Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

11 Pages«<56789>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
phamlang  
#121 Posted : Monday, December 8, 2014 4:25:43 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Người Việt Nam viết đúng chữ Việt Nam: Chuyện i (ngắn) và Y (dài)



Trong những tranh luận về tiếng Việt, nhất là về chính tả, hẳn chúng ta đã được đọc nhiều bài viết về cách dùng hai chữ cái “ i “ và “ y “ trong nhiều năm qua. Cuộc tranh luận này dường như còn lâu lắm mới đến hồi kết thúc. Bài viết này không nhằm đưa ra một tranh luận mới, mà chỉ xin đưa ra một cái nhìn chung và những dữ kiện khách quan về vấn đề này.

Người viết bài đã sinh hoạt trong Ban Đại Diện các Trung Tâm Việt Ngữ Nam California từ tám năm nay với các Khoá Huấn Luyện và Tu Nghiệp Sư Phạm hằng năm vào mùa hè. Trong Khoá HLTNSP năm 2003, nhân nói chung về những điểm vô lý trong chính tả tiếng Việt, chúng tôi cũng có đưa ra một số nhận xét về cách dùng i và y một cách khái quát. Gần đây hơn, vào Khoá HLTNSP năm 2011, trong một lớp nói về cách phát âm phụ âm của học sinh Mỹ gốc Việt, chúng tôi cũng được vài khoá sinh hỏi về cách dùng hai chữ này. Chúng tôi đã dùng cách “khôi hài hoá” vấn đề và trả lời như sau:

Cách dùng i hay y là tuỳ theo sự việc mà từ ngữ diễn tả. Khi hai vợ chồng bỏ nhau mà làm thủ tục êm xuôi, nhanh chóng, thì viết là li dị; nếu thủ tục rườm rà, có nhiều tranh chấp, kéo dài thời gian, thì viết là ly dỵ. Người chữa bệnh lâu năm, có nhiều kinh nghiệm thì gọi là bác sỹ; kẻ mới ra trường y khoa, chưa có kinh nghiệm, thì gọi là bác sĩ. Cũng vậy, loại bánh baguette dài thì viết là bánh mỳ, còn loại bánh ngắn thì viết là bánh mì, v.v. Cứ theo cách này, chúng ta sẽ tha hồ mà có muôn ngàn từ ngữ với i và y để diễn tả những khác biệt tinh tế về ý nghĩa của tiếng Việt.

Nhưng đấy chỉ là nói đùa cho vui mà thôi. Nếu nghiêm chỉnh mà nhìn vào vấn đề của i và y thì chúng ta thấy được những gì? Trước khi vào chuyện, chúng tôi xin được phép không đồng ý với một ý kiến là cách phát âm của i và y khác nhau. Theo ý kiến này, i đọc ngắn lại còn y đọc dài ra. Xin quý vị thử nghĩ, chúng ta có đọc ngắn chữ i trong chữ ti tiện và đọc dài chữ y trong chữ công ty không? Đó là chưa nói đến có một số chữ mà xem ra viết với i hay y cũng đều được chấp nhận, không nhiều thì ít, như quí báu hay quý báu (hay lại theo cái kiểu, quí có nghĩa là quí in ít, còn quý là quý nhiều nhiều?!!), hoặc là lâm li hay lâm ly, v.v.

Khi bàn đến ngôn ngữ, nếu chúng ta có thể dẫn chứng một vài ngôn ngữ khác để rộng đường dư luận thì cũng là một điều hay. Không riêng gì tiếng Việt mà tiếng Anh xem chừng cũng khá lúng túng với i và y. Trong một cuộc trao đổi ý kiến với một đồng nghiệp của chúng tôi là giáo sư Lâm Lý Trí, ông đưa ra một ví dụ trong tiếng Anh mà tôi rất lấy làm tâm đắc. Ông bảo ngay trong chữ city của tiếng Anh cũng đã có hai chữ đó sống chung hoà bình với nhau. Chúng ta biết rằng tiếng Anh là thứ tiếng có trọng âm (stress), và trong chữ city vần đầu có trọng âm. Nhưng như vậy thì hoá ra vần ci- có trọng âm phải đọc chữ i kéo dài, còn vần –ty không có trọng âm thì phải đọc chữ y ngắn lại hay sao? Và như vậy thì ngược với ý kiến trong tiếng Việt mà chúng tôi đã nêu trên.

Có quý vị sẽ bảo, Nhưng không thể lấy tiếng Anh hay một thứ tiếng nào khác để chứng minh một điều trong tiếng Việt! Điều này có thể đúng mà cũng có thể không đúng. Các ngôn ngữ trên thế giới có liên quan với nhau về nhiều mặt. Hẳn quý vị có biết một ngân hàng lớn ở Mỹ đã lấy tên là Citibank với chữ i, như vậy đủ chứng tỏ là i cũng thay thể y được, mà cách đọc của chữ mới này có khác với cách đọc của chữ city đâu?

Chúng tôi xin đưa thêm một ví dụ trong tiếng Anh nữa để chúng ta thấy là i và y thật ra có thể thay thế lẫn nhau trong rất nhiều trường hợp. Trong tiếng Anh, một trong những tiền tố (prefix) phủ định là dis-, có thể thấy trong rất nhiều chữ như disrespectful, dishonest, discontinue, v.v. Thế nhưng, đùng một cái, chúng ta thấy chữ dysfunctional viết với chữ y. Như vậy thì tiền tố dys- này có đọc dài hơn với tiền tố dis- hay không? Chắc quý vị đã có câu trả lời.

Trở lại với tiếng Việt, đặc biệt là chính tả tiếng Việt, chúng tôi xin nêu ra hai đặc tính căn bản trong chính tả, áp dụng không những cho chính tả tiếng Việt, mà cho bất cứ thứ tiếng nào có hệ thống chữ viết. Đặc tính thứ nhất của chính tả là tính tuỳ tiện (arbitrariness). Theo đặc tính này, người nói ấn định một dấu hiệu nào đó trong cách viết để biểu hiện một âm, một vần hay một chữ nào đó trong cách nói. Thí dụ như trong chính tả tiếng Việt, chữ p là để biểu hiện âm /p/. Sự biểu hiện này chỉ đúng với tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp, v.v., nhưng lại chẳng có nghĩa lý gì với một số tiếng khác.

Chẳng hạn như trong tiếng Tagalog (dùng ở Phi-luật-tân), chữ p có âm /f/ (như trong chữ pamilya, có nghĩa là gia đình), còn trong tiếng Nga, chữ p lại có âm /r/ (như trong chữ роза, có nghĩa là hoa hồng). Đấy, chính tả tuỳ tiện là ở chỗ đó. Không có chân lý tuyệt đối trong chính tả.

Đặc tính thứ nhì của chính tả là tính ước lệ (conventionality). Sau khi đã tuỳ tiện quy ước một dấu hiệu nào đó trong cách viết là để biểu hiện cho một âm, một vần, một chữ nào đó trong tiếng nói, những người cùng dùng chung một ngôn ngữ đồng ý với nhau về quy ước đó và cứ như vậy mà áp dụng. Tính ước lệ cũng thấy trong nhiều lãnh vực khác, như các bảng chỉ dấu hiệu đi đường.

Chúng ta đã quá quen với những bảng dấu hiệu đó và chỉ hiểu mỗi dấu hiệu theo một nghĩa duy nhất (theo ước lệ), mà không thể, hay không muốn hiểu theo một nghĩa nào khác nữa. Lấy ví dụ như tấm bảng mà chúng ta hiểu rằng “Thường có nai băng ngang” để cẩn thận trong khi lái xe trên những con đường ở vùng quê. Nhưng có thể có người lại muốn hiểu là “Ở đây có bán thịt nai” thì sao?!!

Biết được hai đặc tính của chính tả nói chung rồi, bây giờ chúng ta nhìn lại nguồn gốc của chính tả tiếng Việt. Chúng ta ai cũng biết là mẫu tự tiếng Việt dựa vào mẫu tự La-tinh, do một số nhà truyền đạo đem đến nước ta trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ. Những nhà truyền giáo này nói tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Bồ-đào-nha, tiếng Tây-ban-nha, v.v. cho nên những quy ước trong chính tả tiếng Việt phần lớn dựa vào quy ước chính tả trong những thứ tiếng đó. Có những quy ước hợp lý, cũng có những quy ước vô lý, nên chính tả tiếng Việt thừa hưởng cả hai loại quy ước đó.

Trước hết, chúng ta cần trả lời câu hỏi có tính chất căn bản, i và y là nguyên âm hay là bán nguyên âm? Xét qua cách cấu tạo vần trong tiếng Việt, và cách thể hiện những vần đó qua chính tả, chúng ta phài trả lời là i có thể dùng như nguyên âm và cũng có thể dùng như bán nguyên âm; y cũng vậy, vừa dùng như nguyên âm, vừa như bán nguyên âm trong chính tả tiếng Việt.

Lấy ví dụ, i được dùng như nguyên âm trong những chữ đi, si, chia, chịu, v.v. Nó được dùng như bán nguyên âm trong những chữ như hai, coi, tươi, v.v.

Về phần y, chữ cái này được dùng như nguyên âm trong những chữ ý, quý, ỷ lại, v.v., và được dùng như bán nguyên âm trong những chữ nguyên, yên, hay v.v.

Rắc rối thật, phải không quý vị? Chẳng trách gì có một số người muốn bỏ phức chữ y đi, để “tiếng Việt càng ngày càng trong sáng” hơn! Thế nhưng sẽ có những người “bảo thủ” bắt bẻ, Nếu bỏ y đi thì tính sao với những chữ như thuý, tận tuỵ, phát huy, v.v.?!!! Bỏ thì thương, vương thì tội, rõ ràng là thế.

Nếu xét qua những thứ tiếng như Pháp, Ý, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, là những thứ tiếng mà chính tả được dựa vào để làm nên chính tả tiếng Việt, chúng ta sẽ thấy những thứ tiếng này cũng dùng i và y, có khi là nguyên âm, có khi là bán nguyên âm, y hệt như trong chính tả tiếng Việt vậy. Chẳng hạn như trong tiếng Tây-ban-nha và tiếng Pháp, có quy luật là hễ âm /i/ viết thành một chữ riêng biệt thì phải viết với y (và tiếng Việt của chúng ta cũng y như thế!)

Ví dụ: María y Juan (Maria và Juan – tiếngTây-ban-nha)

Ça y est! (Vậy đó! Xong rồi – tiếng Pháp)

Hay trong tiếng Tây-ban-nha, i và y đều có thể dùng như bán nguyên âm trong những trường hợp khác nhau. Ví dụ như trong chữ bien (nghĩa là hay, tốt đẹp), i được dùng như bán nguyên âm (tựa như chữ biên trong tiếng Việt vậy). Còn trong chữ huyen (có nghĩa là họ chạy trốn), y được dùng như bán nguyên âm (tựa như chữ huyên trong tiếng Việt).

Tuy nhiên, nhập gia thì tuỳ tục, khi vào đến chính tả tiếng Việt, ngoài những nét tương đồng với các thứ tiếng gốc La-tinh nói trên, i và y cũng được dùng theo một số quy ước riêng chỉ áp dụng cho tiếng Việt. Để tóm tắt một cách có hệ thống, sau khi quan sát cách dùng i và y trong chính tả tiếng Việt, chúng ta có thể thấy có những quy luật chính tả sau đây:

I. Cách dùng chữ i. Chữ i được dùng trong những trường hợp sau:

1. Dùng như nguyên âm đơn theo sau một phụ âm: mi, đi, phi, thi, mít, thịt, v.v.


2. Dùng như nguyên âm chính trong một nhị trùng âm: chia, chịu, quít, quì, v.v

3. Dùng như bán nguyên âm đầu trong một nhị trùng âm: tiếc, kiếm, thiệp, v.v.

4. Dùng như bán nguyên âm sau trong một nhị trùng âm: hai, mái, coi, hơi, cúi, v.v.



5. Dùng như bán nguyên âm đầu trong một tam trùng âm: chiếu, tiêu, kiểu, v.v.

6. Dùng như bán nguyên âm sau trong một tam trùng âm: cười, tuổi, chuối, v.v.

II. Cách dùng chữ y. Chữ y được dùng trong những trường hợp sau:



1. Dùng như nguyên âm trong những chữ chỉ có nguyên âm (không có phụ âm

trước hay sau): y, ỷ, ý, v.v.



2. Dùng như nguyên âm chính trong một nhị trùng âm có chứa bán nguyên âm /w/

(biểu hiện bằng chữ u): quý, thuý, luỹ, suýt, v.v.



3. Dùng như bán nguyên âm đầu trong môt nhị trùng âm trong những chữ không

bắt đầu bằng một phụ âm: yến, yếm, yết, v.v.

4. Dùng như bán nguyên âm đầu trong một tam trùng âm trong những chữ không

bắt đầu bằng một phụ âm: yêu, yểu, yếu, v.v.



5. Dùng như bán nguyên âm thứ nhì trong một tam trùng âm: nguyên, quyết,

chuyện, v.v.



6. Dùng như bán nguyên âm sau trong một nhị trùng âm: hay, đây, xay, v.v.

7. Dùng như bán nguyên âm sau trong một tam trùng âm: quay, xoay, quậy, v.v.

Quan sát cách dùng của i và y, chúng ta thấy y dùng nhiều hơn i trong một trường hợp, và có vài cách dùng của hai chữ cái này có vẻ trùng hợp nhau. Đó là lý do một số người muốn giản lược cách dùng, gộp hai thành một là vậy.

Tuy nhiên, có trường hợp i và y được “giao phó” cho một nhiệm vụ là phân biệt cách phát âm. Nhìn vào cách dùng (4) của i và cách dùng (6) của y, chúng ta thấy cấu trúc vần như nhau, nghĩa là nguyên âm + bán nguyên âm. Nếu đem hai chữ hai và hay ra so sánh, chúng ta sẽ thấy “nhiệm vụ” của i và y quan trong như thế nào. Tuy hai chữ hai và hay khác nhay ở cách viết i và y, sự thật là chỗ khác nhau trong cách đọc không phải ở i và y, mà là ở cách đọc chữ a đứng trước. Vô hình chung, có một quy ước như thế này:


• Khi a có i theo sau, ta có nguyên âm a đọc mở, hơi dài, như trong chữ tai,

sai, cai, v.v.


• Khi a có y theo sau, ta có nguyên âm ă đọc ngắn lại, như trong chữ tay,

say, cay, v.v.(viết là a mà kỳ thực là đọc như ă).


Một công dụng khác của i và y là giúp phân biệt hai loại nhị trùng âm cùng

dùng chữ u trong chính tả, nhưng có khi u là nguyên âm, có khi là bán nguyên

âm. Lại thêm một quy ước về i và y nữa. Quy ước đó như sau:

• Trong một nhị trùng âm mà u là nguyên âm và i là bán nguyên âm, nhị trùng

âm đó sẽ viết là ui: cúi, túi, lui, v.v.

• Trong một nhị trùng âm mà u là bán nguyên âm và i là nguyên âm, nhị trùng

âm đó sẽ viết là uy, thuý, quý, luỹ, suy, v.v



Nên nhớ, đây cũng chỉ là những quy ước thôi, và quy ước nào cũng có thể sửa

đổi. Tuy nhiên, qua các quy ước này, chúng ta cũng có thể thấy là i và y khá

có ích trong việc giúp phân biệt cách phát âm hay sự khác nhau giữa nguyên

âm và bán nguyên âm.

Đọc đến đây, chắc sẽ có một số quý vị phàn nàn, Biết rồi! Khổ lắm! Nói mãi!

Nhưng câu chuyện này đi đến đâu? Giải quyết thế nào?

Xin thưa, quan điểm của chúng tôi là không sửa đổi, cải cách gì cả. Khi viết, chúng ta nên theo đa số, cách nào nhiều người dùng hơn thì chúng ta dùng (nếu chúng ta không muốn lập dị). Chúng ta cũng có thể tham khảo một số từ điển của những tác giả có uy tín để làm điểm tựa. Đành rằng cách dùng i và y phô ra nhiều điểm không hợp lý, nhưng còn biết bao nhiêu điều chưa hợp lý trong chính tả tiếng Việt đang chờ được giải quyết nữa? Xin đơn cử một ví dụ, chỉ với một âm /k/ mà chính tả tiếng Việt cần đến ba chữ cái là c, k và q để biểu hiện. Tại sao không viết kon ká thay vì con cá nếu cá ch nào cũngcó thể đọc ra cùng một âm /k/? Hay tại vì cách viết kon ká có vẻ “khó koi”?!! Nếu phải cải cách cách dùng ba chữ cái phụ âm này (chỉ dùng một chữ k cho tất cả các trường hợp), chắc chúng tôi sẽ viết ra một câu chuyện nhỏ như sau: Kô Kúk kwa nhà anh Kường rủ anh đi kâu ká. Anh Kường kẹt phải đi làm kiếm tiền nuôi lũ kon kòn nhỏ nên phải kiếu từ. Kô Kúk nghĩ anh Kường kiếm kớ không muốn kwen kô. Phen này kô Kúk kwuyết chinh phục trái tim khô kứng kủa anh Kường, để không hổ mặt giới hồng kwuần nhi nữ! Về ngôn ngữ, chúng tôi quan niệm là nó cũng bất toàn như biết bao điều bất toàn khác chung quanh chúng ta. Chúng tôi thường nghĩ đến việc cải cách chính tả như việc phái nữ (và cả phái nam) thích sửa sắc đẹp. Sửa xong cái mũi rồi, thấy đôi mắt chưa được to cho lắm, phải sửa thêm mắt. Sửa mắt rồi, thấy đôi môi chưa được chúm chím, lại phải bơm môi. Chuyện sửa sắc đẹp chắc cũng chẳng khác chi chuyện dài i và y, phài không quý vị? Thôi thì trời sinh sao để vậy. Cái đẹp lâu bền chính là cái đẹp tự nhiên.

GS Trần Chấn Trí

University of California, Irvine
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#122 Posted : Tuesday, December 9, 2014 8:49:19 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Viết chữ Việt

Nếu bạn sanh đẻ trong Nam hay Trung ,
“bỏ dấu hỏi ngã” là một vấn đề nan giải !

Người nam kỳ tự hỏi :

Tại sao mấy bạn người bắc phân biệt tùm lum !
như nhân sỹ là ngã ,còn nhân sỷ “hỏi” có nghĩa bị sỷ nhục ,
vì thông thường ta nói nhân sỹ hay bác sỹ bị sỷ nhục ,
ít khi nghe nói : nhân sỷ hay bác sỉ .
chữa bệnh hay chửa bệnh không cùng nghĩa ,
vì khi bệnh hoạn và đàn ông nữa ,muốn có thai cũng khó!

Lần đầu tiên mới đọc được giải thích “hỏi ngã “, do ông Cao Chánh Cương , người Bắc chính tông,
giúp chúng ta bỏ đâu trúng đấy , bảo đảm an toàn ,
nhất là khỏi bị hiểu lầm là bỏ bừa bãi .

Lần đầu tiên mới đọc được giải thích “hỏi ngã ” ,
3 qui luật căn bản tựa trên ngôn ngữ việt nam bắt nguồn từ đất Bắc Việt Nam.

Dấu “Hỏi Ngã” Trong Văn Chương Việt Nam

Văn hóa Việt Nam của chúng ta vô cùng phong phú.

Một trong những nguồn phong phú vô ngàn mà trên thế giới không ai có, đó là ý nghĩa về dấu hỏi ngã Thật thế, dấu hỏi ngã trong tiếng Việt đóng một vai trò quan trọng.

Viết sai dấu hỏi ngã sẽ làm đảo ngược và có khi vô cùng tai hại cho văn chương và văn hóa Việt Nam.

Chúng tôi xin đơn cử một vài trường hợp như sau.

Danh từ nhân sĩ, chữ sĩ phải được viết bằng dấu ngã để mô tả một vị chính khách có kiến thức văn hóa chính trị…, nhưng nếu vô tình chúng ta viết nhân sỉ, chữ sỉ với dấu hỏi thì ý nghĩa của danh từ nhân sĩ sẽ bị đảo ngược lại, vì chữ sĩ với dấu hỏi có nghĩa là nhục sĩ và như vậy sẽ bị trái nghĩa hoàn toàn.

Một chữ thông thường khác như là hai chữ sửa chữa, nếu bỏ đi dấu hỏi ngã sẽ có nhiều ý khác nhau: sửa chữa (sửa dấu hỏi, chữa dấu ngã) tức là chúng ta sửa lại một cái gì bị hư hỏng, thí dụ sửa chữa xe hơi. Nhưng nếu cho dấu ngã vào thành chữ sữa và dấu hỏi trên chữ chửa tức có nghĩa là sữa của những người đàn bà có thai nghén.”Sữa chửa “

Người sai lỗi nhiều nhất về viết sai dấu hỏi ngã là người miền Nam và Trung

(người viết bài này là người miền Trung).

May mắn nhất là người thuộc miền Bắc khi sinh ra là nói và viết dấu hỏi ngã không cần phải suy nghĩ gì cả.

Nhưng khốn nỗi có khi hỏi họ tại sao chữ này viết dấu hỏi chữ kia lại đánh dấu ngã thì họ lại không cắt nghĩa được mà chỉ nở một nụ cười trên môi…

Bài viết này nhằm mục đích đóng góp một vài qui luật về dấu hỏi ngã của tiếng mẹ đẻ Việt Nam chúng ta.

Dấu hỏi ngã được căn cứ vào ba qui luật căn bản: Luật bằng trắc, chữ Hán Việt và các qui luật ngoại lệ.

A. LUẬT BẰNG TRẮC

Qui luật bằng trắc phải được hiểu theo 3 qui ước sau.

1. Luật lập láy

Danh từ lập láy tức là một chữ có nghĩa nhưng chữ ghép đi theo chữ kia không có nghĩa gì cả. Thí dụ: vui vẻ, chữ vui có nghĩa mà chữ vẻ lại không nghĩa, chữ mạnh mẽ, chữ mạnh có nghĩa nhưng chữ mẽ lại không hề mang một ý nghĩa nào hết, hoặc chữ lặng lẽ, vẻ vang…

2. Luật trắc

Không dấu và dấu sắc đi theo với danh từ lập láy thì chữ đó viết bằng dấu hỏi
(ngang sắc hỏi).

Thí dụ:

Hớn hở: chữ hớn có dấu sắc, thì chữ hở phải là dấu hỏi.
Vui vẻ: chữ vui không dấu, thì chữ vẻ đương nhiên phải dấu hỏi.

Hỏi han: chữ han không dấu, như thế chữ hỏi phải có dấu hỏi.

Vớ vẩn: chữ vớ là dấu sắc thì chữ vẩn phải có dấu hỏi.

Tương tự như mắng mỏ, ngớ ngẩn, hở hang, …

(có vẻ không đúng với chữ Ngoan ngoãn, mdt)

3. Luật bằng

Dấu huyền và dấu nặng đi theo một danh từ lập láy thì được viết bằng dấu ngã

(huyền nặng ngã).

Thí dụ:

Sẵn sàng: chữ sàng có dấu huyền thì chữ sẵn phải là dấu ngã.

Ngỡ ngàng: chữ ngàng với dấu huyền thì chữ ngỡ phải để dấu ngã.

Mạnh mẽ: chữ mãnh có dấu nặng, do đó chữ mẽ phải viết dấu ngã.

Tương tự như các trường hợp lặng lẽ, vững vàng,…

B. CHỮ HÁN VIỆT

Văn chương Việt Nam sử dụng rất nhiều từ Hán Việt, chúng ta hay quen dùng hằng ngày nên cứ xem như là tiếng Việt hoàn toàn. Thí dụ như các chữ thành kiến, lữ hành, lãng du, viễn xứ, … tất cả đều do chữ Hán mà ra.

Đối với chữ Hán Việt được sử dụng trong văn chương Việt Nam, luật về đánh dấu hỏi ngã được qui định như sau:

Tất cả những chữ Hán Việt nào bắt đầu bằng các chữ D, L, V, M và N đều viết bằng dấu ngã, cá chữ Hán Việt khác không bắt đầu bằng năm mẫu tự này sẽ được viết bằng dấu hỏi.

Thí dụ:

Dĩ vãng: hai chữ này phải viết dấu ngã vì dĩ vãng không những là hán tự mà còn bắt đầu bằng chữ D và V.

Vĩ đại: vĩ có dấu ngã vì chữ vĩ bắt đầu với mẫu tự V.

Ngẫu nhiên: chữ ngẫu dấu ngã vì áp dụng qui luật Hán Việt nói trên.

Lẽ phải: lẽ dấu ngã vì chữ L, phải dấu hỏi vì có chữ P.

Tư tưởng: chữ tưởng phải viết dấu hỏi vì vần T đứng đầu.

Tương tự như: lữ hành, vĩnh viễn,…

Để thể nhớ luật Hán tự dễ dàng, chúng tôi đặt một câu châm ngôn như thế này:

“Dân Là Vận Mệnh Nước”

để dễ nhớ mỗi khi muốn sử dụng qui luật Hán tự nói trên.

C. CÁC QUI ƯỚC KHÁC

1. Trạng từ (adverb)

Các chữ về trạng từ thường viết bằng dấu ngã.

Thí dụ:

Thôi thế cũng được. Trạng từ cũng viết với dấu ngã.

Xin anh đừng trách em nữa. Trạng tự nữa viết với dấu ngã.

Chắc anh đã mệt lắm rồi. Trạng từ đã viết với dấu ngã.

2. Tên họ cá nhân và quốc gia

Các họ của mỗi người và tên của một quốc gia thường được viết bằng dấu ngã.

Thí dụ:

Đỗ đình Tuân, Lữ đình Thông, Nguyễn ngọc Yến…

Các chữ Đỗ, Lữ, Nguyễn đều viết bằng dấu ngã vì đây là danh xưng họ hàng.

Nước Mỹ, A phú Hãn,…

Các chữ Mỹ và Hãn phải viết bằng dấu ngã vì đây là tên của một quốc gia.

3. Thừa trừ

Một qui ước thừa trừ ta có thể dùng là đoán nghĩa để áp dụng theo luật lập láy và bằng trắc nói trên.

Thí dụ:

Anh bỏ em đi lẻ một mình. Chữ lẻ viết dấu hỏi vì từ chữ lẻ loi mà ra, chữ loi không dấu nên chữ lẻ viết với dấu hỏi.
Anh này trông thật khỏe mạnh, chữ khỏe ở đây có dấu hỏi vì do từ khỏe khoắn mà ra, khoắn dấu sắc thì khỏe phải dấu hỏi.

D. KẾT LUẬN

Văn chương là linh hồn của nền văn hóa, viết sai dấu hỏi ngã có thể làm sai lạc cả câu văn, đó là chưa kể đến nhiều sự hiểu lầm tai hại cho chính mình và người khác cũng như các việc trọng đại.

Không gì khó chịu cho bằng khi đọc một cuốn truyện hay nhưng dấu hỏi ngã không được chỉnh tề.

Một ký giả người miền Nam trong câu chuyện thân mật tại một quán phở thuộc vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn đã thành thật công nhận điều thiếu sót và tầ m quan trọng của dấu hỏi ngã trong văn chương Việt Nam.

Và cũng chính vị ký giả lão thành nói trên đã khuyến khích chúng tôi viết bài này trong mục đích làm sống lại sự phong phú của nền văn chương, văn hóa Việt Nam chúng ta, nhất là đối với những thế hệ trẻ hiện đang lưu lạc trên xứ người.

CAO CHÁNH CƯƠNG

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#123 Posted : Wednesday, December 10, 2014 12:26:13 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Tiếng Việt, hồn dân tộc Việt Nam

Bác sĩ Thái Minh Trung

Bác sĩ Thái Minh Trung tốt nghiệp University of Illinois Chicago (1994), hiện là Associate Clinical Professor tại UCI Medical School, Medical Director của Brookside Institute, California, Hoa Kỳ.

Thấm thoát đã 33 năm người Việt chúng ta phải xa lìa quê hương để sống tha phương khắp mọi nơi. Chúng ta như đàn chim vì tìm tự do phải rời tổ ấm bay phân tán đi khắp thế giới. Chúng ta chọn xứ lạ làm quê hương thứ nhì. Chúng ta sinh sống trên đất người nhưng lúc nào lòng cũng hướng về nơi chôn nhau cắt rốn. Chúng ta học được nhiều ngôn ngữ mới, biết được nhiều tập quán lạ để gia nhập vào cuộc sống mới. Nhưng rồi những buổi chiều sau giờ làm việc mệt nhọc, ta cảm thấy cần nghe và nói tiếng Việt. Chỉ có tiếng Việt mới có thể đưa ta trở về con người sâu sắc của chính mình. Tiếng Việt đưa ta về cội nguồn của tâm hồn ta và nó có thể làm vơi đi những căng thẳng trong ngày. Tiếng Việt đem ta trở về một thế giới quen thuộc êm đềm và ru ta vào giấc ngủ say sưa.

Trong giấc ngủ ta trở thành bé thơ nằm gọn trong lòng mẹ và nghe mẹ ru ta ngủ bằng giai điệu ngọt ngào của tiếng Việt. Chính vì thế mà tiếng mẹ đẻ đã thấm nhuần vào từng thớ tâm hồn ta như dòng sữa ngọt đưa ta vào đời. Thân thể ta cần sữa thì tâm hồn ta cần nghe mẹ ru ta. Ta nhắm mắt lại và chìm đắm trong một thế giới êm đềm. Tiếng mẹ ru như những câu thần chú đánh đuổi những sợ hãi của đêm tối. Ta nở một nụ cười hạnh phúc trên môi và trôi dần vào giấc ngủ say sưa.

Ta thức dậy. Thời gian trôi qua nhanh quá. Mới đây tóc xanh giờ đã hoa tiêu. Những con sóng của cuộc đời nhồi lên nhồi xuống con thuyền không bến. Tuy ta mất quê hương nhưng khi ta duy trì được tiếng mẹ đẻ thì ngôn ngữ đó trở thành một mảnh đất quê hương mà ta mãi mang theo trong tâm hồn của người tha hương. Khi những người đồng hương ở xứ người gặp nhau trò chuyện bằng tiếng Việt, giai điệu âm thanh đó ngọt ngào làm sao. Khi di tản, ta không mang theo mảnh đất quê hương yêu dấu được những khi hỏi thăm trò chuyện với nhau bằng tiếng Việt thì quê hương ta hiện ra đâu đó.

Khi nói đến ngôn ngữ thì phải nói đến văn hóa. Ngôn ngữ và văn hóa như sữa và nước thật khó tách rời. Vị sữa làm cho nước ngọt và chất nước làm cho sữa dễ tiêu hóa. Văn hóa ta tôn trọng quan hệ gia đình và xã hội chớ không đề cao chủ nghĩa cá nhân đè đầu người khác để làm mình trội hơn. Cá nhân được thương mến khi cá nhân đó tôn trọng quan hệ giữa người và người. Vì thế người Việt chúng ta rất tình cảm. Quan hệ tình người được bảo vệ và tăng trưởng nhờ ngôn ngữ. Thí dụ ta dùng từ "anh chị" để gọi nhau, để tự nhắc nhở cho nhau chúng ta cùng một đại gia đình Việt Nam. Chúng ta dùng từ "chú, bác, dì, thím" để gọi những người lớn tuổi hơn ta. Qua ngôn ngữ ta cho họ biết là ta tôn trọng họ như những người lớn tuổi trong gia đình ta.

Ngôn ngữ Việt Nam, ngoài vai trò thông tin còn có vai trò củng cố quan hệ tình cảm nữa. Ðó là cái tính chất văn hóa lồng trong ngôn ngữ. Thí dụ như vợ chồng Mỹ gọi nhau bằng "I" và "you". Khi phân tích ngôn ngữ học thì "I" hoàn toàn cách biệt với "you", "I" và "you" là hai cá thể hoàn toàn độc lập và khác biệt. Tiếng Việt ta dùng từ "anh, em" hay "mình", cho ta thấy rõ cái quan hệ tình cảm của cặp vợ chồng. Tuy vợ chồng không có máu mủ với nhau, nhưng khi gọi nhau bằng "anh, em" thì diễn tả được mối tình thân thiết. Còn từ "mình" có vẻ thân thiết hơn, ta coi người phối ngẫu như một phần của chính ta, ta không thể sống thiếu người đó được.

Ngôn ngữ nào cũng có giai điệu của nó. Khi đứa bé mới học nói, nó không hiểu hết ý nghĩa của danh từ. Ðầu óc nó học qua giai điệu (melody) của âm thanh qua tiếng nói người mẹ. Nó vui buồn theo cái giai điệu biểu hiện tình cảm do người mẹ phát ra. Vì thế giai điệu ngôn ngữ gắn liền với rất nhiều tình cảm dồi dào trong lòng người. Giai điệu đó phản ảnh tình mẫu tử bao la và đồng thời phản ảnh non nước quê hương bao quanh ta. Các giai điệu và cách cấu trúc câu văn (cú pháp) đặc trưng ở từng ngôn ngữ. Có thể nói giai điệu và cú pháp rung động cùng nhịp với môi trường sống tại một thời điểm nào đó. Thí dụ ta khó dịch câu thơ Việt Nam tả cảnh sống êm đềm ở nông thôn ra ngôn ngữ ngoại quốc mà vẫn giữ được hồn thơ. Có lẽ ngôn ngữ của thành thị không có khả năng diễn tả những rung động đặc trưng của nông thôn. Những câu ca dao tục ngữ, những bài ca, điệu hò mang đặc trưng cái hồn dân tộc Việt Nam và chỉ có tiếng Việt mới diễn tả được. Vì thế khi tuổi trẻ sanh trưởng tại hải ngoại không học nói tiếng Việt từ nhỏ, sẽ mất đi cái chìa khóa quý giá giúp họ đi vào hồn dân tộc khám phá nhiều kho tàng văn chương và tình cảm vô giá.

Duy trì ngôn ngữ Việt Nam ở tuổi trẻ hải ngoại là một điều rất cần thiết. Trao đổi bằng tiếng Việt làm cuộc sống tình cảm dồi dào hơn, nhứt là khi ta so sánh với tiếng ngoại quốc và ý thức được nét đặc trưng của ngôn ngữ và văn hóa ta đề cao quan hệ tình người. Cũng thời hai thiếu nữ Việt Nam mặc áo dài, cô thiếu nữ nói được tiếng Việt và hiểu được văn hóa Việt Nam lúc nào cũng có vẻ dịu dàng và dễ mến hơn. Cô ta diễn tả được hồn Việt trong chiếc áo dài đó! Khi hiểu được tiếng Việt thì tuổi trẻ sanh ra tại hải ngoại sẽ yêu và thông cảm cha mẹ mình hơn. Khoảng cách giữa hai thế hệ sẽ rút ngắn lại và những mâu thuẫn sẽ ít đi. Rồi trong tình yêu tiếng Việt đó họ sẽ gặp gỡ được hồn dân tộc và cảm thấy gần gũi với quê hương Việt Nam hơn. Duy trì ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam sẽ làm tuổi trẻ Việt Nam nổi bật vì họ có thêm cái đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam mà các nước khác không có.

Ta sẽ mất quê hương lần thứ nhì khi ta để con cái ta dần dần quên tiếng Việt. Chính vì thế, chúng tôi tha thiết kêu gọi các vị lãnh tụ chính trị và tôn giáo ở hải ngoại nên thành lập một ngày tưởng nhớ đặc biệt sau ngày 30 tháng 4 gọi là ngày "Tiếng Việt, hồn dân tộc". Ðó sẽ là ngày mà tất cả dân Việt Nam rải rác trên thế giới tổ chức nhiều cuộc họp mặt thảo luận qua truyền thông báo chí về những nét hay và đặc trưng của ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam. Nơi nào có đông dân Việt Nam, chúng ta nên vận động chính quyền bản xứ đem tiếng Việt vào trường học, với những lớp căn bản học nói và viết tiếng Việt đến những lớp cao hơn nghiên cứu về ngôn ngữ học (linguistic) Việt Nam, văn hóa, văn chương Việt Nam trong nước và hải ngoại. Có nghiên cứu, có hiểu được về tiếng Việt, con cháu ta mới tự hào về nguồn gốc mình và cảm thấy gắn bó yêu thương dân tộc mình hơn. Bằng không thế hệ trẻ sau này chỉ là những người mang dòng máu Việt Nam nhưng với tâm hồn của người ngoại quốc.

Qua tiếng Việt, chúng tôi muốn thế hệ sau này hiểu dòng máu mà mình mang trong người là dòng máu của một thế hệ trước đấu tranh với những thảm cảnh của ngục tù cải tạo và những chuyến vượt biên tràn đầy hiểm nguy. Thế hệ đó đã cắn răng sống trong bao nỗi nhục nhằn để thế hệ sau này được vẻ vang trên đất người. Chúng ta không nên nhắc lại những chuyện đau lòng đó để gợi lên lòng hận thù, đó là cái nhìn về quá khứ. Chúng ta nên nhìn về tương lai và nhắc lại những chuyện đó như một tình thương hy sinh cao cả của thế hệ trước. Cái chất keo hàn gắn sự khác biệt giữa hai thế hệ tạo sự thông cảm chính là ngôn ngữ Việt Nam! Ta có thể hình dung rằng khi mất tiếng Việt Nam, ta sẽ vẫn có nhiều cô gái Việt trên thế giới mặc áo dài, mới nhìn trông thật đẹp nhưng khi lại gần trò chuyện thì mới biết họ là những người ngoại quốc trong chiếc quốc phục dịu dàng. Lúc đó ta chợt hiểu rằng khi ta mất tiếng Việt thì hồn dân tộc bị chết theo!
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
CatLinh  
#124 Posted : Saturday, December 13, 2014 8:49:04 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 12/14/2014(UTC)
phamlang  
#125 Posted : Sunday, December 14, 2014 12:53:41 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Ca dao dưới góc nhìn giọng điệu
Trần Minh Thương


1. Khái niệm

Có rất nhiều định nghĩa về khái niệm này, ở đây chúng tôi chỉ dẫn lại một số ý kiến đó:

Việt Nam văn học sử yếu, (Dương Quảng Hàm), Trung tâm học liệu Sài Gòn in năm 1968, trang 11 viết: Ca dao (ca: hát; dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình, phong tục của người bình dân.

Lịch sử văn học Việt Nam, tập 1, (nhiều tác giả), Văn học dân gian, phần 1, Nxb GD tpHCM 1978, tr3 viết: Ca dao là những bài hát có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân tộc (thường là lục bát) để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm.

Ca dao Nam Bộ, (nhiều tác giả), Nxb tpHCM 1984, tr23-24: Ca dao – dân ca trữ tình là một thuật ngữ sử dụng chưa thống nhất trong thế giới nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu âm nhạc gọi chung thể loại này là dân ca. Nhiều nhà nghiên cứu văn học dân gian đề nghị gọi nó là ca dao – dân ca trữ tình. Lại có những người muốn chia bộ phận này thành hai thể loại: ca dao – dân ca trữ tình và ca dao dân ca sinh hoạt. Chúng tôi coi ca dao – dân ca trữ tình (hay sinh hoạt) là những bài ca mà nội dung và hình thức diễn xướng của nó không nhằm mục đích nghi lễ và không kèm những động tác có tính chất nghi lễ…

Văn học 10, tập 1, phần Văn học Việt Nam (sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000), (Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Lộc, chủ biên) Nxb Giáo dục, trang 10-11 viết: Ca dao là lời dân ca tách khỏi điệu nhạc, dân ca là lời thơ dân gian đi kèm với điệu nhạc. Tuy nhiên lời và nhạc gắn bó chặt chẽ với nhau. Trong văn chương người ta đề cập tơi ca dao dân ca như là thơ dân gian.

ca dao – dân ca bao gồm: dân nghi lễ, dân ca lao động, ca dao – dân ca trữ tình.

Ca dao – dân ca trữ tình là tiếng hát “đi từ trái tim lên miệng”, phản ánh trực tiếp những cảm xúc tâm trạng của con người, thái độ cảm xúc của con người đối với thực tại xung quanh. Nó là tiếng nói của bản thân chủ thể trữ tình là tất cả những gì biểu hiện qua chủ thể đó

Tục ngữ ca dao dân ca, (Vũ Ngọc Phan), Nxb KHXH. H. 1999, trang 42: Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các thể thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân ca


Văn học dân gian Việt Nam, (Đinh Gia Khánh – Chu Xuân Diên – Võ Quang Nhơn), Nxb Giáo dục, 2001, tr436: Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán - Việt. Theo cách hiểu thông thường thì ca dao là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca.

Ngữ văn 7, (Nguyễn Khắc Phi, chủ biên), Nxb Giáo dục, H, 2004, trang 35: Ca dao, dân ca là những khái niệm tương đương, chỉ các thể loại trữ tình dân gian, kết hợp lời và nhạc, diễn tả đời sống nội tâm của con người. Hiện nay người ta có phân biệt hai khái niệm dân ca và ca dao. Dân ca là những sáng tác kết hợp lời và nhạc, tức là những câu hát dân gian trong diễn xướng. Ca dao là lời thơ của dân ca. Khái niệm ca dao còn được dùng để chỉ một thể thơ dân gian - thể ca dao.

Ngữ Văn 10, (Phan Trọng Luận, chủ biên, Nxb Giáo Dục, H. 2006), trang 18, định nghĩa ca dao như sau: lời thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người.

Ngữ Văn 10, (Trần Đình Sử, chủ biên, Nxb Giáo Dục, H. 2006), trang 27, định nghĩa ca dao dân ca như sau: là thể loại trữ tình bằng văn vần, diễn tả đời sống nội tâm của con người. Dân ca khác ca dao ở chỗ kết hợp giữa lời với giai điệu nhạc.


Từ điển thuật ngữ văn học, (Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi), Nxb Giáo dục, H. 2007, trang 31 viết:

Ca dao còn gọi phong dao.

Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau.

Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu.

Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu. Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca.

2. Nội dung và chức năng

2.1 Nội dung của ca dao Tây Nam Bộ

Bàn về nội dung của ca dao nhiều công trình nghiên cứu đã công bố cách sắp xếp cũng có những sự khác biệt. Xin nêu lại một số ý kiến để đối sánh:

Dương Quảng Hàm cho rằng: Ca dao nước ta thật là phong phú và diễn tả đủ các tình ý trong lòng người và các trạng thái trong xã hội. Ông chia ca dao ra làm các loại: A. Các bài hát trẻ con (đồng dao); B. Các bài hát ru trẻ; C. Các bài hát của con nhà nghề; D. Các bài thuộc về luân lý; E. Các bài tả về tâm lý đời người; F. Các bài có tính cách xã hội; G. Các bài dạy những điều thường thức; H. Các bài hát phong tình; [14 – 19; 4]

Theo Phạm Thế Ngũ thì: 1. Những bài dạy về các điều thường thức; 2. Những bài tả về trạng thái xã hội; 3. Những bài có liên lạc với một biến cố trong lịch sử; 4. Những bài miêu tả tâm lý đời người; 5. Những bài khuyên răn về luân lý; 6. Những bài chủ ý khôi hài; 7. Những bài hát huê tình; [36 – 41; 7]

Nguyễn Tấn Phát chia: Thơ ca nghi lễ; Dân ca lao động và Ca dao – dân ca trữ tình; và sau khi phân tích để tìm đặc trưng riêng của ca dao Nam Bộ, ông xác định bốn nội dung lớn: 1. Những cảm nghĩ về quê hương, đất nước; 2. Quan hệ yêu đương và những suy tư của nam nữ, thanh niên lao động; 3. Tiếng ca tình nghĩa của người lao động trong quan hệ gia đình; 4. Những cảm nghĩ của nhân dân trong mối qua hệ xã hội khác. [36 – 72; 8]

Ngữ Văn 10 (Phan Trọng Luận, chủ biên, Nxb Giáo Dục, 2006), cho rằng: ra đời trong xã hội cũ, ca dao trữ tình là những tiếng hát than thân, lời ca yêu thương tình nghĩa cất lên từ cuộc đời còn nhiều xót xa cay đắng nhưng đằm thắm ân tình của người dân Việt Nam sau luỹ tre xanh bên giếng nước, gốc đa, sân đình, …Bên cạnh đó, còn có những bài ca dao hài hước thể hiện tinh thần lạc quan của người lao động.

Công trình Văn học Dân gian đồng bằng sông Cửu Long do Khoa Ngữ văn trường Đại học Cần Thơ sưu tầm, Nxb Giáo dục in năm 1997, Ca dao – dân ca chia ra: 1. Quê hương đất nước; 2. Lao động sản xuất; 3. Đời sống tình cảm; 4. Phong tục tập quán và tâm lý xã hội [315 – 486; 6]

Lê Giang trong Bộ hành với ca dao, có cách sắp xếp rất lạ là lấy một dòng đầu trong một câu ca dao đặt tên cho một phần; có 30 phần như thế, ví dụ như: Muốn hun thì hun cho liền; Thế gian kẻ khóc người cười; Đốn cây ai nỡ đứt chồi; Áo nào lại muốn xa bâu; v.v…

Văn học Dân gian Sóc Trăng, do Chu Xuân Diên (chủ biên) Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, in năm 2002, phần ca dao người Việt được chia ra các nội dung: 1. Địa danh; 2. Nghi lễ; 3. Lao động; 4. Gia đình – xã hội.

Qua tóm tắt cách sắp xếp về nội dung của các công trình vừa nêu, chúng tôi nhận thấy:

Thứ nhất, sự lẫn lộn giữa nội dung và chức năng thể loại được thể hiện khá rõ nét.

Thứ hai, ngay trong phần nội dung, cũng có những biểu hiện không đồng thuận.

Tiếp thu ý kiến của người đi trước, và dựa trên các tài liệu sưu tầm đã công bố chúng tôi xác định nội dung của ca dao Nam bộ như sau:

1. Ca dao Nam bộ thể hiện các cung bậc tình cảm của người bình dân

- Lịch sử, quê hương đất nước, công việc đồng áng, sản xuất

- Tình yêu lứa đôi – tình cảm gia đình

- Với những quan hệ xã hội khác

2. Ca dao thể hiện những phong tục tập quán

3. Ca dao đạo lý

2.2 Chức năng của ca dao Tây Nam Bộ

2.2.1. Gắn liền với sinh hoạt văn hoá

Nét sinh hoạt độc đáo của người bình dân ngày xưa là những câu hò, điệu hát đối đáp giao duyên:

Tới đây không hát thì hò

Không phải con cò ngóng cổ mà nghe

Một bên hát ghẹo:

Chiếc tàu Nam Vang chạy ngay cồn cát

Chiếc thuyền câu bơi sát mé nga

Thấy em còn chút mẹ già

Muốn vô hoạn dưỡng biết là được không?

Táo bạo hơn, một anh chàng thổ lộ:

Nước láng linh chảy ra Vàm Cú

Thấy em chèo cặp vú muốn hun

Còn đây là lời đối đáp của hai đối tượng:

- Hò ơ ... Trai nào bảnh bằng trai Nhơn Ái

Đầu thì hớt chải, tóc tém bảy ba

Mặc pijama khăn quàng choàng cổ

Thấy cô em gái Ba Xuyên ngồ ngộ

Nên muốn cùng ai thổ lộ đôi lời

Chớ cấy cày cực lắm em ơi

Theo anh về vườn ăn trái một đời ấm no.

- Hò ơ ... Gái Ba Xuyên tuy quê mùa dân dã

Tóc dài bỏ xoã mặc áo ba ba

Nắng táp mưa sa mà trắng da dài tóc

Không đẹp bằng ai nhưng em lừa lọc

Tuy quê rang quê rít mà không thích trai vườn

Chớ trai mà dở dở ương ương

Ngồi không hái trái thì hết đường tương lai.

Ở đây, theo chúng tôi cần phân biệt những bài đồng dao, gắn liền với những trò chơi của trẻ con, kiểu như bài “Súc sắc súc sẻ” hay “Cho cho trả trả”, “Rồng rắn lên mây”, ... Theo chúng tôi đây là những bài thuộc thể loại vè.

Bên cạnh đó, nhiều câu ca dao cũng còn dùng để đố, đặc biệt là dạng hát đố như:

Bên hỏi xướng:

Trăm thứ gừng, gừng chi không lá?

Trăm thứ cá, cá chi không đầu?

Trăm thứ trầu, trầu chi không cuống?

Trăm thứ rau muống, rau muống chi không dây?

Trăm thứ cây, cây chi không trái?

Trăm thứ gái, gái chi không chồng?

Trai nam nhân đối đặng sẽ làm chồng của em!

Bên hát đáp:

Trăm thứ gừng, gừng khô không lá

Trăm thứ cá, cá khứa không đầu

Trăm thứ trầu, trầu thúi không cuống

Trăm thứ rau muống, rau muống Tàu không dây

Trăm thứ cây, cây khô không trái

Trăm thứ gái gái tố nữ không chồng.

Trai nam nhân đối đặng phỉ lòng em chưa?

Hoặc có thể đó là một câu đố nhưng hình thức của một câu ca dao:

Ông béo mà lẹo bà gầy

Rút ra chẳng được lấy chày mà đâm

Đây là cái ống khoá. Song nó được diễn tả bằng những từ ngữ gợi đến động tác giao hoan nam nữ.

Hoặc:

Lồm xồm hai mép những lông

Ở giữa có lổ đàn ông chiu vào

Đây chính là chiếc áo tơi. Từ ngữ mà câu ca dùng lại gợi đến bộ phận sinh thực khí nữ giới.

Đố về cái gàu vai, một dụng cụ rất phổ biến của vùng sông nước miệt Nam Bộ, tác giả dân gian dùng cách nói táo bạo:

Cái l... có bốn cọng lông

Hai thằng cha đàn ông n... cong xương sống

Ở Nghệ An – Hà Tĩnh rất nhiều câu hát phường vải cũng là những câu hát đố thuộc dạng thức này:

Nghe tin chàng học Kinh thi

Ba ngang ba sổ chữ chi rứa chàng

(Chữ điền: 田 )

Tất cả các câu đố vừa dẫn đều cũng có chung mục đích đánh lạc hướng người nghe.

Như vậy ca dao còn có chức năng để đố để đùa vui.

Nghi lễ: Nhiều bài dân ca mà lời thơ dân gian của nó gắn liền với các nghi lễ cúng miếu bà chúa xứ, cúng ông Quan Công Thánh Đế, hay nghi lễ Dâng Bông của người Khmer ở miền Tây Nam Bộ. Xin dẫn lại một bài minh hoạ cho chức năng này:

Đèn chong hương đốt/ Con thỉnh ông/ Nghe ba tiếng trống lệnh/ Là đâu đâu ông cũng bước về/ Kể từ ngày hội bàn đào/ Đào viên kết nghĩa ông nào chớ quên/ Ông ơi! Ải lý hùng anh, tà ma khiếp sợ/ Nước nào cũng nghe danh/ Kể từ ngày ông thất thủ Hạ Bì/ Ngày phò nhị tẩu là ngày mới sang qua Tàu/ Đến Dương Châu con đi đầu khẩn nguyện/ Con vái hồn ngài chứng lễ hôm nay/ Lễ này xin tạ cùng ngài/ Ngài phò hộ trong gia đình, trong gia đạo làm ăn cho thuận hoà/ Có lúa có tiền làm ăn dư để/ Nhà cửa cất ngói xê xang/ Sống lâu trăm tuổi làm ăn đủ đầy.

2.2.1 Ngâm nga hát ru

Ca dao có một phần là lời hát ru, đều này không phải bàn cãi:

+ Đố ai ngồi võng không đưa

Ru con không hát ầu ơi đôi bài

+ Ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi

Đó cũng là những câu ca dùng để con người ngâm nga, tự sự cho khuây khoả nỗi lòng:

+ Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang

Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu

+ Trên đồng cạn dưới đồng sâu

Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa

Có khi qua những ngâm nga ấy là những bài học đạo lý ở đời:

Chim khôn hót tiếng rảnh rang

Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe

3. Giọng điệu ca dao

Giọng điệu nghệ thuật với tư cách một phạm trù thẩm mỹ, một yếu tố có vai trò hết sức quan trọng trong cấu thành phong cách nhà văn là vấn đề đã được nhận ra từ lâu kể cả trong văn học phương Tây và văn học phương Đông. Nhiều bậc thầy về nghệ thuật ngôn từ, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra và chứng minh vai trò quan trọng của giọng điệu (tone) hay “văn khí”, “hơi văn”, “giọng văn” (cách gọi quen thuộc ở Trung Hoa và Việt Nam) không chỉ trong sáng tác mà cả trong nghiên cứu, tiếp cận tác phẩm văn học và phong cách cá nhân nhà văn.

Song, vấn đề đặt ra ở đây là thơ ca dân gian nói riêng và văn học dân học dân gian nói chung có giọng điệu không? Theo chúng tôi, ca dao, như mọi thể thơ khác, nó cũng có giọng điệu. Không có giọng điệu thì hoá ra mọi lời lời thơ - lời nói đều như nhau sao? Tất nhiên, người ta có thể hiểu khái niệm giọng điệu theo những nghĩa rộng hẹp khác nhau. Lịch sử thơ ca chứng minh có sự tồn tại nhiều loại hình giọng điệu: giọng điệu thơ dân gian, giọng điệu thơ cổ điển, giọng điệu thơ hiện đại... Như vậy, vấn đề đặt ra không phải là hỏi ca dao có giọng điệu hay không mà hỏi giọng điệu trong ca dao có đặc thù gì?

Ít nhất, có thể nghĩ giọng điệu trong ca dao không mang đậm dấu ấn cá nhân - cá thể. Điều này có thể giải thích được căn cứ vào tính tập thể, tính truyền miệng của ca dao. Giọng điệu ở đây chủ yếu gắn liền với tính loại hình của những nội dung cảm xúc hay sự việc được bày tỏ, miêu tả. Cảm xúc, sự việc khác nhau thì giọng điệu khác nhau. Có lẽ, sự khác biệt của giọng điệu ở từng bài ca dao chỉ dừng ở đó.

Thơ trung đại do tính phi ngã “khống chế”, nên cùng giọng buồn thương ở nhiều tác phẩm chúng ta thường thấy nó có những nét gần giống nhau:

- Một mình đứng tủi, ngồi sầu,

Đã than với nguyệt, lại rầu với hoa !

(Cung oán ngâm)

- Sầu sầu, thảm thảm xiết bao...

Sầu đầy giạt bể, thảm cao ngất trời!

(Ai tư vãn)

Ở thơ hiện đại, giọng điệu mang tính cá nhân rõ nét. Có thể cùng vui hay cùng buồn nhưng buồn vui của từng cá nhân khác nhau thì khác nhau. Sự khác nhau về giọng điệu càng thấy rõ hơn ở Thơ Mới. Hoài Thanh – Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam đã nhận định: hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như nước Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên, … và thiết tha rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.[34; 9]

Như đã nói ở phần trên, căn cứ và nội dung và chức năng của ca dao mà cụ thể là ca dao Tây Nam Bộ chính tôi nhận thấy một số gam giọng chính trong ca dao Tây Nam Bộ như sau:

.1 Giọng đả kích, châm biếm, bông đùa

Đả kích theo Từ điển Tiếng Việt nghĩa là dùng lời lẽ nặng và lý lẽ cứng để hạ đối phương. Châm biếm: Chế nhạo cho người xấu hổ, đau đớn; Bông đùa: Pha trò, giễu cợt. Ca dao có câu:

Có ưa thì nói rằng ưa
Trăm năm mà nỡ bông đùa mãi sao

Như vậy, giọng châm biếm, đả kích, bông đùa là giọng giễu cợt, pha trò hướng tới một đối tượng nào đó, nhằm phê phán “hạ bệ” họ. Trong ca dao Nam Bộ, mảng ca dao tình cảm chỉ những quan hệ xã hội xuất hiện phổ biến giọng điệu này:

Một vợ thì nằm giường lèo

Hai vợ thì xuống chuồng heo mà nằm

Tác giả dân gian vừa trào phúng, vừa cảnh cáo kẻ đa thê bằng một bài học nhãn tiền.

Cam kia một chục rõ ràng

Đu đưa trong bị mơ màng chi ông

Câu ca gắn với chuyện một ông Tây đi mua cam, cô gái bán cam đưa 12 quả (theo cách tính dân gian Nam Bộ 1 chục = 12), ông ta không chịu bảo rằng có 11! Cô gái ngâm câu ca này. Nét độc đáo nằm ở chữ “đu” đồng âm với tiếng Pháp douze = 12, và “ông” đồng âm với onze = 11!

Chồng người xách giáo săn beo

Chồng em cầm đũa săn mèo khắp mâm

“Chân dung” một anh chồng vô tích sự, biếng nhác, lười biếng đã được dựng lên rõ ràng, đối tượng không thể “đau” hơn nữa!

Ca dao vùng đồng bằng Bắc Bộ cũng không hiếm giọng bông đùa như thế:

Chờ chồng chơi chốn chùa chiền

Chanh chua chuối chát chín chuyên chờ chồng

Chờ chồng chưa chắc chín chuyên

Chanh chua chuốt chát chùa chiền chốn chơi


Bông đùa gắn liền trào lộng, cười cợt nhưng ẩn đằng sau nó không ít chất triết lý mà dân gian gửi gắm:

Lươn ngắn mà chê chạch dài

Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm

Ngay trong ca dao lịch sử, giọng điệu này vẫn xuất hiện:

Trăm quan có mắt như mờ

Để cho Huy Quận vào sờ chánh cung

Câu ca ám chỉ việc Quận Huy Hoàng Đình Bảo “tèm nhem” với nguyên phi Đặng Thị Huệ sau khi chúa Trịnh Sâm xa băng!

Hay:

Tháng tám có chiếu vua ra

Cấm quần không đáy người ta hãi hùng

Câu ca xuất hiện cùng thời với những đạo dụ “độc đáo” của vua Minh Mạng quy định về cách thay đổi trang phục làm “ngỡ ngàng” con dân!


Giọng bông đùa châm biếm trong ca dao thường có khi là một cách biểu lộ trực diện:

Giữa trưa đói bụng thèm cơm

Thấy đùi em vợ như tôm kho tàu

Hoặc cũng có khi dùng hình thức chơi chữ để biểu hiện. Xin dẫn ra đây một số ví dụ:

Đây là cách chơi chữ dùng các từ cùng trường nghĩa

Bà già mặc áo bông chanh

Ngồi trong đám hẹ nói hành nàng dâu

Với cách chơi chữ với hình thức nói lái!

Tặng anh cái áo tôn là

Ban ngày mặc mát tối ra câu đề

Một nói ngược nghĩa đầy thú vị

Thương chồng nấu cháo củ tre

Nấu canh vỏ đỗ, nấu chè nhân ngôn

Ghét chồng nấu cháo le le

Nấu canh bông lý, nấu chè hạt sen

v.v…

3.2 Giọng cảm thương, than vãn, tâm tình

Cảm thương, là từ Hán Việt với nét nghĩa thương xót vì động lòng, dân gian có câu ca: Ngó lên trên tháp Cánh Tiên/ Cảm thương quan Hậu thủ thiềng ba năm. Còn than vãn nghĩa là kể lể tâm sự đau khổ với ý phân bua với một ai đó:

Duyên này lỡ dở bởi trời

Biết ai than vãn cho vơi nỗi sầu

Tâm tình với nét nghĩa là nói chuyện về tình cảm

Ngọn đèn khêu gợi tâm tình,

Khêu lên cho tỏ, cho mình thấy nhau.

Qua khảo sát các công trình sưu tầm ca dao dân ca đã công bố nói chung và ca dao dân ca đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, chúng tôi nhận thấy giọng điệu cảm thương, than vãn, tâm tình xuất hiện rất phổ biến trong mảng ca dao tình cảm: ở nội dung những câu ca than trách cho thân phận mình, những câu ca biểu lộ tình cảm gia đình với ông bà, cha mẹ, tình cảm vợ chồng, tình nghĩa anh em, bè bạn, đặc biệt là các cung bậc trong tình yêu đôi lứa. Một số ví dụ sau đây để minh hoạ:

Đối với chính bản thân mình, người phụ nữ cất giọng:

+ Thân em như trái bần trôi

Sóng dập gió dồi biết dạt vào đâu

+ Thân em như cá rô mề

Lao xao giữa chợ biết về tay ai

Môtip than thân “thân em” này không chỉ riêng ở ca dao Nam Bộ, ca dao Bắc Bộ, Trung Bộ đều xuất hiện giọng điệu than vãn ấy:

Thân em như củ ấu gai

Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen

Còn đây, giọng tâm tình:

Má ơi đừng gả con xa

Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

Nó như một lời than vãn, một “tự sự” của người con gái trước ngưỡng cửa quan trọng cuộc đời!

Tình cảnh xót xa nhưng mặn nồng tình nghĩa của đôi vợ chồng nghèo

Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

Một dị bản ở miền Trung:

Râu tôm nấu với ruột bù

Chồng chan vợ húp gật gù khen ngon


Ta còn gặp ở bài ca dao dưới đây, giọng vừa than vừa trách, trách người mà cũng tự xót xa:

Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

Gió nào độc bằng gió Gò Công

Anh thương em từ thuở má hồng

Bây giờ em khôn lớn, em lấy chồng bỏ anh

Trong tình yêu tự lúc làm quen, chàng đã đánh tiếng:

+ Trèo lên thanh trục cho cao

Thấy lưng em cấy dạ nào hổng thương

+ Thò tay mà ngặt ngọn ngò

Thương em đứt ruột giả đò ngó lơ


Đến lúc nặng lời minh sơn thệ hải:

Đôi ta nặng một lời thề

Khai sơn phá thạch đất trời chứng miêng (minh)

Cho đến khi “hai ta nay đã là con một nhà”:

Đôi ta đã đẹp đôi rồi

Ai gièm pha chớ bỏ ai vẽ vời chớ nghe

Nhiều khi kết thúc trong tan vỡ:

Xứ Cần Thơ anh trở lộn về

Bấy lâu sông cạn biển kề

Phân chia mai trúc dầm dề giọt châu

Ở một chức năng khác ta còn gặp lời tâm tình ẩn chứa đạo lý làm người:

Cá lưỡi trâu sầu ai méo miệng

Cá trèn bầu nhiều chuyện trớt môi

3.3 Giọng sảng khoái, ngợi ca

Sảng khoái nghĩa là tỉnh mỉnh, khoẻ khoắn, dễ chịu. Ngợi ca là dùng lời nói cái hay, cái đẹp. Giọng điệu này chúng ta gặp nhiều ở các câu ca miêu tả tỉnh cảm con người với quê hường, đồng ruộng:

+ Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm

+ Cần Thơ gạo trăng nước trong

Ai đi đến đó lòng không muốn về


3.4 Sự đan chen giữa các giọng điệu

Chồng người đi ngược về xuôi

Chồng em nằm bếp sờ đuôi con mèo

Có thể đó là một lời than cho phận hẩm duyên hiu, lấy chồng chẳng ra gì. Nhưng cũng có thể đấy là sắc thái của giọng bông đùa, đả kích

Ở cách hợp giọng này ta còn gặp một câu khác:

Cổ mang gông tay bồng con đỏ

Trời hỡi trời vợ nhỏ thương hơn

Cũng có khi vừa là sắc thái ngợi ca, vừa là giọng điệu tâm tình:

Nhà Bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định Đồng Nai thì về.

Hay như:

Cái Răng Ba Láng Vàm Xáng Phong Điền

Anh có thương em thì cho bạc cho kiềng

Đừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê

4. Thay lời kết

Tìm hiểu giọng điệu của ca dao dân ca, đặc biệt là ca dao dân ca Tây Nam Bộ là một việc làm thú vị bổ ích cho những người trực tiếp làm công tác giảng dạy trong nhà trường phổ thông và những ai quan tâm, yêu thích.

Có thể từ những gam giọng điệu này ta có một hướng đi mới về cách phân loại của ca dao dân ca. Không thuần vào nội dung hay chức năng như nhiều công trình trước nay đã thực hiện.

Vấn đề xác định sự khu biệt giữa giọng điệu của ca dao dân ca và văn học thành văn còn là một vấn đề phức tạp, cần sự điều tư tìm hiểu dài hơi. Chúng tôi hy vọng sẽ tiếp tục trong các bài viết sắp tới./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Văn Đức, Việt Nam tự điển, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1970.
2. Lê Giang, sưu tầm, sưu tập và biên soạn, Bộ hành với ca dao, Nxb Trẻ, tp HCM, 2006.
3. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
4. Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu Sài Gòn, 1968.
5. Nguyễn Xuân Kính, Thi pháp ca dao, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992
6. Khoa Ngữ Văn Đại học Cần Thơ, Văn học Dân gian đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Giáo Dục, H, 1997
7. Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 1, Nxb Đồng Tháp, Đồng Tháp, 1997
8. Nguyễn Tấn Phát, Văn hoá dân gian Đông Nam Bộ, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam; Nxb Đồng Nai, 2009.
9. Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, 1996.
10. Trần Minh Thương, Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao, Tạp chí Kiến thức ngày nay, số 613, tp HCM, 2007.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#126 Posted : Saturday, December 20, 2014 12:57:51 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

Tiếng Việt dồi dào



Tiếng Pháp thì nói : lent, lentement, avec lenteur, au ralenti, ralentir, tard, attardé, retardé, …

Tiếng Anh Mỹ thì : slow, slowness, to slow down, sluggish, tardive, …

Tiếng Việt : chậm chạp, chậm rì, rù rờ, lù đu, lù rù, kề rề cà rà, kề cà, con cà con kê, chậm lụt, chậm trễ, trễ nãi, bê trễ, trì trệ, trì hoãn, hoãn đai - chúng ta thấy tiếng Việt có rất nhiều cách nói, còn nhiều hơn cả tiếng Anh Mỹ lẫn tiếng Pháp; .đó là chưa kể những tiếng Việt ghép với lòng # 250 tiếng, làm cho chúng ta có rất nhiều cách để bày tỏ nỗi lòng [xem bảng kê], con số đó nhiều hơn tiếng Pháp cả 10 lần !

Các bạn hãy làm bảng kê với tiếng Anh Mỹ [heart, feeling, sentiment …] xem đuợc bao nhiêu ?!

Có nguời thắc mắc không biết dịch positive ra tiếng Việt thế nào, cho là tiếng Việt nghèo; thật ra có cả hàng chục cách :

quả quyết, chắc chắn, quả thật, thật là, vững tin, vững chắc, tin chắc, tin tưởng, xác đáng, thấy rõ là, nhấn mạnh, lạc quan, tốt đẹp, xây dựng, đáng khích lệ, đáng mừng, đáng khen,

[còn nhiều nữa tùy theo cái sức hiểu biết tiếng Việt của chúng ta].

Phải hiểu rằng tiếng Việt là một thứ tiếng ghép ý, ghép từ, ghép tiếng, ghép chữ y hệt như các tiếng nói khác vậy thôi nhưng mà cách ghép thì khác:

paradoxically………. một cách mâu thuẫn

grammaticalement ……..về văn phạm

[cái ý vẫn thế, cách ghép ý thì mỗi nơi mỗi khác !]

Quan niệm cho là tiếng Âu Mỹ là đa âm, tiếng Việt là đơn âm, độc âm là một quan niệm sai lầm vì quá chú trọng đến cái âm mà không biết rằng cái ý nghĩa mới là quan trọng hơn cả, khi nào diễn tả cái ý ra trọn vẹn thì mới gọi là ngôn ngữ.

Một nửa dân Việt thì phát âm, đọc như thế này :

"buồn chông cửa bệ chiều hôm,

thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

buồn chông ngọn nước mới xa,

hoa chôi man mác biết là về đâu,

buồn chông ngọn cỏ zầu zầu

chân mây mặt đất một mầu xanh xanh,

buồn chông zó cuốn mặt ghềng,

ầm ầm tiếng xóng kêu quanh ghế ngồi"

trong khi nửa kia của dân Việt thì đọc, nói là :

"buồng trông cửa bể chiều hôm

thuyềng ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

buồng trông ngọnk nước mới sa

hoa trôi mang mác biếc là về đâu

buồng trông ngọnk cỏ jầu jầu

châng mây mặk đấk mộk màu xanh xanh

buồng trông gió cuống mặk ghềnh

ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi"

Vậy mà đều hiểu một cách giống nhau. Tại sao?

Vì là cái âm, cái tiếng, cái lời nói đi vào lỗ tai ta chưa làm cho ta hiểu đuợc ngay, cái chữ đi vào mắt ta cũng vậy thôi, chỉ sau khi cái satna suy nghĩ của đầu óc ta đem lại cái satna tư tưởng thống nhất tổng hợp góp chung ý nghĩa lại khi ấy 80 triệu người Việt mới hiểu là thơ Kiều ! À hé !

Cái giàn máy tinh vi đó, lạ thay, lại chỉ có một người điều khiển khi ta từ 1 tuổi cho đến 5 tuổi, đó là người trong gia đình ta, mẹ cha anh chị họ nói và ta bắt chước làm theo, làm trước rồi mới hiểu sau : ăn uống, chạy, nhảy …Cái tiếng mẹ đẻ quả thật là cái tiếng của mẹ dạy cho

Con số từ ngữ ghép trong tiếng Việt cũng nhiều hơn là trong tiếng Pháp hay tiếng Anh, một bằng chứng về tiếng Việt dồi dào từ ngữ không thua kém một ngôn ngữ nào khác trong thế giới, bà mẹ Việt không thua mà cũng không hơn bà mẹ nào khác, cũng thì ăn, uống mà có # 6000 cách khác nhau để nói lên nói xuống cái động tác ấy vì vậy mà sinh ra 6000 tiếng nói của loài nguời !

Bộ Từ Điển nguồn gốc tiếng Việt này đã đếm đuợc # 250 ngàn tiếng Việt ghép đôi, ghép ba hay bốn nữa, cũng nhiều như bất cứ một từ điển lớn nào của Anh Pháp Mỹ; và đó là một sự thực mà chúng ta ít biết, vì ta cứ phàn nàn là tiếng Việt của chúng ta nghèo, trong khi chính chúng ta "nghèo tiếng Việt" mà không biết, chúng ta vụng múa mà lại chê đất lệch !

Còn cụ Nguyễn Du thì không vụng tí nào, phải không các bạn ?.

Bs Nguyễn hy Vọng
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Hạ Vi  
#127 Posted : Wednesday, December 24, 2014 10:16:30 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,545
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10697 time(s) in 2629 post(s)
.

Chúc Mừng Giáng Sinh


UserPostedImage




UserPostedImage
thanks 2 users thanked Hạ Vi for this useful post.
ASIAlcoholic on 12/24/2014(UTC), phamlang on 1/2/2015(UTC)
CatLinh  
#128 Posted : Wednesday, December 24, 2014 11:22:03 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 2 users thanked CatLinh for this useful post.
ASIAlcoholic on 12/24/2014(UTC), phamlang on 1/2/2015(UTC)
phamlang  
#129 Posted : Friday, January 2, 2015 6:04:50 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Cách Viết Hoa Trong Tiếng Việt

Đôi khi trong đời người ta, viết văn chỉ vì nhu cầu thôi thúc chứ thực ra nhà văn chưa chắc đã nắm vững một số kỹ thuật hoặc nguyên tắc viết văn. Ngay chính bản thân tôi cũng rơi vào trường hợp như vậy.

Điều này cũng dễ hiểu vì tôi không tốt nghiệp hoặc chưa theo học một truờng hoặc một lớp dạy viết văn nào. Mặc dầu tôi đã trải qua sáu năm đại học nhưng ở đại học người ta không chấm điểm theo nghệ thuật viết văn mà chấm điểm theo nội dung bài vở. Cho nên khi khởi đầu viết tác phẩm “Những Sự Thực Không Thể Chối Bỏ” năm 1987 thì kỹ thuật viết văn của tôi như nguyên tắc viết hoa, cách chấm câu v.v.. hoàn toàn là của Lớp Đệ Thất, Đệ Lục với lời dạy của thầy, cô trong môn Việt Văn rất đơn sơ mà tôi chỉ còn nhớ lõm bõm.

Sau mười năm sống ở Mỹ tức khoảng năm 1995 và sau khi đã làm việc trong các trường học, theo dõi các bài giảng dạy viết văn của học sinh Mỹ, đọc các sách biên khảo về văn chương Hoa Kỳ tôi mới bắt đầu hiểu một số vấn đề như quy tắc viết hoa:

I. Quy tắc viết hoa trong văn chương Việt Nam

Trước khi nói về nguyên tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ chúng ta thử tìm hiểu xem nguyên tắc viết hoa của văn chương Việt Nam như thế nào. Theo tôi, khi tổ tiên chúng ta còn xử dụng tiếng Hán để làm văn tự thì chắc chắn không có quy tắc viết hoa. Khi chữ quốc ngữ được sáng tạo thì quy tắc viết hoa của chúng ta đã được mô phỏng hoặc bắt chước theo lối viết hoa của văn chương Pháp.

Thế nhưng quy tắc mà chúng ta ứng dụng hoặc bắt chước lại hỗn loạn và không thống nhất. Tôi không hiểu lỗi này do cha ông chúng ta không có một Hàn Lâm Viện để đặt một quy tắc thống nhất hoặc giả đây là lỗi của nhà văn, nhà xuất bản, của ban biên tập, của người sắp chữ (sau này là người đánh máy)? Riêng bản thân tôi, cho mãi tới năm 2000 – tức là sau 15 năm viết văn tôi mới chính thức tuân thủ lối viết hoa thống nhất theo văn chương Hoa Kỳ.

Điều này qúy vị độc giả có thể nhận thấy trong cuốn Ký Sự 15 Năm xuất bản năm 2000. Chứ còn 5 tác phẩm về trước, lối viết hoa của tôi hoàn toàn không thống nhất và hết sức lộn xộn. Sau đây là lối viết hoa trong văn chương Việt Nam theo thứ tự thời gian mà tôi đưa ra như những điển hình.

1)Viết hoa theo Việt Nam Tự Điển Khai Trí Tiến Đức (1931):

Chỉ viết hoa chữ đầu, chữ sau không viết hoa và có gạch nối giữa các chữ. Thí dụ:

Kinh-dương-vương

Hà-nội, Hà-nam, Hà-tĩnh, Giáo-sư, Giáo-sĩ, Hương-giang, Nga-la-tư, Thái-bình-dương

Thế nhưng: A-di-đà-Phật (chữ Phật cuối cùng lại viết hoa)

2) Lối viết hoa không thống nhất trong Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng:

-Tên người: Viết hoa cả họ, tên và chữ lót theo văn chương Mỹ nhưng vẫn có gạch nối theo lối cũ. Thí dụ: Dương-Huy, Nguyễn-Thiết-Thanh, Nguyễn-Yên. Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết: Dương-thị-Mai (chữ thị không viết hoa)

-Tước hiệu, chức vụ: Thường không viết hoa và rất lộn xộn. Thí dụ:

cụ tú Ninh-Bắc, cụ tú Lãm, ông hàn Thanh

nhưng ở một chỗ khác lại viết Bà Cán, ông Tham Lộc

(Tham ở đây là một tước vị lại viết hoa)

-Địa danh, dinh thự, công viên, thành phố, trường học:

Khái Hưng chỉ viết hoa chữ đầu và vẫn có gạch nối theo lối cũ. Thí dụ:

Phúc-yên, Hà-nội, chùa Bách-môn

Thế nhưng ở những chỗ khác tất cả lại viết hoa. Thí dụ:

Thạch-Lỗi, Quan-Thánh, Phú-Thọ, Trù-Mật, Ninh-Bắc, Nam-Định, Gia-Lâm

Các con đường, con sông Khái Hưng viết hoa cũng không thống nhất: Thí dụ:

đường Quan-Thánh (Quan Thánh viết hoa)

Sông Tô-lịch (sông lại viết hoa, lịch lại không viết hoa)

Ngày, tháng Khái Hưng không viết hoa. Thí dụ: thứ bảy

3) Lối viết hoa của Nhất Linh trong Bướm Trắng:

-Về địa danh, Nhất Linh chỉ viết hoa chữ đầu và có gạch nối theo lối cũ. Thí dụ:

Sầm-sơn, Hà-nội, Khâm-thiên, Chợ-lớn

Thế nhưng Sài Gòn có chỗ lại viết:

Sài gòn (không gạch nối)

Sài-gòn (có gạch nối)

Nhật bản (không gạch nối)

-Về tên người Nhất Linh viết hoa theo lối Mỹ. Thí dụ:

Bác-sĩ Trần Đình Chuyên (không gạch nối, chữ lót viết hoa)

Nhưng ở một chỗ khác lại viết: Vũ-đình-Trương (có gạch nối và chữ lót lại không viết hoa)

4) Lối viết hoa không thống nhất của Thanh Tịnh trong Quê Mẹ:

-Các địa danh chỉ viết hoa chữ đầu và có gạch nối.

Thí dụ: phá Tam-giang, trường Mỹ-lý, Trung-kỳ, Hà-nội

Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết:

Trường Mỹ-lý (trường viết hoa mà không phải ở đầu câu)

làng Hòa ấp (lại không có gạch nối)

chùa Đồng Tâm (chữ tâm lại viết hoa và không có gạch nối)

-Chức vụ chỉ viết hoa chữ đầu. Thí dụ: Hương-thơ

Thế nhưng ở những chỗ khác lại viết:

ông đốc (đốc không viết hoa)

ông Huyện Phong (hai chữ sau lại viết hoa)

Miếu Thần Đá (tất cả lại viết hoa)

miễu Thánh (chữ miễu không viết hoa)

-Các tên người đều viết hoa theo lối Mỹ nhưng có gạch nối. Thí dụ:

Hoàng-Thiên-Y, Khổng-Tử, Lý-Tịnh, Na-Tra

Nhưng ở một chỗ khác lại viết:

Lê Bá Xuân (không gạch nối)

5) Lối viết hoa không thống nhất của Hoàng Văn Chí (1964):

Về tên các quốc gia: Viết hoa theo lối Mỹ nhưng vẫn có gạch nối. Thí dụ:

Việt-Nam, Đông-Nam-Á, Đông-Dương, Hòa-Lan

Nhưng ở nhiều chỗ khác chỉ viết hoa chữ đầu:

Hoa-kỳ, Thái-lan, Ấn-độ, Trung-cộng, Tây-tạng,

Tên các nhân vật: Có lúc viết hoa theo lối Mỹ nhưng vẫn có gạch nối. Thí dụ:

Khuyển-Dưỡng-Nghị, Tôn-Văn, Vương-Dương-Minh

Thế nhưng ở những chỗ khác lại viết:

Phan-đình-Phùng, Tôn-thất-Thuyết (chữ lót không viết hoa)

-Nhóm, hội đoàn, đoàn thể: Viết hoa không thống nhất, chỗ có gạch nối, chỗ không. Thí dụ:

Phong trào Cần-Vương

Phong trào Đông Du (không gạch nối)

Phong trào Văn-Thân

phong trào cộng sản (cả bốn chữ lại không viết hoa)

-Các địa danh viết hoa cũng không thống nhất.

Thí dụ: Thượng-Hải, Hồng-Kông, Trà-Lùng, Hàng-Bông, Làng Cổ-Am, Yên-Báy, Hải-Phòng

Thế nhưng ở những chỗ khác lại chỉ viết hoa chữ đầu mà thôi. Thí dụ: Hà-nội, Quảng-châu, Quảng-nam, Lạng-sơn, Dương-tư, Nam-đànv.v…

6) Lối viết hoa của Duyên Anh trong Về Yêu Hoa Cúc (1970):

-Đại lược về tên người, địa danh, tên trường học, tước hiệu Duyên Anh viết hoa theo lối Mỹ và bỏ gạch nối.

Thí dụ: Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Mai Thảo, Nguyên Sa, Đinh Hùng, Hàn Mặc Tử

Đại Học Văn Khoa, Đà Lạt, Hà Nội, Mỹ Tho

Thế nhưng còn hai chữ Sài Gòn thì Duyên Anh có lúc viết Sài-gòn (có gạch nối, chữ gòn không viết hoa), rồi có lúc lại viết Sài gòn (không gạch nối)

-Tên các tờ báo, tạp chí lối viết hoa cũng không thống nhất. Thí dụ:

nhật báo Đồng Nai, tuần báo Kịch Ảnh

tức là các chữ nhật báo, tuần báo không viết hoa)

thế nhưng lại viết: Đông Dương Tạp Chí (tạp chí lại viết hoa)

-Các tác phẩm văn chương chỉ viết hoa chữ đầu, chữ sau không viết hoa (tức theo lối cũ). Thí dụ:

Ngày về, Lạnh lùng, Chân trời cũ

Nhưng ở chỗ khác lại viết Tiêu Sơn Tráng Sĩ (tất cả đều viết hoa)

7) Lối viết hoa không thống nhất của Hoàng Khởi Phong trong Người Trăm Năm Cũ (1993):

Hoàng Khởi Phong là cựu chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp Chí Văn Học trong khoảng thời gian từ 1989-1990. Dĩ nhiên với chức năng này ông phải đọc lại và coi lại rất nhiều bài viết thế nhưng lối viết hoa của ông cũng không thống nhất – điển hình qua tác phẩm Người Trăm Năm Cũ.

-Các tước vị hoặc ngôi thứ trong gia đình đều viết hoa như:

Đề Thám, Cai Kinh, Cả Huỳnh, Cả Tuyển, Tổng đốc Lê Hoan…

Thế nhưng ở nhiều chỗ khác, các tước vị lại không viết hoa:

Thí dụ: vua Hàm Nghi, tướng Voyron, quan ba Lambert…

-Các điạ danh, cách viết hoa cũng không thống nhất:

Thí dụ: Phủ Lạng Thương, tỉnh Hà Đông, huyện Nhã Nam

(Phủ, huyện, tỉnh đều là đơn vị hành chánh thế mà phủ viết hoa còn tỉnh và huyện lại không viết hoa).

-Các biến cố lịch sử đáng lý phải viết hoa lại không viết hoa.

Thí dụ: Cuộc khởi nghĩa Yên Thế, chiến khu Yên Thế. Đáng lý phải viết: Cuộc Khởi Nghĩa Yên Thế, Chiến Khu Yên Thế.

8) Lối viết hoa không thống nhất của Tạ Chí Đại Trường trong Tạp Chí Văn Học năm 2000:

Tạ Chí Đại Trường là cây viết chủ lực cho Tạp Chí Văn Học sức học rất uyên bác nhưng cũng lại không để ý đến quy tắc viết hoa. Thí dụ:

Công Giáo (tất cả đều viết hoa)

Thế nhưng ở chỗ khác lại viết: Tam giáo (chữ giáo không viết hoa)

Tự Đức kí Dụ: Đáng lý kí viết hoa lại không viết hoa.

truờng Bảo hộ (chữ hộ không viết hoa) nhưng lại viết trường Chu Văn An (chữ an lại viết hoa)

Hồng vệ binh maxít phương Đông: (chữ phương không viết hoa). Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết:

Văn Minh Tây Phương (chữ phương lại viết hoa)

Hồng quân Trung Quốc (chữ quân đáng lý viết hoa lại không viết hoa)

Cộng hòa Đại Hàn (chữ hòa đáng lý viết hoa lại không viết hoa)

Phong trào Không liên kết Thế giới thứ Ba: Các chữ trào, liên kết, giới, thứ – đáng lý phải viết hoa lại không viết hoa.

9) Lối viết hoa của Nguyễn Hưng Quốc trong Tạp Chí Văn Học năm 2000

Nguyễn Hưng Quốc là cây viết chủ lực cho Tạp Chí Văn Học. Là một nhà bình luận văn học rất kỹ lưỡng thế nhưng Nguyễn Hưng Quốc cũng không chú ý đến quy luật viết hoa.

-Tên các tác phẩm đều viết hoa như:

Truyện Kiều

Thơ Mới của Hoài Thanh

Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết:

thơ Nguyễn Công Trứ (chữ thơ không viết hoa)

-Các tên nhóm, hội đoàn đều viết hoa như:

Nhóm Sáng Tạo (chữ nhóm viết hoa)

trường phái Phê Bình Mới (đáng lẽ chữ trường phái cũng phải viết hoa)

Rồi ở một chỗ khác lại viết:

nhóm Ngôn ngữ học tại Moscow (đáng lý phải viết: Nhóm Ngôn Ngữ Học tại Moscow

II. Quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ

Trong văn chương Hoa Kỳ, viết hoa gọi là “capital letter ”, còn viết chữ thường gọi là “lower case”. Đây là quy tắc thống nhất được áp dụng ở khắp mọi nơi. Ít khi thấy nhà văn, nhà thơ, nhà báo Hoa Kỳ vi phạm quy tắc này. Nguyên do chính là vì xã hội của họ đã ổn định cả hai trăm năm nay, việc gì cũng đã trở thành quy củ, nề nếp, có trường ốc. Ngoài ra tờ báo nào, nhà xuất bản nào cũng có một ban biên tập chịu trách nhiệm về vấn đề này chứ không “tự biên tự diễn, tự đánh máy, tự in, tự sáng chế” như chúng ta.

Giới thiệu quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ ở đây không có nghĩa là cái gì của Mỹ cũng nhất. Quy tắc nào cũng tốt cả nhưng với điều kiện phải thống nhất. Không thể ở đầu trang viết:Phong trào Đông du rồi ở cuối sách lại viết Phong Trào Đông Du. Nếu cứ tiếp tục viết lộn xộn như thế này thì con cháu chúng ta cũng sẽ tiếp tục thừa kế cái lộn xộn đó và hậu quả là cả ngàn năm sau nền văn chương Việt Nam vẫn cứ tiếp tục lộn xộn làm người ngoại quốc điên đầu khi nghiên cứu văn chương Việt Nam. Sau đây là quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ:

1) Tên người:

Thí dụ: Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Lê Chân, Ông Tô Hiến Thành, Ông Cao Bá Quát, Ông Tôn Thất Thuyết, Bà Đoàn Thị Điểm, Ông Đặng Trần Côn, Cô Nguyễn Thị Giang, Cô Bắc.

2) Các con vật mình nuôi và thương mến/thú cưng (pet):

con Vàng, con Vện, con Loulou, con Cún, con Bống

3) Các chức vụ, tước hiệu và các chữ tắt của tên:

Thí dụ: Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sử Gia Lê Văn Hưu, Chúa Sãi, Chúa Trịnh, Bà Huyện Thanh Quan, Đô Đốc Tuyết, Cai Tổng Vàng, Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn, Giáo Sư Nguyễn C. Hách, GS. Phạm B. Tâm, Đại Sứ Cabot Lodge, Tiến Sĩ Kissinger, Tổng Thống Roosevelt.

4) Ngôi thứ trong gia đình:

Thí dụ: Cô Bảy, Bác Ba, Bà Cả Tề, Thím Năm, Cô Ba Bến Tre, Cô Năm Phỉ, Út Trà Ôn.

5) Địa danh, dinh thự, công viên, thành phố, quận:

Thí dụ: Thành Phố Đà Lạt, Dinh Độc Lập, Phủ Thủ Hiến, Phủ Thủ Tướng, Tòa Thị Chính Nha Trang, Công Viên Tao Đàn, Vườn Hoa Con Cóc, Vườn Hoa Chéo, Công Viên Tao Đàn, Chùa Hương Tích, Thành Phố Hải Phòng, Quận Hương Điền, Quận Châu Thành Mỹ Tho, Xã An Hội …

5) Bến, cảng, phi trường:

Thí dụ: Phi Trường Tân Sơn Nhất, Ga Hàng Cỏ, Bến Vân Đồn, Bến Sáu Kho, Bến Đò Bính, Bến Đò Lèn, Bến Nhà Rồng, Cảng Hải Phòng

6) Đường:

Thí dụ: Đường Trần Hưng Đạo, Xa Lộ Biên Hòa, Quốc Lộ 1, Liên Tỉnh Lộ 7, Hương Lộ 8…

7) Chợ:

Thí dụ: Chợ Bến Thành, Chợ Đồng Xuân, Chợ Tân Định, Chợ Bà Chiểu, Chợ Lớn, Chợ Huyện Thanh Vân…

8) Núi, đèo, cửa ải:

Thí dụ: Núi Hoàng Liên Sơn, Núi Sam, Núi Ba Vì, Núi Ngũ Hành, Núi Ông Voi, Núi Ngự, Đèo Hải Vân, Đèo Cả, Ải Nam Quan…

9) Sông, thác, hồ, suối:

Thí dụ: Sông Hồng, Sông Mã, Sông Chu, Sông Hương, Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Than Thở, Hồ Ba Bể, Thác Bản Giốc, Suối Giải Oan…

10) Vịnh, biển, đảo:

Thí dụ: Vịnh Hạ Long, Vịnh Cam Ranh, Rạch Cái Cối, Vũng Rô, Quần Đảo Hoàng Sa, Quần Đảo Trường Sa, Đảo Tây Sa, Côn Đảo, Hòn Bà, Hòn Chồng, Hòn Vọng Phu, Phá Tam Giang.

11) Ngày tháng:

Thí dụ: Tháng Giêng, Thứ Hai, nhưng mùa thu, mùa xuân (các mùa lại không viết hoa)

12) Ngày lễ:

Thí dụ: Lễ Hai Bà Trưng, Tết Trung Thu, Tết Nguyên Đán, Tết Đoan Ngọ, Ngày Thiếu Nhi Toàn Quốc, Ngày Quốc Tế Nhân Quyền…

13) Nhóm, hội đoàn:

Thí dụ: Nhóm Sáng Tạo, Nhóm Ngàn Lau, Hội Đua Ngựa Phú Thọ, Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ, Hội Ái Hữu Gò Công, Câu Lạc Bộ Lướt Sóng, Môn Phái Vovinam, Môn Phái Thiếu Lâm, Trường Phái Siêu Thực, Trường Phái Dã Thú, Trường Phái Ấn Tượng.

14) Ban nhạc:

Thí dụ: Ban Thăng Long, Ban Tiếng Tơ Đồng, Ban The Rolling Stone, Đoàn Cải Lương Hương Mùa Thu, Đoàn Thoại Kịch Tiếng Chuông Vàng.

15) Báo chí, tựa đề các cuốn sách, thơ, bài báo, vở kịch, bức hoạ, bản nhạc, truyện, cuốn phim và tựa đề của một bài viết:

Thí dụ: Nam Phong Tạp Chí, Tạp Chí Bách Khoa, Nhật Báo Người Việt, Đoạn Tuyệt, Thơ Vũ Hoàng Chương, Truyện Kiều, Kịch Lôi Vũ, Trường Ca Con Đường Cái Quan, Cầu Sông Qwai…

16) Thánh thần và kinh sách:

Thí dụ: Trời, Phật, Chúa, Đức Thánh Trần, Bà Chúa Liễu Hạnh, Mẹ Âu Cơ, Kinh Kim Cang, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, Kinh Coran, Kinh Cựu Ước..

17) Miền, vùng của một đất nước (nhưng không phải để chỉ phương hướng). Thí dụ:

Miền Nam, Miền Bắc, Miền Trung, Vùng Cao Nguyên, Miền Tây, Vùng Tây Bắc, Bắc Bình Định…

18) Các biến cố lịch sử, tài liệu, mốc thời gian:

Thí dụ: Cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ, Đệ II Thế Chiến, Thời Kỳ Chiến Tranh Lạnh…

Thời Kỳ Bắc Thuộc, Thời Kỳ Trịnh – Nguyễn Phân Tranh, Thời Kỳ Phục Hưng, Nhà Hậu Lê, Bình Ngô Đại Cáo…

19) Ngôn ngữ, chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo:

Thí dụ: Anh Ngữ, Pháp Ngữ, Hoa Ngữ, Nhật Ngữ, Việt Ngữ

Thái, Nùng, Dao, Mèo, Kinh, Thượng, Mường, Ra-Đê, Việt, Hoa v.v…

Việt Tịch, Pháp Tịch, Ấn Tịch…

Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Ấn Độ Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo…

20) Tên các con tàu, xe lửa, máy bay hoặc nhãn hiệu xe hơi:

Thí dụ: Tuần Dương Hạm Yết Kiêu, Khu Trục Hạm Vạn Kiếp, Hàng Không Mẫu Hạm Trần Hưng Đạo…La Dalat, Citroyen, Toyota v.v…

Thiên Lôi (Thunderchief), Con Ma (Phantom)

21) Chữ đầu của câu trích dẫn:

Thí dụ: Trần Bình Trọng dõng dạc nói, “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc.”

Xin quý vị nào nghiên cứu về văn phạm Việt Nam đóng góp thêm ý kiến để sau này có thể hình thành một quy tắc viết hoa thống nhất cho văn chương Việt Nam.

Đào Văn Bình
(Trích Tuyển Tập 20 Năm Viết Văn xuất bản năm 2004)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#130 Posted : Monday, January 5, 2015 7:04:47 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Dân gian

Cảm nhận câu ca: công anh chăn nghé đã lâu …

Trần Minh Thương

Dân gian miệt sông nước Cửu Long còn lưu truyền câu ca:

Công anh chăn nghé đã lâu
Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày


Đầu tiên, đây là một hiện tượng thực diễn ra khá phổ trong cuộc sống của những người chân lắm tay bùn: con trâu đi trước cái cày theo sau!

Con trâu là bạn “đầu cơ nghiệp” của nhà nông:

Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

Xong, nhờ biện pháp tu từ ẩn dụ, nghĩa của câu ca không dừng lại ở đó.

Ẩn dụ tu từ theo cách hiểu truyền thống là lối nói ví von, so sánh ngầm của phép so sánh trong đó cái được so sánh bị giản lược đi chỉ còn lại cái được so sánh để chỉ một đối tượng, sự việc hay trạng thái nào đó. (*)

Đọc kỹ câu ca:

Công anh chăn nghé đã lâu
Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày

Ta thấy ba từ : nghé – trâu – cày ẩn chứa đằng sau nó một cái gì khác thật xa xăm và sâu sắc.

Trâu anh con cỡi con dòng

Lại thêm con nghé cực lòng thằng chăn

Từ nghé để được thành trâu cày trải qua một quá trình chăm sóc dưỡng nuôi. Anh chàng nông dân nào đấy đã chăn nghé cho đến khi nghé thành trâu. Nhưng hỡi ôi, khi công đã đến hồi thành tựu, thì thành quả ấy đã vào tay “ai” kia!

Từ những ẩn ý ấy, lời thơ khiến người đọc có thể liên tưởng đến một cung bậc dang dỡ nào đó trong tình yêu lứa đôi chăng! Có thể thấy thấp thoáng hình ảnh một “anh” đã dày công “đeo đuổi”, “nuôi dưỡng” bóng hình nào đấy trong tim mình để rồi giờ đây đêm về ôm mộng sầu cảnh gối chiếc chăn đơn!

Cam sành lột vỏ còn the
Thầy em còn nhỏ anh ve để dành!

Nhưng thật xót xa và cay đắng! Không thể để dành được!

Câu ca Công anh chăn nghé đã lâu liệu có gần giống hình ảnh:

Công anh xúc tép nuôi cò
Cò ăn cò lớn cò dò lên cây!


Con cò nó dò lên cây, con chim sáo sổ lòng bay xa, … tất cả đều có hình ảnh gần giống với nghé đã thành trâu và trâu đã về tay ai cày như lời người nông dân thốt ra chua chát, ngậm ngùi.

Tiếc công anh đắp đập coi bờ,
Để ai quảy lộp mang lờ đến đơm
Chim huỳnh đặng gió bay cao
Tiếc công anh lai vãng vườn đào bấy lâu.

Một điều thú vị nữa là ở từ cày. Đây là từ đa nghĩa và cũng gần xa mang dáng dấp ẩn dụ. Cày chỉ hành động của người nông dân vỡ đất ruộng chuẩn bị cho công đoạn gieo sạ tiếp theo.

Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

Nhưng trong khẩu ngữ, phương ngữ Nam Bộ cày còn được hiểu bóng gió chỉ hành động kín đáo của nam nữ!

Chồng em nào phải trâu cày
Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm!

Quả thật, vừa thâm thuý, nhưng cũng không kém phần hóm hĩnh! Xin được cung cấp thêm, phương ngữ Nam Bộ còn những tiếng lóng như “cày ở ruộng nhỏ”, “nằm trên bờ mẫu”, … đều cùng chung nét nghĩa: cảnh ái ân chốn buồng the!

Hay như một câu ca khác:
Công anh đắp đập be bờ
Để ai tháo nước để lờ anh trôi

Cái lờ được sử dụng trong trường hợp này cũng thật nhiều ý nghĩa! Bởi khi đọc, khi ngâm (chức năng của ca dao là vậy!), từ lờ còn dễ dàng khiến người nghe liên tưởng đến l … Ngẫm mà xem, người bình dân quả thật hết sức độc đáo!

Cuối cùng, để kết thúc bài viết xin được dẫn một câu ca khác cùng motif ấy:

Công anh làm rể ba năm
Chiếu chả được nằm, đất lại cắm chông
Con bà bà lại gả chồng
Để anh vất vả tốn công bộn bề

Âu đó cũng là một hiện thực, một nét sinh hoạt văn hoá ngày xưa, ngày nay đã lùi dần vào dĩ vãng:

Công anh làm rể làm con
Áo rách quần mòn vợ lại về ai ?

(*) Dẫn theo Nguyễn Thái Hoà, Từ điển tu từ - phong cách – thi pháp học, Nxb H, 1999, trang 8.

Edited by user Monday, January 5, 2015 7:05:27 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#131 Posted : Tuesday, January 20, 2015 8:35:29 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

Gia vị qua ca dao tục ngữ Việt

Từ ấu thơ cho đến năm 11 tuổi (năm mẹ tôi mất), tôi còn nhớ rằng hằng đêm tới giờ lên giường (chúng tôi ngủ giường tầng). Mẹ tôi ngồi trên một chiếc ghế dựa ở giữa, mấy cái giường tầng được kê quây thành nửa vòng trước mặt. Bà ngồi tay vừa đan khâu gì đó mà miệng vừa đọc văn thơ, ca dao tục ngữ hay kể chuyện cổ tích để ru ngủ chúng tôi.

Cho nên suốt tuổi thơ, tôi thường mơ đến tiên, đến cảnh bồng lai, đến cõi trời. Và nếu tôi nhớ không lầm thì chưa hề nghe bà kể lại một câu chuyện nào cả.

Thế rồi sự thể ấy cũng chìm dần vào lãng quên trong tôi. Có chăng là thời gian ở tiểu – trung học, tôi thường được thầy cô dạy Việt văn khen là thuộc nhiều ca dao, huyền thoại và chuyện cổ tích. Có chăng nữa là khi đi dạy, giảng bài, những câu chuyện và thơ văn đã dễ dàng hiện ra trong ký ức một cách tự nhiên, khiến tôi hứng thú mà ăn nói diễn đạt khá lưu loát.

Tới sau năm 1975, suốt trên năm năm ở tù, tôi lại có cơ hội trở thành một tay kể chuyện mua vui cho anh em cùng phòng. Ban đầu thì những truyện võ hiệp của Kim Dung, sau đến các pho truyện Tàu, truyện ta, chuyện Ngàn Lẻ một Đêm rồi lan man sang cả thơ văn Việt Nam lẫn thế giới. Nào là Tài Tử Đa Cùng Phú của Cao Bá Quát, Hàn Nho Phong Vị Phú của Nguyễn Công Trứ, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh Phụ Ngâm Khúc Của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm, Hành Phương Nam của Nguyễn Bính, rồi Tản Đà, Tú Xương, … Nào là Graziella, Le Lac của Lamartine, Chiến Tranh Và Hòa Bình của Leo Tolstoy, Cuộc Phiêu Lưu Của Tom Sawyer, của Huklyberry Finn.. Mark Twain, Mối Tình Thiên Thu, Miếng Thịt Bò..Jack London, Moby Dick của Herman Melville, và Lá Cỏ (Leaves of Grass) của Walt Whitman …Và cứ thế, chưa bao giờ tôi kể hết được những chuyện còn nhớ.

Truyện của Kim Dung thì đương nhiên tôi đã là trong những tay say mê đọc hồi thập niên 1960 rồi. Nhưng những gì khác thì phần lớn đều thuộc “kho tàng” do mẹ tôi để lại, đến bây giờ tôi chỉ quên bớt đi nhiều chứ không chắc thu thập thêm được bao nhiêu.

Bạn thử xem qua dưới đây để có thể chứng thực điểm này được chăng.

Trước hết, xin bạn hãy tạm nghe tôi kể chuyện gia vị trong ca dao tục ngữ Việt đã nha.

Đầu tiên, nói về thực phẩm vì lọai này gần gũi với chúng ta nhất, bởi vốn sẵn chúng ta đã là sinh vật bắt buộc phải ăn uống và hít thở dưỡng khí mới sống được.

Thực phẩm của con người xem ra phong phú hơn các sinh vật khác (so với thực vật và động vật) ở giai đọan được chế biến và nấu nướng lên mới thành món ăn được hấp thụ hằng ngày. Ban đầu ở thời đại hồng hoang, món ăn của con người chắc cũng đơn giản như các loài khác. Nhưng sau dần, con người tiến bộ nên thức ăn đồ uống cũng phức tạp và tinh tế dần, đến độ trở nên các lọai món ăn uống đặc biệt và tiêu biểu riêng cho từng dân cư, từng dân tộc. Chẳng hạn như đề cập tới món mì ống Spaghetti là người ta nhớ ngay đến người Ý, món dưa bắp cải cay gọi là Kim chi của Đại hàn, trà Lipton của dân Anh, …món Big Mac là thức ăn vội và Coca Cola là nước giải khát nổi tiếng khắp thế giới của dân Mỹ. Chẳng hạn như món hủ tíu, mì là hai món ăn bình dân ruột của người Trung hoa thì đã được chế biến khi du nhập vào thức ăn Việt, cũng như phở của người Việt vậy.

Đến như gia vị là các thứ được dặm thêm vào (lúc chế biến hay ngay trước khi dùng bữa) những món ăn, cũng mang sẵn một nội dung mà phần nhiều đều khá phong phú, trong lịch sử văn minh và tính chất văn hóa của cả một dân tộc. Nói như thế không ngoa khi người ta đề cập tới “cà ri” của người gốc Ấn độ, ngũ vị hương (năm mùi vị gồm chua, cay, ngọt, mặn, đắng) của người Trung hoa, “sauce mayonnaise” của người Pháp…, và “seasoning” của người dân Mỹ.

Vậy

Gia vị nguyên ngữ là gì đã chứ?

Gia là bỏ thêm vào. Vị, nếu danh từ thì là cảm giác do lưỡi nếm biết, là mùi vị (Việt Nam Từ Điển của Lê văn Đức và Lê Ngọc Trụ), nếu động từ nghĩa là nếm xem vật đó có mùi gì (Hán Việt Từ Điển của Thiều Chửu).

Nôm na mà nói, gia vị là các thứ biến thái từ cây cỏ nói chung (trong đó gồm đủ mọi loại: cả lá lẫn quả như chanh; cả lá lẫn củ như lá và củ hành, tỏi; vỏ cây như quế; cỏ như các loại rau thơm…) bỏ vào thực phẩm để tẩm, để ướp hay để chế biến, nấu nướng khiến các món ăn có những mùi vị khác hẳn nhau, có những tác dụng bổ khuyết cũng khác nhau cho cơ thể và đời sống của con người nói chung. Và chính tự gia vị có một “đời sống” liên tục được phát triển một cách sinh động và phong phú hóa, nhiều lần qua kinh nghiệm mà điều chỉnh dần dần, theo sức phát triển trường tồn của những giống dân khác nhau, để cuối cùng bây giờ trở thành gia vị như một cái nếp sống độc đáo riêng của từng giống dân vốn định cư ở một vùng địa dư riêng biệt nhau. Đến giai đoạn này thì gia vị là một trong những nét của nếp văn hóa. Thế gia vị của người Việt ta thế nào, qua một số ca dao tục ngữ tiêu biểu?

Gia vị đã là nét văn hóa

Riêng về thực phẩm, sinh vật “người” đã sớm khẳng định là “ăn để mà sống chứ không chỉ sống để mà ăn”, hoặc “ăn lấy thơm lấy tho chứ không ai ăn lấy no lấy béo”.
Vả lại nếu tiến sâu thêm vào chi tiết hơn nữa, thực phẩm ít nhất có thêm ba nấc thang phức tạp và đồng thời tinh tế trong điều kiện sống của người, theo như tục ngữ Việt Nam được ghi lại sau đây:

- Mùi vị: Khả năng của con người là nhận biết được mùi vị của những gì ăn uống và hít thở vào cơ thể mình. Khoa học thực phẩm ngày nay chứng minh rằng mùi vị quan trọng ở nhiệm vụ không những hòa điệu món ăn mà còn nhờ vào khứu giác, làm tăng thêm mức phân biệt và thưởng thức trong vấn đề ăn uống nữa. Nghĩa là ” ăn phải mùi, chùi phải sạch”, hay “ăn lấy vị, chứ ai lấy bị mà mang”. Do đó “thực bất tri kỳ vị”, ăn mà không biết đến mùi vị là ý muốn chê người nào đó tự đánh mất tri giác (từ khứu giác) làm người của mình. “Ăn thịt người không tanh”, câu tục ngữ này dùng để hạ nhục người nào đó xuống hàng thú vật. Đương nhiên vẫn có trường hợp thừa trừ, bất đắc dĩ thì không kể.

- Phân biệt và điều chỉnh: Nhận biết được mùi vị là yếu tố căn bản khi đề cập tới thực phẩm của con ngườị. Chẳng hạn “ăn muối còn hơn ăn chuối chát”. Hay văn chương hơn, diễn tả mùi vị cay và chua bằng từ ngữ chỉ tác dụng của hai lọai mùi vị đó khi được nếm và ăn tới, chẳng hạn “ăn ớt sút sít, ăn quít ê răng”. Bước thêm bước nữa, con người cũng có khả năng loại bỏ đi các thứ mùi vị không thích hợp hay có hại. Chẳng hạn như mùi tanh, “ăn thịt người không tanh”; mùi sắp hư thối, “cái dưa thì khú, cái cà thì thâm”.

- Chế biến, sáng tạo: Không những thế, con người còn biết phát triển khả năng tìm đủ cách thức chế biến, sáng tạo ra mùi vị, thay đổi mùi vị đi nữa. Ở khả năng này, gia vị đã bắt đầu hiện diện một cách tinh tế hơn nhiều, như một trong những yếu tố khẳng định ý nghĩa của câu “Nhân linh ư vạn vật”. Đó là giá trị của những câu chẳng hạn như:

“Cơm lành, canh ngọt”,
“Ngon cơm, ngọt canh”,
“Cá không ăn muối cá ươn”,

hay

“Có ngon chẳng còn đến giờ”…

Ngũ vị hương hay bát vị hương?

Người Trung Hoa lâu nay vẫn cho phổ biến thứ bột gia vị gọi là Ngũ vị hương. Và vì quen dùng thứ bột nêm này, lâu dần người ta lại cứ tưởng chỉ có năm vị phổ biến mà thôi. Thực ra gia vị của thực phẩm con người lâu nay không hề ít đến như thế. Chẳng hạn:

- Chua: Người Việt ta muốn nêm nếm cho món ăn cần có chất chua (nhất là loại canh chua) thì ngoài Bắc nhà quê thường dùng mẻ, thành thị cho vào quả sấu và khế vào hay nêm dấm thanh hoặc vắt chanh; còn trong Nam lại thường nấu với lá hay trái me, lá giang.

Nhưng có những câu tục ngữ như “vắt chanh bỏ vỏ” lại ám chỉ tinh vi hơn nữa, đến hành vi bất công của con người là xử dụng xong thì bỏ đi hay tàn nhẫn thì trừ khử đi. Hoặc khen con nhà nghèo nhưng quyết nuôi chí lớn trên bước đường tiến thủ:

“Nhà nghèo cơm nguội dưa chua
mà bền chí cả, sức thừa (đỗ) Trạng Nguyên”

- Ngọt: Đa số các món ăn thường được cho thêm đường vào. “Mật ngọt chết ruồi” hay “Nói lời đường mật dễ xiêu lòng người”, “nói ngọt lọt đến xương” … đều là những câu cảnh giác rằng tâm tình con người ta dễ chiều theo những lời nói năng vuốt ve ngon ngọt lắm. Đặc biệt người Nam nhờ đất phì nhiêu trồng nhiều dừa nên ưa nêm thêm nước dừa, khiến món ăn đã ngọt lại có vị béo nữa.

- Cay: Gia vị cay xem ra khá phong phú. Thường dùng phổ biến nhất thì có ớt, tiêu, tỏi, hành, gừng, riềng. Đó là chưa kể đến các loại rau thơm như húng, ngò gai, kinh giới…

Ca dao Việt ta không thiếu những câu đưa các loại gia vị cay vào trong mối liên hệ gắn bó mật thiết của vợ chồng, chẳng hạn như: “Đắng cay bà gừng chịu”, “ớt nào mà ớt chẳng cay”.

- Mặn: Thường do từ muối cung cấp. Mặn là một thứ vị căn bản lâu đời nhất của con người. Và cũng từ muối, nhiều thứ nước chấm đã hiện diện mang nặng tính chất văn hóa của nhiều dân tộc khác nhau. Chẳng hạn như xì dầu của người Trung Hoa, Nhật, Đại Hàn, maggi của dân Tây phương nói chung. Còn Việt Nam ta là nước mắm. “Cá không ăn muối cá ươn”, cá được ướp bằng muối rồi để lên men rữa mà thành nước mắm của người Việt, một trong những loại nước chấm được cho là giàu chất đạm và ngon nhất của thế giới hiện nay.

Cạnh đó, người Việt còn có thêm cả nhiều chục loại mắm khác nữa, ít dân tộc nào so bằng. Chẳng hạn như mắm cá có cả chục lọai khác nhau: Mắm cá cơm, mắm cá linh, mắm cá nục… Chẳng hạn như các mắm cáy, mắm cua, mắm tôm chua, mắm thái … Có người suy luận rằng sở dĩ dân Việt có quá nhiều loại mắm vì vốn nghèo và chậm tiến; và hơn thế nữa, họ còn chê mắm là hôi thối. Hôi hay thối là vì nặng mùi mà không quen với mũi ngửi đó thôi. Nhưng ngược lại, cũng có người khác bảo, mắm Việt mang tính chất văn minh ở chỗ áp dụng một kỹ thuật (một phương pháp do trí thông minh sáng tạo ra) mục đích là để dành thức ăn dự trữ lâu được.

- Đắng: Trong ca dao tục ngữ Việt, đắng thường đi đôi với cay. Đây cũng là một sự kiện hợp nhất hai lọai vị tiêu biểu cho tính chất khổ cực phát xuất từ lịch sử luôn luôn nhẫn nại gắng sức để có cơ hội sống còn của dân Việt? Chẳng hạn như từ ngữ kép cay-đắng, hay câu: “Ăn cay, uống đắng”.

Thực ra vị đắng trong thực phẩm của người Việt rất riêng. Như cải đắng, mướp đắng (dân ở Nam VN thường gọi là khổ qua), vân vân.

- Lạt hay Nhạt: hay đi đôi với Ngọt, và nhất lại là vì đối chọi với Mặn. Nhưng vẫn không thiếu những câu tục ngữ đề cập riêng tới Nhạt. Chẳng hạn: “nhạt như nước ao bèo”, “nhạt như nước ốc”, hay “Ăn nhạt mới biết thương mèo”.

- Bùi: Rất thường đi đôi với Ngọt. Như “Chia ngọt xẻ bùi”.

- Chát: Như trong những câu: “mặn quá hóa chát”, “ăn muối còn hơn ăn chuối chát”.

Trầu, món ăn đầy đủ gia vị nhất

Trước nhất, có lẽ chúng ta phải nói ngay đến một món ăn hết sức phổ thông của dân Việt xưa mà cách đây vài thập niên đã bắt đầu biến dần đi mất, đó là trầu. Với truyện cổ tích Trầu-Cau, trầu cách đây nửa thế kỷ trở về trước đã là một món không bao giờ có thể thiếu trong sinh hoạt thường ngày, của cá nhân lẫn gia đình và tập thể, người Việt:

“Miếng trầu là đầu câu chuyện”.

Hay:

“…Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày (em) còn không…”

Hơn thế nữa, trầu còn là một món ăn đại biểu đặc biệt của vấn đề hòa hợp gia vị, bao gồm những Mặn (vôi), Cay (lá trầu, thuốc xỉa), Đắng, Chua và Chát (cau, vỏ cây chay), Cay và hơi Ngọt (quế). Nghĩa là miếng trầu đầy đủ các mùi vị nhất và cũng hòa hợp sinh động thân thiết nhất trong đời sống của dân Việt xưa:

“Trầu này têm những vôi tầu,
giữa đệm cát cánh, hai đầu quế cay”…



“Trầu này trầu tính trầu tình,
trầu nhân trầu nghĩa trầu mình trầu ta..”

Nhưng quan trọng nhất, đi đôi với răng nhuộm đen, miếng trầu không những làm vệ sinh sạch miệng mà cung cấp các chất cần thiết cho cơ thể (như chất can-xi…) và còn làm “ ấm tì ấm vị” nữa. Cho nên, trầu là một món ăn đặc biệt có tính chất văn minh văn hóa của người Việt ở những thập niên giữa thế kỷ 20 trở về trước, trong bước phát triển sức sống của dân Việt.

Rất tiếc rằng trầu không còn phù hợp với sinh họat tân tiến của xã hội con người ngày nay nữa. Không phù hợp nữa thì bắt buộc phải biến thái đi, để cho nhiều yếu tố khác thay thế vào chứ.

Gia vị liên quan với bước tiến bộ trong đời sống con người

Thực phẩm trước hết bắt buộc phải đáp ứng với yếu tố cấp thiết sống còn của con người đã. Cho nên khi gặp phải thiếu thực phẩm “rau già, cá ươn”, thì mùi vị hiện diện như là bước nhẩy vọt của văn minh lòai người, khi con người bước sang giai đoạn biết chế biến khẩu vị thực phẩm:

Theo sự kiện phát hiện ra lửa, như “cua nướng, ốc lùi”. Gia vị bắt đầu có mặt để thích ứng: “Thịt đầy xanh, không hành chẳng ngon”. Đến khi thực phẩm đầy đủ rồi thì “ăn của ngon, mặc của tốt”.

Và từ đó, gia vị luôn luôn mật thiết với đời sống con người trong bước tiến hóa và sống còn. Dĩ nhiên ai cũng biết rằng con người sống thì phải ăn uống hít thở, nhưng riêng trong vấn đề gia vị thì con người khác hơn các sinh vật khác ở chỗ biết chế biến và sáng tạo ra mùi vị.

Gia vị xuất hiện như một thể hiện văn hóa của con người là vậy.

Gia vị với sức khỏe

Gia vị không những thể hiện nét văn minh văn hóa trong việc thực phẩm nuôi dưỡng con người, nó còn liên hệ mật thiết với sức khỏe con người nữa: Những lúc ốm đau bệnh tật, con người bắt đầu hiểu ra cái triệu chứng bệnh bắt đầu bằng sự nhận định được mức sai lạc về mùi vị thức ăn đồ uống mà mình hấp thụ vào hằng ngày: “Canh ngọt chê đắng, cơm trắng chê hôi”.

Và nhờ đó, lâu ngày chầy tháng, con người tiến bộ ở chỗ hiểu biết rằng ăn uống quá độ là không tốt cho sức khỏe. Như những câu tục ngữ: “ăn kiêng ăn khem”, hay “ăn ít ngon nhiều”, “ăn ít sống lâu”.

Nếu mà chẳng may có bệnh tật gì thì: “Thuốc đắng dã tật”

Tuy nhiên, ăn uống và làm việc luôn luôn phải điều độ vẫn là đúng hơn cả:

“Cơm ba bát, thuốc ba thang.
Ngày làm đêm nghỉ, thầy lang khỏi mời”.

Mặt khác, văn minh văn hóa của gia vị và thực phẩm ở chỗ áp dụng kinh nghiệm vào việc chế biến để các món ăn đồ uống được thuần thục hơn, hợp y khoa bổ tì bổ vị, vừa lành lại vừa ngon. Như:

“Đầu tôm nấu với ruột bầu,
chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”.

Hay:

“Canh cải mà nấu với gừng,
chẳng ăn thì chớ, xin đừng mỉa mai.”

Cuối cùng, ca dao Việt không thiếu những câu đề cao vấn đề ăn uống cẩn thận, đơn giản, nhiều rau trái thì mạnh khỏe cho thể chất và tâm thần sống thọ:

“Đói ăn rau, đau uống thuốc.”

Và:

“Ăn cơm với mắm, thắm đỏ thịt da”
“Ăn cơm với rau, bụng mau thấy đói”

Hay văn chương bóng bẩy để diễn đạt cái kết quả của món ăn đồ uống ảnh hưởng hiển hiện ra sắc diện bề ngoài của sức khỏe cơ thể con người, như: “Ăn cơm với mắm thì ngắm về sau, ăn cơm với rau thì trông về trước”.

Nhưng đặc biệt có những câu chỉ rõ ra lợi ích của vấn đề ăn uống. “Ăn cay, uống đắng” như một câu nói trước hết và cụ thể để ghi nhớ rằng đàn bà mới sinh thì ăn cái gì cần phải có chất cay mới tạo sức ấm cho cơ thể, uống cái gì cũng nên có chất đắng (nhất là uống thuốc bắc) thì mát gan, bổ phổi. Sau đó, câu ca dao trên còn có ý nghĩa chỉ những khốn đốn của đời sống mà tâm trí con người gặp phải và chịu đựng để có thêm những kinh nghiệm sống còn.

Thực phẩm, gia vị với đời sống, tâm lý và xã hội

Như vừa dẫn ở trên, qua ca dao tục ngữ Việt, ta cũng còn tìm thấy những liên quan mật thiết giữa thực phẩm nói chung và gia vị nói riêng đối với tâm tình, tinh thần của người Việt trong đời sống và xã hội nữa.

Trước hết và đơn giản nhất là thái độ vị tha, chia xẻ: “Một hột muối cắn làm đôi”

Và thái độ ăn ngay nói thẳng: “Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối”.

Đó là hai thái độ căn bản tốt lành giữa người với người, của ý thức sinh tồn chung:

Xa hơn nữa là muốn nhắc nhớ đến lẽ sống ở đời, mọi hành động đều lưu lại hậu (hay kết) quả về sau:

“Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”.

Rồi ngụ ý ca tụng đời sống nghèo mà cơ thể khỏe, tâm trí thảnh thơi:

“Ăn cơm với cáy thì ngáy o o, ăn cơm với bò thì lo ngay ngáy.”

Hoặc:

“Canh rau cũng thể canh rau,
dù ai cậy thế cậy giàu mặc ai”.

Và:

“Con ơi chớ lấy chồng giàu,
cơm ăn chê hẩm, cá canh bầu chê tanh.”

Nêu cao ý chí vươn lên, vượt cảnh ngộ, của dân nghèo:

“Nhà nghèo cơm nguội dưa chua,
mà bền chí cả, sức thừa Trạng Nguyên.”

Còn khuyên can những ai trước sau không giữ thủy chung trong nghĩa vợ chồng:

“Đôi ta ăn ở đã từng,
gừng cay muối mặn nhớ đừng phụ nhau”.

Hay:

“Tay bưng dĩa muối chén gừng,
gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau.”

Tình yêu bao giờ cũng đậm đà gia vị:

Đặc biệt nhất là tình yêu trai gái mới thực tha thiết đậm đà gia vị trong ca dao tục ngữ Việt Nam:

“Nước mắm chanh dành ăn bánh hỏi,
qua thương nàng theo dõi mấy niên ..”

Và:

“Đắng khổ qua, chua là chanh giấy,
dầu ngọt thế mấy cũng tiếng cam sành.
Giặc Lang-sa đánh tới châu thành,
dầu ai ngăn qua đón lại, dạ cũng không đành bỏ em.”

Hay:

“Nước mắm ngon dầm con cá bạc má,
anh biểu em rình lén mạ qua đây.
Nước mắm ngon dầm con cá đối,
em biểu anh chờ để tối em qua.”

Và dù yêu đương đến thế, người thiếu nữ con nhà có lễ giáo vẫn không quên giá trị của cái giấy giá thú chứng thực hôn nhân trong xã hội Việt từ năm 1975 trở về trước:

“Khổ qua xanh khổ qua đắng,
khổ qua mắc nắng khổ qua đèo.
Anh có thương em thì mần giấy giao kèo,
không thôi ngày sau anh lại kể, em là mèo của anh”.

Giới hạn vì suy luận loại suy

Nhưng không phải ca dao tục ngữ Việt luôn luôn đưa ra những nhận xét đúng tuyệt đối đâu. Chẳng hạn:

“Canh xuông khéo nấu thì ngon,
mẹ già khéo tán thì con đắt chồng.”

Đây nhá, chúng ta thử đi vào vài chi tiết của nội dung câu trên thì hiểu được ngay rằng thời đại bây giờ, mẹ có tán hươu tán vượn giỏi đến đâu chăng nữa cũng không đạt được một chắn chắn bảo đảm nào cho kết quả “đắt chồng” của con gái. Vì thực tế của cộng đồng Việt ở đây đa số là “Con cái đặt đâu, cha mẹ ngồi đấy.” Không còn “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” nữa.

Hay:

“Cá không ăn muối cá ươn,
cãi lời cha mẹ trăm đường con hư.”

Thì cá bây giờ để trong ngăn đá cũng khó ươn được lắm. Còn cãi lời cha mẹ không chắc gì “trăm đường con” có thể hư được.

Nhưng trên mặt lễ nghĩa (dù thể hiện bằng hình thái nào khác đi nữa) của nếp văn hóa Việt thì bao giờ và ở đâu, nội dung câu ca dao trên cũng vẫn đúng.

Nhất là:

“Ớt nào là ớt chẳng cay,
gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.”

Thực tế cho thấy, không thiếu gì loại ớt chúng ta thường mua để chiên xào nấu nướng hiện nay lại rõ rệt chẳng cay chút nào hết; mà cũng có những loại ớt như ớt Mễ, cay một cách kinh khiếp, cay xé miệng, cay nóng sôi cả bao tử. Trong khi đó, riêng cái thói ghen của phụ nữ có chồng là một nét tâm lý gần như thông thường, chỉ có khác ở hình thái thể hiện mà thôi.

***

Xem như mấy câu ca dao tiêu biểu nêu trên, chúng ta nghiệm ra rằng: Từ thực tế gia vị của món ăn, người Việt xưa đã chiếu theo những ước muốn chủ quan mà suy luận và tổng quát hóa, thì thường chỉ có giá trị tương đối, tùy thời, tùy nơi chốn định cư.

Tuy nhiên, căn cứ vào bình diện văn minh văn hóa mà xét, giá trị tương đối rút ra từ nội dung ý nghĩa của các câu ca dao tục ngữ cũng là một sự kiện xảy ra phổ biến cho bất cứ một giống dân nào đó nói chung, chứ chẳng riêng gì người Việt không thôi đâu.

Mấy câu ca dao gia vị tiêu biểu hay

Rạch ròi vào chi tiết như trên chẳng qua cũng chỉ nhân cơ hội đây, với đôi chút khách quan, chúng ta cùng nhau nhìn lại cái tính chất văn hóa của tục ngữ ca dao Việt chuyên đề cập đến gia vị mà thôi.

Có điều sẽ vô cùng bất công nếu chúng ta chẳng chịu đưa ra những câu có thể nói là bất hủ của kho tàng này.

Trong một bài viết ngắn gọn như bài này, chỉ xin đề cập sơ sài đến mấy câu khác nữa:

Trước tiên, chúng ta không thể bỏ qua được một đặc tính phổ biến của bất cứ nền ca dao tục ngữ của không cứ một dân tộc nào là nội dung về tình yêu nam nữ lứa đôi và tình nghĩa vợ chồng vẫn thường chiếm một số lượng nhiều hơn hẳn so với các đề tài khác. Cũng vậy, trong ca dao tục ngữ Việt chẳng hề thiếu những câu tuyệt diệu thuộc loại này, nhưng lấy gia vị mà ví von thêm phong phú hương sắc văn chương vào thành những bài ca dao hay và đáng ghi nhớ thì quả có hiếm thật đấy. Chẳng hạn:

“Ai làm cho cải tôi ngồng,
cho dưa tôi khú, cho chồng tôi chê.
Chồng chê thì mặc chồng chê,
dưa khú nấu với cá trê ngọt lừ.”

Hay:

“Mẹ già như chuối chín cây,
sao đấy chẳng liệu cho đây liệu cùng.
Khế với sung, khế chua sung chát.
Mật với gừng, mật ngọt gừng cay.
Còn ai hơn đấy với đây,
như đôi đũa xứng so ngay vợ chồng.”

Nhưng những bài ca dao Việt mang được chất văn chương vào với gia vị, chắc ít ai quên bài tiêu biểu này:

“Cái cò cái vạc cái nông,
ba con cùng béo vặt lông con nào.
Vặt lông con vạc cho tao
hành, răm, nước mắm bỏ vào cho thơm.”

Trước hết, ở đây chúng ta cần phải xác định rằng chữ “cái” mở đầu câu ca dao vừa nêu trên nếu chiếu theo nội dung ý nghĩa của Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng (?- 791) thì chỉ về giống cái.

Và chúng ta ít ai không biết rằng cò, vạc và nông là ba thứ chim hoang cùng một giống loại đều khẳng khiu gầy trơ xương cả, mà phát ngôn ở đây là “cùng béo” thì rõ rệt có ý muốn phóng đại để đánh lừa cảm giác một cách diễu cợt. Thịt của ba thứ chim này đều nổi tiếng là tanh nhất; cho nên ai muốn ăn chúng thì chỉ vì nghèo quá, đói quá và bất đắc dĩ lắm mới phải dùng một lúc tới ba thứ gia vị (hành, lá rau răm và nước mắm) để ướp, trước khi nấu nướng, ăn tạm. Cái thú vị của câu ca dao này là ở những điểm trên.

“Con gà cục tác lá chanh,
con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi.
Con chó khóc đứng khóc ngồi,
mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng.”

Thịt gà luộc không thể thiếu lá chanh thái chỉ (được thái ra mỏng như sợi chỉ )rắc lên, mà nước luộc gà lại cần có một chút nước quả (trái) chanh vắt vào. Thịt lợn (heo) luộc, xào hay nấu nướng gì cũng cần có hành (hành lá, hành củ đã được đập giập ra). Còn thịt chó thì bắt buộc phải có củ riềng thái mỏng hay đâm nát ra mà cho vào, để làm dậy mùi thơm và đánh bạt bớt đi (chứ không được mất hẳn) cái mùi “chó” thực sự nặng nề. Nhắc nhở đến ba thứ gia vị dành riêng cho ba thứ thịt khác nhau ấy, bằng thể văn nhân cách hóa như thế thì còn gì sống động và dí dỏm hơn nữa không!

Biểu lộ một chút hiểu biết riêng về gia vị của thực phẩm qua cao dao tục ngữ Việt như trên, chẳng qua cũng chỉ mong góp ít cố gắng mà chúng ta hằng ao ước nói lên được một chút gì gọi là cái tinh hoa văn hóa Việt, trong lúc phải sống ở ngòai địa bàn dân cư cố hữu của dân Việt, cũng như cái tâm tình thâm thúy và sống động thấm thía của chính con người chúng ta mỗi khi nhớ tới câu:

“Ai đưa ta đến chốn này,
bên kia là núi bên này là sông.”

Phạm Quốc Bảo
(Trích và được tu sửa từ cuốn “Độc lập Mỹ, độc lập Ta” Việt Hưng xuất bản, 2004)

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#132 Posted : Saturday, January 24, 2015 8:13:37 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Tiếng Việt Mến Yêu

Tác giả: Hoàng Ngọc Văn

Tôi thật là Văn, chẳng phải văng,
Mấy ông Nam Bộ phát ngôn xằng !
Có nghe lộn xộn khi o Huế,
Ðôi má ửng hồng, biết nói răng ?

Ði học, học trò đủ vở chưa?
-Danh ca-. Ðánh cá-, phải theo mùa.
Nước ròng, nước lớn hay sân khấu,
Tùy chỗ, làm ăn mới khỏi thua !

Chị Sáu trồng cây nhờ phước trời,
Nắng vàng, nhè nhẹ gió, mưa rơi...
Gặp khi anh Chín đi ngang rẫy,
Chị vẫy: "vô vườn chơi" Chín ơi !?

***

Dân tôi, giọng nói theo miền,
Khi vui vui lắm, lúc phiền muốn điên !
Nhị Hà, Thạch Hãn, sông Tiền,
Ðượm tình nồng thắm ba miền mến yêu !

(bài thơ này phải tùy nghi dùng cả 3 giọng Bắc Trung Nam để ngâm)

Edited by user Saturday, January 24, 2015 8:15:39 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
CatLinh  
#133 Posted : Saturday, January 31, 2015 11:16:51 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 2/7/2015(UTC)
phamlang  
#134 Posted : Saturday, February 7, 2015 5:51:48 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương (9):

Tiếng Việt và tiếng Hẹ (Hakka)

Nguyên Nguyên


http://e-cadao.com/Coing...uyenthuyethungvuong9.htm
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#135 Posted : Monday, February 9, 2015 7:53:55 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Cái chết của một ngôn ngữ: tiếng Việt Sài Gòn cũ


Trịnh Thanh Thủy Biên Soạn


Vấn đề ngôn ngữ là vấn đề của muôn thuở, không riêng gì của người Việt. Trong bài viết này, tôi muốn bàn về một thực trạng của tiếng Việt mà đã đến lúc, chúng ta không thể không suy nghĩ về nó một cách nghiêm túc. Đó là nguy cơ diệt vong của một thứ tiếng Việt mà người miền Nam Việt Nam dùng trước năm 1975 hay còn được gọi là tiếng Việt Sài Gòn cũ. Thứ tiếng Việt đó đang mất dần trong đời sống hàng ngày của người dân trong nước và chẳng chóng thì chầy, nó sẽ biến thành cổ ngữ, hoặc chỉ còn tìm thấy trong tự điển, không còn ai biết và nhắc tới nữa. Điều tôi đang lo lắng là nó đang chết dần ngay chính trong nước chứ không phải ở ngoài nước. Người Việt hải ngoại mang nó theo hành trình di tản của mình và sử dụng nó như một thứ ngôn ngữ lưu vong. Nếu người Việt hải ngoại không dùng, hay nền văn học hải ngoại không còn tồn tại, nó cũng âm thầm chết theo. Nhìn tiếng Việt Sài Gòn cũ từ từ biến mất, lòng tôi bỗng gợn một nỗi cảm hoài. Điều tôi thấy, có lẽ nhiều người cũng thấy, thấy để mà thấy, không làm gì được. Sự ra đi của nó âm thầm giống như những dấu tích của nền văn hoá đệ nhất, đệ nhị cộng hoà VN vậy. Người ta không thể tìm ra nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, Cổ Thành Quảng Trị, nghĩa trang Quận Đội, trường võ bị Thủ Đức, v.v… Tất cả đã thay đổi, bị phá huỷ hoặc biến đi như một sắp xếp của định mệnh hay một định luật của tạo hoá.

Cơn chấn động tiếng Việt

Nhắc đến tiếng Việt Sài Gòn cũ là nhắc tới miền Nam Việt Nam trước 1975. Vì cuộc đấu tranh ý thức hệ mà Nam, Bắc Việt Nam trước đó bị phân đôi. Sau ngày Việt Nam thống nhất năm 75, miền Nam thực sự bước vào sự thay đổi toàn diện. Thể chế chính trị thay đổi, kéo theo xã hội, đời sống, văn hoá và cùng với đó, ngôn ngữ cũng chịu chung một số phận. Miền Bắc thay đổi không kém gì miền Nam. Tiếng Việt miền Bắc đã chịu sự thâm nhập của một số ít ngữ vựng miền Nam. Ngược lại, miền Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp sự chi phối của ngôn ngữ miền Bắc trong mọi lãnh vực. Nguời dân miền Nam tập làm quen và dùng nhiều từ ngữ mà trước đây họ không bao giờ biết tới. Những: đề xuất, bồi dưỡng, kiểm thảo, sự cố, hộ khẩu, căn hộ, ùn tắc, ô to con, xe con, to đùng, mặt bằng, phản ánh, bức xúc, tiêu dùng, tận dụng tốt, đánh cược, chỉ đạo, quyết sách, đạo cụ, quy phạm, quy hoạch, bảo quản, kênh phát sóng, cao tốc, doanh số, đối tác, thời bao cấp, chế độ bao cấp, chế độ xem, nâng cấp, lực công, nền công nghiệp âm nhạc, chùm ảnh, chùm thơ, nhà cao tầng, đáp án, phồn thực, sinh thực khí, từ vựng, hội chứng, phân phối, mục từ, kết từ, đại từ, nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân,v.v…dần dà đã trở thành những từ ngữ quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người dân miền Nam.

Có những từ ngữ miền Nam và miền Bắc trước 75 đồng nghĩa và cách dùng giống nhau. Có những từ cùng nghĩa nhưng cách dùng khác nhau. Tỷ như chữ “quản lý” là trông nom, coi sóc. Miền Nam chỉ dùng từ này trong lãnh vực thương mại, tài chính và kinh doanh trong khi miền Bắc dùng rộng hơn trong nhiều lãnh vực. Hoặc từ “chế độ” cũng vậy, miền Nam chỉ dùng trong môi trường chính trị như “chế độ dân chủ”. Miền Bắc dùng bao quát hơn như “chế độ xem”, “chế độ bao cấp”. Có những từ miền Bắc dùng đảo ngược lại như đơn giản – giản đơn; bảo đảm – đảm bảo; dãi dầu – dầu dãi; vùi dập – dập vùi. v.v…

Tiếng Việt trong nước

Song song với việc thống nhất đất nước, chính quyền Việt Nam đã thống nhất hoá tiếng Việt và gọi đó là “tiếng Việt toàn dân”. Cuối năm 1979, đầu năm 1980, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam đã phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục tổ chức một số cuộc hội thảo về vấn đề chuẩn hoá tiếng Việt. Bộ Giáo dục cũng thông qua một số quy định về chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục. Ngày 01/7/1983, Quyết nghị của Hội đồng chuẩn hoá chính tả và Hội đồng chuẩn hoá thuật ngữ đã được ban hành và áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục.

Khi tiếng Việt được thống nhất và chuẩn hoá, toàn quốc sử dụng chung một thứ ngôn ngữ theo một tiêu chuẩn, mẫu mực nhất định. Tiếng Việt Sài Gòn cũ, gồm những từ ngữ mà tiếng Việt miền Bắc đã có từ ngữ thay thế, sẽ bị quên đi hoặc bị đào thải. Những từ ngữ thông dụng cho cuộc chiến trước đó sẽ biến mất trước tiên. Những: trực thăng, cộng quân, tác chiến, địa phương quân, thiết vận xa, xe nhà binh, lạnh cẳng, giới chức(hữu) trách, dứt điểm, phi tuần, chào bãi, tuyến phòng thủ, trái bộc pha, viễn thám, binh chủng, phi hành, gia binh, ấp chiến lược, nhân dân tự vệ, chiêu hồi, chiêu mộ, v.v… hầu như ít, thậm chí không được dùng trong hiện tại. Những từ ngữ thông dụng khác như ghi danh, đi xem đã bị thay thế bằng đăng ký, tham quan. Nhiều từ ngữ dần dần đã bước vào quên lãng như:sổ gia đình, tờ khai gia đình, phản ảnh, đường rầy, cao ốc, bằng khoán nhà, tĩnh từ, đại danh từ, túc từ, giới từ, khảo thí, khán hộ, khao thưởng, hữu sự, khế ước, trước bạ, tư thục, biến cố, du ngoạn, ấn loát, làm phong phú, liên hợp, gá nghĩa, giáo học, giáo quy, hàm hồ, tráng lệ, thám thính, tư thất, chẩn bệnh, chi dụng, giới nghiêm, thiết quân luật, v.v…

Tiếng Việt ngoài nước

Ở hải ngoại, khi bắt đầu cầm bút, trong tâm thức một người lưu vong, viết, đối với tôi, là một động tác mở để vỡ ra một con đường: Đường hoài hương. Nhiều người viết hải ngoại cũng tìm đến con đường về cố hương nhanh nhất này như tôi. Hơn nữa, để đối đầu với cơn chấn động văn hóa thường tạo nhiều áp lực, tôi xem viết như một phương pháp giải toả và trám đầy nỗi hụt hẫng, rỗng không của một người vừa ly dị với quê hương đất tổ sau một hôn phối dài. Tôi không bao giờ để ý đến việc mình viết cho ai, loại độc giả nào, trong hay ngoài nước, và họ có hiểu thứ ngôn ngữ mình đang dùng hay không vì lúc đó, chỉ có một vài tờ báo điện tử liên mạng mới bắt đầu xuất hiện ở hải ngoại. Sau này, nhờ kỹ thuật điện toán ngày một phát triển, cầu giao lưu giữa trong và ngoài nước được nối lại, độc giả trong và ngoài nước đã có cơ hội tiếp xúc, thảo luận, đọc và viết cho nhau gần như trong gang tấc. Đó là lúc tôi được tiếp xúc với dòng văn học trong nước và làm quen với nhiều từ ngữ mới lạ chưa từng được nghe và dùng. Ngược lại, trong nước cũng vậy, số người lên mạng để đọc những gì được viết bởi người cầm bút ngoài nước cũng không ít.

Thế hệ chúng tôi được người ta âu yếm gọi là thế hệ một rưỡi, thế hệ ba rọi hay nửa nạc nửa mỡ, cái gì cũng một nửa. Nửa trong nửa ngoài, nửa tây nửa ta, nửa nam nửa bắc, nửa nọ nửa kia, cái gì cũng một nửa.

Do đó, nhiều lúc tôi phân vân không biết mình nên dùng nửa nào để viết cho thích hợp nữa. Nửa của những từ ngữ Sài Gòn cũ hay nửa của tiếng Việt thông dụng trong nước? Mình có nên thay đổi lối viết không? Tôi nghĩ nhiều người viết hải ngoại cũng gặp khó khăn như tôi và cuối cùng, mỗi người có một lựa chọn riêng. Không chỉ trong lãnh vực văn chương, thi phú mà ở các lãnh vực phổ thông khác như giáo dục và truyền thông cũng va phải vấn đề gay go này. Việc sử dụng nhiều từ ngữ thông dụng của quốc nội ở hải ngoại đã gặp nhiều chống đối và tạo ra những cuộc tranh luận liên miên, dai dẳng.

Sự kỳ thị trong, ngoài


Các cơ quan truyền thông như báo chí, truyền thanh, truyền hình thường xuyên bị chỉ trích và phản đối khi họ sử dụng những từ trong nước bị coi là “chữ của Việt Cộng” và được yêu cầu không nên tiếp tục dùng. Nhất là ở Nam Cali, báo chí và giới truyền thông rất dễ bị chụp mũ “cộng sản” nếu không khéo léo trong việc đăng tải và sử dụng từ ngữ. Chiếc mũ vô hình này, một khi bị chụp, thì nạn nhân xem như bị cộng đồng tẩy chay mà đi vào tuyệt lộ, hết làm ăn vì địa bàn hoạt động chính là cộng đồng địa phương đó.

Trong cuốn DVD chủ đề 30 năm viễn xứ của Thúy Nga Paris, chúng ta được xem nhiều hình ảnh cộng đồng người Việt hải ngoại cố gìn giữ bản sắc văn hoá Việt Nam bằng cách mở các lớp dạy Việt ngữ cho các con em. Khắp nơi trên thế giới, từ nơi ít người Việt định cư nhất cho tới nơi đông nhất như ở Mỹ, đều có trường dạy tiếng Việt. Riêng ở Nam California, Mỹ, hoạt động này đang có sự khởi sắc. Ngoài những trung tâm Việt ngữ đáng kể ở Little Saigon và San José, các nhà thờ và chùa chiền hầu hết đều mở lớp dạy Việt ngữ cho các em, không phân biệt tuổi tác và trình độ. Nhà thờ Việt Nam ở Cali của Mỹ thì rất nhiều, mỗi quận hạt, khu, xứ đều có một nhà thờ và có lớp dạy Việt ngữ. Chùa Việt Nam ở Cali bây giờ cũng không ít. Riêng vùng Westminster, Quận Cam, Cali, đi vài con đường lại có một ngôi chùa, có khi trên cùng một con đường mà người ta thấy có tới 3, 4 ngôi chùa khác nhau. Việc bảo tồn văn hoá Việt Nam được các vị hướng dẫn tôn giáo như linh mục, thượng tọa, ni sư nhắc nhở giáo dân, đại chúng mỗi ngày. Lớp học tiếng Việt càng ngày càng đông và việc học tiếng Việt đã trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng lưu vong. “Tại Trung tâm Việt ngữ Hồng Bàng, năm nay số học sinh nhập học tiếng Việt lên tới 700 em. Những thầy cô dạy tiếng Việt đều làm việc thiện nguyện hoàn toàn, đã hết lòng chỉ dạy cho các em, nhất là các em vừa vào lớp mẫu giáo tiếng Việt” (trích Việt báo, Chủ nhật, 9/24/2006)

Về vấn đề giáo trình thì mỗi nơi dạy theo một lối riêng, không thống nhất. Sách giáo khoa, có nơi soạn và in riêng để dạy hoặc đặt mua ở các trung tâm Việt ngữ. Còn ở đại học cũng có lớp dạy tiếng Việt cho sinh viên, sách thường được đặt mua ở Úc. Một giảng sư dạy tiếng Việt tâm sự với tôi: “Khi nào gặp những từ ngữ trong nước thì mình tránh đi, không dùng hoặc dùng từ thông dụng của Sài gòn cũ trước 75 vì nếu dùng cha mẹ của sinh viên, học sinh biết được, phản đối hoặc kiện cáo, lúc ấy phải đổi sách thì phiền chết.”

Sự dị ứng và khước từ việc sử dụng tiếng Việt trong nước của người Việt hải ngoại có thể đưa tiếng Việt ở hải ngoại đến tình trạng tự mình cô lập. Thêm nữa, với sự phát triển rầm rộ của kỹ thuật điện toán và thế giới liên mạng, báo chí, truyền thông của chính người Việt hải ngoại đến với mọi người quá dễ dàng và tiện lợi. Độc giả cứ lên mạng là đọc được tiếng Việt Sài Gòn cũ nên họ dường như không có nhu cầu tìm hiểu tiếng Việt trong nước. Kết quả là tiếng Việt trong và ngoài nước chê nhau!!!

Việc người Việt hải ngoại chống đối và tẩy chay ngôn ngữ Việt Nam đang dùng ở trong nước có vài nguyên do:

Thứ nhất là do sự khác biệt của ý thức hệ. Những người Việt Nam lưu vong phần lớn là người tị nạn chính trị. Họ đã từ bỏ tất cả để ra đi chỉ vì không chấp nhận chế độ cộng sản nên từ chối dùng tiếng Việt trong nước là gián tiếp từ chối chế độ cộng sản.

Thứ hai, sự khác biệt của từ ngữ được dùng trong cả hai lãnh vực ngữ nghĩa và ngữ pháp. Đây là một thí dụ điển hình. Trong cùng một bản tin được dịch từ một hãng thông tấn ngoại quốc, nhà báo ở trong nước và ngoài nước dịch thành hai văn bản khác nhau:

Trong nước:

Tàu ngầm hạt nhân Nga bốc cháy

Interfax dẫn một nguồn tin Hải quân Nga cho hay ngọn lửa bắt nguồn từ phòng điện hóa và dụng cụ bảo vệ lò hạt nhân đã được kích hoạt, do đó không có đe dọa về nhiễm phóng xạ. Phát ngôn viên hạm đội này cho hay: “Lửa bốc lên do chập điện ở hệ thống cấp năng lượng phần mũi tàu.

(http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/2006/09/3B9EDF89/)

Ngoài nước:

Hỏa hoạn trên tàu ngầm Nga

Hải quân Nga nói rằng lò phản ứng hạt nhân trên tàu Daniil Moskovsky đã tự động đóng lại và không có nguy cơ phóng xạ xảy ra. Chiếc tàu đã được kéo về căn cứ Vidyayevo. Nguyên nhân hỏa hoạn có thể do chạm giây điện.

(http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=48362&z=75)

Một người Việt hải ngoại khi đọc văn bản thứ nhất sẽ gặp những chữ lạ tai, không hiểu nghĩa rõ ràng vì sự khác biệt như những chữ: phòng điện hoá, được kích hoạt, chập điện, hệ thống cấp năng lượng…

Hơn thế nữa, Việt Nam mới bắt đầu mở cửa thông thương giao dịch với quốc tế; những từ ngữ mới về điện toán, kỹ thuật, y khoa, chính trị, kinh tế, xã hội, ồ ạt đổ vào. Có nhiều từ ngữ rất khó dịch sát nghĩa và thích hợp nên mạnh ai nấy dịch. Ngoài nước dịch hai ba kiểu, trong nước bốn năm kiểu khác nhau, người đọc cứ tha hồ mà đoán nghĩa. Có chữ thà để ở dạng nguyên bản, người đọc nhiều khi còn nhận ra và hiểu nghĩa nó nhanh hơn là phiên dịch.

Trong việc phiên dịch, theo tôi, địa danh, đường phố, tên người nên giữ nguyên hơn là phiên dịch hay phiên âm. Nếu có thể, xin chú thích từ nguyên bản ngay bên cạnh hay đâu đó bên dưới bài viết sẽ giúp người đọc dễ theo dõi hay nhận biết mặt chữ. Tỷ như việc phiên âm các địa danh trên bản đồ trong sách giáo khoa của Bộ Giáo dục trong nước là việc đáng khen nhưng tôi nghĩ, nếu đặt từ nguyên thủy lên trên từ phiên âm thì các em học sinh chưa học tiếng Anh hoặc đã học tiếng An sẽ dễ nhận ra hơn.

Ngôn ngữ chuyển động, từ ngữ mới được sinh ra, từ cũ sẽ mất đi như sự đào thải của định luật cung cầu. Tiếng Việt Sài Gòn cũ ở trong nước thì chết dần chết mòn; ở ngoài nước, nếu không được sử dụng hay chuyển động để phát sinh từ mới và cập nhật hoá, nó sẽ bị lỗi thời và không còn thích ứng trong hoạt động giao tiếp nữa. Dần dà, nó sẽ bị thay thế bằng tiếng Việt trong nước. Nhất là trong những năm gần đây, sự chống đối việc sử dụng tiếng Việt trong nước ngày càng giảm vì sự giao lưu văn hoá đã xảy ra khiến người ta quen dần với những gì người ta đã phản đối ngày xưa. Tạp chí, sách, báo đã đăng tải và phổ biến các bản tin cũng như những văn bản trong nước. Người ta tìm được nhiều tài liệu, ấn phẩm, sách nhạc quốc nội được bày bán trong các tiệm sách. Các đài truyền thanh phỏng vấn, đối thoại với những nhà văn, nhà báo, chính trị gia và thường dân trong nước thường xuyên. Đặc biệt, giới ca sĩ, nhiều người nổi tiếng ra hải ngoại lưu diễn, đi đi về về như cơm bữa. Giới truyền thông bây giờ sử dụng từ ngữ trong nước rất nhiều, có người mặc cho thiên hạ chỉ trích, không còn ngại ngùng gì khi dùng từ nữa. Khán thính giả có khó chịu và chê trách, họ chỉ giải thích là thói quen đã ăn vào trong máu rồi, không chịu thì phải ráng mà chịu.

Sự ra đi của một chế độ kéo theo nhiều thứ: con người, tài sản, nhà cửa, vườn tược, lịch sử… nhưng có cái bị lôi theo mà người ta không ngờ nhất lại là Tiếng Việt Sài Gòn cũ hoặc là phương ngữ của miền Nam trước năm 75. Trong vòng 30 năm, không ai ngờ tiếng Việt ở trong và ngoài nước đã chịu sự chấn động, thay đổi rất nhiều để tiến bộ phong phú và giàu có hơn xưa. Nhìn lại tiếng Việt ngày nay trong cái nhìn chủ quan tôi thấy buồn vui lẫn lộn. Vui vì sự phát triển rất nhanh của nó để thích ứng với trào lưu tiến hoá toàn cầu. Buồn vì sự mất đi của những từ ngữ, các âm điệu tiếng Việt thân quen của 30 năm về trước. Ai đã từng sinh ra, tập nói, lớn lên và được nuôi dưỡng bằng thứ tiếng Việt của Sài Gòn mấy mươi năm xa xưa, sẽ thông cảm và hiểu được nỗi buồn này của tôi. Tôi hy vọng sự lo lắng của tôi về “cái chết của một ngôn ngữ” chỉ là một lo lắng hão và trong tương lai, tiếng Việt mến yêu ngày một tiến triển, phong phú hơn về từ vựng, cú pháp và âm pháp.

Edited by user Monday, February 9, 2015 7:55:02 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
CatLinh on 2/13/2015(UTC)
Hạ Vi  
#136 Posted : Tuesday, February 10, 2015 6:47:24 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,545
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10697 time(s) in 2629 post(s)



UserPostedImage





UserPostedImage
thanks 2 users thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 2/11/2015(UTC), CatLinh on 2/13/2015(UTC)
CatLinh  
#137 Posted : Friday, February 13, 2015 10:11:53 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 3/12/2015(UTC)
Hạ Vi  
#138 Posted : Monday, February 16, 2015 7:57:31 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,545
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10697 time(s) in 2629 post(s)

Edited by user Monday, February 16, 2015 8:00:39 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 3/12/2015(UTC)
CatLinh  
#139 Posted : Sunday, March 1, 2015 4:56:15 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 3/12/2015(UTC)
CatLinh  
#140 Posted : Saturday, March 7, 2015 2:24:06 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 3/12/2015(UTC)
Users browsing this topic
Guest
11 Pages«<56789>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.