Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

39 Pages<12345>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
xuan hoang  
#41 Posted : Wednesday, April 27, 2011 7:19:06 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)

Những Điều Cần Biết Về Multiple Myeloma

Tài liệu của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ



Multiple Myeloma là một loại ung thư bắt nguồn từ plasma cell, một loại tế bào bạch cầu, còn có tên là plasma cell myeloma. Mỗi năm taị Hoa Kỳ có khoảng 20 ngàn bệnh nhân mới.
Mọi tế bào máu bắt nguồn từ những tế bào trong tủy gọi là tế bào gốc (stem cells). Tủy nằm tại trung tâm của các xương trong cơ thể.

Tế bào gốc trưởng thành (mature) và trở nên những loại tế bào máu khác nhau, mỗi loại tế bào máu làm một công việc đặc biệt:

- Bạch cầu: giúp cơ thể chống lại sự nhiễm trùng. Có nhiều loại bạch cầu.

- Hồng cầu: đưa dưỡng khí (oxy) đến mọi mô trong cơ thể.

- Tiểu cầu: giúp máu đông khi chảy máu.

Tế bào Plasma

Là một loại bạch cầu tạo ra kháng thể (kháng tố, antibody). Kháng thể là thành phần chính trong hệ đề kháng (immune system) giúp cơ thể chống lại bệnh tật. Mỗi loại tế bào plasma tiết ra một thứ kháng thể khác nhau.

Tế bào Myeloma

Myeloma, như những loại ung thư khác, xuất phát từ tế bào. Bình thường, tế bào sinh trưởng, tạo ra tế bào mới khi cần thiết. Khi tế bào già lão, chết, và được thay thế bởi tế bào mới. Sự tuần hoàn có thứ tự này thay đổi khi bị ung thư. Tế bào mới được sinh sản khi cơ thể không cần đến, tế bào già lão không chết, cứ tiếp tục sống. Những tế bào dư thừa này tạo thành một khối u gọi là bướu. Myeloma bắt đầu khi tế bào plasma trở nên bất thường. Những tế bào bất thường sinh sản tạo ra những tế bào mới, cũng bất thường như tế bào mẹ, càng lúc, cơ thể càng có nhiều tế bào bất thường khi những tế bào này tiếp tục sinh sản. Những tế bào plasma bất thường được gọi là tế bào myeloma.

Khi tế bào myeloma sinh sản quá mức trong tủy xương, sẽ chiếm chỗ của những tế bào máu khác. Tế bào myeloma cũng tích tụ tại những phần đặc khác của xương, ngoài tủy xương. Chứng ung thư này được gọi là multiple myeloma vì chứng bệnh ảnh hưởng đến nhiều xương; khi tế bào myeloma tích tụ trong một xương, khối u này gọi là plasmacytoma.

Tế bào myeloma tạo ra những kháng thể gọi là M protein và những protein khác. Các protein này tích tụ trong máu, nước tiểu và các bộ phận.
Những yếu tố gia tăng tỷ lệ multiple myeloma (risk factor):
Dù chưa khẳng định được những nguyên nhân gây ra chứng ung thư này, Y học đã nhận ra những yếu tố có thể làm gia tăng tỷ lệ multiple myeloma:

- Tuổi tác: Tuổi 65 trở lên có tỷ lệ ung thư multiple myeloma cao hơn, hiếm thấy ở tuổi dưới 35.

- Chủng tộc: tỷ lệ ung thư cao nhất ở những người da đen, và thấp nhất ở những người Á Châu.

- Giới tính: nam phái có tỷ lệ bệnh cao hơn nữ phái.

- Đã bị bệnh monoclonal gammopathy of undetermined significance (MGUS): Chứng MGUS xảy ra khi tế bào plasma bất thường tạo ra một lượng kháng thể M protein thấp; chứng bệnh này thường không gây nguy hiểm nhưng gia tăng tỷ lệ multiple myeloma. Hiện nay, bác sĩ chỉ theo dõi và thử máu để đo lượng M protein và chữa trị khi triệu chứng xuất hiện.

- Có thân nhân bị Multiple Myeloma sẽ có tỷ lệ bệnh tật cao hơn.
Chưa có tài liệu nào khẳng định được những yếu tố khác như phóng xạ, thuốc khai quang, thuốc nhuộm tóc, vài loại siêu vi khuẩn, di thể, chứng mập phì...có làm gia tăng tỷ lệ ung thư multiple myeloma hay không.

Triệu chứng

Những triệu chứng thông thường gồm có:

- Gãy xương, thường gãy xương sống
- Đau đớn trong xương, thường là đau lưng, ngực
- Yếu đuối, mệt mỏi
- Khát nước trầm trọng
- Nóng sốt, bị nhiễm trùng thường xuyên
- Xuống ký
- Buồn nôn hoặc táo bón
- Đi tiểu nhiều lần

Những triệu chứng này có thể gây ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, chưa hẳn là do ung thư. Tuy nhiên, khi có những triệu chứng này, cần gặp bác sĩ để tìm nguyên nhân.

Chẩn bệnh

Đôi khi bác sĩ nhận ra bệnh multiple myeloma qua việc thử máu, nhưng thông thường, bác sĩ tìm ra bệnh qua hình quang tuyến tìm dấu vết của xương gãy. Ngoài việc khám bệnh và tìm hiểu bệnh sử, bác sĩ có thể dùng những cách chẩn bệnh sau:

1. Thử máu: tìm sự bất thường và số lượng của các loại tế bào máu. Myeloma tạo ra một lượng tế bào plasma cao và một lượng calcium cao. Hầu hết bệnh nhân bị thiếu máu (giảm hồng cầu). Myeloma cũng tạo ra nhiều protein với một số lượng cao, M protein, beta-2-microglobulin, và những loại protein khác.

2. Thử nước tiểu: đo lượng Bence Jones protein (một loại M protein) trong nước tiểu qua 24 tiếng đồng hồ. Khi lượng Bence Jones protein lên cao, gây nghẽn mạch máu; bác sĩ sẽ cần theo dõi tình trạng hoạt động của thận vì bệnh nhân có nguy cơ thận suy.

3. Quang tuyến: tìm xương gãy hoặc những dấu hiệu của xương bị mỏng (bone thinning).

4. Sinh thiết: bác sĩ trích mô để tìm tế bào ung thư, bác sĩ rút tủy qua xương hông hoặc những xương lớn khác. Bác sĩ lấy tủy qua hai cách:

a) Rút tủy (bone marow aspiration): bác sĩ dùng kim nhỏ để hút tủy từ xương hông qua mông, hoặc,

b) Sinh thiết (bone marow biopsy): bác sĩ dùng kim lớn để khoan ra một mảnh xương và rút tủy cùng lúc. Bác sĩ Bệnh Lý thẩm định các mẫu tế bào tìm myeloma.

Quý vị có thể đặt những câu hỏi sau trước khi bác sĩ trích mô (làm sinh thiết):

- Trích mô ảnh hưởng đến việc chữa trị ra sao?
- Bác sĩ chọn phương thức nào để trích mô?
- Việc trích mô kéo dài bao nhiêu lâu? Tôi sẽ thức trong khi làm sinh thiết? Có đau đớn lắm không?
-Làm sinh thiết có rủi ro không? Có gây ra việc lan tràn ung thư không? Tôi có bị xuất huyết? Nhiễm trùng?
- Chừng nào thì tôi biết kết quả? Ai sẽ là người giải thích kết quả cho tôi hiểu?
- Nếu tôi bị ung thư, ai sẽ là người nói chuyện với tôi về những bước sắp tới? Và bao giờ?

Định kỳ ung thư

Sau khi chẩn bệnh, bác sĩ cần định kỳ ung thư trước khi hoạch định cách chữa trị, ngoài thử máu đo lượng các protein như albumin, beta-2-microglobulin, bác sĩ có thể cần dùng thêm những cách thử nghiệm khác như CT scan, MRI hoặc chụp quang tuyến tất cả mọi xương trong cơ thể (bone survey).

Multiple myeloma có 4 thời kỳ (giai đoạn): "smoldering" (chưa có triệu chứng dù tế bào myeloma đã xuất hiện), I, II hoặc III. Việc định kỳ tùy theo ảnh hưởng đến xương hoặc thận. Giai đoạn I khi có triệu chứng như hoại xương. Giai đoạn II hoặc III trầm trọng hơn và nhiều tế bào myeloma đã xuất hiện trong cơ thể.

Chữa trị

Chứng Multiple Myeloma có nhiều cách chữa trị:

1- Theo dõi & chờ đợi (watchful waiting), chữa trị "khởi đầu" (induction therapy) và ghép tế bào gốc. Đôi khi bác sĩ dùng chung nhiều cách chữa trị.

2- Xạ trị có thể được dùng để trị nhức xương, dùng riêng hoặc dung chung với các cách chữa trị khác.
Cách chữa thường tùy thuộc vào thời kỳ cũng như triệu chứng của ung thư. Nếu bệnh nhân bị multiple myeloma mà không có triệu chứng nào (smoldering myeloma), bác sĩ có thể không chữa trị ngoài việc theo dõi bệnh trạng thường xuyên.

Nếu bệnh nhân có triệu chứng, bác sĩ có thể bắt đầu việc chữa trị "khởi đầu" (induction therapy) và đôi khi tiếp tục với cách ghép tế bào gốc.

Hiện nay, các cách chữa trị chứng multiple myeloma giúp bệnh nhân cầm cự chịu đựng các triệu chứng của bệnh tật, chưa hoàn toàn chữa dứt chứng bệnh, vì thế bác sĩ có thể giới thiệu những cuộc thử nghiệm lâm sàng (clinical trial).
Trong bất cứ thời kỳ nào của ung thư, bác sĩ cũng có thể dùng những cách chữa phụ, giảm đau, giúp bệnh nhân dễ chịu gọi là supportive care.

Nên thảo luận với bác sĩ về phản ứng phụ và việc chữa trị sẽ ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày ra sao. Hóa chất và xạ trị thường gây hư hoại các tế bào bình thường nên phản ứng phụ thường xảy ra. Phản ứng phụ không đồng nhất cho mọi người, và có thể thay đổi từ lần chữa trị này sang lần chữa trị khác. Trước khi bắt đầu bác sĩ sẽ giải thích rõ ràng về việc trị liệu và phản ứng phụ có thể xảy ra, và cách tiết giảm.

Bác sĩ có thể giới thiệu quý vị đến một chuyên viên, hoặc quý vị có thể nhờ bác sĩ giới thiệu đến chuyên viên. Những chuyên viên chữa trị ung thư Multiple Myeloma bao gồm bác sĩ chuyên khoa về máu (hematologist), bác sĩ chuyên khoa ung thư, bác sĩ xạ trị ung thư hoặc bao gồm cả chuyên viên điều dưỡng về ung thư và dinh dưỡng.

Trước khi chữa trị, bệnh nhân nên hỏi bác sĩ những câu hỏi sau:

- Chứng bệnh của tôi ở thời kỳ nào?
- Thận có bị ảnh hưởng không? Nếu có, ảnh hưởng ra sao?
- Làm thế nào để lấy bản sao của bản tường trình từ bác sĩ Bệnh Lý (pathologist)?
- Những cách chữa trị nào có thể dùng được? Bác sĩ đề nghị cách nào, lý do tại sao? Các cách chữa trị có thay đổi không?
- Tôi sẽ bị những biến chứng gì? Làm cách nào để giảm bớt những biến chứng này?
- Có biến chứng nào ảnh hưởng lâu dài hay không?
- Cách chữa trị có ảnh hưởng nhiều đến đời sống hằng ngày hay không?
- Có cuộc thử nghiệm lâm sàng nào cho chứng bệnh của tôi hay không?- Tôi có cần đi khám bệnh định kỳ thường xuyên không?

Chờ đợi và theo dõi

Những bệnh nhân chọn cách chờ đợi khi chứng ung thư "thầm lặng (smoldering myeloma) không gây triệu chứng và bác sĩ sẽ theo dõi bệnh trạng cẩn thận. Thời gian theo dõi này có thể kéo dài. Qua việc chờ đợi, bệnh nhân tránh những phản ứng phụ do hóa chất hoặc xạ trị gây ra.

Nếu chọn việc chờ đợi, bệnh nhân cần thăm bệnh định kỳ, mỗi 3 tháng, và việc chữa trị có thể bắt đầu nhanh chóng khi triệu chứng xuất hiện.

Một số bệnh nhân không muốn chờ đợi vì lo âu và chọn việc chữa trị sớm. Những người đã chọn việc chờ đợi nhưng vẫn lo âu bất an nên thảo luận với bác sĩ.

Quý vị nên thảo luận với bác sĩ trước khi chọn việc chờ đợi:

- Nếu tôi chọn việc chờ xem, tôi có thể đổi ý không?
- Bệnh trạng có trở nên khó trị không?
- Tôi cần thăm bệnh định mỗi mấy tháng?
- Giữa những lần thăm bệnh, tôi cần báo cho bác sĩ những triệu chứng nào?

Chữa trị "khởi đầu" (induction therapy)

Nhiều loại thuốc dùng để chữa myeloma; cách chữa trị thường thấy là việc dùng chung nhiều loại thuốc. Những loại hóa chất thường được sử dụng chung với nhau gọi là combination therapy. Có nhiều cách "dùng chung (combination) các thuốc men.

Mỗi loại thuốc diệt tế bào ung thư một cách khác nhau:

- Hóa chất: Diệt tế bào myeloma nhanh chóng nhưng cũng diệt cả các tế bào lành mạnh.

- Targeted therapy: dùng để ức chế sự tăng trưởng của tế bào myeloma qua việc ngăn chặn tác dụng của loại protein đặc biệt cần thiết cho sự tăng trưởng của tế bào myeloma.

- Steroids: một vài loại steroid có tác dụng chống ung thư, các chuyên viên cho rằng steroid có thể khởi đầu (trigger) tiến trình sống-chết của tế bào myeloma. Bác sĩ có thể dùng 1 loại steroid riêng biệt hoặc dùng chung với các thuốc men khác.
Thuốc có thể uống hoặc truyền qua tĩnh mạch, và bệnh nhân có được chữa trị tại nhà, văn phòng bác sĩ hoặc bệnh viện.

Phản ứng phụ tùy thuộc vào loại thuốc và lượng thuốc sử dụng. Nói chung, những loại hóa chất chữa Multiple Myeloma ảnh hưởng đến những tế bào sinh trưởng nhanh chóng trong cơ thể. Trong cơ thể bình thường, những tế bào tăng trưởng và sinh sôi nhanh chóng là:

- Tế bào máu: bạch cầu (giúp cơ thể chống lại sự nhiễm trùng), tiểu cầu (làm đông máu), hồng cầu (dẫn dưỡng khí đi khắp cơ thể). Khi tế bào máu bị hủy hoại bệnh nhân thường bị nhiễm trùng, bị xuất huyết (vì máu không đông), và cảm thấy yếu sức, mệt mỏi (vì thiếu máu, thiếu dưỡng khí). Khi các tế bào máu hạ thấp, bác sĩ sẽ dùng thuốc men để thúc đẩy cơ thể sản xuất thêm các tế bào cần thiết này.
- Tế bào tại chân tóc: bị hủy hoại gây rụng tóc. Tóc có thể sẽ mọc trở lại nhưng màu tóc và sợi tóc có thể đổi khác.
- Tế bào lót bộ phận tiêu hóa (từ miệng đến hậu môn): bệnh nhân bị lở miệng, môi, tiêu chảy, biếng ăn. Bác sĩ sẽ dùng thuốc men để tiết giảm các phản ứng phụ này.

Ngoài ra, các phản ứng phụ có thể bao gồm chóng mặt, ngầy ngật, tê bại hoặc chịu cảm giác kim chích tại chân tay và hạ huyết áp. Các phản ứng phụ này sẽ dứt khi việc chữa trị chấm dứt.

Quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi bắt đầu chữa trị hóa chất:

- Tôi sẽ được chữa trị bằng loại thuốc nào? khi nào thì bắt đầu? Khi nào thì xong?
- Tôi cần làm gì để tự chăm sóc trong khi chữa trị?
- Mục đích của việc chữa trị là gì? Làm thế nào để biết rằng việc chữa trị có hiệu quả?
- Tôi cần báo cho bác sĩ biết về những phản ứng phụ nào? Có cách nào phòng ngừa không?
- Tôi có cần làm gì để sửa soạn cho việc chữa trị không? Việc chữa trị ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày ra sao?

Ghép tế bào gốc (stem cell transplantation)

hiều bệnh nhân được chữa trị qua cách ghép tế bào gốc; cách chữa trị này cho phép bác sĩ dùng một lượng hóa chất hoặc một lượng phóng xạ, hoặc cả hai, rất cao. Lượng hóa chất cao hoặc lượng phóng xạ cao sẽ hủy diệt mọi tế bào máu trong tủy, tế bào bình thường cũng như tế bào myeloma. Tế bào gốc sau khi ghép sẽ thay thế những tế bào bị hủy diệt trong cuộc chữa trị.
Bệnh nhân sẽ ở tại bệnh viện khi được ghép tế bào gốc, truyền qua tĩnh mạch như khi truyền máu, và bác sĩ có dùng cách ghép tế bào gốc nhiều lần.

Tế bào gốc có thể đến từ chính bệnh nhân hoặc từ người tặng:

-Dùng tế bào gốc của bệnh nhân để ghép (Autologous stemcelltransplantation): Tế bào gốc được lấy ra từ máu bệnh nhân, hủy diệt tế bào ung thư nếu có, rồi đông lạnh. Sau khi bệnh nhân được chữa trị bằng một lượng hóa chất hay quang tuyến rất cao, tế bào gốc được xả lạnh, và ghép trở lại.
- Dùng tế bào gốc của người tặng (donor) để ghép (Allogeneic stemcell transplantation): người tặng có thể là thân nhân hoặc kẻ lạ. Bác sĩ cần thử nghiệm để tìm loại máu phù hợp (match) với bệnhnhân.
- Dùng tế bào gốc của anh/chị/em song sinh để ghép (Syneneic stem cell transplantation).

Trước khi ghép tế bào gốc, bệnh nhân nên hỏi bác sĩ những câu hỏi sau:

-Xin giải thích những lợi, hại của việc ghép tế bào gốc
- Tôi sẽ được ghép tế bào gốc loại nào?
- Như thế nào để biết rằng việc ghép tế bào gốc có hiệu nghiệm hay không?
- Tôi sẽ bị những biến chứng gì?
- Tôi sẽ ở nhà thương bao nhiêu lâu?
- Cơ hội bình phục của tôi ra sao?

Ý kiến thứ nhì

Trước khi bắt đầu việc chữa trị, quý vị có thể tham khảo một bác sĩ khác để lấy ý kiến về chẩn đoán và chữa trị. Nhiều hãng bảo hiểm sẽ trả chi phí này nếu quý vị hoặc bác sĩ yêu cầu. Quý vị cần một thời gian để thu góp tài liệu, y sử, các kết quả thử nghiệm và sắp xếp buổi tham khảo với một bác sĩ khác. Việc chờ đợi thường không ảnh hưởng đến kết quả của việc chữa trị. Để an tâm hơn, quý vị có thể thảo luận về việc chờ đợi này với bác sĩ của mình.
Nhiều cách để tìm một bác sĩ cho ý kiến thứ nhì: Hỏi bác sĩ của mình, hỏi chi tiết tại bệnh viện, những tổ chức y tế địa phương, trường Y khoa… để lấy tên một vị bác sĩ chuyên khoa.

Chữa trị phụ (supportive care):

Chứng multiple myeloma và việc chữa trị thường đưa đến những biến chứng trầm trọng nên bác sĩ cần dùng những cách chữa trị phụ để giúp bệnh nhân chịu đựng chứng bệnh và việc chữa trị.

- Nhiễm trùng: Bệnh nhân bị nhiễm trùng dễ dàng, và cần dùng thuốc kháng sinh.
Một số bệnh nhân được chủng ngừa cúm và sưng phổi.
Đôi khi bệnh nhân cần phải cách ly (tránh đám đông, tránh những người bị cảm cúm hoặc những bệnh truyền nhiễm khác) vì khi bị nhiễm trùng thường khó chữa trị.

- Thiếu hồng cầu: Bệnh nhân thường mệt mỏi yếu đuối và cần được tiếp máu

- Đau đớn: chứng multiple myeloma thường gây ra đau nhức từ trong xương, bác sĩ có thể dùng thuốc giảm đau hoặc xạ trị giúp bệnh nhân bớt đau đớn. Những loại vật dụng giúp chống đỡ sức nặng của cơ thể (braces) cũng có thể làm giảm đau. Ngoài ra giải phẫu có thể dùng để "tháo" áp suất của xương gãy trên thần kinh tủy sống gây đau đớn.
Một số bệnh nhân dùng cách thoa bóp (massage), châm cứu hoặc ngồi thiền tập thở để giảm đau.

- Mỏng xương (bone thinning): tế bào myeloma ngăn sự tăng trưởng của những tế bào tạo xương, và xương mỗi ngày mỗi mỏng. Bác sĩ dùng những loại thuốc ngừa mỏng xương và ngăn việc gãy xương để chữa trị. Hoạt động, đi bộ, bơi lội cũng giúp xương cứng cáp hơn.

- Lượng calcium lên quá cao trong máu: chứng myeloma khiến calcium thoát ra từ xương và vào máu. Khi lượng calcium lên quá cao, bệnh nhân trở nên biếng ăn, buồn nôn, bứt rứt và nhầm lẫn; đôi khi mệt mỏi, mất sức, mất nước trong cơ thể... Bác sĩ thường truyền nước biển và dùng những loại thuốc để làm giảm lượng calcium trong máu.

- Thận suy bại: chứng multiple myeloma gây suy thận, bệnh nhân đôi khi cần lọc thận (dialysis) để lấy ra những chất phế thải.

- Amyloidosis: chứng multiple myeloma gây amyloidosis; amyloid là một loại protein bất thường, khi lượng protein này lên cao, sẽ tích tụ tại tim gây đau đớn và sưng phù tay chân. Bác sĩ dùng thuốc để làm giảm lượng protein này.

Dinh dưỡng

Dinh dưỡng rất quan trọng trong mọi giai đoạn, trước khi, trong khi và sau khi chữa trị ung thư. Bệnh nhân cần một lượng đầy đủ calorie, protein, sinh tố, và khoáng chất. Khi cơ thể được bồi bổ đúng mức, bệnh nhân thường cảm thấy dễ chịu hơn.
Tuy nhiên, bệnh nhân có thể gặp khó khăn trong việc ăn uống vì nhiều nguyên nhân, mệt mỏi, biếng ăn hoặc khó nuốt thức ăn. Khi dùng hóa chất trị liệu, bệnh nhân có thể không còn nếm được thức ăn, hoặc cho rằng thức ăn không còn hương vị, thơm ngon như trước. Bệnh nhân cũng có thể chịu các phản ứng phụ như biếng ăn, buồn nôn, ói mửa, hoặc tiêu chảy.
Có nhiều cách để bồi bổ cơ thể khi không thể ăn uống đầy đủ. Hãy thảo luận với chuyên viên về dinh dưỡng (registered dietitian) để chọn cách dinh dưỡng thích hợp với đầy đủ calorie, protein, sinh tố (vitamins), và khoáng chất (minerals).
Khi có thể, nên duy trì sự hoạt động, đi bộ, yoga, bơi lội hoặc những hoạt động khác có thể gia tăng năng lực. Nên thảo luận với bác sĩ về việc vận động cơ thể và báo cho bác sĩ biết khi việc vận động gây đau đớn.

Thăm bệnh định kỳ

Sau khi chữa trị, bệnh nhân sẽ cần được khám bệnh định kỳ. Ngay cả khi không có dấu hiệu nào về ung thư tái phát, vẫn cần thăm bệnh vì mầm ung thư có thể còn sót lại trong cơ thể.
Khám bệnh định kỳ giúp bác sĩ kiểm soát theo dõi diễn tiến của bệnh trạng chính và các biến chứng của trị liệu Các loại thử nghiệm như thử máu, chụp hình quang tuyến hoặc cả trích mô được bác sĩ sử dụng để thăm bệnh.
Báo cho bác sĩ biết nếu bị bệnh giữa những buổi khám bệnh định kỳ.

Những nguồn hỗ trợ

Chứng bệnh nan y như ung thư có thể thay đổi cuộc sống của người bệnh và cả thân nhân. Những thay đổi này khó thích nghi và chấp nhận, nên điều dễ hiểu là bệnh nhân cũng như những người thân yêu thường trải qua những giai đoạn khó khăn, phân vân, bất an, buồn rầu.

Người bệnh có thể lo âu về gia đình, công việc làm, hoặc sinh hoạt hàng ngày kể cả việc chịu đựng và thích nghi với việc trị bệnh, những chuyến ra vào bệnh viện, phản ứng phụ và những phí tổn trị liệu.
Sống với căn bệnh nan y, người bệnh thường sợ hãi, tự trách, giận dữ hoặc buồn rầu. Những cảm tính này sẽ khiến đời sống nặng nề buồn thảm hơn. Bệnh nhân có thể tìm những nguồn hỗ trợ chia sẻ qua bạn hữu, thân nhân, chuyên viên tâm lý hoặc cả những bệnh nhân khác.

Nguồn hỗ trợ có thể bao gồm:
Bác sĩ, y tá, những chuyên viên trong nhóm trị liệu có thể trả lời hầu hết những câu hỏi liên quan đến bệnh trạng.

Chuyên viên xã hội, chuyên viên tâm lý hoặc những vị lãnh đạo tôn giáo có thể giúp đỡ phần tinh thần. Chuyên viên xã hội có thể giới thiệu hoặc chỉ dẫn những nguồn tài trợ, việc chuyên chở, trị liệu tại nhà…

Những nhóm hỗ trợ: bệnh nhân và người thân gặp gỡ các bệnh nhân khác và thân quyến họ để chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm về căn bệnh và việc chữa trị. Những nhóm hỗ trợ này có thể gặp gỡ qua sự họp mặt, điện thoại, hoặc qua internet. Các chuyên viên tại 1-8-4-CANCER (điện thoại miễn phí trên lãnh thổ Hoa Kỳ) có thể giúp bệnh nhân tìm những chương trình hỗ trợ, dịch vụ và các tin tức, tài liệu liên quan đến ung thư.

Sự hứa hẹn của ngành khảo cứu ung thư
Bác sĩ tại Hoa Kỳ đang thực hiện nhiều cuộc thử nghiệm lâm sàng. Thử nghiệm lâm sàng được hoạch định với mục đích trả lời các câu hỏi quan trọng về cách trị liệu hữu hiệu nhất. Các chương trình nghiên cứu để chữa trị Multiple Myeloma bao gồm cách dùng chung nhiều loại hóa chất, dùng chung hóa chất với sinh hóa tố và các cách chữa trị khác. Thử nghiệm cách ghép tế bào gốc hữu hiệu nhất, dùng sớm hoặc dùng trong các giai đoạn về sau.
Những tìm hiểu khoa học đã tạo được nhiều lợi ích, giúp con người sống lâu hơn, và khoa học tiếp tục tìm kiếm. Các chuyên gia đang tìm kiếm phương pháp ngăn ngừa ung thư, cách tìm ra bệnh sớm hơn, cũng như cách trị liệu hiệu quả hơn.

Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ có phần tin tức về thử nghiệm lâm sàng: h*tp://www.cancer.gov/clinicaltrials. Tại đây ngoài các tin tức về thử nghiệm còn có những chi tiết về các cuộc thử nghiệm lâm sàng về ung thư.

Nguồn tài liệu, tin tức từ viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ. Quý vị có thể lấy tin tức cho chính mình, thân nhân hoặc bác sĩ của mình.

Điện thoại (miễn phí trên lãnh thổ Hoa Kỳ): 1-800-4-CANCER (1-800-422-6237).

Điện thoại dành cho những người lãng tai: 1-800-332-8615
Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp tin tức về cách ngăn ngừa ung thư, truy tìm, chẩn đoán, chữa trị, di tính học, thử nghiệm lâm sàng. Ngoài ra còn có những dữ kiện về các chương trình khảo cứu, chương trình tài trợ và cả thống kê về ung thư.
Trang nhà: h*tp://cancer.gov
Nếu quý vị cần thêm chi tiết hoặc các dữ kiện khác, hãy dùng “online contact form” tại: h*tp://www.cancer.gov/contact hoặc gửi điện thư về: cancergovstaff@mail.nih.*** (thay thế *** bằng “gov”)

Tài liệu


Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp những tài liệu (ấn bản, tạp chí) về ung thư, những tài liệu này bằng tiếng Anh và Tây Ban Nha.
Quý vị có thể đặt mua (ấn phí tối thiểu) qua điện thoại, trên trang mạng hoặc bằng thư từ, hoặc vào trang nhà kể trên, và tự in phụ bản cho mình.
Thư từ gửi về:
Publications Ordering Service
National Cancer Institute
Suite 3035A
6116 Executive Boulevard, MSC 8322
Bethesda, MD 20892-8322
Chữa trị ung thư (Cancer Treatment)
- Hóa chất trị liệu và quý vị (Chemotherapy and You)
- Xạ trị và quý vị (Radiation Therapy and You)
- Làm thế nào để tìm một bác sĩ hoặc nơi trị liệu nếu quý vị bị ung thư (How To Find a Doctor or Treatment Facility If You Have Cancer)
- Câu hỏi và câu trả lời về targeted therapy (Targeted Cancer Therapies: Questions and Answers)
- Câu hỏi và câu trả lời về cách trị liệu ung thư bằng ánh sáng (Photodynamic Therapy for Cancer: Questions and Answers)
Sống với ung thư (Living With Cancer)
- Cách ăn uống dành cho người bị ung thư (Eating Hints for Cancer Patients)
- Giảm đau đớn (Pain Control)
- Thích ứng với ung thư thời kỳ sau cùng (Coping With Advanced Cancer)
- Những ngày sắp tới: Đời sống sau khi chữa trị ung thư (Facing Forward Series: Life After Cancer Treatment)
- Những ngày sắp tới: Những cách tạo sự thay đổi cho ung thư (Facing Forward Series: Ways You cần Make a Difference in Cancer)
- Dành thời giờ: Giúp đỡ những người bị ung thư (Taking Time: Support for People with Cancer)
Khi ung thư tái phát (When Cancer Returns)
- Những tổ chức cung cấp dịch vụ giúp những người bị ung thư và thân nhân họ (National Organizations That Offer Services to People With Cancer and Their Families)
Thử nghiệm lâm sàng (Clinical Trials)
- Tham dự thử nghiệm lâm sàng (Taking Part in Cancer Treatment Research Studies)
- Những yếu tố nguy hại (Risk Factors)
Người chăm sóc bệnh nhân (Caregivers)
- Khi người thân yêu được chữa trị bệnh ung thư: hỗ trợ người chăm sóc (When Someone You Love Is Being Treated for Cancer: Support for Caregivers).
- Khi người thân yêu bị ung thư ở giai đoạn cuối: Hỗ trợ người chăm sóc (When Someone You Love Has Advanced Cancer: Support for Caregivers)
- Những ngày sắp tới: Khi cuộc chữa trị ung thư của người thân chấm dứt (Facing Forward: When Someone You Love Has Completed Cancer Treatment)

Bác sĩ Trần Lý Lê Chuyên Khoa Nội Thương và Khảo Cứu Ung Thư
UserPostedImage
thunder  
#42 Posted : Friday, April 29, 2011 12:09:56 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Ăn mặn, ăn nhiều dầu mỡ có hại gì?


Câu hỏi

Ăn mặn, ăn nhiều dầu mỡ có hại gì?

Gia đình tôi thường ăn các món chiên xào và nêm mặn. Xin hỏi nếu ăn mặn và nhiều dầu mỡ quá thì có hại gì cho sức khỏe? (Hoa Sen - Q. Thủ Đức)

Trả lời

Ăn mặn, nghĩa là ăn nhiều muối (natri) sẽ làm tăng gánh nặng cho thận. Thận phải làm việc nhiều hơn để điều hòa lượng natri trong cơ thể.

Ăn nhiều muối trong thời gian dài sẽ dẫn đến nguy cơ bệnh tim mạch, tăng huyết áp và có thể bị đột quỵ. Một số nghiên cứu còn cho thấy chế độ ăn mặn có liên quan đến ung thư dạ dày.

Đối với dầu mỡ, nếu ăn nhiều hơn nhu cầu cơ thể cần trong thời gian dài sẽ dẫn đến tăng cân vì cung cấp rất nhiều năng lượng (1g dầu mỡ cho 9kcal). Mỡ động vật chứa nhiều axit béo no và cholesterol, là những thành phần nếu sử dụng nhiều sẽ dẫn đến bệnh xơ vữa thành mạch và đột quỵ.

Cách ăn uống tốt cho sức khoẻ là nên giảm muối (kể cả các thực phẩm chứa nhiều muối như khô, mắm, rau cải muối chua…), còn chất béo chỉ nên ăn vừa phải tuỳ nhu cầu từng người (dựa vào lứa tuổi, trọng lượng, chiều cao và mức độ hoạt động thể lực), nên chọn chất béo không no (dầu thực vật, béo cá) và nên hạn chế chất béo no (có trong mỡ động vật, trừ mỡ cá).

BS Châu Thị Kiều Oanh

xuan hoang  
#43 Posted : Sunday, May 1, 2011 3:02:03 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
Gỏi Cá và Bệnh Sán cá



UserPostedImage


Ta có câu:

Chẳng thèm ăn gỏi cá mè,
Chẳng thèm chấp với một bè trẻ ranh.

Ý nói ăn gỏi cá, mà lại là cá mè, thì không ra gì. Gỏi cá chép mới kể là khoái khẩu. Với cái nhìn méo mó nghề nghiệp, bài này không bàn về cái ngon của món gỏi cá, nhưng tìm hiểu về những bệnh ký sinh trùng gây ra do món cá sống, dù là cá mè, cá chép... của ta, hay là cá salmon, herring… của Tây, của Mỹ. Ta ăn gỏi nhiều thứ cá. Người vùng Bắc Âu (Na uy, Thụy điển) hay ăn cá herring sống ngâm dấm. Dân Nhật có món sashimi, là món cá sống nguyên miếng chấm xì dầu, còn lát cá cuốn quanh miếng xôi (gạo dẻo hạt tròn) thì là sushi. Món cá sống của dân Mễ -và dân Mỹ La tinh nói chung- gọi là ceviche (nguyên văn là seviche).


UserPostedImage



Bệnh Sán Cá

Con sán

Sán cá thấy ở các miền ôn đới và miền lạnh, như vùng Bắc Âu, Canada, Mỹ (các tiểu bang Alaska, Washington, Oregon, California), Nhật, Siberia, cũng như vùng cực nam của Úc, Nam Mỹ và Phi châu. Có nhiều thứ cá nước lợ và nước ngọt, kể cả salmon, có mang thứ sán này. Tên khoa học của nó là Diphyllobothrium latum (tiếng Anh gọi là fish tapeworm).

Trứng sán từ phân người ô nhiễm nước sông, sau đó những loài tôm cua nhỏ nhiễm phải, trứng sán nở thành ấu trùng. Các loài cá ăn tôm cua rồi mang bệnh trong mình. Khi ta ăn cá sống, thì con sán sẽ trưởng thành ở ruột non, thành con sán lớn, bề dài tổng cộng có thể tới 10 mét (Chiều dài tối đa của sán heo độ 7 mét, sán bò dài đến 25 mét).

Con sán trưởng thành có một cái đầu tròn bám chắc vào màng ruột để hút chất bổ dưỡng, rồi đến cái cổ, tiếp đó là những đốt sán. Cổ sán có khả năng tiếp tục mọc ra những đốt sán. Cho nên nếu chữa hết những đốt sán mà đầu và cổ còn lại, thì con sán lại “tái sinh” sau một thời gian. Sán ở ruột người ta chừng một tháng, thì trứng sán từ những đốt già ở phía đuôi bung ra, mỗi ngày một con sán có thể sinh ra cả triệu cái trứng.

Bệnh sán cá

Bệnh sán heo hay sán bò, thì mỗi người chỉ mang một con sán trong ruột, nhưng sán cá thì có thể có nhiều con một lúc. Nếu không chữa, sán cá sống rất lâu trong ruột người ta, có khi cả năm bảy năm. Nó hút chất bổ dưỡng nên làm bệnh nhân mệt mỏi, chóng mặt, nhiều khi bị thiếu máu, nhất là thiếu sinh tố B12. Bệnh thiếu sinh tố B12 nặng, có thể sinh ra những triệu chứng khó thở, chân tay bị tê, bị mất cảm giác, có khi bị lú lẫn. Có người ói ra khúc sán, cũng có người bị nghẹt ống mật hoặc bị đau ruột dư, nhưng những trường hợp như vậy cũng hiếm.

Sán heo, sán bò, thì chỉ có loài người là mang con sán trưởng thành trong người. Còn sán cá, thì ngoài người ta ra, còn một số con vật khác có thể mắc bệnh, như con chó, con gấu, v.v…

Cũng may là ngày nay việc chữa bệnh sán cá khá đơn giản. Chỉ cần uống một liều thuốc (Biltricide), không cần thuốc xổ. Nếu có thiếu máu vì thiếu sinh tố B12, thì bác sĩ chữa theo thường lệ. Muốn phòng ngừa, thì cá phải đun chín hay là giữ nhiều ngày ở độ đông lạnh 20 độ dưới 0 độ C (nghĩa là thứ deep freezer, không phải ngăn đá ở tủ lạnh thường). Nói một cách khác, là đừng ăn cá sống.

Bệnh lải cá biển

Lải cá biển là một thứ lải đũa tên là anisakid. Con lải trưởng thành thực ra không sống ở loài cá, mà ở những loài có vú như hải cẩu, cá heo, cá voi. Trứng lải từ phân những loài đó xâm nhập vào những con tôm cua nhỏ ngoài biển rồi biến thành ấu trùng. Những ấu trùng này sinh bệnh ở các con mực, con cá, như cá thu, cá lưỡi trâu, salmon, rockfish và nhiều loại cá nước mặn lớn nhỏ khác. Ấu trùng lải ở trong thịt con cá, và bệnh truyền từ cá này qua cá khác vì cá ăn thịt lẫn nhau, cho tới khi vào tới ruột một loài có vú ở biển như cá voi, cá heo, hải cẩu thì trở thành con lải trưởng thành.

Người ta mắc bệnh, vì ăn mực hay cá biển sống, hay là nấu không chín kỹ. Cá muối, phơi khô, cá ngâm dấm đều có khả năng truyền bệnh. Con ấu trùng từ miếng mực hay miếng cá thoát ra rồi bám vào màng niêm bao tử và ruột non người ta sinh ra các vết loét hay những mụn nhỏ. Sau một thời gian thì con ấu trùng chết đi. Một đôi khi, ấu trùng chui qua thành ruột vào trong bụng và di chuyển đi nơi khác, nhưng phần nhiều thì ấu trùng không sinh bệnh và bị thải ra ngoài.

Triệu chứng bệnh

Bệnh lải cá biển có thể phát hiện cấp tính một vài giờ sau khi ăn phải con ấu trùng. Người bệnh thấy đau bụng, ói mửa, có khi có triệu chứng dị ứng nặng, như khó thở, tụt huyết áp, v.v… Cũng có khi mấy ngày sau khi ăn phải cá có ấu trùng lải thì thấy đau bụng, ói mửa, sốt nhẹ tựa như người đau ruột dư. Bệnh kinh niên thì giống như người đau bao tử, đau ruột.
Định bệnh cũng khó. Chụp quang tuyến đôi khi giúp chẩn đoán được phần nào. Nếu là bệnh cấp tính, và nghi là bị con lải này, thì người ta soi bao tử nhiều khi thấy con ấu trùng (đồng thời có thể gắp nó ra được).

Bệnh không có thuốc chữa

Cách tốt nhất là phòng bệnh:

Đừng ăn mực hay cá sống hoặc là nấu chưa đủ chín. Cá muối, phơi khô, cá ngâm dấm hay là hun khói không diệt được ấu trùng lải. Các thứ thuốc sán lải thông thường không chữa được bệnh này. Như đã nói trên, trường hợp bệnh cấp tính, có thể dùng nội soi gắp con ấu trùng ở bao tử ra. Ngoài ra, bác sĩ chỉ chữa triệu chứng bệnh mà không diệt được ấu trùng. Thường thì hai ba tuần lễ bệnh thuyên giảm. Trường hợp nặng quá, có khi phải mổ để lấy ấu trùng ra.

Bệnh lải cá nước ngọt

Có thể kể hai thứ bệnh sau này:

-Bệnh đau gan do lải cá

Bệnh này thấy ở vùng Viễn Đông và Đông Nam Á, kể cả Cao ly, Nhật bản, Trung Hoa, Việt nam, Thái lan và Lào.

Ký sinh trùng là một thứ lải mình dẹp và ngắn như cái lá cây nên cũng gọi là lải lá để phân biêt với con lải đũa. Những con lải cá này thuộc về hai giống khác nhau, là Clonorchis và Opistorchis. Phân người và loài vật có trứng lải ô nhiễm trong nước sông rạch, hồ ao, mới đầu là những con sên, con ốc ăn phải, trứng nở thành ấu trùng non. Ấu trùng non vô cơ thể con cá, biến thành ấu trùng già nằm gọn trong môt bọc trong thịt con cá (ta bảo là cá có “gạo”).

Người ta, và một số con vật khác, ăn cá sống nên mắc bệnh. Ăn cá phơi khô hay hun khói cũng mắc bệnh được. Ấu trùng vào trong người ta vừa khỏi bao tử tới khúc đầu ruột non thì thoát ra khỏi bọc, đi ngược dòng ống mật ngược lên đến gan và túi mật, lớn lên thành con lải trưởng thành và sinh sống lâu dài tại đó (từ 15 đến 25 năm). Những con lải này nhỏ, chỉ độ bằng cái lá me, đẻ ra nhiều trứng. Trứng chạy theo mật xuống ruột non rồi từ đó thoát theo phân ra ngoài .

Con lải non mới vừa xâm nhập các ống mật có thể làm ta nóng sốt sơ sài, bụng hơi đau, gan hơi sưng, có khi bị vàng da, nhưng định bệnh thì rất khó, vì vào giai đoạn mấy tuần lễ đầu, trong phân chưa thấy có trứng lải.
Bệnh kinh niên lâu dài làm người bệnh mệt mỏi, kém ăn, đau bụng. Bác sĩ khám thấy gan bị sưng, nhưng chức năng gan thì vẫn gần như bình thường. Có khi bệnh nặng vì bị viêm làm nhiễm trùng ống mật, bị sạn mật, sưng túi mật hay là làm gan bị xơ cứng, sinh vàng da bụng báng đầy nước.
Nếu nghi là bệnh này, thí bác sĩ cho thử phân sẽ tìm thấy trứng lải. Chữa trị khá hữu hiệu và đơn giản. Thuốc Biltricide uống một, hai ngày là đủ.

-Bệnh lải chuột truyền qua cá

Có một con lải đũa nhỏ của loài chuột, tên khoa học là Angiostrongylus cantonensis. Tên có chữ cantonensis, vì hồi đầu tìm thấy ở vùng Quảng đông. Bệnh này thấy ở nhiều nơi, như New Orleans, Hawaii, Cuba, Nhật bản, Trung hoa, Đông Nam Á (kể cả Việt nam), Úc châu, Ấn độ, Ai cập, v.v… Trứng thải ra từ phân chuột thành ấu trùng vào trong con sên, con ốc. Sau đó, cá tôm hay cua ăn những con sên, con ốc này nên nhiễm bệnh. Người mắc bệnh vì ăn cá hay tôm cua sống hoặc nấu chưa đủ chín, có ấu trùng nhỏ li ti của con lải chuột. Ăn rau sống (thí dụ như rau muống sống) từ những sông ngòi hồ ao, trên lá rau có dính những con sên nhỏ hay là vết nhớt của chúng, có mang ấu trùng lải, cũng có thể mắc bệnh.

Con ấu trùng lải chuột vào trong người ta, không ở bộ tiêu hóa, mà lần mò di chuyển tới hệ thần kinh trung ương, nghĩa là óc và tủy sống. Có khi thấy nó ở trong võng mạc của mắt (vì về phương diện cấu trúc cơ thể, võng mạc là phần nối dài của óc). Con ấu trùng đi lang thang như vậy rồi chết. Nhưng trên đường nó đi, và chỗ nó nằm chết, thì tác hại sinh bệnh. Thường là bệnh viêm óc và màng óc, với các triệu chứng nhức đầu, nóng sốt, cứng cổ, ói mửa và các triệu chứng thần kinh khác. Bệnh kéo dài cả tháng, có khi mấy tháng. Có người chết, cũng có nhiều người khỏi.

Không có thuốc chữa cho kiến hiệu. Việc phòng ngừa, gồm có trừ chuột, tránh ăn cá, tôm cua nấu không chín. Ăn rau sống dù có rửa cho sạch (hy vọng loại trừ hết ấu trùng) cũng vẫn có thể nhiễm bệnh, vì số ít ấu trùng còn sót lại.

Bác sĩ Vũ Quí Đài

Edited by user Sunday, May 1, 2011 3:08:21 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thunder  
#44 Posted : Wednesday, May 4, 2011 9:55:33 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Cách dùng chuối hiệu quả


21/03/2011

Cứ 100g chuối hàm chứa 1,2g protein, 0,5g chất béo, 19,5g chất đường, 0,9g chất xơ và các nguyên tố vi lượng như can-xi 9 mg, phốt-pho 31mg, sắt 0,6mg.

UserPostedImage


Chuối là loại quả được xứng danh là “quả trí tuệ”. Chuối không những cung cấp nhiều loại vitamin và dinh dưỡng phong phú cho cơ thể mà còn làm cho da mềm mại, sáng bóng, làm cho mắt tươi sáng, thể lực sung mãn, kéo dài tuổi thọ.

Dinh dưỡng ở trong chuối rất phong phú, cứ 100g chuối hàm chứa 1,2g protein, 0,5g chất béo, 19,5g chất đường, 0,9g chất xơ và các nguyên tố vi lượng như can-xi 9 mg, phốt-pho 31mg, sắt 0,6mg, ngoài ra còn hàm chứa carotein, thiamin, niacin, vitamin C, vitamin E và nguyên tố vi lượng Kali vv.

Trị trầm cảm

Chuối hàm chứa một loại chất có thể giúp cho não bộ sản sinh ra enteramine, làm cho tâm trạng chúng ta trở nên vui vẻ, thoải mái. Người mắc chứng trầm cảm thường ngày nên ăn nhiều chuối, để làm tăng nống độ enteramine trong não, từ đó giảm buồn chán, bi quan, thất vọng, buồn bực.

Chữa trị các chứng ngứa da

Trong vỏ chuối hàm chứa một chất đặc biệt có thể khống chế sự sinh sản của vi khuẩn và nấm. Thực nghiệm chứng minh, dùng vỏ chuối chữa trị các chứng ngứa da hoặc bệnh hôi chân do vi khuẩn và nấm gây ra rất hữu hiệu. Người bệnh có thể lựa chọn vỏ chuối tươi đắp hoặc chà xát lên chỗ ngứa nhiều lần hoặc có thể xay thành dạng hồ hoặc nấu nước lên rửa, dùng liên tục nhiều ngày sẽ thấy hiệu quả.

Thông tiện

Nhìn từ góc độ dinh dưỡng, chuối là loại quả có tinh bột phong phú, còn nhìn từ góc độ y học, chuối có vị ngọt tính hàn, có thể thanh nhiệt, nhuận tràng, thúc đẩy dạ dày đường ruột nhu động.

Tuy nhiên, người bị tì hư, lạnh bụng, viêm thận, đau bụng đi ngoài hoặc bị sưng phù khi mang thai thì không nên ăn chuối tươi mà nên nấu chín hoặc hấp chín lên rồi ăn.

Giảm béo

Chuối có tác dụng khá hữu hiệu đối với giảm béo, bởi vì chuối có calo thấp nhưng hàm lượng chất xơ thì lại phong phú. Chuối rất ngọt nên nhiều người lầm tưởng là calo cao, thực tế không phải vậy. Chỉ có 87calo/100g chuốio. Ngoài ra, hàm lượng tinh bột trong chuối rất cao, vì vậy rất dễ làm cho bụng no, thêm vào đó chất bột khi vào trong cơ thể cần một quãng thời gian để chuyển thành chất đường, vì vậy không gây tích tụ quá nhiều năng lượng. Nhìn từ góc độ này, chuối cũng là một thực phẩm ưu tiên để lựa chọn cho những người giảm béo.

Làm đẹp

Dùng chuối làm mặt nạ đắp lên mặt, có thể làm cho da tươi mát, trơn bóng và có thể tẩy trừ, làm mờ các vết thâm nám, mụn nhọt.

Cách làm mặt nạ như sau: Lấy nửa quả chuối, xay nhỏ thêm vào một ít sữa bò, trộn thành hồ, đắp lên mặt, sau 15-20 phút thì rửa mặt.

Theo Health.sohu/Dân trí

thunder  
#45 Posted : Friday, May 6, 2011 12:02:00 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

TÁO BÓN (Constipation)


Đời lắm nỗi bất công, kẻ thơ thới đi cầu, người nhó nhăn táo bón. Mỗi năm, có hơn 2 triệu rưỡi người ở Mỹ đi thăm bác sĩ vì táo bón.

Bón không những khó chịu, còn có thể làm nứt hậu môn gây đau, khiến bệnh trĩ nặng hơn, trực tràng sa xuống (rectal prolapse), phân vón chặt trong trực tràng gây đau bụng, buồn nôn, ói mửa, bí tiểu.

Chúng ta hay nghĩ cứ phải đi cầu đều mỗi ngày mới là bình thường, nên nhiều vị tưởng mình táo bón. Thực ra, thói quen đi cầu của người lớn chúng ta khác nhau nhiều lắm, từ vài lần mỗi ngày, đến vài lần mỗi tuần.

Theo định nghĩa, ta bị táo nếu có hai (hoặc hơn) những triệu chứng sau đây
:

• Đi cầu ít hơn 3 lần mỗi tuần
• Khi đi cầu, phân hay cứng, ra thành cục nhỏ
• Khi đi cầu, hay phải rặn dữ phân mới chịu ra
• Khi đi cầu, hay phải dùng tay giúp phân ra
• Khi đi cầu, hay có cảm giác phân kẹt không ra
• Hay có cảm giác đi cầu không hết khi đã xong việc

Như vậy, nếu bạn đi cầu có 3 lần mỗi tuần thôi, song vẫn dễ dàng và thoải mái lắm, bạn... chưa bị táo bón.

Nguyên nhân táo bón kinh niên


Càng lớn tuổi chúng ta càng dễ bón. Các vị cao niên thường ít ăn rau trái cùng những thực phẩm giúp chống bón, không uống đủ nước, ít vận động hơn người trẻ, uống nhiều loại thuốc có thể gây bón.

Rất nhiều nguyên nhân khác nữa gây bón
:

• Bất thường về cấu trúc của đường tiêu hóa: bướu (như ung thư ruột già), trực tràng lồng vào nhau hoặc bị sa, thòng ( rectal intussusception or prolapse, rectocele ).

• Bất thường cơ năng ( functional abnormality ): bệnh ruột quá nhạy cảm ( irritable bowel syndrome ).

• Bệnh nội tiết: bệnh tiểu đường, bệnh suy tuyến giáp trạng ( hypothyroidism ), bệnh cao hoặc thấp chất calcium trong máu ( hypercalcemia, hypocalcemia ).

• Bệnh thần kinh: aganglionosis, intestinal pseudo-obstruction, multiple sclerosis, Parkinson’s disease.

• Mang thai.

• Thuốc dùng: rất nhiều thuốc có thể gây bón: anticholinergics, antidepressants (chống sầu buồn), antiparkinsonian agents (chữa bệnh run Parkinson), calcium-channel blochers (chữa cao áp huyết), iron supplements (thuốc chứa chất sắt), opiates (thuốc chứa chất nha phiến), v.v..

Trong những trường hợp táo bón không tìm thấy nguyên nhân rõ rệt, có lẽ bón gây do ruột già chuyển động chậm slow colonic transition ) hoặc sàn vùng chậu không làm việc đàng hoàng ( pelvic floor dysfunction , các bắp thịt vùng chậu và hậu môn không nới lỏng lúc chúng ta rặn khi đi cầu).

Kể bệnh và khám bệnh

Để giúp bác sĩ tìm ra nguyên nhân gây chứng bón khiến bạn buồn phiền, khi tâm sự với bác sĩ, bạn cho bác sĩ biết ba điểm quan trọng:

• Chứng bón mới đến thăm bạn đây hay ở với bạn đã lâu?
• Thực sự, bạn bảo bạn bị bón, bạn muốn nói: bạn ít khi đi cầu, phân bạn cứng, hay bạn phải rặn đỏ cả mặt khi đi cầu, hoặc bạn đi không hết phân, v.v.?
• Mỗi tuần, bạn thử nhớ, bạn đi cầu tổng cộng mấy lần?

Thế còn thuốc dùng, bạn có nhớ mang tất cả theo cho bác sĩ xem không. Kể cả những thứ mua không cần toa, như các thuốc chảy mũi, nghẹt mũi Dimetapp, Benadryl, Tavist , v.v.? Chúng có tính anticholernergic , hay gây bón. Và nhiều thuốc khác nữa. Tốt nhất, đi khám bệnh vì bất cứ triệu chứng gì, bạn đều đem theo thuốc cho bác sĩ xem.

Còn nữa. Bạn có đau bụng, đau vùng hậu môn khi đi cầu, bạn có xuống cân, chảy máu trực tràng ( rectal bleeding ) không? Trong lúc đi cầu, bạn có phải ngồi ở một vị trí nào đặc biệt để cố đi? Bạn có phải dùng tay ấn phía trước hậu môn, hoặc đưa tay vào âm đạo đè vào trực tràng ở phía sau để giúp phân ra không? (nếu vậy, bạn có thể bị thòng trực tràng, rectocele). Nếu cứ có cảm giác đầy đầy trong trực tràng, xin bạn cho biết luôn, để ta cùng nghĩ đến các bệnh sa trực tràng ( rectal prolapse ), trực tràng lồng vào nhau ( rectal intussusception ), và thòng trực tràng (rectocele). Những lúc bạn không đi cầu, phân bạn nó có tự ý rò ra không ( fecal incontinence ).

Trong lúc bạn kể bệnh, bác sĩ kín đáo để ý xem nét mặt bạn thế nào, có lộ những nét căng thẳng, buồn sầu chăng. Người căng thẳng, buồn sầu hay bị bón, và có khi đang dùng thuốc tâm thần khiến họ bón thêm. Rồi đến lúc thăm khám cho bạn, bác sĩ sẽ khám tổng quát trước, xem bạn có bệnh toàn diện nào ảnh hưởng cả đến sự hoạt động của bộ máy tiêu hóa bạn, chẳng hạn như các bệnh suy tuyến giáp trạng, bệnh run Parkinson, v.v.. Bác sĩ ngắm xem bạn có gầy còm, xanh xao không, vì bệnh ung thư ruột già có thể gây bón, còn làm ta xuống cân, mất máu. Khi khám hậu môn của bạn, bác sĩ sẽ để ý xem hậu môn bạn có vết nứt nào ( anal fissures ) hoặc có trĩ ( hemorrhoids ) khiến bạn đau, và đâm ngại đi cầu. Bác sĩ nhờ bạn rặn thử, như lúc đi cầu, để xem trực tràng của bạn có sa xuống không.

Sau đó, bác sĩ sẽ đưa ngón tay vào hậu môn bạn để thăm khám tiếp. Bạn chịu khó chút. Dùng ngón tay thăm như vậy, bác sĩ có thể khám phá bạn có vết nứt hậu môn, trĩ, mạch lươn (fistulas), đồng thời thẩm định xem cơ vòng hậu môn của bạn có còn làm việc đàng hoàng không. Bác sĩ lại nhờ bạn rặn như đi cầu lần nữa, để xem bên trong, trực tràng có thòng xuống bất thường lúc bạn rặn không, và cùng lúc, nếu cơ vòng hậu môn, lẽ ra nó phải dãn ra để phân bạn thoát ra dễ dàng, mà không, nó lại siết lại, thì đúng là nó không muốn làm việc rồi. Với ngón tay trong hậu môn bạn, bác sĩ cũng xem bạn có bị bướu trong trực tràng, có bị vón phân ( fecal impaction ), có khi thành một cục to như trái banh tennis, khiến bạn đã bón càng thêm bón, hoặc ngược lại, khiến phân cứ hay nhỉ ra, nhỉ ra những lúc bạn không đi cầu, khiến bạn thấy phiền quá.

Với những vị lớn tuổi mới bị bón đây, ta cẩn thận và nghĩ xa hơn chút, vì sợ ung thư ruột già là nguyên nhân làm bón. Nếu cùng với bón, có cả chảy máu trực tràng hoặc thiếu máu do thiếu chất sắt, ta nên nhờ bác sĩ chuyên khoa đường tiêu hóa soi toàn thể ruột già ( colonoscopy ) cho chắc ăn, kẻo có ung thư nó nằm đâu đó. Còn không (không chảy máu trực tràng, không thiếu máu do thiếu chất sắt), soi ruột không gấp, ta chụp phim ruột già, vì phim chụp có thể cho thấy ruột già hoặc trực tràng có to bự bất thường hay chăng ( megacolon or megarectum ).

Chữa trị

Bón ít khi gây do những nguyên nhân nguy hiểm, nên nếu việc thăm khám không cho thấy có gì lạ lắm, chúng ta có thể bắt tay ngay vào việc chữa trị, chưa cần phải thử máu hoặc làm những trắc nghiệm phức tạp.

Chữa bón gồm 4 bước, từ nhẹ nhàng đến nặng tay.

Bước đầu, bạn nên thường xuyên vận động (như đi bộ 30-45 phút mỗi ngày), uống nước cho đủ (6-8 ly nước mỗi ngày), và hàng ngày, bỏ ra 15-20 phút để nhẩn nha đi cầu. Hãy lắng nghe và đáp ứng những tín hiệu đòi đi cầu của bộ tiêu hóa, những tín hiệu này mạnh nhất sau khi ta ăn, nhất là sau bữa sáng. Nếu ta phe lờ, tín hiệu muốn đi cầu từ bộ tiêu hóa sẽ yếu dần rồi hết hẳn, nó thôi, không nhắc ta nữa.

Bạn nên ăn nhiều rau, trái cây, bran cerial, whole wheat bread, v.v., những thực phẩm chứa nhiều chất sợi (fiber) giúp ta đi cầu đều hơn. Mỗi ngày bạn cần khoảng 20-35 g chất sợi để chống bón. Bạn đang dùng thuốc gì nghi có thể gây bón ư, ta giảm lượng thuốc, hoặc đổi sang một thuốc khác không gây bón.

Nếu bạn không ăn đủ rau trái, bran cerial, whole wheat bread, v.v., để có đủ 20-35 g chất sợi mỗi ngày, ta sang bước thứ hai. Bác sĩ sẽ khuyên bạn dùng các thuốc cung ứng chất sợi ( polycarbophyl, psyllium, methylcellulose ) để đi cầu đều hơn. Còn phân của bạn quá cứng ư, bạn có thể dùng thuốc làm mềm phân ( stool softener ), như thuốc Colace .

Với những biện pháp trên, mà cái ruột của bạn vẫn ỳ ra, ta phải sang đến bước thứ ba, tuần 2-3 lần, dùng thêm các thuốc xổ có tác dụng thẩm thấu (osmotic laxatives) chứa chất muối magnesium ( magnesium citrate, magnesium hydroxide ), sodium phosphates, hoặc các chất đường không hấp thụ (nonabsorbable sugars) như lactulose, sorbitol . Các thuốc này tương đối lành, tuy nhiên, ta không nên dùng chúng cho những vị bị suy thận ( renal insufficiency ), hoặc phải ăn một thực phẩm lạt, ít chất muối sodium.

Bước thứ tư là bước cuối trong sự chữa trị bằng thuốc, gồm những thuốc xổ có tác dụng kích thích (stimulant laxatives), như các thuốc bisacodyl, senna , v.v., dùng cho những cái ruột già cứng đầu, không chịu làm việc gì cả. Đã đến bước này, mà cũng chẳng ăn thua, thì đúng là ta gặp phải cái ruột già ngoan cố.

Với những cái ruột già ngoan cố, ta cần tìm xem những nguyên nhân sâu xa bên trong gây bón. Những thử máu thường được làm, trường hợp chứng bón của bạn cứng đầu, không chịu thua những cách ta đã thử kể trên: TSH, calcium, glucose, creatinine, complete blood count (đếm máu toàn diện, hay được viết tắt CBC), để truy tìm các bệnh suy tuyến giáp trạng, cao hoặc thấp calcium trong máu, suy thận, những bệnh hay gây bón. Còn làm CBC (đếm máu toàn diện) để xem bạn có thiếu máu không, nếu có, ta nên nghĩ đến ung thư ruột già, một bệnh chúa hay gây thiếu máu.

Nếu mọi tìm hiểu với thử máu đều bình thường, và chứng bón của bạn nó vẫn quá lắm, không có mòi thuyên giảm, đây là lúc bạn cần được chuyển đến bác sĩ chuyên khoa đường tiêu hóa, để bác sĩ chuyên khoa soi đường tiêu hóa phía dưới của bạn ( sigmoidoscopy ) xem có gì lạ, và nếu cần sẽ làm những trắc nghiệm đặc biệt như đo lường sự chuyển động của ruột già ( measurement of colon transit ), đo áp suất vùng hậu môn-trực tràng ( anorectal manometry ), chụp phim lúc đang đi cầu ( defecography ), v.v.. Sự chữa trị sau đó sẽ tùy vào kết quả của những trắc nghiệm đặc biệt này. Thỉnh thoảng, có chứng bón, hết thuốc chữa, vì trị liệu nào cũng vô phương, cách trị cuối cùng là đành cắt hẳn ruột già ( colectomy ).

Ôi, bón khiến nhiều người chúng ta đau khổ, mặt mày tư lự. Cũng may, thường nó không do nguyên nhân nguy hiểm. Bạn tăng cường vận động, uống cho đủ nước, ăn nhiều rau trái cùng những thực phẩm giúp chống bón, tránh những thuốc có thể gây bón, tập thói quen đi cầu đều mỗi ngày (nghe theo tiếng gọi của bộ tiêu hóa, đi ngay lúc nó muốn), thường bón sẽ bớt.

Bác sĩ Nguyễn Văn Đức

xuan hoang  
#46 Posted : Friday, May 6, 2011 4:23:02 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)


Khoáng Chất Trong Cơ Thể


UserPostedImage



Trên truyền thanh truyền hình, ta thường thấy các nhà sản xuất quảng cáo là các món điểm tâm cereal của họ đã được tăng cường đầy đủ các sinh tố, khoáng chất mà cơ thể cần. Rồi những nước uống thể thao (sports drinks) cũng khoe là chứa nhiều sinh tố khoáng chất có thể giúp vận động viên biểu diễn bền bỉ, mạnh mẽ hơn.

Vậy thì các chất này là gì mà được nhấn mạnh như vậy. Chắc là quý độc giả đã quá quen thuộc với sinh tố rồi, cho nên trong bài viết sau đây, xin nói về Khoáng Chất Trong Cơ Thể.

Trước hết, cần lưu ý sự khác biệt giữa khoáng chất (minerals) và sinh tố (vitamin), ít nhất là ở hai điểm:

-Vitamin là những chất hữu cơ có phân tử carbon do cây cỏ và động vật tạo ra còn khoáng chất là các chất vô cơ không có carbon.
-Cơ thể có thể tạo ra một vài loại sinh tố nhưng không sản xuất được một khoáng chất nào.

Khoáng chất rất cần thiết cho sự hấp thụ các loại vitamin. Dù rất quan trọng nhưng vitamin sẽ trở thành vô dụng nếu không có sự hỗ trợ của khoáng chất.
Khoáng chất không phải chỉ có trong thực phẩm mà còn thấy trong đất như là sắt, kẽm… Cây cỏ kết hợp khoáng từ đất vào các tế bào của chúng. Do đó, trái cây, các loại rau, hạt là nguồn cung cấp khoáng chất rất phong phú..
Vì là chất vô cơ, cho nên khoáng chất có sức chịu đựng với nhiệt độ cao và vẫn hiện diện trong thực phẩm hoặc tế bào bị đốt cháy.
Khoáng chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển bình thường của cơ thể và cần phải được cung cấp đầy đủ từ thức ăn mà ta tiêu thụ mỗi ngày.
Tất cả các loại tế bào và dung dịch chất lỏng trong cơ thể đều chứa một số nhiều ít khoáng chất khác nhau. Khoáng chất là thành phần cấu tạo của xương, răng, tế bào mềm, cơ bắp, máu, tế bào thần kinh. Nói chung, khoáng có vai trò quan trọng duy trì tốt tình tạng tinh thần cũng như thể chất của cơ thể.

Phân loại

Về phương diện dinh dưỡng, khoáng chất được chia ra làm hai nhóm, căn cứ theo nhu cầu của cơ thể:

-Vĩ khoáng (macromineral)
hay khoáng chất đa lượng, là những chất mà cơ thể cần đến với lượng khá lớn, mỗi ngày có thể trên 250 mg. Đó là calci, phospho, sulfur, magnesium và ba chất điện phân natri, chlor và kali.

-Vi khoáng (microminerals)
hay khoáng chất vi lượng tuy rất cần thiết nhưng nhu cầu không nhiều, mỗi ngày chỉ cần dưới 20 mg. Như là sắt, đồng, bạc, kẽm, crôm, magan, selen, cobalt, fluor, silic, molybden, boron...

Khoáng chất được ruột non hấp thụ từ thực phẩm, rồi dự trữ và lưu truyền trong máu, trong các loại tế bào. Phần không dùng đến sẽ được nước tiểu loại ra ngoài.
Khi số lượng khoáng chất mang vào cơ thể quá cao và được giữ lại quá lâu thì chúng có thể gây ra một số tác hại.

Vai trò của khoáng chất

Nói chung, vai trò của khoáng chất như sau:

-Cần cho sự tăng trưởng và sự vững chắc của xương;
-Điều hòa hệ thống tim mạch, tiêu hóa và các phản ứng hóa học;
-Để làm chất xúc tác chế biến diếu tố (enzyme);
-Là thành phần của chất đạm, chất béo trong các mô, tế bào;
-Có tác dụng phối hợp với các sinh tố, kích thích tố trong các chức năng của cơ thể;
-Giữ thăng bằng các thể dịch lỏng trong cơ thể.

Công dụng của khoáng chất đã được người đời xưa biết tới và dùng để trị bệnh, mặc dù họ không giải thích được tại sao.
Trước Công nguyên, các thầy thuốc Trung Hoa đã khuyên bệnh nhân bướu cổ ăn rong biển (seaweed) có chứa iod. Các vị lương y Hy Lạp cho bệnh nhân thiếu máu uống nước nhúng sắt nung.

Kết quả nghiên cứu của khoa học hiện nay đã tìm ra và chứng minh được vai trò của khoáng chất. Ngoài công dụng dinh dưỡng, mỗi khoáng còn có một vai trò khác nữa trong cơ thể.

Gần đây nhiều thí nghiệm cho thấy có mối liên hệ giữa khoáng chất và các bệnh kinh niên như bệnh cao huyết áp, bệnh giòn xương, bệnh tim mạch, thậm chí cả bệnh ung thư. Do đó nhiều người đã vội vã đi mua khoáng chất dưới dạng thực phẩm phụ (food supplement) để uống. Họ tin tưởng rằng khoáng chất có thể chữa hết các chứng bệnh đó.

Trong thực tế, cơ thể không cần khoáng chất dưới dạng thực phẩm phụ và cũng không cần khoáng chất với liều lượng quá lớn (megadose). Sự tác động qua lại trong cơ thể của khoáng chất, sinh tố, các chất dinh dưỡng và nhiều chất khác, rất là phức tạp.
Cho nên một lượng lớn của bất cứ một thành phần nào cũng đều gây ra sự mất cân bằng và cản trở hấp thụ bình thường các chất dinh dưỡng.

Hậu quả thiếu khoáng chất

Khi thiếu khoáng chất, một số bệnh có thể xẩy ra, như là:

-Gia tăng khả năng mắc các bệnh cảm cúm, nhiễm trùng
-Cao huyết áp
-Trầm cảm, lo âu
-Không tăng trưởng hoặc xương yếu
-Đau nhức bắp thịt, khớp xương
-Rối loạn tiêu hóa như ợ chua, táo bón, buồn nôn.

Nhu cầu hàng ngày

Tại Hoa Kỳ, viện Hàn Lâm Khoa Học Quốc Gia khuyến cáo chỉ nên giữ mức tiêu thụ bảy khoáng chất hằng ngày như sau đối với những người tuổi cao :

Calci (Ca) - 800 mg

Phospho (P) - 800 mg

Magnesium (Mg) - 350 mg

Sắt (Fe) - 10 mg

Kẽm (zinc) - 15 mg

Iod (I) - 150 mcg

Selen (Se) - 70 mcg.

Với các khoáng chất khác, viện này chỉ đưa ra những ước lượng về mức an toàn cho cơ thể với số lượng được hấp thụ.
Cách tốt nhất để có một lượng vừa phải các khoáng cần thiết là cân đối bữa ăn với nhiều loại thực phẩm có đầy đủ chất dinh dưỡng.

Vài khoáng chất căn bản

Trong cơ thể có trên 60 loại khoáng chất nhưng chỉ có 20 loại được xem là cần thiết. Khoáng chất chỉ chiếm 4 % trọng lượng cơ thể. Sau đây là một số khoáng chất quan trọng:

1.Calci

Calci đặc biệt có nhiều trong sữa và các phó sản như pho mát, sữa chua. Cho tới tuổi 20, xương có thể hấp thụ và dự trữ cần thiết cho sự tăng trưởng cơ thể và duy trì các chức năng khác. Sau đó thì cơ thể dùng nhiều calci hơn để xương cứng chắc. Do đó, nếu ta không tiêu thụ đầy đủ calci, xương sẽ bị rỗng loãng, dễ gẫy cũng như rụng răng.

2.Phospho

Phopho cần thiết để duy trì tốt sự tiêu hóa, tuần hoàn, nuôi dưỡng tế bào thần kinh, mắt, cơ bắp, não bộ. Phospho có nhiều trong các thực phẩm như sữa, thịt cá, cám, ngô bắp… Thiếu phopho sẽ gây ra một số rối loạn như xương ròn dễ gẫy, răng lung lay, đau nhức cơ bắp…

3.Sắt

Sắt cần thiết để giúp máu chuyên chở và phân phối dưỡng khí tới khắp các bộ phận của cơ thể. Thiếu sắt đưa tới kém tăng trưởng, tóc và móng tay móng chân ròn, thiếu hồng cầu, thiếu máu. Sắt có nhiều trong thịt, cá, trứng …

4.Magnesium

Magnesium là một trong những khoáng chất mà cơ thể cần. May mắn là khoáng này hiện diện trong nhiều loại thực phẩm như trái cây, sữa, pho mát.
Thiếu Mg có thể làm cho cơ bắp đau nhức, rối loạn tim và huyết áp.

5.Iodine

Iodine có trong muối được tăng cường i-ốt ( iodized salt), hải sản, rau spinach, rong biển.
Mặc dù cơ thể chỉ cần số lượng rất ít, nhưng khi thiếu iod sẽ đưa tới rối loạn tăng trưởng cả thể chất lẫn tinh thần cũng như tuyến giáp (thyroid).

6.Kẽm

Kẽm có vai trò quan trọng trong việc tạo ra tính miễn dịch mạnh cho cơ thể để chống lại với cảm lạnh, cúm. Thiếu kẽm cũng gây ra bệnh ngoài da, vết thương chậm lành.
Nguồn cung cấp chính của kẽm là hải sản như sò hến, thịt, gan, trứng, sữa, mầm lúa mạch.

7.Selenium

Selenium là một chất chống oxi- hóa giúp cơ thể ngăn chặn được ung thư, trì hoãn sự hóa già và các bệnh thoái hóa. Selen rất cần thiết cho hệ thống miễn nhiễm và sự hoạt động của cơ tim, giúp cân bằng kích thích tố và tạo ra chất prostaglandin, làm da và tóc khỏe mạnh.
Selenium có nhiều trong cá, sò hến, thịt, ngũ cốc, trứng, tỏi và gan, cật. Rau và trái cây có rất ít selenium.

Kết Luận

Khoáng chất là những phần tử cần thiết cho các chức năng của cơ thể, từ hệ thần kinh cơ bắp tới điều hòa tiêu hóa hấp thụ chất dinh dưỡng, duy trì cân bằng chất lỏng trong và ngoài tế bào. Mặc dù cơ thể chỉ cần một số lượng khiêm tốn, nhưng thiếu chúng là cơ thể trở nên suy yếu, kém hoạt động.
Vậy thì ta nên tiêu thụ đầy đủ các chất này, có sẵn trong thực phẩm mà tạo hóa đã dành cho con người.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức M.D.
Texas- Hoa Kỳ

UserPostedImage
thunder  
#47 Posted : Saturday, May 7, 2011 8:42:57 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
7 cách chữa nhức đầu


Cuộc sống có quá nhiều điều khiến bạn nhức đầu: Tranh luận, lo lắng, thất bại, bão giá,… và ngay cả những điều tốt cũng khả dĩ khiến bạn nhức đầu. Nói chung, nhức đầu là phản ứng của cơ thể đối với những mối căng thẳng thể lý và tình cảm. Căng thẳng có thể làm co rút các cơ bắp trong đầu và cổ khiến bạn nhức đầu. Căng thẳng cũng có thể làm các mạch máu co rút để gây đau nửa đầu hoặc đau đầu máu. Nếu xoang mũi nghẹt do nhiễm trùng sẽ gây nhức đầu thường xuyên. Dù vậy, đa số các chứng nhức đầu tạm thời có thể tự điều trị.

1.Xoa bóp đầu bằng dầu xạ hương (húng tây) và hương thảo. Chấm ít dầu xạ hương hoặc hương thảo vào hai thái dương. Xoa bóp nhẹ cho dầu thấm vào da, rồi ngồi yên vài phút. Nghiên cứu năm 2010 cho thấy dầu xạ hương và hương thảo chứa carvacrol, một chất tác dụng như chất ức chế COX-II, rất giống chất phi steroid (nonsteroidal) chống viêm nhiễm như thuốc ibuprofen.

2. Trà Gừng. Gừng có thể chống đau nửa đầu bằng cách ức chế prostaglandin. Gừng còn có thể ức chế nôn mửa thường theo sau chứng đau nửa đầu. Pha trà bằng cách dùng 3 lát gừng với 2 tách nước sôi, ủ 30 phút.

3. Trà Cúc (Chamomile tea). Trà cúc có các hợp chất giúp thư giãn và làm giảm nhức đầu. Dùng 1 túi trà cúc bỏ vào tách nước sôi, ủ 10 phút. Có thể pha chút mật ong. Uống nóng và ngồi yên một lúc.

4. Tắm dầu Bạc hà và dầu Oải hương. Một số tinh dầu thiên nhiên rất tốt khi pha vào nước tắm. Nước nóng dẫn máu xuống chân và làm bớt căng mạch máu ở đầu. Thêm vài giọt dầu bạc hà và/hoặc dầu oải hương vào nước nóng rồi tắm rất tốt cho mạch máu.

5. Magnesium. Chứng đau nửa đầu là do mức magnesium trong não thấp. Nghiên cứu cho thấy bổ sung magnesium có thể ngăn ngừa các chứng nhức đầu. Các chuyên gia khuyên mỗi ngày dùng 400 mg magnesium hoặc magnesium oxide. Chú ý: Magnesium có thể gây tiêu chảy ở một số người.

6. Vitamin B2. Theo một cuộc nghiên cứu, hàng ngày dùng 400 mg vitamin B2, còn gọi là riboflavin, dùng trong 3 tháng sẽ giảm đau nửa đầu 50-59%, chỉ giảm 15% ở những người dùng giả dược.

7. Chất chiết xuất Gai lông. Một loại thảo dược gọi là Gai lông (butterbur) cho thấy hiệu quả trong việc làm giảm chứng đau nửa đầu. Có 3 cuộc nghiên cứu dùng Petadolex và dùng chất chiết xuất gai lông, thảo dược gai lông làm giảm chứng đau nửa đầu nhiều hơn so với giả dược. Liều lượng khuyên dùng là 75 mg, dùng mỗi ngày 2 lần trong 1 tháng, sau đó dùng 50 mg mỗi ngày 2 lần.

(Chuyển ngữ từ Reader’s Digest)

Trầm Thiên Thu

thunder  
#48 Posted : Tuesday, May 10, 2011 12:06:55 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Đau lưng


Chứng đau lưng, một chứng thường đưa ta đến phòng mạch bác sĩ
.

1. Đau lưng có thể đi từ đau âm ỉ, dai dẳng cho đến đau bất chợt, buốt nhói, làm ta đi lại khó khăn. Nó có thể bắt đầu nhanh chóng nếu bạn té ngã hoặc nâng nhấc vật quá nặng, hoặc có thể từ từ và càng ngày càng đau hơn.


2. Ai cũng có thể bị đau lưng, nhưng nguy cơ tăng cao theo:

- Tuổi tác: Người lớn tuổi dễ bị đau lưng, có thể bắt đầu từ những năm 30 hoặc 40 tuổi.
- Thụ động: Đau lưng thường thấy nơi những người không hoạt động thể lực
- Quá nặng cân: Ăn nhiều chất béo và giàu calorie làm ta lên cân. Sức nặng thân thể quá nặng có thể đè lên lưng làm đau.
- Di truyền: Một số yếu tố gây ra đau lưng là do di truyền.
- Bệnh tật: Thấp khớp và ung thư cũng có thể gây ra đau lưng
- Công việc: Nếu phải nâng, đẩy hoặc kéo đồ vật mà vặn vẹo xương sống, nếu làm việc cả ngày nơi bàn giấy mà không ngồi thẳng, cũng có thể bị đau lưng
- Hút thuốc: Thuốc lá làm cơ thể thiếu chất dinh dưỡng nuôi các đĩa xương sống, hoặc ho vì hút thuốc cũng gây ra đau lưng.
- Chủng tộc: Phần dưới xương sống phụ nữ da đen dễ bị trật ra ngoài khớp ba lần hơn phụ nữ da trắng.

3. Nguyên nhân gây ra đau lưng:

- Do trục trặc thể hình, như đĩa xương sống bị hư hoặc bể, bắp thịt căng cứng, co giật.
- Bị thương do tai nạn, té ngã, bong gân, gãy xương.
- Do một số bệnh tật hoặc tình huống như: thấp khớp, vẹo xương, nhiễm trùng, thai nghén, sạn thận...

4. Ngăn ngừa đau lưng bằng cách:

- Thường xuyên vận động và tạo cho bắp thịt sống lưng mạnh mẽ.
- Giữ thể trọng lành mạnh, nếu quá nặng cân hãy tìm cách giảm cân. Uống đủ calcium và vitamin D hàng ngày cho xương mạnh.
- Cố ngồi thẳng, đứng thẳng, tránh đừng nâng nhấc vật nặng. Nếu phải nâng, hãy rùn hai chân xuống và giữ cho lưng thẳng.

5. Trường hợp đau lưng cần đi khám bác sĩ, nếu thấy:

- tê hoặc ù tai
- nghỉ ngơi mà cơn đau không giảm
- đau lưng sau khi bị té ngã hoặc bị thương
- đau lưng kèm theo các triệu chứng như sốt, mất cân, khó tiểu, mệt mỏi, hai chân tê bại.

Bác sĩ thường khám tổng quát và xem tiền sử bệnh, hoặc làm thêm một số thử nghiệm như rọi X quang, thử máu, làm CT scan hoặc MRI (Magnetic resonance imaging).

6. Khác biệt giữa đau lưng cấp tính (acute) và kinh niên (chronic):

- Đau cấp tính bắt đầu nhanh chóng và kéo dài dưới 6 tuần lễ. Đây là loại đau lưng thông thường, có thể do té ngã, bị chặn hoặc cản khi chơi thể thao, hoặc nâng nhấc vật nặng.
- Đau kinh niên thường lâu hơn ba tháng.

7. Chữa trị đau lưng ra sao? Tùy theo loại đau.

- Đau cấp tính thường khỏi lần mà không cần chữa trị, nhưng có thể dùng các thuốc giảm đau như acetaminophen, aspirin, hoặc ibuprofen.

Chữa đau lưng kinh niên bằng
:

Dùng các gói nóng hoặc lạnh (Hot or Cold Packs). Gói nóng làm giảm co giật bắp thịt, giảm đau. Gói lạnh làm bớt sưng và cũng giảm đau. Tuy nhiên cả hai chỉ giúp giảm đau, không trị được bệnh.

Tập luyện đúng cách có thể giảm đau lưng kinh niên, nên tham khảo với bác sĩ.

Dùng thuốc

- Giảm đau như acetaminophen và aspirin bán trên quày hoặc dùng thuốc theo toa bác sĩ.
- Thuốc thoa đắp như các loại kem, dầu, thuốc mỡ bôi trên da.
- Thuốc vừa giảm đau vừa chống sưng như ibuprofen, ketoprofen, và naproxen sodium.
- Thuốc chích: bác sĩ có thể đề nghị chích steroid hoặc thuốc tê để làm giảm đau.

Phương pháp phụ: Khi đau lưng kinh niên mà những cách chữa trị khác không làm giảm đau, người ta có thể đề nghị:

- Thoa bóp: dùng tay massage cột sống và các tế bào bên cạnh.
- Dùng những luồng điện nhẹ kích thích thần kinh nơi vùng bị đau.
- Châm cứu theo phương pháp của người Trung hoa, dùng kim nhỏ để làm giảm đau và hồi phục sức khỏe.

Giải phẫu: Đa số các trường hợp đau lưng kinh niên không cần đến giải phẫu, ngoài những trường hợp sau đây: một hay nhiều đĩa xương sống bị hư, xương sống trật khớp, xương sống gẫy vì bệnh rỗng xương...

TM
(Viết theo healthfinder.gov)

xuan hoang  
#49 Posted : Friday, May 13, 2011 5:19:19 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)

Tim ngừng đập (cardiac arrest)


Theo thống kê của Y sĩ đoàn Mỹ AMA thì mỗi năm tổng số người chết vì tim ngừng đập còn cao hơn cả ung thư vú, ung thư phổi, AIDS cộng lại và một khi xảy ra thì chỉ trong vài phút thì nạn nhân qua đời. BS Leslie Saxon, trưởng bộ môn tim mạch của Đại Học University of Southern California cho biết là “chứng tim ngừng đập" xảy ra khi tâm thất bị rung (ventricular fibrillation) khiến làm cho cơ tim (myocardium) ngưng hoạt động và nếu không được chữa trị ngay tức thì bằng máy khử rung (defibrillator) thì sẽ khó thoát chết.

Khi tâm thất bị rung thì phát ra những làn sóng điện hỗn loạn làm cho tim ngưng đập và máy khử rung sẽ phóng ra một cú sốc điện hòng xóa đi những làn sóng kể trên khiến cơ tim có thể hoạt động trở lại bình thường. Nhưng điều kiện dùng máy khử rung cần phải được làm thật sớm mới công hiệu. Thủ thuật cấp cứu CPR chỉ có tính cách tạm thời giúp đem máu lên não bộ trong khi chờ đợi được chữa bằng máy khử rung vì thế hiện nay tại các phi trường , các nơi công cộng cho đến các sòng bài, rạp hát..đều có máy khử rung để dùng khi cần đến.

Trung bình tỷ lệ tử vong những trường hợp tim ngừng đập mà không được cấp cứu bằng máy khử rung kịp thời có thể lên tới 98 % vì não bộ chỉ có thể chịu đựng được tối đa là 5 phút sau khi tim ngừng đập. Một số người được cấp cứu quá trễ thì đôi khi não bộ có những tổn thương vĩnh viễn khiến trở nên một người vô tri, vô giác có khi kéo dài hàng chục năm trên giường bệnh, một nếp sống thực vật (vegetative state).

Ngày nay Y học đã sáng chế ra những loại máy khử rung tự động gọi là AICD (automatic implantable cardioversion device) gắn ở trong lồng ngực khiến mỗi khi một cơn rung tâm thất xảy ra thì máy sẽ phát hiện sớm tự động phát ra một cú sốc và cứu thoát kịp thời bệnh nhân. Cựu Tt Mỹ Dick Cheney đã được gắn một máy AICD nên đã thoát khỏi nhiều cơn rung tâm thất.

Tim ngừng đập và một cơn đau tim khác nhau thế nào?

Hiện tượng tim ngừng đập (sudden cardiac arrest) có nhiều nguyên nhân trong đó một cơn đau tim (heart attack) chỉ là một trong nhiều nguyên nhân khác nhau. Một cơn đau tim xảy ra khi một nhánh của động mạch vành bị tắc nghẽn làm cho cơ tim bị hủy hoại (ischemia) rồi tạo nên tình trạng tim bị loạn nhịp (arrhythmias) vì hiện tượng rung tâm thất (ventricular fibrillation) rồi ngưng đập. Ngoài chứng bệnh kể trên còn những nguyên nhân khác làm cho tim ngừng đập như bị điện giựt, sét đánh, chết đuối, chấn thương, bị bóp cổ vì nghẹt thở vì bệnh phổi và nhất là nhiễm độc vì các loại thuốc trấn thống, ma túy. Ngoài ra còn một số trường hợp mà nguyên nhân không rõ. Tại một vài nơi vẫn còn án tử hình thì các tử tù có thể bị chết vì tim ngừng đập sau khi được tiêm thuốc độc hoặc hóa chất potassium (Mỹ) làm cho cơ tim ngừng đập hoặc bị treo cổ (Ba Tư và một số quốc gia Hồi Giáo).

Gần đây chứng bệnh ngủ ngáy (obstructive sleep apnea) cũng là một trong những nguyên nhân làm cho bệnh nhân bị ngừng thở hay tim ngừng đập trong giấc ngủ do hiện tượng tim loạn nhịp làm rung tâm thất (ventricular fibrillation) khiến bệnh nhân chết trong giấc ngủ sau khi lên giường đi ngủ thì bỗng nhiên ra đi luôn mà gia đình không hay biết gì cả! Vì chứng bệnh ngủ ngáy khá phổ biến nên trong tương lai có lẽ sẽ còn nhiếu trường hợp chết tạm gọi là “ bất đắc kỳ tử “ sẽ xảy ra. Thực ra theo Y học thì chẳng có cái chết nào có thể gọi là bất đắc kỳ tử hay “chết tại số mệnh“ mà chỉ là vì trước đây không có giảo nghiệm tử thi nên không tìm ra nguyên nhân mà thôi và đáng tiếc là một số những nguyên nhân này có thể tránh được bằng môn Y học phòng ngừa.

Một vài trường hợp tim ngừng đập bất ngờ như trong chuyến máy bay từ Brussels đi New York viên phi công Craig Lennel bỗng nhiên bị tim ngừng đập rồi chết bất tử khiến viên phi công phụ phải lái thay thế và đáp máy bay hạ cánh an toàn.

Demerol và ma túy

Demerol là một loại thuốc trấn thống rất mạnh nhưng cùng một lúc có nhiều phản ứng phụ như làm cho tim bị loạn nhịp, hệ thống hô hấp tê liệt (respiratory depression). Nếu Demerol được pha lẫn với một số thuốc chấn thống khác như pentothal hoặc dùng thêm với thuốc uống Oxycontin thì tác hại còn cao hơn nữa.
Demerol là một loại thuốc chấn thống tương tự như morphine, có trong thuốc phiện và thuốc này đã có từ lâu và thường được dùng trong khi gây mê. Trở ngại chính của Demerol là rất dễ làm cho người dùng bị ghiền và một khi bị ghiền thì phải tăng thêm liều thuốc với thời gian và sau cùng là khi liều lượng thuốc lên quá cao thì có thể làm cho người dùng bị chết vì ngừng thở hay tim ngừng đập.

Bác sĩ Vũ văn Dzi, MD., Chuyên khoa Nội Thương

www.yduocngaynay.com

UserPostedImage
xuan hoang  
#50 Posted : Friday, May 13, 2011 5:27:02 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
ĐẶT MÁY TẠO NHỊP TIM (PACEMAKER)

TẠI SAO CẦN MÁY TẠO NHỊP TIM



Nhịp tim bất thường, rất nhanh hoặc rất chậm có thể gây hậu quả nặng đến khả năng bơm máu của tim đi khắp cơ thể. Nó gây ra các triệu chứng như mệt mỏi, chóng mặt, khó thở, ngất, và trường hợp nặng gây tử vong. Khi nhịp tim bất thường dùng thuốc không khỏi, lờn thuốc, hoặc nguy hiểm đến tính mạng thì nên đặt máy tạo nhịp tim (Pacemaker).


UserPostedImage



Máy tạo nhịp tim gồm 2 bộ phận:

Thân máy (còn gọi là bộ phận tạo nhịp) là một máy vi tính siêu nhỏ, pin và dây dẫn được đặt vào bên trong tim. Thân máy được làm bằng hợp kim không rỉ có kích thước bằng hộp diêm nhỏ. Thời gian sử dụng pin từ 7 đến 10 năm.

Dây dẫn được luồn vào bên trong tim qua tĩnh mạch ở cánh tay. Hệ thống tạo nhịp tim này rất hiệu quả và không gây bất cứ trở ngại hoặc ảnh hưởng nào đến các hoạt động hàng ngày. Hầu hết các bệnh nhân thấy giảm các triệu chứng và tình trạng sức khỏe ngay sau khi đặt máy tạo nhịp.

CÁCH ĐẶT MÁY TẠO NHỊP TIM

Bệnh nhân cần nằm viện từ 3-4 ngày để đặt máy tạo nhịp tim. Thời gian đặt máy kéo dài khoảng một tiếng bằng gây tê tại chỗ. Xét nghiệm máu và điện tâm đồ thường được tiến hành trước khi đặt máy.

Sau khi gây tê, rạch da phía trên ngực trái để đặt máy. Luồn dây dẫn từ tĩnh mạch ở tay dưới sự giám sát của màn huỳnh quang tới khi đầu dây được đặt chính xác bên trong tim. Đầu dây còn lại được nối vào máy tạo nhịp. Kỹ thuật viên sẽ kiểm tra và lập chương trình cho máy tạo nhịp tim.Hầu hết các bệnh nhân có thể ra viện sau hai ngày sau khi đặt máy tạo nhịp tim. Bệnh nhân sẽ được tái khám định kỳ để kiểm tra hoặc để chỉnh máy phù hợp với tình trạng bệnh nhân.

LÀM GÌ SAU KHI ĐẶT MÁY TẠO NHỊP TIM

■ Bệnh nhân nên theo dõi vết thương. Nếu có các triệu chứng như sốt, đau, hoặc sưng thì tái khám bác sỹ ngay.
■ Tránh vận động mạnh cách tay, giơ tay quá đầu, hoặc nâng vật nặng quá 5kg trong vòng 2 tuần sau khi đặt máy tạo nhịp tim.
■ Dùng thuốc kháng sinh theo chỉ định của bác sỹ.
■ Khi đi khám bệnh ở bất cứ đâu phải thông báo cho bác sỹ biết là mình đang mang máy tạo nhịp tim, đặc biệt trong trường hợp:

◦Chiếu điện nhiệt sóng ngắn trong điều trị viêm khớp dạng thấp, và tránh sử dụng điện nhiệt gần với máy tạo nhịp trong khi phẫu thuật.

◦Tránh chụp cộng hưởng từ

■ Tránh sử dụng điện thoại di động cùng phía đặt máy do có thể ảnh hưởng đến hoạt động của máy.
■ Phải tái khám đúng chỉ định.

CÁC NGUY CƠ CỦA ĐẶT MÁY TẠO NHỊP TIM

Đặt máy tạo nhịp tim rất an toàn, tỷ lệ biến chứng rất thấp. Biến chứng nhẹ và điều trị dễ dàng bao gồm đau, chảy máu hoặc bầm tím tại chỗ đặt máy. Một biến chứng hiếm gặp là tràn khí màng phổi, do phổi bị thủng trong khi luồn dây qua tĩnh mạch, làm khí thoát ra khoang lồng ngực, gây xẹp phổi. Điều trị biến chứng này bằng chọc dẫn lưu khí làm phổi giãn trở lại bình thường. Một biến chứng nặng và rất hiếm gặp là nhiễm trùng tại chỗ đặt máy, phải điều trị bằng kháng sinh và lấy máy ra ngoài.

Nguồn "dulichchuabenh.vn"

UserPostedImage
thuylinh  
#51 Posted : Monday, May 16, 2011 9:37:31 PM(UTC)
thuylinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 534
Location: Canada

Thanks: 1187 times
Was thanked: 353 time(s) in 196 post(s)

Ăn xoài có thể ngăn ngừa tế bào ung thư vú và ung thư ruột kết.


Những nghiên cứu gần đây cho thấy ăn xoài có thể ngăn ngừa được sự phát triển của các tế bào ung thư vú và ung thư ruột kết.

Từ lâu những loại trái cây cao cấp như việt quất hay lựu được đánh giá là có lợi cho sức khỏe nhờ chứa hàm lượng chất chống oxy hóa cao, trong khi đó những quả xoài ngọt thơm đã không được liệt vào danh sách này.

Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây cho thấy ăn xoài có thể ngăn ngừa được sự phát triển của các tế bào ung thư vú và ung thư ruột kết.

UserPostedImage

Ảnh minh họa.

Nghiên cứu của Viện nghiên cứu đời sống nông nghiệp Texas đã phát hiện rằng tuy chỉ chứa hàm lượng chất chống oxy hóa thấp so với một số loại trái cây khác, nhưng khả năng hoạt động chống ung thư của xoài đã bù đắp lại phần thiếu hụt này.

Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra chất polyphenol được chiết xuất từ xoài trên các loại ung thư ruột kết, vú, phổi, bạch cầu và tiền liệt tuyến.

Trong khi chất này chỉ có tác dụng nhỏ trên các bệnh ung thư phổi, bạch cầu và tiền liệt tuyến, thì lại đạt được hiệu quả cao nhất trên ung thư vú và ung thư ruột kết.

Các nhà nghiên cứu cho biết không phải tất cả các tuyến bảo vệ tế bào chịu ảnh hưởng với mức độ giống nhau đối với một chất chống ung thư, nhưng các tế bào gây ra ung thư vú và ruột kết đã bị chết. Các chất polyphenol của xoài đã có hiệu quả trên các tế bào này.

Xoài cũng chứa chất pectin, một chất có trong chế độ ăn kiêng, giúp hạn chế hình thành protein - chất đóng vai trò trong các giai đoạn phát triển ung thư.

Một nghiên cứu của Ấn Độ được tiến hành tại Trung tâm ung thư khu vực ở Thiruvananthapuram, bang Kerala cũng đã chứng minh được tác dụng của ăn xoài trong ngăn ngừa ung thư túi mật.

Từ lâu, các hệ thống y học cổ truyền của Ấn Độ như Unani và Ayurveda đã luôn dùng xoài để ngăn ngừa ung thư.

Theo bác sĩ Ramnivas Parasher ở Trung tâm Vedanta Ayurveda, trong Ayurveda, các thầy thuốc cho rằng lượng vata tăng dẫn đến đột biến trong phân chia tế bào, nguyên nhân gây nên ung thư.

Xoài đã được giới thiệu trong sách Charak Samhita như loại trái cây mà kiểm soát lượng vata và vì vậy giúp ngăn ngừa ung thư. Trái cây này cũng được dùng cho tất cả các rối loạn thoái hóa.

Bác sĩ Geetika Ahluwalia, Giám đốc trung tâm dinh dưỡng tại Viện Tim Phổi Delhi cho biết hầu như mọi người đều nghĩ ăn xoài dẫn đến tăng cân do hàm lượng calo cao. Nhưng mỗi ngày ăn một quả xoài lại tốt cho sức khỏe bởi vì nó chứ đủ các loại vitamin, khoáng chất và sắt.

Theo Giadinh
Sưu tầm .
xuan hoang  
#52 Posted : Tuesday, May 17, 2011 5:07:34 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)

Chào Thuylinh ,
Rất cám ơn Thuylinh ghé qua post baì cho Trạm y tế , mong rằng Thuylinh ghé thường xuyên đóng góp baì vở nha . Từ ngày bạn Nhat-tam vắng bóng , Trạm y tế đã mất đi một thành viên rất tích cực . Hy vọng Nhat-tam sẽ trở lại để tiếp tục post những baì hưủ ích , giúp Tất cả chúng ta thêm kiến thức để chăm sóc Sức Khoẻ của mình và gia đình mình .

Chúc Thuylinh Vui - Khoẻ .
xh
UserPostedImage
thunder  
#53 Posted : Friday, May 20, 2011 7:40:04 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Rối Loạn Tâm Thần Ở Người Tỵ Nạn


Wednesday, 18 May 2011 13:09

Tỵ nạn là những người bắt buộc phải rời bỏ tổ quốc, gia đình vì lý do chiến tranh hoặc đàn áp chính trị. Họ ra đi để khỏi bị đe dọa ngược đãi, đối xử tàn bạo, tù đầy, kỳ thị, bao vây kinh tế. Gia đình họ ở trong tình trạng phân chia, ly tán cũng như chịu đựng nhiều rủi ro.

Sau đó khi rời khỏi quê hương, họ thường thường phải sống một thời gian lâu trong các trại tỵ nạn trước khi được đưa đi định cư. Ở những nơi đây, họ gặp nhiều khó khăn thích nghi với nếp sống mới cũng như xây dựng lại nghề nghiệp, gia đình.

Từ năm 1975, người tỵ nạn Việt Nam đã du nhập vào Hoa Kỳ với một số lượng đáng kể. Hiện nay họ có khoảng trên một triệu người ở quốc gia này.

Vào một xã hội mới, họ có rất nhiều vấn đề phải giải quyết. Sức khoẻ tâm thần là một trong nhiều vấn đề, nhất là ở nhóm Cựu Tù Nhân Cải Tạo tới sau. Vào thập niên 1980, vẫn còn nhiều quân cán chánh của chính quyền Sài Gòn bị tập trung cải tạo. Năm 1987, chính quyền Hoa Kỳ cử tướng John Vessey tới Hà Nội để thảo luận việc thả các tù nhân này. Rồi sau nhiều cuộc thương thuyết, một chương trình trong đó các cựu tù nhân cải tạo và gia đình được nhận vào định cư tại Mỹ.

Điều kiện là chỉ những người bị tù cải tạo trên ba năm mới được ra đi theo đạo luật này. Đa số những cựu tù nhân và vợ của họ đều ở lứa tuổi ngoài 50.

Hoàn cảnh đưa tới rối loạn tâm thần

Hầu hết anh chị em cựu tù nhân tới nước Mỹ với một cơ thể suy nhược, một tinh thần chán nản tuyệt vọng vì những cay đắng của các năm cải tạo và những theo dõi kỳ thị về mọi mặt sau khi được hả khỏi tù.

Sang đến nơi, họ phải đối diện với một viễn tượng không mấy sáng sủa. Về ngôn ngữ, về công ăn việc làm, về tương lai cho các con. Ở lại thì cũng khổ sở cả vật chất lẫn tinh thần.

Một số rơi vào tâm trạng buồn chán, thất vọng kèm theo một chút hờn giận mông lung. Hờn giận với chính quyền bản xứ đã bỏ rơi họ trong chiến tuyến trước đây; với đồng đội may mắn ra đi ngay sau khi cuộc chiến kết thúc. Họ cũng có những lo ngại cho anh em còn ở lại, những cảm nghĩ ân hận đã không giúp họ cùng ra đi.

Rồi trong tâm trạng họ xuất hiện những mặc cảm, những tự tách rời, xa lánh…, những buông xuôi, trầm cảm, căng thẳng.

Kết quả các nghiên cứu sơ khởi vào đầu năm 1990 cho thấy những cựu tù nhân cải tạo bị chấn thương tâm thần rất cao, gấp đôi so với người tị nạn thường.

Lúc mới tới, họ thấy như được giải thoát khỏi những thảm cảnh cho gia đình và bản thân. Họ hăng hái nhập cuộc.

Rồi chỉ vài tháng sau, va chạm với thực tế khó khăn, nhiều người trở nên hoang mang, lo sợ, nghi ngờ.

Người tỵ nạn Việt nam có nhiều nguy cơ trầm cảm. 95% có triệu chứng thể xác, 74% bị chóng mặt, 50% bị nhức đầu, 24% hồi hộp. Các dấu hiệu thường thấy là né tránh, hốt hoảng, tê tái tâm hồn, ác mộng, ám ảnh. Cựu tù nhân chịu nhiều hành hạ với nhiều tích tụ những hậu quả thể xác và tâm thần. Hành hạ cũng là nguy cơ lớn đưa tới Căng Thẳng do Chấn Thương thể xác và tâm thần cũng như bệnh trầm cảm.

Vấn đề tâm thần của người tỵ nạn Việt Nam đã được các cơ quan y tế xã

hội Hoa Kỳ lưu tâm, nghiên cứu, giúp đỡ. Nhưng có một số trở ngại cần được nêu ra.

Các trở ngại phát hiện và điều trị

Trong việc phát hiện và điều trị bệnh tâm thần ở người tỵ nạn Việt Nam, có một số vấn đề được nêu ra. Lý do là trước đây, nhiều người Việt vẫn có quan niệm không mấy chính xác về bệnh tâm thần.

a - Đã có thời kỳ người mắc bệnh tâm thần được coi như điên khùng. Họ gây ảnh hưởng không tốt cho đời sống cả gia đình, làm mất phẩm giá, danh dự của tổ tiên dòng họ.

Một quan niệm khác cho là khi mắc bệnh tâm thần sẽ trở thành yếu đuối, mất khả năng hoạt động, sẽ là một đề tài để người khác dè bĩu, coi thường. Vì thế gia đình thường thường giấu giếm, phủ nhận.

b - Một số người khác coi rối loạn về suy nghĩ, cảm xúc không phải là bệnh mà là sự trừng phạt của thần linh, một nghiệp chướng kết quả những lỗi lầm của mình từ kiếp trước. Bệnh nhân phải đền tội cho lỗi lầm của tổ tiên hoặc lỗi lầm của họ. Nhiều người chấp nhậnsố phận vì họ tin là số của họ phải như vậy.

c - Bệnh cũng được coi như do ma quỷ ám, hàng xóm láng giềng bùa ngải hoặc do mồ mả ông bà bị động, bị trù ếm.

d - Trong nhiều gia đình, con gái bị bệnh, cha mẹ giấu giếm để con lấy được chồng. Sau cưới hỏi bao nhiêu chuyện lục đục trong gia đình xẩy ra đưa tới bạo hành.

e - Gia đình cũng giấu nhẹm không chữa chạy trong nhiều năm, hy vọng là bệnh sẽ bớt đi, tai qua nạn khỏi, cho tới khi bệnh nhân quá trầm trọng, không kiềm chế nổi.

g - Trong các vụ vượt biên, vượt biển có nhiều nạn nhân các vụ hãm hiếp, đánh đập trên đường vượt biển bởi hải tặc. Nạn nhân rơi vào tình trạng đau khổ, xấu hổ, dầy vò. Nhưng gia đình giấu vì nói ra là mất thanh danh nên người ta ngần ngại không dám tìm kiếm giúp đỡ, điều trị.

h- Người Việt Nam ít dùng dịch vụ tâm thần vì văn hóa phong tục, không tin tưởng, có thành kiến với bệnh và cách trị bệnh tây phương. Họ coi người chữa bệnh như là người của chính quyền, xoi mói đời tư của họ. Họ sẽ đi lễ chùa, nhà thờ, đền miếu để cầu xin tha lỗi và xin được sống an lành, xin thuốc thần thuốc thánh về trị bệnh. Nhiều người còn tin là sau khi lập gia đình, sẽ khỏi bệnh.

i - Vào cuộc sống mới, sự bất đồng ngôn ngữ, diễn tả bệnh khó khăn dù có thông dịch, khiến họ ngại ngùng khai bệnh.

k- Không quen với lối chữa trị tâm lý vì không có các dịch vụ này ở quê hương của họ và họ thường nhờ các thầy thuốc gia đình, các vị tu hành góp ý khi có vấn đề.

l - Trị theo nhóm (group and family therapy) đều không được chấp nhận vì không muốn ai biết chuyện riêng của mình.

m - Hỏi lại chuyện cũ thường gặp khó khăn vì nó gợi lại ký ức về các cuộc hạch hỏi, kê khai lý lịch trước đây, đã xâm phạm đời tư của họ.

n - Nhiều người đã được dậy để che đậy, chịu đựng đau khổ tâm thần, để chứng tỏ là mình là người có sức mạnh. Chịu đựng và kiên nhẫn là đức tính tốt cho nên bất cứ than phiền tiêu cực nào về đời sống, về bạn bè đều là dấu hiệu của sự yếu đuối, thất bại, mất mặt.

o - Với nhiều nạn nhân, vì đã sống liên tục trong cuộc chiến kéo dài quá lâu cộng thêm quan niệm sống chịu đựng quen nên họ coi những khó khăn tâm thần như phần thêm vào khó khăn đã có nên không tìm cách chữa trị.

p - Lại nữa nạn bạo hành gia đình, chồng ức hiếp vợ cũng thường xẩy ra với hôn nhân sắp đặt không yêu thương, không hy vọng ly dị cũng làm tăng khổn lực tâm thần.

q - Nhiều người lại ngại ngùng khi phải khai tâm bệnh, tâm trạng khó khăn của mình với một thầy thuốc không cùng ngôn ngữ.

r - Nghiên cứu về hậu quả hành hạ gặp trở ngại lớn là rất khó mà kiếm được những nạn nhân vì nhiều lý do: họ không dám nói ra vì không muốn gây chú ý ở nơi bị hành hạ cũng như ở nơi mới tới định cư; không tin tưởng ở các nghiên cứu tra hỏi tin tức và e ngại những tâm tình kể lể của họ sẽ không được giữ kín.

Vài điều cần biết khi điều trị Trong việc giúp đỡ, điều trị, có một số điều cần được lưu ý:

1 - Hệ thống y tế cần cởi mở, sẵn có với thủ tục nhẹ nhàng, dịch vụ tốt;

2 - Có một liên hệ tốt giữa người bệnh và nhân viên;

3 - Tôn trọng quan niệm cổ truyền của bệnh nhân về chữa trị, bệnh tật;

4 - Cần tìm hiểu về văn hóa, phong tục tập quán người tỵ nạn, quan niệm của họ về bệnh tâm thần rồi từ đó tìm lời khuyên giải, chữa trị cho có hiệu quả hơn;

5 - Muốn chữa phải có sự tín nhiệm của bệnh nhân, làm sao để họ coi mình như người giúp đỡ, người bệnh như nhận được một cái gì tinh thần từ người chữa;

6 - Cần có chuyên gia hai văn hóa, hai ngôn ngữ;

7 - Giải tỏa việc nhiều bệnh nhân da vàng thường bị chuyên gia da trắng kỳ thị, không chăm sóc chu đáo.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức



Tài liệu tham khảo.

Former Political Prisoners From Viet Nam-Report of Survey Findings-Dec 1991-Center for Applied Linguistics-Refugee Service Center.

Richard F. Mollica, MD và cộng tác. The Dose-Effect Relationships between Torture and Psychiatric Symptoms in Viet Nam Ex-Political Detainees and a Comparison Group.

Journal of Nervous and Mental disease 186:543-553,1998 Robert C.Weigl, Ph.D. –Evaluating Disabilities of Vietnamese Prison Camp survivors- Boat People SOS, Inc.

Chung RC, Singer M.K.-Interpretation of Symptoms Presentation and Distress. A South East Asian Refugee Example- The Journal of Nervous and Mental Disease.183(10),639-648

Kinzie J.D., Spero M.M., Nguyen T T, Bui A 1982- Development and Validation of Vietnamese Language Depression Rating Scale- Amerc. Journal Of Psychology,139(10),1276-1281

Phan T, Silove D 1997. The influence of culture on Psychiatric assessement: The Vietnamese Refugee. Psychiatric Sevice,48,86-90

Jacob U, Evan F.B.-Principles of Documenting Psychological evidence of Torture. Tortue, 11(3) 85-89

Reid JC, Strong T, 1988- Rehabilitation of Refugee Victim of Torture and Trauma: Principle and Service Provision in New South Wales. Medical Journal of Australia 148.34.346

Phan T. Investigating the use of Service for Vietnamese With Mental illness. Jour. Of Community Health. 25(5)411- 425

WL Hinton và các cộng sự viên -Disorders in Vietnamese Refugees: Prevalence and correlates. J Nerv Ment Dis 181:113-122

thunder  
#54 Posted : Friday, May 20, 2011 9:31:22 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Dùng Internet Giúp Não của Người Già Hoạt Động Tốt


(VOA) Một cuộc nghiên cứu mới cho thấy các vị cao niên sử dụng Internet hằng ngày sẽ có quyết định khá hơn và có thêm kỹ năng lý luận trong những vấn đề phức tạp.

Theo giáo sư môn tâm lý Gary Small, cụm từ “không dùng thì mất” dường như áp dụng cho sự vận hành bộ óc của người già khi dùng Internet.

Giáo sư Small nói: “Các kỹ năng lập luận rắc rối, ghi nhớ có ý thức, ghi nhớ tạm thời, tất cả các lãnh vực của não bộ đã được khởi động chỉ trong vòng một tuần lễ thực tập trên Internet”.

Viện Khoa học Semel thuộc trường Đại học California ở Los Angeles (UCLA) đã nghiên cứu 24 người tuổi từ 55 đến 78. Phân nửa đã dùng Internet mỗi ngày. Phân nửa còn lại vẫn còn “ngây thơ” về máy tính.

Tất cả những người tình nguyện tham gia cuộc nghiên cứu này được chụp hình bộ óc trong khi làm những thao tác mô phỏng thao tác của Internet.

Cả hai nhóm cho thấy có hoạt động trong các vùng não bộ dùng để kiểm soát ngôn ngữ, tập đọc, ghi nhớ, và cách nhìn.

Nhưng có điểm đặc biệt là nhóm có kinh nghiệm về Internet cho thấy có hoạt động trong những vùng của não bộ thường dùng để quyết định hoặc ghi nhớ có ý thức.

Sau khi được hướng dẫn sơ qua về cách sử dụng Internet, các tình nguyện viên được trở về nhà để mở những cuộc tìm trực tuyến trong 7 buổi, mỗi buổi kéo dài 1 tiếng đồng hồ, và làm như vậy trong 2 tuần.

Giáo sư Small cho biết: “Chúng tôi không bảo họ tìm những chuyện phức tạp mà chỉ tìm những gì mà lớp tuổi của họ quan tâm”.

Các tình nguyện viên trở lại viện Semel để chụp hình não bộ một lần thứ nhì.

Giáo sư Small nói rằng kết quả cho thấy bộ óc của nhóm biết về Internet có thêm những chuyển động, còn nhóm “ngây thơ” cũng gần bắt kịp nhóm kia chỉ trong vòng một tuần.

Theo giải thích của giáo sư Small, khi bộ não già đi, nó sẽ trải qua một số thay đổi tâm sinh lý, ví dụ như sẽ co lại và giảm bớt các hoạt động của tế bào. Hiện tượng đó ảnh hưởng đến khả năng nhận thức.

Nhóm nghiên cứu của UCLA nói rằng cuộc nghiên cứu của họ gợi ý rằng chỉ cần những sinh hoạt đơn giản như đi lang thang trên Internet cũng đủ chống lại các thay đổi nêu trên và giúp bộ óc của những người lớn tuổi hoạt động tốt hơn.

Jessica Berman

thunder  
#55 Posted : Saturday, May 21, 2011 12:47:17 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Tin Tức Y Dược Ngày Nay


Chúng tôi xin trình bày cùng quý vị những tóm tắt bài viết y học đã phổ biến trong tháng vừa qua.

Trước là những tin tức y học của Bs Nguyễn văn Thịnh: cấp cứu và phòng ngừa cơn nhồi máu cơ tim, phương pháp ghép huyết quản lý tưởng, thuốc chủng HIV liên hệ bệnh ngái ngủ, thuốc Artesunate thay thế Quinine. Bàn luận cà phê với sức khỏe, cà phê và biến mạch máu não, bàn luận thuốc chủng ngừa HIV. Thuốc Prozac sau tai biến mạch máu não. Bệnh dị ứng liên hệ bệnh hô hấp, và bệnh dị ứng trẻ em do đồ ăn phát triển. Niệu đạo đươc chế tạo từ những tế bào sống. Giải thích những nguy cơ của lực phóng xạ. Chất nicotine trong thuốc lá có hại cho trẻ em. Những nguy cơ tử vong do bệnh rung tâm thất. Lưu ý biết sớm bệnh cao huyết áp. Phương pháp mơí điều trị nghẽn mạch phổi. Ngưng thuốc lá để giảm nguy cơ biến chứng bệnh tiểu đường. Nhiễm trùng trong bệnh viện. Vai trò tế bào gốc và tủy sống. Tế bào gốc và bệnh nhồi máu cơ tim. Khám phá một chất bạch đản protein bảo vệ thị giác người già. Bàn luận thuốc chủng ngừa ung thư nhiếp hộ tuyến, và ung thư hắc tố da. Tiến bộ y học trong việc chữa trị loạn nhịp tim. Ô nhiễm do xe cộ và sinh con đẻ thiếu tháng, Và thử nghiệm tế bào gốc điều trị bệnh tâm thần phân liệt. Bs Trần mạnh Ngô vơí tin y học FDA về 2 thuốc mới Menactra và Rituxan. Bs Đào Duy An bàn luận chủ đề Ngày sức khỏe thế giới 2011 và thực trạng Việt Nam.

Trong phần Y Học Thường Thức, Bs Nguyễn Ý Đức khuyến cáo việc chọn giầy dép và vấn đề tắm hơi. Bs Nguyễn Trần Hoàng bàn luân tường trình sống lâu trăm tuổi của Cơ Quan Y tế Hoa Ký. Bs Lý Lê Trần trình bày những điều cần biết về ung thư tuyến giáp trạng. Bs Nguyễn văn Đức nói về ung thư gan, tìm hiểu những cách chữa trị và phòng ngừa bệnh ung thư gan. Dược sĩ Lê văn Nhân vơí thông tin Làm sao đối phó vơí đột quỵ và nên hành động nhanh để giảm thiểu những biến chứng nguy hại.

Trong Y Khoa Thực Hành, Bs Nguyễn văn Thịnh trình bày hội chứng động mạch vành cấp tính (Syndrome coronarien aigu), những phương pháp hồi sinh trong bệnh viện (La réanimation dans l'hôpital), và những phương pháp mơí cấp cứu trong bệnh viện (Algorithme Advanced Life support).

Trong Y khoa lâm sàng, Bs Nguyễn tài Mai đặt dấu hỏi về thuốc NTF-Alpha inhib. Bs Trần Mạnh Ngô trình bày một trường hợp chảy máu bao tử.

Trong phần Dược Phẩm, Ds Lê văn Nhân bàn luận nhiều đề tài như vi trùng Klebsiella kháng Carbamenem, tỷ lệ lưu hành vi trùng Klebsiella kháng thuốc đang gia tăng, và thuốc thoa Benzocain liên quan chất Methemoglobin trong máu. Bs Trần mạnh Ngô thông tin FDA vơí thuốc mơí Benlysta trị bệnh Lupus và chất phản quang Gadavist chụp hình cộng hưởng từ trường MRI cho hệ thống thần kinh.

Trong phần Khảo cứu Y Khoa, Bs Nguyễn đình Bá tường trình trường hợp một hạt phóng xạ Iodine 131 di chuyển từ tuyến nhiếp hộ tuyến vào tâm thất phải của bệnh nhân.

Trong Thảo luận báo Y Khoa, Ds Lê văn Nhân thông tin về Pioglitazone, so sánh Insulin Aspart 2 alpha vơí Glargine cho bệnh nhân tiểu đường loại 2 không kiểm soát được bằng thuốc uống và insulin căn bản. Hạ huyết áp cấp tốc trong đột quỵ không hiệu nghiệm và có thể gây hại. Bs Trần mạnh Ngô thông tin ung thư bao tử vơí biểu hiện LAT1 và những sửa soạn cần thiết trước khi soi bao tử, việc điều trị bệnh viêm gan C kinh niên người lớn tuổi dùng tổng hợp thuốc Pegylgated interferon alfa- 2B và Ribavirin, báo động tỉ lệ chai gan và ung thư gan bệnh nhân viêm gan C tăng cao trong 10 năm qua.

Trong Sinh Y Học, Bs Trần mạnh Ngô thông tin đột biến di thể FP/TMEM127 và tế bao u bướu ưa chrome, Liên hệ đột biến di thể thần kinh Sir2 vơí tăng trưởng và mập phì.

Trong phần Hỏi Đáp Y Học, Bs Nguyễn trần Hoàng nói về Các bìến chứng của bệnh tiểu đường, Cách giữ cho bệnh tiểu đường ổn định, Câu hỏi đề tóc bạc, và Đôi điều về trí nhớ. Ds Lê văn Nhân trả lời câu hỏi về kết hợp thuốc Itraconazole, với acid amin Arginine và acid amin Ornithin. Theo Ds Nhân thì chưa chắc thực phẩm chức năng Arginin và Ornithin có thể giúp gan hoá giải độc tính của Itraconazole.

Sau hết, trong phần Tham Khảo, Ts Dược Khoa Trần Việt Hưng noí về những thành phần dinh dưỡng của cá Chốt, cá Lăn, và cá Bông Lau. Bs Thú Y Nguyễn thượng Chánh tường trình Những khám phá cơ chế mơí của Quả Mọng tăng cường lợi ích cho não, và bài viết nói về những kỷ niệm êm đềm dành riêng cho độc giả cao niên.

Xin kính chào quý độc giả và xin mời ghé thăm Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com, một Trang Web Y Khoa của người Việt viết cho người Việt.

05/14/2011
Bác sĩ Trần Mạnh Ngô

xuan hoang  
#56 Posted : Saturday, May 21, 2011 6:44:44 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)

Thở để chữa bệnh



UserPostedImage



Nguyễn Khắc Viện là một bác sĩ, sinh năm 1913 tại Hà Tĩnh, học Đại học Y khoa Hà Nội rồi sang Pháp tiếp tục học, tốt nghiệp bác sĩ Nhi khoa năm 1941. Năm 1942, ông bị lao phổi nặng, điều trị ở bệnh viện Saint Hilaire du Touvet, Grenoble. Thời đó bệnh lao chưa có thuốc chữa như bây giờ. Từ năm 1943 đến năm 1948 ông phải chịu mổ 7 lần, cắt bỏ 8 cái xương sườn, cắt bỏ tòan bộ lá phổi bên phải và một phần ba lá phổi bên trái. Các bác sĩ Pháp bảo ông chỉ có thể sống chừng hai năm nữa thôi.

Trong thời gian nằm chờ chết, ông đã tìm ra một phương pháp… thở để tự chữa bệnh cho mình, và kết quả là ông đã sống đến tuổi 85 mới chết (1997), nghĩa là sống thêm được 50 năm nữa, họat động tích cực, năng nổ trong nhiều lãnh vực! Chuyện khó tin nhưng có thật!

Tôi may mắn được quen biết ông trong nhiều năm. Với tôi, ông vừa là đồng nghiệp, là đàn anh mà cũng là người thầy. Ông là bác sĩ đồng thời là một nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động xã hội rất nhiệt tâm. Ông là cố vấn của bộ môn Tâm lý-Xã hội học do tôi phụ trách tại Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng cán bộ Y tế Thành phố (nay là Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch) ngay từ hồi mới thành lập (1989). Ông thường trao đổi với tôi điều này điều khác, về công việc viết lách, giảng dạy, và nhiều lần về phương pháp thở dưỡng sinh của ông. Trao đổi không chỉ về cơ thể học, sinh lý học mà cả về tâm lý học, đạo học. Có lần ông mở áo cho tôi xem mấy vết mổ vẫn chưa hòan tòan liền lạc trên ngực ông. Lần khác ông lại cao hứng vén bụng bảo tôi thử đánh mạnh vào bụng ông xem sao.

Tôi phục ông ốm nhom ốm nhách mà làm việc thật dẽo dai, bền bĩ, gần như không biết mệt mỏi. Trong lúc nhiều người giảng bài, nói chuyện, hội họp, làm việc… thấy uể ỏai, hụt hơi, thì một người chỉ còn hai phần ba lá phổi, chỉ còn lại gần một nửa "dung tích sống” như ông lại vẫn ung dung, thư thái. Ông cười “tiết lộ” với tôi, những buổi hội họp dong dài, vô bổ, ông chỉ ngồi… thở, nhờ vậy mà ông không bị stress, không bị mệt. Ông nói sau này khi ông mất đi, điều quan trọng ông để lại không phải là những tác phẩm văn học, triết học này nọ mà chính là bài vè dạy thở chỉ với 12 câu của ông. Trước kia tôi cũng chỉ nghe để mà nghe chớ chẳng thực hành. Cho đến ngày tôi bị vố tai biến nặng, phải nằm viện nhiều ngày, lúc đó tôi mới thử đem ra áp dụng. Quả có điều kỳ diệu! Nó làm cho tôi thảnh thơi hơn, ít nhọc mệt hơn và sức khỏe tốt hơn. Trong thời gian dưỡng bệnh, các bạn đồng nghiệp thương tình, chỉ rất nhiều các thức nhưng tôi chỉ chọn một vài môn thực sự cần thiết còn lại thì chỉ… dùng phương pháp thở để tự chữa bệnh cho mình! Phương pháp thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thực ra không phải là cái gì hòan tòan mới. Nó chỉ là một sự tổng hợp của khí công, thiền, yoga, tai chi, dưỡng sinh… của Đông phương từ ngàn xưa, được nhìn bằng sinh lý học hô hấp hiện đại của một người thầy thuốc.



Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện:

Thót bụng thở ra
Phình bụng thở vào
Hai vai bất động
Chân tay thả lỏng
Êm chậm sâu đều
Tập trung theo di
Luồng ra luồng vào
Bình thường qua mũi
Khi gấp qua mồm
Đứng ngồi hay nằm
Ở đâu cũng được
Lúc nào cũng được!


Bs Đỗ Hồng Ngọc
UserPostedImage
thuylinh  
#57 Posted : Tuesday, May 24, 2011 4:42:23 AM(UTC)
thuylinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 534
Location: Canada

Thanks: 1187 times
Was thanked: 353 time(s) in 196 post(s)
KHOAI LANG LOẠI LƯƠNG THỰC HỮU ÍCH


UserPostedImage

Khoai lang là một loại rau củ tầm thường được trồng rất nhiều và phổ biến tại các vùng thôn quê . Trong những năm đói nghèo do bởi mất mùa vì lụt lội hay hạn hán, người ta thường dùng khoai lang để ăn độn hay thay thế cho cơm gạo.

Vì khoai lang rất dễ trồng, không mất nhiều công phu chăm bón nhưng vẫn thu hoạch được dễ dàng, nên nó không được người ta liệt vào loại lương thực hiếm quý.

UserPostedImage

Thế nhưng, trong y học dân gian cổ truyền, khoai lang là một loại đồ ăn rất nổi tiếng và được người Tây Phương coi như là một thứ thuốc để chữa bệnh thấp khớp và chứng vọp bẻ.

Ở một vài nơi, người ta còn dùng khoai lang để giúp cho thông tiểu, điều kinh ở phụ nữ, chống sảy thai và chữa bệnh suyễn.

Qua nghiên cứu, người ta thấy khoai lang chứa dồi dào chất Beta-caroten, một loại sinh tố A rất hữu ích cho cơ thể. Trung bình hàng ngày mỗi người ăn từ 1/8 lkg khoai lang nướng trở lên thì sẽ phòng ngừa được nguy cơ mắc bệnh ung thư ruột già .
Tại Hoa Kỳ, trong một nghiên cứu khác, các khoa học gia còn chứng minh được những người ăn các loại rau củ có màu vàng đậm như củ cà-rốt, trái bí rợ (bí ngô) và trái squash..

UserPostedImage

có thể phòng ngừa mắc chứng đường ruột đến 50 phần trăm so với những người không ăn các loại rau củ này.

Đối với những người đàn ông trước kia hoặc hiện nay vẫn còn hút thuốc, thì chất beta-caroten trong rau củ cũng có thể giúp ngăn ngừa được sự phát triển của một số chứng ung thư. Tuy nhiên điều này không phải hoàn toàn đúng . Những ai cứ ỷ lại vào khả năng che chở của các loại rau củ để phòng chống các bệnh tật hiểm nghèo mà tha hồ ăn uống, không quan tâm đến sự tác hại của một số thức ăn và cứ bê tha, phóng túng trong thói quen sinh sống hàng ngày thì khả năng phòng chống bệnh tật đã vô tình bị vô hiệu hóa.

Trong một thí nghiệm khác trên cơ thể của loài vật, chất beta-caroten trong khoai lang gồm rất nhiều hợp chất Protease Inhibitor ngăn chận được sự hình thành của các bướu ung thư.

Khoai lang còn chứa rất nhiều chất xơ trong trạng thái lỏng (water-soluble fibre) nên có khả năng hạ giảm chất cholesterol trong máu.
Trong một thí nghiệm khác được thực hiện bởi các nhà khoa học Nhật Bản cho thấy khoai lang có đặc tính kết chặt chất cholesterol lại rồi đào thải ra khỏi cơ thể có sức mạnh gấp 27 lần các trái cây và rau củ khác.Chất xơ của khoai lang có khả năng “quét” sạch chất cholesterol giống như công dụng của chất cholestyramine, một loại thuốc làm hạ giảm chất cholesterol trong cơ thể.

UserPostedImage

Trong y học dân gian cổ truyền của Trung Hoa, người ta thường cho các bệnh nhân bị cảm sốt ăn khoai lang nấu nhừ với một vài lát gừng và một ít muối thì bệnh mau bình phục.

UserPostedImage

Ngoài ra người ta còn tìm thấy dân trong bộ lạc Yoruba ở xứ Nigeria có tỷ số sinh đôi đứng hàng đầu trên thế giới. Dân chúng trong bộ lạc này ăn rất nhiều khoai lang trong khẩu phần hàng ngày.

Các chuyên gia nghiên cứu trong số đó có giáo sư Percy Nylander của trường đại học Ibadan ở Nigeria bảo rằng có sự liên hệ mất thiết giữa việc ăn nhiều khoai lang và tỷ số sinh đôi cao trong dân chúng nước này, bởi vì khoai lang chứa rất dồi dào chất kích thích sự sinh sản (follicle stimulating hormone: FSM) nên trong chu kỳ rụng trứng của người phụ nữ đã rụng thêm một noãn châu (egg) nữa.
Tuy nhiên không phải tất cả phụ nữ Nigeria nào cũng vậy, những ai không ăn khoai lang và rập khuôn theo sự ăn uống của người Tây Phương thì tỷ số phụ nữ có khả năng sinh đôi rất thấp.

UserPostedImage

Tóm lại những rau quả nào có màu vàng đậm đều có chứa chất beta-caroten, tuy nhiên trong khoai lang là nhiều nhất. Những người ăn nhiều chất beta-caroten để phòng chống bệnh tật với một dung lượng nhiều và trong một thời gian lâu dài, thì màu da sẽ biến thành hơi vàng. Song điều này không có gì đáng lo ngại.
Nó không phải là một sự ngộ độc và khi ngưng ăn các loại rau củ này trong một thời gian ngắn thì màu da sẽ trở lại bình thường.

Ăn uống có phương pháp có thể ngăn ngừa được một số bệnh tật phát sinh và cũng có thể hỗ trợ cho tiến trình lành bệnh được hiệu quả và nhanh chóng hơn.

TRẦN ANH KIỆT
(Sưu tầm)

Edited by user Tuesday, May 24, 2011 4:45:04 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thuylinh  
#58 Posted : Tuesday, May 24, 2011 5:05:26 AM(UTC)
thuylinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 534
Location: Canada

Thanks: 1187 times
Was thanked: 353 time(s) in 196 post(s)
Y học tiến bộ
Người đầu tiên được ghép tay tại California


Lần đầu tiên trong 5 năm qua , Emily Fennell được sở hữu hai bàn tay. Bà mẹ độc thân 26 tuổi , từng mất đi bàn tay phải trong một tai nạn giao thông , hôm qua xuất hiện trước báo giới với bàn tay mới sau ca phẫu thuật hồi tháng trước.

UserPostedImage

Ca phẫu thuật ghép tay kéo dài 14 giờ đã diễn ra tại bệnh viện Ronald Reagan UCLA ở Los Angeles hôm 4/3. Đây là ca ghép tay đầu tiên tại bang California, Mỹ.

UserPostedImage

Bàn tay mới đến từ một người hiến tặng đã qua đời. Kích thước, màu da, nhóm máu hoàn toàn phù hợp với Fennell, nhưng cô phải dùng thuốc suốt đời để cơ thể không chống lại bộ phận ghép.

UserPostedImage

Fennell trong một bức ảnh chụp tại nhà riêng ở thành phố Yuba, California.

UserPostedImage

Bàn tay phải của Fennell bị đè nát trong một tai nạn xe hơi hồi năm 2006, khiến cô phải loại bỏ nó.

UserPostedImage

Fennell đã thử mang tay giả sau vụ tai nạn nhưng từ bỏ chúng sau khi nhận ra rằng chúng không làm những điều cô muốn làm. Trước khi có bàn tay mới, cô đã học cách làm mọi thứ với một bàn tay trái.

UserPostedImage

Các bác sĩ tới trung tâm y tế Ronald Reagan UCLA cùng bàn tay của người hiến tặng đặt trong thùng lạnh.

UserPostedImage

Ca phẫu thuật marathon kéo dài hơn 14 giờ với sự tham gia của một đội ngũ y bác sĩ gồm khoảng 20 người.

UserPostedImage

Để ghép tay, các bác sĩ đã phải ghép 2 xương, 23 dây chằng, 2 động mạch, 4 mạch máu và ít nhất 3 dây thần kinh. Họ đã phải sử dụng một kính hiển vi để đảm bảo mọi việc diễn ra chính xác.

UserPostedImage


Sau ca phẫu thuật, Fennell đã bắt đầu học cách lấy và xếp đồ vật trong các bài luyện tay.

UserPostedImage

UserPostedImage

Fennell trong cuộc họp báo cùng các bác sĩ hôm qua.

UserPostedImage

UserPostedImage



Trích Báo NGUOI VIET
Ngoc N Hao  
#59 Posted : Tuesday, May 24, 2011 12:59:10 PM(UTC)
Ngoc N Hao

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Thuốc hay từ cây bưởi


UserPostedImage



Bưởi có tên khoa học là Citrus grandis (L.) Osbeck, trong dân gian còn được gọi là dữu, bòng, lôi dữu, xú dữu, chu loan, hương loan, phao, văn đán… Về thành phần hoá học, trong lá, hoa và vỏ quả đều có chứa tinh dầu.

Tinh dầu lá bưởi chủ yếu là dipenten, linalola và xitrala, tinh dầu vỏ quả có 26% xitrala và este. Trong vỏ quả bưởi ngoài tinh dầu còn chứa pectin, naringin, các men peroxydaza, amylaza, đường ramnoza, vitamin A và C, hesperidin. Trong dịch ép múi bưởi có khoảng 9% acid xitric, 14% đường. Ngoài ra còn có lycopin, các men amylaza, peroxydaza, vitamin C, A và B1.

Theo dược học cổ truyền, lá bưởi có vị cay, tính ấm, được dùng để chữa các chứng đau đầu do phong tà, viêm khớp dạng thấp thể hàn thấp, đau bụng do thực trệ. Sách Bản thảo cương mục khuyên nên dùng lá bưởi và hành củ giã nát đắp vào huyệt thái dương (ở sau đuôi mắt 1 tấc, mỗi bên 1 huyệt) để trị chứng đau đầu do phong, lá bưởi và gừng tươi giã nát rồi trộn với một chút dầu trẩu đắp tại chỗ điều trị viêm khớp cấp. Đối với áp – xe vú, sách Hồ Nam dược vật chí khuyên nên dùng lá bưởi 4 – 7 cái, thanh bì 30g, bồ công anh 30g sắc uống hàng ngày. Ngoài ra, trong dân gian lá bưởi còn được phối hợp cùng với nhiều loại lá có tinh dầu khác để nấu nồi xông trị liệu cảm mạo.

Cùi bưởi vị cay ngọt đắng, tính ấm, vào ba kinh tỳ, thận và bàng quang, có công dụng hóa đàm, tiêu thực, hạ khí và làm khoan khoái lồng ngực, được dùng để chữa các chứng bệnh như: (1) Chứng ho hen ở người già: cùi 1 quả bưởi, cạo bỏ phần trắng rồi thái vụn, cho vào bát cùng với một lượng vừa đủ kẹo mạch nha hoặc mật ong, hấp cách thủy cho nhừ, mỗi ngày ăn 2 lần, mỗi lần 1 thìa; hoặc cùi 1 quả bưởi rửa sạch thái chỉ, hãm với nước sôi uống thay trà trong ngày; hoặc ăn cùi bưởi thái vụn chưng với dầu hạt hoa mào gà. (2) Đau bụng do lạnh : cùi bưởi 2 phần, trà 4 phần, thanh đằng hương 2 phần, tất cả đem sấy khô, tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g; hoặc cùi bưởi 12g sắc với 300 ml nước cô còn 100 ml, chia uống vài lần trong ngày. (3) Thức ăn đình trệ, chậm tiêu: cùi bưởi, sa nhân, kê nội kim và thần khúc, lượng bằng nhau từ 4 – 6g, sắc uống. (4) Sán khí: cùi bưởi khô sao vàng 10g sắc uống hàng ngày. (5) Phụ nữ mang thai nôn nhiều: cùi bưởi 4 – 12g sắc uống. (6) Viêm loét ngoài da: cùi bưởi tươi lượng vừa đủ sắc lấy nước ngâm rửa.

Hoa bưởi, ngoài việc dùng để ướp hương thơm cho trà và bánh trái, còn có tác dụng hành khí, tiêu đờm, giảm đau, dùng để chữa các chứng đau dạ dày, đau tức ngực với liều từ 2 – 4g, sắc uống.

Ruột bưởi (múi bưởi) được dùng để trị đau đầu: (1) Mỗi ngày ăn 100 – 150g, đồng thời dùng lá bưởi và hành củ giã nát đắp lên huyệt thái dương. (2) Ruột bưởi 500g, mật ong 350g, đường trắng vừa đủ. Trước tiên, thái vụn ruột bưởi rồi ướp với đường trắng trong liễn sành 1 đêm, hôm sau đổ vào nồi chưng kỹ rồi cho mật ong vào quấy đều, bắc ra để nguội rồi đựng trong bình gốm kín để dùng dần, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 3g, dùng rất tốt cho những chứng đau đầu do đàm thấp ứ trệ biểu hiện bằng các triệu chứng: đầu đau nặng như đeo đá, hay buồn nôn, hoa mắt chóng mặt, lưỡi bè bệu và có vết hằn răng, rêu lưỡi dày trắng và dính…

Hạt bưởi chứa tới 40,7% dầu béo, có tác dụng trị sán khí với liều 6 – 9g sắc uống và chữa chốc đầu ở trẻ em: hạt bưởi bóc vỏ cứng rồi đốt cháy thành than, nghiền nhỏ rồi rắc lên vùng tổn thương, mỗi ngày 2 lần, liên tục trong 6 ngày. Dân gian còn dùng tinh dầu bưởi để giải rượu và bôi lên các vùng tóc rụng để kích thích mọc tóc.

Nghiên cứu hiện đại cho thấy, bưởi có tác dụng chống viêm rõ rệt thông qua cơ chế cải thiện mạng lưới vi tuần hoàn tại chỗ, ức chế quá trình ngưng tập tiểu cầu, chống phù nề, nâng cao sức bền thành mạch và sức chống đỡ của cơ thể với các tác nhân gây bệnh. Có tác giả cho rằng, dịch ép quả bưởi còn có chứa một chất giống như insulin có khả năng làm hạ đường máu.

(Theo SKDS)


Ngoc N Hao  
#60 Posted : Tuesday, May 24, 2011 1:50:57 PM(UTC)
Ngoc N Hao

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Ăn cà chua giúp tăng cường sức khỏe


UserPostedImage


Không chỉ là một thực phẩm quen thuộc và ngon, cà chua còn có những tác dụng tích cực trong việc phòng chống các bệnh về tim mạch, giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư…

Giúp duy trì một trái tim khỏe mạnh

Cà chua có lợi cho người mắc bệnh tim mạch vì hàm lượng chất béo trong cà chua rất thấp, nhưng hàm lượng chất xơ lại tương đối cao. Ngoài ra, cà chua còn có thể cải thiện được tình trạng tắc nghẽn thành mạch máu.

Các nhà khoa họcđã phát hiện, nếu mỗi ngày bạn ăn 300g cà chua, thì một tháng sau hàm lượng cholsterol tốt (High Density Lipoprotein Cholesterol, HDL) sẽ tăng được 15%. Hơn thế nữa, chất lycopene có trong cà chua sẽ giúp giảm bớt quá trình oxy hóa choleoterol xấu (Low Desity Lipoprotein Cholesterol, LDL) trong cơ thể – là nguyên nhân dẫn tới chứng xơ vữa động mạch. Vì vậy ăn nhiều cà chua sẽ rất tốt cho tim.

Lycopene có nhiều trong các sản phẩm chế biến từ cà chua

Lycopene có trong cà chua là một loại oxidizer rất mạnh, trong đó tác dụng lớn nhất của chất nàylà phòng chống các bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư tuyến tiền liệt. Các cuộc thí nghiệm trên động vật cho thấy lycopene có thể ức chế sự sinh trưởng của các tế bào ung thư. Lượng lycopene trong máu quá thấp sẽ làm tăng nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt. Ngoài ra, chất lycopene còn có thể giúp phòng chống nguy cơ đột biến gen DNA trong tế bào. Vì thế mà lycopene có tác dụng chống ung thư hữu hiệu.
Nhưng các nhà khoa học cũng chỉ ra rằng, việc bổ sung lycopene trực tiếp hoàn toàn không có tác dụng chống ung thư tuyến tiền liệt, tốt hơn hết là bạn hãy ăn cà chua tươi hay các sản phẩm được chế biến từ cà chua. Vì chất lycopene trong cà chua là một loại chất có tính hòa tan.

Trong quá trình xử lý, chế biến để tạo ra các sản phẩm: nước ép, nước sốt… nhiệt độ cao sẽ làm cho lycopene dễ dàng được hấp thu vào cơ thể hơn. Ngoài ra, một số sản phẩm được chế biến từ cà chua như sốt cà chua của Ý có hàm lượng lycopene cao hơn gấp năm lần cà chua tươi sống.

Nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc trường đại học California (Mỹ) đã khẳng định chất lycopene còn có khả năng giúp giảm hiện tượng oxy hóa – xuất hiện khi lượng gluco trong cơ thể vượt quá giới hạn cho phép. Một nghiên cứu khác của các nhà khoa học Nhật Bản cũng cho thấy ứng xuất oxy hóa có thể hủy diệt các tế bào sản xuất insulin của tuyến tụy, một trong những tác nhân gây bệnh tiểu đường.

Viện nghiên cứu Rowett – Đại học Aberdin (Scotland) đã tiến hành thử nghiệm với 220 khách tình nguyện uống nước cà chua trên chuyến bay dài khoảng 16 giờ và nhận thấy khoảng 70% trong tổng số 220 người tham gia giảm được các dấu hiệu “khó chịu” trên máy bay. Các nhà khoa học phát hiện thấy chính chất lỏng màu vàng bao quanh hạt cà chua có tác dụng chống tụ huyết khi ở trên tầng áp suất cao.

Nguồn cung cấp vitamin dồi dào

Trong cà chua còn có vitamin C, sắt, kali, phosphor, lưu huỳnh… đều là những chất có lợi cho sức khỏe và làn da. Vì vậy, những người uống ít nước trái cây có thể thay bằng ăn nhiều cà chua để bù đắp lại sự thiếu hụt vitamin C.

Nên nhớ rằng, sự thiếu hụt vitamin C trong cơ thể sẽ ảnh hưởng đến quá trình tạo thành chất kết dính, làm cho sự liên kết giữa các tổ hợp tế bào bị phá hoại, điều đó sẽ dẫn tới tình trạng thành mạch máu bị yếu đi. Đó là việc hoàn toàn không có lợi cho sức khỏe.

Vì như thế, khi huyết áp tăng cao hoặc khi bị thương sẽ mất nhiều máu hay xuất hiện hiện tượng chảy máu dưới da, hoặc chảy máu chân răng… những triệu chứng này gọi là bệnh hoại huyết. Vì vậy ăn nhiều cà chua sẽ chống được bệnh xuất huyết và thúc đẩy cho vết thương mau lành. Ngoài ra, cà chua còn là một loại thực phẩm tốt cho người giảm cân.

Tuy nhiên vì trong cà chua có một lượng nhỏ chất solanine – chất gây ra bệnh viêm khớp xương hoặc tê thấp… vì vậy hãy ngưng sử dụng cà chua nếu như cảm thấy nó không thích hợp với cơ địa của mình. Đương nhiên, chất này có hàm lượng không đáng kể khi cà chua đã qua quá trình nấu nướng, vì vậy bạn cũng đừng quá lo lắng.

(Theo Phunu)


Users browsing this topic
Guest (3)
39 Pages<12345>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.