Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

11 Pages«<678910>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
phamlang  
#141 Posted : Thursday, March 12, 2015 5:21:20 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Dê trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

Sưu tầm


Là con vật vừa quen thuộc, gần gũi, vừa ngộ nghĩnh, độc đáo và giàu ý nghĩa biểu tượng, dê (dương, mùi) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ thâm thúy của người Việt Nam...

* Bán bò tậu ruộng mua dê về cày:

1. Làm ăn trái khoáy, không biết tính toán.

2. Bỏ vật tốt, hữu ích để chuốc lấy thứ không ra gì.

* Bịt mắt bắt dê: Làm một việc khó có thể thực hiện được, dễ bị nhầm lẫn và khó đạt kết quả. (Bịt mắt bắt dê vốn là trò chơi vui nhộn và dân dã thời xưa. Theo đó, một người bị bịt mắt phải đuổi bắt được một con dê trong khu vực nhất định; hoặc một người bịt mắt đuổi bắt một hay nhiều người giả làm dê vừa di chuyển vừa kêu be be;)

* Cà kê dê ngỗng: Nói, kể dài dòng, tản mạn, lôi thôi, chuyện nọ xọ chuyện kia.

* Chăn dê uống tuyết: Hành động dũng cảm, kiên trì chịu đựng đói khổ, tủi nhục để giữ vững được bản tính và mục tiêu trung thành của chính mình. (Thành ngữ này xuất phát từ điển tích Tô Vũ đời Hán đi sứ Hung Nô không chịu khuất phục, bị giam trong hầm kín không được ăn uống nên phải uống tuyết cho đỡ đói khát, sau đó lại bị đưa lên vùng Bắc Hải bắt chăn dê, hẹn bao giờ dê đực đẻ con mới được tha về!...Vẫn kiên quyết một lòng thờ phụng chủ cũ, sau 19 năm, hai bên bình thường hóa quan hệ, Tô Vũ mới thoát khỏi cảnh đày đọa).

* Dê cỏn buồn sừng (Dê non ngứa sừng): Kẻ trẻ tuổi, non nớt nhưng hung hăng, ham đối chọi, hay khiêu khích.

* Dê già lại giả nai non: Chê bai, vạch mặt kẻ giả bộ rất ngây thơ, trong trắng nhưng thực sự thì quá đa tình, đa dâm và dày dạn, sành sỏi trong lĩnh vực tình yêu...

* Đánh như đánh dê tế đền: Đánh luôn tay, khiến cho kêu la to và giãy giụa mạnh. (Ngày xưa, trong những buổi tế lễ to, người ta giết ba con vật: Trâu, lợn và dê- gọi là lễ “tam sinh”. Để thịt dê khỏi hoi, họ treo ngược con dê lên rồi đánh thật nhiều, thật đau. Dê càng bị đánh đau, càng kêu to, càng giãy giụa mạnh và do đó càng xả ra hết được mùi hôi).

* Giàu giờ ngọ, khó giờ mùi: Nhiều việc trong cuộc sống, trong xã hội rất dễ thay đổi, ví như giàu sang rồi lại có thể nghèo túng, sa sút chỉ trong chốc lát. (Ngọ, mùi là hai giờ liền nhau trong ngày, giờ ngọ từ 11-13h, giờ mùi từ 13-15h).

* Giàu nuôi chó, khó nuôi dê, vô nghề nuôi ngỗng:

1. Chăn nuôi những con vật hữu ích cho điều kiện kinh tế của bản thân và gia đình.

2. Định hướng, lựa chọn những hoạt động cho phù hợp với khả năng, hoàn cảnh.

* Làm thân dê chó: Phải quỵ lụy, cung phụng, làm mồi hoặc đầy tớ, tay sai đắc lực cho kẻ khác, ví như thân phận dê chó sinh ra để phục vụ con người.

* Kêu như dê tế đền: Kêu la thảm thiết, liên tục, nghe sốt ruột, ví như dê kêu lúc bị đánh trước khi làm thịt để dùng cho lễ tam sinh.

* Không có trâu, bắt dê đi đầm:

1. Phải dùng một người không đúng, không phù hợp với năng lực, sở trường của người ta.

2. Vì thiếu thứ cần sử dụng nên phải dùng tạm, dùng gượng thứ khác, không hoặc ít thích hợp.

* Máu bò cũng như tiết dê: ý nói hai chuyện, hai sự vật, sự việc chẳng khác gì nhau mấy (cả về nội dung lẫn hình thức).

* Mất dê rồi mới sửa chuồng: Không biết lo liệu, để phòng trước, để việc đã hỏng rồi mới đối phó, sửa chữa, khắc phục.

* Treo (đầu) dê bán (thịt) chó:

1. Giả danh, giả hiệu cái tốt đẹp để bịp bợm, làm điều xấu xa, ví như nhà hàng treo (đầu hay biển hiệu) dê để lừa khách và mua ăn, trong khi thật ra lại bán (thịt và các món khác) của chó.

2. Hành vi nói và làm không phù hợp, không ăn khớp với nhau.

Edited by user Thursday, March 12, 2015 5:22:16 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#142 Posted : Saturday, April 4, 2015 9:34:42 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
"...hai trăm, ba trăm năm nữa thì còn bao nhiêu người nói tiếng Việt ở ngoài cái mảnh đất hình cong chữ S nữa? ... Mong rằng thế hệ những đứa trẻ sinh trưởng ở hải ngoại hôm nay sẽ còn nói, sẽ nói mãi tiếng Việt."

Đọc “Tôi Yêu Tiếng Việt Nước Tôi” của Chu Ẩn

Đỗ Ý Ngọc



UserPostedImage



Nền văn học Việt Nam rất phong phú về ngôn ngữ dân gian, được truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác, và được các tác giả vô danh trau truốt để trở thành hoàn hảo và tồn tại trong trí nhớ dân gian cho đến ngày hôm nay. Vâng, văn chương bình dân đã tạo được một trời rất thân thương và rất riêng tư cho người Việt.

Vào đời nằm trong nôi, trên võng, ta yêu những bài hát ru em của mẹ, của vú. Rồi với những bước chân chim của tuổi học trò, ta thuộc lòng những bài ca dao, đồng giao, dân ca. Giờ đây, không biết bạn có đồng ý với tôi rằng bài thơ “Tôi Yêu Tiếng Việt Nước Tôi” của Chu Ẩn nghe như một khúc dân ca? Rằng anh đã chọn viết bài thơ này theo một lối viết mà tôi xin được tạm gọi là lối viết theo ca dao, lối viết thơ lục bát Việt Nam truyền thống/cổ điển?

Anh tâm sự “Tình Ca Tiếng Nước Tôi” bất hủ của Phạm Duy qua tiếng hát lên trời của Thái Thanh đã khơi nguồn cảm hứng cho anh:

Đêm về nghe Thái Thanh… đã gợi ý tôi làm bài thơ lục bát “Tôi Yêu Tiếng Việt Tôi”, thật đúng vào lúc tôi cần phải “vịn vào thơ mà đứng dậy”.

Và anh đã thành công trong việc bộc bạch tâm tình mình. Đọc “Tôi Yêu Tiếng Việt Nước Tôi”, ta nghe trong ta những kỷ niệm xa xưa lũ lượt trở về, và không khỏi một chút gì xót xa, nghèn nghẹn. Phải chăng đó là nỗi buồn hoài hương mà mỗi chúng ta đang ôm ấp trong lòng?

Về mặt cấu trúc thơ, “Tôi Yêu Tiếng Việt Nước Tôi” là một bài thơ hay, theo thiển ý của tôi, là vì ngôn từ và vì nhạc điệu của nó. Tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh điệu, đây lại là một bài thơ lục bát truyền thống, nên cách gieo vần, ngắt câu (thường được hiểu là nhịp điệu hay tiết điệu của bài thơ) là hình thức cấu trúc căn bản mà tôi đi tìm trong bài thơ của anh.

1. Anh đã dùng vần và nguyên lý song song (mà ta còn gọi là vế) một cách điêu luyện để tạo âm nhạc, cũng như tạo sự giao duyên giữa thơ và nhạc cho bài hát ru êm ái này.

2. Ẩn dụ nọ nối liên tục ẩn dụ kia cũng được anh xử dụng tài tình để tạo hình (non sông gấm vóc), để chỉ một khái niệm (Kinh Thượng êm ấm, nhà nhà yên vui, với một quá trình lịch sử/văn hóa đẹp và đáng trân trọng), qua cách anh dùng những từ thuật hoa mỹ làm đẹp lời thơ.

Vừa mở đầu bài thơ, Chu Ẩn tuyên ngôn ngay lập trường “yêu tiếng Việt” của anh:

Tôi yêu tiếng Việt nước tôi
Từ trong bụng mẹ tinh khôi ngày nào


Đến khi bài thơ kết thúc, anh vẫn kiên trì giữ vững lập trường “yêu tiếng Việt” của anh:

Tôi yêu tiếng Việt của tôi
Của Cha của Mẹ của người Việt Nam


Anh lập đi lập lại như thế là vì anh muốn nói lên, với tất cả tâm huyết của mình, cái tình yêu anh dành cho Tiếng Mẹ Đẻ, cái ngôn ngữ đầu tiên mà anh bập bẹ nói trong thời thơ ấu, cái ngôn ngữ mà anh thừa hưởng từ tiền nhân của anh.

Xin mời bạn cùng tôi đọc bài thơ “Tôi Yêu Tiếng Việt Nước Tôi” của Chu Ẩn …

Mẹ cha có tình ý với nhau. Tình ý ấy được Chu Ẩn ghi nhận chỉ trong vỏn vẹn 4 câu, 28 chữ. 28 chữ rất tình, rất trữ tình:

Mẹ cha cười nói xôn xao
Tình trong lời ngọt, tình vào mắt ai
Tình trên đường cái quan dài
Trên đồng cỏ nội ra ngoài nương dâu



Tác giả đã viết về cuộc tình ái này trên N.S. Người Việt Cao Niên, số 57, như sau:

Bài thơ lục bát này mang tình tự của đôi nam nữ Việt với cuộc tình tuyệt đẹp trong hình ảnh thanh bình nơi quê hương đồng nội …
Thời còn mặc áo trắng học trò đến trường, vào giờ Toán thầy giáo dạy rằng “đường thẳng là đường ngắn nhất nối liền hai điểm”. Sau giờ Toán đến giờ Việt Văn, tôi lại lòng bảo lòng rằng “thơ là cây cầu ngắn nhất cho con tim nối liền con tim”, rằng “thơ là con đường tình, mãi mãi là lối mòn hạnh phúc của trai gái”. Chả thế mà khi đôi trai tài gái sắc yêu nhau, nàng thơ thường đến gõ cửa. Họ cắn bút tập tành làm thơ (hoặc mượn thơ của mấy ông thi sĩ) để tỏ tình, để nuôi tình. Thơ là hơi thở chung của họ.

Cha đặt trầu cau, cưới hỏi Mẹ, rồi xây tổ ấm cùng người yêu: “rằng a í a đưa nàng, anh đưa nàng về dinh”, như câu ca trong bài “Lý Ngựa Ô”. Khi màn đêm xuống, khi người nam nằm cạnh người nữ xinh đẹp, người tình trong mộng của mình, thì “nàng thơ” nhắc đến ở trên giờ chỉ còn là lời nói suông. Vào cuộc với các thứ chuyện yêu đương, khi cần vượt qua cái lằn phân chia để từ chay anh bước sang mặn, Chu Ẩn ghép cụm từ ‘hạt-mộng-con” để ghi lại cuộc giao hoan giữa tiên (hay chim?) và rồng, giữa trời và đất. (Tôi đoán già đoán non là Chu Ẩn ghép “hạt-mộng-con” vì tôi chưa từng nghe hoặc đọc cụm từ này. Xin anh giúp đính chính nếu đây là một điều sai lầm của tôi.)

Tình cờ anh gặp em đây
Như sông gặp nước như mâu gặp rồng



Từ cái duyên khởi tình cờ ấy, ta sinh ra làm người Việt Nam, cộng nghiệp với hàng chục triệu người Việt khác. Ta được dạy bảo và lớn lên trong tình thương của mẹ cha, anh em, bạn bè, làng xóm. Trí tuệ của đứa trẻ trong ta được mở mang, song song với trái tim và tâm hồn người Việt trong ta được hun đúc. Rồi cũng từ cái định mệnh ấy, ta đã trở thành nhân chứng cho một trong những biến cố quan trọng nhất của lịch sử Việt Nam trong hơn bốn ngàn năm lập quốc, tồn tại và phát triển. Thân phận đất nước ta cưu mang một nỗi đau trải dài. Tránh trời không khỏi nắng, số mệnh ta nằm trong vận mệnh chung của cả dân tộc.

Nói đến văn minh Việt là nói đến nền văn minh lúa nước, từ đồng bằng sông Hồng Hà phía bắc đến đồng bằng sông Cửu Long phía nam. Nhân vật chính của nền văn minh này chính là người nông dân, những người sống về nghề trồng lúa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong khung cảnh đồng ruộng của một xứ nóng, trong cuộc sống hàng ngày, cảnh mẹ nằm võng ru con ngủ trong buổi trưa hè oi bức hay trong đêm thanh gió mát là một hình ảnh gần gũi và thân thương.

Cứ thế, ta còn lớn lên nhờ những bài hát ru con. Hát để ru con ngủ nên thường chúng là những bài hát trong sáng và đơn giản, như ca dao, đồng dao, hoặc những câu hò. Để rồi, tiếng hát ru con của mẹ tạo thành cái nôi bình an vô sự cho tuổi đầu đời của ta và gây ấn tượng sâu sắc trong suốt cả cuộc đời còn lại của ta:

Mẹ lên giọng hát mặn mà ru con
Me ru nước, Mẹ ru non
Ru xanh ngọn mạ, ru son cột đình
Tiếng Mẹ ru nước Việt xinh
Tiếng ru của Mẹ muôn đời bên nôi

v.v. và v.v.



Nguyễn Bính bắt đầu bài “Lỡ Bước Sang Ngang” bằng câu ca dao:

Em ơi em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn, Mẹ già em thương


Như đã nói ở trên, Chu Ẩn đã chọn lối viết thơ lục bát theo ca dao. Nên không lạ khi anh đã dùng cái đẹp của câu ca dao “gió đưa cành trúc la đà” bằng cách đưa nó vào thơ anh:

Gió đưa cành trúc la đà
Mẹ lên giọng hát mặn mà ru con



Vì cây trúc, cây tre là hình ảnh của làng mạc Việt Nam:

Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Bái, mặt gương Tây Hồ.


Từ hình ảnh đến sắc mầu, đất nước đẹp như một bức tranh trong thơ Chu Ẩn. Thơ anh làm người đọc càng thêm yêu và nhớ làm sao một trời quê hương bỏ lại. Ví dụ cách anh ví von về “mẹ ru” hay quá, nhưng cũng rất “ca dao”:

Mẹ ru nước, Mẹ ru non
Ru xanh ngọn mạ, ru son cột đình


Với sức thuyết phục ấy, tôi như thấy trước mắt, với mỗi lời mẹ ru, mạ non càng ngày càng xanh thêm và màu son của cột đình càng ngày càng đỏ hơn …

“Son cột đình” có đẹp bằng đôi môi gợi cảm của người phụ nữ? Trong mắt Chu Ẩn, anh thấy “sao trên trời” trong cái đẹp của người cô phụ:


Nàng Tô Thị đẹp như sao trên trời


Hòn Vọng Phu là hóa thân của một người phụ nữ tên Tô Thị, một di tích, một thắng cảnh gần chùa Tam Thanh, thuộc một thành phố biên ải của tỉnh Lạng Sơn:

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh?
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em


Tô Thị là một cái tên, một nhân vật trong câu chuyện cổ tích Việt Nam, được kể lại khi thì thế này, khi thì thế khác. Phiến phiến thì là nàng nhớ khôn nguôi người chồng đi chinh chiến, đã bế con lên núi ngóng trông. Nàng cứ ngóng, ngóng mãi, nhưng người chồng thì không về như đã hẹn, còn nàng thì hóa thành đá. Hình hài như một pho tượng, nàng vẫn tưởng nhớ, trông chờ chồng. Với thời gian, người đời thường biết đến nàng qua cái tên “Hòn Vọng Phu”.

Có lẽ chẳng mấy ai tin vào tính cách xác thực của sự tích Hòn Vọng Phu huyền thoại này. Nhưng nó cứ được truyền từ đời này qua đời khác (cái thứ ngôn ngữ dân gian) như một lời nhắc nhở, và như một sự gửi gấm lòng cảm phục trước cái phẩm hạnh thủy chung của người phụ nữ Việt Nam.

Đầy thi tính và rất trữ tình, Chu Ẩn lồng vào thơ anh nàng Tô Thị. Anh nhắc đến một điển tích/điển cố (nghĩa là những tích truyện xưa, thường là kể về các tấm gương hiếu thảo, thủ tiết thờ chồng, anh hùng liệt nữ …) của người dân Việt. Điển tích này cũng gợi tôi nhớ đến bộ ba ca khúc “Hòn Vọng Phu” của Lê Thương, một trong những trường ca đầu tiên và nổi tiếng nhất trong nền tân nhạc Việt Nam mà tôi rất yêu thích.

Thi thoảng vẫn thế. Mấy mươi năm nay, sống nửa vòng trái đất cách xa nơi tôi sinh ra và lớn lên, nhưng những giọng nói thân yêu của một quá khứ trẻ thơ xa xưa vẫn âm thầm vượt không gian và thời gian tìm về bên tai tôi. Hôm nay thì khác. Có cái gì như thể thiếu vắng, không sao lắp đầy được, đóng băng trí não tôi … tôi đang thèm được nghe U Già kể chuyện cổ tích … bằng cái giọng chân quê của một người đàn bà Bắc Kỳ.

Khi nào tiếng Việt còn tồn tại, thì nước Việt và văn hóa Việt còn tồn tại, như Phạm Quỳnh đã nói: “Tiếng Việt còn, nước Việt còn”.

Mẹ lên giọng hát mặn mà ru con
“Tiếng Việt còn, nước Việt còn”
Đồng giao Nam, Bắc vuông tròn sắt son


Yêu tiếng Việt thì xin nói tiếng Việt, viết tiếng Việt. Với tôi, đoạn thơ này thật cảm động. Chả trách Chu Ẩn một đời chơi đùa với chữ nghĩa. Tôi mường tượng anh thở tiếng Việt, cười tiếng Việt, vì tim anh đập nhịp tim Việt:

Tiếng Việt là tiếng Cha cười

Tôi nghe như anh còn nói, anh sẽ nói, sẽ nói mãi mãi: “Tôi yêu tiếng Việt nước tôi”. Và tôi cũng như nghe nhiều tiếng người gọi nhau quanh tôi, nhưng không bằng “tiếng Việt nước tôi”. Với năm tháng rồi càng lùi dần, lời nói hôm nay của người Việt xa quê hương rồi cũng sẽ ba chìm bảy nổi như thân phận, cuộc sống của những kẻ tha hương trên đất khách.

Một trăm năm nữa thì chắc còn nhiều. Chứ hai trăm, ba trăm năm nữa thì còn bao nhiêu người nói tiếng Việt ở ngoài cái mảnh đất hình cong chữ S nữa? ... Mong rằng thế hệ những đứa trẻ sinh trưởng ở hải ngoại hôm nay sẽ còn nói, sẽ nói mãi tiếng Việt.

***

Phụ chú 1: Nói Chuyện Với Chu Ẩn
ĐYN: Có ai đó đã nói rằng: “Mỗi một nghệ sĩ đều bắt đầu như một người nghiệp dư”. Vậy xin anh Chu Ẩn cho biết anh đã bước vào nghiệp viết lách khi nào và trong hoàn cảnh nào?

- Cám ơn chị Ý Ngọc đã cho tôi cơ hội chia xẻ tâm tình. Tôi bắt đầu lạc bước vào nghiệp viết lách như một người nghiệp dư từ phong trào “sinh hoạt hè 1966”. Tôi may mắn được sinh hoạt chung với các bậc thầy như: GS Nguyễn Tử Quý, nhà báo Đỗ Ngọc Yến, nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, Gs nhà văn Doãn Quốc Sĩ… Ảnh hưởng từ các bậc thầy này và phong trào yêu nước của giới trẻ lúc ấy thôi thúc tôi cầm bút.

ĐYN: Anh nghĩ gì khi anh ở vị trí một người viết bằng “tiếng Việt nước tôi” ở ngoài quê hương? Độc giả của tiếng Việt ở hải ngoại là ai?

- Khi tôi được định cư ở TP này, vì hoàn cảnh tôi phải đi làm ngay trong một công ty bản xứ nên ít có dịp dùng tiếng mẹ đẻ. Tôi nhìn ra nguy cơ là thế hệ con cháu sẽ dễ dàng quên tiếng Việt. Tôi đã cố gắng ra tờ báo nhỏ như một tờ bulletin viết bằng ‘tiếng Việt nước tôi’ đối tượng dĩ nhiên là người Việt mình với hy vọng tiếng Việt và chữ Việt sẽ còn trong giáo dục gia đình người Việt chúng ta.

ĐYN: Chuyện hư thực ra sao khi anh viết trên N.S. Người Việt Cao Niên, số 58 (tháng 10, 2012), rằng: “Người viết mong có người tiếp sức chia sẻ để duy trì tờ báo đang trên đà phát triển …” Tự gác bút, không viết nữa. Có thể nào anh sẽ lại nhớ “bút” như “nhớ ai như nhớ thuốc lào / đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên” không?

- Đã tạm gọi là nghiệp dư rồi thí bỏ làm sao được thưa chị? Mình chỉ mong có người tiếp sức để mình có thời gian viết cho riêng mình. Già yếu rồi, trên bẩy bó còn sức đâu nữa, sẽ chỉ viết lai rai thôi.

Phụ chú 2:
Tôi Yêu Tiếng Việt Nước Tôi
Chu Ẩn
vào Thu 1992


Tôi yêu tiếng Việt nước tôi
Từ trong bụng Mẹ tinh khôi ngày nào
Mẹ Cha cười nói xôn xao
Tình trong lời ngọt, tình vào mắt ai
Tình trên đường cái quan dài
Trên đồng cỏ nội ra ngoài nương dâu
Yêu Mẹ, Cha đặt trầu cau
Ca dao giọng hát bên nhau ngọt ngào
Lời yêu đêm ấy tuôn trào
Cha ươm hạt-mộng-con vào động hoa
Gió đưa cành trúc la đà
Mẹ lên giọng hát mặn mà ru con
“Tiếng Việt còn, nước Việt còn”
Đồng giao Nam, Bắc vuông tròn sắt son
Mẹ ru nước, Mẹ ru non
Ru xanh ngọn mạ, ru son cột đình
Tiền nhân vẫy gọi bên mình
Theo giòng lịch sử tâm tình non xanh
Tiếng Mẹ ru nước Việt xinh
Trường Sơn hùng vĩ riêng mình hiên ngang
Hồng Hà đỏ, Cửu Long vàng
Sai Gòn ru Huế, Hương Giang đậm tình
Hà Nội chùa tháp khoe mình
Đồng Đăng xứ Thái xanh tình non cao
Kinh Thượng cùng bọc đồng bào
Nàng Tô Thị đẹp như sao trên trời
Tiếng Việt là tiếng Cha cười
Tiếng ru của Mẹ muôn đời bên nôi
Tôi yêu tiếng Việt của tôi
Của Cha của Mẹ của người Việt Nam

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
CatLinh on 4/5/2015(UTC)
CatLinh  
#143 Posted : Sunday, April 5, 2015 5:49:36 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 4/14/2015(UTC)
phamlang  
#144 Posted : Tuesday, April 14, 2015 12:57:04 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Dạy Con Nói Tiếng Việt Ở Mỹ


Bố ru con ngủ ầu ơ... Câu ca... tiếng Việt lời thơ ngọt ngào.

Còn nhớ gần 10 năm trước, tụi nhóc ở cái xóm nhỏ cạnh chân núi rủ nhau chạy qua nhà Ông Ngoại nhưng chỉ dám thập thò ngoài cổng tò mò nhìn bé Jenny Phương-Phương và bé ba Jane Phương-Thy vừa từ Mỹ về. Chúng háo hức chầu chực để được nghe con nít ở Mỹ về nói tiếng Mỹ chắc lạ ghê lắm.

Vậy mà tụi nhóc thất vọng quá! Hai hôm rồi chứ phải vài tiếng đồng hồ đâu, chỉ nghe nói tiếng Việt không à. Lại nói bằng cái giọng nhẹ nhàng và đúng chính tả quá xá. Có điều khác với con nít ở vùng ngoại ô thành phố Qui Nhơn này là hai bé không biết nói tục, chửi thề... Nhưng rồi tụi nhóc lại phục hai bé sát đất mới hay chớ. Phục không phải vì được nghe tiếng Mỹ mà vì được nghe con nít sinh ra tại Mỹ nói tiếng...Việt.

Theo tụi nhóc giọng hai con nhỏ dễ thương giống “ở chỏng mới dza” (hồi còn ở Việt Nam mổi lần đi Sài Gòn về tụi tui cũng hay giả giọng như vậy để chọc quê nhau song lại cảm thấy hãnh diện lắm). Nhưng bị chê: “hai đứa đó nó không biết nói tiếng Mỹ”. Tụi nhóc “méc” lại với ngườ lớn như vật đấy. Sau nầy về lại Mỹ hai bé giải thích vì con thấy chung quanh không ai nói tiếng Mỹ. Cũng chính nhờ vậy mà chỉ vài ngày sau tụi nhóc cùng hai bé đã kết thân chuyện trò hồn nhiên như quen nhau tự thủa nào. Sau tui ngộ ra hồi đó nếu hai chị em bé chỉ nói tiếng Mỹ với nhau chắc chắn sẽ khó hòa đồng với tụi bạn nhỏ miền quê.

Vì sao hai bé thạo tiếng Việt. Chuyện là thế nầy. Hình như số trời hay sao đó. Ngay khi vợ tui sắp sinh con lớn rồi đến con nhỏ ra đời và mãi tới bây giờ thì tui bị thất nghiệp dài dài, con lớn sinh năm 2000 con nhỏ 2003. Tui thất nghiệp thì tui ở nhà ru con. Hễ con khóc là tui ru dí dầu cầu “dzáng” đóng đinh... là con nín ru.

Sẵn nói chuyện sinh ra hai bé, xin nhá qua một chút về chuyện đặt tên cho con ở Mỹ của riêng tui.

Lúc đặt tên cho con chị tui thích cái tên Lara, đó là tên một nhân vật nữ trong tác phẩm Doctor Zivago. Tác giả đã dùng lời văn mà như thơ sáng tạo được hình ảnh một cô gái vừa tài hoa vừa đẹp tuyệt vời. Tui không gặp lại cái ấn tượng mạnh như vậy trong một tác phẩm văn chương nào khác. Nhưng Lara có một cuộc đời trôi nổi quá, thôi tìm một cái tên bình dân để mong con sau nầy có một cuộc sống bình thường nhưng hạnh phúc như bao phụ nữ khác. Và tui ưng bụng cái tên Jenny trông rất trong sáng, âm thanh nghe cũng thoải mái lắm. Còn tên Jane của con em cũng dễ kiếm ra thôi. Tên Jane với Jenny cũng từ một nguồn gốc chữ nghĩa. Với lại tên Jane nghe cũng dễ thương đấy chứ. Cho tới bây giờ bé ba vẫn cứ tự xưng là Jane với bố.

Trở lại đề tài chính. Rồi đến khi con bập bẹ tập nói, hết chị đến em, tui tập cho chúng thuộc lòng những bài thơ, những đoạn văn ngắn như: “Kỳ nghĩ hè ta về quê... nhà ta ở mé bờ đê...”, như: “Mỗi năm cứ độ cuối thu lá ngoài đường rơi nhiều và trên không trung có những đám mây bàng bạc...” Còn chuyện tại sao hai bé phát âm nhẹ nhàng chứ không “...Trong khắp năm mươi tỉnh của Miền Nam, có nơi nào người ta nói cái giọng nói phẳng bèn bẹt, ngang tuột ra như thế?...” như bố nó mà Ông bác đồng hương người Bình Định tui chưa bao giờ gặp là nhà văn Võ Phiến đã từng viết là vì nhờ mẹ chúng cùng cái Radio. Mẹ chúng tuy cũng là dân xứ “nẩu” nhưng thời thơ ấu lại ở xứ khác nên giọng nói nhẹ nhàng hơn tui nhiều. Còn nhờ Radio là do tính tui hễ bước vào nhà là vặn cái radio lên để nghe Little Sài Gòn hoặc nghe CD nhạc Việt.

Nhưng nói gì thì nói, việc bảo tồn tiếng Việt không thể bỏ qua công lao của các trung tâm Việt ngữ ở vùng Sài Gòn nhỏ này. Cái gì chứ chuyện chở hai con đi học Việt ngữ mổi sáng thứ bảy tui cảm thấy vui lắm. Nhìn tụi nhỏ vui chơi sao lòng mình nhẹ nhàng như đang ở trong một lớp học ở Việt Nam và tui quên bẵng đi những bon chen giữa một thời hiện đại ở Mỹ này. Năm 2011 hai bé đã ở trong hai đội của trường Việt ngữ thế hệ 2000 tham gia cuộc thi Bé vui Bé học và đã cùng các cháu khác đoạt được giải thưởng cho trường.

Dịp tết năm ngoái Jenny còn được Tu sĩ Thanh Tịnh Liên, Thích Nữ Chân Thiền người sáng lập Thiền Viện Sùng Nghiêm thương yêu giao cho phần chúc tết bằng tiếng Việt trong chương trình hằng tuần của chùa trên TV và cũng được sư cô ưu ái cho bé được vinh dự đi nhận phần thưởng bé giỏi tiếng Việt của hội nữ sinh Gia Long.

Nhớ lại hồi Ông Ngoại còn sống, lúc hai bé chưa được về Việt Nam thăm Ông. Mỗi lần nói chuyện qua điện thoại Ông hay dặn tụi bay nhớ dạy hai đứa nhỏ nói tiếng Việt. Ông sợ chúng nó mất gốc! Ông lo mai mốt gặp lại nhau Ông cháu không hiểu nhau vì Ông cháu bất đồng ngôn ngữ. Tui hay nói đùa Ba khỏi lo, mai mốt về Việt Nam tụi nó dư sức “chửi lộn” với lũ nhỏ trong xóm.

Ngày Ông Ngoại mất hai cháu không kịp về đưa tiễn Ông. Năm ngoái ở Mỹ đến lượt Ông Nội ra đi. Bố “ra lệnh” chị hai Jenny phải chuẩn bị viết một đoạn ngắn bằng tiếng Việt để tiễn biệt Ông. Bố dặn Jenny nghĩ sao viết vậy bố sẽ không sữa lại theo ý bố đâu. Ai cũng ngậm ngùi trong giây phút thiêng liêng bên linh cửu Ông khi nghe con bé nói bằng tiếng Việt mến yêu. Tội nghiệp bé ba Jane. Thấy Jane còn quá nhỏ nên bố không giao nhiệm vụ này, nhưng không ngờ Jane đã âm thầm viết rồi đưa bố xem. Jane chưa đủ trình độ diễn tả lưu loát bằng tiếng Việt, nó viết tiếng Mỹ. Thật bất ngờ khi lời bé viết thấy cảm chân thật làm bố không thể nào không cho Jane lên đọc lại những gì Jane viết. Bố trân trọng những gì Jane viết nên bố không sửa một chữ nào. Khi Jane đọc xong bố cố gắng dịch lại thật sát ý để còn gởi video về Việt Nam cho họ hàng xem có thể hiểu được. Sau nầy một cậu em con bà cô thứ năm ở Việt Nam (còn ba tui ai cũng gọi là anh Bốn) có phone qua trầm trồ con gái út anh sao còn nhỏ mà nói tiếng Mỹ hay vậy. Cậu em không biết con nít sinh ra ở Mỹ nói được tiếng Việt mới giỏi chớ tiếng Mỹ đứa nhỏ nào mà không nói như... Mỹ!

Hồi xưa tôi say mê truyện tuổi thơ của nhà văn Duyên Anh. Lúc tụi nhỏ lớn một tí tui bắt đầu tìm lại những tác phẩm của nhà văn nầy cho chúng đọc. Hai bé biết cảm động khi đọc “Hoa thiên lý”, “Con sáo của em tôi”, con bé Jenny khóc nói truyện buồn quá. Còn bé ba Jane thì sâu sắc hơn. Bé hỏi bố con sáo chết rồi sau nầy nó có “new life” nó có thành người không hả bố vì nó tốt lắm.

Jane thường suy nghĩ theo quan niệm nhà Phật là do hai chị em nó có theo lớp thiền dành cho các bé của Tu viện Sùng Nghiêm. Có lần Jane hỏi vậy chớ Ông Nội chết rồi khi sống lại (ý nói đầu thai kiếp khác) Ông Nội có làm Ông Nội nữa không hả bố…

Bây giờ việc tìm đọc sách tiếng Việt không phải là chuyện khó khăn gì. Cứ search trên internet là moi ra hết. Cả một quyển “Tâm hồn cao thượng” do Hà Mai Anh dịch tui cũng cố gắng cho hai bé đọc hết. Cứ mỗi sáng trước khi đi học hai bé phải đọc hết một chương của quyển sách này trên computer. Thậm chí tui còn moi ra được quyển Quốc văn giáo khoa thư là quyển sách nhà văn Duyên Anh hay hô hào nên đọc để luyện viết văn hay.

Vậy là hai bé bắt đầu học tiếng Việt trước khi hai bé đủ tuổi đến trường. Nhớ lại lúc bé lớn Jenny mới bập bẹ tập nói tui đã háo hức dạy bé “a...bê...xê”. Tui lấy hộp bánh biscuit cắt ra ba chữ a,b,c rồi dán lên vách tường cho nó bắt đầu học 24 chữ cái. Bé còn quá nhỏ để tập trung suy nghĩ. Có 3 chữ abc mà bé học hoài không thuộc. Cô hai của bé còn đệm vào... nhiều đứa nhỏ trông liếng mà học lại dốt.Có lần tui hỏi dồn quá nó đọc chữ bê thành chữ bánh vì trên chữ b tui cắt ra từ hộp bánh có hình mấy cái bánh biscuit! Vậy mà khi vào trường Mỹ hai bé học khá giỏi.

Nhớ lại năm 2012 mãn khóa lớp 6 tại trường Sequoia thuộc Westminster School District trước khi chuyển lên intermediate school Jenny được bằng khen của President và đại diện cho cả khối lớp đọc diễn văn trong buổi lễ ra trường.

Lúc cô giáo giới thiệu bé xong cả trường chờ nó lên phát biểu. Chờ mãi không thấy bé đâu tụi bạn vỗ tay đánh nhịp hét to Jenny! Jenny! Jenny!. Lúc nầy mới thấy tay Jenny giơ lên… khỏi bục cao. Thì ra bé giống bố quá nhỏ con tới độ bị cái bục che mất nên tụi bạn ngồi dưới thấp không trông thấy!

Bé Jenny không phải là một đứa trẻ thông minh xuất chúng gì, song có ưu điểm rất chăm chỉ. Bé ba Jane cũng được nhiều bằng khen nhưng không chăm học bằng chị hai Jenny. Bố hay nói đùa thấy vậy chứ nội công của con Jane thâm hậu lắm đó. Nó mà “work hard” như chị hai thì phải biết còn phải giỏi cỡ nào đấy chứ. Ông Bà mình hay nói được cái này mất cái nọ. Chị hai Jenny chăm học mà biếng làm còn Jane thì ngược lại. Việc học đối với Jane có vẻ ung dung nhưng không phải là lơ là. Khi làm homework gặp bài toán khó Jane bình tĩnh nghe bố giải thích, Jane không bao giờ tỏ ra nôn nóng trước bất cứ việc gì. Jane là con bé khôn ngoan và luôn luôn có nhiều ý tưởng lạ. Jane rất biết nghĩ đến người khác, biết cách thu phục cảm tình người đối diện. Chẳng vậy mà năm nào cô giáo nào cũng thương Jane nhất không phải chỉ vì Jane học giỏi.

Jane luôn luôn đoán trước bố muốn gì. Thấy bố có vẻ mệt mỏi dù đang bận làm gì Jane cũng nắn vai và đấm lưng cho bố. Mỗi khi bố ăn cơm xong bố nói ăn xong rồi sao hé. Nghe vậy thế nào Jane cũng chạy lại sofa gãi đầu cho bố vì Jane biết ý bố thích được gãi đầu sau khi ăn cơm.

Mấy năm trước Jane còn nhổ tóc ngứa cho bố. Bây giờ bố bắt đầu già rồi. Tóc cũng bạc nhiều rồi. Nên Jane khó tìm ra những sợi tóc ngứa giữa một rừng tóc bạc! Những lúc ấy bố đùa thôi mai mốt bé ba làm y tá nghen con. Để chị hai Jenny làm Bác sĩ còn bé ba làm y tá phụ cho chị cũng OK vậy.

Nghe vậy Jane không có phản ứng gì. Nhưng sau này Jane hay thủ thỉ với bố mai mốt Jane làm bác sĩ Jane mua nhà cho bố ở. Ừ bố vui lắm! Bố hay nói làm gì cũng được miễn hai con hạnh phúc là bố vui rồi. Nhưng hai con phải nói tiếng Việt cho thạo vì nhiều Ông Bà không rành tiếng Mỹ nên họ chỉ thích bác sĩ, y tá biết nói tiếng Việt Nam thôi.

JJHiền
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#145 Posted : Monday, April 20, 2015 12:17:55 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Cách Nói Của Người Miền Tây Nam Bộ Qua Ca Dao

Trần Minh Thương


Kính tặng T.S Nguyễn Văn Nở (Khoa Sư phạm, Trường Đại học Cần Thơ)

. Người miền Tây Nam bộ với câu nói, tiếng cười

Theo Cơ sở văn hoá Việt Nam của Trần Quốc Vượng (chủ biên), phần được coi là Tây Nam Bộ có diện tích khoảng 4.000 km2, chủ yếu là vùng đồng bằng sông Cửu Long, một số đảo (lớn nhất là đảo Phú Quốc) cùng một vài dãy núi thấp ở phía Tây An Giang, Kiên Giang.

Hầu hết các nhà văn hoá học, dân tộc học, … đều có chung nhận định tương đối thống nhất về tính cách người Nam Bộ. Họ là những người hào hiệp trong cuộc sống, bình đẳng trong giao tiếp, ít bảo thủ.

Xưa, Tây Nam bộ từ miền đất hoang vu rừng rậm, nhiều sông rạch, đầm lầy muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội tợ bánh canh, dưới sông sấu rống, trên rừng cọp um, … Người nông dân Tây Nam bộ lao động cần cù, dũng cảm. Thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước cải tạo những vùng đất bát ngát nhưng phèn chua và ngập nước, sinh sống bằng nghề trồng lúa, đánh bắt cá tôm, … Ở vùng đất giồng cao hơn thì trồng cây hái trái, trồng tỉa hoa màu,… Ðể tồn tại và phát triển tất yếu các gia đình nông dân trong xóm ấp liên kết lại, lao động dần công cưu mang đùm bọc trong cái nghĩa bán anh em xa mua láng giềng gần, giúp đỡ nhau từ chén cơm manh áo, đến hột gạo của khoai. Nói chuyện thì thích ăn ngay nói thẳng, ghét ăn gian nói dóc, …

Nói chuyện phải rõ ràng, thẳng thắn:

Nước chảy cho đá lăn tròn,
Giận thì nói vậy chớ bụng còn thương em

Trong nghi lễ đính hôn, người ta gọi là đám nói. Ở đó hai bên sui gia “nói chuyện” tác thành cho đôi trẻ. Người con gái trong câu ca sau đây đã bộc lộ một suy nghĩ “táo bạo” ... hết chỗ nói!
Ba nơi đi nói chẳng màng,
Chờ nơi chết vợ sẵn sàng nhảy vô

Tiếng nói không dừng lại ở chức năng kể lể, truyền đạt mà đối với họ nói còn là nghệ thuật. Độc đáo hơn chính từ lớp khẩu ngữ mộc mạc ấy, đi vào lời ngâm, câu hò, điệu lý, …, hình thành nên những vần ca dao - một thể loại trữ tình dân gian. Khám phá từ đây, phần nào chúng ta nhận thấy được bản tính của người bình dân miền đất Cửu Long giang.

1.1 Những cách nói của người Tây Nam bộ thể hiện qua ca dao

2.1. Về mặt ngữ âm
Thứ nhất, khi khảo sát về mặt ngữ âm, chúng tôi nhận thấy ca dao Tây Nam Bộ có nhiều hiện tượng nói trại, tức là nói lệch đi cấu tạo của âm chính trong tiếng. Từ đó, tạo nên lớp từ biến âm đa dạng trong lời nói của đồng bào. Họ không nói thuyền mà thay bằng thoàn, nhơn ngãi, nhơn ngỡi, thay cho nhân nghĩa, Châu Do thay cho Chu Du (nhân vật trong Tam Quốc diễn nghĩa), bệnh thay bằng bịnh, huê thay cho hoa, luỵ thay cho lệ, … Nguyên nhân thì có nhiều: vì kiêng huý, để kiêng dè, kính trọng, hoặc … để đơn thuần chỉ hiệp vần cho thơ, …

- Phụ mẫu tình thâm,

Phu thê nhơn ngãi trượng,

Một mai anh có xa em rồi, thờ phượng mẹ cha

- Lao xao sóng bủa dưới thoàn

Vắng em một bữa ăn vàng không ngon

- Lụy xang xang đưa nàng xuống vịnh,

Anh trở lộn về nhuốm bịnh tương tư.

- Hai vừng nhựt nguyệt rành rành

Sao anh đứt đạn (đoạn) chung tình bỏ em

Thứ hai là cách nói tránh. Gặp chuyện không hay, tránh điều thô tục, người ta thường mượn từ ngữ khác để diễn đạt, ý vẫn giữ.

Còn duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên đi sớm về trưa một mình

Duyên có nhiều nghĩa, nó vốn là một từ mà nhà Phật, Từ điển tiếng Việt giải thích là “cái nợ từ kiếp trước đeo đẳng lấy nhau”. Duyên có thể hiểu là sắc đẹp của người con gái mới lớn. Theo thời gian, duyên dần tàn phai. Còn ở trường hợp này, tác giả dân gian dùng “duyên” thay cho một từ khác, chỉ nơi nhạy cảm của người con gái, cứ xem cách so sánh của chàng trai ở ngay dưới đây, giữa còn duyên sẽ cưới nàng bằng ba heo, còn mất duyên chỉ phải tốn … con mèo cụt đuôi thì giá trị của từ duyên mà người nói cố ý tránh, đã quá tường minh.

Còn duyên anh cưới ba heo
Hết duyên anh cưới con mèo cụt đuôi

Thứ ba, nói bằng tiếng địa phương. Theo quy luật tồn tại của ngôn ngữ, ở miền Tây Nam Bộ cũng có những “đặc sản” của riêng mình.

Ngó lên tổ nễ chau mày,
Mảnh lo sự khó quên ngày muối dưa

Tổ nễ là tiếng lóng, cách tôn xưng chỉ ông bà, tổ tiên, xuất hiện khá phổ biến trong khẩu ngữ dân gian miền quê.

Phương ngữ trong câu ca sau, rất đáng chú ý:

Chiều mai chiều mốt anh cốt cây bần
Chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm

Anh chàng nào đó không cho người khác đến gần người con gái anh ta đã để ý. Anh ta dùng tiếng “cốt” để nói. “Cốt” có nghĩa là đốn cây, chặt cây, từ này phổ biến trong dân gian miệt Rạch Giá – Cà Mau. Cây bần là loài thực vật mà người ta xem chỉ toàn … giống đực! (Bởi rễ bần được gọi là … cặc bần!). “Cốt” cây bần là lời cảnh báo dư sức nặng dành cho những ai ham trổ mòi với “ghe” đã có chủ!

Người Tây Nam Bộ nói hun, tức dùng mũi để … biểu lộ tình cảm không dùng hôn, không dùng môi, miệng để … làm việc hun!

Ước gì anh hoá con kiến vàng
Bò qua quay nón của nàng mà hun

Dân gian nói hiếm hiệm, nghĩa của nó là đủ rồi, là bộn bàng rồi, hay chỉ sự dư dã của một thứ nào đó, …

Muốn cúc chơi chậu tam hường,
Liễu huê hiếm hiệm dọc đường thiếu chi.

Dùng phương ngữ để nói ẩn ý, ngầm so sánh giữa chậu cúc tam hường và liễu hoa (huê) dọc đường. Từ hiếm hiệm đã làm tăng giá trị một chủ thể và cũng làm giảm đi giá trị một chủ thể, bởi nhiều, dư dã thì khó gọi … quý hiếm được! Nói hiếm hiệm tức là … không hiếm vậy!

Thứ tư, nói bằng cách mượn tiếng của người Tiều (Triều Châu), bộ phận người Hoa đã di cư và định cư ở đây từ mất thế kỷ trước. Qua thực tế điền dã, chúng tôi dẫn lại mấy câu ca ở Bạc Liêu, thế này:

- Chờ anh em hết sức chờ

Chờ cho ến xại (rau muống) lên bờ khùi hui (khai huê, tức trổ bông)

- Nào khi ến thạo, hoan tùa (Khi nào thấy hơi gió lớn thổi)

Sùn hoang nghệc láo, xuốt gùa thăm em (Gió xuôi, nước ngược ra thăm em)

- Trời mưa dít ạm hoang tùa (Trời mưa, trời tối gió to)

A hia phề chuối xuốt gùa thăm em (Anh chèo ghe ngược ra thăm em)

(…)

2.2. Về mặt ngữ nghĩa

2.2.1. Nói toạc móng heo

Nói toạc móng heo là cách nói thẳng hết những sự thật, không cần giấu giếm, che đậy.
Đầu tiên là cách nói thẳng để tỏ tình:

Gió đẩy đưa rau dừa quặn quỵu,
Anh mảng thương nàng lịu địu xuống lên

Những tiếng mang thành trắc tạo thành vần ở hai dòng thơ đã góp phần diễn tả một hiện thực của buổi đầu ngỏ lời trao ý, đồng thời nó cũng tả đúng tình cảnh khắc khổ của người chân đất chân quê!

Không xao xuyến làm sao được, bởi hình bóng của người con gái có duyên:

Tóc ngang lưng vừa chừng em bới
Để chi dài bối rối dạ anh

Lẽ tất nhiên, khi con tim đã rộn ràng, người trong cuộc cần nhiều hơn nữa sự chân thật, và họ bày tỏ nỗi lòng:

Bước cẳng xuống tàu, tàu khua rổn rổn
Tàu qua Nhựt Bổn lấy nước Châu Thành
Anh với em phải nói cho rành
Để anh lên xuống nhọc nhằn thân anh

Cần lưu ý, những dòng đầu, cách dùng phương ngữ cẳng thay cho chân, hay từ tượng thanh lổn rổn như để diễn tả tâm trạng, họ chỉ mượn cớ để nói chứ không hẳn cần đúng sự thật, bởi sự thật thì làm gì có nước Châu Thành, mà nó cũng chẳng liên quan đến Nhựt Bổn! Mới hay, đó là cách tạo cớ để nói, cớ không thật nhưng lòng người thì thẳng băng như mực tàu!

Khi tương tư, họ nói mà như bày tỏ cả gan ruột với người mình yêu:

Phụ mẫu đánh anh quặt quà quặt quại,
Đem anh treo tại nhánh bần.
Rủi đứt dây mà rớt xuống,
Anh cũng lần mò kiếm em.
Lời thề được thốt lên mãnh liệt:
Chẳng thà lăn xuống giếng cái chũm
Chết ngủm rồi đời
Sống chi đây chịu chữ mồ côi
Loan xa phượng cách biết đứng ngồi với ai

Hay như:

Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết thì chịu chết, buông nàng anh không buông

Song không phải vì những lời nói ngay thẳng thế mà mọi chuyện tốt đẹp vẹn toàn, người trong cuộc đã cảnh giác:

Biển Đông gió thổi bốn mùa,
Say mê lời nói thuốc bùa không hay

Miệng đàn ông nói như tha mỡ, trơn lu, giỏi bỏ bùa các cô nhẹ dạ, vì thế, người bình dân mới gửi gắm lời khuyên ấy!

Lúc tan vỡ, cô gái đã nhận ra tất cả phũ phàng nên quyết liệt tránh xa:

Bần gie, bần liệt, diệc đau chờ mồi
Anh với em duyên nợ hết rồi
Đi tìm chỗ khác đừng ngồi kế em

Phía nam nhi chi tử cũng nhạy cảm chuyện trắc trở:

Vỗ vai con Bảy không ừ,
Hay là con Bảy giận, con Bảy từ ngãi anh

Gọi người yêu bằng con thì chân tình lắm, hành động cũng thật táo bạo, nhưng rồi anh ta chỉ nhận được sự im lặng thay cho cách trả lời từ đối tượng. Cuối cùng, có lẽ ngẫm nghĩ lại anh ta đã nhận ra sự thật!

Có trường hợp nguy hiểm hơn, ai đó, vì lý do tế nhị đã quẩn quanh, cố giấu che một sự thật, đến khi sự thật kia bị ... phát hiện:

Bậu nói với qua bậu không lang chạ,
Qua bắt đặng bậu rồi, đành dạ bậu chưa

Nói huỵt tẹc để người trong cuộc không thể “đổ thừa” nữa, dù cách “đổ thừa” cho “tại” cho “bị” vốn là câu nói cửa miệng của những người ... trót lỡ lầm!

Em đi lên xuống cầu dừa
Lấy ai có chửa đổ thừa cho anh

Có chửa hoang, là người hư đốn, là một chuyện động trời, có lẽ vì sự chấn động kinh khủng ấy, nên mới có chuyện “đổ thừa” nhằm tránh tội chăng?

Cũng là cách nói thẳng, ta gặp câu ca đáo để khác:

Nước ròng trong ngọn chảy ra
Thấy em chồng chết anh bôn ba qua liền

Bôn ba là tính từ chỉ sự vội vã, vội vàng trong hành động. Qua lời nói trực tiếp ấy dường như người trong cuộc đã hiểu được nỗi lòng của người nói. Chồng em chết anh vội qua ngay để … giúp đỡ! Tất nhiên là trong cảnh goá bụa, chiếc bóng một mình, có nhiều chuyện cần phải có bàn tay người đàn ông lắm! Nói thật, nói thẳng nhưng không phải là không có ẩn ý trong kiểu nói như vậy! Cảnh giác quá mức sẽ phụ lòng của người hàng xóm tốt bụng, còn nếu “ngây thơ” thì biết đâu … chấp được mối tơ thừa! Nên chăng?

2.2.2. Nói vòng vo, nói bóng nói gió

Ở trên, chúng tôi đề cập đến cách nói tránh. Đến đây, chúng tôi phân tích chi tiết hơn cách nói bóng gió, vòng vo Tam Quốc của người bình dân.

Khi gặp tình huống không nói thật được, đành phải nói xa xăm để đặt vấn đề:

Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh
Đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ mình dễ thương

Muốn khen một cô gái đẹp mà mình vừa ý, muốn tỏ tình thương, nói bằng lời thật khó, không khéo dễ bị vô duyên, chối từ, như thế, mọi việc hỏng bét. Vì thế, chàng trai đã dày công bắt cầu trong cách nói. Vừa nhớ ơn bà, vừa khen má và tất nhiên là khen cả đối tượng anh ta muốn nói đến.
Hơn nữa, với cách nói lấp lửng, vô tình anh ta đã gọi được tiếng ngoại, tiếng má của cô gái như chính cô gái hay kêu. Thông thường, cách kêu như vậy, chỉ xảy ra khi hai người đã nên vợ nên chồng. Thật là đáng khâm phục trong cách nói vòng vo!
Để nói bóng gió, người ta còn sử dụng cách nói bằng thành ngữ, điển tích
Thành ngữ: cụm từ cố định, bền vững, có tính nguyên khối về ngữ nghĩa không nhằm diễn trọn một ý, một nhận xét như tục ngữ, mà nhằm thể hiện một quan niệm dưới một hình thức sinh động, hàm súc. [2; 297]

Trong ca dao Tây Nam Bộ không ít câu sử dụng thành ngữ. Do phạm vi bài viết là khảo sát cách nói, chúng tôi chỉ xem thành ngữ nhất là thành ngữ Hán Việt như một phương tiện của lời nói chứ không đi sâu phân tích chức năng của chúng.

Đây là một cách dùng thành ngữ Hán Việt trong điệu hò:

Thiện ác đáo đầu chung hữu báo.
Cao phi viễn tẩu dã nan tàng
Từ khi anh xa cách con bạn vàng
Cơm ăn chẳng được như con chim phụng hoàng bị tên.

Dễ hiểu hơn, nói bằng thành ngữ Hán Việt và sau đó dùng lời thơ để giải thích nghĩa cho người nghe biết luôn:

Thiên sinh nhơn hà nhơn vô lộc,
Địa sinh thảo hà thảo vô căn.
Trời sinh người đều có lộc trời,
Đất thì sinh cỏ rễ chồi nào không.

Đi liền với thành ngữ là những điển tích. Điển tích (hay điển cố) là một biện pháp tu từ, ở đó tác giả sử dụng “câu chuyện” sao cho phù hợp với văn mạch mình nhằm tạo tính hàm súc cho lời văn, ý thơ. Ca dao Tây Nam Bộ cũng vậy, không hiếm những câu chuyện trong sách sử được dùng để nói:

Ai khôn bằng Tiết Đinh San,
Cũng còn mắc kế nàng Phàn Lê Huê.
Tiết Đinh San, Phàn Lê Huê là nhân vật trong bộ tiểu thuyết chương hồi Tiết Đinh San chinh Tây.

Hay câu ca khác:
Văng vẳng bên tai
Tiếng ai như tiếng con Điêu Thuyền?
Anh đây Lữ Bố kết nguyền thuở xưa

Lữ Bố, Điêu Thuyền là hai nhân vật trong Tam Quốc chí diễn nghĩa. Các tác phẩm vừa kể được dân gian gọi chung là truyện Tàu, thể loại văn học ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống người bình dân Tây Nam Bộ từ nửa đầu thế kỷ XX trở về trước.

Mượn thành ngữ, điển tích để chen vào lời nói, làm cho ý của người diễn đạt thêm sinh động, hàm súc, người tiếp nhận phải có cùng “kênh” giao tiếp thì mới tường tận vấn đề mà người nói muốn biểu đạt!

Phương tiện hỗ trợ đắc lực cho cách nói bóng gió là các biện pháp tu từ.
Một là, dùng từ đa nghĩa để chơi chữ

em ơi hãy lấy anh thợ bào
Khom lưng ảnh đẩy cái nào cũng êm

Rất dễ dàng nhận ra chuyện thợ bào đẩy bào để bào cây, bào ván cho bóng, cho trơn, đến chuyện đẩy theo cách nói trây, dân gian gợi nên hành động của vợ chồng chốn phòng the!
Tương tự từ đẩy vừa phân tích, là từ cày sau đây:
Chồng em nào phải trâu cày
Mà cho chị mượn cả này lẫn đêm

Cách nói táo bạo hơn, nhưng người nghe không thể bắt lỗi được họ:

Cu tui vừa mới mọc lông
Mượn chị cái lồng tui nhốt đỡ cu tui

Cu là con chim gáy, lồng là vật để nhốt chim. Nhưng thật tình không người nghe nào chỉ dừng cách hiểu của mình ở đó cả, …

Chúng ta hãy nghe lời một cô gái dặn người mình yêu khi chàng và nàng muốn “gần” nhau:

Chuột kêu chút chít trong rương
Anh đi cho khéo kẻo đụng giường mẹ hay

Ngày xưa cái giường của người nhà quê là loại giường chỏng đóng bằng tre già, lâu ngày thành xiêu lỏng, đụng vào đó nó kêu cót két, giống như tiếng chuột kêu chút chít. Có lẽ bà mẹ của cô gái kia đã hơn một lần chợt thức giấc, nghe tiếng chiếc giường tre kêu rúc rích, cô gái đã nhanh trí trả lời rằng đấy là do chuột ở trong rương (!). Rút kinh nghiệm, cô gái đã nhắc khéo cho tình nhân kẻo lỡ làng chuyện ân ái.

Hai là, người bình dân dùng hình thức so sánh, phúng dụ, ẩn dụ, hoán dụ, …, trong lời ca, tiếng hát.

Từ hình ảnh so sánh:

Thân em như cá rô mề
Lao xao giữa chợ biết về tay ai
Cá rô mề quá đỗi quen thuộc với vùng sông nước, ruộng đồng. Mượn nó, để ví với … thân em thì thật là dí dỏm! Tình cảnh của người con gái ngày xưa không khác gì thân cá rô nằm trong rổ nhảy rồ rồ, lao xao giữa chợ. Tinh ý hơn, người nghe còn phát hiện cá rô mề là để liên tưởng đến chỗ kín đáo nhất của người con gái, … thật là một cách nói khéo không ai bằng được người bình dân!

Đến cách nói phúng dụ, mượn lời con vật để thay lời người muốn nói:

Cóc chết nàng nhái rầu rầu
Chàng hiu đi hỏi lắc đầu hổng ưng
Con ếch ngồi ở gốc đưng
Nó kêu cái ẹo biểu ưng cho rồi

Nói vòng vo nhưng là thiệt bụng, thiệt lòng làm sao!
Rồi nói bằng ẩn dụ:
Ruộng ai thì nấy đắp bờ
Duyên ai nấy gặp đợi chờ uổng công

Câu ca tả thực cảnh của người nông dân chân lấm tay bùn. Song, ý người muốn nói chưa dừng hẳn ở đó. Ruộng và bờ liên quan nhau như vật sở hữu và người sở hữu. Vậy tình yêu, có cần phải cắm ranh, cặm cọc hay không? Có lẽ trả lời rằng “cần” phải có “bờ” có “đập” để xác lập chủ quyền, xem ra không có gì là quá đáng!

Hoặc dùng hoán dụ:

Nước chảy re re con cá he nó xoè đuôi phụng
Em có chồng rồi trong bụng anh vẫn còn thương

Mượn từ bụng để nói cả tâm tình lưu luyến của cố nhân! Lấy bộ phận để nói khái quát cho cái toàn thể là vậy.

2.2.3. Nói khó

Trong giao tiếp, hay sinh hoạt người ta thường nhắc lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Thực tế thì không phải không có những lời nói khó nghe. Mượn những câu hỏi để bộc bạch:

Gần sông cội mới ngã kề,
Tiếng tăm anh chịu, em về tay ai?
Hỏi mà không có lời đáp và chắc cũng chẳng cần ai trả lời, bởi đó là cách nói khó. Vấn đề là người nghe, cụ thể hơn là đối tượng hướng đến của giao tiếp có hiểu hay không mà thôi!

Có chồng bậu nói rằng không,
Con đâu bậu ẵm bậu bồng trên tay?

Không biết sự thể của người trong cuộc thế nào, có chịu nỗi oan Thị Kính hay không?
Nhẹ nhàng hơn, nói một cách đón ngách chặn đầu rằng:
Đá cheo leo muốn trèo sợ trợt,
Muốn nói một hai lời sợ nhột ý em?

Chia sẻ hay mỉa mai, chọc ghẹo, …, tính chất đa nghĩa ấy bộc lộ qua lời hỏi khó, dành cho người kém may mắn trong chuyện lứa đôi:

Cau già lỡ lứa bán trăm,
Chị nọ lỡ lứa biết nằm cùng ai?

Có thể tìm ra nguyên nhân của những lời hỏi khó như vậy là vì cuộc sống vốn không thiếu người có tính này, ý khác:

Bậu đừng ăn nói đảo điên,
Cái áo bậu bận cũng tiền anh cho?
Nhiều lúc, những câu hỏi trong lời nói khó đã nâng lên thành triết lý trong quan hệ giữa người với người trong xã hội:

Nước không chưn sao gọi rằng nước đứng,
Chén của người sao gọi chén chung?
Ai từng bận áo không bâu,
An cơm không đũa, ăn trầu không vôi?
Chim bay mỏi cánh chim ngơi,
Đố ai bắt đặng chim trời mới ngoan.

2.2.4. Nói cho hả dạ, nói cho đã tức
Từ nói khó chuyển sang nói cho hả, nói để trút cơn tức giận.

Miệng đuổi chim, tay cầm cần vụt
Mãn mùa rồi xí hụt anh ơi

Thế là công lao bao nhiêu tháng ngày vun quén giờ bị đem bỏ sông bỏ biển. Ai mà không buồn, không đau, không tức trào máu, nhưng biết ai chia sẻ, thôi thì cứ nói lên, hét lên cho hả hê!

Họ nói như mỉa mai, cười cho sự chua chát của thân phận mình:

Anh tưởng giếng sâu anh nối sợi dây cụt
Ai dè giếng cạn nó hụt sợi dây
Qua tới đây không cưới được cô hai mày
Qua chèo ghe ra biển đợi nước đầy qua chèo trở vô

Bằng cách nói ngược: giếng sâu – dây cụt, rồi giếng cạn – hụt sợi dây, dường như để ám chỉ sự đổi trắng thay đen của thói đời, đã vậy, dại gì chết đi cho uổng!

Tiếng nói của sự khao khát yêu đương, tiếng nói cũng những chuyện oái oăm được dân gian thể hiện:

Con gái mười bảy mười ba
Đêm nằm với mẹ, khóc la đòi chồng
Mẹ giận mẹ phát ngang hông:
Đồ con mất nết đòi chồng suốt đêm!

Có lúc nói cho hả lòng, nói cho mọi người biết, vì chỉ cần lơ là một chút, người chủ quan đã bị bạn bè, lối xóm ra tay hãm hại:

Mảng coi con quạ rỉa lông,
Chị em lân cận giựt chồng không hay

Hướng đến đối tượng tiếp nhận chính là người mình yêu ngày trước. Nay anh đã không vẹn chung tình, anh bỏ em đi cưới vợ khác, anh hãy nghe đây:

Bần gie bần liệt đóm đậu ngọn bần
Anh đi cưới vợ em vái cho sóng thần nhận ghe

Đúng, rất chính xác, chỉ có những cô em gái quê rang quê rít, tóc dài bỏ xoã, bận áo bà ba (lời một bài dân ca ở Sóc Trăng) mới có trực tính để bật thành tiếng nói như vậy!
Với cảnh ngộ khác, một anh chàng thật tội nghiệp, trút giận:
Bờ bụi tối tăm, anh quơ nhằm cái tộ bể
Cưới vợ có chửa về thổi lửa queo râu

Thật trớ trêu, ai nghe mà chẳng cảm thông cho chuyện nhầm lẫn tai hại đó.
Với kết cấu đối đáp, ta gặp một lời chọc ghẹo của chàng trai lắm môi mép:
Trời mưa cho ướt ruộng gò
Thấy em chăn bò anh để ý thương

Cô gái chẳng vừa, tát lại ngay:
Trời mưa ướt cọng rau mương
Bò em, em giữ anh thương cái giống gì?

Độc hơn ở cách nói nước đôi, cụm từ anh thương cái giống gì vừa chỉ giống … người (là em) vừa chỉ giống … ăn cỏ! Vậy mới chết chớ!

Cọc tính hơn, cô gái lớn tiếng rủa kẻ ve vãn mình:

Dê xồm ăn lá khổ qua
Ăn nhầm lá đậu chết cha dê xồm
Đảo lại, cũng trong lời đối đáp, nhưng lần này “phần thắng” nghiêng về phía chàng trai:

Áo vắt vai đi đâu hăm hở,
Em có chồng rồi mắc cỡ lêu lêu.
Áo vắt vai anh đi dạo ruộng,
Anh có vợ rồi chẳng chuộng bậu đâu.

Tiếng nói uất nghẹn còn hướng đến những đối tượng đã gây ra nhiều chuyện phiền toái:

Quất ông tơ cái trót
Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần
Biểu ông se mối chỉ năm bảy lần, ổng không se

2.2.5. Nói cà rỡn

cà rỡn là lời nói với chức năng đùa vui, không thể hiển sự giọng cao thấp, cạnh khoé. Chàng trai thấy cô gái dễ thương, bèn bông lông rằng:
Nước Láng Linh chảy ra Vàm Cú
Thấy em chèo cặp vú muốn hun

Quả là lời tỏ tình trắng trợn, muốn chuyện … rất nhạy cảm mà dám cất thành lời, nhưng xét cho cùng đối tượng cần nghe hình như không nghe thấy, người dưới sông, người trên bờ, khoảng cách quá xa … Có lẽ, khi gần nhau chẳng ai dám nói kiểu … đó! Nhưng cũng chẳng sao, nếu bị phản ứng, anh ta sẽ dễ dàng ứng phó, theo kiểu “tán gái”:
bới tóc cánh tiên, bỏ vòng lá liễu
Thấy miệng em cười trời biểu anh thương

Nhiều khi, tỏ tình không được thì làm liều kiểu Chí Phèo yêu Thị Nở (nhân vật của Nam Cao), nói chơi cho vui, ai nghe được thì cứ xem là câu nói giễu, để cười, song không phải vì thế mà không có ẩn tình:

Tui hun mình, dẫu mình có la làng
Thì tui la xóm hai đàng la chung
Tui hun mình dẫu có làm hung
Nhơn cùng tắc biến tui chun xuống sàn

Ở cảnh ngộ khác, có lẽ chàng trai đã “để ý” đến người mình thương nhiều lắm, nhưng anh ta không dám mở lời. Anh chàng mượn con cua để nói khơi khơi:

Con cua càng bò ngang đám bí
Nó với chị mày giờ tí qua qua

Chức năng bông đùa của câu ca này theo chúng tôi nằm ở mốc thời gian hẹn ước. Giờ tý là canh ba, mọi người đã yên giấc ngủ, anh ta lại “qua” để gặp chị mày thì chắc là sẽ … có chuyện!
Trong kết cấu đối đáp cũng có những câu lém lỉnh, cà rỡn:

- Ai mà bày đặt dị kỳ
Áo bà ba may hai túi đựng giống gì hở anh

- Ba má bày đặt cho anh
Áo bà ba may hai túi đựng dầu chanh o mèo

Một trường hợp hỏi – đáp khác:
Nước mắm ngon dầm con cá bẹ
Anh biểu em rình lén mẹ qua đây!

Nói như đùa chơi kiểu đó, người Tây Nam bộ gọi là nói giỡn. Chàng nói kiểu giỡn chơi thì nàng cũng đáp kiểu giỡn chơi.

Nước mắm ngon dầm con cá đối
Em biểu anh chờ để tối em qua

Chưa biết sự thể sẽ ra sao, chỉ có điều nói là để … chơi, vậy thôi!
Khi nói cà rỡn, yếu tố tục, những từ ngữ gợi đến những bộ phận trên cơ thể của con người được tận dụng triệt để. Phần trên chúng tôi đã dẫn câu ca mà chàng trai … muốn hun! Đến đây, thấy cần bổ sung mấy ví dụ nữa để bài viết thêm sinh động:
Thân anh lỡ dại hai lần
Nhỏ măn vú mẹ, lớn mằn vú em

Cách nói tếu táo của chủ thể phát ngôn khi anh ta nhận mình là dại nhưng thật ra thì là khôn đấy, một cách nói ngược đáng nghe!
Tiếu lâm hơn là lời của “ông” anh rể
giữa trưa đói bụng thèm cơm
Thấy đùi em vợ như tôm kho tàu

Đem “đùi” của cô em vợ nõn nà so sánh với “tôm kho tàu” giữa khi bụng đói … thì thật là chỉ có anh ta dám nói những điều mà nhiều người nghĩ, nhiều kẻ muốn, nhưng không ai dám … giỡn kiểu đó!
Sau hết, xin dẫn một câu ca có miêu tả trực tiếp yếu tố sinh thực khí của nữ giới:
Cô kia cấy lúa Nanh Chồn
Chổng mông cô để cái l… cô lên

3. Chức năng của cách nói trong ca dao

Những biểu hiện của cách nói trong ca dao mà chúng tôi vừa liệt kê đã góp phần quan trọng để các nhà thi pháp học khẳng định ca dao là câu thơ điệu nói, nó mang ngữ điệu người, giọng điệu người, thể hiện đa dạng các cung bậc, cảm xúc trong tâm hồn con người.

Chính từ những cách nói bằng ngữ điệu ấy đã đem đến cho ca dao hơi thở rất riêng, dù đặc trưng thể loại đã làm cho tính cá nhân bị xoá nhoà.

- Bên dưới có sông, bên trên có chợ
Hai đứa mình kết vợ chồng nghen
- Thấp đăng cá nhảy qua lờ
Anh đừng xí gạt em chờ uổng công
- Tưởng rằng anh tới anh chơi
Ai dè anh tới kết đôi vợ chồng

Những từ vốn dĩ quen thuộc trong lời nói hàng ngày như “nghen”, “xí gạt”, “ai dè”, … đã làm cho lời ca lung linh như chính họ nghĩ, họ làm, họ nói, …

Ai đó từng “chê” cụ Đồ Chiểu sao để cho Vân Tiên “ừ” trước mặt nàng Nguyệt Nga xinh đẹp trong truyện thơ Lục Vân Tiên (Vân Tiên ngó lại rằng: ừ), thì hãy nghe đây, cách nói, cách tỏ bày tình cảm trong dân gian miệt này:

Ngó lên chữ ứ, ngó xuống chữ ư,
Anh thương em hổng thẳng em ừ,
Anh đừng thương vội mẫu từ em hay

Còn đây là lời của một cô vợ trong cảnh gia đình chồng một vợ hai:

Vợ lớn đánh vợ nhỏ,
Chạy ra cửa ngõ ,
Ngóng cổ kêu trời!
Ớ anh ơi ?
Nhứt phu lưỡng phụ, ở đời đặng đâu?

Cuối cùng, chúng tôi mượn câu ca mùi mẫn bậc nhất chốn ruộng đồng dưới đây để thay lời tiểu kết:

Con cá làm nên con mắm
Vợ chồng già thương lắm mình ơi!

3. Kết luận

Người Tây Nam Bộ bộc trực, thẳng thắn, nhưng cũng rất tinh tế, khéo léo trong ứng xử. Họ sẵn sàng đùa cợt, cười rần để xua tan đi những nỗi nhọc nhằn trong quá trình chinh phục thiên nhiên hoang dại. Và lời nói là nơi thổ lộ rõ ràng nhất.

Lời nói là phương tiện không thể thiếu trong giao tiếp. Trong giao tiếp lại bộc lộ văn hoá ứng xử của người bình dân. Hơn thế, lời nói đã đi vào lời ca, tiếng hát, nó góp phần làm lung linh thêm những “hạt ngọc” tinh thần của người dân quê chơn chất.

Từ lời nói dân gian, chúng ta còn phải học tập nhiều lắm ở họ:
Chim khôn kêu tiếng rãnh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe./.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#146 Posted : Wednesday, April 29, 2015 6:36:02 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

Cuộc Di Cư Của Chữ Nghĩa


Vietsciences- Nguyễn Văn Lục


Năm 1954, người ta nói đến cuộc di cư người, thật ra còn có cuộc di cư chữ nghĩa nữa. Người đi, chữ cũng đi theo. Chữ nghĩa miền Bắc cũng lềnh kềnh, lếch thếch nối đuôi nhau lên tầu há mồm. Chuyến đi gian nan của nguời di cư thế nào thì chữ nghĩa cũng vậy. Chữ ở lại, chữ ra đi, chữ nào còn, chữ nào mất. Chẳng ai còn tâm trí đâu để lưu tâm tới điều đó. Chữ được di cư vào miền Nam, chở đi rồi, bao nhiêu chữ đã rơi rụng, vung vãi dọc đường. Bao nhiêu chữ đã sống còn sau khi đã hội nhập với chữ bản địa.
Phải đợi đến sau ngày 30 tháng tư 1975, người ta mới có thể biết được sự còn mất này một phần nhờ so sánh chữ nghĩa giữa hai miền. Hình như cũng ít ai để ý đến cái mất, cái còn của chữ nghĩa, vì có quá nhiều cái mất cái được được lớn hơn. Cái mất lớn hơn đó để người khác lo, người viết lạm bàn về số phận chữ nghĩa người di cư sau 1954 và nếu có dịp về chữ nghĩa của người di tản.

Phần 1.- Chữ mòn theo thời gian.

Cho dù không có cuộc di cư, chữ nghĩa cũng cách này cách khác bị xói mòn. Sự mất còn này trước hết là do sự xói mòn của thời gian . Chữ nghĩa như một vật dùng một lần thì còn ngon, nhưng dùng nhiều lần thì mòn hay cùn đi. Như cái kéo cắt mãi cũng phải cùn. Dao băm mãi cũng lụt đi. Khen đi khen lại đâm nhàm tai. Yêu nhau lắm, cắn nhau đau, hay ít ra cũng chán. Đùa dai hoài đâm nhạt như nước ốc. Hình như chữ nghĩa dị ứng với cái lập đi lập lại. Tất cả những ngữ nghĩa trên chỉ ra một điều: Thời gian và sự đi lập lại có thể làm xói mòn, hoen rỉ chữ nghĩa. Tâm lý con người lại ưa chuộng cái mới, cái lạ. Như trong tình yêu, dùng chữ đó với nhau lần đầu, trọng lượng của chữ nặng lắm, thấm thía lắm, cảm động lắm. Dùng lần thứ hai thấy nhẹ đi rồi. Phải tăng cường độ nghĩa bằng những chữ lắm, nhất, số một. Có khi cả bằng tay chân vẫn chưa đủ. Tăng lời thề.. Hình như vẫn hụt.
Trong văn chương, ta cũng gặp cảnh ngộ tương tự. Nhất là trong lãnh vực thơ . Thơ là khơi nguồn cho sáng tạo chữ mới, văn ảnh mới, biểu tượng mới. Còn nhớ, hồi thơ Nguyên Sa xuất hiện đúng lúc khi mà cuộc di cư đã hoàn tất. Chữ nghĩa thơ của ông còn nóng hổi, thơm phức như bánh mì mới ra lò. Nhiều cô cậu, ghi ghi chép chép để dùng lại :

Áo nàng vàng, tôi về yêu hoa cúc. Áo nàng xanh, tôi mến lá sân trường.

Chữ nghĩa đó được truyền tay, đến người cuối cùng có thể chỉ là chiếc bánh mì nguội. Cứng như đá. Thật ra, thơ đó có một vài văn ảnh mới. Mới với người đọc thôi. Nguyên Sa đã gợi nguồn cảm hứng từ người tình là cô Nga ( sau này là bà Trần Bích Lan) . Có thể lúc mà thơ đó mới ra lò, đối với ông, thơ văn đó chả có ấn tượng gì nữa. Nhưng mới người cũ ta. Có lẽ vì vậy mà nhà thơ suốt đời mang cái nghiệp phải sáng tạo cái mới. Sáng tạo không ngừng.
Số mệnh chữ nghĩa mỏng manh như số phận con người. Thời gian như thước đo chiều dài ngắn của chữ nghĩa, đồng thời cành báo về cái hữu hạn của nó. Sự sợ hãi của Nguyễn Du phải chăng cũng từ đấy mà ra.
Chữ có thế vắn số nên có nhiều chữ đã trở thành chữ cổ ít ai nhắc tới. Còn nhớ, hồi mới di cư vô Nam, người Bắc sửng sốt nhất, nghe lạ tai nhất là chữ Mã Tà. Mã tà thời tây là gọi là Hiến Binh, sau này trong Nam gọi là Cảnh sát, ngoài Bắc gọi là Công An. Không biết vì lý do gì, chữ Mã tà sau khoảng hai năm gì đó, không còn nghe ai nói nữa. Cũng vậy, theo sách vở (1), chữ manh nghĩa là nhỏ mọn. Người đời chỉ còn nhớ váng vất khi nó đi với chữ khác như mong manh, tan manh, chiếu manh, manh áo, manh mún. Một chữ khác như chữ Khem, nghĩa là kiêng cữ. Nếu nó không cặp bạn với chữ Kiêng thì người ta không còn nhận ra nó như Kiêng khem ra nắng, ra gió. Chữ khác như chữ Lụn, nghĩa là hết, người ta cũng chỉ dùng trong một số trường hợp hiếm hoi : Tim lụn có nghĩa tim đèn cháy hết, lụn năm, lụn ngày, mềm lụn, lụn xuống, lụn mạt. Mấy ai còn nhớ, còn biết, còn sử dụng những chữ cổ trên. Nhưng có chết đi mới có sống lại, cái chết đi ung mầm ra cái mới. Nhờ vậy mà chữ nghĩa thay đổi và tiến bộ, mỗi ngày một đa dạng, một phong phú và chuẩn xác hơn. Thời gian đã là một nhẽ, cộng thêm dụng ý của người sử dụng chữ làm chữ nghĩa sống dở, chết dở. Từ nay, chữ có thêm nghĩa. Chữ và nghĩa. Chữ dùng giống nhau, nhưng nghĩa thì mỗi người hiểu một nghĩa. Rầy rà từ đấy mà ra.
Huyền thọai về việc xây tháp cổ Babel phải chăng là một bằng cớ báo trước về sự sa đà của ngôn ngữ, chữ nghĩa và đến cả số phận của nó nữa.(2)


*****


Trong từ điển Từ Việt cổ, nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà nội 2001 các tác gia Nguyễn ngọc San, Đinh văn Thiện cũng đã thu tập được gần một ngàn chữ cổ như các chữ vừa nêu trên..
Theo Thánh kinh, các con của ông Nô-ê (Noé, Noah) muốn xây một cái tháp ở Babel (Thành Babylone ) để tới được trời cao.. Chúa thấy sự cao ngạo đó nên muốn dẹp tan ý định ngông cuồng đó bằng cách tạo ra sự lẫn lộn và phức hợp của các ngôn ngữ. Quả nhiên ý định xây tháp không thành, vì mỗi người nói và hiểu khác nhau.


******

Số phận chữ nghĩa, cái sống, cái chết của nó là sống mòn, chết mòn, chết từ từ. Mỗi ngày của nó là một bước ngắn lại. Cả làng, cả nước đang dùng, vậy mà không đâu biến đi đằng nào.. Từ mòn đến là hay, nó gợi lên văn ảnh của một đồ vật mới đầu bóng loáng , sáng choang, mầu sắc rực rỡ, hấp dẫn người ta. Ai ai cũng mê, cũng nói, cũng dùng. Chữ trở thành thời thượng. Càng được dùng, càng nhiều người nhắc đi nhắc lại, càng phổ biến thì cái nguy cơ mất lúc nào không hay. Chữ vẫn đó, mà nghĩa đã mất dần . Cái xe chở chữ, lúc chở chữ này, lúc khác chở chữ khác, hoặc dán nhãn hiệu khác. Nó đã chở như thế bao nhiêu chuyến, đã thay hình đổi dạng bao nhiêu lần.
Nói như thế thì chữ mòn hay nghĩa mòn. Cái nào mòn trước, cái nào mòn sau. Chữ là cái chuyên chở nghĩa và một chữ có thể có nhiều nghĩa, tùy theo vị trí của nó trong câu nên nghĩa dễ bị mòn hơn chữ. Chẳng hạn , chữ cái và con. Chữ chỉ có hai, nhưng nghĩa thì nhiều lắm nên nghĩa lúc thế này, lúc thế khác. Cũng là con , nhưng con dao, con với cái, nhỏ con, con dại cái mang, con đĩ, cỏn con. Nhưng cũng không thiếu trường hợp cả hai đều mệnh yểu.
Chữ càng mòn nhanh nếu nó chuyên chở nhiều nội dung, ý hướng của người dùng.Tất cả tuỳ thuộc vào ý hướng người sử dụng.. Nhưng làm sao nắm bắt được ý hướng đó. Dĩ nhiên khó lắm. Vấn đề nay đã lây lan sang một chủ đề triết lý là : sự ngộ nhận, sự thông cảm hay sự bất lực trong việc tìm hiểu tha nhân mà các triết gia hiện sinh thường đề cập tới. Vì có dụng ý chữ nghĩa đôi lúc trở thành gian dối, lừa phỉnh và trong chính trị trở thành tuyên truyền. Một thứ bạo lực ngôn ngữ, một thứ vũ khí như con dao, khẩu súng. Chẳng hạn chữ Việt gian thời Việt Minh, hay chữ tay sai Cộng Sản thời bây giờ.
Với cái nhìn nhân bản thì chữ nghĩa có một cuộc sống , có dòng sinh mệnh, có thể mất, có thể còn, trôi nổi như đời sống một người. Nhiều chữ nay đã chết, nằm chôn vùi trong nghĩa địa của các Bảo tàng hay sách cổ. Nói ra cũng ngậm ngùi.
Xin trích dẫn một số chữ nghĩa làm bằng chứng về sự mất còn này. Trong lời mở đầu báo Nam Kỳ địa phận, số đầu tiên, năm 1907 có những câu như sau :
" Bổn báo kỉnh cáo, tòa báo đã ước ao cho con nhà Annam, đua nhau tấn tài, tấn đức, thông phần đạo, ngoan việc đời… Tờ báo có ý khai đàng văn minh cho nhân dân đặng tấn phát cho mọi bề, việc đạo việc đời đều thông thuộc."


Xin trích dẫn một đọan khác :

"Lời rao cần kíp. Bổn báo gửi cho mỗi người hai số nhựt trình đầu hết mà xem thử, như ai bằng lòng mua thì đem ba đồng bạc đến mượn cha Sở mua dùm.."

Trong một trả lời bạn đọc, chúng ta nghe thử lời rao sau đây :


" Bổn báo có nhận được một mandat của một ông nào đó không đề tên, không đề địa chỉ, nhưng yêu cầu gửi báo "



Tức cười thật. Nhưng 25 năm sau, trong tờ L'Impartial viết vào ngày 20-11-1929, ta thấy lối viết đã nhẹ nhàng thông thoát hơn :


" Sự giải phóng người Annam về phương diện thương mại và kỹ thuật chỉ là một huyền thoại."


Bạn đọc thấy có nhiều chữ được sử dụng cách nay một thế kỷ đã không còn được dùng nữa như bổn báo kỉnh cáo, nhựt trình, con nhà Annam, tấn tài tấn đức, khia đằng văn minh. Nhưng có nhiều chữ vẫn được dùng cho đến ngày nay như Chữ Cha Sở và nhất là những chữ khá chuyên môn cách nay 70 năm như giải phóng, phương diện thương mại và kỹ thuật, huyền thoại vẫn còn được dùng. Nhất là chữ Huyền thoại mà người viết có cảm tưởng là nó chỉ được dùng sau này trong Triết học Tây Phương mà thôi. Hóa ra nó đã có một nguồn gốc lâu đời đến thế.
Trong những chữ bị mòn, mất đi..ở trên. Vấn đề là tìm hiểu xem, tại sao chúng không còn được dùng nữa. Sự mất còn của một chữ trước hết là thói quen, rồi sự xói mòn, sự được dùng ít hay dùng nhiều, tính địa phương, sự sáng tạo của các nhà văn, nhà báo, dụng ý chính trị và cuối cùng là các cuộc di dân. Và đặc biệt nhất là cuộc di cư năm 1954 cũng là mục tiêu của bài viết này.

Phần 2. Cuộc di cư của chữ nghĩa.

Cuộc di cư năm 1954 không phải chỉ là vấn đề chính trị của một tập thể người chọn lựa một thể chế chính trị. Điều đó đúng nhưng không đủ. Một triệu người di cư chuyên chở theo cả một nếp sống văn hóa, phong tục, tôn giáo, cách làm ăn, cách suy nghĩ sinh sống, tính nết và cuối cùng cách ăn cách nói. Chữ nghĩa đã làm một cuộc di cư không tiền khoáng hậu trong lịch sử của người Việt từ Bắc vào Nam.
Khi lần đầu tiên tiếp xúc lại với chữ nghĩa miền Bắc sau 20 năm xa cách. Người viết có cái cảm giác sung sướng đến ngạc nhiên, đến bỡ ngỡ vì nhớ lại những chữ nghĩa tưởng chừng đã quên nay nhớ lại. Sau bao năm xa cách, hình như bắt lại được mình, nối lại được dĩ vãng thân thuộc, gần gũi. Chẳng hạn, lúc đọc nhà văn miền Bắc Vũ thư Hiên trong cuốn Miền Thơ ấu và nhất là cuốn Chuyện ở tỉnh lỵ, hay Tô Hoài trong O chuột (1942), Nhà nghèo (1944) và nhất là Cát bụi chân ai (1992), Nguyên Hồng, trong Cửa Biển, Nguyễn Tuân Người Lái đò trên sông Đà, Nam Cao với Chí Phèo, Đôi mắt. Nguyễn Khải với Mùa lạc. Lê Lựu với Một thời xa vắng. Và gần đây thôi Nguyễn khắc Trường với Mảnh đất lắm người nhiều ma. Họ, những nhà văn, đã làm sống lại từ trong mồ nhiều chữ mà người viết đã nghe, hoặc chính mình đã dùng và nay đã quên, đã không dùng nữa. Người viết cảm động như một khám phá, như một sưởi ấm lại ký vãng đã quên. Chẳng hạn thay vì nói, ông ấy bệnh nặng, sắp chết, hay ông ấy đang hấp hối, đã cấm khẩu, tay bắt chuồn chuồn. Nhưng hạ một câu : Ông ấy sinh thì rồi thì đã quá. Và cứ như thế dàn trải ra khắp các cuốn sách quê hương cũ tìm về, dấu chân kỷ niệm và niềm thơ ấu sống lại.
Chữ nghĩa như có hồn được vực dậy, thổi thêm sinh khí. Phần lớn những thứ chữ này có vào thời tiền chiến và gần như bị * đoạn tuyệt * vơi TLVĐ. TLVĐ chẳng những đoạn tuyệt với phong tục, nếp sống cũ mà cả với chữ nghĩa cũ nữa. Như vậy, song song với nhóm TLVĐ, vẫn còn sót lại một dòng văn học ngược chiều với nhóm Văn Hoá Ngày nay và cứ thế nó kéo dài đến bây giờ. Và một lần nữa, nó lại phải đương đầu với những nhà văn trẻ, thế hệ sau 1975, thế hệ sau cởi trói hay sau nữa Hậu Hiện đại.
Cũng một cách thức tương tự, người ta tìm thấy ở miền Nam với Nhóm Sáng Tạo đổi mới nội dung, giải phóng chữ nghĩa bằng cách sử dụng những từ có vóc dáng triết lý thời thượng. Bên cạnh đó có một dòng chảy văn học chữ nghĩa như khe suối nguồn, lau lách, rỉ giỏ giữ lại cội nguồn, giữ lại bản sắc của mình với Sơn Nam, Bình nguyên Lộc và đặc biệt nhất là nhà văn Lê Xuyên. Đây là một hiện tượng văn học có vóc dáng và đáng nể.
Nhưng chuyện phải đến đã đến. Càng đọc các nhà văn miền Bắc, càng thấy chữ nghĩa mất nhiều lắm. Đếm không hết, nói mấy cũng không đủ.


Luật của đa số


Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài. Coi vậy mà đúng lắm. Người mới đến phải vào khuôn, phải thích ứng, phải hội nhập. Sức ép của đa số buộc người mới tới vứt lại hành lý mang theo. Ngôn ngữ, tiếng nói phải vứt dầu tiên vì nó khác người ta quá. Tiếng nói là cái phải điều chỉnh đầu tiên. Phải vặn lại đinh ốc hàm dưới, điều chỉnh lưỡi, điều chỉnh tần số âm thanh ở tai, nhất là một thảo trình mới cho bộ óc. Càng ít, càng thiểu số, càng vào nhanh, càng giống khuôn đúc (4). . Cái mà còn giữ lại cuối cùng là giọng nói.
Thoạt đầu là các chữ chửi của dân miền Bắc vốn là sắc thái văn hoá bản địa. Đặc thù và cá biệt. Ai chửi hay và chửi có bài bản, có nghệ thuật, có vần điệu, ví von, có tay nghề bằng miền Bắc. Chửi hay như thế nên có kẻ làm nghề chửi thuê kiếm ăn. Chẳng hạn, trong chuyện Chí Phèo của Nam Cao, Chí Phèo chửi để lấy tiền uống rượu đến tay sừng sỏ trong làng như lão Bá cũng chào thua. Có những chữ nghĩa thuộc loại anh chị, chửi có tay nghề ở miền quê nghênh ngang lên tầu há mồm, coi ai chẳng ra gì. Vậy mà vào đến miền Nam gặp anh Hai ở cầu Ba Cẳng hay bến Tầu Sàigòn, chị Ba Cầu Muối, Chị Năm chợ cá Trần quốc Toản đành tắt tiếng. Các chị chữ nghĩa miền Bắc vẫn có thói quen đứng dạng háng, tốc váy, hoặc vỗ đồ bồm bộp đứng xo ro một góc khi nhìn thấy những thằng cha bự tổ trảng, cởi trần, cười thì mồm vàng choé những răng vàng. Không im tiếng sao được. . Tiếng chửi thề của tay anh chị miền Nam không có lời đáp trả. Tiếng chửi tục (5) biết thân, biết phận tan hàng.
Tất cả những tiếng chửi tục đủ loại đã có một thời khét tiếng tỉ như Tiên sư bố, tiên sư cha, tổ sư cha. Không bao giờ được nghe nữa. Chả bù với ở miền Bắc, nhớ lại các anh chị chữ nghĩa này chửi ra rả cả ngày, cả đêm không ai dám đụng đến.
Trong suốt 20 năm sống ở miền Nam, sống chung đụng với dân miền Bắc, người viết chưa nghe. Cùng lắm, nghe chửi trên Tivi vào những dịp tết.(6)

------------------------------------------------------------

Người viết đã sống một thời gian ở các vùng Dầu Tiếng, nơi mà dân Bắc vào làm phu cạo mủ. Nơi đây, không có một dấu tích dù là nhỏ cho biết họ là gốc Bắc nữa. Tiếng nói, giọng nói, cách ăn mặc, tập tục tan hòa loãng vào cái bản chất miền nam. Cũng không có tháp chuông nhà thờ, mái chùa, không có đình đám, không hội hè. Giải trí duy nhất của họ là lâu lâu một gánh hát vọng cổ ghé qua. Họ biến chất hoàn toàn.
Chửi là một phong tục, hay thói quen của người miền Bắc. Chửi trở thành một nghề như chửi thuê, khóc mướn. Vì thế chửi cần có tay nghề, chửi có bài bản, lớp lang, bới móc chuyện xưa cũ, nguyền rủa đến tam tứ đại. Đàn ông thường chỉ là văng tục, còn đàn bà chửi tục như một nghề. Một trong những người viết về phong tục người miền Bắc là ông Toan Ánh qua nhiều tác phẩm như Phong tục Việt Nam, Nếp xưa, Bó hoa Bắc Việt vv Rất tiếc, ông né tránh vấn đề chửi tục.
Giữa chửi thề trong Nam và chửi tục miền Bắc, theo tôi, có sự khác biệt. Người Nam chửi thề vô tội vạ, chửi bất cứ lúc nào, nhất là trong lúc nhậu nhẹt, lúc vui, chửi mà không nhằm đối tượng nào, nhất là không có dụng ý bôi nhọ. Người Bắc chửi thường nhắm đích danh người nào và thường trong lúc giận dữ, có dụng ý. Vì thế, tiếng chửi miền Bắc coi ra nặng nề hơn tiếng chửi thề. Lại nữa, chửi tục ở miền Bắc, sản phẩm của chế độ phong kiến

------------------------------------------------------------

Thứ đến các chữ liên quan đến bộ phận sinh dục, các hành vi liên quan đến chuyện sinh lý, bài tiết, đến chuyện ăn nằm giữa hai vợ chồng. Người Bắc có văn hoá cao, tránh cái thô tục không cần thiết nên đã có trăm cách, trăm lối diễn tả xa xôi, bóng gió được coi là tao nhã. Vào trong Nam dẹp hết tất tần tật. Cái nào ra cái nấy phân minh, đơn giản và vắn gọn. Đi cầu là đi cầu. Không bầy đặt hoa hòe, hoa sói. Cái đơn giản, cái thực tiễn không hàm ngụ, không gợi ý đôi khi lại thanh tao gấp mấy lần cái thanh tao thứ thiệt.

Tính chơn chớt , thật thà, có sao nói dậy đánh văng chữ nghĩa miền Bắc.

Bên cạnh chửi tục, người Bắc còn có lối nói mát, nói mỉa, nói xéo, chê bai cũng độc địa lắm. Chửi cha không bằng pha tiếng là vì vậy. Những lối nói này sử dụng trong những liên hệ, tương quan gần như người quen thuộc, người làng, người hàng xóm, bạn bè. Nó có nhiều cấp độ từ chê bai, khinh bỉ, trách móc, coi thường giận hờn, bực bội.. Nó chứa chất chút gì độc ác, bơi móc từ tính nết chi li từng cử chỉ, gia cảnh, cái nghèo, cái đói, cái bần tiện, rạch ròi từng cái dốt nát, cái ngu xuẩn, cái kém cỏi, cái độc ác của mỗi người.
- Tỉ dụ nói mỉa mai :


Cái mặt nó vác lên, trông nó đú đởn, ăn cơm hớt ấy, cho chó ăn. Thường sự mỉa mai nhắm vào sự nghèo khổ, sự ăn uống, vào tính nết, về phái tính và sự đe dọa.
- Về nghèo khổ :


Dân miền Bắc túng quẫn nên lấy cái ăn, cái uống làm đầu. Lúc giận rủa nhau cũng mang cái ăn uống ra mà nhiếc móc nhau kể cũng không lấy làm lạ. Tỉ dụ diếc móc người ta như : nghèo rớt mồng tơi, nghèo lõ đít, thí cho nó tý tiền, cứ gọi là đói vàng mặt, đói rã họng. Nghe những chữ diếc móc trên đôi khi đau lòng còn quá chửi. Vì thế, người đời mới sợ tiếng diếc móc đến cầm bát cơm lên ăn không nổi..Vì thế có tâm trạng khác nhau : Khi nghe chửi, ta thấy tức giận, khi bị diếc móc, ta cảm thấy nhục. Từ tâm trạng đó kéo ra hai lối phản ứng. Khi bị chửi, ta chửi lại hoặc muốn đánh trả lại, ăn miếng trả miếng trong tương quan bình đẳng và rất có thể tương quan bất bình đẳng, kẻ yếu chửi kẻ mạnh. Nhưng khi bị diếc móc, bị sỉ nhục thì tương quan lệch, kẻ trên-kẻ dưới, nên nạn nhân hầu như

------------------------------------------------------------

của một xã hội bất công, bị chà đạp, không có công lý. Không dễ dầu gì kiện tụng. Chửi là một bù trừ cho pháp luật, trả lại lẽ công bằng cho kẻ thua, kẻ mất, kẻ thiệt thòi. Dĩ nhiên, không thiếu trường hợp cha chửi con. Nhưng cứ lý ra, lý giải trên vẫn có cơ sở.

------------------------------------------------------------

không có đòn để đỡ, vì yếu thế không dám đáp trả, cam chịu ẩn nhẫn và cùng lắm nuôi hận trả thù. Cho nên, về mặt tâm lý, bị diếc móc vẫn đau hơn bị chửi. Thông thường những người có văn hoá, những người có địa vị, ở trên người khác có giáo dục thường ít chửi mà nói diếc, nói móc, nhẹ hơn là nói bóng , nói gió..(7)



Về tính nết :


Phải quen biết, phải qua lại mới biết nhau, biết từ chân tơ kẽ tóc, đến lúc giận hờn thì mang tính xấu người khác ra rủa. Chẳng hạn rủa : mắt ông viền cải tây rồi, đồ thông manh, trông vậy mà đáo để ra phết, đồ ông mãnh, cứ giãy .. lên như đĩa phải vôi, nhanh nhẩu đoảng, lanh cha lanh chanh. Tất cả những lối nói trên đều dựa vào một sự vật, vào một biểu tượng cụ thể có thật để gợi lên một ý tưởng xấu. Biến cái cụ thể thành một ý niệm trừu tượng(8)
Cả một nếp sống văn hóa, truyền thừa, kinh qua kinh nghiệm mới nhận ra cái tế vi, cái dị biệt mà biên giới nghĩa chỉ cần xảy chân một cái là dùng sai, hiểu sai. Xử lý đúng chỗ, đúng trường hợp hẳn không phải là dễ. Đồ thông manh thì nặng hơn mắt ông viền cải tây. Đồ cám hấp thì nặng hơn đồ dở hơi. Đồ láu cá láu tôm thì nặng hơn đồ ông mãnh. Nói không đâu vào đâu thì khác nói chua như giấm. Cân nhắc vụ việc, đánh giá từng trường hợp, xử lý người – việc – rồi dùng từ.. thích đáng.

------------------------------------------------------------

(7) Tùy theo trường hợp, còn những chữ diếc móc tuỳ thuộc cấp độ nặng nhẹ tùy thuộc rất nhiều vào tình huống, vào giọng nói, và nhất là vào người nói. Có những điều rơi vào miệng người này nó nặng trở thành chết người, nặng như búa bổ. Nhưng ở người khác thì lại chấp nhận được. Chắc là nhiều người đã có kinh nghiệm mấy bà mệnh phụ gốc Bắc, chỉ cần bà khen chê, kéo lê cái giọng thưỡn thẹo mà người viết ở đây đành chịu không cách chi mô tả cho đúng được. Cứ thử rồi biết. Chẳng hạn : ăn phải đũa nhà người ta, đồ ăn bám, thứ đó được mấy nả, theo voi ăn bã mía, có khối nó chịu nhả cho đấy, đồ đi bòn của, đồ tha phương cầu thực. Cho ăn uống ở nhờ đến lúc canh không lành cơm không ngọt thì rủa : ăn mòn đũa mòn bát nhà người ta, ăn chậm như sên, bà ấy nói như móc họng đến gần phải mửa cơm ra mà trả lại, thôi thì cũng phải vắt mũi đút miệng, được bữa hôm lo bữa mai. Tất cả những lối diếc móc, nói bóng nói gió chẳng hiểu bằng cách nào chúng biến mất. Người viết cũng không hiểu tại sao nữa.


(8) . Con đĩa giẫy trở thành ý niệm cứ quýnh cả lên. Và cứ như thế có những chữ khác cũng theo quy trình đồ vật – ý niệm như : đồ nỡm, thằng nỡm, đồ giở quẻ, nó cứ trêu ngươi, dấu như mèo dấu cứt, cứ ngồi chầu hẩu ra đó, tưởng kín bưng kỳ tình ai cũng biết, nói chua như giấm, chua lòm lòm, nói không đâu vào đâu, không có đầu cua tai nheo gì, thằng đó ba lăng nhăng, chẳng đâu vào mới đâu, làm gì cũng lau cha lau chau, đồ láu cá láu tôm, cứ lững tha lững thững, đứa nhãi ranh, vênh vênh váo váo.

Chữ theo voi ăn bã mía gợi lên một văn ảnh rõ rệt : theo đuôi chỉ ăn đồ thừa, đuôi thẹo. Các chữ như : chỉ đâm ba chầy củ, đồ láu cá láu tôm, vênh vênh ngậu xị lên, đồ cám hấp, ngu như lợn, đồ miệng năm miệng mười, đồ dở hơi, quá thể lắm, đồ phải gió ở đâu, chuyên môn nói kháy, nói leo, cái giống nhà mày, thứ đó được mấy nả, trốn như trạch, đồ thông manh, đồ ông mãnh, đồ đi bòn của. Mỗi chữ đều gợi lên một văn ảnh và không chữ nào giống nghĩa chữ nào .

------------------------------------------------------------

Tất cả đòi hỏi sự khôn ngoan, tính toán và trải đời. Đó là thứ văn hoá chửi mà không ăn mòn bát mòn đĩa ở miền Bắc không hiểu thấu đáo được. Vào đến miền Nam sau này, người dân miền Nam với nếp sống giản dị đã trấn áp người miền Bắc, quy kết là khôn ranh. Bỏ đi Tám. Đù má, nói gì thì nói mẹ nó đi cho rồi, vòng vo tam quốc hoài, mệt quá. Vậy là phải dẹp cái thói xỏ xiên, văn hoa chữ nghĩa. Người miền Bắc di cư chỉ có mỗi một con đường trong lối sống và cư xử mới là dẹp bỏ tất cả những từ chửi bới, diếc móc ở trên. Vì thế, mấy ai còn nhớ đến những lối diếc móc trên.


- Về phái tính :



Người phụ nữ miền Bắc vốn là nạn nhân của nhiều thứ, của đủ thứ đến cái gì xấu đích thị là của phụ nữ. Đến cái gì khen thì thật sự cái đó có lợi cho đàn ông. Khen tứ đức tam tòng là lời khen chết người, buộc chặt, trói chân người phụ nữ thành tên nô lệ không công. Khen tiết hạnh khả phong là lời khen trớ chêu nửa khóc, nửa cười. Khen trinh tiết làm đầu là một lối khen họan, khen thiến không hơn không kém, chẳng khác gì hoạn quan. Nói tách bạch ra, con C… là chúa, là vua.


Nhưng những lời nguyền rủa quả không thiếu mà có thừa. (9)

------------------------------------------------------------

(9) Những lời nguyền rủa cũng lấy nữ giới làm đối tượng, mà đặc biệt do chính đàn bà rủa đàn bà. Quan niệm trọng Nam, khinh nữ của thời phong kiến tồn tích lại đẩy xô thân phận phụ nữ thành một phụ phẩm thấp kém, hèn hạ dựa trên những thói đời bất công, dựa trên nền đức lý hủ lậu giả hình, man trá đẩy họ xuống đất bùn. Chẳng hạn có những câu diếc móc nhẹ nặng đủ thứ, đủ kiểu xuất phát từ tâm địa độc ác, hận oán : người đâu có thứ người..sáng bảnh mắt còn nằm trương xác ra. Đàn ông nằm đến bảnh mắt thì không sao cả. Dậy muộn cũng là một tội lỗi. Hoặc nặng hơn nữa : đồ thối thây, nó bơi tro trát trấu vào mặt, con gái con đứa, cô ấy cong cớn, những cô này mới nứt mắt nảy nòi mà sao giống những mụ nạ dòng già đời, da dẻ nó hon hỏn thế này. Tất cả đều nhắm vào phái tính hay đĩ tính : õn à õn ẹo, đanh đá lắm cơ, một cô gái giăng hoa, một lũ lĩ con gái, chửa buộm ( chửa với người khác không phải với chồng), chó dữ mất láng giềng, dâu dữ mất họ, mẹ cái hĩm, con bé tình ra phết, mà phải biết là đỏng đảnh.



Chưa chồng có cái khổ riêng lại thêm cái khổ của miệng lưỡi thế gian : Già kén kẹn hom . Ăn mặc lơ đễnh một chút cũng khổ : cái yếm xẹo xọ để trật ra cái sườn nây nẩy, cái người đàn bà dại dột đã nằm ềnh ệch ra đấy, nói dại nếu mày chửa thì ăn nói làm sao, cái yếm cổ xây thật trắng, cái quần lụa buông chùng xuống tận gót, ăn bận sang đến cô đầu cũng không ăn đứt, nó nhân tình đến trăm thằng, bọn lý dịch chẳng anh nào không thậm thọt ra vào nhà nó, nó mặc áo cánh xát xí, nào yếm vải phin, nó tơ tuốt ghê lắm (diện). Diện cũng chết mà không diện cũng chết : chết nỗi không tơ tuốt, chồng nó chê, con đó phải lòng thằng khác, nó chỉ nhong nhóng suốt ngày, cơm bưng nước rót đến tận mồm, nó lẳng lơ và nhẹ dạ, hai con rồi mà vẫn còn trẻ mau máu, trai làng hay chớt nhả và bẻm mép, cô gái mỏng mày ngày xưa bây giờ là đàn bà sồ sề, cô ấy chúa đời là khỏe.Thiệt là khổ. Khổ đầu, khổ đuôi, khổ trên , khổ dưới, càng dưới càng khổ.

Edited by user Wednesday, April 29, 2015 6:38:03 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#147 Posted : Wednesday, April 29, 2015 6:37:22 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Phần II

Tôi muốn đứng ra, nghểnh cao cổ, hò hét bênh đàn bà cũng không được. Vì tìm đến nửa ngày cũng không kiếm đâu ra chữ để chửi bọn đàn ông. Thử xem nào : đồ đàn ông đĩ ngựa. Nghe không ổn . Đồ lẳng lơ. Cũng không nghe ra tai. Cuối cùng tìm ra được vài chữ đáng đời : Đồ súc sinh và một chữ dấm da dấm dớ : Đồ cha căng chú kiết. Thật đến là tức, tự nhiên xổ ra được một lô chữ cho hạ hoả : đồ du côn du kề, đồ ăn mày ăn xin, đồ gì nữa nào.. đồ lính tráng. Cái may của phụ nữ miền Bắc là vào đến trong Nam, họ đã không bao giờ còn bị ai diếc móc như thế nữa.

Than vãn hay dọa nạt :

Đã nói thì phải nói hết. Bên cạnh đó, ở mức độ chừng mực vừa phải dễ dung nhận được là các lối nói than vãn, hăm đe. Trong lối nói này, người ta tỏ ra một oai quyền, một sự khôn ngoan già dặn, một sự từng trải, sự hiểu đời, cái hơn người. Chẳng hạn : Các người đừng có vội tí ta tí toét, cứ ỉm đi, cứ im thin thít, thời buổi nhiễu nhương, trắng đen lẫn lộn, hơi đâu mà, có dỗi hơi, kêu giời kêu đất, tôi vội vàng mát mẻ nói, đừng có bắt bí nhau, liệu cái thần hồn, bà truyền đời cho mà biết, cứ tẩn cho nó một trận đến lòi tù và ra, vả vào miệng cho tôi, cái giống nhà mày, không có tao thì cả họ mày ăn bùn, nó bôi tro trát trấu vào mặt, mấy đứa kia thì đáng vật một nhát cho chết, nó lo xanh mắt và thức suốt đêm, hừ ngỡ là gì, hóa ra hắn nằm vạ, (10) giận cá chém thớt, bà truyền đời báo danh cho mày biết, tôi biết tỏng tòng tong trong bụng ông nghĩ gì, chớ nói gở nó vận vào mình, e xúi quẩy đấy.


Người miền Nam nghe những câu trên là sùng rồi :


rắc rối tổ mẹ, cái gì mà ví von qua không hiểu. Qua nói thiệt, qua có sao nói dzậy. Còn mấy cha nội, nói dzậy mà không phải dzậy. Có ngon ra đây, kiểu gì qua cũng chơi ráo trọi. Kiểu gì nó cũng chơi thì né đi cho được việc, giở sách thánh hiền ra đã có câu thánh dậy : tránh voi chẳng xấu mặt nào.


Phong kiến qua lối xưng hô bị dẹp bỏ.
Có lẽ không ở đâu, không ở nước nào cách xưng hô lại phức tạp lầy nhầy như miền Bắc. Mới đây, trong một chương trình Vidéo, người viết thấy một cô ca sĩ trẻ được người điều khiển chương trình phỏng vấn.. Lúc phải trả lời, cô lúng ba, lúng búng, vì không biết phải xưng bằng anh, chú, bác hay nhà văn với người điều khiển chương trình. Bác có vẻ già quá, anh thì có vẻ hơi sỗ sàng. Ông thì xa lạ. Cậu tớ thì xấc quá. Trong cái cách học ăn, học nói của người Bắc thì bài học vỡ lòng là học cách xưng hô. Trẻ con nào mà không được bố mẹ dạy phải xưng hô tùy theo tuổi đã đành, theo quan hệ họ hàng, theo chức vụ và theo xã giao nữa.

------------------------------------------------------------

(10) Tục nằm vạ là một tục lệ đặc biệt của miền Bắc. Bùi Hiển đã viết một cuốn chuyện về vấn đề Nằm vạ này. Chí Phèo của Nam Cao cũng đã ăn vạ để bắt bí nhà giầu.

------------------------------------------------------------

Những tiếng thầy bu, thầy u, thầy đẻ, thầy me, cậu mợ, đằng ấy, cậu tớ, người nhớn, con nọ, con kia, huynh, đệ, quan bác, thằng cu, con đĩ, mẹ đĩ nhà tôi, nhà con, ông mãnh, thằng trời đánh thánh vật, thằng chết băm chết bằm tùy trường hợp mà dùng. Nhưng bắt chước người Tầu, ta còn có chữ Gia phụ, Gia Mẫu, Gia Huynh, chỉ bực bề trên hay xá đệ, xá muội chỉ bực dưới. Bấy nhiêu lối xưng hô vào đến miền đất mới như lạc lõng , thi nhau bị "cáp duồn" hết. Không ai nói nữa. Do sức ép hay do tự mình cảm thấy lỗi thời, thấy dởm, thấy cầu kỳ, thấy rắc rối, thấy "không giống ai" thấy cần phải bỏ. Có lẽ thấy cái không giống ai là lý do của sự ra đi không trở lại của các cách xưng hô trên.
Các chữ dùng để gọi, xưng danh quan tước chức sắc cũng nhiều lắm. Cũng phiền lắm. Nhiêu khê lắm. Không xưng đúng danh phận, có thể bị trách, bị giận, bị trù ếm nữa(11). Nhiều không đếm xuể. Hầu hết, việc hài chức vụ có dụng ý, tâng bốc nịnh nọt. Nó đã dần biến mất khi vào đến trong Nam. Nó biểu tỏ một xã hội phong kiến, đẳng cấp, trên dưới không thích hợp ở miền Nam. Người dân miền Nam cũng là di dân, có cái may mắn không thừa hưởng di sản của một xã hội phong kiến, hủ lậu. Xã hội đó lo kiếm miếng ăn, làm giầu, không nghĩ đến chữ nghĩa thánh hiền, cũng chẳng bận tâm đến kẻ trên người dưới.. Xã hội vừa ổn định, chưa mọc ra những mầm mống của thứ ổn định kiểu trên đè dưới, quan lại, thứ dân, giai cấp thống trị. Làng xã mở toang, không hàng rào vây kín.. Xã hội cũng mở toang mọi phía mà dân là chính, dân là chủ. Sự xưng hô vì thế giản tiện và tuỳ tiện, đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Ba má thì là ba má. Khi cần gọi chung là ông già bà già. Nội việc xưng hô cũng thấy miền Nam đuợc cởi trói nhiều theo tinh thần tự do, dân chủ. Người Bắc từ xa tới, lẽ nào không thấy cái hay đó. Lẽ nào không theo, tự ý theo. Để gọi một người ở, người trong Nam chỉ gọi chung chung là người làm, vừa giản dị, vừa không có khinh miệt, rẻ rúng. Vì thế, nếu còn ai gọi cụ đốc thì thay vì là một trân trọng, nó đã biến thành trò cười, mai mỉa. Hóa cho nên, chữ nghĩa có cái thời của nó, thời để sống và thời để chết.(12)

------------------------------------------------------------

(11) . Người Hànội có một thói quen khá kiêu sa (Theo Vũ ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại) là thay vì gọi tên một người, họ lại hài chức vị người đó ra mà gọi. Gọi như thế vừa là cách vinh danh người được gọi. Phần người gọi cảm thấy hãnh tiến vì có quan hệ quen biết với người được gọi. Chẳng hạn : ấy quan đốc nhà tôi, hay ngon hơn nữa : ấy anh Huyện X. Chữ nhà tôi, tự bầy tỏ cái huyênh hoang , hãnh tiến, thấy sang bắt quàng làm họ. Thật đáng ghét.. (12) Đã là đốc học, đốc tở mà còn kèm theo chữ cụ hoặc chữ quan nữa thì rõ ràng là xu nịnh : quan đốc tờ, quan đốc học, cụ Nghị, cụ Hàn, cụ cử, cụ ký, cụ Thượng, cụ Tú, thầy đội xếp, thầy cai, cụ lang ta, cụ bang tá, thầy quản, anh Khóa, anh cung văn ( thư ký riêng của các gia đình giầu có), thầy đồ, sinh đồ hay cống sĩ, quan hiệu, quan châu, quan phủ doãn, hiến ty, dề điệu, quan thừa sứ, ông Hiến binh, ông Trùm, ông Chánh trương, ông hậu, ông Hàn, ông cửu, cụ Thượng, ông Lý, cụ Chánh.

------------------------------------------------------------

Cách làm ăn có khác, chữ nghĩa cũng đổi khác


Cũng là xứ nông nghiệp, nhưng cách làm ruộng, cách sinh sống cũng khác miền Bắc nhiều lắm. Chữ nghĩa cũng vì thế cũng đổi theo. Rất nhiều chữ, từ miền Bắc , vào Nam không ai dùng nữa, vì đời sống kinh tế, xã hội đã thay đổi. Nghề hàng xáo ( xay giã gạo. Trong Nam không có nghề này ), Ruộng chân nhất đẳng, nhị đẳng, ruộng mật điền (Ruộng tốt nhất ) gian buồng, khóa dãy, rau muống lợn, đi đong gạo, dậm lại mái nhà, hòm gian ( Hòm to để đựng đồ trong nhà ), nhà pha (nhà tù), nhà giây thép, xe hòm ( Xe hơi sang trọng ) ngày con nước, đi lưới, cái niêu, nồi đất, chỉnh dầu, rổ rá, dao quay, dao nhựa, một bồ, vuông thóc, giây lạt, dùi đục, cái cũi, đóng cũi, cái cưa xẻ, cái gáo, cái chum, cái lọ độc bình, cái phên nứa, bát chiết yêu, đi bể ( biển), tậu 3 mẫu ruộng, vác thúng, đèn măng xông, cái lồng ấp, cái hỏa lò than. Chữ sau đây cũng xưa lắm rồi, nhưng đến là hay : nhà xí. Nay thi nguời ta văn minh hơn gọi là nhà vệ sinh, trong Nam gọi là nhà cầu, siêu đun nước, cái áo quan, cái nhị tẩu ( tẩu hút thuốc phiện), khay đèn, quạt lông, tràng biên (thân thế một người), đèn ló, cái sập, cái phản, quần nái (quần dệt bằng một thứ hàng tơ tầm sợi thô, nhuộm đen), cái bình phong, con thò lò, đỉa phải vôi, giọng kẻ bể, cái trõng che, cót lúa, một bồ, vuông thóc, gạch bát tràng, gạch lát bổ cau (Lát xiên và dựng nghiêng viên gạch ) gạch vồ, cái mả , rồi có cải mả, đề lao, cái lọ. Tỉ dụ : xách hai cái lọ đi kín nước. Chữ kín nước nghe thật hay, nhưng cũng ít được ai dùng tới nữa. Cái màn (mùng). Rồi từ đó thay vì nói đi ngủ, người ta còn nói vào màn . Thợ ngõa.

------------------------------------------------------------

Những chữ dùng để chỉ kẻ hầu người hạ đã tùy hoàn cảnh mà thay đổi. Trong nhà đạo, khi dùng chữ Kẻ tôi tớ chỉ là lối nói khiêm tốn của kẻ bậc dưới với kẻ bậc trên như cuối lá thư thường viết *kẻ tôi tớ hèn mọn *. Chữ con nhài, nàng hầu tương đối lâu đời nhất được dùng trong các nhà quan. Sang đến thời Pháp thuộc có chữ con sen, chị vú, anh phu xe, rồi anh tài xế.. Những chữ để chỉ việc gái chời bời như : đi nhà thổ (me dông de te ), nhà chứa, me tây, làm đĩ..Trong Nam giản dị gọi chung là Gái điếm. Những chữ chỉ nhà nó ( chỉ vợ hoặc chồng). Chữ người (chê bai). Nguời khó tính lắm ạ đòi phải mua rau lấy Người mới xơi được ( trích trong Chiểu Chiểu của Tô Hoài ). Quan anh ( ý nịnh bợ) có tắm không, mở bôn chục trai nước suối Viten đổ vào thùng rồi pha nửa chai cô lôn để cụ giội lại, dọn cái buồng Thổ Nhĩ Kỳ để chớp bóng đấy nhé (Trích Giông Tố của Vũ trọng Phụng ). Thêm một chữ cô ả cũng mất tiêu không ai dùng nữa. Một số chữ của nhà đạo cũng không được dùng nữa : Thầy cả, cụ, cố, thầy kẻ giảng, ông bõ. Nam Cao đã viết riêng một chuyện nhan đề : tư cách mõ. Nhà văn cho biết tại sao gọi là mõ, rồi lềnh, rồi Sãi. Chữ ông Trùm, ông Chánh Trương cũng không ai dùng nữa. Một số chữ bên Phật giáo như ông Bụt, ông sư, ông vãi, bà vãi, chú tiểu cũng ít ai dùng nữa. Có nhiều người muốn phục hoạt lại chữ Bụt, ông Sư như chủ trương của thầy Nhất Hạnh.

------------------------------------------------------------

Người miền Bắc chân lấm tay bùn, làm ăn vất vả. Miền Nam, ruộng thẳng cánh cò bay, làm chơi ăn thật. Đi mút mùa lệ thủy không thấy nhà thấy cửa, nhất là không thấy tháp chuông nhà thờ, không thấy đình, thấy chùa. Cái nhìn về con người, về đời sống, về cách sinh hoạt làm ăn của người Bắc đã đổi khác. Chẳng mấy chốc cái ngậm ngùi lúc ra đi nay quên hết. Cứ gì chữ nghĩa bỏ quên, đất lề quê thói, phong tục, tập quán, đạo nghĩa cứ thế mà rơi rụng dần dần. Thay vì so đo, khép kín, bảo thủ, giữ lời ăn tiếng nói, giữ phép nhà bắt đầu buông thả. Thay vì chiếu trên , chiếu dưới, có phép có tắc.. nay ăn nói thả giàn, chả kiêng nể gì nữa. Con gái, con đứa nay tụm năm tụm ba đàn đúm, hát xướng, thích thì ra rặng trâm bầu tán tỉnh, mọi chuyện hạ hồi phân giải.

Thành trì cuối cùng :
văn minh miệt vườn đối đấu với văn hóa miền Bắc.

Người miền Nam,
chữ nghĩa chỉ vừa đủ dùng, nếu không nói là còn sơ sài lắm so với miền Bắc. Nó là thứ văn minh miệt vườn không đủ để ba hoa trên trường văn trận bút. Cái điều đó đã được nhà học giả Phạm Quỳnh nhận xét một cách khá bất công trong cuốn Một Tháng ở Nam Kỳ :
"Chữ Quốc ngữ thì đã thông dụng lắm rồi, đàn bà con trẻ thường biết đọc, biết viết cả.. Nhưng đến văn Quốc Ngữ thì xem ra cái trình độ Quốc Văn đại để hãy còn kém"


Nhận xét đó, có lẽ người trong Nam chả bao giờ quên và thành kiến đó người Bắc cũng chả bao giờ thay đổi. Cho đến giờ phút này, cái văn minh miệt vườn đó, cộng với 20 năm văn học miền Nam đến sau 75 vẫn chưa được nhìn nhận.(13) Thành ngữ hay lối nói miền Bắc là vốn liếng ngôn ngữ của một dân tộc. Nó tích lũy, thải loại kết tinh những đặc thù, những sắc cạnh của ngôn ngữ, của vốn liếng hiểu biết truyền thừa. Nó không thừa, không thiếu, nó vừa đủ. Nó được sử dụng trong đời sống hằng ngày như kim chỉ Nam, nó đưa ra những tiêu chỉ đời sống, phán xét, nhận định phải trái tốt xấu. Nó là thứ ngôn ngữ đã được đãi lọc, được truyền thừa của sự khôn ngoan, thu gọn lại. Phải là người địa phương, nhuần nhuyễn sắc thái văn hóa bản địa mới có thể sử dụng đúng cách, đúng trường hợp. Người ngoại cuộc, nhất là người ngoại quốc, dù có ở lâu năm tại đất nước đó,

------------------------------------------------------------

(13)Trong cuốn Chân dung và tác phẩm của Trần đăng Khoa, cuốn sách phê bình Văn học . Không một chữ đả động đến các nhà văn miền Nam. Mới đây nhất, qua giới thiệu của T.S Lê văn hảo, có bộ Tổng tập Văn học VN, dày cả vài chục ngàn trang. Đã có phần dành 4000 trang cho VH Cách Mạng rồi, chỗ đâu cho những mảnh VH khác.. Bao giờ cái mảng VH miền Nam mới được nhìn nhận trong cái khung của một thời kỳ đi khai phá, có những nét đặc thù, bất chấp những tiêu chuẩn khách quan của Văn học. Vấn đề là nó có mặt, ở một thời kỳ nhất định, có những sắc thái cá biệt. Vậy đủ rồi

------------------------------------------------------------

chưa dễ giầu gì nắm bắt được tình ý, nội dung hàm ẩn của những thành ngữ đó. Miền Bắc, cái nôi văn hóa lâu đời cả nước giầu dân tộc tính nhờ những lối nói, lối viết đó. Nó chuyên chở cả thời kỳ 1000 năm thủ đô Hànội, văn hoá Thăng Long, văn hóa cho cả nước với không biết bao tên tuổi lẫy lừng. Nó không phải tự cao rao, quảng cáo vô bằng. Người và chứng tích văn học còn đầy ra đấy. Viết ngàn trang giấy cũng chưa đủ.

Vậy mà lên khỏi tầu há mồm, cập bến Nhà rồng.. Tất cả những thứ đó đổ xuống sông hết. Bài chiếu Lý công Uẩn dời đô không lẽ mang ra dọa .. Lý Thường Kiệt, bà huyện Thanh Quan cất đi cho rồi vì chóa mắt với xe cộ chạy hà rầm.. đường phố rộng thênh thang, tấp nập người qua lại, xe gắn máy ba bánh nổ bành bạch điếc con ráy. Xe thổ mộ lách cách vui tai thong thả dời chợ Bến Thành đi Ngã Ba ông Tạ, hay đi chợ Bà Chiểu. Chú lái xe thổ mộ ngồi nghiêng bên thành cán xe ngựa thò chân xuống đất, mồm kêu toóc toóc như dục chú ngựa ráng tý nữa, ráng tý nữa đi cưng. Hoa trái bầy la liệt mua một chục ê hề đủ loại. Bà bán hàng ra giá mua một chục có đầu., nghĩa là chục có thể 11, 12 đến 13, 14 trái tùy theo thỏa thuận. Nội thế thôi, mua bán kiểu kỳ cục Nam Kỳ cũng thấy đủ sướng rồi.

Thật đến là kỳ lạ cái xứ Nam Kỳ. Chẳng ai bảo ai, ngay cả đám sĩ phu Bắc Hà, đám trí thức thành thị cũng rứa. Quên hết chơn, hết chọi.. Câu chuyện văn hóa ngàn năm chẳng chống đỡ nổi một ngày.

Người Hà nội, người di cư có văn hóa cao, hoặc các nhà văn thường sử dụng chúng một cách nhuẩn nhuyễn trong lúc giao tiếp, viết lách. Nói văn hay chữ tốt, nói có văn hóa đương nhiên phải biết sử dụng thành ngữ đó, lối viết đó như một thuật ngử, nói ít hiểu nhiều. Miền Bắc có những nhà văn tiêu biểu sử dụng vốn liếng các thuật ngữ này như Trần Tiêu, Vũ trọng Phụng, Tô Hoài, Vũ Thư Hiên, Nguyễn khắc Trường. Đọc họ cũng lý thú lắm.

Vậy mà chữ nghĩa đó vào đến trong Nam đã bị gạt , thải loại không chừa một chữ nào. Không muốn nghe, nghe thì gạt đi, muốn nói cũng không được.. Nói ra thì nó đớ đờ đờ. Có duyên, được kính nể ở ngoài Bắc, trong Nam trở thành vô duyên, không ngửi được. Đã thế, chữ nghĩa để có cơ tồn tại, nếu nó được các nhà văn dùng..thì đỡ biết mấy. Chính các nhà văn di cư vào Nam như nhóm Sáng Tạo cũng quăng thùng rác không thương tiếc. Chúng bơ vơ , lạc lõng , đầu đường , góc nhà, góc phố, nơi từng nhóm người rồi biến dạng. Không có đám ma. Không kèn không trống. Cái này không phải hoàn toàn lỗi người bản địa mà chính tại người dân du nhập không muốn giữ. Hình như có một thói quen xấu, có mới nới cũ.. Ít ai muốn nhắc nhở, bàn , viết về những chói sáng văn học miền Bắc.

Có lẽ cái mất lớn nhất của dân di cư là mất lối nói, lối viết, nếp sống văn hoá thành ngữ đã bị biến dạng. Nếu còn một thứ văn hoá gì là thứ "Văn hóa chảy" Chảy tuốt luốt. Với cái độ nóng trung bình 35 độ, cái gì cũng có thể chảy được. Bù vào chỗ đó, họ phải đi tìm một hướng viết mới, mới có nghĩa là khác với tiền chiến, khác với Tự lực Văn đoàn. Mới thực sự thì chưa biết là thế nào, chưa biết hình thù nó ra sao, nhưng điều rõ rệt là dứt bỏ truyền thống, cái cũ, trong đó có các thuật ngữ cũ của miền Bắc.. Họ không thích ngồi lau đồ đồng, đánh bóng chữ cũ mà đùa cợt mầu mè, son phấn với chữ nghĩa cho là mới, kêu rổn rảng, lặp đi lặp lại đến lập dịõ. Chữ nghĩa đó mà phần đông họ nói để họ nghe hoặc dành cho một thiểu số trí thức thành thị vốn chẳng đại diện cho cái gì, ngay cả cho chính họ. Chữ nghĩa đó gặp lần đầu thấy lạ thì muốn làm quen. Quen rồi thì chán ngấy muốn lỉnh , vì chẳng nói được điều gì. Chính ở chỗ đó, chữ nghĩa văn minh miệt vườn trở thành nhu cầu tinh thần của đa số dân miền Nam. Cả cái văn hoá miền Bắc đưa vào bị cháy rụi chỉ còn trơ lại ít cột kèo đen thui. Không ai đếm xỉa đến nữa.

Phần người viết, bắt gặp lại nó thấy gần gũi như người bạn cố tri lâu ngày gặp lại. Tự nhiên chẳng khác gì thấy người bạn đầy những tính tốt mà trước đây đã không lưu ý tới. Phải nói nó hay lắm, đượm mầu sắc dân tộc, quê hương, xứ sở

------------------------------------------------------------

(14). Chẳng hạn : Nó tẽn tò, sợ vãi đái, nhịn như nhịn cơm sống. Mấy từ này lâu lâu gặp một bà Bắc kỳ đặc dùng lại nghe cũng sướng cái lỗ tai. Ăn uống vốn là lẽ sinh tồn của nguời dân Bắc nên được sử dụng tràn lan như : ăn phải đũa, ăn cơm khoán, ăm cơm tứ chiếng, ăn chực, ăn ba vực như trong câu : ăn chẳng bao nhiêu, ăn vạ hay nằm vạ. Tuyền là thứ đặc sản cả. Quý lắm đấy. Thứ thiệt, thứ ròng chính hiệu con nai. Nào là bữa lưng bữa vực, rồi bà thổ ra, chả mấy khi, thế mà cấm khinh người, ông ta chúa pha trò, ông bỏ lỗi cho tôi, tôi nói khí không phải, khắc xong. Mấy từ này dùng đến là đắc ý. Nó đứng một mình thì chả có gì đáng nói, nhưng nó đứng trong toàn cảnh một câu nói thì thật hay. Khí không phải vừa có vẻ nhún nhường, nhưng đầy thách đố và sẵn sàng đối đầu không thương nhượng. Này, lại tiếp một lô chữ nữa ghi lại kẻo quên : Con đàn cháu đống, ốm thập tử nhất sinh, cứ chõ mồm vào, le te chạy vào, bà đã mà cả mà cập, rõ mồn một, việc lớn ta tính theo việc lớn, còn việc thỏn mỏn trong nhà tôi thu xếp khắc xong ( trích trong Những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi ) Về muộn mấy, vào chơi cái đã nào, người chết như ngả rạ, quái nhỉ, quái nó đi đâu, tối bức như lò than, người con gái trắng lôm lốp, ra sự rằng mình dỗi, giãy lên như đỉa phải vôi, ngã lộn tùng phèo, lớn phổng phao, con đi đằng này, đằng này là đằng nào, trả lời mà như không trả lời ( Không cho biết là đi đâu, có ý dấu, có thể là nói dỗi) u hỏi làm gì những việc ấy, mặc con, không đủ mặc thây, cái đám ma cũng đường trường lắm, con đẻ rứt ruột ra còn thế, lời chửi rủa thì bao giờ cũng thừa bứa tứa tát, thở rít lên như tiếng bễ, gà gà mắt lên như người say thuốc lào, nhà cũng hoàn cảnh lắm ( Chữ này có thể là chỉ được dùng sau 54), khối anh, ông đã diện oách, một tay bốc trời, nói khe khẽ, cô suýt bật cười, nào bác cả ra đây, đàn ông đàn ang có biết gì đâu, giặt giũ cơm nước chợ búa, trêu ngươi ai, cài toang xong ( đóng cửa truồng trâu ), ngã xiểng liểng, nó khó bảo, đi đong chịu, khi cần tiền vẫn giựt nóng, cái ngữ đó, cái cơ ngơi, Nói đến hơi hướng cái danh ông Dề, tao úp được con chó rồi, đi húi tóc, ra sự rằng mình dỗi, đi ở trọ, mẹ hờ con ( ru con, chữ cũng hay lắm đấy chứ ) suốt đêm, giã đám (rã), tuổi mụ, cầm bằng ông ta mà giận không che chở cho nhà ta để nhà binh Nhật xung công tất cả thì cứ xung công ( trích trong Cửa Biển của Nguyên Hồng ), nhưng nay mới tường mặt ( rõ mặt ), hàng bồ chuyện, bồ chữ, kíp thợ, đi đóng đáng, ( Trích những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi ), xách ná thun đi bắn nó, làng vào đám, thổi mòi rơm, trâu làng tôi mót đâu ỉa đó, chú Lựu quẩy hai gánh đi mót cứt trâu trên đường. Hai chữ mót dùng trong một câu mang hai nghĩa khác nhau. ( Chuyện ở tỉnh lỵ của Vũ thư Hiên). Châm đóm, thông điếu, xe đíếu, nõ điếu, quán đỏ đèn suốt sáng, bắt rận, bắt chấy, cứ bỏ rẻ, ra ao tắm, ta nhắm vài miếng, mâm cỗ, bà ấy hay ốm lửng ( Giả vờ ốm ), chẳng biết đâu mà lần, bật hồng là gì nào, đốt đuốc đấy, tôi chạy ù xuống bếp, chú nghiêng đầu dòm ông , có như vậy, nhược bằng không, gì chứ cái ấy không được, cô Gái là người vắt mảnh sành ra nước, nhưng cái khoản rượu bao giờ cũng biện đủ, tháng chạp còn gọi là tháng củ mật ( tháng trộm cướp như rươi ), phóng * bút chì *.

Không phải cái bút chì để viết đâu ( ùng cái mai buộc vào một sợi thừng dài dùng để phóng vào đối thủ), có ăn phải có trả, sợ cô quở, đi biệt tăm tích, mời ông xơi, con mắt cùi nhãn, chơi đánh chắt, những chùm quả lúc lỉu trên cành, chơi đố lá, đời thủa nhà ai, nhựa sung được dùng vào vô khối việc, sạch như ly như lau, mời ông đưa cay, những ngày rau lụi ( hiếm rau), tôm he giã lấy nước đánh lòng đỏ trứng gà giả làm yến ( Trích Thời xa vắng, Lê Lựu ), lại gắp vài miếng , từng rủa không thiếu một lời, giỗ sống rồi, nói không ngoa, được mấy nả, không có cái chân đảng trong làng, ông đứng chân chủ họ, ông Phúc đã đánh trúng huyệt, trong việc làng, phần đầu gà má lợn , hôn nhân điền thổ, vạn cố chi thù, đã có người lân la hỏi chuyện gia cảnh, thế là cạch không ai dám hỏi, cạch đến già, có những tiếng thật hay như : có tiếng ai hờ khóc ngoài xóm lọt ra, thế mới biết sông có khúc, người có lúc, trống đánh đến hỏng dùi, đã trót phải trét, tôi đã trót đẻ ra ông, chữ trót đi liền với đẻ ra ông mới diễn tả được nỗi thất vọng như thế nào của ông bố ( Tả trong một trận đấu tố), rửa qua quít, rán cá, thịt nạc kho rim, ăn uống húp háp xì xoạp, chửa xong, đánh chén, cơm đèn, cơm đóm, cơm sáng trăng, có khi ăn cơm khan chỉ chan nước mưa, nước vối, động thớt, hễ bên đó đụng đũa, động bát là biết ngay, muốn ăn thì lăn vào bếp, lên ăn boóng được nhiều bữa nhờn môi . Thật hay. Ăn giả miệng, không dè, cái đói giáp hạt, nấu cháo độn rau tập tàng, không dư dật, mấy ông uống nước cả cặn, ăn tợm lắm, con tì con vị được đánh thức, cứ nhao nhao lên như chào mào ăn dom, con nào cũng lành chanh, lành chói, mồm năm miệng mười, Biện là tên cúng cơm , chỉ có hai bữa cơm đèn, làm ăn giật gấu vá vai, nó vác rá đến xin ăn trước cũng túng, bóc ngắn cắn dài, rách như tổ đĩa, người từ dưới xuôi, người trên mạn ngược, ăn hại đái nát, họ lùa ra sân, lùa bát cơm vào mồm. Hai chữ lùa đều có nghĩa khác nhau. Khóc như mưa như gió, sắc như tiếng dao cạo vào tinh nứa, nghe đến ghê cả mình. Có chữ nghe đến lạ : dù có mùa đông rét chết chim, hay * máu gái đẻ * nó bất thường lắm hay vợ dậy lau lưỡi ( lần đầu tiên người viết thấy dùng như vậy ) và xi con đái ( cũng đắt lắm ) phải lai ( đèo sau xe ) vợ đến sở, anh của Tuyên đã đánh xe đi đón, những cái hắn sợ là hão cả, thế nào là mềm nắn rắn buông, ngồi chắp chân bằng tròn, chỉ nhớ ang áng, người đã thất cơ lỡ vận, thì ra già néo đứt giây, những thằng tứ cố vô thân giết đi thì dễ, anh bứa lắm, mỡ gầu lực xực, không chanh cốm, một thời đã xa lắc xa lơ, con có nói gian thì trời tru đất diệt, chúng cháu không dám chắc lép, nhưng quả là ít vốn, Bá Tứ ngồi rười rượi nhảy xuống trẫm mình, anh với Châu cọc cạch ( độc thân, ám chỉ như ế vợ ) quá, bà bón cơm cho cháu, bà ăn cả thể nhá, sao im ắp đến thế, cái máy ảnh cà khổ, xin dành cho chị tất, cái ô tô phanh đến két một cái, bộ rui mè, có gì không nên không phải bảo nhau, sợ thọt dái lên cổ, thôi ta ăn khan một cái, thế hệ chém to kho nhừ ( lấy ăn no làm vui rồi ), có ông chồng hâm, chị vẫn gọn gàng như người son rỗi, gạo vừa đỏ vừa dớn, dáng chừng chị cả mấy lần nhấp nhỏm định nói, cái cạp sổ ruột, quanh năm hết dật tạm lại vay nóng, làm lắm thì chầy vẩy ra chứ ăn thua gì, những thứ ấy chẳng kiếm được mấy nả tiền, bác Tú Mỡ ngày ngày chăm chút lau xe đạp rồi buộc thừng treo lên, ngồi xuống chiếu, xếp bằng tròn, không để bánh xe chịn đất, quay đi quay lại, làm chân điếu đóm điếu

Thay lời kết luận :

Nhà văn trước hết là người sử dụng ngôn ngữ như một người đầu bếp dùng rau cỏ, thịt thà, gia vị nấu món ăn. Làm văn không nhất thiết là sáng tạo từ mới, chữ mới. Chùi đồ đồng, đồ cổ không nhất thiết là nhai lại. Bởi vì, cùng một từ, một chữ được dùng đúng trong từng cảnh huống, nó vẫn có chỗ đắc địa. Rất tiếc là trong tất cả các nhà văn miền Bắc di cư vào Nam đã tự mình cắt cái đuôi quá khứ mở ra một lối viết mới. Hay cũng có, mà dở cũng không thiếu. Tuy không vay mượn vốn cũ, vay mượn cái cũ của người làm cái mới của mình thì tự nó vẫn là vay mượn, vẫn là cái cũ, vẫn là đi chùi đồ cũ. Cho đến nay, những suy tư, những trăn trở hiện sinh về sự tồn tại, về ý nghĩa đời sống của các nhà văn ấy, sau 54, xét ra cũng chẳng có đất sống nữa. Chẳng nói đâu xa, lối viết, lối suy nghĩ của trí thức thành thị, trưởng giả vay mượn, đượm không khí phòng trà với cà phê, thuốc lá, ánh đèn mầu, tiếng nhạc xập xình tự nó đã không có đất đứng nữa sau biến cố Phật giáo 63. Từ đó, chiến cuộc leo thang, lối viết hưởng thụ, suy tư trưởng giả về ý nghĩa đời người, về cái đáng sống hay dư thừa nhường chỗ cho lối viết nhập cuộc, dấn thân. Các nhà văn thời buổi 54-55 một lần nữa trượt dốc, bơ vơ, lạc lõng trong cuộc đu dây chữ nghĩa. Cuộc di cư năm 1954 đáng nhẽ là một cuộc hành trình chữ nghĩa, tiếp nối cái sợi giây văn hoá nối dài hai miền, tự nó đánh mất đi khúc ruột liền sản sinh ra một thứ văn chương không gốc. Lẽ dĩ nhiên, cạnh đó, nhiều trào lưu tư tưởng, văn học cũng góp vào các dòng chảy chung đó. Người viết gợi lại những chữ nghĩa của thời xa xưa miền bắc, có những chữ tự nó cũng không còn được dùng nữa ở miền Bắc. Điều đó thật tự nhiên và dễ hiểu. Nhưng phần đông, chúng vẫn là cái vốn liếng văn hóa của đất nước, của dân tộc nói chung vượt lên trên những đối lực chính trị vốn lúc nào cũng là kẻ thù của văn hóa. Nghĩ như thế mới thấy vai trò và sứ mệnh nhà văn quan trọng đến bực nào. Bài viết này, đã hẳn chưa đầy đủ, vì còn rất nhiều chữ bị bỏ quên chưa được nhắc tới, lại chưa hệ thống hóa đúng mực, nhưng trong chừng mực của một bài báo, thiết tưởng cũng là một hoài niệm của những người di cư nay di tản ra xứ người để có dịp nhâm nhi, dịp nhớ lại và hồi tưởng về một dĩ vãng đã qua. Và có lẽ đó là mục đích chính của bài nầy theo cái nghĩa : Vang bóng một thời của chữ nghĩa.


© http://vietsciences.nethttp://vietsciences.free.fr Nguyễn Văn Lục
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
CatLinh  
#148 Posted : Thursday, May 14, 2015 2:16:08 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 5/17/2015(UTC)
phamlang  
#149 Posted : Sunday, May 17, 2015 9:19:10 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Về Một Lời Ru Chia Ba


Người bình dân Việt Nam, trong lời ǎn tiếng nói dân gian và những khúc hát ru của mình, đã truyền miệng ngàn đời hàng hàng châu ngọc, nhưng không ít lời phân định là ca dao hay tục ngữ hoặc những "lời ru chia ba" - hài hoà cả ba thể loại trên.

Hai cặp lục bát dưới đây đã thấm vào lòng chúng tôi từ thuở còn nằm nôi, chính là một trong những lời ru - ca dao - tục ngữ cài đan, lồng ghép, tạo nên sự đa thanh, đa nghĩa, biểu cảm lạ lùng.

"Bồng bồng mẹ bế con sang
Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo
Muốn sang thì bắc Cầu Kiều
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy
"

Hai câu trên rõ ra lời ru con - lời ca dao yêu thương, ngậm ngùi, kể lể. Mẹ bồng con đi dọc bờ sông vắng. Muốn sang sông nhưng: "Đò Dọc quan cấm, đò ngang không chèo". Mẹ than cùng con, mẹ than đời mẹ. Giọng giãi bày, nghẹn ngào, ấm ức.

Hai câu dưới, hiển nhiên là tục ngữ nối theo, kết tinh bao trải nghiệm đắng cay suốt cuộc đời nổi nênh của mẹ. Có người hiểu câu 3: muốn sang trọng thì bắc cầu đẹp (lộng lẫy). Một số ý kiến khác: muốn sang (qua) sông thì phải bắc (làm) cầu để qua. Đặt trong vǎn mạch cả 4 câu. Chúng tôi nghiêng về cách kiểu thứ 2. Từ "sang" (động từ ) ở câu này đồng nghĩa cùng loại với từ "sang" trong câu đầu. Bởi mơ ước suốt đời của rmẹ là đứa con được sang bờ bên kia, vượt thoát dòng sông mênh mông đói nghèo, dốt nát.

So với nhiều câu tục ngữ nói về thầy (không thầy đố mày làm nên, một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy, cơm cha, áo mẹ công thầy..v..v..) hai câu này mượt mà duyên dáng hơn. Trong hình thức lục bát, nối tiếp tự nhiên từ hai câu ca dao giàu âm thanh (bồng bồng), hình ảnh (mẹ bế con đò dọc, đò ngang, cầu kiều...), tuy là lời ru lúc ẵm con mà chở nặng lời mẹ dạy con từ sớm, từ xa, người ta có thể truyền trao kinh nghiệm sống, ứng xử, nhưng để có học thức, có vǎn hoá, (hay chữ) nhất định không thể thiếu được vai trò của ông thầy.

Đó là lời bà mẹ Việt Nam nghèo, đảm đang, đặt cả niềm tin vào vị thế người dạy con mình, dẫu đời bao ngang trái, vẫn kiên dũng bắc cầu cho con qua sông, vượt lên nghèo đói lạc hậu.

Vậy, chỉ còn cách "bắc cầu mà nối", vì "dốt phải đi tìm thầy"! Không nên hiểu "sang" ở đây là "giàu sang" thì bắc "cầu kiều" (đẹp). Đây cũng chẳng phải là chiếc cầu nổi (phù kiều) hoặc trùng lặp ("cầu" - "kiều" chữ Hán). "Cầu Kiều" là chiếc cầu cao ("kiều", tiếng cổ còn có nghĩa là "cao") để cho đò dọc, đò ngang đều qua lại được. Cần phải cao, chắc để con bước lên đường học tập vững vàng.

Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học, "Không thầy đố mày làm nên", thậm chí "dốt nát đến đâu, học lâu cũng biết". Ở đây từ "thầy" chỉ có nghĩa người dạy học (thầy đồ, thầy giáo) - tấm gương mẫu mực. sáng ngời về đạo đức, học thức. Muốn thành người, muốn chữ tốt vǎn hay ắt phải tìm đến với thầy. ở xứ sông nước này, bắc cầu cũng cần như cần như cần ǎn, học, làm lụng (chính nhà giáo - nhà thơ hiền triết Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã bắc hai chiếc cầu Nghênh Phong và Trường Xuân khi lui về ở ẩn). Thế kỷ này con cháu bắc cầu qua sông Hồng, sông Mã, sông Gianh, sông Hương rồi sẽ qua sông Tiền, sông Hậu. Muốn sang sông phải biết bắc cầu. Muốn học hành thành đạt, phải yêu quí sự uyên bác và lòng yêu trẻ của thầy. Cái lý tự nhiên giản đơn là vậy.

Cả hai câu đều kết cấu theo kiểu quan hệ điều kiện - giải thiết: Muốn A thì B. Nhưng kết luận sau thiên về giá trị tinh thần (yêu thầy). Từ "lấy" trong "lấy thầy" không bao giờ hàm ý "lấy làm chồng", mà chỉ biểu thị hướng của hành động nhằm mang lại kết quả thiết thực. Tất nhiên không phải là lấy được, lấy lệ. Giáo sư Nguyễn Thạch Giang cho biết có bản ghi là phải yêu lòng thầy. Chúng tôi nghĩ là có lý, đỡ gây hiểu lầm, nghĩa là yêu quý tấm lòng cao cả của thầy bằng cả tấm lòng. Xin chớ hiểu là lấy lòng, cho vừa lòng thầy, nịnh thầy.

Từ ý câu tục ngữ, chúng tôi nghĩ về "Tam giác sư phạm" Thầy - trò (con trẻ) - kiến thức (chữ); rộng hơn là mô hình liên kết giáo dục: gia đình - nhà trường, xã hội. người bình dân xưa đã hiểu sâu vai trò truyền bá đạo lý, trí thức, lễ và vǎn của các nhà giáo, đồng thời cũng biết thắt chặt mối liên hệ giữa các thành phần giáo dục.

Bốn câu mẹ ru con hay tự nói với mình? Mẹ nói với ta: người thấy rất xứng đáng được kính yêu vì là người chỉ đường, dẫn lối, giáo dục, giáo dưỡng mình hiểu biết, lao động, biết sống đẹp theo lẽ phải của cộng đồng, biết tự khẳng định. Còn mãi lời ru, lời biết ơn tất cả những ai hết lòng vì sự nghiệp đào tạo, giáo dục! Còn có giáo dục thì còn có thông minh, vǎn hoá, phát triển! Còn mãi trong ta, dẫu học đã thành, danh lập, vẫn nhớ về lời ru - giao thoa, hài hoà tục ngữ, ca dao.

Trần Hồng Quang - Vǎn Đường

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#150 Posted : Friday, May 22, 2015 5:54:50 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Về Câu Tục Ngữ: “Lệnh Ông Không Bằng Cồng Bà”
Phùng Thành Chủng

Tục ngữ có câu: “Lệnh ông không bằng cồng bà”; từ “lệnh” ở đây là một từ cổ! Để hiểu xuất xứ và ý nghĩa của câu tục ngữ này, không thể không tìm hiểu nghĩa của từ “lệnh”.

1. Điều có thể xác định được ngay, từ “lệnh” trong trường hợp đang xét, là một loại nhạc cụ, vì “lệnh” phải đối xứng với “cồng”, mà “cồng” là một loại nhạc cụ.

2. Từ “lệnh” trong “Mặt to như cái lệnh”, hoặc “Nói oang oang như lệnh vỡ” (một thông tin về kích thước (có liên quan đến hình dáng) và một thông tin về âm thanh – tương đối).

3. “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên, định nghĩa từ “lệnh” (với nghĩa là một nhạc cụ): “Lệnh: Thanh la (cũng gọi là phèng la) là một nhạc khí thuộc bộ gõ, bằng đồng thau, hình đĩa tròn, tiếng vang và chói, dùng để báo hiệu lệnh”. (Ở đây, chúng tôi ngờ rằng: Lệnh và thanh la (phèng la) là hai tên gọi khác nhau để chỉ hai loại nhạc cụ giống nhau về hình dáng nhưng khác nhau về kích thước và lệnh to hơn thanh la (phèng la).

Như vậy, câu “lệnh ông không bằng cồng bà” ở phần hiển ngôn chỉ có nghĩa là: Cái lệnh của ông (kích thước cũng như âm thanh) không bằng cái cồng của bà, nhưng ở phần hàm ngôn – vì cồng và lệnh đều dược dùng để báo hiệu lệnh – nên còn có nghĩa là: Lệnh (theo nghĩa hiệu lệnh) của bà (chứ không phải của ông) mới quan trọng và mới có ý nghĩa quyết dịnh (ám chỉ vai trò làm chủ của người vợ, chứ không phải người chồng trong gia đình). Đi xa hơn, theo các nhà nghiên cứu, câu tục ngữ này có liên quan đến một truyền thuyết có xuất xứ từ thời Hai Bà Trưng (mà cụ thể là với bà Trưng Trắc và ông Thi Sách chồng bà).

... Thời nước ta còn bị nhà Đông Hán đô hộ, ông Thi Sách chồng bà Trưng Trắc, được viên thái thú Tô Định bổ dụng làm một chức quan nhỏ. Mục đích của Tô Định là dùng người bản xứ trị người bản xứ và thông qua đó lấy họ làm trung gian để phục vụ cho công cuộc cai trị của mình; nhưng khốn nỗi, nước ta thời ấy còn theo chế độ mẫu quyền – vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội được đề cao hơn nam giới – cho nên những điều mà ông Thi Sách ban bố (theo lệnh Tô Định) chẳng được ai nghe và kết quả là ông bị Tô Định giết! Điều đó lý giải tại sao lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Đông Hán lại là Hai Bà Trưng (Trưng Trắc và em bà là Trưng Nhị), chứ không phải là một đấng mày râu nào khác, và đó chính là xuất xứ của câu tục ngữ: “Lệnh ông không bằng cồng bà”...

Như vậy, ở đây phần hàm ngôn còn bao gồm những thông tin tầng sâu về các chuyên ngành khảo cổ học, xã hội học và dân tộc học: Chế độ mẫu quyền, sự phát triển nghề đúc đồng, niên đại của hai nhạc khí thuộc bộ gõ là cồng và lệnh...

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#151 Posted : Saturday, May 23, 2015 11:20:03 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Bánh không cẳng sao gọi bánh bò?


TT - Trong tiếng Việt, có những từ ngữ hoặc địa danh sử dụng hằng ngày mà nếu có người hỏi tại sao nói thế và nguồn gốc của những từ ngữ ấy từ đâu thì chúng ta đành bó tay; chẳng hạn câu hỏi trên trong một bài ca dao (Nước không chưn sao kêu nước đứng? Cá không giò sao gọi cá leo? Ghe không tay sao kêu ghe vạch? Bánh không cẳng sao gọi bánh bò?...).

1. Chúng ta chỉ có thể giải đáp câu trên dựa vào cuốn Ðại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, xuất bản cách đây trên 110 năm. Trong sách này, tác giả ghi bánh vú bò và giải thích vì bánh đổ vào chén, trông giống như cái vú con bò. Về sau rút gọn thành bánh bò. Ðây là hiện tượng tỉnh lược trong ngôn ngữ. Các từ sau đây cũng bị hiện tượng tỉnh lược chi phối: dầu con rái => dầu rái, nấm tai mèo => nấm mèo...

Ở miền Bắc có một loài cá giống và to bằng cá chép, nhưng có đặc điểm là tươi rất lâu tên là cá rói. Dù bị bắt ra khỏi nước từ sáng đến trưa cá vẫn còn tươi nên có thành ngữtươi như cá rói, về sau tỉnh lược thành tươi rói. Một thành ngữ tương tự: ngay như cây chò(một loại cây rừng thân rất thẳng) => ngay chò (ở Nam bộ biến âm thành ngay chừ). Cầu Kiệu ở TP.HCM được Trương Vĩnh Ký ghi là cầu Xóm Kiệu (tức là xóm chuyên trồng kiệu), như vậy chữ Xóm ban đầu đã bị giản lược.

2. Một từ khá phổ biến ở Nam bộ dùng để chỉ người phụ giúp tài xế lái xe đò trong công việc bán vé, thu tiền, khiêng xách hành lý là lơ xe. Từ này bắt nguồn từ tiếng Pháp contrôleur, nghĩa là “người kiểm soát (vé)”. Như vậy, từ một âm tiết vô nghĩa - leur, người Việt biến thành một từ có nghĩa.

Ở miền Bắc, người ta thường dùng từ ngữ săm lốp để chỉ vỏ ruột xe đạp và xe gắn máy. Lốp thì người miền Nam cũng dùng và những người biết tiếng Pháp đều biết nó bắt nguồn từ enveloppe, nghĩa là “vỏ xe”. Còn săm ban đầu người miền Nam và nhất là những người không học tiếng Pháp không hiểu nghĩa. Từ săm bắt nguồn từ ngữchambre à air “ruột xe”.

3. Tại sao có từ bồ bịch, nghĩa là nhân tình? Nguyên trước đây có một từ ghép bồ bịch, chỉ hai nông cụ. Bồ là dụng cụ đựng lúa, có đáy; còn bịch cũng là nông cụ đựng lúa nhưng là tấm ví khoanh tròn, không đáy vì lấy nền nhà làm đáy. Do đó, ca dao VN có câu:

Bởi anh chăm việc canh nông
Cho nên mới có bồ trong bịch ngoài.


Trong tiếng Việt trước đây có từ bầu (bạn), có biến âm là bồ tương tự như đậu xanh - đỗxanh, thi đậu - thi đỗ... Vì từ bồ (bạn) đồng âm với từ bồ (cái bồ) nên từ bồ bịch thứ hai (người yêu) ra đời. Chúng tôi gọi đây là hiện tượng mượn âm.

Một số trường hợp tương tự. Trái sầu riêng có nguồn gốc từ Malaysia là đu-riêng. Ban đầu (giữa thế kỷ 19) người Việt dùng cả hai từ, sau loại hẳn từ đu-riêng.

Huyện Kế Sách ở tỉnh Sóc Trăng gốc Khmer là Ksach, nghĩa là “cát”. Vì gần âm với từ kế sách (phương kế, sách lược) nên Kế Sách đã thay thế Ksach.

Nhà thơ ngụ ngôn La Fontaine của Pháp đã được các trí thức VN khoác cho chiếc áo của Lữ Bố: Lã Phụng Tiên (họ Lữ cũng đọc Lã, Phụng Tiên là tự của Lữ Bố).

Ðèo ở phía bắc thành phố Nha Trang do kỹ sư người Pháp Rury điều khiển sửa sang nên Pháp dùng tên người này đặt cho đèo. Người Việt đã gọi là đèo Rù Rì.

4. Người Nam bộ thường bảo trẻ con đi chỗ khác chơi, không được láng cháng trước mặt. Nhưng trong từ điển của Huỳnh Tịnh Của đã nói ở trên ghi loán choán. Như vậy từ gốc làchoán, yếu tố láy là loán và nghĩa gốc của láng cháng là “choán chỗ”. Ðây là hiện tượngbiến âm.

Ở các đô thị Nam bộ có loại xe chuyên chở đồ đạc phục vụ xã hội mang tên ba gác. Nhiều người biết tiếng Pháp cũng ngỡ ngàng khi biết nguồn gốc Pháp của từ này là bagage, nghĩa là “hành lý”.

5. Bỏng trong từ bé bỏng có nghĩa là “nhỏ”. Trong tập thơ cổ Thiên Nam ngữ lục có câu thơ sử dụng từ bỏng với nghĩa này:

Trẻ thơ bỏng dại thiếu người lo toan

Hai từ bé và bỏng đồng nghĩa hay gần nghĩa kết hợp với nhau. Ðó là hiện tượng láy nghĩa.

Nhiều từ trong tiếng Việt bị chi phối bởi hiện tượng này: Việt + Việt: tìm kiếm, chờ đợi, yêu thương; Việt + Pháp: canh gác (gác xanh lơ (lơ

Biết được nguồn gốc và ý nghĩa của nhiều từ tiếng Việt, ngoài cảm giác thú vị, ta còn yêu thích tiếng mẹ đẻ hơn.

LÊ TRUNG HOA

Edited by user Saturday, May 23, 2015 11:21:02 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
ASIAlcoholic on 5/23/2015(UTC)
ASIAlcoholic  
#152 Posted : Saturday, May 23, 2015 6:39:12 PM(UTC)
ASIAlcoholic

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 12/21/2011(UTC)
Posts: 1,213
Location: USA

Thanks: 2319 times
Was thanked: 1592 time(s) in 850 post(s)
UserPostedImage

Cá không ăn muối cá ươn

Con cãi Cha Mẹ, trăm đường con hư...
phamlang  
#153 Posted : Sunday, May 24, 2015 1:39:41 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Originally Posted by: ASIAlcoholic Go to Quoted Post
UserPostedImage

Cá không ăn muối cá ươn

Con cãi Cha Mẹ, trăm đường con hư...


Giỏi. Khoa bây giờ đã lớn hơn bé Khoa của 5 năm về trước. Sẳn vì lý do Khoa post 2 câu tục ngữ lúc đầu chú muốn khuyên Khoa một câu: Không thầy đố mày làm nên. Nhưng sau khi suy nghĩ thêm thì chú muốn Khoa biết thêm câu: Học thầy không tày học bạn. Nhưng bạn cũng có bạn tốt, bạn xấu, bạn không thành thật. Phố rum chắc Khoa đã nhận xét được, nhìn thấy rõ ai tốt ai xấu ai giả tạo để nỗi thành người thui thủi một mình, không còn ai post trong topics của người đó, bạn bè xách dép chạy xa. Lý do? dễ hiều thôi.

UserPostedImage

Khoa đọc tiếp bài luận nầy do chú sưu tầm:

Từ xưa, dân ta đã coi trọng vị trí của người thầy trong xã hội. Có biết bao câu ca dao, tục ngữ thể hiện tinh thần tôn sư trọng đạo: Nhất tự vi sư, bán tự vi sư; Muốn sang thì bắc cầu kiều, Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy…

Trong nhà trường, người thầy giữ vai trò rất quan trọng. Vì thế dân gian đã khẳng định: Không thầy đố mày làm nên. Nhưng bên cạnh đó lại có quan điểm cho rằng: Học thầy không tày học bạn. Như vậy, hai câu trên có mâu thuẫn với nhau hay không? Chúng ta cùng bàn luận để có cách nhìn nhận đúng đắn về ý nghĩa của hai câu tục ngữ này.

Nếu mới đọc qua, chắc chắn có người cho rằng hai câu tục ngữ trên chứa đựng hai quan điểm trái ngược nhau.

Câu thứ nhất: Không thầy đố mày làm nên đề cao đến mức tuyệt đối vai trò của người thầy đối với học sinh. Trong khi đó câu thứ hai: Học thầy không tày học bạn lại đề cao vai trò của bạn bè. Vậy nên hiểu nội dung hai câu tục ngữ này thế nào cho đúng?

Trong nhà trường, vai trò của người thầy vô cùng quan trọng. Thầy dạy cho trò những kiến thức cần thiết thông qua bài giảng trên lớp. Thầy là người dẫn đường chỉ lối, mở rộng, nâng cao tri thức cho học sinh. Đồng thời với việc dạy chữ là dạy nghĩa. Người thầy dạy bảo những điều hay lẽ phải, quan tâm giáo dục đạo đức cho học sinh, giúp các em sống theo đạo lí làm người. Đối với việc trưởng thành và tạo dựng sự nghiệp của học sinh, công lao của người thầy quả là không nhỏ.


Nhưng không phải người thầy thay thế được tất cả. Thầy hết lòng giảng dạy, trò phải hết sức nỗ lực trong học tập thì mới mong đạt được kết quả khả quan. Như vậy, những cố gắng của học sinh cũng góp phần đáng kể. Nếu phủ nhận mặt này, ý nghĩa của câu tục ngữ trên sẽ thiên lệch.

Vai trò người thầy quan trọng như vậy mà lại có ý kiến cho rằng: Học thầy không tày học bạn (không tày có nghĩa là không bằng), liệu có rơi vào sự đánh giá thiên lệch khác chăng? Thực ra, ý của người xưa là muốn nhấn mạnh đến ảnh hưởng của bạn bè đối với sự hiểu biết và tiến bộ của mỗi người. Nghệ thuật dân gian trong câu tục ngữ này là dùng cách nói quá để khẳng định điều muốn nói. Kiến thức thầy giảng trên lớp, có gì chưa hiểu, đem hỏi lại bạn bè. Lúc bạn tận tình hướng dẫn cho mình thì bạn cũng đã đồng vai trò người thầy, dù chỉ trong chốc lát.

Thực tế cho thấy bạn bè tốt hỗ trợ nhau rất nhiều trong học tập, làm việc và xây dựng sự nghiệp của mỗi người. Bạn bè cùng trang lứa có sự thông cảm, gần gũi nên việc tiếp thu cũng dễ dàng hơn.

Vậy nên hiểu quan niệm học thầy, học bạn như thế nào?

Mỗi học sinh phải chăm chỉ học tập, cố gắng tiếp thu những kiến thức do thầy truyền đạt, kết hợp với óc suy nghĩ, sáng tạo của bản thân để không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết. Luôn ghi nhớ truyền thống Tôn sư trọng đạo của dân tộc. Kính trọng thầy thực sự thì mới có tâm thế trong sáng, nghiêm túc đón nhận lời thầy dạy bảo. Chưa hiểu hoặc hiểu chưa kĩ điều gì, ta mạnh dạn hỏi bạn bè, tránh thái độ tự ti, giấu dốt, bởi đó là điều hoàn toàn bất lợi cho việc học hành. Học thầy, học bạn không chỉ về kiến thức mà còn học cả tác phong, đạo đức để trở thành con người toàn diện, hữu ích cho xã hội.

Hai câu tục ngữ trên bổ sung ý nghĩa cho nhau để phản ánh quan niệm của người xưa về việc học. Cách học tốt nhất ngày nay là học ở thầy, học ở bạn, học trong sách vở và học ở thực tế đời sống hằng ngày. Muốn nên người, chúng ta phải có thái độ tôn kính thầy cô, quý mến, tôn trọng bạn bè và khiêm tốn học tập. Con đường đến với tri thức là con đường gập ghềnh, gian nan. Trên con đường ấy, thầy và bạn vừa là người chỉ lối, vừa là người đồng hành quan trọng biết bao đối với mỗi chúng ta.

Edited by user Sunday, May 24, 2015 1:44:33 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 2 users thanked phamlang for this useful post.
CatLinh on 6/3/2015(UTC), ASIAlcoholic on 6/4/2015(UTC)
phamlang  
#154 Posted : Saturday, May 30, 2015 7:33:13 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Sưu tấm

Cậu chuyện bằng chữ " C "


Cậu Cẩn con của cụ Chánh, cháu của cô Cúc, cháu của chú Chiến.

Cậu Cẩn có con chó cỡ con chồn, cẳng con chó cao cở cẳng con cò, cổ cũn cởn cở cổ con cóc. Cổ con chó cậu cột cái chuông. Cậu cưng con chó cùng cực, con chó cũng cưng cậu. Cứ chiều chiều cậu cõng con chó, cầm chiếc cần câu chăm chỉ câu cá chép cạnh chân cầu cuối cồn cát. Cậu chăm chú canh chừng cước cần câu, chốc chốc cậu cất cao cần câu coi. Con cá chép cắc cớ cắn câu, cậu Cẩn cất cao cần câu, cậu cười. Chốc chốc cả con cá chuối cũng cắn câu. Cậu Cẩn cầm con cá chuối chặt cổ, chìa cho con chó cưng của cậu. Con chó của cậu cắn cổ con cá chuối co cẳng chạy. Cậu Cẩn cất cần câu, cùng các cậu choai choai chơi cờ cạnh cổng chợ.

Chơi cờ chán chê, cậu cõng con chó. cầm con cá chép cậu chuồn. Cậu Cẩn cho con chó của cậu chui chuồng, cậu cầm con cá chép cậu cạo, cậu chặt, cậu cho chảo cậu chiên. Cá chín, cậu Cẩn cùng cụ Chánh chén cá chép chiên chấm cà cuống cùng chuối chát.

Con chó cưng của cậu Cẩn cứ chập chờn cửa chuồng chở chực. Cuối cùng cậu Cẩn cho con chó chén cơm chiên cùng chút cá chép. Con chó cạp chén cơm chui chuồng. Cụ Chánh côi cút, cụ cũng có con chim chích choè cùng cái chuồng chim cáo cạnh, cụ cưng con chim của cụ.

Cứ chốc chốc cụ cầm cái chổi chà chống chân, cụ chầm chậm chộp các chú chuồn chuồn chập chờn cạnh cây cam cho con chim của cụ chén. Có chiều, cậu Cẩn cùng các chú choai choai câu cá, câu cua chỗ cống của cậu Cử. Cậu=2 0cột con chó cưng của cậu cạnh cửa. Con chó của cậu Cẩn cà chớn cứ chực cắn con chim của cụ Chánh. Cụ Chánh cầm cây chổi chọc con chó, con chó co cẳng chạy. Cụ Chánh cảnh cáo cậu Cẩn, cậu chỉ cười cậu còn cãi cối.

Cũng có chiều cậu Cẩn cần công cán chỗ công cộng. Cậu cũng cột con chó của cậu cạnh cửa chuồng. Cụ Chánh cùng cụ Chẩn chơi cờ. Cụ Chẩn cũng có con chó choai choai, cụ chẳng coi chừng, cụ cột con chó cạnh chỗ con chim của cụ Chánh. Con chó của cụ Chẩn cùng con chó của cậu Cẩn cắc cớ chỉ chờ chực cắn chim của cụ Chánh. Cụ Chánh cầm cây cố cản, con chó cứ cào cấu, cứ cằn cằn. Chợt con chó của cậu Cẩn chồm cẳng cao cắn cái chuồng chim của cụ Chánh. Con chim chích choè chạy cuống cuồng cầu cu cụ Chánh.

Con chó của cụ Chẩn cắn cụt cánh, con chó của cậu Cẩn chặn cửa cắn chân, cắn cổ con chim. Chim của cụ Chánh cụt cẳng, cụt cánh, cuối cùng chết cứng, chỉ còn cái chân còn cục cựa.

Cụ Chánh cay cú cầm cây cối chục cân cất cao choảng con chó. Con chó của cụ Chẩn cà cuống co cẳng chạy. Cái cối cán cẳng con chó của cậu Cẩn cái “cộp“ chát chúa, con chó cố chạy - cụ Chánh cầm cây cuốc cuốc cổ con chó. Con chó của cậu Cẩn chùn chân. Cuối cùng cụ Chánh chém con chó chết cứng.

Cụ Chánh cùng cụ Chẩn cắt cổ con chó, các cụ cầm chép các cụ cạo, các cụ chất con chó cạo vào chỗ có củi cháy.

Cẳng con chó cong cong, các cụ chờ con chó chín các cụ chặt, các cụ cưa. Cụ Chánh cất cho cậu Cẩn cái cẳng, cái cổ. Còn cả con chó các cụ cho chảo các cụ chiên. Con chó chết các cụ có cớ chè chén.

Chó chiên, chả chìa, củ chuối. Chốc chốc các cụ cùng chạm cốc, các cụ cười.

Cậu Cẩn chăm chú coi chân, coi cổ con chó. Cậu Cẩn cấu cụ Chánh: "Chó chết!"

Edited by user Saturday, May 30, 2015 7:34:21 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 4 users thanked phamlang for this useful post.
CatLinh on 6/4/2015(UTC), ASIAlcoholic on 6/4/2015(UTC), tieng Viet on 6/7/2015(UTC), stormy on 6/11/2015(UTC)
phamlang  
#155 Posted : Monday, June 1, 2015 3:36:13 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
UserPostedImage

Nói lái trong ngôn ngữ và văn học Việt Nam

Theo định nghĩa chung chung của một số nhà Ngôn ngữ học thì Nói lái là nói bằng cách giao hoán âm đầu vần và thanh điệu hoặc trật tự của hai âm tiết để tạo thành nghĩa khác hẳn và cho rằng đây là một trong những đặc trưng của tiếng Việt, nhằm mục đích đố chữ, bông đùa, chơi chữ hay châm biếm. Thí dụ như “lộng kiếng” nói lái thành “liệng cống” hay “đầu tiên” thành “tiền đâu”, “đơn giản” thành “đang giỡn”…


Có người còn cho rằng Nói lái là một đặc điểm độc đáo của tiếng Việt mà các ngôn ngữ khác không có, khi nói lái người ta phải chọn một nhóm hai hoặc ba tiếng rồi hoán vị các phụ âm hoặc các thanh của những tiếng đó cho nhau. Chẳng hạn như “Vũ như Cẩn” thành “vẫn như cũ” hay “Nguyễn y Vân” thành “vẫn y nguyên” hoặc “bảng đỏ sao vàng” thành “bỏ Đảng sang giàu”…

Lại có người giải thích : Nói lái là cách đánh tráo vần, thanh điệu… giữa hai hoặc ba tiếng với nhau, nó không rườm rà không phức tạp mà rất đơn giản dễ vận dụng để tạo thêm nghĩa mới phù hợp với mục đích giao tiếp và cho rằng nếu không có những cách nói lái này, quá trình giao tiếp sẽ kém sinh động hơn, đơn điệu hơn nhưng tựu chung, khi nói lái, người ta tránh không nói thẳng chữ muốn nói; mà người nghe vì không tinh ý, nhất thời không nhận ra nên xảy ra nhiều giai thoại vô cùng lý thú.

Như chúng ta đã biết, một chữ gồm hai phần: phụ âm và âm. Chẳng hạn như chữ thung gồm phụ âm th và âm ung. Chúng ta lại có thêm sáu thanh: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng và không dấu tạo tiếng Việt thành giàu âm sắc, chỉ cần khác dấu, chữ được phát âm khác nhau: thung (thung dung), thúng (cái thúng), thùng (cái thùng), thụng (áo thụng), thủng (lỗ thủng) và tất nhiên có nghĩa khác nhau, và đây cũng là nét độc đáo của ngôn ngữ Việt, nên người nước ngoài bảo người Việt nói chuyện nghe giống như hát vậy. Thêm vào đó, tiếng Việt vốn đơn âm nên có thể Nói lái dễ dàng mà vẫn có nghiã : Cái biệt thự nầy bự thiệt ! Bí mật coi chừng bị bật mí hoặc kháng chiến lâu ngày sẽ khiến chán hay muốn đầu tư nhưng không biết từ đâu, và đã tháo giầy nhưng chưa thấy giàu ! Theo con Hương vì thương con heo cô ấy…

Đặc biệt, đối với những người lớn tuổi hay trưởng thành ở Việt Nam chẳng có ai là không biết cách nói lái, tùy theo gốc gác hoặc sinh hoạt ở Bắc, Trung hay Nammà cách nói lái có khác nhau đôi chút.

- Nói Lái theo cách ngoài Bắc: người miền Bắc đổi chỗ cho hai chữ, đồng thời đổi luôn hai dấu (nghĩa là đổi âm sắc).

Thí dụ như chữ tượng lo nói lái thành lọ tương (lo đổi chỗ cho tượng, lấy dấu nặng thành lọ, tượng đổi chỗ cho lo, mất dấu nặng thành tương).

Chữ đấu tranh nói lái lại là tránh đâu (tranh đổi chỗ cho đấu, lấy dấu sắc của đấu thành tránh, đấu đổi chỗ cho tranh, mang dấu của tranh vì không dấu nên thành đâu).

- Nói lái theo kiểu trong Nam : theo cách nói lái trong Nam, âm trong hai chữ đổi chỗ cho nhau, phụ âm giữ nguyên vị trí.

Thí dụ như chữ cá đối nói lái thành cối đá (phụ âm ghép với âm ối của đối thành cối, và phụ âm đ ghép với âm á của cá thành đá). Và cứ như vậy mà cờ Tây thành Cầy tơ, Thầy tu thành thù Tây, hiện đại thành hại điện, Thứ Lễ thành Thế Lữ, trò chơi thành trời cho…

Trong vài trường hợp người ta nói lái cho cả ba chữ, thì chỉ hoán đổi hai chữ đầu và cuối nhưng giữ nguyên chữ giữa. Chẳng hạn như : “Trần bá Cương” thành “Trương bá Cần”, “Chín bến đò” thành “chó bến Đình”, “Âu cái Đằng” thành “ăn cái đầu”, “Hương bên đèo” thành “Heo bên đường”…

Đôi khi người ta lại đổi chỗ hai phụ âm cho nhau để sau khi nói lái có nghĩa và dễ nghe hơn. Thí dụ chữ chiến binh thay vì nói lái thành chinh biến cũng có thể nói thành chính biên. Do đó với hai chữ tranh đấu có người đã đùa mà nói rằng: tranh đấu thì tránh đâu khỏi bị trâu đánh thì thế nào cũng phải đấu tranh.

Cũng như trong trường hợp trên, những chữ trùng âm như nhân dân, lù đù, lật đật…không nói lái được.

Tuy nhiên, Nói lái là lối nói mà chỉ cảm nhận được chớ không công thức hóa được. Nếu nói lái mà đơn giản như đang giỡn (có thêm chữ g và dấu hỏi thành dấu ngã) thì không thể áp dụng công thức nào vào đây cả.

Đặc biệt là người miền Nam thường phát âm phụ âm cuối không chính xác như c # t, n # ng, y # i, dấu hỏi đọc như dấu ngã. Chẳng hạn như chữ Cắt và Cắc, Đan và Đang, Thai và Thay, suy nghĩ và nghỉ ngợi… họ đều phát âm giống nhau, khó mà phân biệt. Vì vậy khi người miền Nam nói lái thì rất dễ dàng, nhanh chóng do biến đổi bằng nhiều cách khác nhau nhưng khi viết ra thành chữ thì nhiều khi không đúng vào đâu cả (tức là sai Chánh tả). Thí dụ như sao vàng nói lái thành sang giàu nhưng viết đúng theo âm luật là sang vào thì không phải là ý của người muốn nói; bởi vậy, người ta nói nói lái chớ không ai nói viết lái. Tuy nhiên, có nhiều câu thơ, bài thơ không những nói lái mà còn viết lái rất tài tình, chúng tôi sẽ giới thiệu phần sau.

Sau đây, chúng tôi xin mời quý vị bước vào thế giới của ngôn ngữ Nói Lái qua các câu đố, câu hò, câu đối, giai thoại trong dân gian và cả những bài thơ mang tính cách Văn học Nghệ thuật hoặc đã có từ lâu trong nền Văn học Việt Nam. Dĩ nhiên, theo như ý kiến của Hoàng Lão Tà trong bài “Ăn tục nói phét” thì “môn nói lái rất thần sầu quỷ khiếp đa dạng, đa năng mà ngay trong thi ca kim cổ đều sử dụng. Lúc nào nói lái được là chớp ngay cơ hội. Và nói lái phải tục mới vui, mới cười được, chứ nói lái thông thường thì chả có gì hấp dẫn”.

1/- Nói Lái trong Câu đố:

Cũng như Ca dao, Tục ngữ, Thành ngữ… Câu đố cũng là một hình thái của Văn học dân gian Việt Nam. Người ta sử dụng Câu đố trong các buổi họp mặt vui chơi hoặc trong lúc lao động chân tay để quên đi mệt nhọc hay thử tài trí giữa hai bên nam nữ. Những câu đố Nói lái thường rất dễ đáp nhưng vì bất ngờ hay bị tròng tréo chữ nghiã mà đôi khi không đáp được.

- Lăng quằng lịt quịt … lăng quằng trứng, là cái gì? (Đáp là cái Lưng quần trắng)

- Lăng quằng lịt quịt … lăng quằng rừng, là cái gì? (là cái Lưng quần rằn)

- Trong nhà chạy ra hỏi cái gì bán, là cái gì ? (là cái giàn bí)

- Vừa đi vừa lủi, vừa mổ, là cái gì ? (là cái lỗ mũi)

- Mẹ thương con, con gầy, là cái gì ? (là cây gòn)

- Trên trời rơi xuống cái mau co, là cái gì ? (là cái mo cau)

- Cầm đục cất đục là cái gì ? (là Cục đất)

- Ghe chài chìm giữa biển đông,
Ván phên trôi hết cái cong nó còn,
là cái gì ? (là con còng)

- Khoan mũi, khoan lái, khoan lai,
Bò la, bò liệt đố ai biết gì?
(là củ khoai lang).

- Hít vào, hít ra, hít một là cái gì ? (là hột mít)

- Cà vô, cà ra, cà nhột, là cái gì ? (là cột nhà)

- Cúng trên núi, cúng mê, cúng mải là cái gì ? (là cái mủng)

- Cú trong nhà cú ra, cú hãi là cái gì ? (là cái hũ)

- May không chút nữa thì lầm,
Cau dày không bẻ bẻ nhầm cau ranh, là cái gì ? (là canh rau)…

- “Sáng nay đi hỏi chị Năm,
Có đi ra chợ chuộc dùm đôi bông”
là cái gì ? (là trái chùm ruột)

- Cái gì ở cạnh bờ sông,
Cái mui thì nát cái cong thì còn ?
(là con còng )

- Cái gì bằng ngón chưn cái mà chai cứng, là gì ? (là ngón chưn cái)

- Khi đi cưa ngọn, khi về cũng cưa ngọn,
là gì ? (là con ngựa)

- Miệng bà Ký lớn, bà Ký banh
Tay ông Cai dài, ông Cai khoanh.
Là cái gì ? (là canh bí và canh khoai)


Ngoài ra, còn có câu đố về các con vật, câu đố đặt ra là từ hai con vật nầy khi Nói lái sẽ thành hai con vật khác, đã được giải đáp như sau :

- Con Cua con Rồng lái là Con Công con Rùa

- Con Cáo con Sóc lái là con Cóc con Sáo.

- Con Trai con Rắn lái là con Trăn con Rái.(cá)

- Con Cò con Báo lái là con Cáo con Bò

- Con Sáo con Bò lái là con Sò con Báo

- Con Sếu con Ngao lái là con Sáo con Nghêu …

- con Sâu con Dế –> con dê con sấu

- con Ngao con Sán –> con ngan con sáo

- con Ong con Kiến –> con yến con công

- con Ốc con Kiến –> con yến con cóc

- con Trai con Rắn –> con trăn con rái

- con Ốc con Nhện –> con ếch con nhộng

- Con SÁO nói với con BÒ,
Có con SÒ BÁO: bên kia Hội chùa.
Con CÔNG nghe rũ con RÙA,
Con CUA thấy vậy, mới khua con RỒNG.
Cả bọn kết lại thật đông,
Con CÒ, con SÓC cũng mong theo cùng.
CÓC, SÒ xúm lại đi chung…

- Cô Công nói với Cậu Rùa,
Rồng ở dưới đất, còn Cua trên trời.
Ốc gào Nhện hỡi, nhện ơi:
Ếch bơi phố núi, Nhộng chơi ao làng.
Gió chiều nhẹ thổi mênh mang,
Tao nhân mặc khách lang thang bên đường…


2/- Nói Lái trong Câu Hò đối đáp:

Hò đối đáp vốn là một loại hình thức dân ca phổ biến khắp ba miền đất nước. Nó thường xảy ra trên cánh đồng hay dòng sông, nam và nữ thường hò đối đáp với nhau để xua đi nỗi mệt nhọc trong công việc. Điều đáng ngạc nhiên là họ có thể dễ dàng sáng tạo và hò đối đáp ngay tại chỗ. Những người này rất nhanh nhẹn và thông minh đến mức ngay cả những người có học đôi khi cũng phải khâm phục họ và đôi khi phải bỏ cuộc. Có nhiều cặp trai gái trở thành chồng vợ sau những cuộc hò nầy.

Những câu hò đối đáp thông thường thì rất nhiều nhưng dùng cách nói lái để hò đối đáp thì rất hiếm quý.

# Thông thường thì bên con gái cất cao câu hò đối trước :

“Hò hơ… Con cá đối nằm trên cối đá,
Con mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo.
Anh mà đối đặng… ơ.. ờ
Hò hơ…Anh mà đối đặng, dẫu nghèo em cũng ưng”.

# Sau khi phân tách và tìm câu trả lời, bên con trai hò đáp :

“Hò hơ… Chim mỏ kiến(g) đậu trên miếng cỏ,

Chim vàng lông đáp dựa vồng lang.

Anh đà đối đặng ơ… ờ
Hò hơ…Anh đà đối đặng, hỏi nàng có ưng chưa?”
Và như thế, bên nầy đối, bên kia đáp cứ kéo dài không dứt cuộc tranh tài đầy lý thú của hai bên nam nữ để lại dân gian những câu hò Nói lái độc đáo đầy sáng tạo:

- Con sáo sậu chê cô xấu xạo,
Con chó què chân bị cái quần che.

- Con bé mập ú nhờ bà mụ ấp,
Thằng bé ốm tong vác cái ống tôm.

- Chiều chiều cụ Mão lên rừng cạo mũ,
Sáng sớm bà Hạc đi bán bạc hà.

- Cô nàng dâu Hứa đi mua dưa hấu,
Thằng rể bảnh trai ngồi cạnh bãi tranh.

- Người mặc áo xanh chính là anh xáo, (anh Sáu)

Miếng thịt băm nát trong bụng bác Năm.

- Chàng trai sứt môi ngồi ăn xôi mứt,

- Cô gái mồm to lặn lội mò tôm.

- Con cóc cái ngồi trên cái cốc,

- Con cầy tơ đứng dưới cờ Tây.

Bên cạnh đó còn có những câu Nói lái mà đôi trai gái khéo léo gởi gắm tình cảm cho nhau mà người ngoài vì vô tình không hiểu được. Trước hết, người con gái thố lộ :

- “Cam sành nhỏ lá thanh ương,
Ngọt mật thanh đường nhắm lớ, bớ anh !”

Cảm thương vì “thương anh” mà “nhớ lắm” của nàng nên chàng hứa hẹn :

- “Thanh ương là tuổi mong chờ
Một mai nhái lặn chà quơ, quơ chà”.
(Có nghiã: Qua muốn “nhắn lại” với bậu là nếu “thương anh” mà bậu “chờ qua” thì “qua chờ” bậu).


3/- Nói Lái trong câu đối:

Câu đối là cách chơi chữ và là một trong những thú tiêu khiển của người xưa. Người ta thường viết câu đối trong dịp Tết hay trong các lễ mừng thượng thọ, thăng quan tiến chức, đỗ đạt hay tân hôn, sinh nhật…. Người viết câu đối phải là người văn hay, chữ tốt và nhất là ý nghiã của câu đối phải phù hợp với trọng tâm của buỗi lễ. Cho nên, viết câu đối rất khó mà nói lái trong câu đố thì lại càng khó hơn nữa. Vậy mà trong dân gian Việt Nam vẫn có nhiều câu đối nói lái.

Thảm thương cho cuộc sống thiếu thốn, đói nghèo của nghề giáo dưới chế độ Xã hội Chủ nghiã, người ta than thở qua bài “Buồn đời giáo-chức”:

Thảm kịch của thầy giáo, phải tháo giầy,
Tháo luôn cả ủng, thủng luôn cả áo.
Làm giáo chức, nên phải giứt cháo,
Thảo chương rồi, để được thưởng chao,
Lấy giáo án đem dán áo.

Cùng với một câu đối bất hủ như sau :

- Chiều ba mươi, thầy giáo tháo giày ra chợ bán.
Sáng mùng một, giáo chức dứt cháo đón xuân sang.

Tuy vậy, vẫn còn một câu đối khác nghe chỉnh hơn :

- Thầy giáo… tháo giầy, tháo cả ủng, thủng cả áo, đem giáo án ra… dán áo.

Mèo con….còn meo, còn léo nhéo, kéo lòn nhòn, ngậm xương cá về..ca xướng.

Còn đây là câu đối Tết dành tặng cho những tên keo kiệt, coi trọng đồng tiền hơn bất cứ mọi thứ trên đời (xin nói lái từng cặp chữ thì sẽ thấy):

- Thiên tường, tác biệt,
Hiền tạ, thu sương.

Ngoài ra, còn có những câu đối không dùng trong mục đích nào cả mà chỉ để thỏa mãn tánh trào phúng và tài Nói lái của mình :

- Kia mấy cây mía trên xe chú,
Có vài cái vò dưới nhà cô.

- Thầy giáo tháo giầy, vấy đất vất đấỵ

- Thầy tu thù Tây, cầu đạo cạo đầu.

- Trai Thủ Đức năm canh thức đủ,
Gái Đồng Tranh sáu khắc đành trông.
- “Trai Thủ Đức năm canh thức đủ,
Gái Gò Công sáu khắc gồng co”.

- Gái Hóc Môn vừa hôn vừa móc,
Trai Gò Công vừa gồng vừa co.

- Thầy giáo Bản Giốc, vừa bốc vừa giảng,

- Tử tù Cổng Trời, bị cởi bị trồng.

- Con trai Bắc Ninh, vừa binh vừa nắc,

- Con gái Hà Đông, hồng diện đa dâm.

- Đại học Suối Máu, sáu tháng muối cơm,

- Giáo khu Thừa Thiên, cửa thiền thưa thớt.

- Dân nhậu Chu Lai, uống chai uống lu,

- Người dân Đập Đá, bị đá bị đập.

- Rượu thuốc Bạch Hổ, uống bổ như hạch,

- Con gái Đà Nẵng, tứ đẳng nõn nà.

- Nhà văn Nhật Tiến bảo học tiếng Nhật là tiện nhất.

- Luật sư Ðức Tiến không biết tiếng Ðức nên tức điếng.

- Con cá rô cố ra khỏi rá cô !

- Chú chó mực chực mó vào chõ mứt.

- “Vợ nuôi chó, chồng chén cầy; tứ đốm tam khoanh, cây còn hóa ra là nhà Tuất.

- “Ngưòi bảo heo, kẻ kêu lợn; ba bầy bảy mối, lớn lại thành đích thị họ Trư.”


Còn về câu đối “Gái Củ Chi, chỉ cu, hỏi củ chi?” thì có các câu :

- Trai Giồng dứa, trồng dừa giống, trên giồng dứa.

- Trai Láng Hạ, lạ háng người Láng Hạ.

- Trai Thành Đông, đồng thanh hét thành đồng.

Sau hết, có một người thích nói lái, tức cảnh sinh tình đưa ra câu đối sau đây, xin mời chư quý vị tìm cho câu đáp :

- “Xuân Cali lạnh lẽo, nghe gọi heo, gọi lợn, gọi chó, gọi cờ tây, chạnh thèm bát giả cầy…”


4/- Nói lái trong các giai thoại:

Giai thoại được hiểu là câu chuyện thú vị làm cho người nghe phải hào hứng, vui thích. Từ xưa, có rất nhiều giai thoại, đặc biệt là giai thoại trong văn chương thì không những được người đời truyền tụng qua những cuộc trao đổi trong giới Văn gia, trí thức mà còn được ghi vào sách vở. Tuy nhiên, có những giai thoại Nói lái thì ít người quan tâm, thỉnh thoảng họ cũng có nghe qua nhưng rồi bỏ, xem đó như là những câu chuyện dân gian. Vì vậy, những giai thoại nầy trở thành loại văn chương truyền khẩu, mặc ai muốn kể sao thì kể, muốn thêm thắt thế nào cũng được miễn đáp ứng được sự cảm nhận của người nghe là được.

A)- Chuyện Đại phong :

Chuyện thế này: hai anh hề trên sân khấu tuồng ngoài Bắc, trong lúc diễu giúp vui, anh A đố anh B: Đại phong là gì?

- “Thì đại là lớn, còn phong là gió, đại phong là gió lớn”, anh B giải thích.

Anh A bảo :“ Đại phong có nghiã là lọ tương đấy. Nầy nhé, Đại phong là gió lớn, mà gió lớn thì chùa đổ, chùa đổ thi tượng (Phật) lo, tượng lo là lọ tương.

Có người còn cho rằng chuyện Đại phong xuất xứ từ Trạng Quỳnh. Trạng Quỳnh tên thật là Nguyễn Quỳnh, sinh quán Nghệ An dưới thời Lê Trung Hưng (1530-1540), là người hay chữ, thông minh xuất chúng, với bản tính nói ngông hay châm chọc vua chúa quan quyền thời bấy giờ. Một hôm Quỳnh dâng lên chúa Trịnh một lọ thức ăn khoác lác là một món ăn tuyệt hảo, ngoài có đề hai chữ Đại Phong. Sau khi ăn thử, chúa Trịnh vì bị Trạng lừa bỏ đói, ăn rất ngon miệng nên cật vấn về món ăn lạ, thì Trạng giải thích rằng Đại Phong là gió to, gió to thì tượng lo, tượng lo nói lái là lọ tương.

Ngoài ra, Trạng Quỳnh còn có một câu nói lái khác mà người ta cho rằng để chọc bà Đoàn thị Điểm (?)

- Nắng cực lúa mất mùa, đứng đầu làng xin xỏ,
Nỡ lòng nào chị chẳng cho.

B)- Chuyện Trạng Quỳnh – “đá bèo” và “ngọa sơn” :

Một bà Chúa có nhan sắc mà tính kiêu ngạo, đi ra chơi phố phường thấy ai trái ý là sai lính bắt đánh liền. Quỳnh lững thững đi chơi, gặp kiệu Chúa, thấy gần đấy có cái ao bèo, vội vàng chạy xuống cầu ao nhằm đám bèo mà đá tứ tung. Chúa biết Quỳnh, thấy chơi lẩn thẩn như thế mới hỏi:

- Ông làm gì đó?

Quỳnh ngẩng lên thưa:

- Tôi ở nhà buồn quá, ra ao đá bèo chơi ạ !

Chúa đỏ mặt tía tai, đánh kiệu bỏ đi.

Một buổi trưa nọ, Quỳnh định vào nội phủ thăm Chúa nhưng biết là Chúa đang ngon giấc ở dinh bà Chính cung, Quỳnh cụt hứng lui gót. Trên đường về, Quỳnh đề lên vách phủ hai chữ “Ngọa Sơn”. Khi Chúa gọi vào hỏi, Quỳnh trả lời :

- Khải Chúa, “Ngọa Sơn” nghĩa là nằm ở trên núi, có thế thôi ạ! Tiện tay, thần viết chơi, chẳng có gì để Chúa bận tâm cả.

Sau đó, Chúa thấy hai chữ “Ngọa Sơn” xuất hiện la liệt trên các vách tường, cửa nhà ngoài phố…Chúa truyền gọi một người đến hỏi duyên cớ. Người kia run lẩy bẩy, thưa:

- Chúng con là kẻ hèn mọn dốt nát, đâu dám sính chữ. Việc này chẳng qua chỉ tại Trạng Quỳnh đấy ạ ! Trạng Quỳnh có lần vào nội phủ, về mách với chúng con là Chúa đang bận “Ngọa Sơn”, rồi giải thích rằng: Ngọa là nằm, nằm lâu thì phải ngủ, ngủ thì phải ngáy. Sơn là núi, mà núi thì phải có đèo. “Ngáy Đèo” nói lái lại là… , con không dám nói ra đâu. Không ngờ bọn trẻ con nghe lỏm được lời Trạng, buồn tay viết bậy bạ lung tung. Xin Chúa tha cho con!

Hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện này là do Quỳnh, có làm lớn chuyện ra chỉ tổ thêm xấu hổ nên bỏ qua.

C)- Chuyện Đại điểm Quần thần:

Một giai thoại về Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm được lưu truyền ở miền Nam như sau : hồi Thủ Tướng Tâm còn là Quận Trưởng Cai Lậy (có biệt danh là Hùm Xám Cai Lậy) lúc ăn mừng tân gia, có người dâng lên quan bốn chữ đại tự Đại Điểm Quần Thần rất đẹp và giải thích Quần thần là người bề tôi, Đại điểm là điểm lớn, ý nói quan lớn là người bề tôi có vị trí to lớn trong quan trường. Quan lấy làm thích thú đem treo bức liễn trong phòng khách. Ít lâu sau có người đến ngắm bức liễn, rồi xin quan lớn dẹp đi. Quan ngạc nhiên hỏi, người ấy giải thích: người viết liễn đã cố ý châm biếm quan lớn, mà quan không biết. Bốn chữ trên dịch từng chữ: Đại điểm là chấm to; Quần thần là bầy tôi. Đại Điểm Quần Thần là Chấm To Bầy Tôi nói lái lại là Chó Tâm Bồi Tây. Chẳng biết quan có tìm tác giả bốn chữ nói trên để trị tội hay chăng, nhưng có lẽ vì không muốn làm lớn chuyện mà thêm xấu hổ, nên ỉm luôn.

D)- Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nói lái :

Trước khi chết, Trạng Trình (1491-1585, thời Lê Mạc) có làm một tấm bia căn dặn con cháu khi nào chết nên đem tấm bia nầy chôn trước mộ, tấm bia được khắc chữ bên trong nhưng sơn bít bên ngoài. Sau đó chừng 100 năm, cha con ông Khả đem bò tới đó cho ăn mà lại cột nhằm mộ bia của Trạng. Hôm đó nhằm lúc trưa nắng, vì quá khát nước nên bầy bò đụng với nhau, chạy tán loạn làm gẫy tấm bia, sập xuống. Làng xã hay tin biết cha con ông Khả làm hư mồ mả của Trạng nên bắt về trị tội. Cha con ông Khả năn nỉ quá, xin cho đi vay bạc hỏi tiền làm lại tấm bia khác thường cho Trạng. Làng xã thấy tội nghiệp nên ưng thuận. Sau khi vay mượn và bán hết đồ đạc trong nhà thì chỉ được có một quan tám, nhưng được bao nhiêu cũng phải tiến hành sửa chữa. Đến chừng đập bia ra vừa tróc lớp ô dước bên ngoài thì thấy có hàng chữ như thế nầy:”Cha con thằng Khả làm ngã bia ta, Làng xã bắt đền tam quán”. Thì ra tam quán nói lái thành quan tám, đúng như lời tiên tri của ông Trạng.

Đ)- Chuyện về ông Thủ Thiệm theo “Thủ Thiệm Đất Quảng” của Hoàng Quốc)

Thủ Thiệm người xứ Bình Định, xã An Hoà thuộc phủ Hà Đông sau đổi thành Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam. Ông sinh năm 1854 mất vào năm1920 tại quê nhà. Lúc nhỏ, Thủ Thiệm có tên là Nhơn, khi lớn lên đi học và đi thi, ông lấy tên chính thức là Thiệm. Theo phong tục xưa, Thủ sắc là người giữ các sắc phong của Vua ban cho làng, chức này thường được Hội đồng kỳ mục tín nhiệm giao cho các nhà Nho, hoặc ít ra cũng là người có chữ nghĩa thánh hiền ở trong làng đảm nhận. Có lẽ nhờ thông Hán học mà Thiệm được giao làm Thủ sắc của làng. Từ đó, người làng gọi ông là Thủ Thiệm, tức đem ghép chức Thủ sắc vào tên ông. Ông là người hoạt bát, nhanh nhẹn, thông minh, ứng đối tài tình nên có nhiều giai thoại để đời :

- Một đám cưới nọ tổ chức rất linh đình, hơn nữa số lễ vật của khách đến chúc mừng cũng để bù đắp vào các khoản chi phí, đó là chưa nói đến trường hợp gia chủ được lãi, nếu có chủ tâm tính toán trước. Thủ Thiệm ghét cay ghét đắng cái thói này. Tương truyền có một chuyện như vầy: Khi đi dự đám cưới, Thủ Thiệm mua một tấm lụa, viết lên đó ba chữ Hán thật to:”Miêu Bất Tọa” làm quà tặng đám cưới. Trong tiệc rượu, nhiều người nhờ Thủ Thiệm giải thích mấy chữ đó. Thủ Thiệm chép miệng: – Chà có rứa mà mấy ông cũng hỏi! “Miêu” là mèo, “Bất” là không, “Tọa” là ngồi. “Miêu Bất Tọa” là mèo không ngồi, mà mèo không ngồi tức là mèo đứng. Các ông các bà mừng “Bách niên giai lão”, “Bách niên hạnh phúc”, còn tui thì “Mèo Đứng” cũng vậy mà thôi chứ có khác gì đâu. Nhìn thấy tấm lụa có chữ “Miêu Bất Tọa” treo trang trọng giữa phòng chính, ai cũng bấm bụng cười thầm.

- Có cậu con trai học dốt, thi trượt nhưng người cha đã bỏ tiền mua chức cửu phẩm văn giai, mở tiệc đãi cả làng mừng con trai đỗ đạt. Mừng cháu có thành tích, Thủ Thiệm cho câu đối Nôm:

“Cha ở nhà đại du
Con đi thi đậu tru”

Câu đối Nôm dán trên cột nhà khiến chủ nhà bật ra tiếng chửi đổng, còn khách khứa tủm tỉm cười thầm.

- Trong ngày đám tang vợ, Ông đề trên lá phướn vợ chữ khuynh địa có nghĩa là méo đất, và khóc vợ, rồi kể lể thờ dài: “Lúc thiếu “cái nớ” thì làm răng mà các dì giúp tui được, phải không các dì?” khiến bà con chòm xóm “lỡ khóc, lỡ cười” với ông chủ nhà trong lúc tang ma bối rối.

E)- “Méo trời và Méo đất”:

Có một ông thợ hớt tóc góa vợ nên đã quan hệ “già nhân nghĩa, non vợ chồng” với một bà góa chồng. Có hai câu thơ ông tự “vịnh” về mối quan hệ của chính mình thực đáng ghi nhớ :

Yêu em từ độ méo trời,
Khi nào méo đất mới rời em ra (!)

Yêu từ thuở “méo trời” đã hay, nhưng công khai thừa nhận sẽ hết yêu khi “méo đất” dẫu có hơi ác nhưng cách dùng từ thì quả thực tinh quái và thông minh hết chỗ chê.

G)- Bài thơ Tác hợp : (theo “Quảng Nam Nói Lái” của Huỳnh ngọc Chiến)

Ở xứ Quảng Nam có ông Dương Quốc Thạnh, biệt hiệu Sơn Hồ, chuyên làm thơ nói lái theo thể Đường luật, đối nhau chan chát trong từng câu từng chữ. Có một cậu công nhân gốc Hội An làm việc ở Phú Ninh quan hệ với một cô thợ may ở địa phương mang bầu. Cậu về thú thực với gia đình và xin cưới gấp nhưng ba mẹ không chịu. Ông lại là người quen biết cả hai bên nên nhà gái nhờ ông thuyết phục bên nhà trai. Cuối cùng đám cưới vẫn được diễn ra với cô dâu mang bụng bầu 6 tháng (!). Không khí nặng nề giữa hai họ được giải tỏa hoàn toàn khi ông, với tư cách chủ hôn, đọc bài thơ này và nhà trai thực sự vui vẻ khi tuyên bố nhận con dâu.

Ai bàn chi chuyện đã an bài,
Trai khiển đồng tình gái triển khai.
Cứ sợ cho nên thành cớ sự,
Mai than mốt thở lỡ mang thai.
Tính từ ngày tháng vương tình tứ,
Khai ổ bây giờ báo khổ ai.
Cưỡng chúng ông bà nghe cũng chướng,
Thôi đành để chúng được thành đôi !

Bài thơ quả thật vô cùng sâu sắc và lý thú. Chuyện đã rồi thì thôi đừng bàn ra tán vô làm chi. Do chàng trai điều khiển nên cô gái mới phải chìu theo nhưng lỗi là do cô đồng tình nên cũng không thể trách ai. Vì quan hệ lén lút nên mới xảy ra “cớ sự”. Bây giờ đã sắp đến ngày sinh nở rồi, sắp đến lúc “khai ổ” rồi mà đám cưới không thành thì sẽ làm khổ cho cả hai bên nhà trai nhà gái lẫn hai người trong cuộc.

Thêm một chuyện khác là ở Quận Đại Lộc cũng thuộc Quảng Nam có anh Trần Hàn xấu trai, mặt thì rỗ, lại thêm chột hết một mắt, nhưng anh ta hát hay nổi tiếng. Nhưng “Cao nhơn tắc hữu cao nhơn trị”, vì khi anh xuống làng La Qua, quận Điện Bàn, gặp một cô gái hát chỉ hai câu mà không tài nào đối được, đành bỏ nghề hát, tuyệt tích giang hồ. Câu hát rằng:

Trần ai gặp lúc cơ hàn
Rổ đan mặt mốt, xuống ngàn đổi khoai.

Cái chữ khó của câu hát là chữ “Rổ” đan mặt mốt, nghĩa trắng là nghèo quá phải đan rổ tre long mốt để đựng khoai, nghĩa đen lại là mặt rỗ hoa mè lại đui một mắt (mặt mốt nói lái là một mắt).

H)- Tranh đấu bị trâu đánh :

Ở một cơ quan nọ (dĩ nhiên là cơ quan của Việt cộng) có hội nghị họp chống tham nhũng cửa quyền. Gần kết thúc cuộc họp có một chị công nhân cũ của nhà máy đòi đứng lên phát biểu. Chị vừa nói vừa khóc: “Chúng tôi cũng muốn đấu tranh đòi quyền lợi lắm, nhưng như tôi đây, đấu tranh thì không biết tránh đâu, chưa kịp tránh đâu thì đã bị trâu đánh. Vì vậy bây giờ tôi đang thất nghiệp !

I)- Một mẩu đối thoại :

A: Bên đó thế nào ?
B: Ồ, có đại phong.
A: Làm gì thì làm, nhớ thủ tục đầu tiên đấy nhé !
B: Vâng, biết rồi, khổ lắm nói mãi. À, anh thấy cô ấy thế nào ?
A: Người đẹp có đôi chân thảo bình nên hình chụp tôi lộng kiếng rồi !
B: Anh thì lúc nào cũng tếu, cũng vũ như cẩn vậy.
A: Thôi chào, chúc anh mạnh sự lòi.!!!

(Chú thích : – Thảo bình, theo nghiã Hán Việt, thảo là cỏ, bình là bằng. Thảo bình là cỏ bằng. Cỏ bằng nói lái là cẳng bò. – Mạnh sự lòi nói lái là Mọi sự lành).

K)- Bài thơ chú Phỉnh :

Tạp chí Xưa Nay số 298 (12/2007), nhân kỷ niệm 15 năm ngày mất của Quách Tấn (một nhà thơ sở trường Thơ Đường luật có tên trong “Thi nhân Việt Nam”) có bài viết về tác giả bài thơ nói lái Chú Phỉnh nổi tiếng. Bài thơ nói lái như thế này:

Chú phỉnh tôi rồi Chính phủ ơi,
Chú khiêng đi mất chiến khu rồi !
Thi đua sao cứ thua đi mãi,
Kháng chiến như vầy khiến chán thôi !.

Theo ô.Quách Tạo, tác giả bài thơ nói lái này là Hồ Đệ, người đã gây dựng vào năm 1954 ở Quảng Nam tổ chức Hậu Quốc Dân Đảng phối hợp với nhóm các chức sắc Cao Đài do Cao Hữu Chí đứng đầu để chống Việt Minh và đã bị Tòa án Liên khu V xử.
Không hiểu sao về sau người ta lại cứ nghĩ tác giả bài thơ nói lái này là nhà thơ Quách Tấn, có thể vì theo lý luận của hỏi-cung-viên Cao Kế: “Bài thơ Đường này anh không làm thì ai vô đây mà làm?”.

Về chuyện này, năm 1991, Quách Tấn, khi đó đã mù, nói với Quách Tạo: “Việc đời cũng lạ. Văn của mình thì họ chê nhưng lại đem chép hàng vài chục trang sách của mình rồi ký tên, xuất bản làm tác giả. Còn văn bá láp và phản động thì họ lại quả quyết đó là của mình để tìm cách buộc tội”.

Cùng với tư tưởng “phản động” nầy, trong bài “Nói lái” của Đỗ Thông Minh cũng có ghi bài thơ “chú Phỉnh” tuy có khác đi đôi chút :

Kháng chiến thôi rồi khiến chán ôi,
Chiến khu để lúa chú khiên rồi !
Thi đua chi nữa thua đi quách,
Anh hùng ? Chỉ tổ ung hành thôi !

Rõ ràng, chính vì bài thơ được phổ biến bằng cách truyền miệng nên tình trạng “tam sao thất bổn” là không thể tránh, mặc dù nội dung không thay đổi nhiều lắm.

L)- Câu ró và Câu rạo :

Có anh chàng nọ trước kia để râu trông rất đẹp nhưng sau đó không biết lý do gì, cạo đi hàm râu của mình làm cho cô bạn gái nhận không ra. Chàng bèn làm thơ nói lái như vầy để than thở :

Xưa kia câu ró ngó xinh,
Bây giờ câu rạo vô tình ngó lơ!

M)- Nói lái để hẹn hò :

Trai gái miền Trung hẹn hò gặp gỡ nhau, sợ có người nghe nên tìm cách nói lái vẩn vơ về ruộng đồng, rơm rạ để hiểu ngầm với nhau.
Chàng nói bâng quơ: “bị môn, bị khoai, bị nưa”. Nàng chưa có cơ hội nên khất: “cau khô, trầu héo, tái môi.” hay “nón cụ, quai thao, tốt mối, xấu cuồng” hoặc “bưởi đỏ, cam sành, tốt múi”..

Người qua đường không thể hiểu rằng bị nưa là bựa ni (tức là bữa nay), tái môi là tối mai, tốt mối xấu cuồng là tối mốt xuống cầu, tối múi là túi mốt (tức là tối mốt).

N)- Đặt tên con :

Biết Tú Đạp là dân học thức nên có người quen nhờ đặt tên cho đứa con trai vừa mới sinh. Sau mấy ngày suy nghĩ, anh đề nghị người quen nên đặt tên con là Gia Bảo vì cái tên này nói lên rằng cả gia đình rất quí cậu bé.

Sau khi làm giấy khai sinh cho cậu bé được mấy ngày, ông bố đến gặp Tú Đạp giận dữ hỏi:

- Tại sao anh biết là hồi đó chúng tôi mua phải loại bao giả, hả? Bao nội địa thì có khi bị rách, chớ làm gì có bao giả !!! (Gia Bảo nói lái là Bao giả !)

O)- Thuyền ta lái gió :

Biết nói lái, biết trò chơi chữ để thưởng thức cái của trời cho mà còn để tránh… làm phiền người nghe vì lời thật mất lòng. Nhưng cũng có trường hơp ngược lại, người nói vô tình nói lái làm khổ cả người nói lẫn người nghe.
Số là, có một ông thầy giáo khi đọc đề thi về bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận, thay vì đọc câu:

“Thuyền ta lái gió với buồm trăng”

đã vô tư đọc thành

“Thuyền ta ló giái với buồm trăng”,

khiến cả lớp cười rần lên làm ông thầy sượng chết người.

Ôi, tiếng Việt đáng yêu mà cũng đáng sợ quá!!!!

(st)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 2 users thanked phamlang for this useful post.
ASIAlcoholic on 6/4/2015(UTC), tieng Viet on 6/7/2015(UTC)
CatLinh  
#156 Posted : Wednesday, June 3, 2015 6:38:19 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
Lý Do? Dể hiễu thôi! Àgree mí chú phamlang Woot ThumpUp Whistle Whistle Whistle Boo hoo! Boo hoo! LOL Flapper Muốn biết xì coi Video Luong Son Bá Chúc Anh Đài khakhaha ThumpUp Woot Flapper Flapper Shame on you Shame on you RollEyes Sneaky Lêu lêuRollEyes Coi chưa Tí Quây, hiểu chuâ?Woot Sneaky BigGrin BigGrin Funny khakhaka LOL LOL Flapper Whistle Whistle

Edited by user Thursday, June 4, 2015 2:19:29 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 4 users thanked CatLinh for this useful post.
ASIAlcoholic on 6/4/2015(UTC), tieng Viet on 6/7/2015(UTC), phamlang on 6/8/2015(UTC), stormy on 6/11/2015(UTC)
CatLinh  
#157 Posted : Wednesday, June 3, 2015 6:41:23 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 2 users thanked CatLinh for this useful post.
ASIAlcoholic on 6/4/2015(UTC), phamlang on 6/8/2015(UTC)
CatLinh  
#158 Posted : Thursday, June 4, 2015 2:23:55 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
Originally Posted by: phamlang Go to Quoted Post
Sưu tấm

Cậu chuyện bằng chữ " C "


Cậu Cẩn con của cụ Chánh, cháu của cô Cúc, cháu của chú Chiến.

Cậu Cẩn có con chó cỡ con chồn, cẳng con chó cao cở cẳng con cò, cổ cũn cởn cở cổ con cóc. Cổ con chó cậu cột cái chuông. Cậu cưng con chó cùng cực, con chó cũng cưng cậu. Cứ chiều chiều cậu cõng con chó, cầm chiếc cần câu chăm chỉ câu cá chép cạnh chân cầu cuối cồn cát. Cậu chăm chú canh chừng cước cần câu, chốc chốc cậu cất cao cần câu coi. Con cá chép cắc cớ cắn câu, cậu Cẩn cất cao cần câu, cậu cười. Chốc chốc cả con cá chuối cũng cắn câu. Cậu Cẩn cầm con cá chuối chặt cổ, chìa cho con chó cưng của cậu. Con chó của cậu cắn cổ con cá chuối co cẳng chạy. Cậu Cẩn cất cần câu, cùng các cậu choai choai chơi cờ cạnh cổng chợ.

Chơi cờ chán chê, cậu cõng con chó. cầm con cá chép cậu chuồn. Cậu Cẩn cho con chó của cậu chui chuồng, cậu cầm con cá chép cậu cạo, cậu chặt, cậu cho chảo cậu chiên. Cá chín, cậu Cẩn cùng cụ Chánh chén cá chép chiên chấm cà cuống cùng chuối chát.

Con chó cưng của cậu Cẩn cứ chập chờn cửa chuồng chở chực. Cuối cùng cậu Cẩn cho con chó chén cơm chiên cùng chút cá chép. Con chó cạp chén cơm chui chuồng. Cụ Chánh côi cút, cụ cũng có con chim chích choè cùng cái chuồng chim cáo cạnh, cụ cưng con chim của cụ.

Cứ chốc chốc cụ cầm cái chổi chà chống chân, cụ chầm chậm chộp các chú chuồn chuồn chập chờn cạnh cây cam cho con chim của cụ chén. Có chiều, cậu Cẩn cùng các chú choai choai câu cá, câu cua chỗ cống của cậu Cử. Cậu=2 0cột con chó cưng của cậu cạnh cửa. Con chó của cậu Cẩn cà chớn cứ chực cắn con chim của cụ Chánh. Cụ Chánh cầm cây chổi chọc con chó, con chó co cẳng chạy. Cụ Chánh cảnh cáo cậu Cẩn, cậu chỉ cười cậu còn cãi cối.

Cũng có chiều cậu Cẩn cần công cán chỗ công cộng. Cậu cũng cột con chó của cậu cạnh cửa chuồng. Cụ Chánh cùng cụ Chẩn chơi cờ. Cụ Chẩn cũng có con chó choai choai, cụ chẳng coi chừng, cụ cột con chó cạnh chỗ con chim của cụ Chánh. Con chó của cụ Chẩn cùng con chó của cậu Cẩn cắc cớ chỉ chờ chực cắn chim của cụ Chánh. Cụ Chánh cầm cây cố cản, con chó cứ cào cấu, cứ cằn cằn. Chợt con chó của cậu Cẩn chồm cẳng cao cắn cái chuồng chim của cụ Chánh. Con chim chích choè chạy cuống cuồng cầu cu cụ Chánh.

Con chó của cụ Chẩn cắn cụt cánh, con chó của cậu Cẩn chặn cửa cắn chân, cắn cổ con chim. Chim của cụ Chánh cụt cẳng, cụt cánh, cuối cùng chết cứng, chỉ còn cái chân còn cục cựa.

Cụ Chánh cay cú cầm cây cối chục cân cất cao choảng con chó. Con chó của cụ Chẩn cà cuống co cẳng chạy. Cái cối cán cẳng con chó của cậu Cẩn cái “cộp“ chát chúa, con chó cố chạy - cụ Chánh cầm cây cuốc cuốc cổ con chó. Con chó của cậu Cẩn chùn chân. Cuối cùng cụ Chánh chém con chó chết cứng.

Cụ Chánh cùng cụ Chẩn cắt cổ con chó, các cụ cầm chép các cụ cạo, các cụ chất con chó cạo vào chỗ có củi cháy.

Cẳng con chó cong cong, các cụ chờ con chó chín các cụ chặt, các cụ cưa. Cụ Chánh cất cho cậu Cẩn cái cẳng, cái cổ. Còn cả con chó các cụ cho chảo các cụ chiên. Con chó chết các cụ có cớ chè chén.

Chó chiên, chả chìa, củ chuối. Chốc chốc các cụ cùng chạm cốc, các cụ cười.

Cậu Cẩn chăm chú coi chân, coi cổ con chó. Cậu Cẩn cấu cụ Chánh: "Chó chết!"


LOL LOL LOL LOL khakhaka tiếng Việt phong phú ThumpUp ThumpUp Smile Smile Smile Smile Woot
UserPostedImage
thanks 3 users thanked CatLinh for this useful post.
ASIAlcoholic on 6/4/2015(UTC), tieng Viet on 6/7/2015(UTC), phamlang on 6/8/2015(UTC)
ASIAlcoholic  
#159 Posted : Thursday, June 4, 2015 8:04:15 PM(UTC)
ASIAlcoholic

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 12/21/2011(UTC)
Posts: 1,213
Location: USA

Thanks: 2319 times
Was thanked: 1592 time(s) in 850 post(s)
Originally Posted by: Cat' Go to Quoted Post
Lý Do? Dể hiễu thôi! Àgree mí chú phamlang Woot ThumpUp Whistle Whistle Whistle Boo hoo! Boo hoo! LOL Flapper Muốn biết xì coi Video Luong Son Bá Chúc Anh Đài khakhaha ThumpUp Woot Flapper Flapper Shame on you Shame on you RollEyes Sneaky Lêu lêuRollEyes Coi chưa Tí Quây, hiểu chuâ?Woot Sneaky BigGrin BigGrin Funny khakhaka LOL LOL Flapper Whistle Whistle


UserPostedImageUserPostedImage
thanks 3 users thanked ASIAlcoholic for this useful post.
tieng Viet on 6/7/2015(UTC), phamlang on 6/8/2015(UTC), stormy on 6/11/2015(UTC)
ASIAlcoholic  
#160 Posted : Thursday, June 4, 2015 8:10:09 PM(UTC)
ASIAlcoholic

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 12/21/2011(UTC)
Posts: 1,213
Location: USA

Thanks: 2319 times
Was thanked: 1592 time(s) in 850 post(s)
UserPostedImage
thanks 2 users thanked ASIAlcoholic for this useful post.
phamlang on 6/8/2015(UTC), stormy on 6/11/2015(UTC)
Users browsing this topic
Guest
11 Pages«<678910>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.