Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

11 Pages«<891011>
TIẾNG VIỆT KỲ DIỆU
phamlang
#189 Posted : Saturday, September 12, 2015 6:28:10 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Chữ Việt: 101 Chuyện nhức đầu!

Sáu Râu

Tiếng nước tôi bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi ...


Tiếng Việt mình thật phong phú và đã trải qua 4 ngàn năm lịch sử là điều chúng ta đáng tự hào ...

Nhưng, ngược lại, chữ viết mình chỉ mới có khoảng 300 năm nay thôi, còn quá trẻ, cho nên còn quá nhiều chuyện chưa giải quyết. SR có đọc ở đâu đó về câu chuyện có 1 người Pháp (khoảng vào đầu thế kỷ) chê tiếng Việt (chữ Quốc Ngữ) là thứ tiếng ... tào lao, không thể nào dùng trong văn chương được, và đã bị người mình chửi tơi bời!

Tuy nhiên nếu nhìn khác quan, chữ Việt thiệt có nhiều vấn đề cần giải quyết. Hôm nay SR mờ các bạn tới nhà chơi, đóng cửa kín lại, cùng nhau bàn về những vấn đề của chữ viết coi ai có ý kiến gì hay.

Biết đâu ... vài trăm năm sau, có 1 tác phẩm viết bằng tiếng Việt đưọc giải Nobel văn chương?

Và biết đâu chừng đó chính là 1 phần do công trình của SCV tào lao của chúng ta ngày hôm nay ...

Nhưng trước hết có đôi lời phân trần. Bàn đây để thử biết ý kiến chung chung về các vấn đề rắc rối của tiếng Việt:

Mục đích xa là góp phần toàn mỹ tiếng Việt.

Mục đích gần là có 1 ý chung để những ai hảo tâm có thể dùng để viết 1 software check lỗi chánh tả hữu dụng.

SR không hề có ý chê tiếng Việt, và SR không hề nghĩ mình giỏi tiếng Việt hay chánh tả hơn ai hết.

Đây là outline của các đề tài SR định đem ra bàn, hy vọng sẽ có thêm chi tiết tuần tới.

Phần I: Chánh tả

Điều không thể chối cãi: Không có tiêu chuẩn chung về chánh tả

Tự điển không thống nhất;
Sách về ngôn ngữ học vốn đã ít lại không thống nhất;
Không có hàn lâm viện, dù có cũng chưa chắc đã được công nhận;
Nhiều lý do khác như: bắc/nam, cộng sản/quốc gia, việt cộng/việt kiều ...
Và chúng phải giải quyết thế nào về các chữ có "vấn đề" do:

Phát âm dị biệt vì phong thổ bắc: giày/giầy dép, dậy/dạy học, mầu/màu mè ...
Phát âm dị biệt vì phong thổ nam: sinh/sanh, nam/nôm, hoãn/huỡn, nguyên/nguơn ...
Phát âm dị biệt vì phong thổ trung: tau/tao
Nhiều người sai và trở nên thông dụng có trong 1 số tự điển: xủ/sử dụng, giông/dông tố, cô láng diềng/giềng, phiêu bạc/bạt ...
Chữ bị biến đổi qua dạng mới theo thời gian: bình tĩnh/tỉnh
Chữ hơi "confusing": chia xẻ/sẻ, sáng lạng/xán lạn, ...
Chữ quá "confusing": ngả/ngã, rưởi/ruỡi
Chữ là lạ: khúc khích, rụt rịt, rụt rè, lè tè, xè xè, rè rè ...

Phần II: Hình thức

Tuy không critical bằng chánh tả, nhưng hình thức cũng là 1 điều hết sức quan trọng, nếu muốn tiếng Việt được trong sáng hơn. Tiếng Việt không thấy có qui ước rõ ràng về:

Cách Viết hoa (hay có nhưng không ai theo): khi nào dùng in hết, khi nào viết hoa, hoa chữ nào (Nhận xét về tiếng Việt nam vs. Nhận Xét Về Tiếng Việt Nam vs. Nhận Xét về tiếng Việt Nam), ...
Dùng các dấu phết phẩy (punctuations): có dùng dấu gạch nối trong từ kép không (Nhận-xét về tiếng Việt-nam), dấu này dùng khi nào, dấu "ngắc" (space) dùng ra sao khi dùng với các dấu khác ... (VN dùng 1 cách rất chướng: _ (underscore) thay cho - (hyphen))
Khi nào dùng chữ nghiêng, gạch đít ... cho tên sách, báo, bài viết ...
Dùng tiếng ngoại quốc ra sao: dịch ra tiếng Việt (i.e. Hoà Lan hay Hà Lan?), để nguyên dạng theo tiếng Anh (Holland), tiếng Pháp (?), hay phiên âm ra (lại thêm có dùng gạch nối hay không ...)
Cách xuống hàng, thụt đầu hàng (bao nhiêu spaces)
Có nên theo qui ước của tiếng Anh hay không?

Phần III: Tiếng Việt trong thời "hi-tech"

Nay không ít người dùng tiếng Việt trên computer, nhưng có quá nhiều problem, chẳng hạn:

Các trở ngại chung

Về phía developer:

Computer đi quá nhanh, tiếng Việt lại không có thị trường (no cash!), không develop kịp.
Nhiều bộ chữ Việt, không compatible: VNI, VNL, VISCII, VPS, TCVN, ...

Về phía users:

Xài "loạn", chẳng hạn trong VietNet, xài + và * tá lả, ' và / cũng tá lả, không chịu xài \ để phân biệt dấu nặng và dấu chấm hay dấu chấm hỏi và dấu hỏi

Các trở ngại trong vấn đề Spelling Software cho tiếng Việt

Chánh tả không thống nhất (phần I)
Cách viết không có qui ước rõ ràng (phần II)
Nhiều platform, applications, ... phải support, nhưng thị trường nhỏ, thiếu người develop.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#190 Posted : Tuesday, September 15, 2015 6:39:22 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Xưng Hô Trong Gia Đình

Nguyễn Phước Đáng


Khi có giao tiếp, có trò chuyện với nhau, thì có chuyện xưng hô. Xưng hô là gọi nhau để biết câu nói, câu chuyện đó liên hệ tới người nào.

Trong mọi cuộc giao tiếp, trò chuyện, đều có 3 đối tượng để xưng hô: tự gọi mình là xưng, được quy ước là ngôi thứ nhứt; gọi hai đối tượng khác là hô. Người trực tiếp đối thoại qua lại vớingôi thứ nhứt, được quy ước là ngôi thứ nhì. Hai đối tượng, ngôi thứ nhứt và ngôi thứ nhì, đang trực diện giao tiếp mà nhắc đến, nói đến người khác, thì người khác đó được quy ước là ngôi thứ ba.

Ngôi thứ nhứt là “tôi”; ngôi thứ nhì là “ông”/ “bà”; ngôi thứ ba là “nó”. Nói thông thường theo kiểu người Việt lưu vong trên đất Hoa Kỳ, thì tiếng xưng hô dùng cho 3 ngôi đó là: tao, mầy, nó. Số nhiều thì có chúng tôi, chúng bây, chúng nó. Đó là nói tổng quát về xưng hô trong xã hội.

Trong tiếng Việt, lời xưng hô thật phong phú, có lẽ phong phú nhứt thế giới:

Ngôi thứ nhứt có: tôi, ta, tao, tớ, tui, mỗ, anh, em,... chúng tôi, bọn tôi, bọn tao, chúng ông, bọn nầy,...

Ngôi thứ nhì có: mầy, mi, bây, em, cô, nàng, anh, chàng, ông,...chúng mầy, chúng bây, bọn mi, các em, các anh, quân bây,...

Ngôi thứ ba có: nó, hắn, hắn ta, chàng, chàng ta, chàng ấy, nàng, nàng ấy,... chúng nó, bọn hắn, đám kia, đám đó, quân ấy,...

Xưng hô trong gia quyến Việt Nam lại còn phong phú hơn nữa và rất tinh vi, rất phức tạp, đối với người nước ngoài mới học tiếng Việt (vì chưa thấu hiểu cái tinh tuý, lễ nghĩa, tình cảm... của dân tộc Việt). Ngoài những tiếng nêu trên còn có các tiếng vốn là danh từ, mà biến thành đại danh từ xưng hô: anh, chị, em, chàng, thiếp (xưa), con, cháu,... biến đổi khi thì ở ngôi thứ nhứt, khi thì ở ngôi thứ nhì, tuỳ theo từng câu đối thoại. Đặc biệt còn có tiếng mình, ông xã, bà xã... ở ngôi thứ nhì, và đặc biệt tiếng nhà (nhà tôi, nhà em, nhà anh, nhà cháu...) ở ngôi thứ ba.

Xưng hô trong gia quyến người Việt thu gọn trong 3 thế hệ: ông bà nội ngoại, cha mẹ, con cháu. Do tuổi thọ càng lúc càng cao, nhiều gia đình còn sống đủ 4 thế hệ: ông bà cố, ông bà nội ngoại, cha mẹ, con, cháu, cháu chắt. Nhưng thông thường phần đông chỉ còn có 3 thế hệ hiện còn sống chung đụng, gần gụi nhau, nên có những giao tiếp chuyện trò cùng nhau. Xưng hô trong các cuộc trò chuyện nầy có thể phân chia ra như sau:

1/- Xưng hô giữa vợ chồng:

a) Vợ chồng trẻ, trong những năm đầu, chuyện trò với nhau phần lớn dùng cặp chữ anh/em để xưng hô. Chồng xưng anh, gọi vợ là em. Ngược lại, vợ xưng em gọi chồng là anh. Tuổi tác không can dự được vào lời xưng hô nầy. Dù tuổi có nhỏ hơn, chồng cũng xưng ở vai trên, anh. Dù lớn tuổi hơn, vợ vẫn xưng ở vai dưới, em. Bây giờ có biết bao nhiêu chuyện đổi thay so với thuở xưa, về quyền hạn trong gia đình, nhưng về ngôi thứ ngôn ngữ xưng hô giữa vợ chồng vẫn bất di bất dịch: anh em.

b) Vợ chồng trẻ trong chỗ riêng tư, những lúc thắm đượm tình âu yếm, có khi xưng là anh, làem, nhưng vợ gọi chồng hay chồng gọi vợ bằng 1 tiếng chung là “mình”. Tiếng mình nầy ở ngôi thứ nhì.

- Mình ơi! Em chết mất mình ơi!

- Mình, anh yêu mình!

Vợ chồng trẻ ít khi (hay không có) gọi nhau bằng mình trước mặt người thứ ba, nhứt là giữa đám đông. Họ còn nhát.

c) Đến lúc hết thời kỳ vợ chồng son, khi hai người có tí nhau để nựng nịu, đôi vợ chồng có cuộc sống đầm ấm, hạnh phúc, họ có thể xưng hô ngọt lịm, hơn cả thời kỳ dùng cặp chữ anh/em. Họ vẫn xưng anh, em, nhưng gọi nhau bằng mình rất tự nhiên, rất bình thường, trước cả bàng quan thiên hạ:

- Mình ơi, lấy giùm em bình sữa cho con mình nhé!

- Anh đang lỡ tay, mình chờ một tí nghe mình?

d) Nhưng trong những lúc cơm chẳng lành canh không ngọt, vợ chồng đổi giọng, không còn xưng hô anh, em nữa, mà lạnh nhạt xưng “tôi”. Chồng xa cách gọi vợ là “cô” (tiếng cô nầy nghe nhẹ thể hơn tiếng “cô” lần đầu gặp gỡ rất nhiều). Còn vợ xa lạ gọi chồng là “ông”

- Cô nín đi, đừng lắm lời nhiều chuyện như vậy. Tôi chịu đựng hết nổi rồi đấy!...

- Tôi biết hết rồi! Không có lửa sao có khói? Ông không gì, sao có lời ong tiếng ve xì xầm?

Tệ hại hơn nữa, trong những khi no mất ngon giận mất khôn, nhứt là ở trong xứ, vợ chồng Việt Nam cũng có khi đánh mất những tiếng xưng hô ngọt ngào anh, em, mình ơi, mình à,... mà dùng những lời của phường đá cá lăn dưa để xưng hô với nhau. Họ dùng cặp chữ tao/mầy. Cả vợ cũng xưng tao và gọi chồng là mầy. Thậm tệ hơn nữa, chồng xưng là “ông”, vợ xưng là “bà”, họ cùng gọi nhau bằng tiếng “mầy”. Tiếng ông và bà nầy ở ngôi thứ nhứt, với ý trịch thượng!

- Mầy im cái mồm ngay! Không, ông vả cho méo mặt bây giờ!

- Bà không im. Ngon vô đây mà vả. Bà thách mầy đấy!

(Thời trẻ thơ và thiếu niên, cách nay chừng 50-60 năm, trong vùng quê Miền Nam, tôi nghe thấy rất nhiều cặp vợ chồng xưng hô mà người ngoài nghe có vẻ thô lổ, vợ xưng tôi, gọi chồng làanh; còn chồng xưng tao, gọi vợ là mầy. Hai tiếng tao/mầy nầy nội dung không mang ý nghĩa thô lổ, mà tiếng mầy nghe miết rồi quen tai, làm người vợ cảm giác như là tiếng mình ngọt ngào vậy. Có không ít chàng trai có đi học, trong vùng quê ấy, tâm sự với bè bạn như vầy “Gọi vợ bằng ‘mầy’ nghe kỳ kỳ, nhưng biết làm sao bây giờ, cả làng đều gọi như vậy, mình xưng hô anh/em với nhau thiên hạ cười, mắc cở chết, vợ mình cũng mắc cỡ nữa!..” Tôi nghĩ, thuở xưa, xã hội Việt Nam khắc khe, khi đã thành vợ chồng vẫn sống chung trong đại gia đình, bà mẹ chồng không muốn con trai tỏ ra vẻ chiều chuộng, quỵ luỵ vợ để vợ lừng sau nầy khó trị, nên tình yêu không được biểu lộ ra ngoài bằng thái độ vuốt ve, nũng nịu... Rồi ngay cả lời xưng hô ngọt ngào cũng không được dùng tới. Ở quê, người ta truyền giữ cái nếp đó khá lâu, chẳng biết tới nay còn hay không.)

e) Vợ chồng khi bước vào tuổi đời gọi là sồn sồn lại thay đổi cách xưng hô. Đúng ra họ vẫn giữ tiếng xưng là anh (chồng), em (vợ) hoặc tôi (cho cả 2 người). Tiếng hô thì có nhiều cách đổi: Chồng gọi vợ là bà, vợ gọi chồng là ông. Hai tiếng ông/bà ngôi thứ nhì nầy mang vẻ đầm thắm, đứng tuổi hơn là lạnh nhạt, xa cách như trường hợp nêu trên.

Có người gọi vợ là “má nó”, “má mầy”, “mẹ nó”, “bu nó”, “má con Phượng”, “mẹ thằng Tèo”... Vợ gọi chồng là “ba nó”, “ba mầy”, “tía nó”, “ba thằng Tân”, “cha con Xuân”...

- Má nó đi chợ, nhớ mua cho anh xâu bia heineken nghe.

- Cha con Xuân đi đâu thì đi, trưa nhớ về ăn cơm, em chờ.

“Má con Phượng”, “ba thằng Tân”,... “Phượng”, “Tân” thường là tên đứa con đầu lòng của vợ chồng. Trong gia đình đông con, có khi tên đứa con út được dùng chỗ nầy. Cũng có khi, đông con, lúc nói người ta nhớ tên đứa nào thì dùng tên đứa đó. Đôi vợ chồng có đông con, còn dùng“ba sắp nhỏ” để gọi người chồng; “má bầy trẻ” để gọi người vợ.

- Tiếc quá! Mấy khi chú đến chơi, mà “ba sắp nhỏ” lại đi vắng...

- Mời chị vô nhà chờ một lát. “Má bầy trẻ” đi chợ về gần tới rồi.

Người Việt có khuynh hướng kéo dài lời nói cho có vẻ dịu dàng. Nhưng cũng có vài trường hợp người ta lại cắt ngắn lời nói cho gọn. Lần đầu nghe đôi vợ chồng vốn là anh chị họ của chúng tôi nói chuyện với nhau, họ xưng hô làm tôi bối rối:

- Hôm nay “ba” có đỡ không? “Ba” ăn biết ngon chưa?

- Đỡ nhiều lắm rồi. Món canh chua “mẹ” nấu bữa nay thật tuyệt vời!

Tôi ngơ ngác hết nhìn vợ rồi nhìn chồng, mất ba mươi giây mới sực nghĩ ra, họ đã rút ngắn“Ba thằng Davis” và “Mẹ nó” thành “Ba” và “Mẹ” để gọi nhau. Nhưng quý độc giả sẽ còn ngạc nhiên nhiều hơn nữa, khi nghe đôi vợ chồng nầy xưng hô rất thân tình với nhau như vầy:

- “Ba” dùng bữa với cu John đi, “mẹ” hôm nay không thấy thèm ăn!

Vợ chồng dùng hai tiếng ba mẹ để xưng hô với nhau trong gia đình như vậy, không phải do cắt ngắn đại danh tự ngôi thứ nhì “ba nó”, “mẹ nó” (như nêu ở trên) mà đó là lối xưng hô “thay lời gọi của con” mà phe Bắc Kỳ rất hay dùng. Bây giờ tôi cũng từng nghe thấy một ít vợ chồng dân Nam Kỳ thành thị và hải ngoại cũng học làm sang, bắt chước dùng cặp chữ ba/mẹ để xưng hô như vậy. Cũng có khi vợ chồng chưa đến tuổi sồn sồn, tí nhau đầu lòng còn bồng trên tay, mà họ đã cam tâm dùng cặp chữ ba/mẹ để xưng hô với nhau rồi! Tiếc ơi là tiếc!

Có một lần vợ chồng tôi lần đầu tiếp xúc với một đôi vợ chồng sồn sồn chưa quen biết nhiều (chưa biết mặt nhau trước). Chúng tôi ngẩn ngơ không phải chỉ ba mươi giây, mà cả đôi ba phút. Khi vừa được mời vào phòng khách, chúng tôi nghe chủ nhà nói với người đàn bà có vẻ cứng tuổi hơn:

- “Mẹ” vào trong pha giùm ấm trà...

Chúng tôi trù trừ cứ nói trổng với chủ nhà, vì không biết tiếng “mẹ” là thực ngữ hay hư ngữ trong xưng hô. Mãi đến khi nước được bưng ra, có dịp nghe bà kia gọi ông nọ bằng ba và xưngmẹ, chừng đó chúng tôi mới hoàn hồn, nghĩ nhớ ra, họ là người xứ ngàn năm văn vật Bắc Kỳ và thuộc nhóm tôn cổ, thích dùng hư ngữ để xưng hô. Nhưng xưng hô bằng hư ngữ như vậy, theo tôi, nên xứng đôi vừa lứa về tuổi tác và về ngoại hình, để người nghe thoạt đầu khỏi lầm hư với thực.

[Tôi là dân Nam Kỳ chánh cống, gốc gác đồng ruộng miền quê, nhờ có đi học đến bậc trung học, nên có dịp bước ra thị thành, rồi làm quen được nàng, giọng nói Nam rặt, dáng vẻ bề ngoài là gái miền Nam, nhưng sưu tra kỹ thì em có tới 50% máu Bắc Kỳ. Tôi rước em về để nâng khăn sửa túi cho oai. Sau ngày cưới, tôi đưa nàng về xứ quê khoe khoang với dòng họ. Đến đâu, phần lớn các chú thím, cô dượng... gọi cô vợ thành thị của tôi là “vợ thằng Đáng”, một vài người bà con nể cái vẻ thành thị lắm thì gọi là “vợ thằng Sáu” hoặc “con Sáu” (tôi thứ sáu trong gia đình). Sau chuyến thăm xứ quê trở về, cô vợ trẻ thành thị đài các của tôi thỏ thẻ đôi lời bình phẩm bên chồng:

“Bên anh, người nào cũng chân chất thật thà, ăn nói bộc trực... Nhưng ai cũng gọi em là ‘vợ thằng Đáng’. Chắc bà con đều gọi anh bằng tiếng ‘thằng’. Ngộ ghê! Mấy thím gọi em là ‘Con Sáu’. Em nghĩ, thế cũng hay, em trở thành ‘con sáo’ trong gia đình anh. Con sáo làm cảnh trong lồng. Anh đem con sáo sang sông. Anh mang con sáo về đồng. Nay anh cho con sáo sổ lồng bay về chợ... quê!...”

Tình yêu đang lên ngôi! Trong tôi có dòng máu chân chất thật thà, bộc trực (chắc cũng có luôn chất quê mùa, mà “con sáo” có 50% máu Bắc Kỳ, nể tình, không tiện nói ra), nên tôi chẳng nghe thấy tiếng nào là tiếng chê trách trong lời nói của người bạn đời về gốc gác nhà quê của mình. Tôi còn rất thích thú với lời ví von trêu chọc giọng nói Miền Nam. Cái ví von thân phận “con Sáu” thành “con sáo”.

Rồi “con sáo sổ lồng” đưa tôi lên thành đô Sài Gòn khoe (anh chồng quê) khắp cùng họ hàng bên nội, luôn thể tập tành tôi thưởng thức món ăn Bắc Kỳ, món phở bò, vì xứ tôi là thánh địa Phật Giáo Hoà Hảo không ăn thịt bò, cấm bán thịt bò (khoảng thời gian từ 1956 trở về trước). Không phải chánh quyền cấm, không có giấy cấm, nhưng chẳng ai dám làm thịt bò, thịt trâu, thịt chó... Và cho ăn kẹo cũng không ai dám bán các thứ thịt đó. Bây giờ thì hầu hết tín đồ PGHH thành thị đã không còn kiêng cử thịt bò nữa.

Tôi choá mắt với thành đô Sài Gòn, bấy giờ được xưng tụng là Hòn Ngọc Viễn Đông, tôi choá mắt với đám họ hàng bên nội của “con sáo sổ lồng”. Bà Cô ông Chú (Chú chứ không phải Dượng) gọi chúng tôi là “anh Đáng”, “chị Đáng”, chứ không gọi tôi là “chồng con Phụng”. Người văn minh theo Tây học bỏ tên con gái mà lấy tên chồng, kêu như vậy để biết đứa con gái bây giờ “ván đã đóng thuyền”, đã hoá thành đàn bà. Tôi bỡ ngỡ và tiếc nuối cái tên Phi Phụng của con sáo sang sông, nghe hay làm sao trong trái tim tôi, mà giờ đây bị vùi lấp đi thì tiếc quá! Tôi ngỡ ngàng vì bị những người tuổi tác cỡ cha mẹ tôi mà lại gọi tôi bằng anh. Con sáo của tôi có chỉ vẽ trước những điều tôi sẽ đụng phải khi hội kiến với những bà con Bắc Kỳ nầy. Nghe thì nghe vậy, mà tôi chưa hội nhập được trơn tru. Cái chân chất thật thà, bộc trực của tôi bị uốn nắn khác đi, nó bị thụt vòi lần lần. Con sáo dặn đi dặn lại tôi bao nhiêu lần:

“Chú thím, Cô Chú có mời ăn uống, anh đừng mau mắn nhận lời, phải biết làm bộ nhũn nhặn từ chối, rồi sau đó hẳn nhận. Thật thà quá, mau mắn quá thành ra thô kệch, quê mùa... Đừng thật thà, nhanh nhẩu như trong quê anh. Trước khi bưng tách trà, trước khi bưng chén cơm, phải mời tất cả mọi người trong mâm xơi nước xơi cơm. Mời hết từng người có mặt trong mâm. Mọi người sẽ mời lại anh. Anh đáp ‘vâng ạ!’ Sau đó mới uống mới ăn. Những cái đó là thủ tục lễ nghĩa, văn minh...”

Tôi gãi đầu gãi tai xổ ra nỗi thắc mắc của mình:

“Dạy vậy có chắc trúng không? Cơm của người ta, nước của người ta, người ta mời mình thì hợp lý đi. Còn mình có cái gì mang đến mà mở miệng mời người nầy người kia xơi nước xơi cơm. Mà, ví dầu mình có nước, có cơm để mời đi nữa thì cũng một đứa đại diện mời chung một lời, có đâu mỗi đứa lần lượt mở miệng mời, lại mời giáp vòng. Tiếng mời vô hồn như tiếng con vẹt. Cơm lạnh canh ngụi còn gì ngon? Xứ anh không có lối mời a dua đó? Anh mắc cỡ miệng vụ nầy quá!...”

Tôi tập tành lối sống văn minh trong thời kỳ ngụp lặn giữa vũng tình yêu lứa đôi đầu đời như vậy đó. Bây giờ tôi đã thông thuộc chuyện ăn phở, biết đòi thêm chanh, ớt, ngò gai, rau quế ăn kèm cho hương vị đậm đà... Có lúc ăn sạch cả tô phở “tàu bay”, tô phở “xe lửa” nữa. Nhưng tôi vẫn chưa hội nhập trơn tru chuyện “mời qua mời lại” trên bàn ăn. Lúc nào tiếng mời của tôi cũng lí nhí ngượng ngập, lúc nào cũng thiếu sót, không mời đủ hết mọi người trong bàn...]

Chuyện vợ chồng xưng hô tôi viết ra nãy giờ chỉ mới chung chung và phần lớn thuộc trong Nam. Ngoài Bắc còn nhiều cách xưng hô khác nữa. Xin dành chờ những bạn Bắc Kỳ rành sáu câu chuyện ngoài nớ sẽ viết bổ sung.


f) Khi có thêm người thứ ba tham dự vào chuyện tiếp xúc với đôi vợ chồng, thì có thêm từ xưng hô ngôi thứ ba dành cho chồng và vợ:

- Bà xã tôi vừa nhắc đến anh chị đây. Sao không thấy ông anh cùng đến?

- Xin lỗi ông bà, ông xã tôi đang có hẹn với người bạn ở xa mới đến...

Từ ông xã chỉ người chồng, bà xã chỉ người vợ trở thành danh tự kép trong kho tàng tiếng Việt. Tôi nghĩ từ bà xã (có nghĩa là vợ) xuất hiện khoảng thập niên 1950. Trước đó, bà xã chỉ có nghĩa là vợ của ông xã (xã trưởng). Thời đó người ta nhắc nhiều đến chuyện tiếu lâm Lý Toét & Xã Xệ. Và có người nghĩ đến chuyện có ông Xã Xệ thì phải có “bà Xã Xệ”, tức bà vợ của một ông tầm thường trong làng xã. Rồi người ta rút 3 tiếng “bà Xã Xệ” gọn lại thành 2 tiếng “bà xã” để chỉ người vợ.

Trong vai trò lời xưng hô, tiếng ông xã, bà xã nếu có chỉ định tĩnh tự đi kèm, thì nó ở ngôi thứ ba:

- Ông xã tôi không có nhà. Anh cần nhắn lại điều gì không?

Khi không có chỉ định tĩnh tự đi kèm, thì nó ở ngôi thứ nhì:

- Bà xã, làm ơn bớt cái miệng lại một tí, anh đang nghe radio!

Trước kia, người ta dùng 3-4 tiếng để chỉ chồng mình, vợ mình, như anh nhà tôi, ông nhà tôi, ông chồng nhà tôi, ông xã nhà tôi; bà nhà tôi, nội tướng nhà tôi, bà xã nhà tôi... Rồi sau đó, chừng vài mươi năm nay, người ta lại giản lược lại còn 2 tiếng để chỉ chồng mình, vợ mình. Hai tiếng đó là “nhà tôi”:

- Chúng tôi không bao giờ quên anh chị, nhứt là nhà tôi, bà ấy nhắc tới chị luôn.

Hai tiếng nhà tôi thật là lững lơ, huyền hoặc. Có người cho rằng nó là từ kép, vì nếu nó không ghép lại với nhau, mà chỉ là hai tiếng đơn đứng gần nhau, thì nó có nghĩa là cái nhà của tôi. Cố Giáo Sư Nguyễn Đình-Hoà đề nghị phải viết có gạch nối ở giữa, nhà-tôi. Tôi không đồng ý coi nó là từ kép, vì nhà tôi có nghĩa là vợ của tôi hay chồng của tôi, nghĩa là nó được chỉ định thuộc về ai. Vậy tiếng tôi còn giữ vai trò chỉ định tĩnh tự. Không ai nói chồng tôi là nhà-tôi tôi (nhà-tôi của tôi); vợ anh là nhà-tôi anh (nhà-tôi của anh); vợ nó là nhà-tôi nó (nhà-tôi của nó). Nó huyền hoặc vì tách rời tiếng nhà ra, để tiếng tôi đóng trọn vẹn vai trò chỉ định tĩnh tự, thì riêng tiếng nhà không thể nào có nghĩa là vợ hay chồng được! Người ta có dùng nhà em, nhà anh, nhà cháu, nhà con... để xưng gọi chồng mình, vợ mình (ngôi thứ ba) đối với người trực tiếp nói chuyện (ngôi thứ nhì) Người ta nói “nhà cháu” có nghĩa là vợ cháu = vợ của cháu. Vậy rõ ràng tiếng nhà có nghĩa là vợ (hoặc chồng). Thực ra những tiếng xưng gọi nhà anh, nhà em, nhà cháu... thoát thai từ tiếng nhà tôi. Người ta thay tiếng tôi bằng tiếng em, anh, cháu để xưng gọi thân mật với những người thân vai nhỏ hơn hay vai lớn hơn. Những tiếng xưng gọi nầy luôn luôn ở ngôi thứ ba. Nếu riêng 1 tiếngnhà mà có được cái nghĩa là vợ hay chồng thì nó sẽ ráp được với 3 tiếng tao, mầy, nó để tạo thành cái nghĩa vợ tao, vợ mầy, vợ nó. Nhưng chưa ai viết nhà nó với cái nghĩa vợ nó, nhà mầyvới cái nghĩa vợ mầy. Theo tôi, tiếng nhà không thể có nghĩa là vợ hoặc chồng được.

Kho tàng tiếng Việt sắp sửa có thêm từ mới có nghĩa chung là chồng hoặc vợ. Đó là tiếng “mình ơi”:

- Ồ! Cảm ơn chú. Mình ơi của cháu lúc nầy ngoan lắm, ảnh bỏ hút thuốc rồi!

- Thế nào, mình ơi của mi lúc rày còn thường đi sóp-binh không?

“Mình ơi” xuất hiện với nghĩa mới là do bài hát Mình Ơi được ca sĩ Ý Lan và ca sĩ Ngọc Hạ trình diễn thành công rất nhiều lần, tại nhiều nơi, khiến 2 tiếng mình ơi ngọt lịm thâm nhập vào lòng người và biến nghĩa thành vợ hoặc chồng thật ngọt ngào! Tuy nhiên, tiếng “mình ơi” còn đang ở thời kỳ chuyển mình thành danh tự kép. Bây giờ nó còn cần có 2 tiếng đi kèm “của...” (của ai) thì mới là danh tự kép được.

2/- Xưng hô giữa cha mẹ và con cái:

a) Xưng hô với con trong năm đầu: Tí nhau của đôi vợ chồng trẻ từ lúc mới sanh đến khi biết nói, không có dịp sử dụng ngôi thứ nhứt để xưng với cha mẹ. Thời kỳ nầy nó chỉ được gọi ở ngôi thứ nhì và ngôi thứ ba. Cha/mẹ là 2 tiếng chỉ định vị trí của đấng sinh thành ra con. Nhưng lại rất ít người bắt con dùng 2 tiếng nầy để gọi mình, mà tập con gọi mình bằng ba (cha) và bằng má (mẹ).Tiếng Việt cũng rất phong phú về những tiếng xưng hô nầy. Tương đương với cặp tiếng xưng hôba/má còn có ba/mẹ, ba/vú, tía/má, thầy/me, thầy/đẻ, cậu/mợ, thầy/bu... (Một số người có Tây học -nhiều hay ít- còn tập tành xưng hô pa-pa/ma-măng hay pa-pa/măng cho ra vẻ ta đây Tây. Bây giờ có mùi Mỹ trong người, lắm cặp vợ chồng gọi nhau là ho-ni, xưng và tập con gọi mình làđế-đi/má-mì hoặc đết/mom cho ra vẻ ta đây Việt kiều Mỹ):

Hầu hết những đứa con được đặt tên thật đẹp, nhưng trong thời kỳ còn bé, phần đông những đứa trẻ bị cha mẹ gọi bằng những tên tục xấu xí, chung chung cho mọi đứa là thằng cu, nhóc tì, cu tí... (trai), con lủng, nhóc bẹp, cái đĩ... (gái). Có nhiều cặp vợ chồng theo nhân dáng khuôn mặt đứa con và ghép thứ của nó vào mà đặt tên tục để gọi, như Cả Vồ (do trán vồ), Hai Xệp (do mũi xệp), Ba Mếu (do miệng hay mếu), Tư Nhăn (do mặt mày thường nhăn nhó quạu quọ)... Không ít chồng vợ gọi con bằng tiếng cưng, cục cưng, cục vàng, hột xoàn... Với những tiếng xưng hô phong phú đó, cha mẹ nựng nịu, trò chuyện một chiều với đứa bé khi nó chưa biết nói:

- Cả Vồ của mẹ, thôi dậy đi, tới giờ bú rồi. Ngoan đi, măng cưng.

- Ho-ni, ho-ni ra xem mụ bà dạy cu tí cười kìa.

[Một vài trường hợp đặc biệt con gọi cha không bằng những tiếng nêu trên. Ba tôi và các cô chú của tôi không gọi ông nội tôi bằng các tiếng ba, tía, cha... mà gọi bằng tiếng “anh” không giống ai. Truy nguyên thì biết rằng khi xưa gia đình Việt Nam dựng vợ gã chồng sớm, phần lớn chưa tới hai mươi. Ông tôi cũng vậy, nên lúc có con đầu lòng (là ba tôi), ông còn mắc cỡ lắm, né tiếng xưng ba, mà xưng anh, mỗi khi nựng nịu, trò chuyện với con. Do đó, khi biết nói, ba tôi cũng gọi lại bằng tiếng “anh”, rồi thành quen luôn, cho đến già đến chết không sửa lại được. Ông nhạc tôi cũng vậy, mắc cỡ khi có con, nên né tiếng ba. Muốn bồng bế con, ông nói “sang đây bê bế” thay vì nói “ba bế” (ông nhạc tôi người Bắc nên dùng tiếng bế, thay vì dùng tiếng bồng, ẳm như trong Nam) Từ đó các anh chị em gia đình vợ tôi đều gọi cha bằng tiếng “bê”. Những tiếng xưng gọi như vậy không có nghĩa gì hết. Tâm trí của những người con chỉ cần hiểu đó là tiếng dùng để gọi cha mình mà thôi]

b) Xưng hô với con khi chúng đã lớn: Thông thường cha mẹ và con cái dùng các cặp xưng hô: ba/má-con, tía/má-con, thầy/đẻ-con...

- Con cứ an tâm ra đi, ba má còn các em để khuây khoả.

- Tía má giữ gìn sức khoẻ, rồi con sẽ quay về.

Những tên tục xấu xí thường bị loại dần, không còn được xưng gọi nữa khi đứa trẻ lớn lên, vì những tiếng gọi thằng cu, con lủng, cái đĩ,... làm chúng đỏ mặt tía tai. Nhưng những tiếng xưng gọi bé hai, bé ba..., bé sáu, bé bảy... vẫn còn được gọi cho đến lúc đã lớn, thậm chí lúc đã lập gia thất. Những tiếng đôi “bé+thứ” được coi như tên tục của đứa con.

Nhưng cũng có nhiều gia đình, cha mẹ trò chuyện với con cái, trong chỗ không có người ngoài, thường dùng cặp xưng hô tao/mầy chất phác, thân mật, nhứt là dân quê miền Nam:

- Chuyện đó tao đã dặn trước rồi mà mầy cứ không để ý tới.

(Cặp xưng hô mầy/tao trong ngôn ngữ Việt Nam có 2 ý nghĩa đối nghịch nhau. Bình thường, về hình thức nó có nghĩa xấu, thô tục, quê mùa, cộc cằn... chỉ sử dụng trong những trường hợp xấu, giận hờn, ghét bỏ, miệt thị... Nhưng mặt khác, giữa 2 đối tượng thân thiết xưng hô với nhau thì cặp nầy biểu hiệu sự thân thiết rất mực. Bạn bè chí thân mới xưng hô mầy/tao với nhau. Những lúc thật gần gũi, cha mẹ mới dùng mầy/tao với con. Tuy nhiên con cái dùng ngược lại với cha mẹ thì không được. Pháp thì được.)

Ở thôn quê miền Nam, con cái thường xưng tôi, tui và gọi cha mẹ bằng tiếng ông bà (ngôi thứ nhì) và ổng bả (ngôi thứ ba):

- Má à, tui nói rồi, tui không ưng chỗ đó mà bà cứ ép tui hoài!

- Ba dẫn tôi đi chợ, ổng còn dẫn tôi vô tiệm cho uống cà-phê nữa. Ổng dặn tôi đừng nói chobà biết.

Những tiếng tôi, tui, ông, bà, ổng, bả nghe không có vẻ vô lễ, mà chỉ có vẻ chân chất, thật thà, quê mùa mà thôi. Con cái còn gọi cha mẹ bằng tiếng đôi ở ngôi thứ ba, như: ông tía, ông bố, ông già, bà má, bà vú, bà già... Có khi chúng dùng 3 tiếng để nhấn mạnh nữa, như: ông già tía, bà già má... Những tiếng nầy nghe không ngọt dịu, nhưng cũng không phải là vô lễ, thường được nói với ý nghĩa thân mật, trong khi chuyện trò với những người thân thích của gia đình.

- Ông tía dặn kỹ, khi nào có bà má ở nhà, tôi mới được ra ngoài chơi.

- Ông già tía khó gần chết, bà già má cũng đâu có dễ gì! Tôi ớn ổng bả lắm!

Khi con cái đã thành nhân, đỗ đạt, có chức vụ, xưng hô giữa con với cha mẹ vẫn không thay đổi, con-ba/má... Nhưng xưng hô giữa cha mẹ với con có thay đổi. Trong Nam, nơi thôn quê, cha mẹ thường gọi con bằng thứ hoặc bằng thằng+thứ, con+thứ:

- Hai, để đó mẹ. Về nhanh đi. Thằng Hai đang chờ con bên bển đó!

- Thằng Tư tiếp Ba dọn dẹp phòng khách. Con Năm vô bếp giúp Má một tay.

Thời đại điền chủ tư hữu ruộng đất cò bay thẳng cánh ở miền Nam, gia đình giàu có thường xưng gọi con cái mình bằng tiếng cậu (trai), cô (gái) với ý nghĩa là những đứa trẻ quý giá, với mong muốn những tá điền, những khách khứa cũng gọi con mình bằng tiếng “cậu”, “cô” đó.

- Chú chờ đó một chút, cậu Hai cần sai bảo chú một việc, cô Ba cũng vậy.

Dân thành thị, trong những nhà trung lưu, nhứt là những nhà quyền quí, còn dùng những chức vụ, ngạch trật... của con ghép theo sau tiếng anh, chị để xưng gọi con cái nhà mình, khi nói chuyện với người ngoài:

- Anh Phán còn kẹt ngoài Sở. Xin ông chờ chút cháu sẽ về tới!

- Anh Đốc-tờ giờ nầy còn ngoài phòng mạch! Gớm! Bà chị thấy đấy, cháu thật là vất vả?

(Anh Phán, Anh Đốc-tờ... dùng để chỉ đứa con. Còn nếu chồng là Phán, là Đốc-tờ..., thì bà vợ thường dùng tiếng ông phía trước, Ông Phán, Ông Đốc-tờ...)

Còn nhiều cách xưng gọi xun xoe về chồng mình, con mình trong những gia đình thượng lưu, nhứt là tại miền Bắc xưa.

3.- Xưng hô giữa ông bà và cháu:

Xưng hô giữa Ông Bà và cháu không có nhiều từ phong phú như trên. Chỉ có ông/bà-cháuvà ngược lại cháu-ông/bà. Ông bà thì có ông bà nội, ông bà ngoại, cho nên ông bà và cháuthường thêm tiếng nội, ngoại để xác định rõ:

- Thưa, ông gọi cháu vào có việc chi dạy bảo ạ?

- Ông gọi cháu vào là để nhờ cháu ngoái trầu cho bà...

- Năm mới, cháu xin mừng tuổi ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.

Ông bà nội ngoại thường bỏ tiếng ông bà, rút gọn lại còn tiếng nội, ngoại (chung cho ông lẫn bà) để nói chuyện với cháu:

- Năm mới ngoại lì xì cho cháu lấy hên đầu năm.

- Nội lì xì cháu cái nầy và thêm lời căn dặn cháu cố gắng học hành.

Rất nhiều ông bà dùng tiếng con để gọi cháu. Làm vậy để tình ông cháu, bà cháu được thắm thiết đậm đà hơn. Ngược lại cũng rất nhiều cháu dùng tiếng con để xưng với ông bà (ngay cả với chú, bác, cô, dì, cậu... nữa) cũng nhằm biểu hiện tình cảm thân thiết:

- Nghe con học hành giỏi giang, ông bà nội ngoại rất vui. Ông bà mong sao con luôn luôn giữ được mãi như vậy...

- Thưa ông bà nội ngoại, con xin ghi tâm khắc cốt những điều ông bà chỉ dạy.

(Có người khắc khe, hẹp hòi, bị cái nghĩa đen trói buộc, nên cho rằng “cháu xưng con với ông bà là hỗn láo, vì có ý muốn vượt cấp, ngang hàng với cha mẹ mình” Tiếng con dùng xưng hô giữa ông cháu, bà cháu, không còn ở cái nghĩa đen đó nữa, mà nó có ý nghĩa biểu hiện sự thương yêu và kính trọng người trưởng thượng đang đối thoại với mình. Tiếng con còn được một số người Bắc, nhứt là thuở xa xưa, dùng vượt khỏi cái nghĩa đen, để xưng hô với những người quyền uy, lớn tuổi hay trẻ tuổi hơn người tự xưng con, như tá điền với chủ điền, dân đen với hương chức hội tề xã, với quan trên... Tiếng con nầy lại mang một ý nghĩa khác: quỵ luỵ, hèn hạ...)

Tiếng để xưng hô trong gia đình Việt Nam thật phong phú. Dù cố gắng nhớ lại nhiều cách xưng hô mà tôi từng nghe thấy, nghe đó đây trong cuộc sống và thấy viết trên sách báo, nhưng tôi biết mình không đủ khả năng sưu tập đủ. Mỗi nơi, miền Trung, miền Bắc, còn có những cách xưng hô khác nữa. Mong rằng bài nầy giúp ích được phần nào những con em chúng ta sống và lớn lên ở nước ngoài hiểu được nền văn hoá Việt Nam thật đáng vinh danh. Cách xưng hô trong gia đình Việt Nam thể hiện được nhiều sắc thái văn hoá vững chắc của dân tộc./-

San Jose, đầu năm Quý Mùi, 05-02-2003
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
stormy
#191 Posted : Saturday, September 19, 2015 6:17:22 AM(UTC)
stormy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 381
Points: 1,227

Thanks: 392 times
Was thanked: 386 time(s) in 207 post(s)
Tiếng Việt miền Nam

Ôi ! Tiếng Việt miền Nam !
Nghe sao mà âu yếm,
Giọng ngân dài lưu luyến
Cho lòng ta thương vương.
Ôi, thương ai em thương thiệt là thương !
Em, cô gái Đồng Nai tình cởi mở
Từ quen em nắng vàng thêm rực rỡ,
Dừa thêm xanh và vú sữa thêm ngon.
Lời em thơm như măng-cụt no tròn
Giọng em ngọt như xoài vừa chín tới.
Những chữ S ngân dài như gió thổi,
Chữ C, G nghe đọc lỗi mà yêu.
Giọng TR trong trẻo đúng bao nhiêu,
Và "anh" nữa, ôi tiếng "anh" nũng nịu :
"Mong ăn mãi ! Nhớ ăn hoài ! Ăn có hiểu ?
Em thương ăn quá xá là thương ! "
Lời em ngon như có mật có đường,
Ta sung sướng gần em nghe giọng nnói.
- " Hãy nói nữa ! Nói nhiều đi em hỡi !
Qua không cần hiểu ý chỉ cần nghe
Giọng nói du dương, âu yếm, đê mê
Như nhạc sóng của Đồng Nai, sông Cửu ! "
Nhưng em bỗng ngừng im. Em nũng nịu :
- " Nói đi ăn, nghe giọng Bắc em thương! "
Cầm tay em say ngắm cặp môi hường
Lòng tràn ngập niềm mến thương đằm thắm.
Ôi, Nam Bắc dù xa nhau vạn dặm
Vẫn cùng chung tiếng mẹ, vẫn quê cha.
Gặp nhau đây trong nắng lửa chan hoà
Hai giọng nói cùng đồng ca hợp tấu.
Hai huyết quản vẫn cùng chung giọt máu
Hai tâm hồn hoà hợp cảm thông nhau
Tiếng Việt miền Nam, giọng nói nhiệm mầu.
Có phép lạ khiến tình ta lưu luyến.
Em ! cô gái miền Nam ta thương mến !
Muốn gần em, gần mãi, để nghe em !

Bàng Bá Lân
(Vào Thu, 1962)
2 users thanked stormy for this useful post.
phamlang on 9/22/2015(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#192 Posted : Tuesday, September 22, 2015 5:13:30 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Tiếng Nói Miền Nam, Văn Hóa Lục Tỉnh



Tôi xin mượn bài viết ngăn ngắn nầy nhắc lại một vài tiếng nói quen thuộc miền Nam. Tiếng mình nói khi còn thơ ấu đến lúc trưởng thành, nó tiềm tàng trong cốt não, khi có dịp dở lại trang sách cũ hay vào trang mạng ngày nay, tiếng nói đó nó gợi lại đời sống kỷ niệm năm nào, khơi dậy cái đạo lý, tập tục dính liền với lời nói hàng ngày đó. Qua nhiều năm sống trên đất lạ quê người mấy ai mà đôi khi không cảm thấy mình lạc loài, bơ vơ hơn Hạ Tri Chương trong “ Hồi Hương Ngẫu Thư”: “cười rằng ông đó mình ên. Quê ông đâu hả? lênh đênh xứ nầy!”* . Nhắc lại lời nói năm xưa, vơi nỗi nhớ, hương tình dĩ vãng.

Mải đến thập niên 1950 ở Saìgòn vùng Bào Sen, Chợ Quán vẫn chưa có nước máy dẫn tới nhà. Người ta xài nước giếng để tắm gội, giăt rửa hàng ngày. Còn cơm nước thì dùng nước mưa chứa trong lu, khạp, hay thùng phi để xài quanh năm. Những năm mùa khô kéo dài, mưa trể, giếng nước trong xóm cạn vét thì dân gánh nước phong tên ở đường Trần Bình Trọng, trước nhà thờ Chợ Quán, mang về xài.

Lúc đó nước phong-tên(fontaine) nhiều phèn phải khuấy với phèn chua để lắng trong mới xài được. Khi nấu sôi, châm trà, nước pha trà mà có màu đen thì nước phèn dù có lắng trong cũng không dùng trong cơm nước được. Bà con trong xóm hàng tuần mang thùng 20 lít ra đầu xóm, sắp hàng chờ xe nước ngọt đến để đồi nước. Một đôi nước, 2 thùng 20 lít, thì đổi lấy hai đồng. Có lần mùa hè, khi chơi đầu xóm, tôi thấy xe nước quẹo từ đường Nguyễn Trải vô ngỏ, tôi hớt hải chạy về nhà “Má ơi xe nước tới rồi, lấy thùng đi mua nước.. má…” Má tui cười khì “ con ơi mình đi đổi nước ngọt mà uống chớ không ai bán nước đâu con…” Trong Nam người ta ý tứ không nói, mua nước, bán nước mà chỉ nói lấy tiền đổi nước. Sau nầy lớn lên tôi mới biết người miền Nam kiêng cử lời nói không lành như .. bán nước. Chỉ dùng tiếng “bán nước” khi đề cập đến bọn mãi quốc để vinh thân phì gia.
Cái ý tứ trong tiếng nói miền Nam còn thấy thể hiện qua xưng gọi người làm, người giúp việc trong nhà. Người miền Nam tránh gọi người giúp việc trong nhà là người làm, hay đứa ở đợ, con đầy tớ mà gọi là “bạn”, người ăn, người ở, hay bầy trẻ (thời
Xuân Thu Chiến Quốc bên Tàu, có Bình Nguyên Quân (nước Triệu), Mạnh Thường Quân (nước Tề) trong nhà bao giờ cũng có mấy ngàn thực khách, đó là người ăn, người ở). Thành ngữ miền Nam “ăn ở cho có đức có nhơn”, nói lên đời sống đạo lý miền Nam, tránh lời nói việc làm tổn đức.
Gẫy gánh, chắp nối. Miền Nam khi xưa vợ chồng là trăm năm, vì vậy ai mà chết vợ, chết chồng, thì người ta nói gẫy gánh giữa đường, đường đời vợ chồng chưa đi chung hết mà đã gẫy gánh. Đòn gánh một khi đã gẫy thì làm sao mà gánh đi hết cuộc đời. Vì vậy có từ chấp nối. Người vá chồng kẻ vá vợ tìm nhau, chấp nối cái gánh mình đã gẫy để đi hết cuộc đời còn lại. Nhắc đến đàn bà vá tôi nhớ câu chuyện đời má tui có kể là hồi xưa có ông đồ về già ông mới cưới vợ, ông cưới con gái (ý nói là vợ ông còn con gái khi cưới, khác với đàn bà đã biết mùi đàn ông). Bạn bè cắc cớ hỏi tại sao ông không kiếm đàn bà vá, xồn xồn, để người ta lo cho ông miếng cơm, chén thuốc lúc tuổi già, lo việc chợ búa, trước sau trong nhà…? Ông nghiêm nghị trả lời gọn hơ là ông không làm chuyện ngược đạo lý đó được, phải để cho người ta thủ tiết. Kể xong má tui cười khì, “mấy ông già xưa, cay hơn gừng già, lời nói chơn giả, thiệt hư mấy phần có trời mà biết”. Sau nầy tôi có biết là cuộc đời ông Trần Phong Sắc cũng có giai thoại như vậy. Không biết đây là câu chuyện của hai người khác nhau hay là cùng một người mà ra?

Khi ly dị vợ thì nói để vợ. Để vợ lại không dắt đi trọn cuộc đời nầy (tiếng nầy từ khi lớn lên cho tới tuổi xồn xồn, tui không nghe ai nói đến nữa, mà thay vào đó tiếng "bỏ vợ", không biết ở đồng quê miền Nam, ông già bà cả có còn nói không.). Sinh lý tự nhiên trong con người khi mắc ỉa, mắc đái hay mắc nghẹn …mắc cười, người ta phải tìm chỗ nào đó mà giải quyết ngay, đi cầu đi kì hay uống nước, chớ không nín, không để lâu được. Củng vậy đạo lý miền Nam là khi thiếu nợ ai thì nói tui mắc nợ. Mắc nợ như mắc ỉa mắc đái.
Mắc cái nợ thì phải trả chớ để nó ứ đó thì người ta thấy nó anh ách trong người, khó chịu, khó ở đời. Trong Nam người đàng hoàng rất sợ thiếu nợ, mắc nợ thì phải trả vì không muốn để nợ đó mà trả kiếp sau. Thành ngữ trong Nam có câu, “Kiếp nầy không trả, trả kiếp sau”. Nhất là mắc nhau cái nợ tình yêu, thề non hẹn biển không thành thì “xin hẹn lại kiếp lai sinh” mà trả nhau cái nợ tình đó.\

Dân Sài Gòn chắc hẳng còn nhớ các tên nhà thương như nhà thương Chợ Rẩy, nhà thương Chợ Quán, Bình Dân, Nguyễn Văn Học, Từ Dũ, Hùng Vương hay nhà thương Hồng Bàng… Dân miền Nam ít khi gọi nhà thương là bệnh viện. Ở Sàigòn đôi lúc tôi có nghe người ta gọi nhà thương là bệnh viện, như bệnh biện Chợ Rẩy…những người đó không phải là dân gốc cố cựu miền Nam, thường là dân di cư năm 54. Đó là những nhà thương công, (mấy danh từ tương tự còn có trường công, công viên, công chứclàm việc cho nhà nước, chánh phủ, trào ông Diệm còn gọi Thiên Chúa giáo là Công giáo, đạo của nhà nước chăng?) mà bệnh nhân đi khám bịnh, điều trị thì miễn phí, không tốn đồng xu nào. Vì vậy nó còn được gọi là nhà thương thí, (bố thí) cho người nghèo. Ở Sài gòn lúc trước người có tiền thì người ta đi nhà thương Đồn Đất, hay mấy nhà thương của bang hội người Hoa như Triều Châu, Quảng Đông, Phúc Kiến, Sùng Chính…Đương nhiên nhà thương công thì chật chọi, không thoải mái tiện nghi, nhưng bù lại các ca bệnh nặng ngặt nghèo thì phải vô nhà thương công (chớ không vô nhà thương tư ngoại trừ nhà thương Đồn Đất), sanh con so thì phải vô Từ Dũ hay Hùng Vương, vì đó là mấy nhà thương thực tập của trường y Saì Gòn, tập trung các thầy, các cô, giáo sư, bác sĩ ưu tú của miền Nam. Thỉnh thoảng có người thân bịnh nhân la bài hải lên “đây là nhà thương chớ đâu phải nhà ghét” khi họ thấy y tá hằng hằn học nặng tay. Có lẽ tiếng nhà thương bắt nguồn từ chữ nhà chữa trị cho người thương tật bịnh hoạn.

Nhưng dân miền Nam gắn liền nhà thương với tình thương. Và chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa đã giúp vun bồi ý nghĩa, niềm tin đó. Ngày nay ở miền Nam tiếng nhà thương không còn thích hợp nữa. Vì đây là chổ làm tiền, không còn tình thương, không có tình  người, không phải là nhà thương công như xưa hồi còn Cộng Hòa.
Nhà cầu, cầu tiêu, đi cầu. Khi xưa ở thôn quê miền Nam, người ta cất nhà cầu dọc mé sông, dẫn tới nhà cầu là cây cầu nhỏ, thường là cầu khỉ hay cầu ván. Vì vậy người ta gọi chổ ỉa đái, cái chòi nho nhỏ đó là nhà cầu. Đi ỉa đi đái nói là đi cầu. Ở đồng ruộng thì người ta nói đi đồng. Tới khoảng những năm 1950 tôi còn thấy dọc theo mé sông cầu Rạch Ông, cầu Nhị Thiên Đường và cầu Ba Li Cao trong Chợ Lớn còn có nhà cầu công cộng cất đưa ra sông. Ai có nhà cất sát mé sông thì có nhà cầu riêng. Ở Bào Sen, Chợ Quán lúc tôi còn nhỏ, hai xóm sau nhà ba má tui có cái bào. Ở đó củng có một nhà cầu công cộng. Lúc đó vài gia đình có nhà cất dọc theo cái bào đó, còn nghèo không có cầu tiêu tự hoại. Sau nầy khoảng năm 1960 thì cái bào đó được lấp đi. Mấy nhà ở ven cái bào mới làm cầu tiêu trong nhà. Cầu tiêu là cầu tự hoại. Căn bản cầu tự hoại thì đơn giản thôi. Nó gồm một bàn ngồi có lỗ cầu gắn liền với con thỏ, đó là một óng nước hình chữ S nằm, một miệng thì thông với lỗ cầu, miệng còn lại thì thông với hầm cầu. Tác dụng của con thỏ là giữ mực nước trong óng. Khi dội nước, cục phân từ lỗ cầu, đầu con thỏ đi theo chiều nước, xuống đuôi con thỏ rồi lọt xuống hầm cầu. Có lẽ vì vậy người ta gọi đó là cầu tiêu. Đi cầu xong, dội nước là mất tiêu cục phân. Đi tiêu, đi tiểu cũng đó mà ra chăng!

Nói đến cầu tiêu là tôi nhớ đến hố xí hai ngăn, một phát minh hay sáng kiến của anh hùng lao động cộng sản miền Bắc, BS Phạm Ngọc Thạch. Sau ngày sập trời 30-4-1975, cán bộ miền Bắc vào tiếp thu trường Đại Học Y khoa Sài Gòn. Đảng Đoàn chỉ thị sinh viên Y khoa Sài Gòn đi xuống vùng ven đô Sài Gòn, Chợ Lớn tuyên truyền xây làm hố xí hai ngăn, để phòng chống bịnh dịch, để có phân Bắc. Họ không biết gì hết về miền Nam. Trong Nam từ Sài Gòn đến các thị trấn thôn quê, người ta nhà nào cũng đều có cầu tiêu tự hoại. Vùng ven sông, xa xôi thì có nhà cầu hay cầu cá vồ cá tra… Miền Nam, thiên nhiên ưu đãi, đất nước phì nhiêu, không biết xài phân Bắc, không cần hố xí một ngăn hay hai ngăn, hồi nào tới giờ không biết “ cầu tiêu thùng” như dân Hà Nội, ở ngoài đó. Người cán bộ miền Bắc huênh hoang cái lạc hậu của xả hội cộng sản ngoài Bắc để “khai hóa” cái văn minh tiến bộ của dân Nam hiền lành mất nước. Sinh viên lúc đó mới thấy tận mắt cái kỷ thuật tân tiến của một siêu cường Sô Viết, không một óng stetho(stethoscope), không một quyển sách. Thấy viễn ảnh một nước Việt Nam thanh bình, thống nhất với một màu đỏ u ám, huyễn hoặc, dối trá. Đi công tác, mà nửa khóc nửa cười. Cười cho cái kiến thức của cán bô y khoa cộng sản, tầm cở hố xí hai ngăn. Khóc cho cái ăn cái học của mình. Người có đầu óc thì khóc cho ách nước tai nhà. Tới nhà dân nhiều đứa không biết ăn nói làm sao đây. Nói ra thì dân nó cười“học trò y khoa gì mà ngu như heo”. Chắc cũng có người “thông cảm” … tội mấy thằng thiên lôi đó vô tội vạ, trời sai đâu đánh đó. Không vô nhà, không nói thì lấy gì mà báo cáo … lúc đó có ai mà dám cãi, phải nói dóc để sống, lớ quớ bị kết cái tội phản động là có nước “hui nhị tì”, “sortie latérale” là cái chắc. Muốn làm lại cuộc đời thì phải đi Thanh Niên Xung Phong, học tập, cải tạo qua lao động vinh quang. Thôi thì giả dại, nhắm mắt qua ải mà sống.

Năm 1995 tôi về Việt Nam có nghe nhiều người trong phòng bàn tán về “mì chín”. Nghe qua tôi không biết họ nói trời đất gì. Bèn hỏi anh bạn ngồi kế bên, anh nầy đã về VN nhiều lần, anh kề tai tôi nói nhỏ, bột ngọt mình hồi xưa đó. Nghe nói tôi mới vở lẽ . Ở Sài Gòn mấy chục năm về trước đã có hãng bột ngọt Vị Phong, sản xuất bột ngọt tại Viêt Nam. Tra ra thì “mì chín” là phiên âm tiếng nói Quảng Đông của chữ “vị tinh” 味精. Người ở ngoải sao mà lạc hậu quá ! mãi tới những năm 90 mới biết xài bột ngọt.
Lại còn quá lệ thuộc Tàu, thiếu óc sáng tạo. Bợ nguyên si tiếng nói người ta mà phiên âm ra tiếng mình. Ở Saigon, dân sanh đẽ trong miền Nam thì nói là bột ngọt, còn người Bắc di cư 54 thì nói là bột nêm. Bột ngọt nghe mộc mạc nhưng chính xác, chất màu trắng như bột khi nêm vào canh, đồ ăn thì nước canh sẽ ngọt như canh thịt. Hành tiêu tỏi ớt cái gì mà cho vào thức ăn đều gọi là nêm. Ở đây bột nêm, nêm bột gì đây? bôt gạo hay bột mì! Đất nước, xả hội tự do, ai quen tai quen miệng nói sao thì nói. Cũng vậy ở Sàgòn khi xưa, con nít nói coi hát bóng (mấy tiếng tương tự như coi hát  cải lương, hát bội, hát Tiều…). Còn con nít người Bắc thì nói xem chiếu bóng. Hát bóng vừa coi bóng vừa nghe hát nghe nói. Chiếu bóng, chỉ xem cái bóng chớp chớp.

Nên nhớ hát bóng, điện ảnh, nghệ thuật thứ bảy, phát triển từ Nam ra Bắc. Trong Nam đã từng coi phim câm trước miền Bắc. Sau nầy con nít miền Bắc nói xem cinê. Có thể là bắt chước con nít miền Nam, thay vì nói coi cinê, nói là xem cinê. Dân miền Nam rất giỏi cái việc Việt hóa tiếng Tây như xe locasong (lacation), sốp phơ (chauffeur), cà tô-mát (tomate), cinê(cinema), mông-xừ (monsieur) v.v.. Nhắc tới cái danh từ kỳ cục “mì chín”, tiện đây tôi xin nêu lên cái nghề mới ở Việt Nam không kém phần dị hợm như nghề “Nhà Làm Văn Hóa”. Thỉnh thoảng tôi thấy dưới tên ông giáo sư , ông tiến sĩ ở Việt Nam ngày nay, có thêm hàng chữ: Nhà Làm Văn Hóa, hay Nhà Văn Hóa. Miền Nam trước năm 1975 không bao giờ tôi thấy có ai làm cái nghề đó. Mấy ông làm văn hóa ơi. Mấy ông có biết không? Văn hóa của một dân tộc, một quốc gia phải trải qua trăm năm, ngàn năm, phải kinh qua nhiều thế hệ, xả hội, nhiều đời nhiều người mới hình thành. Chớ có ai mà tự mình làm ra văn hóa! Tra ra thì mấy ông kẹ cộng sản Việt Nam bắt chước ông cộng sản Tàu như đúc. Ở Tàu có người đề là Văn Hóa Gia dưới tên mình, phải dịch đó là nhà (người) nghiên cứu văn hóa, chớ không phải là Nhà Làm Văn Hóa, hay Nhà Văn Hóa. Văn Hóa Gia không phải là học vị, bằng cấp như bác sĩ , tiến sĩ, kỷ sư… mà dịch nguyên chữ. Rượu đế, rượu trắng, rượu nếp…Khi Pháp chiếm toàn cỏi miền Nam, đưa ra luật cấm dân nấu cất rượu trong nhà. Chỉ có công xi rượu của Tây mới có quyền chưng cất rượu. Cái mửng nầy là nghề ruột của thực dân lúc bấy giờ, đó là phương tiện độc quyền làm tiền. Nó phổ biến ở khắp nơi, ở Việt Nam có rươu đế ở Mỹ có Moonshine, nguồn gốc Moonshine là do dân Mỹ cất rượu lậu trong rừng, thường là cất nấu ban đêm dưới ánh trăng, vì vậy mà có tên Moonshine.

Cũng vậy ở đồng quê miền Nam, dân cất rượu lậu trong nhà, khi Tây đi bố đi ráp, thì rầm rầm rộ rộ, thiên hạ bà con biết, nên đem nồi cất rượu dấu trong bãi sậy, đám cỏ tranh, hay lùm đế xa nhà…có lẽ vì đế có nghĩa là vua, mà  rượu cống vua hay rượu vua ban cho, ngự tửu, thì quý lắm, ngon lắm bởi vậy dân mới gọi rượu lậu là rượu đế chăng? Ca dao như “mấy thằng uống rượu là con vua Ngọc Hoàng” từ rượu đế mà ra chăng?

Uống rượu lên chữ, đủ chữ. Công xi rượu Tây cất rượu theo thể thức khoa học, cất xong phải đo phải thử coi có đúng nồng độ tiêu chủng không. Dân quê làm trong công xi rượu thường là dốt nát, thấy Tây nó đo nó thử như học trò học chữ. Về nhà học lại với vợ con, bà con , bạn bè trong xóm, là thì Tây nó cất rượu phải đủ chữ mới cho ra lò. Dần dần trên mâm rượu, thằng nào ngà ngà đến độ say, thì người ta nói nó “lên chữ”, “đủ chữ” rồi, mấy câu như “chưa vô mấy hớp lên chữ” hay “ thôi nghen, vậy là đủ chữ rồi đó, tui dề (về) a ”.

Nói chữ, xổ Nho, người miền Nam có trọng tuổi ỡ hải ngoại ngày nay chắc không quên mấy tiếng đó. Nói chữ, xổ nho khi người ta nói đến đạo lý, cái khôn ở đời, hay xử thế, xử sự mà dùng tiếng Hán Việt như “Kiến ngãi bất vi vô dõng dã”, “Tào khang chi thê bất khả hạn đường”, “chuyện Qua Lý phải tường” vân…vân… Người bình dân rất trọng người có học, ai mà nói chữ nói nghĩa thì được người đời gán cho “một bụng chữ nghĩa” hay ông đó mở miệng ra là “Câu câu văn tự”.
Anh nông dân xổ nho thì có lúc trắng trợn rỏ ràng như “ Ngồi vô trường án, vổ ván cái rầm…”, có khi thì cao siêu mơ hồ như “U minh Rạch Giá thị quá sơn trường, dưới sông cá lội, trên rừng cọp tha”

Nhưng ngày nay nếu ai đó có xổ Nho mà chêm câu “Phu thê như y phục, huynh đệ như thủ túc ”. Câu nói nầy có lẽ không có trong sách vở đạo Nho. Vốn nó từ Tam Quốc Chí mà ra. Trương Phi vì mê uống rượu, ghét Lã Bố mà đánh vạ Tào Báo, ba vợ Bố.

Báo oán hận mở cửa thành Từ Châu cho quân Bố vào. Mất thành, Trương Phi chạy gặp Lưu Bị khóc lóc đòi tự tử vì làm mất thành Từ Châu, không bảo vệ hai chị dâu. Lưu Bị mới nói “Phu thê như y phục, huynh đệ như thủ túc”. Câu nói nầy thiếu đạo lý, chỉ là đầu môi của bọn gian hùng tranh bá đồ vương như Lưu Bị. Thì tui xin thưa rằng đó là sai mà phải đổi lại “Huynh đệ như thủ túc, phu thê như tâm phúc”… hay câu “Bần cư náo thị vô nhơn vấn, phú tại thâm sơn hữu khách tầm” thì tui xin chỉnh một chút “Bần cư cận xứ vô nhơn đáo, phú tại viễn phương hữu khách cầu”. Nó thích hợp với đời sống, xả hội thời đại hơn. Đó cũng là nho chùm mỹ tửu như ai…
Nhắc đến chữ nghĩa học hành thì có Bùi Kiệm, một nhân vật trong Lục Vân Tiên. Hồi tôi còn nhỏ con cái nhà ai mà được bà con cô bác khen học hành “giỏi” như Bùi kiệm là ba má nó buồn buồn, không vui, nói vã lã qua chuyện khác. Riêng thằng nhỏ thì cái mủi hinh hỉnh, khoái trá lắm. Một vài hôm sau khi ba má rầy rà “mầy học hành dở như Bùi kiệm, sau nầy hốt rác mà ăn” tội thằng nhỏ, chưng hửng tại sao kết nó với Bùi kiệm lúc khen giỏi lúc chê dở. Nhân vật Bùi Kiệm thì rất quen thuộc với sân khấu, cải lương, hài kịch. Danh hề Vân Chung đã nhiều lần đóng vai Bùi Kiệm, lại còn cải tên đổi hiệu là Bùi Ái Hoa. Kịp khi thằng nhỏ biết nghe hài kich, mê hát cải lương (lúc đó chưa có TV) thì nó ghét cay ghét đắng người nào kết nó với Bùi kiệm một khi nó biết Bùi Kiệm học hành thì tư chất không được thông minh, bản tánh thì mê gái, dê xồm.
Nhân vật quen thuộc trong Kim Vân Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh, truyện Kiều) được quần chúng hóa ra danh từ, tiếng nói được nhắc nhở hàng ngày trong xả hội miền Nam, báo chí Sài Gòn như “mụ tú bà, thằng sở khanh, nàng kiều, xóm bình khang”

Nhân vật trong truyện Tàu được người dân miền Nam ví von như: Nóng (nảy) như Trương Phi, gian (hùng) như Táo Tháo, giỏi như Khổng Minh, Tài như Lã Vọng, Quảng Trọng, thần thông như ông Tề, đen như Uất trì Cung, lùn như Yến Anh, đa nghi như Tào Tháo, phước tướng như Triệu Vân, xấu như Chung Vô Diệm, đẹp tựa Tây Thi, ác như Đắc kỷ, độc như Lã Hậu, phản phúc như Lã Bố, đê tiện như Cao Cầu, giết người như Bạch Khởi, tham lam như Tần Cối, ngu (trung) như Tống Giang, mạnh như Vỏ Tòng, ngay thẳng như Lổ Trí Thâm. Mấy câu quen thuộc như: găp chùa thì tu, gặp giặc thì đánh, cái gan Tỷ Can, cái mật Khương Duy, cái lưởi Tô Tần, cái miệng Trương Nghi, uốn ba tất lưởi, thằng ba búa (giỏi lắm thì như Trình Giảo Kim chỉ đánh được ba búa), một (nhà) Mạnh Thường Quân, vòng vo Tam Quốc, quân sư quạt mo, nói chuyện ông Tề, nói chuyên Phong Thần, con dế Tôn Tẩn, y thuật (cao minh) như Hoa Đà, nhân mưu thiên định, xa xoi như Sở Tề, (buồn như) tiếng sáo Trương Lương, Hàn tín còn lồn chôn giữa chợ (ý nói lúc nhịn phải nhịn), chén cơm Phiếu Mẫu, nhất tiếu thiên kim, tiếng cười khuynh thành đổ nước, tam bộ nhất bái (mới có vợ)… Ông nội. Con nít chơi trong xóm, rồi tranh giành cãi lộn nhau, đùng một cái có thằng đứng dậy tức tối, la đổng lên, “bộ mầy là ông nội tao hả !?”. Câu hỏi ngây ngô khi đứa nhỏ cảm thấy nó bị thằng khác “chơi cha”, chơi ép, bất công cho nó quá, nó la lên cảnh cáo thằng kia là phải chơi công bằng, không được chơi chèn. Lời nói ngây thơ đó nói lên xã hội đời sống dân Nam ở Sài Gòn bấy giờ. Ở nhà có ông nội, ông nội là trên hết, lời nói của ông nội là quyết định. Ông bà ở với ba má, có món ngon thì dâng lên ông bà, ba má không lám cãi lời, biết sợ ông bà, đó là cái gương hiếu thảo cho con cháu sau nầy. Có lần tôi đến thăm cậu tôi, vừa vô nhà là thấy không khí nó nằng nặng. Con nít đứa nào đứa nấy mặt mầy lắm la lắm lét, ngồi đâu ngồi đó, không chọc quậy phá phấy gì hết. Chị Hai kề tai tui nói nhỏ: “Ông nội vừa mới lên gác chắc ngủ rồi, hôm nay ông nội la rầy hung lắm, bị rầy chú Tám quởn quá dông mất rồi. Ba tụi nhỏ nín khe còn ngồi trong bếp đó, còn con tui, tụi nó không dám lén phén, ho hen gì hết, nãy giờ không đứa nào dám bước ra khỏi cửa nửa bước. Đỡ quá không thôi tụi nó đi chơi luôn tuồng. Dữ ác hôn! lâu quá chú qua chơi. Ở lại tới chiều, ăn cơm luôn ở đây, chắc ông nội mừng lắm. Thôi vô trỏng nói chuyện với anh Hai.”

Tiếng nói, tiếng Việt. Có năm tôi về Sàigòn, có dịp đến thăm cụ Vương Hồng Sển, được Cụ tiếp tại nhà. Cụ có tặng tôi quyển sách “Tự Vị Tiếng Nói Miền Nam”. Trước khi viết lời tặng, ký tên vào quyển sách, Cụ Sển gạch ngang chữ “Việt” trong tựa của quyển sách, mà sửa lại là “Nói”. Cụ có nói “ Cán bộ tài khôn, sửa mà không hỏi ý kiến tác giả”. Dân miền Nam nói anh “tài khôn” không có nghĩa là nói anh “tài cán, khôn ngoan” mà hoàn toàn có ý ngược lại. Tiếng Việt thì miền nào cũng là tiếng Việt. Còn tiếng nói thì mỗi miền mỗi khác. Đơn giản vậy thôi. Nhưng có viết sai thì mới thấy “sai một li, đi một dậm”.

Nôm na tiền bạc là " trật con tán, bán con trâu". Tiện đây tôi xin chân thành nhắn nhủ quí tác giả một khi có trích dẫn quyển “ Tự Vị Tiếng Nói Miền Nam” thì xin để ý đừng viết là “ Tự Vị Tiếng Việt Miền Nam” như nhà xuất bản ấn hành, vì nó sai, vì đó không phải ngươn ý, nguyên tác của cụ Sển, mà xin viết là “ Tự Vị Tiếng Nói Miền Nam” cám ơn.
Nghề nghiệp. Người miền Nam thường không định nghĩa chữ “nghiệp” trong nghề nghiệp như chữ “nghiệp” trong chức nghiệp. Mà định nghĩa chữ nghiệp trong nghề nghiệp như chữ nghiệp trong nghiệp chướng, nghiệp căn, nghiệp báo. Nghề đi liền với nghiệp. Anh làm nghề đồ tể thì anh tạo cái nghiệp ác. Anh làm nghề thuốc, nghề y thì anh gieo cái nghiệp thiện. Hành nghề y nhưng anh coi trọng đồng tiền hơn sanh mạng, sức khoẻ con người, thì anh tự tạo cái ác nghiệp cho mình sau nầy. Làm quan nhưng không thanh liêm, không công chánh, tham ô, bốc lột, hà hiếp dân, không làm đúng chức trách, không làm tròn chức nghiệp của mình, thì anh tự tạo cho mình cái nghiệp ác vậy. Tư tưởng đó có là do người miền Nam chuộng đạo lý, thờ trời phật, tin luật trả vay, luân hồi, “tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác”, “thiện ác đáo đầu chung hữu báo”. Hồi trước trên báo chí, truyền thông, tin tức thường bắt đầu với mấy chữ như sau: “nhà chức trách điều tra… giải quyết… tìm hiểu…” Ngày nay tôi không thấy báo chí, truyền thông ở Việt Nam dùng tiếng nhà chức trách khi đề cập đến chánh quyền của đảng cộng sản. Thay vào đó mấy tiếng như, thủ tướng, chủ tịch, hay ủy ban nhân dân tỉnh, huyện , thành phố…, bí thư, thủ trưởng, đống chí…nếu là thượng cấp thì dung chữ thật khó nghe là trên. Ngôn ngữ, chữ viết phản ánh đời sống chánh trị, văn hóa của xả hội. Quá rỏ ràng, ngôn ngữ ngày nay ở Việt Nam đã cho ta thấy trong xả hội cộng sản Việt Nam, chánh quyền không có chức trách, người có chức trọng, quyền cao trong chánh phủ không có trách nhiệm.

Ngôn ngữ (tiếng nói), chữ viết là kho tàng của văn hóa. Tiếc thay văn học miền Nam đã không được đánh giá đúng mức. Đóng góp của văn học miền Nam đã không đươc trân trọng.
Hai trào Cộng Hòa ở miền Nam là chứng cớ lịch sử cho nhận định trên.

Trong học trình trung học phổ thông đến khi tôi đậu xong tú tài hai, đã không có giảng dạy, đề cập đến các tác phẩm của nhà văn tiền phong ở miền Nam như Hồ Biểu Chánh. Học trình trung học đệ nhị cấp ở miền Nam có giảng dạy tác phẩm trong Tự Lực Văn Đoàn như Đoạn Tuyệt, Anh Phải Sống, Nửa Chừng Xuân…và mấy bài viết của Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh (Nam Phong Tạp Chí). Nhưng không hề giới thiệu các tác phẩm đậm đà tình nghĩa con người và xả hội, phong tục, đạo lý đặc sệt miền Nam như“Ngọn Cỏ Gió Đùa”, “Số Phận Linh Đinh”, “Con Nhà Nghèo” “Cay Đắng Mùi Đời” v..v.. của nhà văn tiền phong miền Nam Hồ Biểu Chánh. Văn hóa, đời sống, phong tục miền Nam gói ghém trong giọng văn môc mạc, nhưng chính xác,và bác học của Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịch Của, Trương Minh Ký, Hồ Biểu Chánh và bao nhiêu nhà văn , nhà báo khác đã không được giảng dạy cho học trò miền Nam ở bậc trung học. Chánh quyền miền Nam mà phủ nhận văn hóa, lịch sử** miền Nam đủ nói lên cái bản chất nhơn sự trong nguồn máy chánh quyền đó. Họ không sinh ra và lớn lên trong miền Nam. Họ xa lạ với tiếng nói, con người và xả hội miền Nam.

Oái oăm thay! Cái nôi của chữ Quốc Ngữ** là ở miền Nam. Chữ quốc ngữ, báo chí, tiểu thuyết, dịch thuật khởi đầu, trưởng thành, và phát triển ở miền Nam rồi mới bành trướng ra Bắc. Một vài thí dụ như:

Chuyện Đời Xưa (1886), Chuyện Khôi Hài (1882) của Petrus Trương Vĩnh Ký, Chuyện Giải Buồn, của
Paulus Huỳnh Tịnh Của (1896). Truyện Thầy Lazaro Phiền của
Nguyễn Trọng Quản (1887), Tiết Phụ Gian Truân (1910) của Trương Duy Toản, Ai Làm Được(1912) của Hồ Biểu Chánh….
Gia Định báo, tờ báo quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam (1865)

Dịch thuật bắt đầu ở miền Nam. Một ít thí dụ như dịch từ sách Tàu thì có Trung dung (1875), Đại học (1877) v..v.. Dịch từ chữ Nôm ra quốc ngữ, (người miền Nam còn nói là chép lại quốc ngữ, chữ Nôm, “đồ” của mình, chớ không phải của Tàu, của Tây, nên chép lại), thì có “ Lục Vân Tiên” (1889) , Kim Vân Kiều (1878), Phan Trần (1889), v ..v.. Trươnh Vĩnh Ký dịch.
Dịch từ truyên Tàu thì có Tây Hớn Chí, Tam Quốc Chí (1901)... được quần chúng miền Nam hưởng ứng nồng nhiệt, phát triển lên thành phong trào dịch (trên 50 bộ truyện) , đọc và kể truyện Tàu. Nguyễn Chánh Sắt, Trần Phong Sắc, Nguyển An Khương... là dịch giả tiền phong trong phong trào dịch truyện Tàu. Từ đó phong trào dịch thuật rồi mới phát triển ra Bắc (Phan Kế Bính dịch Tam Quốc Chí năm 1921).
Trong cuốn sách “Văn hóa đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam” , nxb Đại học quốc gia Hà Nội –đã giải thích: “Nước rong: nước cạn. Nước ròng: nước lớn” (đề cập lên đây với sự dè dặt về chính xác, vì tài liệu internet). Nếu dẫn trích trên là xác thực thì nó nói lên kiến thức, và trình độ của người nghiên cứu, giảng dạy, viết sách về văn học, ngôn ngữ miền Nam. Đây là di hại của cái tệ trạng không đánh giá đứng mức, không trân trọng tiếng nói, văn học miền Nam mà thế hệ trước ở miền Nam - hai trào Cộng Hòa - đã phạm phải trong giáo trình bậc trung học.
________________
*回鄉偶書 賀知章
少小離家老大迴,鄉音無改鬢毛衰。�� �童相見不相識,笑問客從何處來。
離別家鄉歲月多,近來人事少消磨。�� �有門前鏡湖水,春風不改舊時波。
Hồi Hương Ngẫu Thư Hạ Tri Chương
Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi,
Hương âm vô cải, mấn mao tồi. Nhi đồng tương kiến, bất tương thức, Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?
Ly biệt gia hương tuế nguyệt đa, Cận lai nhân sự thiếu tiêu ma. Duy hữu môn tiền Kính hồ thuỷ, Xuân phong bất cải cựu thời ba.
Hồi Hương Ngẫu Thư Hạ Tri Chương
Xa nhà từ lúc thanh sơ Già đầu râu tóc lơ thơ mới về. Nói cười không đổi giọng quê Trẻ con nhìn ngó không hề biết quen Cười rằng ông đó mình ên, Quê ông đâu hả, lênh đênh xứ nầy? Lìa quê đã lắm thu chầy,
Gần đây làng bạn hao gầy xác xơ
Hồ Gương trước cửa còn trơ,
Gió xuân nào có đổi dời sóng xưa
Nam Mai Trinh Quốc Thuận diễn thơ
** Le romancier est un historien du present, nhận thức nầy rất chính xác với tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh. Đọc tiểu thuyết HBC ta thấy mình sống trong xã hội, con người miền Nam lúc bấy giờ.
*** Quốc ngữ, nghĩa theo mặt chữ là tiếng nói (chánh thức) của một nước. Quốc ngữ của nước Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc) và Trung Quốc là tiếng Quan Thoại (tiếng Phổ Thông). Chữ Quốc Ngữ là chữ Việt viết theo vần abc. Chữ Nôm là chữ Việt viết theo cấu trúc chữ Hán (Tàu).

Nam Mai Trịnh Quốc Thuận
Hè Nhâm Thìn 2012

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#193 Posted : Saturday, October 3, 2015 7:28:57 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Tên và Họ của Người Việt

Nguyễn Phước Đáng

Có người nói “Nền văn minh của mỗi dân tộc là do dân tộc đó đặt tên được nhiều hay ít những gì có trên cõi đời nầy. Dân tộc nào trong ngôn ngữ đặt được nhiều tên thì dân tộc đó văn minh hơn!” Đó là câu nhận định thật đơn giản, nhưng ngẫm ra thật chí lý. Những nước có nền văn minh cao thì từ điển của họ có thật nhiều từ ngữ. Mà từ ngữ là gì? Có phải đó là tên do con người đặt ra để chỉ người, thú vật, chim muông, cây cỏ, hành động, trạng thái, tư duy...? Càng văn minh người ta càng có nhiều tên, tức nhiều từ ngữ.

Người ta đặt tên cho những cái gì cụ thể, mà cũng đặt tên cho những cái gì vô hình, trừu tượng nữa, như trời, tiên, thần thánh, niết bàn, thiên đường, âm phủ, càn khôn, tư duy, lo lắng, nghĩ suy,...

Tìm gặp một ngôi sao mới, người ta vội vã đặt cho nó một cái tên. Đến một vùng đất lạ, chuyện đầu tiên là lo đặt tên cho nơi đó. Phát hiện một cây mới, một con thú mới, thậm chí một con vi trùng mới, người ta lo đặt tên trước đã.

Khám phá ra được một bộ lạc còn đời sống sơ khai, người ta thấy tiếng nói của bộ lạc đó rất ít. Đó có nghĩa là số tên do bộ lạc đó đặt ra thật ít.

Cho tới bây giờ, nền văn minh của loài người tiến đến chỗ ta có cảm tưởng gần như tuyệt đỉnh, vậy mà con người đầy tham vọng vẫn tiếp tục tìm kiếm tên mới để đặt cho cái gì đó. Tức nhiên đó là cái mới tìm ra, mới phát minh ra.

Tên để làm gì?

Trước hết là để phân biệt cái nầy khác cái kia. Người khác thú, gà khác vịt, đi khác chạy, nóikhác nghe, giận khác vui, khác buồn; Ân khác Thuấn, Thế Sơn khác Mạnh Quỳnh, Lệ Thu khác Khánh Ly... Mỗi tiếng ta nghe người ta nói, mỗi chữ ta thấy người ta viết ra, là TÊN đặt cho cái gì đó. Thử tưởng tượng, loài người không đặt tên cho các thứ trên cõi đời nầy, thì bây giờ con người và xã hội ta đang sống là cái gì? Chắc vẫn là một bộ lạc sơ khai, ăn lông ở lỗ. Mà bộ lạc sơ khai cũng đặt ra một số tên tối thiểu để còn sanh sống được với nhau. Tôi nghĩ, có lẽ không người nào tìm ra được một chữ trong từ điển không là tên một cái gì đó.

Kế đến, điều nầy thật là quan trọng, tên đặt cho các thứ trên cõi đời nầy được lựa chọn, rồi ghép lại với nhau để tạo ra lời nói, câu nói, hầu trao đổi thông tin giữa người với người, trao đổi và truyền lại kinh nghiệm trong cuộc sống cho người xa kẻ lạ, thậm chí cho những người đời sau, nhiều đời sau nữa.

Một đứa trẻ sinh ra chưa biết tên nào hết, chúng phải học thuộc từng tên một. Chúng học tên đơn giản trước, tên có một tiếng, như chó, mèo, gà, vịt...; ông, bà, ba, má,...; tay, chân, đầu, mình,...; đi, chạy, giỡn, ăn, uống... Rồi lần hồi học đến các tên phức tạp hơn, tên có 2-3 tiếng, như học trò, thầy giáo, sinh viên, kiến trúc sư, hàng không mẫu hạm... Đồng thời chúng cũng học cách ráp các tên đó lại để bày tỏ ý muốn (thông tin), như “Má, con đói”, “Ba, ẵm con”, “Chị, dẫn em đi chơi”...

Mỗi dân tộc đặt tên cho các thứ mình thấy biết bằng thứ tiếng, bằng chữ viết của mình. Cùng một thứ, mà có hằng trăm tên dành cho hằng trăm dân tộc.

Tôi nói chuyện về cái tên hơi dông dài, để chứng minh về sự quan trọng của cái tên, sự quan trọng của việc đặt tên. Bây giờ xin thu hẹp vào việc đặt tên người của người Việt.

Người ta nói "Con cái là cuộc sống nối dài của cha mẹ". Do vậy, bậc cha mẹ nào cũng muốn con mình có một cái tên đẹp.

Hiện nay dân số Việt Nam có hơn 80 triệu. Lúc tôi còn bé, cách nay trên 60 năm, khi nói về dân số VN, người ta mở miệng ra là “25 triệu đồng bào”. Thuở đó có 25 triệu cái tên, bây giờ có hơn 80 triệu. Chữ nghĩa của ta chỉ có trên 6 nghìn chữ đơn. Chúng ta ghép ngang ghép dọc, ghép đủ kiểu cũng chỉ tạo thêm chừng tròm trèm 50 nghìn từ kép nữa thôi. Vậy tên của người Việt trùng nhau rất nhiều. Bạn tên gì cũng có người trùng tên với bạn. Tên càng đẹp, càng tốt thì bị trùng rất nhiều. Tên xấu, tên có chữ nghĩa hóc hiểm thì ít trùng với ai. Tên trùng tên rất nhiều, tuy nhiên cũng có nhiều cách để phân biệt tên bạn với tên của người khác. Đó là nhờ "họ" đi kèm. Việt Nam có tới “trăm họ”. Vậy cũng khó có cơ hội bạn trùng tên trùng họ với người khác, xác suất nầy là 1/100 (xác suất trùng tên là 1/56.000) Tổng cộng tên và họ trùng nhau xác suất là 1/56.000 x 100 = 1/5.600.000.

(Tôi dùng “trăm họ” với nghĩa đen để làm toán, bằng số 100. Thật ra “trăm họ” thường dùng với nghĩa bóng, chỉ tất cả dân chúng trong một triều đại, một nước. Tôi giả thiết 6.000 từ đơn và 50.000 từ kép tiếng Việt đều được người Việt chọn đặt tên, nên tính ra bằng phân số, mới có xác xuất như vậy. Thực tế, số chữ được chọn đặt tên người chiếm rất ít, nên xác xuất đó thấp hơn rất nhiều. Hơn nữa, thống kê cho biết Việt Nam có hằng mấy trăm họ, nhưng 85% thuộc vào 12 họ Nguyễn, Trần, Lê, Lý, Võ/Vũ, Phan, Phạm, Hoàng/Huỳnh, Hồ, Châu, Đinh, Ngô)

Đó là chưa kể chữ lót vào. Thuở trước (thời Pháp thuộc trở về trước) gần như dân quê (miền Nam) chỉ có 2 chữ lót giữa tên và họ là “Văn” và “Thị” để phân biệt Nam và Nữ. Bây giờ chưa có ai làm thống kê để biết xem có bao nhiêu chữ dùng để đệm giữa họ và tên. Nhưng ai cũng biết là nhiều lắm, nhiều không kể xiết: phước, đức, tấn, tài, khắc, đình, khoa, hùng, mãnh, hồng, thanh, xuân, hạ, thu, đông... Nhờ vậy xác suất để 3 thứ họ, tên, chữ lót trùng nhau trở nên thật mong manh, 1/5.600.00 x 6.000 = 1/3.360.000.000 (một phần ba tỷ, ba trăm sáu chục triệu). Đó là tính chữ nào cũng có thể dùng đặt tên chính và tên đệm. (Thực tế thì không đến như thế. Những chữ xấu, tục tĩu không ai lấy đặt tên cho con hay dùng để đệm)

Xác suất mỏng như vậy thật khó mà trùng nhau. Dù vậy, tôi cũng biết được 2 cặp trùng nhau họ, chữ lót và tên kép (4 chữ trùng nhau đúng theo thứ tự trước sau).

Tôi có 2 người bạn là anh em ruột, người anh tên Lâm Xuân Ngoạn, người em tên Lâm Xuân Nguyên. Thời chinh chiến 2 anh em đều nhập ngũ QL/VNCH. Anh đồn trú tại chân trời, em nơi góc biển. Hai anh em sanh con cùng khoảng thời gian, và họ cùng đặt tên con là Lâm thị Xuân Mai. Hai chị em chú-bác cùng có một tên.

Trường hợp thứ nhì là chính 2 đứa cháu ruột của tôi.

Ông anh tên Nguyễn Văn Chỉ đặt tên con là gì thì gọi con đúng là vậy. Đứa con thứ ba của anh tên Nguyễn thị Phương Thảo.

Chú em tên Nguyễn Thành Công sanh toàn con gái. Bốn đứa đầu đặt tên nào gọi tên đó, 5 đứa sau đặt tên trong khai sanh một đường, gọi tên ngoài đời một nẻo, cứ bé Sáu, bé Bảy, bé Tám, bé Chín, bé Mười.

Chừng tan cuộc chiến chinh, chúng tôi ghi chép lại gia phả, mới bật ngửa ra thấy bé Chín tên trong khai sanh là Nguyễn Thị Phương Thảo. Hai đứa cháu của tôi, một đứa gọi bằng chú, một đứa gọi bằng bác, hiện đang sống tại Hoa Kỳ, cô chị ở Nam Cali, cô em ở Sacramento. Không biết sau nầy chúng sẽ có bị trục trặc gì không về chuyện tên của chúng trên xứ sở nầy? Tuy vậy, chúng cũng có chỗ phân biệt, là cô chị sanh ngày 30-4-1963, còn cô em sanh ngày 5-8-1974.

Một cô bạn trẻ, học chung khoá computer với tôi, kể rằng cha cô tên Nguyễn Văn Thiệu. Sau 30-4-1975, cái tên nầy bị Chánh quyền Cộng Sản địa phương đồng hoá với tên Nguyễn Văn Thiệu tổng thống, khiến gia đình cô có lúc điêu đứng với họ, qua bao nhiêu lần bị hạch hỏi ngớ ngẩn: “Tại sao là Nguyễn Văn Thiệu? Bao nhiêu tên khác không đặt mà lại đặt tên nầy?”

Đấy là chuyện hy hữu, nhưng không phải là chuyện không thể gặp!

Ai đặt tên con?

Thông thường là cha mẹ đặt, chứ còn "ai trồng khoai đất nầy". Tuy nhiên, trong xã hội Việt Nam, hệ thống đại gia đình vẫn còn khá phổ cập. Con cái sau khi lập gia đình, vẫn còn sống chung với cha mẹ (bên chồng). Đứa con thường nhường quyền đặt tên con cho ông bà. Tôi là một trong những ông bà đó. Tôi còn quá hơn các ông bà khác ở chỗ là tôi gần như giành quyền đặt tên cháu nội. (Thuở mới lập gia đình, tuy còn sống chung với đại gia đình, nhưng tôi không nhường quyền đặt tên con cho Ba tôi). Tên tôi là Nguyễn Phước Đáng. Khi đám con đến tuổi thành gia thất, rồi sanh con đẻ cái, tôi phán rằng “Khi sinh con, đặt tên phải lót chữ Phước như ông Nội, bất luận trai hay gái. Sanh trai thì lấy tên cha nó làm chữ đầu cho tên kép; sanh gái thì lấy chữ lót của tên mẹ làm chữ đầu tên kép” Như vậy là tôi đã đặt hơn phân nửa tên của đám cháu nội chưa sanh, tôi đặt ra cái khung để theo đó mà đặt tên cho đám cháu nội (Tôi không có con gái, chỉ có 6 trự con trai), chỉ còn tên chính của chúng chưa chọn mà thôi.

Năm 1982, cô dâu thứ Năm sanh đứa con gái đầu lòng, cha mẹ nó nhờ tôi chọn chữ đặt tên. Mẹ nó tên Phạm thị Giao Chi. Tôi đặt tên Nguyễn Phước Giao-Linh cho nó. (Một thời gia đình tôi ngưỡng mộ tiếng hát Giao Linh)

Năm Mậu Thìn (1988) 3 cô con dâu hè nhau sanh 2 cậu trai và 1 cô gái. Thằng con lớn của tôi tênNguyễn Phước Cường, tôi đặt tên cháu nội là Nguyễn Phước Cường-Duy. Đứa cháu nội gái tên Nguyễn Phước Giao-Hoà (Nó là em kế của Giao-Linh)

Cậu con trai kế của tôi tên Nguyễn Phước Hải. Cô con dâu tên Đoàn Trần Mỹ-Huyên, tôi đặt tên cháu nội là Nguyễn Phước Hải-Đăng. Nhưng cô con dâu phản ứng, cho rằng con trai mà tên tới 4 chữ, nghe yếu xìu như con gái. Cô chỉ đồng ý tên gọn ghẽ, Nguyễn Hải Đăng thôi. Nghe thằng con điện về nói ý vợ nó như vậy, tôi từ Long Xuyên tức tốc lên Sài Gòn thăm cô con dâu mới sanh, với hy vọng kịp thời dùng lời lẽ và quyền làm cha chồng để thuyết phục được cô con dâu theo cái khung đặt tên của tôi là có chữPhước sau họ Nguyễn. Cô con dâu thẳng thắn nói "Thưa Ba, con mang nặng đẻ đau, xin Ba cho con được quyền đặt tên con của con." Tôi lặng thinh, không còn mong thuyết phục được cô con dâu nữa. Tôi quay trở về Long Xuyên ngay, lòng buồn bã nhiều ngày, mỗi khi nhớ lại đám cháu nội của mình có một nhánh tên chúng mất đi chữ Phước, thoát ra khỏi cái khung tôi định đặt.

Tôi muốn dùng chữ Phước để cột dính chùm tụi cháu lại, để nhắc nhở tụi nó đoàn kết, thương yêu, nâng đỡ nhau, giống như tiền nhân đặt ra chuyện mẹ Âu Cơ sanh 100 con trong cùng một bọc mà tạo thành dân tộc Việt; giống như chuyện đặt tên “đồng bào”, để nhắc nhở tình đoàn kết, người sanh ra trong cùng một bọc.

Mà sao tôi lại ôm đồm làm chi, để bây giờ phải ôm ấp mãi nỗi buồn phiền trong lòng? Khi làm cha, tôi giành quyền đặt tên con, chỉ tham khảo ý kiến Ba tôi để tránh trùng tên những ông bà, chú bác trực hệ thôi. Rồi khi làm ông, tôi lại còn giành quyền đặt tên cho cháu, mà không để con cái làm gì thì làm.

Tôi vấp váp chuyện đặt tên cháu nội trước cô con dâu thứ ba, nên từ đó tôi buông xuôi để mặc cha mẹ chúng tự lo liệu đặt tên con. Sáu đứa con trai, đứa thì theo cái khung của tôi, đứa thì không. Thằng tênVĩnh, có 3 con trai sanh tại Hoa Kỳ, ngoài tên Mỹ, nó còn đặt tên VN là Nguyễn Phước Vĩnh-An, Nguyễn Phước Vĩnh-Hảo, Nguyễn Phước Vĩnh-Phú. Cô con dâu thứ sáu tên Phạm thị Kim-Oanh có 3 con gái, cha mẹ nó đặt tên Nguyễn Phước Kim-Loan, Nguyễn Phước Kim-Phượng, Nguyễn Phước Kim-Yến. Vợ chồng thằng Út sanh con gái tại Mỹ, đặt tên là Catherine Khánh-Châu Nguyễn! Dấu vết cháu nội chỉ còn chữ Nguyễn!

Mỗi người có một ý định đặt tên con. Cái thú làm cha mẹ là thực hiện được ý định đó.

Tôi có vị thầy học tên Phan Văn Tài, những năm cuối cuộc đời, ông là Trưởng Ty Tiểu học tỉnh Kiến Phong (Cao Lãnh). Ông có lối đặt tên con, mà tôi gọi là móc xích, ông lấy tên ông làm chữ lót cho đứa con cả, lấy tên con cả làm chữ lót cho đứa kế, và cứ tiếp tục như vậy. Cha con móc dính chùm nhau.

Tôi nhớ thuộc lòng tên các con ông, một phần vì lối đặt tên đó, phần khác vì có 2 đứa là bạn của tôi:Phan Tài Ái, Phan Ái Nghĩa, Phan Nghĩa Sĩ, Phan Sĩ Nghiệp (ở Úc), Phan Nghiệp Đoàn. Có điều, con gái của ông không nằm trong hệ thống nầy. Hai cô con gái của ông tên Phan thị Mỹ Dung (ở Pháp), Phan thị Mỹ Hạnh (ở Mỹ).

Mới đây, qua một người bạn thời trung học, tôi vừa làm quen được với thân phụ của xướng ngôn viênVân Yến, người miền Nam VN, có giọng đọc rất chuẩn, có tài đọc truyện biến đổi giọng theo từng nhân vật thật xuất sắc, được rất nhiều thính giả mến mộ.

Anh chị Nguyễn Thanh Vân, Lê Thị Thuận, trước khi có con, anh chị hứa hẹn với nhau, chừng nào sanh con, nếu là gái thì lấy tên anh (Vân) làm chữ đầu của tên kép cho con, còn nếu là trai thì lấy tên chị(Thuận) làm chữ lót (tên đệm) cho con. Anh chị sanh một loạt được "ngũ long công chúa". Chữ "Vân" 5 lần đứng đầu tên các con anh, bắt đầu là Nguyễn Thị Vân-Yến, rồi Vân-Trang, Vân-Đài, Vân-Mai, Vân-Phượng. Anh chị thực hiện được phân nửa ý định đặt tên con. Rất tiếc anh chị không thực hiện được phân nửa kia, lấy chữ Thuận (tên của chị) làm tên đệm cho con trai.

Anh chị đừng buồn, ông sui tôi chỉ có 7 cô con gái, thằng em tôi có tới 9 đứa con gái, chẳng tìm được đứa con trai nào. Tất cả đều hạnh phúc với đám con gái của mình.

Tôi đi Garden Grove tham dự lễ cưới cô cháu gái, con của anh chị Lê Văn Thiều và phát hiện bên nhà chú rể có lối đặt tên con khá độc đáo: Ông Bà Nguyễn Hoàng Tân đặt tên cho 3 người con là Nguyễn Hoàng Tâm, Nguyễn Minh Tâm, Nguyễn Phương Tâm. Ba anh em, trai và gái, có chung một tên, chỉ khác nhau tên đệm. Những tên như vậy thường được gọi bằng tên đệm để phân biệt, hoặc gọi đủ tên kép, Hoàng Tâm, Minh Tâm, Phương Tâm.

Một sự trùng hợp về ý muốn đặt tên con thật lý thú của 2 anh em nhà họ Trần: Ông anh là Trần Ngọc Lâm có 4 cậu con trai tên Trần Ngọc Tân-Khoa, Trần Ngọc Đăng-Khoa, Trần Ngọc Tuấn-Khoa, Trần Ngọc Bách-Khoa. Bà em tên Trần Kiều Lan, chồng là Nguyễn Văn Ba có 4 cô con gái tên Nguyễn Thị Kiều-Loan, Nguyễn Thị Phương-Loan, Nguyễn Thị Trúc-Loan, Nguyễn Thị Mai-Loan. Họ gọi con bằng chữ đầu của tên kép: Tân, Đăng, Tuấn, Bách; Kiều, Phương, Trúc, Mai

Anh bạn Phương Duy Trương Duy Cường, phu quân của nhà văn Hoa Hoàng Lan, hiện sanh sống tại San Jose, tộc họ anh có hệ thống đặt tên con rất có lợi trong chuyện lập gia phả. Ông tổ họ Trương của anh từ bên Tàu chạy sang VN lập nghiệp, dựng phủ thờ Trương Đôn Hậu ở Hội An. Ông tên Trương Mậu Viễn, ra 2 câu đối, mỗi câu 9 chữ. Tất cả 18 chữ nầy:

“Mậu, Thừa, Chí, Đồng, Hoài, Đình, Duy, Bách, Thế;

Hiếu, Hữu, Truyền, Hậu, Chữ, Phái, Viễn, Vạn, Niên”

được truyền dạy, dặn dò con cháu, mỗi thế hệ theo thứ tự đó mà lấy một chữ làm chữ lót cho mình và chữ kế lót cho đời con của mình, để nhìn vào chữ lót mà biết liên hệ ra sao trong gia tộc. Cùng chữ lót là anh em với nhau. Nhớ biết được thứ tự hệ thống chữ lót đó thì biết được tộc hệ, khi đọc gia phả nhà họ Trương của anh Duy Cường. Ông Tổ Trương Mậu Viễn là đời thứ nhất, thì anh Trương Duy Cường là đời thứ 7. Hiện họ Trương nầy đang có tới đời thứ 11. Con anh Trương Duy Cường tên Trương Bách Tùng (đời thứ 8, Bách), cháu nội anh tên Trương Thế Lâm (đời thứ 9, Thế). Anh còn 2 đời cháu họ nữa, tên lót đến chữHiếu (đời thứ 10) và chữ Hữu (đời thứ 11)

[Sử dụng hết các chữ trong cặp đối nầy, dòng họ (Trương) chúng ta trải qua được 18 đời! Nhờ vào các chữ lót nầy, trong vòng 18 thế hệ, các thành viên trong gia tộc có thể xác định mình phải gọi người trên, kẻ dưới đúng với vị trí của mình, đúng với tôn ti trật tự, Tổ, cao... bác, chú, cha, anh, cháu, chắt...] (Trích Gia Phả Trương Tộc)

Bài Đế Hệ Thi của vua Minh Mạng (gồm 20 chữ):

Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh

Bảo Quý Định Long Trường

Hiền Năng Kham Kế Thuật

Thế Thoại Quốc Gia Xương

cũng dùng để lấy làm chữ đầu đặt tên (kép) cho con và cháu của ông. Vua Bảo Đại, tên Nguyễn Phúc Vĩnh-Thuỵ. Vĩnh thuộc đời (thế hệ) thứ 6 từ vua Minh Mạng.

Không biết ý của vua Minh Mạng và ý của vị tổ dòng họ Trương Duy Cường có liên hệ nào không? Ai trước ai sau? Ai bắt chước ai? Hay là "chí lớn gặp nhau"?

(Tôi nghĩ, chắc ông Trương Mậu Viễn bắt chước vua Minh Mạng. Nhưng Anh Trương Duy Cường cho biết 2 câu đối của ông tổ nhà họ Trương xuất hiện trước bài Đế Hệ Thi)

Một người bạn của Ba tôi bảo rằng Ba tôi đặt tên đám con trai của ông có chủ ý để thành một câu có ý nghĩa "Chỉ An Đáng Công Danh Quang Lạc" Nhưng tôi biết chắc Ba tôi không có chủ ý gì cả. Và tên anh em chúng tôi ráp lại cũng không thành một câu ra hồn, mà chỉ có nghĩa gượng ép. Tên 3 anh em giữa“Đáng Công Danh” có vẻ như là một kỳ vọng của Ba tôi. Nhưng chúng tôi không làm được việc gì xứng đáng với kỳ vọng của cha mình.

Nhưng tôi biết được một gia đình đặt tên con có chủ ý để thành một câu có ý nghĩa: Cha tên Côngđặt tên con (cả trai lẫn gái) tiếp nối tên mình là “Thành, Danh, Toại; Phỉ, Chí, Nam, Nhi; Bia, Truyền, Tạc, Để” Đó là tên 11 anh chị em của 2 nữ nghệ sĩ lừng danh, Bà Năm Phỉ và Bà Bảy Nam (mẹ nữ nghệ sĩ Kim Cương). Điều lý thú là ông bà Đốc tên Công đã sanh đủ ngần ấy con để thực hiện được cái thú đặt tên con văn chương chữ nghĩa như vậy. Tên 12 người ráp lại thành 3 thành ngữ có nghĩa thành công, hài lòng và lưu danh:

Công Thành Danh Toại,

Phỉ Chí Nam Nhi,

Bia Truyền Tạc Để.

(Đây là câu chuyện tôi nghe bà xã kể, vì Bà mười Truyền vốn là em dâu của ông dượng của bà xã tôi. Chuyện nầy có thể kiểm chứng qua bà Bảy Nam** và Cô Kim Cương, hiện còn sống tại VN. Nếu có gì không thật đúng, xin hoan hỉ đính chính, vì chuyện bà xã tôi nghe biết từ hơn 50 năm về trước. Thời gian khá lâu, không biết trí nhớ có bị suy suyển không. Rất tiếc, tôi không biết họ và chữ lót của 12 người nầy để ghi ra đây. Nếu ai biết, xin bổ sung)

Rất nhiều bậc cha mẹ, nhất là cha, đặt những ước vọng của mình vào tên của các con. Ông bạn mới quen của tôi tên Võ Bát Chấn kể chuyện:

“Cha mẹ tôi định đặt tên các con trai là Thanh, Liêm, Chánh, Trực. Hai anh liền trên của tôi đã là Thanh và Liêm rồi. Tới tôi đáng lẽ phải tên là Chánh. Nhưng một biến cố trọng đại lịch sử, khiến Người đổi ý. Lúc đó (1945) cha tôi chỉ huy lực lượng kháng chiến chống Pháp của 49 làng ở Tiền Giang, và lúc tôi sắp chào đời thì quân đội Pháp đang xua quân phản công tái chiếm miền Nam VN, lực lượng kháng chiến bị giặc Pháp đánh thua tan tát. Từ tiền tuyến được tin hậu phương là người cháu nội đích tôn của chị của mình và đứa con trai thứ của mình mới chào đời, cha tôi đặt tên hai đứa trẻ là Phấn và Chấn, hy vọng tin vui đó sẽ cho ông và các chiến hữu một nguồn sinh lực mới. Tôi chào đời sau 3 ngày, nên nhận tên là Chấn (né được tên Phấn nghe giống tên con gái). Nhưng tên chúng tôi không đem lại cho cha tôi một sự may mắn như ông ao ước, vì chỉ vài tháng sau thì lực lượng của cha tôi hoàn toàn bị đại bại (tầm vông vạt nhọn làm sao chống cự nổi súng đạn)”

Ông còn kể chuyện của gia đình ông:

“Vợ chồng tôi phải bỏ nước ra đi năm 1975. Lúc đó vợ tôi đang có bầu. Niềm hoài niệm quê hương chiếm ngự tim óc, chúng tôi dự tính với nhau sẽ đặt tên con là Việt, Nam. Con đầu lòng của chúng tôi là trai, tên là Việt (1975). Con kế là gái tên là Nam (1978). Chữ Nam trong Việt Nam có nghĩa là phương Nam. Nhưng đứng riêng một mình, Nam còn có nghĩa là nam nữ, nên có nhiều người hỏi tại sao tôi đặt tên con gái là Nam.”

Kỳ vọng của mỗi người đôi khi vượt lên trên ý nghĩa của ngôn ngữ.



Có quy tắc nào để đặt tên con không?

Thưa không! Không có quy tắc chung nào cả. Phần lớn, mỗi người cha tìm một lối có ý nghĩa để đặt tên cho con. Ngày xưa, chuộng đông con, nên đặt tên đứa đầu lòng, mà còn nghĩ đến chuyện liên quan đến đứa kế và nhiều đứa tiếp theo. Do vậy, bậc làm cha mẹ lao tâm khổ trí, mà cũng có cái thú vị trong đó, trong việc đặt tên bầy con. Ngày nay, người Việt “văn minh”, thích ý tưởng “một đổi một”, nghĩa là chỉ sanh tối đa 2 con, và mong đợi được một trai, một gái là lý tưởng nhứt. Nếu không đạt được điều “lý tưởng”, mà đứa con sanh sau lại là con trai, hoặc lại là con gái, thì họ cũng chịu thua ngay, chứ chả ai dám liều mạng như tôi, kiên trì kiếm đứa con gái, mãi đến khi nhà đầy 6 thằng đực rựa mới chịu thua. Thằng em ruột Nguyễn Thành Công, còn kiên trì hơn nữa, mãi đến khi nhà đầy nhốc 9 cô “tôn nữ” mới chịu thua. Còn ông sui của tôi là Đoàn Nhựt Chí la toáng lên “Tôi chưa chịu thua, mà bà xã thấy nhà có 7 cô công chúa, 7 hũ mắm treo đầu giàn, đủ quá rồi, nên bả lén tôi triệt sản. Tôi chịu thua bả thôi!” Bố trong số 7 công chúa đó lấy chồng tứ tán 4 nơi, Nhựt Bổn, Canada, Hoa kỳ, Úc, trong đó có cô con dâu Đoàn Trần Mỹ Huyên của tôi.

Do vậy, thời nay chuyện đặt tên con bớt nhiêu khê. Đôi trai gái lấy nhau, đâu vội lo nghĩ đến chuyện đặt tên con cái. Họ có khoa học yểm trợ, nào phương pháp, nào thuốc, nào áo mưa... để họ thong dong hưởng "tuần trăng mật" suốt đôi ba năm. Sau đó, nếu họ còn "hợp khẩu" nhau, cô gái mới hầm hè đặt điều kiện "Một đứa thôi đấy nhé. Tôi còn phải giữ eo-o. Bụng phải sát để còn mặc được quần trịch rún đó. Thêm đứa nữa là tôi móc ra đấy nhé!" (Lại có khoa học kỹ thuật yểm trợ). Có 1 hoặc 2 đứa con, một trai, một gái, thì đơn giản chọn một tên con trai và một tên con gái dành đó. Đâu có dây mơ rễ má gì nữa mà bận tâm chuyện đặt tên như xưa.

Tên chính của con không có quy tắc nào ràng buộc cả. Ai muốn lấy chữ nào đặt cũng được, thậm chí những chữ không có nghĩa trong tự điển cũng được, như Phạm Thế Ruyệt, Đặng Tiết Rũng, Nguyễn ĐìnhPhư, Mai Thanh Truyết, Nguyễn Đình Bin... và còn nhiều tên vô nghĩa khác nữa. (Những tên vô nghĩa, không có trong tự điển phần lớn là do viên chức hộ tịch viết sai)

Tên chính đã vậy, mà chữ lót, tên đệm, cũng thế. Chữ nào lót cũng được, thậm chí chữ vô nghĩa, không có trong tự điển. Chữ lót có ranh giới giữa nam và nữ, rõ ràng nhứt là chữ "văn" và "thị". Không ai lấy chữ "thị" lót cho tên con trai, và lấy chữ "văn" lót cho tên con gái. Phần lớn, chữ lót nào ráp với tên chính mà làm cho ý nghĩa của tên chính thêm vẻ thướt tha, dịu dàng, quý giá, thì chữ lót đó dành cho tên con gái. Chữ lót mang vẻ dũng mãnh thì dành cho tên con trai. Nói là nói vậy, chứ cái ranh giới đó cũng có người vượt qua.

Đố quý vị, cựu đại tá Nguyễn Mộng Tiên là nam hay nữ quân nhân?

- Thưa, là nam quân nhân đó (Số phone của ông là (408) 254.8690, để quý vị kiểm chứng)

Đố quý vị Nguyễn Trí Minh Quang là trai hay là gái?

- Thưa là nữ hoạ sĩ, con của hoạ sĩ Nguyễn Trí Minh và hoạ sĩ Trương Thị Thịnh.

Tên thấy trên "net" Đào Mộng Xuân, Trần Nam Bình, ai trai, ai gái?

- Thưa Trần Nam Bình là cô, Đào Mộng Xuân là ông (niên trưởng cựu Đại Tá Đào Mộng Xuân).

Nói tóm lại, không có quy tắc nào rõ ràng cho việc đặt tên con cả. Nếu cố tình nghĩ rằng có những quy tắc mơ hồ nào đó, thì cái ranh giới kia cũng không ngăn cấm được ai vượt qua.

Ngay chuyện phân biệt tên dành cho con trai và tên dành cho con gái cũng lỏng lẻo, không có ranh giới nào hết. Ông chú tôi tên Nguyễn Ngọc Châu. Nhân viên làm căn cước quận Ô môn, Cần Thơ (thời Việt Nam Cộng Hoà) sớn sát thế nào mà ghi là "nữ". Vậy Ngọc Châu là tên con trai cũng được, mà tên con gái cũng đâu có sao. Loại nầy nhiều lắm. Phụng, Hoàng là tên của loài chim (một con trống, một con mái) cả hai dùng đặt tên cho con trai, con gái đều được. Loan, Phượng, Yến, Anh... cũng vậy.

Chắc ai cũng biết tên vị tướng Nguyễn Ngọc Loan; chắc nhiều người biết tên ông Đỗ Ngọc Yến, báo Người Việt, Nam Cali. Cả 2 tên đó có vẻ con gái, mà lại là tên của 2 đấng đàn ông. Tên bông hoa nhưHồng, Mai, Cúc,... tên cây, cỏ như Trúc, Liễu... đem đặt cho con trai cũng thiếu gì. Đọc thấy tên tác giảĐàm Bảo Kiếm, thường thấy trên “net”, tôi cứ nghĩ đây là đấng nam nhi, nào ngờ đó là giới hồng quần thướt tha. Ông Khải Chính Phạm Kim Thư từng lên "net" ca ngợi "Ông học giả" Trần Nam Bình, mà Trần Nam Bình thật ra là đàn bà con gái.

Xin kể thêm:

Cựu Trung Tướng Lữ Lan đúng tên là Lữ Mộng Lan, có người anh hay em trai tên là Lữ Mộng Chi. Cả 2 tên đều là tên con gái.

Cựu Đại Tá Trung Đoàn Trưởng của Sư Đoàn 25BB tên Đặng Như Tuyết (sang California được vài năm thì qua đời, tứ cố vô thân, vì cô vợ trẻ bỏ rơi)

Cựu Trung tá Quận Trưởng ở Long An tên Lê Ánh Nguyệt



Phần lớn, nhứt là ở thôn quê, trước kia người ta chỉ lấy một chữ để đặt tên cho con trai và con gái. Ngoài thị thành, trước là người sang, sau nầy, sang hèn gì cũng cá mè một lứa, người ta dùng từ kép, dùng 2 - 3 chữ để đặt tên con gái. Chữ kép, một thời là chữ dành riêng để đặt tên cho con gái. Nhưng bây giờ, đó đây, người ta xé rào, đặt tên con trai bằng từ ngữ kép, bằng 2 chữ.

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#194 Posted : Saturday, October 3, 2015 7:30:06 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Một người có bao nhiêu tên?

Trên nguyên tắc, một người chỉ có một tên. Nhưng trên thực tế một người còn có nhiều tên khác, do người khác đặt cho mình, hoặc do chính mình đặt cho mình. Người bình dân gọi là tên trong, tên ngoài. Tên trong là tên chính thức, do cha mẹ đặt, có ghi trong sổ bộ, ghi trong giấy khai sanh. Tên ngoài là tên tục, có khi cũng do cha mẹ đặt, dùng để gọi hằng ngày. Có nhiều lý do để một người có thêm tên ngoài. (Những người làm chính trị, hoạt động bí mật cho một đảng, thường được đảng đặt cho một bí danh, tên giữ kín – bí mật – chỉ có một số đảng viên biết với nhau mà thôi.)

Người có tên ngoài thường là biết cả 2 tên của mình, ai gọi tên nào, mình cũng biết là gọi mình. Tuy nhiên, cũng không ít trẻ em, đợi đến lúc đi học mới có cơ hội biết tên trong, tên thiệt, của mình là gì. Lúc đầu, có đứa ngơ ngác, đực ra, khi cô giáo gọi đến tên thật của nó. Chừng có người nhắc, nó mới biết là gọi nó. Khổ cho nó, đi học, cô gọi tên trong, về nhà mọi người gọi nó bằng tên ngoài. Năm dài tháng rộng, rồi nó cũng quen cuộc sống 2 tên.

Đặt tên ngoài cho con, có nhiều trường hợp thật tình cờ và khôi hài nữa. Trong xóm tôi ở trọ trước kia (lúc ở VN), có một chủ gia đình còn khá trẻ, làm nghề lao động tay chân, nhà ngày nào cũng tụ tập bạn bè nhậu nhẹt. Năm sanh thằng con cả, anh ta đặt tên trong cho nó là gì tôi không biết, nhưng tên ngoài của nó là"Một Xị", năm kế tôi nghe có thằng tên "Hai Xị", rồi "Ba Xị". Những đứa bé đó lớn lên, đến tuổi đi học, tôi vẫn còn nghe Ba nó gọi "Một Xị", "Hai Xị", "Ba Xị" để sai đi mua rượu. Sau nầy rời khỏi xóm đó, tôi không biết gia đình anh ta có thêm được "Mấy Xị" nữa. Ba đứa đầu là con trai, không biết khi sanh con gái họ có tiếp tục đặt là "Bốn Xị" gái, "Năm Xị" gái không?

Dân ngu khu đen mà còn có 2, 3 tên, thì những người sang cả, người đặc biệt, người “văn minh” vặn vẹo chữ nghĩa, còn có nhiều tên hơn nữa. Nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, ký giả... có thêm rất nhiều tên.


Lý do gì phải có nhiều tên khác như vậy?

Nhiều lý do lắm. Có những lý do chính đáng, như viết tiểu thuyết lấy tên nầy, viết biên khảo lấy tên khác, viết phiếm lấy tên khác nữa, làm thơ thanh lấy tên khác với làm thơ tục; viết móc họng, vạch mặt Việt cộng thì lấy tên bút hiệu ít dùng và giấu kỹ, để phòng tránh đòn thù cho con cái còn kẹt nơi quê nhà... Cũng có những lý do bất chánh. Viết vu cáo, viết bẩn thì ký tên khác, tránh là bài viết nặc danh, mà thực ra y như là thứ nặc danh vậy.

Ngày nay, trên các diễn đàn điện tử, thế giới ảo, những người ưa tranh luận bằng văn phong tục tĩu, thô bỉ rất thường lấy nhiều tên khác nhau để mặc tình muốn viết gì thì viết. Đó là những tên nặc danh. Chính họ cũng không dám cho ai biết đó là chính họ. Ngay cha mẹ, anh em ruột, vợ chồng cũng chẳng biết đó là bút danh họ.

Viết sách tự ca tụng mình, lấy tên khác để mị người, như đặt ra tác giả ma Trần Dân Tiên là lấy một cái tên bút hiệu bất chánh.

Tôi mới tập viết mấy năm nay mà cũng chọn thêm cho mình 2 tên, ngoài “tên trong” Nguyễn Phước Đáng. Cầu mong tôi không lấy thêm tên nào theo chiều hướng bất chánh.

Lý do chung cho mọi người cầm bút dường như là có tên bút hiệu thì mới ra vẻ là nhà văn, nhà thơ, nhà báo... chăng? Người sau bắt chước người trước, hễ có sử dụng tới ngòi bút, viết được dăm ba bài, thậm chí chưa viết được bài nào ra hồn, là phải mau mau chọn cho mình một tên bút hiệu.

Tên bút hiệu cũng nhiêu khê, lắm điều nhiều chuyện. Tên chính Thứ Lễ, lấy bút hiệu là Thế Lữ. ÔngNguyễn Khắc Hiếu, nhà thơ lừng danh Việt Nam, lấy tên Sông Núi quê mình làm bút hiệu là Tản Đà (Núi Tản, Sông Đà).

Ông bạn Võ Bát Chấn kể một chuyện lý thú:

“Hè năm 1961, tôi vào thi vấn đáp Tú Tài I. Giám khảo là Giáo sư kiêm thi sĩ Tạ Ký thấy tôi đáp được trôi trót tất cả câu hỏi, cuối cùng ông phán

- anh mà trả lời được câu nầy thì tôi cho anh điểm tối đa.

Ông hỏi đại ý như vầy:

- Thi sĩ Tản Đà lấy núi Tản, sông Đà ghép lại làm bút hiệu. Trong văn học VN có một người nữa cũng lấy tên sông và tên núi ghép lại làm bút hiệu. Anh có biết người ấy là ai không?

Tôi bí!

Để tôi khỏi ngờ vực câu hỏi, G/s Tạ Ký cho biết:

- Người đó là thi sĩ Bút Trà, tên ông là Nguyễn Đức Nhuận (chồng của bà chủ báo Sàigòn Mới). Núi Thiên Bút và sông Trà Khúc.



Tên bút hiệu bí hiểm TTKH, TCHYA (Có người suy đoán là chữ tắt của câu “Tôi Chưa Hề Yêu Ai”)

Tên bút hiệu của văn sĩ, thi sĩ, ký giả, tên của nhạc sĩ, nghệ sĩ trình diễn, ca sĩ, tài tử, kịch sĩ, kép hát, đào hát cải lương… phần đông do tự mình đặt, hầu hết là từ kép, 2 hoặc 3 chữ, Nhất-Linh, Thế-Lữ, Duy-Lam, Khái-Hưng, Thanh-Tâm-Tuyền,... Thanh-Lan, Khánh-Ly, Ý-Lan, Như-Quỳnh, Duy-Khánh, Công-Thành, Chế-Linh, Trang-Thanh-Lan, Dũng-Thanh-Lâm,...

Thông thường, người ta, người thân cũng như bạn bè, chỉ gọi nhau bằng tên đơn. Kim- Oanh chỉ gọiOanh; Giao-Hoà, chỉ gọi Hoà; Tuyết-Mai chỉ gọi Mai...

Điều trái khoáy là ca sĩ thích có tên kép, nhưng khi nói chuyện trên sân khấu, họ lại ưa tự xưng bằng tên đơn. Công-Thành thì chỉ xưng Thành; Thế-Sơn thì chỉ xưng Sơn; Thanh-Lan chỉ xưng Lan, Việt-Thảo chỉ xưng Thảo, Vân-Sơn chỉ xưng Sơn, Bảo-Liêm chỉ xưng Liêm... Người ngoài thì gọi đủ tên kép của họ. Không ai gọi tên đơn Ly, Lan, Dũng, Thu, Bích... thay cho tên kép Khánh-Ly, Ý-Lan, Việt-Dũng, Lệ-Thu, Lưu-Bích... Có phải tự xưng bằng tên đơn như vậy để tỏ ra còn trẻ, còn ngây thơ chăng?

Theo tôi, như những gì viết ở trên,

. Dùng bất cứ chữ nào đặt tên chính cũng được,

. Dùng bất cứ chữ nào để làm tên đệm (chữ lót) cũng được.

. Tuy nhiên, không ai dùng chữ thô tục để đặt tên hay chữ lót cho con.



Họ Của Người Việt



Ban đầu tôi chỉ có ý định viết về tên của người Việt mà thôi. Nhưng khi nhờ bạn bè đọc lại bản thảo, một số thân hữu đặt vấn đề với tôi về chuyện “họ của người Việt”,

Tôi thật bối rối về vụ nầy, vì những gì tôi viết về tên của người Việt, cách đặt tên, chọn chữ lót, tên trong, tên ngoài, bút hiệu... thì thật bình dân, rất cụ thể. Nghĩa là cái tôi thấy biết rất thực tế, hiện tại, kiểm chứng được. Tôi ít khi nghiên cứu chuyên sâu, đào bới quá khứ, nặng về sách vở.

Tôi lùng bùng về vụ nầy. Lùng bùng lỗ tai thì rồi sẽ qua đi, sau khi phi cơ lên đủ độ cao, hoặc sau khi đã hạ cánh bình an trên phi trường. Nhưng lùng bùng tâm trí thì bao giờ mới hết lùng bùng?

Kêu kể ra, thì phần lớn chúng ta chỉ kể được chừng mười lăm hai mươi họ. Thế mà ta nghe trên đầu môi chót lưỡi 2 tiếng “trăm họ”, “bách tính”.

Từ trang 120 đến trang 123, sách Sơ Thảo Tính Danh Học Việt Nam, tác giả Nguyễn Long Thao kê ra một danh sách họ Việt Nam, gồm 429 họ. Trong đó có "282 trường hợp, tức 65%, có tên người mang họ đó... Số còn lại, chỉ biết có tên họ và chưa biết thực tế có người nào mang tên họ đó không?" Như vậy, thành ngữ "trăm họ", "bách tính" trở thành lỗi thời (số lượng chưa bằng 1/3, 1/4 thực tế). Tôi dùng nghĩa đen của từ “trăm họ”.

Nhiều họ như vậy mà có nhiều người cùng họ mà chả bà con họ hàng gì với nhau, được quyền tự nhiên, vô tư, lấy nhau. Có biết bao nhiêu cặp vợ chồng trùng họ Nguyễn, Lê, Lý, Trần, Phạm, Phan... Tuy nhiên, những cặp vợ chồng cùng họ hiếm thấy như Vòng, Uông, Trà, Tưởng,... thì dễ bị sầm xì tiếng ra tiếng vào.

Tôi có người bạn tù tên Văn Đông Xuân (VNCH)

Ai cũng biết tên ông đại tướng bị hất ra rìa Văn Tiến Dũng (VNDChCH - VC)

Họ "Văn" nầy viết không có “G”, “văn” giọng cầm.

Tôi có cô con dâu tên Văng Thị Tuyết-Mai.

Họ "Văng" nầy viết có “G”, “văng” giọng buông.

Hai họ nầy vốn là một, hay quả thật có hai? Vậy có 100 họ hay có 101 họ?

(Cũng vậy, chắc họ Văng nầy do ông hộ tịch viết sai. Chắc chỉ có họ Văn mà thôi)

Điều ai cũng biết chắc là chỉ có họ đơn thôi. Chưa bao giờ có họ kép, dù mình chưa thấy đủ 100 họ. Ấy vậy mà có rất nhiều người bàn đến họ kép. Từ chuyện bàn cãi nầy, người ta đặt ra lắm vấn đề: Chữ lót đi với họ hay đi với tên? Đi với tên thì tạo ra tên kép. Đi với họ là tạo ra họ kép.

Người ta kể ra nhiều họ kép danh gia vọng tộc, như họ Nguyễn Phước (Phúc), Nguyễn Khoa, Hồ Đắc, Trần Tiễn, Nguyễn Tri.

Họ kép danh giá nhứt VN là họ Nguyễn Phước (Nguyễn Phúc) Đó là họ của vua, của hoàng tộc. Từ đó về sau, nhiều người mang họ Nguyễn tránh né lót chữ Phước, thuở xưa là sợ kỵ huý. Sau nầy, người ta sợ thiên hạ dè bỉu là mình muốn dựa oai hùm, muốn thiên hạ lầm tưởng mình là hoàng thân quốc thích, nên người ta tránh xa chữ lót Phước.

Trong đời, tôi đã có ít nhứt là 10 lần bị người mới quen hỏi “Ông có phải là người trong hoàng tộc không?” Dĩ nhiên, người hỏi không phải là người trong hoàng tộc. Một lần có người hỏi chữ lót Phước của tôi theo tên hay theo họ. Tôi biết ý của người hỏi, nên trả lời, nó không theo họ hay tên gì hết, nó giống như chữ "văn", chữ "thị" vậy thôi.

Mới đây, trong thời gian tôi soạn thảo bài nầy, tôi vô cùng may mắn, gặp được một vị nữ lưu, cô còn rất trẻ, tên là Bửu Thảo. Tôi hỏi:

- Cô Bửu Thảo họ gì?

- Dạ, cháu họ Bửu.

- Họ lạ quá. Tôi đang quan tâm về tên và họ của người Việt. Nhưng tôi không biết họ Bửu!

- Ba cháu là Bửu... Anh cháu là Vĩnh...

Tôi vụt nhớ ra, nhìn sửng cô, hỏi:

- Cô chính là người của hoàng tộc nhà Nguyễn hả? Anh của cô tên Vĩnh... là ngang thế hệ với Vĩnh Thuỵ là vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng nhà Nguyễn. Tính vai vế họ hàng thì vua Bảo Đại gọi ba cô bằng Chú, và cô gọi vua Bải Đại bằng anh?

- Dạ!...

Cô Bửu Thảo e-ấp trả lời tôi bằng tiếng “dạ” rồi thôi. Tôi hiểu tiếng "dạ" đó kín đáo xác nhận mình là hoàng tộc, nhưng không muốn "khoe khoang", chẳng thấy đó là điều hãnh diện với người khác. Cử chỉ, lời nói của cô thật dễ mến.

Tôi nắm lấy cơ hội may mắn nầy, hỏi han về chuyện đặt tên trong hoàng tộc nhà Nguyễn. Cô Bửu Thảo thật dè dặt:

- Cháu không biết nhiều. Ba cháu mới rành. Ba cháu có quyển sách nói về hệ thống dòng họ theo bài thơ "Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh..." Ba cháu thuộc đời Bửu, tên là Bửu...; anh cháu thuộc đời Vĩnh, tên là Vĩnh..., không có Nguyễn Phúc phía trước, chỉ riêng bản thân ngầm biết mình thuộc dòng họ Nguyễn Phúc mà thôi. Cháu là gái, nên lấy chữ Bửu làm họ. Cháu nghe nói sau 20 đời, dùng hết bài đế hệ thi, hết đời "Xương" thì trở lại Nguyễn Phúc...

Sau dịp chuyện trò với cô Bửu Thảo, tôi nghiệm ra đôi điều lý thú:

- Những ai họ Nguyễn mà lót chữ Phước với ý đồ loè thiên hạ, làm người khác hiểu lầm rằng mình có họ hàng với hoàng tộc nhà Nguyễn là hố rồi, vì những người trai chính dòng của hoàng tộc không dùng Nguyễn Phúc (hay Phước) trước tên của mình. Họ lấy chữ đầu của tên mình làm họ cho con gái, và lấy chữ kế trong bài đế hệ thi làm chữ đầu cho tên con trai của mình. Vậy thì những người thực sự thuộc hoàng tộc họ giữ gìn thân thế mình khá kín đáo. Chỉ những ai biết được “qui ước” của dòng họ Nguyễn Phúc (dòng vua) mới nhận ra được họ, qua tên của họ mà thôi. Tuy nhiên, đến Nam Cali, tôi cũng thấy bảng hiệu Văn Phòng Bác sĩ ghi tên Nguyễn Phúc…, Nguyễn Phúc… Hằng ngày nhiều người nghe Bà Kiều Mỹ Duyên quảng cáo sách phong thuỷ của tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Trung, chắc đây là vị hoàng thân quốc thích nhà Nguyễn chính hiệu. Có lẽ ghi Vĩnh Trung trơn thì giống là biệt hiệu, không hiện ra được gốc hoàng tộc của mình???

- Vậy, có gặp ai họ Nguyễn mà tên đủ lót chữ Phước (như tên tôi, Nguyễn Phước Đáng) thì đừng hỏi "ông có phải là người thuộc hoàng tộc không?". Những người có tên Nguyễn Phước... ngày nay đều là thường dân, tay trơn, tay trắng. Đừng ai bị mặc cảm bứt rứt như tôi, "tại sao tên mình cứ làm người ta hiểu lầm?"

- Còn cả 300 năm nữa, cháu 20 đời của vua Minh Mạng mới dùng lại Nguyễn Phúc. Tới lúc đó thì hoàng tộc hay thường dân chắc xêm xêm như nhau. Không còn ai mặc cảm tự tôn, tự ti gì cả.

Do vậy, có ai tên là Nguyễn Phước A, B, C... không hẳn người đó thuộc hoàng tộc nhà Nguyễn, cũng không hẳn họ dựa hơi nhà Nguyễn.

Dù dòng họ Nguyễn Khoa hiện có mặt tại Hoa Kỳ trên 70 thành viên, không hẳn người nào có tênNguyễn Khoa... gì đó, là có dính dáng dòng họ với danh tướng Nguyễn Khoa Nam.

Miền Nam có vị đại thần họ Nguyễn sanh 4 con trai đặt tên là Hữu, Chí, Chánh, Thành. Bốn ông nầy lấy tên mình làm chữ lót cho con, cháu lập ra nhánh Nguyễn Hữu, Nguyễn Chí, Nguyễn Chánh, Nguyễn Thành là 4 dòng tộc cùng một gốc nổi tiếng ở miền Nam.

Cánh Nguyễn Hữu có người là thân phụ của Nam Phương Hoàng Hậu, có Thạc sĩ Luật Nguyễn Hữu Châu, anh rể của Bà Ngô Đình Nhu.

Cánh Nguyễn Chí có Bác sĩ Nguyễn Chí Nhiều.

Cánh Nguyễn Thành có Ông Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam, Ông Nguyễn Thành Lập, chủ Việt Nam Ngân Hàng ngày xưa.

Cánh Nguyễn Chánh cũng có người khá có tiếng trong thập niên 1960, ai còn nhớ tên xin bổ sung.

Vậy chữ lót giữa tên và họ được lập đi lập lại nhiều đời của một dòng tộc thường được dòng tộc đó ghép lại tạo thành "họ kép". Rồi đời sau xúm nhau coi đó là "họ kép". Coi như vậy là không đúng. Dùng chữ lót ghép với họ từ thế hệ nầy qua thế hệ khác, để chỉ cho mọi người biết dòng tộc nhà mình khác với những người cùng họ khác thì còn hiểu được, vì chuyện đó chỉ có vậy, chỉ có đến thế mà thôi, chứ không đủ sức để tạo thêm những họ khác, làm tăng số lượng họ người Việt thêm cao hơn nữa.

Tôi đề nghị dùng hai chữ "dòng họ" Nguyễn Phước để chỉ những người hoàng thân quốc thích của vua Gia Long, nhà Nguyễn, mà không nên dùng "họ" Nguyễn Phước, vì không có họ kép "Nguyễn Phước" trong “trăm họ” Việt Nam. Cũng vậy, không có họ Nguyễn Khoa, họ Nguyễn Tri, họ Nguyễn Đình... gì cả, mà chỉ có "dòng họ" Nguyễn Khoa, "dòng họ" Nguyễn Tri, "dòng họ" Nguyễn Đình... mà thôi.



Tôi đọc qua thấy sách STTDHVN có kê ra các họ kép "Công-Huyền", "Công-Nữ", "Công-Tôn", "Công-Tằng Tôn-Nữ", "Tôn-Thất". Năm họ nầy quả thật có phải là họ không? Các họ nầy có từ thời nào? Có vị đàn ông nào mang họ "Công-Nữ", "Công-Tôn", "Công-Tằng-Tôn-Nữ" không?

Nếu không, thì dòng họ kép "Công..." (2 chữ, 4 chữ) nầy tuyệt giống từ khuya rồi, có đâu còn tiếp nối tới ngày hôm nay?

Tôi cũng chưa từng đọc thấy đấng phụ nữ nào tên là Tôn-Thất Thị A, B, C,...

Tôi và nhiều người hiểu các từ ngữ công-huyền, công-nữ, công-tôn, công-tằng tôn-nữ đặt trước tên phụ nữ là để chỉ cho biết đó là những phụ nữ trong dòng họ vua chúa nhà Nguyễn, và từ ngữ tôn-thấtđứng trước tên các ông là cho biết các ông đó có họ hàng với hoàng tộc. Vậy các người nầy đều phải mang họ Nguyễn chứ?

Bây giờ tôi thấy tên các ông Tôn Thất Đính, Tôn Thất Hùng, Tôn Thất... tùm lum. Vậy các ông đó có họ hàng gì với dòng họ Nguyễn Phúc vua chúa không? Và các ông Tôn Thất có họ hàng với nhau không, có cưới hỏi nhau được không? Mà dường như đâu có Tôn-Thất... phụ nữ để các Tôn-Thất... đàn ông đi cưới? À! Các cậu Tôn Thất có xe duyên kết tóc được với các cô Tôn Nữ không?

Tôi cứ bị ám ảnh nỗi thắc mắc:

"Các quý ông Tôn Thất có họ hàng cật ruột hay xa gần gì với hoàng tộc nhà Nguyễn không?"

Từ đó lây sang nỗi thắc mắc khác:

"Các quý bà, quý cô Tôn Nữ có họ hàng gì với hoàng tộc nhà Nguyễn không?"

Chư liệt vị xứ Huế có ai biết rành chuyện nầy, xin chỉ bảo cho.



Tôi đọc thấy trong danh sách nêu trên có họ Enoul, họ H'mok, họ Kan, họ Kbuôr, họ Knui, họKpa, họ Ksor. Bảy chữ họ nầy không phải là chữ quốc ngữ. Chắc đây là họ của những người sắc tộc Thượng sống trong lãnh thổ Việt Nam.

Tôi biết, trên mặt pháp lý, người Việt là người từng trú ngụ, định cư trên lãnh thổ Việt Nam, có quốc tịch VN đương nhiên, nghĩa là sanh ra và tồn vong tại VN. Ngoài ra, nói cho công bằng, người Việt định cư trên khắp thế giới, dù đã nhập đủ thứ quốc tịch, mà lòng vẫn hoài vọng quê hương, cũng vẫn là người Việt. Vậy, Kinh, Mán, Chàm, Tầy, Thái, Mường, Ra-đê..., Việt nội địa, "Việt kiều" đều là người Việt.

Từ định nghĩa nầy, khi thấy người nào có quốc tịch VN mà không phải là người nước ngoài xin nhập tịch, những người đó mang họ nào, thì họ đó là họ của người Việt.

Học giả Pháp, học giả Anh, Mỹ hay bất cứ người nước ngoài nào nghiên cứu về tên họ người Việt đều làm như vậy. Sau học giả nước ngoài, đến học giả nội địa, tham khảo sách vở của học giả ngoại, cũng làm theo y như vậy. Và cứ như vậy, chúng ta có những sách vở nghiên cứu, biên khảo rất khoa bảng... bây giờ và sau nầy nữa gần y như nhau. Người ta kê ra khá nhiều tác phẩm tham khảo cho một cuốn sách nghiên cứu, nhưng xem kỹ ra thì cuốn sau tham khảo cuốn trước, cứ như vậy chồng chất lên nhau, thành thử số sách tham khảo càng về sau càng nhiều ra.

Về mặt pháp lý thì là vậy. Chuyện không đáng trách, khi người Pháp, Anh, Mỹ,... gọi người “Thượng” và người “Kinh” là người Việt. Nhưng trên thực tế thì không phải vậy, không thể đồng hoá tất cả các sắc tộc trên lãnh thổ Việt Nam là người Việt.

Bạn thường nghe người ta nói "đồng bào" Thượng. Đó là lời nói đầu môi chót lưỡi, không phải từ trái tim. Người ta nói "Kinh, Thượng một nhà". Đó là lời nói "chính trị".

Nói thật ra điều nầy chắc mích lòng nhiều người, nhứt là những nhà chính trị. Người Việt là người Việt, Người Mường, Mán... là Mường, Mán..., không phải là đồng bào.

Tôi nói đúng tâm ý người Việt “Kinh”. Xin quí vị đừng phiền trách sao tôi nói thẳng ra điều đó, nhứt là quí vị sắc tộc Mường, Mán...

Từ ý nghĩ trong sâu thẩm của người Việt “Kinh”, người ta không chấp nhận “họ” của người Việt có tới số 429, nhứt là thấy ghi ra các họ không phải là chữ quốc ngữ (Enoul, H'mok, Kan, Kbuôr, Knui, Kpa, Ksor). Ngay cả 282 “họ” có trong thực tế và trong sổ sách, người ta cũng không chấp nhận những họ A, Ai, An, Áo, Bá, Bà, Bạc, Bê, Bế, Bi, Bì... là họ của người Việt. Ngay cả những họ nhiều người biết như Vầu, Vòng, Nông (Nông Đức Mạnh) cũng không được coi là họ của người Việt. Tôi rất thông cảm với những người "bảo thủ" như vậy.

Vậy thì, tôi đề nghị những nhà nghiên cứu về "tên, họ" người Việt, nên phân biệt ra "họ, tên" người Việt đa số (người “Kinh”, theo lối nói bây giờ của nhiều người) với "tên, họ" của những sắc tộc thiểu số có trên lãnh thổ Việt Nam.

(Tôi đề nghị, nên dùng từ ngữ "sắc tộc" để chỉ dân thiểu số, chứ không dùng từ ngữ "dân tộc". Thí dụ, nên viết như vầy: "Dân tộc" Việt Nam, ngoài người Việt đa số, còn có các "sắc tộc" thiểu số sau đây: Tầy, Thái Trắng, Thái Đen, Mèo, Mán...)



Tới chuyện họ kép, tôi không đồng tình chút nào về chuyện bảo rằng có họ kép. Ai muốn lấy tên đệm (chữ lót) ghép vào họ của mình và con cháu, để phân biệt người trong họ mình với người cùng họ mà chả dính dáng bà-con với mình, được cả. Nhưng công dụng của chữ lót (tên đệm) đó chỉ có vậy thôi, chứ không tạo ra được họ kép, như đã nêu ở trên.

Vậy, trong sách ghi có họ Công-Huyền, Công-Tôn, Công-Nữ, Công-Tằng Tôn-Nữ, Tôn-Thấtthì sao?

Nhận xét về tên người mang những "họ" nầy, có những điều đáng chú ý sau đây:

. Chỉ có nữ mới mang "họ" Công-Huyền, Công-Tôn, Công-Nữ, Công-Tằng Tôn-Nữ,

. Chỉ có nam mới mang "họ" Tôn-Thất,

. Phần đông, người ta cho đó là dòng dõi hoàng tộc nhà Nguyễn,

. Dường như con gái của các nhà Tôn-Thất thì đổi thành Tôn-Nữ. Do vậy, nếu coi khai sanh của những người nầy, ta có thể nghĩ là có họ kép Tôn-Nữ. Mà "Tôn-Nữ" là họ kép thì con gái mang họ "Tôn-Nữ" không phải là con của họ “Tôn-Thất” sao? Còn nếu "Tôn-Nữ" không phải là họ kép thì "Tôn-Thất" cũng vậy. Từ đó suy ra chữ "Thất" và chữ "Nữ" có công dụng y như chữ "Văn" và chữ "Thị": "Thất" để lót cho tên "con trai"; "Nữ" để lót cho tên "con gái". Nếu vậy, thì họ Tôn lót chữ "Thất" cũng như họ Tôn lót chữ "Đức", đều là họ Tôn mà thôi. Tôn Thất Đính với Tôn Đức Thắng đều là họ Tôn mà chẳng họ hàng gì với nhau.

. Từ chuyện "suy ra" như trên, lại nẩy ra thêm "điều đáng chú ý" nữa: Tuy "Thất" giống như "Văn", "Nữ" giống như "Thị" trong chuyện dùng làm chữ lót trong việc đặt tên người Việt, nhưng chữ “Thất” và “Nữ” chỉ dùng lót cho họ Tôn mà thôi, ngoài ra gần như chưa từng thấy 2 chữ nầy lót cho họ khác. Còn 2 chữ “Văn”, “Thị” thì lót được cho bất cứ họ nào, kể cả họ Tôn.

Người người đều nghĩ, ai có 2 chữ “Tôn Thất” đứng trước tên chính là người trong hoàng tộc nhà Nguyễn. Có đúng vậy không?

Thưa, không có gì bảo đảm là đúng cả, dù rất nhiều người tin như vậy, kể cả những người mang tên Tôn Thất... gì đó. Vì, nếu là dòng họ nhà vua, thì tại sao mình không mang họ Nguyễn mà lại mang họ Tôn (dù có chữ Thất đi kèm). Họ Tôn cao quý hơn họ Nguyễn chăng? Nguyễn Phước Hưng nghe không có vẻ hoàng tộc bằng Tôn Thất Hưng chăng? Thật vậy, Nguyễn Phước Sơn nghe không cao quý bằng Tôn Thất Sơn.

Hệ luỵ của chuyện hiểu lầm nầy kéo dài không biết mấy trăm năm rồi, và chắc còn kéo dài... dài dài. Có hai nguyên nhân làm cho chuyện hiểu lầm nầy kéo dài mãi mãi:

1) Người người đều thích mình có dính dáng gì đó với những người có danh vọng, quyền uy. Người xưa há chả nói "Thấy sang bắt quàng làm họ" sao? Huống hồ mình đang mang một "ký hiệu" mà mọi người đều ngầm công nhận là có hơi hướng vua chúa. Những người "Tôn Thất..." không biết đã đành, mà có biết cũng không muốn mất cái danh vị hoàng tộc, dù cái danh vị đó chẳng mang lại chút bổng lộc nào ngày hôm nay (Tuy nhiên, nó cũng đem lại nhiều chuyện ấm lòng)

2) Tôi hỏi một người bạn qua phone:

- Ông Tôn Thất Sơn có phải là người trong hoàng tộc không?

Ông bạn nhanh nhẩu trả lời một cách hãnh diện, mặc dù anh bạn chả rành rẽ gì:

- Đấy, đấy, Bác sĩ Tôn Thất Sơn là người hoàng tộc... Ổng là bạn của tôi...

- Hoàng Tộc sao không mang họ Nguyễn? Tôi nghĩ, không biết Tôn Thất có phải là họ ngoại của hoàng tộc không?

- Không phải! Chắc không phải vậy! Hoàng tộc có thứ dòng chính của vua. Những người đó theo Đế Hệ Thi. Còn hoàng tộc không phải dòng chính, bà-con chú-bác với vua, thì theo Phiên Hệ Thi. Chắc những người "Tôn Thất..." theo Phiên Hệ Thi...

Chuyện Đế Hệ Thi và Phiên Hệ Thi, dùng chỗ nầy thật ra chưa chắc đúng.

- Dòng chính hay dòng bà-con chú-bác đều phải mang họ Nguyễn. Họ khác họ Nguyễn thì chả dính dáng gì tới hoàng tộc cả. Họ khác mà sáp được gần với hoàng tộc chỉ khi nào làm sui được với vua mà thôi, và chỉ sáp gần được một vài thế hệ, chứ không nhảy xổm vào được, và đâu kéo dài mãi tới ngày nay...

Tôi có hai người bạn làm sui với 2 nhà “Tôn Thất...” Hai ông bà sui bên nhà gái đều rất hãnh diện có sui gia là người trong hoàng tộc. Dù hoàng tộc có xa xa một chút cũng có hơi hướng hoàng tộc. Ca dao há không hát hò "Một ngày tựa mạn thuyền rồng, còn hơn suốt kiếp ở trong thuyền chài!", hoặc "Một đêm quân tử nằm kề, còn hơn thằng Mán vỗ về quanh năm". Gẫm ra, sao lại không hãnh diện khi sui gia mình là "Tôn Thất..." Mai nầy, cháu ngoại trai của mình thành "Tôn Thất...", một bước mang danh vị hoàng tộc; Cháu ngoại gái "Tôn nữ"... danh giá cành vàng lá ngọc.

Người trong "Tôn Thất..." cũng như người ngoài "Tôn Thất..." bảo hoàng hơn vua, bảo vệ ý tưởng "Tôn Thất... là dòng vua" còn hơn những ông "Nguyễn Phước..." Các ông "Nguyễn Phước... hoàng tộc" lần lần bị các ông "Nguyễn Phước... dân ngu khu đen" trà trộn, phủ lấp kín mít. Còn các ông "Tôn Thất..." hằng trăm năm qua vẫn mập mờ giữ được rặc giống "hoàng tộc", dù chả có gì chứng minh được là hoàng tộc. Tại sao vậy?

Tôi gọi phone hỏi một số bạn bè. Vài người thật lơ mơ về vụ nầy. Họ mập mờ hiểu đó là dòng họ hoàng tộc. Nhưng chả chứng minh được đó là hoàng tộc:

- Thôi. Ông thử tìm mấy ông "Tôn Thất" mà hỏi. Chắc họ biết...

Tôi không tiện hỏi quí ông “Tôn Thất” chuyện nầy, vì e ngại, như vậy có sỗ sàng không?

Một ông bạn làm sui với nhà "Tôn Thất" rất thân thiết với tôi, vừa cười vừa nói:

- Tìm đề tài khác mà viết. Ông sao ưa đâm đầu vào chuyện tế nhị, làm người nầy, người nọ phiền giận

Nguyễn Phước Đáng

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
Cat' Linh
#195 Posted : Monday, October 12, 2015 11:54:38 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 704
Points: 2,265
Location: fa la la

Thanks: 944 times
Was thanked: 862 time(s) in 463 post(s)
2 users thanked Cat' Linh for this useful post.
phamlang on 10/17/2015(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#196 Posted : Thursday, October 22, 2015 5:33:38 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Một số điều thú vị khi đắm mình trong biển học mênh mông tiếng Việt




“Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi
Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi” (PD
)


Hằng năm khi trường Việt ngữ thông báo có khóa Tu nghiệp Sư phạm, tôi luôn là người hăng hái ghi danh đầu tiên. Một chị bạn thân biết vậy liền nói: “Bộ hưỡn lắm sao, mà cỡ bạn còn tham dự học mấy khóa này?” ( ý bạn ngầm nói tôi dạy môn Văn cấp 3, tốt nghiệp ĐHSP Saigon, có kinh nghiệm giảng dạy mấy chục năm. Khai như vậy không phải để khoe mà để cho thấy sau này bị “quê 1 cục” như thế nào!). Đối với người ngoài là vậy, nhưng đối với người trong cuộc Tiếng Việt càng đi sâu, càng thấy mênh mông, càng thú vị, càng say mê…nó đã biến thành “tiếng lòng tôi” từ lúc nào không rõ!

Tôi yêu câu nói nổi tiếng của Lenin “Học, học nữa, học mãi”, dù tôi rất ghét chủ nghĩa Cộng sản của ông đã làm đất nước tôi điêu đứng mấy chục năm nay. (Ở đây tôi xin mở ngoặc nhỏ, khi tôi nói yêu câu nói nổi tiếng của Lenin vì tính tôi công tâm cái gì hay thì mình khen hay, cái gì đúng thì mình khen đúng, dù là của kẻ thù, nhưng thầy Trí và một số bạn tôi thì không chịu, vì theo kiểu: “ghét ai, ghét cả đường đi lối về” mà như vậy thì thiếu công bằng, mời quý vị đọc tiếp phần sau sẽ rõ). Tôi có 1 điểm yếu là hay viết sai dấu hỏi, ngã, nên khóa tu nghiệp nào tôi cũng ghi tên học lớp “Dấu hỏi, ngã trong tiếng Việt”. Tôi thuộc nằm lòng và áp dụng luật căn bản:

– Sắc – hỏi – không ———-dấu hỏi ( vui vẻ, ngẩn ngơ)

– Huyền – ngã – nặng ——— dấu ngã ( xã hội, dễ dàng)

Vậy đó, mà tôi cứ phải ca hoài bài “Tôi còn yêu…” (xin lỗi tác giả cho tôi đổi chữ chút xíu) ” Tôi còn sai, tôi cứ sai, tôi còn sai mãi, tôi còn sai hoài…”. Cách đây vài tuần 1 cô học trò cũ ( thuộc loại cưng của tôi) ở VN email nhắc nhở:” Bài cô viết hay, cảm động nhưng còn sai nhiều chính tả về dấu hỏi, ngã…”. Thiệt là “quê 1 cục”! Tôi ấm ức quá kể lại với chị bạn “Bắc kỳ chính cống” xem có bí quyết nào chỉ dùm – “Đâu có bí quyết gì, tự nhiên nó có sẵn trong máu rồi nói đúng, viết đúng. Còn bạn là dân “Made in Saigon 100%” nên phải chịu thôi!”. Hơn nữa thử nghĩ xem viết bài khi đang có hứng, chẳng lẽ phải dừng lại suy nghĩ, rồi đi tra tìm xem nó dấu hỏi hay ngã. Tới khi xong thì hứng chạy đi chơi chỗ khác mất tiêu rồi ( nên mong các độc giả thông cảm thứ lỗi cho).

Tuy nói vậy, nhưng tôi cũng quyết tâm học hỏi vì ông bà mình thường nói “còn nước, còn tát”. Hằng năm, ở Nam CA, tôi còn các lớp của khóa TNSP để “tát” sao không tham dự? Mỗi lần đi học tôi lại khám phá ra nhiều điều thú vị về tiếng Việt, để càng thêm tự hào về nó như “Tiếng Việt là tiếng duy nhất trên thế giới có dấu hỏi trong hệ thống chính tả “(độc quyền). Những chữ có dấu hỏi nhiều hơn chữ có dấu ngã (thành thử nếu bí quá thì cứ bỏ đại dấu hỏi, sẽ có xác xuất đúng cao hơn). Phần lớn các trạng từ đều có dấu ngã (đã, vẫn, cũng, nữa, mãi…). Ngoài ra thầy cho biết dân từ Thanh hóa trở ra rất rành về dấu hỏi, ngã, còn từ Nghệ Tĩnh trở vô thì không phân biệt được dấu hỏi, ngã. Vậy thì tôi có “đồng minh” khá đông! Do đó bài viết này dành cho “đồng minh”, ai không phải “đồng minh” xin mời ra chỗ khác chơi nha, mà nói đâu xa lớp học này là lớp có đông thầy cô ghi danh nhất, vậy là tôi cũng đở cảm thấy “cô đơn”, đỡ mặc cảm “tội lỗi”.

Tiếng Việt vô cùng phong phú khi đắm mình trong đó, ta sẽ thấy nó như biển học mênh mông, mà sự hiểu biết của ta chỉ như giọt nước trong biển cả bao la. Hồi học ĐHSP tôi thấy các giáo sư chỉ nghiên cứu 1 khía cạnh thôi ( Ngữ âm tiếng Việt, Từ Hán-Việt, chữ Nôm…) mà sách đọc cả năm chắc cũng chưa hết. Tiếng Việt cùng 1 chữ, nhưng có khi mang nhiều nghĩa khác nhau ( khi thì trạng từ, lúc chủ từ, rồi túc từ, động từ…) như câu 1 câu nói của người miền Nam: “Hôm qua, qua nói qua qua, mà qua hổng qua, hôm nay qua hổng nói qua mà qua lại qua, qua kỳ thiệt há!”. Ngoài ra cùng 1 tiếng, nhưng khác dấu là khác nghĩa mới khổ chứ! Như dạy người ngoại quốc khi chào một người lớn tuổi để tỏ lòng kính trọng thì cúi đầu: “Chào Cụ”, có người lại quên dấu nặng thành ra “Chào Cu”, thiệt là đổ nợ! Cho nên các dấu trong tiếng Việt luôn là “niềm đau khôn nguôi” của người ngoại quốc khi học tiếng Việt. Đặc biệt là cùng một chữ nhưng chỉ dấu hỏi, ngã khác nhau là nghĩa đã khác nhau rồi.

ví dụ
Dấu ngã Dấu hỏi
ngã ( té) ngả tư
dễ dàng khi dể
suy nghĩ nghỉ ngơi
Chục rưỡi (1/2 đơn vị) một trăm rưởi ( trên 100)

Thầy cho ví dụ:
– Tôi mải làm việc nên ít thư cho em, nhưng lòng tôi vẫn yêu em mãi mãi.

– Tôi đi qua ngõ nhà em cả trăm lần nhưng vẫn chưa dám ngỏ ý yêu em!

Tôi thầm nhủ: “Thầy ơi,chắc là lúc mới quen đó! Sau này thì “miễn nói”!

Thầy tuy dạy về ngôn ngữ nhưng coi bộ cũng rành tâm lý nên cho ví dụ về yêu đương là mọi người thích nghe và dễ vô đầu hơn. Bên cạnh đó tiếng Việt còn dựa vào sự hài thanh: Có một em bé học tiếng Việt hỏi cô giáo: “Tại sao nói thèm chảy nước miếng? miếng là gì? ( ai biết xin trả lời dùm, bảo đảm sẽ có nhiều người không biết!) Đơn giản thôi thay vì nói nước (trong) miệng thì nói trại ra là nước miếng.

Đa số tiếng Việt là đơn âm, nhưng cũng có đa âm:

– Chữ đệm : Đỏ loét, xanh lè, tím ngắt, xám xịt…chữ đệm làm tăng nghĩa chữ chính mạnh hơn, nên không thể bỏ thêm “rất” ( Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời (rất) tím ngắt..) dù là màu chân trời rất tím.

– Chữ rút gọn: trẻ (như) măng, rẻ (như) bèo— bèo (giá bèo quá)

Tiếng Việt Nam vô cùng phong phú chỉ cần nêu một ví dụ (vì không có giờ viết hết). Nói về màu đen: ngựa ô, mèo mun, chó mực, tóc huyền, hắc ín…rồi đen nhẻm, đen thui, đen thùi lùi, đen bóng, đen tuyền, đen nhờ nhợ…( cũng tả màu đen nhưng lại tùy theo “đối tượng”, và lại có hàm ý khen, chê, yêu, ghét trong đó). Bởi vậy người ngoại quốc học tiếng VN “chới với” là vậy! Thầy kết luận “Tiếng Việt càng đi sâu càng khó, càng khó, càng thú vị lại càng yêu hơn”, rồi thầy bỏ nhỏ: “giống như yêu ai càng khó lại càng thu hút, càng hấp dẫn, càng say đắm, càng nhào vô…” thành thử :”Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi!” là vậy! Do đó khi vừa “chân ướt, chân ráo” tới Mỹ, việc đầu tiên là tôi đi tìm trường để dạy Việt Ngữ cho các em.

Tiếng Hán Việt mới và Việt Nam đang bị Bắc thuộc lần thứ V?

Việt Nam bị Bắc thuộc lần thứ nhất vào thời An Dương Vương cách đây khoảng 1800 năm. Nói tới An Dương Vương tôi lại nhớ tới câu chuyện vui của một lớp học ở VN, thầy dạy sử đang hỏi một học sinh : “Em cho biết ai đã lấy nỏ thần của ADV?” em HS ngớ ra không trả lời được, thầy giáo bực mình: “Em phải biết ai lấy nỏ thần của ADV chứ?” Hiệu trưởng đi ngang bèn vào can thiệp: “Thôi, em nó không biết ai lấy thì thôi, thầy cứ viết báo cáo lên phòng tài vụ, tôi sẽ chi trả cho vui vẻ cả làng”?! (Ôi nền văn hóa giáo dục VN ngày nay!)

Tổng cộng Việt Nam đã bị Bắc thuộc 4 lần và bây giờ đang bị Bắc thuộc lần thứ 5. Lần Bắc thuộc này rất tinh tế nên nhiều người không thấy, nhưng đa số đều thấy nếu có quan tâm tới tình hình đất nước như tại sao dân biếu tình chống Trung Quốc xâm lăng Hoàng Sa, Trường Sa lại bị đánh đập dã man và rất, rất nhiều người bị bỏ tù? Có một chính quyền quốc gia nào trên thế giới lại hành động như vậy không? Nhạc sĩ Việt Khang sáng tác nhạc bày tỏ lòng yêu nước chống giặc Tàu “ngang tàng trên quê hương ta” lại bị xử án, rồi bị giam cầm??

“Xin hỏi anh là ai?
Không cho tôi xuống đường để tỏ bày
Tình yêu quê hương này, dân tộc này đã quá nhiều đắng cay!
Xin hỏi anh ở đâu?
Ngăn bước tôi chống giặc Tàu ngoại xâm…”

Tuy là người Việt có tinh thần chống ngoại xâm rất cao, nhưng vì là một nước quá nhỏ, ở cạnh một nước quá lớn, nên Tiếng Việt chịu ảnh hưởng tiếng Hán rất mạnh mẽ và sâu rộng, gần như tiếng Hán Việt hiện diện khắp nơi. Ngôn ngữ luôn mang tính chất xã hội nên đời sống nó cũng thay đổi, theo thời gian cách dùng từ sẽ khác nhau. Ví dụ người làm việc cho chính quyền: Quan viên (thời xưa) – Công chức (VNCH) — Quan chức (XHCN). Thật là vô tình mà thành ra hữu lý hết sức khi nhắc đến câu ca dao:

“Con ơi, nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”

Thật là quá đúng với tình trạng tham nhũng công khai của các quan chức XHCN bây giờ!

Bên cạnh đó một số chữ (giống như thời trang) được dùng lại sau một thời gian bị lãng quên: Bưu điện ( tiếng Hán xưa) – Bưu Cục ( thời Pháp thuộc) – Bưu điện (nay dùng lại) hay một chữ khác : Tú tài (VNCH) – Tốt nghiệp phổ thông (sau 75) – Tú tài (hiện nay báo chí trong nước dùng lại thi tú tài). Bên cạnh đó có một số chữ rất có ý nghĩa khi Cộng sản thay đổi chữ dùng:

– Nhà chức trách (VNCH) nghĩa là có chức năng và có trách nhiệm với dân.

– Cơ quan chức năng (XHCN) không hề có trách nhiệm với dân (dân bị bắt vô đồn CA chết khá nhiều) hay là vụ một dân biếu Quốc hội phát biểu khi QH làm sai: “Chúng tôi đại diện cho nhân dân nên khi quốc hội làm sai thì nhân dân chịu trách nhiệm…”!? (Nguyên văn : “Con dại cái mang. Dân bầu quốc hội. Quốc hội làm sai thì dân phải chịu.”)

– Công an Nhân dân, Tòa án nhân dân, Ủy ban nhân dân, Quân đội nhân dân…nghĩa là cái gì cũng “nhân dân” hết, trừ kho bạc nhà nước hay đất đai nhà nước quản lý.

Đúng là CS dùng chữ rất tinh vi, nên Phạm Duy đã nói họ có cả “rỗ danh từ”. Sau 75 nguời Cộng sản muốn dùng từ khác với VNCH nên đã cho ra đời nhiều tiếng Hán Việt mới. Ta thử làm bảng so sánh một số chữ, để thấy chữ nào gần với tiếng Việt hơn, và chữ nào mang âm hưởng Tàu nhiều hơn để dùng cho đúng, vì qua cách dùng chữ cũng thể hiện tinh thần yêu “tiếng nước tôi”.Tôi nghĩ đây cũng là 1 cách “thoát Trung” mà trong nước đang hô hào. Có 1 điều để tránh dùng chữ “trước 75” (sẽ bị nói là níu kéo quá khứ), ta sẽ dùng chữ “Tiếng Việt thuần túy” hay Tiếng Việt chuẩn.

Tiếng Việt chuẩn Tiếng Hán Việt mới

– Giữ lại – Bảo lưu
– Trả lời – Đáp án
– Mục tiêu – Tiêu chí
– Đề nghị – Đề xuất
– Hành nghề – Tác nghiệp
– Suy nghĩ – Tư duy
– Lại gần – Tiếp cận
– Bán quảng cáo – khuyến mãi
– Bất ngờ – Đột xuất
– Không làm được – bất khả thi
– Phẩm chất – Chất lượng ( phẩm chất và số lượng?)
– Ghi tên – Đăng ký

Có lẽ chúng ta cùng đồng ý với nhau là tiếng Việt chuẩn gần với tiếng Việt và ít âm hưởng Trung quốc hơn, đăc biệt là với 2 chữ cuối, vì nó không đúng nghĩa và mang nặng âm hưởng Tàu. Tôi thắc mắc với từ “phản hồi” ( mang âm hưởng TQ nhiều quá, có lẽ lấy từ trong nước ra) mà các báo và các trang Web Việt Ngữ đang dùng, có 1 chị đề nghị thay bằng từ “góp ý” (có lẽ là nói gọn của “góp thêm ý kiến”), thầy chịu quá, khen tấm tắc tiếng “góp ý” vừa đầy đủ ý nghĩa vừa mang tính VN nhẹ nhàng dễ thương hết sức. Vậy thì xin quý vị chủ bút lưu ý điểm này giùm để góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt ở Hải ngoại. Bên cạnh đó có một số chữ mà chính thầy cũng công nhận là : “quá đúng, rất hay và chính xác” như:

– Kinh nghiệm và trải qua ———————- trải nghiệm
– Hành động và thái độ———————–Động thái.

Tôi bèn đề nghị nếu nó “quá đúng, rất hay và chính xác” thì mình nên chấp nhận? Thầy lắc đầu! Bên cạnh đó tôi cũng thấy một số chữ cũng khá chính xác như:

– Nơi xảy ra sự việc ———————– Hiện trường
– Thăm viếng và ngắm cảnh——————-Tham quan

Theo tôi nghĩ mình ghét chủ nghĩa Cộng sản, chứ đâu ghét tiếng Việt, khi nó hay và đúng thì mình phải chấp nhận dùng nó thôi. Thầy bèn cười bảo “Cô này từ nảy tới giờ lo binh phe bên kia không nghen, cho tôi xin số phone, không thôi lát sau giờ học cho tôi gặp riêng để nói chuyện mới được” làm tôi nghe mà giật mình, vì ở VN khi đi dạy hay đi học mà bị đòi “gặp riêng” là có vấn đề rồi. Nhưng đây là xứ Mỹ, nên mỗi người đều có quyền có ý kiến riêng, đâu phải là dưới chế độ độc tài Cộng sản mà chỉ có ý đảng là trên hết dù đảng dắt “cả nước xuống hố” (CNXH), ai nói khác là sẽ bị vô tù…chính vì thế mà tôi yêu quê hương tự do thứ hai của tôi.Và thầy cương quyết giữ vững lập trường: “không thích dùng chữ của người mình không ưa”. Thậm chí tôi biết có người còn ghét dùng cả những “câu thơ hay” của các tác giả trong nước. Đúng là một kiểu “ghét ai, ghét cả tông chi họ hàng”. Riêng tôi hằng ngày có câu tâm niệm:

“Một chẳng chấp, hai chẳng chấp, chất chứa trong lòng chi cho khổ

Trăm điều bỏ, ngàn điều bỏ, thong dong tấc dạ thế mà vui!”

Trở lại với việc dùng tiếng Việt, thầy cho biết đôi khi mình chấp nhận dùng sai để được xã hội chấp nhận mình. Ví dụ: Chúng cư ( đúng)—- Chung cư (sai); Hiệp chúng quốc (đúng)—–Hiệp chủng quốc ( sai), nhưng bây giờ cả xã hội ai cũng dùng chữ “chung cư” và “hiệp chủng quốc” nên mình cũng phải dùng theo để được chấp nhận.

Bên cạnh đó có nhiều từ bây giờ tôi mới nghe nói như “nhớ nhung” (nhớ ít) mà “nhung nhớ”(nhớ nhiều) không biết thầy nói đùa hay nói thiệt đây? rồi câu “con kiến kiện củ khoai” (Kiện là khiêng, kiện hàng), nhưng người ta cứ hiểu sai là “thưa kiện”. Có câu thầy cho người Việt dùng sai một cách “rất đúng” như câu:

“Châu tầm châu, mã tầm mã” (đúng) Châu là thuyền, tàu, người đi thuyền kiếm bạn bè đi chung cho vui, như 1 câu thơ nổi tiếng ở Quảng Nam:

“Chỗ nào vui bằng chỗ mô,
chỗ nào vui như chỗ Phố, chỗ Hàn.
Dưới sông tàu chạy, trên đàng ngựa đua”.

Người Việt đọc chữ “châu” lại tưởng lầm là con trâu, bèn dịch ra “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” (ý xấu) nên sai một cách “rất đúng” vì trâu, ngựa là hai loài thú gần nhau. Người Việt có biệt tài dùng tiếng của nước khác, nhưng lại biến hóa nó thành của riêng mình mà có khi lại còn hay hơn! “Ấy mới hay, ấy mới tài”. Như “Truyện Kiều” ( Đoạn Trường Tân Thanh) của Nguyễn Du lấy ý từ tác phẩm “Kim Vân kiều” của Trung Quốc, nhưng tác giả đã tái tạo và biến hóa nó thành một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời, tả tình tả cảnh đều điêu luyện để mô tả xã hội phong kiến Việt Nam ngày xưa. Ngày nay Truyện Kiều được khen ngợi và dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau trên thế giới và được Unesco công nhận là di sản văn hóa thế giới, trong khi “Kim Vân kiều” chỉ là một truyện loại xoàng không được ai để ý tới.

Trên đây tôi vừa mời các bạn vào thăm một góc nhỏ của “Biển học mênh mông tiếng Việt”. Hy vọng các bạn sau khi đọc xong thêm lòng yêu mến tiếng Việt và cùng nhau góp phần gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt, như lời chị bạn thường nhắc nhở tôi: “Ở hải ngoại , người Việt bây giờ chỉ còn có một cách để biểu hiện lòng yêu nước cụ thể hằng ngày: đó là cố gắng gìn giữ sự trong sáng của Tiếng Việt, đừng để nó bị tha hóa bởi tiếng nước ngoài, nhất là của Trung Quốc”.

Chẳng lẽ chúng ta lại đành lòng như nhà thơ Nguyễn Du đã từng nói:

“Chữ trinh còn một chút này,
Chẳng cầm cho vững, lại giầy cho tan !”

Phượng Vũ


****
Ghi lại theo bài hướng dẫn của Giáo sư Trần Chấn Trí (Tiến sĩ Ngôn ngữ học và văn chương…Giảng dạy Tiếng Việt & Ngôn ngữ học tiếng Việt (UCI )
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#197 Posted : Wednesday, November 11, 2015 4:55:09 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)


[Xe mì Tàu còn giữ đến ngày nay (Ảnh chụp tại xe mì gần Hồ Con Rùa, Sài Gòn)

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa



Có thể nói, bất kỳ một ngôn ngữ trên trái đất này cũng đều trải qua hình thức vay mượn từ các ngôn ngữ khác. Ảnh hưởng về văn hóa là một trong những tác động chính trong việc vay mượn về ngôn ngữ. Ngoài ra, còn phải kể đến các yếu tố khác như địa lý, lịch sử, chính trị và xã hội trong việc hình thành ngôn ngữ vay mượn.

Miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng vốn là một “melting pot”, dễ dàng hòa nhập với các nền văn hóa khác từ tiếng Tàu, tiếng Pháp và cuối cùng là tiếng Anh.

Ở đây, xin được bàn về ảnh hưởng của Trung Hoa mà ta thường gọi nôm na là Tàu cùng những biến thể như Người Tàu, Ba Tàu, Các Chú, Khách Trú và Chệt hoặc Chệc. Gia Định Báo (số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16/2/1870) giải thích:

“…An-nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu v.v… Từ Ba-Tàu có cách giải thích như sau: Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm ăn và sinh sống: vùng Cù Lao Phố (Đồng Nai), Sài Gòn-Chợ Lớn, Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang An Nam, nhưng dần từ Ba Tàu lại mang nghĩa miệt thị, gây ảnh hưởng xấu…”

“…Kêu Các-chú là bởi người Minh-hương mà ra; mẹ An-nam cha Khách nên nhìn người Tàu là anh em, bằng không thì cũng là người đồng châu với cha mình, nên mới kêu là Các-chú nghĩa là anh em với cha mình. Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm vậy…”
“…Còn kêu là Chệc là tại tiếng Triều Châu kêu tâng Chệc nghĩa là chú. Người bên Tàu hay giữ phép, cũng như An-nam ta, thấy người ta tuổi đáng cậu, cô, chú, bác thì kêu tâng là chú là cậu vân vân. Người An-nam ta nghe vậy vịn theo mà kêu các ảnh là Chệc…”

Cách giải thích thuật ngữ nói trên của Gia Định Báo từ thế kỷ thứ 19 được coi là tạm ổn vì đây là một trong những tài liệu xưa có xuất xứ từ miền Nam. Theo Lê ngọc Trụ trong Tầm nguyên Tự điển Việt Nam, chệc hay chệt là tiếng Tiều gọi chữ thúc, nghĩa là “em trai của cha”. Người bình dân gọi Chệc để chỉ chung người Hoa.

Người Quảng Đông cho là gọi như thế có ý miệt thị, người Triều Châu trái lại, chấp nhận vì họ được tôn là chú. Ở miền Nam, “các chú” Quảng làm ăn buôn bán khá hơn “các chú chệc” người Tiều lam lũ trong nghề làm rẫy, tằn tiện nên không biết có phải vì vậy mới có câu:

Quảng Đông ăn cá bỏ đầu
Tiều Châu lượm lấy đem về kho tiêu!

Người Tiều lại chê dân Quảng không biết ăn cá. Họ nói món cháo cá Tiều khi ăn có vị ngọt đặc biệt nhờ chỉ rửa sạch bên ngoài, giữ lại nguyên si vảy, đầu và cả ruột! Dân Tiều ở miền Nam “chuyên trị” những món cá chim hấp, bò viên, tôm viên, ruột heo nấu cải chua… và nhất là món hủ tíu Tiều Châu.
Người ta còn dùng các từ như Khựa, Xẩm, Chú Ba… để chỉ người Tàu, cũng với hàm ý miệt thị, coi thường. Tuy nhiên, có sự phân biệt rõ ràng trong cách gọi: phụ nữ Tàu được gọi là thím xẩm còn nam giới thì lại là chú ba.

Năm 1956, chính phủ Ngô Đình Diệm của nền Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963) đã có một quyết định khá táo bạo, buộc tất cả Hoa kiều phải nhập quốc tịch Việt Nam, nếu không sẽ bị trục xuất.

Thương nghiệp tại miền Nam sau thời Pháp thuộc phần lớn nằm trong quyền kiểm soát của Hoa kiều. Vì vậy, chính phủ cố tạo sức mạnh cho doanh nhân Việt bằng cách hạn chế quyền lợi của người Hoa.

Đạo luật 53 cấm ngoại kiều (nhắm vào Hoa kiều) tham gia 11 nghề liên quan đến thóc gạo, điền địa, buôn bán thịt cá, than đá, dầu lửa, thu mua sắt vụn… được chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành vào tháng 9/1956. Đạo luật này đã làm xáo trộn kinh tế trong nước nhưng đã có tác động mạnh đến nền công thương nghiệp của người Việt vào thời kỳ đó. Đa số người Hoa đã nhập tịch Việt, tính đến năm 1961, trong số 1 triệu Hoa kiều ở miền Nam chỉ còn khoảng 2.000 người giữ lại Hoa tịch.

Người Tàu kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc ba lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện… và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập cảng. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường. Cũng vì thế, ở Sài Gòn có câu mỉa mai: “Sống phá rối thị trường, chết chật đường chật sá” để ám chỉ người Tàu khi còn sống lũng đoạn nền kinh tế và đến lúc chết lại tổ chức những đám ma một cách rình rang.

Cũng như người Tàu ở Hồng Kông và Macao, người Tàu ở miền Nam đa số nói tiếng Quảng Đông (Cantonese) chứ không nói tiếng Quan Thoại (Mandarin) mà ngày nay gọi là tiếng Phổ Thông. Cũng vì thế, ngôn ngữ Sài Gòn xưa vay mượn từ tiếng Quảng Đông được khoảng 71 triệu người Hoa trên khắp thế giới sử dụng.

Người Sài Gòn thường ví những người “ăn nói không đâu vào đâu” là “nói hoảng, nói tiều” thực ra là “nói tiếng Quảng Đông, nói tiếng Triều Châu”. Điều này cho thấy tiếng Quảng Đông xuất hiện rất nhiều trong ngôn ngữ miền Nam trước năm 1975, kế đến mới là tiếng Triều Châu. Trên thực tế, người Tàu có đến 5 nhóm Hoa kiều, được gọi là Ngũ Bang tại miền Nam: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Khách Gia (người Hẹ).

Trong lĩnh vực ẩm thực của Sài Gòn xưa, ảnh hưởng của người Tàu gốc Quảng Đông rất đậm nét.
Nói cho công bằng, bên cạnh số đông các tửu lầu, cao lâu của người Tàu gốc Quảng Đông, ở Sài Gòn – Chợ Lớn cũng có lai rai một số tiệm Tàu khác như tiệm Hủ tíu Triều Châu ở đối diện Chợ Lớn Mới, Cơm Gà Hải Nam ở Chợ An Đông hay đường Tôn Thọ Tường.

Theo nhà văn Bình-nguyên Lộc, thời tiền chiến trước 1945, các phổ ky trong tiệm Tàu còn có kiểu kêu vào bếp những món ăn thực khách gọi y như người ta gọi “lô-tô” (bingo), dĩ nhiên bằng tiếng Quảng Đông:

– Bàn số 3, bên Đông, bà lùn, cà phê ít, sữa nhiều!
– Bàn số 4, bên Đông, hủ tíu không giá.
– Bàn số 1, bên Tây, thêm bánh bao ngọt thằng nhỏ.
– Bàn số 2, bên Tây, ông già râu, cà phê đen ly lớn, xíu mại to.

Chủ tiệm thường biết rõ tính nết và sở thích ăn uống của mỗi khách quen, nên họ thường đặt cho mỗi người một cái tên thuộc loại… “hỗn danh”. Khi khách ăn xong lại quầy trả tiền thì phổ ky rao những câu hóm hỉnh bằng tiếng Quảng Đông, chẳng hạn như:

– Ông đầu hói mang khăn rằn, một đồng hai cắc.
– Bà hai mập, ba đồng sáu cắc.
– Ông chủ ốm nón nỉ, tám đồng tư, hai bánh bao mang về.

Nổi tiếng tại Sài Gòn xưa có các nhà hàng Đồng Khánh, Arc-en-ciel, Soái Kình Lâm, Bát Đạt, Á Đông, Đại La Thiên, Triều Châu…
Cơm Tàu thường được để trong những cái thố nhỏ nên được gọi là cơm thố, chỉ là cơm trắng dùng chung với các món ăn nhưng không nấu bằng nồi mà chỉ hấp cách thủy để cho chín gạo. Thông thường một người ăn chừng một hoặc hai thố là no. Có người lại ca tụng ăn cơm thố chỉ cần chan chút hắc xì dầu (nước tương đen) pha với dấm Tiều thêm chút ớt là đã thấy ngon rồi.

Nghĩ lại cũng đúng nhưng nếu ăn kiểu này thì những tiệm nổi tiếng như Siu Siu bên hông chợ An Đông hay Siu Siu ở đầu hẻm Nguyễn Duy Dương (hình như ở số nhà 61) chắc đã dẹp tiệm từ lâu rồi.
Cơm chiên Dương Châu cũng là món ăn du nhập từ Quảng Đông. Nhiều người rất khoái cơm chiên nhưng ít người biết từ khởi thủy đây chỉ là các thức ăn dư thừa được chế biến lại.
Cũng thuộc loại thức ăn dư thừa có món tài páo (bánh bao). Bạn không tin ư? Nhân bánh bao là thịt vụn được xào lên, trộn với lạp xưởng và trứng (sau này được thay bằng trứng cút kể từ khi dịch cút lan truyền khắp Sài Gòn, nhà nhà nuôi cút, người người ăn trứng cút). Vỏ bánh bao được làm bằng bột mì, sau khi hấp chín bột nở phình ra trông thật hấp dẫn.
Có người bảo cơm chiên Dương Châu và bánh bao thể hiện tính tằn tiện và tiết kiệm của người Tàu, không bỏ phí thức ăn thừa! Nói cho vui vậy thôi chứ từ cơm chiên, bánh bao đến các loại sơn hào hải vị như bào ngư, vi cá, yến sào… đều đòi hỏi cách chế biến, đó là nghệ thuật nấu ăn.

Các tiệm “cà phê hủ tíu” của Tàu lan rộng ra nhiều nơi chứ không riêng gì trong Chợ Lớn. Khắp Sài Gòn, Gia Định rồi xuống đến Lục Tỉnh đi đâu cũng thấy những xe mì, xe hủ tíu, chỉ nhìn cách trang trí cũng có thể biết được chủ nhân là người Tàu. Họ có kiểu cách riêng biệt với những chiếc xe bằng gỗ, thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên xe là những tấm kính tráng thủy có vẽ hình các nhân vật như Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi, Triệu Tử Long… trong truyện Tam Quốc.



Thịt quay Chợ Lớn

Ăn điểm tâm thì có mì, hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại… Khách thường gọi một ly xây chừng, đó là một ly cà phê đen nhỏ hay tài phế (cà phê đen lớn). Sang hơn thì gọi phé nại (cà phê sữa) hoặc bạt xỉu (nhiều sữa nhưng ít cà phê) với sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ hoặc Con Chim. Có người lại dùng bánh tiêu hoặc dầu-cha-quẩy nhúng vào cà phê để ăn thay cho các món điểm tâm đắt tiền.

Vào một quán nước bình dân trong Chợ Lớn ta có thể gọi một ly suỵt xủi và người phục vụ đem ra một ly đá chanh mát lạnh. Tại các tiệm “cà phê hủ tíu” luôn luôn có bình trà để khách có thể nhâm nhi nhậm xà (uống trà) trước khi gọi phổ ky đến để thảy xu (tính tiền). (Nhậm xà còn có nghĩa là tiền hối lộ, tiền trà nước). Người sành điệu còn “xổ” một tràng “broken Cantonese”: “Hầm bà làng kỵ tố?” (Hết thảy bao nhiêu tiền?).

Những từ ngữ vay mượn của người Tàu dùng lâu hóa quen nên có nhiều người không ngờ mình đã sử dụng ngôn ngữ ngoại lai. Chẳng hạn như ta thường lì xì cho con cháu vào dịp Tết hoặc lì xì cho thầy chú (cảnh sát) để tránh phiền nhiễu, cũng là một hình thức hối lộ.

Lạp xưởng (người Bắc gọi là Lạp xường) là một món ăn có nguồn gốc từ bên Tàu, tiếng Quảng Châu là lạp trường: ngày lễ Tất niên và ruột heo khô. Cũng vì thế vào dịp giáp Tết các cửa hàng nổi tiếng như Đồng Khánh, Đông Hưng Viên trưng bày la liệt các loại lạp xưởng, nào là lạp xưởng mai quế lộ, lạp xưởng khô, lạp xưởng tươi…
Chế biến lạp xưởng là nghề của các Chú Ba trong Chợ Lớn. Lạp xưởng được làm từ thịt heo nạc và mỡ, xay nhuyễn, trộn với rượu, đường rồi nhồi vào ruột heo khô để chín bằng cách lên men tự nhiên. Lạp xưởng màu hồng hoặc nâu sậm vì chắc hẳn có thêm chút bột màu.

Lạp xưởng ở Sóc Trăng thuộc miền Lục tỉnh cũng rất nổi tiếng cùng với món bánh pía, một món đặc biệt của người Tiều gốc từ Triều Châu. Đôi khi bánh pía còn được gọi là bánh lột da, thực chất có nguồn gốc từ bánh trung thu theo kiểu Tô Châu nhưng khác với loại bánh trung thu mà ta thường thấy. Đây là loại bánh có nhiều lớp mỏng và nhân bánh có trộn thịt mỡ.

Bánh pía do một số người Minh Hương di cư sang Việt Nam từ thế kỷ 17 mang theo. Trước đây, việc làm bánh pía hoàn toàn mang tính thủ công và phục vụ cho nhu cầu của từng gia đình. Bánh pía ngày trước cũng khá đơn giản, vỏ ngoài làm bằng bột mì có nhiều lớp da mỏng bao lấy phần nhân, lớp da ngoài dày thường để in chữ, nhân làm bằng đậu xanh và mỡ heo chứ không có lòng đỏ trứng muối và các loại thành phần khác như ngày nay.

Do thị hiếu của người tiêu dùng mà các lò bánh mới thêm các thành phần hương liệu khác như sầu riêng, khoai môn, lòng đỏ trứng muối…
Vịt quay Bắc Kinh và vịt quay Tứ Xuyên là những món nổi tiếng của Tàu. Đặc trưng của món vịt quay là da vịt mỏng, giòn, màu vàng sậm. Tại miền Nam, vịt quay và thịt heo quay cũng được người Quảng Đông đưa vào danh sách ẩm thực. Vịt quay hoặc heo quay theo đúng kiểu Tàu là phải ăn với bánh bao chay (không nhân) nhưng người Việt cũng chế thêm món bánh hỏi thịt quay ăn với các loại rau, chấm nước mắm cho hợp với khẩu vị. Ngày xưa, trong Chợ Lớn, nổi tiếng về heo quay, vịt quay có khu vực đường Tôn Thọ Tường, ở Sài Gòn thì khu Chợ Cũ có vài tiệm heo quay của người Tàu. Chuyện kể có một ông cà lăm đi mua thịt quay, khi ông lắp bắp: “Bán… cho tôi… 20 đồng… thịt quay…” thì Chú Ba với tay nghề chặt thịt cũng vừa chặt xong đúng 20 đồng!

Hết “ăn” giờ lại sang đến “chơi”. Chuyện cờ bạc trong ngôn từ của người Sài Gòn xưa đã xuất hiện không ít những từ ngữ từ tiếng Tàu. Tài Xỉu (phiên âm từ tiếng Tàu có nghĩa là Đại – Tiểu) là trò chơi dân gian có từ rất lâu. Chỉ cần 1 cái đĩa, 1 cái bát và 3 hột xí ngầu cũng có thể lập sòng tài xỉu nên còn có tên là xóc đĩa.

Hột xí ngầu có sáu mặt, mỗi mặt có từ một đến sáu chấm, tương đương từ một đến sáu điểm. Khi ráp sòng, người ta để cả ba hột lên chiếc đĩa sứ, chụp bát lên trên rồi lắc. Tổng số điểm của ba hột từ mười trở xuống gọi là xỉu, trên con số mười là tài. Sau khi chủ sòng lắc đĩa, người chơi đoán hoặc tài hoặc xỉu mà đặt cược. Chuyện thắng thua trong tài xỉu tùy thuộc vào tay nghề của người xóc đĩa, còn được gọi là hồ lỳ. Xác suất chủ sòng là từ 60 đến 70% thắng nhưng vì lỡ mang kiếp đỏ đen nên con bạc vẫn bị thu hút vào sòng xóc đĩa.



Các loại bài và hình thức chơi bài cũng có xuất xứ từ tiếng Tàu. Binh xập xám (13 cây) có những thuật ngữ như mậu binh (không cần binh cũng thắng), cù lủ (full house) là 3 con bài cùng số và một cặp đôi, ví dụ như 3 con chín + 2 con K (lớn nhất là cù lủ ách (ace), nhỏ nhất dĩ nhiên là cù lủ hai, thùng (flush) là 5 con cùng nước (suit) mà không theo trật tự liền nhau, ngược lại là sảnh (straight) là 5 con theo trật tự liền nhau nhưng không cùng nước. Kho từ vựng trong xập xám còn có xám chi (3 con cùng loại – three of a kind), thú (two) hay thú phé (two separate pairs) là hai cặp và một con bất kỳ nào khác. “Thứ nhất tứ quý (4 con bài cùng số) thứ nhì đồng hoa (cùng một nước như cơ, rô, chuồn, bích)” là một trong số cả rừng từ ngữ của dân binh xập xám.

Ở phần trên đã bàn về hai khía cạnh “ăn” và “chơi”, còn một khía cạnh đóng vai trò không kém phần quan trọng là “làm” của người Tàu. Nghề nghiệp được xếp thấp nhất của người Tàu là nghề lạc xoong hay nói theo tiếng Việt là mua ve chai, người miền Bắc gọi là đồng nát.

Chú Hỏa (1845-1901), người Phúc Kiến, xuất thân từ nghề này nhưng về sau lại là một trong 4 người giàu nhất Sài Gòn xưa: “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa”.
Một số người Tàu hành nghề bán chạp phô với các mặt hàng thuộc loại tả pín lù nhưng sẵn sàng đáp ứng được mọi nhu cầu hằng ngày của người lao động trong xóm. Tiệm chạp phô chỉ có mục đích lượm bạc cắc từ cây kim, sợi chỉ đến cục xà bông Cô Ba, quả trứng, thẻ đường. Người Tàu kiên trì trong công việc bán tạp hóa, ông chủ ung dung đếm tiền mỗi tối và ẩn dưới tiệm chạp phô là cả một gia tài được tích lũy. Người ta chỉ biết điều này khi có phong trào vượt biên. Tính rẻ “3 cây một người” thế mà cả gia đình chủ tiệm chạp phô vẫn thừa sức vượt biển để tìm đến bến bờ tự do.

Cao cấp hơn là những xì thẩu, những người thành công trong kinh doanh. Điển hình cho giai cấp xì thẩu là Trần Thành, bang trưởng Triều Châu, với hãng bột ngọt Vị Hương Tố rồi các mặt hàng mì gói Hai Con Tôm, nước tương, tàu vị yểu đã chinh phục thị trường miền Nam từ thập niên 60 để trở thành “ông vua không ngai trong vương quốc Chợ Lớn”.

Xì thẩu Lý Long Thân làm chủ 11 ngành sản xuất và dịch vụ, 23 hãng xưởng lớn: hãng dệt Vinatexco, Vimytex, hãng nhuộm Vinatefinco, hãng cán sắt Vicasa, hãng dầu ăn Nakyco, hãng bánh ngọt Lubico, Ngân Hàng Nam Việt, Ngân Hàng Trung Nam, khách sạn Arc en Ciel, hãng tàu Rạng Đông…

Xì thẩu Lâm Huê Hồ được nhiều người gọi là “chủ nợ của các ông chủ”. Ông là người giữ nhiều tiền mặt nhất miền Nam, số tiền ông có trong tay bằng vốn của nhiều ngân hàng tư nhân cỡ nhỏ như Nam Đô, Trung Việt gộp lại. Lâm Huê Hồ còn nổi tiếng là vua phế liệu, chuyên thầu quân cụ và võ khí phế thải rồi bán lại cho những doanh nhân trong ngành luyện cán sắt hay bán lại cho Nhật Bản. Người Sài Gòn thường nói: “Trần Thành, Lý Long Thân chỉ có Tiếng nhưng Lâm Huê Hồ lại có miếng”.

Xì thẩu Vương Đạo Nghĩa, chủ hãng kem đánh răng Hynos, là một người có óc làm ăn cấp tiến. Ông là người có rất nhiều sáng kiến để quảng cáo sản phẩm trên các cửa hàng ăn uống, chợ búa, hệ thống truyền thanh và truyền hình.
Có rất nhiều xì thẩu được Sài Gòn xưa gọi là vua. Trương Vĩ Nhiên, “vua ciné”, là chủ hãng phim Viễn Đông và gần 20 rạp ciné tại Sài Gòn – Chợ Lớn: Eden, Đại Nam, Opéra, Oscar, Lệ Thanh, Hoàng Cung, Đại Quang, Palace, Thủ Đô…; Lý Hoa, “vua xăng dầu”, là đại diện độc quyền các hãng Esso, Caltex, Shell phân phối nhiên liệu cho thị trường nội địa; Đào Mậu, “vua ngân hàng”, Tổng giám đốc Trung Hoa Ngân Hàng (một trong hai ngân hàng châu Á lớn nhất tại Sài Gòn cùng với Thượng Hải Ngân Hàng).

Bên cạnh đó lại có Lại Kim Dung là “nữ hoàng gạo”. Giá gạo tại miền Nam là do công ty của bà ấn định, chính phủ đã có lúc phải hợp tác với “nữ hoàng gạo” để ổn định giá gạo trên thị trường. Tạ Vinh là một trường hợp xì thẩu đặc biệt. Năm 1964, Tạ Vinh bị Ủy Ban Hành Pháp Trung ương của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ xử bắn tại pháp trường cát trước chợ Bến Thành vì tội “gian thương, đầu cơ tích trữ gạo, gây xáo trộn thị trường”. Dân chúng và báo chí gọi Tạ Vinh là “hạm gạo”.

Nguyễn Ngọc Chính
(Hồi ức một đời người)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#198 Posted : Sunday, November 15, 2015 1:08:21 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Cách Viết Hoa Trong Tiếng Việt


Sau mười năm sống ở Mỹ tức khoảng năm 1995 và sau khi đã làm việc trong các trường học, theo dõi các bài giảng dạy viết văn của học sinh Mỹ, đọc các sách biên khảo về văn chương Hoa Kỳ tôi mới bắt đầu hiểu một số vấn đề như quy tắc viết hoa:

Cali Today News - Đôi khi trong đời người ta, viết văn chỉ vì nhu cầu thôi thúc chứ thực ra nhà văn chưa chắc đã nắm vững một số kỹ thuật hoặc nguyên tắc viết văn. Ngay chính bản thân tôi cũng rơi vào trường hợp như vậy.

Ðiều này cũng dễ hiểu vì tôi không tốt nghiệp hoặc chưa theo học một truờng hoặc một lớp dạy viết văn nào. Mặc dầu tôi đã trải qua sáu năm đại học nhưng ở đại học người ta không chấm điểm theo nghệ thuật viết văn mà chấm điểm theo nội dung bài vở. Cho nên khi khởi đầu viết tác phẩm “Những Sự Thực Không Thể Chối Bỏ” năm 1987 thì kỹ thuật viết văn của tôi như nguyên tắc viết hoa, cách chấm câu v.v.. hoàn toàn là của Lớp Ðệ Thất, Ðệ Lục với lời dạy của thầy, cô trong môn Việt Văn rất đơn sơ mà tôi chỉ còn nhớ lõm bõm.

Sau mười năm sống ở Mỹ tức khoảng năm 1995 và sau khi đã làm việc trong các trường học, theo dõi các bài giảng dạy viết văn của học sinh Mỹ, đọc các sách biên khảo về văn chương Hoa Kỳ tôi mới bắt đầu hiểu một số vấn đề như quy tắc viết hoa:


I. Quy tắc viết hoa trong văn chương Việt Nam

Trước khi nói về nguyên tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ chúng ta thử tìm hiểu xem nguyên tắc viết hoa của văn chương Việt Nam như thế nào. Theo tôi, khi tổ tiên chúng ta còn xử dụng tiếng Hán để làm văn tự thì chắc chắn không có quy tắc viết hoa. Khi chữ quốc ngữ được sáng tạo thì quy tắc viết hoa của chúng ta đã được mô phỏng hoặc bắt chước theo lối viết hoa của văn chương Pháp.

Thế nhưng quy tắc mà chúng ta ứng dụng hoặc bắt chước lại hỗn loạn và không thống nhất. Tôi không hiểu lỗi này do cha ông chúng ta không có một Hàn Lâm Viện để đặt một quy tắc thống nhất hoặc giả đây là lỗi của nhà văn, nhà xuất bản, của ban biên tập, của người sắp chữ (sau này là người đánh máy)? Riêng bản thân tôi, cho mãi tới năm 2000 – tức là sau 15 năm viết văn tôi mới chính thức tuân thủ lối viết hoa thống nhất theo văn chương Hoa Kỳ.

Ðiều này qúy vị độc giả có thể nhận thấy trong cuốn Ký Sự 15 Năm xuất bản năm 2000. Chứ còn 5 tác phẩm về trước, lối viết hoa của tôi hoàn toàn không thống nhất và hết sức lộn xộn. Sau đây là lối viết hoa trong văn chương Việt Nam theo thứ tự thời gian mà tôi đưa ra như những điển hình.



1)Viết hoa theo Việt Nam Tự Ðiển Khai Trí Tiến Ðức (1931):

Chỉ viết hoa chữ đầu, chữ sau không viết hoa và có gạch nối giữa các chữ. Thí dụ:

Kinh-dương-vương

Hà-nội, Hà-nam, Hà-tĩnh, Giáo-sư, Giáo-sĩ, Hương-giang, Nga-la-tư, Thái-bình-dương

Thế nhưng: A-di-đà-Phật (chữ Phật cuối cùng lại viết hoa)



2) Lối viết hoa không thống nhất trong Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng:

-Tên người: Viết hoa cả họ, tên và chữ lót theo văn chương Mỹ nhưng vẫn có gạch nối theo lối cũ. Thí dụ: Dương-Huy, Nguyễn-Thiết-Thanh, Nguyễn-Yên. Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết: Dương-thị-Mai (chữ thị không viết hoa)



-Tước hiệu, chức vụ: Thường không viết hoa và rất lộn xộn. Thí dụ:

cụ tú Ninh-Bắc, cụ tú Lãm, ông hàn Thanh

nhưng ở một chỗ khác lại viết Bà Cán, ông Tham Lộc

(Tham ở đây là một tước vị lại viết hoa)



-Ðịa danh, dinh thự, công viên, thành phố, trường học:

Khái Hưng chỉ viết hoa chữ đầu và vẫn có gạch nối theo lối cũ. Thí dụ:

Phúc-yên, Hà-nội, chùa Bách-môn

Thế nhưng ở những chỗ khác tất cả lại viết hoa. Thí dụ:

Thạch-Lỗi, Quan-Thánh, Phú-Thọ, Trù-Mật, Ninh-Bắc, Nam-Ðịnh, Gia-Lâm



Các con đường, con sông Khái Hưng viết hoa cũng không thống nhất: Thí dụ:

đường Quan-Thánh (Quan Thánh viết hoa)

Sông Tô-lịch (sông lại viết hoa, lịch lại không viết hoa)

Ngày, tháng Khái Hưng không viết hoa. Thí dụ: thứ bảy



3) Lối viết hoa của Nhất Linh trong Bướm Trắng:

-Về địa danh, Nhất Linh chỉ viết hoa chữ đầu và có gạch nối theo lối cũ. Thí dụ:

Sầm-sơn, Hà-nội, Khâm-thiên, Chợ-lớn

Thế nhưng Sài Gòn có chỗ lại viết:

Sài gòn (không gạch nối)

Sài-gòn (có gạch nối)

Nhật bản (không gạch nối)

-Về tên người Nhất Linh viết hoa theo lối Mỹ. Thí dụ:

Bác-sĩ Trần Ðình Chuyên (không gạch nối, chữ lót viết hoa)

Nhưng ở một chỗ khác lại viết: Vũ-đình-Trương (có gạch nối và chữ lót lại không viết hoa)



4) Lối viết hoa không thống nhất của Thanh Tịnh trong Quê Mẹ:

-Các địa danh chỉ viết hoa chữ đầu và có gạch nối.

Thí dụ: phá Tam-giang, trường Mỹ-lý, Trung-kỳ, Hà-nội

Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết:

Trường Mỹ-lý (trường viết hoa mà không phải ở đầu câu)

làng Hòa ấp (lại không có gạch nối)

chùa Ðồng Tâm (chữ tâm lại viết hoa và không có gạch nối)

-Chức vụ chỉ viết hoa chữ đầu. Thí dụ: Hương-thơ

Thế nhưng ở những chỗ khác lại viết:

ông đốc (đốc không viết hoa)

ông Huyện Phong (hai chữ sau lại viết hoa)

Miếu Thần Ðá (tất cả lại viết hoa)

miễu Thánh (chữ miễu không viết hoa)

-Các tên người đều viết hoa theo lối Mỹ nhưng có gạch nối. Thí dụ:

Hoàng-Thiên-Y, Khổng-Tử, Lý-Tịnh, Na-Tra

Nhưng ở một chỗ khác lại viết:

Lê Bá Xuân (không gạch nối)



5) Lối viết hoa không thống nhất của Hoàng Văn Chí (1964):

Về tên các quốc gia: Viết hoa theo lối Mỹ nhưng vẫn có gạch nối. Thí dụ:

Việt-Nam, Ðông-Nam-Á, Ðông-Dương, Hòa-Lan

Nhưng ở nhiều chỗ khác chỉ viết hoa chữ đầu:

Hoa-kỳ, Thái-lan, Ấn-độ, Trung-cộng, Tây-tạng,

Tên các nhân vật: Có lúc viết hoa theo lối Mỹ nhưng vẫn có gạch nối. Thí dụ:

Khuyển-Dưỡng-Nghị, Tôn-Văn, Vương-Dương-Minh

Thế nhưng ở những chỗ khác lại viết:

Phan-đình-Phùng, Tôn-thất-Thuyết (chữ lót không viết hoa)

-Nhóm, hội đoàn, đoàn thể: Viết hoa không thống nhất, chỗ có gạch nối, chỗ không. Thí dụ:

Phong trào Cần-Vương

Phong trào Ðông Du (không gạch nối)

Phong trào Văn-Thân

phong trào cộng sản (cả bốn chữ lại không viết hoa)

-Các địa danh viết hoa cũng không thống nhất.

Thí dụ: Thượng-Hải, Hồng-Kông, Trà-Lùng, Hàng-Bông, Làng Cổ-Am, Yên-Báy, Hải-Phòng

Thế nhưng ở những chỗ khác lại chỉ viết hoa chữ đầu mà thôi. Thí dụ: Hà-nội, Quảng-châu, Quảng-nam, Lạng-sơn, Dương-tư, Nam-đànv.v…



6) Lối viết hoa của Duyên Anh trong Về Yêu Hoa Cúc (1970):

-Ðại lược về tên người, địa danh, tên trường học, tước hiệu Duyên Anh viết hoa theo lối Mỹ và bỏ gạch nối.

Thí dụ: Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Mai Thảo, Nguyên Sa, Ðinh Hùng, Hàn Mặc Tử

Ðại Học Văn Khoa, Ðà Lạt, Hà Nội, Mỹ Tho

Thế nhưng còn hai chữ Sài Gòn thì Duyên Anh có lúc viết Sài-gòn (có gạch nối, chữ gòn không viết hoa), rồi có lúc lại viết Sài gòn (không gạch nối)

-Tên các tờ báo, tạp chí lối viết hoa cũng không thống nhất. Thí dụ:

nhật báo Ðồng Nai, tuần báo Kịch Ảnh

tức là các chữ nhật báo, tuần báo không viết hoa)

thế nhưng lại viết: Ðông Dương Tạp Chí (tạp chí lại viết hoa)

-Các tác phẩm văn chương chỉ viết hoa chữ đầu, chữ sau không viết hoa (tức theo lối cũ). Thí dụ:

Ngày về, Lạnh lùng, Chân trời cũ

Nhưng ở chỗ khác lại viết Tiêu Sơn Tráng Sĩ (tất cả đều viết hoa)



7) Lối viết hoa không thống nhất của Hoàng Khởi Phong trong Người Trăm Năm Cũ (1993):

Hoàng Khởi Phong là cựu chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp Chí Văn Học trong khoảng thời gian từ 1989-1990. Dĩ nhiên với chức năng này ông phải đọc lại và coi lại rất nhiều bài viết thế nhưng lối viết hoa của ông cũng không thống nhất – điển hình qua tác phẩm Người Trăm Năm Cũ.

-Các tước vị hoặc ngôi thứ trong gia đình đều viết hoa như:

Ðề Thám, Cai Kinh, Cả Huỳnh, Cả Tuyển, Tổng đốc Lê Hoan…

Thế nhưng ở nhiều chỗ khác, các tước vị lại không viết hoa:

Thí dụ: vua Hàm Nghi, tướng Voyron, quan ba Lambert…

-Các điạ danh, cách viết hoa cũng không thống nhất:

Thí dụ: Phủ Lạng Thương, tỉnh Hà Ðông, huyện Nhã Nam

(Phủ, huyện, tỉnh đều là đơn vị hành chánh thế mà phủ viết hoa còn tỉnh và huyện lại không viết hoa).

-Các biến cố lịch sử đáng lý phải viết hoa lại không viết hoa.

Thí dụ: Cuộc khởi nghĩa Yên Thế, chiến khu Yên Thế. Ðáng lý phải viết: Cuộc Khởi Nghĩa Yên Thế, Chiến Khu Yên Thế.



8) Lối viết hoa không thống nhất của Tạ Chí Ðại Trường trong Tạp Chí Văn Học năm 2000:

Tạ Chí Ðại Trường là cây viết chủ lực cho Tạp Chí Văn Học sức học rất uyên bác nhưng cũng lại không để ý đến quy tắc viết hoa. Thí dụ:

Công Giáo (tất cả đều viết hoa)

Thế nhưng ở chỗ khác lại viết: Tam giáo (chữ giáo không viết hoa)

Tự Ðức kí Dụ: Ðáng lý kí viết hoa lại không viết hoa.

truờng Bảo hộ (chữ hộ không viết hoa) nhưng lại viết trường Chu Văn An (chữ an lại viết hoa)

Hồng vệ binh maxít phương Ðông: (chữ phương không viết hoa). Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết:

Văn Minh Tây Phương (chữ phương lại viết hoa)

Hồng quân Trung Quốc (chữ quân đáng lý viết hoa lại không viết hoa)

Cộng hòa Ðại Hàn (chữ hòa đáng lý viết hoa lại không viết hoa)

Phong trào Không liên kết Thế giới thứ Ba: Các chữ trào, liên kết, giới, thứ – đáng lý phải viết hoa lại không viết hoa.



9) Lối viết hoa của Nguyễn Hưng Quốc trong Tạp Chí Văn Học năm 2000

Nguyễn Hưng Quốc là cây viết chủ lực cho Tạp Chí Văn Học. Là một nhà bình luận văn học rất kỹ lưỡng thế nhưng Nguyễn Hưng Quốc cũng không chú ý đến quy luật viết hoa.

-Tên các tác phẩm đều viết hoa như:

Truyện Kiều

Thơ Mới của Hoài Thanh

Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết:

thơ Nguyễn Công Trứ (chữ thơ không viết hoa)

-Các tên nhóm, hội đoàn đều viết hoa như:

Nhóm Sáng Tạo (chữ nhóm viết hoa)

trường phái Phê Bình Mới (đáng lẽ chữ trường phái cũng phải viết hoa)

Rồi ở một chỗ khác lại viết:

nhóm Ngôn ngữ học tại Moscow (đáng lý phải viết: Nhóm Ngôn Ngữ Học tại Moscow


II. Quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ

Trong văn chương Hoa Kỳ, viết hoa gọi là “capital letter ”, còn viết chữ thường gọi là “lower case”. Ðây là quy tắc thống nhất được áp dụng ở khắp mọi nơi. Ít khi thấy nhà văn, nhà thơ, nhà báo Hoa Kỳ vi phạm quy tắc này. Nguyên do chính là vì xã hội của họ đã ổn định cả hai trăm năm nay, việc gì cũng đã trở thành quy củ, nề nếp, có trường ốc. Ngoài ra tờ báo nào, nhà xuất bản nào cũng có một ban biên tập chịu trách nhiệm về vấn đề này chứ không “tự biên tự diễn, tự đánh máy, tự in, tự sáng chế” như chúng ta.

Giới thiệu quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ ở đây không có nghĩa là cái gì của Mỹ cũng nhất. Quy tắc nào cũng tốt cả nhưng với điều kiện phải thống nhất. Không thể ở đầu trang viết:Phong trào Ðông du rồi ở cuối sách lại viết Phong Trào Ðông Du. Nếu cứ tiếp tục viết lộn xộn như thế này thì con cháu chúng ta cũng sẽ tiếp tục thừa kế cái lộn xộn đó và hậu quả là cả ngàn năm sau nền văn chương Việt Nam vẫn cứ tiếp tục lộn xộn làm người ngoại quốc điên đầu khi nghiên cứu văn chương Việt Nam. Sau đây là quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ:

1) Tên người:

Thí dụ: Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Lê Chân, Ông Tô Hiến Thành, Ông Cao Bá Quát, Ông Tôn Thất Thuyết, Bà Ðoàn Thị Ðiểm, Ông Ðặng Trần Côn, Cô Nguyễn Thị Giang, Cô Bắc.

2) Các con vật mình nuôi và thương mến/thú cưng (pet):

con Vàng, con Vện, con Loulou, con Cún, con Bống

3) Các chức vụ, tước hiệu và các chữ tắt của tên:

Thí dụ: Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sử Gia Lê Văn Hưu, Chúa Sãi, Chúa Trịnh, Bà Huyện Thanh Quan, Ðô Ðốc Tuyết, Cai Tổng Vàng, Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn, Giáo Sư Nguyễn C. Hách, GS. Phạm B. Tâm, Ðại Sứ Cabot Lodge, Tiến Sĩ Kissinger, Tổng Thống Roosevelt.

4) Ngôi thứ trong gia đình:

Thí dụ: Cô Bảy, Bác Ba, Bà Cả Tề, Thím Năm, Cô Ba Bến Tre, Cô Năm Phỉ, Út Trà Ôn.

5) Ðịa danh, dinh thự, công viên, thành phố, quận:

Thí dụ: Thành Phố Ðà Lạt, Dinh Ðộc Lập, Phủ Thủ Hiến, Phủ Thủ Tướng, Tòa Thị Chính Nha Trang, Công Viên Tao Ðàn, Vườn Hoa Con Cóc, Vườn Hoa Chéo, Công Viên Tao Đàn, Chùa Hương Tích, Thành Phố Hải Phòng, Quận Hương Điền, Quận Châu Thành Mỹ Tho, Xã An Hội …

5) Bến, cảng, phi trường:

Thí dụ: Phi Trường Tân Sơn Nhất, Ga Hàng Cỏ, Bến Vân Ðồn, Bến Sáu Kho, Bến Ðò Bính, Bến Ðò Lèn, Bến Nhà Rồng, Cảng Hải Phòng

6) Ðường:

Thí dụ: Ðường Trần Hưng Ðạo, Xa Lộ Biên Hòa, Quốc Lộ 1, Liên Tỉnh Lộ 7, Hương Lộ 8…

7) Chợ:

Thí dụ: Chợ Bến Thành, Chợ Ðồng Xuân, Chợ Tân Ðịnh, Chợ Bà Chiểu, Chợ Lớn, Chợ Huyện Thanh Vân…

8) Núi, đèo, cửa ải:

Thí dụ: Núi Hoàng Liên Sơn, Núi Sam, Núi Ba Vì, Núi Ngũ Hành, Núi Ông Voi, Núi Ngự, Ðèo Hải Vân, Ðèo Cả, Ải Nam Quan…

9) Sông, thác, hồ, suối:

Thí dụ: Sông Hồng, Sông Mã, Sông Chu, Sông Hương, Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Than Thở, Hồ Ba Bể, Thác Bản Giốc, Suối Giải Oan…

10) Vịnh, biển, đảo:

Thí dụ: Vịnh Hạ Long, Vịnh Cam Ranh, Rạch Cái Cối, Vũng Rô, Quần Ðảo Hoàng Sa, Quần Ðảo Trường Sa, Ðảo Tây Sa, Côn Ðảo, Hòn Bà, Hòn Chồng, Hòn Vọng Phu, Phá Tam Giang.

11) Ngày tháng:

Thí dụ: Tháng Giêng, Thứ Hai, nhưng mùa thu, mùa xuân (các mùa lại không viết hoa)

12) Ngày lễ:

Thí dụ: Lễ Hai Bà Trưng, Tết Trung Thu, Tết Nguyên Ðán, Tết Ðoan Ngọ, Ngày Thiếu Nhi Toàn Quốc, Ngày Quốc Tế Nhân Quyền…

13) Nhóm, hội đoàn:

Thí dụ: Nhóm Sáng Tạo, Nhóm Ngàn Lau, Hội Ðua Ngựa Phú Thọ, Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ, Hội Ái Hữu Gò Công, Câu Lạc Bộ Lướt Sóng, Môn Phái Vovinam, Môn Phái Thiếu Lâm, Trường Phái Siêu Thực, Trường Phái Dã Thú, Trường Phái Ấn Tượng.

14) Ban nhạc:

Thí dụ: Ban Thăng Long, Ban Tiếng Tơ Ðồng, Ban The Rolling Stone, Ðoàn Cải Lương Hương Mùa Thu, Ðoàn Thoại Kịch Tiếng Chuông Vàng.

15) Báo chí, tựa đề các cuốn sách, thơ, bài báo, vở kịch, bức hoạ, bản nhạc, truyện, cuốn phim và tựa đề của một bài viết:

Thí dụ: Nam Phong Tạp Chí, Tạp Chí Bách Khoa, Nhật Báo Người Việt, Ðoạn Tuyệt, Thơ Vũ Hoàng Chương, Truyện Kiều, Kịch Lôi Vũ, Trường Ca Con Đường Cái Quan, Cầu Sông Qwai…

16) Thánh thần và kinh sách:

Thí dụ: Trời, Phật, Chúa, Ðức Thánh Trần, Bà Chúa Liễu Hạnh, Mẹ Âu Cơ, Kinh Kim Cang, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, Kinh Coran, Kinh Cựu Ước..

17) Miền, vùng của một đất nước (nhưng không phải để chỉ phương hướng). Thí dụ:

Miền Nam, Miền Bắc, Miền Trung, Vùng Cao Nguyên, Miền Tây, Vùng Tây Bắc, Bắc Bình Ðịnh…

18) Các biến cố lịch sử, tài liệu, mốc thời gian:

Thí dụ: Cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ, Ðệ II Thế Chiến, Thời Kỳ Chiến Tranh Lạnh…

Thời Kỳ Bắc Thuộc, Thời Kỳ Trịnh – Nguyễn Phân Tranh, Thời Kỳ Phục Hưng, Nhà Hậu Lê, Bình Ngô Ðại Cáo…

19) Ngôn ngữ, chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo:

Thí dụ: Anh Ngữ, Pháp Ngữ, Hoa Ngữ, Nhật Ngữ, Việt Ngữ

Thái, Nùng, Dao, Mèo, Kinh, Thượng, Mường, Ra-Ðê, Việt, Hoa v.v…

Việt Tịch, Pháp Tịch, Ấn Tịch…

Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Ấn Ðộ Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo…

20) Tên các con tàu, xe lửa, máy bay hoặc nhãn hiệu xe hơi:

Thí dụ: Tuần Dương Hạm Yết Kiêu, Khu Trục Hạm Vạn Kiếp, Hàng Không Mẫu Hạm Trần Hưng Ðạo…La Dalat, Citroyen, Toyota v.v…

Thiên Lôi (Thunderchief), Con Ma (Phantom)

21) Chữ đầu của câu trích dẫn:

Thí dụ: Trần Bình Trọng dõng dạc nói, “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc.”

Xin quý vị nào nghiên cứu về văn phạm Việt Nam đóng góp thêm ý kiến để sau này có thể hình thành một quy tắc viết hoa thống nhất cho văn chương Việt Nam.

Đào Văn Bình

(Trích Tuyển Tập 20 Năm Viết Văn xuất bản năm 2004)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#199 Posted : Friday, December 4, 2015 12:41:59 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)

Ăn ốc nói mò


Mới nghe qua dường như có thể giải thích thành ngữ ăn ốc nói mò nhờ vào quan hệ nhân quả: “ăn ốc thì nói mò” hay “Vì ăn ốc nên nói mò”, tương tự như khi hiểu các tổ hợp từ ăn ốc lạnh bụng, uống rượu nhức đầu, hút thuốc khản giọng… Song, cái ý nói mò (tức nói đoán chừng, hú họa, không chắc trúng, vì không có đủ căn cứ để nói) của ăn ốc nói mò lại chằng có mối liên hệ nào với việc ăn ốc cả.

Mới nghe qua dường như có thể giải thích thành ngữ ăn ốc nói mò nhờ vào quan hệ nhân quả: “ăn ốc thì nói mò” hay “Vì ăn ốc nên nói mò”, tương tự như khi hiểu các tổ hợp từ ăn ốc lạnh bụng, uống rượu nhức đầu, hút thuốc khản giọng… Song, cái ý nói mò (tức nói đoán chừng, hú họa, không chắc trúng, vì không có đủ căn cứ để nói) của ăn ốc nói mò lại chằng có mối liên hệ nào với việc ăn ốc cả. Nói cách khác, ở đây giữa ăn ốc và nói mò không có quan hệ nhân quả. Vậy thì, ăn ốc và nói mò kết hợp với nhau theo quan hệ gì? Và thành ngữ ăn ốc nói mò đã xuất hiện như thế nào?

Có người cho ăn ốc nói mò có xuất xứ ở việc uống rượu ăn ốc ở các quán đầu làng. Rượu vào lời ra. Người quá chén thường nói năng lung tung, hết chuyện này sang chuyện khác, đúng, sai, hay, dở, tục, thanh, không để ý tới. Cách giải thích này xem ra có một ít lí lẽ, song chưa thể yên tâm được. Nói mò trong ăn ốc nói mò không phải nói lung tung, chuyện này sang chuyện nọ như người say rượu mà là nói hú hoạ, đoán chừng về một điều cụ thể, vốn xác thực nhưng không biết hoặc chưa biết chắc chỗ đúng của điều cần nói là đâu.

Cũng có người nghĩ tới quan hệ điều kiện – giả định giữa việc ăn ốc và việc mò ốc: “muốn ăn ốc phải mò ốc” để cắt nghĩa xuất xứ của ăn ốc nói mò. Nhưng tại sao ý “muốn ăn ốc phải mò ốc” lại liên hội được với ý “nói mò, nói hú họa, nói không có chứng cứ” của ăn ốc nói mò đã nêu trên.

Chúng ta thử tìm hiểu nguyên nhân của thành ngữ này theo một hướng khác. Như đã biết, trong tiếng Việt có một từ mò là động từ (mò ốc, mò cua…) và một từ mò là trạng từ (nói mò, đoán mò…) Mò trong ăn ốc nói mò chính là từ mò trạng từ, chỉ cách thức hành động. Như vậy, giả định có quan hệ điều kiện giữa ăn ốc và mò ốc nêu trên là không có lí. Điều cần làm rõ ở đây là, vậy thì (nói) mò đã đi vào ăn ốc nói mò bằng con đường nào?

Trong lời ăn tiếng nói của dân gian, bên cạnh ăn ốc nói mò chúng ta còn gặp các cách nói ăn măng nói mọc, ăn cò nói bay, ăn măng nói mọc dùng chỉ sự bịa đặt, dựng chuyện, vu khống; ăn cò nói bay nói về thói chối bay, chối phắt, coi như không có, không biết điều đó có xảy ra thật. Ở hai cách nói này, gánh nặng ý rơi vào các vế sau, (nói mọc, nói bay), giống như cách nói ăn ốc nói mò. \/à, vế đầu (ăn măng, ăn cò) dường như chỉ giữ chức năng cấu tạo hình thái chứ không mang chức năng biểu ý. Đây là một loại các trúc độc đáo rất hiếm thấy trong thành ngữ tiếng Việt. Có thể hình dung cơ chế tạo lập kiểu cấu trúc như sau:

1. Có một “từ” A biểu thị một hiện thực, ví dụ “mọc” trong thành ngữ ăn cò nói bay… ăn măng nói mọc biểu thị tính hay vu khống, dựng chuyện ở một loại người nào đó.
2. Do nhu cầu diễn đạt có tính hình ảnh, gây ấn tượng mạnh mẽ hơn, người ta đã tạo ra lối nói mới dựa trên khuôn mẫu của cách nói đã có trước trong ngôn ngữ. Cách nói mới này được xây dựng theo nguyên tắc :

– Tìm trong ngôn ngữ một từ (B) có quan hệ lôgich với A, sao cho được một quan niệm khi kết hợp với A (theo trật tự AB hoặc BA) hợp với logich nhận thức người bản ngữ. Ví dụ: nếu A là mọc thì B phải là măng (hay trăng, răng…), vì nói măng mọc (hay trăng mọc, răng mọc,…) đều có thể quan niệm được. Còn nếu A là bay thì B phải là cò (bay chim, cờ, lá…) vì nói chim bay (cờ bay, lá bay)… đều hợp lôgich.

– Tùy vào đặc tính phạm trù của điều được nói đến và của hiện thực do B biểu đạt tìm một hình thức (từ hoặc tổ hợp từ) có khả năng tương kết với AB (BA) theo luật này hay khác (chẳng hạn, đối với điệp) để tạo thành khuôn của cách nói mới. Chẳng hạn, điều được nói tới trong ăn măng nói mọc (ăn ốc nói mò, ăn cò nói bay,…) có thể quy vào phạm trù ứng xử nói năng, do đó, các từ được chọn làm các yếu tố cấu trúc có thể là ăn nói, lời lẽ, nói năng,…

Vì B là từ chỉ sự vật thuộc phạm trù cái ăn được, nên người nói đã chọn từ ăn nói trong số các từ trên tương kết với măng mọc. Cuối cùng, dùng luật đối và điệp, vốn là biện pháp được dùng rất phổ biến trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt với tư cách là chất gắn kết các yếu tố A, B để tạo thành khuôn mới.

Cụ thể ăn măng nói mọc được phân tích ra như sau: ăn nói tương kết với măng mọc nhờ luật đối và điệp tạo thành ăn măng nói mọc giống như dân gian đã dùng các từ ong bướm và lả lơi để tạo ra thành ngữ bướm lả ong lơi hoặc dùng các từ đi mây về gió. Ăn cò nói bay và ăn ốc nói mò đều được tạo thành theo con đường nói trên.

Sưu Tầm
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#200 Posted : Wednesday, January 20, 2016 1:10:42 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)

Những người muôn năm cũ


Khi tôi lớn lên thời hoàng kim của những Ông Nghè Ông Cử không còn nữa. Hình ảnh Quan Trạng vinh quy bái tổ chỉ còn trong sách vở, trong từng câu chuyện được bắt đầu bằng hai chữ “ngày xưa.” Ngày xưa - nghe xa vời như huyền thoại một mẹ trăm con, như vầng trăng cổ tích chỉ còn trong vườn trí tưởng. Giữa mờ sương kỷ niệm, bóng dáng “Ông Đồ” thoắt ẩn thoắt hiện, vụt ngời sáng chợt tan biến, gợi lên trong lòng tôi một tình cảm bi thương đau đớn, hệt như phút rực rỡ để rồi lâm chung của vầng thái dương trước cảnh chiều tà.

Tôi như chợt thấy đất trời xuân năm cũ, có một cụ già ung dung tự tại bày mực tàu giấy đỏ giữa phố thị đông người. Ông đồ đã về ư…? Vâng! Ông về trong giòng thơ của thi nhân họ Vũ

“Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ

Trên phố đông người qua”


Có điều gì đơn sơ hơn, thuần khiết hơn, đẹp đẽ hơn cảnh ông giáo khăn đóng áo dài ngồi bên hè phố, giữa những câu đối đỏ phất phơ trước gió, giữa sắc hồng tươi thắm của hoa đào. Thật gần gũi mà không tầm thường. Thật trang trọng mà vẫn thân quen. Đây phải chăng là nét độc đáo trong thi pháp của Vũ Đình Liên, khi mô tả một nhà giáo giữa chợ đời?

Không hề có con số để kiểm kê xem mỗi ngày ông cụ viết mấy trăm mấy ngàn câu đối. Nhưng chỉ cần đọc câu thơ “Bao nhiêu người thuê viết,” người ta biết ông giáo viết chữ Nho rất “đắt hàng.” Ôi! “Bao nhiêu người thuê viết!” Cụm từ “bao nhiêu” nói lên con số nhiều không đếm được, thế mà ông giáo vẫn tĩnh lặng trầm tư. Dường như sự chừng mực sự khiêm tốn của nhà nho ẩn tàng ngay trong tâm hồn Vũ Đình Liên, nên thi nhân mới có thể mô tả đúng phong cách chính nhân quân tử của người từng học sách thánh hiền. Dẫu “bao nhiêu người thuê viết” cũng chỉ “đạm nhược như thủy” mà thôi. Buồn vui không tỏ lộ, lúc nào cũng bình lặng như nước. Tưởng nói lên được tâm ý của người xưa như Vũ Đình Liên, quả thực là người có ngọn bút thần tài hoa.

Với phong thái uy nghi nghiêm cẩn, với “Hoa tay thảo những nét. Như phượng múa rồng bay,” cõi người ta tin rằng nhà giáo viết chữ Nho sống mãi với thần bút uyên nguyên của riêng ông. Nhưng buồn thay! Ông đã bị bỏ quên, thậm chí bị bỏ rơi! Hoặc vì Tạo Hóa luôn đố kỵ hồng nhan luôn ghét ghen người tài hoa xuất chúng. Hoặc vì lòng người ta vốn bạc như vôi, rất mau quên những gì bản thân từng trân quý. Hoặc vì cuộc sống như một giòng sông bất ngờ rẽ sang nhánh khác…Nên đến một hôm

“Ông đồ vẫn ngồi đấy

Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài trời mưa bụi bay”

Làm sao có thể chịu đựng được sự rẻ rúng sự coi thường, của những kẻ trước đây đã từng“tấm tắc ngợi khen tài?” Nỗi đau cao vời ai thấu? Người đời vô tâm mau quên chóng chán không hiểu, nhưng Vũ Đình Liên hiểu. Thi nhân không những hiểu mà còn bộc lộ rõ rệt khí phách và tâm thái “an bần lạc đạo” của nhà giáo ngày xưa. Nếu là kẻ vốn kiêu bạc khi lâm bước đường cùng sẽ trở nên “khinh thế ngạo vật,” hằn học cay đắng đay nghiến cuộc đời. Nhưng người thầy chính nhân quân tử chỉ thinh lặng cảm thán:

“Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu

Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu!”


Không phải là lời oán trách. Chỉ là câu tự hỏi “Người thuê viết nay đâu..?” Và tấm lòng cảm thương “Mực đọng trong nghiên sầu!” Hình như đất trời vạn vật cùng nghe thấy tiếng thở dài não ruột của bậc hàn nho, trước chợ chiều ngày xuân vắng khách. Vì khí khái ông đồ cam chịu sống cuộc đời khốn khó, hay vì cảm được hồn giấy mực linh thiêng cũng đang nặng trĩu giọt sầu, nên ông đành ôm nỗi buồn lỡ vận?! Vũ Đình Liên đã làm cảm động lòng người, khi khắc họa hình ảnh ông giáo trầm tư ngồi hiu hắt giữa mưa bụi giăng mờ, giữa lá vàng rơi trong chiều gió

“Ông đồ vẫn ngồi đấy

Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài trời mưa bụi bay”


Tôi như nhìn thấy những giòng lệ đồng thanh đồng khí của Vũ Đình Liên, khóc thương thân phận lao lung của kiếp người cùng khốn, tâm hồn âm thầm hoài cảm

“Năm nay đào lại nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ!”


Nhà thơ muốn gì khi ngược bóng thời gian đi tìm cái hư bên cái thực? Phải chăng vì muốn làm sống dậy khí phách anh linh của ông giáo tài hoa một thời vang bóng, thi nhân đã viết ra những lời kiếm tìm tha thiết ấy? Tìm người như thể tìm chim, huống là chiêu hồn quá khứ! Thế mà thi nhân vẫn trông đợi, như trông đợi nửa kia của bản ngã từ thiên cổ trở về.

Hoa đào vẫn nở, sắc hồng không phai. Nhưng mực tàu giấy đỏ đã hồ tàn! Người xưa đâu…!?

Quả thực ngày nay cố nhân không còn nữa! Chỉ còn lại bài thơ hoài cổ, u uẩn vô cùng! Xuân về Tết đến, tôi nghe âm vang trong chiều gió tiếng thơ…

“…Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ!”

Lòng chợt ngậm ngùi! Giữa giòng sóng biếc phân tranh. Hồn xưa ấm lạnh biên thành vãng lai. Về qua cõi mộng gót hài. Chân mây khuất nẻo còn ai nhớ người!


Một ông đồ-1915 - NGUỒN PINTEREST.COM

Hải Vân - 2:30am Thứ Bảy ngày 16 tháng 01 năm 2016
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
2 users thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 2/1/2016(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
Hạ Vi
#201 Posted : Monday, February 1, 2016 5:55:20 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)






Cung Chúc Tân Xuân









2 users thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 2/6/2016(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#202 Posted : Saturday, February 6, 2016 12:57:03 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Ngục văn tự xưa và nay





Người sính thơ văn, ngày xuân hay lúc thư nhàn có thơ có rượu, thường chấp bút làm thơ, viết đối, chẳng hạn Trần Tế Xương, vào một mùa xuân ở thành Nam đã tâm sự:

Nhập thế cục bất khả vô văn tự
Chẳng hay ho cũng húng hắng một vài
Huống thân danh đã tú tài
Ngày tết đến cũng thở một hai câu đối…

Còn Nguyễn Khuyến thì:
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào!


Nhưng coi chừng, văn thơ có “họa văn thơ” và nhiều khi người sáng tác có thể vào tù, bị sát hại vì “thi họa” hay “văn họa.”

Chuyện đầu đời Thanh kể lại, chỉ vì viết sử triều trước (bộ Minh sử-về triều Minh) tác giả bị nhà cầm quyền đương triều kết tội phản loạn và đẩy vào máy chém cùng hàng chục ngàn người vì tội tòng phạm (đề tựa tác phẩm, in sách, trữ sách và đọc sách..
Hai câu chuyện sau đây do giáo sư, kiêm nhà văn tiền phong Hoàng Ngọc Phách (1896-1973-tác giả cuốn Tố Tâm 1925) sưu tầm và in trong bộ Giai thoại văn học Việt nam chứng tỏ điều mà thi sĩ Vũ Hoàng Chương sau này đã viết: “Rằng vách có tai thơ có họa.”
Cả hai câu chuyện đều xảy vào đầu đời Nguyễn khi hoàng đế Gia Long lên ngôi nảy sinh lòng nghi kỵ công thần nên ép chết trung thần là tiền quân Nguyễn văn Thành và vua kế vị, Minh Mệnh, theo gương cha, sau cuộc nổi loạn của Lê văn Khôi, đã tìm cách tẩy trừ uy tín của Tả quân Lê văn Duyệt bằng cách san mồ, xích mả.

Chết vì bài thơ
Nguyễn Văn Thành người Thừa Thiên, vào Nam theo phò Nguyễn Ánh từ hồi mới bắt đầu đánh nhau với Tây Sơn. Thành đã có những chiến công rất lớn, nên khi Gia Long giành được ngôi và luận công khen thưởng thì Thành đứng đầu bảng “khai quốc công thần”.

Trong suốt thời kỳ đánh nhau với Tây Sơn, tiền quân Nguyễn Văn Thành và Tả quân Lê Văn Duyệt thường kình địch với nhau. Một hôm, trước giờ xuất trận. Lê Văn Duyệt rót rượu mời Thành uống, Thành cười nhạt trả lời rằng: “Làm đại tướng đến giờ ra trận thì nhảy lên lưng ngựa tuốt gươm xông tới, cần gì phải mượn hơi men để lấy hăng?”
Thành thúc ngựa đi trước, quả trận ấy giành được công đầu. Từ đó Duyệt quyết tìm dịp trả thù cho được.
Thành có một người con tên là Nguyễn Văn Thuyên, đậu cử nhân, thường hay giao du với các danh sĩ đương thời. Bấy giờ nghe nói ở Thanh Hóa có hai nhà danh sĩ là Nguyễn Văn Khuê và Nguyễn Đức Nhuận, Thuyên liền làm một bài thơ, trao cho người nhà là Nguyễn Trương Hiệu cầm đi mời họ vào Huế chơi. Thơ như sau:

Văn đạo Ái Châu đa tuấn kiệt,
Hư hoài trắc tịch dục cầu ty.
Vô Tâm cửu bão Kinh Sơn phác,
Thiện tướng phương tri Ký Bắc kỳ.
U cốc hữu hương thiên lý viễn,
Cao cương minh phượng cửu thiên trì
Thử hồi nhược đắc sơn trung tể.
Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky.

Tạm dịch:
Ái Châu nghe nói lắm người hay,
Ao ước cầu hiền đã bấy nay.
Ngọc phác Kinh Sơn tài sẵn có,
Ngựa kỳ Ký Bắc biết lâu thay,
Mùi hương hang tối xa ngàn dặm,
Tiếng phượng gò cao suốt chín mây,
Sơn tể phen này bằng nắm lấy,
Giúp nhau vận chuyển với thời xoay.


Tưởng chuyện chơi cho tiêu khiển, nào dè chuốc họa to mà không hay. Nguyên tên Hiệu có hiềm riêng với Nguyễn Văn Thuyên, liền mang thơ chạy sang tố cáo với Lê Văn Duyệt, Duyệt liền nắm lấy bài thơ, đem vào tâu vua, cho đó là cha con Nguyễn Văn Thành âm mưu làm loạn. Gia Long lập tức cho bắt Thuyên đem bỏ ngục. Thành chạy theo níu áo vua kêu khóc là bị oan, nhưng Gia Long chẳng nói gì, dứt áo bỏ vào cung, rồi từ đó cấm không cho Thành đến chầu.
Thành buồn bực, uất ức, uống thuốc độc tự tử; còn Thuyên thì sau bị chém đầu.

Vụ án Lê văn Duyệt
Lê văn Duyệt trả thù được Nguyễn văn Thành tưởng như đã thỏa nguyện. Ai ngờ khi Duyệt chết rồi (1831) thì mả ông lại bị Minh Mạng cho san phẳng và người ta dựng lên tại đó một hòn đá lớn khắc mấy chữ “chỗ này là tên hoạn Lê văn Duyệt phục pháp.”

Nguyên do chính là Duyệt là bố nuôi Lê văn Khôi, người cầm đầu cuộc khởi binh Phan an chiếm lãnh toàn cõi Nam bộ từ 1833 tới 1835 trước khi bị đánh tan. Nhưng khi bắt tội Lê văn Duyệt người ta đã gán cho Duyệt có bảy tội đáng chém. Và hai tội đáng thắt cổ. Trong hai tội sau có tội là “câu thơ hoàng bào.”
Số là sau khi Gia Long chết (và Nguyễn văn Thành bị vu oan đến phải tự tử) thì Lê văn Duyệt là người oai quyền nhất nước đến Minh mạng cũng phải kiêng nể. Lúc bấy giờ người ta đồn rằng Duyệt hay khoe với người chung quanh là ông ta xin được một quẻ thánh cho, có bốn câu thơ như sau:

Tá Hán tranh tiên chư Hán tướng
Phụ Chu ninh hậu thập chu thần
Tha niên tái ngộ Trần Kiều sự
Nhất đán hoàng bào bức thử thân.
Tạm dịch:
Giúp Hán há thua gì tướng Hán
Phò Chu nào kém bọn tôi Chu?
Trần kiều nếu gặp cơn binh biến
Ép mặc bào vàng dễ chối ru!


Hai câu cuối bài này ý nói: “Ta có công lớn… Giả sử nay mai lại xảy ra một vụ binh biến như vụ Trần kiều, quân lính ép ta phải lên làm vua như đời xưa họ đã ép Tống thái tổ, Triệu Khuông Dẫn thì có lẽ ta cũng đành lòng nghe theo họ, chứ không thể nào khác hơn.”

Sự việc thực hư như thế nào không biết, nhưng trong dịp bới tội Lê văn Duyệt để xử (mặc dù chết rồi) thì có người nhắc đến việc đó, thì triều đình lên án thành một tội đáng xử thắt cổ.
(Hoàng Ngọc Phách-Giai thoại văn học Việt nam)

Không phải chỉ có thời phong kiến mới có ngục văn tự. Giữa thế kỷ 20 ở Việt nam không mấy người quên vụ án Nhân văn- Giai phẩm.

Hai tờ Nhân văn và Giai phẩm xuất hiện vào khoảng 1956 ở Hà nội và do những cây bút từ kháng chiến về Hà nội sau hiệp định Genève 1954 như Phan Khôi, Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Văn Cao, Nguyễn Sáng và Nguyễn Hữu Đang… chủ trương. Nhóm nhà văn, nhạc sĩ, họa sĩ trên lại được giới trí thức ngày ấy như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh và Trương Tửu… ủng hộ. Mục đích của họ là muốn được tự do trong lãnh vực sáng tác. Phong trào bị đàn áp, nhiều tác phẩm bị lên án, báo chí bị tịch thu và các tác giả hoặc vào tù, đi lao động, hoặc bị cách ly, cấm viết.

Học giả Phan Khôi tuy tuổi già và có uy tín nhất từ trước 1945, đã bị coi như đầu sỏ nhóm nhà văn chống đối nên bị cô lập cho tới chết.

Trước dư luận về phân bố giải thưởng văn nghệ 1954-1955 để tập Việt Bắc của Tố Hữu lên hàng đầu rồi tới tác phẩm Ngôi sao của Xuân Diệu hạng hai khiến văn nghệ sĩ bất bình.

Ngoài việc Phan Khôi dám lớn tiếng Phê bình lãnh đạo văn nghệ, ông còn vạch rõ tệ đoan “giám khảo” kỳ thi lại là “thí sinh” nên chia nhau lãnh giải thưởng văn nghệ. Đó là trường hợp các vị giữ vai chung khảo như Xuân Diệu, Hoài Thanh, Nguyễn Huy Tưởng… tặng giải thưởng cho tác phẩm của mình rồi “phe ta” hùa nhau khen ngợi đáo để: Việt Bắc của Tố Hữu. Còn ai chỉ trích và phê bình thơ Tố Hữu đều bị chụp mũ “phản động.”
Phan Khôi đã từng châm biếm kẻ chỉ trích những ai chê thơ Tố Hữu trong bài tiểu phẩm sau đây:

“Một dạo, giữa loài dở cạn dở nước, mở cuộc thi sắc đẹp.
Nhân có sự tranh chấp, ba con: Ếch, Cóc, Ễnh ương đấu khẩu với nhau. Tiếng Cóc nhỏ hơn hết, nhưng mà động đến Trời.
Trời sai Nhái bén làm trọng tài. Nhái bén từ chối: “Con nhỏ hơn hết, con không dám có thẩm quyền trên ba chị ấy.”
Trời phán: “Chỉ có mày là đồng loại với chúng nó, mày sẽ làm vừa ý ta, không được từ chối.”
Sau khi cực chẳng đã phải làm trọng tài, Nhái bén tâu kết quả: Ễnh ương giải nhất, Ếch giải nhì, Cóc không ở giải nào cả.
Trời tỏ dáng không vui, bảo Nhái bén: “Mày cố hết sức tìm ra ưu điểm Cóc xem.” Nhái bén tâu: “Chị ấy mụt mằn khắp cả người, con không tìm ra ưu điểm nào.”
Trời phán: “Thôi, cho mày đi về.”

Mấy hôm sau, có nghị định của Hà Bá sức về: “Nhái bén bị đày vĩnh viễn ở dưới nước, không được lên cạn nữa.”
Nhái bén gặp Cá trê, kể cảnh ngộ của mình, Cá trê bảo: “Mày dại lắm. Đi đâu chẳng biết con cóc là cậu ông Trời. Tao đây mà cũng còn thua kiện nó nữa là…”
(Trích Giai phẩm mùa Đông)

Đặc biệt, trong bài nổi tiếng Phê bình lãnh đạo văn nghệ, Phan Khôi có nhắc tới một cây bút đồng thời nhưng ở Trung quốc là Hồ Phong. Hồ Phong nổi danh ở Trung hoa cùng với Lỗ Tấn, Hồ Thích trước 1945 nhưng bị tống vào nhà tù ở lục địa sau 1955.

Phan Khôi tuy không ngỏ lời ca tụng Hồ Phong nhưng nhắc tới “Ý kiến thư” của Hồ Phong là gián tiếp đề cập nhu cầu đòi tự do cho văn nghệ sĩ. Ông tỏ ra thắc mắc khi Giai phẩm mùa xuân bị tịch thu chỉ vì có những bài thỉnh nguyện tự do cho văn nghệ:

“Nghe nói tập sách mỏng ấy bị thu về, tôi cho rằng sự thu về ấy là thất sách. Sao lại phải làm to chuyện cái chuyện không đáng làm to? Sao lại gợi cho những kẻ hiếu kỳ lén lút tìm mua tập sách ấy 3000đ một tập mà đọc? Sao lại làm như là sợ nó? Ở Trung Quốc, Hồ Phong nói xấu lãnh đạo văn nghệ đến thế, mà “ba sắp tài liệu” của Hồ Phong vẫn được công bố ra, cả đến cái ý kiến thư của hắn cũng được công bố ra, chẳng ai hề sợ.”
Nhân vụ Hồ Phong, Phan Khôi bất bình về việc Hoài Thanh, trước 1945 vốn là nhân vật có uy tín trong việc bình phẩm thi ca (với Thi nhân Việt nam), nhưng mười năm sau, 1956 đã trở thành thẩm phán của chế độ lên án bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần và kết tội quá nặng một nhà thơ trẻ “tội phản động đứng về phía địch chống lại nhân dân ta.”

Phan Khôi chua chát nói thẳng: “Thật cái tội phản động ở xứ nầy sao mà ghép một cách dễ dàng quá. Hồ Phong bên Trung Quốc, còn phải điều tra bao nhiêu năm, công bố “ba xấp tài liệu”, mới vạch mặt hắn là phản cách mạng, là tay sai của Tưởng Giới Thạch được. Tôi lại còn thấy một cái tài liệu, nói Hồ Phong từng bị bắt quả tang có một thanh gươm, ở cái nạm có bốn chữ “Tưởng Trung Chánh tặng”, ở cái lưỡi có ba chữ “đảng nhân hồn”. Như thế thì phản động là đáng lắm, có đâu chỉ một bài thơ mà đã là phản động?”

Chính tội danh phản động đã khiến Trần Dần (1926-1997) bị giam vào Hỏa lò ở Hà nội và bị án oan nên cứa cổ tự tử. Tiếp đó, bị đày đọa trong khổ nhục và dù không chết nhưng cái tên Trần Dần từ đó cũng bị bức tử trong hai chục năm trời cho tới 2007 mới được “bình phản.”

Chu Nguyễn
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#203 Posted : Saturday, February 13, 2016 1:28:04 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
" NHỮNG NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ "




Nếu bạn là người yêu thơ, chắc bạn đã từng xúc động với bài thơ "Ông đồ" của nhà thơ Vũ đình Liên. Người đã vẽ nên hình ảnh đẹp của ông đồ tài hoa giữa chợ tạo niềm vui cho người náo nức đón xuân, rồi lại buồn bã cô đơn khi khách xuân xưa mỗi ngày mỗi vắng, cho đến một ngày cả chỗ ngồi quen thuộc cũng vắng bặt bóng ông. Nhà thơ đã bùi ngùi kết luận với hai câu thơ đầy cảm xúc :

Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ ?


Chúng ta cùng mượn hai câu thơ này để nói với nhau về người xưa và truyền thống.

Nhiều bạn trẻ hôm nay đã học cao hiểu rộng, thành công trong các ngành nghề tân tiến, xử dụng các kỹ thuật hiện đại cách thành thạo, giải quyết nhanh gọn dễ dàng những việc công cũng như việc tư. Với ý chí tự do và óc phóng khoáng, các bạn không thích bị ràng buộc, tự đặt luật lệ cho mình rồi tự thay đổi, sống độc lập và thực dụng. Các bạn dễ đi đến việc xem thường các lời khuyên răn dạy bảo, những truyền thống gia đình và xã hội, quên lãng những người đi trước và những giá trị xa xưa. Nếu còn có chút lòng, chắc cũng "kính nhi viễn chi "( kính trọng nhìn từ xa) và cho đó là những gì cổ kính đáng "cất giữ " trong viện bảo tàng, hoặc bày ra trong các lễ hội, đình đám ở thôn quê.

Cái mới thay thế cái cũ, điều đó gần như quy luật. Như Tây học đã từng thay thế Nho học, chiếc máy chữ thay thế bút lông của ông đồ, rồi đến máy vi tính thay thế máy chữ. Nhưng có cần phải loại bỏ, quên lãng, hay phủ nhận hoàn toàn vẻ đẹp và giá trị của cái cũ không ? Thái độ "khen hết ý, chê hết lời " dường như không công bằng với những gì thuộc về tinh thần như: truyền thống, di sản văn hoá, tình người… trong mọi thời đại. Những cái đối với chúng ta hôm nay là cũ, có thời đã từng là sự mới mẻ được ngưỡng mộ. Chiếc áo dài đầu tiên của hoạ sĩ Cát Tường vẽ mẫu vào năm 1934, so với những chiếc áo dài cổ thuyền, cổ hở, nhiều mầu sắc hôm nay, sao trông có vẻ quê kệch ; nhưng bạn biết không : vào thời đó, chiếc áo này đã là một cuộc cách mạng so với những chiếc váy xồi, chiếc áo tứ thân của Hà Nội thanh lịch ngàn năm, là niềm hãnh diễn của cả đất nước. Còn bạn, người thích ngành Tin học ư ? Khi người ta khen công ty Microsoft đã lập nên kỳ tích cho thế kỷ, sẽ là nhà vô địch mãi mãi, người sáng lập là nhà tỷ phú Bill gates đã trả lời :"Vài chục năm trước, người ta cũng đã nghĩ công ty IBM là "anh chàng khổng lồ " không ai qua mặt nổi, điều đó khiến chúng tôi tự biết mình cần phải cố gắng hơn ".

Nhìn lại Việt Nam, đã qua rồi cái thời người ta hăng say với Tây học và những giá trị phương Tây để kịch liệt phê bình Nho giáo, đổ mọi tội lên "đầu" Nho giáo : nào là làm trì trệ , ru ngủ dân tộc… Mỗi nền văn hóa đều có giá trị riêng theo từng thời đại: không thể nói theo Hán học là làm mất nước, hay theo Tây học là "mất gốc ". Những quan niệm về trung, hiếu, tiết,nghĩa từ đâu mà có để dân tộc Việt có thể giữ được kỷ cương, phát triển, tồn tại và đoàn kết chống xâm lăng ? Trong lịch sử, huyền thoại "Con Rồng Cháu Tiên" với "Trăm con trăm trứng" tuy hoang đường nhưng mang ý nghĩa sâu sa, giúp người Việt sống với nhau như "đồng bào "(chung một bào thai ) ruột thịt, anh em đùm bọc lẫn nhau . Còn nói về phong hóa, chúng ta thật không quên công lao của nhóm Tự Lực Văn Đoàn thời Tiền chiến đã đả phá những hủ tục, những ràng buộc khắt khe của gia đình và xã hội phong kiến, đề cao tự do… nhưng khi quá nhấn mạnh đến tự do luyến ái của người quả phụ, đả phá những "hàng rào " của gia phong và dư luận, họ đã vô tình làm mờ nhạt đi giá trị "thủ tiết thờ chồng ",ở vậy nuôi con của những người phụ nữ thời đó. Khi cười nhạo những ông xã xệ, lý toét và những lệ làng, họ đã làm coi nhẹ nhiều "lệ làng" tốt đẹp đã từng gìn giữ và nuôi dưỡng bao thế hệ dân làng sau những luỹ tre xanh.

Không nhất thiết là cái mới phải "đúng" để rồi cái cũ luôn luôn "sai ". Chúng ta cần coi trọng những di sản của quá khứ, vì dù đó là một quá khứ suy tàn thì hiện tại và tương lai vẫn đang được xây dựng trên nó. Một nhà văn đã viết :"Một dân tộc không có quá khứ thì dân tộc đó cũng không có tương lai ". Có những người xưa đã từng có những hoài bão, những công lao đóng góp cho xã hội lớn hơn cả bạn và tôi, hãy kính trọng những cha ông đi trước, nhờ họ mà chúng ta được thừa hưởng giang sơn gấm vóc cùng bao giá trị tinh thần.

Trở lại với nhà thơ Vũ đình Liên, người ta nói rằng bài thơ "Ông đồ " trở thành tuyệt tác là vì nhà thơ luôn hoài niệm quá khứ và rất yêu thương con người. Tuy nghèo, nhưng ông đã từng dốc túi trả tiền cho một em bé mua quà bánh bị thiếu tiền ; trong một đêm giao thừa, ông đã mang bánh chưng ra đầu phố ngồi ăn tết với một cụ ăn mày ; Có một tết nọ, ông đã bỏ ăn tết với gia đình để lên Thái Nguyên, lúc giao thừa, ở trên xe lửa chỉ còn ông và một người đàn bà điên, ông bóc bánh chưng mời bà cùng ăn tết, và người đàn bà đó bỗng tỉnh cơn điên để trở về với cuộc sống bình thường, tấm lòng đó đã cải hoá được số phận con người, bạn ạ . Thời đó, khi Tây học đang lên, Hán học sống lất lây như một người nghèo khổ mà "ông đồ " là hình tượng, nhà thơ đầy lòng nhân ái đã cảm thương cho số phận "ông đồ ", sợ ông đồ mất đi cùng với bao giá trị truyền thống, phong hóa nên đã ngậm ngùi đặt câu hỏi :"Những người muôn năm cũ - Hồn ở đâu bây giờ ? "

Các bạn trẻ thân mến. Hình tượng "ông đồ " với bút nghiên, với "mực tầu giấy đỏ " dù có mất đi, nhưng "hồn" ông đồ vẫn còn đó. Hồn đó là tri thức, là dân trí, là lòng nhân, là sĩ khí của cả dân tộc chúng ta. Nếu bạn biết yêu thương, bạn sẽ trân trọng giữ gìn và truyền đạt di sản của quá khứ, để rồi bạn có thể hãnh diện với sự mong chờ của thế hệ đi trước và yên tâm vì đã chu toàn bổn phận với thế hệ mai sau. Cho dù "ngoài trời mưa bụi bay, cho dù "người thuê viết nay đâu " và cho dù có "mỗi năm mỗi vắng "; thì cứ mỗi độ xuân sang, bạn cùng tôi, chúng ta vẫn vui vẻ đọc lại bài thơ từ đầu với tấm lòng lạc quan hy vọng :

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già …


Hoài Nam

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
2 users thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 2/15/2016(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#204 Posted : Friday, February 26, 2016 7:08:58 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)

Mối tình đầu: Tiếng Việt quê người

Trang ĐàiTrần Nguyễn Glassey

Mưa tầm tã hồi nửa đêm.

Hơn 7 giờ sáng mà trời ui ui. Tôi thức dậy, thay quần áo. Bữa Mẹ và năm chị em mới đặt chân tới Quận Cam, trời cũng mưa lớn. Bốn chị em gái ở chung phòng, không thèm ngủ, tụm nhau bên cửa sổ, ngó mưa. Chị Hai nói:

- Ai cho mượn tiền mua vé máy bay về Việt Nam luôn, Chị mượn liền!

Bữa nay, cả nhà còn đang nướng. Mới đi may và làm hãng một tuần mà ai cũng đừ. Hơn 8 giờ sáng, Cha Mai Khải Hoàn gọi điện thoại:

- Dậy chưa? Cha đến đón bây giờ nhé!

Cha Hoàn lúc đó quản nhiệm Cộng đoàn Westminster, Giáo phận Orange, Tiểu bang California. Tối bữa trước, bốn chị em cùng đi hát lễ chiều Thứ Bảy. Sau lễ, Cha Hoàn ghé ca đoàn, rủ chúng tôi đi dạy Việt Ngữ. Bốn đứa đang ngơ ngác thì Cha nói, “Sáng mai 8 giờ rưỡi, Cha ghé đón tụi con đi họp!” Trường thiếu Thầy Cô, nên Cha rủ được ai thì... rủ liền!

Đó là những ngày chớm Xuân 1994. Gia đình tôi mới được đoàn tụ với Ba ở Quận Cam sau mười mấy năm xa cách. Tới nơi, Cha Hoàn đưa tôi vào giới thiệu với Thầy hiệu trưởng Vũ Hoàng. Hai mươi hai năm sau, nghĩ lại, tôi thấy mình phải cám ơn Cha đã làm ‘ông mai’ xe duyên cho tôi với Trường Việt Ngữ Cộng đoàn Westminster trong một ngày mưa gió như vậy. Mà ông mai của tôi họ Mai, nên phải gọi là ‘ông mai Mai’ cho đúng.

Trời vẫn mưa trong suốt buổi họp. Căn phòng nhỏ ấm hơi người, thêm một chút ẩm ướt vì nước mưa theo chân mọi người vào phòng. Mưa và sự nóng ẩm làm tôi nhớ Việt Nam. Tôi chưa quen ai. Buổi họp thân tình, hào hứng. Ai cũng có những ý kiến để phát triển ngôi trường chung. Lúc đó, trường mới chào đời hơn một năm. Vừa họp, vừa hát, vừa ăn trưa, đến gần một giờ chiều mới xong. Thầy Hoàng hát bài ‘tủ’ “Chuyện Tình Hoa Rau Muống” do Thầy chế, mà Thầy hay hát trong những sinh hoạt Việt Ngữ tại Nam California. Khi chúng tôi ra về, trời còn mưa lâm râm. Cô giáo Ngọc Phượng tình nguyện chở tôi về, vì Chị ở gần nhà tôi. Từ ngày đó, tôi thân với Chị Phượng nhất trường. Chị Phượng tặng áo dài có hình ảnh quê hương cho tôi. Tôi làm thơ tặng Chị.

Từ buổi họp định mệnh ấy, tôi gắn bó với ngôi trường nhỏ, không chỉ vào mỗi chiều Thứ Bảy đi dạy, mà cả những sinh hoạt khác của trường, như văn nghệ Tết khi Trường tổ chức mừng Xuân cho các em và phụ huynh, giúp các em học bài để đi “Thi Đố Vui” ở Trung Tâm Công Giáo, giúp các em ôn bài cho “Giải Hiếu Học” do Viện Việt Học tổ chức, giúp quán “Thả Thơ” của Ban Đại Diện tại Hội Tết Sinh Viên ở sân PE của Warner Middle School (chỗ bây giờ xây Rose Theater), tập múa cho các em và đưa các em đi múa ở Hội Tết Sinh Viên tại Golden West College, dạy các em múa hát cho Lễ Bế Giảng, làm trợ huấn cụ cho lớp, dự những buổi họp ở nhà Thầy Hoàng với món ‘seven-layer dip’ do chính Thầy làm (ngon mà dễ… lên cân í, Thầy ui!), vân vân. Cô giáo nhí này yêu đậm, nên không lỗi cuộc hẹn hò nào với Trường hết. Tôi cũng phục vụ trong Ban Việt Ngữ Liên Trường của Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam, Giáo Phận Orange, trong nhiều năm, nên lại càng có thêm nhiều dịp sát cánh với trường tôi, nhất là khi Ban Việt Ngữ tổ chức Tĩnh Huấn và Tu Nghiệp mỗi hè, và Thi Đố Vui và Thi Viết Văn hằng năm.

Đi dạy Việt Ngữ cho tôi nhiều kỷ niệm khó... quên. Mùa hè năm đầu, vợ chồng Thầy Hoàng Cô Hằng - mà tôi bầu là “mối tình đẹp nhất Việt Ngữ Westminster” - đã đưa tôi đi dự khoá Tu Nghiệp Sư Phạm (TNSP) tại Rosemead. Thầy Cô đến sớm cả nửa ngày để giúp chuẩn bị cho Khoá. Khi nhìn Thầy Hoàng hăng hái (bây giờ Thầy tôi đã ở tuổi hưu, mà vẫn hăng hái; còn hồi đó, Thầy ở tuổi năm mấy bẻ gẫy… cành cây!) đi treo banner “Tu Nghiệp Sư Phạm Việt Ngữ, Miền Tây Nam Hoa Kỳ,” tôi thấy lâng lâng. Tôi nhận thức được rằng, việc dạy Việt Ngữ không chỉ là việc trong Cộng đoàn, trong trường chúng tôi. Tôi cảm nhận được mạch sống tiếng Việt căng tràn cả một vùng đất rộng. Hai mươi hai năm sau, sứ mạng dạy Việt Ngữ tiếp tục nối kết người Việt hải ngoại trên toàn cầu.

Khoá TNSP được tổ chức tại Don Bosco Technical Institute, một trường trung học tư thục nội trú nam, trên một ngọn đồi thơ mộng ở Rosemead. Tôi bị ‘chia trí,’ đã vào nhà nguyện mấy lần trong những lúc giải lao để chầu Chúa và… làm thơ! Nhiều Thầy Cô tôi gặp trong Khoá đó hiện đang dạy Việt Ngữ ở các trường công cũng như trường Việt Ngữ tại Quận Cam. Lúc đó, tôi còn trăng rằm non choẹt, không dám xưng ‘em’ với các Thầy Cô trạc tuổi Ba Mẹ tôi trong trường, mà xưng ‘con’ ngọt xớt! Sau này, khi có gia đình và làm mẹ, tôi xưng ‘em’ cho thân tình. Đi dạy Việt Ngữ, tôi hoà theo những buồn vui của trường. Có Cô chồng mất vì ung thư gan, có Cô lên xe hoa, có Thầy tìm được việc tốt. Báo Orange County Register viết bài về trường, có hình cô giáo nhí đang dạy học trò tập đọc. Những kỷ niệm này giúp tôi nhập vào dòng sống đời thường của người dân quê tôi miệt Little Saigon, Quận Cam.

Và có những kỷ niệm khó… khăn. Một kỷ niệm đã tạo hứng cho tôi viết bài đầu tiên trên tờ Việt Mercury hồi những năm 2000, lúc cố nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng làm Tổng thư ký. Tựa bài viết là một câu hỏi: “Phải chăng máu rồi sẽ thôi nồng?” Ở cuối bài, tôi đã tự trả lời cho mình, rằng máu sẽ mãi nồng. Mười mấy năm sau, với phong trào Việt Ngữ lớn mạnh và tỏa lan vào giáo dục dòng chính, tôi thấy, máu chẳng những nồng, mà còn rất nồng! Số là năm thứ nhì, Thầy Hoàng cho tôi một mình một cõi lây bệnh cho trẻ con. Bệnh yêu tiếng Việt. Thầy giao cho tôi lớp “Vỡ Lòng” – mà tôi xin thêm vào hai chữ “Tự Do.” Em nào nhập học trễ, hoặc không biết xếp vào lớp nào, thì Thầy lại đưa ngay vào lớp “Tự Do” của tôi. Nên giữa một đàn gà con, thì có một con gà cồ và vài con gà tơ. Con gà cồ tên Phong, còn nhỏ nhưng ‘cứng cựa.’ Nó dõng dạc tuyên bố ngay trong ngày nhập học, bằng tiếng Anh:

- Tôi không phải là một đứa con nít! Tôi là một người đàn ông. Lớp này không thích hợp với tôi. (I am not a kid! I am a man. This class is not for me.)

Gà Cồ làm khổ tôi đủ điều. Hắn hỏi: tại sao phải học tiếng Việt, tại sao không cho hắn chơi (à, thì ra ‘một người đàn ông’ cũng có nhu cầu đùa chơi như trẻ con!).

Hôm đó, tôi đi bộ về mà buồn tấm tức. Sao Gà Cồ ác với mình vậy! Tôi một mình ‘mưa lâm râm’ trên đường. Tôi ‘mưa’ bốn mươi phút thì tới nhà. Tuần sau, tôi lẹ làng đề cử Gà Cồ làm Trưởng lớp. Hắn phản đối. Tôi trì chí. Cuối cùng, hắn miễn cưỡng nhận lời. Thật ra, ở cái tuổi đàn-ông của hắn (nghĩa là mới 8 tuổi), thì hắn phải tỏ rõ hắn luôn làm chủ tình hình. Nên hắn phải phản đối trước. Cuối năm, Gà Cồ tự nguyện xin ở lại lớp, dù được lãnh thưởng hạng nhất. Thấy nó xin ở lại, đám gà con cũng lao nhao biểu quyết, đồng loạt muốn ở lại lớp để cũng học như năm nay. Tôi ngẩn tò te. Ôi, đám gà con, gà cồ, gà tồ, gà tơ này – tôi cũng mê các chúng lắm lắm, nhưng không ai lên lớp thì chắc cô giáo phải… hưu non! Đàn gà con đã cho gà-mẹ-tôi bài học vỡ lòng về việc ứng xử với trẻ con, để hôm nay, khi có được bầy gà nhí của riêng mình, tôi đủ kiên nhẫn và mềm mỏng trong việc hướng dẫn và dìu dắt con cái.

Lúc đó, tôi đang giúp tổ chức Đại Hội Giới Trẻ Việt Nam Vietnamese Youth Convention 2003 tại UC Irvine. Tuy quán xuyến Ban Biên Tập cho Đại Hội, nhưng tôi cũng soạn một bài nhạc hip-hop song ngữ và biên đạo một tiết mục múa mang tên “Rice 4 Christ - Lúa Cho Chúa.” Trước giờ trình diễn, chúng tôi xúm nhau trong hậu trường, chụm tay, đồng lòng múa hết mình. Tới màn “Rice 4 Christ,” tôi đưa trâu đen, đẩy chòi tranh lên sâu khấu. Để gợi nét quê hương. Tôi làm khán giả hàng đầu, ngắm các em. Các em múa thật ngầu, thật cảm động. Tất cả mặc áo bà ba nâu, đội nón lá. Múa hip-hop, xen những chiêu võ Việt Nam tôi học ở Chùa Liên Hoa trên đường Bixby, Tp Garden Grove. Quê hương không còn trên hình ảnh con trâu, hay mái lá, mà thoát lên từ những điệu múa dứt khoát, nhịp nhàng, ý nghĩa. Các em đã gieo “Lúa Cho Chúa.” Và gặt quê hương cho tôi.

Cả cuộc đời mình, tôi theo đuổi Tiếng Việt như một người tình. Từ những quyển sách từ trước 1975 tôi đọc mót được khi còn trong nước, đến ý thức và chọn lựa ưu tiên sáng tác bằng tiếng Việt ở quê người. Trong học thuật, tôi viết tài liệu tiếng Anh để xuất bản, nhưng khi nghiên cứu về người Việt hải ngoại trên thế giới bằng phương pháp lịch sử truyền khẩu trong hai thập niên qua, tôi vẫn dùng tiếng Việt để phỏng vấn. Tôi vận động và cố vấn cho các chương trình giáo dục song ngữ tại Hoa Kỳ. Tôi cẩn trọng soạn 50 sách tập đọc tiếng Việt cho các lớp tiểu học song ngữ. Tiếng Việt làm tôi hãnh diện, hạnh phúc. Sau bốn mươi năm xây dựng một Việt Nam Hải Ngoại, Tiếng Việt chính là căn tính văn hoá nổi trội nhất của chúng ta.

Tiếng Việt – Người Tình. Tiếng mẹ đẻ. Tiếng nuôi con. Tiếng giữ nước.

Tiếng Việt – Quê hương của tôi và của dân tộc tôi giữa thế giới.



Một cuộc hội thảo về cách dạy Việt ngữ
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#205 Posted : Saturday, March 26, 2016 3:34:58 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Nét Đặc Thù Trong Cú Pháp Tiếng Việt


Các chủ ngữ vô hình

Nhiều câu trong tuyệt tác Truyện Kiều của thi bá Nguyễn Du chứa đựng những chủ ngữ vô hình, thiếu minh xác mà theo Đoàn Phú Tứ (1949) như “ẩn hình ngay trong động từ, ta không vạch được nó ra một cách rành rọt mà chỉ hội được nó, theo cái nghĩa của đoạn văn mà thôi.” Ông Đoàn đưa ra thí dụ dưới đây:

Bóng hồng nhác thấy nẻo xa,
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai.
Người quốc sắc kẻ thiên tài,
Tình trong như đã mặt ngoài còn e.
Chập chờn cơn tỉnh cơn mê,
Rốn ngồi chẳng tiện rứt về chỉn khôn.
Bóng tà như giục cơn buồn,
Khách đà lên ngựa người còn nghé theo.
Dưới cầu nước chảy trong veo,
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.

Rồi ông Đoàn đặt câu hỏi và tự trả lời, để chứng minh cho “cái lợi của tính chất thiếu minh xác trong ngôn ngữ văn chương của ta”:
“Ai nhác thấy? Đành là Kim Trọng, nhưng không nói rõ, thì sao lại không có thể là cả chàng độc giả thư sinh nọ, cảm thông với chàng Kim một cái liếc nhìn? Chập chờn cơn tỉnh cơn mê là ai? Là người quốc sắc hay kẻ thiên tài? Hay cả hai? Luận ra thì biết, song trước khi lý luận, tại sao ta không có quyền nghĩ đến cả hai người? Bóng tà như giục cơn buồn: Nỗi buồn của ai vậy? Của Kim Trọng hay của Thúy Kiều, hay của hai người? Hay cũng là nỗi buồn của ta chăng? Và hai câu cuối: Dưới cầu … thướt tha có phải chỉ là cái tình của Thúy Kiều gửi vào trong cảnh ấy, hay còn phảng phất cả cái tình của người đọc sách nữa?”
Nhưng khi được dịch sang tiếng Pháp và tiếng Anh thì các chủ ngữ vô hình bắt buộc phải xuất hiện. Nguyễn Văn Vĩnh (1943) thì cho rằng chủ ngữ của chập chờn cơn tỉnh cơn mê chính là nàng Kiều cho nên đã dịch câu ấy sang Pháp văn thành “Kiều flottait entre le rêve et la réalité” và cũng cho rằng bóng tà như giục cơn buồn chỉ áp dụng cho nàng mà thôi, qua câu dịch “La descente du soleil vers l’horizon semblait provoquer chez elle un accès de mélancolie.” Bốn mươi năm sau (1983), Huỳnh Sanh Thông trong bản dịch sang tiếng Anh đã nghĩ khác ông Nguyễn trong hai ngữ cảnh nêu trên. Ông Huỳnh dùng chủ ngữ số nhiều để gồm cả nàng Kiều và chàng Kim vào trong cơn tỉnh cơn mê ấy: “They hovered, rapture-bound, ‘tween wake and dream” và không cho nàng Kiều độc quyền thấy cơn buồn đang bị bóng tà giục giã: “The dusk of sunset prompted thoughts of gloom.” Ông Đoàn chắc hẳn tán đồng lối dịch của ông Huỳnh hơn lối dịch của ông Nguyễn, vì ông Đoàn cho rằng ông Nguyễn “đã hiểu vội vàng, và cũng bị lầm vì cái thiếu minh xác của ngôn ngữ.”
Đó là chuyện cũ. Hôm nay, tôi cũng xin chia xẻ cùng quý vị một chút văn chương của người bạn đồng môn tài hoa của tôi, nhà thơ Lưu Văn Vịnh, trong đó chủ ngữ vắng mặt, nhưng tôi vẫn hiểu văn và thơ bạn tôi rất rõ, vì bạn tôi và tôi đều là người Việt. Thử hỏi trong hai câu lục-bát êm tai được trình bầy thành ba dòng sau đây trích từ thi tập Oang Oang Lòng Chén Rỗng (2007): “Kề vai ở chốn phong sương / Nhìn nhau đáy mắt / Đoạn trường hiện ra” thì ai và ai kề vai và nhìn nhau đáy mắt? Và trong tuyển tập Bốn Lần Leo Núi Tản (2000), có câu bạn tôi viết về chuyến thăm Bích Câu lưu loát trong sáng mà chẳng cần đến một đại từ nhân xưng (personal pronoun) đóng vai chủ ngữ nào cả: “Cuối thế kỷ, một ngày cuối năm, viếng Bích Câu như tới thăm giấc mơ của người xưa, tuy chẳng là cánh bướm, nhưng cứ bay vào những giấc mộng lớn giấc mộng nhỏ, thì giấc mộng lũy thừa nhân lên sẽ mông lung bằng cả cõi tiên vô tận …” Khi đọc đoạn này tôi thấy như tôi đang được cùng nhà văn họ Lưu viếng Bích Câu, như thể chính bạn tôi và tôi đóng vai chủ ngữ cho các động từ “là”, “viếng”, và “bay” vậy.
Nói một cách chung chung, chủ ngữ tiếng Việt thường vắng mặt trong các trường hợp dưới đây:

•Khi câu bắt đầu bằng một động từ hiện hữu như có hoặc còn:
Có vấn đề rồi!
Còn nước còn tát.
Có người khách ở viễn phương. (Truyện Kiều)
Còn về còn nhớ đến người hôm nay. (Truyện Kiều)


•Khi câu là một tục ngữ :
Đi một ngày đàng học một sàng khôn.


•Khi câu là một độc thoại :
Mệt quá rồi, nghỉ một chút. Lát nữa làm tiếp.


•Khi câu là một trao đổi giữa hai cá nhân mà chỉ ngữ cảnh mới có thể xác định ai là ai :
Đang làm gì đấy ? - Đọc sách.
Lãnh lương chưa ? - Lãnh sáng nay rồi.


•Khi câu là một trao đổi giữa hai cá nhân chưa xác định được mối liên hệ xưng hô phù hợp :
Đi đâu đấy mà đẹp thế kia ? Cho hỏi thăm một chút được không ?


•Khi câu là một trả lời cho một câu hỏi thuộc dạng có/không (yes/no question) :
Anh có muốn nghỉ không ? - Muốn !
Bạn đã hiểu chưa ? - Hiểu rồi.
Bồ chịu điều kiện đó không ? - Chịu mạnh đi chứ !


•Khi câu là một lời ra lệnh :
Hãy dựa tóc vào vai cho thuyền ghé bến
Hãy nhìn nhau mà sưởi ấm trời mưa. (Nguyên Sa)


Mối liên hệ lỏng lẻo giữa các mệnh đề

Một số mệnh đề độc lập có thể được viết kề cận nhau mà không thấy có những liên từ nối những mệnh đề ấy cho thêm rõ nghĩa, như trong các thí dụ sau đây :
Trời mưa to quá, chúng tôi quyết định ở nhà.
Chúng tôi đến nơi, họ đang cãi nhau to tiếng, chúng tôi hết sức can ngăn nhưng chẳng ăn thua gì, chúng tôi bỏ về, lòng buồn vô hạn.
Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường (Nguyên Sa)

Viết tiếng Anh theo kiểu Việt này thì sẽ bị các giáo sư người Anh người Mỹ sổ toẹt, vì phạm lỗi run-on sentences trong hai thí dụ đầu và incoherence hoặc dangling modifiers trong thí dụ chót lấy từ thơ Nguyên Sa. Tất cả là do có sự khác biệt tu từ (rhetorical difference) khá lớn giữa tiếng Việt và tiếng Anh].
Tiếng Việt có đầy đủ các liên từ diễn tả các mối liên hệ giữa mệnh đề chính và phụ, như vì, bởi vì để chỉ lý do ; để, để cho để chỉ mục đích ; giá, giá mà để chỉ giả thiết ; nếu, nếu như để chỉ điều kiện, vân vân. Khác chăng thì tiếng Việt có khuynh hướng ít dùng liên từ hơn là các ngoại ngữ như tiếng Pháp, tiếng Anh. Nhưng, đây mới là một nghịch lý thú vị của tiếng Việt : Khi một liên từ được dùng cho mệnh đề phụ thì mệnh đề chính cũng có khuynh hướng sử dụng một tiểu từ để giữ quân bình cho cấu trúc -- tức là còn kỹ lưỡng hơn tiếng Pháp, tiếng Anh. Quả vậy, khi một câu phức tạp tiếng Việt bắt đầu bằng mệnh đề phụ sử dụng một trong các liên từ vì/tuy/nếu thì mệnh đề chính thường bắt đầu bằng một trong các “từ quân bình” (balance words) nên/nhưng/thì, như trong các thí dụ sau đây:

(1a) Vì nó kiêu ngạo, nên nó không có bạn.
(2a) Tuy họ nghèo, nhưng họ rất hạnh phúc.
(3a) Nếu anh yêu em, thì anh phải cưới em ngay!

Khuynh hướng kỹ lưỡng nêu trên cũng thấy trong văn chương bác học :
Dẫu chẳng phải ngọc ngà kỳ dị,
Nhưng cũng trong ý nhị thanh tân. (Bần Nữ Thán)
Nếu thi gan với anh hùng thì thua. (Phan Trần)
[Nếu vô tình để khía cạnh cú pháp này của tiếng Việt ảnh hưởng lối viết tiếng Anh, người Việt chúng ta có khuynh hướng viết ra các câu bất cập sau đây:

(1b) Because he is arrogant, so he has no friends.
(2b) Although they are poor, but they are very happy.
(3b) If you love me, then you must marry me at once!].

Tới đây tôi cần nói lên nhận xét là những người Việt chúng ta thông thạo tiếng Pháp hoặc tiếng Anh thường cho ảnh hưởng văn pháp hai thứ tiếng ấy vào tiếng Việt khiến cho câu văn tiếng Việt của họ đỡ bị chê là không có chủ từ, hoặc chủ từ mù mờ, hoặc thiếu phần mạch lạc vì tránh dùng liên từ trong câu phức tạp. Họ sẽ chuyển câu Trời mưa to quá, chúng tôi quyết định ở nhà thành ra Vì trời mưa to quá, (cho nên) chúng tôi quyết định ở nhà và câu Các anh cười khúc khích làm em ngượng quá thành ra Cái cười khúc khích của các anh làm em ngượng quá.

Cấu trúc đề/thuyết (topic/comment)

Cấu trúc của một câu tối thiểu trong ngôn ngữ nào cũng gồm hai yếu tố là chủ ngữ (subject) và vị ngữ (predicate). Chủ ngữ thông báo một đề (topic) và vị ngữ cung cấp một thuyết (comment) tức là một nhận định về đề ấy. Mối liên hệ chủ ngữ/vị ngữ và đề/thuyết được thấy rõ rệt trong các câu Trời/mưa và Anh Tám/ mới lấy vợ hôm qua. Nhưng không phải lúc nào chủ ngữ cũng trùng hợp với đề đâu. Chẳng hạn trong câu (1) Chiếc xe này/chạy ngon lắm và (2) Chiếc xe này/tôi mua lâu rồi thì Chiếc xe này vừa là chủ ngữ vừa là đề trong câu (1), nhưng chỉ là đề và đóng vai túc từ cho động từ mua trong yếu tố thuyết của câu (2). Hơn nữa, đề luôn luôn xuất hiện ở đầu câu, trong khi chủ ngữ có thể xuất hiện ở đầu hoặc cuối câu (thí dụ, trong câu này thì chủ ngữ nằm ở cuối câu: Giữa rừng già xuất hiện một bầy voi).
Đề cũng có thể được coi như một “chủ ngữ tâm lý” trong câu vì nó sửa soạn trí tuệ cho sự đón nhận thông điệp của phần thuyết. Tiếng Nhật luôn luôn đánh dấu chủ ngữ và đề bằng các tiểu từ (particles) ga và wa, thí dụ:
Neko ga sakana o tabemashita.
[Mèo (chủ ngữ) cá (túc từ) đã ăn = Mèo đã ăn cá.]
John wa san-nen-sei desu.
[John (đề) tam-niên-sinh là = Còn về John, thì anh ấy là sinh viên năm thứ ba.]

Tiếng Việt cũng có khuynh hướng dùng cấu trúc đề/thuyết, với tiểu từ thì đánh dấu cấu trúc này, như thí dụ dưới đây:
Chị Ba luôn buồn bã. Chồng chị thì / ngược lại, lúc nào cũng vui.
Ngoài ra cũng có các cách giới thiệu cấu trúc đề/thuyết sử dụng các phương tiện từ vựng và cú pháp đặc thù như trong các câu thí dụ sau đây:
Cái anh chàng ấy hả / trời ơi, keo kiệt lắm đấy!
Tám Mập và Út Sẹo có lấy nhau không / xem hồi sau sẽ rõ.
Riêng tôi / tôi rất mê những bài ca vọng cổ.
Nỗi nàng / tai nạn đã đầy
Nỗi chàng Kim Trọng / bấy chầy mới thương (Truyện Kiều)
Áo nàng vàng / tôi về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh / tôi mến lá sân trường (Nguyên Sa)

Có lẽ vai trò “chủ ngữ tâm lý” của yếu tố đề trong cấu trúc đề/thuyết đã giúp tiếng Việt vẫn dễ hiểu bất kể các nhược điểm như chủ ngữ thiếu vắng hoặc mù mờ và sự lỏng lẻo trong mối liên hệ giữa các mệnh đề như đã giải thích ở trên. Riêng trong thể lục-bát của thi ca Việt Nam, câu lục thường đóng vai đề và câu bát đóng vai thuyết, như trong các câu thơ sau đây:

Trăm năm trong cõi người ta (đề)
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau (thuyết) (Truyện Kiều)
Trước đèn xem truyện Tây Minh (đề)
Gẫm cười hai chữ nhân tình éo le (thuyết)
Hỡi ai lẳng lặng mà nghe (đề)
Dữ răn việc trước, lành dè thân sau (thuyết) (Lục Vân Tiên)
Và qua nhận định này, đồng môn Lưu Văn Vịnh của tôi cũng đã vô hình trung sử dụng cú pháp đề/thuyết khi viết câu hai câu lục-bát êm tai nhưng cũng đượm mầu bi quan của anh:
Kề vai ở chốn phong sương (đề)
Nhìn nhau đáy mắt đoạn trường hiện ra (thuyết)
Liệu bạn tôi có đồng ý không?

ĐÀM TRUNG PHÁP
(Tóm lược bài thuyết trình trong Hội Thảo Văn Hóa Việt Nam ngày 11-9-2010 tại San Jose State University)

Tài Liệu Tham Khảo

•Đoàn Phú Tứ (1949). “Đi Tìm Chủ Từ Trong Vài Đoạn Văn Đoạn Trường Tân Thanh.”
In trong sách Nguyễn Du: Về Tác Giả Và Tác Phẩm (1999). Nhà Xuất Bản Giáo Dục, Việt Nam.

•Hà Như Chi (1970). Việt Nam Thi Văn Giảng Luận. Nhà Xuất Bản Sống Mới, Saigon.
•Huỳnh Sanh Thông (1983). The Tale of Kiều. Yale University Press, New Haven and London.
•Nguyễn Đình Hòa (1997). Vietnamese – Tiếng Việt Không Son Phấn.
John Benjamins Publishing Company, Amsterdam and Philadelphia.
•Nguyên Sa (2000). Thơ Nguyên Sa Toàn Tập. Nhà Xuất Bản Đời, Irvine, California.
•Lưu Văn Vịnh (2000). Bốn Lần Leo Núi Tản. Hạ Long Thư Các, Elridge, California.
•Lưu Văn Vịnh (2007). Oang Oang Lòng Chén Rỗng. Ổ Văn Hạ Long, Elridge, California


Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#206 Posted : Tuesday, May 3, 2016 10:21:36 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Những từ ngữ đã đi vào quá khứ



Ngôn ngữ là phương tiện trao đổi ý tưởng trong cuộc sống hàng ngày. Thế cho nên, ngôn ngữ cũng phải thay đổi theo cách sống và lối sống của từng thời kỳ. Sự kiện tháng 4/1975 là một cột mốc thay đổi lớn nhất trong đời sống văn hóa, chính trị và xã hội của người miền Nam, kéo theo sự mai một của một số từ ngữ vốn đã dùng quen hàng ngày.

Thay đổi sâu rộng nhất là cả một hệ thống chính trị tại miền Nam cho nên những từ ngữ có liên quan đến ý thức hệ cũ dần dần đã đi vào quá khứ. Đó là quy luật tất yếu của cuộc sống. Bài viết này có mục đích ghi lại những từ ngữ đã một thời phổ biến trong xã hội miền Nam để những thế hệ kế tiếp có thể hiểu được những gì cha ông đã thường nói trong cuộc sống hàng ngày.

Chiêu hồi là một trong những từ ngữ của Sài Gòn xưa và sẽ dần dần đi vào quên lãng. Đây là một chương trình do chính phủ Việt Nam Cộng hòa đề ra để khuyến khích các thành phần vũ trang của Mặt trận Giải phóng miền Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa buông súng quay về với phe chính phủ. Vận động tuyên truyền được thực hiện dưới nhiều hình thức: truyền đơn thả từ máy bay hoặc qua những chương trình phát thanh và đài phát thanh [1].

Chính phủ VNCH cho in và phổ biến Giấy thông hành nhằm mục đích giúp các cán binh, du kích trở về với quốc gia. Phần trên của Giấy thông hành có cờ VNCH và cờ của các quốc gia tham chiến gồm Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Thái Lan, Đại Hàn, Tân Tây Lan và Phi Luật Tân. Giấy thông hành được viết bằng 4 ngôn ngữ: Tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Đại Hàn và tiếng Thái. Phần dưới có nội dung như sau:



“MANG TẤM GIẤY THÔNG HÀNH nầy về cộng tác với Chánh Phủ Quốc Gia các bạn sẽ được:

•Đón tiếp tử tế
•Bảo đảm an ninh
•Đãi ngộ tương xứng

(Ký tên)
Nguyễn Văn Thiệu
Tổng thống Việt Nam Cộng hòa

Song song với việc phổ biến Giấy Thông Hành là các chương trình Phát thanh Chiêu hồi được mở đầu bằng bản nhạc Ngày Về của Hoàng Giác được dùng làm nhạc hiệu (nghe Ngày Về qua giọng ca của Anh Ngọc trên *ttp://www.youtube.com/watch?v=rNKpu3IEW2c )

"Tung cánh chim tìm về tổ ấm
nơi sống bao ngày giờ đằm thắm
nhớ phút chia ly, ngại ngùng bước chân đi
luyến tiếc bao ngày xanh…”

Điều khá lý thú là Hoàng Giác (sinh năm 1924) vốn là nhạc sĩ theo kháng chiến chống Pháp và đã từng là đội viên tuyên truyền trong chiến khu Việt Bắc. Năm 1947, Hoàng Giác viết Ngày về, theo ông, đó là ca khúc ưng ý nhất. Năm 1948 Hoàng Giác “dinh tê” trở về Hà Nội, hoạt động nghệ thuật như một nhạc sĩ và cũng là một ca sĩ được dân Hà Thành hâm mộ.
Cũng giống như một số nhạc sĩ cùng thời, Hoàng Giác sáng tác không nhiều, chỉ khoảng 20 ca khúc, trong số đó có những bài hát nổi tiếng, vượt thời gian như Mơ hoa, Ngày về, Hương lúa đồng quê. Ông hiện sống ở Hà Nội và có người con trai là nhà thơ khá nổi tiếng Hoàng Nhuận Cầm.

Báo Công an Nhân dân trong bài viết “Nhạc sĩ Hoàng Giác: Mãi giấc mơ hoa” có đoạn đề cập đến bản nhạc Ngày về:
“Sau khi được một số ca sĩ hát ở ngoài Bắc, vào cuối thập niên 60 của thế kỷ trước, rất ngẫu nhiên, giai điệu của "Ngày về" được chính phủ Việt Nam Cộng hòa chọn làm nhạc hiệu cho chương trình Chiêu hồi. Vì tình huống nhạy cảm này mà mãi đến sau 1975, bài "Ngày về" mới được hát trở lại ở ngoài Bắc với nhiều giọng ca nổi tiếng như tài tử Ngọc Bảo, Cao Minh, Lê Dung, Ngọc Tân…”

Những cán binh trở về với Chính phủ VNCH được gọi là người hồi chánh hay hồi chánh viên. Trong số những người hồi chánh có ca sĩ Bùi Thiện và Đoàn Chính (con trai nhạc sĩ Đoàn Chuẩn), nhà văn Xuân Vũ (tác giả hồi ký Đường Đi Không Đến và Vượt Trường Sơn, đã qua đời tại Texas năm 2002), Trung Tá Lê Xuân Chuyên (bị chính quyền mới xử tử hình vào ngày 30/4/1975), Trung tá Tám Hà, Trung tá Phan Văn Xưởng, Trung tá Huỳnh Cự…
Chiêu hồi, ngoài ý nghĩa chính trị còn được dùng như động từ để chiêu dụ ai đó, chẳng hạn như trong câu: “Hắn đã ‘chiêu hồi’ được một tay chọc trời khuấy nước về làm việc dưới trướng”.

Gần đây, trên *ttp://nguoivietblog.com/hagiang/?p=497, tác giả Tam Thanh có một bài viết với tiêu đề “Chiêu hồi” ngôn ngữ, bàn về cách dùng khác nhau và ý nghĩa đúng-sai của những từ ngữ xuất xứ từ miền Nam và miền Bắc.

Trần Trung Đạo trong bài “Mặc cảm chiêu hồi và khát vọng tự do” viết:
"Tôi có mặc cảm rằng ra Hà Nội là đầu hàng, ra Hà Nội là chấp nhận chế độ, là một hình thức chiêu hồi. Tôi ở lại Việt Nam thêm 6 năm nhưng nhất định không đi thăm miền Bắc, dù có nhiều cơ hội…" *ttp://www.trantrungdao.com/?p=262.

Thuật ngữ “chém vè” cũng là một từ ngữ chính trị được sử dụng tại miền Nam. Chém vè, nguyên thủy có ý nghĩa ẩn mình dưới nước hoặc những nơi lùm bụi rậm rạp gần bờ nước để trốn tránh. Theo một số người, “chém vè” xuất phát từ con ba ba (cua đinh) với hai càng rất khỏe còn gọi là vè. Hễ nghe tiếng động, hai vè của nó chém mạnh rồi chui vào bùn để trốn.
Đối với chính quyền VNCH, thuật ngữ “chém vè” chỉ tình trạng các cán binh “giã từ vũ khí” để ra “hồi chánh”. Xem ra, cũng chỉ một từ ngữ nhưng ý nghĩa hoàn toàn khác nhau tùy theo chính kiến. Đó cũng là điều dễ hiểu ở một đất nước đang trong tình trạng chiến tranh về ý thức hệ.

Chuyện cười của Bác Ba Phi trong Rùa U Minh viết: “Hai bác cháu tui chạy một mạch qua tới Lung Bùn, chém vè cho tới chiều. Về chưa tới nhà thì thằng Ba Lùn chặn lại rủ vô nhà nhậu thịt rùa rang muối. Nó bảo là hồi trưa nó đốt giang sậy ven Lung Tràm, bắt được vài chục con rùa. Nghe nói mà tui tiếc hùi hụi. Hồi trưa thấy bầy rùa bò đó mà tưởng đâu xe lội nước [thiết vận xa M113, chú thích của NNC], bỏ chạy trốn. Thiệt tức!”. Chém vè ở đây chỉ thuần túy là ẩn núp.
Theo hồi ký "Chém vè giữa làng báo Sài Gòn" của nhà văn Nguyên Hùng [2], thuật ngữ “chém vè” trong bài viết này chỉ việc những cán bộ Cộng sản, sau hiệp định Genève 1954, được đưa về Sài Gòn để “trường kỳ mai phục”, “hoạt động trong lòng địch” hay còn gọi là “nằm vùng”.

“Nằm vùng” quả là một từ vừa gợi hình lại gợi ý. Đối với chính quyền VNCH, nằm vùng là một từ có ý miệt thị chỉ những người sinh sống tại miền Nam hoạt động bí mật cho Cộng sản, tương tự như cụm từ người ta thường nói: “Ăn cơm Quốc gia, thờ ma Cộng sản”. Mãi đến sau năm 1975, những nhân vật nằm vùng mới dần dần lộ diện.

Theo cuốn Decent Interval của Frank Snepp, cựu chuyên viên thẩm vấn của CIA, có đến hàng chục ngàn cán bộ Cộng sản “nằm vùng” tại miền Nam trong cuộc chiến vừa qua. Họ có thể là một người lái taxi, đạp cyclo… hằng ngày vẫn theo đuổi công việc của mình nhưng sau 30/4/1975 họ lại là những cán bộ trong Ủy ban Quân quản giữ nhiệm vụ điều hành một thành phố Sài Gòn còn đang trong thời kỳ hỗn mang.
Ở một mức độ cao hơn, cán bộ “nằm vùng” nằm ngay trong guồng máy chính phủ Sài Gòn, nổi bật nhất là nhân vật tình báo bí ẩn Phạm Ngọc Thảo [3]. Điều bất ngờ là Thảo mang cấp bậc Đại tá của Quân lực VNCH tại miền Nam trong khi chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm vẫn không biết Thảo còn là Đại tá trong Quân đội Nhân dân ở miền Bắc.

Biết Phạm Ngọc Thảo từng là chỉ huy du kích Việt Minh, đầu năm 1961 Ngô Đình Nhu đã quyết định cử ông làm tỉnh trưởng tỉnh Kiến Hòa (tức Bến Tre) để trắc nghiệm Chương trình Bình định. Từ khi Phạm Ngọc Thảo nhậm chức, tình hình an ninh tại vùng này trở nên rất yên ổn, không còn bị phục kích hay phá hoại nữa. Tuy nhiên, do có nhiều tố cáo nghi ngờ ông là “cán bộ cộng sản nằm vùng”, ông thôi giữ chức Tỉnh trưởng và được cử sang Hoa Kỳ học một khóa về chỉ huy và tham mưu.

Tháng 9/1963 Bác sĩ Trần Kim Tuyến (nguyên Giám đốc Sở Nghiên cứu Chính trị, thực chất là cơ quan mật vụ) và Phạm Ngọc Thảo âm mưu một cuộc đảo chính. Phạm Ngọc Thảo đã kêu gọi được một số đơn vị như Quân đoàn 3, Quân đoàn 4, Biệt động quân, Bảo an... sẵn sàng tham gia. Sau khi TT Ngô Đình Diệm bị lật đổ ngày 1/11/1963, Phạm Ngọc Thảo được lên chức đại tá, làm tùy viên báo chí trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng.

Sau đó, Phạm Ngọc Thảo phải rút vào hoạt động bí mật cho phía bên kia chiến tuyến vì ngày càng nhiều nghi vấn ông là Việt Cộng mằm vùng. Phạm Ngọc Thảo bị chính quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu kết án tử hình và treo giải 3 triệu đồng cho ai bắt được. Cuối cùng, Phạm Ngọc Thảo bị Cục an ninh quân đội (Số 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm) bắt giữ và bị thủ tiêu ngày 17/7/1965 khi mới 43 tuổi.

Những năm hoạt động “nằm vùng” của Phạm Ngọc Thảo cho chính quyền miền Bắc được ngụy trang rất kỹ và rất ít người ở miền Nam biết ông là một nhà tình báo. Ngay cả sau 30/4/1975, nấm mộ ông vẫn chỉ là nấm mồ vô danh vì ông hoạt động “đơn tuyến”. Mãi sau này, một số đồng đội đã sưu tầm tài liệu về ông và đề nghị Nhà nước truy tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân... Năm 1987, nhà cầm quyền truy tặng ông danh hiệu liệt sỹ với quân hàm đại tá và mộ của ông được đưa về nghĩa trang thành phố, trên đồi Lạc Cảnh (huyện Thủ Đức).
Phạm Ngọc Thảo được coi là một trong 4 tình báo viên xuất sắc nhất của Chính phủ miền Bắc (3 người kia là Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ và Lê Hữu Thúy). Đối với Chính phủ miền Nam, cả 4 người này đều là “Việt Cộng Nằm Vùng”, không hơn không kém!
Tiểu thuyết Ván Bài Lật Ngửa của nhà văn Nguyễn Trương Thiên Lý (Trần Bạch Đằng) được mở đầu bằng câu: "Tưởng nhớ anh Chín T. và những người đã chiến đấu hy sinh thầm lặng". Nhân vật chính trong truyện, Nguyễn Thành Luân, chính là hình ảnh của Phạm Ngọc Thảo, bí danh Chín T. hay Chín Thảo.

Nhân vật “nằm vùng” thứ hai là Phạm Xuân Ẩn [4] là một thiếu tướng tình báo của Hà Nội với biệt danh Trần Văn Trung hay Hai Trung. Trong suốt thời gian chiến tranh, Phạm Xuân Ẩn sống tại Sài Gòn dưới vỏ bọc “ký giả” làm việc tại Việt tấn xã, cộng tác với hãng thông tấn Reuters và có nhiều bài viết trên tạp chí Time, New York Herald Tribune, The Christian Science Monitor...
Theo một tài liệu được công bố, Phạm Xuân Ẩn đã gửi về Hà Nội 498 báo cáo bao gồm tài liệu nguyên gốc đã được sao chụp, các thông tin thu lượm cùng phân tích và nhận định của Ẩn về VNCH và Hoa Kỳ. Là người đã từng được đào tạo về ngành báo chí tại Mỹ, Phạm Xuân Ẩn là nhân vật được chèo kéo bởi nhiều cơ quan tình báo miền Nam cũng như miền Bắc, trong nước cũng như ngoài nước, kể cả CIA.




PXA và Thủ tướng Phan Huy Quát


Ngày Sài Gòn đổi chủ, vợ con Phạm Xuân Ẩn đã rời Việt Nam theo chiến dịch di tản của người Mỹ và theo kế hoạch của miền Bắc, ông sẽ được gửi sang Mỹ để tiếp tục hoạt động tình báo. Tuy nhiên, theo một số tài liệu, Phạm Xuân Ẩn đã đề nghị cấp trên cho ngưng công tác vì lý do đã “hoàn thành nhiệm vụ”. Kế hoạch thay đổi, vợ con ông đã phải mất một năm để quay lại Việt Nam theo đường vòng: Paris - Moscow - Hà Nội - Sài Gòn.

Như cái tên “định mệnh” mà ông mang, cuộc đời của Phạm Xuân Ẩn lúc “ẩn”, lúc “hiện” và cũng có lúc “lên voi”, lúc “xuống chó”. Năm 1997, chính phủ Việt Nam từ chối không cho phép Phạm Xuân Ẩn đến Hoa Kỳ để dự một hội nghị ở New York mà ông được mời với tư cách khách mời đặc biệt. Trong những năm cuối đời, có vẻ như Phạm Xuân Ẩn cảm thấy thất vọng với những gì ông chứng kiến tại Việt Nam sau cuộc chiến. Ông tiết lộ với Thomas A. Bass, tác giả cuốn The Spy Who Loved Us: "Dân chúng tại đây [tức Việt Nam] không được viết tự do. Đó là vì sao tôi không viết hồi ký".

Năm 1978, Phạm Xuân Ẩn phải ra Hà Nội học tập chính trị dành cho cán bộ cao cấp trong 10 tháng. Sự kiện này được xem như một hình thức “cải tạo” và ông giải thích vì lý do đã “sống quá lâu trong lòng địch”. Có người cho rằng ông bị nghi kị và bị quản chế tại gia, không được xuất ngoại, bị cấm tiếp xúc với bên ngoài, đặc biệt với giới báo chí ngoại quốc do cách suy nghĩ, cư xử… “rất Mỹ”.
Ông đã từng giúp bác sĩ Trần Kim Tuyến rời khỏi Việt Nam vào ngày 30/4/1975 (Bác sĩ Tuyến là “xếp” cũ của Phạm Xuân Ẩn năm 1959. Cơ quan mật vụ của BS Tuyến biệt phái ông sang làm việc tại Việt tấn xã, phụ trách bộ phận các phóng viên ngoại quốc làm việc trong cơ quan này).



Vũ Ngọc Nhạ và “vụ án chính trị lớn nhất thời đại”

Vũ Ngọc Nhạ [5], Thiếu tướng tình báo của Hà Nội cũng là một trường hợp “nằm vùng” ngay trong đầu não của nền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa tại miền Nam, kéo dài từ năm 1954 đến ngày Sài Gòn sụp đổ. Miền Bắc ca tụng ông là “điệp viên siêu hạng” với những “điệp vụ bất khả thi” trong “vụ án chính trị lớn nhất thời đại”.

Với vỏ bọc của một “con chiên ngoan đạo” đã từng sát cánh với Giám mục Lê Hữu Từ và Linh mục Hoàng Quỳnh, Phạm Ngọc Thảo trở thành một người tâm phúc, thường xuyên bàn bạc những vấn đề cơ mật với Tổng thống Ngô Đình Diệm. Thời Đệ nhất Cộng hòa có “bốn con rồng”: Bạch Long (Ngô Đình Diệm), Hồng Long (Ngô Đình Thục), Thanh Long (Ngô Đình Nhu) và Hắc Long (Ngô Đình Cẩn). Cố vấn Ngô Đình Nhu đã gọi Vũ Ngọc Nhạ là Hoàng Long để trở thành con rồng thứ năm trong Ngũ Long của Đệ nhất Cộng hòa.

Cuối năm 1965, do sự chạy đua quyền lực quyết liệt trong nhóm các tướng trẻ, tướng Nguyễn Văn Thiệu đã sử dụng Vũ Ngọc Nhạ trong vai trò liên lạc viên với Công giáo, qua sự giới thiệu của Linh mục Hoàng Quỳnh, nhằm tìm chỗ dựa chính trị. Là một điệp viên, Vũ Ngọc Nhạ đã khéo léo sử dụng vai trò này để tạo dựng các mối quan hệ và gây ảnh hưởng đến giới chính trị cả trong dân sự lẫn quân sự.

Một lần nữa, Vũ Ngọc Nhạ trở thành “Ông Cố Vấn” sau khi tướng Thiệu đắc cử Tổng thống năm 1967. Đây cũng là thời điểm mạng lưới tình báo A.22 (vốn là mật danh riêng của Nhạ) được hình thành và phát triển. Thành công ngoạn mục nhất của cụm tình báo A22 là thu hút được Huỳnh Văn Trọng, một phụ tá của Tổng thống Thiệu.

Tháng 8/1968, tướng Thiệu đã cử Huỳnh Văn Trọng cầm đầu một phái đoàn của Việt Nam Cộng hòa sang Hoa Kỳ tiếp xúc, gặp gỡ với hàng loạt tổ chức, cá nhân trong chính phủ và chính giới Hoa Kỳ để thăm dò thái độ của Chính phủ Johnson đối với cuộc chiến tại Việt Nam. Chính những thông tin này đã góp một phần cho Hà Nội trước khi ngồi vào bàn đàm phán tại Paris với Mỹ.
Ở trường Sinh ngữ Quân đội, một đơn vị tương đối nhỏ trong quân lực VNCH, cũng đã có vài trường hợp “nằm vùng”. Vì vấn đề tế nhị, tác giả xin chỉ viết tên tắt của những nhân vật này.

Nổi bật nhất có Đại úy TVQ và Thiếu úy NCD. Đại úy Q. là người từ đơn vị chuyển về trường SNQĐ khi nhu cầu huấn luyện Anh văn cho quân đội tăng cao do chương trình Việt Nam hóa chiến tranh nhằm đào tạo quân nhân các binh chủng Hải-Lục-Không quân VNCH đi học chuyên môn tại Hoa Kỳ để về nước đảm nhận công việc của quân đội Mỹ.

Sự gia tăng bất ngờ về số khóa sinh tại trường SNQĐ khiến nhà trường phải tuyển thêm quân nhân có khả năng tiếng Anh từ các đơn vị về để đào tạo thành giảng viên Anh ngữ. Đại úy Q. thuộc thành phần bổ xung đó. Q. về trường khi đã đeo lon Đại úy từ một đơn vị chiến tranh chính trị. Anh là một sĩ quan hiền lành, ít nói nhưng sau ngày 30/4/75 bạn bè cũ mới “bật ngửa” khi biết anh thuộc hàng ngũ… bên kia chiến tuyến.

Sau thời gian cải tạo tôi trở về Sài Gòn gặp lại Q. khi đó là nhân viên hành chánh của trường Đại học Kinh tế. Tôi tiếp xúc với anh một cách dè dặt trong một vài buổi họp mặt các anh em giảng viên cũ. Sau đó Q. biến mất khỏi các cuộc gặp gỡ, có lẽ vì không chịu nổi những xầm xì, bàn tán về vai trò “nằm vùng” của mình.

Trường hợp “nằm vùng” thứ hai ở trường SNQĐ là Thiếu úy NCD, một người được tuyển thẳng từ Thủ Đức về trường. Cũng như Đại úy Q., Thiếu úy D. là người ít nói và hầu như rất ít giảng viên trong trường để ý đến người thanh niên “trầm lặng” này. Sau này, có một số anh em giảng viên nói chính Thiếu úy NCD đã “tiếp quản” trường SNQĐ những ngày đầu tháng 5/75.
Hành tung của viên thiếu úy “nằm vùng” được sáng tỏ: người anh của NCD là một cán bộ cao cấp. Được coi là một trí thức Marx-Lenin, Viện sĩ NCT (Sáu Quang), anh ruột NCD, là nguyên Bí thư Thành Đoàn giai đoạn 1977 - 1981, Trưởng Ban quản lý Khu Chế Xuất – Khu Công Nghiệp đầu tiên của thành phố, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban về Người Việt Nam ở nước ngoài và hiện là Viện phó Viện khoa học công nghệ Phương Nam (thuộc Liên hiệp Khoa học kỹ thuật Việt Nam). Có người anh như vậy nên thiếu úy NCD không “nằm vùng” mới là chuyện lạ!

Với những câu chuyện “nằm vùng” điển hình ở mọi cấp chính quyền miền Nam kể trên, quân đội miền Bắc ngày càng tiến dần đến thủ đô và người Sài Gòn ngỡ ngàng trước biến cố 30/4/1975. “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” có lẽ là một trong những triết lý thâm thúy nhất được rút ra trong cuộc chiến vừa qua.

Chú thích:

[1] Chương trình Chiêu hồi phát động dưới thời Đệ nhất Cộng hòa vào đầu năm 1963 theo hai mô hình mẫu của Phi Luật Tân và Mã Lai Á: (1) chương trình EDCOR của Philippines để chiêu dụ lực lượng cộng sản Hukbalahap và (2) chương trình của Sir Robert Thompson thuộc quân đội Anh để bình định tại Malaysia.
Chương trình này trực thuộc Bộ Công dân vụ của Bộ trưởng Ngô Trọng Hiếu và một thời mang tên Phong trào Chiêu tập Kháng chiến Lầm đường. Sau năm 1963 được phân thành Ban Chiêu Hồi trực thuộc Phủ Thủ tướng. Năm 1965 lại được chuyển sang Bộ Thông tin. Sang thời Đệ nhị Cộng hòa thì chính phủ nâng Phủ Đặc ủy Dân vận Chiêu hồi thành Bộ Chiêu hồi để điều hành hệ thống chiêu hồi trên khắp 44 tỉnh thành của bốn vùng chiến thuật, mỗi tỉnh có một Ty Chiêu hồi.
Năm 1967, chính phủ đưa ra chính sách Đại đoàn kết. Theo đó thì các thành phần hồi chánh không những được giúp đỡ để tái định cư và đoàn tụ cùng gia đình mà còn được trưng dụng tài năng tương xứng với công việc ở bên kia chiến tuyến. Chính sách này chưa mấy hiệu quả thì sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968 xảy ra. Biến cố này làm gián đoạn chương trình Chiêu hồi vì tình hình an ninh bất ổn, nhưng đến năm 1969 thì số lượng hồi chánh lại tăng, đạt tổng số 47.023 người trong năm 1969.

Trong thời gian từ năm 1963 đến 1973 chương trình Chiêu hồi thâu nhận hơn 194.000 người hồi chánh, tức là loại được bấy nhiêu quân đối phương khỏi chiến trường. Người Hồi chánh được chuyển vào 1 trong hơn 200 trại để “học tập chính trị” trong thời gian từ bốn đến sáu tuần. Cùng lúc đó, họ được phát quần áo và thức ăn, đến khi xuất trại thì trả về nguyên quán hoặc định cư ở những vùng ấn định. Một số được kết nạp vào Cục Tâm lý chiến. Ngày 18/2/1973 Bưu chính VNCH cho phát hành con tem "Chiêu hồi" với giá tiền10 đồng để kỷ niệm người hồi chánh thứ 200.000.

[2] Nguyên Hùng là một trong số những nhà văn, nhà báo “nằm vùng” hoặc “thiên Cộng”. Trong số này phải kể đến Vũ Bằng, Vũ Hạnh, Sơn Nam, Trang Thế Hy, Thiếu Sơn, Lý Văn Sâm... Sau này còn được bổ sung thêm một đội ngũ trẻ hơn và giữ những vai trò gây tác động trong đời sống báo chí và chính trị miền Nam như Huỳnh Bá Thành (còn được biết đến qua tên Họa sĩ Ớt trên báo Điện Tín), Cung Văn, Hoàng Thái Nguyên, Nguyễn Ngọc Thạch, Hoàng Minh Phương, Kỳ Nhân...


[3] Phạm Ngọc Thảo (1922-1965) cùng 12 người từ miền Nam được cử ra Sơn Tây để theo học Khóa 1 trường Võ bị Trần Quốc Tuấn vào năm 1946. Khi ra trường, Thảo được điều về Phú Yên với nhiệm vụ giao liên. Trong thời gian này, ông được giao nhiệm vụ đưa một cán bộ vào Nam, đó chính là Lê Duẩn, người có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tình báo của ông sau này.
Thảo được giao nhiệm vụ Trưởng phòng Mật vụ Ban quân sự Nam Bộ – là tổ chức tình báo đầu tiên của miền Bắc ở Nam Bộ. Sau Hiệp định Genève, các cán bộ của Việt Minh (cả dân sự lẫn quân sự) đều được “tập kết” ra Bắc. Cũng có một số ít cán bộ đã được lệnh bí mật ở lại để “nằm vùng”, trong đó có PNT ở lại miền Nam để hình thành “lực lượng thứ ba” theo lệnh của Lê Duẩn.
Dưới vỏ bọc của một giáo sư, Thảo về dạy học tại trường Nguyễn Trường Tộ, Vĩnh Long, thuộc giáo phận của Giám mục Ngô Đình Diệm, anh của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Giám mục Ngô Đình Thục rất quý mến Thảo, ông đã từng làm lễ rửa tội cho Thảo và coi như con nuôi. Chính Giám mục Thục đã giới thiệu ông với “cố vấn” Ngô Đình Nhu để vào làm việc ở Sở Tài chánh Nam Việt.

Nhờ chính sách “đả thực, bài phong”, khuyến khích những người theo kháng chiến cũ về với chính nghĩa quốc gia của Ngô Đình Diệm, PNT đã khôn khéo công khai hết quá khứ theo kháng chiến của mình, chỉ trừ một điều không nhận là Đảng viên Đảng Cộng sản. Năm 1956, ông được phép đưa vợ con ra Sài Gòn sinh sống, làm việc tại ngân hàng quốc gia; rồi được chuyển ngạch quân sự, mang cấp bậc Đại uý “đồng hóa”.

PNT còn được cử đi học khóa huấn luyện tại trung tâm Nhân vị (Vĩnh Long) và sau đến tháng 10/1956 gia nhập đảng Cần Lao, phụ trách tổ quân sự, giữ nhiệm vụ nghiên cứu về chiến lược và chiến thuật quân sự và huấn luyện quân sự cho các đảng viên. Trong hàng ngũ Quốc gia, Thảo đã viết 20 bài báo trên tạp chí Bách Khoa nói về các vấn đề chiến lược, chiến thuật, nghệ thuật chỉ huy, huấn luyện quân sự, phân tích binh pháp Tôn Tử, Trần Hưng Đạo....

Những bài báo đó đã được giới quân sự chú ý và nâng cao tên tuổi của PNT. Năm 1957, ông được điều về làm việc tại Phòng Nghiên cứu chính trị tại Phủ tổng thống, thực chất là cơ quan mật vụ của Bác sĩ Trần Kim Tuyến. Năm 1960, sau khi học một khóa chỉ huy và tham mưu ở Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, PNT được thăng thiếu tá và được cử làm Thanh tra Khu Trù Mật.
Năm 1965, Phạm Ngọc Thảo cùng thiếu tướng Lâm Văn Phát, Đại tá Bùi Dzinh và Trung tá Lê Hoàng Thao đem quân và xe tăng vào chiếm trại Lê Văn Duyệt, đài phát thanh Sài Gòn, bến Bạch Đằng và sân bay Tân Sơn Nhất nhằm lật đổ chính phủ của Tướng Nguyễn Khánh. Hội đồng tướng lãnh cử Nguyễn Chánh Thi làm chỉ huy chống đảo chính và ra lệnh cho Phạm Ngọc Thảo, Lâm Văn Phát và 13 sĩ quan khác phải ra trình diện trong 24 giờ. Khi biết tin quyền lãnh đạo đã rơi vào tay các tướng lĩnh khác, Phạm Ngọc Thảo bỏ trốn.

Phạm Ngọc Thảo là tình báo viên hoạt động đơn tuyến, không có đồng đội trực tiếp hỗ trợ, chỉ chịu sự chỉ đạo về chiến lược của Lê Duẩn. Nhiệm vụ của ông không phải là đưa tin mà là tác động đến sự “thay đổi chế độ”. Có thể nói, với nhiệm vụ này, tầm quan trọng của Phạm Ngọc Thảo ngang với sức mạnh của một đạo quân.

[4] Phạm Xuân Ẩn (1927-2006), sinh tại xã Bình Trước, Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, trong gia đình một viên chức cao cấp của chính quyền thuộc địa. Năm 1950, ông vào làm ở Sở thuế quan Sài Gòn. Thực chất lúc này ông được Việt Minh giao nhiệm vụ tìm hiểu tình hình vận chuyển hàng hóa quân sự và quân đội từ Pháp sang Việt Nam và từ Việt Nam về Pháp. Đây là những bước đầu hoạt động tình báo của ông, một trong khoảng 14 ngàn điệp báo viên Cộng sản được cài cắm và hoạt động tại miền Nam.
Năm 1952, ông ra Chiến khu D và được Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch - Ủy viên Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ - giao nhiệm vụ tình báo chiến lược. Năm 1953 tại rạch Cái Bát (Cà Mau) trong rừng U Minh, dưới sự chủ tọa của Lê Đức Thọ (khi này là Phó Bí thư kiêm Trưởng ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam), PXA được chính thức kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1957, PXA qua Mỹ học ngành báo chí trong 3 năm và khi về nước ông làm việc tại Sở Nghiên cứu Chính trị của Bác sĩ Trần Kim Tuyến. Từ năm 1960 đến giữa năm 1964, PXA làm việc cho Hãng thông tấn Reuters. Từ năm 1965 đến năm 1976 ông là phóng viên người Việt chính thức và duy nhất của tuần báo Time tại Sài Gòn, ngoài ra ông còn là cộng tác viên của các tờ báo khác như The Christian Science Monitor...

Murray Gart, thông tín viên trưởng của Time trong thời gian chiến tranh, sau khi biết tin PXA là một điệp viên, bực tức nói rằng: “Thằng chó đẻ ấy, tôi muốn giết nó”. Một phóng viên khác, Peter Arnett, mềm mỏng hơn: “Tôi không biết phải xử lý ra sao đối với Phạm Xuân Ẩn. Tôi hiểu anh là một người Việt Nam yêu nước, nhưng tôi vẫn cảm thấy bị phản bội về phương diện nghề nghiệp... Trong hơn một năm trời, tôi cảm thấy bị xúc phạm, nhưng sau đó tôi lại nghĩ ra rằng chẳng qua đó là công việc riêng của anh”.

McCulloch từng là giám đốc các văn phòng của Time ở châu Á nói: “Tôi có căm giận Phạm Xuân Ẩn không sau khi tôi biết qua những hoạt động gián điệp của anh? Hẳn nhiên là không. Tôi nghĩ Việt Nam là quê hương của anh. Nếu tình thế đổi ngược lại, chắc tôi cũng sẽ làm như anh mà thôi. Phạm Xuân Ẩn là đồng nghiệp của tôi và là một phóng viên sáng giá. Phạm Xuân Ẩn có một sự hiểu biết tinh tường về hiện tình chính trị Việt Nam, và đáng chú ý là những tin tức tài liệu của anh chính xác một cách lạ thường”.

[5] Vũ Ngọc Nhạ (1928-2002), tên thật Vũ Đình Long, sinh tại Thái Bình, tham gia Việt Minh sau ngày Toàn quốc kháng chiến, gia nhập đảng Cộng sản năm 1947, năm 1951 trở thành Thị ủy viên của thị xã Thái Bình. Bị kỳ thị vì xuất thân gia đình gốc địa chủ và Công giáo nên đã bỏ Việt Minh, về sống ở quê ngoại tại Phát Diệm, Ninh Bình.
Tại Ninh Bình, VNN tham gia Tổng bộ tự vệ Phát Diệm do giám mục Lê Hữu Từ và linh mục Hoàng Quỳnh lãnh đạo. VNN trở thành phụ tá của hai vị tu sĩ khét tiếng chống Cộng này. Di cư vào Nam năm 1954, VNN tiếp tục phụ giúp việc đạo cho linh mục Hoàng Quỳnh tại giáo xứ Bình An (Sài Gòn) cho đến ngày bị bắt.
Theo tiết lộ của Tiền Phong Online, VNN đã từng là một trong 300 đại biểu kháng chiến được mời về dự Hội nghị chiến tranh du kích đồng bằng Bắc Bộ: “Sau vài lần gặp gỡ, chính ct Hồ Chí Minh đã chọn anh vào hàng ngũ những người tiên phong làm công tác tình báo của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chuẩn bị cho cuộc đấu tranh lâu dài, anh được đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh phái vào Nam hoạt động”.
Tại trại giam, VNN viết bản tường trình phân tích nguy cơ “đe dọa chế độ mà Ngô Tổng thống đã dày công vun đắp” đã khiến Ngô Đình Cẩn, sau đó là cả Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Diệm quan tâm và chú ý. VNN đã khéo léo tiết lộ cho anh em họ Ngô biết rằng tất cả những ý kiến trong tờ trình đều là chính kiến của Giám mục Lê Hữu Từ. Đánh giá rất cao trách nhiệm và sự sâu sắc của bản báo nguy chế độ, anh em Diệm - Nhu đã mời Vũ Ngọc Nhạ về làm cố vấn.

Thâm nhập vào nền Đệ nhất Cộng hòa và nhanh chóng liên kết với các đồng chí “nằm vùng” của mình như Lê Hữu Thúy, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Hòe... VNN đã hình thành một mạng lưới tình báo (Lưới A.22) nắm giữ các vị trí quan trọng trong chính phủ Sài Gòn để khai thác tin tức chiến lược.

Nguyễn Ngọc Chính

Trích "Hồi Ức Một Đời Người"
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#207 Posted : Tuesday, May 31, 2016 12:25:40 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Chữ Việt gốc Pháp trong Giao Thông

Sưu Tầm


Trước hết có xe ô tô (automobile) hay xe hơi. Ô tô là chữ tắt của automobile nhưng dịch âm theo quốc ngữ. Từ ngữ nầy phổ thông trong giới người Bắc. Chữ xe hơi được đặt tên vào lúc xe còn chạy máy hơi nước (machine à vapeur), trước thời kỳ xe được gắn máy nổ. Chữ xe hơi thông dụng ở miền Nam.

Ở nhà lầu, đi xe ô tô là biểu tượng của nhà giàu. Muốn tỏ ra sang trọng hay có uy quyền, người ta mướn tài xế hay sớp phơ (chauffeur). Từ nầy thông dụng ở miền Nam hơn miền Bắc. Sau nầy, kể cả những thập niên cuối của thế kỷ 20, từ tài xế trở nên thông dụng cho cả VN. Nhiều ông làm chức vụ cao, hay quan trọng, hoặc các người giàu còn có thêm một tài xế phụ. Thực sự người nầy là gạc đờ co (garde du corps: cận vệ) ngồi phía trước, cạnh tài xế, thường đeo kính đen trông rất oai vệ.

Trở về với xe, ngoài xe nhỏ thường gọi là xe du lịch, còn có xe căm nhông (camion) dùng để chuyên chở hàng hóa. Cam nhông thứ thật to và chở thật nặng có tên là boa lua (poids lourd). Cam nhông nết (camionette) là xe chở hàng hóa loại nhỏ, giống xe pick up của ngày nay. VN khi xưa và ngay cả ngày nay, ít khi nhập cảng căm nhông nguyên chiếc. Họ chỉ mua cái sườn xe thôi. Đến VN rồi họ mới đóng thùng xe tùy theo nhu cầu: đóng thùng vuông chung quanh để chở hàng, hoặc đóng thùng có cửa, có băng (banc: ghế ngồi) để làm xe đò hay làm xe ô tô buýt (autobus) hay xe buýt. Xe buýt rất thông dụng trong việc chuyên chở công cộng trong đô thành hay các thị xã lớn. Trong lúc đó xe chuyên chở hành khách đi các tỉnh lại gọi là xe đò, trong khi Pháp hay HK lại gọi cả hai loại trên là xe buýt. Cũng trong lãnh vực chuyên chở, chúng ta còn có xe lô hay xe lô ca xông (location). Đó là những chiếc xe du lịch được dùng làm xe cho mướn hay xe chuyên chở hành khách.



Trên mỗi chuyến xe đò, ngoài người sớp phơ ra còn có một hay hai người phụ tá gọi là anh lơ. Những người nầy lo việc sắp xếp chỗ ngồi, kiểm soát giấy đi xe (chữ lơ do nguyên ngữ contrôleur tức kiểm soát viên). Ở VN, những anh nầy còn phụ trách nhiều việc khác như đưa hành lý lên và xuống xe cho khách, giao thiệp với cảnh sát công lộ khi xe bị chận vì một lý do gì đó, hoặc phụ với tài xế sửa xe khi xe bị ăn banh (en panne) tức là khi xe bị hư không chạy được nữa. Trong trường hợp chót, nhiều anh lơ rất có tài trong việc sửa xe: từ việc nhỏ như vặn chặc một vài con bù lon (boulon) đến việc lớn như thay cả cái ăm ba da (embrayage: bộ kết tục = bộ phận đặt trước hộp số để cắt hoặc nối những chuyển động của máy xe sang cái trục làm xe chạy trong hệ thống sang số bằng tay).

Có người hỏi tại sao họ chịu khó làm việc như vậy (mà không đòi chủ xe trả tiền công)? Số là đa số chủ xe chỉ thâu tiền bán vé ở các trạm xe chánh mà thôi. Còn việc đón khách lên xuống dọc đường thì tiền kiếm thêm nầy, tài xế và lơ chia nhau.

Các chủ xe đều biết chuyện nầy, nhưng vì không thể nào kiểm soát được, nên thà cho trước cái quyền lợi đó cho tài xế và lơ. Chủ xe được cái lợi là khỏi lo việc kéo xe về nằm ga ra (garage: chỗ sửa xe) vừa tốn nhiều tiền vừa mất thì giờ (tức mất tiền). Để cho tài xế và lơ tự sửa xe, chủ chỉ phải bồi hoàn chi phí về bạt (parts: các bộ phận rời). Xe được sửa mau, cả chủ và người làm công đều có lợi. Một hợp tác hỗ tương không văn kiện nhưng lại rất hiệu quả trong giới xe đò.

Muốn chạy xe phải có xăng (essence). Ngày nay, chữ nầy còn thông dụng ở mọi nơi. Xe mà hết xăng thì trở thành… sắt cục, nặng lắm. Xưa kia nếu quên đổ xăng, để xe hết xăng dọc đường, không chạy được nữa, thì gọi là ăn banh xéc (en panne sèche: có nghĩa hư xe khô, hết xăng).

Quan trọng không kém xăng là lốp xe (enveloppe: vỏ xe, phần bọc bên ngoài cái “ruột”); sau nầy vỏ xe chỉ có vỏ mà không có ruột . HK gọi là tubeless. Khi bánh xe xẹp, phải bôm thêm hơi vào ngang qua cái xúp báp (soupape: vật dụng dùng để cho không khí đi vào hoặc đi ra một chiều thôi). Xúp báp đóng mở tự động hoặc có chu kỳ cố định. Ngoài ra còn có dụng cụ tương tợ là cái van (vanne). Nó cũng được dùng cho hơi ra hay vào, nhưng được tác động theo người sử dụng, không có chu kỳ nhất định.

Ở VN lốp xe cũ được dùng một cách hữu hiệu. Họ bọc thêm bên ngoài một lớp cao su (caoutchouc) gọi là vỏ xe tân trang tức vỏ đắp (pneu rechapé) để dùng thêm một thời gian nữa. Đôi khi xe đang chạy, phần đắp thêm bị văng ra. Đó là xe bị lột lốp hay bị bung ta lông (talon: đế giày, viền vỏ xe).

Ngày xưa, vì Việt nam không có chữ, khi tiếp xúc với người Pháp và những khí cụ mới lạ của người Pháp, người Việt phải mượn chữ của Pháp để gọi. Sự mượn chữ này thường là phiên âm nhưng vì tiếng Pháp là thứ tiếng đa âm, muốn biến thành đơn âm, người ta buộc lòng phải cắt chữ thành nhiều vần (syllable) để hoặc là lấy trọn hoặc chỉ lấy một phần. Trong quá trình phiên âm, đôi khi một âm bị đổi khác cho phù hợp với cách uốn giọng của người Việt, nhất là những người chưa từng học tiếng Pháp, chưa biết cách phát âm tiếng Pháp.

Ví dụ: Cellule –> xà-lim.

Sacoche –> xà-cột

Lấy trọn từ gốc: abcès áp-xe (mụt bị nung mủ)

affiche áp-phích (bích chương)

allez a-lê ! (nào ! đi đi !) allez hop ! a-lê-hấp (làm ngay)

amibe a-míp (loài vi khuẩn hình que, thường tấn công đường ruột)

armé ạc-mê (trong xi-măng ạc-mê: xi-măng cốt sắt)

as ách (tên con bài tây)

as de carreau ách rô (tên con bài)

as de pique ách bích (tên con bài) auto ô-tô (xe hơi)

autobus ô-tô-buýt (xe buýt)

autoclave ô-tô-cla-vơ (nồi áp suất)

automatique ô-tô-ma-tích (tự động)

auvent ô-văng (tấm dalle để che mưa nắng trên cửa sổ)

bâche bạt (tấm vải dầy)

balcon ban-công (bao lơn)

ballon banh-lông, banh (quả bóng)

ballot ba-lô (túi đeo sau lưng)

banc băng (ghế dài)

bande băng (bầy, bọn; dải dài)

bander băng (băng bó)

banderole băng-đơ-rôn (biểu ngữ)

banque băng (ngân hàng)

barème ba-rem (thang điểm để chấm thi)

bâton ba-toong (cây gậy)

bavure ba-dớ (rìa còn thừa nơi các đồ vật đã gia công cơ khí hoặc đúc)

bazar ba-za (tiệm tạp hóa)

bazooka ba-dô-ca (súng phóng phi đạn)

beau bô (đẹp, chỉ dùng cho phái nam)

béret bê-rê (mũ vải không vành)

beurre bơ (bơ sữa; quả avocado)

bidon bi-đông (bình nước nhỏ để mang theo mình khi đi xa)

bille bi (viên đạn tròn)

biscuit bích-quy (bánh nướng 2 lần)

blockhaus (từ gốc đức) lô-cốt (đồn canh)

bobine bô-bin (cuộn, ống dây)

bombe bom (trái nổ lớn)

bombé bom-bê (tóc cắt phùng hai bên)

Bordeaux bọt-đô (tên một thứ rượu nho có màu giống như hổ phách)

bordel bọt-đền (động điếm)

botte bốt (giày ống cao của lính)

boucle búc (khoen cài dây nịt)

bougie bu-gi (nến, nến điện)

boulon bù-lon, bu-lông (con ốc)

boum bum (cuộc họp của giới trẻ ở tư gia để khiêu vũ)

boxe bốc (quyền Anh)

boy bồi (cũng chỉ tên con bài, nhưng tiếng Pháp là valet)

brancard băng-ca (để tải thương)

brouette bù-ệt (xe đẩy để chở đồ vật nặng ở khoảng gần)

brouillon brui-dông (giấy nháp)

bus buýt (xe chuyên chở công cộng)

cable cáp (dây thừng bằng kim loại)

cacao ca-cao (trái của cây cacaoyer, từ đó trích ly ra chất béo có mùi thơm, dùng chế chocolat và làm bánh)

cachet cát-xê (tiền thù lao cho nghệ sĩ sau buổi biểu diễn)

cachot cát-xô (nhà giam)

café cà-phê (hạt của cây caféier, mùi rất thơm sau khi rang sấy)

caisse két (ngăn tủ đựng tiền; thùng đựng hàng)

caleçon xà-lỏn (quần đùi)

calibre ca-líp (khẩu độ nòng súng)

calquer can-kê (đồ lại một mẫu có sẵn)

camion cam-nhông (xe chở hàng)

canot ca-nô (loại thuyền nhẹ)

canon cà-nông (súng lớn)

car ca (chiếc xe, xe ca)

carabine cạc-bin (một loại súng trường)

caramel ca-ra-men (đường nung trở màu)

carbone cạc-bon (chất than)

cari cà-ry (món ăn gốc ấn độ)

carré ca-rê (vuông, số bình phương)

carreau ca-rô (hình ô vuông, tên con bài Ù)

carotte cà-rốt (củ cải đỏ)

cartable cặp-táp, cặp (để đựng sách vở) carte cạc, các (tấm thẻ)

carte verte cạc-vẹc (thẻ xanh, bằng lái xe)

carte visite cạc-vi-zít (danh thiếp)

carter cạc-te (phiến kim loại để che dĩa răng và dây sên nơi bàn đạp, do tên nhà sáng chế người Anh)

carton cạc-tông (bìa cứng)

cartouche “tút” (cây thuốc lá); viên đạn (vũ khí)

cary cà-ry (món ăn gốc ấn độ)

cas ca (trường hợp)

cowboy cao-bồi (để chỉ người du đãng)

cellule xà-lim (phòng biệt giam)

cercle sẹc (câu lạc bộ)

cerise sơ-ri (trái)

chaine sên (dây xích xe đạp, xe gắn máy)

chaland xà-lan (tàu mặt bằng để chở hàng hóa)

chaloupe xà-lúp (tàu lớn để chở thuyền bè)

Champagne săm-banh (tên rượu của Pháp)

chantage săng-ta (sự tống tiền)

charge(r) xạc (nạp điện cho pin hay ắc-quy)

chaudière súp-de (nồi -)

chauffeur sốp-phơ (tài xế)

chef xếp (người chỉ huy)

chemise sơ-mi (áo -)

cher (ère) “se” (thân thích)

chignon si-nhông (búi tóc bó trên đầu)

choc “sốc” (chấn động mạnh)

chocolat sô-cô-la (kẹo chế từ bơ ca cao)

chou su (tên một loại bánh ngọt)

chou à la crème su kem (bánh su có nhân kem)

chou-fleur súp-lơ (bông cải trắng)

chou-rave su hào (loài rau củ)

cigare xì-gà (thuốc cuộn bằng lá thuốc)

ciment xi-măng ciné xi-nê (chiếu bóng)

cirage xi -ra, xi (để đánh giày)

cirque xiếc, xiệc citerne xi-tẹc (bồn chứa nước)

cocktail cốc-tai (nước trái cây có pha rượu)

cỵur cơ (con bài tây hình trái tim ờ)

coffrage cốp-pha (gỗ đóng để đổ cột trụ bằng xi măng cốt sắt)

coffre cốp (tủ, ngăn tủ, thùng xe)

coffre-fort cốp-pho (tủ sắt để đựng tiền)

cognac cô-nhắc (tên rượu của Pháp)

col côn (cổ áo)

commande còm-măng (đơn đặt hàng)

commissaire (de police) ông cò (ủy viên cảnh sát)

commission còm-mít-sông (huê hồng)

compas com-pa (vật để vẽ cung tròn)

consigne cồng-sin (hình phạt cấm túc)

contrat công-tra (khế ước, hợp đồng)

convoi công-voa (đoàn quân xa)

coolie (từ gốc ấn độ) cu-li (phu khuân vác)

copier cọp-dê, cóp (chép lại bài làm của người khác)

corps co (thân mình, thường để chỉ người có ngực nở, eo thon)

corset coóc-sê (áo bó ngực và bụng của phụ nữ)

corvée cỏ-vê (hình phạt khổ sai)

costaud cốt-xì-tô (to con, vặm vỡ)

coup cú (phát, trận)

coup de foudre cú-đờ-phút (tiếng sét ái tình)

coupe cúp (quà thưởng thể thao)

coupe cúp (cách cắt, hớt tóc)

courreur cua-rơ (người chạy đua)

courroie cu-roa (đai chuyền)

cours cua (bài học, khóa học)

course cuốc (quãng đường đi bộ hay xe)

course cuộc (sự chạy đua xe)

crêpe kẹp (tên một loại bánh ngọt có nhiều lớp bột được cán mỏng)

cuillère cùi-dìa (cái muỗng, cái thìa)

cravate cà-vạt

crème kem, cà-lem

cresson xà-lách-son

cube cuýp (khối, lập phương, tam thừa)

cyclo xích-lô (loại xe chuyên chở khách)

cylindre xy-lanh (nòng máy nổ)

J’aime le français
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang
#208 Posted : Thursday, July 14, 2016 5:08:18 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Thế Nào Là Tiếng Việt Trong Sáng ?



Chữ viết và tiếng nói là phương tiện truyền đạt giữa con người và con người. Loài vật chắc cũng có tiếng nói qua những âm thanh như: hót, kêu, gầm, hú, sủa… để truyền đạt cho nhau nhưng loài vật không có chữ viết. Con người do trí thông minh, do bản năng tiến hóa, lại có ý thức, sau khi sáng tạo ra chữ viết, lần hồi biết tổng hợp, gọt giũa để biến thành văn chương. Còn tiếng nói cũng cải tiến không ngừng. Ngôn ngữ đi như bóng với hình với văn chương, từ thô thiển trở thành thanh tao, từ thẳng thừng trở nên bóng bẩy, từ thô lỗ trở nên ý nhị. Có thể nói văn chương càng phát triển bao nhiêu thì ngôn ngữ càng đẹp bấy nhiêu. Tư tưởng càng phát triển bao nhiêu thì văn chương và ngôn ngữ càng phong phú bấy nhiêu.

Thế nhưng muốn nắm bắt được tinh hoa ngôn ngữ của dân tộc dứt khoát là phải có giáo dục. Một đứa trẻ không được đi học vẫn nói được, nói liến thoắng đủ điều nhưng không viết được và chắc chắn ngôn ngữ rất nghèo nàn và thường mang âm hưởng “chợ đời” chứ không có những ngôn từ của một đứa trẻ được cắp sách đến trường mà ngày xưa gọi là “cửa Khổng sân Trình”. Không những phải học hết Lớp 12 phổ thông mà còn phải bước lên đại học nữa. Một người không thế có tiếng Việt phong phú nếu không học qua các bộ môn như lịch sử, triết học, tôn giáo, luật học, kinh tế học, tâm lý học, chính trị học, xã hội học, nhân chủng học, khảo cổ học, kiến thức về quân sự, ngoại giao… và ít nhất cũng phải biết qua các tác phẩm văn chương lớn của đất nước – cổ cũng như kim. Chỉ cần dành chút ít thời giờ đọc và nhớ ba tác phẩm như Kiều, Cung Oán Ngâm Khúc và Chinh Phụ Ngâm thôi thỉ vốn Việt Ngữ của chúng ta cũng đã phong phú thêm biết là bao nhiêu.

Viết thì ai cũng có thể viết được. Nói thì ai cũng nói được nhưng xin nhớ cho trong bất kỳ quốc gia nào cũng có hai loại: Ngôn ngữ thượng lưu và ngôn ngữ bình dân; văn chương bác học và chương bình dân.

-Ngôn ngữ thượng lưu là lời nói văn vẻ, ý nhị, nhẹ nhàng, lễ độ, dễ nghe, thâm thúy. Còn ngôn ngữ bình dân không phải là xấu, chân tình nhưng mộc mạc, thường thì cọc cằn, thô lỗ và không giữ gìn ý tứ.
-Văn chương bác học là văn chương cầu kỳ, gọt giũa, xử dụng nhiều ẩn dụ, điển tích. Còn văn chương bình dân không cầu kỳ, nghe là hiểu ngay không cần phải suy nghĩ nhiều. Có một điểm chung là dù loại văn chương hay ngôn ngữ nào đi nữa thì nó cũng phải trong sáng, thông dụng và dễ hiểu.

Theo dòng lịch sử, dân tộc ta đã tiếp nhận nhiều nền văn hóa bên ngoài du nhập vào. Trải qua 1000 năm Bắc Thuộc, tổ tiên chúng ta đã không để mất gốc – mà Việt hóa tinh hoa của học thuật, ngôn ngữ Trung Hoa, biến nó thành tiếng Hán-Việt khiến tiếng Việt trở nên phong phú. Rồi thì 100 thuộc Pháp, cha ông chúng ta cũng không để tiếng Việt bị lai căng. Dựa vào tinh hoa của nền văn chương Pháp, từ đó giản dị hóa, trong sáng hóa tiếng Việt. Còn ngày hôm nay, văn hóa Mỹ không vào Việt Nam bằng các tác phẩm văn chương, học thuật mà bằng đồng đô-la, Cola Cola, trò chơi (Games), phim ảnh gợi tình, bạo lực và bắn giết. Sách vở du nhập vào không phải là các tác phẩm văn học, học thuật tư tưởng lớn mà là các tạp chí về sắc đẹp, thời trang, son phấn, nước hoa, quần áo lót v.v.. tràn vào như thác lũ. Qua thương mại, qua các trang điện tử, quảng cáo và giải trí cùng với sự bùng nổ của kỹ nghệ truyền thông, tiếng Việt có nguy cơ trở nên một thứ lai căng hổ lốn trong chớp nhoáng. Xin nhớ cho văn hóa Mỹ là một nền văn hóa áp đảo bởi vì nó là một nền văn hóa tiêu thụ đánh ngay vào thị hiếu cấp thời của con người cho nên các quốc gia chậm tiến nghèo khổ không sao cưỡng lại được. Trước nguy cơ đó đã nảy ra tiếng kêu cứu về tiếng Việt trong sáng.

Nói về tiếng Việt trong sáng thì dễ nhưng nội dung của “tiếng Việt trong sáng” là gì? Theo thiển ý, sự trong sáng của tiếng Việt bao gồm nhiều yếu tố như:
-Không lai căng tức không chen tiếng Tây, tiếng Mỹ vào.
-Không tối nghĩa.
-Không gây hiểu lầm.
-Giản dị. (không cầu kỳ, rắc rối)
-Lịch sự, thanh tao.

Trong khi chúng ta chưa có viện hàn lâm, tạm thời dựa vào các tiêu chuẩn này, chúng ta thử “chẩn bệnh” một loại tiếng Việt mới đang được xử dụng tràn lan ở trong nước và hải ngoại. Loại tiếng Việt mới này chen tiếng Mỹ, sáng chế những danh từ kỳ quặc, khó hiểu mang tính khoe khoang, làm dáng.

1) Nội y: Tại sao lại phải dùng chữ khó vậy? Đây chỉ là thứ quần áo lót /đồ lót của đàn ông hay đàn bà.
2) Triều cường: “Triều cường làm ngập đường phố Hà Nội.” Tại sao không dùng chữ nhẹ nhàng và dễ hiều hơn “ Nước dâng cao làm ngập đường phố Hà Nội.”
3) Các thiết bị siêu trường siêu trọng: Các thiết bị nặng và dài. Các thiết bị quá nặng và quá dài.
4) Xe container: Xe vận tải hạng nặng, xe tải hạng nặng.
5) Các container: Các kiện hàng, thùng hàng
6) Bunker/Boong-ke: Hầm trú ẩn.
7) Blog: Trang tin chuyên đề/ trang chuyên đề. Blogger: Người viết trang chuyên đề.
8) Audio-visual: Âm thanh & hình ảnh/ phần âm thanh & hình ảnh.
9) Bình ắc-quy: Bình điện. Sạc (Charge): Tiếp điện, nạp điện.
10) Trái cherry to, đỏ mọng…Xin nhắc khéo báo phapluattp.vn rằng cherry là trái anh đào.
11) Mát-xa (Massage): Đấm bóp, nghề đấm bóp.
12) Ảnh nude: Ảnh khỏa thân, lõa thể.
13) Hot girls : Gái ăn mặc hở hang, khiêu dâm.
14) Ăn mặc hot: Ăn mặc hở hang, khiêu dâm.
15) Ảnh hot: Ảnh có cảnh khiêu dâm hoặc gái ăn mặc hở hang, khiêu dâm.
16) Bản nhạc ấy hot lắm: Bản nhạc đang được ưa chuộng.
17) Thị trường đang hot: Thị trường bán rất chạy (trái với ế ẩm)
18) Top ten: Mười…đứng đầu. Mười hạng đầu.
19) Email: Điện thư.
20) Logo: Huy hiệu.
21) Mít-tinh: Cuộc biểu tình, buổi tập họp.
22) Tiêm vaccine: Trích ngừa, chủng ngừa.
23) Logic: Thuận lý, hợp lý, lý đương nhiên (không cần tranh biện).
24) Clip: đoạn băng, đoạn thu hình ngắn. Mỹ định nghĩa clip: “A short part of a movie or television program…”
25) Một số danh từ quân sự: Nên sử dụng danh từ có sẵn trong ngôn ngữ Việt vừa mạnh vừa sắc gọn: Ví dụ: Tàu pháo = Pháo hạm; Tàu tuần dương= Tuần dương hạm; Tàu hộ tống= Hộ tống Hạm; Tàu khu trục = Khu trục hạm & Trục lôi hạm; Tàu khinh tốc= Khinh tốc hạm; Tàu vận tải= Quân vận hạm; Cảng quân sự= Quân cảng. Ví dụ: Quân Cảng Cam Ranh để phân biệt với Thương Cảng Cam Ranh; Đội tàu= Hạm Đội. Ví dụ: Hạm Đội Phú Quốc, Hạm Đội 7 v.v..
26) Bắt khẩn cấp: “Cảnh sát bắt khẩn cấp…” nghe nó kỳ làm sao ấy. Tại sao không dùng “Cảnh sát đã bắt ngay, bắt gấp nghi phạm…” hoặc “Tòa ra lệnh tức tốc bắt ngay can phạm”
27) Đóng mới: Đóng tàu là đóng tàu mới rồi, chẳng ai đóng tàu cũ cả cho nên thêm chữ ”mới” là thừa.
28) Cà- phê đểu: Đây là loại “cà-phê giả” nhưng cách dùng chữ của tác giả khiến người đọc hơi khó chịu. Xin nhớ cho có nhiều cách để diễn tả cùng một sự kiện, cách thì thanh tao, cách thì thô tục. Khi một đất nước tiến lên thì mọi thứ cũng phải tiến lên kể cả ngôn ngữ. Ngày nay hình như trên thế giới người ta dần dần loại bỏ những ngôn từ nghe có vẻ kỳ thị, xúc phạm, khinh rẻ hoặc gây ấn tượng bạo động. Chẳng hạn chữ nigger (mọi đen) ở Mỹ không ai dám nói nữa vì nó dùng để hạ thấp người Da Đen. Con người không thể ăn mặc thời trang, đi xe lộng lẫy, ở biệt thự, son phấn đầy người mà lại nói năng thô bỉ. Ngôn ngữ của một dân tộc có “văn hiến” thì mỗi ngày phải mỗi đẹp hơn và thanh tao hơn. Cho nên theo tôi một số ngôn từ sau đây như: đồ đểu, đồ con đĩ, đồ thất học, đồ hèn, đồ ngu, thằng mọi, đồ mất dạy, tiên sư cha mày v.v.. cũng cần phải loại bỏ trong ngôn ngữ Việt Nam.
29) Hoành tráng: Ngày nay ở Việt Nam cái gì cũng “hoành tráng” làm cho một số tính từ diễn tả vẻ đẹp lần hồi trở nên bị “tuyệt chủng”chẳng hạn như: Một ngôi nhà bề thế, một phòng hội khang trang, một khu chợ ngăn nắp, một kiến trúc trang nhã, một lâu đài tráng lệ, một cuộc diễn binh hùng tráng, một cung điện nguy nga, một ngọn núi hùng vĩ, một ngôi chùa cổ kính v.v…Nếu tất cả những tính từ trên được thay bằng hai chữ “hoành tráng” thì tiếng Việt sẽ ra sao?
30) Rất đẳng cấp: Cầu thủ đó rất đẳng cấp, bộ quần áo rất đẳng cấp, chiếc xe thuộc loại đẳng cấp…Bộ kho tàng ngôn ngữ Việt không còn chữ nào để thay cho hai chữ “đẳng cấp” nữa sao? Tại sao không nói: Cầu thủ nhà nghề, cầu thủ quốc tế, cầu thủ đắt giá; bộ quần áo đắt tiền; xe thuộc loại sang v.v.. Ngoài ra tự thân hai chữ “đẳng cấp” chỉ có nghĩa là “thứ bậc” như “đẳng cấp thấp”, “đẳng cấp cao” chứ nó không có nghĩa là “cao, giỏi, sang”. Từ Điển Việt Nam do nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin ấn hành năm 2000 nơi trang 291 định nghĩa: đẳng cấp là thứ, bậc, hạng trong xã hội như đẳng cấp xã hội.
31) Phỏng vấn trực tuyến: Chữ tuyến nghe có vẻ hình học. Nào là trung tuyến, tiếp tuyến v.v…Tại sao không dùng “phỏng vấn trực tiếp” hoặc “giải đáp trực tiếp” tức không qua trung gian nào, mà trực tiếp trên truyền hình hoặc họp báo chứ không chờ tới ngày mai hoặc trả lời bằng thư.
32) Văn hóa ẩm thực: Văn hóa bao gồm nhiều lãnh vực như: cách ăn uống, y phục, nói năng, lễ nghi, chữ viết, giao tiếp, cư xử v.v…Nếu nói văn hóa ẩm thực thì chẳng lẽ lại có thêm văn hóa lễ hội, văn hoá y phục nữa sao? Vậy nói “văn hóa ẩm thực” là không đúng. Đó chỉ là các món ăn và cách ăn uống mà thôi. Khi chúng ta du lịch Hòa Bình chẳng hạn, ngoài việc ngắm phong cảnh, dĩ nhiên chúng ta còn muốn thưởng thức các món ngon, lạ, độc đáo của đồng bào Mường và chỉ có thế. Nếu nói, “Chúng ta khám phá văn hóa ẩm thực của đồng bào Mường” nghe có vẻ “ghê gớm” quá.
33) Giải phóng mặt bằng: Nên thay bằng “giải tỏa mặt bằng” cho nó nhẹ nhàng. Chính phủ có thể giải tỏa một khu ổ chuột để chỉnh trang đô thị. Nhưng nếu nói “ Giải phóng một khu ổ chuột” có thể gây hiểu lầm là cứu dân ở đây ra khỏi cuộc đời lầm than như “giải phóng nô lệ” chẳng hạn.
34) Cảng biển: Nghe rất lạ tai. Tại sao không dùng “hải cảng”? Còn “cảng bay” tại sao không dùng “ phi cảng” ? Trong nước hiện có “Cảng Hàng Không Quốc Tế Đà Nẵng”. Rút gọn hơn chúng ta có thể dùng “Phi Cảng Quốc Tế Đà Nẵng”.
35) Báo vietnamnet.vn: “Những ‘bí mật’ trong hầm đường bộ Hải Vân” Sao dùng chữ “khó” quá vậy? Xin đơn giản thành “Những ‘bí mật’ trong đường hầmĐèo Hải Vân.” giống như “đường hầm Thủ Thiêm”. Nếu chúng ta viết “hầm đường bộ Thủ Thiêm” thì độc giả sẽ nghĩ sao?
36) Cũng báo vietnamnet.vn: “Hội chứng hot girl nude giữa thiên nhiên”. Thực ra tác giả muốn đưa tin: Có một “bệnh dịch” hoặc “thói bắt chước” tạp chí dâm ô Mỹ chụp hình cởi truồng ngoài trời (để nổi tiếng) nhưng lại dùng một đoạn văn thật kỳ lạ.
37) Báo phunutaday.vn: “Thành phố….vừa điều chuyển hai công chức không ’vừa lòng’ dân”. Chữ “điều chuyển” nghe chưa quen, nên nói là “thuyên chuyển”. Nếu trong quân đội thì nói là “thuyên chuyển tới một đơn vị khác”. Còn hai chữ “điều động” thì có nghĩa là điều động binh lực, nhân lực, điều động một lực lượng an ninh v.v..
38) “Bố nghiện ma túy giết con 10 tháng tuổi”: Chữ tuổi ở đây là thừa mà chỉ cần viết “Bố nghiện ma túy giết con mới 10 tháng” thì ai cũng hiểu.
39) “Người cao tuổi được mua vé xe buýt trợ giá”. Nên viết “Người cao tuổi được giảm vé xe buýt”. Viết báo cốt ở nhẹ nhàng, giản dị, dễ hiểu.
40) Báo giaoduc.net.vn có tựa đề: “Bé sơ sinh hai đầu ở Sóc Trăng đã tử vong”. Chữ “tử vong” có nghĩa là chết. Còn “thương vong” có nghĩa là vừa chết vừa bị thương. Vậy tại sao không dùng hai chữ “đã chết” cho nó nhẹ nhàng hơn?
41) Cận cảnh (close-up) là ảnh chụp gần, kề sát mặt. Nếu không phải là ảnh chụp gần mà chỉ là khoảng cách bình thường thì không được dùng hai chữ “cận cảnh”.
42) Chùm ảnh: Chữ “chùm” làm chúng ta liên tưởng tới chùm nho, chùm nhãn, dính chùm v.v…Vậy thì nên dùng chữ “một loạt hình ảnh”, “một số hình ảnh”. Ví dụ: Một số hình ảnh về đại hội…
43) Tiền boa: Nói đầy đủ là “pour boire” theo cách lịch sự của người Pháp coi đó chỉ là chút “tiền trà nước”. Vậy thì nên dùng “tiền trà nước” thay vì “tiền boa” vì ông Tây đã rời Việt Nam lâu lắm rồi.
44) Minh họa (Illustrated): Là hình vẽ của họa sĩ để diễn tả, trình bày một cuốn sách, một câu truyện. Nếu ngoài bìa cuốn sách ghi “Illustrated by” có nghĩa là “Vẽ bởi họa sĩ”. Nếu ghi “ photography by”có nghĩa “Hình ảnh của”. Ví dụ, trong một bài viết nói về Khu Trục Hạm Lý Thái Tổ mà chúng ta không có tấm hình của chiếc này và thay thế bằng tấm hình của chiếc khu trục hạm khác thì chúng ta không được ghi “Hình minh họa” mà chỉ cần ghi chú ở dưới tấm hình “Đây là hình ảnh khu trục hạm ABC một loại tương tự” thì độc giả hiểu ngay. Ngày nay câu “ hình minh họa” được dùng tràn lan ở trong nước để phụ chú dưới tấm hình…như thế là hoàn toàn sai. Xin nhớ cho minh họa có nghĩa là vẽ ra, diễn tả bằng tranh chứ không phải bức hình thật hoặc bức hình thay thế. Nếu không biết thì cứ mở sach vở, báo chí Nhật, Mỹ, Nga… ra mà học thì biết ngay.
45) Trồng cây xanh: Trồng cây là đủ rồi bởi vì cây nào lá chẳng xanh? Nói thêm “xanh” là thừa. Nói “trồng cây xanh” chẳng khác nào nói “Trồng gấc đỏ”. Xin thưa gấc nào mà chẳng đỏ? Chúng ta thường nói “Đỏ như gấc”. Tuy nhiên cũng phải để ý là có khá nhiều loại cây lá không xanh mà nâu hoặc nâu đậm. Nếu “trồng cây xanh” thì chẳng lẽ không trồng các loại này sao? Ngày xưa các cụ đã chế giễu cách dùng văn thừa thãi và trùng lập qua hai câu thơ:
Nửa đêm giờ tý canh ba.
Vợ tôi con gái đàn bà nữ nhi.
46) Báo Tuổi Trẻ đi một tiêu đề như sau “Cầu thủ bóng đá VN luôn luôn thua thiệt cầu thủ ngoại khi tranh chấp bóng tay đôi do hạn chế về thể lực và thể hình.” Câu văn này nặng nề giống như dịch lại từ một đoạn văn từ báo Hồng Kông, Đài Loan. Người ta nói “tranh bóng” chứ không nói “tranh chấp bóng”. Chữ “ tranh chấp” nên dành cho tranh chấp quyền lực, tranh chấp lãnh thổ. Ngoài ra các chữ “thể lực và thể hình” nghe “đao to búa lớn quá” không thích hợp trong lãnh vực thể thao. Chúng ta có hai chữ “sức vóc” vừa giản dị vừa dễ hiểu tại sao không dùng? Xin thưa “sức” là sức khỏe, “vóc” là sự cao lớn, tầm vóc. Nếu thay bằng hai chữ này, bỏ bớt những chữ thừa thì câu văn sẽ gọn nhẹ, từ 27 chỉ còn 19 chữ “Cầu thủ Việt Nam khi tranh bóng luôn luôn lép vế/thua cầu thủ nước ngoài do sức vóc kém.”
47) Báo giaoduc.net.vn: “Cô gái xinh đẹp hát ca trù làm xiêu lòng người nghe.” Ông phóng viên nào đó dùng chữ “xiêu lòng” không đúng. Xiêu lòng có nghĩa là mới đầu không bằng lòng, sau thuyết phục, nói mãi thì “xiêu lòng” tức thuận theo. Tôi cũng đã xem đoạn băng này. Thực ra trong cuộc thi hát, cô thí sinh này còn trẻ, xinh xắn, mới 18 tuổi, mà hát được ca trù (cũng tàm tạm) cho nên chinh phục được hoặc tạo thiện cảm nơi khán giả chứ không phải làm “xiêu lòng” khán giả.
48) Đắng lòng trước cảnh…: Từ trước đến giờ chưa có sách vở nào viết “đắng lòng” cả mà chỉ thấy viết “Đau lòng trước cảnh…” Xin quý ông/bà làm ơn coi lại hai từ này. Bà Huyện Thanh Quan viết “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc”, chứ bà không viết “Nhớ nước đắng lòng con cuốc cuốc”.
49) Báo giaoduc.net.vn: “Chi phí dao động từ 30.000 USD đến 60.000 một năm”. Chữ ‘dao động” ở đây thừa. Chỉ cần viết “Chi phí khoảng từ 30,000 USD đến 50,000 USD một năm” là người ta hiểu rồi.
50) Cũng lại giaoduc.net.vn: “NoithatVP đang thanh lý các sản phẩm tủ xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản.” Trời ơi! Các sản phẩm tủ là gì? Tại sao không viết, “các loại tủ” cho ngắn gọn và dễ hiểu? Ngoài ra chữ “thanh lý” làm người đọc liên tưởng tới sự “thanh lý môn hộ” tức truy lùng, giết những kẻ phản nghịch trong các môn phái (cũng giống như “thanh trừng” vậy). Do đó chúng ta nên thay thế bằng các chữ giản dị hơn như “giải quyết” hoặc”bán hết” hoặc “tống hết”. Nếu thế thì câu văn sẽ tạm gọn nhẹ như sau: “NoithatVP đang muốn bán/giải quyết hết tất cả các loại tủ xuất cảng sang Nhật Bản.”
51) Báo phunutoday.vn: “Trong tiết trời lạnh giá, boots cao cổ có lẽ là lựa chọn hàng đầu.” Chẳng lẽ tiếng Việt không có chữ nào để dịch chữ boots sao? Xin thưa đó là “giầy cao cổ” hoặc “giầy ống”. Thật lạ lùng! Bao kẻ sống xa quê hương mấy chục năm trời mà vẫn tha thiết với tiếng Việt tinh ròng, trong khi kẻ ở trong nước tiếng Anh tiếng Pháp chẳng bao nhiêu, lại tập viết lối văn hổ lốn chen tiếng Tây tiếng Mỹ vào.
52) Báo vnEpress.net: Có một tựa đề “Gu đàn ông của phụ nữ qua từng độ tuổi.” Xin thưa “gu” (gout) có nghĩa là “sở thích”. Ý của tác giả muốn nói,“Sở thích của phụ nữ về đàn ông tùy tuổi tác.” nhưng lại diễn tả bằng một câu văn thật trúc trắc. Rồi Thời Báo Kinh Tế Saigon Online “Chương trình truyền hình càng lắm scandal thì rating tăng vọt.” Thật lai căng hết chỗ nói! Giống hệt như trẻ con nói tiếng Việt ở Mỹ.
53) Báo Vietnamnet.vn: “Việt Nam trong cuộc chơi quyền lực Mỹ- Trung.” Cuộc chơi quyền lực chính là cuộc đọ sức. Tại sao không dùng hai chữ ấy cho giản dị và sáng sủa hơn?
54) Trang BBC tiếng Việt ngày 1/1/2013: “Ít nhất 60 người đã bị dẫm đạp chết…” Ý tác giả muốn nói “ Ít nhất 60 người dẫm đạp lên nhau mà chết..” nhưng lại dùng một câu văn khiến độc giả có thể hiểu 60 người này bị voi hoặc trâu bò dẫm đạp lên mà chết! Xin nhớ cho khi dùng chữ “bị” tức thể thụ độngthì phải nói “bị cái gì” như : bị voi giày, bị xe cán, bị trâu bò húc chết v.v.. Chính mình làm thì không dùng chữ “bị”.
55) Trang VOA tiếng Việt : “Hàng ngàn fan ở Đài Loan đã đến xem buổi ca nhạc..” ; “trang web xã hội”; “vi rút trong bao tử”; “không chịu gia hạn visa”; “một chương trình doping chuyên nghiệp”…và còn rất nhiều nữa. Xin thưa fan là người hâm mộ, vi rút là siêu vi trùng, visa là nhập cảnh, doping là dùng thuốc kích thích. Trang báo mang tên “tiếng Việt” mà thực tế lại là “tiếng Việt lai Mỹ”.

Tạm kết luận:
Viết một bài báo, một bản tin, đặt một tựa đề không phải dễ. Mình viết ra rồi cần có chủ bút/chủ biên duyệt lại. Ở Mỹ mà viết bậy, viết kém thì tiêu tan sự nghiệp, chỉ có nước tìm nghề khác kiếm ăn. Viết bậy, viết nhảm, viết thiếu đứng đắn làm giảm giá trị người viết và xúc phạm độc giả. Nói về chuyện viết văn thiếu đứng đắn tôi có một kỷ niệm thời thơ ấu lúc còn học Lớp Đệ Thất (Lớp 6) năm 1955 ở trong Nam như sau: Trong một bài luận văn mô tả một buổi đi câu tôi đã dùng hai chữ “khoái tỉ” tiếng mà bọn trẻ Miền Bắc hay dùng lúc bấy giờ có nghĩa là “sung sướng”. Chấm bài xong thầy Nguyễn Tri Tài – người Huế – gọi tôi lên nói, “Chữ khoái tỉ không được đứng đắn, con không nên dùng.” Nghe thầy nói vậy tôi “ngộ” ra ngay và cho tới ngày hôm nay, dù đã hơn nửa thế kỷ, tôi vẫn nhớ lời thầy là phải dùng chữ cẩn thận khi viết văn. Đừng tưởng lời nói hay bài viết sẽ qua đi như một cơn gió thoảng – mà nó còn “tạo nghiệp”- nghiệp lành hay nghiệp dữ – tức gây tác hại cho người khác và cho chính mình theo giáo lý nhân-quả của nhà Phật. Trong cuốn hồi ký của một nhà văn xuất bản ở hải ngọai – một ông chuyên viết truyện dài đăng trên báo hằng ngày mà Miền Nam lúc bấy giờ gọi là viết “feuilleton”. Ông thường chen vào truyện một vài chi tiết khiêu dâm, gợi dục để “câu” độc giả trẻ. Một ngày kia cô con gái về khoe với ông, “ Ba ơi! Con bạn học của con đọc tới cái đoạn…mà ba viết, nó thích quá rùng cả mình !!!” Nghe con gái nói thế ông toát mồ hôi, không ngờ những gì mình viết ra đã ảnh hưởng đến chính cô con gái cưng. Từ đó ông không bao giờ dám viết văn theo cái kiểu chen vào những chi tiết khiêu dâm nữa. Hiện nay chữ “nhí” đang được dùng tràn lan trong nước. Xin nhớ cho chữ “nhí” là tiếng lóng dùng để chỉ “nhỏ, bé” có ý diễu cợt, không đứng đắn. Nếu dùng không đúng chỗ sẽ làm tổn thương người ta. Dù là trẻ em cũng có nhân cách của trẻ em. Chẳng hạn nếu chúng ta nói “ca sĩ tí hon”, “nhạc sĩ thần đồng”, “chú tiểu nhỏ”, “con chim bé bỏng” nghe có vẻ thanh tao hơn là “ca sĩ nhí”, “nhạc sĩ nhí”, “chú tiểu nhí”, “con chim nhí”. Làm phóng sự, viết bản tin phải viết một cách trung thực, nghiêm túc, không bông đùa, châm chọc hoặc khôi hài vô ý thức. Bài viết sẽ bộc lộ tư cách và trình độ của người viết. Người xưa nói, “Văn tức là người”.

Ngôn ngữ và văn chương là tài sản vô giá do tiền nhân để lại, chúng ta phải có trách nhiệm bảo tồn và phát huy cho mỗi ngày thêm sáng đẹp. Do giao tiếp với nhiều nguồn văn hóa ngoại lai, những chữ nào có thể dịch sang Việt Ngữ thì phải cố mà dịch cho được để giữ gìn ngôn ngữ và văn chương Việt cho thuần khiết. Chen tiếng ngoại quốc vào tiếng Việt một cách bừa bãi khiến tiếng Việt trở nên lai căng, hổ lốn. Muốn thế thì phải học hỏi và nhất là phải cẩn thận và viết với tinh thần trách nhiệm. Trách nhiệm có nghĩa là hiểu được hậu quả của những gì mình viết ra. Nếu không giỏi thì cứ học theo người xưa mà viết ra, cố “sáng chế” tức viết bậy, viết nhảm. Chúng ta không nên đùa rỡn, nói mạnh hơn là phá hoại ngôn ngữ và chữ viết của dân tộc. Học tiếng nước ngoài là để giao dịch, làm ăn buôn bán và nghiên cứu những kiến thức mà sách Việt không có. Học tiếng nước ngoài không có nghĩa là để về hủy hoại tiếng mẹ đẻ hoặc thỉnh thoảng “xổ” ra vài tiếng để chứng tỏ mình văn minh hơn đời hoặc có vẻ “Mỹ” đây. Người Mỹ có bắt chước ai đâu? Họ đứng trên đôi chân của họ. Tại sao ta phải tự ti mặc cảm về ngôn ngữ của dân tộc mình? Chuyện “nói tiếng Tây ba rọi” đã xưa lắm rồi và bị mỉa mai suốt thời kỳ Thực Dân Pháp còn đô hộ nước ta. Sau hết, cũng xin nhớ cho muốn giữ gìn tiếng Việt trong sáng thì tâm hồn mình cũng phải trong sáng trước đã. Tâm hồn trong sáng là tâm hồn của một người yêu nước Việt và tiếng Việt. Khi mình nói mình yêu cha mẹ tức là phải làm sao cho cha mẹ sung sướng. Còn khi mình nói mình yêu tiếng Việt có nghĩa là mình phải làm sao cho tiếng Việt mỗi ngày mỗi trở nên sáng đẹp, thanh tao.

Đào Văn Bình
(California ngày 02/01/2013)

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Users browsing this topic
Guest
11 Pages«<891011>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.