Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

107 Pages«<105106107
Options
View
Go to last post Go to first unread
CỏThơm  
#2121 Posted : Friday, November 13, 2020 1:15:46 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 192
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)


UserPostedImage


áo em bay mát rượi nắng sân trường


Anh trở lại bàn chân vừa chạm ngõ
Gia Định thành xưa quen thuộc một thời
Tưởng đã quên. Mà sao lòng cứ nhớ
Cầu Chữ Y biền biệt mấy mươi năm

Ngã tư Bảy Hiền vời vợi người trông
Màu áo lụa trắng ngời ngời con mắt
Bởi vì em nên mây trời xuống thấp
Níu đời anh- chầm chậm- tháng giêng- hai

Phố Thị Nghè giờ chắc chẳng còn ai
Ngồi chải tóc- soi gương- chờ tiếng gọi
Qua Hàng Xanh anh thẫn thờ bước vội
Nghe trái tim đau đáu thuở học trò

Sài Gòn ơi! Ngày ấy quá xa mờ
Trong ký ức xanh xao buồn bật khóc
Tình mới chớm- là tình mong manh nhất
Dễ dàng phai như màu lá thu phai

Có phải xuân hồng điểm xuyết cành mai
Mang gió tết nhuộm vàng bông hoa nở
Góc phố cũ- một mình anh đứng đợi
Áo em bay mát rượi nắng sân trường



Linh Phương



UserPostedImage
Hạ Vi  
#2122 Posted : Sunday, November 22, 2020 11:12:57 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,588
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)



Một Trời Thái Thanh

UserPostedImage

Nhã Ca

25 tháng Ba năm 2020 tang lễ Thái Thanh. California đang mùa đại dịch Covid-19. Không thể ra khỏi nhà. Tôi ngồi lặng lẽ cầu nguyện và nhớ chị.

Từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước, khi Sài Gòn còn là thủ đô Việt Nam Cộng Hoà, tôi có duyên may, được làm việc bên chị Thái Thanh. Hằng tuần, liên tục nhiều năm, hai chị em cùng chủ trương một chương trình phát thanh, kết hợp bài hát với bài viết để nói lên tình tự quê hương.

Người hát- người viết, nhờ đó mà thân quí. Và càng thêm thân quí hơn, khi cả nước bị bức màn tre, bức màn sắt trùm kín. Sách báo, băng nhạc bị hỏa thiêu. Văn học, nghệ thuật bị khai trừ. Giáng sinh năm 1975, tám tháng sau đổi đời, trong khi chờ đợi đi cải tạo và tan tác, một số bằng hữu nghệ sĩ Sài Gòn tìm lại ngồi bên nhau.

Họp mặt nửa đêm Noel năm ấy, trong ánh nến long lanh, bỗng vang lên tiếng ai đó dục giã: “Hát đi, Hát đi chứ.” Rồi nghe giọng chị Thái Thanh tinh nghịch, ra vẻ như ta đây đàn chị, yểu điệu dỗ dành: “Ừ, thì hát. Hát nhé.” Và tiếng hát vút lên cao, bất chấp mọi rình mò hù dọa.

Tiếng hát Thái Thanh. Thêm tiếng đàn Hoài Bắc. Vẫn những cung bậc quen, những làn điệu cũ.

Từng nhịp, từng lời, nối tiếp nhau bay bổng. Chỉ vậy thôi, mà sao có lúc tôi thấy có gì đó rơi vỡ, rồi thấy mình nhoà lệ. Không. Không chỉ mình tôi khóc. Chẳng hiểu bằng cách nào, tôi biết tất cả đều khóc. Sau này hỏi thêm, tôi biết chị Thái Thanh là người khóc nhiều nhất, vì hầu hết những người họp mặt đêm ấy đều đã ra đi. Tiếng hát Thái Thanh đi theo họ. Nhiều người mang tiếng hát ra biển. Có người đi mà không bao giờ đến.

Không biết họ ra sao nhưng tiếng hát Thái Thanh những ngày này đang được nghe khắp năm châu bốn biển.

Tiếng hát ấy cũng đang ở trên trời, như thơ người tù khổ sai Trần Dạ Từ:

Sớm mai vác rựa vô rừng
Chợt nghe chim hót tưng bừng một phương
Điệu gì lơ lửng khói sương
Đúng là ông Phạm Đình Chương đây rồi
Ai kia lã lướt khóc cười
Véo von tiếng hát một trời Thái Thanh


Một trời Thái Thanh. Tiếng hát chị Thái. Tiếng hát bạn tôi đã lên trời. Bầu trời quê hương cũng chính là lòng người, cả hai miền Nam Bắc




UserPostedImage
Nhớ Thái Thanh - Minh họa: Đinh Trường Chinh



UserPostedImage
CỏThơm  
#2123 Posted : Thursday, December 3, 2020 12:06:28 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 192
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)


Những Ngôi Chợ Sài Gòn Trước 1975



Credit video: Dòng Nhạc Vàng





UserPostedImage
Hạ Vi  
#2124 Posted : Tuesday, December 15, 2020 4:34:01 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,588
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)



UserPostedImage


Ngợi ca tháng Chạp



Tháng Chạp về rồi bé thấy không?
Cỏ nép trong cây vẫy lá mừng
Hồn anh vội vã giăng mưa bụi
Rơi xuống cho vừa lạnh nhớ mong

Tháng Chạp về rồi bé thấy không?
Một chút màu xanh một chút hồng
Một chút vàng mơ và tím nhạt
Chưa giao thừa đã Tết trong anh

Tháng Chạp về rồi bé thấy không
Gió thôi làm rớt lá sầu đông
Anh đem nhốt nắng vào đôi mắt
Nung chảy tim thành vạn giọt sương

Tháng Chạp về rồi bé biết không?
Guốc mới ai khua ngõ nội thành
Ðể cho rêu cũ – vàng son cũ
Thức dậy buồn lên đỉnh phố xanh

Tháng Chạp về rồi bé biết không?
Không dưng lòng bỗng thấy băn khoăn
Xé tờ lịch cũ vơi năm tháng
Tình có phai dần theo tháng năm?

Tháng Chạp về rồi bé thấy không?
Anh nằm dưới cỏ nghe Mùa Xuân
Nghe sông đổ nước xuôi ra biển
Nghe biển phụ tình quên nước sông

Tháng Chạp về rồi bé vui không?
Xuân đem rượu cất ở trong lòng
Trong men cứ ngỡ mình vừa thoáng
Thấy bóng ai về trong nắng hanh.



Mường Mán





UserPostedImage
Duy An  
#2125 Posted : Wednesday, January 6, 2021 7:10:57 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,278

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Lính Nghĩ Gì? – Người lính Cộng Hòa trong dòng nhạc Lam Phương



SANTA ANA, California (NV) – Nhạc sĩ Lam Phương là một trong số các nhạc sĩ của miền Nam Việt Nam hồi trước 1975,
như Trần Thiện Thanh, Anh Bằng, Trúc Phương, Anh Thy, Nguyên Vũ, Hoàng Thi Thơ… có nhiều bản nhạc viết về người lính chiến Việt Nam Cộng Hòa.


UserPostedImage
Nhạc sĩ Lam Phương. (Hình: Trần Triết)


Trong khi nhạc Trần Thiện Thanh nổi tiếng vì các ca khúc vinh danh những anh hùng đã bỏ mình trong cuộc chiến (Anh Không Chết Đâu Anh, Người Ở Lại Charlie, Bắc Đẩu, Người Chết Trở Về…) và nhạc của Anh Thy cũng như Nguyên Vũ thì viết về tình yêu lã lướt giữa các chiến sĩ Hải Quân với những người em gái hậu phương (Hoa Biển, Tâm Tình Người Lính Thủy, Vùng Biển Trời Và Màu Áo Em, Thoáng Giấc Mơ Qua…), thì nhạc của Lam Phương thường nói đến những hy sinh, gian khổ nơi sa trường cùng với tình yêu đôi lứa của những người lính phải xa nhà, xa người yêu vì cuộc chiến.


Người chiến sĩ Cộng Hòa trong dòng nhạc của Lam Phương có thể là một anh tân binh quân dịch, tuy bước chân vào lính nhưng lòng vừa nặng nợ núi sông mà cũng vừa nặng tình với người yêu bé nhỏ nơi quê nhà, chỉ vì nàng chẳng màng chuyện kén chọn nơi giàu sang để trao thân, gởi phận mà chỉ cần người yêu của mình biết làm tròn bổn phận người trai mùa tao loạn, hăng hái lên đường tòng quân để bảo vệ quê hương đang bị Cộng Sản xâm lược là được rồi:

“Đời thường tìm sang giàu đến
Lòng này thì khác người ơi
Ước thề hứa duyên cho người
Cầm cây súng tòng quân tươi cười…”
(Bức Tâm Thư)


Người lính miền Nam Việt Nam đã tham gia chiến đấu ngay từ những ngày đầu của nền Cộng Hòa khi Hiệp Định Geneva 1954 phân chia nước Việt Nam thống nhất thành miền Bắc Cộng Sản và miền Nam Tự Do, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Ngày đó, các cán binh Cộng Sản vẫn còn được cài đặt lại để chờ ngày nổi dậy chống lại chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là tại vùng Đồng Tháp Mười và Cà Mau, nơi người lính chiến phải luôn vững tay súng để bảo vệ an ninh thôn xóm và cuộc sống yên lành cho người dân:

“Khi người lính chiến đã đấu tranh giữ hòa bình cho Đồng Tháp, Cà Mau
Ta người nông thôn quên sương gió, góp gian lao cho được mùa mong cầu…”
(Nắng Đẹp Miền Nam)


Đã chọn đời lính thì có nghĩa là chấp nhận mọi gian khổ, hiểm nguy. Và nếu chưa có người yêu nơi hậu phương thì người lính cũng có những mất mát tình cảm khi phải xa cách bạn bè thân yêu thuở thiếu thời, với bao mộng ước về tương lai:

“Rồi ngày mai ra đi, chốn biên thùy anh sá chi gian nguy
Có bao giờ anh nhớ chăng đêm nào nằm gần nhau
Hồn say mộng ước mai sau…”
(Tình Anh Lính Chiến)



UserPostedImage
Hình bìa nhạc phẩm “Biết Đến Bao Giờ” của Lam Phương xuất bản tại Sài Gòn trước năm 1975. (Hình: Tài liệu gia đình)


Người lính trong nhạc của Lam Phương bằng lòng chấp nhận những gian khổ, hiểm nguy chỉ vì lòng yêu quê hương, đất nước, mặc dù chàng vẫn tự nhủ lòng rằng sẽ yêu em cho đến trọn đời:

“Anh chốn biên thùy, đường hành quân gian nguy
Gió sương không nề vì tình dâng quê hương…”
(Thương Nhau Trọn Đời)


Chàng trai lính chiến trong nhạc của Lam Phương thường tìm cách an ủi người yêu khi xa cách, với niềm hy vọng vào một ngày mai tươi sáng:

“Em ơi anh đi vì nước non mình đợi chờ
Muôn quân đang reo lửa khói tung ngập màu cờ
Thân trai ra đi vì nước đôi vai gánh nặng
Buồn chi cách xa vì ngày vui sẽ không xa…”
(Buồn Chi Em Ơi)


Đã làm thân lính chiến thì những cách ngăn là điều không thể nào tránh khỏi trong tình yêu đôi lứa, bởi vì lúc quê hương có chiến tranh chính là “lúc non sông cần trai hùng:”

“Khi chiến tranh còn gây thêm máu lửa
Thì mộng mơ xin trả hết cho đời
Quê hương này còn mãi mãi nhờ anh…”
(Đêm Tiền Đồn
)

Tuy nhiên, nói gì thì nói, người lính chiến cũng không tránh khỏi nỗi buồn trĩu nặng trong tâm tư vì nhớ nhung người yêu nơi quê nhà xa xôi ấy, nhất là vào những đêm dài ngồi ôm súng ngăn giặc thù nơi rừng sâu, núi thắm. Và phải chi ngày nào anh chiến sĩ đừng hẹn hò, yêu đương với người em gái hậu phương thì ngày nay có đâu buồn đau:

“Nếu hôm xưa không đến tìm em với muôn lời nồng say
Thì giờ trong bóng đêm, tình đâu vấn vương và biết tìm ai nhớ thương
Đêm nay gối súng viết lên dòng thơ gởi em…”
(Đêm Dài Chiến Tuyến)



UserPostedImage
Nhạc phẩm “Biết Đến Bao Giờ” của Lam Phương xuất bản tại Sài Gòn trước năm 1975. (Hình: Tài liệu gia đình)


Dường như những lúc chiều buông chính là những giây phút người chiến sĩ hay nhớ về người yêu nghìn trùng xa cách giữa khi đất nước còn chinh chiến, điêu linh:

“Có những chiều mưa buồn giăng giăng khắp lối
Có những chiều giá lạnh tím cả hoàng hôn…
Tôi đây mang tâm tư anh lính xa nhà
Mà lòng vẫn thấy xót xa, vì non nước còn đau buồn…”
(Chiều Hoang Vắng)


Dù năm tháng cứ trôi qua với bao mùa Thu lá đổ, người lính chiến miệt mài nơi rừng sâu, núi thẳm vẫn một lòng chung thủy với người tình bé nhỏ miền xa, với biết bao niềm nhung nhớ khi vơi, khi đầy. Đáp lại, người em gái chốn quê nhà lúc nào cũng nhớ đến chàng trai lính chiến đang dãi dầu sương gió nơi sa trường, với lòng hoài vọng một ngày mai sum vầy bên túp lều tranh lý tưởng:

“Chiều nào lặng lẽ nhớ người trai đi chiến chinh
Lời thề hôm nao không nhạt phai theo tháng năm
Một mảnh trăng Thu một mối tình
Trọn đời êm ấm cùng mái tranh…”
(Mấy Độ Thu Về)


Người con gái ấy luôn nhớ tới người trai nơi chiến trường, nhất là những buổi chiều sương xuống lạnh, lòng băn khoăn tự hỏi không biết người tình ngoài biên cương có chạnh nhớ đến mình hay không, để rồi lòng nguyện lòng sẽ chung tay, góp sức với người yêu lính chiến để cùng nhau bảo vệ và xây dựng đất nước thêm tươi đẹp mai sau:

“Anh ơi, chiều nay sương xuống lạnh
Sa trường, anh có nhớ em không?
Rồi đây, bên chí trai tang bồng
Em đem chút má hồng
Để cùng xây đắp non sông…”
(Mộng Ước)


Nếu người lính chiến trong nhạc phẩm “Anh Về Với Em” của Trần Thiện Thanh đã an ủi người yêu trước cảnh lứa đôi chia lìa bằng câu “Làm người yêu lính chiến mấy ai tròn đôi” thì người chiến binh trong ca khúc “Biết Đến Bao Giờ” của Lam Phương đành lòng chấp nhận “cuộc đời chỉ ân ái với cánh thư hồng ấp yêu,” nếu không thì cũng phải “chờ đến Xuân về chiều:”

“Rừng là rừng chập chùng, giá lạnh trai chiến trường
Đêm nay xa quê hương, xa lìa tiếng nói người thương
Ngày anh lên đường chiến đấu, hoa lòng đã nở tình yêu
Nhưng chờ đâu thấy người anh yêu, chờ đến Xuân về chiều…”
(Biết Đến Bao Giờ)


Nhạc lính của Lam Phương tuy không đượm màu tang tóc, thê lương và bi tráng như nhạc lính của Trần Thiện Thanh nhưng lại buồn rười rượi hay ít ra thì cũng man mác buồn trước những cuộc tình phải chia xa vì khói lửa chiến chinh, với hoàn cảnh của biết bao thân trai giữa mùa ly loạn.

Nhưng nếu xét về vận số trong cuộc đời thì có lẽ Lam Phương – và có thể cả các nhạc sĩ Minh Kỳ, Trúc Phương và Nguyễn Văn Đông nữa – đã không gặp nhiều may mắn như những kẻ từng đồng hội, đồng thuyền với mình. Vào những năm tháng cuối đời, nhạc sĩ Lam Phương đã bị bệnh tật bủa vây cùng với niềm cô đơn chất ngất khi “nắng xuyên qua lá, hạt sương lìa cành, đời mong manh quá kể chi chuyện mình, nắng buồn cuộc tình bỗng tắt bình minh…” (Một Mình).


UserPostedImage
Bìa các nhạc phẩm “Đêm Dài Chiến Tuyến,” “Chiều Hoang Vắng,” “Mộng Ước” của Lam Phương xuất bản tại Sài Gòn trước năm 1975. (Hình: Tài liệu gia đình)


Nhạc sĩ Lam Phương qua đời vào lúc 6 giờ chiều ngày 22 Tháng Mười Hai, 2020, tại bệnh viện Fountain Valley Regional Hospital ở Orange County, miền Nam California, để lại cho đời hàng trăm ca khúc tuyệt vời, gồm những nhạc phẩm sáng tác trước năm 1975 và sau này tại hải ngoại. Có thể nói rằng mấy dòng nhạc sau đây trong ca khúc “Một Đời Tan Vỡ” của chính tác giả đã phản ánh đúng cuộc đời tình ái của người nhạc sĩ vừa tài ba vừa nổi tiếng đào hoa nhưng thiếu may mắn này:

“Tình ơi sao đen như áng mấy chiều Đông
Gió heo hút con tim lạnh căm
Đời sương gió bước chân lẻ loi, âm thầm
Giây phút yêu đương xa vời lắm…”


Tưởng niệm một nhạc sĩ tài hoa, hiền hậu và dễ mến như Lam Phương, có thể người ta phải nghĩ ngay đến thuyết “tài, mệnh tương đố” (“chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau,” tức là hễ người tài ba thì hay gặp định mệnh khắt khe) của người xưa – mà tiêu biểu là cuộc đời đầy sóng gió của nàng Vương Thúy Kiều tài, sắc vẹn toàn, nhân vật chính trong tuyệt tác phẩm “Đoạn Trường Tân Thanh” của đại thi hào Nguyễn Du hồi thế kỷ 19 – qua hai câu thơ: “Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau…”


Vann Phan/Người Việt
Dec 26, 2020

UserPostedImage
CỏThơm  
#2126 Posted : Saturday, January 23, 2021 1:53:49 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 192
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)


TIẾNG "DẠ" thân thương !


UserPostedImage


🌻.Nghe tiếng "Dạ" sao mà thương đến lạ. Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ "dạ" khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ "vâng". Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ
"vâng". Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói "vâng!" là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt.

Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ "dạ" vào mỗi câu nói:

''Mày ăn cơm chưa con ?

- Dạ, chưa!"

"Mới dìa/dzề hả nhóc?

- Dạ, con mới!"…

Cái tiếng "dạ" đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó "thương" lạ...dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác.
Nghe một tiếng "dạ" là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẵng hay...

Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói:

"Từ bữa đó đến bữa nay", còn người Sài Gòn thì nói: "Hổm rày", "dạo này"…

Người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ "ghê" phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng.

Tiếng "ghê" đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là "nhiều" là "lắm". Nói ''Nhỏ đó xinh ghê!", nghĩa là khen cô bé đó xinh lắm vậy. Lại so sánh từ "hổm nay" với "hổm rày" hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một
ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ "hổm rày, miết…" là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất miền
Nam chung mà.

Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem… "Nhỏ đó dễ thương ghê!", "Nhỏ đó ngoan!"… Tiếng "nhỏ" mang ý nghĩa như tiếng "cái" của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi "nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên"
thì cũng như "cái Thuý, cái Uyên, cái Lý" của người Hà Nội thôi.

Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu "Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề… nhìn phát bực!" Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm.

Một người lớn hơn gọi:

"Ê, nhóc lại nói nghe!"

Hay gọi người bán hàng rong:

"Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!"…

"Ê" là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người SàiGòn.

Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường quên mất từ "bán", chỉ nói là:

"Cho chén chè, cho tô phở"…

"Cho" ở đây là mua đó nghen.

Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này:

"Lấy cái tay ra coi!"

"Ngon làm thử coi!"

"Cho miếng coi!"

"Nói nghe coi!"…

"Làm thử" thì còn "coi" được, chứ "nói" thì làm sao mà "coi" cho được nè ? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ "coi", cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà.

Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi:

"Mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?"

– Mà "dzậy ta" cũng là một thứ "tiếng địa phương" của người Sài Gòn à.

Người Sài Gòn có thói quen hay nói:

"Sao kỳ dzậy ta?"

"Sao rồi ta?"

"Được hông ta?"…

Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà...hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.

Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… "bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!"

Mà giọng Sài Gòn đã thế, cách người Sài Gòn xưng hô, gọi nhau cũng có phần mang "màu sắc" riêng.


UserPostedImage


Người Sài Gòn có cái kiểu gọi "Mày" xưng "Tao" rất "ngọt". Một vài lần gặp nhau, nói chuyện ý hợp tâm đầu một cái là người Saigon mày tao liền. Nếu đúng là dân Sài Gòn, hiểu người Sài Gòn, yêu người Sài Gòn sẽ thấy
cách xưng hô ấy chẳng những không có gì là thô mà còn rất ư là thân thiện và gần gũi.

Mày-tao là kiểu xưng hô hay thấy trong mối quan hệ bạn bè của người Sài Gòn. Cách xưng hô này thấy dàn trải từ đủ các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu, cho đến mấy bác mấy anh lớn lớn tuổi.

Hổng biết cái máu dân Sài Gòn nó chảy mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó... tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ như "cậu cậu - tớ tớ" của miền Bắc. Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi mấy tiếng mày
mày tao tao thì nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và khoai khoái làm sao ấy. Gọi thế thì mới thiệt là dân Sài Gòn.

Đấy là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi nhau, chứ còn như đám nho nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú thì khác. Khi ấy "tụi nhỏ" sẽ gọi là chú, thím, cô, dì, hay bác và xưng "con" ngọt xớt. Có vẻ như người
Sài Gòn "ưa" tiếng chú, thím, dì, cô hơn; cũng như đa phần dân miền Nam khác vậy mà. Mà có lẽ cách gọi này cũng còn tuỳ vào việc ước lượng tuổi của người đối diện.

Gặp một người phụ nữ mà mình nhắm chừng tuổi nhỏ hơn mẹ mình ở nhà thì:

“Dì ơi dì...cho con hỏi chút...!" -

Còn lớn hơn thì dĩ nhiên là "Bác ơi bác..." rồi.

Những tiếng mợ, thím, cậu,... cũng tuỳ vào vai vế và người đối diện mà gọi. Có người chẳng bà con thân thuộc gì, nhưng là bạn của ba mình, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó cứ thế gọi luôn là thím.

Gọi thì gọi thế, còn xưng thì xưng "con" chứ không phải "cháu cháu" như một số vùng khác.

Cái tiếng "con" cất lên nó tạo cho người nghe cảm giác khoảng cách giữa mình với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng… gần xịt lại. Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng. Tự dưng là thấy có cảm tình liền. Nói tiếp
chuyện xưng hô, người Sài Gòn có kiểu gọi thế này :

Ông đó = Ổng

Bà đó = Bả

Dì đó = Dỉ

Anh đó = Ảnh

Chị đó = Chỉ

Cô đó = Cổ

Còn nữa:

Ở bên đó = Ở bển

Ở trong đó = Ở trỏng

Ở ngoài đó = Ở ngoải

Hôm đó = Hổm.

Nói chung, khi cần lược bỏ chữ "đó", người ta chuyển thanh ngang hoặc thanh huyền thành thanh hỏi. Không hiểu sao mà dấu hỏi tự nhiên cái trở nên giữ vai trò quan trọng... ngộ nghĩnh dzậy nữa. Nhưng mà kêu lên nghe
hay hay đúng hông? Gọi vậy mới đúng là chất miền Nam - Sài Gòn á nghen. Người Sài Gòn cũng có thói quen gọi các người trong họ theo... số. Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy, mợ Năm... Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà hổng biết nói về ai thì dzậy nè, thêm tên người đó vào.

Thành ra có cách gọi: Chị Hai Lý, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng... Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà thì tiếng "anh-chị-em" đôi khi được...giản lược mất luôn, trở thành:

"Hai ơi Hai, em nói nghe nè..." và "Gì dzạ Út ?"... Tôi thích cách gọi này, đâm ra ở nhà gọi Dì Út tôi chỉ là một tiếng Út gọn lỏn. Có chuyện nhờ là cứ "Út ơi...con nhờ chút!" hoặc với mấy chị tôi thì "Hai ơi Hai...
em nói nghe nè!".

Cách gọi này của người Sài Gòn nhiều khi làm người miền khác nghe hơi... rối. Cách xưng hô của người Sài Gòn là vậy. Nghe là thấy đặc trưng của cả một mảnh đất miền Nam sông nước. Cứ thế, không sang trọng, điệu đà
như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Kinh Thành, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước miền Nam, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái "chất Sài Gòn" chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn.

Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng "Dạ!" cùng những tiếng "hen, nghen" lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương...


Quý Nguyễn

Edited by user Tuesday, July 27, 2021 11:39:24 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Duy An  
#2127 Posted : Tuesday, February 23, 2021 7:16:11 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,278

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
UserPostedImage



MỘT THỜI VELOSOLEX
- Tạp ghi Huy Phương


Trong những hình ảnh được lưu lại của Sài Gòn năm xưa, hình ảnh một thiếu nữ mặc áo dài trắng đi chiếc Velosolex màu đen chạy trên đường phố, có lẽ là hình ảnh đem lại cho tôi nhiều kỷ niệm nhất, nhắc nhở lại một quãng thời gian dài đã xa, mà chính mình cũng đã gắn bó với chiếc xe này.

Sản phẩm Velosolex do hai nhà sản xuất Pháp là Maurice Goudard và Marcel Mennesson cho ra đời tại Paris năm 1946, sau khi Thế Chiến Thứ II chấm dứt. Velosolex đơn giản là một chiếc xe đạp với một động cơ treo trên tay lái. Ðộng cơ có một khối kim loại cứng, hình ống, nhám để cọ xát vào lốp bánh xe trước để đẩy bánh xe đi, do vậy bánh xe trước phải luôn luôn bơm hơi căng cứng. Người sử dụng khởi động bằng cách đạp xe cho có trớn vài mét, xong đẩy bộ máy rời “ghi đông” để khối kim loại tròn ép sát với bánh xe.

Xe chỉ chạy với tốc độ từ 15 mph đến 20 mph, và cũng tùy thuộc mặt đường. Xe không thể lên dốc, người sử dụng phải đạp phụ. Mỗi lần trời mưa, bánh xe bám bùn đất, Velosolex trở nên trơn trượt, rất khó khởi động, mặt khác, ổ gắn bu-gi của xe phơi ra ngoài, gặp trời mưa bị ẩm cũng khó nổ máy, do đó Velosolex chỉ dễ sử dụng trên những con đường khô ráo, bằng phẳng.

Bộ máy xe cho phép người lái treo lên tay lái, để bỏ động cơ và đạp Velo giống như bất kỳ chiếc xe đạp nào khác, trong trường hợp xe hết xăng hay máy trục trặc không nổ.

Khi một chiếc Velosolex hết thời, máy móc rệu rã, nó sẵn sàng vứt bỏ cái đầu máy thường ngày vẫn treo trước “ghi-đông” để gia nhập với hàng ngũ xe đạp “bình dân”.

Velosolex dầu sao cũng vang bóng một thời, ra đời từ năm 1946 và chính thức giã từ thế giới, tạm ngừng sản xuất tại Pháp vào năm 1988, chuyển qua Tàu và Hungary nhưng rồi cũng đi vào quá khứ, sau khi đã bán được hơn 7 triệu chiếc.

Chiếc xe Velosolex đầu tiên tôi có, mua năm 1960, sau khi ra đời, đi dạy học vài năm và chuẩn bị lập gia đình, tại một đại lý ở Huế, xe được chở từ Sài Gòn ra. Ở Việt Nam trong thời đó thì những ai có tiền, lương cao mới có thể mua Lambretta hay Vespa, còn khả năng chỉ có khá hơn xe đạp một bậc, thì sử dụng chiếc Velosolex. Thời giá của chiếc xe này vào năm 1960 là $8,500 trong khi lương độc thân của một công chức hạng trung khoảng $6,000. Ở Huế những lúc trời mưa to gió lớn, với những con đường bùn đất, đi xe Velosolex thật ra chẳng sung sướng gì, mà đôi khi còn là một cực hình khi bắt đầu khởi động cho máy nổ


Khác hẳn với các thành phố lớn như Sài Gòn, Ðà Nẵng, đối với các tỉnh thuộc địa đầu giới tuyến sau khi chia cắt đất nước, hình ảnh chiếc Velosolex vẫn còn là cái gì rất mới lạ, nên khi bạn cỡi xe vào đường làng, phun khói trắng, có thể có những đứa trẻ tò mò chạy theo xem chiếc xe lạ lùng này.

Ba năm sau, nhận tờ giấy động viên trong tay, chiếc Velosolex chung nỗi buồn vui trong ba năm tròn phải từ giã tôi ra đi, để giúp chủ trang trải một số nợ nần.

Năm 1964, sau khi ở quân trường ra, được bổ nhiệm về một đơn vị ở Sài Gòn, thuê nhà ở khu Bình Hòa, trên chuyến xe buýt khởi hành từ rạp hát Thanh Vân-Gia Ðịnh đến Sở Thú – Sài Gòn mỗi ngày, bây giờ lại có thêm một ông chuẩn úy với bộ quân phục làm việc kaki vàng số 2, đội nón “casquette” mới tinh đi về. Ông thiếu tá chỉ huy đơn vị thương tình anh chuẩn úy mới ra trường, phải leo xe buýt mỗi ngày, nên cho mượn tiền, để lại mua một chiếc Velosolex! Chỉ trong vòng bốn năm, vật giá leo thang, năm 1964, cũng chiếc xe ấy đã tăng giá khoảng 30%. Chiếc xe Velo thứ hai này cuối cùng bị đào thải trước đợt xe Honda Dame cũ, đồ thải của Nhật, được nhập vào Việt Nam, ưu tiên cho lính tráng dưới thời ông Không Quân Trần Ðỗ Cung làm tổng cục tiếp tế.

Có thể nói Velosolex thuộc loại xe bình dân, không bì được với các ông bạn người Ðức mạnh mẽ như Goebel, Sachs, hay hai ông bạn người Ý hào hoa và sang trọng hơn, có mặt đồng thời là Lambretta và Vespa. Lambretta được phổ biến đi khắp thế giới qua Pháp, Ðức, Tây Ban Nha, Ấn Ðộ, Ðài Loan, Brazil, Columbia… và có tuổi thọ khá dài. Vespa trông thanh lịch và dễ thương hơn, nên trong bốn năm từ 1947 đến 1950, hãng Piaggio đã bán được hơn 90 nghìn chiếc, nhưng phải chờ khi Audrey Hepburn ôm eo Gregory Peck’s trên chiếc Vespa lạng lách trong thành phố Roma, trong phim Vacances Romaines (Roman Holiday,) ra đời năm 1953, thì chiếc Vespa đã trở thành nổi tiếng, bán hơn 100 nghìn chiếc ngay trong năm đó.

Dáng mảnh khảnh của những chiếc Velosolex màu đen thong dong trên đường phố với cô thiếu nữ mang đôi găng tay trắng, đội nón lá, để tà áo bay bay là hình ảnh dễ thương của Sài Gòn, của một thời sinh viên đẹp đẽ. Những năm về sau khi chiến tranh càng khốc liệt, các loại xe phân khối lớn ồ ạt nhập cảng vào càng nhiều, những xa lộ được mở ra, khi ai cũng mê tốc độ, Velosolex đành chấp nhận số phận bị bỏ lại đằng sau.

Bây giờ người ta đang muốn phục chế lại những chiếc Velosolex, Vespa của ngày xưa không phải để dùng trên đường phố mà như là một vật kỷ niệm ghi dấu một thời.

Cô thiếu nữ với chiếc Velosolex trên đường phố Sài Gòn trong bức ảnh này, được chụp vào năm 1961. Tôi đoán chừng tuổi cô ngày đó khoảng chừng 20 đến 25. Bây giờ đã trên nửa thế kỷ trôi qua, nếu còn đâu trên cõi đời này, cô đã ngoại tuổi thất tuần. Chiếc Velosolex ngày đó chắc không còn tồn tại, nó chỉ là một bóng mờ dĩ vãng như những gì chỉ hiện diện một thời, nhưng có thể còn lưu lại trong trí nhớ của chúng ta mãi mãi.


Tục ngữ Việt Nam có câu: “Một đời ta, ba đời nó” để nói rằng đời người dài nhưng những vật sở hữu thì dễ mất mát hay hư hao. Từ ấu thơ cho đến hôm nay, chúng ta đã dùng bao nhiêu chiếc xe, ở bao nhiêu ngôi nhà, dùng bao nhiêu đôi giày hay bộ quần áo. Nhưng cũng có đôi khi, ngôi nhà, con đường, tấm ảnh hay trang sách còn đó, nhưng “những người muôn năm cũ” đã không còn nữa!

Không thấy thi sĩ nào đem chiếc Velosolex vào thơ, tôi đành mượn đôi lời của nhạc sĩ Ngọc Lễ viết về xe đạp, để tạm thương nhớ một thời Velosolex:

“Quay đều, quay đều, quay đều, mối tình ngày xưa yêu dấu
Quay đều, quay đều, quay đều, thương hoài những vòng xe…”

UserPostedImage
Duy An  
#2128 Posted : Tuesday, March 9, 2021 4:11:42 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,278

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Cho Một Thành Phố Mất Tên


UserPostedImage


Em Sài Gòn đẹp nhất về đêm
Tiếng hoa rơi, nhạc lắng, mây chìm
Nét môi duyên, nụ cười huyền hoặc
Phút chốc trần gian vội lãng quên!

Ta thương em tàn hơi thở cuối
Ta nhớ em trọn kiếp lưu đày
Ngày xa thành phố xanh xao nhớ
Ta giã từ nhau tợ bóng mây!

Những con đường cũ còn im bóng
Tà áo ai còn theo gió bay
Tiếng guốc gõ đều trên phố vắng
Hay tàn trong ngõ hẹp chiều nay?

Ta nhớ từng cơn mưa bụi nhỏ
Ta chờ nhau cuối phố, mưa sa
Từng cơn gió lạnh giao mùa đến
Một sớm thu về em xót xa!

Đời đã vô tình không vấn vương
Ngõ xưa đã hút lối thiên đường
Còn đây hơi thở xanh xao mộng
Em mất tên rồi ta tiếc thương!


(Hoàng Ngọc Ẩn)

UserPostedImage
Duy An  
#2129 Posted : Thursday, March 18, 2021 3:42:16 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,278

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Con đường xưa nhất Sài Gòn


Trang Nguyên
November 12th, 2020


UserPostedImage

Đường Catina thuở đầu thế kỷ 20 trở thành nơi biểu diễn thường xuyên của những đoàn hát từ phương Tây đến.

Đường Tự Do (sau 1975 là đường Đồng Khởi), vào thời Pháp thuộc mang tên Catinat và ít lâu trước đó gọi là đường số 16. Con đường này đã có từ thời nhà Nguyễn khi lập thành Gia Định. Đầu con đường giáp với bờ sông Bình Giang (Sài Gòn), từng là nơi vua nhà Nguyễn đến nghỉ ngơi và… tắm (Bến Ngự). Dân chúng hầu như ai cũng biết đến con đường này. Đó là nơi sinh hoạt của giới thượng lưu Sài Gòn.

Có rất nhiều tài liệu và hình ảnh về đường Catinat qua các thời kỳ do người Pháp và người Mỹ ghi lại đủ biết con phố này rất ấn tượng như thế nào! Tác giả Nguyễn Tiến Quang tại Pháp ghi nhận: “Pallu de la Barrière, một trong những người Pháp đầu tiên, đã miêu tả con đường số 16 này vào năm 1861, như sau: “Du khách đến Sài Gòn nhìn thấy bên hữu ngạn con sông một đường phố mà hai bên bị đứt quãng bởi những khoảng trống lớn. Phần lớn nhà cửa làm bằng cây lợp lá cọ ngắn; số khác ít hơn, làm bằng đá. Mái nhà lợp bằng ngói đỏ làm vui mắt và tạo được cảm giác yên bình…”. Tính cách quan trọng của con đường Catinat thể hiện ở chỗ nó được thực dân Pháp sử dụng làm trung tâm của bộ máy thuộc địa.

Theo một số sử liệu, Catinat là tên một Thống chế Pháp sinh năm 1637 và mất năm 1712, phục vụ dưới thời vua Louis XIV. Giữa thế kỷ XIX, Pháp lấy tên Catinat đặt cho một chiếc tàu chiến từng tham gia trận đánh Sài Gòn năm 1859 và dựa vào chi tiết này, De La Grandière đặt cho con đường số 16 tên Catinat (trường hợp tương tự cũng xảy ra với rạch Thị Nghè, được Pháp gọi là Arroyo d’Avalanche).

Năm 1864, Nha Giám đốc Nội vụ (Direction de L’Intérieur), người dân đương thời gọi là “Dinh Thượng Thơ”, được xây dựng, nhìn ra đường Catinat, phía đối diện dinh Thủy sư Ðề đốc. Viên chức lãnh đạo cơ quan này, xét về mặt cai trị, chỉ xếp sau Thống đốc Nam Kỳ, trực tiếp chỉ huy các tham biện Pháp và quan lại Việt Nam cấp huyện, phủ, đốc phủ sứ. Ðầu thập niên 1880, ngay trên lộ trình con đường chạy qua, mọc lên ngôi nhà thờ Notre Dame, về sau được cư dân Sài Gòn gọi là Nhà thờ Ðức Bà hay Vương Cung Thánh Ðường. Sau lưng nhà thờ là đường Norodom, lấy tên ông hoàng xứ Cambodge (Campuchia) đến thăm Sài Gòn vào đầu năm 1867, nhân cuộc đấu xảo canh nông đầu tiên tổ chức tại đây.


UserPostedImage


Năm 1886, Pháp khởi công xây trụ sở Sở Bưu chính và Viễn thông (nay là Bưu điện) trên khu đất đối diện với mặt tiền nhà thờ, nằm giữa con đường Catinat và đường Paul Blanchy (nay là Hai Bà Trưng). Cuối đường Catinat, có một tháp nước cao, được xây dựng năm 1878 nhằm cung cấp nước uống cho cư dân trong vùng. Tuy nhiên, đến năm 1921, với sự phát triển của dân cư, tháp nước này không đáp ứng được yêu cầu nên bị đập bỏ. Ngày 1-1-1900, nhà hát Tây (nay là Nhà hát thành phố) được khánh thành trên giao lộ đường Bonard (nay là Lê Lợi) và Catinat, trở thành nơi biểu diễn thường xuyên của những đoàn hát từ phương Tây đến.

Ðường Catinat thuở ban đầu kéo dài tới đường Mayer (Hiền Vương). Khi qua giao lộ với đường Norodom (Thống Nhất) thì gọi là Catinat prolongée (Catinat nối dài). Sau khi Pháp đặt tháp nước và thành lập quảng trường Thống chế Joffre thì đoạn đường này mới đặt tên lại là Blancubé và Garcerie. Cuối cùng đường Catinat còn dài 630 mét, từ đầu đường Bến Bạch Ðằng đến Vương Cung Thánh Ðường là kết thúc.

Trong Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca, xuất bản năm 1909, tác giả Nguyễn Liên Phong miêu tả đường Catinat như sau: “Nhứt là đường Ca-ti-na / Hai bên lầu các, phố nhà phân minh / Bực thềm lót đá sạch tinh / Các cửa hàng bán lịch thanh tốt đều / Máy may mấy chỗ quá nhiều / Các tiệm tủ ghế dập dìu phô trương / Ðồ sành, đồ cẩn, đồ đương / Ðồ thêu, đồ chạm trữ thường thiếu chi… Nhà in, nhà thuộc, nhà chà / Nhà hàng ăn ngủ với nhà lạc son (xoong) / Phong lưu cách điệu ai bằng / Ðường đi trơn láng, đèn giăng sáng lòa / Thứ năm, thứ bảy, thứ ba / Với đêm chúa nhựt hát nhà hát Tây…”.

Qua miêu tả trên, ta thấy hình ảnh nhộn nhịp của phố Catinat đã hoàn chỉnh từ những năm đầu của thế kỷ 20, nếu so với các con phố thương mại trung tâm như Charner (Nguyễn Huệ) Bonard (Lê Lợi). Ngoài những khách sạn, nhà hàng có từ thuở ban đầu, tạo nên một hình ảnh Á Ðông, từ năm 1954 về sau, các văn phòng, hiệu buôn, khách sạn, nhà hàng bắt đầu thay đổi hình dạng theo kiểu kiến trúc tân thời, không còn lưu lại nét cổ xưa riêng biệt.

Giới văn phòng, văn nghệ sĩ, thương gia đã làm nên cái trục “văn hoá không tên” qua ba địa điểm café, nhà hàng thường lui tới. Ðó là Givral – La Pagode – Brodard, khó phai mờ trong ký ức của những người Sài Gòn.

Một là nhà hàng Givral ngay góc đường Tự Do và Lê Lợi. Xưa kia nguyên là tiệm thuốc Tây đầu tiên ở Sài Gòn. Cũng theo tài liệu của Nguyễn Tiến Quang, tiệm khai trương năm 1865, chủ nhân là Lourdeau, sau làm Xã trưởng Sài Gòn (1870). Ít lâu sau, hiệu thuốc được giao lại cho Holbé, tiến sĩ dược khoa, một nhân vật khá nổi tiếng của đất Sài Gòn xưa, từng làm Phó Chủ tịch Phòng Thương mại Sài Gòn, Phó Chủ tịch Hội đồng quản hạt Nam Kỳ (Conseil colonial de la Cochinchine). Holbé từng điều chế ra một loại biệt dược có tên “Gouttes Holbé” dành cho những tay nghiện á phiện cai nghiện. Về sau, nhà thuốc Tây về tay Renoux, rồi Solirène và mang tên vị chủ nhân này trong một thời gian dài, trước khi bị thay thế bởi nhà hàng Givral.

Nhà văn Văn Quang (Nguyễn Quang Tuyến) ghi lại hồi ức của mình: “Givral đông nhất và đáng kể nhất vào mỗi buổi sáng. Phóng viên trẻ thường tụ tập ở nhà hàng này vì nó ở ngay trước trụ sở Hạ nghị viện, các ông dân biểu thường ra ngồi giải lao tại đây và “thảo luận” đủ thứ chuyện bên lề. Và chuyện bên lề bao giờ cũng hấp dẫn hơn chuyện trong nghị trường. Chuyện “bí mật quốc gia, chuyện phe nhóm, gia nô và không gia nô, chuyện tình bà nghị ông nghị…” cứ nghe mấy ông này là có đủ tin giật gân trong ngày. Cánh phóng viên thường bắt mối rất chặt chẽ với các ông bà dân biểu và nghị sĩ thượng hạ nghị viện. Thật ra họ có quyền lợi hỗ tương: anh cho tôi tin, báo tôi yểm trợ lập trường của anh. Trong số những phóng viên, ngoài người Việt Nam còn có một số phóng viên người Mỹ, Pháp từ khách sạn Continental trước mặt ghé sang. Hoặc cũng có một số phóng viên người Việt làm cho các đài truyền hình, truyền thanh nước ngoài săn tin tại đây”.

Hai là nhà hàng La Pagode nằm ở góc đường Lê Thánh Tôn và Tự Do. Nhiều người rất nhớ khung cảnh của nhà hàng cà phê La Pagode mà mình lui tới. Nhà văn Văn Quang nhớ lại: “Khách hàng của La Pagode hầu hết là nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ. Cứ vào buổi chiều, sau giờ tan sở là tụ tập lại đây. Tất nhiên cũng ngồi thành nhóm. Những ngày đầu tôi thường đi cùng Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư và đến đây thường gặp các anh Nguyên Sa, Trần Thanh Hiệp, Mặc Thu, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo, Phạm Ðình Chương, Tạ Quang Khôi, Viên Linh, Nguyễn Ðạt Thịnh, Phạm Huấn, Anh Ngọc, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Ðình Toàn…”.

Cuối cùng là quán café Brodard nằm ở góc Tự Do – Nguyễn Thiệp. Bên kia đường là vũ trường Tự Do của ông Cường lùn và chị “tài pán” Nhựt. Bà chị này hành nghề cai quản các em từ vũ trường Ritz Hà Nội vào Nam. Ở đây lại đông vui vào những buổi sáng muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng”. Nơi lui tới của những “dân đi chơi đêm” Sài Thành. Những “anh hùng hảo hớn” như Khê – Thăng Long Xích Thố, anh em ông Kim đầu bạc, Kính Tennis, Chương Marine cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ...

UserPostedImage
Cỏ Thơm  
#2130 Posted : Monday, March 29, 2021 4:22:31 PM(UTC)
Cỏ Thơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 10/11/2012(UTC)
Posts: 64
Location: Hạvi nè

Thanks: 48 times
Was thanked: 63 time(s) in 28 post(s)




UserPostedImage


Thành Phố Mẹ


Cali có Little Sài Gòn
Paris có Sài Gòn Phố không em?
mà dẫu có một Sài Gòn ở đó
cũng chỉ là thành phố mượn tên

để mỗi lần gọi lên là nhớ
Sài Gòn - thành phố Mẹ phía bên kia
(bên tuổi trẻ đã buồn chia máu lệ
bên niềm vui chỉ để kể người nghe

vui như lá me bay trong chiều mưa tháng Hạ
có phượng hồng cài mái tóc yêu thương!
ôi nỗi nhớ viết sao vừa giấy mực
khi tim ta thổn thức nhớ Sài Gòn!

Chừ em bước trên một thành phố mới
có những con đường mang tiếng nói Việt Nam
(những con đường cũng chỉ là khuôn mặt
tình những con đường ở trên đỉnh hồn ta!)

Em hãy nhớ, thành phố mình đang sống
cũng chỉ là một góc cuộc đời qua
ngày luyến nhớ Paris, Cali, Newyork
có bằng đêm em khóc nhớ Sài Gòn?

thành phố Mẹ chúng ta bên kia biển
những con đường Nguyễn Huệ , Hùng Vương
những tên gọi Bạch Đằng, Bến Nghé...
giữa đời ta là cả một trời thương!

Sài Gòn đó, Sài Gòn bên kia biển
không phải một thời, mà mãi ngàn đời
trong tim người, Hòn Ngọc Viễn Đông
trong Việt Nam, Sài Gòn bất diệt!



Cao Nguyên




UserPostedImage
Duy An  
#2131 Posted : Tuesday, April 13, 2021 12:07:07 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,278

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Duyên Anh & Tuổi Ngọc



UserPostedImage


NGUYỄN&BẠN HỮU

“Duyên Anh trước hết là nhà văn của tuổi hoa niên, của tuổi vừa lớn. Là người đã viết VỀ và giữ GIÙM tuổi thơ những cơn mộng đẹp (mộng mà ta đã từng sống qua, đã từng phiêu du trong cõi sống ấy… đến khi thoát khỏi cõi thơ ấy mới biết mình vừa rời khỏi thiên đường) – may mà còn có Duyên Anh – còn kéo theo mãi những chuyến tàu của tuổi vàng cõi mộng đi mải miết trên đường hành hương về vùng-tuổi-nhỏ-xa-mù; còn khơi lên những dạt dào cảm xúc của những năm tháng đẹp nhất đời người, còn là một nhà huyền thuật bí ẩn giải đáp được ‘nhu cầu tâm linh xao xuyến cần một điểm tựa, một trường trú ẩn’. Kẻ đi đường không có một điểm ánh sáng nào dẫn tới chân trời trước mặt, phải nhận đường bằng điểm lửa xa chiếu về từ một phía sau lưng…”

Nhà văn Mai Thảo đã viết như trên trong Lời mở đầu truyện Thằng Côn – Duyên Anh, 1968.

Và sau đây là những lời rất đẹp của một nhà văn trẻ, Nguyễn Trường Trung Huy, về tác giả Áo Tiểu Thư.


Như một bài thơ ngắn….mà miên man hoài hoài của Phạm Công Thiện:

“lơ lửng bông mồng gà

chiều ba mươi tết ta

tôi ôm gà tre nhỏ

chạy trốn tuổi thơ qua”


Với văn chương Duyên Anh, với Tuổi Ngọc – đứa bé trong mỗi chúng ta còn có một nơi nương náu, còn có một bến bờ để bám víu, còn trú ngụ nơi một thiên đường mộng tưởng, còn có một vùng tuổi xanh để trốn nấp “tuổi thơ qua”, có phải?!?….

Nhưng cũng chính Duyên Anh, trong âm nhạc, “…dường như sau những năm tháng khốc liệt ở trong nước, bây giờ như chim vừa được tháo cũi sổ lồng, Duyên Anh còn muốn nói thêm nỗi lòng của mình qua âm nhạc. Nhưng những ca khúc trong selection Ru Ðời Phù Ảo chỉ có thể được soạn ra để nhà văn tự ru mình sau những cơn phiền muộn, mê hoặc, phù ảo và để tự vấn: chỉ còn vậy thôi sao?” (Phạm Duy nói về Duyên Anh)

Từ hình ảnh của một nhân vật trong “Áo Tiểu Thư” của chính tác giả (và cũng là truyện …khai trương số 1 tờ Tuổi Ngọc năm 1971) “…Anh đã thật sự giã từ cuộc đời thơ mộng và đang vất vả leo dốc vật chất. Mọi người đều có một lần biệt ly bùi ngùi đó. Chỉ bất hạnh khi sợi khói tương tư vướng vào mắt, người ta không nhớ nổi kỷ niệm đầu đời… Anh mơ hồ nghe tiếng gió êm đềm mười sáu năm qua luồn vào tâm tưởng . Anh đứng im lặng giữa chiến khu kỷ niệm…”

Luôn là niềm bâng khuâng của những nhân vật (hay của chính Duyên Anh), khởi đi từ những chiến khu kỷ niệm, khởi đi từ những phút-đứng-yên của tâm hồn mẫn cảm Duyên Anh. Khi đọc Duyên Anh, may mắn thay, không ai phải mang chịu bất-hạnh “không nhớ nổi kỷ niệm đầu đời” ấy… cho đến một khu vườn “phiền nhung gấm” trong âm nhạc:

“Một hôm bước chân luân lạc dẫn tôi vào hiu quạnh của đất trời. Tôi thấy từ trong cái khôn cùng nỗi tịch mịch đó nỗi chết của mây mưa, tiếng hát của bóng tối, nước mắt của hư vô, điệu buồn của cỏ lá. Tôi cảm giác quanh tôi hạnh phúc đã đầy mầm bất hạnh mà chẳng ai biết mà chẳng ai hay. Tôi bỗng dậy lòng trắc ẩn, tôi yêu mến người, tôi thương xót đời, và tôi lên tiếng ‘ru đời phù ảo’…” (Duyên Anh, mở đầu băng RĐPA)

Dẫu từ trạm đầu “chiến khu kỷ niệm” của những mộng mơ đang-dần-thoát-khỏi-tầm-tay-với hay đến trạm cuối của “ru đời phù ảo” có phần chua chát của những bất toại – điểm chung chính là “tâm hồn trắc ẩn” của Duyên Anh. Ông trắc ẩn cho kỷ niệm, trắc ẩn cho những vùng tuổi xanh, trắc ẩn cuộc đời, trắc ẩn hy vọng lẫn tuyệt vọng, trắc ẩn niềm vui và cả nỗi buồn. Niềm “trắc ẩn” ấy đã khơi lên những sợi khói của nhung nhớ, của thương yêu, của một chút tiếc nuối hoài niệm mãi mãi trong bất kỳ thơ, văn, hay nhạc của ông… Sợi khói tương tư làm ai cũng cay mắt…



UserPostedImage
Cỏ Thơm  
#2132 Posted : Thursday, April 22, 2021 11:52:06 AM(UTC)
Cỏ Thơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 10/11/2012(UTC)
Posts: 64
Location: Hạvi nè

Thanks: 48 times
Was thanked: 63 time(s) in 28 post(s)


Sưu tầm hình Sài Gòn xưa


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage



UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage
CỏThơm  
#2133 Posted : Wednesday, May 5, 2021 12:45:12 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 192
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)


UserPostedImage

Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên
Nhạc sĩ Nguyễn Ðình Toàn


Sài Gòn ơi!
Ta mất người như người đã mất tên
như giòng sông nước cuộn quanh buồn
như người đi cách mặt xa lòng
ta nhủ thầm em có nhớ không

Sài Gòn ơi!
Ðâu những ngày khi thanh phố xôn xao
trong niềm vui tiếng hỏi câu chào
sáng đời tươi thắm vạn sắc màu
nay... còn gì đâu..

Ai ra đi... nhớ hàng me già,
thu công viên, hoa vàng tượng đá
thôi hết rồi, mộng ước xa xôi
theo giòng đời trôi..

Sài Gòn ơi!

Ðâu những ngày mưa mùa khoác áo đi
tay cầm tay nói nhỏ câu gì
Ðâu quầy hoa quán nhạc đêm về
Ðâu rộn ràng giọng hát Khánh Ly

Sài Gòn ơi!

Thôi hết rồi những ngày hát bên nhau
Ðâu Phạm Duy với tình ca sầu
mắt lệ rơi khóc thuở ban đầu
... còn gì đâu...

Ai ra đi... nhớ hàng me già,
thu công viên hoa vàng tượng... đá
ta tiếc thời âu yếm xa xưa
nay...còn gì.. đâu..

Sài Gòn ơi! Ta mất người
như người đã mất tên
như hàng cây lá đỏ trông tìm
Mắt trời soi dáng nhỏ dịu hiền
Ðang ngậm ngùi trên môi lắng im

Sài Gòn ơi!
Ta mất người như người đã mất tên
như mộ bia đá lạnh hương nguyền
Như trời xa đã bỏ đất liền...
Còn... gì đâu..







Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên - Khánh Ly | ASIA 9
Asia Entertainment Official




UserPostedImage
Hạ Vi  
#2134 Posted : Thursday, May 13, 2021 7:14:08 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,588
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)


ASIA ENTERTAINMENT OFFICIAL




Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên, Nước Mắt Cho Sài Gòn,…….





UserPostedImage
Duy An  
#2135 Posted : Saturday, May 29, 2021 1:09:22 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,278

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)

UserPostedImage


Phim Hồng Kông ở Sài Gòn ngày trước


Trang Nguyên-Baotreonline


Trước 1975 tại Sài Gòn, phim kiếm hiệp Hồng Kông đã lấn át các dòng phim khác, nhất là phim Việt Nam vốn còn lạc hậu. Mặc dầu điện ảnh VN xuất hiện giữa thập niên 1950 nhưng hiếm có một bộ phim nào ăn khách. Những bộ phim Việt thời đó còn sơ khai về nội dung lẫn diễn xuất. Trong khi đó Phim Hồng như kiếm hiệp, võ thuật nhập cảng với những màn cảnh hành động gay cấn thu hút khán giả từ trẻ đến già.

Xét ra lịch sử ngành điện ảnh VN trước năm 1975 phát triển rất chậm, mặc dù năm 1957 được xem là năm hoạt động mạnh mẽ nhất tại miền Nam. Chỉ riêng trong năm này, các hãng phim tư nhân đã sản xuất gần 40 phim. Một số hãng phim đã xuất hiện với các tên như: Cosunam, Tân Việt, Việt Thanh, Mỹ Vân, Văn Thế, Trường Sơn, Ðông Phương, Liên Hiệp, Viễn Ðông, Alpha, Hương Bình… Cuối năm 1957, hãng Mỹ Vân tung ra bộ phim Người đẹp Bình Dương được chiếu vào dịp Noel và năm mới 1958 với một chiến lược quảng cáo rầm rộ. Cuốn phim đã thu hút được sự hưởng ứng của đông đảo khán giả và đồng thời giới thiệu một gương mặt mới của nền điện ảnh miền Nam là Thẩm Thúy Hằng.

Trước đó, bộ phim Lục Vân Tiên của đạo diễn Tống Ngọc Hạp cũng được xem sôi nổi lắm. Phim chiếu đi chiếu lại cả chục năm tại các rạp hát Sài Gòn. Ðây là lần đầu tiên tôi được bà chị lớn trong nhà dẫn ra rạp Thanh Vân xem. Nhân vật trong phim nói năng quá từ tốn, diễn xuất chậm chạp không sinh động như ngoài đời. Lạ một điều là bà chị tôi lại thích xem phim Việt Nam, nào là Phạm Công – Cúc Hoa, Lâm Sanh – Xuân Nương, Kiếp Hoa… toàn những phim không có những cảnh gay cấn như phim kiếm hiệp Hồng Kông đã bắt đầu tràn ngập ở các rạp chiếu bóng, rồi tiếp theo đó là loại phim võ thuật của hãng phim Thiệu Thị, Gia Hoà lần lượt được khán giả Sài Gòn yêu thích. Tất nhiên đây là những phim nhập cảng bên cạnh phim của Pháp, Mỹ, Ấn Ðộ tuồn vào miền Nam. Nhưng phim Hồng Kông vẫn là số 1, chiếm lĩnh 3/4 thị phần phim ảnh tại các rạp nhất là ở Sài Gòn.

Vì sao phim Hồng Kông lại có sức hút đến vậy? Sau này, tôi đọc được đâu đó bài phân tích bình luận về các dòng phim điện ảnh như vầy: Phim Hồng Kông mang tính động hơn các phim khác. Cứ khoảng mười phút lại có một pha chiến đấu. Ðây là điểm mạnh của các phim ngoại quốc không riêng gì của phim Hồng Kông. Mặt khác có dàn tài tử chuyên nghiệp, đạo diễn chuyên nghiệp hơn là phim VN. Trước năm 1975 đạo diễn có nghề cũng rất ít ỏi, tài tử chính thống lại càng hiếm hoi với nhiều gương mặt xuất thân từ kịch nói hoặc cải lương.


Chính vì vậy mà các chủ hãng phim khai thác phim nhập cảng nhiều hơn sản xuất phim trong nước. Ngoại trừ Cosuman film của bà Nguyễn Thị Lợi, Alpha film của ông Thái Thúc Nha hoặc hãng Mỹ Vân sản xuất phim Việt Nam nhưng cũng chỉ cầm chừng. Cả một thời gian hai mươi năm, các hãng phim này sản xuất được chừng 100 phim và về sau mới vài ba bộ phim có chút hấp dẫn qua các bộ phim Hè muộn, Trường tôi, Vết thù trên lưng ngựa hoang, Loan mắt nhung, Chân trời tím… Các chủ hãng phim còn lại như ông bà Ưng Thi (chủ cụm rạp Rex, Văn Hoa Ða Kao, Văn Hoa Sài Gòn) hay Trương Vĩ Nhiên chủ hãng phim Viễn Ðông kinh doanh từ các thể loại phim nhập cảng. Ông bà Ưng Thi chuyên nhập cảng phim Mỹ, Pháp, hãng phim Liên Hiệp, Ðông Phương chuyên phim Ấn Ðộ thì riêng ông Trương Vĩ Nhiên chuyên nhập cảng phim của Hồng Kông.

Trong số đó, khai thác đúng tâm lý người xem hơn cả là ông Trương Vĩ Nhiên, thuở đó được mệnh danh là ông “vua” ciné Sài Gòn. Nếu ở đầu thập niên 1960, phim Pháp, Mỹ, Ấn Ðộ chiếm 70% thị trường thì giữa thập niên này, phim Hồng Kông lại vượt qua mặt. Ông làm chủ rất nhiều rạp hát như Eden, Ðại Nam, Opera, Lệ Thanh, Hoàng Cung, Ðại Quang, Palace, Thủ Ðô. Mỗi ngày các rạp này đều chiếu 5 suất, thu tiền vào như nước.

Ít ai ngoài ngành biết mặt ông Trương Vĩ Nhiên (còn một tên khác là Trương Vĩ Tài). Khi đó ông là chủ hãng phim nhập cảng trẻ tuổi nhất trong số những tên tuổi của các hãng phim có tiếng. Ông gốc người Hoa nhưng nói tiếng Việt rặt như người Nam. Sinh trưởng trong một gia đình giàu có, định cư ở Chợ Lớn mấy đời. Trương Vĩ Nhiên có người anh cả là Trương Vĩ Hùng, cũng là một tài phiệt Chợ Lớn. Và em trai út là Trương Vĩ Trí, dân biểu quốc hội. Mấy anh em ông được thừa hưởng một tài sản khá lớn do cha mẹ để lại. Trương Vĩ Nhiên có lối sống giản dị, không xa hoa và hưởng thụ như nhiều nhà tỉ phú khác, dù ông thành công rất sớm, khi mới tròn 30 tuổi. Nếu nhìn bề ngoài Trương Vĩ Nhiên khó mà nhận biết đó là một tỷ phú người Hoa trên đất Sài Gòn. Dáng dấp nhỏ con, nói năng hoạt bát, ăn vận bình thường.

Từ đầu thập niên 1960, hãng phim của ông nhập các dòng phim của Mỹ, Pháp, Ấn, Hồng Kông, Ðài Loan nhưng năm sáu năm sau đó, dòng phim Hồng Kông lên ngôi với loại phim võ thuật hiện đại hơn so với phim cổ trang. Không ít những bậc trung niên hay lão niên ngày nay vẫn còn nhớ tên tuổi của Ðịch Long, Khương Ðại Vệ, La Liệt, Vương Vũ, Trần Tinh, Kim Cang, Lý Tiểu Long, Trịnh Phối Phối, Hà Lợi Lợi, Lăng Ba, Lý Thanh… Thậm chí ông Vương Ðại Nghĩa chủ hãng kem đánh răng Hynos còn nhờ người cháu gọi ông bằng chú, là tài tử Vương Vũ trong lần sang Sài Gòn ghé thăm ông, thực hiện đoạn phim quảng cáo. “Thần đao đại hiệp” trong một lần theo đoàn bảo tiêu, vật phẩm quý giá bị sơn tặc cướp phá. Cuộc chiến kinh hoàng máu me, tất cả đều chết, duy chỉ còn mỗi Thần đao tiến đến chiếc xe hàng, mở thùng bảo tiêu thì ôi thôi, bên trong đó là một lô kem đánh răng Hynos.

Những năm đó, các phim của những hãng phim lớn như Hollywood, 20th Century Fox, Paramount, Goldwyn Mayer… đã không còn hấp dẫn. Người xem phim Hồng Kông ngày càng đông. Dĩ nhiên là Trương Vĩ Nhiên giàu lên rất nhanh. Theo một vài số liệu của Liên bộ Tài chính – Tổng nha Thuế vụ của chính quyền Sài Gòn, những năm đầu thập niên 60, lợi nhuận hàng năm mà Trương Vĩ Nhiên thu vào từ 100 đến 200 triệu đồng. Từ năm 1965 – 1968, tăng lên 500 triệu đồng, rồi 1 tỉ. Những năm kế tiếp lại tăng lên ở mức trên dưới 2.5 tỉ.

Trương Vĩ Nhiên có đầu óc nhạy bén của người làm ăn kinh doanh lâu dài. Ông tập trung khai thác các phim Hồng Kông và Ðài Loan, giá nhập loại phim này rẻ hơn nhiều so với phim Âu Mỹ và luôn có sức hấp dẫn đối với thị hiếu người xem dài dài. Ông cử người em rể là Hang Vay Tche sang tận hãng phim Thiệu Thị, Gia Hoà điều đình để ký kết độc quyền nhập phim của hai hãng này vào thị trường VN. Thời gian đầu thập niên 1970, phim quyền cước lên ngôi. Những bộ phim mới ra lò Ðường sơn đại huynh, Long tranh Hổ đấu, Thập tứ nữ anh hào… tại bản quốc đồng loạt được chiếu tại các rạp của Trương Vĩ Nhiên tại Sài Gòn. Bên cạnh đó, ông còn mua lại những rạp hát cũ kỹ, làm ăn không hiệu quả cho tân trang lại ghế ngồi, âm thanh, máy lạnh, quầy giải khát ở cửa ra vào rạp để đưa vào khai thác. Tiền vào như nước.

Từ đó danh tiếng ông “vua” ciné Sài Gòn của ông nổi như cồn, ông còn thao túng được cả kiểm duyệt của Cục Ðiện Ảnh. Những bộ phim quyền cước đầy tính bạo lực được xét duyệt trình chiếu nhanh chóng không một chút khó khăn. Cứ thế tiền lại đưa ông lên nấc thang danh vọng.

Có người còn tính một bài toán đơn giản. Chỉ lấy mỗi rạp Ðại Nam ra làm mẫu để tính toán, người ta dễ dàng nhận ra ngay. Rạp có 1,200 ghế, mỗi ngày chiếu 5 suất, bắt đầu từ 8 giờ 30 phút, đến 23 giờ. Vào thời điểm đó, giá mỗi vé dưới nhà là 170 đồng, trên lầu 300 đồng. Tính trung bình cả trên lầu và dưới nhà, giá mỗi vé là 200 đồng chẵn. Mỗi suất 1,000 vé thì mỗi ngày Trương Vĩ Nhiên thu vào 1 triệu đồng, mỗi tháng 30 triệu, và một năm là 360 triệu. Trong khi đó, ông ta nắm trong tay hàng loạt rạp như thế, thì đủ biết Trương Vĩ Nhiên giàu có đến cỡ nào.

UserPostedImage
Duy An  
#2136 Posted : Thursday, June 10, 2021 4:01:02 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,278

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
UserPostedImage


60 năm SàiGòn, hồn ở đâu bây giờ?


Nhớ, nhớ đến từng chi tiết từ cái bước chân đầu tiên đặt lên đất Sài Thành, nhớ từng ngõ ngách, từng nhân vật thuộc về quá khứ ấy cho đến ngày nay. Mặc cho Sài Gòn đã có nhiều tang thương dâu biển, từ cái tên thành phố đến những con đường đã thay họ đổi tên, từ con người đến xã hội cho đến cả cái cách sống cũng đã khác xưa nhiều lắm.


Bước chân đầu tiên trên đất Sài Gòn


Thế mà hơn 60 năm rồi đấy, kể từ ngày tôi mới đặt chân lên thành phố Sài Gòn. Tôi nhớ như in, ngày đầu tiên ấy. Cuối tháng 1 năm 1954, sau hai tháng học ở Trường Sĩ Quan Thủ Đức, ngày thứ bảy chúng tôi được đi phép ở Sài Gòn. Niềm mơ ước của tôi từ những ngày còn nhỏ ở trường trung học, ước gì có ngày mình được vào Sài Gòn. Niềm mơ ước ấy còn rộn ràng hơn khi khóa học sĩ quan khai giảng.

Thủ Đức – Sài Gòn chỉ có hơn 10 cây số, tuy chỉ cách thành phố rất gần nhưng theo đúng chương trình khóa học, hai tháng sau chúng tôi mới được đi phép. Mấy anh “Bắc Kỳ” nôn nao hỏi thăm mấy ông bạn “Nam Kỳ” về Sài Gòn, từ cái xe taxi nó ra sao, đi thế nào, bởi hồi đó miền Bắc chưa hề có taxi, cho đến Chợ Lớn có những gì… Mấy ông bạn Nam Kỳ tha hồ tán dóc. Đầu óc tôi cứ lơ mơ về cái chuyến đi phép này.


Rồi ngày đi phép cũng đến, một nửa số sinh viên sĩ quan đi phép mặc bộ tenue sortie là ủi thẳng tắp, áo bốn túi, chemise trắng tính, thắt cravate đen đàng hoàng, giầy đánh bóng lộn có thể soi gương được. Vô phúc quên cái gì là bị phạt ở lại ngay. Nhưng hầu như chưa có anh nào bị phạt. Đoàn xe GMC của trường chở chúng tôi chạy vèo vèo vào thành phố. Ôi cái cửa ngõ vào thành phố hồi đó chưa có gì lộng lẫy mà chúng tôi cũng mở to mắt ra nhìn. Đoàn xe “diễu” qua vài con phố rồi dừng lại trên đường Hai Bà Trưng hồi đó còn gọi là đường Paul Blanchy, ngay phía sau Nhà Hát Lớn Thành Phố mà sau này là Trụ Sở Hạ Nghị Viện VNCH.

Cú nhảy từ sàn xe GMC xuống con đường Hai Bà Trưng là bước chân đầu tiên của tôi đến đất Sài Thành hoa lệ. Ông Hồ Trung Hậu là dân miền Nam chính hiệu, ông đã hứa hướng dẫn tôi đi chơi… cho khỏi “ngố”. Chúng tôi đi bộ vào con đường nhỏ bên hông Nhà Hát Thành Phố và khách sạn Continental, vòng ra trước bùng binh Catinat – Lê Lợi (hồi đó còn gọi là Boulevard Bonard) và Nhà hát thành phố. Nhìn mặt trước nhà hát thành phố có mấy bức tượng bà đầm cứ tưởng… mình ở bên Tây. Lúc đó đã có nhà hàng Givral rồi, nhưng tôi vẫn còn “kính nhi viễn chi” cái nhà hàng văn minh lịch sự giữa thành phố lớn rộng đó, chưa dám mơ bước chân vào.

Ông Hậu vẫy một cái taxi chở chúng tôi về nhà ông. Taxi hồi đó toàn là loại deux cheveaux, nhỏ hẹp sơn hai màu xanh vàng. Khi bước lên xe, đồng hồ con số chỉ là 0, đi quãng nào số tiền nhảy quãng đó, trong ngày đầu tiên, tôi ngu ngơ làm quen với không khí Sài Gòn qua gia đình anh em ông Hậu. Hôm sau ông bạn tôi đi với bồ nên tôi bắt đầu cuộc solo giữa thành phố xa lạ này. Tất cả sinh viên sĩ quan đều không được đi xe buýt hay xích lô, phải đi taxi. Nhưng lệnh là lệnh, chúng tôi học các đàn anh khóa trước, cởi áo bốn túi, bỏ cravate, cất cái nón đi là lại tha hồ vung vẩy.


Trở thành người Sài Gòn từ bao giờ


Nơi tôi đến đầu tiên là Chợ Lớn. Một cuốc taxi từ giữa trung tâm thành phố đến cuối Chợ Lớn mất 12 đồng. Tôi tìm đến khách sạn rẻ tiền của mấy thằng bạn Bắc Kỳ ở đường Tản Đà, một con phố nhỏ. Ba bốn thằng thuê chung một phòng cũng chẳng có “ông mã tà” nào hỏi đến. Chợ Lớn hồi đó tấp nập hơn ở Sài Gòn, con phố Đồng Khánh chi chít những khách sạn, hàng ăn, cửa tiệm tạp hóa lu bù tưởng như mua gì cũng có.

Chúng tôi cũng biết cách chui vào Kim Chung Đại Thế Giới xem thiên hạ đánh bạc. Hôm đó có anh Nguyễn Trọng Bảo cùng Đại Đội tôi nhưng lớn hơn chúng tôi vài tuổi và là một cặp với Nguyễn Năng Tế (lúc đó mới là người yêu của nữ diễn viên điện ảnh Kiều Chinh). Anh thử đánh “tài xỉu”, may mắn làm sao, một lúc sau đó anh được khoảng vài trăm ngàn. Thế là chúng tôi xúi anh “ăn non”, không chơi nữa, rủ nhau đi ăn. Bắt đầu từ hôm đó chúng tôi đi “khám phá” Sài Gòn và rồi theo cùng năm tháng trở thành người Sài Gòn lúc nào không biết. Càng có nhiều thăng trầm chúng tôi càng gắn bó với Sài Gòn hơn.


Lần thứ hai trở lại Sài Gòn


Tôi lại nhớ ngày trở về Sài Gòn sau hơn 12 năm đi tù cải tạo từ Sơn La đến Vĩnh Phú rồi Hàm Tân. Đó là vào buổi chiều tháng 9 năm 1987 khi đoàn xe thả tù cải tạo bị giữ lại nhà giam Chí Hòa, nghe các ông quan chức trấn an về số phận chúng tôi khi được trở về.

Khoảng hơn 5 giờ chiều chúng tôi mới được thoát ra khỏi cánh cửa sắt nhà tù Chí Hòa. Ngay từ cổng trại tù đã có đoàn quay phim đợi sẵn để quay cảnh “vui mừng đoàn tụ” của tù nhân, chắc là để chứng tỏ cái sự “khoan hồng bác ái” của nhà nước cho những thằng may mắn không chết trong ngục tù. Lại là lần thứ hai tôi đặt chân lên đất Sài Gòn nhưng với tư cách khác giữa một thành phố đã đổi chủ, Thấy cái cảnh sẽ bị quay phim, Trần Dạ Từ kéo tôi lên vỉa hè đi lẫn trong đám thân nhân được vận động ra đón tù cùng những người dân tò mò nhình “cảnh lạ”. Tránh được cái máy quay phim, chúng tôi đi gần như chạy ra khỏi con phố nhỏ này.

Ra đến đường Lê Văn Duyệt, chúng tôi đi chậm lại, nhìn đường phố mà cứ thấy đường phố đang nhìn chúng tôi với một vẻ xa lạ và xót thương? Trần Dạ Từ còn lại ít tiền, anh rủ tôi ghé vào đường Hiền Vương ăn phở. Chẳng biết là bao nhiêu năm mới lại được ăn tô phở Hiền Vương đây. Tôi chọn quán phở ngay sát cạnh tiệm cắt tóc Đàm mà mấy chục năm tôi cùng nhiều bạn bè vẫn thường đến cắt tóc. Có lẽ Trần Dạ Từ hiểu rằng anh về đoàn tụ cùng gia đình chứ còn tôi, vợ con đi hết, nhà cửa chẳng còn, sẽ rất cô đơn, nên anh níu tôi lại. Ngồi ăn tô phở tưởng ngon mà thấy đắng vì thật ra cho đến lúc đó tôi chưa biết sống ra sao giữa thành phố này.

Ở tiệm phở bước ra, chúng tôi đi bên nhau dưới ánh đèn chập choạng của con đường Duy Tân mà Phạm Duy gọi là con đường Đại Học “uống ly chanh đường, uống môi em ngọt.” Đến ngã tư Phan Đình Phùng, tôi chia tay người bạn tù Trần Dạ Từ, đi lang thang trong cô đơn, trong bóng tối của chính đời mình. Bây giờ tôi mới hiểu hết nghĩa của sự cô đơn là thế nào. Tôi bắt đầu cuộc sống lưu lạc trên chính quê hương mình. Tôi tìm về nhà ông anh rể đã từng nuôi nấng tôi suốt những năm tháng trong tù. Bắt đầu từ đó tôi trở thành người Sài Gòn khác trước.

Và rồi với những cùng khổ, những khó khăn, tôi đã tự mình đứng lên. Bởi tôi thấm thía rằng thằng bạn đồng minh xỏ lá đã phản phé mình, lúc này không ai cứu mình cả, anh không vượt qua nó, nó sẽ đè chết anh. Vì thế cho đến bây giờ sống giữa Sài Gòn, tôi phải là người Sài Gòn và mãi mãi sẽ là người Sài Gòn. Làm được cái gì hay chết bẹp dí là do mình thôi.

Tôi không lan man về chuyện cũ tích xưa nữa, bởi nói tới những ngày tháng đó chẳng biết bao giờ mới đủ. Cho đến hôm nay, 25 tháng 8 năm 2014, hơn 60 năm ở Sài Gòn, mọi người đang xôn xao về những đổi thay lớn của Sài Gòn, tôi không thể ngồi yên. Tôi muốn chính mắt mình được nhìn thấy những thay đổi ấy. Mặc dù qua 2 lần nằm bệnh viện và với cái tuổi trên tám mươi, tôi đã mất sức nhiều, hầu như suốt ngày ngồi nhà đã từ ba tháng nay.

Tôi điện thoại cho Thanh Sài Gòn rủ anh đi thăm “cảnh cũ người xưa”. Chúng tôi vào phở Hòa, một tiệm phở nổi tiếng từ trước năm 1975 cho đến nay. Con đường Pasteur đan kín xe cộ, tiệm phở Hòa có vẻ tấp nập hơn xưa. Bạn khó có thể tìm lại một chút gì đó của “muôn năm cũ”. Tô phở bị “Mỹ hóa” vì cái tô to chình ình và miếng thịt cũng to tướng, có lẽ ông bà chủ đã học theo phong cách những tiệm phở Việt Nam ở Mỹ. Nó “to khỏe” chứ không còn cái vẻ “thanh cảnh” như xưa nữa.


UserPostedImage
Thương xá Tax xưa, đã bị phá dỡ năm 2016 - 2 năm sau khi tác giả viết bài này



Sau đó, nơi tôi tìm đến đầu tiên chính là Thương Xá Tax. Vừa đến đầu hai con đường gặp nhau Pasteur – Lê Lợi đã nhìn thấy một hàng rào bằng tôn chạy dài. Đường Lê Lợi chỉ còn đủ một lối đi nhỏ dẫn đến Thương Xá Tax và công viên Lam Sơn. Chiếc xe gắn máy len lỏi cho đến tận cuối đường Lê Lợi sát mép đường Tự Do. Chúng tôi đứng trước cửa TX Tax đang bày ra cảnh vô cùng vắng vẻ, chỉ có tôi và anh bảo vệ nhìn nhau. Anh thừa biết tôi đến đây để làm gì. Anh bảo vệ cũng không còn làm cái nhiệm vụ cao quý là mở cửa đón khách, anh để mặc tôi tự do đẩy cánh cửa kính nặng chịch đi vào trong khu thương mại. Đèn đuốc vẫn thắp sáng choang, chiếc thang máy cuốn vẫn lặng lẽ chạy không một bóng người. Nó mang một vẻ gì như người ta vẫn lặng lẽ theo sau một đám tang. Trong quầy hàng đầu tiên, điều khiến tôi chú ý là hàng chữ nổi bật hàng đại hạ giá (Big Sale) tới 70% đỏ loét chạy dài theo quầy hàng và hàng chữ “Tạm biệt thương xá Tax”.

Tôi cố gợi chuyện với cô chủ hàng xinh xắn: Cô phải đề là “Từ biệt thương xá Tax mới đúng chứ, sao lại là Tạm Biệt?” Cô hàng trẻ đẹp thở dài ngao ngán: “Ấy người ta còn hứa khi nào căn nhà 40 tầng làm xong sẽ cho chúng tôi được ưu tiên thuê cửa hàng đấy.” Nhưng ngay sau đó cô lại lắc đầu: “Hứa là hứa chứ khi đó mình không cổ cánh, đút lót thì đừng hòng bén mảng tới, ông có tin không?”.

Bị hỏi ngược, tôi đâm lúng túng ấp úng nói lảng: “Phải đợi tới lúc đó mới biết được.” Cô bán hàng quay đi, dường như cô chẳng tin gì cả.

Các quầy hàng khác vẫn mở cửa, mỗi gian hàng chỉ còn lại vài ba người, chắc toàn là những ông bà chủ. Tôi nghĩ họ đang làm công việc khác chứ không để bán hàng. Có ai mua đâu mà bán. Tôi đến hỏi thăm vài ông bà chủ cửa hàng, không tìm thấy bất cứ nụ cười nào trên những khuôn mặt buồn hiu ấy.

Có lẽ vài tuần nay, người đi tìm đồ hạ giá đã “khuân” đi khá nhiều rồi, lúc này những thứ hàng còn lại không còn giá trị nữa. Tuy nhiên cửa hàng nào cũng còn bề bộn hàng ế. Nhìn lên tầng lầu cũng vậy, nó còn vắng vẻ thê thảm hơn.

Tôi bước lên mấy bậc của bục gỗ, ghé vào một tiệm bán máy hình còn nguyên si bởi ông chủ quyết không giảm giá. Tôi hỏi lý do, ông có vẻ liều:
– Thà ế chứ không giảm.

Tôi lại tò mò hỏi tiếp:
– Vậy là ông có một cửa hàng ở nơi khác nữa?

Ông lắc đầu:
– Không.

Tôi hỏi:
-Vậy ông sẽ làm gì?

Câu trả lời của ông cụt lủn:
– Về quê làm ruộng.

Tôi yên lặng trước sự bất bình đó. Đứng nhìn hàng loạt máy hình, máy quay phim đủ loại còn nằm rất thứ tự trong tủ kính sáng bóng. Tôi lại hỏi:

– Chắc họ phải đền bù cho ông những thiệt hại này chứ?

– Chưa có xu nào cả. Thời hạn bắt di dời nhanh quá, trở tay không kịp.

Tôi nghĩ chắc ông này cũng chỉ là người đi thuê lại cửa hàng của một ông nhà giàu nào đó mà thôi, ông có vẻ bất cần đời. Tôi từ giã, ông chỉ gật đầu nhẹ.

Nhìn sang hàng loạt cửa hàng vàng bạc đá quý gần như vẫn còn nằm nguyên vẹn và không một bóng khách vãng lai. Các bà, các cô tha hồ nhìn nhau ăn cơm hộp. Tôi có cảm tưởng một thành phố chết vì chiến tranh gần kề hay vì một nạn dịch nào đó.

Vậy mà tôi vẫn còn đi vơ vẩn trong cái không gian như nghĩa trang sống đó. Tôi đi tìm hình bóng của một thời dĩ vãng, nào vợ con, nào bè bạn, nào những người xa lạ trong cái nhịp thở rộn ràng thân thiện của tất cả Sài Gòn xưa ở chốn này. Chẳng bao giờ trở lại. Tôi muốn gọi tên tất cả trong hoài niệm tận cùng sâu lắng.


Ngậm ngùi nhìn công viên Lam Sơn trống rỗng


Rồi tôi cũng phải bước ra. Trở về với thực tại, nhưng vẫn gặp cái vắng lặng của vỉa hè chạy dài theo đại lộ Nguyễn Huệ. Dường như chỉ còn có Thanh Sài Gòn ngồi ngất ngư với “người xưa trong ảnh” của một ô quảng cáo vuông vắn phía ngoài thương xá.

Chúng tôi đi qua khu công viên Lam Sơn, lúc này đã được phá sạch, chỉ còn vài cây cổ thụ cao lêu nghêu bên cạnh “công trường” đang làm, dường như hàng cây đứng chờ giờ hành quyết như các “đồng nghiệp” của nó đã bị đốn hạ vài hôm trước. Các bác thợ quần áo xanh, dây đeo chằng chịt đã và đang dọn dẹp cho công trường trống rỗng. Tôi đứng trước Nhà Hát Thành Phố nhìn cảnh “vườn không nhà trống” đó mà ngậm ngùi nhớ tới pho tượng Thủy Quân Lục Chiến sừng sững đứng bảo vệ thành phố ngày nào và nhớ tới những đồng đội Thủy Quân Lục Chiến đã ngã xuống hoặc giờ này đã ở khắp phương trời xa.

Chắc hẳn bạn còn nhớ ngay cạnh đó là góc bùng binh Nguyễn Huệ – Lê Lợi còn là nơi tổ chức đường hoa vào dịp Tết. Gia đình nào chẳng một lần kéo nhau đi giữa đường hoa với tâm trạng rộn ràng của một ngày hội hoa xuân. Từ năm nay sẽ mất hẳn, chẳng bao giờ thấy bóng dáng mùa xuân ở đây nữa.

Cuối cùng tôi trở lại nơi mà lần đầu tiên tôi đặt chân lên thành phố Sài Gòn. Tôi đã nhảy xuống xe GMC ở đây, đúng nơi này, phía sau Nhà Hát Thành Phố, bây giờ là trụ sở của Tổng Công Ty Cấp Nước của thành phố. Mặt đường nhựa chẳng có gì thay đổi, nó cũng nhẵn mòn như những con đường nhựa khác, nhưng với tôi nó là một dấu son đáng nhớ nhất trong đời. Vậy mà đã đúng 60 năm rồi sao?

Mai này Sài Gòn sẽ còn mất đi nhiều thứ nữa như vòng xoay trước cửa Chợ Bến Thành, một biểu tượng mà bất cứ ai đã đến Sài Gòn dù chỉ một lần cũng không thể nào quên. Đó là những thứ sẽ mất đi để làm tuyến metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên. Ngoài tuyến metro số 1, còn xây dựng thêm 6 tuyến metro khác. Chúng ta sẽ mất đi nhiều di tích xưa cũ. Sài Gòn sẽ đổi khác rất nhiều, để lại trong người Sài Gòn dù ở đâu cũng thấy cảm thấy một nỗi bùi ngùi, nhớ tiếc. 60 năm Sài Gòn, hồn ở đâu bây giờ?


Tác giả: Văn Quang (2014)
Tổng hợp theo Saigonxua.org

UserPostedImage
CỏThơm  
#2137 Posted : Tuesday, June 22, 2021 5:44:51 AM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 192
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)


UserPostedImage


Những Cơn Mưa Không Hẹn


Những cơn mưa vội vàng không hẹn trước
Tạt trong tôi sướt mướt một mùa chờ
Em có hẹn, sao đời ta lạc bước
Chuyện tương lai héo hắt giữa môi hờ

Tôi vốn ngại em mang về nắng hạn
Khiến đường mơ sỏi đá cũng đau mình
Nên cẩn thận rưới vào tim hạt ướt
Có ngờ đâu thành giông bão vô tình

Vẫn còn đi qua tháng ngày lạnh lẽo
Chẳng hiểu lòng nhặt chi mãi hư hao
Manh áo cũ chưa bạc màu gió bụi
Hương tình nồng em bỏ lại nơi đâu?

Nếu có lần hóa thành cơn mưa lạ
Ghé về thăm miền dĩ vãng úa nhàu
Nghe tiếng hú rừng xưa ngàn năm gọi
Vết cỏ mòn em nhớ lối tìm nhau?



Lã Thế Phong



UserPostedImage



UserPostedImage
phamlang  
#2138 Posted : Saturday, July 3, 2021 12:19:18 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,541

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
NHỚ THỜI TRƯỜNG CŨ CHU VĂN AN


UserPostedImageUserPostedImage


Ðời đi học, kỷ niệm đáng nhớ nhất, đáng yêu nhất vẫn là thời học trò các lớp Ðệ Nhất Cấp, Ðệ Nhị Cấp. Tôi nghĩ như vậy. Bởi vì những ngày tập tễnh cắp sách đến trường, khi mà “mẹ tôi âu yếm, nắm lấy tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp…” thì tuổi còn bé nhỏ, non dại, có gì, nhớ gì. Giỏi lắm, áo sơ mi trắng cụt tay bỏ trong quần xà loỏng đen cụt ngủn ôm nhau vật lộn. Nhớ lắm cũng chỉ nhớ những bà cô, những ông thầy dạy mấy đứa nhỏ sao dữ quá, ác quá, rất đáng sợ nhưng cũng rất đáng kính trọng. Lên Trung Học, dẫu gì cũng là người lớn trong lòng cũng đã biết tơ tơ tưởng tưởng cho thầy Thư dạy Cổ Văn năm Ðệ Ngũ, thầy Mão dạy Toán năm Ðệ Tứ phải nhăn mặt mà la những cô, những cậu học sinh còn non choẹt sao cứ “mơ mơ màng màng, học không lo học, lo thơ với thẩn, lo mèo với mỡ”. Còn ở Ðại Học, giảng đường rộng thênh thang, giảng sư muốn nói gì nói và sinh viên, ai muốn đứng đâu, ngồi đâu, làm gì tùy ý một cách tự do, tự tại, lạt lẽo. Tôi may mắn thi đậu vào Trường Trung Học Công Lập Phan Bội Châu, Phan Thiết và được chuyển vào Trường Trung Học Công Lập Chu Văn An, Sài Gòn về sau. Ở Tỉnh mà vào được Trường Trung Học Công Lập duy nhất thì khó biết chừng nào và hãnh diện hết sức. Hãnh diện cho mình mà cũng hãnh diện cho cha mẹ nữa. Ở Việt Nam, ai không nghe Trường Trung Học Công Lập Chu Văn An là một trường thầy giỏi, trò giỏi. Tôi rất tự hào, tự cao là học sinh của Trường Chu Văn An có thầy An, thầy Huỳnh dạy Triết, thầy Lương dạy Anh Văn, thầy Lâm dạy Toán, Lý Hóa…và nhất là có thầy Tự là Giám Thị và ông Hiệu Trưởng là thầy Dương Minh Kính. Về Trường Trung Học Công Lập Phan Bội Châu Phan Thiết quê tôi, tôi sẽ viết vào một dịp khác. Bây giờ, bài nầy tôi viết về Ngôi Trường Chu Văn An một thời vào học. Trường nằm cuối đường Minh Mạng, đụng Triệu Ðà, bên hông Ðại Học Xá Minh Mạng.

Trường Chu Văn An là một trong những trường Trung Học đầu tiên của nước Việt Nam, được thành lập ngày 9 tháng 12 năm 1908 dưới thời Toàn Quyền Ðông Dương Antony Klobukowski với tên Tây là Lycée du Protectorat. Trường Lycée du Protectorat xây dựng trên đất Làng Bưởi của Thụy Chương bên Hồ Tây, nên người ta cũng thường gọi là Trường Bưởi. Thụy Chương sau đổi lại là Thụy Khuê vì kỵ húy Chương vua Thiệu Trị. Ðến ngày 12 tháng 6 năm 1945, Khâm Sứ Phan Kế Toại đổi tên Trường Lycée du Protectorat thành Trường Quốc Lập Trung Học Hiệu Chu Văn An. Từ ngày thành lập cho đến 30 tháng 4 năm 1975, trường đã bao phen chia đàn, rẽ nghé. Khi thì đi vòng vòng ở Hà Nội. Khi thì chạy xuống Ninh Bình, chạy vào Thanh Hóa. Và sau Hiệp Ðịnh Genève 1954, đa phần thầy và trò lại cuốn gói vào Nam ăn nhờ ở tạm nơi Trường Trung Học Pétrus Ký vài năm. Ðến năm 1961 mới có trường Trung Học Công Lập Chu Văn An mà học. Trường nằm ngay ngã Tư Minh Mạng, Triệu Ðà ,Ngô Quyền, Hồng Bàng và trước mặt là Nhà Thờ và Công Viên Văn Lang. Sau cái ngày gọi là Giải Phóng, trường bị Việt Cộng chiếm đoạt và đặt nhiều tên nghe dài lê thê điếc cái lỗ tai mà nhìn âm âm u u ngứa cả hai con mắt: Trường Huấn Nghệ Phổ Thông Lao Ðộng, Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên. Dĩ nhiên, tôi chỉ nói về trường cũ của mình hồi đó là Trường Chu Văn An, không dính dáng gì đến ba cái Trường Huấn Nghệ hay Trung Tâm Giáo Dục hoặc Trường Trung Học Phổ Thông Chu Văn An, Hà Nội ngoài Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa gì ráo. Vùng Sài Gòn-Gia Ðịnh hồi đó có những trường công lớn, nổi tiếng như Gia Long, Trưng Vương, Lê Văn Duyệt, Pétrus Ký, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Hồ Ngọc Cẩn, Võ Trường Toản…Và tôi thì rất hãnh diện đã là học sinh Trường Trung Học Công Lập Chu Văn An.

Về quê ở Phan Thiết, tôi thưòng cao ngạo, tự hào, huênh hoang với bè bạn mà khoe mình là “Dân Chu Văn An”, là “Dân Trường Bưởi” một cách say sưa, buồn cười, lố bịch. Ở ngoải, nghe đến tên Trường Chu Văn An, người ta là những học sinh ai cũng nể, cũng kiêng, cũng dè cho nên, mình cứ lên nước, mình cứ “làm le”. Nói cho cùng, có buồn cười, có lố bịch, có lên nước, có làm le đi nữa cũng chẳng sao. Bởi vì, có ai cắp sách đến trường ở Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ mà lại không biết đến tên tuổi của ngôi trường nổi danh, nổi tiếng nầy khắp Nước Việt Nam Cộng Hòa, dễ gì mà vào. Có khác gì, ông bạn Nguyễn Sĩ Chiêu được vào học Trường Pétrus Ký ở Sài Gòn về Phan Thiết của tôi còn “nổ hơn tạc đạn”. Tôi người Phan Thiết có tán dóc cách mấy cũng không bằng một góc ông Chiêu Bắc Kỳ nầy. Ổng mà “đía” vô, “đía” ra đố trời mà chịu nổi. Cách đây hơn một tháng, tôi có nói với ông bạn Ðại Úy Nguyễn Chí Viễn, cựu Sinh Viên Sĩ Quan Khóa II Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia rằng: “ Các ông đã là Chu Văn An mà thêm gốc Bắc Kỳ nữa thì đố trời mà cãi lại”. Thật vậy, tôi nhớ không chính xác là tháng mấy của năm 1966, các ông bạn của tôi Trường Chu Văn An thi “Tài Bùng Biện” ở phía sau căn nhà lầu đằng trước bằng tiếng Việt, tiếng Pháp và tiếng Anh. Các ổng toàn người Bắc, không một móng Nam, Trung gì ráo. Các ổng ăn to, nói lớn, rành mạch, dõng dạc, đường bệ…hùng biện một cách rất “hùng biện” thua ai đâu.

Năm ngoái, tôi về Việt Nam sau gần hai chục năm xa quê, nói thằng cháu “chở chú tới Trường Chu Văn An” để nhìn ngôi trường xưa. Qua Ngã Sáu Chợ Lớn ngày xưa bây giờ đổi tên đổi họ hết trơn. Ngã Sáu Chợ Lớn bây giờ còn Nguyễn Tri Phương như cũ, Minh Mạng là Ngô Gia Tự và Ðại Tá Trần Hoàng Quân là Nguyễn Chí Thanh. Ngang qua Ðại Học Xá Minh Mạng hồi đó, bây giờ là Ký Túc Xá Ðại Học Y Dược mà năm 1976 có tên là Ký Túc Xá 230 Ngô Gia Tự. Với những anh em sinh viên thời chúng tôi, ai lại không nghe, không tới Ðại Học Xá Minh Mạng một lần. Tôi thì có chỗ ở nơi dạy kèm mấy đứa nhỏ, hồi đó gọi là “précepteur”, sau lưng Ciné Văn Hoa dưới Tân Ðịnh, không thì cũng xin vào trỏng rồi. Gần như Thứ Bảy, Chủ Nhật nào, tôi cũng chun đầu vào nơi gió cát nầy, vui với anh em “bạch diện thư sinh” nghèo quá đổi là nghèo! Trường Chu Văn An bây giờ không còn tên và sao hiu hắt, cô quanh quá sức. Cửa đóng then cài im ĩm, không một bóng người. Cửa hông bước vào trường ngày trước nằm phía bên phải với Câu Lạc Bộ, nay bị bít kín và trổ cửa khác nằm phía bên trái cổng lớn của trường. Bức tường cao phía trước có kéo những vòng kẽm gai “concertina”, nhìn nhà trường như nhà tù. Ai mà không xúc động, không buồn được tôi khen. Trường tôi vĩ đại, sống động biết mấy ngày nào, sao nay đìu hiu, cô quạnh, không hồn đến như thế! Mà sao lạ nhỉ, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không xây được một ngôi trường học mới mẻ nào hết trơn, dù thời gian đã dài 36, 37 năm “giải phóng”rồi, ngoài nhà hàng, khách sạn, tụ điểm ăn chơi…Thẳng tới phía trước, bên kia đường không còn cô gái Tàu phụ với ông già bán nước rau má hồi nào. Cô ta có khi đã về Trung Quốc theo “nạn kiều” rồi chăng? Nhớ năm 1965-1966, xe nưóc rau má của cô ta thường được bu quanh bởi mấy anh “…thứ ba học trò”, nhất là học trò Chu Văn An.

Họ tới để uống nước rau má cho “mát” bụng cũng có mà để nhìn cổ cho “mát” hai con mắt cũng có. Tôi chẳng biết cô ta tên là gì, thường anh em cứ gọi là A Muối và chọc cổ mấy tiếng Tàu học lóm: “nị hữu len”. A Muối cười mủm mỉm, ai cũng muốn hun cái má đỏ hây hây của cổ cho đả. Nói đến A Muối lại nhớ đến anh chàng Bình Mập mê gái mà thấy gái thì run chết cha. Khoái A Muối, cứ bao tôi, Sử uống nước rau má hoài khỏi trả tiền, để cho nó lại gần mà dạn miệng dạn mồm chỉ để nói: “A Muối, nị hữu len”. Nó cũng là thằng khoái làm thơ thua xa thơ con cóc người ta mà cứ thơ với thẩn hoài. Thằng Sử ngán quá, gán cho nó một cái tên kể ra cũng xứng, đó là Ngụy Thi Sĩ và nhại mấy câu thở để đời của nó: “Hôm qua tao đi học. Quen cô gái trên đường. Về nhà nhớ nhớ thương. Hôm sau tao đi học. Không gặp cô gái hôm qua. Chắc cổ ở nhà? Ở nhà với mẹ hay đi với bồ? Tao khổ”.

Quây sau lưng là Nhà Thờ Văn Lang đứng uy nghiêm, lặng lẽ, cô độc như thuở nào trời đất ngày xưa tôi đi học, có khác là bây giờ sơn phết màu đỏ hồng sáng chói, không như hồi đó trắng trắng bạc thếch. Nhà thờ khởi công xây dựng từ năm 1922, đến năm 1928 mới xong. Gọi là Nhà Thờ Văn Lang chắc nhà thờ nằm trong Công Viên Văn Lang? Nhà thờ Văn Lang vì nằm kế Ngã Sáu Chợ Lớn nên người ta cũng gọi là Nhà Thờ Ngã Sáu. Nhà Thờ Ngã Sáu còn có tên khác nữa là Nhà Thờ Jeanne d’Arc. Toàn khu công viên nầy, hồi đó tôi được một chú Chệt thuờng mặc bộ đồ tàu vải lụa đen đi tới đi lui trong công viên cho biết: “đất nầy thời trước là nghĩa địa của Người Huê Kiều, Người Pháp gọi là Plaine des Tombeaux”. Công viên, nhà thờ ở đây, ai học Chu Văn An dù thời xưa hay thời nay, tôi dám cả quyết đều nghĩ như nhau là, sao tiếng ve sầu đánh tiếng buồn quá sức, não nùng quá sức và ngôi nhà thờ quanh năm cô quạnh, thê lương, lạnh lẽo cũng quá sức. Tiếng chuông réo rộn ràng giờ giải lao. Người thì vào Câu Lạc Bộ mới, có bà chủ lúc nào cũng la lối và hai cô con gái nhà ai coi cũng xinh xinh lắm chứ. Tôi có vào đây gần như lúc nào cũng “cho ly đá chanh” và lúc nào hai cô cũng nhìn tôi, cười chím chím rồi nhỏ nhẹ “biết rồi, khổ quá, nói mãi” anh ơi. Người thì tụm lại với nhau trong sân trường, nói chuyện đời lính tráng sắp đến nơi. Người thì ra cổng, quẹo phải tới với cô gái Tàu bán nước rau má. Người thì ra cổng đi thẳng qua bên kia đường, dạo vòng vòng trong Công Viên Văn Lang, chắc tìm “yến sĩ phi lý thuần”, không phải “lạy Chúa, con là người ngoại đạo”? Trong công viên nầy, vào một chiều, chắc là Mùa Xuân năm 1966, có khoảng một chục nữ sinh áo dài trắng, quần dài trắng tự giới thiệu là Học Sinh Trung Học Thủ Thừa, Long An “lên đây bán Ðặc San Trung Học Thủ Thừa cho các anh Chu Văn An”. Bán ở đâu không bán lại bán nhằm chỗ anh hùng tứ chiếng thì “các cô từ chết tới bị thương” mà thôi. Thân gái dặm trường từ một quận nhà quê xa lắc xa lơ mà dám vào hang cọp chốn thị thành Thủ Ðô. Chốn thị thành Thủ Ðô đó lại là tụ điểm của những “Anh Hùng Lương Sơn Bạc” Chu Văn An thì các cô khác chi “hoa lạc giữa rừng gươm”. Các cô chỉ lạng, lách, né, tránh cho khỏi đụng qua đụng lại với các anh mua thì không mua mà nhiệt tình muốn xáp lá cà cũng đủ “mệt đứt hơi” rồi, còn đâu mời mọc bán hàng. Túng thế, các cô Nữ Sinh Trung Học Thủ Thừa “cám ơn các anh” chạy lấy thân muốn chết mà thề không bao giờ bén mảng. Chạy hốt hoảng làm sao, một chiếc guốc của cô nào đó bị tuột ra khỏi chưn mà không dám quây trở lại mang đi.

Một ngày cuối năm 1965, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ là Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương lúc bấy giờ có đến thăm trường. Anh em trong trường kháu với nhau về ông Thủ Tướng trẻ tuổi tài cao xuất thân từ Trường Chu Văn An cũng là Trường Bưởi của mình đầy khâm phục và hãnh diện. Hồi đó tuổi trẻ chúng tôi, hình ảnh một ông Tướng trẻ, đẹp, oai nghiêm, phong trần, phong lưu như Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ là một mẫu người lý tưởng, là một thần tượng. Sân trường chật trò, chật thầy rộn ràng tiếng cười nói, hoan hô, vỗ tay rần rần một khoảng không gian trời đất. Một đề nghị “xin dời Trường Chu Văn An đi một nơi khác vì ở đây gần Bệnh Viện Bài Lao” được Thiếu Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương “hoàn toàn đồng ý và sẽ dời trường xuống khu Phú Thọ”. “Dời trường xuống khu Phú Thọ” không thấy mà thấy Trường Trung Học Công Lập Chu Văn An cứ ở lỳ đó cho đến ngày Việt Cộng vào cướp đoạt. Một lời hứa “lèo” của ông “Thủ Tướng Bốc Ðồng” làm mất mặt, thất vọng đàn em đón, đưa ổng hết sức nồng nhiệt buồn biết chừng nào! Tôi không nhớ chắc. nhưng có lẻ là cuối năm 1966, tin đồn một thầy nghe nói là dạy dưới Trường Trung Học Bến Tranh, Ðịnh Tường lên làm Hiệu Trưởng Trường Chu Văn An. Một thầy dưới một Quận của một Tỉnh xa xôi không biết giỏi đến cở nào mà leo lên chức Hiệu Trưởng của một trường nổi tiếng khắp nước là một chuyện lạ. “Chắc có áp phe, nếu không thì con ông cháu cha”, thầy trò to nhỏ với nhau như vậy. Không lâu, Thầy Dương Minh Kính ở dưới lên đây làm Hiệu Trưởng thiệt. Thầy người Bắc, không được cao lắm và cũng chẳng đẹp trai chút nào và chắc chẳng ai những ngày đầu “tâm phục, ý phục” bao giờ. Rồi thầy có cải cách hay không cải cách, có làm tốt hay làm dở tôi cũng không quan tâm chuyện mấy người lớn, hơn nữa mấy tháng sau là tôi đã ra trường rồi. Vài năm sau, nghe thầy là Dân Biểu Quốc Hội. Vậy thì, thầy giỏi thiệt.

Niên khóa 1966-1967 chúng tôi tham dự Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Học Ðường đầu tiên do thầy giáo Lê Ðình Ðiểu cũng là cựu học sinh Trường Chu Văn An khởi động. Cứ cuối tuần, một nhóm chúng tôi tụ tập trong Sở Thú, Thị Nghè tập hát, kể chuyện, đối thoại, cắm trại…Nhưng không được mấy lần thì tôi nghỉ luôn và chương trình anh em có còn tiếp tục nữa hay ngưng thì tôi không biết. Có điều, bài hát buổi sinh hoạt đầu tiên là bài hát mới sáng tác của Nhạc Sĩ Phạm Duy, bài Việt Nam, Việt Nam. “Việt Nam, Việt nam nghe từ vào đời. Việt Nam hai câu nói bên vành môi. Việt Nam nước tôi…” nghe sao hay quá, mau thuộc lòng quá và nhớ lâu đến bây giờ. Cũng trong năm nay, nếu trí nhớ tôi còn tốt thì anh bạn Tín người Nam, không phải Tín người Bình Ðịnh có làm Ðặc San Nhóm Lửa cho Lớp Ðệ Nhất C. Nói là đặc san, thật ra hình bìa là tờ giấy trắng có in ngọn lửa đỏ là hiệu đoàn của nhà trường. Những bài viết bên trong chắc khoảng 60 trang giấy đánh máy, quay ronéo, mực đen. Tất cả đóng thành tập. Tôi có một bài dài hơn một trang nói về những kẻ giàu thì hoang phí mà những kẻ nghèo một miếng ăn tìm rất khó. Anh Tín nói: “ông bạn là một Nhà Xã Hội Học”. Nói về tên anh em năm học đó, chắc tôi quên nhiều hơn nhớ: Ý, Bách, Lữ, Tín Nam, Tín Bình Ðịnh, Phát, Thắng, Sử, Nghĩa, Chính…Bách thì tôi gặp lại một lần trong Trường Bộ Binh Thủ Ðức, chắc trong trường hợp giáo chức bị động viên. Ngồi kế bên tôi, Chính là anh chàng người Bắc, cao to, giỏi đàn địch, cứ hát và khen hay hoài bài Ai Nói Với Em của Nhạc Sĩ Minh Kỳ mới ra: “ai nói với em, nếu anh là lính, không biết nói yêu mỗi khi gần em” và khoái biết chừng nào, ảnh đập tay, giựt chưn đoạn “khi lính đã yêu, rừng tàn núi lở. Tình còn vững bền muôn thuở. Bao la như lòng đại đương”. Phát sau nầy nghe nói vào Khóa I Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị, Ðà Lạt không biết phiêu bạt nơi nào. Phát một lần với tôi lên Ðà Lạt dự Trại Hoa Anh Ðào do Tướng Kỳ tổ chức? Chúng tôi uống Cà Phê Tùng, đi ngựa bờ Hồ Xuân Hương, dự lễ Nhà Thờ Con Gà, đi vòng vòng Khu Chợ Hòa Bình. Lữ và một, hai anh em nữa từ Trường Lasan Tabert qua, có giỏi Tiếng Pháp thiệt nhưng không giỏi các môn khác còn lại, có vẻ ít thân thiện với bạn bè chung quanh. Có phải Tây và Ta không hợp nhau hay mấy ông học Trường Tây là con nhà giàu đâu khoái giao du với bàng dân thiên hạ không “môn đăng hộ đối” với mình? Thắng thường khoe mình trong Ban Nhạc Mây Trắng. Tôi không rành ca, nhạc nên không biết Ban Nhạc Mây Trắng, Mây Hồng gì của Thắng.

Thường, chiều Thứ Sáu sau khi Thầy Tự, Giám Thị dãy lầu I đi một vòng kiểm điểm là Thắng dzọt qua cửa sổ đi liền, đi tuốt. Sau thi Tú Tài II, không biết Thắng đậu hay rớt và đi đâu. Sử, anh chàng sún răng, con nhà giàu ở Huỳnh Tịnh Của miệt Tân Ðịnh, chơi tennis ở Tao Ðàn, học cũng học mà chơi cũng chơi. Ðậu Tú Tài II một lần với tôi. Nghe nói, Sử Sún vào Quốc Gia Hành Chánh năm 1967, nhưng không gặp một lần. Ý, nhà trong Cư Xá Ðô Thành, sát Trường Tiểu Học Bàn Cờ, thích cà phê đen với thuốc hút, không mần mò học với hành nhiều. Rớt Tú Tài II, Ý vào Thủ Ðức, không biết tới bể dĩa đã lên tới lon gì hay đã “vị quốc vong thân”? Hồi đi học chung, tôi thỉnh thoảng tới nhà Ý nhiều lần nhưng mấy lần sau không biết tại làm sao, tôi không tìm ra được nhà của Ý, đành xa cách nhau biền biệt từ đó. Chúng tôi là tôi, Thắng, Sử, Ý bốn thằng thường “coupe cours” bằng con đường “chun lỗ chó” vách tường trên đường Triệu Ðà hay hàng rào lưa thưa cuối trường. Thường bốn đứa ra Quán Chú Chệt bên kia Ðường Trần Hoàng Quân, ngay ngã tư hai Ðường Trần Hoàng Quân và Ðường Triệu Ðà. Trốn học vì “học không dzô” như thằng Ý nói. Những giờ Triết của Thầy Trần Ðức An, Thầy Huỳnh Già thì không đứa nào đành bỏ học. Thầy Lương dạy Anh Văn cả bốn đứa cũng ráng ngồi nghe, ngồi học đường hoàng. Giờ Lý Hóa và Toán của Thầy Lâm thì y như rằng, rủ nhau “ra uống cà phê tụi bay”, thằng Sử dụ. Mấy giờ Pháp Văn, Sử Ðịa…thì “khi vui nó đậu, khi buồn nó bay” chưa biết chừng. Ra Quán Chú Chệt để làm gì, thì cũng để cho khuây khỏa mà hút thuốc Bastos Ðỏ, Bastos Xanh với cà phê đen, cà phê đá chớ gì. Tôi, bị tụi nó chữi hoài “nghèo mà sang”, cứ hút Capstan không. Thật ra, mình không “bụi đời” mà chơi nổi mấy loại thuốc đó. Nó vừa khô khốc lại vừa đắng nghét, “ngon chỗ nào”.

Cà phê tiệm mấy anh Ba Tàu ở Chợ Lớn thì giống nhau y hệt, nấu trong một túi vải. Người Miền Nam bình dân ta đặt cho nó một cái tên hết sức biểu tượng là “cà phê dợt”, “cà phê dớ”. “Cà phê dợt”, “cà phê dớ” vì nấu trong một cái túi vải thụng thịnh như một cái vợt, như một cái vớ. Cũng cà phê đó, bỏ sửa vào là “cà phê sửa”, bỏ đá vào là “cà phê đá”, không bỏ gì hết là “cà phê đen”. Thuở đó, các tiệm nước bình dân Vùng Chợ Lớn đâu có cà phê “cái nồi ngồi trên cái cốc” của mấy anh Bộ Ðội Nhân Dân ngốc nghếch ngoài Bắc đem vào. Ngày đó, đường sá còn rộng thênh thang, tôi đi học bằng xe đạp. Chiếc xe đạp “cà tàng”, cà rịch cà tang tôi đạp từ con hẻm Trần Quang Khải, bên hông Ciné Văn Hoa dưới Tân Ðịnh xuống tới Chợ Lớn, xa cũng xa thiệt. Ði học, tôi thường đi qua khúc Ðinh Tiên Hoàng rồi thẳng trước mặt Hiền Vương, qua Công Trường Dân Chủ đếnTrần Quốc Toản quẹo trái lên Pétrus Ký mà vào Ngã Bảy rồi quẹo phải trên Ðường Minh Mạng để tới trường. Nghĩ đường sá xa xôi, mình cũng bắt chước bạn bè làm Thẻ Công Quản Xe Buýt Saigon đi cho bớt mệt và tiết kiệm được đồng nào hay đồng nấy. Nhưng có thẻ rồi, bây giờ ngồi nghĩ lại, không biết mình đã đi một lần nào chưa nhỉ. Xe Bus, đi còn lâu hơn xe đạp. Nó chạy rề rề, ngừng nhiểu trạm, giờ giấc không chắc ăn. Nghĩ vậy, thôi “ta về ta tắm ao ta” chiếc xe đạp cũ bảo đảm hơn. Thà ta đi một vòng có dài mà nghêu ngao được lời ca, tiếng hát thênh thang, thong dong…Huống gì hồi đó đi học bằng xe đạp, tôi lại có một mối tình nho nhỏ với một cô nữ sinh lớp Ðệ Tam của Trường Gia Long. Chúng tôi cùng trong con Hẽm Trần Quang Khải. Cổ, nhà sát Trường Trung Học Tư Thục Văn Hiến. Tôi, nhà ở sâu trong xóm, bên bờ Kinh Cầu Bông. Khi nào gặp nhau, chúng tôi thường kè kè song đôi, chuyện vu vơ, buâng quơ ra Trần Quang Khải, quẹo phải Ðinh Tiên Hoàng, đến Phan Thanh Giản quẹo phải, chạy tới Ðường Bà Huyện Thanh Quan thì cô bé lúc nào cũng như lúc nấy, vừa cười vừa nói “ráng đạp nghen anh” mà vào trường. Tôi thì tiếp tục hết đường nầy cho tới Ngã 7 rồi vào Minh Mạng, đến Ngã 6 Chợ Lớn, lại tiếp Ðường Minh Mạng để tới trường.

Thỉnh thoảng chúng tôi nói với nhau “hôm nay có phim hay” mà rủ vô Ciné Văn Hoa, ngồi kế bên nhau coi mà chưa từng đụng tay, đụng chưn với nhau bao giờ. Rồi tôi đi xa như đời lính người trai thời chiến và cô bạn nho nhỏ Gia Long của tôi đi lấy chồng như đời một người con gái thường tình nhi nữ. Người mà tôi cả gan nắm tay và dám hun lên má đầu tiên đời người con trai nhát gái của tôi chính là vợ tôi, không ai khác. Ðâu cũng là một cái duyên, người ta gọi là “duyên tiền định” phải không? Tôi có học Chu Văn An, tôi mới đi dạy kèm mấy đứa nhỏ dưới Tân Ðịnh. Tôi có đi dạy kèm mấy đứa nhỏ dưới Tân Ðịnh, tôi mới gặp cô nữ sinh Ðệ Tứ của Trường Văn Hiến lấy làm vợ. Trường Chu Văn An từ đó còn thêm một ý nghĩa hết sức thi vị cho đời học sinh của tôi khi nhắc tới.

UserPostedImage


Ði ngang trưòng cũ, trường đã đổi tên, lòng tôi buồn với vợi. Ngày đó niên khóa 1965-1966, năm học cuối cùng của tôi, Trường Trung Học Chu Văn An rộn ràng tiếng nói cười xôn xao, lao xao vút trời cao bao la. Bây giờ cửa sắt lớn, cửa sắt nhỏ đóng kín mít; tường gạch cao rào kẽm gai; chung Niên khóa 1965-1966 là năm học cuối cùng của tôi ở Trường Chu Văn An, lúc nào cũng rộn ràng biết mấy âm thanh vang vang tiếng cười nói xôn xao cả một khu phố, bay bổng lên khoảng trời cao bao la, mênh mông. Bây giờ nhìn lại trường không còn tên như Sài Gòn đã mất tên Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Ðông! Ai mà không cảm thấy quanh quẩn ngột ngạt bầu không khí u buồn hun hút, mịt mùng. Lối vào, cổng sắt lớn, cổng sắt nhỏ đóng kín. Mặt ngoài Câu Lạc Bộ của nhà trường hướng ra đường Minh Mạng, bây giờ là Ngô Gia Tự không có cửa nào như ngày xưa mở toang ra cho học trò cứ ở ngoài mà vẫn mua được ly trà đá, ly cà phê, tập giấy, cây viết…“Trường Chu Văn An của tôi hồi đó, bây giờ nhà tù!?”, tôi buồn buồn tự hỏi trong lòng. Người ta vào đây gọi là “giải phóng”, nhưng giải phóng cái gì nhỉ!? Ðã 37 năm dài như đã nói ở trên, không thèm xây thêm một trường học nào cho ra một trường học nào ngay tại cái đất Sài gòn nầy, nói chi xa xôi ở đâu. Họa chăng, họ làm cho mù mờ đi, nhạt nhòa đi, mất mát đi dấu vết trường xưa nổi tiếng của người ta như Trường Trung Học Chu Văn An của tôi thì có. Họ lo cướp đất của đám dân nghèo thấp cổ bé miệng mà cất thêm nhà tù nhốt ai dám “chê” Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hay cả gan “chỉ trích” các tên cai trị đầu sỏ độc tài, độc ác còn không đủ thì giờ, thì giờ đâu lo ba cái chuyện trường với lớp, học với hành cho mệt? Bất hạnh thay! Trường nào ngày xưa tôi không biết, nhưng với tôi, ai đã học Chu Văn An trước khi Việt Cộng vào, bây giờ về thăm trường cũ mà không bàng hoàng, không xót xa, vẫn tỉnh bơ như không có gì mảy may trong lòng thì tôi chịu thua mà phải khen lên rằng: “ông thiệt là người sắt đá, vô cùng sắt đá”.
/.

NGUYỄN THỪA BÌNH

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Hạ Vi  
#2139 Posted : Wednesday, July 28, 2021 3:36:35 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,588
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)
.

UserPostedImage


Đừng trở lại


Anh ra đi Sài Gòn xưa đã chết
Cây me già cô độc đứng nghe mưa
Ðừng trở lại chẳng còn gì nữa hết
Em đã tàn hương sắc của năm xưa

Anh ra đi phố phường xưa đổi khác
Ngọn đèn xanh le lói bóng ga chiều
Những kỷ niệm vàng hoe trên mái tóc
Tóc em buồn từng sợi rối đêm khuya

Anh ra đi cửa lòng em đã đóng
Với đau thương chồng chất thuở xuân thì
Ðừng trở lại chẳng còn ai mong ngóng
Xuân đã tàn từ độ én bay đi

Anh ra đi em một mình lầm lũi
Con đường câm trong những tối không đèn
Ðừng trở lại em quen rồi cực khổ
Anh cũng quen rồi cuộc sống ấm êm

Anh ra đi mùa đông buồn ghê lắm
Mùa mưa dài thăm thẳm ở nơi đây
Ðừng trở lại chẳng cần ai đưa đón
Ðể em ngồi nghe lá khóc trên cây

Anh ra đi mẹ bao lần đã nhắc
Ðứa con yêu lưu lạc ở phương nào
Anh có đọc nỗi buồn sâu trong mắt
Mắt mẹ già năm tháng đã hư hao

Anh ra đi đàn em thơ đã lớn
Nhìn hình anh ngơ ngác hỏi là ai
Bầy chim nhỏ giữa trời đầy giông tố
Chim đầu đàn vẫn biệt dưới chân mây

Anh ra đi quê hương nghèo hơn trước
Những lầm than vẫn nối tiếp nhau về
Bài thơ cũ mơ làm người yêu nước
Ðến bây giờ anh còn nhớ hay quên



Trần Trung Đạo




UserPostedImage
Hạ Vi  
#2140 Posted : Tuesday, August 24, 2021 11:24:53 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,588
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)



Giáo dục thời Việt Nam Cộng Hòa

UserPostedImage



Sau năm 1954 nước Việt Nam bị chia làm hai, từ vĩ tuyến 17 trở vô đến Cà Mau có 20 triệu dân, là vùng đất Tự Do, theo chế độ Cộng Hòa, thủ đô là Sài Gòn. Nước VNCH về hành chánh chia ra 40 tỉnh và về quân sự chia ra 4 vùng chiến thuật

Vùng I có 5 tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi.

Vùng II có 12 tỉnh: Kontum, Bình Ðịnh, Pleiku, Phú Bổn, Phú Yên, Darlac, Khánh Hòa, Quảng Ðức, Tuyên Ðức, Ninh thuận, Lâm Ðồng, Bình Thuận.

Vùng III có 9 tỉnh: Tây Ninh, Bình Long, Phước Long, Bình Dương, Long khánh, Bình Tuy, Gia Ðịnh, Biên Hòa, Phước Tuy.

Vùng IV có 17 tỉnh là Châu Ðốc, Kiến Phong, Kiến Tường, Hậu Nghĩa, Kiên Giang, An Giang, Vĩnh Long, Ðịnh Tường, Long An, Chương Thiện, Phong Dinh, Vĩnh Bình, Kiến Hòa, Gò Công, An Xuyên Bạc Liêu, Ba Xuyên.

Những năm đầu sau khi Pháp rút về nước, giáo dục Việt Nam tiếp tục cái gì có trước. Cho đến Ðại Hội Giáo Dục Toàn quốc năm 1958, VNCH mới xây dựng nền giáo dục độc lập dựa trên 3 nguyên tắc: Nhân Bản-Dân Tộc và Khai Phóng.

- Nhân Bản: Giáo dục coi con người là cưu cánh, tôn trọng giá trị thiêng liêng của con người.

- Dân Tộc: Giáo dục tôn trọng giá trị của gia đình, quốc gia, phù hợp với truyền thống văn hóa, phong tục, đạo đức Việt Nam.

- Khai Phóng: Giáo dục theo phương pháp khoa học, nội dung khoa học, theo đà tiến bộ của nhân loại và tôn trọng giá trị các quốc gia khác.

Giáo dục VNCH có ba cấp như các nước trên thế giới là: tiểu học, trung học và đại học.


Bậc tiểu học học trình 5 năm

Từ lớp 1 đến lớp 5. Trẻ em từ 6 tuổi được cha mẹ ghi tên vào lớp 1, học miễn phí. Tuy VNCH không có chủ trương cưỡng bách giáo dục, nhưng do phụ huynh có ý thức cao cho nên tất cả trẻ em hầu như đều học qua bậc tiểu học.

Chương trình học gồm các môn Việt Văn, Toán, Khoa học Thường thức và Ðức Dục hay Công Dân Giáo Dục.

Giáo dục tiểu học thời VNVH phát triển nhanh chóng và vượt trội so với thời Tây đặc biệt vế số lượng học sinh. Thời Tây 1930, toàn Ðông Dương có 406,669 học trò gồm sơ và tiểu học trong đó có 20% là học trò Lào và Miên.

Thời Ðệ I Cộng Hòa, năm học 1960 miền Nam có 1 triệu 214,621 học sinh tiểu học, 112, 129 học sinh trung học. Tăng 200% so với niên học 54-55, lúc mới thâu hồi độc lập từ tay Pháp.

Bậc trung học chia ra 2 cấp


1. Trung Học Ðệ I Cấp/Trung học Cấp I: học trình 4 năm, có 4 cấp lớp 6, 7, 8, 9:

Học sinh vào trường công phải thi tuyển, không đậu có thể học trường tư. Chương trình gồm Việt Văn, Lý Hóa, Vạn Vật, Toán, Sử Ðịa, Công Dân và Sinh Ngữ. Môn Nhiệm Ý là Nhạc, Hội họa, Thể thao, Nữ công dành cho nữ sinh.

Cuối năm thứ Tư/lớp Ðệ Tứ, học sinh thi lấy bằng Trung Học Ðệ I Cấp.

Ðậu bằng Trung Học Ðệ Nhứt Cấp học sinh có thể ra đi làm, có thể thi vào trường Sư Phạm Cấp Tốc để trở thành giáo viên tiểu học; hoặc tiếp tục học tiếp lên.

2. Trung Học Cấp II Cấp/Trung học cấp II: học trình 3 năm, có 3 cấp lớp 10, 11, 12:

Muốn vào học lớp 10, phải có bằng Trung Học Ðệ I Cấp. Học sinh học các môn như Trung Học Ðệ I Cấp nhưng sâu hơn và có thêm môn Triết Học cho học sinh lớp 12.

Từ lớp 10, có phân 4 ban: Ban A Khoa Học Thực Nghiệm), Ban B (Toán), Ban C (Sinh Ngữ), Ban D (Cổ Ngữ). Học sinh tự do chọn ban theo sở thích cá nhân.

Xong lớp Ðệ Nhị tức lớp 11, học sinh thi lấy bằng Tú Tài I. Học tiếp lớp 12/Ðệ Nhứt, thi lấy bằng Tú Tài II.

Trường Trung Học Nguyễn Ðình Chiểu Mỹ Tho là một trường trung học có lâu đời ở miền Nam.

Trường Nguyễn Ðình Chiểu Mỹ Tho khởi đầu từ một trường Tiểu Học (École Primaire) gọi là trường tỉnh, dạy tới lớp Nhứt. Lúc đó trường tiểu học Mỹ Tho bằng lá, cất ở gần khu Nhà Việc làng Ðiều Hòa, nay là khu Trung Tâm Thương Mại Mỹ Tho.


UserPostedImage



Năm sau trường tiểu học Mỹ Tho dời đến nơi mà trước kia là nhà của vị quan triều Vua Tự Ðức tên là Ngô Phước Hội, gần tòa bố.

Ngày 14 Tháng Sáu 1880, Le Myre de Vilers thống đốc Nam Kỳ ban hành nghị định 17 Tháng Ba 1879, cho phép tỉnh Mỹ Tho thành lập một trường trung học lấy tên là trường là “Collège de My Tho”, trường trung học đầu tiên ở xứ Nam Kỳ.

Collège de My Tho (lúc đầu còn bao gồm cấp tiểu học) thành lập trên khu đất rộng 25,000 mét vuông, 4 hướng bao bọc bởi 4 con đường. Hướng Ðông có cổng chánh quay ra đường số 9, sau đổi tên là Rue D'Aries, đến 7 Tháng Tư 1954 Thủ Hiến Nam Phần đổi tên là đường Lê Lợi tới nay.

Hướng Tây quay ra đường Filippini nay là Hùng Vương.

Hướng Bắc quay ra là đường số 3, sau đổi tên là Colombert, rồi Maréchal Pétain, Albert Buissiere, đến ngày 7 Tháng Tư 1954 Thủ Hiến Nam Phần đổi tên là đường Ngô Quyền tới nay.

Hướng Nam quay ra đường số 20, rồi sau đổi tên Rue de Landes, ngày 7 Tháng Tư 1954 Thủ Hiến Nam Phần đổi tên là đại lộ Lê Ðại Hành tới nay.

Collège de My Tho hoạt động được 10 năm, đến ngày 11 Tháng Mười Hai 1889 Thống đốc Nam Kỳ ra lịnh đóng cửa hệ trung học (tiểu học vẫn tiếp tục) vì không có ngân sách, cho nên học trò một số có tiền lên Sài Gòn học ở trường Collège D'Adran.

Ðến năm 1894 Collège D'Adran ngưng hoạt động nên Thống Ðốc Nam Kỳ phải mở lại trường Collège de My Tho để thâu nhận học trò Lục Tỉnh.

Năm 1941, Nhựt chiếm Mỹ Tho lấy Collège de My Tho làm nơi đóng quân, một số lớp dời đến học tại đình Ðiều Hòa cho tới năm 1942 Nhựt mới chuyển đi nơi khác.

Ngày 2 Tháng Mười Hai 1942 trường đổi tên là Collège Le Myre de Vilers. Năm 1953 tổng trưởng giáo dục Việt Nam là Nguyễn Thành Giung ký Nghị định 179-NÐ ngày 22 Tháng Ba 1953 đổi tên trường Collège Le Myre de Vilers thành trường trung học Nguyễn Ðình Chiểu tới nay.

Giáo viên tiểu học trước năm 1975 có chỉ số 250, giáo học bổ túc là 320, giáo sư Ðệ I cấp chỉ số 400, Ðệ II cấp lên 470. Lương giáo viên, giáo sư như thế so với ngạch công chức và quân đội, tương đối cao, nên đời sống bảo đảm, thư thả; đặc biệt vị trí người thầy luôn được xã hội tôn trọng, cha mẹ học sinh kính nể.

“Muốn sang thì bắc cầu kiều,
Muốn cho hay chữ phải yêu mến thầy”.


(Ca dao)


Bậc đại học đào tạo cử nhân, cao học và tiến sĩ.


Sau Thế Chiến Thứ II, Pháp trở lại Việt Nam, Ðại Học Ðông Dương ở Hà Nội được đổi tên là Ðại Học Hà Nội, viện trưởng vẫn là người Pháp. Sau đó có một số khoa được mở ở Sài Gòn như Luật, Y khoa và Khoa Học, do phó viện trưởng là người Việt điều hành.

Sau năm 1954, chi nhánh đại học Hà Nội tại Sài Gòn cải tên là Viện Ðại Học Quốc Gia Việt Nam, đến năm 1957 đổi tên là Viện Ðại Học Sài Gòn, tên nầy giữ cho tới năm 1975.

Khi bắt đầu diễn ra Hội Nghị Paris (trong kế hoạch chuẩn bị hậu chiến) năm 1972 VNCH thành lập Hệ Thống Ðại Học Cộng Ðồng, năm sau 1973 Viện Ðại Học Bách Khoa Thủ Ðức thành lập.

Hệ thống đại học ở VNCH không thuộc Bộ Giáo Dục, và cũng không có cơ quan chủ quản (trư trường Y Dược thuộc Bộ Y Tế chủ quản). Ðại học Việt Nam tự trị về học vụ chuyên môn. Ngân sách của đại học là bộ phận trong ngân sách Bộ Giáo Dục do Quốc Hội chuẩn duyệt hàng năm; nhân viên và giáo sư đại học thuộc Tổng Ủy Công Vụ.

Ðại học VNCH bấy giờ có hai hệ thống: Ðại Học Quốc Gia và Ðại Học Cộng Ðồng Ðịa Phương.

Ðại Học cấp Quốc Gia:

1. Viện Ðại Học Sài Gòn:

Sau năm 1954, Viện Ðại học Hà Nội chuyển vào Nam nhập vào Viện Ðại Học Sài Gòn. Viện có 8 phân khoa là Y, Dược, Nha, Sư Phạm, Khoa Học, Văn Khoa, Luật và Kiến Trúc. Có đại học xá Minh Mạng dành cho nam, Trần Quý Cáp dành cho nữ, có trung tâm Y tế chăm sóc sức khỏe cho sinh viên.


UserPostedImage



2. Viện Ðại Học Huế:

Thành lập theo sắc lịnh VNCH-1 do Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ký vào Tháng Ba năm 1957 gồm có 4 khoa như Sư Phạm, Y khoa, Văn khoa và Luật.

3. Viện Ðại Học Cần Thơ:

Ðược thành lập ngày 31 Tháng Ba 1966 do nghị định của chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương ký. Có 4 khoa là: Khoa Học, Văn Khoa, Sư Phạm, Luật & Khoa Học Xã Hội.

4. Học Viện Quốc Gia Hành Chánh thuộc Phủ Thủ Tướng:

Học viện được thành lập từ 29 Tháng Năm 1950 theo Quyết Ðịnh của Chánh Phủ Quốc Gia Việt Nam (tên gọi lúc đó), lúc đầu đặt ở Ðà Lạt, năm 1958 dời về đường Trần Quốc Toản, Sài Gòn.

5. Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, thuộc Bộ Quốc Phòng:

Sinh viên học 4 năm, môn chánh là võ khoa; môn phụ là Toán, Khoa học tự nhiên, Khoa học Xã Hội. Tốt nghiệp bằng Cử Nhơn Võ Khoa, một ngành mới mẻ đối với Việt Nam.

6. Viện Ðại Học Bách Khoa Thủ Ðức:

Thành lập do sắc lệnh của tổng thống VNCH, và hoạt động chánh thức năm 1974.

Viện bao gồm một số trường có trước như Trung Tâm Phú Thọ, Ðại Học Nông Nghiệp, Ðại Học Kỹ Thuật. Viện có lập một số trường mới như là Ðại Học Kinh Thương, Ðại Hoc Khoa Học Căn Bản, Ðại Học Thiệt Kế Ðô Thị và Nông Thôn...

Ðại học Cộng Ðồng Ðịa Phương


Trường Ðại Học Cộng Ðồng Ðịa Phương chỉ huấn luyện về chuyên môn và thực dụng, học trình 2 năm.

Cho tới năm 1975, VNCH có 5 trường:

- Ðại Học Cộng Ðồng Quãng Ðà

- Ðại Học Cộng Ðồng Nha Trang

- Ðại Học Cộng Ðồng Tiền Giang Mỹ Tho

- Ðại Học Cộng Ðồng Long Hồ Vĩnh Long

- Ðại Học Cộng Ðồng Ban Mê Thuột, mới có quyết định.


Giáo Dục Việt Nam trước 1975 ngoài hệ thống công lập còn có hệ thống trường tư.

Ðại học tư trước năm 1975 :

- Viện Ðại Học Ðà Lạt

- Viện Ðại Hoc Minh Ðức

- Viện Ðại Học Vạn Hạnh

- Viện Ðại Học Cao Ðài/Tây Ninh

- Viện Ðại Học Hòa Hảo/An Giang


Nền giáo dục Việt Nam mình từ thời dạy và học bằng chữ Hán, chữ Tây đến chữ Việt lúc nào cũng lấy phương châm “Tiên học Lễ, Hậu học Văn” làm gốc.

Từ năm 1954 nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa phát triển nhanh, chú trọng chuyên môn khoa học nhưng không buông lơi giáo dục đạo đức-luân lý cho học sinh, nhứt là bậc tiểu học.

Học sinh tiểu học trước năm 1975 được dạy Ðức Dục, Công Dân Giáo Dục từ 2 giờ đến 2 giờ 30 phút mỗi tuần. Học sinh trung học, môn Công Dân Giáo Dục 2 giờ mỗi tuần.


Nam Sơn Trần Văn Chi





UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (5)
107 Pages«<105106107
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.