Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

103 Pages«<101102103
Options
View
Go to last post Go to first unread
Duy An  
#2041 Posted : Saturday, November 6, 2021 10:11:56 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,287

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Việt Nam Cộng Hòa trong dòng lịch sử dân tộc Việt Nam


October 16, 2021
Vann Phan/Người Việt


SANTA ANA, California (NV) – Sự tồn tại ngắn ngủi có 21 năm, từ 1954 đến 1975 của Miền Nam Tự Do, trong đó nền Cộng Hòa Việt Nam tính ra chỉ có 19 năm, từ 1956 đến 1975, đã khiến cho đa số người dân Việt Nam, ở trong nước cũng như ở hải ngoại, không khỏi ngậm ngùi.

UserPostedImage

Lễ Khánh Thành Đường Xe Lửa Xuyên Việt Đông Hà-Sài Gòn, 7 Tháng Tám, 1959. (Hình: vi.wikipedia.org)


Ai nấy đều tiếc nhớ về một giai đoạn lịch sử vàng son và một chế độ chính trị tốt đẹp của dân tộc sau khi những người Cộng Sản Việt Nam thành công đặt ách thống trị lên toàn cõi đất nước Việt Nam, với việc Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30 Tháng Tư, 1975.

Lý do dẫn đến những ngậm ngùi, tiếc nhớ này bắt nguồn từ nỗi thất vọng lớn lao và ê chề của một bộ phận lớn trong dân chúng Việt Nam từ Nam chí Bắc về thành tích cai trị bết bát của đảng Cộng Sản Việt Nam, vừa độc quyền vừa phi nhân bản.

Sau ngày Cộng Sản Việt Nam chiếm được miền Nam Việt Nam, chủ trương của họ là bóp nghẹt hết những tiếng nói đối lập và loại trừ tất cả những đảng phái khác ra khỏi guồng máy cai trị của nhà nước, từ chính phủ cho tới quốc hội và hệ thống tư pháp.

Chính quyền hiện nay tại Hà Nội vẫn muốn xóa bỏ hết mọi vết tích huy hoàng xưa của Việt Nam Cộng Hòa ra khỏi lịch sử dân tộc và ra khỏi tâm hồn của người Việt Nam từ Ải Nam Quan (dù nơi này ngày nay đã mất vào tay Trung Quốc) cho tới Mũi Cà Mau. Nhưng họ đâu biết rằng Việt Nam Cộng Hòa vẫn sống mãi trong lòng dân tộc và trong dòng lịch sử Việt Nam qua những di sản vô cùng quý báu mà chế độ Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam đã cống hiến cho đất nước.


Những di sản quý báu mà Việt Nam Cộng Hòa để lại cho đất nước và dân tộc


Trong bài viết nhan đề “30/4: Việt Nam Cộng Hòa để lại nhiều di sản quý báu cho ngày nay và tương lai” trên trang mạng bencublog.wordpress.com, ngày 23 Tháng Tư, 2019, tác giả Vũ Thăng Long kể ra các di sản về giáo dục, kinh tế, chính trị-hành chính và xã hội, ngoài cái di sản hết sức đáng yêu để lại cho các thế hệ mai sau của Việt Nam, đó là nền âm nhạc tuyệt vời do các văn nghệ sĩ và nhạc sĩ Miền Nam Tự Do sáng tác.

Theo tác giả, Việt Nam Cộng Hòa là chế độ đầu tiên đã thành công trong kế hoạch phát huy nền kinh tế thị trường tại Việt Nam, trong đó vai trò kinh doanh của tư nhân được đề cao.

Khác với Miền Bắc Cộng Sản, Miền Nam Tự Do đã tiến hành cuộc Cách Mạng Xanh một cách êm thắm và không phải đổ một giọt máu nào qua các chương trình “Cải Cách Điền Địa” thời Đệ Nhất Cộng Hòa và “Người Cày Có Ruộng” thời Đệ Nhị Cộng Hòa, đem lại no cơm, ấm áo cho hàng triệu nông dân và nhà trồng trọt từ đồng bằng Sông Cửu Long cho tới vùng Cao Nguyên Trung Phần.

Việt Nam Cộng Hòa cũng là “thủy tổ” của ngành khai thác dầu khí tại miền Nam Việt Nam sau khi khám phá và định vị được một số vùng mỏ có thể khai thác thương mại được ngoài Biển Đông, nơi Việt Nam có chủ quyền trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà vì nạn chiến tranh kéo dài nên chưa kịp khai thác.

Nhưng thành tích sáng chói nhất của Việt Nam Cộng Hòa vẫn là xây dựng một nền tự do, dân chủ trẻ trung cho miền đất này sau khi thoát khỏi xiềng xích của cả thực dân lẫn phong kiến. Bản Hiến Pháp của nền Đệ Nhất Cộng Hòa, và cũng là bản Hiến Pháp dân chủ đầu tiên của đất nước, được công bố vào ngày 26 Tháng Mười, 1956, và bản Hiến Pháp của nền Đệ Nhị Cộng Hòa được công bố vào ngày 1 Tháng Mười Một, 1967, đều nói rằng chế độ Cộng Hòa luôn tôn trọng nhân quyền: “Mọi người dân nhân vị được trọng.”


Cuộc hội thảo về “Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam 1954-1975” lần đầu tiên được tổ chức tại tòa soạn nhật báo Người Việt hôm 6 Tháng Mười Hai, 2014, và tòa soạn nhật báo Việt Báo hôm 7 Tháng Mười Hai, 2014, do nhật báo Người Việt, nhật báo Việt Báo, báo mạng Tiền Vệ, báo mạng Da Màu tổ chức. Trong hình, hội thảo tại nhật báo Người Việt. (Hình: Người Việt)
Cũng trong khuôn khổ của một chế độ tự do, dân chủ, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã khuyến khích sự phát triển của các tổ chức xã hội dân sự, hoạt động với quy chế tự trị cả về hành chánh và tài chánh, tiêu biểu là Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam cùng các tổ chức chình trị và hiệp hội của mọi công dân trên toàn quốc. Điều này hoàn toàn trái ngược với chủ trương bóp nghẹt các tổ chức xã hội dân sự trong chế độ Cộng Sản tại Việt Nam ngày nay.

Việt Nam Cộng Hòa không phải là chế độ tồn tại ngắn nhất trong lịch sử


Nhiều người Việt Nam, và cả những người ngoại quốc yêu mến nền tự do, dân chủ của Miền Nam Việt Nam, vì quá xót thương cho cái kết liễu đột ngột của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, cứ nghĩ rằng 21 năm tồn tại của chế độ này là quá ngắn.

Thật ra, lịch sử thế giới vẫn đầy những triều đại huy hoàng và nhà cai trị tài ba có tuổi thọ rất ngắn, tức là còn ngắn hơn cả chế độ Việt Nam Cộng Hòa nữa. Triều Đại Nhà Tần, tuy có công lớn nhờ thống nhất nước Trung Hoa, chỉ tồn tại có 15 năm (từ 221 đến 206 Trước Công Nguyên); Vua Alexander the Great (A Lịch Sơn Đại Đế) của xứ Macedon (Cổ Hy Lạp) chỉ tại vị có 13 năm (từ 336 đến 323 Trước Công Nguyên); Hoàng Đế Quang Trung chỉ ở ngôi có bốn năm (từ 1788 đến 1792) trong khi Nhà Tây Sơn chỉ tồn tại có 13 năm (từ 1789 đến 1802)…

Nói thế để thấy rằng chính những thành tựu to lớn của các triều đại huy hoàng và các nhà cai trị tài ba, như được đề cập tới ở trên, mới là điều quan trọng, trong khi việc tồn tại ngắn hay dài của chế độ này hay lãnh tụ nọ, nghĩ cho cùng, đều là do ở phước phần của các đất nước và dân tộc liên hệ, và đó là điều mà con người trên trần thế không làm chủ được, bởi vì tất cả đều là “sự do tiền định, phù sinh không tự mang,” người xưa từng nói vậy.

Lý do và mục đích tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa

Vậy thì, lý do và mục đích tồn tại (raison d’être, justification for existence) của Việt Nam Cộng Hòa là gì? Các yếu tố sau đây có thể giải thích cho lý do và mục đích tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa trong dòng lịch sử thăng trầm, vinh có, nhục có, của dân tộc Việt Nam:

Thứ nhất, Việt Nam Cộng Hòa là chế độ khai sáng nền tự do, dân chủ chân chính, tức không phải là thứ giả hiệu. Đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, cho dù đó là một nền tự do, dân chủ non trẻ của một đất nước vừa thoát khỏi ách thực dân, phong kiến tại Á Châu sau Thế Chiến Thứ Hai.

Thứ nhì, Việt Nam Cộng Hòa đã đạt được nhiều thành tích sáng chói cả về nội trị lẫn ngoại giao trong suốt thời gian tồn tại, từ chính trị, kinh tế, quân sự, giáo dục, văn học cho đến nghệ thuật, âm nhạc, điện ảnh, y tế, thể thao…

Thứ ba, ngày nay, một số trong các thành tích sáng chói nói trên đã nghiễm nhiên trở thành những di sản quý báu và đáng tự hào trong nền văn minh và văn hoá của dân tộc Việt Nam.

Thứ tư, Việt Nam Cộng Hòa đã trở thành biểu tượng của “những ngày tháng cũ tươi đẹp” (“the good old days”) như câu nói cửa miệng của mọi người khắp nơi, không biết phát xuất tự thuở nào nhưng, éo le thay, hễ nhân loại càng văn minh, tiến bộ chừng nào thì lại cảng thấy câu ngạn ngữ đó cứ đúng mãi, y như lời văn sĩ – kiêm thi sĩ và nghệ sĩ – Pháp Michel Houellebecq từng nói: “Quá khứ luôn tươi đẹp” (“Le passé est toujours beau, the past is always beautiful”).

Thứ năm, dù muốn hay không, sự tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa trong quá khứ còn là lời nhắc nhở chế độ Cộng Sản đang cai trị Việt Nam bây giờ, rằng họ vẫn chưa thực hiện tốt đẹp được – nếu không nói là tồi tệ – những lời hứa hẹn vừa đường mật vừa hão huyền của họ, dù đã nửa thế kỷ trôi qua, khi hô hào thế giới và dân chúng Việt Nam hãy ủng hộ họ trong cuộc chiến tranh xâm chiếm Miền Nam Tự Do và thống nhất đất nước, với cùng đích là đem lại công bằng xã hội, độc lập, tự do, hạnh phúc và no ấm cho dân tộc Việt Nam.


UserPostedImage

Cuộc hội thảo về “Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam 1954-1975” lần đầu tiên được tổ chức tại tòa soạn nhật báo Người Việt hôm 6 Tháng Mười Hai, 2014,
và tòa soạn nhật báo Việt Báo hôm 7 Tháng Mười Hai, 2014, do nhật báo Người Việt, nhật báo Việt Báo, báo mạng Tiền Vệ, báo mạng Da Màu tổ chức. Trong hình, hội thảo tại nhật báo Việt Báo. (Hình: Người Việt)


Phải biết rằng sau khi chiếm được Miền Nam Việt Nam, Cộng Sản Bắc Việt đã trở thành chủ nhân ông của một miền đất trù phú và nhiều tài nguyên thiên nhiên nhất, nhì tại Viễn Đông, những thứ mà các dân tộc văn minh, cỡ Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan, đều thèm rỏ dãi mà không có được.

“Tiếc thay chút nghĩa cũ càng”…

Việt Nam Cộng Hòa tuy mất đi, nhưng đó chỉ là vì cái phần xác hữu hình thì phải tuân theo luật hữu sinh, hữu tử của Tạo Hóa, nhưng phần hồn, tức là cái tinh túy của chế độ – và trong trường hợp này là của chính thể tự do, dân chủ tại Miền Nam Tự Do – thì vẫn ở mãi với đất nước và dân tộc Việt Nam như mọi người thấy đó, y như lời đại thi hào Nguyễn Du nói trong “Truyện Kiều” qua cửa miệng của nhân vật Thúy Kiều: “Kiều rằng: Những đấng tài hoa/ Thác là thể phách, còn là tinh anh.”

Nhớ về thời đại vàng son của Việt Nam Cộng Hòa trong lịch sử dân tộc Việt Nam và cũng để thay cho lời kết, xin mượn hai câu thơ sau đây – mô tả tấm lòng nhớ nhung, luyền tiếc của Thúy Kiều đối với người tình xưa Kim Trọng (cũng trong “Truyện Kiều”) mà định mệnh nghiệt ngã đã không cho nàng được thỏa lời nguyện ước ba sinh: “Tiếc thay chút nghĩa cũ càng/ Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”… (Vann Phan)
UserPostedImage
Duy An  
#2042 Posted : Monday, January 17, 2022 1:32:17 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,287

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Những nhà văn Hoa Kiều và đất nước Việt Nam


UserPostedImage

Nhà thơ Hồ Dzếnh


Những nhà văn Hoa Kiều? Trải dài suốt chiều dài văn học chúng ta cũng có những nhà văn có nguồn gốc đó. Họ viết văn, ở nơi chốn họ sống nhưng vẫn nhớ nhung và hướng vọng về quê hương thứ hai ở bên nội hay bên ngoại của mình. Tâm tư ấy, tâm sự ấy, đã tạo thành một vóc dáng văn chương đặc biệt.

Năm 1943, vào lúc thịnh thời của thơ mới, nhà xuất bản Á Châu cho ra đời một tập thơ khá lạ: Tập thơ Quê ngoại của Hồ Dzếnh với lời giới thiệu: “Lần đầu tiên thi ca Việt Nam được tô điểm một cách trau chuốt bằng ngọn bút linh diệu của một nhà thơ ngoại quốc…” Thực ra, nói nhà thơ ngoại quốc là chưa chính xác lắm, nhà thơ Hồ Dzếnh tên thật là Hà Triệu Anh (phát âm theo giọng Quảng Ðông là Hồi-Tsìu-Ding, thu gọn lại là Hồi Dinh, nghe âm không được hay lắm nên tự đổi lại là Hồ Dzếnh). Hồi đó những người trong làng văn nghệ vẫn cứ trêu đùa gọi ông là Hồ Dinh và có người còn đặt ra một vế đối “Hồ dinh dính hồ hồ chẳng dính” và có người đối là “Ngọc Giao giao ngọc ngọc không giao (mượn tên nhà văn Ngọc Giao) hoặc là “Vũ Bằng bằng vũ vũ chưa bằng” (mượn tên nhà văn Vũ Bằng), nhưng tất cả đều chưa được hay và chỉnh lắm..

Ông là một người có cha Tàu mẹ Việt. Ông viết về đất nước quê hương của mẹ: Quê Ngoại. Cha ông tên là Hà Kiến Huân, gốc người Quang Ðông, Trung Hoa di cư sang Việt Nam vào những năm cuối của thế kỷ 19 gặp mẹ ông là bà Ðặng Thị Vân, một cô gái chở đò trên sông Ghép, Thanh Hóa. Hai người lập gia đình và sinh sống bằng cách buôn bán và đổi chác hàng hóa trên một con đò dọc nhỏ xuôi theo các bến chợ ven sông. Có lần ông viết:

“Dòng máu Trung Hoa đến tôi không còn nguyên vẹn nữa. Nhưng đó là dòng máu của cội nguồn, quê cha đã hòa chung cùng dòng máu Việt nam để làm nên tâm tư tình cảm và văn phong của “Chân Trời Cũ”. Thêm vào đó là cuộc sống quá ư nghèo nàn tù túng của một làng quê với những số phận của con người hẩm hiu nghèo khổ và tôi gần gũi thân yêu ngay tứ khi còn thơ ấy đã tạo dựng cho tôi cái “đất” để viết văn và trở thành cảm hứng khơi nguồn cho tôi trong sáng tạo.”

Tập thơ “Quê ngoại” từ khi ra đời đã là một viên châu ngọc của thi ca Việt Nam. Nhiều bài thơ, đã trở thành bất tử và ngôn ngữ ấy đã biểu hiện được tâm tình một thời của dân tộc Việt Nam. Tạp chí Tri Tân đã có nhận xét: “Tên tuổi của người Minh Hương ấy, văn học quốc ngữ không nề hà gì mà chẳng đón tiếp như đã đón tiếp bao nhiêu những nhà văn hữu tài khác,..”

Trong tập thơ ấy, người yêu thơ đã tìm ra được rất nhiều những bài thơ tuyệt tác. Có những bài thơ được phổ nhạc và trở thành quen thuộc đến nỗi như là một ngôn ngữ thường hằng và sống động.

Những câu thơ thật quen thuộc và hình như lúc nào cũng tiềm tàng những cuộc sống riêng, những tâm tư riêng nên đã thành những ấn tượng không thể phai nhòa trong cảm quan người nhận

Năm 1942, Hồ Dzếnh in “Chân trời cũ”. Một gia đình dòng tộc người Minh Hương được phác thảo lại trong những thiên truyện ngắn rất gần với những trang tự thuật. Nhân vật xưng tôi, có khi là chính bóng dáng của tác giả, tuy được phác họa trong sự cố ý làm mờ nhạt đi để những nhân vật khác nổi bật lên. Một người cha người Hán giang hồ đi sang xứ người lập nghiệp gặp người mẹ người Việt và thành một tiểu gia đình mà số phận họ buộc trói theo dòng đời trôi nổi. Người mẹ Việt, là hình bóng muôn đời của sự hy sinh, là gà mẹ xòe cánh ra ấp ủ đàn con giữa những đe dọa của cuộc đời. Rồi những người thân của nhân vật xưng tôi: chú Nhì, người anh cả, đứa cháu đích tôn, cô em Dìn, chị đỏ Ðương, người chị dâu Trung Hoa, ông anh hai trụy lạc,… tất cả sống trong một xã hội mà những lề thói, những phong tục là những sợi dây buộc chặt vào một đời sống mà sự thiếu thốn và nghèo khổ luôn luôn lai vãng…

Trong “Chân trời cũ” chúng ta thấy một đời sống cũ đã qua nay trở lại từ cái tâm hoài cổ, từ những suy tư bắt nguồn từ sự nâng niu những kỷ niệm khó quên của một đời người. Và, vì sống ở xứ sở bên mẹ nên quê ngoại lại gần gũi hơn và chan chứa tình cảm.

Hồ Dzếnh cũng có lần nói về tác phẩm Chân Trời Cũ của mình:

“Tôi là kẻ ít tin nhất rằng loài người đẻ ra đã sẵn cái tài trong óc. Cho nên được mang danh là Nhà Văn tôi thấy thẹn thùng biết mấy! Do những tình cờ của hoàn cảnh cọ xát với cõi đời chúng ta để cố gắng nói ra nỗi lòng u kín đã nghiêng về cuộc sống bên trong. Nhưng trên cả Tình và Tài, trên những vinh hạnh chói lòa nhiều khi rất không chân thật, một điểm sáng lấp lánh từ ngàn thu, một “Triều Thiên” mà thế kỷ nào cũng ao ước, thèm khát đó là Tấm Lòng”

oOo

UserPostedImage
Nhà văn Lý Lan


Lý Lan, là một nhà văn nữ khá nổi danh ở Việt Nam có truyện ngắn được giảng dạy ở chương trình văn, bậc trung học ở trong nước. Cô cũng là một thi sĩ và là một dịch giả đã chuyển ngữ truyện Harry Potter sang Việt ngữ. Trong thực tế, cô là một nhà văn người Việt gốc Hoa, và cũng là một nhà văn người Mỹ gốc Việt. Cha cô người Quảng Ðông, huyện Triều Dương, thành phố Sán Ðầu. Mẹ cô người Lái Thiêu và cô sinh ra ở Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Và cô lấy chồng người Mỹ, một giáo sư đại học, định cư ở cả hai nơi, Việt Nam và Hoa Kỳ.Nhưng tôi vẫn gọi cô là một nhà văn nữ Hoa Kiều.

Tại sao? Bởi vì, trong các tác phẩm của cô, tôi thấy rõ nét chân dung của một người gốc Hoa với tất cả tâm tư, vóc dáng, đời sống… được thể hiện. Những người gốc Hoa này không phải là hình ảnh của những ông chủ bụng bự, những bang chủ chi phối đời sống kinh tế chính trị ở Việt Nam. Họ cũng xa lạ với khung cảnh của Chinatown mà bất cứ ở quốc gia nào trên thế giới cũng hiện diện. Ở trong truyện của Lý Lan, nhân vật có thể là một cô gái nhạy cảm ngây thơ, là những cô cậu thiếu nhi bé nhỏ, là những ông già “các chú” , những bà “xẩm” của những xóm lao động ồn ào, những nhân vật mà thường ngày chúng ta bắt gặp trong cuộc sống gần cận. Ở trong những khung cảnh quen thuộc của Chợ Lớn, nhịp đập nhân sinh đã được vẳng nghe từ những tâm sự bình thường của những đời thường tiếp diễn. Trong đời sống ấy, của những ngày sau 1975, dường như lẩn khuất đâu đó có tiếng thở dài, “trầm và sâu.”

Có thể, vì cảm nhận từ những cuộc dời đổi. Lúc Cộng sản chiếm miền Nam, Lý Lan là một sinh viên, rồi sau đó đi dạy học, viết văn, làm báo. Cô không viết về thời sự, nhưng ghi nhận lại cuộc sống bằng con mắt quan sát của mình. Kinh nghiệm sống làm cho cô chín chắn hơn trong những đãi lọc để có một quan niệm viết trung thực. Ðời sống thực tế với biết bao nhiêu dời đổi và cuộc sống người dân cũng ảnh hưởng theo với những khó khăn những nghiệt ngã. Lý Lan phác họa lại cuộc sống ấy, nhẹ nhàng đi tìm những chi tiết tưởng nhỏ nhoi nhưng sống động. Ðọc những truyện ngắn, độc giả có cảm tưởng như lần trải theo những tâm sự những đoạn đời mà người kể chuyện, với tâm hồn nhạy cảm và tấm lòng nhân hậu, đã viết ra.

Lý Lan kể lại đời sống và thấp thoáng ở đó, những tiếng thở dài, “trầm và sâu”. Có thể là một cảm hoài về đời sống. Có thể là một cảm giác phải có của người hay nhìn ngoái lại thời gian cũ xưa trong cơn dời đổi của xã hội. Trong truyện ngắn “Bé Sáo vào đại học”, thấp thoáng tiếng thở dài. Người mẹ, Ðiệp, bạn gái của tác giả, như một thí dụ cho tiếng thở dài ấy:

“Với lý lịch của mình, Ðiệp không thể nào vào đại học và cũng không thể kiếm được một việc làm ở thành phố. Người yêu học tập cải tạo ba tháng trở về, đám cưới rồi Ðiệp theo gia đình chồng “hồi hương” Bân tôi xa Sài Gòn từ đó, 18 tuổi, quần jeans bạc màu sơ mi xắn tay áo cao trên cùi chỏ. Hai vợ chồng trôi dạt qua mấy vùng đất khai hoang, hồi đó gọi là kinh tế mới. Mười năm trước bắt đầu ổn định, Ðiệp rủ tôi về thăm rẫy nhà nó. Bé Sáo quấn quít gần như nhại theo cách ngồi cách đứng cách trò chuyện của “dì Lan ở Sài Gòn”. Con Sáo nhỏ mếu máo chạy theo tôi níu chéo áo tôi đòi cho lên thành phố. Ðiệp dỗ con: “Ráng học giỏi mới được lên Sài Gòn.” Sau làn khói xe và bụi đường con sáo nhỏ của tôi mím môi ghìm nước mắt nhìn theo hướng chiếc xe đò lao đi.”

Chuyện kể thật, và tràn lan ở đời sống này, quen thuộc đến thành bình thường mà sao vẫn gợi ra một nỗi niềm nào trắc ẩn. Những người có lý lịch liên hệ nhiều đến chế độ cũ trong xã hội này liệu có chỗ đứng không? Hay chuyện lên Sài Gòn học đại học như một giấc mơ của những con sáo, sang sông, nhưng vẫn còn đầy bẫy sập chực chờ từ một xã hội mà con người phải tranh sống để vượt qua những khó khăn chồng chất của cuộc nhân sinh…

Một truyện ngắn khác “Dân Ngã Tư” trong tập “ Sài Gòn Chợ Lớn Rong Chơi” lại là một truyện của những người không nhà chọn lề đường hè phố làm nơi cư ngụ. Và một điều lạ lùng, là sinh hoạt của góc phố ấy vẫn bình thường dù hứa hẹn cơn mưa bão sắp kéo tới. Họ, những người nghèo nhất của thành phố, vẫn an phận với cái nghèo nàn cơ cực của mình. Ai buôn bán lặt vặt cứ buôn bán, ai gây lộn cãi cọ cứ tự nhiên, và thời tiết có bão bùng cũng mặc kệ.

Lý Lan viết: “Tôi nói với chị Bình: “sắp bão gió cấp 12 không lo thân mình chưa có chỗ trú lại đi lo chuyện bao đồng” Chị cười thản nhiên (hay hồn nhiên quá?)

– Ôi, bất quá gió thổi bay tấm ni -lông hay mấy giỏ đồ rách. Cầm như xui xẻo bị “hốt” lòng lề đường vậy mà. Mình lo sao nổi chuyện tự nhiên của trời đất.

Nói vậy nhưng khi mưa bắt đầu lắc rắc, chị lật đật giành giật với cơn gió tấm ni lông đang bay phần phật, cột hai chéo vô cửa sắt, còn hai chéo kia chèn mí bằng gạch để tạo một không gian hẹp hình tam giác nơi thằng Tẹo đang ngủ say…”

Và tác giả kết luận:

“Nhà là gì? Là một nơi ta quen thuộc, nơi ta là ta, nơi ta chia sẻ với người thân cuộc sống ở cõi đời này” Tôi hiểu vậy khi anh Su đứng ở ngã tư mà nói rằng “Nhà tiu là đây” Nhưng anh Su à, tôi vẫn không muốn đính chính điều đã viết. Ngã tư không phải là nhà”

Có phải tác giả muốn diễn tả về cuộc sống mà sự cam chịu đã thành một quán tính để vượt qua những khó khăn của kiếp người hiện tại. Hình như, tôi thoáng nghe được tiếng thở dài, “trầm và sâu”…

Lý Lan là người Việt gốc Hoa, cha người Quảng Ðông, mẹ người Thủ Dầu Một. Cô lớn lên trong một xóm người Hoa và có lẽ chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa. Có lẽ, có lúc cô cũng thấy mình đang chơi vơi giữa hai văn hóa Việt và Trung Hoa. Nhất là khi đế quốc phương bắc đang dòm ngó và tạo cho cô có cảm giác bị kỳ thị. Trong khi viết văn, cô kể chuyện nhiều khi với tư cách tự thuật và trang trải vào đó những tâm sự của mình. Những nơi chốn, khi cô sống tự thuở ấu thơ trải ra biết bao nhiêu kỷ niệm. Những nhân vật, qua những góc cạnh nhìn ngắm, ngầm chuyên chở những tâm tư, mà, qua cuộc sống, vẫn lấp lánh trong tâm thức những dư vị êm đềm, của tấm lòng đối với quê hương.

Lý Lan viết về sinh hoạt của cộng đồng người Hoa nơi cô đã sống cả một thời tuổi trẻ. Những chuyện ghi nhận từ những nơi quen thuộc hàng ngày được phác họa lại, có một chút hoài niệm và một chút trăn trở.

“ Bây giờ đi dạo quanh khu vực này, nằm giữa đường Trần Hưng Ðạo và Nguyễn Trãi, khoảng gần Nguyễn Tri Phương tôi cố hình dung cảnh quan đã đập vào mắt cha tôi khi ông lần đầu tiên bước chân lên từ Bến đò La Cai: mấy cái xóm nhà lá đó đã cầm chân chàng lãng tử đến già! Ðất lạ quê người, nhiều địa danh nhân vật ngày đó bây giờ ông nhắc lại đọc theo âm tiếng Tiều, mà cảnh đã đổi, người không còn, chuyện chưa ghi trong sách, tôi không biết làm sao đối chiếu truy tìm. Vả lại làm sao hình dung “xóm nhà lá” ở giữa quận 5 Sài Gòn?..”

Cảnh cũng đổi và người đã thay, những phố Tàu ngày xưa không còn những đường nét cũ và sinh hoạt ngày nào cũng biến đổi đi. Lý Lan, làm người đi trở lại ngược dòng thời gian, trở về những con hẻm nhỏ, về những cuộc sống mà phong vị cũ đã thành những ký ức xưa. Chính cái thái độ chân thành đã làm sức lôi cuốn cho người đọc.Ði tìm lại những khoảng thời gian đã mất thật khó lắm thay!

Viết về đời thường, một công việc dễ mà khó. Làm sao trong cái hỗn độn đời sống ấy, ai cũng biết, ai cũng quen, tìm ra được những điều bất ngờ để thành lạ lùng và mang nhiều ý tình chuyên chở. Viết về một quán nước người Hoa thường hay nằm ở những ngã tư đường, đã có Sơn Nam, đã có Bình Nguyên Lộc…. Cũng tả về tiếng kêu ê a của phổ ky gọi nhà bếp làm thức ăn cho thực khách, cũng có những câu chuyện làm ăn mỗi ngày giao dịch trong quán,.. Nhưng ở trong “Tiệm nước “ của Lý Lan còn có một chút thoáng qua của thời sự, của ngày đổi tiền của Cộng sản, và lòng trung tín của những người nghèo như bác xích lô không lợi dụng thời thế để giựt tiền của người trao gửi. Lý Lan viết như người kể chuyện, không cố tình thêm thắt, không xử dụng kỹ thuật văn chương. Nhưng, ở chính điều đó, lại là một điểm để tác giả “Sài Gòn Chợ Lớn Rong Chơi” khác với những người cầm bút khác.

Có người nói văn chương của Lý Lan có những nét mộc mạc từ tả cảnh tả người của văn chương miền Nam Bộ với những Hồ Biểu Chánh, rồi Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc,…Riêng tôi, thì thấy rằng hình như trong các câu chuyện kể, nhiều khi giản đơn không cố tình phức tạp hóa sự kiện, lại ngầm chứa những điều gì mà tôi cho là mới lạ từ văn phong diễn tả của cô. Có lúc cô là người tự thuật, nhưng có khi cái tôi của nhân vật lại là một người khác mà tôi thường gặp phong cách này trong văn học hiện đại. Tôi cảm nhận một điều, cô đã cố gắng đi tìm kiếm những cái mới mà mọi người tưởng như đã cũ…

oOo

UserPostedImage
Nhà văn Vincent Lam

Một nhà văn Hoa kiều khác, rất yêu Chợ lớn, nơi anh đã có nhiều kỷ niệm. Ðó là nhà văn Vincent Lam. Mà đặc biệt hơn nữa, anh là con của một gia đình người Việt gốc Hoa sinh trưởng ở Chợ Lớn. Và anh đang viết một tiểu thuyết coi như là đầu tay mà chưa hoàn tất. Tiểu thuyết ấy viết về thành phố Chợ Lớn, nơi chốn mà anh không thể bao giờ quên được với những kỷ niệm của mình. Trong trang web của anh, anh có rất nhiều hình ảnh về thành phố ấy. Tôi đã có một chút thảng thốt khi nhìn lại những phong cảnh ấy. Những nóc chợ ngói rêu, những con đường với những căn nhà cổ xây dựng từ thuở nào…

Vincent Lam là một nhà văn đã đoạt giải thưởng Giller về văn học của Canada với tập truyện ngắn” Bloodletting and Miraculous Cures”. Vincent Lam còn là một bác sĩ làm việc trong phòng cấp cứu của bệnh viện Toronto East General Hospital.

Một năm ở trên thế giới trao tặng rất nhiều giải thưởng văn chương và có nhiều nhà văn tài năng kiệt xuất, mà tại sao tôi lại muốn tìm hiểu để viết về Vincent Lam? Lý do giản dị, vì tính tò mò khi có người viết về đất nước Việt Nam, cũng y hệt như khi tôi đọc và tìm hiểu về Marguerite Duras hay Graham Greene. Vincent Lam viết “Cholon, Near Forgotten”. Một cuốn tiểu thuyết coi như tự truyện của một người mà gia đình đã có thời sống trong cộng đồng Hoa Kiều ở Chợ Lớn. Xem qua những tấm hình trên website của Vincent Lam, tôi như thấy lại một đời sống của những người Việt gốc Hoa, mà có khi họ là làng xóm láng giềng của tôi. Tôi đã sống ở vùng Chợ Lớn, mẹ tôi có sạp vải và buôn bán ở Chợ Lớn và tôi có những đứa bạn cùng lớp người Hoa nói tiếng Việt còn ngọng đớt. Ðọc những trang sách viết về những con phố cũ, những ngõ hẻm xưa, có cái thú vị của những người trở về thăm lại những đoạn ấu thời đã qua đi mãi mãi…

Vincent Lam sinh năm 1974 tại London, Ontario, trong một gia đình gốc Trung Hoa đã sinh sống ở Việt Nam trước khi di cư qua Canada. Cha của Vincent Lam đã có rất nhiều nghề nghiệp, từ nghề xây cất tới đầu bếp, và sau cùng là một chuyên gia canh nông tại Ấn Ðộ. Bốn năm sau,gia đình di chuyển tới Ottawa nơi mà Vincent Lam đã lớn lên từ những truyện kể của người cha cũng như từ các tác phẩm của C.S. Lewis và Roald Dahl, và manh nha trong óc và càng ngày càng in sâu là trở thành nhà văn. Hiểu rằng bản thân mình khó có đủ ngôn ngữ để sáng tạo của tác phẩm văn chương lớn, Lam ghi danh vào trường Y khoa của Viện Ðại học Toronto với hy vọng rằng từ những kinh nghiệm của đời sống thực tại và những chất liệu giàu có của nghề nghiệp sẽ giúp ích rất nhiều cho mong ước ấy.

Khi Lam làm việc trên tàu Arctic với nhiệm vụ là một bác sĩ, anh tình cờ gặp nhà văn nổi tiếng Margaret Atwood và được bà ưng thuận đọc trước và nhận định các truyện ngắn của anh. Sau đó bà gửi cho anh một email chỉ có vỏn vẹn một hàng chữ: “Chúc mừng anh! Anh có thể viết văn được!” Sau đó bà đã giới thiệu Lam với nhà xuất bản Doubleday ở Canada. Hơn thế nữa, bà còn lấy một truyện ngắn của Lam và thay đổi bố cục của nó cũng như gợi ý Lam viết một truyện ngắn khác dựa trên những hiểu biết về y học của bệnh SARS. Lam thực hiện theo gợi ý của bà và viết thành truyện ngắn “Contact Tracing”. Ðây là một truyện ngắn nổi bật nhất của Lam trong tuyển tập “Bloodletting & Miraculous Cures” đoạt giải Scotiabank Giller Prize. Lam thường xuyên dành cả buổi sáng để viết văn còn buổi chiều và ban đêm thì túc trực trong phòng cứu cấp của bịnh viện Toronto. Anh làm việc trong bịnh viện và có rất nhiều kinh nghiệm trong việc chống lại dịch bệnh SARS cũng như am hiểu những tình cảnh và tâm lý của người bệnh. Anh kể “ở phòng cấp cứu của bệnh viện, người y sĩ là tâm của cơn giông bão tạo ra bi kịch và căng thẳng. Chúng tôi làm việc trong một thế giới của cả hai tính chất y khoa và con người thường phối hợp lại, nơi mà tiêu chuẩn thật cao và có khi không tiên đoán trước được những trở ngại. Là bác sĩ, tôi đáp ứng tất cả những điều chung quanh tôi, và làm việc trong thế giới ấy. Là một người viết văn, tôi vận dụng tất cả để có chất sống động và mới lạ trên trang giấy”

Với những câu chuyện của bốn sinh viên y khoa: Ming, Fitz, Sri and Chen; Lam đã mở ra những thế giới của những người theo đuổi nghề nghiệp chữa bệnh cho người. Lam đã có một câu ví von:

“Tôi nghĩ rằng làm cha và làm nhà văn còn khó hơn là làm nhà văn và bác sĩ vì lý do với làm bác sĩ và nhà văn thì phải lập kế hoạch để có bằng cấp. Còn khi làm cha mẹ thì không bao giờ chấm dứt được vai trò và trách nhiệm của bậc cha mẹ. Khi bạn đang chăm chú với công việc của mình và đứa con trai dập cửa thình thình và hét “mở cửa! Mở cửa!” thì chắc chắn bạn phải đứng dậy và mở cửa.”

Người cha đã để lại nhiều ấn tượng cho tâm hồn Lam. Ðó là một người đàn ông sinh trưởng ở Trung Hoa nhưng đã sống lưu lạc ở nhiều quốc gia và đã lăn lộn với nhiều nghề nghiệp. Cuộc đời ấy đã thành một ám ảnh thôi thúc Lam viết một thiên tự truyện về gia đình mình. Cuốn truyện viết về một nơi chốn mà gia đình Lam đã sống một thời gian khá lâu.

Vincent Lam thố lộ: “Tác phẩm có tên là “Chợ Lớn, Near Forgotten”. Ðó là cuốn sách đầu tiên tôi định viết. Năm 14 tuổi tôi đã muốn viết nó. Khi tôi không còn làm công việc phụ trách về sức khỏe y tế cho cộng đồng, tôi lại muốn viết lại về nó. Nhưng rồi, lại băn khoăn bất địnhvà đành viết tập truyện ngắn “Bloodletting & Miraculous cures” trước. Vậy là cuốn tiểu thuyết này đã bị đình hoãn nhiều lần”

Một lần khác, trong một cuộc phỏng vấn của CBC Radio, người con của một gia đình Trung Hoa đã là cư dân của Chợ Lớn đã phát biểu về sự đam mê viết văn của mình:

“Tôi như đang bị kiệt sức như một nhà văn trong lúc đang chấm dứt một ngày cầm bút, nhưng thường thường lại làm tôi hài lòng khi đến nhà thương làm việc, bởi vì sau một ngày thất bại khi đối diện với trang giấy trắng tinh, đó là giây phút hồi sinh lại mênh mông, như khi đến phòng cấp cứu để nhìn thấy những bệnh nhân có thực của đời sống có thực với những bệnh tật, những cơn đau ngực, những vết cắt và những cơn sốt..’

Một người trẻ tuổi có khi đã muốn và đã quyết định làm nhà văn trước khi trở thành bác sĩ, Lam đã nói về quyết định của đời mình:

“Tôi nghĩ khi tôi ở tuổi 14,15 có lúc tôi đã ngồi vào bàn viết và đột nhiên tự nhận ra là tôi chẳng có một ý nghĩ nào để viết cả rồi tôi nghĩ tôi phải bắt buộc hội nhập vào thế giới để học hỏi một điều gì đó trước khi cầm bút viết về nó..”

Cuốn sách “Cho Lon, Near Forgotten” kể về nhân vật chính là Percival Chen sinh ra ở một ngôi làng nhỏ ở Quảng Ðông cùng thời gian với sự suy tàn của đế chế Mãn Thanh. Ông ta bị mồ côi cha mẹ và sau cuộc xâm chiếm của quân đội Nhật Bản vào Hồng kông thì chạy qua Việt nam và vào Sài Gòn sinh sống. Ông ta đã tạo được sự may mắn khi làm hiệu trưởng một trường dạy Anh ngữ ở Sài Gòn nhưng lại làm mất đi cơ hội khi làm nghề cờ bạc chuyên nghiệp trong những năm chiến tranh. Khi cuộc chiến bùng nổ Chen di cư ra khỏi Việt nam và khi sang sống ở Brisbane , Uùc Châu thì bị ung thư và ở trong hoàn cảnh thời gian đợi chờ cái chết.Trong tâm cảnh ấy, Chen chỉ chờ mong những cuộc viếng thăm của con cháu sống rải rác mọi quốc gia trên thế giới. Những đứa con và cháu là những mẫu người sống lưu lạc và không bao giờ muốn đối mặt với quá khứ sống ở những nơi không phải là quê hương mình và rất ngần ngại khi xác định lý lịch của mình….

Chợ Lớn, dần đã lãng quên. Những cửa hiệu, những sạp hàng, những con phố, những ngõ hẻm. Những người Tiều trồng rau. Những người Quảng buôn bán. Những người Hẹ dệt vải. Những người Hải Nam tiệm ăn. Những phố Tản Ðà, Ðồng Khánh, Nguyễn Tri Phương đầy tiệm ăn náo nhiệt… Vincent Lam đã trở về, đã chụp ảnh, đã gặp lại những người thân của gia đình. Những tấm ảnh mở ra những cuộc sống. Ở một nghĩa nào đó, viết về ngày đã qua tương tự như làm hồi sinh lại quá khứ. Mà quá khứ ấy, không phải là của Vincent Lam mà còn là của một gia tộc mà vì thời thế hoặc vì mưu sinh mà lưu lạc khắp bốn phương trời sinh sống ở mọi nơi mọi quốc gia trên thế giới.

Ðọc Marguerite Duras để nao nao nhớ lại bến Bắc qua sông Hậu Giang, để ngậm ngùi về tâm tình của một người đàn bà ngoại quốc đã để lại tâm tình nơi xứ sở tạm ngụ. Ðọc Graham Greene để nhớ tới Sài Gòn, nhớ tới quán cà phê bên lề đường của khách sạn Continnental, nhớ tới thời gian của chiến tranh của xáo trộn chính trị.

Còn đọc Vincent Lam, ý nghĩ nào hiện đến? Có còn tồn tại không cái thế giới của người Hoa, những người ngụ cư nhưng vẫn tồn tại văn hóa riêng, vẫn đèn nến sáng choang ở những ngôi chùa thờ Quan Thánh, thờ Bà Thiên Hậu?

Còn tôi, vẫn thỉnh thoảng bâng khuâng về những khi tuổi nhỏ, tinh nghịch đóng vai vua Quang Trung để tập kích đám học trò trường Tàu đi qua xóm mình. Nhưng, hình như Chợ Lớn là lãnh địa của họ. Buổi chiều đi học về muộn, nhìn bầy chim én bay lượn trên nóc Chợ Lớn, thấy những hàng quán bán ăn đêm với những tiếng người các chú ngọng líu ngọng lo, tự nhiên thấy mình đi lạc vào một lãnh địa khác. Cái cảm giác ấy, thật là kỳ lạ…Qua Hoa Kỳ, ngụ cư ở xứ người, tự nhiên lại thấy những người Tàu Chợ Lớn ấy với dân tộc mình cũng có điều gần gũi. Họ đi khắp nơi trên thế giới để sinh sống nhưng với Việt Nam họ vẫn còn nhiều điều quan hệ. Ít ra, họ cũng chịu chung số phận của những nạn nhân của Cộng Sản và đã mang cuộc đời mình thách đố với biển cả với bão giông để tìm kiếm tự do…

Nguyễn Mạnh Trinh

UserPostedImage
Hạ Vi  
#2043 Posted : Tuesday, March 15, 2022 12:04:18 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,595
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)
UserPostedImage

Shared FB Jimmy Nhựt Hà🍥

Nhận được tin buồn, nhà văn Văn Quang - tác giả “ CHÂN TRỜI TÍM ”, đã tạ thế lúc 10 giờ 20 sáng, Thứ Ba 15 tháng 3 năm 2022 , tại nhà riêng cư xá Nguyễn Thiện Thuật Quận 3 - Saigon. Hưởng thọ 89 tuổi.

Nhà văn Văn Quang tên thật là Nguyễn Quang Tuyến; sinh năm 1933; tại Thái Bình.
Hầu hết các tác phẩm của ông đều là những truyện dài đăng trên các nhật báo, tuần báo, nguyệt san xuất bản tại Sài Gòn vào những năm 1954-1975, khoảng trên dưới 50 cuốn, sau đó có 28 cuốn đã được xuất bản thành sách.

Từ năm 1969 đến năm 1975 ông là quản đốc Đài Phát Thanh Quân Đội.

Tác phẩm đầu tay của ông là truyện dài "Tiếng Tơ Lòng" đăng trên nhật báo Thân Dân Hà Nội vào những tháng cuối năm 1953 và đầu 1954.
Tập truyện ngắn "Thùy Dương Trang" của ông do Lạc Việt xuất bản vào năm 1957.

Văn Quang cộng tác thường xuyên với hầu hết các nhật báo và tuần báo tại Sài Gòn như Ngôn Luận, Chính Luận, Tiếng Chuông, Tin Sớm, Tiếng Vang và các tuần báo: Kịch Ảnh, Truyện Phim, Điện Ảnh, Văn Nghệ Tiền Phong, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tiểu Thuyết Tuần San ..

Trong số những tiểu thuyết của Văn Quang, có bốn tác phẩm được thâu thành phim.

1/ Chân trời tím được Quốc Phong chủ hãng Liên Ảnh chọn quay. Nghệ sĩ Hùng Cường và Kim Vui thủ diễn hai vai chính trong phim Chân trời tím với bài "Nửa hồn thương đau" của Phạm Đình Chương do Thái Thanh hát. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã lấy nguồn cảm hứng từ cuốn tiểu thuyết này để sáng tác nhạc phẩm "Chân trời tím" cùng tên.

2/ Ngàn năm mây bay thì do Thái Lai phim thực hiện với Hoàng Anh Tuấn làm đạo diễn và sĩ quan quân đội Phạm Huấn thủ diễn.

3/ Phim thứ ba là Đời chưa trang điểm

4/ Cuối cùng là phim Tiếng hát học trò do Thái Thúc Nha của hãng Alpha thực hiện, Thanh Lan diễn vai chính.

Sau năm 1975 ông bị bắt giam hơn 12 năm tù cải tạo trước khi được thả.Tuy không cầm bút như trước năm 1975 ông tiếp tục sáng tác với loạt phóng sự "Lẩm cẩm Sài Gòn Thiên hạ Sự" và "Lên đời" được phát hành trên báo chí và radio tiếng Việt ở hải ngoại.

Năm 2009 ông được tạp chí Khởi Hành ở California trao tặng "Giải Văn chương Toàn Sự nghiệp Khởi Hành 2009".

UserPostedImage
Hạ Vi  
#2044 Posted : Tuesday, March 15, 2022 12:09:42 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,595
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)
Văn Quang với “những người muôn năm cũ

Nguyễn Mạnh Trinh


Những người muôn năm cũ. Hai mươi năm văn học miền Nam 1954-1975 đã có bao nhiêu khuôn mặt đã thành người của muôn năm cũ? Những khuôn mặt ấy dần vắng đi trong đời thường nhưng vẫn còn hiện hữu trong văn chương.

Nhà văn Văn Quang thời còn trong quân ngũ

Với tôi, không biết tại sao lại có một liên tưởng nào đó, từ những chuyện kể về các chân dung văn học lừng lẫy một thời làm tôi nhớ đến Sài Gòn, thành phố mà tôi có quá nhiều kỷ niệm. Từ người nhớ đến cảnh, để gợi lại một thời đã qua. Cho dù, lúc ấy tôi chỉ là một người mê đọc sách và không có sinh hoạt văn chương nào. Nhắc đến những người xưa, lại nao nao buồn, lại nhớ về những kỷ niệm mà có lẽ khó quên trong đời mình. Những kỷ niệm riêng tư, sống mãi trong tâm thức mình không phai…

Có một lần tôi đọc bài viết của Văn Quang trong loạt bài “Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự” viết về tang lễ họa sĩ nhà văn Thái Tuấn có những cụm từ làm tôi chạnh lòng. Những “người anh em cũ”. Chữ “cũ“ của ngày xưa, dù chỉ mấy chục năm mà sao nghe xa xăm lắm:

Tang lễ cố họa sĩ Thái Tuấn chắc chắn sẽ có rất nhiều “anh em cũ” đến tiễn đưa “lão“ về nơi an nghỉ cuối cùng. Nguyễn Nghiệp Nhượng nói với tôi như thế trước khi tôi từ Lộc Ninh về Sài Gòn. Tôi hiểu “anh em cũ” có nghĩa là những anh em hoạt động trong lãnh vực văn học nghệ thuật trước năm 1975 ở miền Nam, chứ chẳng riêng gì ở Sài Gòn. Họa sĩ Thái Tuấn đã trở thành một trong số vài nghệ sĩ nhiều tuổi nhất còn sống ở thành phố này. Ông trở thành “cây đại thụ” cũng như những hàng cây đại thụ mà từ khi những người Bắc di cư vào Nam năm 1954 đã nhìn thấy trên những con đướng đẹp nhất đô thành thời bấy giờ..”

Tôi có ý nghĩ như đọc một bài viết của một người “lưu lạc” trong chính đất nước của mình, viết chuyện hiện tại mà nghe vương vất những chập chờn của qúa khứ. Chiến tuyến hai bên hình như là đường hào quá sâu, cà mấy chục năm mà vẫn chưa san bằng được. Đọc bài viết, tưởng như thấy những người bị gạt bỏ ra những sinh hoạt mà họ yêu mến trân trọng. Và, dù có muốn nối tiếp cũng chỉ là những công trình rời rạc mà thôi.

Văn Quang viết ”… Trong lúc chờ đợi linh cữu ra ngoài xe, tôi có dịp nói chuyện với Dương Nghiễm Mậu. Hồi này anh cắt tóc ngắn, kiểu cắt “bốc” của những cậu học sinh khi còn nhỏ. Anh vẫn trẻ trung như thanh niên. Tôi chưa kịp cười anh đã giải thích ngay ”Ấy cắt tóc như thế để chúng nó không nắm được tóc mình”

Nguyễn Nghiệp Nhượng nhún vai, phê một câu ngắn gọn nhưng đầy đủ ý nghĩa ”hơi muộn”. Một anh bạn nào đó hùa theo “Không những nó bắm tóc ông mà còn bị nó ghè cho gãy xương”. Tôi hỏi lảng ”Cuốn sách của ông ra sao rồi? Hết bán được rồi phải không?” Dương Nghiễm Mậu cười tỉnh như không ”Chỉ không bán được ở Sài Gòn thôi. Còn các nơi vẫn bán như thường. Mình chỉ ngại cho nhà xuất bản, họ bỏ vốn ra in khá nhiều. Mình thì cứ bình an vô sự. - “Té ra thành phố Sài Gòn lại không cởi mở bằng những nơi khác”. “ở đó mà cởi,,”.

Một chút chua chát. Một chút bất cần. Những người cầm bút thuở xưa hình như vẫn chưa “thỏa hiệp” được. Không giống như những Từ Kế Tường, Đoàn Thạch Biền, Mường Mán,.. để có chức tước, có nhà cửa…!!!

Văn Quang đã viết trong “Sài Gòn – Cali 25 năm gặp lại“ về hiện tượng ấy:

… Có lẽ tình hình ấy cũng giống như ở Sài Gòn thôi. Chỉ khác là ở Sài Gòn lóp người hoạt động văn nghệ trước năm 1975 hầu hết đã yên lặng thậm chí có một số nhiều, độc giả ở đây không còn biết đến tên tuổi họ nhưng ở nước ngoài thì lại có nhiều người biết đến tên tuổi họ. Đó là một sự thật. Nhưng có những tên tuổi vẫn còn sống được giữa hai thời kỳ, đó là những người vì lẽ này hay lẽ khác vẫn còn đất dụng võ, dù là sống vất vưởng chứ cũng chẳng làm nên trò trống gì. Hay nói cách khác là những người cần kiếm cơm ăn áo mặc hàng ngày. Còn những vị sống được giữa hai thời kỳ mà vẫn cơm no rượu say thì có thể đếm trên đầu ngón tay.

Nhưng với những anh em đã từ xưa cùng sống với nhau ở Sài Gòn thì với người ở nước ngoài về, tinh thần vẫn còn đó, sự gần gũi vẫn như xưa nếu không muốn nói là hơn xưa. Hồi đó có những người chưa từng gặp nhau chỉ biết tên nhau nhưng bây giờ trở về người ta đi tìm nhau, đôi khi là sự tương trợ rất đầm thắm. Đó là sự thông cảm ngày càng sâu sắc càng thấy thương nhau yêu quý nhau hơn. Anh Thái Tuấn hỏi về tình hình những anh em còn ở lại đây. Tôi kể:

- Không nhiều lắm nhưng cũng đủ để vui chơi những lúc nhàn rỗi. Bây giờ có tuổi cả rồi nên nhiều lúc ngại di chuyển.Thỉnh thoảng có dịp nào đó gặp nhau, cái đám ma như đám ma Trần Lê Nguyễn thì đông đủ cả, đám giỗ như giỗ anh Chu Tử thì cũng vài ba chục người do gia chủ Chu Vị Thủy và Đằng Giao chọn lựa, tiễn người ra đi như tiễn Uyên Thao, Thanh Thương Hoàng có đến trên 40 người. Lâu lâu có một ông về chơi như ông Phan Diên thì lại cơm gà ngồi túm tụm trong một căn phòng nhỏ. Sinh hoạt chẳng có nơi chốn nào nhất định và làm thế nào có nơi chốn nhất định được ! tuy nhiên những hoạt động của anh em ở hải ngoại thường được anh em ở đây rất chú ý. Nhưng báo chí sách vở thì khó lòng về được đến nơi. Đến ngay mấy số báo Kịch Ảnh vô thưởng vô phạt gửi qua bưu điện năm lần đều mất tăm cả năm. Vài anh em có computer, chơi e-mail nói chuyện cà kê dê ngỗng với nhau hàng ngày nên hầu như những sinh hoạt lặt vặt thì chuyện gì cũng biết ngoại trừ những chuyện mà anh em ở bên đó cho rằng có hại cho những người ở đây thì họ không gửi. Tuy vậy đôi khi cũng lạc lõng một vài cái e-mail lạ hoắc vừa đọc vừa lo chẳng biết có chuyện gì xảy ra hay không..


Văn Quang đã viết Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự trong một tình cảnh tế nhị của những người không có tự do cầm bút. Bài phỏng vấn của nhà văn Lê Thị Huệ bày tỏ một vài điều.

“Lê Thị Huệ; Tại sao ông lại chọn đề tài ấy. Giữa cách viết này ông viết rất sung sức, rất khỏe, rất bén nhạy. Tại sao ông không chọn lối sáng tác tiểu thuyết như trước năm 1975?

Văn Quang: Về câu hỏi thứ hai tôi chọn lối viết “Lẩm cẩm Sài Gòn thiên hạ sự” bởi mỗi đề tài, tôi chọn một lối viết khác để độc giả dễ dàng chia sẻ những cảm xúc, những ý tưởng của mình. Trước đây tôi cũng thường viết nhiều loại. Tiểu thuyết, tiểu thuyết phóng sự, phóng sự, truyện ngắn. Tiểu thuyết để diễn tả những đề tài về nội tâm sâu sắc hơn, và tính thời đại chứ không phải thời sự. Tính thời đại có thể nói về những sự việc, những tâm trạng, những hình ảnh cách đó 5, 10 năm. Nhưng thời sự thì chỉ diễn tả những sự kiện xảy ra gần nhất trong tuần hoặc trong tháng.

“Lẩm cẩm” là lối viết có tính cách thời sự. Bởi tính cácch đặc thù của thời hiện tại nơi tôi đang sống nên buộc phaỉ viết theo một cách nào đó để không bị gây phiền lụy. Tôi xông vào những đề tài xã hội nóng nhất có tính điển hình nhất mà người dân đang chú ý. Một nhu cầu khác nữa là hướng đến độc giả hải ngoại đang quan tâm tới điều gì? Nói cho rõ hơn, Việt kiều của chúng ta đang muốn biết điều gì đang xảy ra tại quê hương mình. Chắc ai cũng muốn có những thông tin chính xác không bị vo tròn bóp méo bởi bất cứ lý do nào, đôi khi chỉ là sự “tam sao thất bản” nên thông tin thiếu độ trung thực. Tôi chọn lọc những sự kiện ấy, tìm kiếm thông tin chi tiết và làm thế nào càng chính xác được càng tốt. Nó không phải là một bản tin thuần túy mà đưa vào những nhận định quan điểm của riêng mình như một lời bàn bạc, nói chuyện với độc giả một cách bình thường chứ không phải là lý luận. Từ đó bạn đọc có thể hiểu rõ được vấn đề hơn và có thể suy luận nhận định riêng. Do đó, người ở xa quê hương vẫn có thể biết rõ những sự việc xảy ra ở quê nhà.

Tuy nhiên như chị đã thấy ”lẩm cẩm Sài Gòn” không chỉ là những chuyện lẩm cẩm. Nó có cả những mặt trái mặt phải của xã hội, chuyện khôi hài và chuyện đau thương những bản tường trình thẳng thắn vượt qua mọi áp lực. Miễn là chuyện xảy ra có thật. Cái nhìn xoáy vào phía sau những sự việc đã và đang xảy ra chứ không phải chỉ có bề mặt sự việc, tôi nghĩ đó mới thực sự cần thiết cho bạn đọc ở nước ngoài vốn không có nhiều thì giờ theo dõi.

Tóm lại, “Lẩm cẩm Sài Gòn thiên hạ sự” nếu tổng kết lại nó sẽ là một bức tranh toàn cảnh của xã hội tôi đang sống. Nó phản ảnh được trung thực mọi vấn đề ở bế mặt đời sống của người dân thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội. Từ một anh nông dân ”lừa được cả nước“ đếm một đại gia lương thiện và bất lương từ lớp thanh niên đến các quan chức từ cô gái tỉnh lẻ đến các cô gái chân dài thành thị. Từ nỗi đau thương cơ cực của “những người bị bỏ quên” như anh em thương phế binh VNCH đến những cảnh trác táng cùng cực hoang phí vô cùng của lớp người ăn trên ngồi trước… cái khoảng cách giữa thành thị và nông thôn những điều phi lý bất công những điều cần nói mà người dân không nói được.

Tất nhiên trong hoàn cảnh của tôi có những hạn chế mà ai cũng hiểu được. Cho nên viết và lách vẫn là điều phải nghĩ tới. Tôi làm cái gì mà luật không cho phép mà cũng không cấm. Tôi làm với lương tâm của người cầm bút. Dù ở đây chẳng có ai công nhận tôi vẫn là người cầm bút. Người làm báo có thẻ làm báo nhưng tôi chẳng có gì ngoài những tìm tòi của mình, tự mình lựa chọn thông tin. Còn những “rủi ro” bao giờ tới và tới lúc nào, đành chấp nhận như một số phận an bài. Nếu cứ nghĩ tới những thứ đó thì chẳng làm được việc gì đáng làm. Tôi không tham gia bất kỳ tổ chức nào, tôi không thích làm “chính trị” như bản tính tôi từ xưa tới nay. Tôi chỉ biết cầm bút, độc lập và hành xử theo tiếng gọi của lương tri…”

Hay câu trả lời Lê Thị Huệ về những ngày tù của ông:

“Có những điều đáng nói về những ngày tháng trong nhà tù. Và cũng đã có rất nhiều những cuốn sách nói về chuyện này rồi. Nhiều chi tiết đã được trình bày cụ thể. Vì thế lúc này tôi nghĩ vào vị trí của tôi nên chuyên tâm vào những vấn đề xã hội hiện tại mà tôi đang có điều kiện tìm hiểu tường tận hơn các bạn khác. Tôi chỉ có thể nói nhà tù vẫn là nhà tù, không có chuyện cải tạo ở đây. Điều này tôi cũng đã viết trong “Ngã Tư Hoàng Hôn”. Một lúc nào đó, nếu còn thì giờ có thể tôi sẽ viết lại toàn bộ những sự thật mà tôi đã được chứng kiến”

Riêng với cá nhân tôi, một người đọc tôi đã nhìn Văn Quang qua con mắt của một người rất tò mò về đời sống ở một nơi chốn mà mình rất thân quen nhưng bây giờ xa lạ. Đọc những bài viết của ông, tôi mường tượng thấy một cuộc sống linh động diễn ra, phản ánh cho một thời thế thật nhiều biến động. Ở thời điểm này, khi cả thế giới như một ngôi làng trong kỹ nghệ truyền thông thì con người dù ở những không gian khác nhau gần gũi nhau hơn. Đọc Văn Quang để nhớ lại, để hồi tưởng và thấy cả một đại dương xa cách ngàn trùng có lúc như thu nhỏ lại để gần tới một vài bước chân đi đến…

Tôi đã đọc tiểu thuyết Văn Quang từ khi còn lâu lắm lúc còn ngồi ở ghế nhà trường. Tôi biết ông là một nhà văn có nhiều tác phẩm được in và rất nhiều độc giả. Thêm nữa, ông là một người viết tiểu thuyết từng kỳ cho các nhật báo ở Sài Gòn có những tác phẩm được chuyển thể thành phim ảnh. Ngoài ra ông còn làm Quản Đốc đài phát thanh Quân Đội và là một sĩ quan cấp tá trong tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị của quân lực VNCH. Nhưng khi tuổi trẻ tôi ít quan tâm tới những tiểu thuyết như Chân Trời Tím, hay Người Yêu Của Lính, dù những cuốn sách này đã gây ra những dư luận một thời. Lúc ấy, tuổi trẻ nên say mê theo những “thời thượng”, một chút triết học, một chút làm dáng của sự chưa trưởng thành. Lúc ấy vừa bắt đầu những khốc liệt của chiến tranh nên đời sống đã nhuốm nhiều những hoài nghi, những vấn nạn của những người vừa đi vào cuộc.

Khi sang định cư ở đây, bắt đầu gia nhập sinh hoạt văn chương, quen biết người này người kia, tôi biết thêm nhiều chi tiết về nhà văn Văn Quang. Người hay nhắc tới ông nhiều nhất là nhà văn Mai Thảo. Trong những cuộc trà dư tửu hậu ông hay nhắc đến những bạn hữu của ông, những người đã cùng nhau cầm bút làm thơ viết văn trong thời kỳ hai mươi năm văn học miền Nam. Ông nhắc đến một người bạn đã chia sẻ với ông những nỗi buồn, những niềm vui của nghiệp cầm bút với tâm cảm xót thương những người còn kẹt lại ở quê nhà.

Khi Văn Quang gửi bản thảo tiểu thuyết đầu tiên ông viết sau khi bị tù cải tạo trở về “Soi Bóng Cuộc Tình”, nhà xuất bản Hồng Lĩnh in và nhà văn Mai Thảo đã viết một bài vào tập vừa trân trọng vừa thân ái. Ông nhắc đến những kỷ niệm, những lúc vui trong sum họp bạn bè, những lúc buồn khi cùng chung những ngày đen tối sau năm 1975. Nhà văn Mai Thảo viết:

“... Để khép lại bài viết này, một vài dòng về cõi văn chương tiểu thuyết của Văn Quang. Ta có nhiều nhà văn quân đội là những tài viết xuất sắc. Như Phạm Huấn, Thảo Trường, Y Uyên, Diên Nghị và nổi bật nhất là Phan Nhật Nam. Nhưng ở mấy nhà văn vừa kể, thường chỉ là những bút ký và hồi ký chiến trường, về đời sống quân ngũ, về những tuyến đầu và những trận đánh, với hình ảnh người lính chiến trực diện với kẻ thù trên cái toàn cảnh của chiến trường 20 năm khốc liệt. Văn Quang khác. Là một tiểu thuyết gia trong cái nghĩa trọn vẹn và toàn phần của một tiểu thuyết gia ông đã đẩy cõi viết ông tới những cõi bờ rộng lớn và nhiều mặt hơn, ở đó không chỉ có tiền tuyến mà còn có hậu phương, những cõi bờ mênh mang ấy từ muôn đời đã có một cái tên gọi rất giản dị là xã hội, là đời sống. Và từ một vị trí tiểu thuyết gia như Văn Quang, xã hội không phải là một đồng bằng phẳng lặng và đời sống một con đường một chiều. Mà là những đỉnh cao kế liền những vực thẳm. Mà là những ngày đẹp trời còn có ngày mưa gió. Mà là những giọt lệ bên cạnh những tiếng cười, máu đang chảy ở một phía này lại hoa nở ở phía kia. Tất cả tạo thành một địa hình nhân thế cực kỳ phức tạp, với tình yêu, hạnh phúc và những vui buồn, lúc là sự thật lúc là ảo tưởng với những tỏ hiện lúc là mặt phải lúc là mặt trái, ở đó mỗi con người sống và chết với những vấn nạn, những mộng tưởng, những thảm kịch tạo nên phần số và định mệnh của một đời người. Những trạng thái trăm vẻ nghìn hình vừa kể chính là những chất liệu cho một thể văn phổ biến nhất và đang được đọc nhiều nhất ở thế kỷ này là thể văn tiểu thuyết, và người xử dụng tốt đẹp thể văn này là một tiểu thuyết gia.

Văn Quang là người của thể văn tôi vừa nói tới. Cho nên, bằng nhận thức trên và qua những tác phẩm chủ yếu của Văn Quang tuy ông cũng có một số phóng sự vui như Nguyễn Đình Thiều, như Hoàng Hải Thủy, trước sau tôi chỉ thấy ông là một tiểu thuyết gia, một tiểu thuyết gia trước hết. Một tiểu thuyết gia đã hiểu được rất rõ điều này ; là những tiểu thuyết hay của một thời – điều này cũng cắt nghĩa cho những cuốn best- sellers- phải có hiệu năng hấp dẫn và lôi cuốn người đọc. Không có là thất bại. Và lôi cuốn và hấp dẫn chính là hai điều đáng ghi nhận nhất ở cách viết văn Quang, ở tiểu thuyết Văn Quang. Tiểu thuyết Văn Quang có một số người đọc mọi giới rộng lớn vì thế. Một thời gian dài, ông là một trong những tác giả đắt giá, có sách đạt tới những số bán cao nhất của văn chương tiểu thuyết ở miền Nam vì thế..

Cho nên tôi nghĩ, dẫu sau 17 năm im lặng và vắng bóng, Văn Quang không hề trở thành xa lạ với người đọc mà vẫn là một tác giả được nhiều người yêu mến. Và tiểu thuyết ông cũng vậy, viết lại 17 năm sau mà truyện dài do Hồng Lĩnh xuất bản ở ngoài nước là tác phẩm đầu tiên.

Theo nhà phê bình Uyên Thao thì các tác phẩm của Văn Quang có thể chia làm bốn thành phần chính. Thứ nhất là mô tả cuộc sống của tuổi trẻ với những Nguyệt Áo Đỏ, Đời Chưa Trang Điểm, Tiếng Hát Học Trò, Nét Môi Cuồng Vọng, Từ Biệt Bóng Đêm… Phần thứ hai là phản ánh đời sống quân ngũ với Chân Trời Tím, Vì Sao Cô Độc, Người Lính Hào Hoa, Người Yêu Của Lính, Ngàn Năm Mây Bay., Phần thứ ba là phản ánh xã hội thực tại thời chiến như Xuôi Dòng, Tiếng Gọi Của Đêm Tối,, và thành phần sau cùng là châm biếm những lề lối thời thượng lố lăng thuộc nhiều lãnh vực sinh hoạt, đặc biệt là các giới làm văn học nghệ thuật như Những Ngày Hoa Mộng, Sài Gòn Tốc.

Về tác phẩm Ngã Tư Hoàng Hôn được in ở hải ngoại trong thể loại phóng sự tiểu thuyết, là một trong những sở trường của Văn Quang. Có người nói rằng so với những tác phẩm được viết từ trước thì Ngã tư Hoàng Hôn có khá hơn nhưng chưa đủ sức vuột trôi khi sa sánh với những cây bút như Vũ Trọng Phụng thời tiền chiến chẳng hạn. Theo tôi, khó mà so sánh giữa hai người cầm bút ở hai thế hệ khác nhau có tâm tư khác nhau và cả đời sống cũng khác biệt nhau một cách sâu xa. Vũ Trọng Phụng có cái nhìn của một người tuy sống dưới chế độ thực dân nhưng đời sống tương đối bình yên và ít có những biến động đời sống tác đông đến nhân vật. Cái hiện thực của ông vẫn pha trộn hư cấu nhiều hơn. Còn ở Văn Quang, đời sống của chính tác giả và cả một xã hội mà ông sống là một cuộc sống bế tắc và tất cả mọi giá trị bị đảo lộn vì những biến cố thời thế. Con người ở trong những cơn lốc xoáy, dù ở bên này hay bên kia, dù trẻ tuổi hay già lão, dù là cán bộ viên chức của chế độ mới hay là những người của chế độ cũ vừa được thả khỏi trại tù, và hình như bị chìm đắm vào trong một bầu khí quyển tối tăm của một thế giam bị xuống cấp tới tận cùng đầy đọa. Những người đã từng sống ở trong nước chắc hiểu rõ những cảnh tình này. Trong diễn tả cuả Văn Quang, hình như chất hiện thực nhiều hơn so với những hư cấu và một xã hội có thực được phác họa lại bằng những chấm phá độc đáo và sâu sắc.

Sau năm 1975, tình trạng xã hội ở Việt Nam càng ngày càng có nhiều vấn đề trầm trọng từ kinh tế đến sự phá sản của đạo đức. Chế độ chính trị độc tài toàn trị đã gây ra bao nhiêu nỗi thống khổ cho dân chúng. Và, con người trong hoàn cảnh ấy cũng bị ảnh hưởng nặng nề theo. Nhà văn Uyên Thao đã viết về “Ngã Tư Hoàng Hôn”:

“qua Ngã Tư Hoàng Hôn, Văn Quang đã phác họa những hậu quả não nề do các chế độ chính trị tạo ra in hằn từ tâm lý cá nhân đến thực tế xã hội để hình thành bức chân dung toàn cảnh về sự dậy dụa trong ngột ngạt tối tăm nhớp nhúa của con người Việt nam sau những biến động lịch sử nối tiếp hơn nửa thế kỷ và cuộc đổi đời 1975. Hậu quả của tất cả những sự kiện đó không chỉ phá nát đời sống về kinh tế của một xã hội mà đã thọc sâu những mũi dao nhọn vào tận tim óc con người gây nên những vết thương tâm tư nhức nhối cho từng cá nhân nhỏ bé không dễ hàn gắn theo năm tháng.

Với Ngã Tư Hoàng Hôn, Văn Quang gần như đã khẳng định tương lai đất nước chỉ là một khoảng trống đen ngòm sau hơn nửa thế kỷ dân tộc phải cắn răng chịu nỗi đọa đày chấp nhận mọi nỗ lực hy sinh và đổ ra không biết bao nhiêu là xương máu.

Từ đây, Ngã Tư Hoàng Hôn cũng là tiếng kêu báo nguy về một xã hội hoàn toàn lạc hướng trong đó con người không còn biết và thê thảm hơn là không thèm biết đâu là Tà đâu là Chính, đâu là phải đâu là trái trong lúc miệt mài lao theo những dẫn dắt của bản năng..”

Văn Quang là một sĩ quan cấp tá của QLVNCH, bị đi tù hơn 12 năm, nhưng không đi mỹ theo diện HO và tình nguyện làm một người ở lại để quan sát và viết về một xã hội mà đối với người Việt hải ngoại còn nhiều bí ẩn gợi óc tò mò. Sự lưa chọn của ông, tới bây giờ ông vẫn thấy không có gì hối tiếc mà còn trái lại nữa. Mỗi người một hoàn cảnh, mỗi sự lựa chọn trong cuộc đời có số phận riêng mà ông trời đã định. Số phận của Văn Quang là làm một nhân chứng để viết về một xã hội đang tan rã, khi mà tiền bạc trở nên một cứu cánh cho cuộc đời và tất cả các giá trị khác đều trở thành không nghĩa lý và có thể mua bán đổi chác bằng tiền bạc.

Văn Quang viết “Soi bóng Cuộc Tình”, viết ”Sài Gòn-Cali 25 năm gặp lại”, viết “Ngã Tư Hoàng Hôn”, viết “Đỗi Đời“, viết “Lẩm cẩm Sài gòn thiên hạ sự”, Tất cả chỉ với một chủ đích của một người viết lại những biến chuyển của một xã hội mà ông đang sống. Ông tâm sự :

“Ở đây cũng có một số anh em sĩ quan cũ sau khi ở tù ra rồi cũng không đi theo diện HO. Dường như vấn đề kinh tế quyết định tất cả. Hầu hết những người ở lại đều có một cuộc sống tương đối ổn định hoặc có những trở ngại về gia đình, như con cái đã có vợ có chồng rồi không được đi theo… mỗi người một hoàn cảnh.

Mặt khác tôi nghĩ anh em ra đi nhiều rồi tôi muốn ở lại để chứng kiến cho hết, cho đầy đủ những đổi thay. Đời sống lúc đó ở đây bấp bênh rồi chao đảo vì Liên Xô tan rã, vì Đông Âu lập lờ. Cuộc sống “lên voi xuống chó“ quay quắt nếu nhìn như một kẻ ngoài cuộc nó sinh động hơn một sân khấu với đầy đủ bi hài kịch thú vị. Có quá nhiều đề tài mới lạ cho mình ghi nhận. Làm một nhân chứng sống có lẽ hay hơn. Và cũng vì sự “gậm nhấm” của tôi về “người bạn đồng minh” nên tôi quyết định ở lại..”

Tôi đọc Văn Quang, từ những tác phẩm đã xuất bản đến những bài viết đăng tải hàng tuần trên các “web-site”, với sự thích thú của một người trở lại với nơi chốn mà mình đã rời xa hơn 20 năm. Có người hay đi về Việt Nam thường nói rằng thành phố cũ đã thay đổi toàn diện đến nỗi không ngờ và nếu đi về để thơ thẩn tìm kiếm những điều xưa cũ thì thật là khó khăn. Tôi là người hay trân trọng với quá khứ dù mình chỉ là một người bình thường nhưng cũng nếm đủ mùi phong trần từ sau ngày tang thương tháng tư năm 1975. Đọc Văn Quang, như đã về thăm quê hương, một nơi chốn mà mình luôn nhớ về. và từ cảnh, lại chạnh nghĩ đến người, những người của “muôn năm cũ”. Ruộng dâu thành bể xanh, nhưng con người có lúc vẫn cảm khái để ngưỡng vọng về một thời kỳ đã thành một phần cuộc sống mình. Mấy ai, khi nhắc về nơi chốn cũ, về những người đã xa xăm mà không thấy nao lòng. Ở Văn Quang, tôi đọc ông qua tâm cảm ấy…


Nguồn: Phù Sa Online


UserPostedImage
phamlang  
#2045 Posted : Sunday, May 8, 2022 7:27:04 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
CÁI MUỖNG - Văn Quang

Văn Quang vừa giả từ chúng ta lúc 10 giờ 20 phút sáng Thứ Ba, 15 Tháng Ba, tại Sài Gòn, hưởng thọ 90 tuổi. Bài viết được đăng lại sau đây để nhớ đến ông. GSC

I.
Tôi không nhớ rõ năm đó là năm thứ mấy chúng tôi “học tập cải tạo”, chỉ biết rằng đã có những người “quen” với những ngày tháng cực khổ, dài lê thê trong những căn nhà giam được “xây dựng” bằng đủ thứ kiểu giữa những vùng rừng núi âm u. Ở Sơn La thì “trại” được làm trên những nhà tù từ thời xa xưa, chỉ còn lại những cái nền nhà lỗ chỗ, người ta dựng vách đất trộn rơm, mái lợp bằng các kiểu lá rừng, miễn sao che kín được khung trời.

Nơi này xưa kia, Pháp dùng để giam giữ tù chính trị, rồi một thời gian sau, VN giam những người tù Thái Lan và trong chiến tranh đã có khi người ta dùng làm “công binh xưởng” chế tạo lựu đạn. Vì thế nên thỉnh thoảng chúng tôi nhặt được một cái vỏ lựu đạn ở đâu đó quanh khu vực này. Ở Vĩnh Phú thì nhà tranh vách đất, ngoại trừ một khu người ta gọi là khu “biệt kích” gồm vài căn nhà “xây dựng kiên cố” bằng gạch lợp tôn xi măng. Chúng tôi “được học tập cải tạo” trong dãy nhà này. Cũng nghe người ta nói lại là khu này trước kia dùng để giam giữ những người lính biệt kích đã từng nhảy dù ra Bắc rồi bị bắt giam ở những khu đặc biệt đó. Muốn vào khu này phải qua hai lần cổng có tường gạch bao quanh. Nhưng có lẽ khi giam giữ biệt kích thì khác, còn khi chúng tôi “được giam” ở đây có vẻ như “cởi mở” hơn vì những cánh cổng thường không đóng bao giờ. Họ để cho chúng tôi đi lao động hàng ngày cho khỏi phải mở ra mở vào.

Cuộc sống dù cực khổ đến đâu, sống mãi rồi người ta cũng phải quen. Nhịp sống hàng ngày cứ thế trôi đi dù là trong đói rét, thiếu thốn và trong những cấm đoán vô cùng khe khắt. Nhà tù nào chẳng thế, nó có những quy luật và quy định riêng. Những ngày đầu người ta cấm luôn cả trà, cà phê, thậm chí cấm cả đeo kính cận. Nhưng sau này nới dần, những thứ như thế không bị cấm nữa. Chỉ còn những thứ đã thành “luật” thì luôn bị cấm và cấm ở bất cứ đâu. Cấm “mua bán đổi chác linh tinh”, cấm dùng thức ăn lâu ngày bằng bột, cấm tỏi và cấm tất cả những dụng cụ sinh hoạt bằng sắt như dao, kéo, muỗng nĩa… Tuy vậy có anh tù nào lại ngây thơ ngoan ngoãn đến nỗi tuân theo hoàn toàn những quy định ấy. Mua bán đổi chác linh tinh vẫn cứ diễn ra, dao kéo vẫn cứ được lén lút xử dụng hàng ngày nhưng đó là những thứ đã được “cải biên” thành dao kéo mini nhỏ nhắn cho dễ cất giấu. Nó là những vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày, dù có bị bắt thì cũng chỉ bị tịch thu chứ không đến nỗi bị cùm một hoặc hai chân –tùy theo tội– đưa vào “thiên lao” tức là thứ phòng giam đặc biệt trong trại tù.
II.
Ngày qua ngày, cái “không khí êm ả” của trại giam trở nên phẳng lặng nhưng dĩ nhiên là không thể nào nói rằng đó là thứ “an tâm, hồ hởi phấn khởi” mà bất kỳ anh “trại viên” nào cũng cứ phải viết khi phải làm những “bản kiểm điểm”, mặc dù kể cả người viết và người đọc đều chẳng ai tin.
Nhưng cái không khí ấy đôi khi bỗng nhiên bị xáo trộn. Vào một buổi sáng tinh mơ, khi chúng tôi đang ngồi ở cái sân đất giữa trại, chuẩn bị gọi tên từng đội đi lao động để “một ngày lại vinh quang như mọi ngày” thì bỗng đâu toán lính gác trại tù sồng sộc chạy vào. Họ chạy rầm rập như ra trận, súng ống chĩa về phía “quân thù”, mặt mũi “khẩn trương” rõ rệt. Họ sộc thẳng vào phòng giam trống hốc cứ làm như có địch ẩn nấp đâu trong đó.
Chúng tôi ngẩn ngơ đứng nhìn, không hiểu họ giở trò gì. Có những khuôn mặt lo lắng, một nỗi lo bâng quơ. Chuyển trại hay có một ai đó trốn trại? Chưa biết. Toán lính lục tung hết mọi thứ đồ đạc ít ỏi mà mỗi người tù có được trong gói hành trang của riêng mình. Sau đó chừng nửa giờ, một vài gói đồ bị tịch thu được vác lên “phòng thi đua”. Lúc đó thì chúng tôi mới hiểu rằng đó chỉ là một kiểu khám phòng để tìm ra những thứ đồ “quốc cấm” của trại đã quy định.

Thật ra, đó cũng là cái cung cách mà ở những “trại cải tạo” thường dùng để khuấy động cái không khí trầm lặng dễ phát sinh ra những “tiêu cực”. Bởi trong cái sự yên bình của một trại giam, người tù có thể liên kết với nhau làm một chuyện gì đó như tổ chức trốn trại hoặc có thể có những vụ xúi giục “tuyệt thực”, bàn bạc chống đối… Và nếu nói đến sự chống đối thì có hàng trăm thứ để có thể chống đối được. Thí dụ sự ăn đói, sự đối xử bất công, sự oan ức vô lý, sự trù dập của một vài anh “quản giáo”, sự hỗn hào của mấy anh lính võ trang. Chuyện gì cũng có thể chống đối được. Vì thế thỉnh thoảng họ phải làm cho cái không khí đó mất hẳn cái vẻ trầm lặng để chứng tỏ lúc nào họ cũng đề phòng, lúc nào họ cũng “đề cao cảnh giác”, lúc nào họ cũng sẵn sàng đối phó với mọi “mưu đồ”.

Các anh tù đừng có tưởng bở, chẳng bao giờ yên đâu. Cứ sau mỗi lần như thế, chắc chắn thế nào họ chẳng vớ được một anh nào đó giấu những thứ vớ vẩn như dao kéo, thư từ, sách vở tiếng nước ngoài, tiền bạc, đồ dùng ngoài quy định. Tất nhiên sẽ có những cuộc “kiểm điểm, phê bình” mà chúng tôi gọi là những “buổi tối ngồi đồng” để từ đó hy vọng lòi ra một vài cái “tội”. Đội nào khôn ngoan thì cứ ngồi im, ai “phê” thì cứ mặc, còn cãi là còn “ngồi đồng”. Đi làm suốt một ngày mệt mỏi đến thở không ra, tối về còn ngồi đồng, còn “phê bình” còn “kiểm thảo” thì chịu sao nổi. Nay “làm chưa xong” thì mai lại ngồi tiếp, ngồi cho đến khi nào tìm ra tội mới thôi. Tội nặng, tội nhẹ tùy theo tình hình của từng thời điểm.
Thời điểm “căng” thì vào nhà kỷ luật đặc biệt nằm “treo một chân”, thời điểm nhẹ nhàng thì cảnh cáo, ghi tội vào biên bản. Và họ sẽ có những biện pháp an toàn như chuyển đổi năm bẩy anh từ đội này sang đội khác để phòng tránh những chuyện thông đồng, những tổ chức, những phe nhóm có thể gây nguy hại đến an ninh của trại tù.

Chung quy đó chỉ là một cách đào xới tung cái tinh thần “tưởng rằng yên ổn” của mấy anh “trại viên” còn tỏ ra cứng đầu, còn có mưu toan lôi kéo người này người kia vào trong phe mình để từ đó có những yêu sách hoặc toan tính bất lợi cho trại tù. Quả là mỗi lần như thế trại tù cũng rối tung lên và làm cho những anh yếu bóng vía thường phải sống dựa vào tinh thần bè bạn càng thêm rụt rè, chẳng biết tin vào ai được nữa. Nhưng riết rồi trò gì cũng thành quen và đối với một số người “chẳng có gì để mất” thì họ trơ như đá, muốn làm gì thì làm, chỉ có cái thân tù đói này thôi, sống cũng được mà chết cũng chẳng sao.

Có lẽ tôi cũng đã học tập được cái tinh thần ấy của những anh bạn trẻ, bởi tôi cũng chẳng có gì để mất. Vợ con nhà cửa đều đã mất tất cả rồi, chẳng có gì phải lo. Đôi khi tôi sống tưng tưng, ông anh rể ở Sàigòn gửi cho cái gì thì nhận cái nấy. Và một sự thật không thể quên là nếu không có ông anh rể tốt bụng đó thì tôi cũng đã trở thành một thứ “caritas” như một số anh em ở trong trại tù rồi. Tức là những người chẳng có ai thăm nuôi.
Những bà vợ đau khổ với những gia đình đói rách lầm than, họ lo cho chính họ còn không xong thì lấy gì đi “thăm nuôi” người ở trong tù mà lại tù ở tuốt tận miền Bắc xa tít mù tắp. Thậm chí có người còn vui mừng khi thấy vợ mình bước đi bước nữa với một anh nào đó đưa các con ra được nước ngoài. Tôi nói thế để chứng minh rằng không nên trách cứ bất kỳ một ai trong hoàn cảnh cay nghiệt này. Theo tôi thì những anh “mồ côi” không ai thăm nuôi trong trại tù mới chính là những anh hưởng trọn vẹn được cái “thú đau thương”.

III.
Trở lại chuyện buổi sáng tinh mơ, khi toán lính chạy sồng sộc vào trại. Đó là một buổi sáng cuối mùa đông, trước Tết âm lịch chừng vài ngày. Đây cũng là biện pháp an ninh thông thường của các trại tù trước những ngày lễ tết lớn. Tôi thảnh thơi theo đội đi làm ở ngoài đồng. Tôi vẫn cứ yên trí rằng chẳng có gì để mất, chẳng có gì quan trọng.

Vào mùa đông cái thứ quan trọng nhất chỉ là rau. Mùa này thiếu rau đến… khô quắt cả dạ dày, rau muống bầu bí không trồng được, chỉ còn rau cải và trồng cải thì lâu ăn và năng suất không cao, cho nên có được tí rau là hạnh phúc nhất. Tôi ngồi lê la trước mấy luống su hào, đó là thứ “thực phẩm cao cấp” nhất trong khu vườn rau của toàn đội. Những củ su hào bắt đầu to hơn nắm tay nằm tròn trĩnh dưới những tàu lá xanh mượt mà, tôi trông coi chúng vì cái công sức tôi bỏ ra hơn một tháng trời. Tôi coi chúng cũng như một tác phẩm nào đó mà tôi đã từng viết ra, ở đây không có gì để coi như tác phẩm thì coi nó là tác phẩm vậy, để có cái mà thú vị và để có cái mà quên đi những thứ quanh mình.
Cứ như thế tôi tha hồ đặt tên từng luống su hào, có khi là một cái tên nghe có vẻ “lả lướt” như tôi đã gặp ở phòng trà tiệm khiêu vũ, có khi là một cái tên rất dung tục. Âu cũng là một trò “nghịch ngầm” giữa vùng rừng núi âm u, hầu như không có mặt trời mùa đông này. Nhưng tôi biết rằng trò chơi của tôi sẽ phải chấm dứt trong một hai ngày nữa. Bởi Tết đã đến, dù 12 luống su hào còn non chưa đến ngày “thu hoạch” nhưng cần thức ăn trong ba ngày Tết nên họ sẽ nhổ. Nếu tù không ăn thì cai tù ăn, chứ không đời nào họ chịu để đến mùa xuân. Nhưng vui chơi được giờ nào hay giờ ấy trong cuộc sống phù du này.

Buổi trưa về đến trại, trong khi bạn bè xung quanh đang xôn xao, kẻ bị tịch thu cái này, người bị mất cái kia thì tôi vẫn nhởn nhơ vì tôi chẳng có gì để mất. Tôi xách tô đi lấy cơm, gọi là phần cơm, nhưng thật ra chỉ có đúng một bát bo bo tương đối khá đầy đặn. Tôi ăn thì tạm lưng lửng, nhưng những người bạn tôi thì không bao giờ đủ. Họ thường nói “Vừa ăn xong mà vẫn cứ tưởng như mình chưa ăn”. Cái đói cứ lửng lơ mãi ngày này qua ngày khác, thế mới là khó chịu. Có những ông bạn tôi ăn theo cái kiểu câu dầm, tức là lấy cái muỗng tre nhỏ xíu, hoặc một cái gì đó lớn hơn cái đầu đũa, múc từng muỗng ăn rả rích suốt ngày để có cảm tưởng lúc nào cũng được ăn, nó làm lu mờ cái cảm giác đói, đó là cách tự đánh lừa mình.

Tôi cũng “ăn dè hà tiện” nhưng tôi ăn bằng muỗng. Cái muỗng rất đặc biệt bằng inox hẳn hoi, có chạm trổ tinh vi và luôn được chùi rửa sáng bóng. Nhưng sáng nay, được chia hai củ khoai lang ăn sáng nên tôi để cái muỗng ở nhà. Tôi thường cất nó vào trong chiếc lon Guigoz – một loại vỏ hộp sữa được chế biến thành đồ dùng rất thông dụng và nhiều lợi ích của hầu hết những anh tù, nó có thể dùng “trăm công ngàn việc” từ đựng các loại thức ăn, thức uống đến đun nấu, câu móc, đựng mắm muối, chứa đồ để dành, tắm rửa đánh răng, rửa mặt. Nhưng hôm nay thì cái muỗng biến mất, tất nhiên là nó đã bị tịch thu trong buổi khám xét trại sáng nay.

Đây là thứ “gia bảo” tôi đã cất giấu nó suốt mấy năm nay chưa hề lơi lỏng. Nó luôn nằm sát bên tôi, lúc đi lao động cũng như khi nằm ngủ. Có thể ví như cái nạng của một anh què, cái gậy của ông lão chín mươi, một thứ đã thành thói quen bám vào cuộc sống.
Sau một buổi trưa mưu toan tính kế, chiều hôm đó tôi quyết định đến gặp Dực, anh chàng trưởng ban thi đua của trại. Dực cũng chỉ là một “trại viên”, nhưng trước đây anh ta là cán bộ, “thoái hóa tiêu cực” sao đó nên bị đi tù. Những anh cán bộ và quân nhân trong trại tù thường được gọi là “phạm binh phạm cán” tức là tội phạm thuộc binh sĩ hoặc cán bộ cũ. Họ có một chế độ đãi ngộ riêng và thường được dùng vào trong các công việc cần đến sự tin cậy của giám thị.

Bữa khai lý lịch, thấy tôi khai là dân huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, Dực liền hỏi quê quán và nhận là người cùng quê. Một lần Dực dẫn chúng tôi đi lấy quần áo ngoài trại chính, qua khoảng đồi núi quanh co, anh ta chỉ tay lên mảng cây cối thưa thớt, nói với tôi rằng “cậu huyện Nhụ nằm ở đó”.
Tôi hỏi anh có họ hàng thế nào với ông Huyện Nhụ, anh ta nói là cháu gọi ông Nhụ bằng cậu, nhưng gia đình cụ Nhụ vào Nam còn gia đình anh vốn là nông dân nên ở lại miền Bắc.

Cụ Nguyễn Mạnh Nhụ trước năm 75 làm chánh án ở tòa án Sài Gòn và tôi nghe nói là cũng có họ hàng với gia đình tôi, nhưng là họ xa. Cụ làm tri huyện từ khi còn rất trẻ. Sau này tôi có gặp cụ vài lần. Tôi kể cho Dực nghe đôi ba chuyện về cuộc sống của cụ huyện Nhụ khi còn ở Sài Gòn. Sau này đi “cải tạo” cụ mất ở trại này. Dực nói là trước khi cụ chết, cụ chỉ thèm được ăn một cái bánh dò. Dực nhắn người nhà ở Thái Bình khi đi thăm nuôi thì ghé qua Hà Nội mua lên vài cái, nhưng khi bánh dò mang lên thì cụ mất rồi.

Từ đó, đối với tôi, Dực có phần dễ chịu hơn. Nhưng dĩ nhiên cái khoảng cách giữa một bên là “ngụy” một bên là “cán” thì khó mà san lấp được…
Nhưng hôm nay thì tôi cần đến hắn. Suốt buổi trưa tôi không gặp được Dực. Cho đến hai hôm sau, khi trại đã xôn xao chuẩn bị cho những ngày Tết tôi mới gặp được Dực. Trong khi đó tôi dò hỏi mấy tay làm văn hóa xem những thứ bị tịch thu còn để trong phòng thi đua không. Họ nói còn để trong kho lẫn lộn với những thứ đồ dùng khác. Tôi mang cho Dực một ít thuốc đau dạ dày của ông anh tôi gửi vào. Rất may cho tôi là hắn cũng bị đau dạ dày. Mà cái thứ thuốc trị bệnh dạ dày ở miền Bắc hồi đó chỉ là tí mật ong trộn với nghệ nên không công hiệu. Tôi có thứ thuốc “cao cấp” hơn là Maalox, uống vào là cơn đau dịu xuống ngay. Thuốc Mỹ đàng hoàng, người ta ghét Mỹ nhưng thuốc của nó tốt thì cứ thích, có sao đâu.

Tôi gạ chuyện để xin lại cái muỗng. Dực trợn mắt:
– “Anh làm cái gì mà cần cái muỗng đến thế? Bây giờ để trong kho, chui vào đấy mà trực trại nó biết thì tôi vào nhà đá.”
Tôi nằn nì:
– “Đấy là đồ gia bảo của tôi đấy. Anh biết không, tôi mất nhiều thứ lắm, một cái bằng lái xe ba dấu, một cuốn tự điển.Nhưng tôi không cần, chỉ cần cái muỗng thôi.”
Dực nhìn tôi nghi ngại:
– “Hay là mày giấu tiền trong đó?”
Dực hơn tôi hai tuổi nên hắn có gọi tôi bằng mày tôi cũng không tự ái, mà dù hắn có kém tôi vài ba tuổi mà lúc đó gọi tôi bằng mày tôi cũng cho qua luôn.
– “Cái muỗng đặc và nhỏ như thế làm sao giấu tiền được?”
Dực nửa đùa nửa thật:
– “Bọn mày thì lắm trò lắm, cái gì chúng mày chẳng làm được. Chưa biết chừng mày giấu cả cái máy quay phim trong đó cũng nên. Tao nghe nói mày có sách làm phim phải không?”
– “Đúng, nhưng là tôi viết truyện rồi người ta lấy làm phim chứ tôi biết cái cóc khô gì.”
– “Vậy sao mày chỉ đòi lấy cái muỗng, mày mua chuộc tao bằng hai vỉ thuốc đau dạ dầy, không bõ. Khéo không chết cả đám. Tao không chơi.”
Tôi thất bại, nhưng vẫn không chịu bỏ cuộc. Chiều hôm đó, Dực lại được lệnh phải làm một cái phòng đọc sách vào dịp Tết. Tôi đang loay hoay dán mấy cành hoa đào lên tấm phông trên hội trường thì Dực kéo tôi xuống. Nó bảo tôi đi khuân sách trên thư viện về hội trường, kê bàn ghế, trang trí thành khu đọc sách báo trong ba ngày Tết cho ra vẻ “có văn hóa”. Nhưng nếu coi thư viện thì không được ăn tết ở phòng mà phải ngồi trực ở hội trường. Tôi nhận lời ngay dù biết rằng sẽ mất cái thú dự những ngày Tết với anh em trong phòng và mất cái thú ngồi đánh mạt chược bằng những con bài gỗ do chúng tôi tự làm lấy.

Thế là tôi lại có dịp lân la nói chuyện với Dực về cái muỗng của tôi. Dực vẫn nghi ngờ rằng tôi có cái gì giấu trong đó. Tôi đành kể cho Dực nghe:
– “Buổi sáng hôm tôi phải đi “học tập cải tạo”, vợ tôi chuẩn bị một số đồ dùng hàng ngày đưa vào túi xách. Đứa con gái của tôi, khi đó mới hơn ba tuổi, thấy mẹ nó bỏ vào túi xách nào là quần áo, khăn mặt, thuốc men… nó đang ăn sáng, cũng bỏ vào xách tay của tôi cái muỗng nó đang ăn và dặn: “con cho bố mượn, khi nào bố về, phải trả lại cho con đấy”.

Tôi ôm con gái gật đầu hứa khi về bố sẽ trả. Nhưng quả thật tôi vẫn nghĩ chẳng bao giờ tôi trả lại được cho nó. Lần chia tay này có thể là vĩnh viễn… Chúng tôi ngậm ngùi chia tay, không thể hẹn được ngày về vì có biết ngày nào về đâu mà hẹn!
Thế là từ đó, cái muỗng theo tôi suốt trong những bữa ăn, suốt trong những giấc ngủ. Hình ảnh con gái và gia đình tôi hiện lên qua cái muỗng đó. Tôi vẫn đánh lừa tôi rằng tôi đang được ăn bên con gái, bên những người thân. Dù tôi biết rất rõ sự lừa dối ấy là một niềm ước vọng không bao giờ thành hiện thực, nhưng vậy mà đôi lúc tôi cũng thấy ấm lòng.

Nghe câu chuyện ấy, Dực tỏ ra chần chừ, nhưng hắn vỗ vai tôi:
– “Thôi được, nếu đã là như thế thì tôi giúp cậu. Tối nay, khi ngồi coi phòng đọc sách, tôi sẽ giữ phần bánh chưng lại cho cậu, tôi sẽ gọi cậu xuống phòng thi đua cho cậu ngồi ăn ở đó, trong khi tôi gọi ban thi đua lên phòng hội thì tôi giả vờ để quên chìa khóa kho. Cậu mở cửa vào lấy, có gì thì cậu chịu trách nhiệm. Nó mà vớ được thì ‘kỷ luật’ suốt cái Tết này đấy, chưa biết chừng suốt mùa xuân.”
Chẳng còn cách nào khác, tôi đành làm theo cách “ăn trộm” này. Tối đó tôi mở khóa mò vào gian nhà kho. Ánh điện từ nhà ngoài hắt vào, vừa đủ soi sáng cái đống hầm bà làng đủ thứ đồ dùng lặt vặt vừa bị thu mấy hôm trước. Tôi sục ngay vào cái đống linh tinh đó, quả là những anh bạn tù của tôi có lắm trò chơi thật.

Thôi thì đủ thứ, cái điếu cày được làm bằng những ống hỏa châu hoặc những cáng băng ca được cắt ngắn, chạm trổ rồng phượng, khắc gọt rất tinh vi. Những cái trâm cài đầu, những cái lược cho con gái hay cho người yêu, làm bằng nhôm được khắc những cái tên “Hồng Hoa, Bích Phượng, Thúy Hường…” nghe nao cả lòng. Những con dao nhỏ xíu, những cái muỗng gò bằng tôn cũng có hoa lá cành xinh xắn. Tất cả những cái gì bằng sắt đều nằm gọn ở đó.
Sách vở tiếng Anh tiếng Pháp và đủ thứ giấy tờ lộn xộn. Cái mà tôi kiếm được trước tiên lại là cái bằng lái xe của tôi. Tôi không dại gì mà không đút vào túi, dù chẳng biết để làm gì. Tôi lại hì hục lục tiếp, vừa hồi hộp vừa phải thật nhanh tay, tôi đâm ra lính quýnh. Dù chỉ một tiếng động nhỏ cũng khiến tôi giật mình. Cái muỗng của tôi vẫn chưa tìm thấy. Ruột nóng như lửa đốt, tôi bới tung hết cả cái đống ấy và đâm hốt hoảng nếu cái muỗng không còn ở đó nữa. Nhưng may quá, cái muỗng kia rồi, nó nằm dưới cuốn sách dày cộm của “thằng chết tiệt” nào đó. Nó chỉ thò ra có mỗi cái đuôi, tôi cũng nhận ra nó ngay. Lúc đó tôi có cảm tưởng như “con có ở xa hàng cây số thì bố cũng cứ nhận ra con như thường”.

Tôi vồ lấy nó như sợ bị người ta giật mất. Tôi nhìn cái hoa văn chạy dọc theo cán muỗng mà tôi đã quá thân thuộc như chính cái nét mặt con gái tôi khi nó “nhí nhảnh” đưa cái muỗng vào trong túi xách. Nó vẫn cứ tưởng là một chuyện vui, bố đi chơi rồi mai bố về. Ừ thì vui. Tôi cười trong nụ cười mếu máo của mẹ nó và trong nụ cười hồn nhiên của nó. Không hiểu sao trong lúc gay cấn như thế mà hình ảnh xưa lại hiện lên rất nhanh như một ánh chớp. Tôi vọt ra khỏi phòng khóa cửa lại, biến nhanh vào bóng tối trên con đường về “khu biệt kích”. Thoát nạn! Cái Tết ấy tôi lại được vui chơi với cái muỗng của tôi, dù tôi đã phải hy sinh suốt ba ngày, trong khi mọi người được nghỉ ngơi thì tôi cứ phải quanh quẩn trong cái “phòng đọc sách” chẳng có ma nào thèm ngó đến ấy.

Những dịp nghỉ ngơi như thế cũng hiếm hoi như chuyện được ăn một bữa cơm đúng là cơm chứ không phải khoai sắn hay bo bo. Nhưng quả là tôi thấy hạnh phúc dù ngồi thui thủi một mình. Tôi có cái muỗng rồi, còn cần gì vui chơi nữa. Đó chính là mùa xuân của tôi.
Nhưng không phải đó là một lần duy nhất tôi phải “cứu lấy” cái vật gia bảo của mình. Hai lần sau cũng tương tự, cũng bị tịch thu rồi cứu lại được cứ như sắp ra pháp trường rồi lại được cứu. Chỉ tiếc rằng người cứu tôi không phải là người bạn đồng minh đã từng chiến đấu với các đồng ngũ của tôi trong những năm qua, người đồng minh đó đã “gan dạ” cuốn cờ chạy nhanh và chạy xa quá rồi. Thôi thì tôi tự cứu lấy cái muỗng của tôi vậy.
Một lần khác, tôi lội qua con suối sau cơn mưa lớn. Chỗ chúng tôi làm phải đi qua một con suối, gọi là suối lạnh. Bình thường nó cạn, dòng nước trong vắt dịu dàng trôi lờ lững trên những tảng đá xanh. Chúng tôi thường dùng nơi này làm bến tắm. Nhưng cứ có một cơn mưa lớn là nước từ những triền đồi vây quanh bốn hướng ào ạt đổ xuống, chỉ cần nửa giờ sau là con suối trở nên hung hãn, nước chảy cuồn cuộn và mang theo những cành cây, những khúc gỗ lao băng băng. Chúng tôi phải gấp rút lội qua con suối trở về trước khi con suối trở thành hung dữ. Sang gần tới bờ bên kia, tôi loạng chọang làm đổ cái túi đồ đựng những thứ lặt vặt trong đó có cái muỗng. Ở đây tôi thuộc từng khe đá nên tôi không ngần ngại nhoài người xuống mò.

Anh bạn nhảy dù, la lên:
– “Bộ ông điên sao?”
Tôi điên thật, hy vọng mình mò được. Nhưng nước chảy xiết quá tôi lại thua. Anh bạn nhảy dù trẻ, què một tay vì bị thương ngoài chiến trường, rất hiểu tôi nên anh đi xa hơn một chút và khom người xuống, thò một tay ra cái khe hòn đá là tìm được lại cho tôi được cái muỗng. Đôi mắt anh rất tinh, anh mỉm cười:
– “Tôi biết ông mất cái gì rồi.”

IV.
Chuyện trớ trêu là hơn 12 năm sau, tôi đã trở về, nhưng chưa trả lại cái muỗng cho con tôi được vì mẹ con nó đã vượt biên, định cư ở nước ngoài. Hơn hai mươi năm, tôi chưa hề gặp lại con gái tôi. Tính đến năm nay là 27 năm, con gái tôi đã 30 tuổi. Ngày 29 tháng 9-2002 vừa qua, cháu đã lập gia đình ở Miami Florida.
Nhận được thiệp báo tin, tôi không biết mình vui hay buồn. Hình như không phải là vui hay buồn mà là một thứ cảm giác kỳ lạ cứ lơ lơ lửng lửng lẫn lộn. Chú thím nó và các anh chị nó ở Mỹ đều hẹn nhau đi dự đám cưới. Tôi thì không, chẳng hẹn hò được điều gì cả và chẳng làm được cái gì cả. Tôi có cảm giác như mình thừa. Rất may là trước ngày đám cưới, cô chú nó về Sàigòn, chính tay tôi gửi được tấm thiệp mừng con gái. Tôi gửi theo cái muỗng trả lại cho con gái tôi như lời hứa 27 năm về trước. Vật đó có thể thay cho sự có mặt của tôi không? Tôi không biết. Nhưng tôi chỉ nghĩ rằng gửi cho cháu để cháu hiểu rằng lúc nào tôi cũng coi như cháu còn nhỏ lắm, như mới hôm qua hai bố con còn ở bên nhau. Tôi đi chơi đâu đó và hôm nay trở về. Nhưng cháu đã đi xa và tôi còn ở lại Sàigòn, nơi nó đã sinh ra. Cháu sẽ nghĩ gì, tôi không biết.

Nhưng vài hôm sau thì có một điều tôi biết rất rõ là từ khi cái muỗng được gửi đi, tôi cảm thấy trống trải như mất mát một cái gì, xa vắng một cái gì thân thiết hàng ngày ở bên mình. Tôi cho rằng nó cũng giống như cái cảm giác của những ông bố bà mẹ khi cho con gái mình đi lấy chồng xa. Nỗi buồn lâng lâng bay chập chờn khắp nơi. Nhưng đó chính là sợi dây vô hình nối liền mãi mãi tình thương yêu dù ở bất kỳ nơi nào trên hành tinh này. Cuối cùng người ta chỉ còn lại cái tình. Cái tình ấy dù gửi đi tới đâu cũng vẫn còn lại, đôi khi lại mạnh mẽ và sâu sắc hơn, chỉ khi nào người ta tự đánh mất nó thì nó mới mất mãi mãi. Tôi chắc chẳng ai dại gì làm mất cái thứ báu vật đó trên đời không gì có thể so sánh được.

Lẽ ra chuyện này tôi đã viết ngay từ tháng 9/2002 nhân dịp cháu lập gia đình. Nhưng tôi ngồi mãi trước computer, không gõ được chữ nào, đầu óc lung tung. Dường như khi cảm xúc quá đầy, người ta không thể làm gì được ngoài việc cứ để cho nó tuôn trào lênh láng như ngồi dưới cơn mưa. Không nghĩ ngợi gì cả, không làm gì cả, cứ ngửa mặt lên cho mưa đầy mặt, thế thôi! Đúng là chuyện của người thì nhanh mà chuyện của mình thì nghẹn. Mãi đến hôm nay tôi mới ghi lại được những dòng chữ này, nhưng tôi cho rằng chẳng bao giờ muộn vì nó là thứ chuyện của cả một đời hay là của muôn đời.

Văn Quang
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Users browsing this topic
Guest (2)
103 Pages«<101102103
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.