Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

144 Pages«<678910>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
thunder  
#141 Posted : Saturday, May 21, 2011 1:11:34 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

CHỮ “TÂM” TRONG THƠ VŨ HỐI


Bài Nói Chuyện Của Giáo Sư ĐÀM TRUNG PHÁP Trong Dạ Tiệc Mừng Nửa Thế Kỷ Văn Học Và Nghệ Thuật Vũ Hối Tại Westin Galleria Hotel, Dallas, Ngày 27-5-2007

Từ khi được gặp danh họa quốc tế Vũ Hối lần đầu trong Ngày Văn Hóa Quảng Đà tại Dallas vào mùa xuân 2003, lòng mến mộ của tôi dành cho Vũ quân mỗi ngày một thêm đậm đà. Các cụ ngày xưa thường nói “vô tri bất mộ” là thế, và nếu nói theo kiểu người Mỹ ngày nay thì “to know him is to love him.” Tôi ngưỡng mộ tài năng của Vũ quân bao nhiêu thì tôi cũng trân quý nhân cách và tấm lòng Vũ quân bấy nhiêu.

Quả thực, những điều dễ thương nhất về nhân sinh đều có thể tìm thấy được trong phong cách sống của Vũ quân. “Tứ hải giai huynh đệ” có lẽ nổi bật nhất. Vũ quân có nhiều bạn thân thiết như thể anh em ruột thịt trong nhà ở khắp mọi nơi, nhất là ở thành phố Dallas này. Sự hiện diện đông đảo của quan khách hôm nay chứng minh điều đó. Có nhiều anh em trong bốn bể thì cung “thiên di” trong tử vi của Vũ quân phải năng động lắm. Vài bạn trẻ đã giải thích với tôi một cách trìu mến trong vui đùa rằng: “Chú Vũ Hối ít đi du lịch lắm. Mỗi năm chỉ đi có hai lần thôi, và mỗi lần đi thì đi luôn sáu tháng!” Vũ quân đông anh em mọi nơi vì Vũ quân đôn hậu, khiêm cung, và nhất là vì chữ “tâm” viết bằng đại tự trong nhân cách Vũ quân.

Vũ quân đôn hậu và khiêm cung thực sự. Hai lần tôi được Vũ quân tặng sách, và trên trang đầu mỗi cuốn sách lộng lẫy làm quà văn nghệ đều được Vũ quân viết những lời đề tặng khả ái qua nét chữ rồng bay phượng múa. Tôi ngỏ lời tri ân thì Vũ quân chỉ khiêm cung từ chối và thì thầm “có gì đâu mà ơn với huệ, hả anh?” Nhà danh họa này cũng có quà tặng thư họa cho vô số bạn bè mà tôi quen biết, tất cả những món quà đó đều kèm theo những lời khen tặng chân thành từ trái tim hiền hòa như Phật của ông. Bản chất đôn hậu của Vũ quân cũng hiện lên trong các họa phẩm, cho nên các khuôn mặt phụ nữ trong các bức tranh “Ngây Thơ”, “Tình Mẫu Tử”, và “Thiếu Nữ và Bồ Câu Trắng” qua nét cọ của Vũ quân đều vừa đẹp vừa hiền một cách lạ kỳ!

Nhưng con người có trái tim Phật ấy cũng là một con người “uy vũ bất năng khuất” khi cần thiết. Trong trại tù cải tạo, vì nhất quyết không chịu khai báo, Vũ quân đã bị công an cộng sản tàn bạo tra tấn hỏng một con mắt. Lẽ thường, theo lời nhà văn William Butler Yeats (giải Nobel văn chương 1923) thì “Hy sinh lâu quá có thể biến trái tim thành đá” (“Too long a sacrifice can make a stone of the heart”). Nhưng trái tim Vũ Hối, dù đã hy sinh lâu ngày trong lao tù cộng sản, không hề biến thành chai đá và cũng không hề mang chút cay đắng nào. Thi nhân họ Vũ, nếu có buồn về đại họa nước mất nhà tan, thì cũng chỉ trách móc chung chung mà thôi, như đoạn sau đây trong bài “Bức Tranh Sông Núi”:

Trách ai tình nước như vôi
Thù nhà nợ nước buông trôi giữa dòng
Bỏ bao chiến hữu long đong
Bỏ hình chữ S đường cong quê mình

Hôm nay, trong buổi vinh danh một nhân tài đất nước, tôi xin nói đôi chút về chữ “tâm” trong thơ của Vũ Hối. Tôi lựa thơ để hầu chuyện quý vị vì tôi tin rằng trong thơ, tài năng và tâm can của thi nhân bộc lộ chân thành với nhiều sáng tạo hơn ở các thể loại văn chương khác, và cũng vì tôi tin rằng làm thơ và đọc thơ có thể thăng hoa đời sống tinh thần và đạo đức chúng ta.

Sau những đầy đọa nơi quê nhà, Vũ quân đã lấy lại được bình an tâm hồn tại xứ người và làm thơ tưởng nhớ cố hương. Nhiều câu lục bát ngọt ngào chứa chan tình tự dân tộc của ông khiến tôi nghĩ đến Tản Đà, một thi bá nặng tình non nước. Hai câu đầu và hai câu cuối trong bài thơ “Thề Non Nước” của Tản Đà thực tuyệt diệu:

Nước non nặng một lời thề,
Nước đi đi mãi không về cùng non

……….

Nghìn năm giao ước kết đôi,
Non non nước nước chưa nguôi lời thề

Ý nguyện giao ước muôn đời ấy cũng được Vũ Hối trang trọng viết lên để mở đầu cho bài “Bức Tranh Sông Núi”:

Núi sông còn mãi bên nhau,
Phải chăng núi thích lao xao vỗ về
Hay là sông núi muốn kề,
Để cho sông khỏi bốn bề quạnh hiu

Trong số những bài thơ đậm nét chữ “tâm” của Vũ quân, tôi chuộng nhất bài “Vòng Hoa Biển Mẹ” đã được đăng trong tạp chí Viên Giác số tháng 8 năm 1997 của Trung Tâm Văn Hóa Xã Hội Phật Giáo Việt Nam tại Đức Quốc. Đây là một bi khúc (elegy) có thể làm đứt ruột người nghe. Bi khúc này đã được người bạn văn nghệ đa tài Phan Đình Minh của tôi phổ nhạc, và lát nữa đây người bạn đời khả ái của Minh là ca sĩ Ánh Chi sẽ hát bản nhạc đó cho chúng ta cùng thưởng lãm.

Biển cả là một bối cảnh hùng vĩ và hiểm nguy trong văn chương nhân loại, như chúng ta đã thấy trong tiểu thuyết “The Old Man and the Sea” (“Ngư Ông và Biển Cả”) của Ernest Hemingway (giải Nobel văn chương 1954). Bi khúc lẫy lừng danh tiếng “Oceano Nox” (“Đêm Đại Dương”) do thi hào Victor Hugo viết năm 1840 có nội dung rất gần với bài thơ của Vũ quân, với sự khác biệt là những nạn nhân trong cuộc. Với Victor Hugo, đó là những “thủy thủ và thuyền trưởng” (“marins et capitaines”) trong các cuộc hải hành hạnh phúc nhưng bị mạng vong để lại bao sầu bi cho thân nhân, nhưng với Vũ quân đó là những “boat people” Việt Nam đau khổ, bắt buộc phải rời bỏ quê nhà, lênh đênh trên biển cả hiểm nguy trên đường đi tìm tự do. Đoạn đầu bài thơ bất hủ bằng tiếng Pháp ấy đã được dịch giả Đặng Trần Niết chuyển sang thơ Việt rất chỉnh như sau:

Ôi! Biết bao trưởng thuyền, thủy thủ,
Cuộc viễn hành vui thú ra khơi,
Xa xa buồn thảm chân trời
Tiêu tan thân thế thiệt đời nam nhi!
Ác nghiệt thay, khốn vì bạc phước
Biết bao người đáy nước mạng vong
Màn đen bao phủ mịt mùng
Thân vùi biển cả nghìn trùng đêm thâu.

Mới đây hơn, dùng Biển Đông như một biểu tượng cho “thủy mộ” của hàng vạn thuyền nhân Việt Nam xấu số, Viên Linh trong “Thủy Mộ Quan” xuất bản năm 1982 đã viết:

Đời sau vét biển Thái Bình Dương
Thợ lặn tìm ra vạn cốt xương
Hậu thế áng chừng ta động đất
Nền văn minh cổ cũng điêu tàn

Nhà thơ Vũ Hối của chúng ta đã đi xa hơn những lời thương xót trong các bài thơ vừa kể, vì trong “Vòng Hoa Biển Mẹ” Vũ quân đã cho thêm một hành động tuyệt luân vào – đó là khi nhà thơ “ngụp mặt vào biển mặn” mà “khóc người thương, vùi thây Biển Mẹ”! Độc giả sẽ thấy hiện lên trong bài thơ một hình ảnh cực kỳ xúc động của một nghệ sĩ cô đơn ra biển ba lần vào buổi chiều để chiêu niệm những vong hồn thuyền nhân mà thân xác chìm sâu đáy biển. Lần thứ nhất, chàng viết một bài thơ trên cát để rồi sóng biển xóa đi. Lần thứ hai chàng vẽ một vòng hoa trên cát để rồi sóng biển cũng xóa đi – luật “vô thường” là thế. Rồi lần thứ ba, người nghệ sĩ có trái tim Phật ấy ra biển để thực hiện một lễ nghi tôn giáo ngập tràn nước mắt. Chàng “ngụp mặt vào biển mặn” để hòa mình vào thủy mộ của các nạn nhân và nhờ hồn thiêng của biển cả chuyển dùm đi “lệ cho Người, lệ đổ khóc quê hương”.

Bài chiêu hồn ca đẫm lệ ấy của Vũ quân ngoài bố cục chặt chẽ và nhiều biểu tượng như vừa tả còn có sự sử dụng ngôn ngữ trong sáng, yếu tố tương phản (“biển đông người” tương phản với “sao tôi thấy quá lạc loài”), yếu tố nhân cách hóa từ bi khiến sóng nước lạnh lùng bỗng trở thành “Biển Mẹ” bao che, sự kiểm soát nhịp điệu cũng như chiều dài các câu trong bài thơ sao cho phù hợp với mức độ xúc cảm trong tim thi sĩ. Các câu ngắn nhất Vũ quân dành cho những tiếng nấc nghẹn ngào trong đoạn kết bài thơ:

Ôi! Đại dương hỡi!
Có linh thiêng xin gởi
Lệ cho Người
Lệ đổ khóc quê hương!

Như tôi đã nói bên trên, những điều dễ thương nhất về nhân sinh đều có thể tìm thấy được trong phong cách sống của Vũ quân. Để kết luận bài nói chuyện đêm nay, tôi xin thêm hai câu thơ trong phần cuối của Truyện Kiều dưới đây, vì tôi thấy chúng đúng là phương châm cuộc sống của Vũ quân:

Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài!

Thấm thía thay, vị đệ nhất thiên tài dân tộc Nguyễn Du mà còn đánh giá chữ “tâm” gấp bội chữ “tài”! Vũ quân ơi, có lẽ thi thánh Nguyễn Du từ nơi cửu tuyền đang mỉm cười với Vũ quân đấy!

Đàm Trung Pháp, Gs.

thunder  
#142 Posted : Saturday, May 21, 2011 2:24:54 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Di tích và danh thắng Nga Sơn


Thần Phù là một địa danh xưa, khá nổi tiếng. Đó là cửa sông Chính Đại đổ ra biển, nay thuộc địa bàn xã Yên Lâm, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Cửa này xưa có tên là Thần Đầu, đời Trần gọi là Thần Phù.

Cửa Thần Phù nổi tiếng trong lịch sử là là nơi linh thiêng, hiểm trở, luôn có sóng to gió lớn nguy hiểm, thường hay lật thuyền bè qua lại. Ai đi qua cũng phải cúng tế Thủy thần. Ca dao xưa có câu: “Lênh đênh qua cửa Thần Phù; Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm”.

Theo thư tịch cổ, tháng 11 năm 43, sau khi tiêu diệt xong lực lượng kháng chiến của Hai Bà Trưng, Mã Viện trực tiếp chỉ huy 20.000 quân cùng 2.000 tàu thuyền lớn nhỏ tiến vào Cửu Chân (Thanh Hoá) tiến đánh lực lượng kháng chiến của lão tướng Đông Dương bằng hai đường thuỷ, bộ. Cánh quân bộ bị chặn đứng lại trước núi rừng vùng Tam Điệp ngày nay. Cánh quân thuỷ bị chao đảo trước sóng to, gió lớn của biển Thần Đầu (Thần Phù). Mã Viện phải sai quân đào sông qua dãy núi đá vùng này mà thư tịch cổ gọi là Tạc Khẩu.

Di chỉ Yên Ngự
Di chỉ tại xã Nga Điền, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Phát hiện được gốm thô năm 1974.
Bãi Huyền Tiêm
Bãi Huyền Tiêm, thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Tương truyền đây là nơi Mai An Tiêm bị đày.
Chùa Không Lộ

Chùa Không Lộ toạ lạc tại xã Nga Điền, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Ngôi chùa được dựng ở cuối núi Hàn, thờ Thiền sư Không Lộ. Trong chùa có tượng Thiền sư, tạc bằng gỗ.

Cửa sông Lạch Sung

Cửa Lạch Sung thuộc sông Đò Lèn ở giữa huyện Nga Sơn và Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá còn gọi là cửa Bạch Câu.

Làng nghề Nga Sơn

Vị trí Làng nghề Nga Sơn thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Nhắc đến Nga Sơn thì người ta nghĩ ngay đến nghề chiếu cói. Một sản phẩm nổi tiếng của vùng đất ven biển này. Mảnh đất này chỉ trồng được một loại cây duy nhất là cói, dệt nên chiếu Nga Sơn - niềm kiêu hãnh của vùng quê này.

Cói Nga Sơn nổi tiếng là sợi nhỏ, dai, óng mượt. Ðiều đặc biệt ít có nơi nào có thể trồng được loại cói dài như ở vùng này, loại cói chuyên dùng để dệt nên những tấm chiếu vừa đẹp lại vừa bền.

Chiếu cói Nga Sơn đã dệt nên tiếng thơm ngàn đời cho vùng đất ven biển Nga Sơn. Mong rằng, trong tương lai không xa, việc phát triển ngành nghề truyền thống sẽ gắn liền với phát triển ngành du lịch sinh thái và các danh lam thắng cảnh huyền ảo mà thiên nhiên ban tặng cho vùng đất Nga Sơn, góp phần làm giàu cho vùng cói ngút ngàn này.

Chùa Tiên

Chùa Tiên toạ lạc tại xã Nga An, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Chùa được xây dựng trên một mảnh đất rộng 3,5 ha,cảnh quan đẹp, hấp dẫn và yên tĩnh. Đây là nơi để du khách có thể thăm quan, chiêm ngưỡng và chiêm nghiệm những giáo lý của nhà phật đối với chúng sinh.

Di chỉ khảo cổ học chùa Tiên được phát hiện năm 1974. Di chỉ rộng 500m2, tầng văn hoá dày 0m60, tìm thấy gốm thô.

Di tích lịch sử Ba Đình

Di tích chiến khu Ba Đình thuộc xã Ba Đình, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Đây là di tích lịch sử đã được xếp hạng cấp quốc gia. Tại đây nhân dân ba làng là làng Mậu, làng Thượng, làng Mỹ Khê hưởng ứng chiếu Cần Vương chống quân Pháp xâm lược, với sự chỉ huy của 2 ông Phạm Bành và Đinh Công Tráng đã tham gia cuộc khởi nghĩa Ba Đình đánh bại nhiều đợt tấn công của Pháp. Sau này, Bác Hồ đã lấy tên Ba Đình đặt cho quảng trường tại thủ đô Hà Nội là Quảng trường Ba Đình.

Núi Vân Hoàn và di chỉ núi Vân Hoàn

Núi Vân Hoàn thuộc xã Nga Lĩnh, là ngọn núi đá vôi mà đứng ở các xã ven biển cũng có thể nhìn thấy được. Di chỉ khảo cổ học được phát hiện năm 1974, trên một quả đồi kề núi đá vôi gần sông Lèn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Hiện vật có một số mảnh tước và một số mảnh gốm. Nhà thơ Tú Loan sau này về quê ở tại một làng gần chân núi này gọi là làng Vân Hoàn.

Núi Ne

Tên chữ là Nê Sơn, hay núi Chính Trợ, là khối núi đá vôi hình chiếc đũa giáp Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Trước thuộc tổng Thần Phù, huyện Nga Sơn, năm 1838 đổi thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

Núi Mai An Tiêm và đền Mai An Tiêm

Đền thờ Mai An Tiêm thuộc xã Nga Phú, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Ngôi đền nhỏ đơn sơ nép mình bên sườn núi nhưng chứa đựng cả một huyền thoại đẹp được lưu truyền từ bao đời nay. Mai An Tiêm là người có công khai phá xây dựng đất Nga Sơn từ buổi bình minh của đất nước, dưa hấu Mai An Tiêm là sản vật rất nổi tiếng ở Nga Sơn. Hàng năm lễ hội Mai An Tiêm diễn ra tưng bừng náo nhiệt từ 12 - 15 tháng 3 âm lịch.

Động Từ Thức
Đền trong động Bích Đào (hay còn gọi là Động Từ Thức)

UserPostedImage


Đền ở động núi Bích Đào, xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Đền thờ Bích Động Linh Tiên. Trong động có ba quân cờ hình thù kỳ lạ. Tương truyền động núi này là nơi Từ Thức gặp tiên – nàng Giáng Kiều, và cũng từ nơi này, Từ Thức đi thăm nhà nàng ở núi Bồng Đảo ngoài khơi. Khi trở về, thấy cảnh vật quê nhà đã đổi khác, Từ Thức mới biết là mình từ cõi tiên trở về.

Đền Chiếu Bạch Sơn Thần

Đền Chiếu Bạch Sơn Thần thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, thờ Lê Phụng Hiểu. Ông có công dẹp loạn tam vương sau khi Lý Thái Tổ mất. Lý Thái Tông thăng Phụng Hiểu làm Đô thống thượng tướng quân, tước hầu. Năm 1044, theo Lý Thái Tông đi đánh Chiêm Thánh, làm tiên phong, phá tan được quân giặc. Sau khi ông mất, dân bản xã lập đền thờ, các triều đều có phong tặng.

Chùa Bạch Ác-Động Bạch Ác

Động Bách Ác ở dãy núi phía bắc sông Hoạt, thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, phía bắc động Bích Đào (Động Từ Thức). Trong động có chùa Bạch Ác ở trong động núi Thần Phù thuộc xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Động này có nhiều dơi nên gọi là động Dơi. Chùa có ba cửa, phía trước là hồ sen. Xưa chùa lấy vách đá làm mái, khoảng đầu thời Thiệu Trị (1841-1847), mới được lợp mái ngói và xây dựng tường. Bạch Ác là con quạ trắng, chưa rõ vì sao chùa dùng chữ ấy để đặt tên.

Di chỉ Nga Phú

Di chỉ khảo cổ học được phát hiện năm 1960, trên cánh đồng Vua và bãi Chùa Viên xã Nga Phú, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Di chỉ có diện tích rộng đến 2400m2. Hiện vật có rìu tứ diện, rìu có vai, bàn mài, hạt chuỗi. Di chỉ có niên đại thuộc hậu kỳ đồ đá mới.

Chùa Sùng Nghiêm

Chùa Sùng Nghiêm toạ lạc tại làng Thạch Giản, xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Chùa dựng năm Nhâm Tý, niên hiệu Thiệu Khánh 3 (1372) đời Trần Nghệ Tông do một hoà thượng (không rõ tên) trước trụ trì ở chùa Khánh Vân, nhân đi vân du thấy thế đất ở núi Vân Lỗi bốn bề sầm uất, bèn mở núi bạt rừng, dựng am, đúc tượng… Chùa làm xong, hoà thượng mời Hiệp Thạch Phạm Sư Mạnh soạn văn bia, Chi hậu thư Mai Tỉnh viết chữ để khắc vào đá.

Danh sĩ Mai Thế Châu

Mai Thế Châu là Danh sĩ đời Lê Hiển Tông (1740 – 1786), không rõ năm sinh, năm mất, quê huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Ông có tài văn, võ, dày công sửa sang chính trị, mở mang văn hóa giáo dục, từng có công yên dân ở nhiều nơi, được nhân dân xưng tụng nhiều công đức. Vua Lê rất trọng vọng ông, phong tước là Toàn Quận Công, lãnh chức Đốc trấn Nghệ An.

Con ông là Mai Thế Uông cũng là một nhân tài đương thời, đỗ hương cống, làm quan đến Trấn thủ Hưng Hóa. Khi nghĩa quân Tây Sơn ra Bắc, Lê Mẫn đế tức Lê Chiêu Thống bỏ ngai vàng tháo chạy sang Trung Quốc, Thế Uông mù quáng chạy theo, tập hợp một số quân sĩ ở mạn ngược quanh vùng sông Đà, sông Mã chống nhau với Tây Sơn, đến lúc cùng thì tự sát.

Mai Anh Tuấn

Mai Anh Tuấn (1815-1851) là một vị quan của triều Nguyễn, ông quê ở Thạch Giản, Nga Thạch, Nga Sơn, Thanh Hóa nhưng sinh tại thôn Hoàng Cầu, giáp Đông Các, huyện Vĩnh Thuận - Hà Nội (nay là Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa).

Năm 1843 đời hoàng đế Thiệu Trị, Mai Anh Tuấn 28 tuổi, thi đỗ Đình nguyên Thám hoa. Ông được bổ làm Hàn lâm Thị độc, làm việc trong Nội các triều đình.
Sau một thời gian, ông dâng sớ can hoàng đế Tự Đức không nên phái đoàn quan chức đem thuyền nhà nước tiễn viên quan nhà Thanh, vì quá tốn kém, mà chỉ nên gửi họ theo thuyền buôn. Vua Tự Đức không hài lòng, kết tội ông “khi quân bất kính” và hạ chức, phái đi làm án sát tỉnh Lạng Sơn.
Đến Lạng Sơn, ông lo dẹp thổ phỉ để giữ gìn trị an. Năm 1851, quân thổ phỉ nhà Thanh tràn sang cướp phá vùng Tiên Yên, tiến sâu vào Lạng Sơn. Ông cùng Chưởng vệ Nguyễn Đạc đem quân đuổi đánh, bước đầu thắng lợi. Nhưng sau đó Nguyễn Đạc bị thương. Mai Anh Tuấn đem quân tiếp cứu nhưng gặp địa hình hiểm trở, cả ông và Nguyễn Đạc đều bị giết.

Hoàng đế Tự Đức thương tiếc, lệnh đem thi hài ông về an táng tại Hoàng Cầu. Theo lệnh của vua, tỉnh Lạng Sơn và Thanh Hóa lập đền thờ ông. Linh vị và bát hương thờ được đặt ở đền Trung Nghĩa tại Hoàng thành Huế, bên cạnh các danh thần nhà Nguyễn. Phần mộ của ông và miếu thờ tọa lạc tại làng Hoàng Cầu (Hà Nội), được dân làng, con cháu thờ cúng đến nay.

Phố Mai Anh Tuấn đã được đặt tại khu vực Hoàng Cầu, quận Đống Đa nơi ông sinh ra.

Tại Nga Sơn, Thanh Hóa, từ năm học 1999 – 2000, trường cấp III Nga Sơn II đã được đổi tên là trường Trung học phổ thông Mai Anh Tuấn, đóng tại xã Nga Thành, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

Đền thờ nữ tướng Lê Thị Hoa

Lê Thị Hoa là một nữ tướng của Hai Bà Trưng, khởi nghĩa tại vùng Nga Sơn giúp Hai Bà Trưng đánh giặc Đông Hán. Sau khi đánh đuổi được Tô Định, quân xâm lược bị quét sạch ra khỏi bờ cõi, Hai Bà Trưng xưng vương và thành lập hệ thống chính quyền độc lập, bà Lê Thị Hoa đã từ chối làm quan chỉ xin được trở lại Nga Sơn để tiếp tục tổ chức dân khai hoang, lập làng, lấn biển. Năm 43, Mã Viện đem đại binh sang đàn áp, bà đã mau chóng tập hợp lực lượng để chiến đấu chống quân thù một cách quyết liệt, nhưng sau thất bại, bà đã anh dũng hy sinh ngay trên đất Nga Sơn mà bà đã giàu công khai khẩn.

Tấm lòng trung trinh với dân với nước và sự hy sinh anh dũng của bà Lê Thị Hoa, ngay từ thuở ấy, nhân dân Nga Sơn đã lập đền thờ bà ở xã Nga Thiện (Nga Sơn) vẫn còn đến ngày nay. Đền thờ bà có đôi câu đối bất hủ:

Thệ báo Tô cừu, thanh Bắc khấu
Nghĩa phù Trưng chủ, phục Nam bang.

Nghĩa là:

Thề trả mối thù với Tô Định, trừ khử giặc Bắc.
Giữ nghĩa phò Trưng Vương, khôi phục nước Nam.

THỦY PHƯƠNG
xuan hoang  
#143 Posted : Saturday, May 21, 2011 6:11:36 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
Bình luận baì thơ Vội Vàng của Xuân Diệu


UserPostedImage



Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.


Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si.
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;
Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.


Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu đến nữa không phải rằng gặp lại.
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt...
Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?


Chẳng bao giờ, ôi! chẳng bao giờ nữa...


Mau đi thôi! mùa chưa ngả chiều hôm,
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn:
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!



UserPostedImage



Phân tích bài thơ "Vội vàng" của Xuân Diệu Nhà thơ Thế Lữ, trong lời Tựa cho tập Thơ Thơ của Xuân Diệu, đã có nhận xét khá tinh tế: “Xuân Diệu .là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian” . Đã hơn hai mươi năm Xuân Diệu giã từ chúng ta vào cõi hư vô, nhưng “tấm lòng trần gian” của ông dường như vẫn còn ở lại. Cứ mỗi lần xuân tới, những trái tim non trẻ của các thế hệ học sinh lại rung lên những cảm xúc mãnh liệt trước tâm tình của Xuân Diệu gửi gắm với đời trong bài thơ Vội vàng, gắn với niềm khát khao giao cảm với đất trời, con người tràn mê đắm của thi nhân, trong mùa xuân diệu kì!

Làm thơ xuân vốn là một truyền thống của thi ca Việt Nam, bao nét xuân đi vào thi ca đều mang một dấu ấn cảm xúc riêng. Đặc biệt, trong thơ lãng mạn Việt Nam 1932 – 1945, mùa xuân còn gắn với cái tôi cá nhân cá thể giàu cảm xúc của các nhà thơ mới. Có thể kể đến một Hàn Mặc Tử với “khách xa gặp lúc mùa xuân chín…”, một Nguyễn Bính với “mùaxuân là cả một mùa xanh…”. Nhưng có lẽ Xuân Diệu chính là người đã đem vào trong cảm xúc mùa xuân tất cả cái rạo rực đắm say của tình yêu. Vội vàng là lời tâm tình với mùa xuân của trái tim thơ tuổi hai mươi căng nhựa sống.

Cái động thái bộc lộ đầy đủ nhất thần thái của Xuân Diệu có lẽ là vội vàng. Ngay từ hồi viết Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã thấy “Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuốn quýt”. Cho nên, đặt cho bài thơ rất đặc trưng của mình cái tên Vội vàng, hẳn đó phải là một cách tự bạch, tự họa của Xuân Diệu. Nó cho thấy thi sĩ rất hiểu mình.

Thực ra, cái điệu sống vội vàng, cuống quýt của Xuân Diệu bắt nguồn sâu xa từ ý thức về thời gian, về sự ngắn ngủi của kiếp người, về cái chết như là một kết cục không tránh khỏi mai hậu. Sống là cả một hạnh phúc lớn lao diệu kỳ. Mà sống là phải tận hiến và tận hưởng! Đời người là ngắn ngủi, cần tranh thủ sống. Sống hết mình, sống đã đầy. Thế nên phải chớp lấy từng khoảnh khắc, phải chạy đua với thời gian. Ý thức ấy luôn giục giã, gấp gáp. Bài thơ này được viết ra từ cảm niệm triết học ấy.

Thông thường, yếu tố chính luận đi cùng thơ rất khó nhuần nhuyễn. Nhất là lối thơ nghiêng về cảm xúc rất “ngại” đi cùng chính luận. Ấy thế nhưng nhu cầu phô bày tư tưởng, nhu cầu lập thuyết lại không thể không dùng đến chính luận. Thơ Xuân Diệu hiển nhiên là loại thơ xúc cảm. Nhưng đọc kỹ sẽ thấy rằng thơ Xuân Diệu cũng rất giàu chính luận. Nếu như cảm xúc làm nên cái nội dung hình ảnh, hình tượng sống động như mây trôi, nước chảy trên bề mặt của văn bản thơ, thì dường như yếu tố chính luận lại ẩn mình, lặn xuống bề sâu, làm nên cái tứ của thi phẩm. Cho nên mạch thơ luôn có được vẻ tự nhiên, nhuần nhị. Vội vàng cũng thế. Nó là một dòng cảm xúc dào dạt, bồng bột cuốn theo bao hình ảnh thi ca như gấm như thêu của cảnh sắc trần gian. Nhưng nó cũng là một bản tuyên ngôn bằng thơ, trình bày cả một quan niệm nhân sinh về lẽ sống vội vàng. Có lẽ không phải thơ đang minh họa cho triết học. Mà đó chính là minh triết của một hồn thơ.

Mục đích lập thuyết, dạng thức tuyên ngôn đã quyết định đến bố cục của Vội vàng. Thi phẩm khá dài nhưng tự nó hình thành hai phần khá rõ rệt. Cái cột mốc ranh giới giữa hai phần đặt vào ba chữ “Ta muốn ôm”. Phần trên nghiêng về luận giải cái lí do vì sao cần sống vội vàng. Phần dưới là bộc lộ cái hành động vội vàng ấy. Nói một cách vui vẻ: trên là lý thuyết, dưới là thực hành! Điều rất dễ thấy là thi sĩ chọn cách xưng hô cho từng phần. Ở trên, xưng “tôi”, lập thuyết đối thoại với đồng loại. Ở dưới, xưng “ta”, đối diện với sự sống. Phần luận lí có xu hướng cắt xẻ bài thơ. Nhưng hơi thơ bồng bột, giọng thơ dào dạt, sôi nổi đã xóa mọi cách ngăn, khiến thi phẩm vẫn luôn là một chỉnh thể sống động, tươi tắn và truyền cảm.

Mở đầu bài thơ là một khổ ngũ ngôn thể hiện một ước muốn kì lạ của thi sĩ. Ấy là cái ước muốn quay ngược quy luật tự nhiên – một ước muốn không thể:

Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.


Muốn “tắt nắng”, muốn “buộc gió”, thật là những ham muốn kỳ dị, chỉ có ở thi sĩ. Nhưng làm sao cưỡng được quy luật, làm sao có thể vĩnh viễn hóa được những thứ vốn ngắn ngủi mong manh ấy? Cái ham muốn lạ lùng kia đã hé mở cho chúng ta một lòng yêu bồng bột vô bờ đối với cái thế giới thắm sắc đượm hương này.

Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận theo một cách riêng. Nó bày ra như một thiên đường trên mặt đất, như một bữa tiệc lớn của trần gian. Được cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muốn, nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân tình. Cái thiên đường sắc hương đó hiện ra trong Vội vàng vừa như một mảnh vườn tình ái, vạn vật đương lúc lên hương, vừa như một mâm tiệc với một thực đơn quyến rũ, lại vừa như một người tình đầy đắm say. Xuân Diệu cũng hưởng thụ theo một cách riêng. Ấy là hưởng thụ thiên nhiên như hưởng thụ ái tình. Yêu thiên nhiên mà thực chất là tình tự với thiên nhiên.

Hãy xem cách diễn tả vồ vập về thiên nhiên ở thì xuân sắc, một thiên nhiên rạo rực xuân tình:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật,
Này đây hoa của đồng nội xanh rì,
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si,
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.
Mỗi sáng sớm thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;


Có lẽ trước Xuân Diệu trong thơ Việt Nam chưa có cảm giác “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Nó là cảm giác của ái ân tình tự. Cảm giác ấy đã làm cho người ta thấy tháng giêng mơn mởn non tơ đầy một sức sống thanh tân kia mà sao quyến rũ – tháng giêng mang trong nó sức quyến rũ không thể cưỡng được của một người tình rạo rực, đắm say.


Hai mảng thơ đầu kế tiếp nhau đã được liên kết bằng cái logic luận lí ngầm của nó. Thi sĩ muốn “tắt nắng”, “buộc gió” chính vì muốn giữ mãi hương sắc cho trần thế này đây. Hương sắc là cái sinh khí của nó, là cái vẻ đẹp, cái nhan sắc của nó. Tất cả chỉ rực rỡ trong độ xuân thì. Mà xuân lại vô cùng ngắn ngủi. Và thế là mảng thơ thứ ba của phần luận giải đã hình thành để nói về cái ngắn ngủi đến tàn nhẫn của xuân thì đối với sự sống và cái xuân thì của con người. Phải, cái thế giới này lộng lẫy nhất, “ngon” nhất là ở độ xuân; còn con người cũng chỉ hưởng thụ được cái “ngon” kia khi còn trẻ thôi. Mà cả hai đều vô cùng ngắn ngủi, thời gian sẽ cướp đi hết thảy. Có lẽ cũng lần đầu tiên, thơ ca Việt Nam có được cái quan niệm này:

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn no nghĩa là xuân sẽ già.


Con người thời trung đại hình như yên trí với quan niệm thời gian tuần hoàn với cái chu kỳ bốn mùa, cũng như cái chu kì ba vạn sáu ngàn ngày của kiếp người. Con người hiện đại sống với quan niệm thời gian tuyến tính, thời gian như một dòng chảy mà mỗi một khoảnh khắc qua là mất đi vĩnh viễn. Cho nên Xuân Diệu đã nồng nhiệt phủ định:

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại !


Thước đo thời gian của thi sĩ là tuổi trẻ. Tuổi trẻ một đi không trở lại thì làm chi có sự tuần hoàn !

Trong cái mênh mông của đất trời, cái vô tận của thời gian, sự có mặt của con người thật là ngắn ngủi, hữu hạn. Nghĩ về tính hạn chế của kiếp người, Xuân Diệu đã đem đến một nỗi ngậm ngùi thật mới mẻ:

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;


Và đem đến một cảm nhận đầy tính lạ hóa về thời gian và không gian:


Mùi tháng năm đền rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…


Là người đã tiếp thu ở mức nhuần nhuyễn phép “tương giao” của lối thơ tượng trưng, Xuân Diệu đã phát huy triệt để sự tương giao về cảm giác để cảm nhận và mô tả thế giới. Thời gian được cảm nhận bằng khứu giác: “Mùi tháng năm” – thời gian của Xuân Diệu được làm bằng hương – chẳng thế mà thi sĩ cứ muốn buộc gió lại ư? Một chữ “rớm” cho thấy khứu giác đã chuyển thành thị giác. Nó nhắc ta nhớ đến hình ảnh giọt lệ. Chữ “vị” liền đó, lại cho thấy cảm giác thơ đã chuyển qua vị giác. Và đây là một vị hoàn toàn phi vật chất: “vị chia phôi” ! Thì ra chữ “rớm” và chữ “vị” này đều từ một hình ảnh ẩn hiện là giọt lệ chia phôi đó.

Vì sao thời gian lại mang cái hương vị - hình thể của chia phôi? Ấy là những cảm giác chân thực hay chỉ là trò diễn của ngôn ngữ theo kịch bản của phép “tương giao”? Cái tinh tế của Xuân Diệu chính là ở đấy ! Thi sĩ cảm thấy thật hiển hiện mỗi khoảnh khắc đang lìa bỏ hiện tại để trở thành quá khứ thật sự là một cuộc ra đi vĩnh viễn. Trên mỗi thời khắc đều đang diễn ra một cuộc chia tay của thời gian với con người, với không gian và với cả chính thời gian. Cho nên thi sĩ nghe thấy một lời than luôn âm vang khắp núi sông này, một lời than vĩnh viễn: than thầm tiễn biệt. Không gian đang tiễn biệt thời gian ! Và thời gian trôi đi sẽ khiến cho cái nhan sắc thiên nhiên diệu kỳ này bước vào độ tàn phai. Một sự tàn phai không thể nào tránh khỏi !


Thế đấy, không thể buộc gió, không thể tắt nắng, cũng không thể cầm giữ được thời gian, thì chỉ có cách thực tế nhất là chạy đua với thời gian, là phải tranh thủ sống:


Chẳng bao giờ, ôi ! Chẳng bao giờ nữa…
Mau đi thôi ! Mùa chưa ngả chiều hôm


Đến đây phần luận giải của tuyên ngôn vội vàng đã đủ đầy luận lý !

Bài thơ được kết thúc bằng những cảm xúc mãnh liệt, bằng những tham muốn mỗi lúc một cuồng nhiệt , vồ vập. Đó là cả một cuộc tình tự với thiên nhiên, ái ân cùng sự sống. Chỉ có thể diễn tả như thế, Xuân Diệu mới phô diễn được cái lòng ham sống, khát sống sung mãn của mình:

Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !


Nếu chọn một đoạn thơ trong đó cái giọng sôi nổi bồng bột của Xuân Diệu thể hiện đầy đủ nhất, thì đó phải là đoạn thơ này. Ta có thể nghe thấy giọng nói, nghe thấy cả nhịp đập của con tim Xuân Diệu trong đoạn thơ ấy. Nó hiện ra trong những làm sóng ngôn từ đan chéo nhau, giao thoa và song song vỗ vào tâm hồn người đọc. Cái điệp ngữ “ta muốn” được lặp đi lặp lại với mật độ thật dày và cũng thật đích đáng. Nhất là mỗi lần điệp lại đi liền với một động thái yêu đương mỗi lúc một mạnh mẽ, mãnh liệt, nồng nàn: ôm – riết – say – thâu – cắn. Có thể nói câu thơ “Và non nước, và cây, và cỏ rạng” là không thể có đối với thư pháp trung đại vốn coi trọng những chữ đúc. Thậm chí, đối với thơ xưa, đó sẽ là câu thơ vụng. Tại sao lại thừa thãi liên từ “và” đến thế ? Vậy mà, đó lại là sáng tạo của nhà thơ hiện đại Xuân Diệu. Những chữ “và” hiện diện cần cho sự thể hiện nguyên trạng cái giọng nói, cái khẩu khí của thi sĩ. Nó thể hiện đậm nét sắc thái riêng của cái tôi Xuân Diệu. Nghĩa là thể hiện một cách trực tiếp, tươi sống cái cảm xúc tham lam đang trào lên mãnh liệt trong lòng ngực yêu đời của thi sĩ !

Câu thơ:

Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;


cũng tràn đầy những làn sóng ngôn từ như vậy. Từ “cho” điệp lại với mức độ tăng tiến nhấn mạnh các động thái hưởng thụ thỏa thuê: chuếnh choáng – đã đầy – no nê. Sóng cứ càng lúc càng dâng cao, càng vỗ mạnh, đẩy cảm xúc lên tột đỉnh:

Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !


Ta thấy Xuân Diệu như một con ong hút nhụy đã no nê đang lảo đảo bay đi. Lại thấy thi sĩ như một tình lang trong cuộc tình chuếnh choáng men say.

Có thể nói Xuân Diệu qua bài thơ này không chỉ "sống" hay "ham sống" mà ông "say sống". Sống mãnh liệt, hối hả kẻo nữa lại tiếc nuối - Đó là một nhân sinh quan lành mạnh. Nó khác với sự nguội lạnh, hờ hững, lạt lẽo. Bài thơ là nhịp đập gấp gáp trước "thanh sắc trần gian" một ngày xuân của một trái tim chưa bao giờ chán sống.

Sống là hạnh phúc. Muốn đạt tới hạnh phúc phải sống vội vàng. Thế là, vội vàng là cách đến với hạnh phúc, là chính hạnh phúc, và hình như cũng là cái giá phải trả cho hạnh phúc vậy ! Ta hiểu vì sao khi Xuân Diệu xuất hiện, lập tức thi sĩ đã thuộc về tuổi trẻ !

Nguồn:chuyenhungvuong.net

Edited by user Saturday, May 21, 2011 6:24:01 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thunder  
#144 Posted : Saturday, May 21, 2011 9:17:48 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage

TÌNH MẸ TRONG THI CA

(Kính dâng một bông hồng tưởng nhớ Mẹ)

Mẹ mang nặng đẻ đau, rồi lo cho con từ bé đến ngày lớn khôn. Chúa Kitô, Phật Thích Ca... là những người con tâm linh của Thượng Đế cũng chào đời trong vòng tay của Mẹ và nghe lời ru ạ ời ngọt ngào bên chiếc nôi nhỏ bé. Tình mẹ là biểu tượng thiêng liêng cao đẹp nhất, truyền thống thờ mẹ kính cha đã in sâu vào tâm hồn của người dân Việt và văn hóa dân tộc Việt Nam.

Ca dao so sánh công cha cao như núi, để thể hiện sự tôn kính Cha là cột trụ trong gia đình, nghĩa Mẹ như nước trong nguồn bất tận. Nước âm thầm chảy qua bao nhiêu ghềnh thác rồi trôi về biển cả, sánh nghĩa Mẹ với nước trong nguồn phù hợp với sự tận tụy dưỡng nuôi, yêu thương con không bờ bến... Người Tây phương thường gọi Vaterland / Fatherland để chỉ quê cha, người Việt Nam mình gọi quê Cha, đất Tổ, và quê Mẹ, đất Mẹ, tiếng Mẹ đẻ. Để tôn vinh công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ, ca dao có câu
:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Tình yêu của cha cũng bao la, tha thiết lo lắng cho con nên người, nhưng sâu kín trong lòng, không như mẹ bộc lộ tình cảm bằng những cử chỉ vuốt ve, âu yếm, nên các con thường gần gũi mẹ hơn cha. Những vui buồn trong đời sống các con thường thì thầm bày tỏ với mẹ. Lỡ như mẹ không đồng ý thì mẹ cũng không la rầy hay phê phán nghiêm khắc như cha. Nhìn bên ngoài tình cha có vẻ khô cằn, thiếu mềm mại; không thể sánh với tình mẹ ôn nhu, dịu dàng tha thiết như trong nhạc phẩm Lòng Mẹ của Y Vân:

Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào
Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào
Lời mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào
Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng mẹ yêu.
Lòng mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu
Tình mẹ yêu mến như làn gió đùa mặt hồ
Lời ru man mác êm như sáo diều dật dờ
Nắng mưa sớm chiều vui cùng tiếng hát trẻ thơ
Thương con thao thức bao đêm trường
Con đà yên giấc mẹ hiền vui sướng biết bao
Thương con khuya sớm bao tháng ngày.
Lặn lội gieo neo nuôi con tới ngày lớn khôn
Dù cho mưa gió không quản thân gầy mẹ hiền.
Một sương hai nắng cho bạc mái đầu buồn phiền
Ngày đêm sớm tối vui cùng con nhỏ một niềm
Tiếng ru êm đềm mẹ hiền năm tháng triền miên....

Những ai may mắn còn mẹ, được cài lên áo hoa hồng đỏ để thấy đời mình còn diễm phúc vui tươi. Đã mất mẹ không bao giờ tìm lại được tình yêu bao la, tha thiết ấy. Nếu ta đứng hàng giờ trước ngôi mộ đá rêu phong, đặt những đóa hoa tươi, đốt nén nhang thơm chỉ là phần hình thức, lễ nghi... Kỷ niệm những ngày dài hạnh phúc tuổi thơ mình đã sống trong mái ấm gia đình với tình yêu thương của cha mẹ đã đi vào thế giới xa xôi...

Gió mùa thu mẹ ru con ngủ
Năm canh chày thức đủ năm canh
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm bún, lưỡi lừa cá xương.
(Ca dao)

Cuộc đổi đời 30.4.1975 không ai ngờ những gì đã xảy ra? Nhiều người đã không làm tròn bổn phận phụng dưỡng mẹ già, ngược lại mẹ phải tảo tần nuôi con, nuôi cháu, thăm con trong trại cải tạo trên núi rừng, qua những đường dài hoang vắng, hiểm nguy. Tuổi già ngày tháng sức khỏe hao mòn, lúc ốm đau cho đến lúc ra đi vĩnh viễn về bên kia thế giới, không gặp các con trai của mẹ!! Tình yêu của mẹ như những vì sao trên trời không đếm được trong muôn ngàn thiên thể mênh mông. Thiếu tình mẹ như bầu trời thiếu ánh sao đêm!! Trịnh Công Sơn nhắc đến gia tài của Mẹ Việt Nam, một người Mẹ Việt Nam lầm lũi, mất mát sau chiến tranh, nhưng đó cũng là hình ảnh thảm thương, đau khổ của cả một dân tộc sau cơn binh đao, khói lửa... Con người Việt Nam đã kiệt quệ, xác xơ sau mỗi lần chinh chiến.

Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
20 mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của mẹ, một rừng xương khô
Gia tài của mẹ, một núi đầy mồ

Vào ngày Rằm tháng bảy là lễ Vu Lan Bồn (Ullambana) theo kinh điển Tôn giả Mục Kiền Liên, lo cứu mẹ là bà Thanh Đề thoát khỏi cảnh khổ ở địa ngục. Và cầu nguyện cho chúng sinh được siêu thoát, khỏi vòng sinh tử luân hồi. Trong ngày lễ nầy người ta thường cài lên áo một đóa hoa hồng hay hoa cẩm chướng màu đỏ hay hoa màu trắng để tưởng nhớ đến Mẹ hiền. Người được hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương mẹ đã mất. Người được hoa hồng đỏ sẽ thấy sung sướng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, một ngày nào đó mẹ cũng phải ra đi theo luật tạo hóa “cát bụi trở về với cát bụi” khỏi hối hận lúc còn tại thế không làm tròn bổn phận và hiếu thảo. Thiền sư Thích Nhất Hạnh làm bài thơ bông hồng cài áo. Phạm Thế Mỹ phổ nhạc

Một bông hồng cho em
Một bông hồng cho anh
Và một bông hồng cho những ai
Cho những ai đang còn mẹ
Đang còn mẹ để lòng vui sướng hơn
Rủi mai nầy mẹ hiền có mất đi
Như đoá hoa không mặt trời
Như trẻ thơ không nụ cười
Ngỡ đời mình không lớn khôn thêm
Như bầu trời thiếu ánh sao đêm

Mẹ, mẹ là dòng suối dịu hiền
Mẹ, mẹ là bài hát thần tiên
Là bóng mát trên cao
Là mắt sáng hơn sao
Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối

Mẹ, mẹ là lọn mía ngọt ngào
Mẹ, mẹ là nải chuối buồng cau
Là tiếng dế đêm thâu
Là nắng ấm nương dâu
Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời

Rồi một chiều nào đó anh về nhìn mẹ yêu, nhìn thật lâu
Rồi nói, nói với mẹ rằng “Mẹ ơi, Mẹ ơi, me có biết hay không?”
“Biết gì?” “Biết là, biết là con thương mẹ không?”

Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh
Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó em
Thì xin anh, thì xin em
Hãy cùng tôi vui sướng đi...

Đời sống người Việt Nam khác với người Tây phương, ở Việt Nam cha mẹ con, cháu thường sống chung trong một đại gia đình, dù nghèo hay giàu gia đình lúc nào cũng sống bên nhau, nên không cần dành một ngày nào riêng cho Mẹ ? Mỗi năm vào lễ Vu Lan nhắc nhở các con nhớ ngày tình yêu cao cả của mẹ, nhà thơ Tùy Anh trong những ngày xa quê hương mang nỗi buồn mênh mông ngút ngàn thương nhớ:

Bài “Bông hồng cài áo”
Mỗi năm nghe một lần
Mỗi lần thêm nhức nhối
Như xé nát tim gan...
Tùy Anh (trong tập Trầm Ngải Thiết Tha)

Hình ảnh về Mẹ còn mãi trong lòng, nên thi nhân đã gởi tâm sự mình qua những vần thơ ngọt ngào, và chỉ biết nhắn gởi các em cắt dâng mẹ một cành hồng tươi hương sắc:

Hẳn em tôi còn nhớ
Cắt dâng mẹ cành hồng
Từ vườn hoa đầu ngõ
Vẫn ngọt ngào đơm bông
Hoa thay lòng tưởng nhớ
Của đứa con phiêu bồng
Hoa thay dòng lệ nhỏ
Thương nhớ mẹ vô cùng
(Tuỳ Anh trong tập Trầm ngải thiết tha)

Đời sống Tây phương cha mẹ dù tuổi già nắng xế nhưng vẫn sống riêng. Con cháu bận rộn công việc nhưng hằng năm đều có ngày tưởng nhớ ghi ơn mẹ. Sau lễ Phục Sinh 20 ngày tính từ Lễ Tro vào ngày thứ Tư tuần Thánh, có thánh lễ vinh danh Mẹ. Ở Đức thường tổ chức ngày lễ Mẹ vào Chúa nhật (Mothering Sunday) thứ 2 tháng 5, Âu Châu nhiều nước cũng tổ chức cùng thời gian trên.

Theo lịch sử truyền thống ngày lễ của Mẹ ở Hoa Kỳ (theo cuốn American Book of Days) có trước thời gian nội chiến (Civil war) vào năm 1872 người đầu tiên đưa đề nghị ngày tưởng nhớ tình mẹ tại Boston Massachusetts là bà Julia Ward Howe đã vận động chọn ngày Chúa nhật thứ 2 tháng 5 và khởi đầu cài hoa cẩm chướng (Carnation, Nelke, Oeillet) để tưởng nhớ mẹ, hoa cẩm chướng biểu tượng cho người mẹ là loài hoa nở quanh năm, cánh hoa mỏng và thoảng hương thơm nhẹ.
Mãi cho đến năm 1907 bà Anna Jarvis (01.05.1864) ở Webster bắt đầu cổ động thêm cho ngày của mẹ ở Philadelphia, hai năm sau vào ngày 10.5.1908 sau khi mẹ của bà là Anna Reese Jarvis qua đời vào ngày 09.5.1907. Tại nhà thờ ở Grafton (West Virginia) và Philadelphia cử hành thánh lễ cho ngày vinh danh mẹ. Từ đó ngày của mẹ được lan rộng ra tại Hoa Kỳ và thế giới. Nhưng mãi đến năm 1910 ở tiểu bang West Virginia mới công nhận ngày dành để tưởng nhớ về mẹ, sau đó các tiểu bang Oklahoma, Wadhington, Alabama, Texas hưởng ứng. Mãi cho đến ngày 09.5.1914 Tổng thống thứ 28 Thomas Woodrow Wilson (1856-1924) ký quyết định chung thông qua Quốc Hội công báo ngày “ Mother’ s Day” là ngày quốc lễ của Hoa Kỳ vào Chúa Nhật thứ 2 tháng 5.

Ở Việt Nam không có một ngày riêng cho cha mẹ, nhưng theo truyền thống lâu đời, hằng năm có ngày giỗ để kính nhớ người đã mất trong đó có ngày cho mẹ cho cha.
Riêng ở Pháp năm 1917 tại Paris tổ chức lễ Mẹ cho những gia đình đông con, nhưng lễ Mẹ chính thức công báo vào ngày 20.4.1926. Anh Quốc từ năm 1910 gọi là ngày Mother’s Day / Mutter Tag, nhà thờ có Thánh lễ tạ ơn để tưởng nhớ và vinh danh Mẹ hiền vào Chúa Nhật IV mùa chay. Ở Á Căn Đình thì vào Chúa Nhật thứ 2 tháng 10.

Dâng mẹ đôi tim nhỏ
Dâng mẹ tình yêu lên ngôi
Dâng mẹ cuộc sống tương lai...
(Tình hồng dâng Mẹ của Văn Chi)

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn-ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm-bao
Mẹ xa xôi quá làm sao với
Biết đến bao giờ trông thấy nhau
(Trần Trung Đạo)

Thời gian trôi qua không đợi chờ, đã 30 năm chúng ta xa xứ để rồi xót xa thân phận kiếp sống lưu vong. Những lúc nhớ về tình mẹ thật lớn lao. Tình mẹ là gốc của mọi tình cảm thương yêu. Không có mẹ sẽ thiếu tất cả tình yêu trên cõi đời nầy:

Bàn tay chắt chiu vô vàn yêu thương
Mẹ như lá hoa thơm vườn nhân ái
Tình quê hương vương vấn bước chân phiêu bồng
Lắng sâu trong tiếng ru dịu êm
Lời buồn ru ca dao hôm nào vọng vang
Mẹ đắng cay trong thầm lặng đếm hư không
Niềm thương quê tê tái trái tim u hoài
Xót xa thương thân phận lưu vong
(Vương Ngọc Long)

Uớc mơ ngày về thăm mẹ đã vĩnh viễn không bao giờ đến, bởi vì trong ngày tưởng nhớ mẹ, thi sĩ Tùy Anh đã cài hoa màu trắng. Mẹ đã rời bỏ quê hương nhọc nhằn sau cuộc đổi đời, con cháu phân ly, nỗi buồn anh cũng là nỗi chung của chúng ta khi rời bỏ quê hương vương vấn tình mẹ:

Mẹ ơi con mẹ chưa về
Bao năm lưu lạc bên lề cuộc vui
Tiếng cười không giấu ngậm ngùi
Tiếng vui tắt nghẹn bên đời buồn tênh..
Tùy Anh (trong thi tập Khúc Hát Tiêu Dao)

Không có tình yêu nào có thể sánh với tình mẹ, thi sĩ Trường Đinh ví tình yêu mẹ là những tháng ngày cần thiết của đời người, Mẹ là ánh sáng là giọt sương mai, là tiếng chim hót trên cành buổi sáng:

Mẹ là mùa xuân trên cánh chim bay
Mẹ là mùa đông tóc bạc như mây
Mẹ là mùa thu, niềm đau gió cát
Mẹ là mưa hạ, hạt nhòa đắng cay
Mẹ là trời xanh cho nắng vươn cao
Mẹ là biển đông sóng gọi xôn xao
Mẹ là bình nguyên tình yêu bát ngát
Mẹ là ngân hà, lòng mẹ bao la ...
(Trường Đinh)

Tâm trạng của các thi nhân đều nhạy cảm, nhà thơ Vương Ngọc Long đã không giấu được ngậm ngùi, nỗi nhớ về mẹ thiết tha. Mẹ và quê hương là những kỳ quan tuyệt thế đã trở thành thiêng liêng, nhiệm mầu muôn thuở. Lúc con ốm đau sốt, khóc la thì mẹ đã chạy tới bên nôi ru con, hay bồng bế thâu đêm. Mẹ như một thiên thần dịu hiền:

Con đau mẹ thức đủ năm canh
Vỗ nhẹ ru con giấc mộng lành
Dãi nắng dầm mưa công dưỡng dục
Banh da xẻ thịt nghĩa sinh thành
Con, thân măng dại, nương bờ dậu
Mẹ, bóng tre gầy, phủ mái xanh
Mẹ dắt con qua vườn Đạo Hạnh
Bông hoa Từ Mẫu nở muôn cành
Mẹ đem huyền thoại ru tình núi sông
Nước mắt mẹ có còn không?
Hay đà cạn mất trong lòng suối khô ?
Mẹ ân tình vẫn nguyên sơ
Bụi trầm luân chẳng hoen mờ vết son
Bình nhiên như cánh sen non
Thơm tâm từ lượng ngát hồn đại quang
(Vương Ngọc Long)

Kho tàng thi ca bình dân, cũng như những nhạc phẩm thời đại. Ca tụng những lời như ngàn đời nhớ ơn mẹ, bởi vì mẹ đã cho các con hành trang lên đường, thành công với tràn đầy ước mong. Đối với cha mẹ, các con phải lấy chữ hiếu làm đầu, phụng dưỡng cha mẹ cho phải đạo làm người:

Nuôi con khó nhọc đến giờ,
Trưởng thành, con phải biết thờ hai thân

Con cháu hiếu thảo phụng dưỡng ông bà, cha mẹ, để an ủi Người chỉ một phần nhỏ bé tình cảm, sự hy sinh của cha mẹ thật mênh mông vô tận:

Ơn cha nặng lắm ai ơi
Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang
Ơn cha, nghĩa mẹ nặng trìu
Ra công báo đáp, ít nhiều phận con

Hay

Mẹ cha là biển, là trời
Làm sao con dám cãi lời mẹ cha.
Thương mẹ, nhớ cha như kim châm vào dạ,
Nghĩ đến chừng nào, lụy hạ tuôn rơi
Một mai gặt lúa đem về,
Thờ cha, kính mẹ nhiều bề hiếu trung
Bao giờ cho cá hóa long
Đền ơn cha mẹ ẵm bồng ngày xưa

Tình mẹ như hơi thở, sưởi ấm lòng các con trong những ngày xa quê hương. Trên bước chân phiêu giạt xứ người, thời gian âm thầm trôi qua những tháng ngày phiền muộn nhớ thương, tưởng nhớ về Mẹ, từ trái tim và nước mắt các con xin dâng lên Mẹ những lời cầu nguyện trân trọng nhất. Công cha nghĩa mẹ thật bao la tình sâu nghĩa nặng, các dân tộc trên thế giới dù khác nhau Tôn giáo, nhưng đều có ngày tôn vinh mẹ dưới nhiều hình thức khác nhau, để nhắc nhở đến công ơn sinh thành dưỡng dục.

NGUYỄN QUÝ ĐẠI

xuan hoang  
#145 Posted : Sunday, May 22, 2011 6:58:27 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
Chùm Nhỏ Thơ Yêu


UserPostedImage



Anh cách em như đất liền xa cách bể
Nửa đêm sâu nằm lắng sóng phương em
Em thân thuộc sao thành xa lạ thế
Sắp gặp em rồi, sóng lại đẩy xa thêm

Anh không ngủ. Phải vì em đang nhớ
Một trời sao rực cháy giữa đôi ta
Em nhắm mắt cho lòng anh lộng gió
Cho trời sao yên rụng một đêm hoa.



Chế Lan Viên



UserPostedImage


UserPostedImage
thunder  
#146 Posted : Sunday, May 22, 2011 6:10:35 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

BÀN VỀ MỘT BÀI CA DAO THỜI MINH MẠNG


Cái váy của người đàn bà đất Bắc không biết xuất hiện từ bao giờ, nhưng đến khi nhà Minh xâm lăng Việt Nam vào năm 1414, thì ngay sau đó “bọn Hoàng Phúc muốn bắt dân ta đồng hóa với người Tàu, cấm con trai con gái không được cắt tóc, đàn bà con gái phải mặc áo ngắn quần dài theo kiểu người Tàu, nghĩa là không được mặc váy như trước . . .” (ĐLQT, tr.206).

Váy là đồ mặc che nửa thân người phía dưới của người đàn bà xứ Bắc ngày xưa. Nó có hình thức gần giống như cái skirt (Mỹ) hay cái jupe (Pháp) của người phụ nữ Tây phương thường mặc. Và đúng như người bình dân của ta đã mô tả trong một câu đố như sau:

Vừa bằng cái thúng mà thủng hai đầu,
Bên ta thì có, bên Tàu thì không.

Đến năm Cảnh Trị thứ 3 (1665) đời vua Lê Huyền Tông (1663-1671), nhà vua lại ra sắc dụ cấm đàn bà con gái mặc quần theo kiểu Tàu mà trở lại mặc váy theo y phục truyền thống của dân tộc.

Vậy là, sau 250 năm, người đàn bà xứ Bắc lại mặc váy như trước thời kỳ bị quân Minh xâm lược bắt phải đồng hóa theo kiểu ăn mặc của đàn bà Tàu. Đó là tình trạng ở đất Bắc tức từ Thanh Hóa trở ra. Tình trạng ở phía nam đèo Ngang tức từ Quảng Bình trở vào lại khác.

Số là, vào năm 1558, Nguyễn Hoàng được vua Lê cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa rồi sau đó cho kiêm nhiệm trấn thủ đất Quảng Nam. Nguyễn Hoàng lúc đầu còn phải ra vào đất Bắc để phục vụ cho vua Lê, nhưng đến năm 1559 cuối đời vua Lê Thế Tông (1573-1599), Trịnh Tùng xưng vương hiệu là Bình An Vương lập nên phủ Chúa và vua Lê chỉ còn hư vị thì ngay năm sau (1600), Nguyễn Hoàng cũng lo củng cố và xây dựng đất Thuận Hóa rồi sau đó là đất Quảng Nam để đối đầu với chúa Trịnh ở đất Bắc. Đến khi Nguyễn Hoàng mất (1613), con là Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) lên thay, Nguyễn Phúc Nguyên tự bổ nhiệm quan lại để cai trị đất Đàng Trong, không còn nhận quan lại của vua Lê và chúa Trịnh gởi vào nữa. Tuy nhiên, đến đời chúaNguyễn Phúc Trú (1725-1738) các chúa Nguyễn vẫn chỉ xưng quận công hay quốc công và vẫn tuân theo một số luật lệ và phong tục của đất Bắc. Đến đời Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), Khoát mới xưng vương gọi là Võ Vương (1744) đúc ấn quốc vương, định triều nghi và đưa ra một số cải cách để chứng tỏ sự tách biệt hoàn toàn với đất Đường Ngoài, chẳng hạn:

“Vào khoảng năm 1744 chúa Võ Vương ở phương Nam bắt dân gian cải cách y phục. Theo giáo sĩ Koffler thì chúa bắt bỏ lối quần áo thô bỉ của người đường ngoài, mà châm chước theo lối quần áo của người Tàu. Có lẽ từ bấy giờ, người đàn bà đường trong bắt đầu mặc áo gài khuy và mặc quần, mà không mặc áo thắt vạt và mặc váy như người đường ngoài nữa.” (VNVHSC, tr.173)

Vậy có thể nói, từ đời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát trở về sau, cách ăn mặc của người Đàng Trong lại giống như cách ăn mặc của người Đàng Ngoài thời kỳ trước khi vua Lê Huyền Tông ra lệnh bỏ lối phục sức theo kiểu nhà Minh, hay nói một cách khác, trong lúc phụ nữ Đàng Trong dưới quyền chúa Nguyễn mặc quần dài 2 ống thì người phụ nữ Đàng Ngoài dưới quyền vua Lê chúa Trịnh lại mặc váy.

Đến khi nhà Nguyễn dựng đế nghiệp (1802), để thống nhất việc ăn mặc cho cả nước, vua Minh Mạng (1820-1840) đã hai lần ra sắc dụ bắt dân chúng Đàng Ngoài phải thay đổi cách ăn mặc theo người Đàng Trong. Việc cải đổi y phục của vua Minh Mạng đã gặp phải sức kháng cự của người dân Đàng Ngoài bằng hành động bất tuân phục và đặt ra những bài hò vè để chế diễu phản đối.

Trong tác phẩm Đất Lề Quê Thói, tác giả Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu đã viết về vấn đề này như sau:

“Người xứ Bắc vốn không qui phục nhà Nguyễn . . . lại gặp phải chính sự hà khắc cấm đoán cả về y phục, trái với lẽ thường, dân mất váy lần này có câu ca rằng:

Tháng chín có chiếu vua ra:
Cấm quầnkhông đáy người ta hãi hùng.
Không đi thì chợ không đông,
Đi ra bóc lột quần chồng sao đang.
Có quần ra quán bán hàng,
Không quần đứng nấp đầu làng trông quan ”
(Đất Lề Quê Thói, tr. 207-208)

Bài ca dao ở trên có nhiều dị bản.

* Trong Văn Học Bình Dân, Nguyễn Trúc Phượng cũng sao lục giống như bài trên nhưng câu đầu hoàn toàn khác:
Chiếu vua mồng sáu tháng ba
* Trong Tục Ngữ Phong Dao (tập 2) cuả Nguyễn Văn Ngọc và Thi Ca Bình Dân Việt Nam (tập 2) của Nguyễn Tấn Long và Phan Canh , bài ca dao nầy được ghi lại như sau :

Tháng sáu có chiếu vua ra,
Cấm quần, cấm áo đôi ta ngặt ngùng.
Không đi thì chợ không đông,
Đi ra bóc lột quần chồng mà mang.

* Trong Xã Hội Việt Nam của Lương Đức Thiệp, bài ca dao được sao lục gần giống như của Vũ Văn Khiếu trong Đất lề Quê Thói nhưng “tháng Chín” được đổi ra “tháng Tám”:
Tháng Tám có chiếu vua ra . . .
* Trong Chuyện Cà Kê, Lãng Nhân Phùng Tất Đắc cũng sao lục giống như bài của Vũ Văn Khiếu trong Đất Lề Quê Thói.
* Trong một bài biên khảo nhan đề “Thi Ca Trào Phúng Việt Nam” đăng trong Thằng Mõ Nam Cali, giai phẩm Xuân Giáp Thân, 2004, tác giả Vọng Đông lại chép là “tháng Chạp” :

Tháng Chạp có chiếu vua ra . . .

Như vậy là, trong câu đầu của bài ca dao nói về thời gian ban hành lệnh cấm mặc váy đã có những sai biệt như sau:

* Chiếu vua mồng sáu tháng Ba ( theo Nguyễn Trúc Phượng)
* Tháng Sáu có chiếu vua ra (theo Nguyễn Văn Ngọc , Nguyễn Tấn Long)
* Tháng Tám có chiếu vua ra (theo Lương Đức Thiệp)
* Tháng Chín có chiếu vua ra (theo Phùng Tất Đắc và Vũ Văn Khiếu)
* Tháng Chạp có chiếu vua ra (theo Vọng Đông)

Bài ca dao nầy có liên quan đến một sắc chỉ của vua Minh Mạng triều nhà Nguyễn về việc cải cách y phục cho nhất thống từ Bắc chí Nam. Ngoại trừ một vài khác biệt không đáng kể về một số chữ không quan trọng trong bài, điểm khác biệt quan trọng trong các bài được sưu tập, đó là thời gian xuất hiện của “Chiếu vua” : Tháng Ba? Tháng Sáu? Tháng Tám? Tháng Chín? Hay tháng Chạp?

Chúng ta thử lần theo các trang sử để tìm ra sự thật.

Theo Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu :

Năm Mậu Tý (1828) Minh Mạng thứ 9 “Tháng 10, truyền đổi cách ăn mặc từ sông Gianh trở ra Bắc”. (quyển 3, trang 74)
Năm Đinh Dậu (1837), Minh mang thứ 18, “Tháng 9 . . . thân dụ dân tự Hà Tĩnh trở ra phải đổi cách ăn mặc” (quyển 3, trang 112)

Theo Biên Niên Lịch Sử Cổ Trung Đại Việt Nam (Từ đầu đến giữa thế kỷ XIX) của Viện Sử Học Hà Nội, sự kiện nầy đã được ghi như sau :

1828 (Mậu Tý) :“Tháng 10 Âm Lịch, Nhà nước ra lệnh cho nhân dân Bắc Thành từ Thanh Nghệ trở ra Bắc phải thay đổi y phục cho phù hợp với y phục của nhân dân từ sông Gianh trở vào Nam. Lại ấn định, từ Mùa Xuân 1829 y phục của nhân dân phải thay đổi đồng loạt trong cả nước.” (trang 436).

1837 (Đinh Dậu) : “Tháng 9 âm lịch . . . . Ra lệnh cho nhân dân từ Hà Tĩnh trở ra phải đổi trang phục nữ mặc quần không được mặc váy. Lệnh nầy đã được ban hành từ năm 1827 (?), sau 10 năm nhân dân chưa thi hành, nên lệnh nầy được nhắc lại.”
Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 184 ghi lại chiếu dụ của vua Minh Mệnh ban hành vào năm Minh Mệnh thứ 18, năm Đinh Dậu (1837) như sau:
“Từ sông Gianh ra Bắc, trước đây vẫn còn ăn mặc theo hủ tục. Trẫm đã ra lệnh đổi y phục như từ Quảng Bình trở vào để phong tục thuần nhất. Lại ban hạn rộng rãi để ai nấy có thì giờ khâu may. Nhưng đến nay, kể đã ngoài 10 năm, mà ở Đàng Ngoài bọn ngu phu, ngu phụ vẫn cứ chần chừ chưa chịu đổi thay. Từ Quảng Bình trở vào Nam, hết thảy đã ăn mặc theo lối nhà Hán, nhà Minh, mũ mãng, áo quần đều chỉnh tề, tươm tất. Dân Bắc Kỳ cứ ăn mặc theo lối cũ. Đàn ông, con trai đóng khố, đàn bà, con gái mặc áo vạt khép vào nhau, dưới thì mặc váy. Như vậy đẹp xấu ra sao, mọi sự đã rõ. Một số nơi đã theo thói hay. Nhưng nhiều nơi vẫn duy trì hủ tục, phải chăng cố ý trái lệnh của Trẫm. Nay truyền cho các viên tổng đốc, tuần phủ, bố chánh, án sát các tỉnh phải giải thích, khuyên nhủ cho dân biết rõ ý của Trẫm. Lại ban hạn trong năm nay tất cả phải thay đổi quần áo. Nếu năm tới còn có kẻ nào ngoan cố áo quần, phải trị tội thật nặng”(chép theo Hoàng Hải Thủy)

Trong tác phẩm Xã Hội Việt Nam, tác giả Lương Đức Thiệp đã nhắc đến vấn đề này như sau:

“Dưới triều vua Tự Đức cũng có lệnh cấm đàn bà đường ngoài mặc váy. Câu ca dao sau đây đã đánh dấu việc cải cách y phục này:

Tháng tám có chiếu vua ra
Cấm quần, cấm áo người ta ngại ngùng
Không đi thì chợ không đông
Đi ra bóc lột quần chồng mà mang
Có quần thì ra đứng đàng
Không chồng (?) ta đứng đầu làng nghé quan”
(XHVN, tr.252)

Như đã được trình bày ở trên, sự kiện thay đổi y phục xảy ra vào thời vua Minh Mạng (1820-1840) chứ không phải dưới thời vua Tự Đức (1848-1883) như Lương Đức Thiệp đã nói đến trong tác phẩm Xã Hội Việt Nam của ông.

Trong Chuyện Cà Kê, Lãng Nhân Phùng Tất Đắc ghi “ . . . (1828) Minh Mệnh thứ 9, trong tháng 9 có chiếu cấm dân Bắc mặc váy . . .”. Như trên đã dẫn, chiếu cấm mặc váy được ban ra vào tháng 10 năm Mậu Tý, Minh Mệnh thứ 9 chứ không phải tháng 9 như Lãng Nhân đã ghi.

Như vậy, bước đầu ta có thể kết luận: thời gian “mồng sáu, tháng Ba”, “tháng Sáu”, “tháng Tám” hay “tháng Chạp” là không phù hợp với lịch sử. Chỉ còn lại tháng Chín hay tháng Mười mới đúng.

Đến đây, có một điều chúng ta cần bàn.

Như ta đã biết, vua Minh Mạng đã 2 lần hạ chiếu cải dịch y phục :

* Lần thứ nhất là vào tháng Mười năm Mậu Tý (1828), Minh Mạng thứ 9.
* Lần thứ hai là vào tháng Chín năm Đinh Dậu (1837), Minh Mạng thứ 18. Lần nầy, như trong Đại Nam Thực Lục đã ghi, ta thấy lệnh có vẻ gay gắt hơn nhiều và bắt buộc các quan đầu tỉnh từ Tổng Đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát phải theo dõi việc thực hiện.

Nay ta thử xét về âm vận của thể thơ đã được dùng trong bài ca dao. Đây là một bài ca dao làm theo thể thơ lục bát. Trong âm luật thơ lục bát, chữ thứ 2 của câu lục (câu 6 chữ) phải là âm bằng, trừ trường hợp câu lục được ngắt nhịp ở chữ thứ 3 thì chữ thứ 2 của câu lục thường phải là âm trắc. Thí dụ: Mai cốt cách, tuyết tinh thần – Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười ; Đau đớn thay phận đàn bà – Lời rằng bạc mênh cũng là lời chung . . . (Kiều – Nguyễn Du).

Nếu xét theo âm luật như trên thì câu lục phải là : “Tháng Mười có chiếu vua ra . . .” nghe vừa xuôi tai lại vừa hợp với sự kiện lịch sử như vừa được dẫn ở trên. Vậy thì tại sao trong tất cả các bản được sưu tập xưa nay lại không có bản nào ghi lại là “Tháng Mười có chiếu vua ra”? Như vậy, theo tôi, có thể là câu ca dao trên chỉ xuất hiện sau khi vua Minh Mạng thấy rằng sắc lệnh lần trước (tháng Mười năm Mậu Tý,1828) không được thi hành đúng mức, vậy nên, 10 năm sau nhà vua đã phải ra lệnh gắt gao hơn (tức lệnh vào tháng Chín năm Đinh Dậu – 1837) lệnh lại bắt buộc các quan đầu tỉnh theo dõi sát nên trong dân chúng mới có sự phản ứng bằng bài ca dao như trên. Cái hiện tượng các quan phải theo dõi việc thi hành đã bị dân chúng vạch trần trong câu cuối : Không quần ra đứng đầu làng trông quan!

Và như vậy, bài ca dao trên chỉ có thể xuất hiện sau khi vua Minh Mệnh ban chiếu Cải dịch y phục cho dân Đàøng Ngoài lần thứ hai vào tháng 9 năm Đinh Dậu (1837) và câu ca dao đúng phải là :

“Tháng Chín có chiếu vua ra . . .”

Dân chúng Bắc Thành , nhất là từ Thanh Nghệ trở ra, xưa mặc váy chứ không mặc quần (hai ống) như dân chúng Nam Hà thời các chúa Nguyễn. Đến thời Minh Mạng nhà vua bắt dân chúng Bắc Hà mặc quần 2 ống, tức không cho mặc váy, nên bị dân chúng phản ứng bằng bài ca dao mỉa mai nói trên.
Đồng thời với bài ca dao trên đây, ở vùng Thanh Nghệ còn lưu truyền bài vè sau đây:

Bước sang năm mới bình yên,
Chiếu vua hạ truyền:
Cải dịch y phục,
Quan huyện đã giục,
Lý trưởng, mục, tiên,
Lệnh vua đã truyền,
Bắt dân mặc cả.
. . . . .
Mai phiên chợ Trai,
Phải mượn quần chồng.
Đã cực trong lòng,
Lại thêm xấu hổ.
Không đời mô chộ
Ăn mặc ra ri.
Anh bước chân ra đi,
Không quần mà có áo.
Bắt từ ông lão,
Cho đến gái thanh tân,
Thân lại lập thân
Một người hai bộ.
. . . . .
Như ở trên ta đã thấy, đối với dân gian, viết sử không phải chỉ là ghi lại sự kiện : “Tháng Chín có chiếu vua ra: Cấm quần không đáy” mà phần quan trọng chính là phần phê phán, phần nói lên cảm tưởng, thái độ của dân gian đối với sự kiện : “người ta hãi hùng”, “Có quần ra quán bán hàng, Không quần ra đứng đầu làng trông quan!”. Chính cái phần phê phán, cái phần cảm tưởng này mới giúp ích nhiều cho các nhà xã hội học, các nhà sử học về sau.
(Trích trong Tản Mạn Về Ca Dao Lịch Sử)

ĐÀO ĐỨC NHUẬN



Tài liệu tham khảo:

-Đất Lề Quê Thói, Vũ Văn Khiếu, NXB Đại Nam (Hoa Kỳ)
-Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, Đào Duy Anh, NXB Xuân Thu (Hoa Kỳ)
-Văn Học Bình Dân, Nguyễn Trúc Phượng, NXB Sống Mới (Hoa Kỳ)
-Xã Hội Việt Nam, Lường Đức Thiệp, NXB Liên Hiệp Saigòn, 1950
-Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu, trang Web của Viện Việt Học
-Biên Niên Lịch Sử Cổ Trung Đại Việt Nam, Hà Nội, 1987
-Thằng Mõ Nam Cali, Xuân Giap Thân, 2004-11-26
-Các tuyển tập tục ngữ ca dao.

thunder  
#147 Posted : Sunday, May 22, 2011 10:31:03 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
UserPostedImage

Tình Rơi

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=y5oXj47CTq

Sáng tác : Hồ Đăng Long
Tiếng hát: Trần Thái Hòa

Hôn lên lưng trời chiều tím ngát chân mây
Hôn lên môi ngưới tình thắm say ngất ngay
Mùa thu cỏ úa nghiên nghiên triền đồi
Buồn dưng lên mắt rưng rưng bồi hồi
Dang tay cho đời ngắm đắng nỗi trớ trêu
Dang tay cho người gượng níu mãnh tình yêu
Dù tình yêu này không đi về đâu
Dù tình yêu này treo ngang vật sâu
Ta vẫn yêu người yêu cháy rát môi hôn
Ta vẫn yêu người yêu vỡ nát tâm hồn
Ta đưa em về buồn buốt lá thu rơi
Ta đưa em về sầu buông cánh xa khơi
Dòng thơ vỗ sóng suôi suôi về nguồn
Nhạc dòng sông vắng rơi rơi điệu buồn
Ta đưa em về lặng đếm bước thương đau
Ta đưa em về lạc mất rồi đời nhau

ĐK:

Dù cuộc đời này thiếu vắng em đêm đêm
Dù cuộc đời này mãi khát khao môi mềm
Ta vẫn yêu người yêu tím ngát chân mây
Ta vẫn yêu người yêu ngát ngơ từng ngày

Edited by user Sunday, May 22, 2011 10:31:55 PM(UTC)  | Reason: Not specified

coffeebean  
#148 Posted : Sunday, May 22, 2011 10:34:17 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Nhớ lại Đôi Lời ru Ca Dao miền Bắc

UserPostedImage


Xin ghi lại những câu ca dao người viết được nghe qua những lời ru em (ru con) hồi xưa. Vì là nhớ nên có thể sai, và không đầy đủ ! Các bạn biết, vui lòng chỉ cho và viết thêm nghe.

Dạo mùa hè nóng nực xưa, nếu bạn có dịp đến chơi vùng ngoại ô, hay thôn quê xa xa, nơi có những làng xóm của người Bắc di cư xúm xít gần nhau. Những mái nhà ngói gạch xây, xen lẫn với mái nhà tôn vách ván, giữa vườn cây xanh um, trái sai oằn trĩu nặng, và phảng phất luyện quyện đâu đây mùi thơm thanh khiết của hoa trà tươi (còn gọi là chè xanh) từ đồi xa đưa về chung với mùi lá trà đang phơi sấy... Có khi vào giữa mùa cà phê ra hoa, độ ít tháng sau tết, thì phải nói là như đi giữa mùa hương của đất trời ... Nếu như không trúng mùa nào cả thì vẫn có mùi hương của hoa chanh, hoa bưởi, hoa nhài, nguyệt quế, v.v... quanh năm. Vì nhà nào cũng có khuôn vườn bao quanh và những loại hoa thơm được chăm sóc tươi đẹp.

UserPostedImage


Nhưng phải đi vào những ngày hơi nóng bức, để mắc võng đong đưa dưới tàn cây dày lá râm mát, cảm thấy không khí như trong hơn, như lắng lại, lơ lửng treo một bức tranh tĩnh lặng qua màu nắng vàng choi chói như hoa mắt. Lá cây đang rũ mình chờ đón cánh gió nào về khua hồn lá reo reo. .. Con chó vàng ra vẻ mệt nắng, nằm khoanh đuôi nép bên bụi chuối. Mấy cô gà mẹ sà cánh nằm mẹp bên gốc cây khế già tim tím chíu chít hoa cho mấy chú gà con nõn như búp tơ tằm leo lên lưng chúc mỏ tìm mổ vu vơ. Xa xa cuối vườn, cái ao cạn nước bèo xanh phủ sát đáy như đóng lớp rêu thời gian lơ đãng, đưa lên mấy cọng sen cong cong với mấy chiếc lá thiệt tròn to héo héo, là đà rũ rũ quanh viền lá làm chiếc dù cho gia đình nhà vịt xiêm đang xếp chân lim dim ngủ trưa. Kế đó dưới lùm bầu bí và giàn mướp hương nở bông vàng chen chúc điểm tô bờ dậu là mấy con heo cỏ, đi như lủi lủi lệt sệt mà lại nhanh loắt thoắt, lê cái bụng xệ sát đất chạy vào lăn mình xuống như để chắt lọc chút nước trong vùng đất ẩm mát này.

UserPostedImage


Và trong cái đất trời im lặng, biền biệt màu vàng giăng giăng nắng trưa ấy bỗng vắng vang tiếng ai hát ru em (hay ru con, ru cháu) mà cũng có thể nghe đuợc cả tiếng võng đưa nhịp nhàng kẽo kẹt.

Lần nào cũng mở đầu bằng mấy cầu

Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về
Bắt được con trắm con trê
Cột cổ lôi về cho cái ngủ ăn ...

Ngày ấy, dù không nhỏ lắm nhưng không hiểu thấu được ý nghĩa, cũng biết là cái gì mà có văn chương chữ nghĩa của người Bắc thì hay khó ... hiểu cho cái đầu của mình dù là ca dao, cũng bóng bẩy, nhiều ẩn ý ... Chỉ thấy êm tai, là lạ, ngồ ngộ, và nhiều lần đã định nghe cho hết mà cứ ... ngủ tuốt lúc nào không hay. Chắc đứa bé đó khó dụ lắm, nó được ru, ru hoài không chịu ngủ, người nghe ké ngủ đủ mấy phen ... còn nhớ được it câu về con cò

Cái cò mày đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi, ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con

Có lẽ mấy câu trên nói về thân phận người phụ nữ, phải lặn lội gồng gánh nuôi gia đình, sa cơ lỡ bước được cứu vớt, chỉ còn mạng để trả ơn, nên mong không bị đối xử tệ bạc (đây chỉ là suy đoán của người viết)

Cái cò đậu cọc cầu ao
Ăn sung sung chát, ăn đào đào chua
Ngày ngày ra đứng cổng chùa
Trông lên Hà Nội thấy vua đúc tiền
Vua đúc tiền không ai cầy cấy
Liệu cô mình ở vậy được chăng

Chắc là nói về một thời gian lịch sử, dường như là đời vua Cảnh Thịnh

Cái cò chết tối hôm qua
Có hai hạt gạo với ba đồng tiền
Một đồng mua trống mua kèn
Một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong
Một đồng mua mớ rau răm
Đem về thái nhỏ thờ vong con cò.

Mây câu này thì thiệt là không dám bàn, chỉ biết là rau răm mà thái nhỏ là đem trộn, xé ... gỏi thôi.

Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Nàng về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng

Một hai bài về chim

Con chim bay bổng bay cao
Lại anh anh gửi con dao têm trầu
Dao anh tiện mía, bổ cau
Chớ tỉa lông mày, mà mẻ dao anh
Nhà anh có một cây chanh
Nó chưa ra cành, nó đã ra hoa
Nhà anh có một mẹ già
Thổi cơm chả chín, quét nhà chả nên ...

Bài này thì hiểu sơ sơ (thày có giảng qua) anh chàng đi tán đào, ngỏ ý sẽ nên duyên, và kể rõ suy tư của mình cũng như gia cảnh để cô biết mà chịu hay không
Dao têm trầu là con dao nhỏ, gon, rất sắc bén dùng bởi cô chủ nhà ..mới
Anh là người chăm chỉ làm ăn, tặng con dao nghề cho cô là để làm những việc chăm sóc vun đắp gia cang, chớ không phải để cô tỉa chân mày làm điệu cả ngày. Cha anh chết sớm chỉ còn mẹ già, già yếu lắm đến độ không làm được những việc rất thường nhật, nên cô sẽ ... không bị cảnh mẹ chồng nàng dâu ... bài ca dao hàm ý thật hay và đầy đủ.
Dưới đây cũng là một bài tương tự chỉ giống mấy câu cuối

Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây…
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.
Có rửa thì rửa chân tay
Đừng rửa lông mày chết cá ao anh
Nhà anh có một cây chanh
Nó chưa ra cành, nó đã ra hoa ...

Thêm ít câu ca dao có dính líu đến ... chim

Tìm em như thể tìm chim
Chim ăn biển Bắc anh tìm biển Đông
Tìm biển Đông thấy lông chim nhạn
Anh tìm biển cạn thấy đàn chim bay
Từ rày buộc chỉ cổ tay
Chim đậu thì bắt, chim bay thì đừng

Và có lẽ ít ai quên được những câu ca dao tuyệt diệu này

Mình về mình nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười
Năm quan mua lấy miệng cười
Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen

Đố ai đếm được lá rừng,
Đố ai đếm được mấy từng trời cao,
Đố ai đếm được nghìn sao,
Đố ai đếm được, công lao mẫu từ.
...

Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ Tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay ...

TANGO với BIỂN, Vũ Đức Sao Biển-Thùy Trâm

http://www.nhaccuatui.com/m/zxKkM3ptRw

Edited by user Sunday, May 22, 2011 10:41:05 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Ngoc N Hao  
#149 Posted : Monday, May 23, 2011 9:38:27 AM(UTC)
Ngoc N Hao

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
" Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương "


Chùa Thiên Mụ hay chùa Trấn Vũ?
(Trích trong cuốn "Những điều nên biết"của Nguyễn Văn Thái)


LTG: Mới đây, tôi được đọc một bài của Bác Sĩ Trần Tiễn Sum viết ngày 11 tháng 2 năm 2010 về một câu ca dao trong đó nói đến chùa Thiên Mụ. Bài viết này rất hay tuy nhiên khá dài. Vì thế tôi xin mạn phép thu gọn lại cho ngắn hơn, và cố gắng dùng những chữ dễ hiểu cho phù hợp với những độc giả trẻ tuổi. Ai muốn đọc toàn bài của BS Trần Tiễn Sum, hãy vào mạng www.khoahoc.net.

Gần đây một số nhà khảo cứu trong và ngoài nước đã đề cập đến câu ca dao nổi tiếng về thắng cảnh ở Huế nhưng lại nêu nghi vấn liên quan đến các địa danh ở Hà Nội.


UserPostedImage

Chùa Thiên Mụ, nhìn từ bờ Sông Hương, Huế



Câu ca dao đó là:

Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.



Có ý kiến cho rằng, đúng ra phải viết là : Tiếng chuông Trấn Võ (Vũ), canh gà Thọ Xương.

Những câu hỏi được đưa ra là :

Địa danh nào xuất hiện trước trong câu ca dao trên?
Địa danh đó có đúng với câu thơ nguyên thủy không?
Lịch sử có liên quan gì giữa các địa danh của Huế-Sông Hương, và Hà Nội-Hồ Tây?
Tâm sự của cụ Dương Khuê với câu hò này như thế nào?

Bài viết này cố gắng đưa ra lời giải đáp cho những câu hỏi nêu trên.



1.Tiếng chuông chùa Thiên Mụ

Chùa Thiên Mụ được xây dựng từ thời chúa Nguyễn Hoàng (năm Tân Sửu, 1601) , tọa lạc trên một ngọn đồi thuộc xã Hà Khê (cũ), nay là xã Hương Long, thành phố Huế mặt nhìn xuống dòng sông Hương. Đến năm 1710, chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc một cái chuông lớn để dùng cho chùa. Tiếng chuông Thiên Mụ ngoài âm sắc của loại đồng được chế tạo bằng một kỹ thuật đặc biệt của Phường Đúc ở Huế, nó được vang xa nhờ vào vị trí đặt chuông trên đồi cao, lại có dòng sông Hương trải dài như một chất dẫn truyền âm thanh tự nhiên.

Bên dòng sông Hương lững lờ thơ mộng, tiếng chuông cứ ngân dài lan tỏa trong không gian. Không gian càng rộng, càng yên tĩnh, tiếng chuông nghe càng sâu lắng. Chỉ một tiếng chuông nhưng đã cô đọng bao nhiêu là buồn vui, khắc khoải của một đời người. Cũng tiếng chuông này nhưng âm thanh mỗi mùa mỗi khác. Mùa xuân tiếng chuông nghe trong vắt tươi vui. Mùa hạ, tiếng chuông nghe thảnh thơi thoáng mát như là sự bao dung của trời đất. Vào mùa thu, tiếng chuông đi qua cây lá, nghe nhẹ nhàng mơ hồ như một hơi thở. Sang mùa đông, Huế rét mướt, tiếng chuông nghe như buồn bả, chậm rải hơn bao giờ hết.

Câu ca dao xưa, có lẽ xuất hiện từ ngày chùa Thiên Mụ có chuông lớn, tả cảnh đẹp thơ mộng xứ Huế và nỗi lòng ai đó nhân một đêm trăng dạo chơi bằng thuyền trên sông Hương. Ngày xưa cũng như hiện nay, hình ảnh chiếc thuyền êm đềm trôi trên dòng sông Hương thật đẹp và thơ mộng. Thơ mộng nhất là đoạn sông trước chùa Thiên Mụ mà phía bên kia sông là làng Long Thọ (xưa kia là Thọ Xương) lúc nửa đêm về sáng khi được nghe tiếng chuông chùa Thiên Mụ và đồng thời nghe tiếng gà gáy từ vùng Thọ Xương của cố đô Huế.

Qua các sử liệu, rõ ràng ở Huế có một địa danh, qua các thời kỳ mang bốn tên khác nhau: Thọ Khương, Thọ Xương, Thọ Cương, và cuối cùng là Long Thọ.

Vậy Thọ Khương, Thọ Xương, Thọ Cương và Long Thọ đều là một và đã tồn tại bên bờ sông Hương từ xa xưa, với những bụi trúc soi bóng nước; phía bên kia sông là chùa Thiên Mụ, cảnh đẹp làm rung động lòng du khách, thi nhân. Theo cụ Hương Giang Thái Văn Kiểm, câu ca dao “Tiếng chuông Thiên Mụ” là một lời ca hồn nhiên hiền hòa, của một cô lái đò trên dòng sông Hương; có thể nó đã xuất hiện từ thời kỳ lập chùa hồi đầu thế kỷ 18 (sau năm 1710), mang âm điệu của một câu hò dân gian với thổ ngữ Thiên Mụ từ 1710 -1862; và Thọ Xương thì chỉ thông dụng trong khoảng hai thập niên 1802-1820 mà thôi, rồi dần dần ít người biết đến địa danh này nữa.

Hiện nay, những danh từ chùa Thiên Mụ (Linh Mụ) và Long Thọ thông dụng hơn trong dân chúng Huế. Tuy nhiên, trong câu ca dao thì địa danh Thọ Xương vẫn còn hiện diện vì nếu thay nó bằng hai chữ “Long Thọ” thì câu ca dao không còn giữ đúng âm vận nữa, nghe mất hay đi.



2. Tiếng chuông chùa Trấn Võ (Vũ)

UserPostedImage

Chùa Trấn Vũ ở Hà Nội

UserPostedImage

Không biết từ lúc nào, câu ca dao xứ Huế với “tiếng chuông Thiên Mụ” đã trở thành câu thơ miêu tả phong cảnh Hà Nội với “tiếng chuông Trấn Vũ”. Người ta cho rằng cụ Dương Khuê là người đầu tiên đã đưa “tiếng chuông Thiên Mụ” ra Hà Nội trong một bài thơ lục bát của cụ. Một trong những bài thơ bốn câu lục bát, niêm luật rất nghiêm chỉnh, được ưa chuộng nhất của cụ Dương Khuê là bài ca tụng bốn cảnh nên thơ của Hà Nội:

Hà Nội Tức Cảnh:

Phất phơ ngọn trúc trăng tà,
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói toả ngàn sương,
Nhịp chày An Thái, mặt gương Tây Hồ.


Lâu nay, hầu hết mọi người đều nghĩ rằng bài Hà Nội tức cảnh là một bài ca dao (không có tác giả). Nhưng, sự thực thì bài thơ này là của cụ Dương Khuê (1839-1902). Điều này đã được chứng minh bởi gia phả nhà họ Dương; và tiến sĩ Dương Thiệu Tống đã chép lại bài thơ này từ cuốn Tâm trạng Dương Khuê và Dương Lâm (Nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1995). Tiến Sĩ Dương Thiệu Tống còn kèm theo một nhận xét như sau:

"Có người đã sửa đổi câu đầu bài thơ này là ‘Gió đưa cành trúc la đà’, nhưng có lẽ là sai vì làm mất đi ý nghĩa ngầm của toàn câu mà
chỉ còn ý nghĩa tả cảnh (nổi) mà thôi."

Các nhà thơ Việt Nam, trong đó có cụ Dương Khuê, thường có thói quen làm thơ để gửi gấm tâm sự của mình. Dưới đây là một vài nét về tiểu sử của cụ Dương Khuê:

Dương Khuê sinh năm 1839, đỗ cử nhân năm 1859 (lúc 20 tuổi), đỗ tiến sĩ năm Mậu Thìn (1868). Vì quê ở làng Vân Đình (thuộc tỉnh Hà Đông) cho nên người ta gọi cụ là “ông Nghè Vân Đình”. Cụ làm quan dưới triều vua Tự Đức; cụ thấy vua Tự Đức quá nhân nhượng với người Pháp, bị người Pháp chèn ép quá đáng cho nên cụ đã dâng biểu (*) lên vua Tự Đức đề nghị là phải cứng rắn với người Pháp. Nhưng, vua Tự Đức không nghe và phê vào tờ biểu rằng “Bất thức thời vụ” (có nghĩa là không biết gì về thời cuộc). Rồi, vua giáng chức của cụ hai lần. Cụ Dương Khuê rất bất mãn với cung cách xử thế của nhà vua cho nên cụ đã làm bài thơ Hà Nội tức cảnh để gửi gấm tâm tư của mình trong đó.

(*) Biểu là một bài viết của quan hoặc dân dâng lên vua; bây giờ gọi là bản kiến nghị.


Sơ lược về mấy địa danh trong bài Hà Nội tức cảnh:

Ở Hà Nội, địa hạt của huyện Thọ Xương xưa thuộc nội thành gọi là Vĩnh Xương, nay tương đương hai quận Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng, gần hồ Gươm hiện nay. Năm 1805 vua Gia Long đổi huyện Vĩnh Xương thành Thọ Xương. Bây giờ huyện Thọ Xương chỉ còn là một phố nhỏ với đường Thọ Xương (nối đường Phủ Doãn và Lý Quốc Sư quận Hoàn Kiếm) có di tích Văn Chỉ Thọ Xương mà thôi. Còn lại 3 địa danh kia trong bài Hà Nội tức cảnh là thuộc vùng Hồ Tây. Hồ Tây là một cái hồ lớn nhất ở nội thành Hà Nội, từ xa xưa đã là thắng cảnh nổi tiếng nên các nho sĩ thời đó thường hay ví Hồ Tây ở Hà Nội với Tây Hồ rất nổi tiếng thuộc tỉnh Hàng Châu của Trung Hoa.

Quán Trấn Vũ, còn gọi là Chân Vũ hoặc Quán Thánh, nhưng người ta quen gọi là đền Quán Thánh, nằm phía nam Hồ Tây. Nơi này thờ Huyền Thiên Trấn Vũ Chân Quân, là một vị thánh của đạo Giáo (còn gọi là đạo Lão, theo triết thuyết của Lão Tử - Taoism), để trấn giữ yêu quái ở phía bắc kinh thành. Vua Lê Hy Tông, cho đúc tượng Trấn Vũ bằng đồng đen cao lớn, mặc áo đạo sĩ mầu đen, xõa tóc, không đội mũ, chân đất, tay trái giơ lên bắt quyết (tức là làm phép phù thủy), tay phải chống kiếm xuống lưng một con rùa, có rắn lượn quanh kiếm. Ở gác tam quan có treo một quả chuông (cao gần 1,5m) được đúc cùng thời với tượng Trấn Vũ. Đền Quán Thánh là nơi sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa nổi tiếng của người dân Hà Nội từ xưa đến nay.

Làng giấy Yên Thái hay An Thái còn có tên là làng Bưởi. Trong sách "Dư địa chí" của Nguyễn Trãi viết vào nǎm 1435 đã nói đến nghề làm giấy từ vỏ cây của làng này cho nên có tiếng chày giã giấy trong đêm sương mờ. Nhịp chày Yên Thái có nghĩa người dân phải dùng cối và chày để giã vỏ cây dó (papyrus) thành bột, đem nấu rồi mới cán mỏng ra làm giấy. Tiếng chày giã vào cối đá lớn phát ra âm thanh vang cả vùng Yên Thái.

Ý nghĩa ẩn hàm (implied) của bài thơ.

Phất phơ ngọn trúc trăng tà. Ngọn trúc chỉ người quân tử; mặt trăng chỉ nhà vua; tà có nghĩa là xuống thấp, đang suy thoái. Câu này ám chỉ người quân tử (cụ Dương Khuê) đang đứng trước tình trạng nhiễu nhương, uy tín của triều đình Tự Đức đang suy thoái.

Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương. Cụ Dương Khuê ước chi có được “tiếng chuông” và “tiếng gà gáy” lúc ban mai để đánh thức vua, quan, và dân chúng đang “ngủ vùi” trong tình trạng bi đát của đất nước. Có thể là cụ Dương Khuê muốn gián tiếp làm thức tỉnh vua quan tại triều đình Huế cho nên Cụ đã cố ý dùng câu thứ hai của câu hò xứ Huế (Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương) nhưng thay bằng địa danh của Hà Nội: Trấn Vũ thay cho Thiên Mụ. Tiếng chuông Trấn Vũ để đánh động người dân Bắc Kỳ đứng lên chống Pháp. Hà Nội và Huế đều có địa danh Thọ Xương cho nên Cụ dùng bốn chữ “canh gà Thọ Xương” để nói lên lòng ao ước của mình, ước gì tiếng gà gáy sáng ở vùng Thọ Xương (Huế) sẽ đánh động vua quan tại triều đình Huế về tình hình nước nhà đang gặp nguy biến.

Mịt mù khói tỏa ngàn sương. Ám chỉ tình hình nguy biến của đất nước.

Nhịp chày An Thái, mặt gương Tây Hồ. Câu này nói lên lòng mong ước của cụ Dương Khuê; mong rằng cả nước từ vua đến quan, đến dân đều một lòng trong công cuộc chống Pháp để người dân có được một cuộc sống an bình (nhịp chày An Thái; an = an lành; thái = thịnh vượng) và phẳng lặng như mặt nước Hồ Tây.


Thời điểm xuất hiện của câu ca dao và bài Hà Nội tức cảnh.

Chùa Thiên Mụ được xây năm 1601, vào thời Chúa Nguyễn vào nam lập nghiệp. Chuông chùa Thiên Mụ được đúc năm 1710. Vì chùa ở trên đồi cao cho nên tiếng chuông vang đi rất xa. Phong cảnh hữu tình được tạo ra bởi tiếng chuông chùa, tiếng gà gáy sáng, bụi trúc ven sông, và dòng sông Hương thơ mộng đã là động lực giúp cho thi nhân xứ Huế sáng tác ra câu ca dao “Gió đưa cành trúc la đà; tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.”

Bài thơ Hà Nội tức cảnh của cụ Dương Khuê được sáng tác vào khoảng thập niên 1870, sau nhiều năm cụ sống tại Huế. Do đó ta có thể nói rằng câu ca dao trên đây đã thấm nhập vào trí óc cụ Dương Khuê. Vì thế, khi cụ trở ra miền bắc, gặp lúc thời thế nhiễu nhương, cụ làm bài thơ Hà Nội tức cảnh để gửi gấm nỗi lòng của mình. Hai dòng đầu của bài thơ, cụ đã mượn câu ca dao nói trên nhưng thay đổi địa danh cho hợp với phong cảnh của Hà Nội: Chùa Thiên Mụ đổi thành chùa Trấn Vũ. Rất may là Hà Nội cũng có địa danh Thọ Xương cho nên cụ không cần phải đổi địa danh này.

Có điều khác biệt là, Thọ Xương ở Hà Nội, ngày nay vẫn còn mang tên Thọ Xương; trong khi Thọ Xương ở Huế đã thay đổi tên nhiều lần theo dòng thời gian, từ Thọ Khương, đến Thọ Xương, đến Thọ Cương, và nay là Long Thọ.

Vì không rành về địa danh cho nên nhiều tác giả đã nhất quyết cho rằng chùa Trấn Vũ phải đi kèm với Thọ Xương thì mới hợp lý để tả phong cảnh Hà Nội; và rằng chùa Thiên Mụ đi kèm với Thọ Xương thì không hợp lý tí nào cả vì Huế không có địa danh Thọ Xương [sic]. Trong số những tác giả này có Trần Trung Viên, và mới đây (tháng 9-2010) Giáo Sư Vũ Quốc Thúc cũng có cùng lập luận như vậy.

Năm 1987, khoa Ngữ Văn (Đại Học Sư Phạm Huế ) đã ấn hành cuốn Văn học dân gian Bình Trị Thiên, trong đó có bài ca dao "Biết đâu" như sau:


Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.
Thuyền về xuôi mái sông Hương,
Có nghe tâm sự đôi đường đắng cay.


Vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, sách báo tại Hà Nội đều nhất loạt theo chủ trương đổi câu:

"Phất phơ ngọn trúc trăng tà. (thơ Dương Khuê)
thành ra:

"Gió đưa cành trúc la đà, (ca dao Huế)

Vì thế, nhà văn Vũ Ngọc Phan, mặc dù không đồng ý với việc thay đổi thơ của cụ Dương Khuê, nhưng muốn được yên thân, cũng phải viết đúng theo cách của sách báo cộng sản Hà Nội, nói khác đi là phải "viết theo lề phải", là:

"Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương. "

Tuy nhiên, ông cũng không quên chú thích rằng có bản chép là "Phất phơ ngọn trúc trăng tà" để cho lương tâm của ông khỏi bị cắn rứt.




3.Tóm tắt

Ta thấy có sự khác nhau giữa câu ca dao xứ Huế:

Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.


Và bài thơ Hà Nội tức cảnh của cụ Dương Khuê:

Phất phơ ngọn trúc trăng tà,
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói toả ngàn sương,
Nhịp chày An Thái, mặt gương Tây Hồ.



Chúng hoàn toàn khác nhau về ngôn từ cũng như về ý nghĩa. Câu ca dao, không có tác giả, diễn tả phong cảnh hữu tình, thơ mộng của miền sông Hương núi Ngự vào một buổi sáng sớm khi gà vừa gáy canh năm; trong khi bài thơ Hà Nội tức cảnh do cụ Dương Khuê sáng tác để gửi gấm nỗi lòng của mình đối với hoàn cảnh đất nước. Trong bài thơ, cụ đã biến đổi địa danh Thiên Mụ (ở Huế) của câu ca dao thành ra địa danh Trấn Võ (ở Hà Nội) cho hợp với phong cảnh Hà Nội.

Huế và Hà Nội đều có địa danh “Thọ Xương”. Thọ Xương của Hà Nội vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay; trong khi Thọ Xương của Huế đã bị đổi tên nhiều lần mà hiện nay có tên là Long Thọ. Chính vì không hiểu rõ lịch sử về sự đổi tên này mà nhiều người cho rằng Huế không có địa danh Thọ Xương, gây ra những cuộc tranh cãi đến nay vẫn chưa chấm dứt.

***
Ngày 27 tháng 11 năm 2010
Nguyễn Văn Thái

Edited by user Monday, May 23, 2011 9:42:20 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thunder  
#150 Posted : Monday, May 23, 2011 7:22:46 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Kinh Nghiệm Sống của Dân Gian Qua Văn Chương Bình Dân


Thứ năm, 19 Tháng 5 2011

Đã nhiều tháng qua, tôi bị hấp dẫn bởi những tiếng nổ của các kho đạn, những chuyện kỳ cục, những điều "trồi", "nổi" quanh mình nen trong một chừng mực nào đó, tôi đã quên bẵng đi những vần ca dao mà bà nhà Bắc Kỳ của tôi đã chép ra từ trong trí nhớ của bả, để trên bàn viết mỗi ngày như một sự nhắc nhở tôi đừng quên chuyện ngày xưa. Càng hít thở không khí trên cõi đời phiền muộn, đầy dẫy oái ăm này càng lâu chừng nào, người ta càng nhớ và sống với quá khứ nhiều chừng nấy. Vui hay buồn gì, ai trong chúng ta cũng đều có quá khứ và sống với nó ít hay nhiều thì tùy thuộc tâm trạng mỗi người.

Thế nhưng, cái "chuyện xưa" mà tôi đề cập dưới đây là chuyện chung, không thuộc về ai cả. Và tôi cũng xin tầm phào tào lao một chút về những kinh nghiệm sống trong dân gian qua những vần ca dao, xem người xưa đã suy nghĩ, và sinh hoạt ra sao, âu cũng là một điều "vệ sinh và bổ". Bây giờ, xin mời bạn đọc những vần ca dao sau:

Rau răm ngắt ngọn lại trồng
Em thương anh lắm sợ lòng chị ghen.
Anh về bảo chị đừng ghen,
Để em thấp thoáng ánh đèn cho vui.

Bạn cũng như tôi, có lẽ đều thuộc "nòi tình"? Bạn nghĩ gì và có thấy vừa thương vừa tội nghiệp cho người con gái xưng "em" ấy không? Thương và tội nghiệp cho nàng vì nàng biết phận mình, không có cái chuyện "đến sau" mà cứ ghen ngược, đòi chiếm cứ làm của riêng như chúng ta thường thấy xảy ra trong đời sống hàng ngày. Nàng có đòi hỏi điều gì quá đáng đâu, chỉ xin "thấp thoáng ánh đèn" cho vui thôi mà. Dễ thương biết chừng nào! Đó là nói về nàng, còn người viết ra mấy câu trên thì tôi tin chắc cũng thuộc thành phần "Ta cũng nòi tình, thương người đồng điệu" (Chu Mạnh Trinh). Đó là một người ham thích của lạ, muốn đèo bòng chạy một lúc vài ba "máy" cho đời thêm vui, và thêm...rắc rối. Thật ra, trong 10 anh "đần ông" (không phải đàn ông) thì hết 11 anh có máu loạng quạng, léng phéng không ít thì nhiều. Quý vị nam nhi chi chí nào tự xưng mình là người mẫu mực, đạo đức, không hề phiêu lưu, mơ tưởng đến những "vùng đất xa lạ" thì người ấy có thể được sánh ngang với hàng "thánh sống" rồi. Đa phần còn lại, trong đó có tôi, thuộc loại phàm phu tục tử, một thứ "đần ông" chính hiệu ngất ngư con tàu đi. Cho nên, xin có lời bái phục! Phải bái phục các vị thánh sống đó là bởi vì, chính các cụ đạo đức cùng mình ngày xưa, đã không ngần ngại mà thốt lên rằng:

Thế gian ba sự không chừa,
Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương tơ.

Một nàng thì rất dịu dàng, e ấp, chịu phần lép vế chỉ xin "thấp thoáng ánh đèn" thôi, nàng kia thì can đảm hơn, chận anh giữa đường, níu áo anh lại để than thở với anh vài lời:

Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại em than vài lời.
Đi đâu vội thế anh ơi,
Công việc đã có chị tôi ở nhà.

Và một nàng khác, tuy cũng thương anh nhưng rất thực tế, nàng cảnh giác tối đa chỉ sợ bà cả vác dao chém cho vài nhát thì còn chi là đời nữa:

Gặp anh em cũng muốn chào
Sợ rằng chị cả dắt dao trong người.

Tục ngữ có câu "cái nết đánh chết cái đẹp", nghĩa là coi chuyện nhan sắc của người phụ nữ không quan trọng bằng tính nết. Tục ngữ nói vậy thì ta cứ biết như vậy, nhưng cái hấp dẫn đầu tiên của người phụ nữ đối với các đấng nam nhi là cái gì? Có phải nhan sắc của người phụ nữ ấy không? Tôi không biết người yêu của Chí Phèo trong tiểu thuyết của Nam Cao xấu xí ra sao nhưng các cụ ngày xưa vẫn một mực cương quyết:

Chẳng thà chịu lạnh nằm không,
Còn hơn có vợ lẹm cằm, răng hô.

Cằm lẹm, răng hô thì các cụ chê đã đành rồi mà ngay cả đến cô nàng có cái mặt mo phinh phinh, chân lại đi vòng kiền chữ bát thì có cho không, các cụ cũng chẳng thèm:

Người mà phinh phính mặt mo,
Chân đi chữ bát, có cho chẳng thèm

Ngược lại, người con gái có đôi mắt lá răm, chân mày lá liễu thì đúng là của quý, đáng trăm quan tiền:

Người mà con mắt lá răm,
Chân mày lá liễu đáng trăm quan tiền.

Đến đây các bạn có thể thắc mắc: thế cái loại nhan sắc nào của các nàng khiến cá cụ nhìn rồi muốn chửi(?):

Mặt má miếng bầu, nhìn lâu muốn chửi
Mặt chữ điền, tiền rưỡi cũng mua.

Các cụ có được những hiểu biết về cách ăn ở, đối xử của người chung quanh là do quan sát, tích lũy kinh nghiệm rồi đói chiếu, so sánh để có một nhận định chung. Theo đó, người phụ nữ nào mà đáy thắt lưng ong thì khéo chiều chồng và khéo nuôi con. Còn "mệ" nào béo trục béo tròn thì ăn vụng như mèo lại hay rầy rà con cái. Đúng được bao nhiêu phần trăm thì khó mà khẳng định, có điều những hình ảnh đó đã truyền lại cho con cháu suốt bao thế hệ và đã ở lại mãi mãi trong văn chương bình dân:

Người mà đáy thắt lưng ong,
Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con.
Những người béo trục béo tròn,
Ăn vụng như chớp, cấu con cả ngày.

Cũng qua kinh nghiệm trên một số người mà các cụ có nhận xét:

Trai Nhâm Đinh Quý thì tài,
Gái Nhâm Đinh Quý phải hai lần đò.

Hai lần đò là trong cuộc đời của người phụ nữ có cái tuổi Nhâm Đinh Quý này sẽ có tới hai đời chồng. Ngày xưa, ít có vụ ly dị mà chỉ khi chồng chết rồi người đàn bà mới tái giá, đi thêm một bước nữa. Còn thời nay, nhất là ở trên xứ Mỹ tự do một cách kỳ cục này thì không hẳn là do chồng chết mà là do không còn "hợp" nhau nữa nên "anh đường anh, tôi đường tôi" đấy thôi. Không nói tới chuyện tiền bạc, dốp diếc làm chi, chỉ cần chàng ngủ ngáy hơi lớn tiếng là nàng vác đơn ra tòa ca bài "hai giòng sông ly biệt" rồi. (Nhân nói về một người đàn bà đi thêm bước nữa gọi là tái giá, tôi thấy Tiếng Việt ta thật hay và phong phú. Đàn ông vợ chết, lấy vợ khác gọi là tục huyền, còn đàn bà lấy chồng khác gọi là tái giá. Tôi đã lẩn thẩn nghĩ rằng trong trường hợp các bà, sao ta không gọi là "tục tỉu", có phải vui hơn không? Nghĩa là: đàn ông, vợ chết lấy vợ khác; gọi là tục huyền. Đàn bà, chồng chết, lấy chồng khác: gọi là tục tỉu. Cũng đều bắt đầu bằng chữ "tục" cả. Tái nạm, tái gầu vào đây làm chi cho thêm phiền toái!)

Trong khi đó, về cánh đàn ông, các cụ không e ngại gì mà tuyên bố thẳng thừng rằng:

Sông bao nhiêu nước cũng vừa,
Trai bao nhiêu vợ cũng chưa vừa lòng

Hoặc:

Trong nhà có sẵn yến ngâm,
Lại còn muốn những nhung sâm nước ngoài.

Và đây là một chàng tuy đã có vợ nhưng không lúc nào quên bồ nhí của mình:

Con quạ bay xa, bay qua vườn hoa kêu chua chát,
Con nhạn đậu lầu vàng nghỉ mát kêu sương
Nhạn kêu tiếng nhạn đau thương,
Đêm nằm nhớ vợ, ngày thường nhớ em.

Chàng có vợ bé hoặc bồ nhí hay cho rằng vợ người khác đẹp hơn vợ mình thì cũng là chuyện thường tình nhưng chàng sẽ là một tên "đại cà chớn" nếu có tà ý đem lòng thương yêu vợ bạn. Chàng cũng hiểu như thế là bất nhơn, là không đạo đức:

Ai xui ai khiến bất nhơn
Tui thấy vợ bạn tui thương hơn vợ nhà.

Còn chàng có thương vợ người khác mà không được thì thôi chứ chẳng lẽ ăn vạ hay tự tử(?):

Buồn tình chẳng muốn nói cười,
Bởi thương vợ người không được thì thôi.

Thương không được thì thôi chứ không như mấy anh chàng có máu "dê" đầy mình và gan góc, chết thì chịu chứ quyết theo đuổi nàng tới cùng:

Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết tôi, tôi chịu, buông nàng không buông.

Nếu chàng gan dạ và can đảm cùng mình như thế thì hẳn chàng có nhiều lá gan và không chỉ chàng dành cho vợ mà còn cho người khác nữa.:

Đàn ông năm bảy lá gan,
Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người.

Đó chỉ mới là "toan tính" thôi chứ chưa chắc đã dám hành động rõ ràng dứt khoát như trường hợp của phe tóc dài dưới đây:

Hai tay cầm hai quả hồng,
Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai.
Đêm nằm vuốt bụng thở dài,
Thương chồng thì ít thương trai thì nhiều.

Như thế, cuộc sống lứa đôi của cặp vợ chồng trên đây không có gì bảo đảm sẽ tồn tại với thời gian, không thể nào ăn đời ở kiếp đến răng long đầu bạc được. Người chồng ở đây là một người chồng đau khổ. anh đau khổ là vì lỗi là do chính anh chứ không phải nguyên do nào khác. Vợ anh không thương anh mà đem lòng thương trai là do anh đần độn quá sức:

Một là em lấy chồng quan,
Hai là chồng lính, ba là chồng dân
Nhưng em không chịu lấy chồng đần,
Về nhà cha mẹ mắng, ra đường chị em khinh.

Cái quan niệm chọn chồng của người đàn bà ở trên thật minh bạch. Lấy ai cũng được, sang hèn gì cũng xong nhưng không thể đi nâng khăn sửa túi cho một anh ngu đần, ăn nói vụng về luôn luôn gây phật lòng người khác. Có một câu chuyện kể rất tiếu lâm về một anh chồng đần độn kiểu này như sau:

"Một anh chồng trong một gia đình nọ, vừa ngu vừa vụng về. Hễ mở miệng ra là đem bực mình đến cho người khác. Vì thế, trong mọi giao tiếp, bà vợ phải cấm chỉ anh ta, không nói gì hết. Một hôm, hai vợ chồng được mời dự bữa tiệc đầy tháng con của một người bạn. Bà vợ dặn chồng là suốt bữa tiệc phải im lặng hoàn toàn. Anh chồng nghe lời. Đến dự, mặc cho thiên hạ nói gì thì nói, suốt buổi anh thủ khẩu như bình. Đến khi tiệc tan, mọi người chia tay nhau ra về, mỗi người đều nói một lời chúc tụng nào đó cho cháu bé. Anh chồng buộc lời phải phát ngôn. Anh bèn nói với chủ nhà, là mẹ của đứa trẻ sơ sinh: Chị thấy đó, từ đầu tiệc đến giờ tôi hoàn toàn không có nói điều chi cả. Lỡ ngày mai cháu bé có chết, chị đừng có đổ thừa là tại tôi đấy nhá!"

Cánh đàn ông chúng ta thường tự nhận mình là "đần ông" để vuốt ve, thỏa mãn tự ái của các bà chứ nếu các bà thật sự chê chúng ta là ngốc, là đần thì ta đành phải xách xe không chạy mút chỉ cả tha thôi:

Một đêm quân tử nằm kề,
Còn hơn thằng ngốc vỗ về quanh năm.

Hay:

Một ngày dựa mạn thuyền rồng
Còn hơn chín tháng nằm trong thuyền chài

Từ Đông sang Tây, một ngàn năm trước hay hay một triệu năm sau, bất cứ ở đâu, thời nào cũng có những người đàn bà không đoan chính, tự do xả láng sáng về sớm. Có chồng thì càng dễ..."lăng ba vị bộ", vì đã có người đứng mũi chịu sào rồi mà.

Có chồng càng dễ chơi ngang,
Đẻ ra con thiếp, con chàng, con ai?

Và còn ra cái điều "thách thức" nữa các cụ ạ:

Con tôi đi kiếm về đây,
Có cho nó gọi bằng thầy thì cho.

Không những thách thức mà còn trân tráo, đanh đá, trơ mặt ngồi xổm trên luân thường đạo lý mới là kinh hãi. Trong đời, bạn đã từng gặp loại người đàn bà này chưa:

Lẳng lơ cũng chẳng có mòn ,
Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ.

Trường hợp nàng gặp phải một anh chàng ba phải, phổi bò, không quan tâm thắc mắc gì đời sống của nàng, ra cái điều rộng lượng thì nàng cũng có quyền rong chơi với tháng ngày chứ:

Em đây là gái năm con,
Chồng em rộng lượng, em còn chơi Xuân.

Thà là như thế còn hơn cái cảnh đêm nay để cửa chờ chồng, đêm mai thì chờ ông láng giềng:

Đêm qua để cửa chờ chồng
Đêm nay để cửa chờ ông láng giềng.

Ngày xưa, khi người chồng qua đời, người vợ để tang 3 năm, sau đó có quyền lấy chồng khác. Tuy thế, cũng không ít trường hợp chưa mãn tang, người đàn bà đã vội có người đàn ông khác:

Mả chồng còn đó trơ trơ,
Đã cùng người khác đợi chờ năm canh.

Bên cạnh đó cũng có những người vợ rất đàng hoàng, đoan chính, nhỏ nhẹ, thưa với người đi theo tán tỉnh rằng "cám ơn những tình cảm anh dành cho tui nhưng xin anh đừng đến nhà tui nữa kẻo chồng tui ghen":

Có lòng thì tạ ơn lòng
Anh đừng đến nữa mà chồng em ghen.

Trong đời sống hàng ngay, vợ chồng chia bùi xẻ ngọt với nhau. Không ai có thể săn sóc lo lắng cho nhau tận tình như vợ với chồng. Thử hình dung ra cảnh người chồng đau nằm liệt giường, người vợ lo thuốc thang, chân thấp chân cao bưng thuốc đến cho chồng uống, vừa đi vừa vái trời cho chồng mạnh khỏe để cùng ăn đời ở kiếp...Làm sao ta không thương hết mình những người vợ như thế được:

Cầm con dao sắc cắt đôi củ gừng,
Bỏ vô nồi đất, sắc lại vài phân.
Cái tay em bưng, cái chân em bước
Mái tóc em xước, cái lược em rơi
Vừa đi vừa vái ông trời
Cho chồng em mạnh, ở đời với em.

Nếu người đàn bà thương chồng nhiều đến thế thì hẳn nhiên là cũng thương con ngập lòng. Nàng bương chải đi làm nuôi con, mặc cho áo rách sờn vai:

Em đi làm mướn nuôi ai,
Cho áo em rách, cho vai em mòn.
Em đi làm mướn nuôi con,
Áo rách mặc áo, vai sờn mặc vai.

Một vài hình ảnh khác cho thấy sự buôn tần bán tảo và bương chải ngược xuôi, đầu tắt mặt tối để lo sinh kế gia đình của người đàn bà đến nỗi vú xẹp, lưng nàng teo:

Một ngày ba bận trèo đèo,
Vì ai vú xẹp, lưng teo hỡi chàng?

Nhìn chung, qua những vần ca dao, chúng ta có thể hình dung và hiểu được những suy nghĩ cùng tâm tình và cách sống của dân gian. Cũng qua ca dao, người xưa đã để lại cho chúng ta một kho tàng về kinh nghiệm sống trên mọi lãnh vực, trong đó đáng kể nhất là kinh nghiệm nói về bản chất không thể thay đổi ở một số người, hay nói nôm na là khi đã thành "tật" rồi thì khó mà chữa được:

Trời nắng rồi trời lại mưa,
Tính nào tật nấy có chừa được đâu.

HUỲNH VĂN PHÚ

thunder  
#151 Posted : Monday, May 23, 2011 10:18:44 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Số Phận Con Người


Tình đã đến, đời đời tình ở lại, vì thủy chung, tình sống mãi ngàn năm. “Từ ngàn xưa tình yêu không có tuổi - Tình muôn đời, tình vẫn trinh nguyên”.
Người thơ Vân Bích Loan, phương danh Trần Thị Ninh, người bạn học từ thuở thiếu thời của tác giả, đã tươi cười chép miệng, tỏ ý hài lòng hai câu thơ vừa kể : “Đẹp quá đi thôi” !

- Trong khi ấy, thi sĩ Hoàng Anh Tuấn đã tuyệt vời khi diễn tả hình ảnh một giai nhân. Trong bước đời gian truân, bất chợt nhìn thấy bóng dáng ai - như người đang trong cơn say bỗng dưng chợt tỉnh. Dáng em đi như mây trôi hờ hững. Giọng nói ngọt ngào thanh thót như tiếng chim ca. Suối tóc mượt tình, chảy êm ái trên đôi vai thon thả như lối mộng cài hoa. Mùi ngọc lan ngọt ngào thoang thoảng hương bay trên đôi vai gầy bé nhỏ. Trong mơ hồ, tưởng mình đang lạc bước giữa vườn hoa tiên giới... Bước chân đời, nhè nhẹ lướt trên mây.

Hai tay nhón một trái ô mai
Chiếc răng khểnh xinh nụ cười cam thảo

Trong phút chốc mình nghe hồn điên đảo. Tình đam mê, nên tình không tỉnh táo phút giây nào. Cuộc đời và tình yêu. Tình yêu và cuộc đời, trải dài giữa thực và những giấc chiêm bao. Thực và mộng, mơ hồ đẹp không kể xiết.
- Thi sĩ Hà Huyền Chi cố tình đi xa hơn nhiều bước. Ông không muốn kể chuyện tình yêu thông thường qua lý thuyết. Nhìn vào suối đam mê từ phía trước với bao góc cạnh lạ thường. Trong phút giây cô đơn, nghe thèm lắm những nụ hôn. Vòng tay lạnh, mang buồn thêm cho nỗi nhớ.

Trên giòng da thịt chơi vơi sóng
Anh thả đời trôi đến cõi tiên

- Ngòi bút quen thuộc của Thanh Sơn, cũng là bạn đồng song của tác giả. Anh nầy nhìn tình yêu bằng góc cạnh khá thực tế, nên có đôi chút phũ phàng. Theo Thanh Sơn, đến với tình yêu có nhiều lối khác nhau. Nếu không khéo, dễ sa chân vào bóng tối. Phút giây đó chỉ thấy thương đau và nhức nhối. Bằng cớ là, một nhạc sĩ tài hoa đã sáng tác ra ca khúc “Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn”.

Đường tình hai ngõ gần nhau
Hướng lên tiên cảnh, lối vào âm ty !

- Hoàng Linh Trang, người con gái xứ Huế, bà mở cuộc hành trình vào thi ca từ nửa thế kỷ qua vẫn còn tiếp nối. Hoàng Linh Trang nhẹ nhàng trải lên giấy những hơi thở thi ca, nghe đầm ấm mượt mà và tình tứ. Không than van, không trách hờn nhưng tình vẫn tha thiết êm đềm. Tình hiện lên mơ hồ, tình như những bản tình ca. Như gió heo may vừa se lạnh trên da thịt - như mây trời mờ tỏ cuối thôn xa, chờ tiễn biệt bóng chiều tà đang thoi thóp !

Sông vẫn chảy dịu dàng miền thơ ấu
Sóng miên man nhè nhẹ vỗ đôi bờ
Nước trong xanh thấm vào hồn ngọt lịm
Nghe mái chèo ru rỗ cả giấc mơ

Sông vẫn reo vui nụ cười thời con gái
Nắng xôn xao phượng đỏ sóng dậy thì
Tiếng chim xưa vườn bên sông hót mãi
Áo lụa qua cầu, chơm chớp hàng mi.

Dòng chảy cứ nhẹ nhàng trôi như thế
Tiễn người xa và đón người về
Nốt nhạc trầm rêu xám thuở đam mê
Ru mãi thời gian xanh chầm chậm

- Em đứng chờ ai giữa chợ đời phố lạ, chở đầy vơi trong giếng mắt u buồn. Từ đâu đến nỗi sầu nghe quen quá, thân lưu đày với bao nỗi truân chuyên “chôn kín nỗi niềm, bỏ đời con gái - Qua sông dài em xuống biển trầm luân...”. Thời gian qua, tưởng nỗi đau thành mây khói. Lòng vẫn trông mong - tim hy vọng âm thầm.
Thi sĩ Phương Triều gợi buồn trên xứ lạ, “Chiều Bolsa chợt nhớ lối quê hương. Tình yêu êm đềm biển mang đi tất cả. Tắt nụ cười tình vơi ngàn nỗi xót xa !
...
Em đứng đợi ai mắt buồn hoe đỏ
Giọt mồ hôi đọng ở tóc mai dài
Ngõ phố Duy Tân nối đời chia biệt
Chiều hẹn hò rơi rụng lá me bay.

Chôn kín nỗi niềm, bỏ đời con gái
Qua sông dài, em xuống biển trầm luân
Hai mươi năm, không dễ gì gặp lại
Nắm xương khô vùi dập lá cây rừng

Em tính tuổi đời, em quên tuổi thật
Đã già chưa mà cằn cỗi niềm đau
Đã son phấn lên vết đời hiu quạnh
Đêm từng đêm, tính lại tuổi hư hao
.....
- Tình đi rồi, sao tim vương vấn mãi ? “Người dắt tay đi trên phố lượn - Em vòng tay ôm lấy nỗi thờ ơ”. Biển Đông ơi, gây chi điều ngang trái - Kiếp lưu vong vay mượn chút tình hờ. Trong “Ngang Trái”, thi sĩ Hà Huyền Chi đã viết : “Em đừng khóc giữa mùa tim chín rỡ - Cánh đam mê còn bay bổng như diều - Lệ bỗng chảy, bỗng buồn vô căn cớ...”. Nỗi đau nầy đến từ ngõ tình yêu...
- “Chiều Bolsa”, thi sĩ Phương Triều mang chút buồn lên phố lạ...
...
Người dắt tay nhau đi trên phố lượn
Em vòng tay ôm lấy những thờ ơ
Có thật anh về hay anh đã khuất
Chiều Bolsa, ai mắt đợi môi chờ ?

Em thương mẹ em một đời lận đận
Giờ thêm con cùng một kiếp buồn đau
Mẹ đã thức cùng con đêm mất ngủ
Nghe hồn con cuồn cuộn những ba đào

Em thương mẹ em một đời cô quạnh
Em thương em còn bao nỗi niềm riêng
Em lạc lõng giữa tưng bừng phố chợ
Chiều Bolsa, hồn nặng trĩu ưu phiền

- Miên man trong nỗi nhớ - tơi tả bước chân đời - nụ cười không trọn vẹn - tội tình đôi bờ môi.
Một trong những môn sinh của thi tài Vũ Hoàng Chương, nhà thơ, nhà báo Vũ Uyên Giang đã gởi lại trong thơ chút ngậm ngùi - nghe chừng tức tưởi kiếp làm người. Anh không nói hết điều muốn nói. Cảm thương thay số phận con người...

Cảnh cũ ngày xưa cũng ngậm ngùi
Người muôn năm trước đã xa xôi
Không tìm thấy lá me đường nhỏ
Nhưng hạt mưa trầm luân vẫn rơi

Mưa trầm luân rơi mãi xuống hè đời - ướt vai hạnh phúc, ướt hồn tôi. Kẻ vui cuộc sống trên gác ngọc. Người đến tương tư ở cuối trời. Trở lại chốn xưa tìm kỷ niệm - đường tình xưa, chỉ thấy lá me rơi. Thương số kiếp cuộc đời quạnh quẽ. Cõi xa nào, ai còn nhớ đến tôi ?
Nỗi đau êm ái ấy đã được nữ sĩ Huệ Thu tuyệt vời khi hạ bút : “Công viên ghế đá buồn duyên cũ - Ngõ hẹp hàng quà lạc tiếng rao”.
Buồn nào cũng giống buồn nào. Buồn nào cũng muốn leo cao đỉnh trời. Trời sanh ra kiếp con người, Nụ cười, nước mắt đời đời thủy chung.
Trong một bài thơ đăng trên tuần báo Ngày Mới từ năm 1958, mà người viết nhớ loáng thoáng vài câu, cô Vân Bích Loan đã chở theo cả nỗi buồn phía sau yên xe đạp của lứa tuổi học trò vốn quá nhiều lãng mạn : “Gió lạnh hôm nay tản mạn về - Mây sầu giăng kín cả trời quê. Lời thơ của cô nữ sinh tỉnh lẻ Vân Bích Loan, đăng trên tuần báo Nhân Loại gần nửa thế kỷ qua, ngờ đâu nay trở thành sự tiên đoán thần sầu, bởi trên khắp quê hương giờ đây khắp nơi mây sầu đều giăng kín.
- Tình yêu và cuộc đời - biết nói sao hơn với muôn ngàn chuyện buồn, vui. Vào giờ phút quê hương đang trong tình trạng thoi thóp thở (1974), nhà thơ Vương Đức Lệ đã sáng tác những câu tình thơ, như những cánh hoa tươi đang rực rỡ những nụ cười, nụ cười thật tươi, thơm lừng ý sống “Ngẩn ngơ anh nhìn theo - Em đi và ngoảnh lại - môi cười và tay vẫy - Hình như là tình yêu”. Ngoài ra, trong đoạn I của bài thơ Định Mệnh Buồn (Trong Thi tập Thiên Nga Trên Ngọn Đỉnh Trời) nghe như có chút gì làm nghèn nghẹn con tim - nghe như cay đắng đang vây phủ.- Phủ vây cả cuộc đời, không chỉ mỗi trái tim.

Tôi, con tàm với tháng ngày xê dịch
Quận lỵ buồn, buổi sáng nhỏ sân ga
Những chuyến đi, những lần về vô định
Và đêm đêm sầu muộn những canh gà

Sân ga đó đã bao lần tiễn biệt
Kỷ niệm buồn, tình ái bỏ sau lưng
Tôi rên xiết cho hình hài rũ liệt
Trời quê hương thăm thẳm lũ cây rừng

Ngày phảng phất thời gian còn dư vị
Của chán chường, của giây phút chia ly
Chiều xõa cánh, mắt em sầu nhỏ lệ
Hành trang này, mảnh hồn đó dại si

Tôi tủi phận, hồi sinh trong khoảnh khắc
Tuổi học trò, sách vở cũng buông xuôi
Nẻo quê hương tôi nghe chừng xa lắc
Trong ăn năn lên tiếng gọi tên người.

Nỗi buồn xưa, dầu có leo lên tận đỉnh trời - thì sự việc cũng xảy ra trên quê hương ngày cũ “Tôi tủi phận hồi sinh trong khoảnh khắc - Tuổi học trò sách vở cũng buông xuôi”.

...Rồi phút chốc phải rời xa Tổ Quốc. Buồn nào hơn cho số phận con người !

HẢI BẰNG

Hạ Vi  
#152 Posted : Tuesday, May 24, 2011 3:56:42 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,588
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

UserPostedImage


Nỗi Lòng
Của Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Khánh



Đối với người nghe nhạc, cuộc đời của một nhạc sĩ không đo bằng năm tháng mà bằng tác phẩm do họ sáng tạo. Thành thử miễn ngày nào thính giả còn để lòng rung lên với Thiên Thai, với Đêm Tàn Bến Ngự, với Đêm Đông, với Ướt Mi, hay Cô Láng Giềng… , ngày ấy những tên tuổi Văn Cao, Dương Thiệu Tuớc, Nguyễn Văn Thương, Trịnh Công Sơn, Hoàng Qúy vẫn sống và vẫn tiếp tục thắp sáng đời sống.

Chẳng phải chỉ bất tử, mỗi nhạc sĩ tài hoa của chúng ta còn là một “đạo sĩ” tu luyện thành công thứ “pháp thuật” trẻ mãi không già. Cho nên dù tác giả những bản nhạc vượt lên trên sự đào thải khắc nghiệt của năm tháng như tác giả Tô Vũ , Lê Trạch Lựu , Hoàng Dương, hoặc Quốc Dũng… đã 50, 70, hay 90 tuổi, ta vẫn không thể gọi họ là bác hay cụ đuợc. Gọi như thế, lễ phép đâu chẳng thấy, chỉ biết nó phi văn nghệ, thậm chí phản khoa học .

Là vì chính âm nhạc - tôi muốn nói âm nhạc đúng nghĩa chứ chẳng phải thứ “âm nhạc” Hoa quả sơn động lúc nào cũng dậm dựt ở vỉa hè góc chợ - đã và đang rắc cơn mưa xuân phép tích xuống mảnh ruộng cằn nứt vì cái thói kèn cựa dơ tục và đố kỵ tủn mủn, mà vốn dĩ lại hay gia tăng tỷ lệ thuận theo tuổi tác, của kiếp nhân sinh mới thực đáng phàn nàn.

Nhờ cơn mưa âm nhạc, những vết nứt nẻ được xóa lấp, mầm mộng nơ bắt đầu nứt mộng thành cánh đồng luá vào sữa xanh mướt tình người và thơm ngát hương đời. Nhờ thế những cái lỗ chân trâu tính toán hiểm độc cùng những bãi phân trâu ganh ghét tanh tưởi mặc nhiên biến đi đâu mất. Thay vào đấy là tiếng sáo diều mơn trớn, là lời khoai lúa tự tình, cùng những cánh cửa lòng rộng mở để phục sinh tình người, để vinh danh bản chất vị tha, nhân hậu của kiếp người.

Âm nhạc như thế mặc dù không cần khóac cho mình bất cứ một thiên chức hoặc sứ mạng nào cả , nó vẫn mặc nhiên khiến con tim của lòai người trông trẻ ra và phơi phới trở lại bởi vì hễ ngày nào người ta còn biết mộng mơ, và hễ ngày nào người ta thích bỏ qua và tha thứ hơn là chấp nhất so đo hận thù, ngày ấy con người vẫn may mắn chưa bị hất tung ta khỏi cõi thiên thai thơ trẻ mà không một ai trong chúng ta là không nuối tiếc nhưng chẳng phải ai ai trong chúng ta cũng dễ dàng quay về.


Và nếu mỗi một nhạc sĩ tài danh là một chuyên viên thẩm mỹ tâm hồn thì viện thẩm mỹ tâm hồn của nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh (NV Khánh) sua là gạt đi không hết thân chủ.

Suốt hơn nửa thế kỷ qua, bao nhiêu thế hệ nam nữ đã nghe, đã hát, cũng như đã mượn miễn phí bài hát Nỗi Lòng của NV Khánh để biểu tỏ nỗi lòng của mình, thế nhưng có mấy ai trong số họ biết NV Khánh từng nhỏ máu tim để viết lên bản sầu khúc bi thống ấy?

Lúc đang theo học bậc thành chung, ở cạnh nhà cậu học trò NV Khánh có cô hàng xóm xinh xắn dọn về đấy ở. Chỉ mới lần đầu gặp nhau, nhưng sao đôi trai gái ngỡ chừng đã phải lòng nhau từ muôn kiếp trước?

Sáng sáng nàng ra sân sau quét vuờn. Sáng sáng chàng ra sân sau vờ vĩnh tập thể dục. Hai người không nhìn nhau và ngay cả không dám thở mạnh. Họ sợ chíêc cầu vồng mộng tưởng nối liền hai quả tim trong trẻo ấu thời sẽ theo sương sớm tan biến đi mất. Chỉ đến khi nàng sắp sửa quay vào nhà thì không hẹn mà gặp, bốn con mắt chuyếnh chóang men tình ấy mới dám liếc nhanh tìm nhau trông y hệt hai kẻ ăn trộm đang lén núp chuyển giao đồ quốc cấm.


UserPostedImage



Vì trót yêu vụng thương thầm em gái kỹ quá, năm ấy NV Khánh thi trượt bằng đíp-lôm. Cô bé hàng xóm tuy còn bé nhưng đã khôn ranh ra trò. Trong bức tối hậu thư gởi NV Khánh ngay sau ngày nhận được tin chàng dẫm nhằm vỏ chuối, nàng bảo ba tháng hè này, anh phải cố thi bằng đíp lôm kỳ hai cho đậu, chứ không thế nào bố em cũng đem gả em cho một thầy thông ở cùng chỗ làm là khổ cả đời hoa anh ạ. Đọc đến đấy, vừa phẫn nộ vừa hãi hùng, NV Khánh bèn viết thư hồi đáp rằng thì là chàng hứa sẽ chăm học thi đỗ nhưng đổi lại cô hàng xóm phải cho chàng gặp mặt mỗi tuần ít ra một lần thì chàng mới yên tâm để mà…. học tập tốt thi cử tốt.

Truớc ngày NV Khánh xách bút giấy đi thi trung học kỳ hai, ông Thông phán già cha của cô bé nhận lệnh đổi lên công tác ở vùng ma thiêng nuớc độc Thái Nguyên. Từ đấy chiều thứ bảy nào, NV Khánh cũng lót tót bắt chíêc xe lửa từ Hà nội đi sân ga Lạng Sơn rồi nhảy tiếp chuyến xe đò về Thái Nguyên để tìm thăm cô hàng xóm vừa xa nhưng rất nhớ.

Tỉnh Thái Nguyên nhỏ, lòng nguời Thái nguyên hẹp, thực không phải là nơi cho đôi tình nhân đứng ở bến xe kể lể chuyện tình yêu. Chịu không xiết thói đời thích thêu dệt, ông thông phán già nhất định tìm một nơi môn đăng hộ đối gả con gái để hy vọng dập tắt tiếng thị phi và cũng để vĩnh viễn “trục xúât” NV Khánh ra khỏi con tim tan nát của cô hang xóm cũ.

Trong cơn mưa chiều tỉnh nhỏ, đôi chim non tức tưởi bấu chặt lấy tay nhau trước phút ly biệt. Định mệnh lạnh lùng kéo họ ra, ném mỗi người về một đầu mút của giòng sông nhớ thương, chia cắt. Và trong hòan cảnh não lòng ấy, bài hát Nỗi Lòng không có tuổi của âm nhạc Việt nam ra đời:

Yêu ai yêu cả một đời
Tình những quá khắt khe khiến cho đời ta
Đau tủi cả lòng
Vì yêu ai mà lòng hằng nhớ…

Và :

Lòng vẫn biết nếu yêu rồi một ngày
Là đến với đớn đau
Nhưng sao trong ta vẫn yêu vẫn nhớ
Dù sao, dù sao nếu có một ngày
Một ngày gieo trong tim ta
Là tình yêu kia ly tan
Mà lòng vẫn thương vẫn nhớ…


Vì không quên và không thể nào quên, nên lúc nhận được tấm thiệp cưới do cô láng giềng gởi đến, NV Khánh lập tức lặn lội trở lên Thái Nguyên, đứng nấp sau sau con đường nhỏ đợi đón chiếc xe hoa chở người yêu sẽ đi qua vào giờ ấy ngày ấy như lá thư của nàng đã dặn dò tỉ mỉ.

Chiếc xe hoa không đi qua, cũng chẳng bao giờ còn cơ hội đi qua nữa cả. Bởi vì :

Sáng nay vô số lá vàng roi.
Nguời gái trinh kia đã chết rồi.
Có môt chiếc xe màu trắng đục.
Hai con ngựa trắng buớc hàng đôi.
Theo gót những người khăn áo trắng.
Khóc hồn trinh trắng mãi không thôi.



Trở về Hà nội, theo những nguời bạn kể lại, NV Khánh không khóc mà ôm đàn ngồi viết một mạch bài Chiều Vàng:


Trên đồi thông chiều đã xuống dần.
Mặt Trời lấp ló sau đồi, chiều vàng…
Giờ đây vương thêm hương cố nhân.
Năm tháng trôi qua sóng gió đời.
Chiều chiều nhớ em lòng không nguôi.



UserPostedImage




Đấy là ca khúc thứ hai, cũng là nhạc phẩm cuối cùng trong đời làm nhạc của NV Khánh. Cuộc tình lớn quá, nỗi đau tuyệt tình mênh mông quá khiến con tim nhỏ bé của ông gánh không xuể. Cho nên hai sầu khúc thảng thốt, hay hai tiếng thở dài bi thống trong Nỗi Lòng và Chiều Vàng chẳng qua chỉ là hai nỗ lưc vô vọng của NV Khánh nhằm phóng thoát tiếc nhớ, vĩnh định kỷ niệm, và vì thế sáng danh thương yêu.

Hễ thiếu vắng thương yêu, bằng hàm ‎y‎ hai bài hát của nhạc sĩ NV Khánh khẳng định, con người lúc ấy không sống, mà chỉ tồn tại. Nước thực phẩm không khí và ngay cả mớ động tác giao hợp giúp con người tồn tại cũng như kéo dài sự tồn tại. Trong khi sống là yêu thương, hoặc may mắn hơn là vừa yêu thương và vừa được ai đấy thương yêu.

Cây cỏ có bao giờ sống?
Không đâu, cây cỏ chỉ tồn tại.




nguồn: đặctrưng phố rùm



(còn tiếp)

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
thuylinh on 5/26/2011(UTC)
thunder  
#153 Posted : Tuesday, May 24, 2011 10:26:26 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage

GIỮA CƠN MƯA

Chúng mình cách nhau một cơn mưa
Cả hai cùng đang khát cháy
Mà mưa dăng dăng buồn đến vậy
Giá mình vượt qua được mưa

Anh đã bao giờ đứng ngắm mưa chưa
Hạt này rơi, hạt kia rơi... buốt lạnh
Và anh đã một lần cô quạnh?
Mới hiểu được em nhớ anh dưới mưa

nghe tim đập thập thình giống như ngày xưa
lần đầu gọi nhau, ngực như có sấm
mưa càng rơi mình càng thêm ấm
thế mà bây giờ lại trách mưa rơi

giữa là cơn mưa mình mỗi đứa một nơi
nghe thao thiết tiếng gọi người không thấy
thôi đành ngắm mưa mà nhớ vậy
Đến bao giờ mình lại đứng dưới mưa?

Đến bao giờ em lại được chở che
Em lại được vòng tay anh sưởi ấm
Em lại được nụ hôn say đắm
Của một thời mình đứng dưới mưa

Ước ao, những ao ước nhạt nhòa
Giữa một trời dăng dăng mưa ướt
Cơn gió ào qua làm em lạnh buốt
Giá mà bây giờ em lại có anh

NGUYỄN THỊ KIM LIÊN


xuan hoang  
#154 Posted : Wednesday, May 25, 2011 5:35:31 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)

Hạt Mưa Tình


UserPostedImage



Em ngồi đếm những hạt mưa
Hạt chờ hạt đợi đong đưa nỗi sầu
Hạt tình ươm mộng bấy lâu
Từ trong tiền kiếp ví dầu chia xa.

Hạt nhớ ray rức trăng tà
Trăm năm thổn thức xuân qua ngậm ngùi
Hạt thương lấp lánh sao trời
Hạt quên nào dễ bên đời phôi pha .

Hạt pha lê tím tình ta
Long lanh tỏa sáng thiết tha với người .
Hạt nồng ấp ủ tim côi
Hạt buồn thôi hết dẫu đời gió mưa .

Ngọc Quyên



UserPostedImage



UserPostedImage
Hungholland  
#155 Posted : Wednesday, May 25, 2011 6:02:57 AM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)
Hôm nay,Hưng xin mời các bạn cùng nhau tìm hiểu và ôn lại 1 ĐẠI TUYỆT TÁC "ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH" hay còn gọi "KIM - VÂN - KIỀU " hoặc " TRUYỆN KIỀU " của ĐẠI THI HÀO NGUYỄN DU

Nguyễn Du (1765-1820) tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn Liệp Hộ, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông đỗ tam trường năm 19 tuổi, nhưng gặp buổi loạn ly, đường công danh không được trọn vẹn. Khi Tây Sơn ra lấy Bắc Hà ông không hợp tác; định cùng một số cựu thần nhà Lê mưu toan khôi phục triều đại cũ. Việc không thành phải về quê lánh nạn. Sau khi Gia Long lên ngôi (1802) một số quan chức cũ nhà Lê được mời ra tham chánh. Nguyễn Du được bổ làm tri huyện huyện Phù Dực (Thái Bình), rồi thăng lên tri phủ phủ Thường Tín (Hà Đông). Năm bính dần (1806) ông được triệu về kinh làm Đông Các Học Sĩ. Năm kỷ tỵ (1809) ông làm Bố Chính tỉnh Quảng Bình. Năm qúy dậu (1813) làm Cần Chánh Điện Học Sĩ và đi sứ sang Trung Hoa. Khi về được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri. Năm canh thìn (1820) vua Minh Mạng sai ông đi sứ sang Trung Hoa thêm một lần nữa nhưng chưa kịp đi thì mất. (ST)

TRUYỆN KIỀU


UserPostedImage

Xuất xứ : Truyện Kiều là tên gọi phổ biến của tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh ( chữ Hán : 斷腸新聲) của đại thi hào Nguyễn Du . Tác phẩm này đã đưa Nguyễn Du lên hàng danh nhân văn hoá thế giới . Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, truyện được viết ra sau khi ông đi sứ nhà Thanh về và theo lời truyền thì Phạm Quý Thích đã cho khắc in vào khoảng từ năm 1820 đến năm 1825 . Bản khắc in đó nay không còn nữa. Tác phẩm này được viết bằng chữ Nôm , gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát . Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân , Trung Quốc . Hiện nay, ở Việt Nam lưu truyền một số dị bản của tác phẩm này. Bản nôm cổ nhất còn lưu giữ là bản "Liễu Văn Đường" khắc in năm Tự Đức thứ 19 ( 1866 ), mới phát hiện ở tỉnh Nghệ An.

Truyện Kiều là tiểu thuyết viết bằng thơ lục bát( tức 2 câu thơ - câu trên 6 chữ và câu dưới 8 chữ) . Truyện phản ánh xã hội đương thời thông qua cuộc đời của nhân vật chính Vương Thuý Kiều. Xuyên suốt tác phẩm là chữ "tâm" theo như Nguyễn Du đã tâm niệm "Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu" (nghĩa là "Linh Sơn chỉ ở lòng người thôi"). Ngày nay, Truyện Kiều của Nguyễn Du là một trong những tác phẩm văn học Việt Nam được giới thiệu rộng rãi nhất đến với các du khách cũng như các nhà nghiên cứu nước ngoài. (ST)


Đoạn 1 GIA ĐÌNH VƯƠNG THUÝ KIỀU

Tóm tắt nội dung : Vào khoảng thời vua Minh Thế Tông ( 1522 - 1566 ), trong một gia đình viên ngoại họ Vương có 3 người con, con cả là Vương Thuý Kiều , sau là Thuý Vân và Vương Quan là cậu út. Hai chị em Thúy Kiều và Thuý Vân thì "mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười", nhưng "so bề tài, sắc" thì Thúy Kiều lại hơn hẳn cô em.

"1..Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
5.. Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
Cảo thơm lần giở trước đèn,
Phong tình có lục còn truyền sử xanh.
Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh,
10.. Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng.
Có nhà viên ngoại họ Vương,
Gia tư nghĩ cũng thường thường bực trung.
Một trai con thứ rốt lòng,
Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia.
15.. Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Một người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời,
20.. Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
25.. Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một, hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tư trời,
30.. Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên bạc mệnh, lại càng não nhân.
35.. Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh sấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai."


( Còn tiếp )


* Giải nghĩa :

2. Người có tài thì thường gặp mệnh bạc, hình như Tài, mệnh ghét nhau, xung khắc với nhau, hễ được hơn cái này thì phải kém cái kia.

3. Bể dâu: Trong văn chương cổ của chúng ta thường dùng thành ngữ "bãi bể nương dâu", hoặc nói tắt là "bể dâu" để chỉ những sự biến đổi thăng trầm của cuộc đời.

5. Bỉ sắc tư phong: Cái kia kém thì cái này hơn, nghĩa là: Được hơn điều này thì bị kém điều kia.

6. (Tạo hoá ghen với người đàn bà đẹp). ý nói: Người đàn bà đẹp thường gặp cảnh ngộ không hay.

7. Cảo thơm hay Kiểu thơm: do chữ phương cảo, nghĩa là pho sách thơm pho sách hay.

8. Phong tình: Chỉ những chuyện ái tình trai gái.

Sử xanh: Thời xưa, khi chưa có giấy, người ta chép sử bằng cách khắc chữ vào những thanh trúc, cật trúc màu xanh, nên gọi là thanh sử.

9. Gia-tĩnh: Niên hiệu vua Thế Tông, nhà Minh (1522-1566).

10. Hai kinh: Tức Bắc Kinh và Nam Kinh (Trung Quốc).

11. Viên ngoại: Một chức quan giữ việc sổ sách tại các bộ, đặt ra từ thời Lục-triều. Về sau, "Viên ngoại" dần dần trở thành một hư hàm. Chữ "Viên ngoại" ở đây được dùng theo nghĩa này.

14. Chữ: Theo lễ nghi Trung Quốc xưa, người nào cũng có "danh" là tên chính, và "tự" là tên chữ ("Danh" đặt từ khi sinh ra, còn "tụ" thì đến khi hai mươi tuổi mới dựa theo "danh" mà đặt ra).

15. Tố Nga: Chỉ người con gái đẹp.

17. Thuý Kiều và Thuý Vân, mỗi người có một vẻ riêng ví như mai có "cốt cách" của mai, tuyết có "tinh thần" của tuyết.

20. Khuông trăng: Khuôn mặt đầy đặn, tròn trĩnh, xinh xắn như mặt trăng. Nét ngài: nét lông mày.

21. Thốt: Tiếng cổ có nghĩa là nói.

Hoa cười, ngọc thốt: cười tươi như hoa, nói đẹp như ngọc.

25. Thu thuỷ: Nước mùa thu, Xuân sơn: Núi mùa xuân. Câu noi này ví mắt Kiều trong sáng như làn nước mùa thu, lông mày xinh đẹp như rặng núi mùa xuân.

27. Bài ca của Lý Diên Niên, đời Hán, ca ngợi sắc đẹp của một mĩ nhân có câu:

Nhất cố khuynh nhân thành
Tái cố khuynh nhân quốc

Nghĩa là:

Quay lại nhìn một lần thì làm nghiêng thành người
Quay lại nhìn lần nữa thì làm nghiêng nước người.

Do đó, người sau thường dùng chữ nghiêng nước (khuynh quốc), nghiêng thành (khuynh thành) để chỉ sắc đẹp phi thường của người phụ nữ.

Hai chữ một hai trong câu này dịch mấy chữ nhất cố, tái cố ở trên.

28. Câu này có nghĩa là về "sắc" thì chỉ có một mình Kiều là nhất, về "tài" thì họa may ra thì còn có người thứ hai nữa.

31. Cung, thương: Hai âm đứng đầu ngũ âm trong cung bậc nhạc cổ của Trung Quốc: Cung, thương giốc, truỷ, vũ.

Lầu bậc: Làu thông cung bậc.

32. Hồ cầm: Một loại đàn tỳ bà.

Hồ cầm một trương: Một cây đàn hồ cầm.

34. Bạc mệnh: Tên bản đàn do Thuý Kiều sáng tác. "Bạc mệnh" nghĩa là số mệnh bạc bẽo, mỏng manh.

Não nhân: Làm cho người ta nghe mà não lòng.

35. Hồng quần: Cái quân màu hồng, hai chữ này được dùng để chỉ nữ giới.

36. Cặp kê: Đến tuổi cài trâm (Kê nghĩa là cài trâm). Theo lễ cổ Trung Quốc, con gái 15 tuổi đến thì hứa gả chồng cho nên bắt đầu búi tóc cài trâm.

38. Tường đông: Bức tường ở phía đông. Thời xưa con gái thường ở nhà phía đông. Đây dùng chữ "tường đông" để chỉ chỗ có con gái đẹp ở.

Edited by user Tuesday, June 7, 2011 2:10:20 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hạ Vi  
#156 Posted : Wednesday, May 25, 2011 1:58:08 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,588
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

UserPostedImage


Nỗi Lòng
(Sáng tác: Nguyễn Văn Khánh)



Tuấn Ngọc
http://mp3.zing.vn/bai-h...-Tuan-Ngoc/IWZ99IO8.html


Yêu ai, yêu cả một đời
Tình những quá khắt khe khiến cho đời ta
Đau tủi cả lòng vì yêu ai mà lòng hằng nhớ


Năm tháng trôi lạnh lùng hoài
Tình đó nhắc nhở luôn đến ta tình ai
Nhớ cả một trời
Tình yêu kia mà lòng nào quên.


Lòng vẫn biết nếu yêu rồi một ngày
Là đến với đớn đau
Nhưng sao trong ta cứ vẫn yêu vẫn nhớ
Dầu sao, dầu sao nếu có một ngày



UserPostedImage



Một ngày ai reo tim ta
Là tình yêu kia ly tan
Và lòng vẫn thương vẫn nhớ
Tình đó khiến sui lòng ta đau
Rồi với bao ngày lặng lẽ sống
Nỗi đau trong lòng người yêu vẫn yêu hoài.


Yêu ai, ai hiểu được lòng
Thầm kín những đớn đau với riêng lòng ta
Ấp ủ lạnh lùng tình yêu kia mà người nào hay.




UserPostedImage





~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~


Chiều vàng


(Sáng tác: Nguyễn Văn Khánh)



UserPostedImage



Trên đồi xanh chiều đã xuống dần
Mặt trời lấp ló sau đồi chiều vàng
Riêng mình ta ngồi ngắm quanh trời
lạnh lùng nghe tiếng chim chiều gọi đàn
buồn xa vắng buồn lòng thầm nhớ tới người
Chiều xưa cũng trên đồi cùng ta
Người đã ước nguyền rằng đời riêng có ta
Lời đó còn đâu ?!!


Đường về lòng người tha phuơng nhớ
Chiều dần dần mờ cô thôn vắng
Người yêu dấu ngàn đời thấu chăng
Ta nén đau thương gắng bước hoài
Thuyền chèo tới đâu chưa ngừng bến


UserPostedImage



Lời thề nguyền ngờ đâu xa vắng
Tình tràn đầy sầu chung non nước
Hồn em có cùng người chứng minh
Anh bước ra đi luyến tiếc hoài
Đời còn có em nay mà thôi !


Sương chiều buông rơi mờ mờ rừng chiều dần dần tối
Núi mây bốn phương giang hồ ngơi đi
Thuyền lênh đênh trên sông Đà sóng, lướt lướt trên sông


Nhìn chiều vàng đồi thông thưa vắng
Lòng bùi ngùi buồn trông theo bóng
Giờ đây viếng thầm hồn cố nhân
Năm tháng trôi qua sóng gió đời
Chiều chiều nhớ em khôn lòng nguôi !


UserPostedImage



~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~



Xin mời các bạn xem hình ảnh và lời tâm sự của Khánh Ly, rất cảm động...
Dòng nhạc & lời bài hát rất cảm động nghe làm rơi nước mắt






UserPostedImage
thanks 1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
thuylinh on 5/26/2011(UTC)
thunder  
#157 Posted : Thursday, May 26, 2011 12:11:51 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)


Ca khúc ‘Lòng Mẹ’ với nhạc sĩ Y Vân


Tuesday, May 24, 2011 2:31:30 PM

Ngày lễ Mẹ vừa qua trên đất Hoa Kỳ đã trở thành ngày của Mẹ thật dễ thương và trìu mến của người Việt chúng ta đang sống trên đất người !

UserPostedImage
Nhạc sĩ Y Vân. (trích Wikipedia)

Dễ thương làm sao, quý mến làm sao, hiếu thảo làm sao khi chúng ta bỗng dưng có một ngày trong năm để cụ thể, để thật tình nghĩ đến Mẹ - Người đã mang nặng đẻ đau, sinh ra chúng ta trên cõi đời này. Dĩ nhiêu chúng ta không thể khẳng định với con số ngày tháng chính xác như ông bà ta đã nói: Chín tháng mười ngày, mà có thể cao hơn và ít hơn số ngày tháng đó? Như những năm qua, trong ngày lễ Mẹ khi đi loanh quanh trong những khu người Việt mình sinh sống, tôi vẫn nghe loáng thoáng bài hát Lòng MẸ “...Lòng mẹ bao la như biển Thái bình dạt dào”... Thế là lòng tôi trào dâng lên niềm thương nhớ vô bờ về mẹ tôi, mặc dù mẹ tôi đã bỏ tôi ra đi từ khi tôi còn tuổi niên thiếu! Quả thật bài ‘Lòng Mẹ’ là một trong những bài hát đã đi vào lòng tôi, trí óc tôi nhất là khi tôi may mắn được ở gần, quen biết và thân thuộc với chính tác giả của nó: Nhạc sĩ Y Vân.

Tôi nhớ rất rõ khi gia đình tôi từ Huế dọn vào Sài Gòn để chữa bệnh cho mẹ tôi là vào khoảng đầu năm 1959 thì mẹ tôi mua một căn nhà nho nhỏ ngay trong xóm chợ Vườn Xoài, nằm phía gần cổng xe lửa số 6 thuộc đường Trương minh Giảng, quân ba thành phố Sài Gòn. Khu này chính là Khu mà người dân Miền Bắc di cư vào Nam sau hiệp định Geneve 1954 sinh sống nhiều nhất,lúc bây giờ người ta vẫn nói đó là Khu Bắc Kỳ di cư. Trong số người Bắc đó có gia đình anh Y Vân, nhưng thật ra anh Y Vân là gốc người Thanh Hóa, mẹ anh Y Vân là bác Tiến Hưng, người mà sau đó tôi đã nghe chính miệng anh Y Vân nói là bài Lòng Mẹ anh đã viết theo ý của bác Tiến Hưng và chính bác Tiến Hưng đã sửa lời cho bài hát hoàn chỉnh.

Tôi không được sinh ra từ miền Bắc: gia đình tôi chỉ là Bắc Kỳ lai, nhưng Thầy tôi - Cha tôi đã từng làm quan Tổng đốc Thanh Hóa, dì ruột của tôi là bà Phán Trần Nhật Cẩm - tức là Mẹ của nhạc sĩ Trần Nhật Ngân, bác của gia đình nhạc sĩ Nhật Bằng, Nhật Phượng, ca sĩ Thể Tần Hồng Hảo ngày nào của đài phát thanh Sài Gòn, cùng là dân Thanh Hoa nên tất cả gia đình này đều quen biết thân thiết với nhau. Còn lớp con cháu là chúng tôi cũng chơi với nhau rất thân tình, nhất là anh em tôi và anh em anh Y Vân. Sự thân tình cho đến nỗi sau đó, chính người em ruột của tôi là nhạc sĩ Hoàng Huy - người trước 1975 đã nổi tiếng là người kẻ nhạc đẹp nhất Sải gòn trong ngành in nhạc; Huy còn là làm quản lý cho Trung tâm sản xuất dĩa nhạc bậc nhất Sài Gòn lúc đó là ASIA, nằm trên đường Phạm ngũ Lão. Huy đã cùng với nhạc sĩ Huỳnh Anh thực hiện ban nhạc và đàn cho nhà hàng khiêu vũ trường Văn Cảnh ở đường Ký Con Sài Gòn, hàng mấy chục năm cho đến ngày mất miền Nam tháng 4/1975 - Chính em tôi và anh Y Vân sau cùng đã trở thành anh em cột chèo với nhau, khi anh Y Vân lấy người chị còn em tôi lấy người em.

Trở về với anh Y Vân, tên thật là Trần Tấn Hậu, anh chỉ có hai người em, một gái tên là Hương sau này lấy anh Tường Tuấn đã có một thời cùng làm việc chung với tôi tại Thông tấn xã Tin Việt của anh Anh Phan trên đường Hồng Thập Tự; còn người em trai, đó chính là nhạc sĩ Y Vũ - Trần Gia Hội hiện đang còn ở Việt Nam.

Anh Y Vân, nếu kể về vai vế trong làng âm nhạc Việt Nam là ngang ngửa và cùng thời với các nhạc sĩ như Nhật Bằng, Nguyễn Hiền, Văn Phụng, Minh Kỳ-Lê Dinh, Anh Bằng, Tuấn Khanh... Mỗi người đều đã có những bản nhạc bất hủ để đời.

Tôi không biết chính xác là anh Y Vân đã để lại cho đời bao nhiêu bản nhạc, nhưng tôi biết anh đã sáng tác đủ các thể loại nhạc, từ slow, cha cha cha, rumba, tango cho đến Twist... tuyệt vời đến độ ít nhạc sĩ nào đã có, như bài Ðêm đô thị, 60 năm cuộc đời; Lính đa tình... còn dịu dàng, tình tứ hay thắm thiết như Ngăn cách; Xa vắng; U Hoài; Như giọt sương khuya; Tôi sẽ đưa em về; Ðêm giã từ; Ðêm tái ngộ; Ðừng lừa dối nhau; Những bước chân âm thầm... Ðặc biệt nhất là bài Lòng Mẹ mà theo tôi, chắc trong làng tân nhạc Việt Nam chúng ta chưa có bài nào nói về người mẹ sâu sắc, đầy đủ ý nghĩa và phổ biến rộng rãi cho bằng!

Tôi tự cảm thấy buồn và thương anh ấy thật nhiều! Chỉ với tư cách là người đã từng yêu mến nhạc và con người anh Y Vân, tôi xin ghi lại những dòng này - Có còn hơn không. Với tài năng của Y Vân, thời gian không còn cần thiết nữa bởi vì một số bản nhạc của Y Vân đã trở thành bất tử rồi! Tôi nghĩ viết được là nên viết, nhắc được là nên nhắc dù ít dù nhiều, dù ngắn hay dài, cho người nhạc sĩ tài hoa kia thì đều nên làm cả!

Hình ảnh anh Y Vân vẫn ghi nhớ trong tôi: Một người nghệ sĩ lúc nào trên môi cũng ngậm điếu thuốc Bastos - điếu này qua điếu khác. Một người có khuôn mặt khắc khổ nhưng hiền hòa mà một thời chúng tôi đặt tên cho anh là Nhạc sĩ Fernandel vì anh có khuôn mặt dài như tài tử mặt ngựa Fernandel của điện ảnh Pháp những năm giữa thập niên 1950.

Xin gởi mấy lời tưởng niệm này đến những người đã từng yêu mến dòng nhạc của nhạc sĩ Y Vân.

Mùa lễ Mother Day 2011 ở California,

Lê Hoàng ( Hoàng Q. Tru )


thunder  
#158 Posted : Thursday, May 26, 2011 4:00:54 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage

Lòng Mẹ

Sáng tác : Y Vân
Tiếng hát : Như Quỳnh

http://www.youtube.com/watch?v=Bn8bbTeKebA

I.
Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào,
Tình Mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào,
Lời Mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào.
Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng Mẹ yêu.

Lòng Mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu.
Tình Mẹ yêu mến như làn gió đùa mặt hồ.
Lời ru man mác êm như sáo diều dật dờ.
Nắng mưa sớm chiều vui cùng tiếng hát trẻ thơ.

Thương con thao thức bao đêm trường,
Con đà yên giấc Mẹ hiền vui sướng biết bao.
Thương con khuya sớm bao tháng ngày.
Lặn lội gieo neo nuôi con tới ngày lớn khôn.

Dù cho mưa gió không quản thân gầy Mẹ hiền.
Một sương hai nắng cho bạc mái đầu buồn phiền.
Ngày đêm sớm tối vui cùng con nhỏ một niềm.
Tiếng ru êm đềm mẹ hiền năm tháng triền miên.

II.
Lòng Mẹ chan chứa trên bao xóm làng gần xa.
Tình Mẹ dâng tới trăng ngàn đứng lặng để nghe,
Lời ru xao xuyến núi đồi suối rừng rặng tre.
Sóng ven Thái Bình im lìm khi tiếng Mẹ ru.

Một lòng nuôi nấng vỗ về những ngày còn thơ.
Một tình thương mến êm như tiếng đàn lời ca.
Mẹ hiền sớm tối khuyên nhủ bao lời mặn mà.
Khắc ghi bên lòng con trẻ muôn bước đường xa.

Thương con Mẹ hát câu êm đềm,
Ru lòng thơ ấu quản gì khi thức trắng đêm.
Bao năm nước mắt như suối nguồn.
Chảy vào tim con mái tóc trót đành đẫm sương.

Dù ai xa vắng trên đường sớm chiều về đâu.
Dù khi mưa gió tháng ngày trong đời bể dâu.
Dù cho phai nắng nhưng lòng thương chẳng lạt mầu.
Vẫn mong quay về vui vầy dưới bóng mẹ yêu.

thuylinh  
#159 Posted : Thursday, May 26, 2011 4:57:00 AM(UTC)
thuylinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 534
Location: Canada

Thanks: 1187 times
Was thanked: 353 time(s) in 196 post(s)
Lê Trạch Lựu viết về "Em Tôi"

UserPostedImage


Năm 1946 là năm tôi đi trại hè Sầm Sơn (05/1946), đi với đoàn Hướng Đạo, cùng nhiều đoàn khác, tập trung tại sân ga Hà nội. Tôi thoáng thấy một cô gái xinh xinh, dáng người phong nhã, có đôi mắt đẹp tuyệt vời. Không hiểu sao tôi thấy tôi như choáng váng, má tôi nóng bừng như lên cơn sốt; lần đầu tiên tôi thấy tôi có cái cảm giác lạ lùng này.

Nhà đoàn tôi « đóng trại » to lớn, rộng rãi, đó là những biệt thự nghỉ mát của bọn Pháp thuộc điạ bỏ lại, trước nhà là bãi biển mênh mông, sau nhà có một cái giếng. Trưa nào tôi cũng thấy cô gái ấy, đội nón, dưới nắng trang trang rũ áo, tôi ngồi bên cửa sổ nhìn cô ta. Thỉnh thoảng cô nàng ngửng đầu lên, vành nón che đôi mắt, nhưng tôi biết là cô ta đang nhìn tôi. Thú thật, tim tôi đập thình thình. Chao ơi, yêu đương là như vậy hay sao? Đây là một rung động đầu tiên, nào đâu tôi có biết cảm giác này từ thuở ra đời.

Về Hà nội tôi tìm nhà cô ta, vì có duyên nên tìm được ngay, cô ta ở gần nhà tôi. Bây giờ ta phải tìm biết tên cô ta nữa! Chiều nào tôi cũng đi qua nhà cô ta, để nhìn vào nhà, tìm lại đôi mắt đẹp. Tôi thấy có nhiều cậu trai cỡ bằng tuổi tôi đi qua đi lại trước cửa nhà, như tôi. Lúc đó tôi cũng thấy hơi hơi lo… sợ mất !
Nhưng may cho tôi, hồi ấy có một chú bé đi theo tôi hoài, hỏi ra là chú Mỹ, em cô Phượng. Trời ơi là trời, đất ơi là đất! Chúng tôi đi chơi với nhau. Một hôm, tôi viết một lá thư và mạnh dạn tôi hăng hái ra đi, nhưng chiều hôm đó tôi không thấy cô ta ra đứng ngoài cửa hóng mát. Rồi chiều hôm sau, chiều sau nữa. Thế rồi một chiều nào đó, tôi lại thấy cô ta đứng rũ tóc bên thềm.

Tìm đủ nghị lực, tôi sán gần cô ta, tay đưa lá thư, miệng lắp bắp một câu: « Phượng… Phượng cầm… cầm lấy cho… cho… tôi… tôi… lá thư này… » Rồi xong, tôi cắm đầu đi mất, không dám quay lại, sợ nhìn thấy hoặc cô ta xé lá thư, hoặc quẳng xuống lề đường… tôi sẽ mắc cỡ …
Để đỡ cho cái nặng nề đó, tôi tìm cách nói khéo với chú Mỹ, chú bằng lòng ngay. Thế là chú thành con chim xanh của tôi. Chiều nào chú cũng để một lá thư lên bàn. Bẩy tháng trời tôi viết đều đều, gần bẩy chục lá thư mà vẫn không thấy trả lời.

Tôi đau khổ quá không biết cô ta có yêu tôi không, tại sao cô ta không trả lời tôi, dù thuận dù không… Lúc bấy giờ tôi mới biết là tình yêu, thế nào là đợi chờ, là có nhiều đau khổ. Héo hon con người.

Thế rồi một hôm chú Mỹ tất tưởi chạy đến nhà tôi, đưa cho tôi một lá thư, hôm đó là một tuần trước ngày kháng chiến toàn quốc, tôi bồi hồi cầm lá thư, ở một góc có đề : Xin TRẠCH LỰU đừng giận KIM PHƯỢNG mà xé lá thư này…, tôi mở ra, đọc từng hàng chữ đều đều, tròn tròn, vuông vắn. Phượng nói yêu tôi từ ngay lúc đầu… nhưng muốn thử lòng tôi để xem tôi có phải là người đứng đắn rồi nói rằng ngày mai Phượng đi tản cư… ở Hà Ðông, cách làng tôi mấy làng… Tôi bàng hoàng như tỉnh một giấc mơ lâu dài chờ đợi từ bao nhiêu giờ, bao nhiêu phút. Thế là hai hôm sau, tôi đi bộ từ Hà nội qua làng tôi tới làng tạm trú của gia đình nàng, chúng tôi đi chơi dọc dòng sông Nhuệ cùng chú Mỹ, mẹ của Phượng, bà cụ nhìn chúng tôi âu yếm từ đằng xa … đi chơi cùng nhau hết cả buổi chiều, tôi không dám cầm tay Phượng, tôi ân hận tới bây giờ.

Tôi trở về thành, thế rồi chiến tranh, ba năm sau tôi sang Pháp. Không rõ Phượng ở đâu, tôi vẫn nhớ Phượng hoài. Một hôm trong trường cái nhớ nó làm tôi điên đầu… trong giờ Etude cuối lớp có anh chàng TRẦN BÍCH LAN NGUYÊN SA đang đọc Socrate hay sao, bên phải gần cửa sổ HOÀNG ANH TUẤN… không biết hắn làm gì, chắc đang làm thơ, tôi cầm cây đàn bấm bấm… hai ngày sau thành bài EM TÔI… cả nhạc lẫn lời. Chủ nhật ra Paris, đường Volontaires, sau bữa cơm trưa, quây quần với nhau, trong đó có Anh Tuấn, Thi Liên, Thoa em gái Nguyên Sa về sau lấy Trần đình Hòa, Bội Liên đã nhận được bài tôi gửi tới trường, hồi đó cô ta có yêu tôi, nhưng tôi tránh vì cô ta con nhà giầu… , Bội Liên dạo nhac trên mấy phím ngà… Nhạc EM TÔI vang lên khắp cả căn phòng, tôi tê tái nghe nhạc tôi, tôi thấy là lạ, chưa quen… vì mỗi lần tôi đã nghe trong tôi hay nghe cây đàn bên tôi nói với tôi, bây giờ những ngón tay ngà chạy qua phím đàn đến với tôi, tôi như ngỡ ngàng đi vào cơn mê…

Thế rồi tôi chép lại nhạc và lời trên trang giấy học trò, trên những giòng như đã kẻ nhạc, tôi gửi tới nhà xuất bản TINH HOA…
Những tháng năm qua…

UserPostedImage

KHI «EM TÔI» ĐƯỢC NỔI TIẾNG , TÔI KHÔNG ĐƯỢC SỐNG CÙNG VỚI THỜI ĐẠI ĐÓ VÌ TÔI Ở XA , TÔI KHÔNG ĐƯỢC NHÌN NHẬN RÕ RÀNG THẾ NÀO LÀ MỘT BẢN HÁT ĐƯỢC NGƯỜI ĐỜI YÊU CHUỘNG… TRAI HAY GÁI, AI AI CŨNG TƯỞNG LÀ MÌNH CÓ MỘT NGƯỜI YÊU , HAY MÌNH ĐƯỢC YÊU , HAY MÌNH TƯỞNG TƯỢNG CHÍNH MÌNH LÀ CÔ GÁI ẤY , CÒN CẬU TRAI ĐƯỢC YÊU CÔ GÁI DỊU DÀNG, THƠ NGÂY, ÂU YẾM , MƠ MÀNG CHO NÊN AI AI CŨNG HÁT… CŨNG TƯỞNG LÀ MÌNH… CŨNG CẦM LẤY CÂY ĐÀN…

Rồi một hôm tôi tìm ra điạ chỉ của Phượng tôi viết về cho chú Mỹ, Mỹ trả lời tôi:
« Em nhận được thư anh, thế là anh vẫn mạnh, chị Phượng đợi anh trong một năm dài, thấy anh không về, tưởng anh chết, rồi ba năm sau chị Phượng để tang anh. Nhiều người đến hỏi chị, chị chỉ lắc đầu. Chị vẫn đợi anh, nhưng hôm qua chị Phượng đi lấy chồng, chị đã 26 tuổi rồi, ngày ngày thầy me thúc dục. »

Thế là tôi cắt đứt, để Phượng đi lấy chồng cho êm thấm, có bổn phận với chồng với con. Tôi không muốn ám ảnh Phượng nữa để cho nàng yên phận.

Sáu chục năm rồi vẫn nhớ em,
Nhớ ai rũ tóc đứng bên thềm,
Nhớ người giặt áo bên bờ giếng,
Nhớ nhiều, nhớ mãi, mãi không quên…


Sáu chục năm sau, tôi được biết tin một người bạn cùng trường năm xưa, anh Nguyễn Thiệu Giang viết cùng một tờ báo với tôi hồi đó cùng Thanh Nam, tôi có nhờ anh ta đến căn nhà cũ, anh nói Phượng không còn ở đấy nữa. Nhưng có cho tôi số phone, tôi gọi Phượng, đầu giây Phượng trả lời, tôi nói là tôi, cô ta nhắc đi, nhắc lại ba lần, anh LÊ TRẠCH LỰU hả, anh LÊ TRẠCH LỰU hả, như không tin là có thật, khi tôi bảo là tôi thì cô ta òa ra khóc.

Nói chuyện cùng nhau hơn nửa tiếng, sau những lúc ân cần hỏi han. Phượng có nói, anh ấy có theo đuổi Phượng trong bốn năm trời, Phượng bảo Phượng có người, anh ta cứ đeo đẳng, Phượng có nói với anh ấy chuyện Phượng và anh. Anh ta chịu là trong lòng Phượng có một người. Tôi xin thành thật cảm ơn Phượng, tình yêu Phượng cho tôi. những năm đợi chờ, đau khổ. Một lúc sau tôi hỏi Phượng: «Thế Phượng còn giữ mấy lá thư ấy không? » Tôi muốn tìm hiểu văn thời 16 tôi viết ra sao chắc là văn lủng củng lắm.
Phượng trả lời tôi:
« Em để vào trong một cái hộp, nó đi theo em tất cả mọi nơi, trong đó có cả tập ảnh chụp hồi đó, nhưng chồng em thấy lúc nào em cũng buồn, nói với em nên giấu nó đi một chỗ, khi nào vui thì hãy mở ra. Thế là ông ta bỏ vào đâu không rõ, mấy năm sau ông ta mất, tìm kiếm khắp nhà không ra. Em chỉ nhớ anh viết dài lắm… viết dài lắm… Hôm nọ em muốn tìm cái hình anh hồi đó, mà không thấy đâu. Tủi thân, em lại ngồi khóc, may rằng con, cháu em bữa đó tụi nó không có nhà…

Thu Tao Ngộ
Tháng mười năm 2009
LÊ TRẠCH LỰU

thuylinh  
#160 Posted : Thursday, May 26, 2011 5:09:20 AM(UTC)
thuylinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 534
Location: Canada

Thanks: 1187 times
Was thanked: 353 time(s) in 196 post(s)

Em tôi: Lê Trạch Lựu và mối tình theo mãi một đời


"Em tôi" ra đời đầu năm 1953 đến nay vẫn tiếp tục đem đến cho người nghe những xúc cảm như gần, như xa của một thời tưởng như đã thuộc về dĩ vãng nhưng vẫn tiếp tục làm rung động trái tim những thính giả trẻ tuổi ở thế hệ bây giờ. Đằng sau ca khúc lãng mạn này là một cuộc tình mang theo từ thuở vừa biết yêu cho đến tuổi xế chiều khi nhạc sỹ sáng tác "gặp" lại người xưa qua đường dây điện thoại viễn liên.

Hôm nay nhạc sỹ Lê Trạch Lựu nói về câu chuyện tình đã đưa chúng ta đến với "Em Tôi", mời quí vị cùng theo dõi với Lan Phương sau đây.

Lan Phương - VOA Thứ Ba, 11 tháng 1 2011

UserPostedImage

Lê Trạch Lựu rời Việt nam thời loạn ly năm 1951, bỏ lại sau lưng một mối tình, không hiểu người yêu của mình ở phương nao khi mà khói lửa, chiến tranh, tản cư, ly tán đã đẩy mọi người vào tình huống chẳng biết những người thân của mình còn sống hay đã chết.

Ở Pháp, theo học nốt bậc trung học rồi vào ngành điện ảnh và làm truyền thông, ông vẫn nhớ hình bóng cũ, cô thiếu nữ tên Phượng mà ông đã gặp lần đầu trong một chuyến đi cắm trại của đoàn hướng đạo ở Sầm Sơn. Chiều nào, qua khung cửa sổ, ông cũng nhìn thấy cô gái ngồi giặt áo bên bờ giếng, người cao, trắng trẻo, đôi mắt thật đẹp đến nỗi chàng thanh niên mới lớn thấy ngây ngất như lên cơn sốt rồi mới chợt nhận ra: "chao ơi tình yêu là thế hay sao?"

Trở về Hà Nội, ông may mắn tìm biết được địa chỉ của người mà ông say đắm. Liên tiếp trong 3 tháng trời ông viết cho cô Phượng gần 70 lá thư mà không được trả lời. Cậu em trai của cô Phượng, chú Mỹ đóng vai chim xanh đưa thư cho ông. Cho đến một ngày ông được người trong mộng hồi âm, rằng cô rất yêu ông nhưng muốn thử lòng xem ông có phải là người nghiêm túc hay không, và lúc đó là 1 tuần lễ trước ngày toàn quốc kháng chiến. Sau đó thì gia đình cô Phượng tản cư về Hà Đông. Từ Hà Nội ông tìm đến thăm cô Phượng. Thân mẫu của hai người cũng là chỗ quen biết và hai người đã cùng nhau đi chơi suốt buổi chiều bên ven sông, dưới sự... giám sát của cậu em cô Phượng! Hạnh phúc, đến nỗi hai người nói chuyện gì ông không thể nhớ, chỉ nhớ rằng hạnh phúc như chưa bao giờ được hạnh phúc như vậy, duy có một điều ân hận, là ông chưa hề nắm lấy bàn tay của người yêu, dù chỉ một lần.

Rồi chiến tranh, gia đình Phượng tản cư, mất liên lạc, ông sang Pháp.

Tháng ngày qua, ở Pháp, cũng là thời gian mà nỗi nhớ quay quắt đã là nguồn suối trào dâng để một ngày, bên những bạn bè như Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn, ông bấm lên phím đàn, đưa "Em Tôi" vào đời.

Ông cho biết: "Mối tình đối với cô theo tôi suốt đời, vì rằng đó là mối tình đầu, mà mình không biết nhau ở đâu, không biết người ta sống hay chết, tôi nhớ đến cô và tôi đã làm bài 'Em Tôi'."

Bẵng đi một thời gian dài, một hôm tình cờ tìm lại được địa chỉ ở Hà Nội của Phượng, ông viết thư về cho cậu em thử hỏi thăm, thì được hồi âm rằng chị của cậu chờ đợi mãi, bao nhiêu đám hỏi mà không nhận lời, sau này ngỡ ông đã chết cô lập bàn thờ, để tang ông 2 năm, nhưng sau vì gia đình thúc giục và đã 26 tuổi, phải có con, cô đành đi lấy chồng. Từ đó ông im lặng, cắt đứt để cho người cũ yên ấm bên chồng con.

Về phần cô Phượng, người chồng cô cũng chấp nhận là cô có một mối tình trước, hết sức cảm thông. Nhưng đôi khi thấy vợ buồn, ông khuyên vợ để ông cất những lá thư và hình cảnh cũ, đến bao giờ vui hãy mở ra xem. Thế rồi ông mất, những lá thư xưa không tìm lại được nữa.

Mãi đến cuối năm 2009, 60 năm sau, ông liên lạc được một người bạn cũ từ bao năm ở lại Hà Nội, và chính người bạn này đã giúp nhạc sỹ họ Lê tìm ra số điện thoại của người xưa. Qua đường dây điện thoại ông đã gọi về thăm hỏi bà. Bà không thể tin là ông còn sống, nhắc đi nhắc lại 3 lần như ngỡ trong mơ "anh Lê Trạch Lựu đấy ư?". Ông tâm sự tiếp:

"Bây giờ chúng tôi nói chuyện với nhau. Tình ngày xưa xa lắc xa lơ. Cô đã đi lấy chồng, mà tôi đã lấy vợ, bây giờ chỉ coi nhau như bạn già thôi. Quí nhau, kính trọng nhau, chứ không nghĩ đến tình yêu ngày xưa nữa. Không thể nào lập lại thời đó được. Nhưng hai người vẫn rất quí nhau, tôi vẫn thường gọi cho cô, hay cô có gọi tôi, nhưng mà ăn nói như hai người bạn thân thôi."

Từ ngày rời Hà Nội năm 1951, nhạc sỹ họ Lê chưa một lần trở lại quê hương. Ông lập gia đình với một người vợ Pháp, gốc Ba Lan, mà theo lời ông thì bà là người rất đẹp, đoan trang, miệng cười tươi như hoa, và ông nhận là số ông may mắn, từ người yêu đến người vợ ai cũng đoan chính.

UserPostedImage

Thời còn trẻ cũng có người bạn rủ ông về miền nam làm việc, và hãng thông tấn Pháp cũng muốn ông về để lập một cột trụ ở bên đó, nhưng nhạc sỹ họ Lê tâm sự:

"Tôi nghĩ rằng hồi đó tôi có đứa con nhỏ nhất mới 3 tuổi, nếu tôi về Việt Nam tôi sẽ mê một cô Việt nam, tôi sẽ lấy cô Việt Nam, sống với cô Việt Nam thì tôi sẽ không trở lại Pháp nữa. Tôi tự nghĩ: mình sinh ra con, mình không nuôi con, mình bỏ nó, sung sướng với cuộc sống của mình, rồi sau này con mình nó nhìn mình bằng cách gì mình không thể sống được. Vì thế tôi không đi. Mà nếu tôi đi, thì cũng không thể trở về được, nghề của tôi là ra chiến trường quay phim. Tôi vui thích với nghề đó lắm, mà có thể chết được, nên về thì không thể nào trở lại được nữa."

Trong buổi nói chuyện với nhạc sỹ Lê Trạch Lựu, năm nay đã trong lứa tuổi bát tuần, ông có cho biết về những sáng tác khác của ông, những ca khúc đã bị cái bóng của "Em Tôi" che mờ:

UserPostedImage

"Nhạc của tôi người ta không biết nhiều, người ta chỉ biết đến 'Em Tôi' thôi. Ở Hà Nội, ông Thẩm Oánh có ra một bài của tôi là bài 'Thôn Chiều', ông ấy quí bài đó lắm. Sang Pháp, nhớ quê hương, tôi làm bài 'Nhớ' được trình bày trên đài phát thanh Hà Nội, và Sài Gòn sau này. Bài thứ ba là bài 'Em tôi'. Bài 'Em Tôi' được người ta quí trọng nó quá nên thên hạ quên mất 'Nhớ' và 'Thôn Chiều'."

Khoảng 20 năm sau khi "Em Tôi" ra đời, vẫn nỗi nhớ người xưa, nhạc sỹ họ Lê đã sáng tác "Cành Mai Tóc Ngắn".

Cũng trong buổi nói chuyện, nhạc sỹ Lê Trạch Lựu có lời nhắc những ai yêu mến ông xin để ý cho 3 chỗ trong lời nhạc của bài "Em Tôi" mỗi khi hát:

1. Cho anh gót thắm đem dệt nhớ nhung lời thơ (không phải "rót thắm" hay "góp thắm"); Ông giải thích: người đàn bà xưa ăn mặc kín đáo, quần chùng áo dài, gót sen của nàng là nguồn xúc cảm, gợi trí tưởng tượng, chứ không lộ liễu như bây giờ.

2. Đèn trăng phô sắc huy hoàng sáng hơn màu nắng (không phải là "đàn trăng").

3. Này trăng, này sao chia nhé em (không phải là "này trăng, này sao kia nhé em").

Xin cảm ơn nhạc sỹ Lê Trạch Lựu, cảm ơn "Em tôi", cảm ơn cả người xưa đã là nguồn cảm xúc để nhạc phẩm trữ tình này hiện hữu.


Xin Moi` nghe nhạc phẩm : Em tôi - Nhạc: Lê Trạch Lựu, Ca Sĩ: Duy Trác, Thực hiện PPS: Doanh Doanh

http://www.youtube.com/w...;list=PLDCA5C6979C7F0010

ST

Edited by user Thursday, May 26, 2011 5:18:23 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Users browsing this topic
Guest (2)
144 Pages«<678910>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.