Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

11 Pages«<7891011>
TIẾNG VIỆT KỲ DIỆU
Andrew Hoang
#169 Posted : Sunday, June 7, 2015 5:33:26 PM(UTC)
Andrew Hoang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 513
Points: 1,698

Thanks: 956 times
Was thanked: 459 time(s) in 235 post(s)
ASIAlcoholic;153277 wrote:
Cat' Linh;153263 wrote:
Lý Do? Dể hiễu thôi! Àgree mí chú phamlang Woot ThumpUp Whistle Whistle Whistle Boo hoo! Boo hoo! LOL Flapper Muốn biết xì coi Video Luong Son Bá Chúc Anh Đài khakhaha ThumpUp Woot Flapper Flapper Shame on you Shame on you RollEyes Sneaky Lêu lêuRollEyes Coi chưa Tí Quây, hiểu chuâ?Woot Sneaky BigGrin BigGrin Funny khakhaka LOL LOL Flapper Whistle Whistle





Knew it. Xừ cục là mít xịt cải trang ra mít tờ. Ho^ho^ LOL . Má ui NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY đả bị thấy..... từ phia gồi. Yahooooo Dancing Dancing Dancing Sneaky Sneaky Shame on you Ho^ ho^
2 users thanked Andrew Hoang for this useful post.
phamlang on 6/8/2015(UTC), stormy on 6/11/2015(UTC)
Andrew Hoang
#173 Posted : Sunday, June 7, 2015 5:46:40 PM(UTC)
Andrew Hoang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 513
Points: 1,698

Thanks: 956 times
Was thanked: 459 time(s) in 235 post(s)
tieng Viet ky dieu
2 users thanked Andrew Hoang for this useful post.
phamlang on 6/8/2015(UTC), stormy on 6/11/2015(UTC)
phamlang
#170 Posted : Monday, June 8, 2015 4:08:08 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)
Andrew Hoang;153303 wrote:
ASIAlcoholic;153277 wrote:
Cat' Linh;153263 wrote:
Lý Do? Dể hiễu thôi! Àgree mí chú phamlang Woot ThumpUp Whistle Whistle Whistle Boo hoo! Boo hoo! LOL Flapper Muốn biết xì coi Video Luong Son Bá Chúc Anh Đài khakhaha ThumpUp Woot Flapper Flapper Shame on you Shame on you RollEyes Sneaky Lêu lêuRollEyes Coi chưa Tí Quây, hiểu chuâ?Woot Sneaky BigGrin BigGrin Funny khakhaka LOL LOL Flapper Whistle Whistle





Knew it. Xừ cục là mít xịt cải trang ra mít tờ. Ho^ho^ LOL . Má ui NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY đả bị thấy..... từ phia gồi. Yahooooo Dancing Dancing Dancing Sneaky Sneaky Shame on you Ho^ ho^


ThumpUp Chính xác!













Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
stormy on 6/11/2015(UTC)
phamlang
#174 Posted : Monday, June 8, 2015 4:39:33 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)
SỰ PHONG PHÚ, ĐẶC THỂ CỦA TỨ VÀ TỪ TIẾNG VIỆT



Trong bài này, chúng ta sẽ chỉ đề cập đến cách xưng hô, chào hỏi. Tùy theo thứ bậc, quan hệ, mức độ tương thân, tùy theo phong tục tập quán địa phương mà cách xưng hô, chào hỏi, gọi nhau cũng đổi thay.

Người Nam dùng chữ "thưa" đối với những người cao bậc hơn mình: "thưa ngài", "thưa cô", "thưa cụ", "thưa anh", "thưa chị". Trong lúc người Bắc lại dùng chữ "chào" cho những bậc gần ngang vai: "chào anh", "chào chị"; thì tại miền Trung, chữ "chào" lại thường được dùng để diễn tả một động tác chứ không phải để chào hỏi, như "chào cờ" chẳng hạn.
Bạn bè thân mật thì "đằng ấy", "mình", "cậu", "mày", "tớ"," tao" (miền Bắc) hoặc "mi", "bồ", "tui" (Trung, Nam). Vợ chồng gọi nhau là "cậu, mợ", xưng "em" hay "tôi" hoặc "anh, em".

Gia đình cổ kính thì "thầy nó", "bu nó", "ông nó", "bà nó", "mẹ mày", "bố mày", "mình", "nhà" (miền Bắc) hay "đẻ nó", "ba nó", "má nó", "ông nó", "bà nó", "bậu", "qua", "mình"... Chữ "mình" vừa chỉ ngôi thứ nhất, vừa chỉ cả ngôi thứ hai, là tiếng xưng hô âu yếm giữa đôi tình nhân vợ chồng hay thân mật trang nhã giữa đôi bạn thân.

Người Âu - Mỹ nói "ils", "elles", "il", "elle" hay "they", "he", "she". Riêng người Việt Nam không thể bất cứ trường hợp nào cũng "chúng nó", "nó", "hắn", "y" được. Không thể chấp nhận được chữ "nó" ở đây : "tôi mua cái áo này cho má tôi, hy vọng rằng nó sẽ thích".

Người bình dân miền Nam sẽ dùng chữ "bả" hay "bà ấy". Người Bắc thấy thế chói tai, chỉ dùng "bà", thân kính, trang trọng hơn. Hơn nữa, khi nói về cha mẹ, thì người Việt thường dùng đại danh từ "Người" viết hoa. Thông thường chúng ta nghe con cái gọi cha mẹ là: "bố mẹ", "ba mẹ", "ba má", "thầy u", "thầy bu", "thầy mẹ", "thầy đẻ", "tía bầm", "cậu mợ", "chú má".

Hai tiếng "cậu mợ" rất thông dụng trong giới thị thành miền Bắc. Vợ chồng gọi nhau là "cậu mợ", con cái gọi bố mẹ cũng là "cậu mợ", mẹ chồng gọi con trai, con dâu cũng là "cậu mợ". Ngày xưa, khi còn chế độ tập ấm, vua phong cho các đại thần là ấm sinh, ấm tử, được hưởng đặc quyền. Người ngoài phải gọi là "cậu ấm", gọi vợ cậu là "mợ". Con cái theo gia nhân gọi bố mẹ là "cậu mợ", rồi vợ chồng quen miệng gọi nhau là "cậu mợ " nốt, lâu dần hai tiếng này phổ biến trong các gia đình quyền quý nhất là ở giới thị thành.
Tại vùng miệt Hậu Giang, chúng ta hãy nghe người thanh niên tỏ tình với người yêu, gọi "bậu", xưng "qua" :

Cha mẹ bậu tham giàu, gả bậu đi xa"

Có người gọi chồng là "nhà", nói bằng giọng âu yếm nhưng còn thấy ngại ngùng, không dám nói thẳng hai tiếng "anh, em" hay "mình, mình". Còn có người xưng hô "đây, đấy", rõ là giọng thân yêu nhưng còn e ấp ngượng ngùng nên nói lấp lửng trống không, chẳng như ai kia, nói thẳng ngay là mình mình vì chưa chính thức nên chồng vợ hay là anh em như đã dạn dĩ bộc trực tình yêu âu yếm.
Sao đấy chẳng liệu cho đây liệu cùng"

Hay :

Bảo đây gánh đá Long Triều cũng đi"
Cách xưng hô quả là phức tạp, song nó thể hiện tâm hồn và nét đặc thù của văn hóa Việt Nam vậy.

Nguồn: "Tiếng Việt Tuyệt Vời" của giáo sư Đỗ Quang Vinh (Làng Văn 1994)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang
#175 Posted : Monday, June 8, 2015 6:33:40 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)
Hát Ru

Lê Giang


Hát ru là bài hát đầu tiên cho một con người mới cất tiếng khóc chào đời. Bài hát đó được cất lên từ nỗi sung sướng hay cơ cực, hân hoan hay buồn tủi... do chính người mẹ - người đã trực tiếp mang nặng đẻ đau sinh ra một hình hài. Điệu vỗ về ru ngủ ấy dường như không chỉ hòa tan trong sữa mẹ để nuôi con lớn lên từng ngày, mà khi còn trong bào thai, mẹ đã truyền từ cuống rốn điệu hát ru khi muốn tâm tình, khi âm thầm dỗ dành nựng nịu, khi mẹ còn hứa hẹn: "Nào, hãy ra đây với mẹ"; như bài hát ru của người mẹ Stiêng sau đây:

Mẹ dỗ con, con ơi đừng khóc
Mẹ ru con, con ơi ngủ đi
Mẹ địu con trên tấm lưng gầy
Bươm bướm bay, bay vào giấc ngủ
Đậu lên mũi, mùi chuối chín cây
Con bươm bướm lại cất cánh bay
Đậu lên mũi, mùi thơm mía ngọt...


Trên tấm lưng gầy, mẹ địu con lên nương rẫy, mẹ vừa vãi hạt giống gieo trồng xuống đất, vừa gieo vào lòng tuổi thơ ý nghĩa sống của một con người. Rằng không phải con chim nào bay lên trời cũng đều là chim ưng, mà quạ, diều, chim cắt, chim cú cũng bay lên trời cao! Và khi mẹ vừa đưa võng vừa may vá, mẹ lại gửi theo đường kim mối chỉ trong chiếc tã lót cho con - một trong những khuôn phép ở đời:

Ầu ơi... chim khôn chưa bắt đã bay.
Người khôn chưa nói giang tay đỡ lời.
Ầu ơi... Trời còn khi nắng khi mưa.
Người ta cũng có sớm trưa thất thường.


Những người từng hát một đời bên bếp lửa, với đồng ruộng sau lưng, với dòng sông quê trước mặt, cho rằng trên đời này chỉ có ba bài hát: bài hát ru thứ nhất là bài hát ru bên nôi, bài hát ru thứ hai là bài hát khi mẹ mất con, còn bài thứ ba - đó là tất cả các bài hát còn la.i. Có lẽ đúng như thế thâ.t.

Chẳng mấy ai nghĩ rằng mình nên người là nhờ tiếng hát ru của mẹ. Và, cũng chẳng mấy ai nhớ câu ru nào mẹ đã ru mình. Nhưng, không ai sao lãng giọng hát của mẹ mình, hay tiếng cười hạnh phúc đưa dấu sắc lên cao, hoặc trầm buồn nhẫn nhục để lặn xuống một dấu huyền, dấu nặng như muốn chôn chặt tận đáy lòng.

Ầuu ơi... thương nhau bụi cỏ cũng ngồi
Đám tranh cũng lội, rừng chồi cũng băng.


Tiếng ru bên nhà láng giềng, tiếng ru trong mái ấm thuở ấu thơ dìu dắt từng bước, từng bước đi lẫm đẫm cho tới lúc con người bé bỏng kia biết chạy nhảy vui đùa, vẫn đuổi theo mang máng nhớ một tình quê nơi chôn nhau cắt rốn: Chim than trái chín ăn xa, buồn tình nhớ gốc cây đa muốn về.

Người ta còn nói rằng, vô phước cho một người nào đó không hề được nghe câu ru của mẹ để dần dần được lớn lên, dần dần được trưởng thành. Tôi đã từng gặp bà Trần Thị Ba, 73 tuổi ở xã Trung Nhất, huyện Thốt Nốt, tỉnh Hậu Giang khi bà ngồi trên sạp tre, ru cháu ngoại trên chiếc võng đay. Trên võng cháu lim dim - dưới sạp tre con chó mực nằm cũng lim dim. Nghe bà cất tiếng, con heo nái đang ủi đất cũng chạy vào chui xuống sạp tre... ngủ ngon lành. Bà cười, bảo má dỗ một lúc "ba đứa" ngủ! Những người đi sưu tầm ca dao gặp má trưa hôm ấy nghe gió đồng hiu hiu quyện với câu ru khàn khàn đặc sánh Quạ kêu dưới đám ruộng dài, anh mê theo gái nói hoài anh không nghe thì dường như cũng muốn lăn ra, châu đầu lại với nhau trên chiếc sạp tre - cái sân khấu trọn đời của bà để đánh giấc li bì trong cõi tu tâm, để bỗng chốc hóa thành trẻ thơ vô tô.i. Bà chỉ tay ra con đường bao quanh cái thế giới nhỏ nhoi buồn tủi của bà, mà lòng bà tự hào - trai tráng trong xóm này nên thân nên người đều là những trẻ thơ ngày xưa má giữ, má đút cơm, má dỗ ngủ, bằng cái nghề "đi ở giữ em" của má.

Năm 1989, Quận 10 (SaiGon) tổ chức liên hoan hát ru. Người được giải nhất là một người đàn bà nghèo, cũng giống như bà Trần Thị Ba, sống bằng nghề "thương con nít" nghĩa là đi giữ em: sạch sẽ, trán cao, phúc hậu, chất phác - những đức tính của nghệ sĩ hát ru! Chỉ phải tội: Đất xấu làm hại kiếp hoa. Số nghèo làm hại con nhà thông minh. Đó là lần đầu tiên bà cầm micro, nhưng chẳng có chút gì ngượng nghịu, người bà lắc lư theo nhịp võng, dây micro đã hóa thành một đầu võng. Bà như ru cho nhân tình thế thái - bà ru, bà ru... đó nghèo đây cũng phận nghèo, đôi ta như bọt với bèo thương nhau. Bà ru như cơn gió tốc mái tranh nghèo, như con sóng xô chiếc xuồng của bà lật úp, bà như đang nhóm lửa, bà săn sóc ngọn lửa ấm, bà nựng nịu những trẻ thơ, bà dỗ dành, bà cười thật đôn hậu với những kẻ mới chào đời còn đang bị chói ánh sáng của trần gian. Bà diễn tả xuất thần dù bài ca của bà có thể bà đã hát bằng cả cuộc đời bà đã sống.

Khi công bố kết quả bà đoạt giải nhất, hàng trăm nam nữ thanh niên được bà ru trong "chiếc nôi" bên cạnh nhà hát Hòa Bình hiện đại đứng cả lên vỗ tay hoài. Họ vừa khám phá một điệu đời của tình mẹ chăng? Người nhận giải nhì là cô sinh viên sư phạm, đẹp, thùy mị, tóc dài, mí mắt óng ánh nhũ ba.c. Thật cảm động biết bao và cũng chẳng khó lý giải chút nào.

Những người sưu tầm dân ca đã tìm thấy từng cụm hát ru, mà các bà mẹ đã xâu lại như xâu chuỗi ngọc, chuỗi ngọc cho lòng hiếu thảo với cha mẹ, chuỗi ngọc cho lòng biết ơn cội nguồn, cho nhân nghĩa ở đời; chuỗi ngọc để người yêu tặng người yêu...

Trên đất nước chúng ta, tiếng chị ru em, cha mẹ ru con, ông bà ru cháu... vẫn thảnh thót trong phum sóc, bản làng, vẫn mùi mẫn trong xóm vườn sầm uất hay ở một làng chài ven sông. Có thể trẻ thơ những nơi ấy thiếu thốn mọi bề, nhưng tiếng hát ru - phần thưởng quý báu của ông bà cha mẹ dành cho - các cháu ta không thiếu. Chúng ta cũng ước mong sao, hễ là trẻ thơ thì dù ở nông thôn hay thành thị, đều được hưởng tiếng hát ru của mẹ vất vả làm lụng; chiều xuống, trong mỗi gia đình đều âm vang tiếng hát ru con. Giờ phút sắp hết của một ngày là giờ đứa trẻ được gần mẹ, nô đùa với mẹ, cũng là giờ người mẹ được hạnh phúc gần con, được hát, được nựng con, được truyền tín hiệu đặc biệt từ lòng nhân ái, từ đức tính cao cả của người mẹ, và của tất cả những người ruột thịt trong gia đình.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang
#176 Posted : Tuesday, June 9, 2015 12:04:37 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)
Địa danh Việt Nam mang từ “Gò” ở trước





1.Trong địa danh Việt Nam có hàng trăm đơn vị mang từ Gò ở trước. Gò là một từ thuần Việt. Do đó, các địa danh này có cấu tạo theo kiểu hoàn toàn Việt Nam.

2. Yếu tố đứng sau thuộc nhiều lãnh vực khác nhau.

2.1. Trước hết, đó là từ chỉ người.

Gò Lồi là địa điểm thuộc xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, có di chỉ khảo cổ học thuộc văn hoá Chăm. Gò Lồi còn xuất hiện ở huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Gò Lồi là “gò có người Lồi”, tức người Chăm. Tương tự: muối Lồi là muối Chăm.

Gò Mạng là địa điểm ở tỉnh Quảng Ngãi. Gò Mạng là nơi chôn cất những người Việt và Chăm chết trong chiến tranh, mưu sinh.

Gò Mọi là núi ở xã Đại An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Đây là cách gọi trước Cách mạng Tháng Tám. Gò Mọi là “gò có đồng bào dân tộc thiểu số sống”.

2.2. Kế đến, là những từ chỉ các công trình xây dựng.

Gò Chùa là địa điểm ở quận 11, SG, có di chỉ khảo cổ học thuộc văn hoá Óc Eo, được khai quật năm 1991. Gò Chùa là “gò có chùa Phụng Sơn” [3].

Gò Đền là làng của xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Gọi là Gò Đền vì trên gò có một cái đền của người Chăm.

Gò Kho là đồi ở xã Cát Minh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Gò Kho vì có kho Càn Dương được nhà Tây Sơn xây dựng tại đây [7, 34].

2.3. Tiếp theo là những từ chỉ các con vật trên địa bàn.

Gò Công là địa điểm ở phường Long Thạnh Mỹ, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh. Gò Công cũng là thị xã của tỉnh Tiền Giang, diện tích 32,1km2, dân số 51.200 người (2006), gồm 5 phường và 4 xã. Trước ngày 30 – 4 – 1975, Gò Công là tỉnh, sau chia làm hai huyện là Gò Công Đông và Gò Công Tây. Gò Công Đông là phần phía đông của tỉnh Gò Công. Gò Công Tây là phần phía tây của tỉnh Gò Công.

Gò Công vốn có nghĩa là “gò có nhiều công đậu” trước đây, nên các cụ ngày xưa dịch ra chữ Hán là Khổng Tước khâu (“gò chim công”).

Gò Ốc là địa điểm thuộc xã Xuân Bình, huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên, có di chỉ khảo cổ học cách nay 5.000 – 4.000 năm. Gò Ốc là “gò có nhiều xác ốc”.

2.4. Mặt khác, từ chỉ các chất liệu trên địa bàn cũng có số lượng đáng kể.

Gò Đen là địa điểm thuộc huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Gò Đen vì khi đào giếng ở khu vực này, người ta thấy lớp đất đen dày cả mét [8].

Gò Mun là di chỉ cuối thời đại đồng thau, ở xã Việt Tiến, huyện Sông Thao, nay là huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Gò Mun còn là địa điểm thuộc xã Hà Giang, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, có di chỉ khảo cổ học thuộc văn hoá Đông Sơn. Gò Mun là “gò có đất màu đen mịn” [1].

Gò Nổi là khu vực nằm giữa hai nhánh của sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam. Đây là “đất học”với nhiều nhân vật nổi tiếng cả nước như Hoàng Diệu, Phạm Phú Thứ, Trần Cao Vân, Phan Khôi, Phan Thanh, Lê Đình Thám, Hoàng Tuỵ,…Nay thuộc huyện Điện Bàn. Gò Nổi còn là địa điểm thuộc huyện Cần Giờ, SG, có di chỉ khảo cổ học. Gò Nổi là do cát bồi tụ [1].

Gò Sắt là địa điểm ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Gò Sắt vì tại vùng này có mỏ sắt nên nhiều cứt sắt nổi trên mặt đất [4].

2.5. Sau cùng, tên các loại cây cối chiếm số lượng nhiều nhất.

Gò Bông là địa điểm khảo cổ học thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Gò Bông là “gò đất có nhiều hoa”.

Gò Cà là đồi thấp nằm cạnh phía tây quốc lộ 14B, thuộc xã Hoà Khương, huyện Hoà Vang, tp. Đà Nẵng. Gò Cà vì ở gò này có mọc một loại cà hoang (trái tròn như hòn bi, đắng, không ăn được) [9].

Gò Chai là bến phà vượt sông Vàm Cỏ Đông, thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Gò Chai là gò có nhiều cây chai mọc. Chai là loại cây cho mủ đóng cục, nấu chảy để thắp, đốt.

Gò Dầu
là huyện của tỉnh Tây Ninh, diện tích 250,5km2, dân số 135.300 người (2006), gồm một thị trấn và 8 xã. Gò Dầu vốn có nghĩa là “gò có nhiều cây dầu”.

Gò Dầu Hạ và Gò Dầu Thượng là hai khu vực thuộc huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Gò Dầu Hạ là “gò cây dầu ở phía dưới”, xa biên giới hơn Gò Dầu Thượng [4].

Gò Duối là địa điểm thuộc xã Thái Bình Trung, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, có di chỉ khảo cổ học thuộc văn hoá Óc Eo. Gò Duối là “gò có nhiều cây duối”.

Gò Dưa là ấp của phường Tam Bình, quận Thủ Đức, Sai Gon. Dưa ở đây là dưa leo, được trồng nhiều nơi này trước kia.

Gò Găng là làng ở xã Thuận Chính, huyện Phù Cát; nay thuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Gò Găng là “gò có nhiều cây găng” - loại “cây bụi, thân và cành có gai, quả tròn màu vàng, thường trồng làm hàng rào”.

Gò Kén là địa điểm ở xã Hiệp Tân, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Gò Kén là gò đất rộng có mọc nhiều cây kén, một loại cây có lá xanh, trái chín như trái hồng đào [2, 217].

Gò Môn là quận do phía kháng chiến lập tháng 6 – 1961 để phát triển cách mạng và mở rộng địa bàn hoạt động. Năm 1968, giải thể quận này, chia làm 4 quận nhỏ: Gò Vấp, Đông Môn, Tây Môn, Nam Chi. Gò Môn là tên ghép hai quận Gò Vấp và Hóc Môn, tỉnh Gia Định. Môn là cây môn nước [3].

Gò Ơi là rạch ở huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Gò Ơi là “gò có mọc nhiều cây ơi, một loại cây có hạt dùng làm thức uống giải nhiệt, hay mọc trên đất giồng” [6].

Gò Quánh là địa điểm thuộc xã Hành Nhân, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, có di chỉ khảo cổ học được phát hiện năm 1992, thuộc văn hoá Sa Huỳnh. Gò Quánh cũng là sân bay ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Gò Quánh là “gò có nhiều cây quánh”. Tên cây này chưa được các từ điển ghi nhận [4].

Gò Quao là huyện của tỉnh Kiên Giang, diện tích 424,3km2, dân số 134.400 người (2006), gồm một thị trấn và 10 xã. Gò Quao vốn có nghĩa là “gò có nhiều cây quao”. Quao là “giống cây lá có chất nhuộm màu đen” [5].

Gò Sao
là vùng đất ở phường Thạnh Lộc, quận 12, SAIGON. Nơi đây, tháng 10 – 1987, ngành khảo cổ học đã đào được hàng trăm rìu đá, bàn mài và hàng trăm mảnh gốm thô. Di chỉ này cách nay độ 3.000 năm. Gò Sao là “gò có mọc nhiều cây sao”.

Gò U
là kênh ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Ở tỉnh này, tại huyện Long Hồ có rạch Cây U. Gò U là “gò có nhiều cây u, một loại cây hay mọc nơi thấp ven bờ sông rạch, tên đầy đủ là u vu” [6].

Gò Vấp
là quận của thành phố SAIGON, diện tích 19,7km2, dân số 311.000 người (2006), gồm 16 phường, đến cuối năm 2006, thêm 4 phường. Địa danh này đã xuất hiện trước năm 1820, được gọi là quận từ năm 1917. Gò Vấp có âm gốc là Gò Vắp, vừa thuần Việt vừa gốc Khmer. Vắp là tên cây, âm gốc là Kompăp, một loại cây cứng như lim. Gò Vắp là “gò có nhiều cây vắp”.

3. Qua các địa danh đã giới thiệu trên, ta thấy ở Nam Bộ số lượng mang từ Gò ở trước chiếm đa số. Sở dĩ có hiện tượng này vì địa danh Nam Bộ mang tính nguyên sơ, dân dã và ở vùng đất mới này xưa kia vốn là rừng nên có nhiều loại cây. Vì vậy, địa danh Nam Bộ có những nét đặc thù của vùng đất mới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Bùi Thiết, Địa danh văn hóa Việt Nam, HN, Nxb Thanh niên, 1999.

2. Huyønh Minh, Taây Ninh xöa, HN, Nxb Thanh nieân, 2001.

3.Leâ Trung Hoa (cb) – Nguyễn Đình Tư, Töø ñieån ñòa danh thaønh phoá Saøi Goøn, Nxb Treû, 2003.

4. Leâ Trung Hoa, Töø ñieån töø nguyeân ñòa danh Vieät Nam, baûn ñaùnh maùy, chöa xuaát baûn.

5. Lê Văn Đức, Việt Nam từ điển, SG, Khai trí, 1970.

6. Nguyễn Tấn Anh, Những đặc điểm chính của địa danh ở Vĩnh Long, Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn, Trường ĐHKHXH – NV, SG, 2008.

7. Quách Tấn, Non nước Bình Định, HN, Nxb Thanh niên, 1999.

8. Thạch Phương – Lưu Quang Tuyến (cb), Địa chí Long An, Nxb Long An, NXB KHXH, 1989.

9.Thạch Phương – Nguyễn Trọng Minh (cb), Địa chí Bà Rịa – Vũng Tàu, HN, Nxb KHXH, 2005.

Lê Trung Hoa

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
stormy
#171 Posted : Thursday, June 11, 2015 11:41:10 AM(UTC)
stormy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 380
Points: 1,224

Thanks: 384 times
Was thanked: 386 time(s) in 207 post(s)
phamlang;155312 wrote:
Andrew Hoang;153303 wrote:
ASIAlcoholic;153277 wrote:
Cat' Linh;153263 wrote:
Lý Do? Dể hiễu thôi! Àgree mí chú phamlang Woot ThumpUp Whistle Whistle Whistle Boo hoo! Boo hoo! LOL Flapper Muốn biết xì coi Video Luong Son Bá Chúc Anh Đài khakhaha ThumpUp Woot Flapper Flapper Shame on you Shame on you RollEyes Sneaky Lêu lêuRollEyes Coi chưa Tí Quây, hiểu chuâ?Woot Sneaky BigGrin BigGrin Funny khakhaka LOL LOL Flapper Whistle Whistle





Knew it. Xừ cục là mít xịt cải trang ra mít tờ. Ho^ho^ LOL . Má ui NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY đả bị thấy..... từ phia gồi. Yahooooo Dancing Dancing Dancing Sneaky Sneaky Shame on you Ho^ ho^


ThumpUp Chính xác!


HA ha sìtommì củng nghi từ nâu, gũ tắm xông mấy bận nhưng ngừ cứ nói lung tung beng hầm BÀ lằng LOL LOL LOL Í mèn vì cớ mần răng tự dưng thèm Cà Fê ta? bọn mình đi uống hôn? sìtommi bao.Flapper
3 users thanked stormy for this useful post.
Cat' Linh on 6/25/2015(UTC), Andrew Hoang on 6/28/2015(UTC), phamlang on 7/2/2015(UTC)
stormy
#177 Posted : Thursday, June 11, 2015 11:42:47 AM(UTC)
stormy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 380
Points: 1,224

Thanks: 384 times
Was thanked: 386 time(s) in 207 post(s)
http://www.nhaccuatui.co...t-cuong.JpczOVmVwX.html
]Kể Chuyện Chữ "B" - Nhật Cường

LOL LOL bà 3 bà 4 bà 7 bà 3 bán bong bóng bà 4 bán bún bò bà 7 bán bánh bèo ba bà buồn bực bỏ bán bắn bi bà 3 bảo bà 4 bán bi bà 4 bảo bà 7 bán bi bà 7 bà 3 bán bi bà 4 bà 4 bán bi bà 7 bà 7 bán bi bà 3 ba bà bớp bạy bớp bạy bớp bạ bớp bể bi ba bà bưc bội bỏ bán bi bang bang bên bờ biển bị bò bắn bể bụng bà 3 bức bông bí băng bụng bà 4 bức bông bịp băng bụng bà 7 bức bông bìm bìm băng bung bụng bà 3 bé bé bụng bà 4 bự bự bụng bà bay bình bình 3 bà bể bầu.Flapper Flapper Flapper
3 users thanked stormy for this useful post.
Cat' Linh on 6/25/2015(UTC), Andrew Hoang on 6/28/2015(UTC), phamlang on 7/2/2015(UTC)
stormy
#178 Posted : Sunday, June 14, 2015 10:58:11 AM(UTC)
stormy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 380
Points: 1,224

Thanks: 384 times
Was thanked: 386 time(s) in 207 post(s)
nhâm mhi cà fê buổi sáng nghe Kể chuyện bằng chữ TLOLLOL LOL LOL


st
Trước tiên tôi thành thật tự thú truớc toàn thể : Thân thể tôi thật tầm thường, tàn tạ. Thuở thiếu thời tiền tài thường thiếu thốn, thân thể tiều tụy : tai to (tai to thiệt), tóc thưa thớt, tay tẻo teo. Tôi thường tìm tới tiệm thuốc tây tìm thuốc trị thối tai, tại tai tôi thối thường tình. Tới thời trai trẻ tôi thích thể thao, thích tập tạ, thích trượt tuyết. Thật tình tôi truợt tuyết thật tệ, truợt thì tí ti, toàn tụt, toàn té. Té tới tím toàn thân thể. Thuở truớc tôi thích thành tay thể thao thượng thừa. Thường thường tôi tự treo tòng teng trên trần từ trưa tới tối.

Tới tuổi truởng thành, tôi từ thị trấn Thủ Thiêm, tới tá túc tại tỉnh. Trung tuần tháng truớc tụi tôi tám trai, thêm tứ tam tiểu thơ tụ tập tham thảo thơ. Trong tứ tam tiểu thơ, tiểu thơ Trần Thị Thanh Trang trông thật tươi trẻ, trí thức. Thoạt trông thấy tiểu thơ Thanh Trang tôi tương tư tức thì. Thanh Trang tuổi trăng tròn, tuớng tá tẻo teo, tóc thề tha thuớt tuyệt trần, tuyệt trần ..! Thân thể thon thon, trắng trẻo. Tính tình Trang thật tếu : Thanh Trang thích tình tính tang, tang tính tình, thích thuốc tây, thuốc ta, thích trở thành thầy thuốc thật tài tình. Thanh Trang thuờng thực tập trong truyện thần thoại, thuờng tô trét toàn thứ thuốc thơm tho trên thân thể.

Thứ tư tuần truớc, tiết trời thanh thanh tôi thả từ từ tới truớc tư thất tiểu thơ Thanh Trang. Thấp thoáng trên tầng thứ tư tôi trông thấy tiểu thơ Thanh Trang, tim tôi thổn thức thình thịch. Tôi tự trấn tỉnh từ từ tiến tới tán tiểu thơ trong trạng thái thông thuờng. Thấy tôi táo tợn tiến tới, tiểu thơ Thanh Trang thất thần toan trốn. Tôi trầm tỉnh thủng thỉnh thưa : Thưa tiểu thơ ! Tôi tuy thiếu tài, thiếu tiền, thiếu thước tấc, thiếu thước tấc thiệt, tình tôi thật to tát, trong trắng, tính tôi thật thà, thẳng thắn, thẳng thừng. Thua tiểu thơ :

Thấp thỏm thầm tạ tí thơ.
Thương Trang Tài tính truyện tóc tơ
Thuong Trang từ thuở Trang tám tuổi
Tình Trang tới thác Tài tôn thờ.

Trang tươi tỉnh. Tôi tiếp tục tán : Thanh Trang ! Tài thương Thanh Trang thật tình, tha thiết, thương từ tai tới tóc, thuong tới tận trong tim, thương trong từng tiếng thở, thương tới tận thiên thu, thương trong từng thớ ...thịt, tôi thề tôi thương Trang tới tận thế. Thấy tôi thề thốt tiểu thơ Thanh Trang thương tình thỏ thẻ : Thanh Trang thấy Tài thật tội, Thanh Trang tin Tài thương Thanh Trang thật tình. Thú thiệt, Thanh Trang thương Tài từ truớc.

Trời, Thanh Trang thương tôi từ truớc ! Tôi thấy trời tối thui, tâm thần tơi tả, tôi thận trọng tiến tới tóm tay Thanh Trang. Thanh Trang thẹn thẹn, thùng thùng thụt tay, thỏ thẻ "Thôi, thôi, từ từ thôi Tài !" Tôi tiếp tục tóm tay Thanh Trang, từ từ tới .... táp tai Thanh Trang. Thanh Trang tức tối tát tôi tới tấp.

Thứ tư tuần Thánh, tôi tìm tới Thanh Trang tạ tội, thấy Thanh Trang thích thuốc, tôi tìm toàn thứ thuốc thật tốt, toàn thứ thật tốn tiền, từ thuốc tây, thuốc ta, thuốc tàu, thuốc tể, thuốc tím, thuốc tẩy tới thuốc thơm. Thanh Trang thích táo, tôi tức tốc tìm táo tới tặng Thanh Trang. Thanh Trang thích thịt thỏ, tôi tức tốc tìm thỏ tới tặng Thanh Trang. Thấy tôi thật tình tạ tội Thanh Trang tủm tỉm thỏ thẻ tại tai tôi : "Thanh Trang thương Tài thật tình, Thanh Trang thương Tài tha thiết. Thấy thế tôi thận trọng thoa tay Thanh Trang, thoa tóc Thanh Trang.

Tuy tội tôi thật to tát, tại tôi tán tỉnh tạ tội Thanh Trang thật tài, thật tếu, thật tình tứ. Tôi tặng Thanh trang tới tám thứ : thuốc, táo, thỏ, tôm, tỏi, trứng, tiêu, tiền, tới toàn trái tim tôi. Thấy thế Thanh Trang tha tôi tuốt. Thanh Trang tin tôi thương Thanh Trang thật tình, Thanh Trang thề theo tôi tới tận thế.
3 users thanked stormy for this useful post.
Cat' Linh on 6/25/2015(UTC), Andrew Hoang on 6/28/2015(UTC), phamlang on 7/2/2015(UTC)
Cat' Linh
#172 Posted : Thursday, June 25, 2015 12:01:57 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 701
Points: 2,256
Location: fa la la

Thanks: 939 times
Was thanked: 860 time(s) in 461 post(s)
Andrew Hoang;153303 wrote:
ASIAlcoholic;153277 wrote:
Cat' Linh;153263 wrote:
Lý Do? Dể hiễu thôi! Àgree mí chú phamlang Woot ThumpUp Whistle Whistle Whistle Boo hoo! Boo hoo! LOL Flapper Muốn biết xì coi Video Luong Son Bá Chúc Anh Đài khakhaha ThumpUp Woot Flapper Flapper Shame on you Shame on you RollEyes Sneaky Lêu lêuRollEyes Coi chưa Tí Quây, hiểu chuâ?Woot Sneaky BigGrin BigGrin Funny khakhaka LOL LOL Flapper Whistle Whistle





Knew it. Xừ cục là mít xịt cải trang ra mít tờ. Ho^ho^ LOL . Má ui NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY đả bị thấy..... từ phia gồi. Yahooooo Dancing Dancing Dancing Sneaky Sneaky Shame on you Ho^ ho^


Andi well said ThumpUp "nhửng điều trông thấy"! blal bla blaLOL LOLShame on you Shame on you balápSneaky Sneaky khakakakha Flapperbaloa balápLOL LOL Flapper RollEyes RollEyes
1 user thanked Cat' Linh for this useful post.
Andrew Hoang on 6/28/2015(UTC)
Cat' Linh
#179 Posted : Thursday, June 25, 2015 12:04:09 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 701
Points: 2,256
Location: fa la la

Thanks: 939 times
Was thanked: 860 time(s) in 461 post(s)
stormy;156362 wrote:
nhâm mhi cà fê buổi sáng nghe Kể chuyện bằng chữ TLOLLOL LOL LOL


st
Trước tiên tôi thành thật tự thú truớc toàn thể : Thân thể tôi thật tầm thường, tàn tạ. Thuở thiếu thời tiền tài thường thiếu thốn, thân thể tiều tụy : tai to (tai to thiệt), tóc thưa thớt, tay tẻo teo. Tôi thường tìm tới tiệm thuốc tây tìm thuốc trị thối tai, tại tai tôi thối thường tình. Tới thời trai trẻ tôi thích thể thao, thích tập tạ, thích trượt tuyết. Thật tình tôi truợt tuyết thật tệ, truợt thì tí ti, toàn tụt, toàn té. Té tới tím toàn thân thể. Thuở truớc tôi thích thành tay thể thao thượng thừa. Thường thường tôi tự treo tòng teng trên trần từ trưa tới tối.

Tới tuổi truởng thành, tôi từ thị trấn Thủ Thiêm, tới tá túc tại tỉnh. Trung tuần tháng truớc tụi tôi tám trai, thêm tứ tam tiểu thơ tụ tập tham thảo thơ. Trong tứ tam tiểu thơ, tiểu thơ Trần Thị Thanh Trang trông thật tươi trẻ, trí thức. Thoạt trông thấy tiểu thơ Thanh Trang tôi tương tư tức thì. Thanh Trang tuổi trăng tròn, tuớng tá tẻo teo, tóc thề tha thuớt tuyệt trần, tuyệt trần ..! Thân thể thon thon, trắng trẻo. Tính tình Trang thật tếu : Thanh Trang thích tình tính tang, tang tính tình, thích thuốc tây, thuốc ta, thích trở thành thầy thuốc thật tài tình. Thanh Trang thuờng thực tập trong truyện thần thoại, thuờng tô trét toàn thứ thuốc thơm tho trên thân thể.

Thứ tư tuần truớc, tiết trời thanh thanh tôi thả từ từ tới truớc tư thất tiểu thơ Thanh Trang. Thấp thoáng trên tầng thứ tư tôi trông thấy tiểu thơ Thanh Trang, tim tôi thổn thức thình thịch. Tôi tự trấn tỉnh từ từ tiến tới tán tiểu thơ trong trạng thái thông thuờng. Thấy tôi táo tợn tiến tới, tiểu thơ Thanh Trang thất thần toan trốn. Tôi trầm tỉnh thủng thỉnh thưa : Thưa tiểu thơ ! Tôi tuy thiếu tài, thiếu tiền, thiếu thước tấc, thiếu thước tấc thiệt, tình tôi thật to tát, trong trắng, tính tôi thật thà, thẳng thắn, thẳng thừng. Thua tiểu thơ :

Thấp thỏm thầm tạ tí thơ.
Thương Trang Tài tính truyện tóc tơ
Thuong Trang từ thuở Trang tám tuổi
Tình Trang tới thác Tài tôn thờ.

Trang tươi tỉnh. Tôi tiếp tục tán : Thanh Trang ! Tài thương Thanh Trang thật tình, tha thiết, thương từ tai tới tóc, thuong tới tận trong tim, thương trong từng tiếng thở, thương tới tận thiên thu, thương trong từng thớ ...thịt, tôi thề tôi thương Trang tới tận thế. Thấy tôi thề thốt tiểu thơ Thanh Trang thương tình thỏ thẻ : Thanh Trang thấy Tài thật tội, Thanh Trang tin Tài thương Thanh Trang thật tình. Thú thiệt, Thanh Trang thương Tài từ truớc.

Trời, Thanh Trang thương tôi từ truớc ! Tôi thấy trời tối thui, tâm thần tơi tả, tôi thận trọng tiến tới tóm tay Thanh Trang. Thanh Trang thẹn thẹn, thùng thùng thụt tay, thỏ thẻ "Thôi, thôi, từ từ thôi Tài !" Tôi tiếp tục tóm tay Thanh Trang, từ từ tới .... táp tai Thanh Trang. Thanh Trang tức tối tát tôi tới tấp.

Thứ tư tuần Thánh, tôi tìm tới Thanh Trang tạ tội, thấy Thanh Trang thích thuốc, tôi tìm toàn thứ thuốc thật tốt, toàn thứ thật tốn tiền, từ thuốc tây, thuốc ta, thuốc tàu, thuốc tể, thuốc tím, thuốc tẩy tới thuốc thơm. Thanh Trang thích táo, tôi tức tốc tìm táo tới tặng Thanh Trang. Thanh Trang thích thịt thỏ, tôi tức tốc tìm thỏ tới tặng Thanh Trang. Thấy tôi thật tình tạ tội Thanh Trang tủm tỉm thỏ thẻ tại tai tôi : "Thanh Trang thương Tài thật tình, Thanh Trang thương Tài tha thiết. Thấy thế tôi thận trọng thoa tay Thanh Trang, thoa tóc Thanh Trang.

Tuy tội tôi thật to tát, tại tôi tán tỉnh tạ tội Thanh Trang thật tài, thật tếu, thật tình tứ. Tôi tặng Thanh trang tới tám thứ : thuốc, táo, thỏ, tôm, tỏi, trứng, tiêu, tiền, tới toàn trái tim tôi. Thấy thế Thanh Trang tha tôi tuốt. Thanh Trang tin tôi thương Thanh Trang thật tình, Thanh Trang thề theo tôi tới tận thế.

LOL LOL LOL LOL ThumpUp ThumpUp ThumpUp Applause ThumpUp
Cat' Linh
#180 Posted : Thursday, June 25, 2015 12:11:13 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 701
Points: 2,256
Location: fa la la

Thanks: 939 times
Was thanked: 860 time(s) in 461 post(s)

khakakakha tự mhien muốn uống coffee hả anh sìtommy. Hia coffee with xi`pill ….bean ]] khakakakhaWhistle Whistle WhistleSneaky …Need 2 xây beans nát ga đấy anh stormy. Khe`khe`khè

2 users thanked Cat' Linh for this useful post.
Andrew Hoang on 6/28/2015(UTC), phamlang on 7/2/2015(UTC)
Cat' Linh
#181 Posted : Thursday, June 25, 2015 12:15:46 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 701
Points: 2,256
Location: fa la la

Thanks: 939 times
Was thanked: 860 time(s) in 461 post(s)
1 user thanked Cat' Linh for this useful post.
phamlang on 7/2/2015(UTC)
phamlang
#182 Posted : Thursday, July 2, 2015 11:49:36 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)

Tiếng Nói Và Chữ Viết Của Người Việt Cổ

Cung Đình Thanh


Bài này nhắm trình bầy điểm phức tạp nhất của con người Việt cổ là tiếng nói và chữ viết. Người Hoà Bình đã có tiếng nói như thế nào? Và khi họ tiến vào địa phận nay là Trung Hoa thì họ đã đem tiếng nói đó đóng góp thế nào trong sự phát triển tiếng nói và nhất là đã đóng góp gì trong việc hình thành chữ viết tại Trung Hoa?

Thực sự đây là vấn đề phức tạp, thuộc lãnh vực chuyên môn của các nhà ngôn ngữ học. Nhưng người viết lại không thể không đề cập đến bởi vấn đề tiếng nói dính liền với con người.

Muốn tìm hiểu con người thì không thể không tìm hiểu tiếng nói của họ và ngược lại tìm hiểu tiếng nói tức là biết được gốc tích của con người: tiếng nói là một đặc điểm của con người. Chỉ có con người mới có ngôn ngữ. Ta có thể nói tiếng nói hay ngôn ngữ là vấn đề thiên phú chỉ riêng cho con người mà không động vật nào khác có được. Theo cách dùng rộng rãi, người ta có thể nói ngôn ngữ của tình yêu, của hoa hồng hay của loài cá vọi Nhưng nói như vậy nếu không là thậm xưng thì cũng mang
nặng tính lãng mạng thi phú bởi như trên đã nói, ngôn ngữ là một thiên phú được dành riêng cho con người. Điểm này sẽ được trình bầy rõ hơn ở phần dưới đây. Nếu nói cho đúng thì cái gọi là ngôn ngữ của tình yêu hay của loài cá voi thực sự phải hiểu đó chỉ là một hình thức truyền đạt ý tưởng theo cách nào đó chứ không hẳn đó là một ngôn ngữ đúng theo nghĩa của danh từ này.

Người ta khi kiên trì học hỏi thì có thể nói bất cứ ngôn ngữ nào. Như vậy nếu chúng ta nói một ngôn ngữ khác không được hay không đúng chỉ bởi chúng ta không có thói quen nói thứ tiếng đó vì một số cơ bắp ở cổ, ở lưỡi, ở môi bị điều kiện hoá đi mà thôi.

Đến đây ta phải phân biệt ngôn ngữ với văn tự là dùng một ký hiệu nào để ghi lại ngôn ngữ thành văn bản.

Ngày nay chúng ta có những phương tiện để ghi lại tiếng nói như máy ghi âm. Nhưng ngày xưa ngôn ngữ nói thì bay đi, chỉ có văn tự là giữ lại được cái ý mà người ta nói ra để truyền lại cho đời sạu Do đó văn tự rất quan trọng. Có thể nói, từ khi phát minh ra văn tự, nhân loại đã tiến bộ bằng đôi hia bẩy dặm và dân tộc nào làm chủ dược văn tự ở khu vực nào, dân tộc ấy làm chủ nền văn minh cả khu vực đó. Có cần phải nhấn mạnh rằng ngôn ngữ của con người càng về sau càng phân biệt mà cho đến nay đã có trên 4.000 tiếng nói khác nhau của nhiều dân tộc khác nhau. Nhưng cho đến nay chỉ có 300 chữ viết. Trong khoảg 300 loại văn tự này, số văn tự được sáng chế ra từ thời thượng cổ nghĩa là vào khoảng 2.000 năm về trước, chỉ đếm trên đầu ngón tay. Xin nói thêm người Hoà Bình là người đã xuất hiện từ 10.000 năm trở về trước.

Câu hỏi đặt ra là người Hoà Bình nói chung và người Việt thời cổ nói riêng, ngôn ngữ của họ thuộc ngữ hệ nào?

Muốn trả lời câu hỏi này ta phải định rõ nước Việt là một nước thuộc vùng Đông Nam Á Châu. Những điều người viết trình bày sau đây là mượn của những học giả nghiên cứu về ngữ hệ nổi tiếng từ xưa đến nay tại vùng Đông Nam Á và nói chung cả vùng Á Châu nữạ Cũng phải nói thêm, tuy ngôn ngữ nay có trên 4.000 thứ tiếng khác nhau, nhưng người ta qui nó thuộc một trong bốn Gia Đình chính là Indo-European, Afro-Asiatic, Sino-Tibetan và Austronesian.

Gọi "Gia Đình" (Families) hay họ vì những tiếng thành viên của gia đình ấy cùng thuộc một nguồn gốc. Người ta lập bảng khoảng 200 từ (nay thu lại 100) gồm những từ thông thường nhất kể từ khi con người bắt đầu tập nóị Nếu những bảng này có những từ giống nhau, người ta cho chúng thuộc một họ, một gia đình. Nếu sự giống nhau này nhiều (trên 70% chẳng hạn) có nghĩa là hai ngôn ngữ này có họ gần với nhau, hai chủng tộc này mới chia tách ra chưa lậu Nếu hai ngôn ngữ này chỉ có ít từ giống nhau (dưới 50% chẳng hạn) có nghĩa là hai ngôn ngữ này họ xa, hai chủng tộc đã phân tách theo di truyền DNA từ lâu rồi.

CÁC HỌC THUYẾT VỀ TIẾNG NOÍ TAỊ VÙNG ĐÔNG NAM Á

Các học giả Tây phương, tuy chưa có sự thống nhất ý kiến, nhưng căn cứ vào những ý kiến nổi trội nhất, đã chia tiếng nói ấy ở vùng Đông Nam Á ra bốn ngôn ngữ chính như sau: 1 - Thứ nhất là ngôn ngữ Nam Đảo (Austronesian), theo các nhà ngôn ngữ học thì ngôn ngữ này được phân bố từ đảo Hạ-UyĐi ở phía Đông đến tận đảo Madagasca ở phía Tây, bao gồm cả Đài Loan nhưng không bao gồm phần chính lục địa Trung Hoa ngày nạy Tiếng Nam Đảo chia ra làm Nam Đảo Bắc đi qua Đài Loan là chính để vào phía Nam Trung Hoa, Nam Đảo Tây Nam đi qua Indonesia và cả Phi nữa, và Nam Đảo Đông gồm tất cả các đảo phía Đông Nam Thái Bình Dượng Nhà bác học Peter Bellwood, trong một bài tham luận đăng trong Scientific American, tháng 7/1991 cho rằng ngôn ngữ Nam Đảo (Austronesian) là tiếng nói phát triển nhanh nhất và rộng lớn nhất thời tiền sử trải dài trên 10.000 cây số dọc các hải đảo và bờ biển, và là tiếng nói do dân tộc lấy canh nông làm chính.

2 - Thứ nhì là tiếng Nam Á (Austroasiatic), cũng có học giả còn gọi đây là tiếng Mon-Khmer. Tiếng này được phân bố từ ven biển lưu vực sông Hoàng Hà, bán đảo Sơn Đông dọc theo bờ biển Nam Trung Hoa xuống Giang Tô, Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông và vào địa phận của Bắc phần Việt Nam cho đến Trung phần Việt Nam, ngày xưa là Giao Chỉ, Cửu Chận Nguồn gốc của nó bao gồm cả những tiếng địa phương như tiếng Môn, trước là người ở Miến Điện, tiếng Khmer mà bây giờ đại diện chính là ở nước Cambodia, tiếng Việt, tiếng Mường và tiếng của các bộ lạc ở Đông Nam Á nữa như Balaung, tiếng Oar ở Trung Hoa, tiếng Munda ở Ấn Độ, tiếng của các dân tộc hải đảo phía Nam ...

3 - Thứ ba là tiếng Tầy Thái (Tai-Kadai), được phân bố chính ở lưu vực sông Dương Tử từ phía Nam tỉnh Hồ Nam xuống vùng Quảng Tây, Quế Châu, Vân Nam và vào cả Bắc Việt Nam nữa, phía Đông ra đảo Hải Nạm Tiếng này đại diện chính là hai dân tộc Thái và Lào ở hai quốc gia độc lập Thái, Lào bây giờ và nhiều tộc người ở xen kẽ phía Nam Trung Hoa cho đến Bắc phần Việt Nạm

4 - Ngoài ra còn một thứ tiếng ảnh hưởng rất lớn cho các cư dân ở những quốc gia không riêng vùng Đông Nam Á và cả Á Châu là tiếng Miến Tạng (Tibito-Burman). Bây giờ người ta không gọi là Miến Tạng nữa mà gọi là Hán Tạng (Sino-Tibetan). Tiếng Hán mới được biết đến nhiều chỉ gần đây thội Thời Thái Cổ chưa có thứ tiếng gọi là tiếng Hán.

Tiếng này cổ thời chỉ được nói ở vùng Thiểm Tây, phía Bắc Tứ Xuyện Cùng với sự bành trướng của đế quốc Tần rồi Hán, tiếng Hán Tạng ngày nay được hiểu là ngôn ngữ của người Trung Hoạ

Trong bấy nhiêu ngữ hệ, tiếng nói của người Việt hay rõ hơn người Việt thời Thái Cổ, người Hoà Bình đã thuộc ngữ
hệ nào ? Câu trả lời của các học giả không giống nhau và chính các học giả này cũng tuỳ thời mà thay đổi ý kiến của mình nữạ Đây là vấn đề hết sức phức tạp. Để đơn giản hoá, ta có thể tóm lược các ý kiến đó theo thời gian một cách vắn tắt như sau :

Trước hết, vào khoảng thế kỷ XIX, có lẽ học giả James Logan là người đầu tiên đã cho rằng tiếng nói của người Việt thuộc ngữ hệ Nam Á mà sau ông gọi là Môn-Kmer tức là thuộc ngữ hệ Austroasiatic. Hồi đó J. Logan gọi là Môn-Anam (James Logan 1852). Đến đầu thế kỷ thứ XX, nhà học giả Maspéro (1912) lại xếp tiếng Việt vào ngữ hệ Tày Thái (Tai-Kadai). Vì ông là một học giả lớn nên ý kiến của ông đã một thời ảnh hưởng rất quan trọng đến các học giả khác.

Lấy một thí dụ : học giả W. Schmidt năm 1905 đã xếp tiếng Việt thuộc ngữ hệ Môn-Khmer như J. Logan, nhưng rồi sau khi sách được tái xuất bản, bị ảnh hưởng của Maspéro, ông đã đổi lại ý kiến và cho rằng tiếng Việt thuộc ngữ hệ Tầy Thái (1956).

Vào khoảng giữa thế kỷ XX, nhà học giả Andre G. Haudricourt, trong những năm 52, 53, 54, 55 lại xếp tiếng Việt thuộc ngữ hệ Nam Á (Austro-Asiatic) và vì ông rất kiên trì bảo vệ ý kiến của mình trong nhiều tác phẩm liên tiếp nhau suốt nhiều năm, nên ý kiến này đã một thời có ảnh hưởng đến nhiều học giả viết về ngôn ngữ và con người Việt Nạm

Vào thời đó nước Việt còn bị Pháp đô hộ nên tiếng Việt không được nhắc đến trong những tác phẩm khảo cổ và coi như không có vai trò quan trọng gì trong tiến trình phát triển văn hoá của vùng Đông Nam Á nói riêng và vùng Nam Á Châu nói chụng Như trước đây đã nói, trước kia người ta cho rằng dân tộc xây dựng phát triển vùng Nam Trung Hoa là dân tộc Thái (xin xem Andréas Lomel - Bài .Nguồn gốc dân tộc Việt Nạm, TS Tư Tưởng số 2 tháng 4/1999). Cũng theo chiều hướng đó những nhà nghiên cứu ngữ học cho rằng tiếng Tầy Thái mới là tiếng đã từng một thời là ngôn ngữ lãnh đạo của vùng Đông Nam Á và vùng Nam Á Châu (Paul Benedict 1942). Chỉ gần đây người ta mới đi đến kết luận là không phải dân tộc Tiền Thái (Promothai) hay là tiếng Thái (Promoaustrothai) đã giữ vai trò lãnh đạo trong vùng Đông Nam Á và vùng Nam Á Châu, mà dân tộc thực sự lãnh đạo văn hoá cũng như tiếng nói lãnh đạo ngôn ngữ ở vùng Đông Nam Á và Nam Á Châu chính thực là dân tộc Việt (xem lại Joseph Needham và gần đây Edwin George Pulleyblank trong The Origins 1983).

Từ thập niên 80 người ta lại lưu ý dến ngữ hệ Nam Á và ngữ hệ Nam Đảo (Lorraine 1984 - 1985) và người ta đề nghị nên quay lại giả thuyết mà Wilhelm Schmidt đã đưa ra từ năm 1906 về một ngữ hệ mang tên Austric bao trùm cả ngữ hệ Nam Á và Nam Đảo bởi chỉ với ngữ hệ Austric này người ta mới giải quyết được cả hai vấn đề :

- Một mặt là những mâu thuẫn của các học giả về quê hương của ngữ hệ Nam Đảọ Có người cho nó ở ven biển Đông Nam Trung Hoa như Haudricourt (1954), Bellwood (1984 - 1985), hay ở lục địa Châu Á như Kern H. (1889), có người cho quê hương nó ở vùng hải đảo Đông Nam Á như W. G. Solheim II (1984-1985), William Mitcham (1984-1985).

- Mặt khác chỉ ngữ hệ Austric này mới xứng đáng đại biểu cho người Hoà Bình đã có sự phân bố rộng khắp vùng Đông Nam Á lên tận phía Bắc Trung Hoạ Thiết tưởng giả thiết này sát với sự thực nhất vì không những nó phù hợp với những phát minh mới nhất của khảo cổ học, mà còn phù hợp với sự phát minh mới của cơ thể học và di truyền học DNA mà nhà bác học J. Ỵ Chu mới tìm ra mấy năm gần đây (TS Tư Tưởng số 7 tháng 4/2000) như sẽ được trình bầy rõ hơn ở phần dưới đậy

Ngôn ngữ phát triển độc lập hay gắn liền với sự phát triển của văn hoá? Đã có học giả chủ trương tính độc lập của ngôn ngữ đối với văn hoá (Ẹ Sapir, 1921). Nhưng chủ trương này không được sự đồng ý của tuyệt đại đa số các học giả khác. Phần lớn đều cho có sự liên hệ chặt chẽ và hỗ tương giữa văn hoá và ngôn ngữ. Và phần lớn đều công nhận rằng khoảng từ 10.000 năm trở về trước đã có một nền văn hoá chung phân bố rộng khắp toàn vùng gọi là Văn Hoá Hoà Bình; những người của Văn Hoá Hoà Bình giống nhau về hình thức và có cùng tiếng nóị Từ Hoà Bình họ phân bố đi khắp các nơi lên phía Bắc Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Giang Tô lên đến tận Sơn Đông, phía Tây Bắc lên đến tận Tứ Xuyên, Quí Châu, về phía Nam ảnh hưởng đến tận Sa Huỳnh, Đồng Nai, sang vùng đất Thái Lan, Mã Lai đến tận Miến Điện, Nam Dương ngày nay và phía Đông sang Phi Luật Tân và một phần lên đến tận Nhật Bản nữạ Thế rồi vì môi trường sinh hoạt, định cư ở những vùng khác nhau, thành lập những quốc gia khác nhau, nên những người đó dần dần nói những thứ tiếng khác nhạu Việc đó xẩy ra vào Thời Kỳ Đá Mới khoảng từ 10.000 năm cho đến 4.000 năm trước Kỷ Nguyện Chỉ đến những năm gần đây, khi di truyền học phát triển, người ta mới hiểu rõ một ngôn ngữ gốc bị tách ra làm nhiều ngành, không chỉ bởi văn hoá, mà chính là bởi đã có sự phân tách về di truyền DNA, do đó có sự thay đổi về chủng tộc kéo theo sự thay đổi về ngôn ngữ. Điều này sẽ được nói rõ hơn ở phần sạu Gần đây, trong bài tham luận đăng trong The Origins, học giả William Mitcham đã viện dẫn những ý kiến của hai ông Mei Tsu Lin (1976) và J. Norman để chứng minh rằng tiếng Nam Đảo hay Nam Á do người Tiền Trung Hoa sử dụng ở dọc bờ biển phía Đông Trung Hoa thuộc giống người Hoài Di và giống người Từ Nhung từ lưu vực sông Hoài dọc xuống Giang Tô, Triết Giang, Quảng Đông, Quảng Tây là giống với tiếng mà người Cổ Việt sử dụng. Điều này có ý nghĩa quan trọng chứng minh sự đóng góp của người Hoà Bình trong việc xây dựng nên tiếng nói và con người Trung Hoa cổ đạị

Tuy nhiên những từ như Nam Đảo, Nam Á hay Malanesian, Indonesian ... là những từ mà nghĩa của nó đã được dùng một cách khác nhau tuỳ tác giả và tuỳ thời giạn Vả chăng nay đã có những nước mang tên Malaysia mà tiếng của họ là Malaysian, hay những nước như Indonesia mà tiếng của họ là Indonesian nên những từ đó dùng dễ bị hiểu theo nghĩa sai lầm, bởi vậy tưởng phải định nghĩa thật kỹ trước khi dùng những từ nàỵ Tại sao không dùng từ Proto-Việt để chỉ tiếng nói của người Hoà Bình thay cho những từ không rõ nghĩa như trên ?

TIẾNG NÓI DƯỚI ÁNH SÁNG CUẢ KHOA HỌC

Trên đây là tóm lược sự phân vùng và sự phát triển của các họ ngôn ngữ ở Đông Nam Á và Đông Á. Đó là phạm vi lý thuyết.

Ngày nay, dưới ánh sáng của khoa cơ thể học, khảo cổ học và gần đây, khoa di truyền học DNA, vấn đề này đã được nhìn một cách rõ rệt hợn Không kể đến ảnh hưởng của môi sinh đối với tiếng nói, có ba vấn đề lớn cần làm sáng tỏ:

- Vấn đề thứ nhất: tiếng nói do đâu mà có?

- Vấn đề thứ hai: Tiếng nói có tự bao giờ?

- Vấn đề thứ ba: Có sự tương đồng nào (congruence) giữa sự biến đổi của tiếng nói và sự biến đổi của chủng tộc theo di truyền?

Những vấn đề trên là những vấn đề chuyên môn hết sức phức tạp. Người viết chỉ xin trình bầy những nét giản đơn nhất, cốt nói lên được các đặc tính của vấn đề.

Vấn đề thứ nhất: Tiếng nói do đâu mà có?

Đọc loạt bài .Hành trang và hành trình vào văn hoá dân tộc. của GS. Trần Ngọc Ninh đăng trong TS Tư Tưởng từ số 6 tháng 2/2000, chúng ta đã thấy nhiều giống vật như chim, bướm, ong ... đã có những phương thức thông tin hết sức thông mịnh Nhưng những cách thông tin đó chưa phải là tiếng nói - trừ ngoại lệ như con vẹt có thể được ta huấn luyện để nói vài tiếng người - vì tiếng nói chỉ là đặc phẩm của con ngườị. Trước kia người ta cũng biết điều đó nhưng chưa giải thích tường tận được. Nay nhờ khoa học, người ta hiểu rằng tiếng nói tuỳ thuộc vào hai cơ năng: bộ óc và bộ phát ậm. (The Cambridge Eucyclopedia of Human Evolution - từ trang 131).

Về vai trò của bộ óc trong việc thụ đắc tiếng nói, người ta đã biết hơn trăm năm trước nhờ công trình của nhà bác học người Pháp Paul Brocạ. Nhưng óc con người là bộ phận hết sức tinh tế, hết sức phức tạp, không phải con người vừa sinh ra nó đã phát triển đầy đủ. Bởi vậy, trẻ nhỏ chưa nói được (dưới 1 tuổi) hay chưa làm chủ được tiếng nói (dưới 4 tuổi) vì bộ óc chưa phát triển đầy đủ. Về bộ phát âm còn phức tạp hơn vì nó bao gồm ba bộ phận chính: hạ tầng là phổi và các cơ bắp liên hệ, thượng tầng là hệ thống mũi, miệng, lưỡi và trung tầng, quan trọng nhất là thanh quản (larynx). Hình dưới đây cho thấy trẻ nhỏ hay loài hầu dù có bộ mặt giống người lớn, nhưng không nói được vì thanh quản chưa được phát triển như người (lớn).

Vấn đề 2: Tiếng nói có tự bao giờ?

Trước đây đã có nhiều học giả trả lời cho câu hỏi này, nhưng thường là phỏng đoán, bởi tiếng nói con người bay đi, đâu có để lại dấu tích hoá thạch, như xương cốt chẳng hạn, để khoa khảo cổ có thể phát hiện được. Nhưng nhờ sự tiến triển của cơ thể học như đã nói ở trên và sự tiến bộ của
khảo cổ học, căn cứ vào các sọ và các tư liệu khảo cổ học cung cấp người ta có thể phỏng đoán chính xác hơn về thời gian phát sinh ra tiếng nói. Có hai giả thiết: giả thiết thứ nhất cho rằng con người bắt đầu nói được từ Thời Đại Đồ Đá Cũ (khoảng 150 năm trước Kỷ Nguyên), vì căn cứ vào
những sọ người đào được chứng tỏ lúc đó con người đã có bộ óc phát triển đủ và bộ phát âm cũng đã hoàn chỉnh (fully descended vocal tract). Giả thiết thứ hai lạc quan hơn, cho rằng có thể từ thời Homo-Habilis (2 triệu năm) hay Homo-Erectus (1 triệu rưỡi năm) trước con người lúc đó cũng đã
bắt đầu nói được vì bộ óc cũng đã khá phát triển.

Có một điều chắc chắn là tiếng nói của con người từ khởi thuỷ đến nay đã tiến triển qua nhiều giai đoạn, từ đơn sơ đến tinh tế, chứ không phải đã hoàn chỉnh ngay từ đầụ. Sở dĩ như vậy vì tiếng nói biến chuyển theo bộ óc và thanh quản, mà óc và thanh quản chỉ hoàn chỉnh dần dần chứ không phải đột nhiên được như ngày nạy. Có thể lấy sự phát triển tiếng nói của một đứa trẻ để hình dung ra sự tiến triển tiếng nói của loài người. Darwin còn giả thiết, trong giai đoạn đầu, loài người chỉ bắt đầu biết nói dưới hình thức các câu hát, nhất là hát trong các buổi tế lễ.

Vấn đề thứ ba: Có sự tương đồng nào giữa sự biến đổi của tiếng nói và của tộc người theo di truyền?
Câu trả lời là có, bởi hai sự tiến hoá này, tiến hoá của chủng tộc và của tiếng nói cùng đi theo một con đường lịch sử chung. Một cách giản dị, người ta diễn tả sự tương đồng này như là sự .liên tục của một sự phân đội (as a sequence of fissions) - (In two or more population that have separated,
there begins a process of differentation of both gene and language ) - [The History & Geography of Human Gene, Luca Cavalli - SFORZA, PAOLO MENOZZI, ALBATO TIAZZA p.380 -381].

Một lý do khác nữa là cả genes lẫn tiếng nói đều được truyền theo đường dọc từ cha mẹ đến con cái. Có điều tiếng nói, rõ hơn là văn hoá, có thể được truyền theo nhiều cách khác nữa, nhất là trong các xã hội tân tiến. Ngày nay có những nơi không có sự liên hệ trực tiếp giữa ngôn ngữ và chủng tộc như ở Úc Đại Lợi, Nam Mỹ, Tân Guinea ... Đó là do có sự di trú ồ ạt, hoặc co,ù hoặc không có tổ chức. Người ta cũng có thể thấy ở một xứ, như Canada, nơi nói tiếng Pháp (Quebec), nơi nói tiếng Anh (Maine) ... Đó lại là do kết quả sự thăng trầm của các đế quốc. Các diễn biến đó
là diễn biến không tự nhiên. Bỏ ra ngoài những yếu tố do con người áp đặt như vừa kể,và nếu cứ để lịch sử diễn tiến một cách tự nhiên, có lẽ nhận xét sau đây của nhà bác học Darwin vẫn là nhận xét hữu lý nhất : .If we possessed a perfect pedigree of mankind, a genealogical arrangement of the races of man would afford the best classification of the various languages now spoken throughout the word; and if all extinct languages, and all intermediate and slowly changing dialects, were to be included such an arrangement would be the only possible one. (The Descent of Man (1871)
- Ch. 14 on the Origin of Species (1859) - (Nếu chúng ta có được một bảng phả hệ hoàn chỉnh của loài người, thì bảng sắp xếp phả hệ các chủng tộc có thể là bảng phân loại tốt nhất cho các ngôn ngữ khác nhau đang được xử dụng trên khắp địa cầu. Mọi ngôn ngữ dù đã bị biến mất hay các thổ
ngữ đang bị biến đổi một cách chậm chạp cũng được bao gồm trong bảng phân loại này).

Quay lại sự phân loại các họ ngôn ngữ tại vùng Đông Nam Á, về phương diện lý thuyết như trên, ta thấy đầu tiên người ta chia ra bốn họ là: Nam Đảo (Austronesian), Nam Á (Austro-Asiatic), Tầy-Thái (Tai-Kadai) và Miến-Tạng (Tibito-Buruman). Dần dần có lẽ thấy sự phân chia này chưa hợp lý. Paul K. Benedict là người đầu tiên đã đề nghị nhập hai họ Tai-Kadai và Austronesian vào một mà ông gọi là Proto-Austro-Tai hay PAT (1975). Những người dùng ngôn ngữ này căn bản là người trồng lúa nước, dùng trâu cầy ruộng, đi thuyền, trồng mía, làm vườn, nuôi súc vật ... Xem như vậy, hình như chủng tộc nói tiếng này là người Hoà Bình, có thể coi là tổ tiên của nòi Việt mà sau này người ta gọi là đại tộc Bách Việt. Nhưng rồi người ta cũng nhận thấy ngôn ngữ PAT cũng chưa phản ảnh đúng tiếng nói của người Hoà Bình. PAT còn phải bao gồm cả tiếng Nam Á (Austro-Asiatic) mà trước kia, từ 1906, Wilhelm Schmidt đã đề nghị mang tên Austric mới phản ánh đúng được tiếng nói của người Hoà Bình. Lý thuyết này xem ra đã được khoa học ngày nay công nhận.

Đến đây ta mới thấy lý thuyết về sự phát sinh ra tiếng nói và lý thuyết về sự biến đổi con người theo di truyền học DNA đã bổ túc cho nhau, ăn khớp nhịp nhàng với nhau; đúng với nhận xét cho rằng con người và ngôn ngữ cùng có một con đường lịch sử chung : tìm hiểu được con đường tiến
hoá của tộc người là biết được con đường tiến hoá của ngôn ngữ, và ngược lạị.

Nhà bác học J. Y. Chu, bằng di truyền học DNA, đã chứng minh được con người hiện đại phát sinh ở Đông Phi Châu đã theo đường Trung Đông đến Đông Nam Á qua ngả Nam Á. Rồi từ Đông Nam Á, họ tiến lên Trung Hoa theo đường ven biển qua Nhật Bản (lúc đó giữa đại lục và Nhật là giải đất liền) qua eo biển Beringia (lúc đó cũng là giải đất liền) để vào Mỹ Châu (The Nation Academy of Science - USA - Vol 95, issue 20 1763 -1768; 29/7/1990 - Xin xem TS Tư Tưởng số 7 tháng 4/2000). Ông J. Ỵ Chu không ghi rõ năm tháng của sự di chuyển của giống người hiện đại nàỵ Nhưng khảo cổ học, bằng vào những phương pháp mới đã tính ra Người Hiện Đại phát sinh ở Đông Phi khoảng 150.000 năm
trước đây, đến Đông Nam Á khoảng 90.000 nặm. Một mặt họ qua Nam Dương rồi Bắc Úc (lúc đó là giải đất liền) khoảng 50.000 năm trước; một mặt họ lên Trung Hoa khoảng 35.000 năm trước, qua Nhật khoảng 30.000 năm trước và vượt eo Beringia đến Mỹ khoảng 30.000 năm trước (lúc đó cũng là giải đất lie^n).

Vậy lý thuyết về ngôn ngữ của Wilhelm Schmidt năm 1906 đã được khoa học ngày nay xác nhận là chính xác (xem đồ bảng trên) là phù hợp nhất với sự tiến triển của loài người hiện đạị. Và nếu không có sự can thiệp và áp đặt của con người thì việc tìm hiểu sự phân phối và biến dạng của các của di dân trong từng chặng đường lịch sư, cũng như việc tìm hiểu sự phân bố và biến đổi của các ngôn ngữ cũng cho ta thấy y hệt con đường của di dân trong từng chặng đường lịch sử ấy. Trong phạm vi bài viết của chúng ta, con đường di dân theo genes (DNA) là con đường của người Hoà Bình từ Đông Nam Á lên Đông Á và ra Hải đảo Thái Bình Dượng. Đó cũng là sự tiến triển của con đường ngôn ngữ Austric. Khi những người Hoà Bình đã biến đổi thành những tộc người khác mang những tên như Thái, Lào, Chàm hay Ngô, Việt, Sở, Indonesian, Polynesian ... do sự biến đổi của gene (DNA), thì từ ngôn ngữ mẹ Austric, tiếng nói của các tộc người mới này cũng đã biến thành những ngôn ngữ khác
nhau vậy.

Rõ ràng ta thấy ngôn ngữ và con người liên hệ mật thiết với nhạu. Sự tìm hiểu ngôn ngữ sẽ bổ túc cho sự tìm hiểu về con người hay ngược lại vậỵ

CHỮ VIẾT

Bài này đáng lẽ phải có cả phần viết về văn tự của người Việt thời Thái Cổ như đề tựạ Những tài liệu mới viết về nguồn gốc ngôn ngữ văn tự Đông Phương cho thấy những lý thuyết của các tác giả cổ điển, nhất là của GS. danh tiếng Maspéro, cho rằng tiếng Việt bắt nguồn từ tiếng Hán và chữ Nho là học được từ khi người Hán sang đô hộ Việt Nam đã càng ngày càng chứng tỏ không còn đúng với sự thực. Tuy nhiên, viết về chữ viết của người Việt thời Thái Cổ một cách nghiêm chỉnh là điều lúc này có lẽ cũng còn hơi sớm, còn cần thêm thời gian, và cần thêm nhiều dữ kiện. Ở đây, để tạ tội với Quí vị Độc giả nào đang chờ đọc phần chữ viết của người Việt thời Thái Cổ, tôi chỉ xin đưa ra vài bảng về hình tượng và về âm cổ của chữ viết được khảo cổ phát hiện trên vách đá hay xương cốt cách đây trên nhiều ngàn năm trước khi có sự thành lập nên nhà nước Hoa, Việt, Nhật, Hàn là những nước trong một thời gian dài đều coi chữ Nho như là quốc tự của mình. Cần phải nói ngay rằng, những mẫu tự cổ dưới dạng Giáp Cốt này đã tìm thấy ở những miền khác nhau, từ cực Bắc đến cực Nam, từ miền Tây đến tận các hải đảo phía Đông trên đại lục Đông Á, lúc đó do các tộc người khác nhau chiếm ngụ, và chưa thành lập nên các nước mang tên Hoa, Việt, Nhật, Hàn như sau nàỵ

Đã có các bộ sách Grammata Serica Recensa và Sound & Symbol in Chinese của Bernard Karlgren do Oxford University Press in lại năm 1946. Gần đây, Trung Hoa và Đài Loan cũng vừa xuất bản các bộ sách nói về nguồn gốc chữ và âm cổ văn như Hán Tự Đích Cố Sự của Thi Chánh Vũ; bộ Trung Văn Hình, Âm, Nghĩa Tổng Hợp Đại Từ Điển của học giả Cao Thọ Phan do Trung Hoa Thư cục Đài Loan xuất bản năm 1989 nói nhiều về nguồn gốc cũng như về cách phát âm của chữ Nho thời Thái Cổ.

Nghiên cứu các sách này có thể cho ta biết rõ cách phát âm của những chữ gọi là chữ Hán từ thời chưa phân chia ra các quốc gia như ngày nạy Tôi tiếc chưa có thì giờ để làm việc nàỵ Tạm thời ở đây, tôi xin phép được xử dụng ba bảng âm cổ của GS. Vũ Thế Ngọc để Quí vị Độc giả thấy qua cách
phát âm của tiếng Hán thời trước. Cách phát âm này không giống cách phát âm ngày nay dù đối với người Hoa hay đối với người Việt. Điều cần lưu ý là âm Hán Việt ngày nay khác biệt hẳn âm Hán Việt cổ. Hai câu hỏi có thể đặt ra:

- Thứ nhất: Tại sao có nhiều âm cổ Hán Việt giống hệt như âm Nôm của người Việt vậy (dù có vài âm nay đã ít dùng)? Nói một cách khác, các cụ ta xưa có thể đã viết chữ Hán thoải mái như viết chữ mẹ đẻ, vì nói sao viết vậỵ

- Thứ hai: Tại sao âm Hán Việt đời sau lại đổi khác đi khiến phải đọc một đằng, viết một nẻo như vậy?

Hai loại bảng này gợi cho tôi ý nghĩ phải chăng cái chữ gọi là chữ Nho hay chữ Hán này, ngày xưa tổ tiên mình đã có dự phần gây dựng lện Vì dựa vào hình dáng và âm thanh theo cảm quan của tộc Việt để tạo chữ nên hình nhu các cụ đã có thể nghĩ thế nào, nói thế nào thì viết vậỵ

Xin nói ngay đây chỉ là những ý nghĩ trăn trở trong đầu từ lâu chứ chưa phải là khẳng định. Còn cần thêm nhiều dữ kiện. Và không ai muốn bị mang cái tiếng là sô-vanh văn hoá, một điều thật đáng chê trách. Rất mong được Quí vị Độc giả góp ý về vấn đề trọng đại này và nếu Quí vị nào có tài liệu liên hệ đến đề tài xin vui lòng sao gửi cho một bản.

Xin thành thực cảm ơn trước.

CUNG ĐÌNH THANH
(Xin đọc tiếp lời bạt)

Lời Bạt:
Để thay cho phần kết luận, tôi xin kể một mẫu chuyện trong buổi họp mặt tại nhà một vị trưởng thượng nhân chuyến đi thăm Hoa Kỳ mới đây. Khi bàn về tư tưởng Việt, tôi đề nghị nên nghiên cứu đến tư tưởng của tiền nhân trong các tác phẩm viết bằng chữ Nho ... Một vị trưởng thượng vốn là người có trách nhiệm điều khiển ngành Văn Khoa Saigon trước kia, nêu lên nguyên tắc đã được áp dụng một cách triệt để trong khoa học nhân văn Tây phương là: chỉ có thể coi thuộc văn hoá nói chung hay tư tưởng Việt nói riêng những tác phẩm viết bằng tiếng Việt. Tác phẩm viết bằng Hán văn phải trả về cho văn học tư tưởng Hán. Tôi đang cố chống chế một cách yếu ớt rằng, tất nhiên phải tôn trọng nguyên tắc này, nhưng cũng cần đặt ra câu hỏi là các cụ mình ngày xưa khi sáng tác có nghĩ mình đang viết bằng một thứ chữ vay mượn không? Rất may, có anh bạn mới gặp, đang là chủ biên một nguyệt san, theo tôi, là một trong vài tập san hàng đầu trong sinh hoạt văn hoá nước nhà hiện nay, đã tiếp lời khẳng định: các cụ đã viết bằng thứ chữ các cụ cho là của tổ tiên mình.

Lời khẳng định của anh căn cứ theo lời tổ phụ là nhà ái quốc Phạm Phú Thứ viết để lai. Nhà sử học uy tín có mặt trong buổi họp đã yêu cầu anh kể lại ngọn nguồn câu chuyện hầu giúp tài liệu quí báu cho những nhà sử học cũng như ngữ học sau nàỵ Chỉ tiếc buổi họp đã đến lúc giải tán nên anh chưa có thì giờ kể vào chi tiết. Nếu không phạm vào điều gì cấm kỵ, tôi mạn phép đề nghị Anh cho công bố những gì nhà ái quốc Phạm Phú Thứ đã viết liên hệ đến chữ Nho và lý do tại sao Người lại viết tác phẩm của mình bằng thứ chữ này. Những ai quan tâm đến văn hoá Việt chắc đều nóng lòng chờ đợi sự công bố của ạnh Riêng tôi, tôi rất mong được đọc bài viết của anh để có thể hoàn tất bài viết của mình về chữ Việt thời Thái Cổ, nhờ vậy may ra bài tham luận có thêm sức thuyết phục.


Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang
#183 Posted : Saturday, July 11, 2015 9:44:01 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)
Dương Quảng Hàm – Văn chương truyền khẩu



Dương Quảng Hàm là nhà văn học sử đầu tiên chia tác phẩm văn học Việt Nam thành hai loại: văn chương bác học do các nhà văn có học thức viết những bài văn theo khuôn thước hẳn hoi và văn chương bình dân hay truyền khẩu do người bình dân đem tính tình, tư tưởng diễn thành những câu tục ngữ, những bài ca dao không theo phép tắc nhất định và được truyền miệng trong dân gian. Trong những tác phẩm còn để lại, học giả họ Dương không nhấn mạnh tới một loại hình của văn chương truyền khẩu ấy là Truyện cổ (hay cổ tích) như nhiều nhà văn học sử lớp sau đã làm.

Các phần giải thích về thành ngữ, tục ngữ, phương ngôn và ca dao… trong Việt Nam Văn học sử yếu rất rõ ràng và dễ hiểu. Tuy nhiên, tác phẩm dùng để giảng dạy tiếng Việt cho những học sinh cấp cao đẳng tiểu học bản xứ (Ecoles primaires supérieures franco-indigènes) ở phần đất Bảo hộ (miền Bắc), giáo sư đã đưa ra khá phong phú thí dụ ca dao, tục ngữ ở vùng nông thôn châu thổ sông Hồng Hà và Thái Bình nên chưa thỏa mãn cho nhu cầu độc giả miền Trung và miền Nam dù trong sách tham khỏa ông có sử dụng những tác phẩm loại này của học giả miền Nam (như Recueil de chansons populaires của Paulus Của-xb 1904).

Ngoài ra, cách kết cấu các loại ca dao theo tiêu chuẩn phú, tỷ, hứng quá cũ vì đã được dùng trong phân loại Kinh thi của Trung quốc, nên khiến người đọc đôi khi lúng túng.

Tuy nhiên, từ cách phân loại cho tới cách trình bày và giải thích vẫn có thể coi phần Văn chương truyền khẩu trong Việt Nam Văn học sử yếu là tài liệu quý giá cần thiết cho người nhập môn vào văn học Việt Nam:

“Văn chương truyền khẩu – ở nước ta, trước khi có văn chương bác học, đã có một nền văn chương bình dân truyền khẩu. Văn chương truyền khẩu ấy là tục ngữ và ca dao. Vậy ta phải xét nền văn ấy trước.

1. Tục ngữ:

Định nghĩa những chữ tục ngữ, ngạn ngữ, và phương ngôn. – tục ngữ (tục: thói quen có đã lâu đời, ngữ: lời nói) là những câu nói gọn ghẽ và có ý nghĩa lưu hành tự đời xưa, rồi do cửa miệng người đời truyền đi. Tục ngữ còn gọi là ngạn ngữ, vì chữ ngạn nghĩa là lời nói của người xưa truyền lại. Còn phương ngôn (phương; địa phương, vùng) là những câu tục ngữ chỉ thông dụng trong một vùng chứ không lưu hành khắp trong nước.

Nguồn gốc của tục ngữ: – Xét về nguồn gốc, ta có thể chia tục ngữ ra làm hai loại: 1) Những câu vốn là tục ngữ, tức là những câu nói thường, lúc ban đầu chắc cũng do một người phát ra trước tiên, rồi vì ý nó xác đáng, lời nó gọn ghẽ, người khác nghe đến nhớ ngay, sau cứ thế nhắc lại mà truyền tới bây giờ, đến nay ta không biết tác giả là ai nữa. Những câu về loại này chiếm phần nhiều nhất. 2) Những câu vốn là thơ ca mà sau biến thành tục ngữ. Những câu nguyên ở trong một bài thơ hoặc một bài ca của một tác giả nào, nhưng vì ý đúng, lời hay, nên người ta truyền tụng đi mà làm thành một câu tục ngữ. Thí dụ: Câu tục ngữ “Thương người như thể thương thân” vốn là một câu trong tập Gia huấn ca của Nguyễn Trãi.

Hình thức của tục ngữ: – Xét về hình thức, tục ngữ có thể chia ra làm hai loại. 1) Những câu không vần, có ít. Những câu này có hai cách đặt: a) Hoặc đặt lấy đối: một câu chia làm hai đoạn đối nhau. Thí dụ: Giơ cao đánh khẽ. No nên bụt, đói nên ma. b) Hoặc đặt không đối, chỉ cốt ý đúng lời gọn thôi. Thí dụ: Mật ngọt chết ruồi, Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. 2) Những câu có vần, rất nhiều. Vần trong các câu tục ngữ thường là yêu vận (yêu: lưng) nghĩa là vần ở lưng chừng câu, thỉnh thoảng mới có cước vận (cước: chân) nghĩa là vần ở cuối câu. Thí dụ: Ăn cây nào, rào cây ấy. Nói ngọt lọt đến xương. Khôn cho người vái, dại cho người thương, dở dở ương ương, tổ người ta ghét.

Ý nghĩa các câu tục ngữ: – Tục ngữ của nước ta rất nhiều mà mỗi câu mỗi ý. Tựu trung, ta cũng có thể chia làm mấy loại như sau:

1) Những câu thuộc về luân lý. Những câu nầy: a) Hoặc dạy đạo làm người. Thí dụ: Tốt danh hơn lành áo. Giấy rách giữ lấy lề. Sống đục sao bằng thác trong; b) Hoặc cho ta biết những lý sự đương nhiên. Thí dụ: Khôn sống, mống chết. Mạnh được, yếu thua. Hoặc dạy khôn dạy ngoan.
Thí dụ: Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau; Gửi lời thì nói, gửi gói thì mở.
2) Những câu thuộc về tâm lý người đời. Những câu nầy là tả thế thái nhân tình, nhờ đó mà ta biết được tâm lý của người đời. Thí dụ: Của người bồ tát, của mình lạt buộc; Vén tay áo xô, đốt nhà táng giấy; Yêu nên tốt, ghét nên xấu; Dao năng liếc thì sắc, người năng chào thì quen.
3) Những câu thuộc về phong tục, nhờ đó mà ta biết các tập tục, tín ngưỡng ở nước ta.
Thí dụ: Một miếng giữa làng, bằng một sàng xó bếp; Vô vọng bất thành quan; Cao nấm ấm mồ; Sống về mồ mả, không sống về cả bát cơm.
4) Những câu thuộc về thường thức. a) Hoặc nói về thời tiết. Thí dụ: Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa; Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão. b) Hoặc nói về việc canh nông. Thí dụ: Trời nắng tốt dưa, trời mưa tốt lúa. Lúa giỗ, ngả mạ; vàng rạ thì mạ xuống đồng. c) Hoặc nói về thổ sản. Thí dụ: Dưa La(1), cà Láng(2), nem Báng(3), tương Bần(4), nước mắm Vạn Vân(5), cá rô Đầm Sét(6). d) Hoặc nói về lễ phép, thù ứng.
Thí dụ: Ăn trông nồi, ngồi trông hướng, ăn miếng chả, trả miếng nem; Có đi có lại, mới toại lòng nhau v.v…
(Chú thích: (1) La: tức là tổng La nội, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. (2) Láng: tên nôm của làng Yên Lãng, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông. (3) Báng có lẽ là làng Đình Bảng, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. (4) Bần: tên nôm của làng Yên Nhân, phủ Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên (5) Vạn Vân (vạn: làng bọn thuyền chài), tức là tổng Vân Hải, huyện Hoành Hồ, tỉnh Quảng Yên. (6) Đầm sét: tên nôm của làng Diêm Khê, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông.)

Thành ngữ:
– Thành ngữ là những lời nói do nhiều tiếng ghép lại đã lập thành sẵn, ta có thể mượn để diễn đạt một ý tưởng của ta khi nói chuyện hoặc viết văn. Trong những câu người ta thường gọi là tục ngữ, có rất nhiều câu chỉ là thành ngữ chứ không phải là tục ngữ thật. Thí dụ: Dốt đặc cán mai, Nói toạc móng heo, Miệng hùm nọc rắn, Tiền rừng bạc bể. Sự khác nhau của tục ngữ và thành ngữ là ở chỗ nầy: một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì, còn như thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn một ý gì hoặc một trạng thái gì cho có màu mè. Câu ví: Trong số các thành ngữ của ta, có rất nhiều câu dùng để so sánh hai sự vật với nhau, thứ nhất là một ý nghĩ ở trong trí với một vật, hoặc một cảnh tượng ở ngoài: những câu ấy tức là câu ví. Thí dụ: Đắng như bồ hòn, Trắng như trứng gà bóc, Lào nhào như cháo với cơm…

2. Ca dao

Định nghĩa: Ca dao (ca: hát; dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình phong tục của người bình dân. Bởi thế ca dao cũng gọi là phong dao (phong: phong tục) nữa. Ca dao cũng như tục ngữ, không biết tác giả là ai; chắc lúc ban đầu cũng do một người vì có cảm xúc mà làm nên, rồi người sau nhớ lấy mà truyền tụng mãi đến bây giờ.

Thể văn: – Ca dao viết theo mấy thể văn nầy: 1) Thể lục bát chính thức (câu 6 câu 8 kế tiếp nhau, hoặc thể lục bát biến thức (thỉnh thoảng có xem những câu dài hơn 6 hoặc 8 chữ). Thí dụ: Thể lục bát chính thức: Tò vò mà nuôi con dện (nhện), Ngày sau nó lớn nó quến nhau đi. Tò vò ngồi khóc tỉ ti: Nhện ơi! Nhện hỡi! Mầy đi đàng nào? Thể lục bát biến thức: Công anh đắp nấm, trồng chanh. Chẳng được ăn quả, vin cành cho cam. Xin đừng ra dạ bắc nam. Nhất nhật bất kiến như tam thu hề. Huống tam thu như bất kiến hề, Đường kia, nỗi nọ như chia mối sầu. Chắc về đâu đã hẳn hơn đâu. Cầu tre vững nhịp hơn cầu thượng gia. Bắc thang lên thử hỏi trăng già, Phải rằng phận gái hạt mưa sa giữa trời. May ra gặp được giếng khơi, Vừa trong vừa mát lại nơi thanh nhàn. Chẳng may số phận gian nan. Lầm than cũng chịu phàn nàn cùng ai. Đã yêu nhau, giá thú bất luận tài! 2) Thể song thất lục bát chính thức hoặc biến thức.
Thí dụ: Thể song thất chính thức: Bác mẹ già phơ phơ đầu bạc. Con chàng còn trứng nước thơ ngây. Có hay chàng ở đâu đây Thiếp xin mượn cánh chắp bay theo chàng. Thể song thất biến thức: Tròng trành như nón không quai, Như thuyền không lái như ai không chồng. Gái có chồng như gông đeo cổ, Gái không chồng như phản gỗ long đanh. Phản long đanh anh còn chữa được, Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi. Không chồng khốn lắm, chị em ơi! 3) Thể nói lối: câu đặt thường bốn chữ, cứ chữ cuối câu trên vần với chữ thứ hai, hoặc chữ cuối câu dưới.
Thí dụ: Lạy trời mưa xuống, Lấy nước tôi uống, Lấy ruộng tôi cày, Lấy bát cơm đầy, Lấy khúc cá to. 4) Có khi một bài gồm hai hoặc ba thể trên. Thí dụ: Quả cau nho nhỏ. Cái vỏ vân vân. Nay anh học gần. Mai anh học xa. Anh lấy em từ thuở mười ba, Đến năm mười tám thiếp đà năm con. Ra đường thiếp hãy còn son. Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.

Cách kết cấu: a) Theo cách kết cấu (kết: tết lại; cấu: gày thành) nghĩa là cách sắp đặt các ý tứ cho thành một bài văn, thì ca dao chia làm ba thể: 1/Thể phú: phú nghĩa là phô bày, mô tả; trong thể nầy, muốn nói về người nào, việc nào thì nói thẳng ngay về người ấy, việc ấy.

Thí dụ: Ngang lưng thì thắt bao vàng, Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài. Một tay thì cắp hỏa mai, Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền. Thùng thùng trống đánh ngũ liên, Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa. 2/ Thể tỉ: tỉ nghĩa là ví, so sánh; trong thể này, muốn nói gì, không nói thẳng ra, lại mượn một sự vật ở ngoài làm tỉ ngữ để người nghe ngẫm nghĩ mà hiểu lấy cái ý ngụ ở trong.

Thí dụ: Bầu ơi! thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. 3/ Thể hứng: hứng là nổi lên, đây nói về tình của người ta nhân cảm xúc vì vật ngoài mà phát ra. Trong thể nầy, trước tả một vật gì làm câu khai mào, rồi mượn đấy mà tiếp tục xuống ý mình muốn nói.
Thí dụ: Trên trời có đám mây xanh, Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng. Uớc gì anh lấy được nàng, Thời anh mua gạch Bát tràng về xây. Xây dọc, rồi lại xây ngang. Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân. B) cũng có khi một bài kiêm nhiều thể, như 1/ Phú và tỉ.

Thí dụ: Trong đầm gì đẹp bằng sen, Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng. Nhị vàng, bông trắng, lá xanh, Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Bài này vừa tả hoa sen (phú), vừa ví người quân tử với hoa sen (tỉ). 2/ Phú và hứng.
Thí dụ: Qua cầu ngả nón trông cầu, Cầu bao nhiêu dịp (nhịp), em sầu bấy nhiêu. Bài này vừa tả cái cầu (phú), vừa mượn cảnh cái cầu mà nói nỗi sầu của mình (hứng) 3/ Hứng và tỉ.
Thí dụ: Dao vàng bỏ đẫy kim nhung, Biết rằng quân tử có dùng ta chăng? Trong bài này, có mượn con dao vàng để nói đến tình mình (hứng), vừa ví mình như con dao vàng (tỉ). 4/ Phú, hứng và tỉ.
Thí dụ: Sơn bình Kẻ Gốm không xa, Cách một cái quán, với ba quãng đồng. Bên dưới có sông, Bên trên có chợ. Ta lấy mình làm vợ nên chăng? Tre già để gốc cho măng. Toàn bài là thể hứng: bốn câu đầu là thể phú; câu cuối là thể tỉ.

Ý nghĩa: Ca dao nước ta thật là phong phú và diễn tả đủ các tình ý trong lòng người và các trạng thái xã hội. Ta có thể chia làm mấy loại như sau: A) Các bài hát của trẻ con B) Các bài hát ru trẻ. Trong các bài về hai loại trên nầy, có nhiều bài xét toàn thiên không có ý nghĩa gì, chỉ là một mớ chữ sắp thành câu có vần và cũng khiến cho trẻ con thuộc được ít nhiều danh từ về các vật thường dùng. C) Các bài hát của con nhà nghề. Người lao động, những lúc làm ăn vất vả, cất tiếng hát một vài câu thì dễ quên nỗi mệt nhọc và được vui vẻ mà làm ăn.
Bởi thế, những người cày ruộng, cấy mạ, gặt lúa, hái dâu thường một đôi khi nghêu ngao những câu hát. Lại có nhiều việc như chèo thuyền, đẩy xe, kéo gỗ, có nhiều người cùng làm với nhau cần phải mượn câu hát để lấy nhịp mà cùng làm cho đều tay. Vì vậy, nên có những bài hát của con nhà nghề. 2/ Bài hát của người chèo đò 3/ Bài hát của người tiều phu v.v… D) Các bài thuộc về luân lý. E) Các bài tả tâm lý người đời 1) Hoặc tả thế thái, nhân tình… 2/ Hoặc tả tư cách các hạng người. a) Bậc quân tử. b) Bậc anh hùng. c) Bậc nhàn tản. d) Người biết tự lập. e) Người khôn. f) Kẻ lười… g) Người ăn chơi. h) Kẻ nói khoác v.v… F) Các bài có tính cách xã hội: 1/ Hoặc tả tình cảnh các hạng người trong xã hội 2/ Hoặc tả các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, dị đoan của người bình dân nước ta.

G) Các bài dạy những điều thường thức. Những bài nầy nói về: 1/ Canh nông. 2/ Sản vật. 3/ Thiên văn. 4/ Thời tiết. 5/ Sông núi. 6/ Tướng người. H) Các bài hát phong tình, nghĩa là những bài tả những cuộc tình duyên của trai gái: từ lúc mới gặp nhau ngỏ lời nói ướm, đến khi thề nguyền gắn bó, dạm hỏi cưới xin, rồi những cảnh nhớ mong, chờ đợi, đoàn tụ, biệt ly, những nỗi trái duyên, bội ước, quá lứa, lỡ thì, ở trong ca dao đều tả cả. Phần nầy là phần giàu nhất trong ca dao mà cũng là phần có văn chương lý thú nhất (Chính những bài hát phong tình này đã dùng làm tài liệu cho các cuộc hát trống quân và hát quan họ hoặc hát đúm).

Kết luận:
Tóm lại mà nói, thì tục ngữ ca dao chiếm một địa vị quan trọng trong văn học giới nước ta, vì đó là một cái kho tài liệu để ta khảo cứu tính tình, phong tục, ngôn ngữ của người nước ta và là một nền văn rất phong phú trong đó có đủ cả các kỹ thuật về khoa tu từ như Tỉ ngữ nói ví ý nầy ý kia; thí dụ: cả vú lấp miệng em, có bột mới gột nên hồ; Phản ngữ nói trái lại ý mình muốn nói, thí dụ: Ở đời Kiệt, Trụ(1) sướng sao! Có rừng nem béo, có ao rượu đầy. Ở đời Nghiêu, Thuấn(2) khổ thay! Giếng đào mà uống, ruộng cày mà ăn, điển tích (đặt những chữ có ám chỉ đến một việc xưa, một sự tích xưa, thí dụ: Ai về nhắn họ Hi, Hòa(3). Nhuận năm sao chẳng nhuận và trống canh); lộng ngữ (bỡn chữ), thí dụ: Trăng bao nhiêu tuổi trăng già. Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non; nhân hóa (làm cho các vật vô tri có tính cách như người; thí dụ: cơm tẻ, mẹ ruột, của đau con xót; cụ thể hóa (làm cho các ý trừu tượng hóa thành vật có hình thể; thí dụ: Miệng mật, lòng dao, Nén bạc đâm toạc tờ giấy v.v…

(Chú thích: (1) Kiệt (1818-1783), Trụ (1154-1122) là hai ông vua nước Tàu có tiếng là dâm bôn, tàn bạo. (2) Nghiêu (2357-2257), Thuấn (2255-2207) là hai bậc thánh quân ở bên Tàu. (3) Hi – Hòa: vua Nghiêu sai hai họ này làm lịch, đặt ra tháng nhuận và định bốn mùa.)

(Lược trích Việt Nam Văn học sử yếu)

Hoàng Yên Lưu
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Cat' Linh
#184 Posted : Tuesday, July 14, 2015 2:36:47 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 701
Points: 2,256
Location: fa la la

Thanks: 939 times
Was thanked: 860 time(s) in 461 post(s)
phamlang
#185 Posted : Wednesday, August 5, 2015 5:47:42 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)

Dương Quảng Hàm và Chữ Quốc ngữ

Hoàng Yên Lưu


Ngày nay chữ quốc ngữ đã trở thành thứ văn tự chính của dân tộc ta thay thế cho chữ Hán, chữ Nôm và chữ Pháp trong việc giao tế, truyền thông và giáo dục.

Lịch trình phát triển của thứ văn tự này được xác định như sau:
– Ban đầu, trong các thế kỷ 16, 17 và 18 nó chỉ là phương tiện do các giáo sĩ Tây phương dùng mẫu tự La tinh phiên âm tiếng Việt để giảng đạo của Chúa Ky Tô. Có công trong việc điển chế thứ văn tự này phải kể nhiều thế hệ giáo sĩ Bồ đào nha, Tây ban nha và Pháp… trong đó có Antonio Barbosa, Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes…

– Vào cuối thế kỷ 19, thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam khởi đầu bằng biến Lục tỉnh Nam kỳ thành thuộc địa (1862-1867) thì chữ quốc ngữ được dùng làm phương tiện tuyên truyền và truyền thông của chính quyền thuộc địa và tờ báo thông tin đầu tiên, bên cạnh chữ Pháp, có phần chữ quốc ngữ ra đời: Gia định báo (1865).

– Cũng vào giai đoạn này, giới trí thức tâm huyết của ta đã nhận rõ chữ quốc ngữ, vì đơn giản hơn chữ nôm, sẽ có vai trò quan trọng trong việc khai thông dân trí và xây dựng một quốc gia độc lập nên phong trào đề cao việc học và sáng tác bằng chữ quốc ngữ xuất hiện, trước hết trong Nam với Huỳnh Tịnh Của (1834-1907) và Trương Vĩnh Ký (1837-1898), kế tiếp ở ngoài bắc với Đông kinh Nghĩa thục (1907). Phong trào lên tới đỉnh cao với Đông dương tạp chí của Nguyễn văn Vĩnh (1882-1936) và Nam phong tạp chí của Phạm Quỳnh (1892-1945).

Cho tới những năm cuối của thập niên 40 thế kỷ trước thì chữ quốc ngữ đã toàn thịnh, vì là phương tiện xây dựng thành công lâu đài văn học mới cũng như công cụ giảng dạy ở mọi cấp trong nền giáo dục mới (chương trình Hoàng Xuân Hãn).

Tổng kết những thành tựu kể trên, có thể tìm thấy trong tác phẩm Việt nam văn học sử yếu của giáo sư Dương Quảng Hàm, một học giả buổi đầu trực tiếp dấn thân vào việc biên soạn tài liệu chữ quốc ngữ và giảng dạy quốc văn trong gần ba thập kỷ.
Dương Quảng Hàm thuở còn là sinh viên Cao đẳng Đông dương đã thấy nhu cầu học chữ quốc ngữ, dạy chữ quốc ngữ là cần thiết. Ông từng viết trên Nam phong vào năm 1919 những lời tâm huyết như sau: “Tiếng nói rất quan hệ cho sự phát đạt một dân một nước. Tiếng nói có đủ, có hay, có phân minh nhất định, thì mới mong có phần mở mang tiến hóa được.
Lạ thay cho nước mình! Có tiếng nói mà không hề có ai học tiếng, không đâu dạy cách dùng tiếng, không sách nào nói đến nghĩa tiếng cùng mẹo đặt câu. Điều đó là tự xưa nay ta học chữ nho, thi cử, thư từ sách vở đều dùng chữ nho, khinh tiếng nôm cho là thứ tiếng để nói chuyện thường. Họa có người làm thơ văn nôm được hay, thời chẳng qua là nhờ lúc cao hứng, tài thiên bẩm, chớ chưa từng ai nghiên cứu học hành tiếng An nam cả.”
và phát huy tiếng nói của nòi Việt, Dương Quảng Hàm sau khi tốt nghiệp sư phạm vào dạy Trường Bưởi trong vòng gần ba mươi năm, ông đã viết sách, giảng dạy về chữ quốc ngữ mà ông tin tưởng tương lai có thể là văn tự chính thức của dân tộc ta.

Trong bộ Việt nam văn học sử yếu, ông đã giảng giải rõ tiến trình phát triển của chữ quốc ngữ và nền văn học xây dựng bằng chữ quốc ngữ.

Tác giả Việt Nam văn học sử yếu giải thích “chữ quốc ngữ là một thứ chữ dùng tự mẫu (chữ cái) La mã để phiên âm tiếng Annam. Quốc ngữ nghĩa đen là tiếng nói của một nước: vậy cái từ ngữ ấy dùng để gọi thứ chữ mới đặt ra đây, kể thì không đúng, vì đó là một thứ chữ chứ không phải là một tiếng; nhưng từ ngữ ấy đã dùng quen rồi, không thể đổi được nữa.”

Cũng theo Dương Quảng Hàm, chữ Quốc ngữ ra đời từ thế kỷ 17 và cuốn tự điển Dictionarium Annamiticum, Lusitanum et Latinum (tự điển An-nam, Bồ đào nha và La tinh) của cố Alexandre de Rhodes (1591-1660) được coi là bộ tự điển liên quan tới chữ quốc ngữ đầu tiên được in ở La Mã (1651).

Như đã trình bày ở trên, trên ba thế kỷ trôi qua, chữ quốc ngữ đã trưởng thành thay chữ Hán, chữ Nôm và chữ Pháp để truyền thông, sáng tác và giáo dục trong mọi lãnh vực. Tuy nhiên, là một sinh ngữ nên chữ quốc ngữ tiếp tục tăng trưởng chữ mới và đào thải một số từ cũ. Nhu cầu này rất khẩn thiết và gây ra nhiều cuộc tranh luận. Vấn đề đặt ra là tăng trưởng bằng cách nào cho hợp lý và chính xác.

Có nên mượn quá nhiều chữ Hán hay không? Phần đông phản đối biện pháp này vì làm như thế không những khiến ta thêm lệ thuộc phương Bắc về ngôn ngữ trong khi có thể độc lập hơn và phát triển một cách sáng tạo hơn. Hơn nữa, dùng chữ Hán quá nhiều trong một bài văn khiến ý nghĩa của nó kém phần minh bạch dễ hiểu.

Đối với danh từ khoa học, kỹ thuật, triết học, địa lý, lịch sử… việc dịch nghĩa, phiên âm phải cân nhắc và phải do giới chuyên môn làm mới chính xác như Hoàng Xuân Hãn đã làm trong Danh từ Khoa học.
Sau cùng, đối với tiếng giới bình dân thường dùng thì sao? Hiển nhiên nguyên tắc “ngôn ngữ là thói quen” nên tôn trọng, nhưng không thể thiếu sự uốn nắn, cải thiện của giáo dục nếu là một tiếng thiếu ý nghĩa, quá địa phương và kém ý nhị.

Sau đây là ý kiến của nhà giáo họ Dương đưa ra cách đây trên 70 năm. Ý kiến của ông do hạn chế vì hoàn cảnh (khi tiếng Pháp ở ta còn là ngôn ngữ chính trong giáo dục và giao tiếp, chữ quốc ngữ mới thành lập và khoa ngữ học – linguistics – chưa được nghiên cứu rộng rãi ở Việt Nam), nhưng tới nay vẫn có nhiều phần mẫu mực giúp những người quan tâm tới Việt ngữ có thể dùng để tham khảo và bàn luận:

“Tiếng Việt Nam và các danh từ mới mượn của Tàu và của Nhật
Tính cách tiếng Việt Nam – Nếu đem so sánh tiếng Việt Nam với các thứ tiếng phong phú trên thế giới, như tiếng Tàu, tiếng Pháp thì ta nhận thấy rằng:
1. Tiếng Nam giàu về các từ ngữ cụ thể (chỉ các sự vật hữu hình) thứ nhất là các phẩm từ và trạng từ.
2. Tiếng Nam nghèo về các từ ngữ trừu tượng (chỉ các ý tưởng vô hình) thứ nhất là các từ ngữ thuộc về triết học và khoa học. Điều đó không lấy gì làm lạ, vì xưa kia các cụ chưa hề nghiên cứu đến các vấn đề triết học và các khoa học chuyên môn, nên chưa tìm tiếng, đặt tiếng để diễn đạt các tư tưởng ấy.

Các danh từ mới – Vì tiếng Nam thiếu nhiều từ ngữ trừu tượng, nên khi các học giả nước ta nghiên cứu đến học thuật Âu Tây, phải tìm và đặt tiếng mới để diễn đạt các sự vật hoặc các ý tưởng mới. Các danh từ mới ấy có thể chia làm ba loại:
1. Các danh từ mượn ở chữ nho.
A) Các danh từ thuộc loại này chiếm đại đa số, vì các lẽ sau này:
a) Chữ nho và tiếng Nam có liên lạc mật thiết về âm thanh vì đều là thứ tiếng đan âm mà mỗi âm có nhiều thanh, nên những danh từ mượn ở chữ nho đối với ta vẫn dễ đọc dễ nghe.
b) Chữ nho và tiếng Nam lại có liên lạc về ý nghĩa: các danh từ mới đều do sự ghép các tiếng đơn lại mà thành, mà trong tiếng Nam vốn có nhiều tiếng gốc ở chữ nho, nên phần nhiều người vì đã hiểu nghĩa các tiếng đơn có thể suy ra mà hiểu nghĩa các tiếng ghép do các tiếng đơn ấy lập thành.
c) Các danh từ mượn ở chữ nho vẫn giữ được đặc tính của tiếng Nam vì tuy các danh từ ấy là mượn của người Tàu hay người Nhật mà vẫn đọc theo âm riêng của ta.
B) Các danh từ gốc ở chữ nho đều mượn theo hai cách sau này: a) Những chữ cũ (đã thấy trong kinh truyện hoặc các sách cũ) mà người Tàu và người Nhật đã đem dùng theo nghĩa mới, rồi ta lại mượn lại. Thí dụ: Từ ngữ văn minh nguyên là chữ trong Kinh Dịch (thiên hạ văn minh), và nguyên nghĩa là “văn ý quang minh (văn lý sáng rõ), nay dùng theo nghĩa mới để dịch chữ “civilisation” của người Pháp và chỉ cái trình độ tiến hóa của một dân tộc về các phương diện vật chất, chánh trị và học thuật. Từ ngữ kinh tế nguyên nghĩa là “kinh thế tế dân” (trị đời giúp dân), nay dùng theo nghĩa mới để dịch chữ “économique” và nói về các vấn đề có quan hệ đến việc sinh sản, phân phát và tiêu thụ các tài sản, như nói vấn đề kinh tế, khoa học kinh tế.

b) Những chữ do người Nhật hoặc người Tàu ghép chữ nho đặt ra để dịch các danh từ Âu Tây rồi lại mượn lại của họ (những chữ do người Nhật đặt ra, thường do người Tàu mượn trước, rồi truyền sang ta). Thí dụ: Những từ ngữ duy tâm chủ nghĩa, duy vật chủ nghĩa, tam đoạn luận, khinh khí, dưỡng khí, hóa học, vô tuyến điện v.v…
2. Các tiếng nôm do thường dân đặt ra để chỉ các sự vật mới họ thường trông thấy hoặc thường dùng đến. Thí dụ: tàu bay, tàu ngầm, xe lửa, xe điện, xe đạp, dây thép, máy nói, ống nhòm, ống tiêm, ống thủy hoặc ống cặp nách, thuốc cháy, thuốc tím, v.v…

3. Các tiếng phiên âm ở tiếng Pháp cũng do thường dân đặt ra. Thí dụ: sà phòng hoặc sà bông (do tiếng savon), kê din (crésyl), bô tạt (potasse), cao su (caoutchouc), xi (cire), ximo hoặc xi măng (ciment), kem (crème), át xít (acide), ô tô (auto), sà lan (chaland), tê lê phôn (téléphone), bơm (pompe) v.v…
Hai loại sau này phần nhiều gồm các tiếng chỉ các vật chất và khí cụ mà dân ta mới biết dùng.

Cách dùng các danh từ mới – Sự dùng các danh từ mới, muốn cho xác đáng, cần phải theo các điều kiện sau này:
1) Cần phải lựa chọn cẩn thận, dùng những chữ có ý nghĩa rõ ràng, thích đáng, thứ nhất là những chữ đã được các nhà trí thức dùng trong các sách vở báo chí.
2) Khi nào có thể vừa dùng tiếng nôm vừa dùng chữ nho để diễn đạt một ý tưởng, thì nên dùng tiếng nôm hơn là chữ nho. Thí dụ: nên dùng tiếng “tàu bay” hơn là tiếng “phi cơ” hoặc “phi đĩnh”, tiếng “tàu ngầm” hơn là tiếng “tiềm thủy đĩnh”. Nhưng khi nào dùng chữ nho mà đúng nghĩa và rõ ràng hơn thì nên dùng chữ nho. Thí dụ: nên dùng “điện tín” hơn là tiếng “dây thép”, tiếng “vô tuyến điện” (hơn là tiếng “dây thép gió” v.v…
3) Còn các tên riêng (tên người, tên đất) của ngoại quốc (trừ nước Tàu) thì nên phân biệt hai loại.
a) Những tên đã phiên âm ra chữ nho mà đã quen dùng từ trước thì cứ nên dùng. Thí dụ: những tên: Pháp, Anh, Nga, Ý, Đức, Mỹ, Phi, Á, Úc, Âu, Ba lê, Luân đôn, Hoa thịnh đốn, Nã phá luân, Thích ca mâu ni v.v…
b) Còn những tên khác thì nên viết đúng nguyên văn mà chỉ cách đọc ở bên cạnh, chứ không nên dùng những tên phiên âm ra chữ nho vì ít người biết đến. Thí dụ: tên Rousseau thì nên cứ viết là “Rousseau” mà chỉ cách đọc ở bên cạnh là (Rút sô) hơn là dùng chữ “Lư thoa” do người Tàu phiên âm ra; tên Voltaire nên viết là “Voltaire” (Von te) hơn là “Phú lộc đặc nhĩ…” v.v…

Kết luận – Tiếng Nam vốn là một thứ tiếng giàu về các tiếng cụ thể để diễn đạt các tính tình và các trạng thái của sự vật; lại có liên lạc mật thiết với chữ nho là một thứ văn tự rất phong phú, nên có thể mượn được của thứ chữ ấy nhiều danh từ mới để diễn đạt các ý tưởng và sự vật mới. Vậy nếu các học giả văn gia khéo biết tìm tòi các chữ vốn có trong tiếng Nam và lựa chọn các danh từ mới cho xác đáng thì tiếng ta cũng có ngày trở nên một thứ văn tự hoàn toàn có thể dùng trong việc học và việc nghiên cứu các khoa học mới được.”

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang
#186 Posted : Sunday, August 9, 2015 3:57:32 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)
Lời Nói Mỉa Trong Tiếng Việt



Là người Việt Nam, chắc chúng ta ai cũng đã một lần nói mỉa, hoặc chí ít cũng đã từng được nghe người khác nói mỉa. Công bằng mà nói, khi nghe nói mỉa, có lúc chúng ta thấy khó chịu nhưng cũng có lúc ta lại thấy hay hay. Tuy nhiên, đã có mấy ai hỏi rằng : vì sao nói mỉa là cách sử dụng ngôn ngữ không có vẻ "chính quy" lắm lại vẫn có thể tồn tại từ lâu đời trong kho tàng ngôn ngữ của người Việt và còn lưu giữ được cho đến tận ngày nay ?

Thường thường, nói mỉa được hiểu là một phương thức ngôn ngữ đặc biệt dùng để diễn đạt sự đánh giá "chênh" đi, thậm chí có khi còn ngược lại so với sự thật cần đánh giá. Chính vì thế ngôn ngữ ở đây bao giờ cũng mang sắc thái biểu cảm rõ nét, và thường là thái quá. Người ta thường nhận được những câu quá khen, hoặc chê thậm tệ; hoặc cũng có khi lẽ ra phải khen thì lại chê, phải chê thì lại khen; và đặc biệt lại có cả những câu tưởng chừng phi lý.

Là một phương thức ngôn ngữ đặc biệt, nói mỉa có những hình thức riêng để nhận ra. Trong khẩu ngữ, nói mỉa thường thể hiện bằng sự kéo dài hay nhấn mạnh giọng nói. Đôi khi có kèm theo cả sự thay đổi nét mặt, cử chỉ, dáng điệu... ở người nói. Người nghe thường nhận ngay ra cái dáng vẻ của ngôn ngữ mỉa mai, giễu cợt. Có thể nói, ở đây ta thường bắt gặp cả hai phương thức sử dụng ngôn ngữ được coi là đối lập nhau. Đó là: lối dùng nhã ngữ kết hợp với ngoa ngữ. Ngay trong khi nói quá lên, làm cho người nghe khó tin, ta cũng thấy có sự kết hợp nhã ngữ với ngoa ngữ. Khó mà có thể tách ra đâu là nhã ngữ, đâu là ngoa ngữ. Cũng là "đẹp" nhưng sao lại phải nói "Đẹp như tiên giáng trần"; khen một ai đó tài ba, người ta nói "khen phò mã tốt áo", khiến cho người được khen không hiểu rằng đó có phải là lời khen không. Có khi người ta vờ dùng nhã ngữ nhưng thực chất là nói ngoa với dụng ý mỉa mai, giễu cợt: "Cảm ơn tiên sinh, tiên sinh cứ dạy quá lời!" trong khi người nghe biết rằng mình ch­a bao giờ là "tiên sinh" cả và thực sự chẳng xứng với lời khen tí nào.

Khi miêu tả tính cách một người nào đó với ý mỉa mai trào phúng, người Việt thường sử dụng triệt để các thành ngữ, tục ngữ mang sắc thái biểu cảm mạnh : "Chó ngáp phải ruồi", "mèo mù vớ cá rán", "trơn lông đỏ da", "mèo mả gà đồng", "được đằng chân lân đằng đầu", "chó có váy lĩnh"...

Có lúc thề thốt, hứa hẹn thì người ta không ngần ngại đưa ra những điều phi lý để làm điều kiện. Cách sử dụng ngôn ngữ như thế này khiến cho chúng ta cảm thấy sự mỉa mai lên đến nước ngoa ngoắt. Ta thường nghe : "Em mà nói dối thì em chết", "Nó mà thi đỗ thì tôi đi đầu xuống đất".. Đành rằng, nghĩa của các câu này thường cũng dễ hiểu vì chúng được giải thích bằng một quy tắc đơn giản của logic, đó là: Trong thực tế "em không chết" suy ra "em không nói dối", "tôi không thể đi đầu xuống đất" suy ra "nó không thể thi đỗ"... nhưng ng­ời ta vẫn thích cách sử dụng này vì nó thú vị hơn và hiệu quả hơn so với cách phủ định thông thường. Quả là, khả năng dùng ngôn ngữ để phủ định của người xưa thật tài tình.

Bằng các biện pháp ngôn ngữ đơn giản, lối nói mỉa có hai tác dụng mà hình thức bên ngoài "có vẻ" như trái ngược nhau.

Một là, trách móc, mắng mỏ, thậm chí giễu cợt (theo chiều hướng phê phán).

Hai là, khích cho người có khuyết điểm tự ái mà sửa chữa khuyết điểm để tiến bộ (theo chiều hướng tích cực).

Mỉa để phê phán thì dễ hiểu. Còn mỉa để khích lệ thì dường như khó chấp nhận. Lúc còn nhỏ, có lần tôi được nghe nói đến việc người xưa thường dùng phương pháp "khích tướng"; rồi sau này lại nghe nói "khiển tướng không bằng khích tướng". Dần dà, kiểm nghiệm qua cuộc sống, tôi nhận ra rằng "khích" là một trong những biện pháp giáo dục hữu hiệu mà không phải vô cớ người xưa đã trọng dụng. Tuy nhiên, trong sử dụng ngôn ngữ, biện pháp này chỉ nên dùng một cách chừng mực, không nên thái quá và lạm dụng. Chúng ta đã từng được biết đến lối nói ngoa như một phương thức đi sâu vào bản chất sự vật, khắc họa rõ nét sự vật. Nó không chỉ nêu mặt tích cực mà còn chỉ ra mặt tiêu cực của sự vật nữa. Thế nhưng, nói ngoa lại không có ý "khiển" và "khích". Còn trong lối nói mỉa, dân gian ta đã kết hợp "khiển" và "khích" một cách hài hòa, khó có thể tách biệt đâu là "khiển", đâu là "khích".

Xem xét nguyên nhân của hiện tượng nói mỉa, chúng ta cần chú ý tới góc độ tâm lý của người Việt trong giao tiếp. Nét nổi bật dễ nhận thấy là tính ngại giao tiếp chính thức, trực diện của người Việt khi phải phê phán một ai đó. Người ta thích không dễ "chê vỗ vào mặt" nhau, mà dùng phương thức vòng vo, chiến thuật "vu hồi" tạo cảm giác chê mà như không chê, nhẹ nhàng như nói chơi vậy.

Với sự kết hợp cả hai ý nghĩa "khiển" và "khích" một cách có hiệu quả, nói mỉa đã trở thành một phương thức sử dụng ngôn ngữ mang bản sắc dân tộc rõ nét. Có lẽ đó cũng chính là lý do để cho hiện tượng ngôn ngữ tưởng chừng như "phi chính quy" này lại có ý nghĩa thật "chính quy" và có một chỗ đứng vững chắc trong hoạt động ngôn ngữ của người Việt chúng ta.

(ST)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang
#187 Posted : Wednesday, August 19, 2015 5:15:59 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)
Tiếng Việt tuyệt vời!



Christina Nguyễn sưu tầm

Bài thơ có 8 cách đọc.
Có lẽ chỉ có tiếng Việt mới phong phú như thế !


1. Bài thơ gốc:

Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời
Thú vui thơ rượu chén đầy vơi
Hoa cài giậu trúc cành xanh biếc
Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi
Qua lại khách chờ sông lặng sóng
Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người
Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng
Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười.

2. Ðọc ngược bài gốc từ dưới lên:

Cười mỉm mắt ai bóng thướt tha
Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa
Người đông bến đợi thuyền xuôi ngược
Sóng lặng sông chờ khách lại qua
Tươi thắm sắc xuân hương quyện lá
Biếc xanh cành trúc giậu cài hoa
Vơi đầy chén rượu thơ vui thú
Ngời sáng ánh xuân cảnh mến ta.

3. Bỏ hai chữ đầu mỗi câu trong bài gốc,
ta được bài (ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng):


Cảnh xuân ánh sáng ngời
Thơ rượu chén đầy vơi
Giậu trúc cành xanh biếc
Hương xuân sắc thắm tươi
Khách chờ sông lặng sóng
Thuyền đợi bến đông người
Tiếng hát đàn trầm bổng
Bóng ai mắt mỉm cười.

4. Bỏ hai chữ cuối mỗi câu trong bài gốc,
đọc ngược từ dưới lên, ta được bài
(ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng):


Mắt ai bóng thướt tha
Ðàn hát tiếng ngân xa
Bến đợi thuyền xuôi ngược
Sông chờ khách lại qua
Sắc xuân hương quyện lá
Cành trúc giậu cài hoa
Chén rượu thơ vui thú
Ánh xuân cảnh mến ta.

5. Bỏ ba chữ cuối mỗi câu trong bài gốc,
ta được bài (tám câu x bốn chữ ):


Ta mến cảnh xuân
Thú vui thơ rượu
Hoa cài giậu trúc
Lá quyện hương xuân
Qua lại khách chờ
Ngược xuôi thuyền đợi
Xa ngân tiếng hát
Tha thướt bóng ai.

6. Bỏ ba chữ đầu mỗi câu trong bài gốc,
đọc ngược từ dưới lên, ta được bài (tám câu x bốn chữ):


Cười mỉm mắt ai
Bổng trầm đàn hát
Người đông bến đợi
Sóng lặng sông chờ
Tươi thắm sắc xuân
Biếc xanh cành trúc
Vơi đầy chén rượu
Ngời sáng ánh xuân.

7. Bỏ bốn chữ đầu mỗi câu trong bài gốc, ta được bài (tám câu x ba chữ) :


Ánh sáng ngời
Chén đầy vơi
Cành xanh biếc
Sắc thắm tươi
Sông lặng sóng
Bến đông người
Ðàn trầm bổng
Mắt mỉm cười.

8. Bỏ bốn chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên, ta được bài (tám câu x ba chữ):

Bóng thướt tha
Tiếng ngân xa
Thuyền xuôi ngược
Khách lại qua
Hương quyện lá
Giậu cài hoa
Thơ vui thú
Cảnh mến ta.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang
#188 Posted : Wednesday, September 2, 2015 5:49:48 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)
Thành ngữ: Con cà con kê


Thành ngữ Con cà con kê được dùng trong bài Kinh nghĩa Mẹ khuyên con lúc về nhà chồng.

(…) Kính lấy đấy ! Răn lấy đấy ! Liệu học ăn học nói, học gói học mở; khi anh nó hoặc ra xô xát chi lời, cũng tươi, cũng đẹp, cũng vui cười, chớ như ai học thói nhà ma, mà hoặc con cà con kê chi kể lể (…).
Tác giả bài Mẹ khuyên con lúc về nhà chồng và bài Lấy chồng cho đáng tấm chồng được Trần Trung Viên (Văn đàn bảo giám, Mặc Lâm, 1968), Nghiêm Toản (Việt Nam văn học sử trích yếu, Khai Trí, 1968) và Tạ Quang Phát (Vân đài loại ngữ, Văn Hoá Thông Tin, 1995) gán cho Lê Quý Đôn (1726-1784). Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, 1960) thì cho rằng giả thuyết này “không được chắc lắm”, nhưng ông không đưa ra bằng chứng gì để bác bỏ nó.

Kể lể con cà con kê có nghĩa là :
– Kể chuyện tấm mẳn (nói những điều nhỏ mọn, không đáng nói). Kể lể nhiều chuyện (Huỳnh Tịnh Của, 1895).
– Lan man, dông dài, lôi thôi trong khi nói chuyện (Từ điển tiếng Việt, nhóm Văn Tân, 1977).
– Dài dòng hết chuyện này sang chuyện khác (Từ điển tiếng Việt, nhóm Hoàng Phê, 1988).
– Nói, kể dài dòng, lan man ít giá trị (Nguyễn Lực, Lương Văn Đang, Thành ngữ tiếng Việt, Khoa Học Xã Hội, 1978).

– (Cà là do từ cổ Ca nghĩa là gà). Chê người nói dài dòng, hết chuyện này sang chuyện khác (Nguyễn Lân, Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Văn Hoá, 1989).
Kể lể con cà con kê, nói gọn lại là Cà kê, hoặc kéo dài ra là Cà kê dê ngỗng, đều có nghĩa là nói dông dài, nói những chuyện lôi thôi, vụn vặt.
Tất cả các từ điển của ta đều thống nhất như vậy.
Ngữ nghĩa của Con cà con kê không còn gì để bàn.

Nhưng tại sao Con cà con kê lại có nghĩa như vậy ? Câu hỏi chính xác hơn là Con cà con kê là con gì ? Là đặc sản Việt Nam hay là hàng ngoại được nhập cảng?
Cà kê, là chữ Hán hay Việt, hay không phải Việt cũng chẳng phải Hán?
Trước hết, Con là một từ thuần Việt dùng để chỉ con bò, con người, con thuyền, con Tạo…
Kê là chữ Hán, nghĩa là con gà.
Con kê là con gà… nửa Việt nửa Hán ! Còn Con cà? Chữ Hán không có con cà.
Thành ngữ Con cà con kê dứt khoát không phải là chữ Hán.
Tiếng Việt không có con kê, không có con cà. Chỉ có vài con có tên kép như cà đúi, cà tong, cà cuống, cà kếu, cà niễng…

Thành ngữ nói trống không con cà thì khó mà đoán biết là con gì.
Nguyễn Lân cho biết Cà là do từ cổ Ca nghĩa là gà. Chữ Nôm Gà được viết bằng chữ Ca (người anh) và bộ Điểu. Từ cổ Ca (nghĩa là gà) của Nguyễn Lân có liên hệ gì với từ Ca của chữ Hán không ?

Theo Nguyễn Lân thì về mặt ngữ nghĩa, thành ngữ Con cà con kê tương đương với Con gà con kê. Nôm na là… Con gà con gà. Một thành ngữ chỉ có bốn chữ mà bị khập khiễng tới hai lần (vừa pha trộn Việt Hán, vừa lặp lại cùng một ý) thì khó đứng vững và tồn tại được.

Rốt cuộc, thành ngữ Con cà con kê cũng chẳng phải là tiếng Việt. Không phải Hán, không phải Việt. Hay là do đọc trại, nói trại mà ra ?

Trong số những từ có âm gần giống Cà kê thì chữ Hán có từ Ca kệ nghĩa là nhà sư tụng bài kệ. Người xưa kính trọng nhà sư. Bài kinh, bài kệ cho dù có dài thì cũng không đến nỗi bị coi là dông dài, tầm phào, làm phiền người nghe như kể lể Cà kê . Không ai nỡ nặng lời trách móc nhà sư tụng bài kệ như vậy. Cà kê của dân gian khó có thể là biến âm của Ca kệ.
Tiếng Việt có từ Con cả (con trưởng) và Con kế (con thứ). Hay là Con cà con kê đến từ Con cả con kế ?
Mẹ khuyên con lúc về nhà chồng, nghĩa là cô gái…chưa có thai (kết luận hơi táo bạo nhưng cứ tạm cho là ngày xưa là như vậy!). Bà mẹ không thể khuyên con gái đừng dông dài kể chuyện con cái từ lúc chưa về nhà chồng được. Vả lại người xưa quan niệm rằng đông con là có phúc. Kể chuyện con cái là thói quen của số đông các bà mẹ, trong đó có cả bà mẹ đang dông dài khuyên con gái mình.

Giả thuyết Con cà con kê là do đọc trại từ Con cả con kế cũng không chấp nhận được. Nói tóm lại, Con cà con kê không phải Tàu, không phải ta, không phải đọc trại âm. Con cà con kê có vẻ… không phải là hai con vật. Thế thì Cà kê là cái gì? Là Phú Lang Sa chăng?

Kể lể con cà con kê được từ điển của soạn giả người Pháp định nghĩa là:
– Raconter des histoires de taupes, histoires interminables (kể chuyện con cà đúi, chuyện dông dài) (Gustave Hue, 1936). Con cà là con cà đúi (chứ không phải cà cuống hay cà tong), còn con kê không biết là con gì nên bị bỏ quên.
– Faire des jérémiades ( than vãn dai dẳng) (Génibrel, 1898).

Kể lể con gà kế: Rappeler un à un des services rendus (kể lể, nhắc lại từng việc đã làm) (Génibrel). Chữ kế ở đây nghĩa là continuer, perpétuer, joindre, immédiat (tiếp tục, kế tiếp). Kế liếu, kế kèo : toujours, sans cesse (dai dẳng, không dứt). Génibrel còn cho biết thêm mấy từ :
Cà kê cơ cầu : chercher chicane (kiếm chuyện, gây sự). Gustave Hue cũng định nghĩa Cà kê, cà khịa là chicaner ( kiếm chuyện).
Nói ca kì : parler longtemps, sans fin ; ne pas déparler (nói dai, nói không ngừng).
Làm ca kì : trainer en longueur (làm…câu giờ).

Ca kì cũng có nghĩa là dông dài, tương đương với Cà kê. Dường như hai từ này chỉ là một, được phát âm bằng hai cách khác nhau.
Kể gà, kể dê, ngỗng : Énumérer poules, chèvres, oies. Énumérer fastidieusement (kể lể nhạt nhẽo, vô duyên). Ngày nay ta thường nói Kể lể Cà kê dê ngỗng. Mấy thành ngữ Kể gà, kể dê, ngỗng,Kể lể con gà kế, Kể lể con cà con kê đều có hình bóng con gà. Ban đầu là Cà kê ngắn gọn, về sau người ta đưa thêm dê ngỗng vào chơi cho đông vui.
Từ điển Robert và Larousse của Pháp cho biết:
Caquet (đọc là ca kê, từ tượng thanh, có từ thế kỉ 15): Gloussement de la poule au moment où elle pond (tiếng gà mái kêu lúc đẻ trứng). Nghĩa bóng của Caquet là bavardage indiscret, intempestif (Ba hoa không đúng lúc).
Caqueter (động từ): Parler sans arrêt et de choses futiles, souvent de façon importune, gênante (nói không ngừng, nói dông dài, nói chuyện tầm phơ khiến người nghe phải khó chịu).

Thật bất ngờ! Cà kê của tiếng Việt và Caquet của tiếng Pháp có nghĩa giống nhau là nói dông dài. Phát âm cũng giống nhau theo quy luật âm “ca” của tiếng Pháp chuyển sang tiếng Việt thành “cà” (cà rốt, cà nông, cà phê…). Cà kê giống Caquet từ âm đến nghĩa. Caquet xuất phát từ tiếng gà cục tác. Cà kê cũng thấp thoáng bóng dáng con gà. Cà là gà (?), kê là gà, cà kê có họ với con gà kế v.v.

Ngẫu nhiên Cà kê của ta giống Caquet của Pháp chăng?
Xét về mặt ngôn ngữ thì Cà kê không phải là từ thuần Việt, cũng không phải là thuần Hán cho nên không thể có sự ngẫu nhiên giống nhau được. Chỉ còn một giải thích thoả đáng là ta đã nhập cảng Caquet của Pháp và Việt hoá thành Cà kê.
Kết quả của cuộc giao lưu văn hoá là Cà kê được ra đời vào khoảng cuối thế kỉ 19.
Như vậy thì… tác giả bài Kinh nghĩa Mẹ khuyên con lúc về nhà chồng không thể là Lê Quý Đôn (1726-1784) được.
Dương Quảng Hàm có lí. Con cà con kê là một bằng chứng.

Lại thêm một vấn đề văn học! Tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa! Nuôi được Con cà con kê, người xưa không ngần ngại mời thêm hàng xóm của gà vào chơi cho đông vui. Các bà, các ông từ nay có thể Kể lể cà kê dê ngỗng, hay Kể gà, kể dê, ngỗng . Dê thuộc tam sinh (ba con vật được dùng để tế lễ là trâu, dê, lợn), bị tụt xuống ngang hàng với gà vịt.

Thật ra thì dê được mời vào chơi chỉ vì dê…đúng vần mà thôi. Nếu không phải là dê thì là Kể lể cà kê bê ngỗng, cà kê tê ngỗng, hay cà kê trê ngỗng cũng được. Miễn là hai “con” đầu đàn phải là Cà kê.
Họ hàng của Cà kê lập nghiệp tại Việt Nam khá đông:
Cà riềng cà tỏi (nói đi nói lại có một chuyện). Cà rịch cà tang (làm việc chậm chạp). Cà kê bị rút ngắn, chỉ giữ lại từ Cà thôi.
Ca kì (longtemps, sans fin : dông dài), Cà khịa (gây sự, kiếm chuyện), Kề cà (để mất nhiều thì giờ vì những việc không quan trọng, không cần thiết) v.v… Phân tích lối nói Cà kê đúng là…dông dài, tầm phào mất thì giờ. Hi vọng rằng không đến nỗi…làm người nghe phải khó chịu! Cà kê là một kiểu nói của Pháp được Việt hoá.
…”

ST
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Users browsing this topic
Guest
11 Pages«<7891011>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.