Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

107 Pages«<105106107
Options
View
Go to last post Go to first unread
CỏThơm  
#2121 Posted : Friday, November 13, 2020 1:15:46 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 188
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)


UserPostedImage


áo em bay mát rượi nắng sân trường


Anh trở lại bàn chân vừa chạm ngõ
Gia Định thành xưa quen thuộc một thời
Tưởng đã quên. Mà sao lòng cứ nhớ
Cầu Chữ Y biền biệt mấy mươi năm

Ngã tư Bảy Hiền vời vợi người trông
Màu áo lụa trắng ngời ngời con mắt
Bởi vì em nên mây trời xuống thấp
Níu đời anh- chầm chậm- tháng giêng- hai

Phố Thị Nghè giờ chắc chẳng còn ai
Ngồi chải tóc- soi gương- chờ tiếng gọi
Qua Hàng Xanh anh thẫn thờ bước vội
Nghe trái tim đau đáu thuở học trò

Sài Gòn ơi! Ngày ấy quá xa mờ
Trong ký ức xanh xao buồn bật khóc
Tình mới chớm- là tình mong manh nhất
Dễ dàng phai như màu lá thu phai

Có phải xuân hồng điểm xuyết cành mai
Mang gió tết nhuộm vàng bông hoa nở
Góc phố cũ- một mình anh đứng đợi
Áo em bay mát rượi nắng sân trường



Linh Phương



UserPostedImage
Hạ Vi  
#2122 Posted : Sunday, November 22, 2020 11:12:57 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,575
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)



Một Trời Thái Thanh

UserPostedImage

Nhã Ca

25 tháng Ba năm 2020 tang lễ Thái Thanh. California đang mùa đại dịch Covid-19. Không thể ra khỏi nhà. Tôi ngồi lặng lẽ cầu nguyện và nhớ chị.

Từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước, khi Sài Gòn còn là thủ đô Việt Nam Cộng Hoà, tôi có duyên may, được làm việc bên chị Thái Thanh. Hằng tuần, liên tục nhiều năm, hai chị em cùng chủ trương một chương trình phát thanh, kết hợp bài hát với bài viết để nói lên tình tự quê hương.

Người hát- người viết, nhờ đó mà thân quí. Và càng thêm thân quí hơn, khi cả nước bị bức màn tre, bức màn sắt trùm kín. Sách báo, băng nhạc bị hỏa thiêu. Văn học, nghệ thuật bị khai trừ. Giáng sinh năm 1975, tám tháng sau đổi đời, trong khi chờ đợi đi cải tạo và tan tác, một số bằng hữu nghệ sĩ Sài Gòn tìm lại ngồi bên nhau.

Họp mặt nửa đêm Noel năm ấy, trong ánh nến long lanh, bỗng vang lên tiếng ai đó dục giã: “Hát đi, Hát đi chứ.” Rồi nghe giọng chị Thái Thanh tinh nghịch, ra vẻ như ta đây đàn chị, yểu điệu dỗ dành: “Ừ, thì hát. Hát nhé.” Và tiếng hát vút lên cao, bất chấp mọi rình mò hù dọa.

Tiếng hát Thái Thanh. Thêm tiếng đàn Hoài Bắc. Vẫn những cung bậc quen, những làn điệu cũ.

Từng nhịp, từng lời, nối tiếp nhau bay bổng. Chỉ vậy thôi, mà sao có lúc tôi thấy có gì đó rơi vỡ, rồi thấy mình nhoà lệ. Không. Không chỉ mình tôi khóc. Chẳng hiểu bằng cách nào, tôi biết tất cả đều khóc. Sau này hỏi thêm, tôi biết chị Thái Thanh là người khóc nhiều nhất, vì hầu hết những người họp mặt đêm ấy đều đã ra đi. Tiếng hát Thái Thanh đi theo họ. Nhiều người mang tiếng hát ra biển. Có người đi mà không bao giờ đến.

Không biết họ ra sao nhưng tiếng hát Thái Thanh những ngày này đang được nghe khắp năm châu bốn biển.

Tiếng hát ấy cũng đang ở trên trời, như thơ người tù khổ sai Trần Dạ Từ:

Sớm mai vác rựa vô rừng
Chợt nghe chim hót tưng bừng một phương
Điệu gì lơ lửng khói sương
Đúng là ông Phạm Đình Chương đây rồi
Ai kia lã lướt khóc cười
Véo von tiếng hát một trời Thái Thanh


Một trời Thái Thanh. Tiếng hát chị Thái. Tiếng hát bạn tôi đã lên trời. Bầu trời quê hương cũng chính là lòng người, cả hai miền Nam Bắc




UserPostedImage
Nhớ Thái Thanh - Minh họa: Đinh Trường Chinh



UserPostedImage
CỏThơm  
#2123 Posted : Thursday, December 3, 2020 12:06:28 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 188
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)


Những Ngôi Chợ Sài Gòn Trước 1975



Credit video: Dòng Nhạc Vàng





UserPostedImage
Hạ Vi  
#2124 Posted : Tuesday, December 15, 2020 4:34:01 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,575
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)



UserPostedImage


Ngợi ca tháng Chạp



Tháng Chạp về rồi bé thấy không?
Cỏ nép trong cây vẫy lá mừng
Hồn anh vội vã giăng mưa bụi
Rơi xuống cho vừa lạnh nhớ mong

Tháng Chạp về rồi bé thấy không?
Một chút màu xanh một chút hồng
Một chút vàng mơ và tím nhạt
Chưa giao thừa đã Tết trong anh

Tháng Chạp về rồi bé thấy không
Gió thôi làm rớt lá sầu đông
Anh đem nhốt nắng vào đôi mắt
Nung chảy tim thành vạn giọt sương

Tháng Chạp về rồi bé biết không?
Guốc mới ai khua ngõ nội thành
Ðể cho rêu cũ – vàng son cũ
Thức dậy buồn lên đỉnh phố xanh

Tháng Chạp về rồi bé biết không?
Không dưng lòng bỗng thấy băn khoăn
Xé tờ lịch cũ vơi năm tháng
Tình có phai dần theo tháng năm?

Tháng Chạp về rồi bé thấy không?
Anh nằm dưới cỏ nghe Mùa Xuân
Nghe sông đổ nước xuôi ra biển
Nghe biển phụ tình quên nước sông

Tháng Chạp về rồi bé vui không?
Xuân đem rượu cất ở trong lòng
Trong men cứ ngỡ mình vừa thoáng
Thấy bóng ai về trong nắng hanh.



Mường Mán





UserPostedImage
Duy An  
#2125 Posted : Wednesday, January 6, 2021 7:10:57 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,262

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Lính Nghĩ Gì? – Người lính Cộng Hòa trong dòng nhạc Lam Phương



SANTA ANA, California (NV) – Nhạc sĩ Lam Phương là một trong số các nhạc sĩ của miền Nam Việt Nam hồi trước 1975,
như Trần Thiện Thanh, Anh Bằng, Trúc Phương, Anh Thy, Nguyên Vũ, Hoàng Thi Thơ… có nhiều bản nhạc viết về người lính chiến Việt Nam Cộng Hòa.


UserPostedImage
Nhạc sĩ Lam Phương. (Hình: Trần Triết)


Trong khi nhạc Trần Thiện Thanh nổi tiếng vì các ca khúc vinh danh những anh hùng đã bỏ mình trong cuộc chiến (Anh Không Chết Đâu Anh, Người Ở Lại Charlie, Bắc Đẩu, Người Chết Trở Về…) và nhạc của Anh Thy cũng như Nguyên Vũ thì viết về tình yêu lã lướt giữa các chiến sĩ Hải Quân với những người em gái hậu phương (Hoa Biển, Tâm Tình Người Lính Thủy, Vùng Biển Trời Và Màu Áo Em, Thoáng Giấc Mơ Qua…), thì nhạc của Lam Phương thường nói đến những hy sinh, gian khổ nơi sa trường cùng với tình yêu đôi lứa của những người lính phải xa nhà, xa người yêu vì cuộc chiến.


Người chiến sĩ Cộng Hòa trong dòng nhạc của Lam Phương có thể là một anh tân binh quân dịch, tuy bước chân vào lính nhưng lòng vừa nặng nợ núi sông mà cũng vừa nặng tình với người yêu bé nhỏ nơi quê nhà, chỉ vì nàng chẳng màng chuyện kén chọn nơi giàu sang để trao thân, gởi phận mà chỉ cần người yêu của mình biết làm tròn bổn phận người trai mùa tao loạn, hăng hái lên đường tòng quân để bảo vệ quê hương đang bị Cộng Sản xâm lược là được rồi:

“Đời thường tìm sang giàu đến
Lòng này thì khác người ơi
Ước thề hứa duyên cho người
Cầm cây súng tòng quân tươi cười…”
(Bức Tâm Thư)


Người lính miền Nam Việt Nam đã tham gia chiến đấu ngay từ những ngày đầu của nền Cộng Hòa khi Hiệp Định Geneva 1954 phân chia nước Việt Nam thống nhất thành miền Bắc Cộng Sản và miền Nam Tự Do, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Ngày đó, các cán binh Cộng Sản vẫn còn được cài đặt lại để chờ ngày nổi dậy chống lại chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là tại vùng Đồng Tháp Mười và Cà Mau, nơi người lính chiến phải luôn vững tay súng để bảo vệ an ninh thôn xóm và cuộc sống yên lành cho người dân:

“Khi người lính chiến đã đấu tranh giữ hòa bình cho Đồng Tháp, Cà Mau
Ta người nông thôn quên sương gió, góp gian lao cho được mùa mong cầu…”
(Nắng Đẹp Miền Nam)


Đã chọn đời lính thì có nghĩa là chấp nhận mọi gian khổ, hiểm nguy. Và nếu chưa có người yêu nơi hậu phương thì người lính cũng có những mất mát tình cảm khi phải xa cách bạn bè thân yêu thuở thiếu thời, với bao mộng ước về tương lai:

“Rồi ngày mai ra đi, chốn biên thùy anh sá chi gian nguy
Có bao giờ anh nhớ chăng đêm nào nằm gần nhau
Hồn say mộng ước mai sau…”
(Tình Anh Lính Chiến)



UserPostedImage
Hình bìa nhạc phẩm “Biết Đến Bao Giờ” của Lam Phương xuất bản tại Sài Gòn trước năm 1975. (Hình: Tài liệu gia đình)


Người lính trong nhạc của Lam Phương bằng lòng chấp nhận những gian khổ, hiểm nguy chỉ vì lòng yêu quê hương, đất nước, mặc dù chàng vẫn tự nhủ lòng rằng sẽ yêu em cho đến trọn đời:

“Anh chốn biên thùy, đường hành quân gian nguy
Gió sương không nề vì tình dâng quê hương…”
(Thương Nhau Trọn Đời)


Chàng trai lính chiến trong nhạc của Lam Phương thường tìm cách an ủi người yêu khi xa cách, với niềm hy vọng vào một ngày mai tươi sáng:

“Em ơi anh đi vì nước non mình đợi chờ
Muôn quân đang reo lửa khói tung ngập màu cờ
Thân trai ra đi vì nước đôi vai gánh nặng
Buồn chi cách xa vì ngày vui sẽ không xa…”
(Buồn Chi Em Ơi)


Đã làm thân lính chiến thì những cách ngăn là điều không thể nào tránh khỏi trong tình yêu đôi lứa, bởi vì lúc quê hương có chiến tranh chính là “lúc non sông cần trai hùng:”

“Khi chiến tranh còn gây thêm máu lửa
Thì mộng mơ xin trả hết cho đời
Quê hương này còn mãi mãi nhờ anh…”
(Đêm Tiền Đồn
)

Tuy nhiên, nói gì thì nói, người lính chiến cũng không tránh khỏi nỗi buồn trĩu nặng trong tâm tư vì nhớ nhung người yêu nơi quê nhà xa xôi ấy, nhất là vào những đêm dài ngồi ôm súng ngăn giặc thù nơi rừng sâu, núi thắm. Và phải chi ngày nào anh chiến sĩ đừng hẹn hò, yêu đương với người em gái hậu phương thì ngày nay có đâu buồn đau:

“Nếu hôm xưa không đến tìm em với muôn lời nồng say
Thì giờ trong bóng đêm, tình đâu vấn vương và biết tìm ai nhớ thương
Đêm nay gối súng viết lên dòng thơ gởi em…”
(Đêm Dài Chiến Tuyến)



UserPostedImage
Nhạc phẩm “Biết Đến Bao Giờ” của Lam Phương xuất bản tại Sài Gòn trước năm 1975. (Hình: Tài liệu gia đình)


Dường như những lúc chiều buông chính là những giây phút người chiến sĩ hay nhớ về người yêu nghìn trùng xa cách giữa khi đất nước còn chinh chiến, điêu linh:

“Có những chiều mưa buồn giăng giăng khắp lối
Có những chiều giá lạnh tím cả hoàng hôn…
Tôi đây mang tâm tư anh lính xa nhà
Mà lòng vẫn thấy xót xa, vì non nước còn đau buồn…”
(Chiều Hoang Vắng)


Dù năm tháng cứ trôi qua với bao mùa Thu lá đổ, người lính chiến miệt mài nơi rừng sâu, núi thẳm vẫn một lòng chung thủy với người tình bé nhỏ miền xa, với biết bao niềm nhung nhớ khi vơi, khi đầy. Đáp lại, người em gái chốn quê nhà lúc nào cũng nhớ đến chàng trai lính chiến đang dãi dầu sương gió nơi sa trường, với lòng hoài vọng một ngày mai sum vầy bên túp lều tranh lý tưởng:

“Chiều nào lặng lẽ nhớ người trai đi chiến chinh
Lời thề hôm nao không nhạt phai theo tháng năm
Một mảnh trăng Thu một mối tình
Trọn đời êm ấm cùng mái tranh…”
(Mấy Độ Thu Về)


Người con gái ấy luôn nhớ tới người trai nơi chiến trường, nhất là những buổi chiều sương xuống lạnh, lòng băn khoăn tự hỏi không biết người tình ngoài biên cương có chạnh nhớ đến mình hay không, để rồi lòng nguyện lòng sẽ chung tay, góp sức với người yêu lính chiến để cùng nhau bảo vệ và xây dựng đất nước thêm tươi đẹp mai sau:

“Anh ơi, chiều nay sương xuống lạnh
Sa trường, anh có nhớ em không?
Rồi đây, bên chí trai tang bồng
Em đem chút má hồng
Để cùng xây đắp non sông…”
(Mộng Ước)


Nếu người lính chiến trong nhạc phẩm “Anh Về Với Em” của Trần Thiện Thanh đã an ủi người yêu trước cảnh lứa đôi chia lìa bằng câu “Làm người yêu lính chiến mấy ai tròn đôi” thì người chiến binh trong ca khúc “Biết Đến Bao Giờ” của Lam Phương đành lòng chấp nhận “cuộc đời chỉ ân ái với cánh thư hồng ấp yêu,” nếu không thì cũng phải “chờ đến Xuân về chiều:”

“Rừng là rừng chập chùng, giá lạnh trai chiến trường
Đêm nay xa quê hương, xa lìa tiếng nói người thương
Ngày anh lên đường chiến đấu, hoa lòng đã nở tình yêu
Nhưng chờ đâu thấy người anh yêu, chờ đến Xuân về chiều…”
(Biết Đến Bao Giờ)


Nhạc lính của Lam Phương tuy không đượm màu tang tóc, thê lương và bi tráng như nhạc lính của Trần Thiện Thanh nhưng lại buồn rười rượi hay ít ra thì cũng man mác buồn trước những cuộc tình phải chia xa vì khói lửa chiến chinh, với hoàn cảnh của biết bao thân trai giữa mùa ly loạn.

Nhưng nếu xét về vận số trong cuộc đời thì có lẽ Lam Phương – và có thể cả các nhạc sĩ Minh Kỳ, Trúc Phương và Nguyễn Văn Đông nữa – đã không gặp nhiều may mắn như những kẻ từng đồng hội, đồng thuyền với mình. Vào những năm tháng cuối đời, nhạc sĩ Lam Phương đã bị bệnh tật bủa vây cùng với niềm cô đơn chất ngất khi “nắng xuyên qua lá, hạt sương lìa cành, đời mong manh quá kể chi chuyện mình, nắng buồn cuộc tình bỗng tắt bình minh…” (Một Mình).


UserPostedImage
Bìa các nhạc phẩm “Đêm Dài Chiến Tuyến,” “Chiều Hoang Vắng,” “Mộng Ước” của Lam Phương xuất bản tại Sài Gòn trước năm 1975. (Hình: Tài liệu gia đình)


Nhạc sĩ Lam Phương qua đời vào lúc 6 giờ chiều ngày 22 Tháng Mười Hai, 2020, tại bệnh viện Fountain Valley Regional Hospital ở Orange County, miền Nam California, để lại cho đời hàng trăm ca khúc tuyệt vời, gồm những nhạc phẩm sáng tác trước năm 1975 và sau này tại hải ngoại. Có thể nói rằng mấy dòng nhạc sau đây trong ca khúc “Một Đời Tan Vỡ” của chính tác giả đã phản ánh đúng cuộc đời tình ái của người nhạc sĩ vừa tài ba vừa nổi tiếng đào hoa nhưng thiếu may mắn này:

“Tình ơi sao đen như áng mấy chiều Đông
Gió heo hút con tim lạnh căm
Đời sương gió bước chân lẻ loi, âm thầm
Giây phút yêu đương xa vời lắm…”


Tưởng niệm một nhạc sĩ tài hoa, hiền hậu và dễ mến như Lam Phương, có thể người ta phải nghĩ ngay đến thuyết “tài, mệnh tương đố” (“chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau,” tức là hễ người tài ba thì hay gặp định mệnh khắt khe) của người xưa – mà tiêu biểu là cuộc đời đầy sóng gió của nàng Vương Thúy Kiều tài, sắc vẹn toàn, nhân vật chính trong tuyệt tác phẩm “Đoạn Trường Tân Thanh” của đại thi hào Nguyễn Du hồi thế kỷ 19 – qua hai câu thơ: “Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau…”


Vann Phan/Người Việt
Dec 26, 2020

UserPostedImage
CỏThơm  
#2126 Posted : Saturday, January 23, 2021 1:53:49 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 188
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)


TIẾNG "DẠ" thân thương !


UserPostedImage


🌻.Nghe tiếng "Dạ" sao mà thương đến lạ. Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ "dạ" khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ "vâng". Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ
"vâng". Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói "vâng!" là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt.

Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ "dạ" vào mỗi câu nói:

''Mày ăn cơm chưa con ?

- Dạ, chưa!"

"Mới dìa/dzề hả nhóc?

- Dạ, con mới!"…

Cái tiếng "dạ" đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó "thương" lạ...dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác.
Nghe một tiếng "dạ" là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẵng hay...

Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói:

"Từ bữa đó đến bữa nay", còn người Sài Gòn thì nói: "Hổm rày", "dạo này"…

Người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ "ghê" phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng.

Tiếng "ghê" đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là "nhiều" là "lắm". Nói ''Nhỏ đó xinh ghê!", nghĩa là khen cô bé đó xinh lắm vậy. Lại so sánh từ "hổm nay" với "hổm rày" hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một
ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ "hổm rày, miết…" là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất miền
Nam chung mà.

Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem… "Nhỏ đó dễ thương ghê!", "Nhỏ đó ngoan!"… Tiếng "nhỏ" mang ý nghĩa như tiếng "cái" của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi "nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên"
thì cũng như "cái Thuý, cái Uyên, cái Lý" của người Hà Nội thôi.

Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu "Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề… nhìn phát bực!" Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm.

Một người lớn hơn gọi:

"Ê, nhóc lại nói nghe!"

Hay gọi người bán hàng rong:

"Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!"…

"Ê" là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người SàiGòn.

Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường quên mất từ "bán", chỉ nói là:

"Cho chén chè, cho tô phở"…

"Cho" ở đây là mua đó nghen.

Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này:

"Lấy cái tay ra coi!"

"Ngon làm thử coi!"

"Cho miếng coi!"

"Nói nghe coi!"…

"Làm thử" thì còn "coi" được, chứ "nói" thì làm sao mà "coi" cho được nè ? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ "coi", cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà.

Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi:

"Mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?"

– Mà "dzậy ta" cũng là một thứ "tiếng địa phương" của người Sài Gòn à.

Người Sài Gòn có thói quen hay nói:

"Sao kỳ dzậy ta?"

"Sao rồi ta?"

"Được hông ta?"…

Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà...hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.

Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… "bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!"

Mà giọng Sài Gòn đã thế, cách người Sài Gòn xưng hô, gọi nhau cũng có phần mang "màu sắc" riêng.


UserPostedImage


Người Sài Gòn có cái kiểu gọi "Mày" xưng "Tao" rất "ngọt". Một vài lần gặp nhau, nói chuyện ý hợp tâm đầu một cái là người Saigon mày tao liền. Nếu đúng là dân Sài Gòn, hiểu người Sài Gòn, yêu người Sài Gòn sẽ thấy
cách xưng hô ấy chẳng những không có gì là thô mà còn rất ư là thân thiện và gần gũi.

Mày-tao là kiểu xưng hô hay thấy trong mối quan hệ bạn bè của người Sài Gòn. Cách xưng hô này thấy dàn trải từ đủ các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu, cho đến mấy bác mấy anh lớn lớn tuổi.

Hổng biết cái máu dân Sài Gòn nó chảy mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó... tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ như "cậu cậu - tớ tớ" của miền Bắc. Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi mấy tiếng mày
mày tao tao thì nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và khoai khoái làm sao ấy. Gọi thế thì mới thiệt là dân Sài Gòn.

Đấy là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi nhau, chứ còn như đám nho nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú thì khác. Khi ấy "tụi nhỏ" sẽ gọi là chú, thím, cô, dì, hay bác và xưng "con" ngọt xớt. Có vẻ như người
Sài Gòn "ưa" tiếng chú, thím, dì, cô hơn; cũng như đa phần dân miền Nam khác vậy mà. Mà có lẽ cách gọi này cũng còn tuỳ vào việc ước lượng tuổi của người đối diện.

Gặp một người phụ nữ mà mình nhắm chừng tuổi nhỏ hơn mẹ mình ở nhà thì:

“Dì ơi dì...cho con hỏi chút...!" -

Còn lớn hơn thì dĩ nhiên là "Bác ơi bác..." rồi.

Những tiếng mợ, thím, cậu,... cũng tuỳ vào vai vế và người đối diện mà gọi. Có người chẳng bà con thân thuộc gì, nhưng là bạn của ba mình, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó cứ thế gọi luôn là thím.

Gọi thì gọi thế, còn xưng thì xưng "con" chứ không phải "cháu cháu" như một số vùng khác.

Cái tiếng "con" cất lên nó tạo cho người nghe cảm giác khoảng cách giữa mình với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng… gần xịt lại. Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng. Tự dưng là thấy có cảm tình liền. Nói tiếp
chuyện xưng hô, người Sài Gòn có kiểu gọi thế này :

Ông đó = Ổng

Bà đó = Bả

Dì đó = Dỉ

Anh đó = Ảnh

Chị đó = Chỉ

Cô đó = Cổ

Còn nữa:

Ở bên đó = Ở bển

Ở trong đó = Ở trỏng

Ở ngoài đó = Ở ngoải

Hôm đó = Hổm.

Nói chung, khi cần lược bỏ chữ "đó", người ta chuyển thanh ngang hoặc thanh huyền thành thanh hỏi. Không hiểu sao mà dấu hỏi tự nhiên cái trở nên giữ vai trò quan trọng... ngộ nghĩnh dzậy nữa. Nhưng mà kêu lên nghe
hay hay đúng hông? Gọi vậy mới đúng là chất miền Nam - Sài Gòn á nghen. Người Sài Gòn cũng có thói quen gọi các người trong họ theo... số. Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy, mợ Năm... Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà hổng biết nói về ai thì dzậy nè, thêm tên người đó vào.

Thành ra có cách gọi: Chị Hai Lý, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng... Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà thì tiếng "anh-chị-em" đôi khi được...giản lược mất luôn, trở thành:

"Hai ơi Hai, em nói nghe nè..." và "Gì dzạ Út ?"... Tôi thích cách gọi này, đâm ra ở nhà gọi Dì Út tôi chỉ là một tiếng Út gọn lỏn. Có chuyện nhờ là cứ "Út ơi...con nhờ chút!" hoặc với mấy chị tôi thì "Hai ơi Hai...
em nói nghe nè!".

Cách gọi này của người Sài Gòn nhiều khi làm người miền khác nghe hơi... rối. Cách xưng hô của người Sài Gòn là vậy. Nghe là thấy đặc trưng của cả một mảnh đất miền Nam sông nước. Cứ thế, không sang trọng, điệu đà
như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Kinh Thành, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước miền Nam, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái "chất Sài Gòn" chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn.

Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng "Dạ!" cùng những tiếng "hen, nghen" lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương...


Quý Nguyễn



UserPostedImage
CỏThơm  
#2127 Posted : Monday, February 8, 2021 11:46:08 AM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 188
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)




Vi giới thiệu link nhạc, click > https://www.youtube.com/watch?v=gKatyC2VE0Y

"HẸN MỘT MÙA XUÂN | Tuyển Tập Nhạc Xuân Thu Âm Trước 1975" Applause bật lên tha hồ enjoy listening với 5 hours.
(Vi vô tình gú-gồ tìm nhạc Xuân pre-75 thì thấy youtube nì...), thích lắm!


🥳 Thanks "Johnny Music Channel" youtube design hình ảnh, chữ (font) đẹp, chu đáo chọn lọc những nhạc phẩm để đời sáng tác mừng Xuân trước 1975
với nhiều chi tiết công phu set up khi đến bài hát cho thấy từng tên ca sĩ & tên bài hát trong lúc nghe thưởng thức mổi bài.





UserPostedImage
Duy An  
#2128 Posted : Tuesday, February 23, 2021 7:16:11 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,262

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
UserPostedImage



MỘT THỜI VELOSOLEX
- Tạp ghi Huy Phương


Trong những hình ảnh được lưu lại của Sài Gòn năm xưa, hình ảnh một thiếu nữ mặc áo dài trắng đi chiếc Velosolex màu đen chạy trên đường phố, có lẽ là hình ảnh đem lại cho tôi nhiều kỷ niệm nhất, nhắc nhở lại một quãng thời gian dài đã xa, mà chính mình cũng đã gắn bó với chiếc xe này.

Sản phẩm Velosolex do hai nhà sản xuất Pháp là Maurice Goudard và Marcel Mennesson cho ra đời tại Paris năm 1946, sau khi Thế Chiến Thứ II chấm dứt. Velosolex đơn giản là một chiếc xe đạp với một động cơ treo trên tay lái. Ðộng cơ có một khối kim loại cứng, hình ống, nhám để cọ xát vào lốp bánh xe trước để đẩy bánh xe đi, do vậy bánh xe trước phải luôn luôn bơm hơi căng cứng. Người sử dụng khởi động bằng cách đạp xe cho có trớn vài mét, xong đẩy bộ máy rời “ghi đông” để khối kim loại tròn ép sát với bánh xe.

Xe chỉ chạy với tốc độ từ 15 mph đến 20 mph, và cũng tùy thuộc mặt đường. Xe không thể lên dốc, người sử dụng phải đạp phụ. Mỗi lần trời mưa, bánh xe bám bùn đất, Velosolex trở nên trơn trượt, rất khó khởi động, mặt khác, ổ gắn bu-gi của xe phơi ra ngoài, gặp trời mưa bị ẩm cũng khó nổ máy, do đó Velosolex chỉ dễ sử dụng trên những con đường khô ráo, bằng phẳng.

Bộ máy xe cho phép người lái treo lên tay lái, để bỏ động cơ và đạp Velo giống như bất kỳ chiếc xe đạp nào khác, trong trường hợp xe hết xăng hay máy trục trặc không nổ.

Khi một chiếc Velosolex hết thời, máy móc rệu rã, nó sẵn sàng vứt bỏ cái đầu máy thường ngày vẫn treo trước “ghi-đông” để gia nhập với hàng ngũ xe đạp “bình dân”.

Velosolex dầu sao cũng vang bóng một thời, ra đời từ năm 1946 và chính thức giã từ thế giới, tạm ngừng sản xuất tại Pháp vào năm 1988, chuyển qua Tàu và Hungary nhưng rồi cũng đi vào quá khứ, sau khi đã bán được hơn 7 triệu chiếc.

Chiếc xe Velosolex đầu tiên tôi có, mua năm 1960, sau khi ra đời, đi dạy học vài năm và chuẩn bị lập gia đình, tại một đại lý ở Huế, xe được chở từ Sài Gòn ra. Ở Việt Nam trong thời đó thì những ai có tiền, lương cao mới có thể mua Lambretta hay Vespa, còn khả năng chỉ có khá hơn xe đạp một bậc, thì sử dụng chiếc Velosolex. Thời giá của chiếc xe này vào năm 1960 là $8,500 trong khi lương độc thân của một công chức hạng trung khoảng $6,000. Ở Huế những lúc trời mưa to gió lớn, với những con đường bùn đất, đi xe Velosolex thật ra chẳng sung sướng gì, mà đôi khi còn là một cực hình khi bắt đầu khởi động cho máy nổ


Khác hẳn với các thành phố lớn như Sài Gòn, Ðà Nẵng, đối với các tỉnh thuộc địa đầu giới tuyến sau khi chia cắt đất nước, hình ảnh chiếc Velosolex vẫn còn là cái gì rất mới lạ, nên khi bạn cỡi xe vào đường làng, phun khói trắng, có thể có những đứa trẻ tò mò chạy theo xem chiếc xe lạ lùng này.

Ba năm sau, nhận tờ giấy động viên trong tay, chiếc Velosolex chung nỗi buồn vui trong ba năm tròn phải từ giã tôi ra đi, để giúp chủ trang trải một số nợ nần.

Năm 1964, sau khi ở quân trường ra, được bổ nhiệm về một đơn vị ở Sài Gòn, thuê nhà ở khu Bình Hòa, trên chuyến xe buýt khởi hành từ rạp hát Thanh Vân-Gia Ðịnh đến Sở Thú – Sài Gòn mỗi ngày, bây giờ lại có thêm một ông chuẩn úy với bộ quân phục làm việc kaki vàng số 2, đội nón “casquette” mới tinh đi về. Ông thiếu tá chỉ huy đơn vị thương tình anh chuẩn úy mới ra trường, phải leo xe buýt mỗi ngày, nên cho mượn tiền, để lại mua một chiếc Velosolex! Chỉ trong vòng bốn năm, vật giá leo thang, năm 1964, cũng chiếc xe ấy đã tăng giá khoảng 30%. Chiếc xe Velo thứ hai này cuối cùng bị đào thải trước đợt xe Honda Dame cũ, đồ thải của Nhật, được nhập vào Việt Nam, ưu tiên cho lính tráng dưới thời ông Không Quân Trần Ðỗ Cung làm tổng cục tiếp tế.

Có thể nói Velosolex thuộc loại xe bình dân, không bì được với các ông bạn người Ðức mạnh mẽ như Goebel, Sachs, hay hai ông bạn người Ý hào hoa và sang trọng hơn, có mặt đồng thời là Lambretta và Vespa. Lambretta được phổ biến đi khắp thế giới qua Pháp, Ðức, Tây Ban Nha, Ấn Ðộ, Ðài Loan, Brazil, Columbia… và có tuổi thọ khá dài. Vespa trông thanh lịch và dễ thương hơn, nên trong bốn năm từ 1947 đến 1950, hãng Piaggio đã bán được hơn 90 nghìn chiếc, nhưng phải chờ khi Audrey Hepburn ôm eo Gregory Peck’s trên chiếc Vespa lạng lách trong thành phố Roma, trong phim Vacances Romaines (Roman Holiday,) ra đời năm 1953, thì chiếc Vespa đã trở thành nổi tiếng, bán hơn 100 nghìn chiếc ngay trong năm đó.

Dáng mảnh khảnh của những chiếc Velosolex màu đen thong dong trên đường phố với cô thiếu nữ mang đôi găng tay trắng, đội nón lá, để tà áo bay bay là hình ảnh dễ thương của Sài Gòn, của một thời sinh viên đẹp đẽ. Những năm về sau khi chiến tranh càng khốc liệt, các loại xe phân khối lớn ồ ạt nhập cảng vào càng nhiều, những xa lộ được mở ra, khi ai cũng mê tốc độ, Velosolex đành chấp nhận số phận bị bỏ lại đằng sau.

Bây giờ người ta đang muốn phục chế lại những chiếc Velosolex, Vespa của ngày xưa không phải để dùng trên đường phố mà như là một vật kỷ niệm ghi dấu một thời.

Cô thiếu nữ với chiếc Velosolex trên đường phố Sài Gòn trong bức ảnh này, được chụp vào năm 1961. Tôi đoán chừng tuổi cô ngày đó khoảng chừng 20 đến 25. Bây giờ đã trên nửa thế kỷ trôi qua, nếu còn đâu trên cõi đời này, cô đã ngoại tuổi thất tuần. Chiếc Velosolex ngày đó chắc không còn tồn tại, nó chỉ là một bóng mờ dĩ vãng như những gì chỉ hiện diện một thời, nhưng có thể còn lưu lại trong trí nhớ của chúng ta mãi mãi.


Tục ngữ Việt Nam có câu: “Một đời ta, ba đời nó” để nói rằng đời người dài nhưng những vật sở hữu thì dễ mất mát hay hư hao. Từ ấu thơ cho đến hôm nay, chúng ta đã dùng bao nhiêu chiếc xe, ở bao nhiêu ngôi nhà, dùng bao nhiêu đôi giày hay bộ quần áo. Nhưng cũng có đôi khi, ngôi nhà, con đường, tấm ảnh hay trang sách còn đó, nhưng “những người muôn năm cũ” đã không còn nữa!

Không thấy thi sĩ nào đem chiếc Velosolex vào thơ, tôi đành mượn đôi lời của nhạc sĩ Ngọc Lễ viết về xe đạp, để tạm thương nhớ một thời Velosolex:

“Quay đều, quay đều, quay đều, mối tình ngày xưa yêu dấu
Quay đều, quay đều, quay đều, thương hoài những vòng xe…”

UserPostedImage
Duy An  
#2129 Posted : Tuesday, March 9, 2021 4:11:42 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,262

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Cho Một Thành Phố Mất Tên


UserPostedImage


Em Sài Gòn đẹp nhất về đêm
Tiếng hoa rơi, nhạc lắng, mây chìm
Nét môi duyên, nụ cười huyền hoặc
Phút chốc trần gian vội lãng quên!

Ta thương em tàn hơi thở cuối
Ta nhớ em trọn kiếp lưu đày
Ngày xa thành phố xanh xao nhớ
Ta giã từ nhau tợ bóng mây!

Những con đường cũ còn im bóng
Tà áo ai còn theo gió bay
Tiếng guốc gõ đều trên phố vắng
Hay tàn trong ngõ hẹp chiều nay?

Ta nhớ từng cơn mưa bụi nhỏ
Ta chờ nhau cuối phố, mưa sa
Từng cơn gió lạnh giao mùa đến
Một sớm thu về em xót xa!

Đời đã vô tình không vấn vương
Ngõ xưa đã hút lối thiên đường
Còn đây hơi thở xanh xao mộng
Em mất tên rồi ta tiếc thương!


(Hoàng Ngọc Ẩn)

UserPostedImage
Duy An  
#2130 Posted : Thursday, March 18, 2021 3:42:16 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,262

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Con đường xưa nhất Sài Gòn


Trang Nguyên
November 12th, 2020


UserPostedImage

Đường Catina thuở đầu thế kỷ 20 trở thành nơi biểu diễn thường xuyên của những đoàn hát từ phương Tây đến.

Đường Tự Do (sau 1975 là đường Đồng Khởi), vào thời Pháp thuộc mang tên Catinat và ít lâu trước đó gọi là đường số 16. Con đường này đã có từ thời nhà Nguyễn khi lập thành Gia Định. Đầu con đường giáp với bờ sông Bình Giang (Sài Gòn), từng là nơi vua nhà Nguyễn đến nghỉ ngơi và… tắm (Bến Ngự). Dân chúng hầu như ai cũng biết đến con đường này. Đó là nơi sinh hoạt của giới thượng lưu Sài Gòn.

Có rất nhiều tài liệu và hình ảnh về đường Catinat qua các thời kỳ do người Pháp và người Mỹ ghi lại đủ biết con phố này rất ấn tượng như thế nào! Tác giả Nguyễn Tiến Quang tại Pháp ghi nhận: “Pallu de la Barrière, một trong những người Pháp đầu tiên, đã miêu tả con đường số 16 này vào năm 1861, như sau: “Du khách đến Sài Gòn nhìn thấy bên hữu ngạn con sông một đường phố mà hai bên bị đứt quãng bởi những khoảng trống lớn. Phần lớn nhà cửa làm bằng cây lợp lá cọ ngắn; số khác ít hơn, làm bằng đá. Mái nhà lợp bằng ngói đỏ làm vui mắt và tạo được cảm giác yên bình…”. Tính cách quan trọng của con đường Catinat thể hiện ở chỗ nó được thực dân Pháp sử dụng làm trung tâm của bộ máy thuộc địa.

Theo một số sử liệu, Catinat là tên một Thống chế Pháp sinh năm 1637 và mất năm 1712, phục vụ dưới thời vua Louis XIV. Giữa thế kỷ XIX, Pháp lấy tên Catinat đặt cho một chiếc tàu chiến từng tham gia trận đánh Sài Gòn năm 1859 và dựa vào chi tiết này, De La Grandière đặt cho con đường số 16 tên Catinat (trường hợp tương tự cũng xảy ra với rạch Thị Nghè, được Pháp gọi là Arroyo d’Avalanche).

Năm 1864, Nha Giám đốc Nội vụ (Direction de L’Intérieur), người dân đương thời gọi là “Dinh Thượng Thơ”, được xây dựng, nhìn ra đường Catinat, phía đối diện dinh Thủy sư Ðề đốc. Viên chức lãnh đạo cơ quan này, xét về mặt cai trị, chỉ xếp sau Thống đốc Nam Kỳ, trực tiếp chỉ huy các tham biện Pháp và quan lại Việt Nam cấp huyện, phủ, đốc phủ sứ. Ðầu thập niên 1880, ngay trên lộ trình con đường chạy qua, mọc lên ngôi nhà thờ Notre Dame, về sau được cư dân Sài Gòn gọi là Nhà thờ Ðức Bà hay Vương Cung Thánh Ðường. Sau lưng nhà thờ là đường Norodom, lấy tên ông hoàng xứ Cambodge (Campuchia) đến thăm Sài Gòn vào đầu năm 1867, nhân cuộc đấu xảo canh nông đầu tiên tổ chức tại đây.


UserPostedImage


Năm 1886, Pháp khởi công xây trụ sở Sở Bưu chính và Viễn thông (nay là Bưu điện) trên khu đất đối diện với mặt tiền nhà thờ, nằm giữa con đường Catinat và đường Paul Blanchy (nay là Hai Bà Trưng). Cuối đường Catinat, có một tháp nước cao, được xây dựng năm 1878 nhằm cung cấp nước uống cho cư dân trong vùng. Tuy nhiên, đến năm 1921, với sự phát triển của dân cư, tháp nước này không đáp ứng được yêu cầu nên bị đập bỏ. Ngày 1-1-1900, nhà hát Tây (nay là Nhà hát thành phố) được khánh thành trên giao lộ đường Bonard (nay là Lê Lợi) và Catinat, trở thành nơi biểu diễn thường xuyên của những đoàn hát từ phương Tây đến.

Ðường Catinat thuở ban đầu kéo dài tới đường Mayer (Hiền Vương). Khi qua giao lộ với đường Norodom (Thống Nhất) thì gọi là Catinat prolongée (Catinat nối dài). Sau khi Pháp đặt tháp nước và thành lập quảng trường Thống chế Joffre thì đoạn đường này mới đặt tên lại là Blancubé và Garcerie. Cuối cùng đường Catinat còn dài 630 mét, từ đầu đường Bến Bạch Ðằng đến Vương Cung Thánh Ðường là kết thúc.

Trong Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca, xuất bản năm 1909, tác giả Nguyễn Liên Phong miêu tả đường Catinat như sau: “Nhứt là đường Ca-ti-na / Hai bên lầu các, phố nhà phân minh / Bực thềm lót đá sạch tinh / Các cửa hàng bán lịch thanh tốt đều / Máy may mấy chỗ quá nhiều / Các tiệm tủ ghế dập dìu phô trương / Ðồ sành, đồ cẩn, đồ đương / Ðồ thêu, đồ chạm trữ thường thiếu chi… Nhà in, nhà thuộc, nhà chà / Nhà hàng ăn ngủ với nhà lạc son (xoong) / Phong lưu cách điệu ai bằng / Ðường đi trơn láng, đèn giăng sáng lòa / Thứ năm, thứ bảy, thứ ba / Với đêm chúa nhựt hát nhà hát Tây…”.

Qua miêu tả trên, ta thấy hình ảnh nhộn nhịp của phố Catinat đã hoàn chỉnh từ những năm đầu của thế kỷ 20, nếu so với các con phố thương mại trung tâm như Charner (Nguyễn Huệ) Bonard (Lê Lợi). Ngoài những khách sạn, nhà hàng có từ thuở ban đầu, tạo nên một hình ảnh Á Ðông, từ năm 1954 về sau, các văn phòng, hiệu buôn, khách sạn, nhà hàng bắt đầu thay đổi hình dạng theo kiểu kiến trúc tân thời, không còn lưu lại nét cổ xưa riêng biệt.

Giới văn phòng, văn nghệ sĩ, thương gia đã làm nên cái trục “văn hoá không tên” qua ba địa điểm café, nhà hàng thường lui tới. Ðó là Givral – La Pagode – Brodard, khó phai mờ trong ký ức của những người Sài Gòn.

Một là nhà hàng Givral ngay góc đường Tự Do và Lê Lợi. Xưa kia nguyên là tiệm thuốc Tây đầu tiên ở Sài Gòn. Cũng theo tài liệu của Nguyễn Tiến Quang, tiệm khai trương năm 1865, chủ nhân là Lourdeau, sau làm Xã trưởng Sài Gòn (1870). Ít lâu sau, hiệu thuốc được giao lại cho Holbé, tiến sĩ dược khoa, một nhân vật khá nổi tiếng của đất Sài Gòn xưa, từng làm Phó Chủ tịch Phòng Thương mại Sài Gòn, Phó Chủ tịch Hội đồng quản hạt Nam Kỳ (Conseil colonial de la Cochinchine). Holbé từng điều chế ra một loại biệt dược có tên “Gouttes Holbé” dành cho những tay nghiện á phiện cai nghiện. Về sau, nhà thuốc Tây về tay Renoux, rồi Solirène và mang tên vị chủ nhân này trong một thời gian dài, trước khi bị thay thế bởi nhà hàng Givral.

Nhà văn Văn Quang (Nguyễn Quang Tuyến) ghi lại hồi ức của mình: “Givral đông nhất và đáng kể nhất vào mỗi buổi sáng. Phóng viên trẻ thường tụ tập ở nhà hàng này vì nó ở ngay trước trụ sở Hạ nghị viện, các ông dân biểu thường ra ngồi giải lao tại đây và “thảo luận” đủ thứ chuyện bên lề. Và chuyện bên lề bao giờ cũng hấp dẫn hơn chuyện trong nghị trường. Chuyện “bí mật quốc gia, chuyện phe nhóm, gia nô và không gia nô, chuyện tình bà nghị ông nghị…” cứ nghe mấy ông này là có đủ tin giật gân trong ngày. Cánh phóng viên thường bắt mối rất chặt chẽ với các ông bà dân biểu và nghị sĩ thượng hạ nghị viện. Thật ra họ có quyền lợi hỗ tương: anh cho tôi tin, báo tôi yểm trợ lập trường của anh. Trong số những phóng viên, ngoài người Việt Nam còn có một số phóng viên người Mỹ, Pháp từ khách sạn Continental trước mặt ghé sang. Hoặc cũng có một số phóng viên người Việt làm cho các đài truyền hình, truyền thanh nước ngoài săn tin tại đây”.

Hai là nhà hàng La Pagode nằm ở góc đường Lê Thánh Tôn và Tự Do. Nhiều người rất nhớ khung cảnh của nhà hàng cà phê La Pagode mà mình lui tới. Nhà văn Văn Quang nhớ lại: “Khách hàng của La Pagode hầu hết là nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ. Cứ vào buổi chiều, sau giờ tan sở là tụ tập lại đây. Tất nhiên cũng ngồi thành nhóm. Những ngày đầu tôi thường đi cùng Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư và đến đây thường gặp các anh Nguyên Sa, Trần Thanh Hiệp, Mặc Thu, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo, Phạm Ðình Chương, Tạ Quang Khôi, Viên Linh, Nguyễn Ðạt Thịnh, Phạm Huấn, Anh Ngọc, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Ðình Toàn…”.

Cuối cùng là quán café Brodard nằm ở góc Tự Do – Nguyễn Thiệp. Bên kia đường là vũ trường Tự Do của ông Cường lùn và chị “tài pán” Nhựt. Bà chị này hành nghề cai quản các em từ vũ trường Ritz Hà Nội vào Nam. Ở đây lại đông vui vào những buổi sáng muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng”. Nơi lui tới của những “dân đi chơi đêm” Sài Thành. Những “anh hùng hảo hớn” như Khê – Thăng Long Xích Thố, anh em ông Kim đầu bạc, Kính Tennis, Chương Marine cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ...

UserPostedImage
Cỏ Thơm  
#2131 Posted : Monday, March 29, 2021 4:22:31 PM(UTC)
Cỏ Thơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 10/11/2012(UTC)
Posts: 58
Location: Hạvi nè

Thanks: 48 times
Was thanked: 63 time(s) in 28 post(s)




UserPostedImage


Thành Phố Mẹ


Cali có Little Sài Gòn
Paris có Sài Gòn Phố không em?
mà dẫu có một Sài Gòn ở đó
cũng chỉ là thành phố mượn tên

để mỗi lần gọi lên là nhớ
Sài Gòn - thành phố Mẹ phía bên kia
(bên tuổi trẻ đã buồn chia máu lệ
bên niềm vui chỉ để kể người nghe

vui như lá me bay trong chiều mưa tháng Hạ
có phượng hồng cài mái tóc yêu thương!
ôi nỗi nhớ viết sao vừa giấy mực
khi tim ta thổn thức nhớ Sài Gòn!

Chừ em bước trên một thành phố mới
có những con đường mang tiếng nói Việt Nam
(những con đường cũng chỉ là khuôn mặt
tình những con đường ở trên đỉnh hồn ta!)

Em hãy nhớ, thành phố mình đang sống
cũng chỉ là một góc cuộc đời qua
ngày luyến nhớ Paris, Cali, Newyork
có bằng đêm em khóc nhớ Sài Gòn?

thành phố Mẹ chúng ta bên kia biển
những con đường Nguyễn Huệ , Hùng Vương
những tên gọi Bạch Đằng, Bến Nghé...
giữa đời ta là cả một trời thương!

Sài Gòn đó, Sài Gòn bên kia biển
không phải một thời, mà mãi ngàn đời
trong tim người, Hòn Ngọc Viễn Đông
trong Việt Nam, Sài Gòn bất diệt!



Cao Nguyên




UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (5)
107 Pages«<105106107
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.