Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

105 Pages«<103104105
Options
View
Go to last post Go to first unread
Duy An  
#2081 Posted : Sunday, July 23, 2017 2:28:54 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,244

Thanks: 208 times
Was thanked: 688 time(s) in 500 post(s)

Thời nhiễm mặn

Uyển Ca

Hè rồi, đi đâu bây giờ? Biển chết. Chắc có lẽ, trốn cái nóng Sài Gòn trong một hai ngày thì nên ghé đất Cần Thơ để đi chợ nổi. Không gì khoan khoái bằng ngồi chênh vênh trên mạn tàu, đầu đội cái nón lá dừa bện, tay cầm miếng thơm chua chua ngọt ngọt cắn một miếng, nhìn ngắm ghe thuyền tấp nập người mua kẻ bán.

Nghẹt thở bởi lục bình

UserPostedImage



Ðất Cần Thơ sầm uất một thuở càng trở nên chộn rộn, ồn ào hơn khi hệ thống giao thông đường bộ phát triển mạnh. Nhất là khi cầu Cần Thơ nối liền hai thành phố Vĩnh Long và Cần Thơ khánh thành vào năm 2010. Mỗi năm, sân bay Cần Thơ (trước đây là sân bay quân sự Trà Nóc từ thời Việt Nam Cộng Hòa) đón và đưa hàng trăm nghìn lượt khách đến và đi. Hằng ngày, hàng chục xe chở khách du lịch từ Sài Gòn, Vĩnh Long, Tiền Giang và các tỉnh miền Tây khác về Cần Thơ. Chợ nổi Cái Răng ở quận Cái Răng được chánh quyền địa phương xem là tài nguyên du lịch của tỉnh này. Du khách thập phương đến đây đều nghe giới thiệu rằng, chưa đi chợ nổi Cái Răng xem như chưa đến Cần Thơ.

UserPostedImage

Một đoàn khách đi thăm chợ nổi Cái Răng đang xuống thuyền từ bến Ninh Kiều


Thế nhưng miền đất vốn dĩ hiền hòa và trù phú này ngày càng trở nên ngột ngạt đối với những người dân sông nước, bởi sông đã bị nhiễm mặn, vừa bị ô nhiễm; các con kênh rạch ngày càng khô cạn và nghẹt thở bởi lục bình.

Miền Tây có 5 chợ nổi lớn, đó là Chợ nổi Cái Bè nằm ở đoạn sông Tiền giáp ranh giữa ba tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long và Bến Tre. Chợ nổi Phụng Hiệp ở tỉnh Hậu Giang, Phụng Hiệp là tên của huyện, còn địa điểm họp chợ là giao điểm của bảy nhánh sông. Chợ nổi Châu Ðốc ở tỉnh An Giang gần thị xã Châu Ðốc… Và Chợ nổi Cái Răng ở thành phố Cần Thơ.


UserPostedImage

Người phụ nữ ngồi xe lăn đan mũ lá dừa ngay trước bến đò

Thuở xưa, chợ nổi hình thành là vì đường bộ và phương tiện lưu thông đường bộ chưa phát triển, trong khi đó vì nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa, người ta tụ tập trên sông và bằng các phương tiện như xuồng, ghe, tắc ráng…

Những thương lái sẽ xuôi xuồng, ghe vào các miệt vườn, tận nhà của bà con nông dân để thu mua nông sản, trái cây. Từ củ khoai lang, trái bí đỏ, bí đao, trái su… đến các loại trái cây như măng cụt, dừa, thơm, sầu riêng, chôm chôm… không có gì khó tìm ở vùng đất trù phú này. Thế nhưng khoảng năm năm trở lại đây, các chợ nổi như Cái Bè, Châu Ðốc, Cái Răng… trở nên thưa thớt và ngột ngạt. Thưa thớt không phải vì ít xuồng, tàu bè, thậm chí còn nhiều hơn bởi các công ty lữ hành mở tour du lịch đến các chợ này, mà chợ nổi thưa thớt vì hàng hóa không còn phong phú như xưa. Các con sông đã trở nên dơ bẩn.

UserPostedImage

Một góc chợ nổi Cái Răng

Ghé bến Ninh Kiều, quận Cái Răng thành phố Cần Thơ lúc 7 giờ sáng, mua một vé tàu với giá gần 2 đô rưỡi, chỉ chưa đầy 15 phút là du khách đến chợ nổi Cái Răng. Trước khi đi, tôi mua cái mũ lá dừa với giá mười lăm ngàn đồng (tương đương gần 0.7 đô la) vừa che cái nắng, cái gió vừa giúp người phụ nữ tàn tật ngồi trên chiếc xe lăn với đôi tay khéo léo đan nón kiếm sống.

Hỏi sao gọi là Cái Răng, người lái tàu cho hay:

Người ta lý giải chữ Cái Răng theo nhiều cách. Có người nói là ngày xưa có con cá sấu khổng lồ mắc kẹt ở đây rồi bị chết, để lại cái hàm răng nên người ta gọi quen vùng đất này là Cái Răng. Nhưng tôi thì tôi tin câu chuyện mà ông nội tôi kể hơn. Ông bảo ngày xưa người Khờ Me hay mang cái cà rang xuống vùng đất này để đổi hàng hóa. Người địa phương mỗi lần đi mua cà rang, gọi Cà Ràng riết thành Cái Răng.

UserPostedImage


Cà ràng là một loại bếp lò được làm bằng đất nung hình số 8, có gờ cao để chắn gió, chứa tro và một ít cây củi. Mục đích là không để tro văng ra ngoài, lại giữ nhiệt tốt hơn. Bếp có thể để trên sàn nhà bằng tre nứa, sàn ván gỗ hay có thể để ngay trên ghe thuyền mà không sợ bị bén lửa cháy mặt sàn, lại gọn nhẹ và dễ di chuyển. Có lẽ chính vì thế mà thuở trước, và ngay cả bây giờ, trên một số tàu thuyền ở miền Tây sông nước vẫn còn ưa chuộng loại bếp này.

Những cây bẹo

UserPostedImage


Từ xa đã thấy những cây bẹo vươn cao (tức cây tre mà người buôn bán cắm trên ghe, dùng để treo thứ mà mình muốn bán, như người bán khoai lang, bí ngô thì treo lên vài củ khoai, trái bí ngô, người bán thơm thì treo lên vài trái thơm để người khác nhìn là biết ghe, thuyền đang bán thứ gì). Thế nhưng ở đây cũng không phải cứ treo gì là bán đó. Có ba trường hợp ngoại lệ, treo mà không bán và bán mà không treo. Thí dụ, thấy treo áo quần là đang phơi áo quần vì họ sinh sống ngay trên thuyền. Hay thấy treo vài cộng lá dừa là chủ ghe muốn bán cái thuyền.

Một số thuyền chạy len lỏi bán đồ ăn, nước uống cũng chẳng thấy treo gì cả. Cũng có một trường hợp nữa, vài cô xinh xinh, da trắng, tóc dài, mắt đen huyền nhìn như búp bê máy cũng không treo thứ gì trên cây bẹo cả, cứ lái thuyền thẳng đến chỗ đám đông đàn ông để bán thứ… tự có.

UserPostedImage


Cây bẹo ở chợ nổi


Nhìn thấy trái thơm treo lủng lẳng một cách ngon lành trên cây bẹo, chúng tôi yêu cầu chủ thuyền ghé vào. Chị bán thơm tay thoăn thoắt gọt thơm để bán cho du khách với giá mười ngàn đồng một trái (quá rẻ!). Hỏi chuyện chị cho hay:

– Mấy năm nay buôn bán cũng qua ngày thôi em à! Cũng nhờ vào mấy công ty du lịch họ đưa khách tới nhưng càng ngày càng ít khách hơn.

– Sao vậy chị?

– Nước sông ngày càng ô nhiễm rồi, thêm việc nước bị nhiễm mặn, đời sống ngày càng khó khăn hơn. Người ta đi nhiều nhưng cũng ít mua gì.

Xin phép chị lên thăm thuyền, tôi bắt gặp đứa con 14 tuổi của chị đang phụ mẹ dọn dẹp.

– Hôm nay không đi học hả em? Tôi hỏi thăm.

– Dạ không chị ơi, em nghỉ học lâu rồi.

– Ủa, tuổi em còn nhỏ mà?

– Ở đây ít đứa nào đi học lắm chị ơi, theo cha mẹ, theo ghe đi khắp nơi.

– Thế sao em không gắng mà học, bộ lớn lên định làm chủ thuyền à?

– Trước, em cũng muốn nhưng giờ hết rồi. Phải phụ mẹ buôn bán, chợ này ế quá thì xuôi theo con nước, tới chợ khác bán. Trước cha mẹ em cũng định xin cho em lên bờ học, nhưng không có sổ hộ khẩu nên không được.

Chợ nổi Cái Răng – toàn cảnh hiện ra trước mắt chúng tôi. Những chiếc ghe nhỏ lấy hàng từ thuyền lớn. Các mặt hàng ở đây bao gồm củ, trái, rau… Nhiều ghe bán thức ăn cho du khách hủ tiếu, cà phê, bánh bao, bún… Những người phụ nữ mải miết bán hàng, những người đàn ông bốc khuân rau củ. Quanh các mạn thuyền, người ta đang ào ào đổ vỏ thơm, đổ rác xuống sông. Bà con tắm rửa, đi vệ sinh ngay trên thuyền, mọi rác thải sinh hoạt đều thải ra sông.

Trong buổi sáng, có khoảng 10 chiếc thuyền du lịch chở khách thăm chợ nổi. Ði du lịch thì chẳng ai mua rau củ làm gì. Có người định mua trái cây về làm quà sông nước nhưng người lái tàu can ngăn:

UserPostedImage



“Không chắc là trái cây trong vườn đâu. Ở đây người ta lên bến lấy hàng trái cây xe đem tới. Có khi giá còn mắc hơn trên chợ.”

Thuyền của chúng tôi lướt qua những thuyền bán hàng khác. Cái gió miền sông nước làm tóc cô Tây cùng thuyền tung lên đẹp mắt. Nước không còn mênh mông như năm nào tôi đi nữa.

Thuyền chúng tôi thả máy lênh đênh, tiếp tục dạo chợ, gặp anh bán hủ tiếu bằng xuồng máy. Tôi hỏi thăm:

– Chợ nổi vui quá hả anh?

– Ừ, vui! Không vui cũng phải cười người ta mới mua chứ.

– Hủ tiếu có vẻ dễ bán mà anh?

– Nhìn vậy thôi chị ơi, cái gì cũng khó. Hồi trước, tui chạy xuồng vào tận nhà bà con mua hàng ra bán lại, ngày còn dư được 200 ngàn. Bữa này, lục bình dày đầy kênh, sông, xuồng không vào được. Hai vợ chồng tui chuyển qua bán hủ tiếu, bán cả ngày dư không được một trăm…

– Bộ lục bình nhiều thế hả chị? – Tôi quay sang hỏi thăm vợ của anh.

– Nhiều lắm chị ơi, ghe xuồng đều vào không được. Mà bữa nay có vào cũng ít có đồ để mua rồi. Hạn quá, nước bị nhiễm mặn nữa. Trồng cây gì, trái gì cũng khó, bà con ai cũng khó khăn.

Người đàn bà loay hoay nấu tô hủ tiếu cho khách. Tạm biệt chợ nổi, trong đầu tôi vẫn còn nghe tiếng của máy ghe xuồng, mở lên bành bạch vào buổi sáng và tắt lịm lúc chiều về, khi chợ tan… có vẻ giống tiếng cười của người buôn bán vất vả trên chợ nổi thời nhiễm mặn.


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
CỏThơm on 8/3/2017(UTC)
CỏThơm  
#2082 Posted : Thursday, August 3, 2017 4:10:34 AM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 168
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 135 times
Was thanked: 97 time(s) in 71 post(s)



UserPostedImage


h ỏ i .e m . . .



muốn gửi về em bao nỗi nhớ
theo làn mây trắng lững lờ bay
cùng nửa vầng trăng bên mành vỡ
hong xót xa ngày tháng đọa đày

tình lục bình theo làn nước biếc
kiếp nổi trôi xuôi ngược giữa dòng
người ra đi không lời từ biệt
đắng cay ai thấu nỗi chờ mong

anh vẫn đó bên bờ sông lở
nắng thầm rơi phai nhạt mộng yêu
gió ru khúc tình ca dang dở
quặn lòng thơ day dứt những chiều

giăng mây xám chiều sương nhiều quá
hay lệ lòng ướt đẫm hàng cây
vẫn lối cũ sao chừ xa lạ
nghe vấn vương xao xuyến hồn này

con đò nhỏ nằm im bến cũ
bạc thếch sờn mưa nắng đợi mong
người có về ươm tình ấp ủ
cho mầm xanh nở ngát hương lòng



g i ó b ụ i



UserPostedImage
Hạ Vi  
#2083 Posted : Saturday, October 14, 2017 8:04:25 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,511
Location: CỏThơm

Thanks: 4235 times
Was thanked: 10657 time(s) in 2611 post(s)


UserPostedImage


Gởi người nhớ Huế


làm gì có Huế trong thơ nhỉ
chỉ có trong mơ mà mấy khi
được chạm nhẹ tay vào mộng ảo
hỡi ơi đã lỡ mất xuân thì

ừ thì huế vẫn trong thơ vậy
chẳng khác phù vân đùa bóng mây
gió lay cành trúc buồn thôn vĩ
mặt chữ điền đâu sương khói đầy

thôi thì cứ ngỡ câu hát ví
lơ lửng thuyền trăng ghẹo đường thi
khúc dạo nam bình ai hiểu hết
ý tình vương vấn đọng bờ mi

tịnh tâm hồ cũ sen còn nở
hay đã lụy tình dạ ngẫn ngơ
từ người quá hải sang bờ khác
hoa lá nhạt phai nước hững hờ

quanh đi quẩn lại còn đâu nữa
tím huế ngày xưa đã nhạt mờ
thôi về viết lại câu mái đẩy
đẩy nhẹ thuyền trăng nghiêng vào thơ.



Túy Hà



,

Edited by moderator Wednesday, December 27, 2017 12:40:38 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Duy An  
#2084 Posted : Wednesday, December 27, 2017 12:37:57 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,244

Thanks: 208 times
Was thanked: 688 time(s) in 500 post(s)

Chùa Ngọc Hoàng


Trang Nguyên -December 26, 2017


Ít có ngôi chùa nào ở Sài Gòn được gọi bằng nhiều cái tên như Chùa Ngọc Hoàng ở Đa Kao, toạ lạc tại số 73 Mai Thị Lựu Sài Gòn (Phạm Đăng Hưng ngày trước). Người Pháp, khoảng đầu thế kỷ 20 gọi là Chùa Đa Kao trên các văn bản hành chánh, người Việt mình gọi Phước Hải Tự theo đúng tên chữ Hán từ khi chùa được thành lập. Cũng có người gọi là Long Hoa Phật Đường hoặc Ngọc Hoàng Điện bởi ngôi chùa này thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế do Lưu Minh pháp danh Đạo Nguyên xuất tiền lập chùa và cũng là nơi họp hội kín chống triều Mãn Thanh.


UserPostedImage
Điện Ngọc Hoàng Đa Kao vào đầu thế kỷ 20 với cảnh trí chung quanh còn nên thơ. Ảnh: Panoramio



Lưu Minh vốn là người Tàu ở Quảng Ðông, ủng hộ phong trào “Phản Thanh phục Minh” sau sự kiện Thái Bình Thiên Quốc xảy ra giữa thế kỷ 19. Ðây là cuộc chiến tranh do Hồng Tú Toàn lãnh đạo kết hợp với nhiều thủ lãnh khắp nơi trong nước nổi lên chống nhà Thanh. Nhà Mãn Thanh đã đưa ra chính sách sưu cao thuế nặng, vơ vét của cải để bù đắp sau cuộc Chiến tranh Nha Phiến với người Anh.

Cuộc cách mạng của Hồng Tú Toàn thành công lập nên Thái Bình Thiên Quốc được 14 năm sau khi chiếm được Nam Kinh, thiết lập nên chính quyền và đưa ra nhiều chính sách cai trị. Một trong những chính sách tôn giáo là cấm thờ Khổng, Lão, Phật, ông bà cha mẹ mà chỉ tôn thờ duy nhất Thượng Ðế, Thượng Ðế là đấng tối cao, trên hết tất cả mọi tư tưởng tín ngưỡng, mỗi ngày đều phải tán tụng ân đức. Thượng Ðế đối với người châu Âu theo Công giáo và Ki-tô giáo là Ðức Chúa trời. Còn với người Á Ðông, Thượng Ðế là Ngọc Hoàng, vua trên hết các vua ngự ở thiên đình.

Tuy nhiên, triều đình Mãn Thanh ở Bắc Kinh đã nhờ người ngoại quốc giúp đỡ dẹp tan Thái Bình Thiên Quốc. Triều đình truy quét loạn đảng và những người có tình cảm với các phong trào nông dân chống đối. Chùa chiền thờ phụng Thượng Ðế bị dẹp tan, nhiều người bị bắt bớ đưa ra pháp trường khiến dòng người Hoa có ý định phản Thanh phục Minh lưu vong sang xứ khác. Vua Tự Ðức, đồng ý cho dòng người Tàu tị nạn sang định cư.


UserPostedImage
Các bao lam điêu khắc bằng gỗ thật tinh xảo. Ảnh: Internet



Xin mở rộng một chút để giải thích hai chữ “người Tàu”. Chuyện người Tàu di cư sang Việt Nam đã có từ lâu tuỳ theo từng thời kỳ lịch sử, gần nhất vào giữa thế kỷ 17 là người Minh Hương sang định cư ở Cù Lao Phố, Sài Gòn – Chợ Lớn, Hà Tiên, kế tiếp sau thời kỳ Thái Bình Thiên Quốc và gần đây nhất vào thời Pháp thuộc, cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 người Pháp thành lập quy chế Bang hội của người Hoa (bang Quảng Ðông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Hạ Châu) để dễ quản lý cho việc thuận lợi tuyển mộ phu phen người Hoa khai thác hầm mỏ, cao su…

Trước đó, chính sách của các chúa Nguyễn mở rộng phương Nam cần thêm nhiều nhân lực. Tiếp nhận di dân được lợi đôi điều. Tuy nhiên, người dân trong nước vẫn giữ thái độ miệt thị người Hoa, gọi họ là người Tàu, người Chệt, cắc chú (đọc trại từ “khách trú”). Trong một bài phiếm luận của Gia Ðịnh báo phát hành ngày 16/2/1870 giải thích gọi người Hoa là người Tàu như sau: “Người bên Tàu thường gọi là người Trung-Quốc nghĩa là nước ở giữa vì thuở xưa bên ấy có 18 nước chư hầu; chỗ Kinh thành Hoàng-đế lại vô ở giữa các nước chư hầu nên gọi là Trung Quốc. Người bên Tàu thường kêu mình là Ðường-nhơn hay Thanh-nhơn, nghĩa là người nhà Ðường nhà Thanh. An-nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu v.v…”.

Trở lại nhà sư Lưu Minh sau khi bị triều đình Mãn Thanh truy bức, cùng dòng người Hoa chạy trốn đến vùng Ðất Hộ (Ða Kao) định cư. Vốn ủng hộ chính sách Thái Bình Thiên Quốc, xuất tiền riêng ông lập Ðiện Ngọc Hoàng, theo tôn chỉ thờ phụng Ngọc Hoàng Thượng Ðế cùng làm cơ sở bí mật hoạt động hội kín ở nước ngoài chờ thời cơ lật đổ Mãn Thanh. Ðiện thờ chia ra làm nhiều công trình trong một cảnh quan cây xanh nên thơ, kiến trúc kiểu Trung Hoa. Theo Vương Hồng Sển, chùa được khởi công năm 1905, sang năm 1906 thì hoàn thành.

Tuy nhiên, theo một nghiên cứu văn hoá cụ thể trên các dòng lạc khoản bằng chữ Hán thì Ðiện Ngọc Hoàng tạo năm 1900 và khánh thành 1905. Việc thời gian lập và khánh thành ngôi chùa không quan trọng bằng những tranh thờ, tượng thờ, bao lam, hương án trong chùa. Những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc, vẽ bằng giấy bồi rất có hồn còn nguyên trạng đến hiện nay. Từ cổng tam quan vào bái đường có miếu thờ thần Hộ pháp trước khi bước vào các điện thờ gồm tiền điện, trung điện và chánh điện.


UserPostedImage

Chùa Ngọc Hoàng ngày nay bị các nhà cao tầng che chắn. nguồn Instagram n.k.c



Nhìn chung các tượng thờ phụng bên gian trái đều là những nhân vật trên thiên đình và kể cả Thập điện Diêm Vương với các bức gỗ chạm tầng địa ngục rất sắc sảo. Cũng theo các mô típ tượng thờ trong chính điện Ngọc Hoàng cai trị vua của các vua và muôn dân dưới trần thế, lại có thêm tượng Ông Tơ Bà Nguyệt, Kim Hoa Thánh Mẫu (nữ thần cai quản việc sinh nở), 12 bà mụ tạo hình hài hài nhi, 13 đức thầy lo việc dạy dỗ cho trẻ nên người.

Chánh điện là điện thờ Ngọc Hoàng Thượng Ðế làm bằng giấy bồi cao ba mét, sơn son thếp vàng, chung quanh là các thiên tướng có cả Tề Thiên Ðại Thánh theo truyền thuyết từ đời nhà Ðường trong tác phẩm Tây Du Ký; Quan Thánh Ðế Quân (Quan Vũ) nhân vật trong thời đại Tam Quốc xa xưa hơn nữa.

Gian phải thờ Bồ Tát Quán Thế Âm, Ðạt Ma Sư Tổ và tổ lập chùa Lưu Minh. Bên trên tượng Quán Âm Bồ Tát có bức hoành bằng gỗ khắc dòng chữ “Tiên Phật Nho tông” (tạo năm 1905), thể hiện sự dung hợp tư tưởng Tam giáo. Ðây là một trong hàng trăm di sản Hán nôm bằng những hoành phi, liễn đối giáo huấn tinh thần tam giáo đồng nguyên trong Chùa Ngọc Hoàng. Vậy Ðiện Ngọc Hoàng không chỉ thờ Ngọc Hoàng Thượng Ðế đấng tối cao mà còn là sự kết hợp giữa tinh thần Phật Giáo và Nho Giáo và Ðạo giáo (Lão giáo). Dòng tín ngưỡng tam giáo đồng nguyên đã hình thành ở nước Việt từ thời những năm đầu đời nhà Trần (Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông) do ảnh hưởng từ thời Bắc thuộc.


UserPostedImage

Tổng thống Obama trò chuyện với sư thầy Thích Minh Thông trụ trì Chùa Ngọc Hoàng nhân chuyến thăm Sài Gòn năm 2016. Ảnh: Reuters



Ở đây ta không bàn đến tôn giáo đồng nguyên mà vấn đền chính là tại sao, nhà sư tại gia Lưu Minh lập chùa không duy nhất thờ Ngọc Hoàng Thượng Ðế theo tinh thần chính sách tôn giáo của lãnh tụ Hồng Tú Toàn? Một vài ý kiến cá nhân nêu ra mang tính chất tham khảo: Một là, tại Trung Quốc, triều đình nhà Thanh đã suy sụp, các cuộc cách mạng đang diễn ra mạnh mẽ chuẩn bị cho Cách mạng Tân Hợi xoá bỏ chế độ phong kiến (1911). Hai là, chùa chiền lập ở đất Việt với mục đích làm hội kín tập hợp nhân lực lật đổ nhà Thanh, theo tình hình không còn cần thiết nữa. Ba là, với việc chỉ thờ Ngọc Hoàng Thượng Ðế là đấng tối cao, xem ra không thu hút được khách thập phương đa số là người Việt đã thấm nhuần tư tưởng Phật giáo từ thời nhà Trần đã hoà nhập vào lòng dân tộc, nhất là từ thời Trần Nhân Tông trở về sau.

Chuyện hình thành dòng tư tưởng tôn giáo là một vấn đề dài, cũng như ngôi chùa này được Tổng thống Omaba ghé đến thăm nhân chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 5/2016 được nhiều người bàn luận là cuộc viếng thăm có chủ đích đưa ra một thông điệp chính sự nào đó. Giáo sư lịch sử tôn giáo Dương Ngọc Dũng người giới thiệu Tổng thống Obama đến thăm chùa là do Chùa Ngọc Hoàng thì nhỏ, dễ dàng bảo vệ an ninh. Mặt khác Sư thầy Thích Minh Thông trụ trì của Chùa Ngọc Hoàng cũng là một Việt kiều, có thời gian sống ở Mỹ. Tôi cũng học ở Mỹ về, chừng đó lý do để ráp lại thành một lựa chọn hoàn chỉnh (Theo Zing.news).

Chùa Ngọc Hoàng thu hút khách thập phương trong nước và người ngoại quốc vào thời gian sau này nhờ nổi tiếng là một ngôi chùa cầu duyên, cầu tự (khấn và sờ vào tượng Ông Tơ Bà Nguyệt, cầu khấn 12 bà mụ cùng Kim Hoa Thánh Mẫu). Nhiều câu chuyện cầu duyên cầu tự được toại ý cũng có chuyện cầu hoài cả chục năm mà vẫn không xong. Tuỳ duyên mà được ý. Dẫu quang cảnh chung quanh ngày xưa đã thay đổi nhiều do đô thị hoá mọc lên những ngôi nhà cao tầng che chắn, ngôi chùa vẫn thu hút đông đảo khách thập phương là nhờ kiến trúc bảo tồn còn nguyên vẹn dù trải qua nhiều lần trùng tu. Chùa được công nhận là công trình Kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia từ năm 1994.

UserPostedImage
Duy An  
#2085 Posted : Wednesday, December 27, 2017 4:16:33 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,244

Thanks: 208 times
Was thanked: 688 time(s) in 500 post(s)

Một mảnh đời Hồ Dzếnh


Trần Mộng Tú


Hồ Dzếnh là Hà Anh đọc theo tiếng Quảng Đông. Tên thật là Hà Triệu Anh, sinh năm 1916 tại Thanh Hóa. Thân sinh người Hoa di cư từ Quảng Đông, mẹ là người Việt.

UserPostedImage



Hồ Dzếnh thành danh với tập truyện Chân Trời Cũ (1942) và tập thơ Quê Ngoại (1943), Hoa Xuân Đất Việt (1945), và ký bút hiệu Lưu Thị Hạnh trong tiểu thuyết Những Vành Khăn Trắng (1942) và Một truyện tình 15 năm về trước (1943).

Nhiều người biết đến bài thơ Chiều của ông được Dương Thiệu Tước phổ nhạc, cũng như hai câu thơ rất phổ biến:

Tình mất vui khi đã vẹn câu thề
Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở


trích trong bài thơ Ngập Ngừng. Bài này đã được các nhạc sĩ Anh Bằng, Hoàng Thanh Tâm và Minh Duy phổ nhạc. Anh Bằng còn phổ nhạc bài thơ Hoa Mẫu Đơn của ông.

Vào năm 1954, gia đình tôi mới di cư vào Nam được vài tháng, nhận được một lá thư của Hồ Dzếnh (thời gian đầu của năm 1954-1955 Bắc-Nam còn nhận được thư). Lúc đó tôi còn bé chưa biết ông là một thi sĩ, Ba tôi nói: Có người đàn ông Trung Hoa muốn lấy thím Phương. Thím Phương của chúng tôi là vợ góa của chú Trần Trung Phương, người có tập Thơ cho học trò Mấy Vần Tươi Sáng, mà từ nhỏ anh chị em chúng tôi đã thuộc lòng nhiều bài trong đó. Khi học ở Tiểu Học được học lại ở trong lớp như những bài Học Thuộc Lòng.

Chiều qua trăng ngã xuống hồ

Bầy sao nghịch ngợm đổ xô xuống tìm

Trên không có mấy con chim

Vội vàng đâm bổ đi tìm bóng trăng.


Vội Vàng- TTP

Lá thư của chú Dzếnh, tôi không được đọc, chỉ nghe Ba nói là một lá thư với lời lẽ hết sức lễ phép, xin phép anh chị cho em được thay anh Phương vào làm em anh chị trong gia đình. Ba tôi vốn sẵn hiền lành, nên đọc thư cảm động đến ngồi ngây người ra, không biết trả lời sao cho xứng với lá thư đó.

Chú Trần Trung Phương của tôi khi còn sống viết văn, làm báo cho thiếu nhi, hoạt động chống Pháp, bị bắt, tra tấn trong tù. Khi được thả ra thì ho lao chết ngày 4/27/1945. Lúc đó con trai mới 6 tháng tuổi. Thím Hồng Nhật, một người đàn bà có học, có nhan sắc, yêu văn chương, được tất cả các bạn văn của chồng kính nể. Mỗi năm làm giỗ chồng, thím mặc khăn áo đại tang làm giỗ, mời các bạn Văn/ Họa Sĩ của chồng như: Mạnh Quỳnh, Hữu Thanh, Tống Ngọc, Tam Lang, Khái Hưng v.v… đến dự. Ai cũng kính phục.

Thím ở vậy nuôi con, cho tới khi gặp Hồ Dzếnh. Cũng nên nhắc lại, thím Hồng Nhật cũng viết văn, làm thơ, lúc trẻ Hồng Nhật có gửi bài cho Phong Hóa và Ngày Nay, là thời điểm Trần Trung Phương đang phụ trách trang Thiếu Nhi của hai tờ báo này. Duyên văn nghệ đưa đến cuộc hôn nhân đẹp nhưng quá ngắn (không đầy 2 năm).

UserPostedImage

Hình gia đình Hồ Dzếnh và một người bạn


Khi chú mất, tôi cũng chỉ hơn em Cường một tuổi nên không biết gì cả.

Lớn lên mới biết thím là một phụ nữ đảm đang, qua bao nghịch cảnh, góa chồng, ly loạn vẫn gây dựng lại được những gì đã mất. Hiệu Sách Bình Minh 200 A, Phố Huế, nức tiếng ở Hà Nội một thời.

Vào năm 1951 thím Hồng Nhật muốn tái bản tập thơ Mấy Vần Tươi Sáng, nên có vào Nam nhờ Hồ Dzếnh đỡ đầu. Hồ Dzếnh cũng đang trong cảnh gà trống nuôi con rất vất vả. Hai người cảm thông nhau cùng hoàn cảnh góa bụa, cùng có hai đứa con trai nhỏ, cùng yêu văn chương nên nhanh chóng yêu nhau. Ðầu năm 1954 Hồ Dzếnh trở về Hà Nội, cuối năm đó lập lại gia đình với thím Hồng Nhật.

Giai thoại kể lại: Hôm đám cưới, các bạn văn cũ của chú Phương đến dự đông đủ, có một người ra câu đối: “Vợ góa nhà văn lấy nhà văn góa vợ.” Không ai đối được.

Cũng có thêm giai thoại nữa về cái tên Hồ Dzếnh, bạn hữu hay gọi đùa là Hồ Dính và có ra câu đối: Hồ Dính, dính hồ, hồ chẳng dính, có người đối là Ngọc Giao, giao ngọc, ngọc không giao.

Sau năm 1975 chú Dzếnh và Thím Hồng Nhật có vào Nam tìm gia đình anh chị, thì cha mẹ và chúng tôi đã sang Mỹ. Khi tôi liên lạc được với chú thím bằng thư thì cha mẹ tôi đã qua đời. Lá thư cuối tôi nhận được, chú nhờ tôi lấy tiền nhuận bút của những nhà sách bên Mỹ đã tái bản và phát hành những tác phẩm của chú nhưng không nhà xuất bản nào trả một đồng (Các nhà xuất bản hồi đó đều nghĩ việc họ tái xuất bản sách Việt ở hải ngoại là một đặc ân họ ban phát cho tác giả.)

Năm 1998 lần đầu tiên tôi về Việt Nam thì chú Dzếnh đã mất được 7 năm (1991). Buổi tối, nằm ngủ chung với thím trên chiếc giường của hai người, nghe thím kể lại: lúc biết mình sắp mất, chú đòi về nhà, mất trên cái giường của vợ chồng. Câu cuối cùng của chú là lời gọi: Mình ơi! trước khi nhắm mắt.

Mình vừa là chị là em
Tấm lòng người mẹ, trái tim bạn đời
Mai này tới phút chia đôi
Hai ta ai sẽ là người tiễn nhau?
Xót mình đã lắm thương đau
Tôi xin làm kẻ đi sau đỡ mình
Cuộc đời đâu phải phù sinh
Nước non chan chứa nghĩa tình, mình ơi!

Bài Thơ Tặng Vợ – Hồ Dzếnh


Chú Dzếnh muốn đi sau để tránh cảnh thương đau cho thím, nhưng chú lại là người đi trước. Trên chiếc giường gỗ ở ngôi nhà 80 phố Hòa Mã, Hà Nội, trong bóng tối mờ mờ của ngọn đèn đêm ngoài phố hắt vào, tôi nằm cạnh thím, nắm chặt bàn tay già nua của thím, nhìn lên đình màn, hình dung ra khuôn mặt thanh nhã với nụ cười hiền lành ở bức ảnh trên bàn thờ của một thi sĩ Trung Hoa mang trái tim Việt Nam trong lồng ngực, tôi nói thầm trong lòng: Cám ơn thi sĩ đã vào trong gia đình họ Trần Trung.

Tuổi thơ tôi lớn lên bằng những bài Thơ học trò ngây thơ trong Mấy Vần Tươi Sáng của thi sĩ Trần Trung Phương và tôi nghĩ đó chính là những hạt giống văn chương đã gieo vào mảnh đất hồn tôi để sau này mọc lên hoa trái. Rồi tiếp theo đó là Thơ và Văn Chương trong sáng, giản dị của Hồ Dzếnh ảnh hưởng tới văn chương và cách viết của tôi.

Tôi cám ơn Thượng Ðế đã cho tôi cả hai ông chú tuyệt vời.


UserPostedImage

Thủ bút của Hồ Dzếnh


UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
CỏThơm on 1/25/2018(UTC)
Duy An  
#2086 Posted : Saturday, January 20, 2018 1:58:51 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,244

Thanks: 208 times
Was thanked: 688 time(s) in 500 post(s)
Nước mắm tĩn ngày xưa



Trang Nguyên

Tĩn nước mắm là hình ảnh quen thuộc với tôi từ thuở nhỏ. Má tôi buôn bán gạo lẻ một thời gian, rồi sau đó có người đến mời bán kèm thêm nước mắm, hàng bỏ theo kiểu gối đầu, bán xong tháng nào thanh toán tháng đó, lại nhận đợt hàng tiếp theo không cần phải bỏ vốn. Lúc ấy, tôi băn khoăn rằng liệu bán nước mắm cả tĩn cho bà con xóm lao động, họ đã quen mỗi ngày đi đong từng chén ở tiệm chạp phô, thì có được không? Nhưng má tôi có giang (?) buôn bán, thứ gì vào tay bà cũng đều suôn sẻ. Mỗi tháng có khi hai đợt xe lam chở đầy các tĩn nước mắm đến chất đầy nhà bếp. Nhìn núi tĩn chất cao kiểu hình kim tự tháp dựa lưng vào vách tường, lòng tôi vui vui.


UserPostedImage

Kho tĩn nước mắm của chi nhánh Liên Thành nằm trên bến Chương Dương Sài Gòn thập niên 1960 – Ảnh: Fred Mucciardi


Ðó là vào những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ trước. Bây giờ nhớ lại nhận ra có thể má tôi là một trong những người bán nước mắm tĩn cuối cùng trước khi nước mắm bắt đầu xuất hiện trong chai dán nhãn hiệu nhìn hấp dẫn hơn hình thù bề ngoài thô kệch của tĩn nước mắm. Tĩn nước mắm làm bằng đất sét nung, phình ở giữa, thô ráp, quét lớp vôi trắng bên ngoài, miệng chụp cái dĩa đất nung, bao quanh bằng lớp xi măng, dán phủ miếng nhãn hiệu to đùng “Nước mắm Liên Thành” có in hình con voi màu đỏ. Thế nhưng má tôi lại ít gọi thương hiệu “Liên Thành” mà cứ gọi chung chung nước mắm Phan Thiết – cội nguồn vùng đất sản xuất nước mắm lớn nhất miền Trung thời đó, tùy theo màu giấy dán trên miệng để phân biệt tĩn nào là nước mắm ngon dùng để ăn sống, tĩn nào là nước mắm thường dùng để nêm nếm nấu ăn.


UserPostedImage

Ghe chở nước mắm tĩn trên kênh Tàu Hủ năm 1931- Ảnh: Tư liệu


Thật ra từ khi tôi chưa ra đời, nước mắm của nhiều nhà thùng đã chứa trong chai một lít hoặc thùng thiếc 20 lít để bán ra thị trường. Nghe má tôi kể lại như vậy và vào giữa thập niên 60, Phú Quốc đã chứa nước mắm trong thùng nhựa rồi. Nhưng theo thị hiếu, phần lớn người mua vẫn thích nước mắm tĩn dù rằng dung tích mỗi tĩn đến 3.5 lít, vì mua cả tĩn thì rẻ hơn mua nước mắm chai; vả lại ngày nào người ta cũng dùng nước mắm, có nhiều nhà ăn hết cả tĩn mỗi tháng. Chỉ một số gia đình nghèo trong xóm mua nước mắm lẻ ở các tiệm chạp phô. Trước khi má tôi bán thêm hàng nước mắm, thì mỗi ngày tôi vẫn thường xách chén chạy u ra tiệm ông Tàu đầu ngõ mua vài đồng nước mắm. Ông Tàu cầm vài đồng bạc cắc, mặt cười vui, mở cái nắp tĩn bằng đất nung, thọt cái gáo tre nhỏ múc đầy hai gáo.

Nói đến đây, tôi nghĩ rằng hồi xưa người ta ăn nước mắm nhiều hơn bây giờ. Theo thông tin của Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối thuộc Bộ Nông nghiệp hiện nay cho biết thì sản lượng tiêu thụ nước mắm hằng năm của cả nước rất nhiều, khoảng 215 triệu lít. Con số này không nhiều so với dân số 15 triệu hồi năm 1920 mà nhà nghiên cứu dinh dưỡng người Pháp Mesnard Rose, tại Viện Pasteur Sài Gòn, ghi nhận trong một bài viết về thực phẩm chế biến từ cá rằng chỉ riêng năm 1921 tỉnh Bình Thuận đã sản xuất ra hơn 46 triệu lít nước mắm. Số nhà thùng trải dài từ đảo Phú Quốc đến Hải Phòng còn rất nhiều. Người ta tính trung bình một người tiêu thụ đến 10 lít nước mắm mỗi năm. Giá nước mắm từ 3 đến 20 xu tùy loại ngon dở, đặc biệt 40 xu một lít là loại hảo hạng.


UserPostedImage

Tĩn nước mắm ở Phan Thiết có hình dạng phình ra ở bụng, thể tích chứa nhiều hơn tĩn nước mắm ở Phú Quốc – Ảnh: Tư liệu



Nước mắm dở là nước mắm làm ra từ xác mắm, sau khi chắt lọc loại nước mắm nhĩ (nhất) rồi đến loại nhì. Người ta pha thêm muối và nước vào xác mắm, để thêm một thời gian lọc tiếp, thành nước mắm rẻ tiền bán cho dân nghèo. Một loại nước mắm không ngon khác là nước mắm đồng (dùng cá đồng làm mắm như cá linh, cá phèn…) thường được người dân miền Tây Nam bộ làm ra khi thu hoạch lượng cá lớn trong mùa nước nổi mỗi năm, còn gọi là nước mắm trong. Mãi cho đến những năm 1940, người Nam bộ mới làm quen với nước mắm làm từ cá biển, do đó nghề nước mắm Phú Quốc bắt đầu sản xuất mạnh hơn, chứ trước đó không mấy ai biết tiếng nước nắm Phú Quốc. Ðến thập niên 60, nước mắm Phú Quốc mới đạt được phẩm chất cao từ nguyên liệu con cá cơm sọc tiêu làm ra nước cốt tinh túy. Và cũng trong thời gian sau này, sự cạnh tranh của nước mắm Phú Quốc đã làm suy giảm sản lượng nước mắm Phan Thiết.

Nước mắm ngon Phú Quốc, Phan Thiết ai cũng biết tiếng, ấy thế mà hồi học tiểu học tôi chưa bao giờ nghe đến một câu ca dao về nước mắm ngon của các vùng này, mà chỉ nhớ độc hai câu ca ngợi sản vật địa phương đâu tận ngoài miền Bắc trong sách giáo khoa: “Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần / Nước mắm Vạn Vân, cá rô Ðầm Sét”. Mãi đến giờ, tôi chưa được nếm thử nước mắm Vạn Vân để xem nó ngon ra sao, nhưng biết người làm ra là ông Ðoàn Ðức Ban, thân sinh của nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn (Tôi mê dòng nhạc trữ tình lãng mạn của Ðoàn Chuẩn qua giọng ca Khánh Ly và Tuấn Ngọc). Chỉ có người con trai cả và cô con gái là theo nghiệp làm nước mắm của gia đình ở Cát Hải, Hải Phòng.


UserPostedImage

Nước mắm Phú Quốc đong vô tĩn hồi thập niên 1950 – Ảnh: William Foulke


Vào năm 1939, nước mắm Vạn Vân đã được xuất cảng sang Pháp và một số nước châu Âu. Tôi không biết thời đó ở miền Bắc người ta có chứa nước mắm trong tĩn như ở miền Trung và miền Nam hay không. Tôi quan tâm đến chuyện này vì hình dáng cái tĩn trông mộc mạc, gần gũi, và phù hợp để đựng thứ nước chấm làm ra từ cá. Người ta không dùng tĩn để đựng nước tương. Nước tương ngày xưa được chứa trong vại sành (sau này đóng chai cùng thời nước mắm) trông sang hơn cái tĩn. Theo nhà khảo cứu A. G. Van Veen viết trong cuốn sách về Thực phẩm chế biến từ cá ở Ðông Dương, do trường Ðại học Cornell ở New York xuất bản năm 1974, thì từ hơn nửa thế kỷ, ở miền Nam nước mắm được chứa trong các cái tĩn có dung tích từ 3 đến 3.5 lít; còn ở miền Bắc thì nước mắm được chứa trong vại lớn hơn 100 lít. Tĩn và vại đều được hàn kín, dán thương hiệu với lời ghi rõ ràng “Nước mắm miền Nam” hoặc “Nước mắm miền Bắc” bằng 3 thứ tiếng: Pháp, Hoa và Quốc ngữ. Tác giả không phân biệt nước mắm hai miền khác biệt ra sao mà chỉ phân biệt hình thức bao bì giữa tĩn và vại to.

Theo lịch sử, từ xa xưa nước mắm thành phẩm đã được chứa trong các thùng gỗ, vại, tĩn tùy theo địa phương sản xuất. Theo nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân thì trong “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú có ghi rằng nước mắm là một trong sáu thổ sản phải nạp thuế. Ðến đời Lê Cảnh Hưng thứ tư, phường làm nghề nước mắm có phương tiện đánh bắt cá phải nộp thuế ba tĩn, người làm thuê thì nộp một tĩn. Qua khoảng giữa thời Nguyễn, người làm nghề nước mắm phải nộp thuế mỗi người một thùng nước mắm hoặc vò mắm tép. Trong “Ðại Nam nhất thống chí” lại ghi ở tỉnh Bình Thuận, thuế biệt nạp thời Minh Mạng, thì người làm nghề nước mắm nộp tám vò mỗi năm, nhưng không cho biết dung tích của thùng, vò, tĩn hay các loại hũ là bao nhiêu.

UserPostedImage

Tĩn nước mắm Phú Quốc có eo thon hơn nên dung tích nhỏ hơn. Hồi thập niên 1960, nước nắm Phú Quốc chứa trong tĩn và can nhựa bán ra thị trường Ảnh: William Foulke



Riêng tĩn nước mắm có dung tích 3.5 lít xuất hiện ở miền Trung, Phan Thiết là chủ yếu, trong thời gian hãng nước mắm Liên Thành thành lập năm 1906, cùng thời với phong trào Duy Tân do cụ Phan Chu Trinh khởi xướng, và Liên Thành thương quán là nhà tài trợ chính cho phong trào canh tân giáo dục. Cũng theo nhà nghiên cứu dinh dưỡng Mesnard Rose ghi chép hồi năm 1918 nước mắm bán ra thị trường chứa trong tĩn và đây là một loại bao bì an toàn hơn chứa trong thùng thiếc, thuận tiện trong việc di chuyển nhờ có cái quai xách bằng mây. Nước mắm trong tĩn nung chín bằng đất sét có ưu điểm giữ được chất, khi phơi nắng lâu ngày, nước mắm sánh lại và ngon hơn nước mắm mới chiết xuất ra khỏi nhà thùng.

Tĩn nước mắm miền Trung có bụng phình ở giữa nên dung tích nhiều hơn tĩn nước mắm miền Nam, đặc biệt là ở Phú Quốc, tĩn có hình đáy hơi thon, eo không nở, nên dung tích nhỏ hơn một chút. Ðấy là cách má tôi giải thích với khách hàng khi họ thắc mắc tĩn ở chỗ hàng này nhỏ, chỗ kia to. Riêng tôi, khi viết đến đây lại nghĩ rằng, đó là mánh khoé cạnh tranh bằng hình thức. Cái tĩn to hơn thì dễ làm người mua thích hơn, cho dù trả thêm chút tiền, điều này lợi cho việc tăng sản lượng tiêu thụ.

Ðến những năm đầu thập niên 1970, tĩn nước mắm bỗng dưng biến mất trong đời sống, rồi can nhựa, bình nhựa thay thế một thời gian dài cho đến khi nước mắm chai trở lại với đa dạng loại hình. Chính điều đó làm cho ta lại nhớ chuyện nước mắm tĩn ngày xưa.
UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
CỏThơm on 1/25/2018(UTC)
CỏThơm  
#2087 Posted : Thursday, January 25, 2018 12:38:53 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 168
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 135 times
Was thanked: 97 time(s) in 71 post(s)


UserPostedImage


Như nhớ tình đầu


không còn nhiều trăng trên trời và hương trong gió
sợi tóc bạc nào cũng quá khứ xa xăm
tôi rất tiếc không tán em lần nữa
để dỗ mối tình có thể trăm năm

tôi một đời làm thơ mà câu thơ chưa hết ý
gửi trao em bữa đó cũng lưng chừng
phải câu thơ đã biết mình không thể
níu tay người ghé lại cõi đời chung?

tôi dại khờ chăng những lần ngồi bến lở
khi con sông đôi bờ nước vẫn trôi xuôi
em đã từng qua sông và gió ngàn bóng áo
tôi nghe áo xưa lồng lộng kiếp người...

rồi trăng sẽ tàn và hương bay mất
tháng chạp sẽ về để mắt em sâu
tôi ra đứng sau hè thương mùa nguyệt bạch
và nhớ em như nhớ một tình đầu.



Hoàng Lộc





UserPostedImage
thanks 1 user thanked CỏThơm for this useful post.
phamlang on 2/6/2018(UTC)
Duy An  
#2088 Posted : Thursday, February 1, 2018 11:52:48 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,244

Thanks: 208 times
Was thanked: 688 time(s) in 500 post(s)
Làng hoa Sa Đéc đông khách những ngày cận Tết

Di Vỹ
Ảnh: Hoàng Phú Cường


Nhiều loại hoa đủ màu khoe sắc rực rỡ mang lại không khí xuân về, thu hút du khách đến tham quan và chụp ảnh.

UserPostedImage

Với diện tích khoảng 20 ha, làng hoa Sa Đéc là một trong những điểm đến hấp dẫn du khách những ngày cận Tết. Đến đây, du khách có thể tham quan, chụp ảnh cũng như mua hoa về trưng Tết.
Là thành phố hoa lớn nhất miền Tây, Sa Đéc cung cấp hoa cảnh cho nhiều nơi. Từ đầu tháng Chạp, nơi đây đã thu hút đông du khách về tham quan. Đường hoa Sa Nhiên – Cai Dao với dài độ 2,3 km là nơi tập trung đông nhà trồng hoa, thuận tiện cho khách tham quan.


UserPostedImage

Cùng "cảnh ngộ" với nhiều nơi trồng hoa khác ở miền Tây, khoảng 30% hoa cúc mâm xôi ở đây cũng đã nở rộ trước Tết, do mưa trái mùa kéo dài nhiều ngày.


UserPostedImage

Những chậu cúc mâm xôi được nhiều du khách mua về nhất với giá khoảng 160.000 đồng/ cặp.


UserPostedImage

Thú chơi hoa ngày Tết của người Việt ngày càng phát triển. Một người trồng hoa lâu năm tại Sa Đéc cho biết: "Do đây là nghề truyền thống nhiều đời, chúng tôi hiện phải giữ và phát triển, để vừa có thêm tiền sinh hoạt cho gia đình mà cũng mang lại không khí của ngày Tết từ việc buôn bán cho bạn hàng, du khách".


UserPostedImage

Chủ vườn hoa này cũng cho biết thêm, năm nay có rất đông khách tới chụp hình, ngoài khách địa phương, các tỉnh lân cận còn có cả du khách nước ngoài, đa số là khách Pháp.


UserPostedImage

Năm nay, ngoài địa điểm chụp hình ở vườn hoa của những người nông dân, địa phương còn mở thêm một số điểm mới như Happy Land Hùng Thi, Cafe Làng Hoa...


UserPostedImage

UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 2 users thanked Duy An for this useful post.
phamlang on 2/6/2018(UTC), Hạ Vi on 2/18/2018(UTC)
Hạ Vi  
#2089 Posted : Sunday, February 18, 2018 2:37:34 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,511
Location: CỏThơm

Thanks: 4235 times
Was thanked: 10657 time(s) in 2611 post(s)
.

(sưu tầm)


UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage



UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage

UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage




Edited by user Sunday, February 18, 2018 2:38:15 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Hạ Vi  
#2090 Posted : Sunday, March 11, 2018 1:21:02 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,511
Location: CỏThơm

Thanks: 4235 times
Was thanked: 10657 time(s) in 2611 post(s)



UserPostedImage



Bài luân vũ của gió


Hình như gió biếc về đây tình tự
Hôn lên làn môi chút nắng chùng chình
Biết em còn đợi bên hàng hiên cũ
Ngắm mặt trời đón từng giọt bình minh.

Hình như chiếc lá trở mình rất khẽ
Gió mang em đi về tận phương nào
Có trái tim anh bốn mùa rất trẻ
Mắt nồng nàn theo suối tóc hư hao.

Hình như tiếng chim trên cành ríu rít
Hàng cây đứng gió sao thật bình yên
Nắng chênh chao thương bóng người cuối dốc
Mênh mông nỗi buồn một chút đời riêng.

Hình như bước ai còn trên đường vắng
Bóng in vai gầy lảng đảng mùi hương
Trong giấc mơ xưa em về lạc lối
Gió đan mây thành lối cỏ mù sương.

Hình như tiếng mưa qua hàng long nảo
Ngọn gió vô tình thả xuống đời nghiêng
Em nhặt giùm tôi bài thơ tình đánh mất
Của một thuở nào tiếng hát lênh đênh.



Nguyễn An Bình




UserPostedImage





UserPostedImage
CỏThơm  
#2091 Posted : Wednesday, March 28, 2018 5:44:50 AM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 168
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 135 times
Was thanked: 97 time(s) in 71 post(s)



UserPostedImage


Một tiếng em


Từ giã hoàng hôn trong mắt em,
Tôi đi tìm những phố không đèn.
Gió mùa thu sớm bao dư vị
Của chút hương thầm khi mới quen.

Cùng bóng hàng cây gập giữa đường,
Ân cần tôi ngỏ tấm tình thương
Bao nhiêu hoài bão, bao hy vọng
Nói hết cho lòng nhẹ mối vương

Rồi đây, trên những lối đi này,
Ta sẽ cùng ai, tay nắm tay ...
Nhịp bước năm cung đàn ảo tưởng
Buông chìm tâm sự nửa đêm nay

Từng bước trôi cùng trăng viễn khơi,
Thâu đêm, chưa hiểu miệng ai cười.
Nụ cười gửi tự thiên thu lại
Tiền kiếp nào xưa, em hé môi?

Dĩ vãng nào xanh như mắt em?
Chao ôi! Màu tóc rợn từng đêm!
Hàng mi khuê các chìm sương phủ
Vời vợi ngàn sao nhạt dáng xiêm.

Kỷ niệm thơm từ năm ngón tay,
Trăng lên từng nét gợn đôi mày
Bóng hoa huyền ảo nghiêng vầng trán,
Chưa ngát hương tình, hương đã bay.

Sông biển nào nghe thấu nỗi niềm?
Sóng đâu còn khoé mắt thâm nghiêm?
Lòng ơi! hoài vọng bao giờ nói
Thăm thẳm trùng dương một tiếng "em"?

Nhẹ bước chiêm bao tưởng lạc đường
Rưng rưng mùi phấn, bỗng ngùi thương,
Sương đầm vạt áo mong manh lệ
Sao rụng bay vào tóc dạ hương.

Tôi lánh trần ai đi rất xa
Bâng khuâng sao lạnh ánh trăng tà
Ngày mai hứa hẹn bừng hương cỏ,
Tôi sẽ say nằm ngủ dưới hoa.



Đinh Hùng






UserPostedImage
Duy An  
#2092 Posted : Thursday, May 17, 2018 1:29:02 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,244

Thanks: 208 times
Was thanked: 688 time(s) in 500 post(s)
Chuyện quanh chợ An Đông


Trang Nguyên


Thuở còn bé tôi từng nghe má tôi nhắc đến Chợ An Đông vì thi thoảng bà đi thăm người bà con sống trong con hẻm nhỏ trên đường An Dương Vương gần khu chung cư của quân đội Mỹ. Mỗi lần đến đó khi trở về bằng xe ba gác máy, bà đều ghé vô chợ mua vài ba thứ cần thiết cho gia đình. Theo bà, hàng hoá thực phẩm ở Chợ An Đông rất nhiều và giá cả lại rẻ hơn chợ Hoà Hưng nơi gia đình tôi ngụ. Mãi đến sau 1975 tôi mới có dịp ghé qua Chợ An Đông vài lần. Nhà thằng bạn hồi thời đại học nằm ngay góc tầng trệt của khu chung cư phía cửa sau chợ trên đường Yết Kiêu. Bên kia đường là hồ bơi An Đông không còn hoạt động.


UserPostedImage
Chợ An Đông năm 1966 tấp nập buôn bán tràn ra tới bên ngoài – Ảnh: Douglas Ross



Có được một chỗ ở ngon lành và phía trước hành lang trở thành cái vựa bán trứng của gia đình trong thời buổi kinh tế khó khăn, vậy mà thằng bạn lại than ngắn thở dài, “sống ở đây ồn ào lại còn chật chội”. Nhà ngay chợ búa không ồn mới lạ. Hồi trước đám anh em còn nhỏ, chẳng thèm để ý đến chuyện nhà cửa chật chội, nằm sắp lớp cá mòi ngủ chung mùng thấy thật là vui. Khi đó, gia đình bạn buôn bán thêm nhiều mặt hàng. Nghe bạn kể cá khô treo lủng lẳng đầy nhà, trứng chứa từng sọt cần xé to nhỏ đủ loại nhất là trứng muối bọc tro đen thui bán chạy lắm. Người Tàu khoái ăn trứng muối còn người Việt thích trứng lạt, thành ra mặt hàng này lúc nào cũng đông khách. “Hồi đầu năm 1975, ông bà già định mua thêm căn chung cư kế bên, nhưng giấy tờ nhà có tranh chấp do vợ chồng ly hôn nên chuyện bất thành. Thế là cái gác lửng phải phân chia thành giường tầng ba góc mới đủ chỗ ngủ cho đám con đông nhà chật”.

Thật ra, vào thời gian sau đó, có vài người kêu bán mấy căn nhà quanh chợ nhưng gia đình ngại mua vì chỉ giao giấy tờ viết tay. Nhà lúc ấy rẻ rề vì mấy nhà đó dường như có kế hoạch vượt biên. Mua rồi sau này lỡ không làm được giấy chủ quyền thì kẹt. “Nhưng vấn đề chính là ông bà muốn mua một căn nhà rộng rãi hơn cách xa chợ để con cái trú ngụ học hành, còn căn hộ chung cư nhỏ bé này chỉ dùng làm nơi buôn bán”.

UserPostedImage
Chợ An Đông đến chiều tối mới dẹp chợ Nguồn: Panaromio



Không biết hồi đó chính quyền nghĩ sao lại đi cất chung cư có diện tích như cái hộp quẹt. Chắc người ta nghĩ “ăn thì nhiều chứ ở bao nhiêu”. Nhà rộng lắm thì có thêm gác lửng. Gia đình nào cũng đông con, sống chật chội, vậy mà mấy nhà tầng trên còn phải dắt chiếc xe đạp, đẩy xe gắn máy lên tận tới lầu ba. Mỗi lần lên xuống thật phiền phức. Khách đến nhà chơi phải tìm chỗ gởi xe, rồi len lỏi giữa rừng thúng mẹt bán buôn né bên này đụng bên kia mới đến được nhà. Nhà tầng dưới của thằng bạn, phía trước ba nó gắn thêm cái trụ sắt để khách mua hàng hay khách đến nhà dùng dây xích khoá chiếc xe gắn máy hay chiếc xe đạp vào cây cột. Trong lúc ngồi nói chuyện bù khú với nhau ở góc gác lửng, thi thoảng nó đứng dậy, nhìn chồm qua ngó xuống cửa sổ trước hiên nhà xem con ngựa sắt của tôi còn đứng yên ở đó không. Bạn cảnh giác, có khoá vẫn mất như thường, ở đây trộm đạo như rươi.

Tôi thì chẳng màng đến chuyện chiếc xe đạp có thể “bốc hơi” trong giây lát. Nhà nằm ngay vị trí góc đường nhìn qua lam gió thấy rõ khối kiến trúc tiền chế của ngôi chợ đổ bóng lên dãy sạp bán gà vịt cá mắm phủ đầy dù vải đủ màu trông như một bức tranh lập thể, góc cạnh sáng tối dưới bóng nắng bật lên thật là sinh động. Hầu như từ thời điểm đầu thập niên 1950, kiểu kiến trúc chợ búa bước sang một hình thái mới, không còn kiểu cách cầu kỳ của kiến trúc châu Âu hay phảng phất đường nét Á Ðông kết hợp nữa. Kiểu xây dựng tiền chế thi công nhanh, dễ tháo dỡ và không làm ảnh hưởng tới những công trình lân cận.

Ngôi Chợ Hoà Hưng nơi tôi cư ngụ cũng vậy, có thiết kế khung sườn tương tự Chợ An Ðông. Chỉ có điều, Chợ An Ðông là một khối hình chữ nhật nhìn thoạt trông rộng hơn ngôi chợ xóm tôi nhưng xem ra Chợ Hoà Hưng lớn hơn vì nó có đến hai ngôi chợ ghép lại từ hai hướng mặt tiền rộng lớn. Tôi nghĩ còn vài ba ngôi chợ nữa có kiểu dáng thiết kế tiền chế như thế này đây đó trên đất Sài Gòn. Kiến trúc chợ kiểu này được xây dựng một loạt nhiều nơi để đáp ứng nhanh nhu cầu chợ búa của dân chúng thành phố trong thời kỳ phát triển dân cư di tản từ thôn quê lên thị thành sinh sống, cộng thêm gần triệu người Bắc di cư vào Nam chọn nơi trú ngụ Sài Gòn là điểm đến chính. Theo thống kê dân số năm 1945 Sài Gòn có khoảng nửa triệu người nhưng 10 năm sau đó, con số này tăng lên gần hai triệu người.


UserPostedImage
Chợ An Đông đầu thập niên 1960 phía đường Nguyễn Duy Dương – Nguồn: Fanhhaiflickr



Bạn kể chuyện gia đình. Bố là người Hà Nội gốc theo gia đình di cư vào Nam ban đầu ở tạm gần khu Trường đua Phú Thọ, làm công giao nước đá cây cho ông ngoại khi đó có tiệm tạp hoá bán đủ thứ ở đầu hẻm đường Nguyễn Duy Dương bên kia Chợ An Ðông. Thấy anh thanh niên điềm đạm, hiền hậu lại siêng năng nên ông ngoại ưng thuận gả cho người con gái lớn ham thích buôn bán sạp trứng tại Chợ An Ðông. Hai người ra riêng sắm căn nhà tầng dưới làm chỗ mua bán. Hồi trước 1954, chung cư này xây xong chỉ có một số ít người Việt gốc Hoa đến đây mua tầng dưới để ở và làm ăn buôn bán. Nhà chung cư giá rẻ nhưng không hấp dẫn cư dân đến định cư vì ai đời xây chung cư lại bao quanh một cái chợ giáp mặt bốn hướng. Ồn ào, ngõ ngách chật hẹp ra vô khó khăn. Chợ An Ðông xưa kia còn chưa xây mới nhưng lúc đó đã được dân chúng xem là một trong các ngôi chợ sầm uất nhất thuộc khu vực Chợ Lớn.

Chợ toạ lạc tại quận 5, một quận trung tâm của Chợ Lớn. Khu vực nằm giữa các con đường lớn như Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Trãi, Hồng Bàng, An Dương Vương từ Sài Gòn hướng vào. Có đường xe lửa đi Mỹ Tho, xe điện ngược ra Sài Gòn. Người Việt về đây cư ngụ nhiều lắm, sống xen kẽ người Hoa vì vùng này dễ làm ăn mua bán. Người Hoa đa phần là người cố cựu sống rải rác không tập trung như tại trung tâm Ðồng Khánh vào thuở Sài Gòn – Chợ Lớn còn là hai thủ phủ riêng biệt. Mãi đến đầu thập niên 1930, hai thành phố mới sát nhập làm một. Khu vực Chợ An Ðông được xem như khu giáp ranh giữa hai thành phố, dân cư từ các tỉnh đổ về định cư ngày càng nhiều và sau đó người Bắc di cư vào Nam tìm đến. Vào khoảng thời gian này, khu vực quanh Chợ An Ðông vẫn còn lưa thưa ao trũng, mồ mả vô chủ rải rác đó đây.

Ông ngoại thằng bạn tuy là người Tàu Chợ Lớn cố cựu ba đời nhưng nói tiếng Việt sành sỏi nên mẹ của nó cũng nói tiếng Việt ngon ơ đâu có thua gì người cha. Thằng bạn kể chuyện hồi nhỏ, mấy đứa đánh giày không biết từ đâu kéo cả đám sang khu chung cư Mỹ thuê ngay góc hồ bơi làm ăn. Tụi nó thường chọc ghẹo mấy đứa nhỏ con người Hoa sống quanh khu chợ. Có lần tao nói tụi bây đừng ỷ đông ăn hiếp con nít. Tụi nó giả giọng “tào lao” chửi bới đòi đánh chết cha tao (chắc thấy cái mặt của tao giống Ba Tàu). “Tả lị sị, hằm tắc xả, xả cái lỗ mũi”. Tao tức quá vung chân đạp trúng một thằng té sấp, ai ngờ cái lỗ mũi của nó xả ra hai vòi máu. Tao bỏ chạy, lủi tuốt vào chợ, tụi nó dí theo nhưng làm sao nắm được cái chân của dân Chợ An Ðông chính cống.


UserPostedImage
Phía sau An Đông ngã tư Hùng Vương – Nguyễn Duy Dương có đường xe lửa đi Mỹ Tho không còn sử dụng.
Ảnh: Douglas Ross Chụp năm 1966


Nói chuyện khơi khơi một hồi cũng chán, thằng bạn đứng dậy kêu “xuống xách xe hai thằng ra quán cơm gà Siu Siu kiếm cái gì lót bụng”, ngồi ở đây vừa ngộp vừa nóng chảy mỡ. Trong khi chờ thưởng thức đĩa cơm gà ngon cỡ nào mà mấy ông lớn tuổi xóm tôi thường hay ca tụng mỗi khi đi Chợ An Ðông. Thằng bạn chỉ ông già Tàu đầu tóc bạc trắng rối bời, quần áo lấm lem bùn đất, đứng tựa vách tường miệng lẩm bẩm như đọc thần chú. “Ông từng là chủ quán cơm gà Siu Siu”. Chuyện đánh tư sản mấy năm trước, ông mất ba căn nhà lầu mở quán cơm gà trên đường Nguyễn Duy Dương. Sau đó theo tàu vượt biên. Tàu bị đắm, tất cả mọi người trong chuyến đi đều chết hết. Riêng ông ôm miếng ván trôi dạt vào bờ. Bị bắt, trả về nhốt ở quận 5. Một thời gian sau, ông được tha. Và cũng từ đó, ông trở nên điên điên khùng khùng. Còn cái quán mình đang ngồi là của người bà con xa của ông Siu Siu sang lại hồi đầu năm 1975 đến nay. Nghe xong tôi chỉ còn biết thở dài.

Nhưng chuyện quanh Chợ An Ðông vẫn chưa dừng lại. Thằng bạn chỉ tay lên tiệm vàng Kim Xuyến nói nhỏ: “Con trai nhà văn Nhất Linh bán căn nhà này cho bà chủ tiệm vàng mới năm rồi. Nghe nói gia đình đi xuất cảnh sang Pháp. Hồi cuối thập niên 1960, một thời gian báo chí Sài Gòn đua nhau khai thác chuyện nhà văn Nhất Linh bị quy tội dính líu đến cuộc đảo chính hụt chính quyền đương thời hồi năm1963. Ông uống thuốc độc tự vẫn tại căn nhà này. Ðến lúc đó, người sống quanh chợ xôn xao: “Vậy mà cả chợ An Ðông chẳng ai biết mình là láng giềng của ông nhà văn nổi tiếng của nhóm Tự lực văn đoàn. Chẳng qua, hiếm người ở đây biết mặt ông vì thi thoảng ông đi đi về về căn nhà chung cư, nơi người vợ mở tiệm bán cau bên hông cái Chợ An Ðông ồn ào.
UserPostedImage
Duy An  
#2093 Posted : Thursday, June 14, 2018 1:08:44 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,244

Thanks: 208 times
Was thanked: 688 time(s) in 500 post(s)
Người Hà Nội hái sen ủ trà


Ngọc Thành

Hoa sen được chọn ủ trà phải là giống sen hồ Tây, bông hoa tròn to và mỗi sản phẩm có giá 30.000 đồng.


UserPostedImage



Sen hồ Tây (sen Bách Diệp) là giống sen nổi tiếng của Hà Nội với đặc trưng bông nhẹ, to, thơm ngát.

Từ lâu nhiều vùng ở Hà Nội đã trồng sen này để cắm chơi và làm nguyên liệu sản xuất chè sen.

UserPostedImage


Gia đình anh Nguyễn Thế San (Liêm Mạc, Bắc Từ Liêm, Hà Nội) có 6.000 mét vuông diện tích mặt nước trồng sen.

"Sen mọc hoàn toàn tự nhiên, bắt đầu thu hoạch từ 19/5 cho đến 2/9 hàng năm", anh San cho biết.


UserPostedImage



Những ngày này, cứ 4h sáng là anh San thức dậy chèo thuyền đi cắt hoa nhưng vẫn không đủ cung cấp cho đơn đặt hàng của khách.


UserPostedImage



Người hái thường chọn thời điểm sáng sớm mát mẻ, khi hoa vừa hé nở thì hương sẽ thơm lâu hơn.


Sen hồ Tây khi bung nở có hàng trăm cánh nhỏ li ti, nở nhanh và chóng tàn.


UserPostedImage



"Các công đoạn làm trà ủ hoa sen không quá cầu kỳ, quan trọng là chọn được đúng loại sen phù hợp để ướp trà", chị Hạnh cho biết.


Hoa sen được chọn ủ trà phải là giống sen hồ Tây, bông hoa tròn to. Mỗi ngày một người có thể hái được hơn 400 bông hoa sen.


UserPostedImage



Trà để ủ sen phải là trà Thái Nguyên bởi trà của vùng này cho nước màu xanh. Mỗi cân trà ngon giá khoảng 500.000 đồng.


UserPostedImage



"Trà được đưa vào bông hoa khi vừa hé nở, mỗi bông thường chứa 13g trà. Trong thời gian ủ, hương sẽ ngấm đượm vào cánh trà. Mỗi bông sen ủ trà phải còn nguyên phần thân, sau đó cắm vào nước trong một ngày để hoa vẫn tươi và hút nước cho hương lan toả bên trong", chị Lê Ngọc Yến, người có kinh nghiệm làm trà ủ sen lâu năm cho biết.


UserPostedImage


Mỗi bông sen ủ trà có giá 30.000 đồng.


UserPostedImage


Để có trà sen uống lâu dài, mỗi bông sẽ được hút chân không và để tủ lạnh, sử dụng được trong 6 tháng.


UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
CỏThơm on 8/28/2018(UTC)
CỏThơm  
#2094 Posted : Tuesday, August 28, 2018 4:56:15 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 168
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 135 times
Was thanked: 97 time(s) in 71 post(s)



UserPostedImage



d ấ u


Dấu hết đam mê, dấu nhớ nhung
Dấu bao ưu ái sâu kín lòng
Dấu đi mắt buồn thôi vương lệ
Dấu để mưa thôi nát tim hồng.

Chỉ là một thoáng người ngẩn ngơ
Chỉ là một thoáng ta hững hờ
Chỉ là một thoáng chừng hư ảo
Một thoáng nhẹ thôi, dệt vẩn vơ.

Bắt đền ai đó, đền giấc mơ
Ngỏ chi chừ bỗng kết vần thơ
Hồ như thoáng gợn, hồ như đã
Cớ sao, ơ nhỉ, cớ sao chờ.



t ị n h l i ê n




UserPostedImage
Hạ Vi  
#2095 Posted : Wednesday, September 5, 2018 5:36:36 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,511
Location: CỏThơm

Thanks: 4235 times
Was thanked: 10657 time(s) in 2611 post(s)



UserPostedImage


SẦU

Em đi,
vương lại chữ
Sầu,
Đánh rơi dưới gót chân,
mầu cánh sen.

Tình cờ.
Tôi nhặt được xem,
hóa ra chữ
Nhớ
trên đường bỏ quên…

Thôi thì...
ép vở cánh sen.
mai sau khô quắt.
cho nên lệ
Sầu.



Không Quán




UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (4)
105 Pages«<103104105
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.