Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

106 Pages«<104105106
Options
View
Go to last post Go to first unread
CỏThơm  
#2101 Posted : Sunday, November 22, 2020 1:16:13 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 181
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)



UserPostedImage


Thu lúa mới

Ngày tháng mười cười đã tối
Quê ta bước rộn vào mùa.
Đường làng bánh xe lăn vội
Tiếng người đi sớm về trưa!

Vụ đầu đi thu lúa mới
Lúa khoe bông nặng hạt vàng.
Lưỡi liềm em đưa nhanh vội
Trong lòng biết mấy bâng khuâng!

Lúa chạm vào tay là lạ
Lúa thi nhau nói rì rào.
Đã trải những ngày vất vả
Lúa cho hãnh diện tự hào

Đồng vàng chúng em thu lại
Sân phơi mấy dãy núi cao.
Em cầm trang thóc trong nắng mới
Tung sáng vàng muôn vạn vì sao!



16-6-1971.
Hồng Xuyên



UserPostedImage


UserPostedImage




UserPostedImage




UserPostedImage
Duy An  
#2102 Posted : Saturday, November 28, 2020 4:26:36 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,257

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Từ một bếp lửa



UserPostedImage


Tim Nguyễn
November 28th, 2020


Tạ ơn mẹ ta… khởi đi từ một bếp lửa.

Có thể nói không gì ấm cúng, thân yêu bằng bếp lửa của mẹ. Nó là hình ảnh của ấu thời tôi, và có lẽ cả ấu thời các bạn nữa. Và phải chăng mỗi khi cảm thấy chới với trên đường đời, ta lại tìm về bếp lửa ngày xưa ấy. Tìm về để được thấy an ủi, tin tưởng hơn, hầu cất bước đi tiếp trên con đường chông chênh của kiếp người.

Con đã đi bao năm / mẹ vẫn ngồi bên bếp lửa…

Nguyễn tôi xin mượn một nửa câu thơ của Ngô Kha để gợi lại hình ảnh của mẹ. Dù sáng tinh sương hay khi chiều xuống, mẹ vẫn ngồi ở đó để lo cho bữa ăn gia đình và để nghĩ ngợi, xót thương. Cho tới ngày giọt nắng rụng xa cành, cho tới ngày mẹ không còn nữa trên cõi đời này, thì trong nỗi tưởng nhớ của con mẹ vẫn ngồi bên bếp lửa. Cho nên, Nguyễn tôi rất đồng cảm với Lê Văn Ngăn khi anh viết:

Mỗi buổi mai, lúc nền trời những vì sao chưa tắt

bao nhiêu bếp lửa đã sáng lên trên hành tinh này

và bếp lửa của mẹ, từ tuổi thanh xuân đến tuổi xế chiều

vẫn cháy chập chờn trong căn nhà nhỏ

Mẹ đã khởi đầu sự sống cho con cái mình

bằng một ngọn lửa như thế


Và người viết có thể nói một cách rất tự tin rằng “Bất cứ anh con trai nào của đất nước mưa phùn và nắng cháy này cũng ra đi từ bếp lửa của mẹ. Chính ở đó bắt đầu sự sống. Chính ở đó dạy cho ta bài học yêu thương và sự biết ơn.” Giờ đây, xin cho người viết được ngỏ đôi lời với mẹ của mình.

Mẹ ơi, từ ấu thơ của con, và có lẽ từ hồi mẹ còn con gái, mẹ đã nhóm lên bếp lửa. Và từ lúc con biết nhìn thế giới chung quanh thì con đã nhìn thấy bếp lửa của mẹ. Thuở đó, trong căn nhà ở Vương Phủ, mẹ đâu đã được hưởng những tiện nghi như các bà mẹ bây giờ. Mẹ đâu có bếp than, bếp điện, bếp gas… Mẹ chỉ có ba hòn gạch hay cái chân kiềng để làm bếp. Còn vật liệu để đốt, chỉ có những nhánh củi mót trong vườn nhà, những tàu dừa tàu cau đem xẻ ra, chặt nhỏ phơi khô. Hay bó rạ, thúng trấu, thúng dăm bào xin từ hàng xóm. Với chừng đó vật liệu, mẹ nhóm lên bếp lửa cho gia đình. Cha cũng vất vả sớm chiều trên chiếc xe đạp màu đen hiệu Saint Etienne đi làm kiếm tiền. Nhưng cha còn được nghỉ ngơi, uống trà, đọc báo. Còn mẹ, mẹ cặm cụi, vất vả, nhọc nhằn từ sớm tinh sương cho tới khi chiều tối. Và mẹ là người gần gũi với con hơn ai hết.


Như thế đấy, trên bếp lửa của mẹ luôn luôn có ấm nước, niêu cơm, trách cá kho, om canh rau. Từ sáng sớm, mẹ đã thức dậy nấu nước pha trà cúng bàn thờ ông bà, rồi mẹ bắc nồi cơm cho cả nhà ăn và để bới vào mo cau cho con đi học. Cho tới bây giờ, khi đã qua bao nhiêu chặng đường của cuộc đời, con không quên nắm cơm của mẹ cùng với dúm muối mè ăn vào còn dư vị ngọt bùi ở cổ. Cũng vậy, làm sao quên được miếng cá ngừ kho, bát canh hoa lý của mẹ ăn trong chiều hè.

Thường xuyên hơn cả, mỗi buổi chiều, trên bếp của mẹ sôi sục nồi cám heo. Ôi, con vẫn còn thấy như đang xảy ra trước mắt cảnh mẹ đi đốn từng cây chuối vào xắt ra rồi bằm nhuyễn trộn với cám nấu lên cho heo ăn. Thuở ấy, mẹ chịu khó nuôi thêm một hai con heo để kiếm thêm lợi tức. Thực chất, đây giống như những đồng xu bỏ ống: nuôi heo cho lớn, mẹ kêu người bán, vậy là nhà có được thêm một món tiền, dành khi kỵ giỗ hay việc nọ việc kia trong gia đình. Chiều nay, con ngồi nhớ lại mà rưng rưng nước mắt. Mẹ ơi!

Này, các bạn của Nguyễn ơi. Có thể một hai người trong các bạn ra đi từ một nơi sang trọng. Mừng cho các bạn thôi. Riêng Nguyễn này và rất nhiều người nữa đã lớn lên và ra đi từ bếp lửa của mẹ. Thực tình, Nguyễn tôi không có gì mặc cảm hay xấu hổ để nói lên điều này. Giọt nước sông kia khi ra tới biển còn nhớ về nguồn. Huống chi… Phải nói rằng từ căn bếp ấy ta có được bát cơm ăn mỗi ngày. Sự tăng trưởng của các tế bào trong cơ thể cậu bé con hay cô bé, trong đó có những tế bào óc, là từ đâu ra. Nguyễn lớn lên từ niêu cơm và nồi cám heo của mẹ. Rồi sau này, từ những chữ abc và bản cửu chương học thuộc lòng, cho tới những công thức và định đề toán học, những tư tưởng cao siêu của các triết gia, những bài thơ đẹp như châu ngọc của các thi sĩ, những bức tranh những pho tượng những tiếng hát và vở kịch trên sân khấu… vân vân, tất cả đều thấp thoáng ánh lửa của căn bếp trong buổi đầu đời của ta.


Nơi đó, chái bếp nghèo của mẹ, những lúc chán chơi hay bị bạn bè xịt ra, Nguyễn tôi lại ngồi nghe mẹ kể chuyện ngày xưa. Chuyện gia đình ngoại ở làng Phù Lễ, chuyện cổ tích dân gian. Không hiểu từ đâu mẹ thuộc lòng rất nhiều câu hát và ca dao. Có thể nói một phần tâm hồn của Nguyễn, trong những buổi đầu đã được nuôi bằng những dưỡng chất ấy. Còn nhớ khi đã bể giọng và bắt đầu làm thơ, Nguyễn đem khoe mẹ những bài thơ đầu tiên chép tay, đọc cho mẹ nghe vài câu vài đoạn. Và Nguyễn nói với mẹ: “Sau này, con sẽ đem in thơ bán lấy tiền nuôi mẹ.” Ôi, ngây thơ khờ khạo như con cún con. Ðể rồi khi đụng phải bức tường thực tế mới vỡ mặt vỡ mày ra. Hình như trong đời chỉ một lần duy nhất được Tô Kiều Ngân trả cho 500 đồng bài thơ đăng trên báo Tiền Phong của quân đội, còn ngoài ra thơ Nguyễn tôi chỉ được đăng chùa, có khi còn phải đãi cà phê cho người chủ bút để được đăng thơ. Ấy là chưa kể bao nhiêu lần tốn giấy (pelure) tốn mực (waterman) chong đèn (dầu lửa) cặm cụi chép thơ rồi mua phong bì mua tem gởi tặng mấy bà con gái (mà ngày hôm nay Nguyễn đều gọi bằng “má” tất tật…). Làm thơ -như Nguyễn và mấy ông bạn ngây thơ khờ khạo khác- quả chẳng được đồng xu cắc bạc hay sự đoái hoài nào cả. Bụng đói, làm thơ. Thất tình, làm thơ. Ở trong tù, đi đẩy gỗ, đẩy xe đá, cuốc đất, cũng làm thơ. Làm trong đầu, cố nhiên. Gánh cỏ trên vai, thơ trong đầu (TTT)

Ôi, ôi, hình như Nguyễn này đã đi khá xa đề. Xin trở lại với bếp lửa trong căn nhà xưa. Và xin nhắc: Nguyễn tôi đã ra đi từ một bếp lửa. Ngày nay, khi đã đặt chân lên biết bao sân ga, phi cảng, lái xe trên những freeway ngàn dặm và trên những cây cầu treo qua thế kỷ, thỉnh thoảng trước mắt Nguyễn hiện ra trong đêm sương hay qua màn mưa tuyết phủ, hình ảnh một bếp lửa ấm cúng và thân yêu. Bếp lửa của mẹ ta ngày nào. Ôi mẹ!..

UserPostedImage
CỏThơm  
#2103 Posted : Sunday, December 13, 2020 1:07:49 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 181
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)
.


Credit Photo: Manhhai Flickr
UserPostedImage


Quai Hồng

Quai hồng guốc đứt rồi o
đi mô luống cuống cho đò trễ sông
anh xin làm sợi tóc bồng
cột dùm o chút buồn không giữa chiều
e chừng gió thổi người xiêu
áo mờ hết cả đường theo trắng ngần

Hoàng Xuân Sơn
(trích Huế Buồn Chi)


.

Edited by user Monday, December 14, 2020 7:29:20 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Duy An  
#2104 Posted : Friday, January 1, 2021 12:06:58 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,257

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)

Trang Nguyên

12/31/2020

Kim Chung một thời vang bóng

Nếu đoàn cải lương Thanh Minh Thanh Nga nổi tiếng vào thập niên 1960 thì đoàn hát Kim Chung cũng vang bóng một thời vào nửa cuối thập niên 1950. Đoàn hát ban đầu gặp nhiều khó khăn khi di cư vào Nam. Người dân trong Nam không quen với lối ca hát của đào kép đất Bắc nên người xem ít ỏi. Dần dần đào kép đoàn Kim Chung nhận ra điều đó, cố gắng ca vọng cổ theo giọng Nam, càng ngày càng thu hút khán giả.

UserPostedImage

Khán giả đi xem cải lương của đoàn Kim Chung (Ảnh: Internet)


Ông Tư Giao, một người mê cải lương và cũng là ký giả kịch trường của tờ Sân Khấu kể cho tôi nghe chuyện thăng trầm của sân khấu Kim Chung khi mới chân ướt chân ráo vào Sài Gòn hồi năm 1954. Ðến xứ lạ, không hợp phong cách với lời ca giọng điệu nên vắng bóng người xem. Hầu hết khán giả của đoàn Kim Chung lúc đó là người Bắc mới di cư vào Nam, nhớ quê, nhớ các giọng ca của đào kép xứ Bắc nổi tiếng đương thời như Kim Chung, Bích Hợp, Bích Sơn, Huỳnh Thái… nên đến rạp xem ủng hộ. Tuy nhiên, đó chỉ là số ít khán giả, không đủ bù các chi phí hằng ngày. Ông bầu Long (Trần Việt Long) làm liều để giữ đoàn không tan rã, dùng tiền túi nuôi cả đoàn hát ba bốn chục người, thuê luôn rạp Trung ương Hí viện (tức rạp Aristo trên đường Lê Lai) để củng cố niềm tin cho đào kép.

Ông Long từng là công tử con nhà giàu, từng đi du học ở Pháp, Ðức lại mê cải lương và mê thêm luôn cô đào Kim Chung nên bỏ tiền thành lập đoàn hát lấy tên là Ðoàn cải lương Kim Chung. Thuở đó, đoàn Kim Chung đình đám lắm, mệnh danh là “Tiếng chuông vàng Bắc Việt”. Từ lúc lên mười, Kim Chung đã tham gia Ban Ðồng Ấu Nhật Tân, chuyên diễn tuồng Hồ Quảng của ông bầu Tài Quang. Năm 16 tuổi, Kim Chung đã là đào chính của đoàn Cải Lương Tố Như, nổi tiếng trên sân khấu đất Bắc, được mệnh danh là “Ðệ nhất danh ca Bắc Hà”.

Khi cải lương có mặt ở Hà Nội lập tức được khán giả miền Bắc tiếp nhận, nhanh chóng trở thành một môn nghệ thuật sân khấu mới ngày càng ăn sâu bám rễ trên đất Hà thành. Và không ngờ, hơn 20 năm sau, Công ty Sân khấu Kim Chung – công ty mang tên “Ðệ nhất danh ca Bắc Hà” lại làm nên sự nghiệp lớn trên đất Sài thành, không chỉ ở sân khấu cải lương thu hút đông đảo khán giả miền Nam mà còn là nơi phát hiện, đào tạo và làm nên tên tuổi của nhiều ngôi sao cải lương Nam phần.

UserPostedImage

Quảng cáo trên báo của đoàn Cải lương Kim Chung Xuân Bính Thân 1956 (Ảnh: Internet)


Cải lương dễ đi vào lòng người, phù hợp với tâm lý con người Việt Nam, không phân biệt ở địa phương nào. Về mặt nghệ thuật, cải lương vừa thừa kế được một số yếu tố của tuồng, chèo, lại vừa có được những yếu tố mới mẻ, hiện đại của nghệ thuật phương Tây là kịch nói. Có lẽ vì thế cải lương được đông đảo quần chúng ở cả ba miền đón nhận như một xu hướng nghệ thuật sân khấu mới, ra đời và lan tỏa vào nửa đầu của thế kỷ XX.

Theo tài liệu kỷ niệm 100 năm sân khấu cải lương cho biết: Từ năm 1935 tới năm 1941 nhiều gánh hát cải lương được thành lập ở miền Bắc như Nhật Tân Ban, Quốc Hoa, Tố Như, Ái Liên, Ðức Huy, Nam Hồng v.v. Nhiều gánh vào Nam biểu diễn và gặt hái được thành công. Ngược lại, một số gánh hát của miền Nam như An Lạc Ban, Phước Cương, Tân Hí Ban, Trần Ðắt, Năm Phỉ, Phụng Hảo, Thanh Tùng, Năm Châu, Kim Thoa ra Bắc biểu diễn cũng được khán giả rất mến mộ.

Bấy nhiêu chi tiết lịch sử đủ cho thấy nghệ thuật cải lương dù xuất phát từ miền Nam nhưng rất nhanh chóng chinh phục được công chúng miền Bắc, nhất là ở Hà Nội, một công chúng có trình độ, không hề “dễ tính” trong thưởng thức văn học nghệ thuật. Trước đó đã có tuồng, chèo và cả kịch nói là loại hình sân khấu hoàn toàn mới mẻ, mới được du nhập vào nước ta gần như đồng thời với sự xuất hiện của cải lương trên đất Bắc.

Trở lại đoàn Kim Chung khi vào Nam, cái nôi sản sinh ra nghệ thuật cải lương, đoàn hát mới đương nhiên bị lấn áp. Ðất mới, khán giả mới, giọng ca đào kép mới không giống giọng ca của đào kép trong Nam, sân khấu Kim Chung sẽ bị ảnh hưởng nếu không thay đổi cho phù hợp thị hiếu khán giả trong Nam vốn khó tính nhưng lại bao dung với các đoàn cải lương. Dần dần đoàn Kim Cương bắt đầu chinh phục được khán giả. Ông Long thuê dài hạn rạp Aristo để cả đoàn có nơi hoạt động và định hình lại phong cách biểu diễn. Ấy thế mà hồi đó, giới cải lương trong Nam cứ bảo ông Long này dở hơi. Một tuồng diễn chừng tuần lễ là hết khán giả, xưa nay chưa có gánh hát nào nằm lì một chỗ vài ba tháng diễn tuồng. Ðó là lý do tại sao các đoàn hát phải lưu động biểu diễn ở khắp nơi. Hơn nữa, rạp Aristo tuy nằm ở trung tâm Sài Gòn nhưng lại là nơi mà sinh hoạt của người dân rất phức tạp vì nằm gần nhà ga xe lửa, đường sá di chuyển bất lợi, so với các rạp gần đó như Thành Xương hay Nguyễn Văn Hảo.

UserPostedImage

Quảng cáo của đoàn Kim Chung hát tại rạp Aristo (Ảnh: Internet)


Sở dĩ ông bầu Long chọn thuê rạp Aristo dài hạn là vì giá thuê khá rẻ do ít đoàn hát nào đến thuê. Ông ký hợp đồng 5 năm, trả tiền từng năm, chủ rạp mừng húm lại còn cho giá rẻ. Tính ra chi phí thanh toán cho đào kép và số khán giả người Bắc di cư ủng hộ từng đêm, ông cũng không lỗ lã bao nhiêu. Nhưng thật may mắn, khán giả trong Nam bắt đầu tò mò đến rạp để xem đào kép mới miền Bắc hát cải lương ra sao. Ðào kép Kim Chung đáp ứng được giọng hát không thua gì đào kép trong Nam, dần thu hút đông đảo khán giả. Gánh Kim Chung bắt đầu ăn nên làm ra chỉ sau một thời gian ngắn. Ðiều làm cho giới cải lương kinh ngạc là đoàn Kim Chung hát liền tù tì vở “Trăng giãi đêm sương” suốt 40 đêm, phá kỷ lục của các đoàn khác diễn vở ăn khách nhất cũng chỉ đến tuần thứ ba là thưa khán giả.

Ngoài những đào kép đất Bắc của đoàn Kim Chung sẵn có, bầu Long còn hợp đồng với các đào kép tên tuổi được khán giả mến mộ, cho nên có thể nói phần lớn tài danh sân khấu cải lương đã ở dưới trướng của bầu Long. Các nghệ sĩ tên tuổi hát cho Kim Chung người ta phải kể: Út Trà Ôn, Hùng Cường, Tấn Tài, Út Bạch Lan, Thanh Hải, Diệu Hiền, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Thanh Kim Huệ, và ba giọng ca mùi mẫn: Minh Cảnh, Minh Phụng, Minh Vương…

Thời gian này cũng là lúc Sài Gòn phát triển nhanh chóng các rạp chiếu bóng. Các rạp hát nhỏ dần bị phá bỏ và nhiều địa điểm xây cất mới rạp hát hiện đại hơn dành cho điện ảnh và các đoàn cải lương.

UserPostedImage

Đoàn Kim Chung hát Tết ở rạp Olympic (Ảnh: Internet)


Rạp Aristo không còn nữa nhưng vẫn là nhân chứng cho một giai đoạn phát triển và làm nên tên tuổi của đoàn Kim Chung tại đất Sài thành. Ðó cũng là nhờ tài năng quán xuyến của ông bầu Long và hiền thê Kim Chung của ông. Trong giới cải lương nhiều người còn nhớ tài ngoại giao của ông bầu Long với Bộ Thông Tin khi xin cho đoàn được sang Pháp lưu diễn, sau khi đoàn Thanh Minh Thanh Nga được Bộ cử sang Pháp biểu diễn thành công rực rỡ. Ðoàn Kim Chung xin đi tự túc, lời ăn lỗ chịu. Hơn nữa, bấy giờ chính quyền cũng ý thức được tầm quan trọng trao đổi văn hoá của các đoàn nghệ thuật sang nước ngoài nên dễ dàng chấp thuận cho đoàn Kim Chung lưu diễn. Sang Pháp biểu diễn, ông Long thuê rạp ở các tỉnh có đông người Việt, hát suốt cả tuần thu về bộn bạc, rồi về Paris hát nhiều suất ở các rạp lớn. Sau chuyến lưu diễn đoàn Kim Chung càng nổi tiếng hơn trong nước, suất hát nào cũng đông kín khán giả kéo dài cả chục năm. Làm ăn phát đạt, ông bầu Long sắm nhà bên Pháp, cho con cái học hành bên đó, hai vợ chồng ông đi Tây liên tục.


Sau 1975, ông bầu Long và đào Kim Chung cùng gia đình đi Pháp. Ðến năm 1981, ông về nước mang theo dự tính xây dựng lại đoàn Kim Chung. Nhưng, tuổi già sức yếu, ông đành ẩn thân cho đến năm 81 tuổi, năm 2003, thì về với Tổ nghiệp cải lương. Và bà vợ, đào Kim Chung thì mất sau ông 5 năm tại Tân Bình, thọ 85 tuổi.

UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (3)
106 Pages«<104105106
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.