Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

102 Pages«<100101102
Options
View
Go to last post Go to first unread
phamlang  
#2021 Posted : Tuesday, November 10, 2020 12:46:52 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Dạy tiếng Việt cho trẻ con, cần phải cẩn trọng lắm!

UserPostedImage

Một lớp học trước năm 1975. (Hình: Cựu Chủng Sinh Huế)

“Ông tôi vốn là thợ gò hàn vào loại giỏi. Có lần chính mắt tôi đã thấy ông tán đinh đồng. Chiếc búa trong tay ông hoa lên, nhát nghiêng, nhát thẳng, nhanh đến mức tôi chỉ cảm thấy trước mặt ông phất phơ những sợi tơ mỏng. Ông là niềm tự hào của cả gia đình tôi.”

Bạn đọc đoạn văn có thấy lợn cợn gì không?

Theo tôi, đây là một ví dụ về tình trạng dung tục hóa tiếng Việt. Tôi chỉ tình cờ nhặt ra từ sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3. Vì nó nằm trong sách đó, nên mới thấy cần nói đôi lời.

Bỏ qua cái nội dung có thể gây khó cho những đứa trẻ của hôm nay, chỉ xét về cách hành văn, tôi cho rằng đây là thứ có-vẻ-là-tiếng-Việt chứ không phải là tiếng Việt chân chính. Những đứa trẻ ở bước đầu học tiếng Việt, cần được tiếp xúc với những văn bản Việt ngữ thuần túy, để cảm thụ được chính xác vẻ đẹp của tiếng mẹ đẻ, chứ không phải những thứ rác rưởi như thế này.

Một đứa cháu kể về ông mình bằng ngôn ngữ đậm tính quan phương: “ông… VÀO LOẠI GIỎI.”

Đây là ngôn ngữ báo cáo, ngôn ngữ hành chánh, lạnh lùng, trung tính… Nó phù hợp với một quan chức nhận xét, xếp loại nhân viên chứ không phải một trần thuật mang cảm xúc của đứa cháu về ông mình.

Đừng coi nhẹ tiểu tiết này. Những đứa trẻ học cách nói như này sẽ không học được sự tôn kính chân thành, chúng cũng không cảm nhận được những sắc thái biểu cảm của lời nói phù hợp với tình huống phát ngôn.

“Có lần CHÍNH MẮT tôi đã thấy…” Tôi thấy là tôi thấy, lẽ nào có kiểu thấy bằng “chính mắt người ta?” Đây, đáng buồn, là kiểu nói/viết đã thành tập quán của rất nhiều người Việt hiện nay, giống như sự lây lan từ các loại nghị quyết và phát biểu của quan chức Cộng Sản “có lý luận.” Họ không hài lòng với những lời vừa-đủ để thể hiện ý muốn nói. Luôn phải có những nhấn mạnh, những thêm thắt cho trầm trọng ý nghĩa, khiến lời nói trở nên thừa thãi, ngô nghê. Nó chỉ tố cáo một lối tư duy rối rắm và ti tiểu, khiến tiếng Việt bị nhồi đầy những phụ kiện vô nghĩa, bị tước đi vẻ giản dị, trong sáng và gãy gọn vốn có.

“Ông là niềm tự hào của CẢ gia đình tôi.” Cũng là kiểu nhấn mạnh vô duyên như trên. Gia đình, không phải là bao gồm tất cả thành viên trong nó hay sao? “Cả gia đình” hay chỉ là “gia đình” thì nó cũng đâu bỏ sót ai? Hoặc giả cảm thông cho ý tác giả muốn tỏ rằng “cả” đây là nói “mọi thành viên trong gia đình, từng người một” đều tự hào về “ông tôi,” thì câu viết ấy cũng không thích hợp với văn cảnh. Nếu bỏ chữ “cả” đi, câu văn sẽ mang sắc thái giản dị và khiêm nhường. Ngược lại, cái chữ nhấn mạnh ấy lại khiến lời nói mang vẻ phô phang hợm hĩnh.

Tiếng Việt đẹp lắm, tế nhị lắm. Dạy tiếng Việt cho trẻ con, cần phải cẩn trọng lắm!

Nhưng tôi biết, chưa bao giờ nền giáo dục của chế độ Cộng Sản này tôn trọng ngôn ngữ (và văn hóa) dân tộc. Nó cũng không có mục đích đào tạo những thế hệ người Việt biết yêu nước thương nòi thông qua lòng yêu tiếng mẹ đẻ của mình.

Le Thanh Truong
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Duy An  
#2022 Posted : Thursday, November 12, 2020 2:17:28 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,257

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Nhà Sách Tú Quỳnh, Vàng Son Một Thuở



Trong cuộc sống lưu vong của người Việt hải ngoại, những món ăn tinh thần cần thiết đã là một đòi hỏi không thể thiếu, nhất là những năm đầu trong cuộc sống trôi dạt khắp nơi của người Việt hải ngoại. Sự thèm khát được đọc một tờ báo, cuốn sách tiếng Việt hay nghe một băng nhạc cải lương, tân nhạc đã thúc đẩy người ta tìm về nơi đông đúc người Việt sinh sống. Một trong những điểm hẹn lý tưởng trên lộ trình hoài hương của người Việt là tìm đến một hiệu sách. Nhà sách Tú Quỳnh ra đời ở Little Saigon ở Quận Cam như một quyến rũ mời gọi thiết tha không riêng gì với cư dân quận Cam, mà còn với nhiều người Việt tha hương hay khách vãng lai. Phải nói đây là một địa điểm lịch sử đã có nhiều người Việt tị nạn tìm đến trong rất nhiều năm, kể từ ngày khai trương vào năm 1979. Tú Quỳnh có mặt ở Bolsa Mini Mall lúc quanh vùng này còn rất nhiều các mảnh đất trồng dâu và lèo tèo trong khu thương mại được gọi là Mini Mall chỉ có đôi ba cửa tiệm. Đối diện Tú Quỳnh là nhà hàng Thiên Cung sau đổi là Thành Mỹ cho tới nay. Sau đó lần lượt các cửa tiệm khác ra đời như: tiệm bán băng nhạc của nhạc sĩ Trường Hải, nhà in của Du Miên, văn phòng bán bảo hiểm của luật sư Nguyễn Xuân Phước, dịch vụ gửi hàng của ông Thuận, bán vé máy bay của ông Vượng, bán hàng nội thất của ông Đề và chợ Ái Hoa của ông Bói. Quán cà phê Lục Huyền Cầm của cặp nghệ sĩ Lê Uyên Phương sau này cũng có mặt, khiến nơi này trở nên một chốn kinh doanh đa dạng.


Riêng về khoản sách báo, khi ấy Tờ Hồn Việt của Nguyễn Hoàng Đoan đã in ấn bản đầu tiên từ năm 1975. Báo Người Việt do ông Đỗ Ngọc Yến thành lập năm 1978 thì được in ấn trong nhà để xe của ông. Văn Nghệ Tiền Phong của Nguyễn Thanh Hoàng ở Virginia đã bán rất chạy do độc giả đặt mua ở khắp nơi trên toàn nước Mỹ. Tờ Văn của Mai Thảo góp mặt cuối năm 1982 sau này, thu hút được những độc giả yêu văn đặt mua dài hạn.

Nhà xuất bản sách lớn nhất là Đại Nam hoạt động rất mạnh với chủ trương thu góp những sách báo, tiểu thuyết thời VNCH trước 75 của những người Việt tị nạn mang theo được, đem in lại rồi bán ra. Họ cũng thu thập và sang lại các băng cassette cải lương và tân nhạc. Nhà Xuất bản Xuân Thu do Kim Xuân chủ trương cũng gởi sách đi các nơi. Sau này nhà xuất bản Văn Nghệ của ông Võ Thắng Tiết ra đời vào cuối năm 1985 với một mục tiêu độc đáo là chọn tác phẩm để in. Do thế, sách của ông in vừa có chất lượng lại vừa có số lượng cao nhờ tầm phổ biến rất xa đi toàn thế giới những nơi có người Việt định cư. Ngoài ra, ông còn có những nhà văn thân hữu giúp ông tìm các tác phẩm hay và để in có giá trị.

Trong thời gian đầu, Tú Quỳnh trở thành một tiệm bán lẻ sách báo và băng nhạc. Ông bà chủ Tú Quỳnh là Thạnh và Yến đã đóng cửa một nhà hàng có tên là Quê Hương ở Hawaii rồi đến Bolsa lập nghiệp chỉ vì bạn bè rủ rê về Cali nhiều người Việt cho vui. Vài năm đầu tiệm còn ế ẩm, nhưng sau số lượng người Việt về Quận Cam ngày càng đông, khiến tiệm sách đi vào thời gian cực thịnh trong thập niên 1980. Tiệm trở nên nổi tiếng khiến người Việt địa phương đã dùng "khu Tú Quỳnh" để làm địa điểm mốc khi có người cần chỉ đường đến một tiệm nào đó trên đường Bolsa.


Bà Yến tiết lộ,
- Khoảng 1983 trở đi, sách bán chạy lắm. Thường thì một đầu sách in khoảng 50 tới 100 cuốn bán hết sạch. Có khi lên tới cả ngàn cuốn. Các nhà xuất bản gởi sách tới tấp. Sản phẩm của Thúy Nga Paris thì mỗi lần mua cả ngàn cuốn video bán hết bay, bây giờ 20 cuốn bán cũng không hết. Sách bán chạy nhất là hồi ký. Ngày đó, băng cassette chạy nhất là cải lương, thứ nhì mới tới tân nhạc. Như rồng gặp mây, chúng tôi mở nhà in tự in lấy sách và tự phát hành băng nhạc Tú Quỳnh Nhạc Tuyển với chủ đề. Cuốn băng bán chạy nhất là cuốn "Nhạc phim bộ chọn lọc", thứ nhì là "Phút bên em". Chúng tôi cũng quay video nữa, là cuốn "Tiếu Vương Hội" ngay tại Little Saigon này. Tiệm nới rộng làm 3 căn, chúng tôi cộng tác với Thuý Nga Paris, Trung tâm Giáng Ngọc và các trung tâm khác để trở thành trung tâm phát hành các sản phẩm âm nhạc tại Quận Cam kể cả bán vé show ca nhạc và đại nhạc hội. Thời vàng son kéo dài 20 năm. Ông Thạnh, chồng tôi mất năm 2018. Giờ thì buồn lắm, không dám chạy ngang tiệm luôn.

Người bạn của ông bà Tú Quỳnh là ông Yersin, chồng ca sĩ Thanh Mai, kiêm chủ nhân nhà hàng Thanh Mai tới giúp bà Yến bán sách, đã chia sẻ thêm về sách hồi ký bán chạy.


- Tôi rất thích đọc hồi ký. Sách có bao nhiêu tôi đọc hết bấy nhiêu. Thật ra, theo tôi, trong những cuốn hồi ký có những tác giả đã viết về mình quá lố nên không được trung thực. Riêng các cuốn hồi ký lịch sử viết về Ngô Đình Diệm thì trong 10 cuốn ra, thì 7 cuốn khen ông, còn 3 cuốn chê. Có cuốn nhận xét trung dung. Hồi ký về Bảo Đại hoặc Trần Văn Đôn cũng hay. Càng ngày càng có những cuốn viết đàng hoàng, hay và trung thực. Lịch sử trả lại lịch sử. Chỉ tiếc 1 điều rất uổng trong thời đại mình sống khoảng từ 1950 tới giờ ít có sách nói về ông Ngô Đình Nhu là 1 người rất hay, rất giỏi. Chỉ có vài cuốn của người trong nước viết chê trách ông theo thiên kiến. VN mình cũng khổ không bị bên này cũng bị bên kia. Như hình thể chữ S nằm ở giữa có cái eo, khi gió thổi, nó cứ lồng lộn hoài. Từ ngày ra khỏi nước tới giờ, 45 năm rồi, nó cũng như vậy !!!

Tôi xin bà Yến kể vài kỷ niệm từng có với văn nghệ sĩ.

- Tác giả thì có Duyên Anh từ Pháp qua. Tại đây, thì Mai Thảo rất thân với vợ chồng tôi, nhất là ông Thạnh. Hồi ấy Mai Thảo còn ở căn phòng cho người lớn tuổi ở khu nhà hàng Song Long. Hai người hay kéo nhau, đi ăn đi nhậu hoài. Các tác giả thì ra đây trò chuyện hàng ngày. Còn nghệ sĩ gần đây thì khỏi nói. Các ca, nhạc sĩ bên VN hay các nước khác ghé Mỹ đều đến đây, tôi có nhiều hình kỷ niệm chụp chung với họ. Thập niên 1980, khi phim bộ thịnh hành, Tần Hán, Huỳnh Nhật Hoà qua đây làm show có ghé đây và chụp hình nữa.


UserPostedImage
Ông bà Tú Quỳnh với Cố Nhà Văn Mai Thảo


UserPostedImage
Bà Yến với Tài Tử Hồng Kông Huỳnh Nhật Hoà


UserPostedImage
Bà Yến với Tài Tử Đài Loan Tần Hán


Thể theo lời yêu cầu của tôi, bà Yến mang hình ra chia sẻ. Tôi thấy ngày đó bà Yến thật đẹp và duyên dáng mặn mà. Hình bà chụp bên các tài tử phim bộ như Huỳnh Nhật Hòa (Quách Tĩnh), Tần Hán (vai nam chính trong các phim truyện của Quỳnh Dao), khiến tôi sống lại thời quá khứ của dân tỵ nạn VN say mê phim bộ. Ngày ấy, hầu như nhà người Việt hải ngoại nào cũng chết mê chết mệt với phim bộ kiếm hiệp hay phim bộ Quỳnh Dao từng lấy bao nhiêu nước mặt của phụ nữ. Coi sáng, trưa chiều, tối, khuya, quên ăn, quên ngủ, hết cuốn này sang cuốn khác, mắt mũi trỏm lơ!!! Đó cũng là thời huy hoàng của các tiệm cho thuê phim bộ.

Mấy mươi năm sau, đời sống thay đổi, con người thay đổi, món ăn tinh thần cũng thay đổi. Những em trẻ sinh ra tại VN sau 75, lớn lên ở hải ngoại, còn đọc và viết tiếng Việt như Trang Đài Glassy Trần-Nguyễn không có nhiều. Tôi rất mừng khi gặp em tại nhà sách hôm nay. Em cho biết:

- Em thật cảm động khi thấy tiệm sách đông người, không còn chỗ để vào. Em rất vui được gặp Chị và càng vui hơn khi biết Chị đang làm phóng sự. Nhìn quanh, thấy toàn những người tha thiết với chữ nghĩa, văn hóa, văn nghệ Việt Nam, em cũng bớt chạnh lòng. Riêng em đã tham gia dạy tiếng Việt với tư cách thiện nguyện ngay tại đây từ ngày đầu tiên đến Mỹ hơn 26 năm nay, nên đối với em, tiếng Việt rất quan trọng và là linh hồn của cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại, cái dây nối cho tất cả chúng ta ở khắp nơi trên thế giới. Em tin, dù TQ có phải đóng cửa thì em vẫn tin là văn hóa Việt Nam tại hải ngoại sẽ không mai một. Mai này, ắt sẽ có những nổ lực mới, những 'Cô Yến' mới, triển khai những hình thức sinh hoạt mới cho văn hóa, văn nghệ. Ngày xưa, thế hệ thuyền nhân đến tỵ nạn, gặp nhiều khó khăn, ngỡ ngàng, mà đã gầy dựng được nên Thủ Đô Tỵ Nạn tại Quận Cam như ngày hôm nay, thì em vẫn có niềm tin mãnh liệt vào một sự tiếp nối và bừng nở của sinh hoạt văn hóa sau khi đại dịch qua đi. Em tin vào những tấm lòng của các thế hệ đang lớn, những trái tim hướng về cội nguồn, những bạn trẻ sinh ở hải ngoại, tự trao dồi tiếng Việt, muốn học nhạc cụ dân tộc, muốn thấm nhuần văn hóa Việt Nam. Nhìn vào chặng đường 45 năm của cộng đồng Việt tỵ nạn tại hải ngoại và tại Quận Cam nói chung, em dám đặt niềm tin vào một tương lai vẫn đậm đà bản sắc dân tộc ở xứ người.


11/11/2020
Trịnh Thanh Thủy
UserPostedImage
Duy An  
#2023 Posted : Friday, January 1, 2021 12:18:47 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,257

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Trang Nguyên
December 17th, 2020
Dầu gió “trị bá bệnh”


Dầu Nhị Thiên Đường làm mưa làm gió suốt một thời gian dài, cho đến khi dầu khuynh diệp bác sĩ Tín đứng vững trên thị trường từ thập niên 1950 và trở thành đối thủ xứng tầm. Cả hai đều được dân chúng ủng hộ và trở thành dầu gió thông dụng trong đời sống hằng ngày. Với dầu gió bác sĩ Tín được mệnh danh là “dầu bà đẻ”, còn Nhị Thiên Đường là dầu “trị bá bệnh” một thời.

UserPostedImage

Quảng cáo dầu gió Nhị Thiên Đường ngày xưa (Ảnh: Internet)


Do quá tín nhiệm dầu gió Nhị Thiên Ðường nên người dân cho rằng nó “trị bá bệnh”. Thật ra cả hai loại dầu nói trên đều trị những bệnh thông thường nhức đầu sổ mũi. Ðau đầu thì xoa hai bên thái dương, đau bụng xoa lên bụng, sổ mũi thoa lên hai lỗ mũi, ho khục khặc thì xức dầu lên cổ. Thậm chí cảm thấy ớn lạnh nhỏ vài giọt dầu vào nồi nước sôi, trùm mền xông hơi mồ hôi ra như tắm thấy hồi phục lại ngay, trầy da chảy máu lấy dầu thoa lên như loại thuốc sát trùng. Chai dầu gió lúc nào cũng có trong nhà, trong túi áo mấy bà, mấy chị, hễ thấy người khó chịu cứ xoa dầu, cạo gió là xong. Buồn buồn lấy chai dầu ra xức lên thái dương, cổ họng để giữ cơ thể cho ấm, riết thành thói quen. Ngồi gần mấy bà già trầu ngồi trên xe thổ mộ hay xe lam chật chội, mùi dầu gió nồng nặc trong xe nhưng cũng cảm thấy dễ chịu hơn mùi dầu khói của xe lam xả mịt mù.

Trước khi có các loại dầu gió, người Việt mình hay dùng dầu cù là Mac Phsu. Nhớ hồi nhỏ tụi tôi chơi trò chi chi chành chành, cải biên lời ca đồng dao thành “Bòn bon si-cu-la, bánh tây sữa hột gà, dầu cù là mác-su” dù rằng thuở đó, dầu gió Nhị Thiên Ðường, rồi dầu khuynh diệp đã phổ biến khắp nơi. Người dân vẫn dùng cả ba loại dầu gió nhưng dầu nước thuận tiện hơn dầu cù là thoa lên người thấy nhớp nháp. Dầu Nhị Thiên Ðường có màu nâu đỏ, nhãn hiệu cầu chứng là hình Ðịa Tạng Vương Bồ Tát.
Xem thêm: Tầm phào thời hiện đại

Còn một lời đồng dao vui nhắc đến dầu Nhị Thiên Ðường mà tôi tin rằng các vị tuổi trung niên đều biết: Nhất dương chỉ, Nhị thiên đường, Tam tông miếu, Tứ đổ tường, Ngũ vị hương, Lục tàu xá. Nói chung là trộn lẫn hằm bà lằng xá cấu, chỉ có món chè Lục tàu xá là ngon thôi.

UserPostedImage

Đường Triệu Quang Phục Chợ Lớn nơi có nhà thuốc Nhị Thiên Đường (Nguồn: Manhhaiflickr)


Trong cuốn Phê bình và cảo luận, nhà phê bình Thiếu Sơn viết: “Lần đầu tiên tôi được đọc cụ Hồ Biểu Chánh trong một cuốn sách quảng cáo của nhà thuốc Nhị Thiên Ðường. Tôi để ý tới tiểu thuyết của cụ rồi kiếm coi ở loại sách như những truyện Tàu in xấu, để giá 4 cắc mà luôn luôn bán dưới giá đó…”.

Xem ra ngoài các quảng cáo báo chí thông thường, nhà thuốc Nhị Thiên Ðường còn có sáng kiến tạo ra cách quảng cáo độc đáo để sản phẩm dầu gió được công chúng bình dân biết đến rộng rãi.

Tác giả Phạm Trường Giang ghi nhận: “Ðể quảng bá nhãn hiệu Nhị Thiên Ðường, ông chủ đã chọn cách khá độc đáo. Ðó là thay vì đăng quảng cáo trên sách, báo thì ông ta thuê một số trí thức viết ra các bộ sách quảng cáo bằng chữ Quốc ngữ, luôn cả chữ Pháp và Hán tự, gọi là Vệ sinh chỉ nam. Trong cuốn sách này in đầy hình ảnh và chữ quảng cáo cho các cao đơn hoàn tán của Nhị Thiên Ðường, đồng thời in kèm vào trong đó các loại thơ văn để người mua có thể đọc thêm. Chẳng hạn bên cạnh quảng cáo dầu cù là Ông Tiên là trích đoạn thơ Lục Vân Tiên, bên cạnh nhãn hiệu Nhị Thiên Ðường là từng phần Nghĩa hiệp kỳ duyên, bộ truyện tình cực kỳ ăn khách về mối tình Việt – Khmer lúc đó của Nguyễn Chánh Sắt hay còn gọi Chăn Cà Mum (tên nhân vật chính). Nhiều khi khách đang đọc quảng cáo thuốc xổ lãi thì được đọc thêm Hậu chàng Lía, hay các mối tình uyên ương ly hận của Hồ Biểu Chánh… Vì sao nhà văn Hồ Biểu Chánh không muốn in sách đẹp? Vì ông biết nếu sách in đẹp sẽ phải bán mắc và như vậy sẽ không đến được tay những độc giả bình dân thân thiết của ông. Chính nhờ những cuốn sách quảng cáo giá rẻ, in xấu như Vệ sinh chỉ nam của nhà thuốc Nhị Thiên Ðường mà văn chương chữ Quốc ngữ bình dân giai đoạn đó đã cực kỳ phong phú và phổ biến rộng khắp trong tầng lớp dân chúng…”.

UserPostedImage

Cầu Nhị Thiên Đường xây xong năm 1925 (Nguồn:Manhhaiflickr)


Dầu Nhị Thiên Ðường do gia đình họ Vi người Quảng Ðông sang Chợ Lớn sáng lập. Không thấy tài liệu ghi nhà thuốc Nhị Thiên Ðường thành lập năm nào, chỉ biết ngoài dầu gió, nhà thuốc còn làm ra các loại đông dược trị các loại bệnh, đặc biệt là ngoại cảm tán, một loại thuốc trị cảm rất hiệu nghiệm, bán rất chạy, thậm chí cả thương hàn. Trong cuốn niên giám Ðông Dương 1933-1934 còn ghi lại: Nhị Thiên Ðường Pharmacie asiatique 47 rue de Canton (Triệu Quang Phục), Telephone no 58 Directeur Vi-Khai Chợ Lớn.

Ngược dòng thời gian về mấy chục năm trước nữa, trên địa bàn quận 5, Chợ Lớn (nay thuộc quận 8) điểm nguồn của quốc lộ 50 Long An đã có một cây cầu gỗ bắc ngang kênh Ðôi cho người dân qua lại. Ðến năm 1925, nhà thầu Vallois-Perret xây một cây cầu bê tông, trang trí hai bên ban công bằng những trụ đèn bằng sắt và từ đó cây cầu được đặt tên chính thức là cầu Nhị Thiên Ðường.

Theo những người dân cố cựu tại khu vực này thì, cây cầu gỗ hồi đó không có tên, do nhà thuốc Nhị Thiên Ðường dựng lên để thông thương hai bờ cho người dân dễ đi lại. Từ đó mà thành tên.

UserPostedImage

Dấu ấn còn lại của nhà thuốc Nhị Thiên Đường (Ảnh: Nguyễn Minh Vũ)


Theo ghi nhận của tác giả Phạm Trường Giang đăng trên báo Pháp Luật thì “nhà máy sản xuất thuốc và dầu Nhị Thiên Ðường nằm ở bên phía đường Trần Hưng Ðạo và Nguyễn Văn Dũng, còn công nhân thì ở khu vực ngoại thành phía bên kia kênh Ðôi. Hằng ngày để đi đến chỗ làm các công nhân đều phải đi đò qua kênh Ðôi rất mất thời gian và nguy hiểm. Ông chủ Nhị Thiên Ðường quyết định bỏ tiền cùng với chính phủ Nam Kỳ lúc đó xây nên cây cầu này làm việc thiện cho dân chúng thuận tiện đi lại, trong đó có các công nhân của ông. Cũng có giai thoại cho rằng khi xây cầu, chính phủ Nam Kỳ vận động ông chủ Nhị Thiên Ðường ủng hộ một phần tiền để đổi lấy việc đặt tên cầu chứ không phải toàn bộ kinh phí xây cầu vì số tiền này rất lớn. Cũng có một giai thoại khác là kinh phí xây cầu đều do chính phủ Nam Kỳ lúc đó bỏ ra. Do ở gần ngay nơi chân cầu vốn có một dãy nhà kho lớn là nơi chứa gạo và sản phẩm của dầu Nhị Thiên Ðường, được dân chúng gọi là kho Nhị Thiên Ðường nên khi xây cầu xong, người ta lấy luôn tên Nhị Thiên Ðường đặt cho cây cầu. Không rõ trong các giai thoại trên cái nào là chính xác nhưng chắc chắn là đều có liên quan đến nhãn hiệu Nhị Thiên Ðường”.
Xem thêm: Cuộc sống trên trạm không gian

Sau 1975, dầu Nhị Thiên Ðường ngừng hoạt động. Dòng họ Vi ra định cư nước ngoài và tiếp tục sản xuất dầu gió “trị bá bệnh”. Những năm sau đó, trong nước xuất hiện lại dầu gió Nhị Thiên Ðường nhưng là hàng giả mạo.
UserPostedImage
Duy An  
#2024 Posted : Thursday, January 14, 2021 12:17:38 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,257

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Mùa Hè Đỏ Lửa 1972: Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, "Người Ở Lại Charlie"


Jan 2, 2021
Vann Phan/Người Việt

SANTA ANA, California (NV) – Các trận đánh trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, trong đó nổi bật nhất là các cuộc giao tranh tại ba mặt trận lớn ở An Lộc, Kon Tum và Quảng Trị.


UserPostedImage
Trung Tá Nguyễn Đình Bảo (trái). (Hình: Tài liệu)

Từ những ngày đầu Tháng Tư, 1972, tại vùng Tân Cảnh-Dakto ở phía Tây Bắc Kon Tum diễn ra các cuộc giao tranh trước tiên, trong khuôn khổ Chiến Dịch Bắc Tây Nguyên của quân đội Cộng Sản Bắc Việt, và nhắm vào các lực lượng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) tại Vùng II Chiến Thuật.


Bối cảnh trận đánh tại căn cứ Charlie


Quân Lực VNCH trấn đóng tại vùng phía Tây Bắc tỉnh Kon Tum gần biên giới Việt-Miên-Lào gồm các lực lượng Bộ Binh, Thiết Giáp, Biệt Động Quân, và Nhảy Dù, với nhiệm vụ chính là bảo vệ sườn phía Tây của Vùng II Chiến Thuật, đồng thời theo dõi các hoạt động chuyển quân từ Bắc vào Nam của Quân Đội Cộng Sản Bắc Việt trong mưu đồ tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam.

Mỗi khi phát hiện các đoàn quân Cộng Sản xâm nhập này, phía VNCH sẽ báo cáo lại cho Hải và Không Quân Hoa Kỳ, đặc biệt là các phi đội oanh tạc cơ khổng lồ B-52, bay đến tiêu diệt họ cùng với số vũ khí, quân trang, quân dụng, và lương thực mang theo.

Hai căn cứ Charlie và Delta, nằm trong tuyến phòng thủ gồm nhiều cứ điểm của Quân Đoàn II Quân Lực VNCH ở phía Tây Sông Pôkô và Quốc Lộ 14, là những mục tiêu bị Cộng Quân tấn công đầu tiên trên đường tiến quân của họ về hướng Tân Cảnh, Dakto và thị xã Kon Tum, một trong ba mặt trận lớn trong Mùa Hè Đỏ Lửa. Trận đánh quyết định tại Đồi Charlie diễn ra từ ngày 11 đến 14 Tháng Tư, 1972, trong đó Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù (Tiểu Đoàn Song Kiếm Trấn Ải), tử trận, và Thiếu Tá Lê Văn Mễ, tiểu đoàn phó, quyết định rút quân khỏi Charlie.

Từ đầu Tháng Ba, 1972, biết được kế hoạch của Cộng Sản Bắc Việt là sẽ dùng các Sư Đoàn 320A, Sư Đoàn 322, và Sư Đoàn F10 cùng các đơn vị du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tấn công vào các cứ điểm của Quân Lực VNCH, Trung Tướng Ngô Du, tư lệnh Quân Đoàn II và Vùng II Chiến Thuật, đã điều động các lực lượng Bộ Binh và Thiết Giáp của Sư Đoàn 22 Bộ Binh lên Tân Cảnh để đối phó. Tướng Du còn điều động Liên Đoàn 22 Biệt Động Quân đến các căn cứ biên phòng, đặc biệt là đồn Ben Het, để bảo vệ các tuyến giao thông đi vào Vùng II.

Vị tư lệnh Quân Đoàn II cũng yêu cầu Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH cho tăng cường thêm Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù để làm lực lượng trừ bị tại Kon Tum và sẵng sàng cứu ứng cho Tân Cảnh khi cần thiết. Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù đóng tại làng Võ Định, cạnh Quốc Lộ 14, giữa khoảng Kon Tum và Dakto. Các đơn vị trực thuộc được bố trí tại các cao điểm trên Dãy Rocket Ridge về phía Tây quốc lộ 14, với các căn cứ Alpha, Yankee, Charlie, Delta, Hotel… Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù dưới quyền Trung Tá Nguyễn Đình Bảo được chỉ định trấn đóng căn cứ Charlie, gồm các cao điểm 960, 1020, và 1050.

UserPostedImage
Nhạc phẩm “Người Ở Lại Charlie” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. (Hình: Tài liệu)


Cộng Quân tấn công căn cứ Charlie, Trung Tá Nguyễn Đình Bảo hy sinh

Từ ngày 3 Tháng Tư, các lực lượng Sư Đoàn 320A khởi sự tấn công căn cứ Charlie và cứ điểm Rocket Ridge. Cuộc tấn công diễn ra nhiều đợt, và cho đến ngày 11 và 12, Cộng Quân liên tục nã hàng ngàn quả đạn 130 ly, 122 ly, và hỏa tiễn đủ loại vào hệ thống phòng ngự của căn cứ Charlie, quyết dứt điểm căn cứ này.

Khoảng 9 giờ sáng 12 Tháng Tư, Cộng Quân tiếp tục pháo loại đạn nổ chậm. Hầm chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Đình Bảo tại cao điểm 1020 bị trúng nguyên một trái đạn 130 ly và bị sập toàn bộ, xác vị chỉ huy tiểu đoàn bị mảnh đạn cắt đứt nhiều chỗ. Khoảng 10 giờ rưỡi đêm đó, các lực lượng Trung Đoàn 52 của Sư Đoàn 320A đã chiếm được nhiều nơi trên căn cứ Charlie.

Ngày 13 Tháng Tư, Đại Úy Hùng “Móm” dẫn Đại Đội 112 tổ chức phản công với ý định chiếm lại cao điểm 960 để bảo vệ nguồn nước và bãi đáp dành cho trực thăng ở khu yên ngựa của cụm đồi Charlie, nhưng cuộc phản công bị Cộng Quân đầy lui.

Ngày 14, Cộng Quân tiếp tục tấn công vào các cao điểm cón lại của căn cứ Charlie bằng những trận mưa pháo ghê gớm. Vừa dứt pháo, Cộng Quân tràn lên tấn công vào Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù do Thiếu Tá Lê Văn Mễ, tiểu đoàn phó, chỉ huy. Vào lúc này, Thiếu Tá Mễ biết rõ là đơn vị đã hết đạn và cạn lương thực, bởi vì từ ngày 7 Tháng Tư đến nay, tiểu đoàn không nhận được tiếp tế đạn dược và lương thực. Trước hoàn cảnh bi đát đó, Thiếu Tá Mễ bàn với Thiếu Tá Đoàn Phương Hải, trưởng Ban 3 tiểu đoàn, là cần phải rút quân để tìm lấy cái sống trong cái chết cận kề.

Để thực hiện kế hoạch này, vị chỉ huy Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù đã ra lệnh cho các đại đội rời căn cứ Charlie theo hướng Đông-Bắc và tìm đường rút về Tân Cảnh (bộ chỉ huy hành quân của Sư Đoàn 22 Bộ binh) thay vì về Võ Định (nơi đóng quân của Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù) vì vị trí này quá xa căn cứ Charlie. Thiếu Tá Mễ cũng xin Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù, nửa giờ sau khi lính Dù đã rút đi, cho bắn đạn nổ chụp ngay trên đồi Charlie để tiêu diệt quân tấn công đang tràn ngập căn cứ.


UserPostedImage
Trung Tá Nguyễn Ðình Bảo (phải) và Ðại Tá Trương Vĩnh Phước trong chiến dịch Damber, Cambodia, Tháng Tám, 1971. (Hình: Tài liệu)


Vĩnh biệt Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, “người ở lại Charlie”

Khoảng 5 giờ chiều cùng ngày, cả năm đại đội và bộ chỉ huy tiểu đoàn cùng nhau rời cao điểm 1020, vĩnh biệt Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, “người ở lại Charlie.” Cộng Quân tràn lên chiếm đồi thì bị trọng pháo của Nhảy Dù từ các căn cứ hỏa lực gần đó đồng loạt bắn vào. Sau đó, một phi đội pháo đài bay B-52 xuất hiện, dội hàng trăm tấn bom xuống căn cứ Charlie vừa bị bỏ lại. Các lực lượng Cộng Sản Bắc Việt mới tiến lên căn cứ và chưa kịp chấn chỉnh hàng ngũ thì đã bị tan nát dưới trận mưa bom của Không Lực Hoa Kỳ.

Cái chết của vị sĩ quan anh hùng này đã gây nhiều xúc động trong lòng các chiến hữu Nhảy Dù và cả các chiến binh thuộc các quân, binh chủng bạn, bởi vì Trung Tá Bảo nổi tiếng là vị chỉ huy tài ba, gan dạ và hết lòng yêu thương đồng đội.

Charlie hay Tân Cảnh, Dakto, Kon Tum… không phải là những chiến trường duy nhất mà gót giày sô của vị trung tá đã đi qua, mà còn những địa danh khác nữa, như “Toumorong, Dakto, Dam-be, Đức Cơ, Krek, Snoul, Khe Sanh, Hạ Lào…” như được kể đến trong ca khúc “Người Ở Lại Charlie” của Trần Thiện Thanh, và còn nhiều, nhiều nữa những “địa ngục trần gian” khác từng “dàn chào” bao người chiến binh Quân Lực VNCH như Nguyễn Đình Bảo trong suốt cuộc chiến bảo vệ miền Nam Tự Do trước cuộc chiến tranh xâm lược của Cộng Sản Quốc Tế hồi hạ bán thế kỷ trước.

Giữa mùa tao loạn, cái chết ngay tại chiến trường mới là vinh dự thật sự của người chiến binh, cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí, lúc sinh thời, vẫn thường nói vậy. Nếu Trung Úy Nguyễn Văn Đương chỉ nhờ một trận đánh trên Đồi 31 tại chiến trường Hạ Lào mà trở thành “người anh hùng Mũ Đỏ tên Đương” thì Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, “người ở lại Charlie,” trở thành người anh hùng trong cuộc chiến. Không phải chỉ vì một trận chiến trên một ngọn đồi tại vùng núi rừng Kon Tum heo hút mà là vì những chiến công của Trung Tá Nguyễn Đình Bảo qua biết bao nhiêu lần vào sinh, ra tử tại các mặt trận khác, bởi vì danh vị anh hùng đó còn tùy thuộc vào chiều dài của đời quân ngũ và bề dày của những hy sinh, gian khổ mà người chiến binh cống hiến cho quốc gia, dân tộc.

Trong trận chiến trên đồi Charlie, thiết tưởng hai chiến sĩ khác, một Việt, một Mỹ, cũng rất đáng được khâm phục và ngợi ca.

UserPostedImage
Bản đồ căn cứ Charlie, 1972. (Hình: nhayduwdc.org)


Theo các bài viết về trận đánh tại căn cứ Charlie của tác giả Vương Hồng Anh trên các trang mạng vietbao.com và dongsongcu.wordpress.com, người thứ nhất đáng được vinh danh là Trung Sĩ Lung thuộc Đại Đội 111, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù, người chiến sĩ can trường đã xung phong bắn mở đường cho đồng đội tháo lui, rồi sau đó còn gan lì đoạn hậu để che chở cho anh em rút đi yên ổn trước khi hy sinh vì trúng đạn của Cộng Quân.

Người thứ nhì là Thiếu Tá Duffy, John Duffy, một sĩ quan Lục Quân Mỹ, sau trở thành Cố Vấn Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù Quân Lực VNCH. Trong cuộc rút quân khỏi căn cứ Charlie, vị sĩ quan Mỹ gan dạ này luôn nằm trong số những người sau cùng lên trực thăng di tản vì có lòng tốt muốn nhường chỗ cho các chiến binh Nhảy Dù lên máy bay trước. Và, vào phút chót, khi đã đặt chân được lên trực thăng rồi mà Thiếu Tá Duffy, bất chấp nguy cơ có thể bị bỏ lại vùng địch chỉ vì đây là chuyến trực thăng chót trong cuộc di tản khỏi Charlie, vẫn còn phải nhảy xuống đất để kịp đỡ Thiếu Tá Hải lên trực thăng, sau khi vị thiếu tá Dù bị trúng đạn địch mà rớt khỏi phi cơ.

Phải biết rằng Quân Đội Thiên Hoàng Nhật Bản (hồi Đệ Nhị Thế Chiến) và Quân Lực VNCH (thời Chiến Tranh Việt Nam) vẫn nổi tiếng là hai đạo quân có các chiến binh dũng cảm nhất thế giới. Điều lý thú là các sĩ quan Mỹ từng tâm sự rằng họ rất “ngán” khi được phái đến làm cố vấn cho các đơn vị như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, và Biệt Động Quân, bởi vì ai cũng lo sợ mình không đủ gan dạ để theo kịp những người bạn chiến đấu đó trong Quân Lực VNCH.

(Vann Phan)
UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest
102 Pages«<100101102
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.