Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

142 Pages«<910111213>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hungholland  
#201 Posted : Friday, June 10, 2011 2:51:01 PM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)


NON NƯỚC VIỆT NAM, NON NƯỚC TÔI

Tác giả : Mặc Giang

Từ thuở Long Quân tuyên phất cờ
Trăm con một bọc mẹ Âu Cơ
Hùng Vương mở nước con giữ nước
Chữ “S” hình cong vững bến bờ

Tổ quốc Việt Nam thật mến yêu
Cầu tre lắt lẻo nhịp cầu kiều
Đò ngang đò dọc non liền nước
Cẩm tú giang sơn thật mỹ miều

Quê hương một dãy kết ba miền
Sông núi muôn đời của Tổ Tiên
Uống nước nhớ nguồn cây nhớ cội
Ngàn năm rạng rỡ giống Rồng Tiên

Từ ngàn năm trước đến ngàn sau
Tuế nguyệt phong sương dẫu đổi màu
Máu đỏ da vàng không biến đổi
Việt Nam muôn thuở mãi cho nhau

Từ Nam Quan đến mũi Cà Mau
Non nước nước non quyện một màu
Đồi núi đồng bằng ra biển cả
Kết tinh thành nước Việt minh châu

Non nước Việt Nam non nước tôi
Nước non non nước bốn phương trời
Nước non vang vọng hồn non nước
Non nước này là non nước tôi.

Edited by user Friday, June 10, 2011 2:53:20 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hạ Vi  
#202 Posted : Saturday, June 11, 2011 10:19:00 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,544
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10696 time(s) in 2628 post(s)

UserPostedImage


Bóng Chiều Xưa

Quỳnh Giao



LTS - Nữ danh ca Minh Trang, thân mẫu của tác giả Quỳnh Giao, vừa từ trần hôm 17 tháng 8, 2010. Bài viết dưới đây, do tác giả Quỳnh Giao viết, và đăng trên Người Việt, hôm 21 tháng 4, 2010. Nay tòa soạn đăng lại bài viết này, để tưởng nhớ một trong những tiếng hát kỳ cựu nhất của nền tân nhạc Việt Nam, và cũng để độc giả được biết thêm nguồn gốc một số nhạc phẩm nổi tiếng xung quanh cuộc đời của bà.

Tuần rồi, Quỳnh Giao đã dùng tựa đề bài tạp ghi là “Phút Say Hương.” Ðó là mượn tên một ca khúc của Dương Thiệu Tước (là kế phụ của người viết) sáng tác cách đây gần 60 năm...



Mấy tháng vừa qua, cùng với mấy cô em, người viết chạy qua chạy lại như chong chóng giữa mấy nhà thương và nơi an dưỡng của mẫu thân để thăm nom cụ đã đến tuổi gần chín chục. Dù thân thể yếu ớt kiệt quệ, tinh thần của cụ vẫn minh mẫn tỉnh táo đến lạ thường. Không quên tên một người nào cả, từ họ hàng cho đến bằng hữu. Nào là Châu Hà, Kim Tước, Mai Hương, Kiều Chinh, cụ đều nhắc kỷ niệm thật chính xác. Cả đến người cụ chỉ thỉnh thoảng gặp gỡ cũng nhận ra tức khắc, như trường hợp anh Huy Phương đến nhà thương thăm cụ. Hôm ấy vì ngờ cụ bị cúm H1N1, nhà thương bắt buộc mọi người phải bịt kín mặt khi vào thăm. Nhác thấy anh, mặt nạ che chỉ còn hai con mắt, cụ reo lên: “Ồ, anh Huy Phương, anh đến thăm, tôi vui mừng lắm!” Cụ tỉnh táo nhận ra những người mấy chục năm mới gặp như cô Tâm Vấn, làm cô không cầm được nước mắt. Thấy Nhã Ca và Trần Dạ Từ đến bên giường thăm hỏi, cụ gọi đích danh tên thật của cô Nhã - “Thu Vân đây này!” và bảo rằng “Trần Dạ Từ này, chị coi như em ruột từ mấy chục năm về trước.”



UserPostedImage
Ba mẹ con. Từ trái: Bửu Minh, Minh Trang và Ðoan Trang (tức Quỳnh Giao hồi bé).
(Hình: tác giả cung cấp)



Mấy chục năm về trước, phụ nữ chưa được đi học đông đảo như thời sau. Ðàn bà mà đỗ đến Tú Tài thì đã được coi là “hiếm có lắm.” Trong đài phát thanh, cụ viết và đọc tin bằng tiếng Pháp nên ai cũng cho là giỏi. Ðã vậy, khi một ca sĩ bị đau bất ngờ, ông Giám Ðốc Hoàng Cao Tăng của đài Pháp Á nhờ cụ hát thay, cụ hát ngay, đúng ton, trúng nhịp vì đã học piano và nhạc lý vững vàng. Rồi nổi danh như cồn nhờ tiếng hát! Nhưng, những người đã biết danh ca Minh Trang từ trước thì đều biết rằng đấy là một xướng ngôn viên và biên tập viên thuộc loại “văn võ toàn tài,” Pháp Việt gì thì cũng làu thông! Ðấy là chuyện của hơn nửa thế kỷ về trước. Mà giờ này thần trí của cụ còn nhớ hết khi thân thể đã như ngọn bấc đang cạn dầu...

Vì nghĩ đến mẹ mình suốt ngày nên vô tình tựa đề của bài tạp ghi về nước hoa kỳ trước dùng bài hát liên quan đến cụ. Mà cũng chính cụ đã mở con đường thơm tho cho mình khi tuổi còn thơ, khi mình ngồi ngắm mẹ sửa soạn trước gương, chải mái tóc, và bôi nước hoa vào sau vành tai trước khi đi ra ngoài.

Khi mẫu thân Quỳnh Giao gặp gỡ nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, bà đã nổi danh như cồn với giọng ca điêu luyện. Lúc ấy là một góa phụ trẻ đẹp, nghệ danh là tên ghép của hai đứa con: Minh (Bửu Minh) Trang (Ðoan Trang, tên thật của người viết). Nói là hai người gặp nhau, nhưng cũng chỉ mới “gặp” trên làn sóng âm thanh mà thôi. “Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình” mà! Người nhạc sĩ tài hoa đã mê giọng hát và tương tư hình ảnh qua bức ảnh in trên bìa bài hát, nên soạn ra bài “Sóng Lòng,” nhịp Slow chậm rãi, trên cung Ré Trưởng với những lời lẽ sau:

Vắng người ta ước mơ

Khiến lòng bao ngẩn ngơ

Bến đời u ám như mây mờ

Cách trùng dương núi sông

Cánh hồng say ngóng trông

Biết ngày nào thấy nhau, hoài mong...

Trên án thư kìa hình ai tươi nét mơ,

mắt thu huyền dịu dàng bao ý thơ.

Tiếng ca u hoài ôi lâm ly từ đâu tới đây

Trên làn sóng âm thanh như đắm say hồn mơ...




Thời kỳ theo đuổi này, người nhạc sĩ hàng đầu của nền tân nhạc phôi thai còn soạn thêm những bài như “Buồn Xa Vắng” nhịp luân vũ chậm (valse lente) trên cung Sol Trưởng, cũng là âm giai thích hợp với chất giọng của bà nhất vì xuống nốt Sol trầm và lên cao là nốt Fa, không quá thấp mà cũng không quá cao, vừa vặn với thang âm (échelle) của bà. Ca khúc này được bà yêu thích nhất với lời từ đầy nỗi nhớ nhung.

Buồn ơi xa vắng, cung huyền réo rắt

Mênh mông sầu

Hồn mộng bâng khuâng, tơ trùng rung phím

suốt đêm thâu

Tàn canh thao thức, mây sầu theo gió

tới phương nao

Nhớ ai đàn ơi, u hoài

Khúc nhạc ly tao...




UserPostedImage



Nhưng độc đáo nhất vẫn là “Ngọc Lan” mà ai cũng biết:

Ngọc Lan giọng ướp men thơ

Mát êm làn lụa bóng là

Ngọc Lan trầm ngát thu hương

Bờ xanh bóng dương phút giây chìm sương..



Khi đã chung sống, hai người viết những ca khúc đầy yêu đương tình tứ như “Phút Say Hương.” Bài hát này có tiết điệu vui, lời ca thi vị:

Nhớ những phút vui đêm thâu thả hồn mơ

Nhìn mây gió tới đâu.

Nhớ những phút vui bên nhau tìm hồn hoa

Nhìn trăng khuất non xa

Nhớ những phút vui canh thâu nhạc vàng êm

Hòa đêm trắng bên nhau...


Thời kỳ này có ba bài hát do Minh Trang làm lời trên giai điệu của Dương Thiệu Tước. Ðó là “Ôi Quê Xưa,” “Bóng Chiều Xưa” và “Vui Xuân.” Nếu nghe cho kỹ thì lời ca của hai bài đầu vẫn còn là niềm luyến nhớ cảnh xưa, và người xưa đã khuất.

Hãy nhớ lại “Ôi Quê Xưa” với nhịp Habanera tha thiết:

Rồi một chiều xưa,

tôi về cố hương

Nhìn cảnh làng xưa,

vết hoang tàn đìu hiu gió sương

Nhìn xóm nhà vắng thưa,

nhớ chốn đây năm nào

Chiều chiều hai người hẹn nhau

đến bên nhịp cầu...

Tối tối quây quần mơ đón trăng lên vui lời trao duyên

Hôm nay chốn đây thôn làng quạnh hiu , người vắng xa...



Và tác phẩm “Bóng Chiều Xưa” bất hủ theo nhịp slow habanera. Sau này, một số ca sĩ đổi thành nhịp tango làm mất nhiều tình cảm nhẹ nhàng đằm thắm của lời từ lãng mạn. Vào thời ấy mà viết lời đầy ắp nỗi nhớ nhung chốn cũ người xưa, mình thấy lạ, và hãy cùng nghe lại để hiểu ra tâm tư của người nghệ sĩ:



UserPostedImage



Một chiều gió mưa em về thăm chốn xưa

Non nước u buồn nào đâu bóng cố nhân

Lòng xót xa tình xưa...

Lâng lâng chiều mơ,

một chiều bâng khuâng đâu nguồn thơ

Mây vương sầu lan, gió ơi đưa hồn về làng cũ

Nhắn thầm lời nguyền ước trong chiều xưa...



Với con cái, bà mẹ không bao giờ giờ cắt nghĩa hay giải thích lời ca cụ đã viết. Nhưng khi hát lên với sự trân trọng, làm con thì tự nhiên mình thấu hiểu được nỗi niềm của mẹ. Càng hát lại, ngẫm lại, Quỳnh Giao càng thương yêu mẹ và tiếc thương cho người cha tài hoa bạc mệnh, qua đời lúc mới 46 tuổi, khi con bé mới lên năm...

Mỗi ngày vào ngồi bên mẹ, người viết luôn nói cho bà biết bằng ánh mắt của mình. Rằng “con thương mẹ lắm,” và mẹ tôi nhìn tôi với ánh mắt biết cười: “Mẹ thấy mình hạnh phúc và mãn nguyện rồi...”





UserPostedImage
thunder  
#203 Posted : Saturday, June 11, 2011 12:59:34 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage

MƯA

Anh có biết đêm nay trời mưa lớn ?
Ngồi bên song cùng những cánh hồng tươi
Nhớ anh nhiều, nhiều, nhiều lắm anh ơi
Nhớ cơn mưa ngày xưa mình gặp gỡ...
.
Òa mộng ước bong bóng mưa chợt vỡ
Tràn váo lòng những hạt ngọc thương yêu
Kỷ niệm xưa mà ai vẫn chắt chiu
Trong nỗi nhớ đến tận cùng nỗi nhớ
.
Giá như xưa đừng một lần cách trở,
Thì nghẹn ngào giờ đâu lấp bờ mi ?
Mưa lạnh lùng rồi mưa cũng qua đi
Để cùng em một khối sầu ở lại...
.
Giọt mưa buồn nên nỗi đau tê tái
Có biết chăng người phương đó tôi yêu ?
Nhớ thương người, tôi nhớ biết bao nhiêu
Giá như xưa, đừng có cơn mưa ấy...

QUỲNH HƯƠNG

chiều tím  
#204 Posted : Saturday, June 11, 2011 2:16:57 PM(UTC)
chiều tím

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 262
Location: Nha Trang

Thanks: 207 times
Was thanked: 121 time(s) in 83 post(s)
Khóc Dưới Mưa

Ta ngồi bên bờ sông viễn xứ
Thả nỗi buồn theo sóng ra khơi
Sao vẫn thấy lòng người lữ thứ
Sầu miên man không tả thành lời !

Con chim nhỏ lạc bầy xa tổ
Biết về đâu giữa cõi bao la
Tiếng kêu khản gọi đàn hoảng sợ
Nghiêng cánh bay hụt hẫng xót xa

Ta và chim cùng chung cảnh ngộ
Đến tạm cư bến lạ quê người
Ôm kỷ niệm tìm vầng trăng ngỏ
Kiếm giùm nơi yêu dấu một đời

Chiều nay nắng đầu xuân vương nhẹ
Hồn đi tìm chút thoáng hương xưa
Mây giăng tím khung trời lặng lẽ
Chợt thấy mình đang khóc dưới mưa


UserPostedImage

Như Ly

Edited by user Saturday, June 11, 2011 2:20:21 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hạ Vi  
#205 Posted : Sunday, June 12, 2011 5:42:18 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,544
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10696 time(s) in 2628 post(s)

UserPostedImage


Lê Uyên Phương và mối tình định mệnh




by Dạ Ly


Có dịp ngồi tâm sự cùng Lê Uyên và nghe chị kể mới hiểu hơn về một mối tình đẹp như thơ nhưng cũng thật nghiệt ngã của đôi song ca một thời. Thật lòng sau khi nghe tâm sự của Lê Uyên, người viết không biết bắt đầu từ đâu trong chuyện tình vừa thơ mộng, vừa nghiệt ngã ấy. Với Lê Uyên, giờ đây mái tóc đã nhuốm sợi bạc và anh thì không còn trên cõi đời, nhưng chị vẫn nhớ như in cái ngày xưa định mệnh.


Hai thế giới

Chúng tôi bắt đầu câu chuyện từ ngày chị 16 tuổi, lứa tuổi đẹp nhất đời người với cái tên Lâm Phúc Anh. Ngày ấy chị được cha đưa từ Sài Gòn lên Đà Lạt học và ở nội trú tại ngôi trường nổi tiếng Virgo Maria. Vừa xinh đẹp, vừa giàu có, Phúc Anh được nhiều chàng trai thầm thương trộm nhớ. Ấy vậy mà trời xui đất khiến thế nào nàng lại gặp và yêu đắm say chàng nhạc sĩ mang trong mình căn bệnh hiểm nghèo không biết sẽ ra đi lúc nào.

Cuộc gặp gỡ của họ không làm nhiều người bất ngờ vì năm ấy chàng là thầy giáo dạy triết và nhạc ở một số trường Đà Lạt, nàng là bạn của em gái chàng. Nhưng bất ngờ là tại sao họ lại có thể yêu đắm say khi hai người thuộc “hai thế giới” khác nhau. Những khi nàng có chuyện dẫu vui, dẫu buồn là y như rằng chàng trở thành “cái thùng” để chứa nỗi lòng nàng rồi cố vấn cho nàng bằng tất cả những gì có thể.

Thật ra việc anh trở thành “cố vấn” không mấy khó khăn vì anh hơn chị đến 11 tuổi. Và không biết từ lúc nào, họ đã trở thành người trong mộng của nhau. Không lâu sau, vào một ngày thật đẹp trên một ngọn đồi thơ mộng tại Đà Lạt, chàng đã ngỏ lời yêu nàng. “Tôi yêu bởi cái tài và con người hiền lành, đạo đức, rộng lượng của anh. Nhưng yêu tha thiết hơn chính là vì căn bệnh hiểm nghèo của anh. Cuộc tình chúng tôi lãng mạn, đau đớn cũng bởi không biết một ngày nào đó cả hai sẽ chia lìa nhau. Chúng tôi yêu nhau nồng nàn và như thành một khối từng ngày, từng giờ cũng bởi cái chết luôn ám ảnh”, Lê Uyên nhớ lại.


UserPostedImage
Mối tình đẹp như thơ nhưng cũng thật nghiệt ngã của đôi song ca một thời.



Vẫn nghĩ tình yêu của họ chỉ khắc khoải đến thế vì căn bệnh, nhưng điều đau đớn hơn là gia đình Lê Uyên không chấp nhận cho con gái đến với một người sống nay chết mai như Phương (tên thật trên giấy khai sinh là Lê Văn Lộc - PV). Vì thế, một lần nữa, họ lại không được thấy mặt nhau mỗi ngày.

Trong thời gian về lại Sài Gòn năm 1968, để được gặp mặt, họ phải ngồi suốt ngày trong nhà ga Sài Gòn. Có khi bụng đói rã rời, chỉ có mẩu bánh mì nhỏ trong bụng, ấy vậy mà họ vẫn không lìa nhau. Họ sống như thế một tháng trời. Những lúc nhớ thương người yêu da diết, anh dành hết cho âm nhạc và vì thế những bài hát nhung nhớ trong tập Khi loài thú xa nhau đã ra đời trong hoàn cảnh chia lìa như thế.


Chia đôi cái tên

Khi người viết hỏi chị: ngày anh chọn cái tên Lê Uyên -Phương cho hai người, chị có nghĩ đến sự chia lìa mà không phải vì bệnh tật? Chị trầm ngâm: “Có thể là thế. Ban đầu tôi vẫn nghĩ đến sự chia ly đều nằm ở căn bệnh mà anh đang mang trong người. Cả hai từng nói với nhau rằng nếu không cần ăn, không cần ngủ thì chúng tôi cứ thế mà ngồi với nhau. Nhưng giờ đây nghĩ lại cũng thấy đúng khi cái tên chia làm đôi”.

Ngồi nhớ về anh, chị kể thêm: “Hãy quên một chút chuyện buồn để tôi kể về thời hoàng kim của Lê Uyên và Phương nhé. Chúng tôi may mắn được nhiều người ủng hộ chỉ sau đêm thứ hai đi hát chuyên nghiệp. Thật tình khi đến với nhau và hát cho nhau nghe, chúng tôi không nghĩ mình sẽ nổi tiếng. Cái tên Lê Uyên và Phương ra đời năm 1969 và đây cũng là năm mà tôi được anh “chia” cho nghệ danh Lê Uyên. Và một điểm nữa mà giờ tôi mới cảm nhận là cột mốc cuộc đời chúng tôi dường như gắn liền với con số 19. Sau đúng 19 đêm đi hát với 19 địa điểm, chúng tôi nổi tiếng ngay. Còn Phương (ông xã tôi) thì 19 ngày nằm trên giường bệnh, đã ra đi… ”.


UserPostedImage
Lê Uyên và Phương năm 1972



Khi nhắc về những tình khúc Phương viết cho mình, Lê Uyên bảo dài lắm và kể phải mất một ngày mới hết. Tình yêu của họ dành cho nhau thật mãnh liệt:


“Xin cho yêu em thật lòng
Xin cho yêu em thật lòng
Dù tháng năm buồn vui bàng hoàng...”

hay:

“Em ơi! xin em, xin em dấu trong cơn nghẹn ngào
Những chiều buồn mưa lẻ loi...
Em ơi! xin em xin em nói yêu đương đậm đà...
để rồi ngày mai cách xa”...



Ngày anh ra đi vào năm 1999 tại Mỹ vì bệnh ung thư phổi (không như dự đoán ban đầu là ung thư xương - PV), chị như người chết rồi. “Lúc anh mất, tôi đã chuẩn bị thuốc ngủ để theo anh. Tôi khóc từ sáng đến đêm khuya, ngày nào cũng khóc và ngay khi tôi định tìm đến cái chết bởi quá tuyệt vọng thì tôi cảm nhận được có điều gì đó từ anh không muốn tôi như vậy. Có thể anh đã xui khiến một người bạn gọi đến cho tôi. Tôi còn nhớ rất rõ đó là ngày thứ 50 anh mất. Tôi không ngờ người bạn ấy có thể nói được những lời mà trước đây anh từng nói với tôi: “Nếu như nhạc của anh không có mình (anh không gọi tôi bằng em mà gọi là mình) thì không biết phải làm sao. Mình không thể khóc hoài như vậy, mình phải sống và có bổn phận gìn giữ, đưa âm nhạc của anh thăng hoa”....




UserPostedImage



Cho Lần Cuối - Lê Uyên Phương
http://mp3.zing.vn/bai-h...yen-Phuong/IWZABF7F.html



Giờ này còn gần nhau,
gần thắm thiết trong mối sầu
Gần bối rối biên giới từ lòng đau.
Giờ này còn cầm tay,


cầm chắc mối duyên bẽ bàng
Cầm chắc mắt môi ngỡ ngàng
Cầm giá buốt thương đau,
ngày mai ta không còn thấy nhau.


UserPostedImage


Bàn tay năm ngón suông đem vào nhau hẹn sau.
Bàn tay năm ngón suông đem vào nhau mộng mau
Ngoài trời mưa, mưa hoài, gió mưa nặng nề
Người ngồi nghe xa cách đá xanh ơi mỏi mòn


Lệ ngập ngừng bờ mi,
giọt nước mắt lăn nỗi buồn
Giọt nước mắt xa cách vời vợi trông
Giờ này còn nhìn nhau,


nhìn đắm đuối như suối bền
Nhìn suốt kiếp như chết mòn,
nhìn hấp hối thương đau
Ngày mai ta không còn thấy nhau



UserPostedImage



UserPostedImage
thunder  
#206 Posted : Sunday, June 12, 2011 11:08:31 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage

THÁNG NĂM KỶ NIỆM ANH ƠI !

Tháng Năm nhẹ bước vào đời
Chỉ hồng trói buộc chơi vơi cõi lòng
Trùng dương sóng dậy chờ mong
Loài chim bói cá nhớ không hỡi người ?

Núi-Biển hai ngã đôi nơi
Em đi lặng lẽ không lời vẫy tay
Còn anh trong kiếp đọa đày
Thăng trầm cuộc sống vần mây ngã màu

Đêm về nỗi nhớ trói nhau
Bóng ai thấp thoảng bên cầu dừng chân
Tiếng gọi không chút ngại ngần
Chuyện xưa nhớ lại bâng khuâng một thời

Tháng Năm kỷ niệm anh ơi !
Mùa hoa phượng nở cuộc đời lộng say
Ép cành hoa, thương nhớ đầy
Duyên Tình Định Mệnh vòng tay đón chào

Tháng Năm trong dạ nao nao
Đêm mơ gối mộng thuở nào khắc ghi
Ngã màu tóc bạc thầm thì
Bên nhau luôn vẫn khắc ghi cuộc đời ..

Hồ Duy Hạ

Hungholland  
#207 Posted : Sunday, June 12, 2011 12:59:14 PM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)
TRUYỆN KIỀU


UserPostedImage

Đoạn VI : KIM TRỌNG - THUÝ KIỀU HỘI NGỘ

Tóm tắt nội dung : Sau khi Kim Trọng dọn về thuê phòng ở phía sau nhà Thuý Kiều. Qua bao ngày mong đợi để gặp mặt nàng,trong 1 ngày kia chàng đi dạo dọc theo bức tường sau nhà Kiều với ý định sẽ gặp được mặt nàng nhưng chàng Kim vô tình nhặt được 1 chiếc thoa gài tóc bằng vàng của nàng đánh rơi gần đó :

" Lần theo tường gấm dạo quanh
Trên đào nhác thấy một cành kim thoa
Giơ tay với lấy về nhà
Này trong khuê các đâu mà đến đây"

Và chàng nghĩ rằng "Đây chắc có lẽ duyên số do trời đã an bày" :

"Gẫm âu người ấy báu này
Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm."


Cuối cùng thoả lòng mong đợi, 2 người gặp nhau nhắc chuyện lần đầu gặp mặt nhân ngày Thanh Minh :
"Bậc mây rón bước ngọn tường
Phải người hôm nọ rõ ràng chẳng nhe
Sượng sùng giữ ý rụt rè
Kẻ nhìn rõ mặt người e cúi đầu."

Và chàng ngõ lời cầu hôn và trao vật định tình :

"Sẵn tay khăn gấm quạt qùy
Với cành thoa ấy tức thì đổi trao"

----o0o----

"Nhẫn từ quán khách lân la
Tuần trăng thấm thoát nay đà thèm hai
Cách tường phải buổi êm trời
290.Dưới đào dường có bóng người thướt tha
Buông cầm xóc áo vội ra
Hương còn thơm nức người đà vắng tanh
Lần theo tường gấm dạo quanh
Trên đào nhác thấy một cành kim thoa
295.Giơ tay với lấy về nhà
Này trong khuê các đâu mà đến đây
Gẫm âu người ấy báu này
Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm
Liền tay ngắm nghía biếng nằm
300. Hãy còn thoang thoảng hương trầm chưa phai
Tan sương đã thấy bóng người
Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ
Sinh đà có ý đợi chờ
Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng
305. Thoa này bắt được hư không
Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về
Tiếng Kiều nghe lọt bên kia
Ơn lòng quân tử xá gì của rơi
Chiếc thoa nào của mấy mươi
310. Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao
Sinh rằng lân lý ra vào
Gần đây nào phải người nào xa xôi
Được rày nhờ chút thơm rơi
Kể đà thiểu não lòng người bấy nay
315. Bấy lâu mới được một ngày
Dừng chân gạn chút niềm tây gọi là
Vội về thêm lấy của nhà
Xuyến vàng đôi chiếc khăn là một vuông
Bậc mây rón bước ngọn tường
320. Phải người hôm nọ rõ ràng chẳng nhe
Sượng sùng giữ ý rụt rè
Kẻ nhìn rõ mặt người e cúi đầu
Rằng từ ngẫu nhĩ gặp nhau
Thầm trông trộm nhớ bấy lâu đã chồn
325. Xương mai tính đã rũ mòn
Lần lừa ai biết hãy còn hôm nay
Tháng tròn như gởi cung mây
Trần trần một phận ấp cây đã liều
Tiện đây xin một hai điều
330. Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng
Ngần ngừ nàng mới thưa rằng
Thói nhà băng tuyết chất hằng phỉ phong
Dù khi lá thắm chỉ hồng
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha
335. Nặng lòng xót liễu vì hoa
Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa
Sinh rằng rày gió mai mưa
Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi
Dù chăng xét tấm tình si
340. Thiệt đây mà có ích gì đến ai
Chút chi gắn bó một hai
Cho đành rồi sẽ liệu bài mối manh
Khuôn thiêng dù phụ tấc thành
Cũng liều bỏ phí xuân xanh một đời
345. Lượng xuân dù quyết hẹp hòi
Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru
Lặng nghe lời nói như ru
Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng
Rằng trong buổi mới lạ lùng
350. Nể lòng có lẽ cầm lòng cho đang
Đã lòng quân tử đa mang
Một lời vàng tạc đá vàng thủy chung
Được lời như cởi tấm lòng
Giở kim hoàn với khăn hồng trao tay
355. Rằng trăm năm cũng từ đây
Của tin gọi một chút này làm ghi
Sẵn tay khăn gấm quạt qùy
Với cành thoa ấy tức thì đổi trao
Một lời vừa gắn tất giao
360. Mái sau dường có xôn xao tiềng người
Vội vàng lá rụng hoa rơi
Chàng về viện sách nàng dời lầu trang
Từ phen đá biết tuổi vàng
Tình càng thấm thía dạ càng ngẩn ngơ
365. Sông Tương một dải nông sờ
Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia
Một tường tuyết trở sương che
Tin xuân đâu dễ đi về cho năng"

( Còn tiếp )


Giải nghĩa:

287. Nhẫn từ: Kể từ khi (tiếng cổ).

293. Tường gấm: Do chữ cẩm tường, bức tường gạch có vẽ hoa như gấm (một cách tô điểm văn hoa).

294. Kim thoa: Cái thoa gài tóc bằng vàng.

296. Khuê các: Buồng lầu, nơi ở của con gái nhà sang trọng.

305. Hư không: Bỗng không, tự nhiên.

306. Hợp phố: Tên một quận, trước thuộc Giao châu, nay thuộc tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Theo Hán sử: Nguyên xưa, ven bể quận Hợp Phố có loại trai sinh ra một loại ngọc quý, nhưng vì bọn quan tước tham nhũng, bắt nhân dân đi mò ngọc cho chúng, dân tình khổ cực, nên ngọc trai biến đi nơi khác hết. Về sau, có vị quan thanh liêm là Mạnh Thường đến nhận chức, cải cách, chính sự, bãi lệnh mò ngọc, thì ngọc trai lại dần dần trở về. Do đó, người ta thường nói "Châu về Hợp Phố" (Hợp Phố châu hoàn), để chỉ những trường hợp vật báu đã bị mất lại trở về với chủ cũ.

311. Lân lí: Nguyên nghĩa là xóm và làng, đây dùng như nhgiã bà con láng giềng.

316. Niềm tây: Nỗi lòng, chút tâm sự riêng.

319. Thang mây: Do chữ vân thê, nguyên là một khí cụ của quân đội thời dùng để trèo vào thành bên địch (thanh cao, tưởng có thể bắc tới mây được).

320. Người hâm nọ: Người gặp gỡ hôm đi thanh minh.
Chăng nhe: (từ cổ) phải chăng là.

322. Kẻ: Chỉ Kim Trọng. Người: Chỉ Kiều, Kim Trọng nhìn tỏ mặt Kiều, mà Kiều thì e thẹn cúi đầu.

323. Ngẫu nhĩ: Tình cờ, cũng như "ngẫu nhiên".

324. Chồn: Mệt mỏi, ý nói sốt ruột lắm.

325. Xương mai: Xương vóc gầy. Cây mai, thân và cành nhỏ bé, nên người ta thường gọi những người xương vóc gầy là mai cốt (xương mai).
Rũ mòn: Gầy mòn, ý nói tương tư mà gầy mòn đi.

327-328: ý nói suốt tháng tâm thần như gửi ở cung trăng.

330. Đài gương: Giá cao,, trên mặt chiếc gương lớn và hộp đựng đồ trang sức của phụ nữ. Trong văn cổ, thường mượn chữ đài gương để chỉ người phụ nữ.
Dấu bèo: ý nói thân phận hèn mọn như cánh bèo trôi nổi mặt nước. ở đây là lời Kim Trọng tự nói khiêm.

332. Băng tuyết: ý nói trong sạch, thanh bạch. Chất hằng: Một thể chất lúc nào cũng như thế.
Phỉ phong: Hai thứ rau, người ta dùng lá và củ nấu canh hoặc muối dưa làm món ăn hàng ngày. ý cả câu: Gia đình vốn thanh bạch, mà tư chất thì cũng bình thường, không có tài sắc gì, lời Kiều tự khiêm (Bốn chữ trên nói gia đình, bốn chữ dưới nói bản thân).

333. Lá thắm: đã giảng ở câu 268.
Chỉ hồng: Do chữ xích thằng (sợi dây đỏ) theo sách Tục U quái lục: Vì Cố, người đời Đường, đi cầu hôn, vào nghỉ quán trọn, gặp một ông già ngồi dưới bóng trăng, mở cái túi vải, đang kiểm sổ sách. Vi Cố hỏi, ông già trả lời: Đây là sổ sách hôn nhân, và chiếc túi vải này dùng đựng những dây đỏ (xích thằng) dùng để buộc chân đôi vợ chồng. Do điển này mà có những danh từ: "chỉ hồng", "tơ hồng" để chỉ việc nhân duyên vợ chồng, và "Nguyệt lão" (ông già dưới trăng), "Trăng già", "ông Tơ", để chỉ người làm mối mai. Tục xưa: khi cưới vợ, thường làm lễ Tơ hồng, tức là tế ông Nguyệt lão xe dây đỏ đó.

339. Dù chăng: Dù chẳng, nếu không.

343. Khuôn thiêng: Khuôn tạo hóa, chỉ trời. Khuôn do chữ quân, tức là cái khuôn dùng để nặn đồ gốm. Người xưa ví tạo hoá đúc nặn ra muôn vật như cái khuôn nặn ra các đồ gốm, nên gọi Tạo hoá là Hồng quân, Thiên quân, (khuôn trời).
Tấc thành: Tấc lòng chân thành, thành thực.

345. Lượng xuân: Nguyên nghĩa là tấm lòng tốt đẹp như mùa xuân. Còn có thể giải là tấm lòng của người phụ nữ trẻ tuổi, xinh đẹp.

348. Chiều xuân: Như nói tứ xuân (Xuân tứ).
Nét thu: Nét thu ba, nét sóng thu, tức con mắt.

352. Đá vàng: Do chữ kim thạch. Kim đây là loài đồng, chỉ chuông đồng, vạc đồng; thạch là đá, chỉ bia đá. Thời xưa, những việc lớn, những công đức hay châm ngôn, thường được người ta khắc vào chuông đồng, bia đá, để lưu truyền thiên cổ. Do đó, người ta thường dùng danh từ kim thạch để chỉ cái gì có tính cách vĩnh cửu bền vững, không thay đổi được, như ghi tạc vào vàng đá. Đây nói: Kiều nhận lời gắn bó với Kim Trọng, và xin ghi tạc lời đó, như ghi tạc vào vàng đá.

357. Bả: Bản Trương Vĩnh Ký chú Bả là cầm.
Quạt hoa quì: Chiếc quạt bằng lá quì vẽ hoa.

359. Tất giao: Sơn và keo, chỉ tình nghĩa gắn bó bền chặt với nhau như hai chất keo và sơn.

362. Lầu trang: Lầu trang điểm, chỉ dùng lầu ở của phụ nữ.

363. Đá biết tuổi vàng: Muốn xem vàng bao nhiêu tuổi, xấu tốt thế nào, người ta thường dùng thứ đá cuội đen để thử, gọi là hòn đá thử vàng. Qua sự trao đổi, Kim-Kiều đã hiểu biết và yêu nhau, như đá biết rõ tuổi vàng.

365. Sông thương: Hai câu này lấy ý ở bài thơ trong Tình sử:
" Quân tại Tương giang đầu,
Thiếp tại Tương giang vĩ,
Tương tư bất tương kiến,
Đồng ẩm Tương giang thuỷ"
Dịch nghĩa:
Chàng ở đầu sông Tương,
Thiếp ở cuối sông Tương,
Nhớ nhau mà chẳng thấy nhau,
Cùng uống nước sông Tương.

367. Tuyết trở sương che: ý nói bức tường của nhà Kiều với nhà Kim Trọng như có tuyết sương ngăn trở, che khuất khiến cho hai người gặp gỡ trao đổi tin tức.


Edited by user Sunday, June 12, 2011 1:00:14 PM(UTC)  | Reason: Not specified

xuan hoang  
#208 Posted : Sunday, June 12, 2011 3:48:34 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
HỒN QUÊ


Quê hương là gì hở mẹ? Sao cô giáo dạy phải yêu?

Quê hương là gì hở mẹ? Ai đi xa cũng nhớ nhiều...?


UserPostedImage



Đã bao lâu rồi nhỉ? Hình như là đã bảy năm rồi ta xa quê. Lần đầu tiên, đó là lúc ta khăn gói lên Sài Gòn thi đại học, lúc đó ta nào biết và hiểu hai từ Quê hương là gì?


UserPostedImage



Ngày...tháng...năm...

Ta còn nhớ rõ hôm đó, ba giờ sáng bà Nội đã thức ta dậy, trên bàn là bàn chải đánh răng đã có sẳn kem và ly nước chè xanh âm ấm pha loãng - Nội nói đánh răng với nước chè xanh rất tốt. Sau khi ăn hết tô mì gói Nội nấu, Nội dẫn ta ra ngoài lộ cách nhà khoảng chừng 1 cây số để đón xe - hồi đó dưới quê đón xe lên Sài Gòn khó lắm. Rồi Nội dúi vào tay ta một nắm tiền lẻ tổng cộng hơn 200,000 mà Nội gom trong buổi chợ hôm qua, hai chiếc bóng liêu xiêu dắt díu nhau trên con đường đất ngoằn nghèo, ánh trăng sáng vằng vặc. Ta đi rồi, nội ở lại một mình thui thủi, bất chợt ta quay lưng giấu vội giọt nước mắt chảy ngược vào trong. Xe nổ máy, ta buông cánh tay Nội đang nắm qua cửa sổ...Nội nói với theo "Ráng thành người nghe con...."

Bây giờ nhớ lại, ta hiểu đó là quê hương



UserPostedImage



Nơi chôn nhau cắt rốn khi ra đời, nên tôi thương tôi nhớ trọn đời, tôi sẽ về...

Bảy năm là ngắn hay dài nhỉ? Ta không biết, ta chỉ nhớ trong bảy năm ấy ta về được 5 cái Tết, về vội vàng và đi vội vàng. Vội đến nổi mà không kịp nhận ra tóc trên đầu nội bây giờ chỉ còn là màu trắng, vội đến nổi mà ta không kịp nhận ra con suối sau nhà - nơi này xưa ta hay đi câu cá, bắt cua đã bị lấp, vội đến nổi mà ta không biết rằng bà cụ hàng xóm cách nhà ta mấy căn - hồi nhỏ hay cho ta kẹo, đã qua đời....

Bây giờ ta hiểu, nổi nhớ ấy...chính là quê hương


UserPostedImage



Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm đấy....

Ngày xưa, dân bần nông như chúng tôi chỉ biết con trâu đi trước cái cày theo sau. Sáng cưỡi ra đồng, ngồi vắt vẽo trên lưng trâu, đến nơi thả cho nó đi gặm cỏ xong rồi cả bọn đào lổ đá dế, rồi đói thì trộm ngô đem nướng, rồi thì tắm sông....ôi vô vàn cái thú

Rồi những lần trâu đi ăn lúa nhà người ta, những lần bị mời lên công an xã, những lần ngã trên lưng trâu xuống đau điếng, những lúc khóc cùng con trâu khi nó bị bệnh không đi cày được. Và lần đó ta khóc luôn mấy ngày, vì nhà ta đã bán luôn con trâu cuối cùng để trả nợ.

Hồi đó, trâu cũng có tên để phân biệt nó của nhà ai, bây giờ ta cũng quên luôn tên lũ chúng nó rồi. Như quên đi một miền ký ức gian nan, đầy nắng và đầy gió bụi.

Bây giờ nhớ lại, ta hiểu đó là quê hương



UserPostedImage



Nếu được hỏi, trẻ con thích nhất mùa nào? Tôi sẽ trả lời ngay đó là mùa hè.

Nghĩ hè rồi, cả bọn túm nhau gom hết giấy tập cũ bắt đầu dán những con diều với đủ hình dạng. Chờ chiều gió lên cả bọn ùa ra ngoài đồng chạy theo chiều gió, cánh diều từ từ bay lên cao, cả bọn cùng viết ước mơ của mình xếp thành vòng tròn và lòn vào dây diều đang căng, những ước mơ ấy được bay cao bay xa.

Những lần vấp ngã vào thành bờ ruộng, gốc rạ đâm đau điếng nhưng ta không hề khóc....Và ta lớn....

Tôi hiểu đó là quê hương



UserPostedImage



Những đứa bạn thời nối khố, giờ mỗi đứa một phương trời, có đứa tôi chưa được gặp lại trong cuộc sống quá nhiều bộn bề này



UserPostedImage



Ai cũng có trong tâm trí mình một hồn quê, bạn khác và tôi khác. Tuy nhiên có một điểm chung mà tất cả chúng ta phải nhớ:

Quê hương nếu ai không nhớ,

Sẽ không lớn nổi thành người...


Tường rêu

Edited by user Monday, June 13, 2011 4:21:04 AM(UTC)  | Reason: Đổi hình

UserPostedImage
thanks 1 user thanked xuan hoang for this useful post.
Hungholland on 6/12/2011(UTC)
lpham  
#209 Posted : Sunday, June 12, 2011 5:18:21 PM(UTC)
lpham

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,604
Man
Location: Canada

Thanks: 688 times
Was thanked: 1148 time(s) in 488 post(s)
Originally Posted by: xuan hoang Go to Quoted Post

[center]Ai cũng có trong tâm trí mình một hồn quê, bạn khác và tôi khác. Tuy nhiên có một điểm chung mà tất cả chúng ta phải nhớ:

Quê hương nếu ai không nhớ,

Sẽ không lớn nổi thành người...


Không biết sao mỗi lần ai nhắc câu này tự nhiên thấy cổ họng nghèn nghẹn làm sao.
Đây là hai câu cuối trong bài hát Quê Hương của Đỗ Trung Quân.

Ý tưởng nghe cứ như là "quê hương là chùm khế ngọt".

Cái quê hương của lpham là cái quê hương trước 1975. Sau 75, thực sự còn rất ít những gì đáng nhớ, và phần lớn là những gì chỉ muốn quên mà không quên được. Thỉnh thoảng trong giấc mơ, vẫn nhớ công an tới là duyệt hộ khẩu hành hạ tinh thần, vẫn nhớ xếp hàng mua khoai, nhớ những giọt nước mắt nghẹn trong mắt mẹ khi nồi cơm độn bo bo và khoai mì, nhưng vẫn không đủ để đám con có được một bữa no. Thực muốn quên mà không quên được.

Cái câu này "Quê hương nếu ai không nhớ, Sẽ không lớn nổi thành người" phải coi lại coi là quê hương nào, và có bị dính bùn "đỏ" hay không.
FREEDOM AND DEMOCRACY FOR VIETNAM
thunder  
#210 Posted : Monday, June 13, 2011 5:51:31 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)


Huyền thoại núi Ba Thê – An Giang


UserPostedImage


Núi Ba Thê còn có tên gọi là Vọng Thê, tên chữ là Hoa Thê Sơn. Đây là một ngọn núi nằm lẻ loi giữa đồng tứ giác Long Xuyên, ngày nay thuộc thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Núi Ba Thê còn có tên gọi là Vọng Thê, tên chữ là Hoa Thê Sơn. Đây là một ngọn núi nằm lẻ loi giữa đồng tứ giác Long Xuyên, ngày nay thuộc thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Xe chạy xuyên qua cánh đồng Thoại Sơn mênh mông, bát ngát, lúa chín vàng. Từ thành phố Long Xuyên theo tỉnh lộ 943, chúng ta đi về hướng Tây hướng về Núi Sập. Dòng Thoại Giang (còn gọi là Thoại Hà) là một công trình thế kỷ do ngài Thoại Ngọc Hầu chỉ huy. Đã có hàng vạn lượt dân công, cơm nắm mo cau, chân đất đầu trần, tứ phương tụ họp về đây phá rừng, đào đắp, nạo vét kênh bằng những công cụ thô sơ để cho hôm nay dòng Thoại Giang chảy xuôi về biển.

UserPostedImage


Dưới chân núi Ba Thê, du khách tập trung mua vé để lên núi, bảy ngàn đồng cho hai người, một xe. Có một con đường nhỏ lát bê tông bề ngang chừng ba mét, ngoằn ngoèo, uốn lượn chạy quanh co lên đỉnh. Hai bên sạn đạo là rừng cây thâm u, vách đá dựng, vực sâu thăm thẳm. Quãng đường dài chừng hai cây số nên xe chạy chừng 15 phút thì tới đỉnh. Con đường này có từ đời Pháp thuộc, đến năm 2002 được Nhà nước đầu tư xây dựng tương đối hoàn chỉnh, an toàn để phục vụ cho du lịch.

Hoa Thê Sơn đẹp như chốn bồng lai tiên cảnh, có nhiều sự tích và huyền thoại gắn liền với một nền văn minh một thời kỳ phồn thịnh, rực rỡ trong quá khứ. Trên đỉnh Vọng Thê có ngôi chùa cổ tên Sơn Tiên Tự được dựng vào năm 1933.

Trước sân chùa có tượng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát cao chừng tám mét, đứng trên tòa sen, khoác áo choàng đỏ, uy nghi, tự tại, bao quát khắp thế gian. Mây bay là đà mang hơi sương mát lạnh, cỏ cây xanh tốt ngút ngàn, chim hót líu lo khắp nơi. Thỉnh thoảng tiếng chuông chùa ngân vọng khắp núi rừng làm bâng khuâng, xao xuyến lòng người.

Có một di tích rất huyền thoại, lạ lùng gợi trí tò mò cho khách. Đó là hòn đá hoa cương cao chừng ba mét, to cỡ gốc cổ thụ bốn người ôm không xuể, nằm bên hông chánh điện của Sơn Tiên Tự. Trên mặt viên đá khổng lồ ấy có dấu bàn chân người, to hơn bình thường một chút, rất rõ. Đó là "bàn chân tiên"! Theo truyền thuyết được các sư trên núi kể lại, xưa kia, lúc mới tạo sơn, đá núi còn mềm như đất sét, có một vị tiên đã ấn bàn chân mình lên đá để làm dấu.

UserPostedImage


Dưới triền núi cách chùa Sơn Tiên chừng mười mét có một công trình rất lạ mắt là nhà trưng bày những cổ vật, hiện vật có liên quan đến lịch sử cũng như văn hóa của Ba Thê - Óc Eo. Công trình này có phong cách kiến trúc rất giống những đền đài của các nước vùng Nam Á nên dấu ấn của Ấn Độ giáo thể hiện rất rõ qua kiến trúc mái vòm tròn đứng, cửa hình chữ nhật cao, nhiều tầng, đầu vuốt chữ U ngược.

Các mặt vách chung quanh "đền" đều có tượng thần Ganesa mình người, mặt đầu voi, ngồi với tư thế nghiêm trang, nửa như trầm mặc thiền định, nửa như răn đe canh giữ. Lan can bao bọc sân đền trang trí tượng nhỏ, giống loài ngựa Ả Rập, lùn, hơi nhỏ con. Nhìn tổng thể, "đền" có bố cục kiến trúc sinh phồn thực, mô phỏng, nhân cách hóa hình tượng yoni, linga.

Các màu trang trí chủ đạo là nâu, xám, trắng được sử dụng tối đa, khác với phong cách Angkor - Khmer chi li, nhiều màu sắc. Khu nhà trưng bày có chu vi hình vuông chừng 40m, tam cấp cửa chính ở phía Mặt trời mọc, là nơi ngự trị của các thần linh theo quan niệm Ấn Độ giáo.

Đây là công trình có nét độc đáo, thể hiện bản sắc bắt nguồn từ văn minh Nam Á, được cải biên khi di thực và cộng cư ở bán đảo Đông Dương. Ở ngọn núi Nhỏ cạnh bên có một hòn đá chơ vơ, trên đầu có một phiến đá tròn giống cái nón. Người ta cho rằng vị sư kia đã hóa đá, giống như chuyện hòn Vọng Phu ở miền Trung và miền Bắc, nhưng đây lại là "vọng thê".

Ở phía Bắc của đỉnh Ba Thê còn có một tảng đá có dáng hình như một cây đao vĩ đại, là bửu bối của trời đất để trừng trị bọn gian ác.

Khi nắng đã xế về Tây, đứng trên đỉnh Ba Thê nhìn xuống đồng bằng xa xa mờ ảo trong khói lam chiều, bạn sẽ thấy tâm hồn như lắng lại, lòng lâng lâng cảm giác thoát tục giữa bốn bề sơn thủy hữu tình.

xuan hoang  
#211 Posted : Monday, June 13, 2011 6:07:49 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)

Nỗi lòng người viễn xứ


UserPostedImage




Mây ơi có trôi về đất Việt
Hãy cho nhắn gửi đến quê hương
Nỗi lòng của người viễn xứ
Thương hoài mảnh đất đã nuôi ta!

Nơi ấy vẫn còn dòng sông nhỏ
Bến cũ ngày nay có vắng người
Hỏi khách đa tình ngày xưa ấy
Tìm đâu chốn cũ để dừng chân ?

Khi bước giang hồ chân đã mỏi
Giòng đời phiêu bạt biết về đâu
Một bóng đơn côi trên đất lạ
Hóa thân chim Quốc khóc đêm ngày

Sinh ra thời loạn không bình giặc
Ðất nước thái bình chẳng phò vua
Sống kẻ lưu đầy thân lạc lõng
Than mây khóc gió phận lưu vong !

Vẫn mơ một ngày ta trở lại
Thuyền xưa bến cũ ghé về thăm
Ðể sống lại thời gian nhiều kỷ niệm
Tuổi thơ và đất nước mãi trong ta!


Thảo Ly



UserPostedImage
Hạ Vi  
#212 Posted : Monday, June 13, 2011 3:36:04 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,544
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10696 time(s) in 2628 post(s)

Tà Áo Bay Bên Trời Quê Đất Khách


UserPostedImage



Nơi tôi sống trời đang vào tháng tư. Tháng của những ngày thu vương vấn nhuộm chút bâng quơ để cho những con đường chong chanh trong bộ áo vàng hoe của lá chẳng mấy chốc chuyển sang một màu đỏ tía, thẫm lịm lối đi. Màu đỏ của lá chợt hừng lên dưới trời chiều hanh hanh chút nắng, vội vàng ẩn mình khi hoàng hôn xuống vội. Và cơn gió sang mùa không ngần ngại cuốn nhanh những chiếc lá vàng đỏ xào xạc cuống quít bước chân.

Tôi thả bộ dọc theo con đường ra bãi đậu xe. Tiếng gió rì rào ve vãn bên tai như niềm vui đang hiện hữu nơi tôi. Tôi đưa một bàn tay lùa nhẹ mái tóc còn bàn tay kia níu vội tà áo chực tung bay theo gió về một khoảng không vô định. Áo dài và tôi. Áo dài và gió. Sự dằng co giữa tôi và gió tạo thành một niềm vui bưng bít trong lòng.

Xa quê hương người ta thường nhớ đủ thứ. Nhớ những người thân yêu. Nhớ nhà cửa, nhớ con đường xưa đã bao lần đi qua, nhớ bạn bè của thời đánh đinh, đánh đáo. Và trong tôi cũng vậy. Một khi cơn nhớ cuộn lên như sóng lớp thủy triều thì ôi thôi bao nhiêu là nỗi nhớ ồ ạt trở về. Từ những ngày ấu thơ đến những ngày mới lớn. Từ những hàng phượng đầu mùa đầy ắp nụ non đến những con đường hiu hắt ánh đèn đêm. Biết bao hình ảnh lần lượt lướt qua ký ức. Thật vậy! Bất cứ cái gì của Sài Gòn, của những ngày xa xưa tôi đều nhớ cả. Càng nhớ bao nhiêu, tôi lại càng yêu Sài Gòn bấy nhiêu. Mà yêu Sài Gòn bao nhiêu thì tôi lại càng trân quý chiếc áo dài bấy nhiêu. Thế là tôi trở về tìm kiếm trong tôi hình ảnh cố hữu của chiếc áo mà xa quê hương rồi tôi mới thấy quý nó thật sự.

Mỗi quốc gia trên thế giới, kể cả những bộ lạc ở những nơi thâm sơn cùng cốc đều có sắc phục riêng của họ. Đối với phụ nữ Việt Nam, chiếc áo dài là một trang phục và cũng là một sắc phục thật độc đáo vì nó mang đủ các tính chất: kín đáo, sang trọng, trữ tình, lãng mạn, thanh nhã, thướt tha, dịu dàng mà chị em phụ nữ Việt hẳn phải hãnh diện mỗi khi mặc. Chiếc áo dài mà ngày nay mỗi lần được dịp mặc là mỗi lần tôi thấy cả một khoảng trời xanh của thời con gái, của lứa tuổi đôi mươi, của quãng đời xuân sắc được dịp sống lại trong tôi.


UserPostedImage



Tôi nhớ lúc còn nhỏ, lúc ấy chắc tôi chỉ chừng sáu hoặc bảy tuổi, mỗi lần thấy người chị họ của tôi ghé chơi sau buổi chiều tan học, tha thướt dáng nét yêu kiều trên chiếc xe Velo Solex là tôi cũng lục đục bày trò chơi mặc áo dài và lái xe sắt. Tôi lấy hai chiếc ghế lùn, bằng sắt, cao khoảng ba tấc, đặt nối đuôi nhau và gác một chiếc ghế con bằng gỗ mà mẹ tôi vẫn ngồi nhặt rau, vào giữa hai chiếc ghế sắt làm yên xe. Rồi tôi lấy hai chiếc khăn tắm, một quàng vào trước ngực và một quàng vào sau lưng để làm áo dài. Thế là tôi có được chiếc áo dài làm bằng khăn lông với hai tà áo lết phết dưới đất. Tuy hơi dài quá khổ nhưng tôi cũng có được chiếc áo dài như ai. Sau vườn nhà tôi có một cây chuỗi ngọc, quanh năm lá luôn xanh và hoa nhỏ màu tím thẫm từng chùm bốn mùa nở rộ. Mùi hoa thơm thoang thoảng như mùi bánh khảo luôn mời gọi những chú ong bướm say tình bay lượn. Về phía con gái, tôi là nhỏ nhất nhà nên ba tôi thương tôi lắm. Cứ mỗi lần chơi mặc áo dài là ba tôi lại hái một cụm hoa chuỗi ngọc cài lên tóc tôi. Thế là tôi được mặc áo dài, được cài hoa trên tóc và lái xe yểu điệu giống người chị họ tôi.

Có phải tôi và chiếc áo dài có duyên có nợ nên chiếc áo dài luôn quấn quít bên tôi? Và có phải tôi và màu tím hoa chuỗi ngọc có nợ có duyên? Nên nền tím thẫm luôn sống mãi nơi tôi trên tà áo dài qua bao tháng năm trôi giạt dòng đời.

Lúc còn sống ở quê nhà không bao giờ tôi quan tâm đến giá trị cũng như chẳng bao giờ tôi tìm hiểu về cội nguồn của chiếc áo. Giờ đây nhớ trời quê khi sống trên đất khách, tôi mới nhận được chân giá trị của chiếc áo và cảm thấy thật hãnh diện mỗi khi mặc, dù ngày xưa nơi quê nhà tôi đã từng mặc nó hằng bao nhiêu năm trời.

Nơi tôi định cư không có phép nghỉ lễ Tết Nguyên Đán hằng năm như ở quê nhà. Và những ngày Tết đến thường xảy ra trong tuần nên năm nào cũng vậy, nếu đi làm trong ngày mùng Một Tết tôi đều mặc áo dài. Đây là dịp mà những người bạn đồng nghiệp của tôi được dịp ngắm nghía và trầm trồ chiếc áo dài tôi đang mặc.

Nhớ một lần tôi phải đi tham dự một buổi họp lớn tổ chức tại hội trường của một khách sạn lớn nằm ven bờ biển Glenelg tại Adelaide, thành phố nơi tôi đang sống. Buổi sáng hôm ấy, thấy trời đẹp thế là tôi nẩy ý mặc áo dài. Tôi chọn chiếc áo màu tím thẫm. Khi đến nơi tôi định đậu trong nhà đậu xe của khách sạn. Nhưng nhìn thấy trời đẹp, nắng nhè nhẹ nên tôi đậu xe bên đường để được dịp đi bộ.

Vâng! Hôm ấy trời ban mai nắng dịu. Cái nắng của một ngày cuối hạ. Nắng thoi thóp không gay gắt như những tháng về trước lại có một chút gì hanh hanh của những ngày chớm thu. Từng sợi nắng đổ ngập lối đi, đổ dài trên tôi, tóc và áo. Gió ban mai gợn mùi nước biển thoảng nhẹ thổi về đẩy đưa hai tà áo nhẹ bay bay, để lộ chiếc quần sa tanh lụa trắng muốt. Tôi thanh thản bước đi trong nắng. Còn nắng quấn quít bên tôi theo từng bước chân ngập ngừng trên con đường đá dăm rệu rạo. Và đằng sau cặp kính râm, tôi chừng thấy được những đôi mắt tò mò, những gương mặt nhìn theo, những nụ cười cảm nhận. Khi tôi sắp đến nơi, một người đàn bà 'tóc vàng' đi ngược chiều dừng lại hỏi tôi với một cung cách nhã nhặn, lịch sự, bằng tiếng Anh:

- Cô đi đám cưới phải không? . . . . Chiếc áo cô đang mặc đẹp quá. Rất lịch sự và rất đẹp.
Rồi bà đưa tay vuốt lớp vải mềm mịn trên cánh tay tôi. Tôi mỉm cười nhìn xuống chiếc áo tôi đang mặc. Chiếc áo dài màu tím than, đơn giản không trang hoàng sặc sỡ. Tôi lắc đầu trả lời:
- Tôi đi tham dự buổi khánh thành đổi tên của cơ quan Uniting Care.
Bà lập lại:
- Cái áo đẹp quá. Rất là lịch sự.
Rồi bà hỏi tiếp:
- Cô đến từ nước nào ?

Sau khi nghe tôi trả lời, người đàn bà lạ bên đường còn nấn ná hỏi thêm về văn hóa Việt, điều mà tôi rất hãnh diện để nói, để ca tụng mỗi khi có ai hỏi đến. Thấy không còn đủ thì giờ để lan man câu chuyện tôi chỉ nói sơ và xin lỗi khiếu từ bà khách lạ rồi vội vã bước đi. Khi đến cổng khách sạn tôi quay đầu nhìn lại. Người đàn bà 'tóc vàng' lạ mặt vẫn còn trông theo. Tôi cảm động và thấy vui trong lòng làm sao. Khi bước vào hội trường, rất nhiều cặp mắt hướng về phía tôi. Tôi đoán là họ đang ngưỡng mộ chiếc áo tôi đang mặc, chiếc áo mang tính chất truyền thống của dân tộc Việt. Điều đó làm tôi cảm thấy thật hãnh diện và thích thú.

Thật vậy, chiếc áo với phần trên ôm sát tấm thân thon thả của phụ nữ để hai tà bay lửng lơ cuốn quít theo làn gió trông thật thơ mộng, thật trữ tình đã là nguồn cảm hứng cho biết bao tâm hồn nghệ sĩ, phong phú hóa kho tàng thơ, văn, nhạc, họa, nhiếp ảnh trong nền văn học nghệ thuật Việt Nam như cố thi sĩ Nguyên Sa đã ngất ngây gửi hồn trong hai tà áo người tình:

Có phải em mang trên áo bay
hai phần gió thổi một phần mây
hay là em gói mây trong áo
rồi thở cho làn áo trắng bay ?
Nguyên Sa (Tương Tư)



UserPostedImage



Còn Nguyễn Tất Nhiên đã hãnh diện đề cao nét trang nhã, đài các của tà áo dài Việt Nam đáng là đại diện cho sắc phục phương đông.

Tháng giêng em áo dài trang nhã
Tỉnh lỵ còn nguyên nét Việt Nam
Đài các chân ngà ai bước khẽ
Quyện theo tà lụa cả phương đông

Nguyễn Tất Nhiên (Tháng Giêng, Chim)


Khoảng trời xanh với những mộng mơ lãng mạn ươm kín sách vở học trò cùng tà áo dài trắng trinh nguyên đã được biết bao tâm hồn thi nhân chở chuyên tâm sự như nhà thơ Luân Hoán đã một thời vướng mắc suy tư, để rồi dù dòng đời trôi chảy ông vẫn không quên những gì đã xảy ra nơi sân trường mắt biếc:

em có nhớ trong sân trường bữa ấy
giờ ra chơi em phơi nắng chiều đông
gió bấc khô làm đôi má se hồng
cùng chúng bạn em ngồi quanh gốc phượng
tà áo trắng xoè như đôi cánh lượn
trải dịu dàng trên cỏ mượt mà xanh

Luân Hoán (Trong Sân Trường Bữa Ấy)


Và Bảo Cường cũng cùng một hoài niệm như Luân Hoán đã chắt chiu trong lòng bao kỷ niệm xa xưa của thời áo trắng:

Ngày xưa áo lụa tung bay
Tóc em theo gió vờn mây cuối trời
Trường Tiền áo trắng tinh khôi
Em nghiêng nón... giấu nụ cười làm duyên

Bảo Cường (Ao' trắng ngày xưa)


Trong khi Thanh Trắc Nguyễn Văn đã nhẹ nhàng trách hờn người yêu bé nhỏ của quãng đời học trò đã vội quên tháng ngày xưa cũ, quên con đường dẫn lối đến trường, tìm vui nơi bờ bến lạ.

Con đường xưa đi học
Hai đứa giờ hai nơi
Em theo người xứ la.
Anh lưu lạc phương trời.
Em quên thời áo trắng
Rơi nỗi buồn đâu đây
Con đường anh trở lại
Thăm thẳm một màu mây.

Thanh Trắc Nguyễn Văn (Con đường xưa đi học)


Thường khi nói đến tà áo trắng rất nhiều người nghĩ đến mái trường thân yêu, đến phấn bảng học trò, đến tiếng ve gọi hè sang, đến hàng phượng vĩ với những bông hoa trĩu nặng thắm đỏ sân trường. Và màu đồng phục cho nhiều trường trung học nữ ở Việt Nam thường là màu trắng. Nhưng cũng có một số ít trường chọn màu xanh. Và màu tím cũng được chiếu cố. Điển hình là trường Gia Long đã một thời mang tên là 'Trường Nữ Sinh Áo Tím' từ ngày thành lập vào năm 1915 cho đến 1952. Đến năm 1953, đồng phục áo dài tím được thay thế bằng chiếc áo trắng với phù hiệu của trường - đóa mai vàng - khâu lên trên áo.

Dù những tà áo dài trắng được ca ngợi nhiều trong thi văn thật sâu đậm nhưng điều này đã không làm xóa mờ nét dáng thanh dịu của tà áo dài xanh biêng biếc mà bao thi nhân, nhạc sĩ cũng đã hoà tiếng lòng của mình trong từng cõi thi tứ diệu vợi như nhà thơ Mường Mán đã thố lộ tâm tình khi nhớ về những ngày xưa cũ.



Mùa cốm xa rồi hương còn đây
Sâm cầm về đâu cánh nghiêng trời
Biếc xanh tà áo em qua ngõ
Gói cả sông hồ thương nhớ ai.
Mường Mán (Với Xuân Hà Nộí)




UserPostedImage




Thử vòng quanh thế giới âm nhạc, qua những nhạc phẩm Áo Lụa Hà Đông (Ngô Thụy Miên), Ngàn Thu Áo Tím (Hoàng Trọng), Tà Áo Cưới (Hoàng Thi Thơ), Tà Áo Tím (Hoàng Nguyên), Tà Áo Trắng (Trần Ngọc Lân), Tà Áo Đêm Noel (Tuấn Lê), Tà Áo Em Bay (Nguyễn Dũng) v.v. chúng ta hẳn sẽ thấy một số nhạc sĩ đã chuyên chở lòng mình qua hình ảnh tà áo dài trong dòng nhạc của họ. Đặc biệt nhạc sĩ Đoàn Chuẫn đã đưa hình ảnh 'tà áo xanh' vào cung phím rất nhiều. Đối với nhạc sĩ, màu xanh biểu tượng cho những ước mơ, cho những đợi chờ, cho từng gợi nhớ chấp chới trong từng tiết điệu âm giai.


Anh mong chờ mùa Thu
Tà áo xanh nào về với giấc mơ
Mầu áo xanh là mầu Anh trót yêu
Người mơ không đến bao giờ

Đoàn Chuẩn- Từ Linh (Thu Quyến Rũ)



Với bao tà áo xanh, đây mùa thu,
Hoa lá tàn, hàng cây đứng hững hờ,
Lá vàng, từng cánh, rơi từng cánh,
Rơi xuống âm thầm trên đất xưa..

Đoàn Chuẩn-Từ Linh ( Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay)


Em còn nhớ, anh nói rằng:
Khi nào em đến với anh,
Xin đừng quên chiếc áo xanh ...

Đoàn Chuẩn- Từ Linh (Tà Áo Xanh)



Thật vậy, kể từ khi trôi giạt xứ người tôi mới thấy trân quý và lưu tâm đến giá trị của chiếc áo dài Việt Nam. Chiếc áo tiềm ẩn sắc thái quê hương mà những ngày còn lê lết ở mái trường Trung học tôi nào để ý đến. Ngày ấy, đã rất nhiều lần vì ham nhảy dây tôi đã cột vạt trước, vạt sau thành nắm tay để không bị vướng mắc lúc chơi nên bị cha Tổng Giám Thị quở phạt khi thấy tà áo của tôi nhăn nhúm trông thật thảm thương lúc đứng chào cờ.

Đi tìm cội nguồn của chiếc áo dài Việt Nam thật khó mà khẳng định được là chiếc áo dài thân thương của chúng ta có từ bao giờ. Nhưng dựa vào sự mô tả của chiếc áo dài đầu tiên với dáng hình tương tự như chúng ta thấy ngày nay, có người cho rằng áo dài có từ thập niên 30 của thế kỷ thứ XX do họa sĩ Cát Tường tạo kiểu.

Theo tài liệu thì trong quyển "Relation de la Nouvelle Mission des Péres de la Compagnie de Jesus au Royaume de la Cochinchine", xuất bản tại Lille năm 1631, giáo sĩ Cristoforo Borri đã mô tả cách trang phục của người Việt vào đầu thế kỷ thứ XVII qua chiếc áo dài rằng, mặc dù sống trong vùng nhiệt đới những người Việt ăn mặc rất kín đáo. Họ mặc năm, sáu cái áo dài, áo nọ phủ lên áo kia, mỗi cái một màu. Cái thứ nhất dài đến mắt cá chân, còn những cái khác từng lớp và từng lớp khoác ở ngoài, ngắn dần và ngắn dần. Đó chính là chiếc áo mớ ba, mớ bảy của phụ nữ Việt còn thấy ở các làng quê Việt Nam như ở Quan Họ / Bắc Ninh. Đàn ông cũng mặc năm, sáu lớp áo dài lụa. Phần dưới thắt lưng của mấy lớp áo ngoài được cắt thành những dải dài gọi là các dải cánh sen. Lúc đi lại, các dải áo quyện vào nhau khi gió thổi bay tung lên trông thật đẹp mắt.

Ngún ngỡn như anh thuyền chài
Áo ngắn mặc ngoài áo dài mặc trong.(*)



Có giả thuyết cho rằng áo dài Việt Nam xuất phát từ phương Bắc khi chúa Nguyễn Phúc Khoát ở Đàng Trong xưng là Vũ Vương vào năm 1744 đã bắt quan, dân phải mặc lễ phục lấy mẫu từ "Tam Tài Đồ Hội" của nhà Minh, Trung Hoa. Tuy nhiên, áo dài không phải là lễ phục mà chỉ là một loại thường phục trang trọng có thể mặc để tiếp khách hay đi chơi.


Áo dài chớ tưởng là sang
Bởi không áo ngắn phải mang áo dài (*)



Trong quyển "Chín Chúa - Mười Ba Vua Triều Nguyễn" xuất bản năm 1997 ông Tôn Thất Bình cũng viết là chiếc áo dài được hình thành từ đời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Nguyên chúa Nguyễn Phúc Khoát nghe người Nghệ-An truyền câu sấm: "Bát đại thời hoàn trung nguyên" (tám đời trở về trung nguyên), thấy từ Đoan Quốc Công đến nay vừa đúng tám đời bèn xưng hiệu lấy thể chế áo mũ trong Tam Tài Đồ Hội làm kiểu mà tạo ra chiếc áo dài. Thế là do tinh thần độc lập, muốn dân chúng trong địa phận mình cai trị mang y phục riêng để phân biệt với miền Bắc. Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên cũng có chép sự kiện chúa Vũ Vương ở phương Nam bắt dân gian cải cách y phục vào khoảng năm 1744.


UserPostedImage



Giả thuyết vừa nêu trên trái ngược với một bằng chứng cho thấy là chiếc áo dài đã có trước khi chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng Vương. Đó là bức tượng Ngọc Nữ tạc từ thế kỷ XVII ở chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh. Qua bức tượng này chúng ta có thể thấy là chiếc áo dài phụ nữ mặc thời đó cùng với các dải cánh sen, giống mấy lớp áo bên ngoài bị cắt thành các dải dài bên dưới thắt lưng như giáo sĩ Borri đã mô tả. Tuy nhiên, nếu dựa theo truyền thuyết thì tiền thân của chiếc áo dài ngày nay đã có từ thời Hai Bà Trưng. Năm 39 sau Công nguyên, Hai Bà khởi quân đánh đuổi quan Thái thú Tô Định và quân nhà Hán. Khi cưỡi voi lâm trận Hai Bà Trưng đã mặc áo dài hai tà giáp vàng, che lọng vàng và trang sức thật lộng lẫy.

Chiếc áo dài đã trải qua nhiều gian truân theo cùng mệnh nước. Vấn nạn thứ nhất là bao nhiêu mưu toan đồng hóa dân ta của bọn ngoại xâm phương Bắc qua một nghìn năm bị Trung Hoa cai trị. Thứ đến là ảnh hưởng của thực dân Pháp trong ngót một thế kỷ bị đô hộ.

Và gần đây nhất, chiếc áo dài thân thương của chúng ta đã chịu sự dập vùi cùng chung với thân phận con người theo hoàn cảnh chính trị và xã hội trên phần đất quê hương Việt Nam. Vì áo dài không thích hợp với công việc lao động cho nên sau năm 1954, chiếc áo dài đã biến mất trên nửa phần đất tổ quốc nơi miền Bắc trong khi tại miền Nam Việt Nam hai tà áo dài vẫn tiếp tục tung bay nơi công sở, trong học đường hay ngoài đường phố. Khi cuộc chiến chấm dứt trên quê hương vào cuối tháng Tư năm 1975 thì chiếc áo dài cũng cùng chịu chung phận số với người dân miền Nam và chỉ được phục hồi từ dạo cuối thập niên 80 sau khi đất nước được cởi mở dần.

Mặc dù đã nổi trôi theo dòng lịch sử nhưng chiếc áo dài của phụ nữ Việt Nam ta không những vẫn trường tồn mà còn được hoàn mỹ thêm ra. Điều đó chứng tỏ là tinh thần bất khuất của dân tộc Việt đã được thể hiện qua chiếc áo dài.

Nói đến trang phục phụ nữ đặc thù của những quốc gia Á châu, chúng ta có thể kể đến chiếc Kimono của người Nhật hoặc chiếc áo Sường Xám của người Trung Hoa. Về thẩm mỹ, chiếc Kimono quá kín đáo, quá gò bó thân hình người phụ nữ, còn chiếc áo Sường Xám mặc dù có phần khêu gợi nhưng thiếu phần thanh tao, dịu dàng của phụ nữ. Trong khi đó, chiếc áo dài của ta vừa kín đáo, vừa gợi cảm lại vừa thướt tha, vừa uyển chuyển. Thân áo bó sát lấy thân hình, tôn vinh những đường cong mềm mại của vóc dáng người phụ nữ Việt Nam. Thêm vào đó, thân áo xẻ hơi cao, để lộ một chút thân mình phía trên cạp quần. Hai tà áo dài xuống ngang nửa ống chân, quấn quít từng bước đi theo làn gió thoảng. Nói chung, áo dài của ta vượt trội hơn những trang phục Á châu khác, bằng chứng là tại hội chợ quốc tế Osaka, năm 1970 tại Nhật Bản, chiếc áo dài phụ nữ Việt Nam với các vạt áo bay lượn trong gió đã được quan khách quốc tế trầm trồ khen ngợi và đem lại vinh dự cho phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa và chiếc áo dài của Trương Quỳnh Mai được chọn là trang phục dân tộc đẹp nhất tại Tokyo vào năm 1995.



Có phải em mang trên áo bay
hai phần gió thổi một phần mây
hay là em gói mây trong áo
rồi thở cho làn áo trắng bay ?

Nguyên Sa (TươngTư)



Về hình dạng, chiếc áo dài đã thay đổi rất nhiều qua bao thế kỷ để có được dáng nét mỹ miều như ngày nay. Sau đây ta thử nhìn qua những dạng chính theo thứ tự thời gian.

Trước hết, ngoại trừ truyền thuyết về Hai Bà Trưng mặc áo hai tà, theo một số nhà nghiên cứu chiếc áo dài đầu tiên là áo Giao Lãnh. Áo gồm bốn thân, mặc phủ ngoài yếm lót; nhưng khi mặc, hai thân trước để giao nhau chứ không buộc lại, với thêm một thắt lưng mầu buông thả. Vì chiếc áo này tương tự áo tứ thân về dáng hình cho nên có người cho rằng hai loại áo này là một. Vậy ta hãy xét kỹ về chiếc áo tứ thân xem sao, vì đây là chiếc áo đã tồn tại cả mấy nghìn năm, mặc cho bao thăng trầm của lịch sử.

Ngày xưa, vì kỹ thuật còn thô sơ nên vải được dệt thành khổ hẹp. Muốn may thành một cái áo, phải ráp bốn mảnh lại với nhau. Do đó mới có cái tên 'áo tứ thân'. Áo gồm hai mảnh đằng sau khâu lại giữa sống lưng làm thành sống áo, với mép nối của hai thân áo được dấu vào phía trong. Hai thân trước được buộc lại với nhau và để thõng xuống thành hai tà áo ở giữa, nên không cần cài khuy khi mặc. Bình thường, gấu áo được vén lên, chỉ khi có đại tang, như tang chồng hay tang cha mẹ, mới thả xuống và mép vải để lộ ra ngoài thay vì dấu vào trong. Áo tứ thân thường được mặc với áo yếm, với một dải vải thắt ngang lưng, đầu vấn khăn và đội nón quai thao.

Tùy theo mục đích, chiếc áo tứ thân mang màu sắc khác nhau. Ngoài đồng ruộng hay trong những phiên chợ, chiếc áo tứ thân có màu nâu non, nâu già hoặc đen, mặc với váy vải thô nhuộm bùn. Nhưng trong những dịp hội hè đình đám, cưới hỏi, áo được may bằng hàng the, nhiễu, thao, lụa, khoác bên ngoài chiếc yếm đỏ thắm hay hồng đào và phủ lên chiếc váy lĩnh hoa chanh hoặc váy sồi có thắt lưng màu lá mạ hay màu cánh chả bay lượn trong gió. Còn về yếm, ngoài những màu vừa kể còn có màu nâu để mặc đi làm thường ngày ở nông thôn và yếm trắng mặc thường ngày ở thành thị.


UserPostedImage



Về ý nghĩa, ta có thể tìm thấy trong các bài tham khảo những lời giải thích là bốn thân của chiếc áo tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu của hai vợ chồng, và buộc hai tà trước lại với nhau tượng trưng cho tình nghĩa vợ chồng âu yếm, quấn quít bên nhau.

Đêm hè gió mát trăng thanh
Em ngồi canh cửi còn anh vá chài
Nhất thương là cái hoa lài
Nhì thương ai đó áo dài tấm thân
Gặp người sao có một lần
Để em thương nhớ tần ngần suốt năm (*)


Áo tứ thân vẫn còn tồn tại ở một số địa phương, nhất là ở thôn quê, cho đến ngày hôm nay.

Đến đời vua Gia Long, vào đầu thế kỷ XIX, kiểu áo ngũ thân bắt đầu phổ biến trong giới phụ nữ quyền quý. Kiểu này giống như áo tứ thân, nhưng kín thân vì hai vạt trước được may liền thành một vạt lớn dọc theo sống áo như vạt sau; cộng thêm một vạt con nằm dưới vạt trước về phía bên phải. Vạt con nối với hai vạt trước nhờ cổ áo có bâu đệm, và cài kín lại bằng năm chiếc khuy. Tay áo may nối phía dưới khuỷu tay cũng vì cùng một lý do như thân áo, đó là vì ngày xưa các loại vải tốt như gấm, lụa chỉ dệt được rộng nhất là 40 cm. Cổ, tay và thân trên áo thường ôm sát người, trong khi tà áo may rộng ra từ sườn đến gấu và không chiết eo. Gấu áo may võng, vạt rất rộng, trung bình là 80 cm ở gấu, cổ áo chỉ cao khoảng 2-3 cm.

Về ý nghĩa thì ngoài ý nghĩa của bốn thân áo chính như đã nêu trong phần áo tứ thân, thân thứ năm hay vạt con tượng trưng cho người mặc áo. Năm chiếc khuy áo tượng trưng cho Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí và Tín, năm đạo làm người theo Khổng Giáo.

Áo dài năm nút hở bâu
Để coi người nghĩa làm dâu thế nào (*)


Từ chiếc áo ngũ thân, chiếc áo dài biến dạng với vạt con được thu gọn lại để trở thành chiếc áo dài mà chúng ta thấy ngày nay. Và dĩ nhiên, hai thân trước và sau không còn phải nối sống nữa. Tuy nhiên, nhiều phần của chiếc áo dài đã thay hình đổi dạng trong thế kỷ XX. Cho đến đầu thế kỷ XX, phần đông áo dài phụ nữ thành thị đều may theo kiểu ngũ thân.

Khi thực dân Pháp bắt đầu đô hộ nước ta vào cuối thế kỷ XIX, văn hóa Tây Phương cũng bắt đầu du nhập vào Việt Nam, đưa đến việc thay chữ Nho bằng chữ Quốc Ngữ và những đua đòi theo văn hóa Tây Phương mà điển hình là ở Hà Nội. Vì là một phần của văn hóa Việt Nam cho nên chiếc áo dài truyền thống cũng là đề tài của sự đổi mới. Các màu thông dụng như nâu, đen được thay bằng các sắc màu tươi sáng hơn, gây sôi nổi trong dư luận quần chúng thời ấy.


UserPostedImage



Đến khoảng thập niên 1930, chiếc áo dài có một số thay đổi, mà nổi tiếng nhất phải kể đến kiểu áo Lemur của họa sĩ Nguyễn Cát Tường, một thành viên của Tư. Lực Văn Đoàn. (Chữ Lemur viết trại theo danh từ Pháp 'le mur' có nghĩa là 'cái tường', tương tự như tên 'Cát Tường'). Nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã dùng hai tờ báo Ngày Nay và Phong-Hóa để truyền bá tư tưởng cải cách văn hóa, xã hội của nhóm. Cũng trong tờ Phong-Hóa họa sĩ Cát Tường đã cổ võ cho sự thay đổi về quan niệm trong cách ăn mặc: "Các nhà đạo đức thường nói: Quần áo chỉ là những vật dụng để che thân thể ta khỏi gió mưa, nắng lạnh, ta chẳng nên để ý đến cái đẹp, cái sang của nó làm gì. Theo ý tôi, quần áo tuy dùng để che thân thể, song nó có thể là tấm gương phản chiếu ra ngoài cái trình độ trí thức của một nước. Muốn biết nước nào có tiến bộ, có mỹ thuật hay không, cứ xem y phục của người nước họ, ta cũng đủ hiểu". Kiểu áo Lemur cho thấy ảnh hưởng của Âu châu, mặc dù áo vẫn giữ nguyên phần áo dài với cổ cao, không có eo. Những thay đổi gồm cổ áo khoét hình trái tim, cổ bẻ và một cái nơ ở trước cổ; vai bồng; tay nối ở vai, tay măng-sét; gấu áo cắt kiểu sóng lượn nối vải khác màu hay đính ren diêm dúa; khuy áo may dọc trên vai và sườn bên phải. Vì những đặc tính táo bạo như vậy cho nên có giới nghệ sĩ hay giới ăn chơi thời đó mới dám mặc. Và cũng vì lý do đó chiếc áo Lemur đã sớm đi vào quên lãng vào khoảng năm 1934. Một điểm khác biệt nữa so với áo dài thời trước đó là vạt áo không còn phải nối sống nữa vì hàng vải nhập cảng có khổ rộng hơn hàng nội hóa thời đó.

Khi kiểu Lemur lan đến thủ đô Huế, một số các cô tân thời đã chạy theo kiểu này, làm đề tài cho bài vè sau đây:

Vè vẻ vè ve
Nghe vè 'mốt' áo
Bận áo lơ-muya
Đi giày cao gót
Xách bóp-tờ-phơi
Che dù cánh dơi
Đi chơi Cụ Ngáo
Ăn cháo không tiền
Cởi liền lơ-muya!


Đi đôi với chiếc áo dài mới là một vài cải cách khác, đó là nhiều phụ nữ tân thời không còn nhuộm răng đen nữa, tóc vấn trần hoặc búi lỏng và rẽ ngôi lệch. Đây là cơ hội để nhà thơ Tú Mỡ ở Hà Nội nhại bài Mười Thương để châm biếm:

Một thương tóc lệch đường ngôi
Hai thương quần trắng, áo mùi, khăn 'san'
Ba thương hôm sớm điểm trang
Bốn thương răng mọc hai hàng trắng phau
Năm thương lược Huế cài đầu
Sáu thương ô lụa ngả màu thanh thiên
Bảy thương lắm bạc nhiều tiền
Tám thương động tí 'nữ quyền' giở ra
Chín thương cô vẫn ở nhà
Mười thương... thôi để mình ta thương mình!


Một cải cách táo bạo khác cần được lưu ý đó là kiểu áo dài nhấn eo, khiến chiếc áo ôm sát theo các đường cong tuyệt mỹ của phái nữ, do bà Trịnh Thục Oanh, một hiệu-trưởng của trường nữ Trung-học Hà-Nội, sáng tạo.


UserPostedImage



Vào năm 1934, sau khi áo Lemur đến rồi đi, họa sĩ Lê Phổ đã cải tiến kiểu Lemur bằng cách dung hòa với kiểu áo ngũ thân cũ, bỏ đi những nét Tây phương như không tay phồng, cổ hở, không viền tròn vạt dài v.v. nhưng ôm sát thân người để hai tà áo mềm mại tự do bay lượn. Đây là kiểu áo rất gần với chiếc áo dài tân thời ngày nay. Những thay đổi từ chiếc áo dài Lê Phổ cho đến ngày nay được tóm tắt như sau:

- Cuối thập niên 1950, bà Trần Lê. Xuân, vợ ông Ngô Đình Nhu, xuất hiện trước công chúng trong kiểu áo dài cổ khoét kiểu thuyền và tay ngắn. Kiểu áo không được ưa chuộng mấy và rồi biến mất cùng với nền Đệ Nhất Cộng Hòa.

- Khoảng thập niên 1960, nhà may Dung Dakao ở Sài Gòn tung ra kiểu áo dài tay Raglan, ráp tay xéo vai do đó bớt được những đường nhăn hai bên nách và đùn vải nơi vai. Đây là một cải tiến quan trọng và được ưa chuộng cho đến ngày nay. Đi với kiểu tay Raglan là nhiều kiểu biến chế lạ mắt như thân áo may bằng hàng dày, nhưng phía ngực và tay lại bằng hàng hàng mỏng; hoặc thân áo và hai tay là hai màu tương phản.

- Đầu thập niên 70 -75 là thời kỳ của áo dài mini-Raglan. Đó là áo dài raglan may với tà áo cao và gọn. Kiểu này rất được giới trẻ, nhất là các nữ sinh Sài Gòn ưa chuộng mãi cho đến ngày miền Nam thất thủ. Đối lại với kiểu mini-Raglan là kiểu maxi-Raglan tha thướt, dịu dàng, rất hợp với các bà.

Ngoài ra, một số nhà may tại Sài Gòn còn tung ra thị trường kiểu áo dài ba tà gồm một vạt sau và hai vạt trước, với nút gài từ cổ xuống eo. Áo ba tà được mặc với quần ống voi, và không được ưa chuộng cho lắm vì không thích hợp với bản chất nhẹ nhàng của phụ nữ Việt Nam.

Thỉnh thoảng chúng ta vẫn thấy chiếc áo dài có những canh tân quá đáng như hở ngực, hở cổ hoặc chỉ có một tay v.v. như các kiểu áo Tây phương. Những 'phát minh' loại này đã và sẽ bị đào thải nhanh chóng.

Mong rằng những cải tiến, nếu có, sẽ nhắm vào việc duy trì phẩm chất thuần túy của chiếc áo dài quốc hồn quốc túy, vương mang linh hồn dân tộc Việt, cũng như làm tăng thêm giá trị mỹ thuật độc đáo, để cho chiếc áo dài thân thương của chúng ta mãi mãi không bao giờ bị lấn át bởi các trào lưu thời trang Tây phương, và sẽ giữ vững ngôi vị độc tôn với dáng nét kiêu sa không những ở quê nhà mà còn ở bất kỳ nơi nào trên thế giới.

Nói tóm lại, trải qua mấy nghìn năm biển dâu chiếc áo dài Việt Nam đã được biến cải từ chiếc áo Giao Lãnh mộc mạc thành chiếc áo dài trang nhã, đài các, không những đã chiếm một địa vị quan trọng trong lịch sử lẫn trong văn hóa Việt; một thứ di sản văn hóa mang đủ tính chất nghệ thuật vừa thướt tha, vừa dịu dàng, vừa sang trọng, vừa lãng mạn, tôn vinh nét đẹp của phụ nữ Việt, không còn chỉ loanh quanh ẩn núp bên các đường phố Việt Nam, mà còn tự hào vươn mình tung bay trên nhiều phố phường dưới bầu trời thế giới hôm nay. Đó là nhờ công lao gìn giữ của cả dân tộc cũng như công sáng tạo của bao nhà họa kiểu.

Hoàng hôn đang xuống chậm. Lãng đãng các sắc màu tím hồng hỗn hợp thấm đẫm chân trời. Thấp thoáng dưới bóng chiều bảng lảng, những tà áo dài nhẹ bay trong chiều nắng thu phai.



Hoàng Huy Giang


Tài liệu tham khảo:

"Việt Nam Phong Tục", Phan Kế Bính, Phong Trào Văn Hóa.
"Việt Nam Sử Lược", Trần Trọng Kim, Đại Nam.
"Phong Tục Việt Nam", Toan Ánh, Xuân Thu.
"Đất Lề Quê Thói", Nhất Thanh, Sống Mới.
"Những Hình Ảnh Xưa", Nguyễn Khắc Ngữ, Nhóm Nghiên Cứu Sử Địa.
"Relation de la Nouvelle Mission des Péres de la Compagnie de Jesus au Royaume de la Cochinchine", Cristoforo Borri, 1631, Lille
"Phong-Hóa", số 86, 1934.
"Chín Chúa - Mười Ba Vua Triều Nguyễn", Tôn Thất Bình, 1997, Nhà Xuất Bản Đà-Nẵng.
"Chiếc Áo Dài Việt-Nam và Đạo Làm Người", Nguyễn Huỳnh.
(*) Ca dao Việt Nam


UserPostedImage
thunder  
#213 Posted : Monday, June 13, 2011 10:28:18 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Tuấn Huy, “Những sợi mây hư ảo”


Tôi vẫn thường hay thắc mắc. Lúc về già, chúng ta còn viết được những chuyện tình đầy lãng mạn thơ mộng không? Hay là, đời sống với tất cả những sự thực trần trụi sẽ bôi xóa đi những phương trời hư ảo để những đôi mắt hướng vọng về chốn xa xôi chỉ là chuyện tưởng tượng của một thời gian đi qua không trở lại... Văn chương có lúc làm người ta trẻ lại, có phải? Có những chân trời, biền biệt trải xa. Có những tâm cảm, đối với người lưu lạc là bình thường nhưng nhiều lúc cũng tạo những trăn trở để khiến chuỗi đời sống như phân hai giữa thực và mộng...

Cho đến một buổi, tôi đọc tiểu thuyết của Tuấn Huy. “Những sợi mưa hư ảo”. Ở đó, tôi thấy lẫn lộn trong không gian thời gian những hình bóng của kỷ niệm. Mai, hay Hạnh, hay Nichole, hay là những hình bóng của quá khứ và hiện tại trộn lẫn, của những bước chân đi kiếm tìm vô vọng trong mệt mỏi những ngã đời lưu lạc xứ người.

Ở quê nhà, những cuộc tình thoáng qua trong bụi lốc chiến tranh. Ở xứ người, trong cái vòng quay tối tăm của sinh kế và ngày tháng, để hiếm hoi những giấc mơ của một thời đã qua. Ðọc những trang sách, tôi như lạc vào trong một thế giới đấy ắp nỗi niềm. Mà, thực tế, người tị nạn nào mà không tràn ngập những vương vấn. Từ thành phố quê hương đã xa - Từ ngày tháng thanh xuân đã mất - Từ cuộc tình đã dở dang trong bụi đỏ của cuộc đổi dời...

Tự nhiên tôi nhớ đến một bài thơ của Octavio Paz, một thi sĩ mà tôi thấy có những vần thơ xưng tụng tình yêu tuyệt diệu. Ông là một nhà thơ của Châu Mỹ La Tinh đã đoạt Giải Nobel về văn chương của Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển.

Tại sao tôi lại có liên tưởng này? Thật lạ lùng, bởi những câu thơ này gợi lại cho tôi một thời gian nào đó, có khuôn mắt đẹp của một vóc dáng Châu Mỹ La Tinh đa tình, có những góc đường hè phố gợi nhớ đến những mùa hạ nồng nàn, đến những đêm khuya nóng bức ẩm mùi da thịt. Nó nhắc nhở cho tôi những ngày đi học ở thành phố Los Angeles nhiều kỷ niệm...

“Hai thân xác ghì nhau
Ðôi khi là con sóng
Và đêm là trùng khơi

Hai thân thể xiết nhau
Có khi hai tảng đá
Và đêm là hoang mạc
Hai thân xác choàng nhau

Có lúc là ngọn rễ
Và khuya quấn vào nhau
Hai thân thể ôm nhau
Có khi hai lưỡi thép

Và đêm ánh chớp mau.
Hai thân thế không rời
Như hai hành tinh rụng
Trong trời đất mù khơi...”

Tương tự như câu thơ Octavio Paz, Tuấn Huy viết trong “ Những sợi mây hư ảo”:

“...Cuộc tình ấy rất thơ mộng, rất thánh thiện, nhưng cũng rất ê chề cay đắng. Của hai con người, có hai tâm hồn giống nhau nhưng khác nhau. Của hai con người có hai trái tim cùng thổn thức nhưng có lúc đã rã rời mệt mỏi. Của hai con người tìm gặp nhau và tưởng đã cùng hướng về một phía nhưng giữa họ đã sừng sững một bức tường. Của cả hai con người đến với nhau ở một tận điểm của yêu thương nhưng rồi đã lại từ tận điểm đó phải buông trôi, giạt về hai phía...

Cả hai nay đã ở những phương trời khác, thật xa... Tông tích họ đã lẫn lộn với sương tan ngoài vịnh, hay đã nhập hòa cùng mây bay trên núi... Cả hai, nay không còn một dấu vết gì như những vết chân hững hờ đã bị bôi xóa trên mặt cát ướt...”

Có phải như chuyện tình của câu thơ “Hai thân thể không rời. Như hai hành tinh rụng. Trong trời đất mù khơi...” Chuyện tình thường kèm theo thiên cổ sầu. Với nhân vật xưng tôi trong tiểu thuyết này của tác giả “Những cơn mưa hư ảo” - Tuấn Huy, kết cuộc là chia ly, là người nữ ra đi bất ngờ vào một nơi chốn mịt mù kiếp khác... Cũng như người xưa, cũng khuất lánh vào cõi mịt mù sau cuộc vượt biên tàn khốc. Dường như, định mệnh đã dành sẵn những căn phần cay độc.

Tôi thích những đoạn văn kể chuyện có chất bay bướm lãng mạn cảu những trang tùy bút. Tuấn Huy đem nỗi niềm của mình vào văn chương để có một lúc, cái chủ quan và khách quan hòa lẫn thành một trong cái không gian thời gian chất đầy tưởng vọng. Một hình dáng nào phảng phất đâu đây. Một khóe mắt. Một mái tóc. Một nụ cười. Lãng đãng như những bước chân vang vọng tiếng guốc thanh xuân, của những sâu thẳm đã hiển hiện bằng chữ nghĩa.

62 đoản khúc. Là 62 bài thơ của một mối tình đẹp. Mối tình chú cháu có nhiều trở ngại nhiều ngăn cách. Những gần gũi rồi những chia xa, những tạm thơi ợ gần để rồi xa vĩnh biệt. Quỳnh Mai, Dorothy, Nichole Hạnh, những hình dáng người nữ như nhạt nhòa trong cuộc sống nhiều vọng động. Dễ gì, quên được quá khứ. Dễ gì, chúng ta quay lưng được với hiện tại. Nhưng, nhân vật xưng tôi, tức chú Kiên của Nichole Hạnh hay người tình xa xưa của cô Út Quỳnh Mai là một người đàn ông may mắn. Ông có những người tình tuyệt vời và những mối tình cũng tuyệt vời. Những người nữ có những trái tim nồng nhiệt nhưng cũng có những tâm tình trong sáng. Có lẽ rất hiếm hoi trên cõi đời này...

Kiên khi còn ở Việt Nam đã có một mối tình bốc lửa với Quỳnh Mai và có một đứa con. Sang Mỹ, gặp Nichole Hạnh, yêu với tâm tình thánh thiện nhưng tình cờ biết được Mai là cô Út của Hạnh. Thế rồi chàng chờ đợi nhưng Mai và đứa con đã mất tích trong cuộc vượt biển. Kết cuộc là chuyện tình buồn, hạnh bị tai nạn chết và để lại Kiên một mình với nỗi đau tưởng chẳng nào phai... Chuyện tình ấy, với phong cách diễn tả của ngôn ngữ lãng mạn, của những tâm sự phảng phất, của những ý tình mênh mang lời ngỏ. Tình thật đẹp, cũng như biển chiều ngoài kia...

Buổi tối hôm nay, tôi đọc những trang tiểu thuyết Tuấn Huy khi trời sắp vào Hè. Mùa Xuân đi qua, cái nóng nực sắp tới. Tôi ngụ cư ở một thành phố biển nên đọc những trang sách không có gì hợp tình hợp cảnh hơn. Trong cái đời sống thường nhật, vòng quay kín mỗi ngày dường như chẳng đổi. Mưa nắng, chỉ làm thay đổi da thịt bên ngoài chứ trong thâm tâm vẫn nhịp buồn lê thê tiếp diễn. Ở tuổi vào già, những cơn mơ thường đến trễ, khi đêm dần hết và ngày sắp bắt đầu. Những mối tình, đắm say nhưng thánh thiện, những cho nhau mà không tính toán bao giờ có phải như những bông hoa để tay đời nhẹ nhàng nâng hứng...

Tuấn Huy viết “...Trọn một Mùa Hè buồn bã và rực rỡ, khi những chùm hoa tím của một loài xoan dại đã rụng rơi hết cả những bụi trúc bạch và trúc đào cũng đã úa tàn, cả mùi dạ lý hương về đêm đã không còn nồng đượm, cả những giải mây trắng đã hết lênh đênh... Tôi viết lại chuyện tình của họ, với lòng hoài niệm một cái gì thuộc về trái tim quá thơ mộng và quá êm đềm, cũng quá thanh cao và quá lãng mạn, đã trôi khuất cùng dòng tháng ngày đau buốt.

Trong đời sống bon chen nôn nả, máy móc quay cuồng như đời sống giữa xã hội điện tử và cơ khí này, một cuộc tình thơ mộng như cuộc tình của họ là một biểu tượng hiếm hoi của những trái tim còn biết yêu và còn coi tình yêu là một thứ thiêng liêng vĩ đại...

Tôi khờ khạo nghĩ rằng, khi yêu chúng ta đừng pha trộn thực tế vào tình yêu. Cũng chẳng cần so đo, chẳng cần toan tính, chẳng cần lý luận... Tình yêu là một cái gì bàng bạc mênh mông nẩy sinh từ con tim, chớ không nẩy sinh từ khối óc. Nó cũng thật là cái gì mong manh dễ vỡ. Cho nên, những người thật lòng yêu và yêu thành thật thường ngay khi vừa mới chớm yêu đã thấy là mất mát ngậm ngùi...”

Có một người làm thơ tài tử đã viết vài câu lục bát thô sơ để tặng tác giả “Những cơn mưa hư ảo”:

“Chú ơi nắng vãn chiều rồi.
Tầng mây cao, dõi góc đời phân vân
Núi giăng ngang, biển ngỡ ngàng
Nói gì, gió cũng mênh mang âm thừa.

Chú ơi, hư ảo giọt mưa
Ðan sợi biếc, để thưa thưa muôn trùng
Trái tim đập nhịp tận cùng
Bờ cỏ áy chợt rưng rưng ngõ về

Chú ơi, còn sót giấc mê
Hình quá khứ, Bóng não nề dương gian
Tạ từ nhau tuổi lỡ làng
Anh ơi biển vắng muộn màng lời ru...”

Tôi đọc lại bài viết. Sao thơ hiện diện quá nhiều. Hay tại chất thơ mộng đã thôi thúc suy tư người đọc là tôi. Ðây có phải là một bài đọc sách đúng nghĩa?

Mà thôi, thắc mắc làm gì! Biết đâu, sẽ có người làm bài thơ khác, cho Kiên, cho Nichole, cho Mai, chẳng hạn... Ừ! Biết đâu?

Nguyễn Mạnh Trinh

thunder  
#214 Posted : Tuesday, June 14, 2011 1:12:16 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage

Nếu Có Em

Nếu có em mùa đông không buốt giá
Chai rượu buồn không cạn nhớ cô đơn
Thấm men yêu cay đắng cuồng si tình
Hồn lang thang thẩn thơ như đi lạc

Nếu có em ánh mắt không du mục
Dõi phương xa tìm hình bóng nhân tình
Say bềnh bồng một bờ bến đam mê
Tim mênh mang chờ đêm về mộng tưởng

Nếu có em ta không còn gởi nắng
Nụ hôn si buồn rũ trong chiều tàn
Thật mơ màng bao rung động lâng lâng
Sầu mênh mông theo mặt trời tắt lịm

Nếu có em ta không mơ ngớ ngẩn
Tìm ảnh em nhìn trộm lãng quên buồn
Ngắm vầng trăng mà ngỡ như có em
Nhớ dã man ta mông du hư ảo

Nếu có em tim không thành sa mạc
Chết khô cằn trong thiêu đốt yêu thương
Theo tháng ngày chờ đợi bóng tình nhân
Ran nứt hồn ôm niềm đau tình lụy

Nếu có em dòng sông không chết đuối
Phủ rong rêu sa ngã lụy si tình
Lê thê hồn dưới đáy vực hôn mê
Lãng mạn hình hài như pho tượng đá

Ngô Thiên Tú


Hạ Vi  
#215 Posted : Tuesday, June 14, 2011 6:50:00 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,544
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10696 time(s) in 2628 post(s)

UserPostedImage


Thủa làm thơ yêu em

Trần Dạ Từ


Thủa làm thơ yêu em
Trời mưa chưa ướt áo
Hoa cúc vàng chân thềm
Gió mây lưng bờ dậu


Chiều sương đầy bốn phía
Lòng anh mấy cách xa
Tiếng đời đi rất nhẹ
Nhịp sầu lên thiết tha


UserPostedImage


Thủa làm thơ yêu em
Cả dòng sông thương nhớ
Cả vai cầu tay nghiêng
Tương tư trời thành phố


Anh đi rồi lại đến
Bài thơ không hết lời
Bao nhiêu lần hò hẹn
Sớm chiều sao xa xôi


Mười bảy năm chợt thức
Bây giờ là bao giờ
Bàn tay trên mái tóc
Nghìn sau còn bâng quơ




UserPostedImage

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 7/19/2011(UTC)
Hạ Vi  
#216 Posted : Wednesday, June 15, 2011 4:58:43 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,544
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10696 time(s) in 2628 post(s)

UserPostedImage


BÀI NHÃ CA THỨ NHẤT


Tôi làm con gái
Buồn như lá cây
Chút hồn thơ dại
Xanh xao tháng ngày


Tôi làm con gái
Môt lần qua đây
Rồi không trở lại
Ôi mùa xuân này


Tôi làm con gái
Một lân yêu người
Môt lần mãi mãi
Bây giờ chưa nguôi


Tôi làm con gái
Bao nhiêu tuổi dời
Bấy lần ngây dại
Buồn không ai hay




UserPostedImage



~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~




UserPostedImage
chị Nhã Ca (ngồi hàng đầu bím tóc)
cùng cô giáo và bạn học nơi sân trường Đồng Khánh



THƠ VĂN NHÃ CA

Bích Huyền phụ trách



Cuối thập niên 60, Nhã Ca là nhà văn làm chúng ta có những lúc khóc cười giữa thành phố. Khóc vì chiến tranh, vì những ước mơ hòa bình chẳng bao giờ tới. Hai mươi năm sau, bà không làm chúng ta cười được nữa vì những cảnh đổi đời từ 1975.


Ai về đó mà thơm hồn lụa bạch
Cổ chim xanh còn quấn quít tơ vàng



Với những vần thơ đẹp như mơ ấy, mời quý vị và các bạn đến với Nhã Ca, với thơ văn của một người con gái Huế, vời vợi hương thơm và quấn quít tơ vàng trong Câu chuyện Thơ Nhạc của Đài VOA đêm nay…

Độc giả miền Nam biết đến Nhã Ca với bài thơ Nhã Ca Thứ Nhất ký tên Trần Thy Nhã Ca đầu thập niên 1960. Nhưng trước đó, giữa thập niên 1950, thuở học trò, Nhã Ca đã có thơ đăng trên các tuần báo văn nghệ học sinh, Văn Nghệ Tiền Phong ở Saigon ký tên thật là Thu Vân. Năm 1964, thơ được in thành tập Nhã Ca Mới, được trao Giải Thi Ca Toàn Quốc năm 1965. Giải văn toàn quốc Giải Khăn Sô Cho Huế năm 1969.

Tên tuổi Nhã Ca được yêu mến, bà nổi tiếng khắp miền Nam.

Theo nhà biên khảo Đặng Tiến, cái gọi được là thơ trong Nhã Ca, trước hết là một không gian.

Sân chiều chao nhẹ dăm tờ lá
Và khói sương về cuộn cánh song


Buổi chiều xa xưa ở đây không còn hiu hắt như trong Huy Cận hay đằm thắm như trong Xuân Diệu. Buổi chiều của Nhã Ca chao nhẹ, chao thật nhẹ như trong Nhất Linh. Những buổi chiều vô cùng mịn màng, óng ả, mềm mại, dìu dặt… mà đặc biệt trong thơ Nhã Ca mới có.

Ngày cũng vừa xanh dáng tịch liêu
Đường xa sầu tiếp với cây chiều
Bầy chim én cũ qua thành phố
Về gọi thời gian vỗ cánh theo

Thôi trả cho dòng sông tối đen
Trả cho người đó nỗi ưu phiền
Còn đây chút tủi hờn thơ dại
Rồi cũng xa vời trong lãng quên


Thiếu nữ thời ấy-thập niên 1960 rất yêu truyện của Nhã Ca. Văn Nhã Ca nhẹ nhàng và đẹp như một bài thơ. Nhân vật chính trong các truyện đa số là những cô bé học sinh mới lớn, nhiều mơ mộng. Khung cảnh trong truyện vẫn là một góc thành phố, một góc sân trường, một thế giới nhỏ bé, nhưng vẫn xảy ra những biến động quay quắt, những uẩn khúc bi thương (Quỳnh Giao)


UserPostedImage
Nhã Ca, Trần Dạ Từ - 1960



Mời quý vị và các bạn thưởng thức một đoản văn trong truyện dài Cổng Trường Vôi Tím.

"Ánh nắng đã trôi dồn cho một bình minh của phương trời khác. Buổi chiều trong vườn cây thật lặng lẽ, ngoài tiếng gió, tiếng lá xào xạc. Dòng sông êm như mơ. Bên kia sông là lau lách, là những mái nhà bị che khuất bởi vườn cây, bởi những bến sông. Đời có bao nhiêu bến sông, và tôi còn ngồi ở một bến.

Một con thuyền từ phía dưới ngược lên thành phố. Người đàn bà lái đò lặng lẽ chèo, nhưng tôi nghe như từ mặt nước bốc lên một giọng hò, như lãng đãng vương vất từ những đêm trăng, trước những đêm trăng tôi và chị Phương Thảo ra ngồi ở đây, nhìn ánh trăng vàng tràn trên mặt nước, nghe xuôi phía dưới dòng tiếng hò vang lên, tôi gục đầu vào vai chị Thảo mơ màng…"


Mười tám năm sau cuộc đổi đời 1975, người ta thấy mực tím đã chan hòa thành máu. Khuynh hướng văn chương lãng mạn cho tuổi mười sáu đã bị xô đẩy, nhận chìm.

Ngày nay, theo Quỳnh Giao, được đọc lại Nhã Ca sau gần ¼ thế kỷ, sau những biến động và đổi thay khốc liệt của một dân tộc, đọc lại Nhã Ca ở một không gian hoàn toàn khác lạ, viết về một thế giới đã trở thành xa lạ trong không gian hải ngoại. Hoa Phượng Đừng Đỏ Nữa của bà vẫn viết về thành phố, nhưng, một thành phố đã mất tên. Vẫn viết về trường học và bầy con gái, nhưng trường học đã biến thành trại nuôi heo, và bầy con gái đã được “nàng tiên cách mạng” với cây đũa thần của hộ khẩu biến thành những đứa trẻ tật nguyền của một xã hội què cụt.

Những Vẫn Có Mùa Xuân, Dạ Lai Hương, Vĩnh Biệt Hương…, tình thương làm nổi bật vẻ dửng dưng đến man rợ của nhưng con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa.

Cuối thập niên 60, Nhã Ca là nhà văn làm chúng ta có những lúc khóc cười giữa thành phố. Khóc vì chiến tranh, vì những ước mơ hòa bình chẳng bao giờ tới. Cười vì nhưng ngây thơ ngộ nghĩnh của lớp tuổi con gái.

Hai mươi năm sau, bà không làm chúng ta cười được nữa vì những cảnh đổi đời mà bà và gia đình cũng là những nạn nhân hàng đầu. Trong mỗi truyện có những đoạn làm người đọc rơi nước mắt và nếu có cười, chỉ là những nụ cười méo mó nở ra giữa khổ đau…

Thực tại thê thảm quá, khủng khiếp quá.

Trong cơn lốc 1975, miền Nam đắm chìm trong đau khổ. Chia ly, tan tác, đói khổ, bị hành hạ…


Trần Dạ Từ, người bạn đời của Nhã Ca đã có những vần thơ trong tù cho vợ:

Tôi không biết giờ này em ra sao
Có lượm lại đủ con cái tan tác không
Tôi không biết giờ này chúng thế nào
Em có gì để ăn, cho chúng ăn
Em có cách gì để thở, cho chúng thở
Em còn chỗ nào nương náu, tạm bợ



Trong cơn lốc 1975, miền Nam đắm chìm trong đau khổ. Chưa nói đến sự hành hạ trong tù, đời sống bên ngoài với bao thảm cảnh chia ly, tan tác, đói khổ… Trong nỗi đau đớn ngậm ngùi ấy, Bích Huyền xin lưu luyến chia tay… Một lần nữa, làm sao chúng ta có thể ngủ ngon mộng đẹp đêm nay đây, thưa quý vị và các bạn?



UserPostedImage
Nhã Ca và năm con gái tại Hoa Kỳ




UserPostedImage
thunder  
#217 Posted : Wednesday, June 15, 2011 5:35:01 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage

Dưới mưa

Có điều gì trong cơn mưa sớm nay
Mà ào ạt, cồn cào đến thế!
Cơn mưa giận. Cơn mưa thương. Như thể
Anh không về, mưa hờn dỗi riêng em

Mưa giăng bốn bề trắng xoá không gian
Em vô định lang thang dưới mưa tuôn rát mặt
Mong dòng nước tràn trề làm dịu đi cơn khát
Nỗi nhớ anh đau đáu cháy trong lòng

Em ngoái về phương ấy trắng mưa giăng
Anh ở đâu giữa đầy vơi nỗi nhớ?
Em bé nhỏ, chông chênh đi trên phố
Lạnh tê người trước khoảng trống mờ xa

Một mình em lẻ loi trong cơn mưa
Đếm bong bóng phập phồng vỡ tan trên mặt nước
Vỡ tan trong em nỗi ước mong có được
Một ngày bên anh. Trong trẻo, dịu dàng.

Em không trách anh đâu. Chỉ trống trếnh vô cùng
Bước hụt hẫng với khoảng không bên cạnh
Nghe bất giác trên môi giọt nước rơi ấm mặn
Mới hay mình vẫn yếu đuối như xưa

Không biết phương trời nơi ấy có mưa?
Để anh được cùng em chung trắng trời nỗi nhớ
Thành phố lạ bỗng thành thân thương thế
Nghiêng về em niềm yêu dấu, mong chờ

Nếu có một ngày được đón anh trong mưa
Anh sẽ hiểu những điều hôm nay em ao ước
Em không trách anh đâu, dẫu chưa hề có được
Một ngày bên anh. Trọn vẹn. Dịu dàng...

Hạnh Ly

thunder  
#218 Posted : Wednesday, June 15, 2011 5:58:03 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

CÕI VÔ HÌNH



Hamud là một pháp sư có kiến thức rất rộng về cõi vô hình. Khác với những đạo sĩ phái đoàn đã gặp, ông này không phải người Ấn mà là một người Ai cập. Ông ta sống một mình trong căn nhà nhỏ, xây dựa vào vách núi. Hamud không hề tiếp khách, nhưng trước sự giới thiệu của bác sĩ Kavir, ông bằng lòng tiếp phái đoàn trong một thời gian ngắn. Vị pháp sư có khuôn mặt gầy gò, khắc khổ và một thân hình mảnh khảnh. Ông ta khoác áo choàng rộng và quấn khăn theo kiểu Ai cập.

Giáo sư Evans-Wentz vào đề :

- Chúng tôi được biết ông chuyên nghiên cứu các hiện tượng huyền bí…

Pháp sư thản nhiên :

- Đúng thế, tôi chuyên nghiên cứu về cõi vô hình.

- Như thế ông tin rằng có ma…

Vị pháp sư nói bằng một giọng chắc chắn, quả quyết :

- Đó là một sự thật không những ma quỷ hiện hữu mà chúng còn là đối tượng nghiên cứu của tôi.

- Bằng cớ nào ông tin rằng ma quỷ có thật ?

- Khắp nơi trên thế giới đều có các giai thoại về ma, vì con người thường sợ hãi cái gì mà họ không thể nhận thức bằng các giác quan thông thường nên họ đã phủ nhận nó. Sự phủ nhận này mang đến niềm sợ hãi. Từ đó họ thêu dệt các giai thoại rùng rợn, ly kỳ, không đúng sự thật. Nếu chúng ta chấp nhận ma quỷ hiện hữu như một con voi hay con ngựa thì có lẽ ta sẽ không còn sợ hãi. Các ông đòi hỏi một chứng minh cụ thể chăng ?

- Dĩ nhiên, chúng tôi cần một bằng chứng hiển nhiên …

- Được lắm, các ông hãy nhìn đây.

Vị pháp sư mở ngăn kéo lấy ra một cặp que đan áo, một bó len và mang ra góc phòng để xuống đất. Ông ta thong thả :

- Chúng ta tiếp tục nói chuyện, rồi các ông sẽ thấy.

Mọi người ngơ ngác, không hiểu ông muốn nói gì, giáo sư Mortimer nóng nảy :

- Nếu ông nghiên cứu về cõi vô hình, xin ông giải thích về quan niệm thiên đàng, địa ngục cũng như đời sống sau khi chết ra sao ?

Vị pháp sư nghiêm giọng :

- Đó là một quan niệm không đúng, sự chết chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp chứ không phải là hết. Vũ trụ có rất nhiều cõi giới, chứ không phải chỉ có một cõi này.

- Khi chết ta bước qua cõi trung giới và cõi này gồm có bảy cảnh khác nhau. Mỗi cảnh được cấu tạo bằng những nguyên tử rất thanh mà ta gọi là “dĩ thái”. Tùy theo sự rung động khác nhau mà mỗi cảnh giới một khác. Tùy theo vía con người có sự rung động thanh cao hay chậm đặc, mà mỗi người thích hợp với một cảnh giới, đây là hiện tượng “đồng thanh tương ứng” mà thôi. Khi vừa chết, thể chất cấu tạo cái vía được sắp xếp lại, lớp thanh nhẹ nằm trong và lớp nặng trọc bọc phía ngoài, điều này cũng giống như một người mặc nhiều áo khác nhau vào mùa lạnh, áo lót mặc ở trong, áo choàng dầy khoác ngoài. Vì lớp vỏ bọc bên ngoài cấu tạo bằng nguyên tử rung động chậm và nặng nề, nó thích hợp với các cảnh giới tương ứng ở cõi âm, và con người sẽ đến với cảnh giới này. Sau khi ở đây một thời gian, lớp vỏ bao bọc bên ngoài dần dần tan rã giống như con người trút bỏ áo khoác bên ngoài ra, tùy theo các lớp nguyên tử bên trong mà họ thích ứng với một cảnh giới khác. Cứ như thế, theo thời gian, khi các áp lực vật chất tan rã hết thì con người tuần tự tiến lên những cảnh giới cao hơn. Điều này cũng giống như một quả bóng bay bị cột vào đó những bao cát; mỗi lần cởi bỏ được một bao thì quả bóng lại bay cao hơn một chút cho đến khi không còn bao cát nào, thì nó sẽ tự do bay bổng. Trong bảy cảnh giới của cõi âm, thì cảnh thứ bảy có rung động nặng nề, âm u nhất, nó là nơi chứa các vong linh bất hảo, những kẻ sát nhân, người mổ sẻ súc vật, những cặn bả xã hội, những kẻ tư tưởng xấu xa, còn đầy thú tánh. Vì ở cõi âm, không có thể xác, hình dáng thường biến đổi theo tư tưởng nên những kẻ thú tánh mạnh mẽ thường mang các hình dáng rất ghê rợn, nửa người, nửa thú. Những người thiếu kiến thức rõ rệt về cõi này cho rằng đó là những quỷ sứ. Điều này cũng không sai sự thật bao nhiêu vì đa số những vong linh này luôn oán hận, ham muốn, thù hằng và thường tìm cách trở về cõi trần. Tùy theo dục vọng riêng tư mà chúng tụ tập quanh các nơi thích ứng, dĩ nhiên người cõi trần không nhìn thấy chúng được. Những loài ma đói khát quanh quẩn bên các chốn trà đình tửu quán, các nơi mổ sẻ thú vật để tìm những rung động theo những khoái lạc vật chất tại đây. Khi một người ăn uống ngon lành họ có các rung động, khoái lạc và loài mà tìm cách hưởng thụ theo tư tưởng này. Đôi khi chúng cũng tìm cách ảnh hưởng, xúi dục con người nếu họ có tinh thần yếu đuối, non nớt. Những loài ma dục tình thì quanh quẩn nơi buôn hương bán phấn, rung động theo những khoái lạc của người chốn đó, và tìm cách ảnh hưởng họ. Nếu người sống sử dụng rượu, các chất kích thích thì ngay trong giây phút mà họ không còn tự chủ được nữa, các loài ma tìm cách nhập vào trong thoáng giây để hưởng một chút khoái lạc vật chất dư thừa. Vì không được thoa? mãn nên theo thời gian các dục vọng cũng giảm dần, các nguyên tử nặng trọc cũng tan theo, vong linh sẽ có các rung động thích hợp với một cảnh giới cao hơn và y sẽ thăng lên cõi giới tương ứng. Dĩ nhiên, một người có đời sống trong sạch, tinh khiết sẽ không lưu ở cõi này, mà thức tỉnh ở một cõi giới tương ứng khác. Tùy theo lối sống, tư tưởng khi ta còn ở cõi trần mà khi chết ta sẽ đến những cảnh giới tương đồng, đây chính là định luật “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”.

Toàn thể phái đoàn im lặng nhìn nhau, vị pháp sư Ai cập đã diễn tả bằng những danh từ hết sức khoa học, chính xác, chứ không mơ hồ, viễn vông. Dù sao đây vẫn là một lý thuyết rất hay, nhưng chưa chứng minh được. Có thể đó là một giả thuyết của những dân tộc nhiều tưởng tượng như người Á châu chăng ?

Hamud mỉm cười như đọc được tư tưởng mọi người :

- Nếu các ông biết rằng tôi cũng là một tiến sĩ vật lý học tốt nghiệp đại học Oxford…

Giáo sư Harding giật mình kêu lên :

- Oxford ư ? Ông đã từng du học bên xứ chúng tôi sao ?

- Chính thế, tôi tốt nghiệp năm 1864, và là người Ai cập đầu tiên tốt nghiệp về ngành này.

(Ghi chú của giáo sư Spalding : Phái đoàn đã phối kiểm chi tiết này và hồ sơ đại học Oxford ghi nhận có một tiến sĩ người Ai cập tên là Hamud El Sarim nhập học năm 1856 và tốt nghiệp năm 1864 với bằng Tiến sĩ Vật lý).

- Nhưng làm sao ông biết rõ được cõi giới này ? Ông đã đọc sách vở hay dựa trên những bằng chứng ở đâu ?

- Tôi đã khai mở các giác quan thể vía, nhờ công phu tu hành trong nhiều năm. Ngay khi còn là sinh viên tôi đã say mê môn Vật lý siêu hình (metaphysics). Tôi dành nhiều thời giờ nghiên cứu sách vở khoa học, nhưng đến một lúc thì khoa học phải bó taỵ Sự nghiên cứu dẫn dắt tôi đến với Khoa Huyền Bí học. Tôi học hỏi rất kỹ về môn này, khi trở về Ai cập tôi may mắn gặp được các vị đạo sư uyên b ác, nên sự nghiên cứu càng ngày càng tiến bộ. Sự nghiên cứu dẫn dắt tôi sang Ấn độ, và Tây Tạng. Tại đây tôi gặp một Lạt Ma chuyên nghiên cứu về cõi âm, tôi đã học hỏi rất nhiều với vị này. Sau đó, tôi tu nhập thất trong 10 năm liền, và khai mở được một vài giác quan đặc biệt. Từ đó, tôi tha hồ nghiên cứu cõi âm vì tôi có thể sang tận đây học hỏi và cõi này trở nên quen thuộc, tôi kết bạn với rất nhiều sinh vật siêu hình, chúng giúp đỡ tôi rất nhiều.

Giáo sư Evans- Wentz ngập ngừng :

- Ông muốn nói rằng ông kết bạn với ma ?

- Dĩ nhiên, vì tôi dành trọn thời giờ hoạt động bên cõi này, nên tôi có rất đông bạn bè, phần lón là vong linh người quá cố nhưng cũng có một vài sinh vật có đường tiến hoá riêng, khác với loài người, có loài khôn hơn người và có loại không thông minh hơn loài vật là bao…

- Giao thiệp với chúng có lợi ích gì không ?

- Các ông nên biết cõi âm là một thế giới lạ lùng, phức tạp với những luật thiên nhiên khác hẳn cõi trần. Sự đi lại giao thiệp giúp ta thêm kiến thức rõ ràng…..

- Như thế có nguy hiểm không?

- Dĩ nhiên, có nhiều sinh vật hay vong linh hung ác, dữ tợn…Một số thầy phù thuỷ, thường liên lạc với nhóm này để mưu cầu lợi lộc, chữa bệnh hoặc thư phù, nguyền rủa….

- Ông có thể làm như vậy không ?

Vị pháp sư nghiêm mặt :

- Tất cả những việc gì có tính cách phản thiên nhiên, ngược luật tạo hoá đều mang lại hậu quả không tốt. Mưu cầu lợi lộc cho cá nhân là điều tối kỵ của ai đi trên đường đạo. Tôi không giao thiệp với những loại vong linh này, vì chúng rất nguy hiểm, hay phản phúc và thường giết chết kẻ lợi dụng chúng bất cứ lúc nào. Các ông nên nhớ tôi là một khoa học gia chứ không phải một thầy pháp hạ cấp hay một phù thuỷ chữa bệnh.

- Xin ông nói rõ hơn về những cảnh giới cõi âm.

- Các ông nên biết dù ở cõi nào, tất cả cũng không ra ngoài các định luật khoa học. Thí dụ như vật chất có ba thể : thể lỏng, thể đặc và thể hơi, thì bên cõi này cũng có những thể tương tự. Luật thiên nhiên cho thấyvật nặng sẽ chìm xuống dưới và vật nhẹ nổi lên trên thì cõi vô hình cũng thế. Nguyên tử cõi âm rung động với một nhịp độ khác với cõi trần, các nguyên tử rung động thật nhanh dĩ nhiên phải nhẹ hơn các nguyên tử nặng trược. Tóm lại, tùy theo nhịp độ rung động mà tạo ra những cảnh giới khác nhau, có bảy loại rung động nên có bảy cõi giới. Các nguyên tử rung động chậm chạp phải chìm xuống dưới vì nếu ta mang nó lên cao, sức ép sẽ làm nó tan vỡ ngaỵ Thí dụ ta đặt một quả bóng xuống nước nếu đến một độ sâu nào đó sức ép của nước sẽ làm nó vỡ tan. Loài cá cũng thế, có loại sống gần mặt nước, có loại sống tận đáy đại dương. Nếu loại sống gần mặt biển bị mang xuống đáy nó sẽ bị sức ép mà chết, ngược lại nếu loài sống ở dưới đáycũng không thể lên sát mặt nước vì đã quen với sức ép khác nhau. Cảnh giới thứ bảy lúc nào cũng tối tăm, nặng nề với các vong linh hình dáng ghê rợn, nhưng hoàn toàn không có vụ quỷ sứ tra tấn tội nhân. Bị lưu đày ở đây đã là khổ sở lắm rồi, các ông hãy tưởng tượng bị dụcvọng hành hạ mà không thể thoa? mãn thì còn khổ gấp trăm lần bị tra tấn. Vong linh thèm muốn nhưng không so thoa? mãn được, như đói mà không thể ăn, khát không thể uống. Do đó, theo thời gian y sẽ học bài học chịu đựng, nhẫn nhục cho đến khi dục vọng giảm bớt và tan ra thì y sẽ thăng lên cảnh giới thứ sáu. Cõi giới thứ sáu, có sự rung động rất giống như cõi trần, tại đây các vong linh ít còn thèm muốn vật chất như ăn uống, dục tình, nhưng bận tâm với những nhỏ nhen của cuộc sống như thoa? mãn bản ngã, ích kỷ, ghen tuông, hờn giận, v…v… Đa số có hình dáng giống như người cõi trần, nhưng lờ mờ không rõ. Vì sự rung động của nguyên tử gần giống như cõi trần nên họ hay trở về cõi này, họ thường nhập vào đồng cốt, các buổi cầu cơ, cầu hồn để chỉ dẫn bậy bạ, nói chuyên vu vơ nhằm thoa? mãn tự ái, bản ngã cá nhân. Vì đa số vong linh khi còn sống rất ham mê danh vọng, chức tước, uy quyền nên khi họ nhập vào đồng cốt, họ thường tự xưng là các đấng này, đấng nọ. Theo thời gian, các rung động ham muốn, các cố chấp về bản ngã, danh vọng cũng tan biến nên họ thăng lên cảnh giới thứ năm. Cõi thứ năm có sự rung động thanh nhẹ hơn cõi trần nên vong linh có thể biến đổi sắc tướng rất nhanh chóng. Đây là một thế giới với những âm thanh màu sắc lạ lùng dễ bị mê hoặc. Các vong linh ở đây đã bớt ham muốn về cá nhân, nhưng còn ham muốn về tư tưởng, kiến thức. Đây là nơi cư ngụ của những kẻ đạo đức giả, những kẻ bảo thủ nhiều thành kiến, những người trí thức tự phụ, v…v… Đây cũng là cõi có những sinh hoạt của loài Tinh linh. Loài Tinh linh là những sinh vật vô hình có hình dáng hao hao giống như người mà ta thường gọi là Thiên tinh (sylphs), Thổ địa (gnome), Phong tinh (elves), v…v… Một số bị thu phục bởi các phù thuỷ, pháp sư để làm ảo thuật hay luyện phép. Cõi này còn có sự hiện diện của những “hình tư tưởng”. Các ông nên biết, khi một tư tưởng hay dục vọng phát sinh thì chúng sử dụng tinh chất cõi này tạo nên một hình tư tưởng thích hợp. Đời sống của chúng tùy theo sức mạnh của tư tưởng mạnh hay yếu. Vì đa số tư tưởng con người còn mơ hồ nên hình tư tưởng chỉ tạo ra ít lâu là tan rã ngaỵ Một người tập trung tư tưởng có thể tạo ra một hình tư tưởng sống lâu trong vài giờ hay vài ngày. Một pháp sư cao tay có thể tạo ra các hình tư tưởng sống đến cả năm hay cả thế kỷ, không những thế hình tư tưởng này còn chịu sự sai khiến của ông tạ Các phù thuỷ luyện thần thông đều dựa trên nguyên tắc cấu tạo một sinh vật vô hình để sai khiến. Hình tư tưởng không chỉ phát sinh từ một cá nhân mà còn từ một nhóm người hay một quốc gia, dân tộc. Khi một đoàn thể, dân tộc cùng một ý nghĩ, họ sẽ tạo ra một hình tư tưởng của đoàn thể, quốc gia đó. Hình tư tưởng này sẽ tạo một ảnh hưởng vô cùng rộng lớn đối với tình cảm,phong tục, thành kiến của quốc gia, dân tộc. Ta có thể gọi đó là “Hồn thiêng sông núi” hay “dân tộc tính”. Khi sinh ra tại một quốc gia, ta ít nhiều chịu ảnh hưởng của hình tư tưởng này, dĩ nhiên chúng chỉ ảnh hưởng lên thể vía, nghĩa là tình cảm của dân tộc đó, chứ không ảnh hưởng đến lý trí. Một người sống nhiều bằng lý trí sẽ ít chịu ảnh hưởng như người bình thường. Điều này giải thích tại sao một dân tộc có tâm hồn mơ mộng như thi sĩ khi dân tộc khác lại có đầu óc thực tế mặc dù trên phương diện địa lý, họ không ở cách xa nhau mấy và ít nhiều chia sẻ một số quan niệm về tôn giáo, phong tục, tập quán. Cảnh giới cõi thứ tư sáng sủa hơn và dĩ nhiên nguyên tử cõi này rung động rất nhanh. Phần lớn những vong linh tiến hoá, thánh thiện, những nhà trí thức trầm mặc nhưng còn quyến luyến một ít dục vọng khi chết đều thức tỉnh ở cảnh giới này. Đa số đều ý thức ít nhiều, nên họ bắt đầu cởi bỏ những ham muốn, quyến luyến. Đây cũng là chỗ họ học hỏi và ảnh hưỏong lẫn nhau, và đôi khi kêt những liên hệ để cùng nhau tái sinh trong một gia đình hay quốc gia. Cõi giới thứ ba chói sáng, có những rung độgn nhẹ nhàng. Tại đâu có những linh hồn từ tâm nhưng vụng về, những tu sĩ thành tâm nhưng thiếu trí tuệ, những nhà lãnh đạo anh minh nhưng thành kiến. Đây cũng là một cảnh giới của một số thần linh (devas) như Cảmđục thiên thần (Kamadeva), Hữu sắc thiên thần (Rupadeva), và Vô sắc thiên thần (Arupadeva). Các thần linh này có đời sống và tiến hoá cao hơn trình độ của nhân loại. Cõi giới thứ hai và thứ nhất cấu tạo bằng những nguyên tử hết sức thanh thoát, rung động rất nhanh và tràn đầy ánh sáng. Đây là cõi giới mà những người tiến hoá rất cao, rất tệ nhị không còn dục vọng, ham muốn, lưu lại để học hỏi, trao đổi kinh nhigệm, phát triển ccác đức tính riêng trước khi siêu thoát len cảnh giới cao hơn.

- Như thế người chết thường lưu lại ở cõi Trung giới bao nhiêu lâu ?

- Thời gian lưu lại đây hoàn toàn tùy thuộc vào dục vọng con người, có người chỉ ghé lại đây vài giờ, lập tức đầu thai trở lại. Có kẻ ở đây hàng năm và có kẻ lưu lại đây hàng thế kỷ… Để siêu thoát, thể vía phải hoàn toàn tan rã hết thì mới lên đến cõi Thượng thiên hay siêu thoát. Tóm lại danh từ như thiên đàng hay địa ngục chỉ là những biểu tượng của những cảnh ở cõi Trung giới (Kamaloka). Tùy theo sự sắp xếp của thể vía khi chết, mà ta thức tỉnh ở một cảnh giới tương ứng.

Mọi người yên lặng nhìn nhau, những điều Hamud giải thích hoàn toàn hợp lý và hết sức khoa học, không hoang đường chút nào. Nhưng làm sao chứng minh những điều mà khoa học thực nghiệm không thể nhìn thấy được ? Dù sao Hamud cũng là một Tiến sĩ Vật lý tốt nghiệp đại học nổi tiếng nhất Âu châu chứ không phải một phù thuỷ vô học chốn hoang vu, ít nhiều ông ta cũng có một tinh thần khách quan vô tư của một khoa học gia chứ không mê tín dễ chấp nhận một lý thuyết vu vơ, không kiểm chứng. Nhưng làm sao có thể thuyết phục những người Âu Mỹ vốn rất tự hào, nhiều thành kiến và tin tưởng tuyệt đối ở khoa học /

Hamud mỉm cười tiếp tục :

- Sự hiểu biết về cõi vô hình rất quan trọng, vì khi hiểu rõ những điều xảy ra sau khi chết, ta sẽ không sợ chết nữa. Nếu có chết chỉ là hình hài, xác thân chứ không phải sự sống, và hình hài có chết đi, thì sự sống mới tiếp tục tiến hoá ở một thể khác tinh vi hơn. Đây là một vấn đề hết sức hợp lý và khoa học cho ta thấy rõ sự công bình của vũ trụ. Khi còn sống, con người có dục vọng này nọ, khi dục vọng được thoa? mãn, nó sẽ gia tăng mạnh mẽ, đồng thời các chất thô kệch, các rung động nặng nề sẽ bị thu hút vào thể vía. Sau khi chết, dục vọng này trở nên mạnh mẽ vì không còn lý trí kiểm soát nữa, chính thế nó sẽ đốt cháy con người của tạ Sự nung đốt của dục vọng chẳng phải địa ngục là gì ? Giống như đức tính, phẩm hạnh khi còn trẻ, quyết định điều kiện sinh sống lúc tuổi già, đời sống cõi trần quyết định đời sống bên kia cửa tử. Luật này hết sức hợp lý và dễ chứng minh. Khi còn trẻ ta tập thể thao, giữ thân thể khoẻ mạnh, thì khi về già ta sẽ ít bệnh tật, khi còn trẻ ta chịu khó học hỏi, có một nghề nghiệp vững chắc thì khi về già đời sống được bảo đảm hơn, có đúng thế không ? Những người nào chế ngự được dục vọng thấp hèn, làm chủ được đòi hỏi thể xác, thì các dục vọng này không thể hành hạ khi ta chết. Luật thiên nhiên định rằng khi về già thể xác yếu dần, đau ốm, khiến cho ta bớt đi các ham muốn và nhờ thế, dục vọng cũng giảm bớt rất nhiều nên thể vía cũng thanh lọc bớt các chất nặng nề, ô trượt để khi chết, sẽ thức tỉnh ở cảnh giới cao thượng hơn. Trái lại những người còn trẻ, lòng ham muốn còn mạnh mẽ, nếu chết bất đắc kỳ tử thường đau khổ rất nhiều và phải lưu lại cõi Trung giới lâu hơn. Nếu hiểu biết như thế, ta cần phải duyệt xét lại đời sống của mình ở cõi trần để khỏi lưu lại những cảnh giới thấp thỏi, nặng nề bên cõi âm. Những người lớn tuổi cần chuẩn bị để dứt bỏ các quyến luyến, ràng buộc, các lo lắng ưu phiền, các tranh chấp, giận hờn, phải biết xả ly, dứt bỏ mọi phiền não để mau chóng siêu thoát. Một sự chuẩn bị Ở cõi trần sẽ rút ngắn thời gian bên cõi âm và chóng thúc đẩy thời gian lên cõi giới cao hơn.

- Nhưng còn các ma quỷ thì sao ?

- Các ông cứ cho rằng ma quỷ là một thực thể thế nào đó, khác hẳn loài người. Thật ra phần lớn chúng là những vong linh sống ở cảnh giới thứ bảy, thứ sáu mà thôi. Chúng còn lưu luyến cõi trần, còn say mê dục vọng không sao thoát ra khỏi cảnh giới này… Luật thiên nhiên không cho phép chúng trở lại cõi trần, nhưng cũng có những trường hợp đặc biệt, khiến người cõi trần trong một thoáng giây có thể nhìn thấy chúng…Khoan đã, các ông hãy xem kìa, người bạn của tôi đã làm xong việc.

Hamud chỉ vào góc phòng nơi ông ta để bó len và cây kim đan áo. Mọi người bước đến gần và thấy một chiếc áo len đan bằng tay đã thành hình từ lúc nào không ai rõ. Chiếc áo đan tay rất vụng, không khéo léo nhưng trên ngực có thêu tên giáo sư Mortimer. Vị pháp sư giải thích :

- Con ma này rất nghịch, và thường quanh quẩn ở đây. Tôi yêu cầu hắn đan chiếc áo len cho các ông để làm bằng chứng. Để tránh việc các ông cho rằng tôi làm trò ảo thuật, tráo vào đó một chiếc áo len khá,c tôi yêu cầu hắn thêu tên người nào trong phái đoàn có nhiều nghi ngờ nhất. Các ông đều biết rằng từ khi gặp gỡ tôi không hề hỏi tên các ông, và nếu chiếc áo này không đan riêng cho các ông thì còn ai nữa ?

Qủa thế, vị pháp sư gầy gò không thể mặc chiếc áo đan to tướng , rất vừa vặn cho giáo sư Mortimer, một người Âu mà kích thước đã rất ư quá khổ, so với những người Âu khác, đó là chưa kể vòng bụng khổng lồ, rất hiếm có của ông này. Hơn nữa, áo này cũng không thể may sẵn để bán vì đường kim mũi chỉ rất ư vụng về, nếu có bán, cũng chẳng ai muạ Tại nơi hoang vu, không có ai ngoài vị pháp sư và phái đoàn, sự kiện này quả thật rất lạ lùng.

( còn tiếp )

Edited by user Wednesday, June 15, 2011 6:09:24 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thunder  
#219 Posted : Wednesday, June 15, 2011 6:05:53 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)


CÕI VÔ HÌNH


( tiếp theo )


Giáo sư Evans-Wentz thắc mắc :

- Như vậy ông có thể sai khiến ma quỷ hay sao?

- Tôi không phải là một phù thuỷ, lợi dụng quyền năng cho tư lợi; mà chỉ là một người có rất nhiều bạn hữu vô hình bên cõi âm. Tôi hiểu rõ các luật thiên nhiên như Luân hồi, Nhân quả, và hậu quả việc thờ cúng ma quỷ để mưu cầu một cái gì. Tôi chỉ là một khoa học gia nghiên cứu cõi vô hình một cách đứng đắn. Sự nghiên cứu những hiện tượng siêu hình là một khoa học hết sức đứng đắn, chứ không phải mê tín dị đoạn. Nhiều người thường tỏ ý chê cười khi nói đến vấn đề ma quỷ, nên những ai có gặp ma, cũng chả dám nói vì sợ bị chê cười hay cho là loạn trí. Nếu người nào không tin hãy nghiên cứu và chứng minh một cách khoa học rằng ma quỷ chỉ là những giả thuyết tưởng tượng, còn như phủ nhận không dám chứng minh chỉ là một cái cớ che dấu sự sợ hãi. Điều khoa học chưa chứng minh được không có nghĩa là điều này không có thật, vì một ngày nào đó, khoa học sẽ tiến đến mức mà họ có thể chứng minh tất cả. Những phương pháp thông thường như cầu cơ, đồng cốt, thường gặp sai lầm vì như tôi đã trình bày, các vong linh nhập vào phần lớn cũng có kiến thức giới hạn ở cảnh giới nào đó. Đôi khi họ cũng trích dẫn vài câu trong “Thánh kinh”, hoặc sách vở, kinh điển để nâng cao giá trị lời nói, điều này có khác nào những nhà chính trị khi diễn thuyết. Phương pháp khoa học chính xác nhất là phải tự mình qua hẳn thế giới đó nghiên cứu. Các ông nên biết thân thể chúng ta không phải môi trường duy nhất của linh hồn và giác quan của nó cũng không phải phương tiện duy nhất để nghiên cứu ngoại cảnh. Nếu ta chấp nhận rằng vũ trụ có nhiều cõi giới khác nhau và mỗi thể con người tương ứng với một cõi, thì ta thấy ngay rằng thể xác cấu tạo bằng nguyên tử cõi trần nên chỉ giới hạn trong cõi này được thôi. Các thể khác cũng có giác quan riêng của nó và khi giác quan thể vía được khai mở, ta có thể quan sát các cõi giới vô hình dễ dàng. Khi từ trần, thể xác tiêu hao, các giác quan không còn sử dụng được nữa thì linh hồn sẽ tập phát triển các giác quan thể vía ngaỵ Nếu biết cách khai mở các giác quan này khi còn sống, ta có thể nhìn thấy cõi âm một cách dễ dàng.

Giáo sư Allen ngập ngừng :

- Nhưng có một quan niệm lại cho rằng, sau khi chết linh hồn sẽ lên thiên đàng hay xuống địa ngục vĩnh viễn, điều này ra sao ?

Hamud lắc đầu :

- Đó là một quan niệm không hợp lý, vì điều này cho rằng khi chết linh hồn sẽ đổi thay toàn diện. Sau khi chết, linh hồn sẽ mất hết tính xấu để trở nên toàn thiện, trở nên một vị thiên thần vào cõi thiên đàng hoặc là linh hồn có thể mất hết các tính tốt để trở nên xấu xa, trở nên một thứ ma quỷ bị đẩy vào địa ngục. Điều này vô lý vì sự tiến hoá phải từ từ, chứ không thể đột ngột được. Trên thế gian này, không ai toàn thiện hay toàn ác. Trong mỗi chúng ta đều có các chủng tử xấu, tốt do các duyên, nghiệp từ tiền kiếp để lại; tùy theo điều kiện bên ngoài mà những chủng tử này nẩy mầm, phát triển hay thui chột, không thể phát triển. Một người tu thân là một người biết mình, lo vun xới tinh thần để các nhân tốt phát triển, giống như người làm vườn lo trồng hoa và nhổ cỏ dại. Thực ra, khi sống và chết, con người không thay đổi bao nhiêu. Nếu khi sống họ ăn tham thì khi chết, họ vẫn tham ăn, chỉ có khác ở chỗ, điều này sẽ không còn được thoa? mãn vì thể xác đã hư thối, tan rã mất rồi. Sau khi chết, tìm về nhà thấy con cháu ăn uống linh đình mà họ thì không sao ăn được, lòng ham muốn gia tăng cực độ như lửa đốt gan, đốt ruột, đau khổ không sao tả được.

- Như ông đã nói, loài ma đói thường rung động theo không khí quanh đó, như thế họ có thoa? mãn không ?

- Khi người sống ăn ngon có các tư tưởng khoái lạc thì loài ma đói xúm quanh cũng tìm cách rung động theo tư tưởng đó, nhưng không làm sao thoa? mãn cho được. Điều này ví như khi đói, nghĩ đến món ăn ngon ta thấy khoan khoái, ứa nước bọt nhưng điều này đâu có thoa? mãn nhu cầu bao tử đâu. Các loại ma hung dữ, khát máu thường tụ tập nơi mổ sẻ súc vật, lò sát sinh để rung động theo những không khí thô bạo ở đó. Những người giết súc vật trong nhà vô tình mời gọi các vong linh này đến, sự có mặt của họ có thể gây nhiều ảnh hưởng xấu, nhất là cho nhũng người dễ thụ cảm.

- Đa số mọi người đều cho rằng ma quỷ thường xuất hiện ở nghĩa địa, điều này ra sao ?

- Sự hiện hình ở nghĩa địa chỉ là hình ảnh của thể phách đang tan rã, chứ không phải ma quỷ, vong linh. Khi ta chết, thể xác hư thối thì thể phách vốn là thể trung gian giữa thể xác và thể vía cũng tan rã theo. Thể phách được cấu tạo bằng những nguyên tử tương đồng với nguyên tử cõi trần. Nhưng trong đó có nhiều nguyên tử 'dĩ tháí, nên nhẹ hơn, nó thu thập các sinh lực còn rơi rớt trong thể xác, để cố gắng kéo dài sự sống thêm một thời gian nữa. Vì đang tan rã nên thể phách không hoàn toàn, do đó, đôi khi ta thấy trên nghĩa địa có những hình ảnh người cụt đầu, cụt chân, bay là là trên các nấm mồ, người không hiểu thì gọi đó là mạ Theo sự hiểu biết của tôi, thì việc thiêu xác tốt đẹp hơn việc chôn cất, vì để thể xác tan rã từ từ làm cho linh hồn đau khổ không ít và thường ở trong một giai đoạn hôn mê, bất động một thời gian rất lâu. Thiêu xác khiến vong linh thấy mình không còn gì quyến luyến nữa nên siêu thoát nhanh hơn nhiều.

- Ma quỷ thường thuộc thành phần nào trong xã hội ?

- Chúng thuộc đủ mọi thành phần, tùy theo dục vọng khi còn sống. Người chết bất đắc kỳ tử thường lưu lại cõi âm lâu hơn người chết già vì còn nhiều ham muốn hơn. Những kẻ sát nhân bị hành quyết vẫn sống trong cảnh tù tội, giận hờn và có ý định trả thù. Một người tự tử để trốn nợ đời cũng thế, y sẽ hôn mê trong trạng thái khổ sở lúc tự tử rất lâu. Định luật cõi âm xác nhận rằng, “Chính cái dục vọng của ta quyết định cảnh giới ta sẽ đến và lưu lại ở đó lâu hay mau.”

- Số phận của những người quân nhân tử trận thì ra sao ?

- Họ cũng không ra ngoài luật lệ đó, tùy theo dục vọng từng cá nhân. Tuy nhiên, người hy sinh tính mạng cho một lý tưởng có một tương lai tốt đẹp hơn, vì cái chết cao đẹp là một bậc thang lớn trong cuộc tiến hoá. Họ đã quên mình để chết và sống cho lý tưởng thì cái chết đó có khác nào những vị thánh tử đạo. Dĩ nhiên không phải quân nhân nào cũng sống cho lý tưởng và những kẻ giết chóc vì oán thù và chết trong oán thù lại khác hẳn.

- Như ông nói thì người chết vẫn thấy người sống ?

- Thật ra phải nói như thế này. Khi chết các giác quan thể xác đều không sử dụng được nữa, nhưng người chết vẫn theo dõi mọi sự dễ dàng vì các giác quan thể vía. Không những thế họ còn biết rất rõ tư tưởng, tình cảm liên hệ; mặc dù họ không còn nghe thấy như chúng tạ Nhờ đọc được tư tưởng, họ vẫn hiểu điều chúng ta muốn diễn tả.

- Như vậy thì họ Ở gần hay ở xa chúng ta ?

- Khi mới từ trần, người chết luôn quanh quẩn bên gia đình, bên những người thân nhưng theo thời gian, khi ý thức hoàn cảnh mới, họ sẽ tách rời các ràng buộc gia đình để sống hẳn ở cõi giới của họ.

- Như thế có cách nào người sống tiếp xúc được với thân nhân quá cố không ?

- Điều này không có gì khó. Hãy nghĩ đến họ trong giấc ngủ. Thật ra nếu hiểu biết thì ta không nên quấy rầy, vì làm thế chỉ gây trở ngại cho sự siêu thoát. Sự chết là bước vào một đời sống mới, các sinh lực từ trước vẫn hướng ra ngoài, thì nay quay vào trong, linh hồn từ từ rút khỏi thể xác bằng một bí huyệt trên đỉnh đầu. Do đó, hai chân từ từ lạnh dần rồi đến tay và sau cùng là trái tim. Lúc này người chết thấy rất an tĩnh, nhẹ nhàng không còn bị ảnh hưởng vật chất. Khi linh hồn rút lên óc, nó sẽ khơi động các ký ức, cả cuộc đời sẽ diễn lại như cuốn phim. Hiện tượng này gọi là “hồi quang phản chiếu” (Memory projection). Đây là một giây phút hết sức quan trọng vì nó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống cõi bên kia. Sợi dây từ điện liên hệ giữa thể xác và thể phách sẽ đứt hẳn. Đây là lúc người chết hoàn toàn hôn mê, vô ý thức để linh hồn rút khỏi thể phách và thể vía bắt đầu lo bảo vệ sự sống của nó bằng cách xếp lại từng lớp nguyên tử, lớp nặng bọc ngoài và lớp thanh nhẹ Ở trong. Sự thu xếp này ấn định cõi giới nào vong linh sẽ đến.

- Ông du hành sang cõi âm thế nào ?

- Nói như thế không đúng lắm, vì ám chỉ một sự di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Các cõi thật ra ở cùng một nơi chỉ khác nhau ở chiều không gian và thời gian. Sang cõi âm là sự chuyển tâm thức, sử dụng giác quan thể vía để nhận thức chứ không phải đi đến một nơi nào hết. Sở dĩ cõi trần không thấy cõi âm vì nguyên tử cấu tạo nó quá nặng nề, rung động quá chậm không thể đáp ứng với sự rung động nhanh của cõi âm. Quan niệm về không gian cũng khác vì đây là cõi tư tưởng, nghĩ đến đâu là ta đến đó liền, muốn gặp ai chỉ cần giữ hình ảnh người đó trong tư tưởng ta sẽ gặp người đó ngaỵ Khi di chuyển ta có cảm giác như lướt trôi, bay bỗng vì không còn đi bằng hai chân như thể xác.

- Những người chết nhận thức về đời sống mới ra sao ?

- Trừ những kẻ cực kỳ hung dữ, ghê gớm, đa số mọi người thức tỉnh trong cảnh giới thứ năm hoặc thứ sáu, vốn có rung động không khác cõi trần là bao. Lúc đầu họ còn bỡ ngỡ, hoang mang nhưng sau sẽ quen đi. Tùy theo tình cảm, dục vọng mà họ hành động. Tôi đã gặp vong linh của một thương gia giàu có, ông này cứ quanh quẩn trong ngôi nhà cũ nhiều năm, ông cho tôi biết rằng ông rất cô đơn và đau khổ. Ông không có bạn và cũng chả cần ai. Ông trở về căn nhà để sống với kỷ niệm xưa nhưng ông buồn vì vợ con ông vẫn còn đó nhưng chả ai để ý đến ông. Họ tin rằng ông đã lên thiên đàng, vì họ đã bỏ ra những số tiền, tổ chức các nghi lễ tôn giáo rất lớn, một tu sĩ đã xác nhận thế nào ông cũng được lên thiên đàng. Tôi khuyên ông ta nên cởi bỏ các quyến luyến để siêu thoát nhưng ông ta từ chối. Một vài người thân đã qua đời cũng đến tìm gặp, nhưng ông cũng không nghe họ. Có lẽ ông ta sẽ còn ở đó một thời gian lâu cho đến khi các lưu luyến phai nhạt hết. Tôi đã gặp những vong linh quanh quẩn bên cạnh cơ sở mà họ gầy dựng nên, họ vô cùng đau khổ và tức giận vì không còn ảnh hưởng được gì, họ rất khổ sở khi người nối nghiệp, con cháu có quyết định sai lầm, tiêu phá cơ nghiệp. Tôi đã gặp những người chôn cất của cải, phập phồng lo sợ có kẻ tìm ra, họ vẫn quanh quẩn gần đó và đôi khi tìm cách hiện về doa. nạt những người bén mảng đến gần nơi chốn dấu. Vong linh ghen tuông còn khổ sở hơn nữa; họ không muốn người họ yêu mến chia sẻ tình yêu với kẻ khác. Đôi khi họ điên lên khi chứng kiến sự âu yếm của người họ yêu mến và người khác. Dĩ nhiên họ không thể làm gì được nên vô cùng khổ sở. Những nhà lãnh đạo, những vua chúa, những người hống hách quyền uy thì cảm thấy bất lực khi không còn ảnh hưởng gì được nữa, nên họ hết sức đau khổ. Hãy lấy trường hợp một vong linh chết đuối, vì y không tin mình đã chết, nên cứ ở trong tình trạng lúc chết, nghĩa là ngộp nước. Vì đầu óc hôn mê, nên y không nhìn thấy cõi âm, mà vẫn giữ nguyên hình ảnh cõi trần, dĩ nhiên nó chỉ nằm trong tư tưởng của y mà thôi. Nói một cách khác, thời gian như ngừng lại, y cứ thế hôn mê trong nhiều năm. Tôi đã cố gắng thuyết phục nhưng nói gì y cũng không nghe, tôi bèn yêu cầu y trở về nhà, đầu óc y hôn mê quá rồi, nên cũng không sao trở về được. Nhờ các bạn bè cõi vô hình, tôi tìm được tên tuổi, và địa chỉ thân nhân vong linh. Tôi tiếp xúc với họ và yêu cầu lập một nghi lễ cầu siêu để cảnh tỉnh vong linh. Nhờ sức chú nguyện mãnh lực của buổi cầu siêu, tôi thấy vong linh từ từ tỉnh táo ra, nghe được lời kinh. Y trở về nhà và chứng kiến buổi cầu siêu của con cháu gần 60 năm sau khi y qua đời. Sau đó y chấp nhận việc mình đã chết và siêu thoát…

- Ông cho rằng sự cầu nguyện có lợi ích đến thế sau ?

- Cầu siêu cho vong linh là một điều hết sức quan trọng và ích lợi , vì nó chứa đựng một sức mạnh tư tưởng vô cùng mãnh liệt. Oai lực lời kinh và âm hưởng của nó thật là vô cùng ở cõi âm nếu người ta tụng niệm chú tâm, sử dụng hết cả tinh thần. Tiếc thay, người đời chỉ coi tụng niệm như một hình thức. Họ chỉ biết đọc các câu kinh trên đầu môi, chót lưỡi chứ không biết tập trung tinh thần, nên mất đi phần nào hiệu nghiệm. Sự cầu nguyện có một sức mạnh kinh khủng, có thể dời núi lấp sông, đó là bí huyết khoa “Mật tông Tây Tạng”.

- Như ông nói thì tôn giáo Tây Tạng có hiệu nghiệm nhiều hay sao ?

- Vấn đề cầu nguyện cho người chết không phân biệt tôn giáo và cũng không cần theo một nghi thức, nghi lễ nào nhất định, mà chỉ cần tập trung tư tưởng, hết sức chú tâm cầu nguyện. Theo sự hiểu biết của tôi thì tôn giáo nào cũng có những nghi lễ riêng và nghi lễ nào cũng tốt nếu người thực hành thành tâm.

- Như vậy nghi lễ rửa tội trước khi chết có ích lợi gì không ?

- Một số người tin rằng, hạnh phúc vĩnh cữu của con người tùy thuộc tâm trạng y lúc từ trần. Nếu lúc đó y tin rằng mình được cứu rỗi thì như được một vé phi cơ lên thiên đàng, còn không y sẽ xuống địa ngục. Điều này gây nhiều sợ hãi, lo âu vô ích. Nếu một người chết thình lình thì sao? Phải chăng họ sẽ xuống địa ngục ? Nếu một tín đồ hết sức ngoan đạo nhưng chết ngoài trận mạc thì sao ? Họ đâu được hưởng nghi lễ rửa tội ? Sự chuẩn bị hữu hiệu nhất là có một đời sống thanh cao, nếu ta đã có một đời sống cao đẹp, thì tâm trạng khi chết không quan trọng. Trái lại, ta không thể ao ước một tương lai tốt đẹp dù tang lễ được cử hành bằng các nghi lễ to lớn, linh đình nhất. Dù sao, tư tưởng chót trước khi lìa đời cũng rất hữu ích cho cuộc sống mới bên kia cửa tử . Nó giúp vong linh tỉnh táo, dễ thích hợp với hoàn cảnh mới hơn. Một cái chết thoải mái, ung dung phải hơn một cái chết quằn quại, chết không nhắm mắt được. Theo tôi thì sự hiểu biết về cõi vô hình, sự chuẩn bị cho cái chết là điều hết sức quan trọng, cần được phổ biến rộng rãi, nhưng tiếc là ít ai chú ý đến việc này.

- Vậy theo ông, chúng ta cần có thái độ gì ?

- Đối với người Âu tây, đời sống bắt đầu khi lọt lòng mẹ, và chấm dứt lúc chết, đó là một quan niệm cần thay đổi. Đời sống cõi trần chỉ là một phần nhỏ của chu kỳ kiếp sống. Chu kỳ này được biểu hiện bằng một vòng tròn mà sự sống và chết là những nhịp cầu chuyển tiếp giữa hai cõi âm, dương, giữa thế giới hữu hình và vô hình. Trên con đường tiến hoá, còn hằng ha sa số các chu ký, các kiếp sống cho mỗi cá nhân. Linh hồn từ cõi thượng giới cũng phải qua cõi trung giới. Phần ở cõi trần chỉ là một phẩn nhỏ của một kiếp sống mà thôi. Trong chu kỳ này, phần quan trọng ở chỗ vòng tròn tiến sâu vào cõi trần và bắt đầu chuyển ngược trở lên, đó là lúc linh hồn hết tha thiết với vật chất, mà có ý hướng về tâm linh. Các cổ thư đã vạch ra một đời sống ở cõi trần như sau : 25 năm đầu để học hỏi, 25 năm sau để lo cho gia đình, đây là giai đoạn tiến sâu vào trần thế, 25 năm sau nữa phải từ bỏ việc đời để lo cho tâm linh, đó là thời điểm quan trọng để đi ngược lên, hướng về tâm linh, và 25 năm sau chót phải từ bỏ tất cả, chỉ tham thiền, quán tưởng ở nơi rừng sâu, núi thẳm. Đối với người Á châu thì 50 tuổi là lúc từ bỏ vật chất để hướng về tâm linh, nhưng người Âu châu lại khác, họ ham mê làm việc đến độ mù quáng, cho đến già vẫn tranh đấu hết sức vất vả, cho dục vọng, cho bản ngã, cho sự sống còn, cho sự thụ hưởng . Do đó, đa số mất quân bình và khi chết hay gặp các nghịch cảnh không tốt. Theo ý tôi, chính vì sự thiếu hiểu biết về cõi âm nên con người gây nhiều tai hại ở cõi trần. Chính vì không nhìn rõ mọi sự một cách tổng quát, nên họ mới gây lầm lỗi, chứ nếu biết tỷ lệ đời sống cõi trần đối với toàn kiếp người, thì không ai dồn sức để chỉ lo cho 1/3 kiếp sống, mà sao lãng các cõi trên. Nếu con người hiểu rằng quãng đời ở cõi trần rất ngắn ngủi, đối với trọn kiếp người và đời sống các cõi khác còn gần với chân lý, sự thật hơn thì có thể họ đã hành động khác đi chăng ? Có lẽ vì quá tin tưởng vào giác quan phàm tục, nên đa số coi thế giới hư ảo này là thật và cõi khác là không có…

- Nhưng nếu ông cho rằng các cõi kia còn gần với sự thật hơn, thì tại sao ta lại kéo lê kiếp sống thừa ở cõi trần làm gì ? Tại sao không rũ nhau đi sang cõi khác có tốt hơn không ?

Hamud mỉm cười :

- Tuy cõi trần hư ảo, nhưng nó có những lợi ích của nó, vì con người chỉ có thể tìm hiểu, và phát triển xuyên qua các rung động thô thiển này thôi. Cõi trần có các bài học mà ta không tìm thấy ở đâu khác. Chính các bậc chân tiên, bồ tát trước khi đắc quả vị đều phải chuyển kiếp xuống trần, làm các công việc vĩ đại như một thử thách cuối cùng. Muốn khai mở quyền năng, con người phải tiếp nhận các bài học ở cõi trần, nhờ học hỏi những bài học này, họ mới trở nên nhạy cảm với các rung động ở cõi trên.
_________________

Bài này được trích từ cuốn Hành Trình Về Phương Đông nổi tiếng thế giới của các học giả Anh

S/T Net

Hạ Vi  
#220 Posted : Wednesday, June 15, 2011 6:00:27 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,544
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10696 time(s) in 2628 post(s)

UserPostedImage


Hoa Phượng

Tác giả: Tuệ Chương Hoàng Long Hải



Hoa phượng nở về mùa hè. Khi ve kêu thì cũng là lúc hoa phượng nở nên hai thứ nầy, ve và hoa phượng là biểu tượng của mùa hè. Cũng vì đặc tính đó, hoa phượng và ve sầu rất gần gủi với học sinh. Khi ve bắt đầu kêu và hoa phượng chớm nở trên cành là lúc bọn học trò chuẩn bị cho các kỳ thi và nghỉ hè.

Hồi trước, nền giáo dục Việt Nam chịu ảnh hưởng Pháp nên mỗi năm có rất nhiều kỳ thi: Thi tiểu học, thi trung học đệ nhất cấp, tú tài 1, tú tài 2. Ngoại trừ thi tiểu học, các kỳ thi khác được tổ chức hai lần trong một năm: đầu hè, cuối hè, nên học trò rất bận rộn. Khi nghe ve kêu, khi thấy hoa phượng nở là thấy lòng xao xuyến lẫn lo âu: Xao xuyến vì nghỉ hè, xa trường, xa thầy cô, xa bạn bè, lo âu vì thi cử đã gần kề. Những nỗi xao xuyến và lo âu ấy, dĩ nhiên, được thể hiện trong văn chương học trò; không những ở học trò mà ngay cả trong lòng những người đã bỏ trường học và bạn bè lại sau lưng.


Ở Huế, như tôi viết trong bài ve sầu, ve đã nhiều mà hoa phượng thì cũng không ít. Nếu có một ngày hè nào đó, dĩ nhiên vào mùa hè, đi ngang cầu Trường Tiền, nhìn ngược lên phía Tây, hướng chùa Linh Mụ, cồn Giã Viên, người ta bỗng thấy hoa phượng nở đỏ cả hai bờ sông Hương, bên phía Thương Bạc hay bên phía bệnh viện Huế cũng vậy. Dọc theo hai bờ sông, từ thời Tây còn đô hộ, Tây đã cho trồng hai hàng phượng. Cây phượng cao, cành lớn. Hoa phượng nở, trước khi phượng ra lá. Lá chỉ mọc đầy sau khi hoa phượng đã kết trái. Hoa phương đỏ như màu lửa, rực rỡ cả hai bờ sông, làm cho người ta phải chú ý, trầm trồ khen ngợi vì cái vẻ đẹp rực rỡ của nó.

Hoa phượng đỏ như lửa nên người Pháp gọi phượng là flamboyant. Trong tiếng Pháp, flamboyant cũng có nghĩa là sáng chói, sáng rực, sáng ngời, sáng quắc, lòe loẹt, rực rỡ. Tất cả các định nghĩa ở trên cũng có nghĩa là màu sắc của hoa phượng. Kể ra, tạo hóa không những vừa nhiệm mầu mà lại còn nhân đạo. Giả tỉ màu trời, màu nước sông không xanh mà đỏ chói, cây lá không xanh mà toàn màu lửa thì chói mắt ngươi biết bao nhiêu! Màu xanh là màu dịu, làm cho mắt người ta dịu lại, thoải mái khi nhìn trời, nhìn sông, nhìn cây, lá. Tuy vậy, trong màu xanh mênh mông của nước, của trời, của cây lá, bỗng hiện lên hai hàng phượng đỏ, nổi bật trên nền xanh. Sự tương phản của màu, giữa xanh và đỏ làm cho người ta chú ý, thích thú. Cái đẹp của phượng là ở màu đỏ và cũng ở chính sự tương phản của màu sắc vậy.



UserPostedImage



Thành phố Huế có hai khu vực: Khu thành cổ ở tả ngạn tức là khu hoàng thành, với đại nội, chợ Đông Ba, phố Gia Hội, gồm cả Ngự Viên cũ. Khu phố mới, tức là phố Tây, - theo cách gọi hồi xưa - tức hữu ngạn, gồm Morin, bệnh viện Huế, các trường học, Ga Huế, Nam Giao, Bến Ngự, cung An Định, An cựu, v.v… Phú Cam, hay tên trên giấy tờ là làng Phước Quả, không thuộc địa giới thành phố Huế mà thuộc quận Hương Thủy. Dĩ nhiên - tại sao gọi là dĩ nhiên, tôi sẽ phân giải ở phần sau -, khu phố mới, ngoài những cây đoác, - cây cọ Tây - người ta trồng phượng hai bên đường, nhất là con đường bờ sông, tức là đường Lê Lợi, từ đầu cầu Trường Tiền lên tới Ga Huế. Hai bên bờ sông Hương có nhiều vườn hoa: Từ chân cầu Trường Tiền lên tới Thương Bạc, Phú Văn Lâu hay cả Vườn Ương Cây trước của Nhà Đồ (Sau nầy gọi là cửa Sập vì cửa Nhà Đồ bị sâp trong trận lụt lớn năm 1953 -) là những vườn hoa. Bên kia sông, từ Câu Lạc Bộ Thể Dục Thể Thao trở lên cho đến sân bóng tròn Trường Quốc Học, kế Đài Kỷ Niệm cũng là những vườn hoa. Bên nầy cũng như bên kia, cuối vườn hoa, sát bờ sông là một hàng cây phương dài. Khi hoa phượng nở, không những ở hai hàng hai bên đường mà còn sát bờ sông là hàng phượng thứ ba hoa nở rộ thành ra nhìn thấy một màu hoa lửa, rực rỡ cả một khung trời. Trong thành nội, ngày trước, phần nhiều người ta trồng nhãn hay mù u. Tuy nhiên, cũng có vài đọan đường, như con đường đi ngang cửa Ngọ Môn, song song với đường Cột Cờ, không trồng mù u hay nhãn mà lại trồng phượng. Cũng dĩ nhiên, trong hầu hết sân các trường học, đều trồng phượng; - ngoại trừ Quốc Tử Giám, sau nầy là trường Hàm Nghi (trước 1975). Các trường học nầy được dựng nên sau khi Tây đã đô hộ nước ta rồi.

Hình ảnh hoa phượng nở đỏ hai bên bờ sông, trong sân trường, v.v… làm cho người Huế, học trò Huế và cả những người đến Huế vì một lý do nào đó, trong dịp hè, không thể không có những ý tưởng, xúc cảm, viết vài câu thơ về hoa phượng.

Anh “học trò Duy Khánh”, có lẽ cũng đã “trồng cây si” một hoa khôi học trò nào đó nên than vãn rằng 3 tháng hè dài như một thế kỷ:

“Rồi chiều nay Hè trở lại đây. Phượng thắm rơi Phượng thắm rơi đầy, Lại cách xa nhau chín mươi ngày. Hay là một thế kỷ dài.”

Trần Trung Đạo cũng vậy, nhà thơ viết: ..

Ta, học trò dù chẳng phải ra thi
Và em, đẹp như vầng trăng quê cũ
Chiều sông Hương, đêm Nam Giao không ngủ
Một gả làm thơ, nhút nhát, si tình
Huế u trầm và khó hiểu như em
Huế nhẫn nhục trong trăm ngàn nỗi khổ
Ta ghé Huế mỗi mùa hè phượng nở
Để nghe tình vương vấn buổi về thăm
(Một Chút Tình Cho Huế)


Trần Trung Đạo cố phủ nhận việc ông đến Huế không phải để đi thi, vì dân Quảng Nam đến Huế để đi thi thường bị chê:

Học trò trong Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế chân đi không rời.


Tuy nói vậy, Trần Trung Đạo cũng không thể thoát khỏi lưới tình khi nhà thơ viết: “Và em, đẹp như vầng trăng quê cũ” để cho ông có những đêm không ngủ vì… si tình. Trần Trung Đạo là lớp sau.


Lớp trước, mà cũng là người “cõi trên”, như Bùi Giáng, cũng không ra ngoài hình ảnh hoa phượng và tình yêu, cũng không thoát khỏi vòng tục lụy:


Rập rờn đầu liễu xanh buông
Mùa trăng nước đẩy xô buồn đi xa
Trang hồng kim rải ra hoa
Trổ bông mùa phượng cũ đà hồ phai
Tơi bời ngọc trắng măng mai
Khuynh thành sắc nọ đưa vai nghiêng về.
(Mùa Phượng Cũ – Bùi Giáng)..


Có lẽ cũng thấy cảnh sắc như tôi nói ở trên nên Bảo Cường viết trong bài thơ Nhớ Mùa Phượng Cũ:

Ta nhớ mùa hoa phượng
Màu hoa đỏ thắm đường
Hàng cây buồn lặng sóng
Sóng sánh bờ sông Hương
Thành quách sao ngủ vùi?
Phố cũ nhớ khôn nguôi
Người đi mờ năm tháng
Một cánh chim cuối trời.



Cũng một “tình cảnh” như thế, có anh “thi sĩ học trò” viết:


Hoa phượng vĩ cười trong nắng hạ.
Tuổi học trò tấc dạ bâng khuâng
Ngày qua ta tiếc mùa xuân
Hạ về chia rẽ tình thân tuổi ngà
(Hoa Sơn)


Hoài Châu, cũng không khác mấy với “bọn học trò”, đi thơ thẩn dưới nắng hè, để nhớ một khung trời, nhớ tiếng ve kêu và nhớ những cành hoa phượng


Tôi đi thơ thẩn dưới nắng hè,
Bỗng dưng nghe nhớ Phượng sắt se,
Ngày ấy một khung trời kỷ niệm,
Quê hương buồn rộn rã tiếng ve.
Tôi nhớ khi xưa ở quê nhà,
Cách trường tôi học chẳng bao xa,
Có cây Phượng vỹ còn xanh lá,
Một buổi hè về chớm nở hoa.
Thằng tôi ngày hai buổi đi về,
Hay dừng chân ngắm Phượng si mê,
Để có nhiều đêm tôi mơ thấy,
Phượng cười xao xuyến cả giấc mê.


Những ý tưởng về phượng của Trần Trung Đạo, Bảo Cường và Hoài Châu cũng tương tự như Luân Hoán trong bài thơ “Trong Sân Trường Bữa Ấy”. Tuy nhiên ở đây không phải là hoa phượng mà lai là gốc phượng. Mùa đông, hoa phượng đã tàn nhưng má thì vẫn hồng như hoa phượng. Tác giả nầy viết:

em có nhớ trong sân trường bữa ấy
giờ ra chơi em phơi nắng chiều đông
gió bấc khô làm đôi má se hồng
cùng chúng bạn em ngồi quanh gốc phượng
(Luân Hoán)


UserPostedImage


Ông “học trò già Kiên Giang” có khác đi chăng?! Không hẵn, khi tác giả mơ một mái tóc thề, không thể không nhớ màu hoa phượng:

Cuối tháng, thầy vô trường võ bị
Xa rời Đồng Khánh, học trò yêu
Xa rời Bến Ngự sông An Cựu
Nắng đục, mưa trong lắng tiếng chiều
Thầy sắp đi xa trò ở lại
Mùa hoa phượng cũ úa phai rồi
Cổng trường bỗng biến thành ga nhỏ
Trò tiễn thầy đi, ai ngậm ngùi
(Tóc Thề Xứ Huế)



Ve sầu, phượng đỏ, ly biệt là tâm tư của học trò nam nữ khi “Hè về, hè về, tiếng ca nhịp phách lên khơi” như trong bài hát của Hùng Lân. Trong ba mươi năm chinh chiến, nỗi ly biệt của thầy trò thắm thiết hơn, đau đớn hơn, đậm mùi… thuốc súng hơn và không thiếu vĩnh biệt: Thầy đi không về, và cũng lắm khi trò đi cũng không về. Ai cũng thấy, cũng biết và chấp nhận “Quốc gia hưng vong…”

Huế của các O, có nhiều phượng, hoa phượng nở vào mùa hạ. Điều đó được thể hiện qua thơ của Tiều Phu:

Huế của O.
Phượng đỏ hồng lửa Hạ
Hương Giang cươì.
vụn vỡ nhịp chèo khua
nắng chờ O.
vương vãi chuổi hạt ngà
rụng lốm đốm
hoa vàng nền cỏ lụa…
(Tiều Phu)


Tôi Tìm Huế
tôi ở đâu rơi về gốc Huế
mười năm có lẽ buồn vui
một vợ hai con có bia hộ khẩu
có một làng quê mong ngóng phía mặt trời
mà sao tôi chẳng là tôi
khi hèn mọn đánh rơi mình vào quên lãng
tôi tìm tôi lang thang
đêm nào lả chả trăng như nước mắt
trầm ngâm tôi với Ngự Bình
trước mộ đứa con trai thiếu tháng
cháu là người ngoài cuộc đời
chỉ được nhìn Huế năm ngày qua lồng kính
tôi tìm tôi khuya khoắt
lập lòe lửa nhang góc phượng sương mờ
nhấp nháy hoài như mắt cây mắt gió
bên những người xe thồ xích lô gác chân lên trời nằm đợi khách
khẽ hát về “Đêm Tàn Bến Ngự”…
vâng cho đến khi tàn đêm tôi mới gặp được lời của phố
nỉ non vệ cỏ bên đường
tôi tìm tôi lửa đốt
chiều nào mỏi rời chân đứng chờ vợ đẻ
cửa hạnh phúc đầy tiếng rên la
bắt chước ai tôi cắm nén nhang bên gốc xà cừ
Ngô Minh



Ngô Minh tự nhân không phải là người Huế, nhưng do đời đưa đẩy về đây, sau 1975? Ở đó, kẻ ly hương đi lang thang, lã chã trăng với nước mắt, trầm ngâm với Ngự Bình, hát khẽ với “Đêm Tàn Bến Ngự” và tìm tới những gốc phượng, lập lòe với ngọn lửa nhang (hương) trên tay. Ông đi thắp nhang cho những ngôi mộ nhỏ, nơi chôn những bào thai sinh thiếu tháng. Ông quả có nhận xét tinh tế. Huế không thiếu những “nghĩa trang” nhỏ như thế ở vườn hoa cây đoác bên hông bệnh viện Huế. Hay có khi gọi là “mả ông trạng” ở đường Trung Bộ....Huế, sau 1975, không thiếu những gian khổ, đói khát và đau buồn. Tế Hanh nhìn hoa phượng theo một nhãn quan đặc biệt và kỳ lạ hơn:


Lưu ly chất ngọc đọng màu bông
Cành rực hừng theo trận gió nồng
Ơi phượng! ngươi là cây đuốc sáng
Đất đầy tin tưởng vọng lên không.
Đốt cháy bao la sáng mặt trời,
Linh hồn mùa hạ hiện thân ơi!
Đời người kết tụ bao nhiêu nắng?
Trưa chói chang cao, lửa rạng ngời
Phung phí tình yêu quá mức thường
Sống thời hoàng tử, chết quân vương
Nguy nga cây nở bừng son thắm
Lộng lẫy hoa rơi sắc ngợp đường.
Ta đứng trên cao gió lộng bày
Ngọn đèn tâm tưởng đảo điên lay
Cầu ngươi hỡi Phượng tươi như máu
Dâng sáng linh hồn cánh dợn bay.
(Phượng - Tế Hanh)1944



Ông gọi phượng là ngọc lưu ly, là lửa, là tươi như màu máu, là cây đuốc sáng, là niềm tin tưởng, là ánh sáng mặt trời, là linh hồn mùa hạ, là nắng hạ kết tinh, là lộng lẫy màu son thắm. Ông yêu phượng và dâng cả linh hồn cho cánh phượng muốn bay. Chỗ nầy cần đặt một dấu hỏi: Có phải nhà thơ yêu một người có màu má đỏ như phượng, hay yêu một người tên phượng. Câu trả lời sẽ có sau!


UserPostedImage



Hình như Xuân Diệu có một mối tình nào đó với phượng. Mối tình của một người rời xa sân trường đã mười năm hay với một người tên phượng cũng đã mười năm. Dĩ nhiên, với tình đó, ông ca ngợi màu hoa phượng “hồng trên một cõi”, như muôn tiếng đàn cùng gảy, trong ánh sáng vòi vọi của không gian. Dù mùa hè đang vui, màu sắc hoa phượng rực rỡ, dưới con mắt Xuân Diệu, vẫn có một chút buồn nào đó trong khoảng cách thời gian “mười năm”, cùng với nỗi nhớ “mười năm” và “hiu hắt gió mười năm”.


Phượng trong sáng nảy hồng trên một cõi
Như muôn đàn cùng gảy dưới máy cao
Ánh sáng trùm trong không gian vòi vọi
Tấc lòng hè kiều diễm hoá li tao
Biển bướm đỏ rào rào trong gió mát
Lá non xanh như suối chảy trên trời
Phượng, phượng hỡi, cớ sao mà man mác
Mỗi mùa hè run rẩy dưới triều môi
Xanh đã ngủ ở dưới trời yên tĩnh;
Đỏ còn ngân trong tiếng nói dịu dàng;
Ta mơ màng thấy gió đang sóng sánh,
Trống sân trường văng vẳng đánh - mười năm.
Mười năm phượng, phượng huy hoàng vẫn phượng
Áo trắng trong ngày tháng phất phơ soi
Ta cùng mình như cành cây riết quấn
Vương lòng nhau ràng rịt biết bao đời
Phượng mười năm…. hiu hắt gió mười năm
Yêu mười năm…. nhớ muôn thuở…. mười năm
(Phượng Mười Năm - Xuân Diệu) ..



Không riêng gì Huế mới có nhiều phượng. Nhiều thành phố khác ở Việt Nam, kể từ sau khi Tây cai trị, có trồng nhiều phượng. Hải Phòng được mệnh danh là “Thành phố hoa phượng đỏ” và Hà Nội thì, như Tạ Tỵ bày tỏ nỗi nhớ trong bài “Thương về năm cửa ô xưa”:

Cầu Giấy đường hoa phượng vỹ
Nhớ thương biết mấy cho vừa.


Phượng là tên hoa mà cũng là tên người. Người ta yêu hoa phượng và cũng yêu người tên phượng, gọi phượng là “Phượng yêu” như tên một bài hát của Phạm Duy. Tác giả Hoàng Thụy thì cho rằng “Tên em chói chang” như màu hoa phượng?


Em là hoa phượng
Sao em chỉ nở
Một lần năm xưa?
Cánh hồng tuổi thơ
Nhuộm anh nỗi nhớ
Sắc hè chói chang…
Hoa phượng vẫn nở
Mỗi bận hè sang
Mùa sau mùa trước
Sắc hè chói chang…
Nhưng người đâu thấy?
Sắc hoa đang cháy
Trên bầu trời xanh!



Hương Xuân cũng cùng một tâm trạng, nhưng phượng của Hương Xuân là phượng của Saigon: ..Sài Gòn đó với chùm hoa phượng vĩ

Thật lâu rồi mà sao vẫn chưa quên
Để trong em còn mãi những muộn phiền
Ngày tháng cũ, hồn nhiên tà áo trắng
(Chùm Phượng Vĩ)


Dĩ nhiên, một nhà thơ được người đời mệnh danh là thi bá, thơ ông cũng không thể vắng bóng phượng, nhưng phượng của ông là “Phượng nở đêm nào cặp má khanh.” (Thu có nguyệt)

Du Tử Lê cũng một thời đi “theo trời hoa phượng xưa” và rồi “mộng vữa”. Lê Du Tử trách mình hay trách người cho sự tan vỡ ấy?

người đã vì ta tan ước mơ
phấn son chưa ngát thịt da ngà
môi non đã lỡ tình đau đớn
mộng vữa theo trời hoa phượng xưa
(Tình Sầu Du Tử Lê)


Người ta nói tới hoa phượng là để nói tới mùa hè. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông lại chờ tới mùa thu, khi hoa phương không còn thì than vãn cùng thu rằng nhớ màu hoa phượng quá, nhớ tới phượng rơi trên tóc, sắc đỏ hoa phượng như màu đỏ của pháo của một buổi chiều nào đó, tiễn em ra đi!

Hoa phượng rơi đón mùa thu tới
Màu lưu luyến nhớ quá thu ơi
Ngàn phượng rơi bay vương tóc tôi
Sắc tươi màu pháo vui
tiễn em chiều năm ấy
(Nguyễn văn Đông)



Người ta nói tới hoa phượng, Nhã Ca khác hơn, khác ở chỗ nói tới trái phượng hơn là hoa. Hoa phượng không ăn được, trái phượng có hột, hột phượng ăn thì… ngon

Quả phượng vừa khô trên nhánh cao
Cây vừa hiu quạnh cổng trường sâu
Tôi về ngó lại thời con gái
Thành phố già nua những gốc sầu


Cũng không hẵn Nhã Ca ưa ăn hột phượng. Nhã Ca tìm thấy những trái phượng khô trên cành cao, như những khô héo trong cuộc đời của một đời con gái, tìm lại những khô héo ấy, trong cổng trường sâu - Cụ thể là trường Đồng Khánh, một thời Nhã Ca làm học trò ở đó. Có lẽ vậy - Một ngôi trường cổ, trong một thành phố già nua. Trái với các nhà thơ khác, phượng trong thơ Nhã Ca man mác những nỗi buồn của đời, của một thời, không oán trách ai, hờn giận ai như trong thơ Du Tử Lê. .

Vậy là các nhà thơ đã nói hết những gì về hoa phượng. Tôi còn chi để nói. Tôi bèn tìm trong tự điển, xem thử sách có nói gì về loài hoa nầy, cây nầy chăng.


Tự điển “Wikipedia toàn thư” giải thích cây phượng như sau:

“Nguồn gốc, đặc điểm“ Phượng vĩ được miêu tả như là loài cây nhiều màu sắc nhất trên thế giới. Các bông hoa màu đỏ/da cam rực rỡ của nó cũng như các lá màu xanh lục sáng làm cho nó rất dễ nhận thấy.“Phượng vĩ có nguồn gốc từ Madagascar, tại đó người ta tìm thấy nó trong các cánh rừng ở miền tây Malagasy. Trong điều kiện hoang dã, nó là loài đang nguy cấp, nhưng nó được con người trồng ở rất nhiều nơi. Ngoài giá trị là cây cảnh, nó còn có tác dụng như một loài cây tạo bóng râm trong điều kiện nhiệt đới, do thông thường nó có thể cao tới một độ cao vừa phải (khoảng 5 m, mặc dù đôi khi có thể cao tới 12 m) nhưng có tán lá tỏa rộng và các tán lá dày dặc của nó tạo ra những bóng mát. Trong những khu vực với mùa khô rõ nét thì nó rụng lá trong thời kỳ khô hạn, nhưng ở những khu vực khác thì nó là loài cây thường xanh.

Các hoa của phượng vĩ lớn, với 4 cánh hoa tỏa rộng màu đỏ tươi hay đỏ-da cam, dài tới 8 cm, còn cánh hoa thứ năm mọc thẳng, cánh hoa này lớn hơn một chút so với 4 cánh kia và lốm đốm màu trắng/vàng. Thứ flavida nguồn gốc tự nhiên có hoa màu vàng (kim phượng). Quả là loại quả đậu có màu nâu sẫm khi chín, dài tới 60 cm và rộng khoảng 5 cm; tuy nhiên, các hạt riêng rẽ lại nhỏ và cân nặng trung bình chỉ khoảng 0,4 g, hạt to cỡ hai ngón tay út, hạt ăn rất bùi và ngon. Các lá phức có bề ngoài giống như lông chim và có màu lục sáng, nhạt đặc trưng. Nó là loại lá phức lông chim kép: Mỗi lá dài khoảng 30-50 cm và có từ 20 đến 40 cặp lá chét sơ cấp hay lá chét lông chim lớn, và mỗi lá chét lông chim lớn lại được chia tiếp thành 10-20 cặp lá chét thứ cấp hay lá chét con. Phượng vĩ cần khí hậu nhiệt đới hay cận nhiệt đới để phát triển tốt, nhưng nó có thể chịu được các điều kiện khô hạn và đất mặn.

“Khu vực trồng“ Phượng vĩ được trồng khá phổ biến tại khu vực Caribe.Tại Hoa Kỳ, nó được trồng ở khu vực Florida, thung lũng Rio Grande ở miền nam Texas, các sa mạc ở Arizona (đến tận Tucson) và California, Hawaii, Puerto Rico, quần đảo Virgin và Guam. Nó là loài cây biểu tượng chính thức của quần đảo Bắc MarianaPhượng vĩ được coi là đã thích nghi với thủy thổ ở nhiều khu vực mà người ta trồng nó, và bị coi là loài xâm hại tại Australia, một phần là do các bóng râm cũng như bộ rễ của nó đã ngăn cản sự phát triển của nhiều loài thực vật bản địa mọc dưới tán lá của nó. Nó cũng được tìm thấy tại Ấn Độ, tại đây người ta gọi nó là gulmohar, hay tại Việt Nam. “Quả phượng vĩ được sử dụng tại khu vực Caribe trong vai trò của bộ gõ âm nhạc với tên gọi shak-shak hay maraca. “Mùa nở hoa“ Phượng vĩ nở hoa từ khoảng tháng 4 đến tháng 6, tùy theo khu vực.

“Ý nghiã tên“ Tên “phượng vĩ” là chữ ghép Hán Việt – “Phượng Vỹ” có nghĩa là đuôi của con chim phượng. Đây có thể là một hình thức đặt tên gọi theo cảm xúc vì các lá phượng vỹ nhất là các lá non trông giống như hình vẽ đuôi của loài chim phượng.



UserPostedImage




Tại Việt Nam, phượng vĩ là biểu tượng gắn liền với tuổi học trò, do mùa nở hoa của nó trùng với thời điểm kết thúc năm học, mùa chia tay của nhiều thế hệ học trò. Do vậy, nó gắn liền với nhiều kỷ niệm buồn vui của tuổi học trò, và vì thế người ta gắn cho nó tên gọi “hoa học trò”. Thành phố Hải Phòng là khu vực trồng rất nhiều phượng vĩ, vì thế thành phố này còn được gọi một cách văn chương là “thành phố Hoa Phượng Đỏ”. Nhà thơ Thanh Tùng có bài thơ Thời hoa đỏ đã được nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc thành bài hát cùng tên, viết về những kỷ niệm của tuổi trẻ với mùa hoa phượng vĩ.”

Thật ra, theo tôi biết, có hai loại hoa phượng khác nhau chút ít: Một thứ, như trình bày ở trên, thường gọi nôm là phượng. Phượng vĩ là tên thường thấy trong văn chương. Tên phượng tây cũng vậy. Thật ra, thông thường, người ta hiểu đây là phượng ta, đối nghịch với cách gọi trong phần giải thích nói trên. Phượng tây là tiếng dùng để gọi một loại phượng khác, loại nầy cao chỉ mới quá đầu người. Chỉ cần đứng trên ghế là người lớn tuổi có thể hái được những chùm hoa trên ngọn cây. Đây cũng là loài cây mộc, nhưng cành và thân nhỏ, bông cũng mọc chùm, hình dáng như bông lau, cánh hoa màu đỏ, viền vàng. Những bông hoa phía trong thì đã nở trong khi những bông hoa đầu ngọn còn búp. Loại phượng nầy thường được trồng trong sân các đình, chùa, miếu, vũ để lấy hoa chưng trên bàn thờ; có khi cũng được trồng trong công viên.

Trước 1945, khi tôi còn nhỏ, tôi đã theo người anh cả, qua “Nhà Giây Thép” xin ít cánh hoa về để bố tôi chưng trên bàn thờ. Đây cũng là loại hoa thường được gọi là “bông cúng” - cúng bái. Tuy nhiên, loại nầy không phổ biến như hoa phượng.

Trong một cuốn sách của ông Nguyễn Tường Bách, người gốc Huế, cũng cho biết rằng loài phượng vĩ gốc gác từ Madagascar. Pháp đô hộ Madagascar trước, sau đó tới các nước Đông Dương. Khi người Pháp bắt đầu xây dựng những thành phố mới ở Việt Nam hay chỉnh trang, phát triển những thành phố đã có từ trước khi họ đến Việt Nam, có lẽ họ đã cho nhập giống phượng từ Madagascar qua Việt Nam để trồng và làm đẹp các đường phố, các trường học, công sở, công viên ,v.v…Thành phố Huế chẳng hạn. Ở khu phố Tây là phố mới, có nghĩa là được xây dựng sau khi Tây đã đô hộ, thì hầu hết các đường phố ở khu vực nầy được trồng phượng hai bên đường, bên bờ sông, bên cạnh những cây đoác hay cây chuối Tây cũng là loại cây được “nhập cảng.”

Ở khu phố cổ, - tả ngạn - phượng chỉ được trồng bên bờ sông, hoặc vài ba cây còn nhỏ trên đường ngang cửa Ngô Môn - song song với đường Cột Cờ, đoạn gần cửa Ngăn. Có lẽ đây là một sự “lạc giống” được sở Công Chánh trồng “bổ sung” khi một số cây cũ đã chết.
Trong thành nội Huế, dọc theo đường Hộ Thành - nay là đường Đinh Bộ Lĩnh -, khu vực cửa Hiển Nhơn, hầu hết trồng nhãn - nhãn lồng - đường Tam Tòa trồng mù u.Loại cây trồng ở Huế, trước khi Tây cai trị phần nhiều là thông, bàng và mù u. Người Huế có câu ca dao:


Văn Thánh trồng thông.
Võ Thánh trồng bàng
Ngó lên Xã Tắc hai hàng mù u.



Năm tôi học Đệ Tam với ông VĐH, môn Văn Chương Bình Dân, có đứa trong bọn chúng tôi thóc mách hỏi thầy tại sao Văn Thánh trông thông mà không trồng bàng, Xã Tắc lại trồng mù u? Ông thầy tôi không trả lời! Năm Đệ Nhị, học về Nguyễn Công Trứ, tôi nhớ đã học bài thơ sau đây của Nguyễn Công Trứ từ năm Đệ Tứ:

Kiếp sau xin chớ làm người,
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
Giữa trời vách đá cheo leo
Ai mà chịu rét thì trèo với thông.


Cụ Võ Liêm Sơn, một nhà cách mạng, “đồng chí” với cụ Phan Bội Châu, sau nhiều năm bị đày ra Côn Đảo, được tha về, dạy học ở trường Khải Định, có bài thơ “Ngắm Non Hồng”, có mấy câu kết như sau:

Vẫn cứ đinh ninh lời nguyện ước:
Bên mồ có mọc một cây thông
Để cho xương thịt máu vung trồng
Theo gió reo lên muôn khúc nhạc
Kêu vang chín chín ngọn non Hồng



Tôi không bàn về sự khác biệt tư tưởng giữa hai tác giả nầy: Một bi quan và một lạc quan, dù là ở “kiếp sau”, người đọc thấy rằng: Cây thông tượng trưng cho người quân tử vì thân thẳng và cao, như người quân tử chẳng bao giờ chịu oằn lưng vì danh lợi. Tấm lòng quân tử bao giờ cũng xanh, không đổi màu, không thay lòng. Tư tưởng đó gần gủi với văn hóa nên có phải vì vậy mà thông được trồng ở Văn Thánh, nơi thờ Khổng Tử và thất thập nhị hiền. Võ Thánh trồng bàng? Cây bàng gỗ cứng, chịu đựng được sức nặng, lại có tàng rộng, che nắng cho người. Có phải đó là tính chất của các võ tướng. Xã Tắc trồng mù u? (Xin độc giả xem bài sau: Hoa Mù u)


Về chữ phượng, “Bách Khoa Toàn Thư” còn giải thích thêm: “Chòm sao Phượng Hoàng," (tiếng La Tinh: Phoenix) là một trong 88 chòm sao hiện đại, mang hình ảnh chim phượng hoàng. “Đèo Phượng Hoàng“ Đèo Phượng Hoàng là con đèo nằm trên quốc lộ 26 đoạn giáp ranh giữa tỉnh Đăk Lăk với Khánh Hòa. Phượng, hay Phượng hoàng, Phụng, là một trong 4 tứ linh theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam và các nước Á Đông khác. Phượng có mỏ diều hâu dài, tóc trĩ, vẩy cá chép, móng chim ưng, đuôi công… Các bộ phận của phượng đều có ý nghĩa của nó: đầu đội công lý và đức hạnh, mắt tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng, lưng cõng bầu trời, cánh là gió, đuôi là tinh tú, lông là cây cỏ, chân là đất. Như vậy nó tượng trưng cho bầu trời, khi nó bay hoặc múa (phượng vũ) là tượng trưng cho sự hoạt động của vũ trụ. Vì thế phượng là hình tượng của thánh nhân, của hạnh phúc. Nếu rồng có yếu tố dương, tượng trưng cho vua chúa thì phượng lại có yếu tố âm nên tượng trưng cho hoàng hậu và người đàn bà đẹp.”


Trước khi có cây phượng, hoa phượng, nghĩa là trước khi Tây thực dân đem cây “phượng thực dân” từ Madagascar (Tội nghiệp cho cây phượng bị mang tiếng oan khi dính chùm với thực dân) thì ở nước ta chỉ có chim phượng, hay còn gọi là chim phượng hoàng. Chim trống gọi là hoàng, chim mái gọi là phượng. Gọi chung là phượng hoàng. Người Tàu có câu:

Phượng hề, phượng hề qui cố hương
Ngao du tứ hải cầu kỳ hoàng.


Con chim phượng trở về quê cũ (hề chỉ là tiếng đệm trong thơ cổ), sau khi ngao du khắp bốn biển để tìm con chim hoàng. Do ý nghĩa đó mà có bản đàn “Phượng cầu kỳ hoàng.”
Trong truyện Kiều, ở đoạn Kiều gảy đàn cho Kim Trọng nghe (Bản đàn thứ nhứt), cùng một ý như trên, Nguyễn Du viết:

“Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng!



Đời nhà Hán bên Tàu, có ông Tư Mã Tương Như gảy khúc “Phượng cầu kỳ hoàng” để ve vản người đẹp Trác Văn Quân. Nghe riết thành mê, Trác Văn Quân bỏ nhà, trốn theo Tư Mã. Ai bảo người xưa không lãng mạn và đa tình và không… quậy!!!???

Như thế, trước khi có “phượng thực dân”, nếu người Việt có ai tên phượng thì tên đó có nghĩa là con chim phượng. Từ khi Tây đem phượng qua trồng ở xứ ta, thì tên phượng có hai nghĩa: Một là con chim phượng, hai là hoa phượng. Nếu cô nào, bà nào có tên kép thì có thể là Kim Phượng, Túy Phượng, Bích Phượng, Ngọc Phượng, Hoàng phượng, Lạc Phượng. Bàng Thống trong truyện Tam Quốc, hiệu là Phượng Sồ, khi đi đánh giặc qua đồi Lạc Phượng thì tự biết mình tới lúc tiêu vong.

Người bây giờ đặt tên lung tung, chẳng có ý nghĩa gì cả, miễn nghe cho kêu, cho “rổn rảng” là được. Người xưa không thế. Tên chính hay tên đệm đều ý nghĩa phân minh. Ví dụ: Kim Phượng có hai nghĩa: Một là con chim phượng nhỏ (như kim cúc là loài hoa cúc nhỏ) họặc con phượng bằng vàng (Kim: vàng. Kim hoàn là tiệm vàng). Một tên nữa là Túy Phượng. Chữ túy có hai nghĩa: Túy là thuần một chất, như chữ thuần túy chẳng hạn. Hoặc túy là say rượu, như trong câu thơ “Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu” (Say rượu nằm ngủ ngoài sa trường, xin chàng đừng cười) hoặc trong câu đối của Nguyễn Công Trứ: “Sáng một một rượu say túy lúy, đưa tay bồng ông phúc vào nhà). Túy Phượng là thuần một chất và say đắm phượng. Vậy là yêu lắm đấy!!!! Thúy Phượng thì trật lất: Chim Thúy không ở với chim phượng được. Thúy là loài chim nhỏ, phượng là loài chim lớn, mỏ quắp, như diều hâu, ăn thịt. Thúy ở với phượng, phượng sẽ ăn thịt thúy. Ai đặt tên Thúy Phượng là sai! Ngọc Phượng là con phượng chim phượng bằng ngọc, cũng tương tự như bích phượng vậy. Bích là tên một loại ngọc. Bích cũng có nghĩa là bức tường. Bích phượng là phượng nở đỏ cả một ven sông như bức tường đỏ, như bức tường lửa, như trận Xích Bích trong Tam Quốc, Tôn Quyền đốt cháy thuyền của Tào Tháo trên sông Trường Giang cháy đỏ rực như một bức tường lửa vậy. Xích Bích dịch theo tiếng Anh là Fire wall, là bức tường lửa ngăn chận người Việt trong ngoài nước e-mail cho nhau. Tôi nói như vậy chắc đúng đấy. Quí vị nào còn nghi ngờ xin hỏi lại thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, chắc ăn hơn.

Trong bài thơ Nhã Ca, bà ta có nói tới trái phượng, nhưng không thấy nói tới việc ăn trái phượng. Trái phượng hình giống con dao chặt cây, dẹp và dài cở ba, bốn tấc tây. Khi trái phượng đã có hột, bọn trẻ chúng tôi thường hái xuống, đập dập hai cạnh cho dễ lột thành hai mảnh, lấy hột ăn. Hột mầm hơi ngọt, hai lá mầm lạt hơn. Trái phượng khi đã già thì đen. Khi có bão, vài cành phượng gãy xuống, người ta có thể hái trái về nấu lấy hột ăn vì lúc nầy hột đã già và cứng.

Gỗ phượng thuộc loại dỗm, không đóng bàn ghế hay dụng cụ được, chỉ để đun bếp mà thôi. Gỗ nầy không có than, nếu có thì cháy cũng không bền. Nói chung, không ai trồng phượng để lấy gỗ, chỉ là để có bóng mát và có bông đẹp khi hè tới mà thôi.



UserPostedImage




Tôi chưa từng thấy ở Việt Nam có phượng tím. Có lẽ tôi hơi quê chăng. Vì vậy, lần đầu tiên tới Nam Cali tôi thấy ở quận Cam có nhiều hoa phượng tím. Tôi hơi ngạc nhiên. Tôi không cho rằng phượng tím là đẹp mặc dù tôi vẫn thích màu tím hoa sim, hoa mua, hoa cà. Có phải tôi có định kiến hay chăng. Bởi vì cũng có không ít người khen phượng tím đẹp, hoặc nhìn phượng tím mà nhớ phượng đỏ như nhà thơ Nguyễn Nam An có mấy câu thơ tôi trích sau đây:


Phượng
Phượng ở công viên nở toàn hoa tím
Phượng xưa đỏ cành đã bỏ đi đâu
Phượng của tình tôi nhánh sầu tay hái
Phượng nay đường dài mình chẳng gặp nhau

Phượng ở Mỹ châu phượng sầu hoa tím
Trống vắng lòng xe trống vắng hiên che
Tháng sáu tôi thề khi đêm ra biển
Dầu sẽ như ve hết kiếp không về

hoặc:

Mùa Phượng Tím
Nắng Xuân ấm lung linh mời Hè đến
Gío giao mùa lay nhẹ cánh phượng yêu
Đẹp biết bao hoa tím dáng mỹ miều
Lòng rộn rã ôm chầm màu kỷ niệm



UserPostedImage




Massachusetts,một nơi không có hoa phượng!
hoànglonghải .





UserPostedImage
thanks 1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 7/19/2011(UTC)
Users browsing this topic
Guest
142 Pages«<910111213>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.