Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

106 Pages«<103104105106>
Options
View
Go to last post Go to first unread
CỏThơm  
#2081 Posted : Thursday, August 3, 2017 4:10:34 AM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 181
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)



UserPostedImage


h ỏ i .e m . . .



muốn gửi về em bao nỗi nhớ
theo làn mây trắng lững lờ bay
cùng nửa vầng trăng bên mành vỡ
hong xót xa ngày tháng đọa đày

tình lục bình theo làn nước biếc
kiếp nổi trôi xuôi ngược giữa dòng
người ra đi không lời từ biệt
đắng cay ai thấu nỗi chờ mong

anh vẫn đó bên bờ sông lở
nắng thầm rơi phai nhạt mộng yêu
gió ru khúc tình ca dang dở
quặn lòng thơ day dứt những chiều

giăng mây xám chiều sương nhiều quá
hay lệ lòng ướt đẫm hàng cây
vẫn lối cũ sao chừ xa lạ
nghe vấn vương xao xuyến hồn này

con đò nhỏ nằm im bến cũ
bạc thếch sờn mưa nắng đợi mong
người có về ươm tình ấp ủ
cho mầm xanh nở ngát hương lòng



g i ó b ụ i



UserPostedImage
Hạ Vi  
#2082 Posted : Saturday, October 14, 2017 8:04:25 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,558
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)


UserPostedImage


Gởi người nhớ Huế


làm gì có Huế trong thơ nhỉ
chỉ có trong mơ mà mấy khi
được chạm nhẹ tay vào mộng ảo
hỡi ơi đã lỡ mất xuân thì

ừ thì huế vẫn trong thơ vậy
chẳng khác phù vân đùa bóng mây
gió lay cành trúc buồn thôn vĩ
mặt chữ điền đâu sương khói đầy

thôi thì cứ ngỡ câu hát ví
lơ lửng thuyền trăng ghẹo đường thi
khúc dạo nam bình ai hiểu hết
ý tình vương vấn đọng bờ mi

tịnh tâm hồ cũ sen còn nở
hay đã lụy tình dạ ngẫn ngơ
từ người quá hải sang bờ khác
hoa lá nhạt phai nước hững hờ

quanh đi quẩn lại còn đâu nữa
tím huế ngày xưa đã nhạt mờ
thôi về viết lại câu mái đẩy
đẩy nhẹ thuyền trăng nghiêng vào thơ.



Túy Hà



,

Edited by moderator Wednesday, December 27, 2017 12:40:38 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Duy An  
#2083 Posted : Wednesday, December 27, 2017 4:16:33 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,255

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)

Một mảnh đời Hồ Dzếnh


Trần Mộng Tú

Hồ Dzếnh là Hà Anh đọc theo tiếng Quảng Đông. Tên thật là Hà Triệu Anh, sinh năm 1916 tại Thanh Hóa. Thân sinh người Hoa di cư từ Quảng Đông, mẹ là người Việt.

Hồ Dzếnh thành danh với tập truyện Chân Trời Cũ (1942) và tập thơ Quê Ngoại (1943), Hoa Xuân Đất Việt (1945), và ký bút hiệu Lưu Thị Hạnh trong tiểu thuyết Những Vành Khăn Trắng (1942) và Một truyện tình 15 năm về trước (1943).

Nhiều người biết đến bài thơ Chiều của ông được Dương Thiệu Tước phổ nhạc, cũng như hai câu thơ rất phổ biến:

Tình mất vui khi đã vẹn câu thề
Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở


trích trong bài thơ Ngập Ngừng. Bài này đã được các nhạc sĩ Anh Bằng, Hoàng Thanh Tâm và Minh Duy phổ nhạc. Anh Bằng còn phổ nhạc bài thơ Hoa Mẫu Đơn của ông.

Vào năm 1954, gia đình tôi mới di cư vào Nam được vài tháng, nhận được một lá thư của Hồ Dzếnh (thời gian đầu của năm 1954-1955 Bắc-Nam còn nhận được thư). Lúc đó tôi còn bé chưa biết ông là một thi sĩ, Ba tôi nói: Có người đàn ông Trung Hoa muốn lấy thím Phương. Thím Phương của chúng tôi là vợ góa của chú Trần Trung Phương, người có tập Thơ cho học trò Mấy Vần Tươi Sáng, mà từ nhỏ anh chị em chúng tôi đã thuộc lòng nhiều bài trong đó. Khi học ở Tiểu Học được học lại ở trong lớp như những bài Học Thuộc Lòng.

Chiều qua trăng ngã xuống hồ

Bầy sao nghịch ngợm đổ xô xuống tìm

Trên không có mấy con chim

Vội vàng đâm bổ đi tìm bóng trăng.


Vội Vàng- TTP

Lá thư của chú Dzếnh, tôi không được đọc, chỉ nghe Ba nói là một lá thư với lời lẽ hết sức lễ phép, xin phép anh chị cho em được thay anh Phương vào làm em anh chị trong gia đình. Ba tôi vốn sẵn hiền lành, nên đọc thư cảm động đến ngồi ngây người ra, không biết trả lời sao cho xứng với lá thư đó.

Chú Trần Trung Phương của tôi khi còn sống viết văn, làm báo cho thiếu nhi, hoạt động chống Pháp, bị bắt, tra tấn trong tù. Khi được thả ra thì ho lao chết ngày 4/27/1945. Lúc đó con trai mới 6 tháng tuổi. Thím Hồng Nhật, một người đàn bà có học, có nhan sắc, yêu văn chương, được tất cả các bạn văn của chồng kính nể. Mỗi năm làm giỗ chồng, thím mặc khăn áo đại tang làm giỗ, mời các bạn Văn/ Họa Sĩ của chồng như: Mạnh Quỳnh, Hữu Thanh, Tống Ngọc, Tam Lang, Khái Hưng v.v… đến dự. Ai cũng kính phục.

Thím ở vậy nuôi con, cho tới khi gặp Hồ Dzếnh. Cũng nên nhắc lại, thím Hồng Nhật cũng viết văn, làm thơ, lúc trẻ Hồng Nhật có gửi bài cho Phong Hóa và Ngày Nay, là thời điểm Trần Trung Phương đang phụ trách trang Thiếu Nhi của hai tờ báo này. Duyên văn nghệ đưa đến cuộc hôn nhân đẹp nhưng quá ngắn (không đầy 2 năm).
[b][center]

Khi chú mất, tôi cũng chỉ hơn em Cường một tuổi nên không biết gì cả.

Lớn lên mới biết thím là một phụ nữ đảm đang, qua bao nghịch cảnh, góa chồng, ly loạn vẫn gây dựng lại được những gì đã mất. Hiệu Sách Bình Minh 200 A, Phố Huế, nức tiếng ở Hà Nội một thời.

Vào năm 1951 thím Hồng Nhật muốn tái bản tập thơ Mấy Vần Tươi Sáng, nên có vào Nam nhờ Hồ Dzếnh đỡ đầu. Hồ Dzếnh cũng đang trong cảnh gà trống nuôi con rất vất vả. Hai người cảm thông nhau cùng hoàn cảnh góa bụa, cùng có hai đứa con trai nhỏ, cùng yêu văn chương nên nhanh chóng yêu nhau. Ðầu năm 1954 Hồ Dzếnh trở về Hà Nội, cuối năm đó lập lại gia đình với thím Hồng Nhật.

Giai thoại kể lại: Hôm đám cưới, các bạn văn cũ của chú Phương đến dự đông đủ, có một người ra câu đối: “Vợ góa nhà văn lấy nhà văn góa vợ.” Không ai đối được.

Cũng có thêm giai thoại nữa về cái tên Hồ Dzếnh, bạn hữu hay gọi đùa là Hồ Dính và có ra câu đối: Hồ Dính, dính hồ, hồ chẳng dính, có người đối là Ngọc Giao, giao ngọc, ngọc không giao.

Sau năm 1975 chú Dzếnh và Thím Hồng Nhật có vào Nam tìm gia đình anh chị, thì cha mẹ và chúng tôi đã sang Mỹ. Khi tôi liên lạc được với chú thím bằng thư thì cha mẹ tôi đã qua đời. Lá thư cuối tôi nhận được, chú nhờ tôi lấy tiền nhuận bút của những nhà sách bên Mỹ đã tái bản và phát hành những tác phẩm của chú nhưng không nhà xuất bản nào trả một đồng (Các nhà xuất bản hồi đó đều nghĩ việc họ tái xuất bản sách Việt ở hải ngoại là một đặc ân họ ban phát cho tác giả.)

Năm 1998 lần đầu tiên tôi về Việt Nam thì chú Dzếnh đã mất được 7 năm (1991). Buổi tối, nằm ngủ chung với thím trên chiếc giường của hai người, nghe thím kể lại: lúc biết mình sắp mất, chú đòi về nhà, mất trên cái giường của vợ chồng. Câu cuối cùng của chú là lời gọi: Mình ơi! trước khi nhắm mắt.

Mình vừa là chị là em
Tấm lòng người mẹ, trái tim bạn đời
Mai này tới phút chia đôi
Hai ta ai sẽ là người tiễn nhau?
Xót mình đã lắm thương đau
Tôi xin làm kẻ đi sau đỡ mình
Cuộc đời đâu phải phù sinh
Nước non chan chứa nghĩa tình, mình ơi!

Bài Thơ Tặng Vợ – Hồ Dzếnh


Chú Dzếnh muốn đi sau để tránh cảnh thương đau cho thím, nhưng chú lại là người đi trước. Trên chiếc giường gỗ ở ngôi nhà 80 phố Hòa Mã, Hà Nội, trong bóng tối mờ mờ của ngọn đèn đêm ngoài phố hắt vào, tôi nằm cạnh thím, nắm chặt bàn tay già nua của thím, nhìn lên đình màn, hình dung ra khuôn mặt thanh nhã với nụ cười hiền lành ở bức ảnh trên bàn thờ của một thi sĩ Trung Hoa mang trái tim Việt Nam trong lồng ngực, tôi nói thầm trong lòng: Cám ơn thi sĩ đã vào trong gia đình họ Trần Trung.

Tuổi thơ tôi lớn lên bằng những bài Thơ học trò ngây thơ trong Mấy Vần Tươi Sáng của thi sĩ Trần Trung Phương và tôi nghĩ đó chính là những hạt giống văn chương đã gieo vào mảnh đất hồn tôi để sau này mọc lên hoa trái. Rồi tiếp theo đó là Thơ và Văn Chương trong sáng, giản dị của Hồ Dzếnh ảnh hưởng tới văn chương và cách viết của tôi.

Tôi cám ơn Thượng Ðế đã cho tôi cả hai ông chú tuyệt vời.

Edited by user Friday, January 22, 2021 1:06:39 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
CỏThơm on 1/25/2018(UTC)
Duy An  
#2084 Posted : Saturday, January 20, 2018 1:58:51 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,255

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Nước mắm tĩn ngày xưa



Trang Nguyên

Tĩn nước mắm là hình ảnh quen thuộc với tôi từ thuở nhỏ. Má tôi buôn bán gạo lẻ một thời gian, rồi sau đó có người đến mời bán kèm thêm nước mắm, hàng bỏ theo kiểu gối đầu, bán xong tháng nào thanh toán tháng đó, lại nhận đợt hàng tiếp theo không cần phải bỏ vốn. Lúc ấy, tôi băn khoăn rằng liệu bán nước mắm cả tĩn cho bà con xóm lao động, họ đã quen mỗi ngày đi đong từng chén ở tiệm chạp phô, thì có được không? Nhưng má tôi có giang (?) buôn bán, thứ gì vào tay bà cũng đều suôn sẻ. Mỗi tháng có khi hai đợt xe lam chở đầy các tĩn nước mắm đến chất đầy nhà bếp. Nhìn núi tĩn chất cao kiểu hình kim tự tháp dựa lưng vào vách tường, lòng tôi vui vui.


Ðó là vào những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ trước. Bây giờ nhớ lại nhận ra có thể má tôi là một trong những người bán nước mắm tĩn cuối cùng trước khi nước mắm bắt đầu xuất hiện trong chai dán nhãn hiệu nhìn hấp dẫn hơn hình thù bề ngoài thô kệch của tĩn nước mắm. Tĩn nước mắm làm bằng đất sét nung, phình ở giữa, thô ráp, quét lớp vôi trắng bên ngoài, miệng chụp cái dĩa đất nung, bao quanh bằng lớp xi măng, dán phủ miếng nhãn hiệu to đùng “Nước mắm Liên Thành” có in hình con voi màu đỏ. Thế nhưng má tôi lại ít gọi thương hiệu “Liên Thành” mà cứ gọi chung chung nước mắm Phan Thiết – cội nguồn vùng đất sản xuất nước mắm lớn nhất miền Trung thời đó, tùy theo màu giấy dán trên miệng để phân biệt tĩn nào là nước mắm ngon dùng để ăn sống, tĩn nào là nước mắm thường dùng để nêm nếm nấu ăn.


Thật ra từ khi tôi chưa ra đời, nước mắm của nhiều nhà thùng đã chứa trong chai một lít hoặc thùng thiếc 20 lít để bán ra thị trường. Nghe má tôi kể lại như vậy và vào giữa thập niên 60, Phú Quốc đã chứa nước mắm trong thùng nhựa rồi. Nhưng theo thị hiếu, phần lớn người mua vẫn thích nước mắm tĩn dù rằng dung tích mỗi tĩn đến 3.5 lít, vì mua cả tĩn thì rẻ hơn mua nước mắm chai; vả lại ngày nào người ta cũng dùng nước mắm, có nhiều nhà ăn hết cả tĩn mỗi tháng. Chỉ một số gia đình nghèo trong xóm mua nước mắm lẻ ở các tiệm chạp phô. Trước khi má tôi bán thêm hàng nước mắm, thì mỗi ngày tôi vẫn thường xách chén chạy u ra tiệm ông Tàu đầu ngõ mua vài đồng nước mắm. Ông Tàu cầm vài đồng bạc cắc, mặt cười vui, mở cái nắp tĩn bằng đất nung, thọt cái gáo tre nhỏ múc đầy hai gáo.

Nói đến đây, tôi nghĩ rằng hồi xưa người ta ăn nước mắm nhiều hơn bây giờ. Theo thông tin của Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối thuộc Bộ Nông nghiệp hiện nay cho biết thì sản lượng tiêu thụ nước mắm hằng năm của cả nước rất nhiều, khoảng 215 triệu lít. Con số này không nhiều so với dân số 15 triệu hồi năm 1920 mà nhà nghiên cứu dinh dưỡng người Pháp Mesnard Rose, tại Viện Pasteur Sài Gòn, ghi nhận trong một bài viết về thực phẩm chế biến từ cá rằng chỉ riêng năm 1921 tỉnh Bình Thuận đã sản xuất ra hơn 46 triệu lít nước mắm. Số nhà thùng trải dài từ đảo Phú Quốc đến Hải Phòng còn rất nhiều. Người ta tính trung bình một người tiêu thụ đến 10 lít nước mắm mỗi năm. Giá nước mắm từ 3 đến 20 xu tùy loại ngon dở, đặc biệt 40 xu một lít là loại hảo hạng.


Nước mắm dở là nước mắm làm ra từ xác mắm, sau khi chắt lọc loại nước mắm nhĩ (nhất) rồi đến loại nhì. Người ta pha thêm muối và nước vào xác mắm, để thêm một thời gian lọc tiếp, thành nước mắm rẻ tiền bán cho dân nghèo. Một loại nước mắm không ngon khác là nước mắm đồng (dùng cá đồng làm mắm như cá linh, cá phèn…) thường được người dân miền Tây Nam bộ làm ra khi thu hoạch lượng cá lớn trong mùa nước nổi mỗi năm, còn gọi là nước mắm trong. Mãi cho đến những năm 1940, người Nam bộ mới làm quen với nước mắm làm từ cá biển, do đó nghề nước mắm Phú Quốc bắt đầu sản xuất mạnh hơn, chứ trước đó không mấy ai biết tiếng nước nắm Phú Quốc. Ðến thập niên 60, nước mắm Phú Quốc mới đạt được phẩm chất cao từ nguyên liệu con cá cơm sọc tiêu làm ra nước cốt tinh túy. Và cũng trong thời gian sau này, sự cạnh tranh của nước mắm Phú Quốc đã làm suy giảm sản lượng nước mắm Phan Thiết.

Nước mắm ngon Phú Quốc, Phan Thiết ai cũng biết tiếng, ấy thế mà hồi học tiểu học tôi chưa bao giờ nghe đến một câu ca dao về nước mắm ngon của các vùng này, mà chỉ nhớ độc hai câu ca ngợi sản vật địa phương đâu tận ngoài miền Bắc trong sách giáo khoa: “Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần / Nước mắm Vạn Vân, cá rô Ðầm Sét”. Mãi đến giờ, tôi chưa được nếm thử nước mắm Vạn Vân để xem nó ngon ra sao, nhưng biết người làm ra là ông Ðoàn Ðức Ban, thân sinh của nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn (Tôi mê dòng nhạc trữ tình lãng mạn của Ðoàn Chuẩn qua giọng ca Khánh Ly và Tuấn Ngọc). Chỉ có người con trai cả và cô con gái là theo nghiệp làm nước mắm của gia đình ở Cát Hải, Hải Phòng.


Vào năm 1939, nước mắm Vạn Vân đã được xuất cảng sang Pháp và một số nước châu Âu. Tôi không biết thời đó ở miền Bắc người ta có chứa nước mắm trong tĩn như ở miền Trung và miền Nam hay không. Tôi quan tâm đến chuyện này vì hình dáng cái tĩn trông mộc mạc, gần gũi, và phù hợp để đựng thứ nước chấm làm ra từ cá. Người ta không dùng tĩn để đựng nước tương. Nước tương ngày xưa được chứa trong vại sành (sau này đóng chai cùng thời nước mắm) trông sang hơn cái tĩn. Theo nhà khảo cứu A. G. Van Veen viết trong cuốn sách về Thực phẩm chế biến từ cá ở Ðông Dương, do trường Ðại học Cornell ở New York xuất bản năm 1974, thì từ hơn nửa thế kỷ, ở miền Nam nước mắm được chứa trong các cái tĩn có dung tích từ 3 đến 3.5 lít; còn ở miền Bắc thì nước mắm được chứa trong vại lớn hơn 100 lít. Tĩn và vại đều được hàn kín, dán thương hiệu với lời ghi rõ ràng “Nước mắm miền Nam” hoặc “Nước mắm miền Bắc” bằng 3 thứ tiếng: Pháp, Hoa và Quốc ngữ. Tác giả không phân biệt nước mắm hai miền khác biệt ra sao mà chỉ phân biệt hình thức bao bì giữa tĩn và vại to.

Theo lịch sử, từ xa xưa nước mắm thành phẩm đã được chứa trong các thùng gỗ, vại, tĩn tùy theo địa phương sản xuất. Theo nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân thì trong “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú có ghi rằng nước mắm là một trong sáu thổ sản phải nạp thuế. Ðến đời Lê Cảnh Hưng thứ tư, phường làm nghề nước mắm có phương tiện đánh bắt cá phải nộp thuế ba tĩn, người làm thuê thì nộp một tĩn. Qua khoảng giữa thời Nguyễn, người làm nghề nước mắm phải nộp thuế mỗi người một thùng nước mắm hoặc vò mắm tép. Trong “Ðại Nam nhất thống chí” lại ghi ở tỉnh Bình Thuận, thuế biệt nạp thời Minh Mạng, thì người làm nghề nước mắm nộp tám vò mỗi năm, nhưng không cho biết dung tích của thùng, vò, tĩn hay các loại hũ là bao nhiêu.

Riêng tĩn nước mắm có dung tích 3.5 lít xuất hiện ở miền Trung, Phan Thiết là chủ yếu, trong thời gian hãng nước mắm Liên Thành thành lập năm 1906, cùng thời với phong trào Duy Tân do cụ Phan Chu Trinh khởi xướng, và Liên Thành thương quán là nhà tài trợ chính cho phong trào canh tân giáo dục. Cũng theo nhà nghiên cứu dinh dưỡng Mesnard Rose ghi chép hồi năm 1918 nước mắm bán ra thị trường chứa trong tĩn và đây là một loại bao bì an toàn hơn chứa trong thùng thiếc, thuận tiện trong việc di chuyển nhờ có cái quai xách bằng mây. Nước mắm trong tĩn nung chín bằng đất sét có ưu điểm giữ được chất, khi phơi nắng lâu ngày, nước mắm sánh lại và ngon hơn nước mắm mới chiết xuất ra khỏi nhà thùng.

Tĩn nước mắm miền Trung có bụng phình ở giữa nên dung tích nhiều hơn tĩn nước mắm miền Nam, đặc biệt là ở Phú Quốc, tĩn có hình đáy hơi thon, eo không nở, nên dung tích nhỏ hơn một chút. Ðấy là cách má tôi giải thích với khách hàng khi họ thắc mắc tĩn ở chỗ hàng này nhỏ, chỗ kia to. Riêng tôi, khi viết đến đây lại nghĩ rằng, đó là mánh khoé cạnh tranh bằng hình thức. Cái tĩn to hơn thì dễ làm người mua thích hơn, cho dù trả thêm chút tiền, điều này lợi cho việc tăng sản lượng tiêu thụ.

Ðến những năm đầu thập niên 1970, tĩn nước mắm bỗng dưng biến mất trong đời sống, rồi can nhựa, bình nhựa thay thế một thời gian dài cho đến khi nước mắm chai trở lại với đa dạng loại hình. Chính điều đó làm cho ta lại nhớ chuyện nước mắm tĩn ngày xưa.

Edited by user Friday, January 22, 2021 1:05:03 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
CỏThơm on 1/25/2018(UTC)
CỏThơm  
#2085 Posted : Thursday, January 25, 2018 12:38:53 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 181
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)


UserPostedImage


Như nhớ tình đầu


không còn nhiều trăng trên trời và hương trong gió
sợi tóc bạc nào cũng quá khứ xa xăm
tôi rất tiếc không tán em lần nữa
để dỗ mối tình có thể trăm năm

tôi một đời làm thơ mà câu thơ chưa hết ý
gửi trao em bữa đó cũng lưng chừng
phải câu thơ đã biết mình không thể
níu tay người ghé lại cõi đời chung?

tôi dại khờ chăng những lần ngồi bến lở
khi con sông đôi bờ nước vẫn trôi xuôi
em đã từng qua sông và gió ngàn bóng áo
tôi nghe áo xưa lồng lộng kiếp người...

rồi trăng sẽ tàn và hương bay mất
tháng chạp sẽ về để mắt em sâu
tôi ra đứng sau hè thương mùa nguyệt bạch
và nhớ em như nhớ một tình đầu.



Hoàng Lộc





UserPostedImage
thanks 1 user thanked CỏThơm for this useful post.
phamlang on 2/6/2018(UTC)
Duy An  
#2086 Posted : Thursday, February 1, 2018 11:52:48 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,255

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Làng hoa Sa Đéc đông khách những ngày cận Tết

Di Vỹ
Ảnh: Hoàng Phú Cường


Nhiều loại hoa đủ màu khoe sắc rực rỡ mang lại không khí xuân về, thu hút du khách đến tham quan và chụp ảnh.

UserPostedImage

Với diện tích khoảng 20 ha, làng hoa Sa Đéc là một trong những điểm đến hấp dẫn du khách những ngày cận Tết. Đến đây, du khách có thể tham quan, chụp ảnh cũng như mua hoa về trưng Tết.
Là thành phố hoa lớn nhất miền Tây, Sa Đéc cung cấp hoa cảnh cho nhiều nơi. Từ đầu tháng Chạp, nơi đây đã thu hút đông du khách về tham quan. Đường hoa Sa Nhiên – Cai Dao với dài độ 2,3 km là nơi tập trung đông nhà trồng hoa, thuận tiện cho khách tham quan.


UserPostedImage

Cùng "cảnh ngộ" với nhiều nơi trồng hoa khác ở miền Tây, khoảng 30% hoa cúc mâm xôi ở đây cũng đã nở rộ trước Tết, do mưa trái mùa kéo dài nhiều ngày.


UserPostedImage

Những chậu cúc mâm xôi được nhiều du khách mua về nhất với giá khoảng 160.000 đồng/ cặp.


UserPostedImage

Thú chơi hoa ngày Tết của người Việt ngày càng phát triển. Một người trồng hoa lâu năm tại Sa Đéc cho biết: "Do đây là nghề truyền thống nhiều đời, chúng tôi hiện phải giữ và phát triển, để vừa có thêm tiền sinh hoạt cho gia đình mà cũng mang lại không khí của ngày Tết từ việc buôn bán cho bạn hàng, du khách".


UserPostedImage

Chủ vườn hoa này cũng cho biết thêm, năm nay có rất đông khách tới chụp hình, ngoài khách địa phương, các tỉnh lân cận còn có cả du khách nước ngoài, đa số là khách Pháp.


UserPostedImage

Năm nay, ngoài địa điểm chụp hình ở vườn hoa của những người nông dân, địa phương còn mở thêm một số điểm mới như Happy Land Hùng Thi, Cafe Làng Hoa...


UserPostedImage

UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 2 users thanked Duy An for this useful post.
phamlang on 2/6/2018(UTC), Hạ Vi on 2/18/2018(UTC)
Hạ Vi  
#2087 Posted : Sunday, February 18, 2018 2:37:34 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,558
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)
.

(sưu tầm)


UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage



UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage

UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage




Edited by user Sunday, February 18, 2018 2:38:15 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Hạ Vi  
#2088 Posted : Sunday, March 11, 2018 1:21:02 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,558
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)



UserPostedImage



Bài luân vũ của gió


Hình như gió biếc về đây tình tự
Hôn lên làn môi chút nắng chùng chình
Biết em còn đợi bên hàng hiên cũ
Ngắm mặt trời đón từng giọt bình minh.

Hình như chiếc lá trở mình rất khẽ
Gió mang em đi về tận phương nào
Có trái tim anh bốn mùa rất trẻ
Mắt nồng nàn theo suối tóc hư hao.

Hình như tiếng chim trên cành ríu rít
Hàng cây đứng gió sao thật bình yên
Nắng chênh chao thương bóng người cuối dốc
Mênh mông nỗi buồn một chút đời riêng.

Hình như bước ai còn trên đường vắng
Bóng in vai gầy lảng đảng mùi hương
Trong giấc mơ xưa em về lạc lối
Gió đan mây thành lối cỏ mù sương.

Hình như tiếng mưa qua hàng long nảo
Ngọn gió vô tình thả xuống đời nghiêng
Em nhặt giùm tôi bài thơ tình đánh mất
Của một thuở nào tiếng hát lênh đênh.



Nguyễn An Bình




UserPostedImage





UserPostedImage
CỏThơm  
#2089 Posted : Wednesday, March 28, 2018 5:44:50 AM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 181
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)



UserPostedImage


Một tiếng em


Từ giã hoàng hôn trong mắt em,
Tôi đi tìm những phố không đèn.
Gió mùa thu sớm bao dư vị
Của chút hương thầm khi mới quen.

Cùng bóng hàng cây gập giữa đường,
Ân cần tôi ngỏ tấm tình thương
Bao nhiêu hoài bão, bao hy vọng
Nói hết cho lòng nhẹ mối vương

Rồi đây, trên những lối đi này,
Ta sẽ cùng ai, tay nắm tay ...
Nhịp bước năm cung đàn ảo tưởng
Buông chìm tâm sự nửa đêm nay

Từng bước trôi cùng trăng viễn khơi,
Thâu đêm, chưa hiểu miệng ai cười.
Nụ cười gửi tự thiên thu lại
Tiền kiếp nào xưa, em hé môi?

Dĩ vãng nào xanh như mắt em?
Chao ôi! Màu tóc rợn từng đêm!
Hàng mi khuê các chìm sương phủ
Vời vợi ngàn sao nhạt dáng xiêm.

Kỷ niệm thơm từ năm ngón tay,
Trăng lên từng nét gợn đôi mày
Bóng hoa huyền ảo nghiêng vầng trán,
Chưa ngát hương tình, hương đã bay.

Sông biển nào nghe thấu nỗi niềm?
Sóng đâu còn khoé mắt thâm nghiêm?
Lòng ơi! hoài vọng bao giờ nói
Thăm thẳm trùng dương một tiếng "em"?

Nhẹ bước chiêm bao tưởng lạc đường
Rưng rưng mùi phấn, bỗng ngùi thương,
Sương đầm vạt áo mong manh lệ
Sao rụng bay vào tóc dạ hương.

Tôi lánh trần ai đi rất xa
Bâng khuâng sao lạnh ánh trăng tà
Ngày mai hứa hẹn bừng hương cỏ,
Tôi sẽ say nằm ngủ dưới hoa.



Đinh Hùng






UserPostedImage
Duy An  
#2090 Posted : Thursday, May 17, 2018 1:29:02 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,255

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Chuyện quanh chợ An Đông


Trang Nguyên

Thuở còn bé tôi từng nghe má tôi nhắc đến Chợ An Đông vì thi thoảng bà đi thăm người bà con sống trong con hẻm nhỏ trên đường An Dương Vương gần khu chung cư của quân đội Mỹ. Mỗi lần đến đó khi trở về bằng xe ba gác máy, bà đều ghé vô chợ mua vài ba thứ cần thiết cho gia đình. Theo bà, hàng hoá thực phẩm ở Chợ An Đông rất nhiều và giá cả lại rẻ hơn chợ Hoà Hưng nơi gia đình tôi ngụ. Mãi đến sau 1975 tôi mới có dịp ghé qua Chợ An Đông vài lần. Nhà thằng bạn hồi thời đại học nằm ngay góc tầng trệt của khu chung cư phía cửa sau chợ trên đường Yết Kiêu. Bên kia đường là hồ bơi An Đông không còn hoạt động.


Có được một chỗ ở ngon lành và phía trước hành lang trở thành cái vựa bán trứng của gia đình trong thời buổi kinh tế khó khăn, vậy mà thằng bạn lại than ngắn thở dài, “sống ở đây ồn ào lại còn chật chội”. Nhà ngay chợ búa không ồn mới lạ. Hồi trước đám anh em còn nhỏ, chẳng thèm để ý đến chuyện nhà cửa chật chội, nằm sắp lớp cá mòi ngủ chung mùng thấy thật là vui. Khi đó, gia đình bạn buôn bán thêm nhiều mặt hàng. Nghe bạn kể cá khô treo lủng lẳng đầy nhà, trứng chứa từng sọt cần xé to nhỏ đủ loại nhất là trứng muối bọc tro đen thui bán chạy lắm. Người Tàu khoái ăn trứng muối còn người Việt thích trứng lạt, thành ra mặt hàng này lúc nào cũng đông khách. “Hồi đầu năm 1975, ông bà già định mua thêm căn chung cư kế bên, nhưng giấy tờ nhà có tranh chấp do vợ chồng ly hôn nên chuyện bất thành. Thế là cái gác lửng phải phân chia thành giường tầng ba góc mới đủ chỗ ngủ cho đám con đông nhà chật”.

Thật ra, vào thời gian sau đó, có vài người kêu bán mấy căn nhà quanh chợ nhưng gia đình ngại mua vì chỉ giao giấy tờ viết tay. Nhà lúc ấy rẻ rề vì mấy nhà đó dường như có kế hoạch vượt biên. Mua rồi sau này lỡ không làm được giấy chủ quyền thì kẹt. “Nhưng vấn đề chính là ông bà muốn mua một căn nhà rộng rãi hơn cách xa chợ để con cái trú ngụ học hành, còn căn hộ chung cư nhỏ bé này chỉ dùng làm nơi buôn bán”.

Không biết hồi đó chính quyền nghĩ sao lại đi cất chung cư có diện tích như cái hộp quẹt. Chắc người ta nghĩ “ăn thì nhiều chứ ở bao nhiêu”. Nhà rộng lắm thì có thêm gác lửng. Gia đình nào cũng đông con, sống chật chội, vậy mà mấy nhà tầng trên còn phải dắt chiếc xe đạp, đẩy xe gắn máy lên tận tới lầu ba. Mỗi lần lên xuống thật phiền phức. Khách đến nhà chơi phải tìm chỗ gởi xe, rồi len lỏi giữa rừng thúng mẹt bán buôn né bên này đụng bên kia mới đến được nhà. Nhà tầng dưới của thằng bạn, phía trước ba nó gắn thêm cái trụ sắt để khách mua hàng hay khách đến nhà dùng dây xích khoá chiếc xe gắn máy hay chiếc xe đạp vào cây cột. Trong lúc ngồi nói chuyện bù khú với nhau ở góc gác lửng, thi thoảng nó đứng dậy, nhìn chồm qua ngó xuống cửa sổ trước hiên nhà xem con ngựa sắt của tôi còn đứng yên ở đó không. Bạn cảnh giác, có khoá vẫn mất như thường, ở đây trộm đạo như rươi.

Tôi thì chẳng màng đến chuyện chiếc xe đạp có thể “bốc hơi” trong giây lát. Nhà nằm ngay vị trí góc đường nhìn qua lam gió thấy rõ khối kiến trúc tiền chế của ngôi chợ đổ bóng lên dãy sạp bán gà vịt cá mắm phủ đầy dù vải đủ màu trông như một bức tranh lập thể, góc cạnh sáng tối dưới bóng nắng bật lên thật là sinh động. Hầu như từ thời điểm đầu thập niên 1950, kiểu kiến trúc chợ búa bước sang một hình thái mới, không còn kiểu cách cầu kỳ của kiến trúc châu Âu hay phảng phất đường nét Á Ðông kết hợp nữa. Kiểu xây dựng tiền chế thi công nhanh, dễ tháo dỡ và không làm ảnh hưởng tới những công trình lân cận.

Ngôi Chợ Hoà Hưng nơi tôi cư ngụ cũng vậy, có thiết kế khung sườn tương tự Chợ An Ðông. Chỉ có điều, Chợ An Ðông là một khối hình chữ nhật nhìn thoạt trông rộng hơn ngôi chợ xóm tôi nhưng xem ra Chợ Hoà Hưng lớn hơn vì nó có đến hai ngôi chợ ghép lại từ hai hướng mặt tiền rộng lớn. Tôi nghĩ còn vài ba ngôi chợ nữa có kiểu dáng thiết kế tiền chế như thế này đây đó trên đất Sài Gòn. Kiến trúc chợ kiểu này được xây dựng một loạt nhiều nơi để đáp ứng nhanh nhu cầu chợ búa của dân chúng thành phố trong thời kỳ phát triển dân cư di tản từ thôn quê lên thị thành sinh sống, cộng thêm gần triệu người Bắc di cư vào Nam chọn nơi trú ngụ Sài Gòn là điểm đến chính. Theo thống kê dân số năm 1945 Sài Gòn có khoảng nửa triệu người nhưng 10 năm sau đó, con số này tăng lên gần hai triệu người.


Bạn kể chuyện gia đình. Bố là người Hà Nội gốc theo gia đình di cư vào Nam ban đầu ở tạm gần khu Trường đua Phú Thọ, làm công giao nước đá cây cho ông ngoại khi đó có tiệm tạp hoá bán đủ thứ ở đầu hẻm đường Nguyễn Duy Dương bên kia Chợ An Ðông. Thấy anh thanh niên điềm đạm, hiền hậu lại siêng năng nên ông ngoại ưng thuận gả cho người con gái lớn ham thích buôn bán sạp trứng tại Chợ An Ðông. Hai người ra riêng sắm căn nhà tầng dưới làm chỗ mua bán. Hồi trước 1954, chung cư này xây xong chỉ có một số ít người Việt gốc Hoa đến đây mua tầng dưới để ở và làm ăn buôn bán. Nhà chung cư giá rẻ nhưng không hấp dẫn cư dân đến định cư vì ai đời xây chung cư lại bao quanh một cái chợ giáp mặt bốn hướng. Ồn ào, ngõ ngách chật hẹp ra vô khó khăn. Chợ An Ðông xưa kia còn chưa xây mới nhưng lúc đó đã được dân chúng xem là một trong các ngôi chợ sầm uất nhất thuộc khu vực Chợ Lớn.

Chợ toạ lạc tại quận 5, một quận trung tâm của Chợ Lớn. Khu vực nằm giữa các con đường lớn như Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Trãi, Hồng Bàng, An Dương Vương từ Sài Gòn hướng vào. Có đường xe lửa đi Mỹ Tho, xe điện ngược ra Sài Gòn. Người Việt về đây cư ngụ nhiều lắm, sống xen kẽ người Hoa vì vùng này dễ làm ăn mua bán. Người Hoa đa phần là người cố cựu sống rải rác không tập trung như tại trung tâm Ðồng Khánh vào thuở Sài Gòn – Chợ Lớn còn là hai thủ phủ riêng biệt. Mãi đến đầu thập niên 1930, hai thành phố mới sát nhập làm một. Khu vực Chợ An Ðông được xem như khu giáp ranh giữa hai thành phố, dân cư từ các tỉnh đổ về định cư ngày càng nhiều và sau đó người Bắc di cư vào Nam tìm đến. Vào khoảng thời gian này, khu vực quanh Chợ An Ðông vẫn còn lưa thưa ao trũng, mồ mả vô chủ rải rác đó đây.

Ông ngoại thằng bạn tuy là người Tàu Chợ Lớn cố cựu ba đời nhưng nói tiếng Việt sành sỏi nên mẹ của nó cũng nói tiếng Việt ngon ơ đâu có thua gì người cha. Thằng bạn kể chuyện hồi nhỏ, mấy đứa đánh giày không biết từ đâu kéo cả đám sang khu chung cư Mỹ thuê ngay góc hồ bơi làm ăn. Tụi nó thường chọc ghẹo mấy đứa nhỏ con người Hoa sống quanh khu chợ. Có lần tao nói tụi bây đừng ỷ đông ăn hiếp con nít. Tụi nó giả giọng “tào lao” chửi bới đòi đánh chết cha tao (chắc thấy cái mặt của tao giống Ba Tàu). “Tả lị sị, hằm tắc xả, xả cái lỗ mũi”. Tao tức quá vung chân đạp trúng một thằng té sấp, ai ngờ cái lỗ mũi của nó xả ra hai vòi máu. Tao bỏ chạy, lủi tuốt vào chợ, tụi nó dí theo nhưng làm sao nắm được cái chân của dân Chợ An Ðông chính cống.


Nói chuyện khơi khơi một hồi cũng chán, thằng bạn đứng dậy kêu “xuống xách xe hai thằng ra quán cơm gà Siu Siu kiếm cái gì lót bụng”, ngồi ở đây vừa ngộp vừa nóng chảy mỡ. Trong khi chờ thưởng thức đĩa cơm gà ngon cỡ nào mà mấy ông lớn tuổi xóm tôi thường hay ca tụng mỗi khi đi Chợ An Ðông. Thằng bạn chỉ ông già Tàu đầu tóc bạc trắng rối bời, quần áo lấm lem bùn đất, đứng tựa vách tường miệng lẩm bẩm như đọc thần chú. “Ông từng là chủ quán cơm gà Siu Siu”. Chuyện đánh tư sản mấy năm trước, ông mất ba căn nhà lầu mở quán cơm gà trên đường Nguyễn Duy Dương. Sau đó theo tàu vượt biên. Tàu bị đắm, tất cả mọi người trong chuyến đi đều chết hết. Riêng ông ôm miếng ván trôi dạt vào bờ. Bị bắt, trả về nhốt ở quận 5. Một thời gian sau, ông được tha. Và cũng từ đó, ông trở nên điên điên khùng khùng. Còn cái quán mình đang ngồi là của người bà con xa của ông Siu Siu sang lại hồi đầu năm 1975 đến nay. Nghe xong tôi chỉ còn biết thở dài.

Nhưng chuyện quanh Chợ An Ðông vẫn chưa dừng lại. Thằng bạn chỉ tay lên tiệm vàng Kim Xuyến nói nhỏ: “Con trai nhà văn Nhất Linh bán căn nhà này cho bà chủ tiệm vàng mới năm rồi. Nghe nói gia đình đi xuất cảnh sang Pháp. Hồi cuối thập niên 1960, một thời gian báo chí Sài Gòn đua nhau khai thác chuyện nhà văn Nhất Linh bị quy tội dính líu đến cuộc đảo chính hụt chính quyền đương thời hồi năm1963. Ông uống thuốc độc tự vẫn tại căn nhà này. Ðến lúc đó, người sống quanh chợ xôn xao: “Vậy mà cả chợ An Ðông chẳng ai biết mình là láng giềng của ông nhà văn nổi tiếng của nhóm Tự lực văn đoàn. Chẳng qua, hiếm người ở đây biết mặt ông vì thi thoảng ông đi đi về về căn nhà chung cư, nơi người vợ mở tiệm bán cau bên hông cái Chợ An Ðông ồn ào.

Edited by user Friday, January 22, 2021 1:03:59 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Duy An  
#2091 Posted : Thursday, June 14, 2018 1:08:44 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,255

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Người Hà Nội hái sen ủ trà


Ngọc Thành

Hoa sen được chọn ủ trà phải là giống sen hồ Tây, bông hoa tròn to và mỗi sản phẩm có giá 30.000 đồng.


UserPostedImage



Sen hồ Tây (sen Bách Diệp) là giống sen nổi tiếng của Hà Nội với đặc trưng bông nhẹ, to, thơm ngát.

Từ lâu nhiều vùng ở Hà Nội đã trồng sen này để cắm chơi và làm nguyên liệu sản xuất chè sen.

UserPostedImage


Gia đình anh Nguyễn Thế San (Liêm Mạc, Bắc Từ Liêm, Hà Nội) có 6.000 mét vuông diện tích mặt nước trồng sen.

"Sen mọc hoàn toàn tự nhiên, bắt đầu thu hoạch từ 19/5 cho đến 2/9 hàng năm", anh San cho biết.


UserPostedImage



Những ngày này, cứ 4h sáng là anh San thức dậy chèo thuyền đi cắt hoa nhưng vẫn không đủ cung cấp cho đơn đặt hàng của khách.


UserPostedImage



Người hái thường chọn thời điểm sáng sớm mát mẻ, khi hoa vừa hé nở thì hương sẽ thơm lâu hơn.


Sen hồ Tây khi bung nở có hàng trăm cánh nhỏ li ti, nở nhanh và chóng tàn.


UserPostedImage



"Các công đoạn làm trà ủ hoa sen không quá cầu kỳ, quan trọng là chọn được đúng loại sen phù hợp để ướp trà", chị Hạnh cho biết.


Hoa sen được chọn ủ trà phải là giống sen hồ Tây, bông hoa tròn to. Mỗi ngày một người có thể hái được hơn 400 bông hoa sen.


UserPostedImage



Trà để ủ sen phải là trà Thái Nguyên bởi trà của vùng này cho nước màu xanh. Mỗi cân trà ngon giá khoảng 500.000 đồng.


UserPostedImage



"Trà được đưa vào bông hoa khi vừa hé nở, mỗi bông thường chứa 13g trà. Trong thời gian ủ, hương sẽ ngấm đượm vào cánh trà. Mỗi bông sen ủ trà phải còn nguyên phần thân, sau đó cắm vào nước trong một ngày để hoa vẫn tươi và hút nước cho hương lan toả bên trong", chị Lê Ngọc Yến, người có kinh nghiệm làm trà ủ sen lâu năm cho biết.


UserPostedImage


Mỗi bông sen ủ trà có giá 30.000 đồng.


UserPostedImage


Để có trà sen uống lâu dài, mỗi bông sẽ được hút chân không và để tủ lạnh, sử dụng được trong 6 tháng.


UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
CỏThơm on 8/28/2018(UTC)
CỏThơm  
#2092 Posted : Tuesday, August 28, 2018 4:56:15 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 181
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)



UserPostedImage



d ấ u


Dấu hết đam mê, dấu nhớ nhung
Dấu bao ưu ái sâu kín lòng
Dấu đi mắt buồn thôi vương lệ
Dấu để mưa thôi nát tim hồng.

Chỉ là một thoáng người ngẩn ngơ
Chỉ là một thoáng ta hững hờ
Chỉ là một thoáng chừng hư ảo
Một thoáng nhẹ thôi, dệt vẩn vơ.

Bắt đền ai đó, đền giấc mơ
Ngỏ chi chừ bỗng kết vần thơ
Hồ như thoáng gợn, hồ như đã
Cớ sao, ơ nhỉ, cớ sao chờ.



t ị n h l i ê n




UserPostedImage
Hạ Vi  
#2093 Posted : Wednesday, September 5, 2018 5:36:36 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,558
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)



UserPostedImage


SẦU

Em đi,
vương lại chữ
Sầu,
Đánh rơi dưới gót chân,
mầu cánh sen.

Tình cờ.
Tôi nhặt được xem,
hóa ra chữ
Nhớ
trên đường bỏ quên…

Thôi thì...
ép vở cánh sen.
mai sau khô quắt.
cho nên lệ
Sầu.



Không Quán




UserPostedImage
Hạ Vi  
#2094 Posted : Saturday, October 6, 2018 4:51:28 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,558
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)




UserPostedImage


Chữ Xa

chữ đi qua cửa sổ
thấp thoáng nụ cười duyên
vội vàng theo chẳng kịp
tay em hứng muộn phiền

nhìn mây bay trước cửa
mong chữ rót bài thơ
để em khơi vần nhớ
gởi anh cả biển chờ

phải chăng trời đang gió
chở tuyết trắng từ xa
mịt mù sương khói toả
chữ lạnh lùng nét hoa

chữ đi xa biền biệt
tình thơ đành dở dang
sợ mai mùa về lại
Xuân đã qua muộn màng.

Yên Hà



UserPostedImage



UserPostedImage

UserPostedImage



UserPostedImage.....UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage

UserPostedImage



UserPostedImage

UserPostedImage






UserPostedImage
CỏThơm  
#2095 Posted : Thursday, October 25, 2018 5:07:04 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 181
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)


.


UserPostedImage


Tà áo tương tư


Tình riêng theo gót em qua
Tương tư đem dấu trong tà áo bay
Em về giặt áo có hay
Vô tình vò nát tim này đem phơi


UserPostedImage


Gió bay không gửi được lời
Đành đem giấu kín một trời nhớ nhung
Mai kia dù vẫn lạnh lùng
Từng trong tà áo một vùng si mê



Trần Đại




UserPostedImage



UserPostedImage




----------------------------- More Photos sưu tầm ---------------------------------------------------


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage

UserPostedImage



UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage




UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage


UserPostedImage

UserPostedImage



UserPostedImage


UserPostedImage







UserPostedImage
thanks 1 user thanked CỏThơm for this useful post.
Duy An on 4/15/2019(UTC)
Duy An  
#2096 Posted : Monday, April 15, 2019 3:45:37 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,255

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Chén nước mắm và bao vải bột mì


By Trần Mộng Tú -April 6, 2019

Sang Mỹ cả gần bốn mươi năm rồi, thế mà mỗi lần dọn cơm lên bàn cho chồng con tôi vẫn lúng túng với chén nước mắm.Hôm nay có cần không? Bao giờ nhìn bữa ăn dọn ra, cũng chần chừ giữa có và không một phút.

Cuối cùng thế nào cũng phải rót một chút nước mắm vào cái chén nhỏ, đặt giữa bàn. Có khi suốt bữa ăn không ai chấm vào, nhưng không có nó, hình như bữa ăn chưa gọi được là hoàn tất. Dù sau này các con đã ra riêng, chỉ có hai vợ chồng, đã bỏ thói quen ăn mặn, thế mà chén nước mắm vẫn luôn luôn hiện diện trong bữa ăn.

Thập niên đầu, khi các con còn nhỏ chưa dùng nước mắm chấm trong bữa ăn thì tôi còn cha mẹ. Cha mẹ ăn cơm bao giờ cũng có chén nước mắm, chanh, ớt để bên cạnh như một thói quen, một điều ắt có như cái bát, đôi đũa vậy. Dù bất cứ hôm đó ăn món gì, có cần đến nước mắm chấm hay không?

Rót chút nước mắm ra cái chén nhỏ, mùi thơm mằn mặn bốc lên, như ngửi thấy cả quê nhà, sao mà nó gợi tình, gợi cảnh thế, nó Việt Nam quá đỗi. Không có chén nước mắm, bữa ăn không gọi là đầy đủ được và lại càng không phải bữa ăn của một gia đình Việt Nam. Ðĩa thịt, đĩa cá, bát canh, đĩa xào, bày đầy bàn. Nhìn đi, nhìn lại, vẫn như thiêu thiếu một cái gì? À, thì ra thiếu chén nước mắm. Thế là chưa ngồi xuống ghế được.

Ai đó cất tiếng:

– Chưa có nước mắm.

– Hôm nay, có món nào cần chấm đâu.

– Sao lại không, cứ mang nước mắm ra đây, thế nào cũng cần đến.

Thế là người đi tìm chén rót nước mắm, người đi kiếm chanh ớt đem ra. Chưa có chén nước mắm, bữa ăn chưa bắt đầu. Chén nước mắm sao mà quan trọng thế!

Trong những truyện viết về quê nhà nghèo khổ, bao giờ mâm cơm nhà nghèo, không có thịt cá gì, cũng được tả bằng chén nước mắm để cạnh đĩa rau cho cả nhà cùng chấm vào ăn với cơm hẩm. Chén nước mắm là phần bổ dưỡng nhất cho cả nhà vì nó có chất đạm từ cá. Nó giúp cho miếng rau trở nên đậm đà để miếng cơm hẩm dễ ăn hơn.

Chén nước mắm đó nhiều khi được chắt ra từ một cái tĩn nước mắm đặt ở trong bếp, hay ngoài mái hiên nhà. Tĩn nước mắm mẹ làm bằng những con cá cha đánh lưới đem về. Những con cá nhỏ sót lại sau khi đã lựa những con cá lớn mang ra chợ bán để mua gạo, mua vải may quần áo, mua thuốc đề phòng ốm đau.

Ðôi khi chén nước mắm đó là chén cuối cùng làm ra từ những con cá cha đem về. Vì lần đi biển vừa qua cha đã không trở lại bờ nữa. Cả nhà chấm chung chén nước mắm đó thì làm sao mà quên được. Nếu một người nào đó trong gia đình, thoát được cảnh cơ hàn, có đời sống khá giả hơn, ăn những món ngon hơn, chắc đôi khi hồi tưởng lại, khó lòng mà quên được cái chén nước mắm ngày xa xưa đó. Những giọt nước mắm thơm và mặn như những giọt lệ.

Sống đời văn minh, phú quý nên sinh lễ nghĩa. Bây giờ trong gia đình ăn cơm chung với nhau, rất nhiều nhà không còn chấm chung một chén nước mắm nữa. Không biết từ bao giờ, người ta nhiễm thói quen, chén nước mắm của ai người đó chấm, chấm chung không lịch sự, không vệ sinh dù là giữa những người trong một gia đình.

Từ chỗ riêng tư này chén nước mắm thành ra lạc lõng, nó không được đặt ở giữa bữa ăn nữa, nó mất hẳn cái địa vị quan trọng cho bữa ăn của cả gia đình. Chấm chung một chén nước mắm mới thấy cái ấm cúng, cái tình chia sẻ trong bữa ăn.

Chỉ có mâm cơm của người Việt mới có chén nước mắm. Nói không ngoa, chén nước mắm nhất định góp phần làm nên văn hóa ẩm thực Việt Nam.

Từ chuyện ăn sang đến chuyện ngủ. Tôi nhớ ở quê nhà, anh, chị, em, trai gái, lên bốn, lên năm, thường được ngủ chung với nhau, có khi đến bảy, tám tuổi vẫn ngủ chung giường. Gia đình khá giả một chút thì có phòng riêng cho con trai, con gái, nhưng vẫn không có chuyện mỗi người một giường.Với gia đình nghèo, khi còn bé, anh chị em đều nằm chung giường không phân biệt trai gái. Nghèo hơn nữa thì cả cha mẹ và con cái nằm chen chúc ngủ với nhau trên một cái giường trong gian nhà một phòng. Mùa hè quạt cho nhau, mùa đông ủ hơi ấm cho nhau. Chuyện ngủ như thế thì chuyện ăn, chấm chung một chén nước mắm là lẽ đương nhiên.

Những cô cậu của thời chấm chung chén nước mắm, anh chị em nằm chung một giường này, khi đi xa họ có bao nhiêu điều để nhớ. Nhớ lúc ăn thì phải nhường từ miếng cơm, phải nhịn từ giọt nước chấm. Lúc ngủ chị co người lại nhường chỗ cho em nằm, anh chịu lạnh nhường chăn cho em đắp. Kỷ niệm mặn và ngọt ùa vào đời sống, theo họ mỗi ngày, nhắc họ bổn phận phải bù ngang, đắp dọc, sống sao cho đời sống có ý nghĩa hơn.

Chuyển sang đời sống Âu Mỹ hiện tại, mỗi người phải có một phòng riêng. Nhất là trẻ em, trai và gái, chúng không phải chung phòng. Ngay cả những người xin hưởng trợ cấp nhà cửa, nhà nước cũng xếp cho một căn nhà có đủ phòng cho các em khác phái tính. Các em được học từ nhỏ: Cái này là của tôi, không phải chia với ai cả. Sự riêng tư phải được tôn trọng.

Căn buồng nhỏ của cậu bé hay cô bé là chỗ riêng tư, không ai có quyền được bước vào. Muốn vào, phải gõ cửa, phải xin phép mới được vào. Vào rồi, cũng không được nhìn với cặp mắt kiểm soát. Ngay cả bố mẹ chỉ làm việc này khi con không có mặt ở đó. Khi ăn thì miếng ăn nào đã chạm tay vào là phải cầm lên, không được đặt xuống, miếng nào đã bỏ vào đĩa mình không gắp sang đĩa người khác dù thân đến đâu.

Ăn riêng, ngủ riêng, mỗi con người trưởng thành có một ốc đảo cho riêng mình.

Có buồn không nhỉ? Có người cho rằng, như thế là dạy đứa trẻ đời sống văn minh, kỷ luật và tự lập. Nhưng đôi khi, sự ích kỷ cũng đi theo nó.

Chẳng biết ở những vùng thôn quê Âu Mỹ, người ta sống thế nào nhỉ. Có cái gì chung đụng mỗi ngày để làm hành trang nhét vào túi trên đường tha hương không? Khi trưởng thành nơi xa lạ, có gì để nhớ?

Có chứ, chồng tôi lớn lên ở nông trại Mỹ, thuộc vùng Dillon tiểu bang Montana (1949-1957) Anh kể cho tôi nghe về chuyện đi học .Từ lớp một đến lớp năm học trong một phòng học (One-room school). Mấy nông trại liền nhau chỉ có một cô giáo. Học trò nào may mắn ở trong nông trại có lớp đó tọa lạc thì không phải đi xa, còn những trò ở nông trại khác cũng phải dậy từ sáng tinh mơ để đến trường, học mấy tiếng và khi về thì trời cũng sắp sang chiều. Khi các con lớn lên, nhiều gia đình gửi con ra tỉnh học, hoặc bán trại đi như trường hợp gia đình chồng tôi, vì họ biết là họ sẽ có việc làm ở tỉnh (Mẹ chồng tôi là Trung Úy Y Tá thời Ðệ Nhị Thế Chiến).


Những thầy hay cô dạy ở “Một phòng học cho cả trường” đó chắc chắn sẽ được học trò của mình nhớ đến khi họ đi xa, họ đã trưởng thành.

Có khác gì lắm đâu với những lớp học của Thầy Ðồ ngày trước ở quê nhà Việt Nam.

Thời Suy Thoái Kinh Tế Thế Giới (Great Depression 1929-1939) những bà mẹ Mỹ ở nông trại đã biết truyền tay nhau những công thức nấu ăn không có muối, làm bánh rất ít đường. Biết mỗi Chủ Nhật, mọi người mang thức ăn đến nhà thờ ăn chung với nhau để người có nhiều hơn chén đường, muỗng muối chia sẻ cho người không có chút muối, đường nào (Do đó có chữ pot luck).

Những bà mẹ Hoa Kỳ khôn ngoan còn biết dùng bao bột mì, bao thực phẩm gia súc may quần áo cho con mặc đi học. Họ nói người chồng nông phu của mình đòi hỏi nơi bán bột mì, bán thực phẩm cho gia súc phải in hoa vào bao thì họ mới mua. (Nên những xưởng bán thực phẩm đã cho in hoa vào những bao vải). Tiền bạc vào thời kỳ khủng hoảng đó rất khó khăn nên công thương, nông nghiệp phải nhượng bộ với nhau.

Trong cái trường chỉ có một phòng học đó có nhiều em thấy mình mặc quần áo giống bạn (dù không phải là đồng phục) nên các em hiểu thế nào là cùng chung sự thiếu thốn.

Hóa ra ở đâu những nông gia, những người nghèo cũng có những nét đáng yêu trong đời sống khổ cực.

Ðôi lúc làm vườn, nhớ đến quê nhà tôi hay nghêu ngao câu hát: Làng tôi không xa kinh kỳ sáng chói / Có những cánh đồng cát dài / Có lũy tre còm tả tơi / Ruộng khô có những ông già rách vai / Cuốc đất bên đàn trẻ gầy / Có người bừa thay trâu cày / Làng tôi luôn luôn vương vài đám khói / Những mái tranh buồn nhớ người /Xơ xác điêu tàn vì ai /Nửa đêm thanh vắng không một bóng trai / Có tiếng o nghèo thở dài / Vỗ về trẻ thơ bùi ngùi. (Quê nghèo – Phạm Duy)

Ðôi lúc tôi nghe chồng tôi kể chuyện nông trại ở quê nhà, ngày còn trẻ, tôi cũng nhớ đến câu hát của anh học trò nghèo: When I was just a youngster and hardly in my teens / I went to school on many a day with my faded old blue jeans / The patches they were many the seat was all thread bare / But a poor girl didn’t notice and a poor boy didn’t care (Life of a poor boy- E.C McCarty)

Từ chén nước mắm trong mâm cơm Việt Nam đến những chiếc áo may bằng bao bột mì trong nông trại Mỹ là một chặng đường thật xa nhưng cho tôi nhìn thấy cái đẹp của sự chung đụng chia sẻ ở nơi nào cũng giống nhau. Nhất là cái chung trong hoàn cảnh túng nghèo. Cái đẹp đó đi vào văn chương và âm nhạc rung động mình suốt cả một đời.
[/i][/color]
TMT
Bellevue, WA

* Suy Thoái Kinh Tế Thế Giới- Wikipedia

Edited by user Friday, January 22, 2021 1:01:47 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 6/21/2019(UTC)
Hạ Vi  
#2097 Posted : Friday, June 21, 2019 2:45:27 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,558
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)


UserPostedImage
Tranh Đặng Can


Quỳnh Giao…


Ngẩn ngơ ai đó
riêng mình
Niềm riêng khép kín
lặng thinh,
kẻo mà…

Trăng khuya
hờ hững bóng tà
Ai chờ ai đó cõi xa,
như là …

Dạ Quỳnh ướt thoảng
sương sa
Mơ Giao nâng cánh
la đà
giữa khuya.

Hồn nghe thoáng chút
chia lìa…
Nhớ người …
giọt lệ đầm đìa,
ai hay!



Hoài Nguyễn








Tranh Đặng Can


UserPostedImage

UserPostedImage


UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage



UserPostedImage

UserPostedImage






UserPostedImage
CỏThơm  
#2098 Posted : Thursday, October 29, 2020 3:25:26 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 181
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)


UserPostedImage


UỐNG TRĂNG


Xa nàng tôi ở cạnh sông
Cô đơn lắm chỉ trông chờ Hằng thôi
Nơi nàng trăng có ghé không...?
Cho tôi vớt ánh ngóng trông cất lòng

Chạm tay nước vỡ trăng rong
Nên đành giữ bóng trăng buồn Hằng ơi
Có đêm sẽ có trăng chơi
Có Hằng là có chơi vơi nhớ Hằng

Sông ơi ở cạnh một đời
Mà sông chẳng biết Hằng người tôi yêu
Nên cứ mặc tôi long đong
Chẳng giữ hộ ánh vàng ròng tay tôi

Trăng ơi với cả sông ơi
Thương tôi lẻ chiếc thương tôi rét lòng
Rằm tới trăng nhé cố tròn
Cả sông nữa nhé xe tròn tình tôi

Tôi xin quỳ xuống lòng sông
Quỳ xuống giữa dòng vớt ánh trăng suông
Biết rằng buông vỡ mất Hằng
Ngửa mặt uống một mảnh Trăng tôi buồn...



Thiết Phan



UserPostedImage
CỏThơm  
#2099 Posted : Sunday, November 22, 2020 1:16:13 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 181
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)



UserPostedImage


Thu lúa mới

Ngày tháng mười cười đã tối
Quê ta bước rộn vào mùa.
Đường làng bánh xe lăn vội
Tiếng người đi sớm về trưa!

Vụ đầu đi thu lúa mới
Lúa khoe bông nặng hạt vàng.
Lưỡi liềm em đưa nhanh vội
Trong lòng biết mấy bâng khuâng!

Lúa chạm vào tay là lạ
Lúa thi nhau nói rì rào.
Đã trải những ngày vất vả
Lúa cho hãnh diện tự hào

Đồng vàng chúng em thu lại
Sân phơi mấy dãy núi cao.
Em cầm trang thóc trong nắng mới
Tung sáng vàng muôn vạn vì sao!



16-6-1971.
Hồng Xuyên



UserPostedImage


UserPostedImage




UserPostedImage




UserPostedImage
Duy An  
#2100 Posted : Saturday, November 28, 2020 4:26:36 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,255

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Từ một bếp lửa


UserPostedImage


Tim Nguyễn
November 28th, 2020


Tạ ơn mẹ ta… khởi đi từ một bếp lửa.

Có thể nói không gì ấm cúng, thân yêu bằng bếp lửa của mẹ. Nó là hình ảnh của ấu thời tôi, và có lẽ cả ấu thời các bạn nữa. Và phải chăng mỗi khi cảm thấy chới với trên đường đời, ta lại tìm về bếp lửa ngày xưa ấy. Tìm về để được thấy an ủi, tin tưởng hơn, hầu cất bước đi tiếp trên con đường chông chênh của kiếp người.

Con đã đi bao năm / mẹ vẫn ngồi bên bếp lửa…

Nguyễn tôi xin mượn một nửa câu thơ của Ngô Kha để gợi lại hình ảnh của mẹ. Dù sáng tinh sương hay khi chiều xuống, mẹ vẫn ngồi ở đó để lo cho bữa ăn gia đình và để nghĩ ngợi, xót thương. Cho tới ngày giọt nắng rụng xa cành, cho tới ngày mẹ không còn nữa trên cõi đời này, thì trong nỗi tưởng nhớ của con mẹ vẫn ngồi bên bếp lửa. Cho nên, Nguyễn tôi rất đồng cảm với Lê Văn Ngăn khi anh viết:

Mỗi buổi mai, lúc nền trời những vì sao chưa tắt

bao nhiêu bếp lửa đã sáng lên trên hành tinh này

và bếp lửa của mẹ, từ tuổi thanh xuân đến tuổi xế chiều

vẫn cháy chập chờn trong căn nhà nhỏ

Mẹ đã khởi đầu sự sống cho con cái mình

bằng một ngọn lửa như thế


Và người viết có thể nói một cách rất tự tin rằng “Bất cứ anh con trai nào của đất nước mưa phùn và nắng cháy này cũng ra đi từ bếp lửa của mẹ. Chính ở đó bắt đầu sự sống. Chính ở đó dạy cho ta bài học yêu thương và sự biết ơn.” Giờ đây, xin cho người viết được ngỏ đôi lời với mẹ của mình.

Mẹ ơi, từ ấu thơ của con, và có lẽ từ hồi mẹ còn con gái, mẹ đã nhóm lên bếp lửa. Và từ lúc con biết nhìn thế giới chung quanh thì con đã nhìn thấy bếp lửa của mẹ. Thuở đó, trong căn nhà ở Vương Phủ, mẹ đâu đã được hưởng những tiện nghi như các bà mẹ bây giờ. Mẹ đâu có bếp than, bếp điện, bếp gas… Mẹ chỉ có ba hòn gạch hay cái chân kiềng để làm bếp. Còn vật liệu để đốt, chỉ có những nhánh củi mót trong vườn nhà, những tàu dừa tàu cau đem xẻ ra, chặt nhỏ phơi khô. Hay bó rạ, thúng trấu, thúng dăm bào xin từ hàng xóm. Với chừng đó vật liệu, mẹ nhóm lên bếp lửa cho gia đình. Cha cũng vất vả sớm chiều trên chiếc xe đạp màu đen hiệu Saint Etienne đi làm kiếm tiền. Nhưng cha còn được nghỉ ngơi, uống trà, đọc báo. Còn mẹ, mẹ cặm cụi, vất vả, nhọc nhằn từ sớm tinh sương cho tới khi chiều tối. Và mẹ là người gần gũi với con hơn ai hết.


Như thế đấy, trên bếp lửa của mẹ luôn luôn có ấm nước, niêu cơm, trách cá kho, om canh rau. Từ sáng sớm, mẹ đã thức dậy nấu nước pha trà cúng bàn thờ ông bà, rồi mẹ bắc nồi cơm cho cả nhà ăn và để bới vào mo cau cho con đi học. Cho tới bây giờ, khi đã qua bao nhiêu chặng đường của cuộc đời, con không quên nắm cơm của mẹ cùng với dúm muối mè ăn vào còn dư vị ngọt bùi ở cổ. Cũng vậy, làm sao quên được miếng cá ngừ kho, bát canh hoa lý của mẹ ăn trong chiều hè.

Thường xuyên hơn cả, mỗi buổi chiều, trên bếp của mẹ sôi sục nồi cám heo. Ôi, con vẫn còn thấy như đang xảy ra trước mắt cảnh mẹ đi đốn từng cây chuối vào xắt ra rồi bằm nhuyễn trộn với cám nấu lên cho heo ăn. Thuở ấy, mẹ chịu khó nuôi thêm một hai con heo để kiếm thêm lợi tức. Thực chất, đây giống như những đồng xu bỏ ống: nuôi heo cho lớn, mẹ kêu người bán, vậy là nhà có được thêm một món tiền, dành khi kỵ giỗ hay việc nọ việc kia trong gia đình. Chiều nay, con ngồi nhớ lại mà rưng rưng nước mắt. Mẹ ơi!

Này, các bạn của Nguyễn ơi. Có thể một hai người trong các bạn ra đi từ một nơi sang trọng. Mừng cho các bạn thôi. Riêng Nguyễn này và rất nhiều người nữa đã lớn lên và ra đi từ bếp lửa của mẹ. Thực tình, Nguyễn tôi không có gì mặc cảm hay xấu hổ để nói lên điều này. Giọt nước sông kia khi ra tới biển còn nhớ về nguồn. Huống chi… Phải nói rằng từ căn bếp ấy ta có được bát cơm ăn mỗi ngày. Sự tăng trưởng của các tế bào trong cơ thể cậu bé con hay cô bé, trong đó có những tế bào óc, là từ đâu ra. Nguyễn lớn lên từ niêu cơm và nồi cám heo của mẹ. Rồi sau này, từ những chữ abc và bản cửu chương học thuộc lòng, cho tới những công thức và định đề toán học, những tư tưởng cao siêu của các triết gia, những bài thơ đẹp như châu ngọc của các thi sĩ, những bức tranh những pho tượng những tiếng hát và vở kịch trên sân khấu… vân vân, tất cả đều thấp thoáng ánh lửa của căn bếp trong buổi đầu đời của ta.


Nơi đó, chái bếp nghèo của mẹ, những lúc chán chơi hay bị bạn bè xịt ra, Nguyễn tôi lại ngồi nghe mẹ kể chuyện ngày xưa. Chuyện gia đình ngoại ở làng Phù Lễ, chuyện cổ tích dân gian. Không hiểu từ đâu mẹ thuộc lòng rất nhiều câu hát và ca dao. Có thể nói một phần tâm hồn của Nguyễn, trong những buổi đầu đã được nuôi bằng những dưỡng chất ấy. Còn nhớ khi đã bể giọng và bắt đầu làm thơ, Nguyễn đem khoe mẹ những bài thơ đầu tiên chép tay, đọc cho mẹ nghe vài câu vài đoạn. Và Nguyễn nói với mẹ: “Sau này, con sẽ đem in thơ bán lấy tiền nuôi mẹ.” Ôi, ngây thơ khờ khạo như con cún con. Ðể rồi khi đụng phải bức tường thực tế mới vỡ mặt vỡ mày ra. Hình như trong đời chỉ một lần duy nhất được Tô Kiều Ngân trả cho 500 đồng bài thơ đăng trên báo Tiền Phong của quân đội, còn ngoài ra thơ Nguyễn tôi chỉ được đăng chùa, có khi còn phải đãi cà phê cho người chủ bút để được đăng thơ. Ấy là chưa kể bao nhiêu lần tốn giấy (pelure) tốn mực (waterman) chong đèn (dầu lửa) cặm cụi chép thơ rồi mua phong bì mua tem gởi tặng mấy bà con gái (mà ngày hôm nay Nguyễn đều gọi bằng “má” tất tật…). Làm thơ -như Nguyễn và mấy ông bạn ngây thơ khờ khạo khác- quả chẳng được đồng xu cắc bạc hay sự đoái hoài nào cả. Bụng đói, làm thơ. Thất tình, làm thơ. Ở trong tù, đi đẩy gỗ, đẩy xe đá, cuốc đất, cũng làm thơ. Làm trong đầu, cố nhiên. Gánh cỏ trên vai, thơ trong đầu (TTT)

Ôi, ôi, hình như Nguyễn này đã đi khá xa đề. Xin trở lại với bếp lửa trong căn nhà xưa. Và xin nhắc: Nguyễn tôi đã ra đi từ một bếp lửa. Ngày nay, khi đã đặt chân lên biết bao sân ga, phi cảng, lái xe trên những freeway ngàn dặm và trên những cây cầu treo qua thế kỷ, thỉnh thoảng trước mắt Nguyễn hiện ra trong đêm sương hay qua màn mưa tuyết phủ, hình ảnh một bếp lửa ấm cúng và thân yêu. Bếp lửa của mẹ ta ngày nào. Ôi mẹ!..

Edited by user Friday, January 22, 2021 1:00:13 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest
106 Pages«<103104105106>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.