán nó, ông/bà đã cho cuốn sách đó một đời sống mới.

Trần Đình Khải, cụ Khải, là một nhà giáo. Tôi nghĩ cụ là một người rất cô đơn. Cụ làm một công việc rất một mình. Như Nguyễn Đình Chiểu "trước đèn đọc truyện Tây Minh". Chắc chắn khi cụ ngồi viết cuốn "Người Xưa", cụ không có ai để tâm sự. Những người con của cụ còn quá nhỏ. Người bạn đời thì còn bận tay bao nhiêu là chuyện khác trong đời sống hàng ngày. Bên đèn một bóng, tác giả viết cho những người khác thì đúng hơn.

Khi viết cuốn "Người Xưa" chắc cụ ngẫm nghĩ nhiều về câu của Khổng Tử trong sách Luận Ngữ : "Ôn cố nhi tri tân".

Nhắc lại chuyện cũ để biết những chuyện mới. Chuyện cũ không phải là những chuyện không còn giá trị nữa, chỉ đáng quăng đi, bỏ đi, mà trái lại vẫn còn nguyên giá trị tuy đã cũ, nhưng những chuyện đó vẫn còn có thể cho chúng ta những bài học quí giá về kinh nghiệm, về cách ứng xử của người xưa mà trong rất nhiều trường hợp, người viết, cụ Khải, muốn truyền lại những chuyện ấy lại cho các thế hệ không còn có được khả năng đọc trực tiếp từ nguyên bản, đó là chưa nói những chuyện ấy lại rải rác trong rất nhiều cổ thư mà không bao nhiêu người may mắn có được trong tay.

Tác giả chắc chắn phải là người đã hiếm hoi khó kiếm được (những người thông thạo chữ Hán) khi bắt đầu sự nghiệp tác thuật của cụ. Đó là đầu thập niên 40 khi cụ cho xuất bản ba tác phẩm "Những Người Đi Ngược Dòng" (1941), "Lã Thị Xuân Thu" (1942), "Phương Pháp Học Chữ Hán" (1943). Tất cả nay đã đều tuyệt bản.

Cuốn "Người Xưa" là một tác phẩm gồm một số được xếp vào loại bình dịch. Người viết đem những câu truyện cổ của Trung Hoa ra dịch sang Việt ngữ rồi bàn thêm cho những câu truyện ấy. Một số bài khác là những bài khảo luận. Ngoại trừ một bài đưa ra một cái nhìn, một cách phê phán mới về một nhân vật trong Kiều của Nguyễn Du, còn tất cả những bài mà tác giả Trần Đình Khải đều lấy từ những túi khôn của Trung Hoa.

Tác giả sưu tầm một số truyện của Tư Mã Thiên, Chiến Quốc Sách, Tả Khâu Văn, Đông Lai Bác Nghị tả truyện...

Tất cả đều được chú thích khá rõ. Phần bình luận gần như tất cả đều là của Trần Đình Khải. Thêm vào đó là vài ba bài bình luận của Đông Lai Tiên Sinh cũng được dịch và chú thích kỹ.

Trong Thiên 7, thiên "Thuật Nhi" của "Luận Ngữ", Khổng Tử nói với học trò rằng ngài chỉ làm công việc kể lại những điều đạo lý mà ngài nghe được rồi truyền lại cho các môn sinh chứ ngài thì không sáng tác ra điều gì cả (thuật nhi bất tác). Những điều mà ngài dậy cho học trò, theo ngài, đều là những điều người xưa để lại. Câu nói của ngài vừa đúng như thuyết chính danh mà ngài xướng xuất, lại vừa khiêm tốn. Thế nên chắc cũng sẽ có người không hoàn toàn đồng ý với hai chữ "tác giả" mà tôi (có một chút ngại ngần) đặt trước tên của cụ Khải. Rõ ràng là cụ không sáng tác. Cụ chỉ đem những truyện cũ dịch từ nguyên bản sang tiếng Việt và đưa thêm vào những lời bình của cụ. Đó là những đóng góp của cụ. Nhưng chính vì những đóng góp đó, phần bình chú của cụ, mà tôi thấy không cần phải ngại ngần khi coi cụ là tác giả của cuốn "Người Xưa" mà tôi đang có trong tay.

Cuốn sách mở ra, đưa người đọc vào những không gian tưởng như đã hoàn toàn biến mất và không bao giờ còn nữa, thứ không gian như khi đọc "Vang Bóng Một Thời" của Nguyễn Tuân, khi đọc "Cổ Học Tinh Hoa" của Nguyễn Văn Ngọc, khi đọc "Thuật Xử Thế Của Người Đời Xưa" của Nguyễn Duy Cần...

Mỗi truyện là mỗi kinh nghiệm của người xưa được tác giả kéo lại gần hơn cho người đọc. Những cách ứng xử đang càng ngày càng ít gặp trong thế giới đang trải qua những đổi thay đầy những biến động của ngày nay. Những cách ứng xử ấy có thể không còn thích hợp cho thế giới hiện đại nữa nhưng chúng lại mở ra cho thấy các vấn đề của xã hội và lịch sử, đạo đức và triết lý được người xưa giải quyết như thế nào. Ôn lại chuyện cũ cũng là cách để biết những chuyện mới. Những chuyện trong "Cổ Học Tinh Hoa" cũng đi kèm những lời bình nhưng không chi tiết bằng những lời bình của "Người Xưa". Phần bình dịch có 20 bài; phần khảo luận có 4 bài. Phần lời bình có một vài trường hợp còn dài hơn cả chính truyện vì thế, lời bình đào được sâu hơn so với phần bình của "Cổ Học Tinh Hoa". Đây là một cuốn sách nên đọc một cách từ từ cho đủ thời gian ngấm như lời khuyên của Nguyễn Hiến Lê khi đọc những loại sách như cuốn "Người Xưa".

Tôi nghĩ cuốn sách tuyệt bản này cần phải được in lại để những điều tác giả viết xuống truyền đạt lại cho hậu thế không còn ngủ yên trong những trang giấy cũ đang sắp sửa mục nát theo thời gian.

"Di tử kim mãn doanh bất như giáo nhất kinh": để lại cho con một thùng đầy vàng không bằng dậy cho con một cuốn sách.

Xin mạn phép sửa một chữ để thành "di tử kim mãn doanh bất như "trứ" nhất kinh" nghĩa là để lại cho con một thùng vàng không bằng viết một cuốn sách để lại cho con.


Mong cuốn sách của cụ sớm được gia đình cho in lại ở nước Mỹ.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#117 Posted : Saturday, March 26, 2016 1:07:58 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

March 25, 2016

TIÊN HỌC CÁI... CỦ GÌ?


Trong thời buổi này mà còn lôi "Nhị Thập Tứ Hiếu" của Lý Văn Phức ra để dậy và bắt các học sinh phải học và làm theo thì nhất định là không còn thích hợp nữa. Ấy là chưa nói tới một số những tấm gương đẹp ấy còn có thể bị hiểu là những trường hợp bạo hành, ngược đãi, gây nguy hiểm cho trẻ nhỏ là khác. Một số chuyện thì thấy có vẻ hề hơn là gương đạo đức. Như chuyện ông lão Lai nhẩy múa cho cha mẹ giải trí chẳng hạn. Thêm nữa, có cha mẹ nào nỡ để con ngồi cho muỗi cắn để muỗi tha cho cha mẹ, hay để cho con nằm trên băng đá để bắt cá cho mình ăn? Vậy thì đọc "Nhị Thập Tứ Hiếu" để giải trí, đọc cho biết là đúng nhất.

Nhưng "Gia Huấn Ca" của Nguyễn Trãi thì vẫn có thể đem ra dậy cho tuổi trẻ và đáng để cho tuổi trẻ noi theo. Phần lớn những điều dậy của Nguyễn Trãi dành cho nam cũng như nữ vẫn còn nguyên giá trị như khi Nguyễn Trãi đặt bút viết xuống hồi thế kỷ XV. Đó là những lời giáo huấn, răn dậy cho con trai, con gái lúc còn ở nhà với cha mẹ cho đến lúc trưởng thành, có vợ, có chồng, có con cái, những cách cư xử với vợ, với chồng, với các con... Những bài gia huấn viết bằng song thất lục bát ấy ngày nay vẫn có thể là những bài học hay và tốt đẹp cho tuổi trẻ.

Ở các lớp bậc tiểu học, ít nhất là trong những năm 1950 của tôi, trong số những bài học ở trường, có bài đức dục. Chúng tôi được dậy cách cư xử với anh em, bạn bè trong lớp, bổn phận đối với cha mẹ, ông bà ở nhà, thầy cô giáo ở trường, gặp người lớn phải thưa gửi, cung kính, thấy đám ma ngoài đường phải đứng lại, im lặng cúi đầu...

Ngày nay ở các trường học trong nước không dậy những điều như thế nữa. Nghe cách ăn nói xem cách cư xử, hành động của những thành phần được đặt cho một cái tên (khá mới đối với những người không ở Việt Nam đã lâu) là "trẻ trâu" hay "sửu nhi" thì người ta tin chắc là như thế.

Nhiều vụ xung đột có đánh nhau dữ dội xẩy ra trong lớp, ngoài sân, cổng trường hay trên đường đi học. Những vụ như thế thường diễn ra giữa các thanh thiếu niên tuổi trạc từ 11, 12 tới 15, 17. Đa số đều ăn mặc sạch sẽ, một số còn thắt khăn quàng đỏ, giầy dép cũng rất kiểu cọ. Nhưng bọn chúng đánh nhau cũng rất dữ dội. Đấm, đạp, đá vào mặt, vào bụng, vào lưng, lên gối, túm, giật tóc, dùng giầy dép quật vào mặt, vào đầu... Những đòn hay nhất của Thai boxing đều được đem ra dùng rất hào hứng và ngoạn mục.

Không chỉ thượng cẳng chân, hạ cẳng tay mà thường chúng rất thích đánh hội đồng, có khi hai ba đứa đánh một, có khi là năm hay bẩy đứa đánh một như cảnh tố khổ thời cải cách ruộng đất, vừa đánh vừa chửi, dùng những thứ ngôn từ tục tĩu nhất, những câu chửi mà thường chỉ phát ra từ miệng của những người đàn ông hay lũ nam sinh vô giáo dục để xúc phạm tối đa mẹ của đối phương.

Mới đây có hai video clip (mà nhiều người trong nước gọi là "líp" hay "cơ líp") thu cảnh hai trận giao chiến giữa hai toán nữ sinh của hai trường trung học ở Huế là trường Trần Phú và Bùi Thị Xuân. Tất cả đều là nữ sinh võ nghệ cao cường và ra toàn những đòn ác liệt nhất. Phải nói thêm một chi tiết nữa ở đây, đó là tuy hai trận đấu đều diễn ra ở Huế, nhưng nghe kỹ những câu chửi thề thì người ta thấy ngay không phải là giọng của sông Hương và núi Ngự, mà là giọng tục tĩu và thô bỉ nhất của miền Bắc. Chao ôi, cái giọng Bắc của tôi sau khi bị làm xấu đi vì bị pha với những giọng của vài ba miền khác thì nay lại được đưa tới những vùng khác của đất nước với những nét thô tục, khốn nạn và mất dậy nhất.

Vì những nét rất dã man của cả hai vụ đánh nhau nên những báo trong nước đều tường thuật kỹ và các giới chức giáo dục cũng vào cuộc để có biện pháp kỷ luật. Nhưng đáng ghi nhận nhất ở đây là những nhận xét của cô hiệu trưởng Phạm thị Ngọc Tâm trường Bùi Thị Xuân về vụ các học sinh của trường đánh nhau. Sau vài lời như để trốn trách nhiệm cho trường như đại khái chuyện đánh nhau diễn ra ở ngoài khuôn viên của trường và sau giờ học, cô hiệu trưởng còn đưa ra thêm nhận định nguyên văn như thế này: "Đây là tuổi mới lớn, nếu các em không đánh nhau, không xích mích nhau thì các em không bao giờ năng động được."

Như thế, theo lời của cô hiệu trưởng, người có nhiệm vụ dậy dỗ các em, thì các em cần phải đánh nhau đều đều. Càng đánh nhau nhiều thì càng tốt. Không đánh nhau là không tốt. Các em đang tuổi lớn. Phải đánh nhau mới phát triển được, mới năng động được, mới trở thành những người khá trong xã hội được, mới nên người, mới hữu ích cho mai sau được.

Thì ra vậy. Nhưng các em không chỉ đánh nhau thôi, mà ngay cả thầy cô nếu lạng quạng, các em cũng ra tay, ngay ở trong lớp, trên bục giảng như một video clip thu được cách đây không lâu tại trường trung học phổ thông Nguyễn Huệ, Phú Phong, Tây Sơn, Bình Định. Một giáo sư trẻ tên là Trần Anh Tuấn 23 tuổi dậy môn hóa học đã nặng tay với một nam sinh bằng mấy cái tát. Lập tức, một nam sinh khác liền chạy lên bục và tấn công ông giáo sư trẻ đó bằng mấy đòn rất nặng. Nội vụ diễn ra ở ngay trong lớp trước tấm bảng xanh và dưới một khẩu hiệu nhắc nhở các học sinh bằng hàng chữ lớn mà video clip cũng ghi lại được rất rõ: "HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH".

"Nhị Thập Tứ Hiếu" của Lý Văn Phức và luôn cả "Gia Huấn Ca" của Nguyễn Trãi là... cút xéo, là đi chỗ khác chơi cho được việc.

Đạo đức của Hồ Chí Minh mới đáng học tập và làm theo ở trong lớp cũng như ngoài đời! Bác đã dậy, cô đã bảo mà!


Vỡ lòng học lấy những nghề nghiệp hay! Tiên phải học lấy tất cả những trò mất dậy và khốn nạn nhất. Còn hậu học cái... củ gì thì có gì quan trọng đâu.


March 18, 2016


MỘT ĐÒN NHU ĐẠO



Một buổi tối sau một ngày làm việc với rất nhiều "sì trét" như lối nói nghe thấy rất nhiều ở trong nước ngày nay, tôi đi ăn ở một tiệm ăn quen. Tiệm lúc ấy đang đông khách, tôi và người bạn được đưa tới ngồi ở một bàn gần góc tiệm. Nhưng vừa kéo ghế ngồi xuống thì tôi đã thấy ngay là không ổn, bữa tối có nhiều phần sẽ không yên lành. Cách bàn của chúng tôi một bàn khác có 5 hay 7 khách người lớn và thêm vào đó là 3 thiếu niên. Những thiếu niên này chừng 8 hay 9 tuổi, rất ồn ào. Chuyện ồn ào là chuyện rất thường trong các tiệm ăn mà những thành phần gây ồn ào lại không phải là các thiếu niên như trong tiệm ăn tối hôm ấy. Thường là những người lớn. Không hiểu những người này tại sao không biết điều chỉnh cái volume to nhỏ của họ như trong các máy khuyếch âm. Lúc nào những cái ampli ấy cũng được mở to hết cỡ như những chương trình tiếp vận cải lương hồi trước hào phóng cho cả xóm nghe. Trong những lần được nghe chuyện miễn phí như thế, nhiều người trong chúng ta thường chỉ biết cố gắng chịu đựng cho qua cơn... cơ cực, ăn cho nhanh rồi về nhà đau khổ tiếp. Quyền của chúng ta, quyền được bình an cho xong bữa ăn như ông Trời cũng tránh không ra đòn trong lúc đang dùng bữa.

Ông Trời đã nương tay với chúng ta biết bao nhiêu lần trong khi nhiều, rất nhiều, người khác chung quanh chúng ta thì lại không nhẹ nhàng với chúng ta bao giờ cả.

Người lớn nhiều người như vậy đó. Còn 3 đứa trẻ trong tiệm ăn hôm ấy cũng không một chút nhẹ tay với đám khách chút nào. Ba đứa gồm 2 trai và một gái, không phải chỉ to tiếng cười đùa la thét, mà còn nhẩy lên nhẩy xuống, coi góc tiệm như chỗ chơi đùa của chúng. Tôi quay sang ngó những người lớn ngồi ở bàn. Chắc họ cũng thấy khuôn mặt khó chịu của tôi mà tôi phải tập luyện nhiều năm mới có được. Tôi nhìn họ. Họ nhìn tôi. Như thế là có "eye contact", không có ai né ai hết. Lũ trẻ vẫn tự nhiên đùa nghịch như ở nhà của chúng. Chúng tôi đọc menu và gọi mấy món cho bữa tối. Lũ trẻ thì vẫn "business as usual", vẫn bình thản ồn ào. Tôi nghĩ chắc những người lớn dùng bữa cũng sắp xong nên cố chịu đựng thêm ít phút nữa, cả bàn sẽ ra về, và "bình an dưới thế" sẽ đến với "người thiện tâm".

Nhưng khi nhà hàng đem thức ăn đến bàn chúng tôi thì "bình an dưới thế" vẫn chưa chịu đến. Chúng tôi bắt đầu ăn. Tiếng la hét, tiếng cười nói rất lớn vẫn làm xao động cả một góc tiệm ăn. Tôi và người bạn muốn nói với nhau vài ba chuyện mà cũng không được. Tiếng ba đứa bé vẫn ào ào lấn sang, át giọng chúng tôi. Chúng vẫn nhẩy lên nhẩy xuống như đang ở nhà hay đang ở sân chơi. Ngồi chịu đựng thêm một lúc thì tôi thấy sự chịu đựng của tôi cũng chỉ có hạn. Tôi quyết định phải làm một cài gì thay vì "suffer in silence" như các nhà quí phái Ăng Lê, để "carry on", đau đớn chịu đựng để và chịu trận một cách theo kiểu các "British gentlemen". Tôi muốn cứu vãn bữa ăn tối của chúng tôi, không thể ngồi tiếp để "keep calm and have a cup of tea" như tôi đã học được của người Anh mấy chục năm trước. Tôi không thể có một "cuppa" để chịu đau khổ (suffer in silence) trong im lặng được. Sức người có hạn.

Tôi đứng dậy, bước tới bàn của mấy thiếu niên nọ, và nói (hơi lớn một chút): "Hey kids! Be quiet will you?"

Lũ trẻ im ngay. Cả một góc tiệm không còn một tiếng động nào. Tôi trở lại bàn và tiếp tục bữa tối.

"Bình an dưới thế" đã đến với "người thiện tâm (?)". Khoảng ít phút sau, tôi thấy những người khách ở bàn đó ra về. Tôi biết cả bàn đi ngang qua bàn chúng tôi. Tự nhiên tôi tưởng tượng những người ấy có thể ghé lại bàn của chúng tôi và... cho tôi một trận. Có thể lắm chứ. Họ có thể rất bực bội về chuyện tôi to tiếng với mấy đứa nhỏ. Họ thấy bị xúc phạm khi tôi lớn tiếng la mắng, dậy dỗ con của họ, việc mà họ nghĩ chỉ có họ mới có quyền làm. Họ đi qua bàn chúng tôi ngồi, ra quầy trả tiền. Tôi nghĩ như thế là xong chuyện. Không có gì rắc rối như tôi đã nghĩ. Như thế là xong một bữa tối. Tôi nói lên được sự bực bội của tôi. Gia đình của mấy đứa bé bị tôi... cho một trận đáng đời. Tưởng như thế là hết chuyện.

Nhưng bỗng một người đàn ông tuổi trạc ngoài bốn mươi tiến đến bàn chúng tôi. Ông chào tôi, gọi tôi bằng "chú", xin lỗi về chuyện ồn ào của mấy đứa nhỏ làm phiền tôi trong bữa ăn. Tôi cầm tay, vỗ vai ông nói với ông là không có chi. Tôi xin lỗi đã (hơi) lớn tiếng với lũ nhỏ trước mặt ông. Tôi nghĩ đáng lẽ ông đã gây sự với tôi, cự nự việc tôi la mắng các con của ông. Nếu thế, chắc chắn tôi đã phải đôi ba lời phải quấy với ông. Nhưng việc đó bỗng trở thành không cần thiết. Tôi thấy hơi ngượng trước mấy câu nói của ông. Chúng tôi ngồi ăn tiếp mặc dù tôi bắt đầu thấy tiếc về sự to tiếng của tôi. Đúng lúc ấy thì một người đàn ông khác, cũng từ cái bàn ấy đến bàn của chúng tôi và cũng nói đôi ba lời giống hệt như người đàn ông trước đó. Và tôi cũng đứng dậy, nói với ông là tôi tiếc là đã (hơi) lớn tiếng với mấy đứa nhỏ.

Tôi ngồi xuống tiếp tục bữa tối, lòng nhẹ nhàng hẳn. Những người trong cái bàn ấy đi về. Những bực bội tan biến hết. Bữa tối bình yên trở lại cho "người thiện tâm".

Ít phút sau, ông chủ nhà hàng lại bàn chúng tôi và cho biết những người khách đó đã "mời" chúng tôi và đã trả tiền cho bữa tối của chúng tôi!

Tôi thấy nghẹn ở cổ. Những lời xin lỗi của hai người đàn ông ấy đã quá đủ, đã làm cho người đàn ông đáng tuổi cha chú của hai ông ân hận biết bao nhiêu về cái thái độ to tiếng đó. Hai ông không cần phải giáng thêm một đòn khác mà người đàn ông này không cách chi đỡ được.

Trong nhu đạo, tôi là người ra đòn. Đối phương đã không trả đòn, chỉ né nên đòn của tôi chỉ đánh vào thinh không. Một bàn tay làm sao vỗ thành tiếng.

Quê cùng mình và xấu hổ hết sức. Tôi không hỏi để biết tên hai ông để cám ơn hai ông. Nhu đạo là nhu thắng cương. Tôi ra đòn, hai ông dùng nhu khiến tôi thua liểng xiểng nhớ đời. Bài học thật khủng khiếp.


Thì ra vẫn còn nhiều người tử tế chung quanh chúng ta.

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#118 Posted : Tuesday, April 26, 2016 5:24:28 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
March 31, 2016


TỰ SÁT TẬP THỂ


Lemming là sinh vật họ hàng rất gần với chuột và sóc sống ở vùng địa cực. Tuy sống gần địa cực nhưng chúng không thèm ngụy trang bằng bộ lông mầu trắng để tiệp mầu với tuyết. Chúng hiên ngang với bộ lông mầu nâu đậm và cũng không ngủ giấc đông miên như một số giống thú khác sống ở xứ lạnh. Theo một vài truyền thuyết thì khoảng mỗi bốn hay năm năm, cả vài ngàn con lemming lại kéo nhau đến một nơi ở Na Uy để tự tử bằng cách nhẩy từ một bờ đất cao ngó xuống biển. Sau khi không tìm thấy những bức thư tuyệt mạng chúng để lại mặc dầu đã mất nhiều công tìm kiếm, và tìm hiểu thêm thì các nhà sinh vât học tin là chuyện tự sát tập thể của những con lemming là không có thật. Lý do chúng kéo nhau nhẩy xuống biển rồi chết là vì chúng tìm cách đi kiếm những vùng đất khác để sống khi thấy nơi chúng đang ở đã quá đông đúc (vì sinh sản quá nhiều). Nhưng huyền thoại về những chuyến đi tự tử của chúng thì vẫn còn, và nhiều người vẫn tin là chúng kéo nhau đi tự tử hàng loạt. Thực ra không thể có chuyện cả ngàn con lemming đều thất tình, chán đời đến độ phải kéo nhau đi tìm cái chết như thế. Con thú nào cũng lận trong mình cái bản năng sinh tồn của ông Trời cho sẵn nên không loài thú nào tự đi tìm cái chết cả. Chuyện tự tử chỉ có nơi con người mà thôi. Người ta tự kết liễu đời sống vì nhiều lý do khác nhau. Có dân tộc tự tử nhiều, có dân tộc ít tự tử. Nhưng tự tử hàng loạt thì rất ít. Có thể nói là gần như không hề có hiện tượng đó, hiện tượng tự sát, tự tử, tự kết liễu đời sống cùng với nhau như huyền thoại về những con lemming ở Na Uy.

Như vậy, chỉ có loài người là biết tự tử. Người Nhật hay tự tử nhất. Tự tử để bảo toàn danh dự, vì thua trận, vì muốn lật ngược thế cờ như các phi công Kamikaze hồi đệ nhị thế chiến, vì không chu toàn được trách nhiệm như các samurai, vì những sai sót trong đời sống... Người già tự tử vì cô đơn như nhà văn Yasunari Kawabata tác giả của Ngàn Cánh Hạc. Người trẻ vì thất bại trong đời sống. Trẻ em Nhật cũng tự tử đến nỗi các cao ốc phải dựng lên những rào cản bằng lưới để ngăn chặn trẻ em nhẩy lầu trong mùa thi vì không thi đỗ vào lớp mẫu giáo...

Nhưng tự sát tập thể thì ngay cả ở Nhật cũng không có ngoại trừ một số kết liễu đời mình ngay trước hoàng cung khi Nhật hoàng loan báo nước Nhật thua trận và đầu hàng Đồng Minh. Vậy mà ở Việt Nam thì có. Người dân Việt Nam, cả nước đang cùng nhau tự sát tập thể.

Lý do không phải là vì chán đời, muốn đi theo bác Hồ hay bác chó gì hết. Nhưng người Việt vẫn đang tự sát tập thể. Không phải một hai, vài ba trăm hay mấy ngàn người mà dân tộc Việt Nam đang rất can đảm tự tử hàng loạt, tự tử cả nước. Và tự tử rất vui vẻ, anh hùng tự kết liễu đời mình, và luôn cả đời con cháu của mình, và giúp cho cả các thế hệ mai hậu tự giết mình.

Những cái chết do chính mình mang lại đó đang diễn ra hàng ngày một cách rất bình thản. Người tự tử chấp nhận những cái chết một cách tự nguyện rất anh dũng, không một nỗ lực nào để né tránh. Không bằng cách hara kiri tự mổ bụng như các hiệp sĩ Nhật, không lái máy bay lao vào chiến hạm Hoa kỳ như phi công Thần Phong Kamikaze, không ôm bom tự sát như khủng bố Hồi giáo. Người Việt Nam tự sát một cách bình thản và có phần vui vẻ là khác và được các đồng bào của mình sốt sắng giúp đỡ, một hình thức cũng có ở Mỹ nhưng rất hiếm hoi: assisted suicide (tự tử được sự trợ giúp) mà nhiều tiểu bang vẫn còn cấm ngặt và trừng phạt rất nặng như trường hợp của bác sĩ Jack Kevorkian (1928-2011).

Một cuộc nghiên cứu cho thấy là bệnh ung thư đang đóng góp rất nhiều vào việc giúp người Việt tự tử. Một giới chức thuộc hội ung thư Việt Nam nói rằng Việt Nam là quốc gia có số bệnh nhân ung thư cao nhất thế giới. Mỗi năm Việt Nam có khoảng 150 ngàn trường hợp nhiễm bệnh mới, và gần như đã nhiễm bệnh thì chỉ có chết. Lý do Việt Nam có nhiều người bị ung thư như vậy, theo giới chức này là vì một cuộc sống bẩn hóa chất: ăn bẩn, uống bẩn, thở bẩn.

Người Việt Nam ăn bẩn, rất bẩn. Gần như tất cả những thứ người dân Việt Nam cho vào miệng để ăn, để uống đều là những thứ độc hại. Không phải là những thứ mang những chất độc trong thiên nhiên, mà là những thứ thịt, cá, rau trái... được pha tẩm, ngâm... những loại hoá chất rất độc mà khoa học cho biết sẽ gây ra những chứng bệnh chết người về lâu về dài. Trong năm qua, Việt Nam tiêu thụ khoảng 6 triệu con heo. Phần lớn những con heo này đều được chích những thứ thuốc giúp gia tăng lượng thịt nạc, giúp chúng tăng trọng lượng nhanh chóng. Một số heo trước khi giết còn được chích thuốc an thần. Những loại hóa chất và thuốc này chắc chắn là sẽ đem lại những hậu quả không bình thường cho người tiêu thụ. Người Việt cũng tiêu thụ những nội tạng đã phân hủy, đã trong tình trạng thối rữa sau đó được dùng những loại hóa chất để tẩy mầu, khử mùi hôi thối rồi nấu nướng lên ăn với nhau. Ngay cả những con tôm, những con cá cũng được chích hóa chất để giữ được lâu hơn trước khi đem tiêu thụ ở khắp hang cùng ngõ hẻm. Những loại hóa chất độc hại này đều xuất xứ từ Trung Quốc được nhập cảng vào Việt Nam được bán công khai và được người Việt mua về để giúp nhau tự sát. Nhà cầm quyền thì không hề quan tâm đến những chuyện này, để mặc cho người dân tiêu thụ rồi chết với nhau. Những con gà phế thải ở Trung Quốc được đem sang bán ở Việt Nam cho người Việt tiêu thụ mà không qua bất cứ một biện pháp kiểm soát an toàn hay phòng ngừa nào của Việt Nam. Các nhà buôn Việt Nam thì dùng các hóa chất nhập cảng từ Trung Quốc để biến thịt heo, thịt trâu thành thịt bò bằng cách sử dụng các loại hóa chất độc hại để kiếm lời. Đừng tưởng miếng thịt tươi bán ngoài chợ đầu xóm là an tòan. Miếng thịt đó cũng đã được chích thuốc, từ con heo đã được cho ăn những thứ thực phẩm độc hại từ Trung Quốc. Mà đó là chưa kể những con chó bị đánh bả chết cũng được đưa lên bàn tiệc. Bả cho giết được chó chắc chắn còn trong xác con chó, ăn vào chắc chắn không thể tốt lành cho cơ thể người ăn.

Rồi đến những loại hoa quả trái cây cũng bị ngâm những thứ hóa chất để giữ cho tươi tốt được lâu như sầu riêng, như chuối... Những loại hóa chất này cũng giúp giữ cho những trái táo nhập cảng từ Trung Quốc được đẹp hơn, giữ được cả vài ba tháng không bị ung thối, nhưng những thứ trái cây này có an toàn hay không thì phải xét lại.

Ngay cả những thứ rau trái trồng ở trong nước cũng không an toàn cho người tiêu thụ như những bó rau trồng ở ngoại thành Hà Nội được tưới bằng nhớt thải của xe hơi rồi được rửa bằng nước cống rãnh trên đường đi vào thành phố cho người tiêu thụ.Và người tiêu thụ vẫn.. tiêu thụ. Người tiêu thụ thì có một sự lựa chọn nào khác đâu.

Thế là người Việt hồn nhiên tiêu thụ, ăn uống, cho vào mồm miệng đủ các thứ độc hại để chết một cách... hồn nhiên. Một giới chức ở Hải Phòng nhận định rằng chưa bao giờ con đường từ dạ dầy tới nghĩa địa lại ngắn như thế.

Trong khi đó, bọn lãnh đạo thì ăn uống thế nào? Mấy năm trước, Lê Khả Phiêu khoe một vườn rau trên lầu bốn của nó ở giữa lòng Hà Nội, Đó, chúng nó ăn uống như thế đó. Còn người dân thì đang tự tìm đến những cái chết không cách gì tránh được để tự tử hàng loạt, tự tử cả nước là như vậy.

Không chỉ các loại thực phẩm nhiễm hóa chất độc mới giúp người Việt tự tử, mà còn có cả những sản phẩm tiêu thụ không phải là thực phẩm cũng góp phần vào việc giết người Việt. Thí dụ các loại đồ chơi trẻ em rẻ tiền xuất xứ từ Trung Quốc cũng có chứa các hóa chất rất nguy hiểm có thể gây thương vong cho các trẻ em như những chiếc nhẫn, những chiếc vòng vàng giả, hạt trai giả, dùng các loại sơn mang chất chì rất độc được các cha mẹ ham rẻ mua về cho con em chơi. Không chỉ đồ chơi trẻ em, luôn cả những sản phẩm dùng cho người lớn không ai ngờ tới cũng gây độc hại cho ngưới dùng, như những tấm thảm để ngồi tập yoga cũng có những hóa chất gây ung thư. Chẳng trách một cuộc nghiên cứu mới cũng thấy là tỷ lệ người Việt Nam bị ung thư là tỷ lệ cao nhất thế giới hiện nay.

Không dừng ở đó. Người Việt sẵn sàng sử dụng những sản phẩm có thể gây chết chóc khác nữa. Hệ thống đường sắt Việt Nam vừa mua 164 toa tầu "đã qua sử dụng" nghĩa là đã cũ, tuổi đời từ 20 đền 30 năm. Những toa tầu cũ mà Trung quốc thải ra thì làm sao có thể bảo đảm an toàn cho các hành khách người Việt. Tai nạn và chết chóc là điều khó tránh được. Nhưng chúng vẫn được đưa về nước để dùng. Thế rồi người ta lại mua một số khá lớn những xe vận tải, những xe đầu kéo đã cũ cũng từ Trung Quốc để về sử dụng cho rẻ. Không ngạc nhiên khi thấy số tai nạn giao thông gây chết người không phải nhỏ ở Việt Nam ngày nay. Xe đã cũ, không sẵn phụ tùng, không được thường xuyên bảo trì thì gây nhiều tai nạn là phải.
Và cả một dân tộc đang tự sát tập thể là như thế!
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#119 Posted : Tuesday, April 26, 2016 5:25:38 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
April 8, 2016


KHỐN KHỔ CHO TIẾNG ANH


Hôm qua ngồi xem một bản tin truyền hình về một sinh hoạt gọi là chính trị ở trong nước, tôi được xem cảnh nhà cầm quyền đàn áp, gây khó khăn cho các ứng cử viên độc lập tranh cử vào quốc hội. Chuyện này thực ra cũng chẳng có gì đáng nói. Vẫn lại bổn cũ soạn lại: đảng cử rồi lại đảng bầu. Dân không hề có bất cứ một tiếng nói nào trong việc đưa người đại diện vào quốc hội. Vẫn chỉ những cái mặt mẹt chia nhau những cái ghế trong cái gọi là quốc hội, nhất quyết không để cho những thành phần "thế này thế khác" được đưa vào quốc hội như Nguyễn Phú Trọng vừa tuyên bố một cách vô cùng nham nhở.

Dân chủ đến thế ... là cùng.

Trong video clip thu được tại một cuộc tụ tập của dân chúng và bị công an ngăn chận và đàn áp, có một tấm bảng viết bằng tiếng Anh nguyên văn như thế này: "NO PICTURES TAKEN".

Than ôi tiếng Anh ... đến thế là cùng !

Câu này không có nghĩa như mấy anh công an muốn nói với các du khách ngoại quốc, hay với các quan sát viên nước ngoài tới theo dõi các sinh hoạt dân chủ (đến thế là cùng của Việt Nam). Ý các chàng muốn chuyển đạt tới những người ngoại quốc không biết tiếng Việt chỉ là : cấm chụp ảnh.

Nhưng câu tiếng Anh trên tấm bảng ấy thì lại không nói lên được điều đó. Đó là một câu tiếng Anh vô nghĩa lý. Nói trắng ra là sai bét.

NO PICTURES TAKEN đáng lẽ, nếu viết đầy đủ phải là NO PICTURES WERE TAKEN. TAKEN là một quá khứ phân từ (past participle) không thể đứng một mình được. Nó phải đi cùng với động từ "to be" để tạo thành thụ động cách (passive voice). Nhưng câu thụ động cách trong trường hợp đọc thấy trên tấm bảng thì hoàn toàn có nghĩa khác hẳn, không đúng nghĩa như các anh công an muốn nhắn nhủ những người có mặt, đứng xem cuộc tụ họp.

NO PICTURES TAKEN có nghĩa là không có một bức hình nào được chụp tại cuộc tụ họp đó. Như vậy thì nhắn nhủ làm gì, cảnh cáo những ai? Hoàn toàn vô nghĩa lý.

Thí dụ khi tường thuật một vụ xâm nhập gia cư với toan tính ăn trộm nhưng quân gian không lấy được thứ gì quí giá, bản tin có thể viết "no valuables (were) taken". Nhưng câu trên tấm bảng ở cuộc tụ họp (NO PICTURES TAKEN) thì hoàn toàn không có ý nghĩa. Nó có nghĩa là không có một bức hình nào được chụp.

Chắc tấm bảng ấy muốn nói lên lệnh cấm chụp ảnh, vì chụp ảnh có thể ghi lại những hình ảnh tố cáo những việc làm phản dân chủ chống lại những sinh hoạt tự do mà người dân vẫn bị cấm tiệt.

Nếu muốn cấm chụp hình thì không nói như vậy. Giản dị thì chỉ cần viết: NO PICTURES ALLOWED là đủ. Ngoài ra còn thiếu gì cách khác để nói lên điều đó. Thí dụ : NO PHOTOS ALLOWED; NO PHOTOGRAPHY ALLOWED; PHOTOGRAPHY NOT ALLOWED (PERMITTED); PICTURE TAKING NOT PERMITTED; NO PICTURES TAKING; NO CAMERAS ALLOWED; NO PHOTOGRAPHY PERMITTED ...

Người ta thường nói "nó lú nhưng chú nó khôn" nhưng trong trường hợp này, nó lú nhưng chú nó cũng lú luôn. Thằng dưới ngu thì cũng phải có thằng nào đó ở trên không ngu chứ. Một tấm bảng viết bằng tiếng Anh đứa dưới dốt thì đứa trên phải khá hơn, chữ nghĩa nhiều hơn, biết mà sửa chứ ai lại bầy nguyên cái dốt nát ấy ra như vậy.

Đua đòi học tiếng Anh bao nhiêu năm nay mà vẫn dốt như vậy sao?

Nhưng nghĩ lại thì thấy cũng đáng đời. Khi các con mới vào Sài Gòn thì liền kéo nhau đi diệt văn hóa Mỹ Ngụy, đốt hết sách vở, cứ sách tiếng Anh, tiếng Mỹ là đốt cho bằng hết, kể cả những sách dậy Anh ngữ để bây giờ có thứ tiếng Anh tầm bậy tầm bạ như thế đem ra dùng.


Dùng để phô cái ngu, cái dốt ra là như thế! Đáng đời dốt nát của các con.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#120 Posted : Tuesday, May 31, 2016 11:50:25 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
April 16, 2016

XÂM MÌNH


Mấy chi tiết của một bài học lịch sử học từ hơn nửa thế kỷ đến nay vẫn còn nguyên trong trí nhớ của nhiều học sinh tiểu học thời của tôi, đó là từ thời cổ đại, người Việt đã có tục xâm mình để khi xuống biển đánh cá các loài thủy tộc sợ mà không dám tấn công. Không chỉ xâm mình mà trên mũi của những chiếc thuyền đánh cá của họ còn có vẽ những con mắt để loài giao long, thuồng luồng phải tránh xa không dám làm hại.

Thực ra thì chẳng phải chỉ người Việt Nam, mà luôn cả những dân tộc khác cũng có tục xâm mình. Người Nhật, người Polynesien, người Hạ Uy Di, người Fiji, người Samoa, người Maori ... cũng biết xâm mình. Ngày nay xâm mình không còn là cách trang trí thân thể của các dân tộc bán khai, sơ khai nữa, mà luôn cả các dân tộc văn minh cũng thích xâm mình. Người Mỹ cũng xâm mình và xâm mình rất đẹp. Nhưng rất nhiều người vẫn còn có những thành kiến không đẹp về xâm mình. Nhiều người vẫn coi chuyện xâm mình là trò chơi của những thành phần bất hảo, những băng đảng sống ngoài vòng pháp luật. Một số người khi muốn trở về với xã hội và đời sống bình thường phải tìm cách xóa đi những hình xâm trên người, nhất là khi đi tìm việc làm, nhất là những thứ công việc vẫn còn mang nhiều định kiến không tốt về những hình xâm. Chuyện phá những hình xâm này không dễ và còn rất tốn tiền. Kỹ thuật laser được sử dụng để làm mờ đi được hình xâm.

Tôi nhận là vẫn chưa thoải mái với những hình xâm, với những người xâm mình. Nói là tôi không có thiện cảm với họ thì cũng đúng. Nhất là với những phụ nữ. Đàn ông xâm mình đã dễ sợ rồi, phụ nữ xâm mình thì lại càng dễ sợ hơn. Tôi biết định kiến hay thành kiến đó là không đúng và nên dẹp bỏ nhưng tôi vẫn chưa làm được.

Hồi đi trình diện nhập ngũ ở Trung Tâm 3 tôi được thấy rất nhiều hình xâm và những hàng chữ xâm không tiện nhắc ở đây. Rồi những lần ngồi ở một tiệm nước cho mấy chú bé đánh giầy thì lại đọc được trên tay của các chú những câu như "chim non xa tổ", "xa quê hương nhớ mẹ hiền", "ân đền oán trả", "hận kẻ bạc tình", "giận đời đen bạc"... Những chú bé đó đều có những câu chuyện kể về những câu xâm mình đó nghe rất tội nghiệp nhưng chuyện tôi không thích xâm mình thì vẫn còn nguyên.

Một bức tranh của Norman Rockwell vẽ một anh chàng thủy thủ có cuộc sống đâu cũng là nhà, mỗi bến một nàng, đang ngồi trong một tiệm tattoo để xâm thêm một cái tên phụ nữ (mới) cạnh mấy cái tên (cũng phụ nữ) khác vừa được xóa đi cũng chỉ lại càng làm tôi nghĩ là (nếu khôn ngoan một chút) (thì) không nên xâm mình chút nào.

Nhưng tuần trước, tôi thấy mình thay đổi hẳn suy nghĩ về chuyện xâm mình khi nhìn thấy những hàng chữ xâm trên cánh tay của một người thanh niên. Người này cũng đã từng vào tù ra khám một hai lần. Hệt như Mike Tyson vào tù thì chưa có cái hình xâm nào trên người nhưng khi ra khỏi tù thì người đàn ông vô địch quyền Anh hạng nặng này có một hình xâm dễ sợ trên mặt và một hình xâm Mao Trạch Đông trên ngực. Mike Tyson đã cho xâm những thứ ấy trong khi đang ở tù. Để nguyên Mike Tyson đã là một người dễ sợ rồi, nay thêm vài ba hình xâm trên người thì lại càng dễ sợ hơn.

UserPostedImage

Người thanh niên mà tôi vừa nhắc kể trên tên là Nguyễn Viết Dũng trong khi ở trong tù đã nhờ xâm một hàng chữ Anh và một hàng chữ Việt trên cánh tay trái. Hàng trên nguyên văn: Governments should be afraid of their people. Đây là câu của Alan Moore, một nhà văn người Anh: chính phủ phải sợ người dân. Người dân không nên sợ chính phủ. Chính phủ là công bộc, người dân là chủ. Đầy tớ thì phải sợ chủ. Chủ không phải sợ đầy tớ. Như vậy mới là dân chủ. Không có thừ dân chủ nào mà người dân phải sợ nhà nước. Nhưng ở Việt Nam thì nhà cầm quyền vẫn ngồi lên đầu lên cổ ngưới dân. Nguyên tắc dân chủ được gói trong hàng chữ xâm trên tay của Nguyễn Viết Dũng, người thanh niên vừa ra khỏi nhà tù sau hơn một năm bị giam. Hàng chữ này được xâm trong khi Dũng đang ngồi tù. Đó là một việc làm can đảm của một thanh niên chủ trương rõ ràng: nhà nước phải sợ người dân. Dũng đã không hề tỏ ra khiếp sợ nhà nước. Thích treo cờ Việt Nam Cộng Hòa thì Dũng treo một lá cờ ngay trên nóc nhà của mình. Thích quân lực Việt Nam Cộng Hòa thì anh kiếm cái field jacket của lính dù có đính cả phù hiệu của nhẩy dù mặc vào xuống đường đi biểu tình ở Hà Nội. Thích cái phù hiệu của quân đội Việt Nam Cộng Hòa thì người thanh niên này kiếm mấy cái t-shirt gắn phù hiệu con ó có nền là cờ Việt Nam Cộng Hòa cùng mấy người bạn biểu tình ở bờ hồ Hoàn Kiếm.

Những việc làm ấy của Dũng đã thể hiện đúng ý nghĩa của câu tiếng Anh mà Dũng xâm trên cánh tay trong lúc đang ở tù.

Và dưới hàng chữ tiếng Anh là hai chữ SÁT CỘNG rất lớn, lớn hơn hàng chữ tiếng Anh. Hàng chữ lớn và dễ đọc, không thèm che dấu bất cứ ai. Muốn đọc thì đọc đi.

Mùa nực mặc chemisette ngắn tay hay chemise dài tay xắn lên một chút là để các anh công an đọc cho dễ.

Ôi sao mà trò xâm mình lại hay đến là như thế. Thành ngữ "xâm mình" lại càng rõ nghĩa trong trường hợp mấy dòng xâm trên cánh tay của Dũng: liều mạng và không sợ bất cứ một thứ gì trên đời này. Đúng là ... xâm mình !
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Users browsing this topic
Guest
7 Pages«<4567>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.