Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

106 Pages«<104105106
Options
View
Go to last post Go to first unread
Duy An  
#2101 Posted : Sunday, July 23, 2017 2:48:34 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,249

Thanks: 208 times
Was thanked: 692 time(s) in 504 post(s)

Sài Gòn nhớ


Trang Nguyên

Là người Sài Gòn, người ta thường nhớ gì ở Sài Gòn nhất? Một khoảng lặng trôi qua. Có lẽ sự hồi tưởng đang trở lại trong đầu những người bạn nay tóc ngả hai màu. Có người nhớ tiếng rao trên đường phố, nhớ tiếng ồn ào trong khu xóm lao động, nhớ cảnh nhộn nhịp Sài Gòn dịp Tết những ngày còn thơ, nhớ những cuộc tình lang thang dưới vòm me xanh lá trên con đường Duy Tân đầy bóng mát, nhớ nhiều thứ lắm… Nỗi nhớ ùa về như cơn gió thoảng rồi qua. Nhưng với tôi những con đường góc phố Sài Gòn vẫn còn đọng lại mãi mãi.


UserPostedImage

Đường Lê Lợi ở Sài Gòn năm 1965 Ảnh: Larsdh


Ðầu tiên tôi nhớ góc bùng binh Quách Thị Trang, nơi lần đầu tuổi nhỏ được ba tôi dẫn đi ngao du thành phố Sài Gòn. Quách Thị Trang là ai, biết để làm gì. Cái chợ Bến Thành treo đầy biển quảng cáo hình kem đánh răng anh Bảy Chà Hynos và Perlon kín chợ chẳng có gì đẹp. Chợ cũng chẳng làm tôi nhớ, bởi đi chơi Sài Gòn nhưng ba tôi chẳng ghé vào ăn. Ði chơi khơi khơi, mỏi chân ngồi nghỉ trên băng ghế xi măng giữa công viên thưa thớt cây xanh và chung quanh trang trí vài bồn hoa sặc sỡ. Ngồi đây nhìn ngắm phố phường Sài Gòn bốn phương tám hướng. Nhìn dòng xe xuôi ngược, những dòng người tay xách nách mang hành lý băng qua cầu thang sắt ngang đường đến ga xe lửa về quê, những người buôn thúng bán bưng ngồi chật phía ngoài cửa chợ cất cao tiếng rao mời khách, những đứa trẻ đành giày, bán báo dạo lăng xăng đánh bóng mấy đôi giày “botte de sault” của mấy anh lính Mỹ.

Tôi may mắn hơn mấy đứa trẻ cùng trang lứa đó. Và tôi cố tìm trong những đứa đánh giày xách thùng đi trong công viên trước chợ một hình dáng thân quen. Tự nhiên lúc đó tôi nhớ thằng Hên người bạn nhỏ nhà xóm bên mới học lớp ba đành bỏ học đi bụi đời. Chừng tuổi ấy ra đời có thể làm gì kiếm sống? Hoàn cảnh gia đình nó không đến nỗi tan hoang khi tự dưng ba nó bỏ nhà theo vợ bé, má nó cũng không vừa bỏ mặc đám con sống chết tự lo đi buôn chuyến xe hàng dài ngày, cả tháng mới về nhà năm ba bữa. Rồi tôi nghe hàng xóm nói thằng Hên bỏ nhà ra đi, mới tí tuổi đầu mà lá gan to bằng người lớn. Thỉnh thoảng tôi ghé ngang dò la tin tức nhưng lúc nào cửa nhà cũng đóng im lìm.


UserPostedImage


Con đường Duy Tân cây dài bóng mát – Ảnh: Manhhaiflick


Thế là tôi mất một thằng bạn nhỏ chơi bắn bi, nó sống ở đầu đường xó chợ khiến lòng tôi ngậm ngùi, chợt nhớ đến bài hát “Nó” văng vẳng đâu đây. “Thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ. Tuổi ấu thơ đã mang nhiều âu lo. Ngày nó sống kiếp lang thang. Ngẩn ngơ như chim xa đàn, Nghĩ mình tủi thân muôn vàn”.

Hồi nhỏ tôi không thích bài hát này, nghe như nỗi đau quất vào da thịt một đứa nhỏ nhưng sau này hiểu ra chút ít. Thời buổi đó, trẻ con mồ côi mất cha mất mẹ vì chiến tranh bom đạn, vô gia đình vì muôn vàn lý do đều có thể đẩy đứa trẻ ra ngoài đường phố. Lòng cảm thương cho thân phận nhỏ bé lặn hụp trong cuộc đời mà ông nhạc sĩ Anh Bằng viết nên lời nhạc buồn đó chăng. Xem ra thằng có cái tên Hên mà chẳng may chút nào.

Lớn lên chút xíu, tôi biết la cà trên đường phố sau những buổi tan học cuốc bộ về nhà. Trường tôi nằm ở quận 3, nên con đường Bà Huyện Thanh Quan bán đầy bò bía, chè đậu xanh đậu đỏ, là một địa điểm hấp dẫn giới học trò chúng tôi. Nhưng với tôi, con đường Trương Ðịnh cắt ngang gần đấy rất đỗi nên thơ, nhất là đoạn giữa gần trường Nguyễn Thị Minh Khai (Gia Long ngày trước) ra Công viên Tao Ðàn. Một con phố bình yên và rất lặng lẽ với những hàng dầu hàng sao rợp bóng.

Những hàng cây cao bóng mát này lại là ký ức đẹp, tôi mang hình ảnh đó vào bài tạp văn “Những hàng cây thị xã” trong một lần về thị xã Trà Vinh.

Mỗi khi có dịp đi qua tỉnh nào đó, tôi hay hỏi người bản xứ về cảnh đẹp địa phương. Hôm đến Trà Vinh, người đầu tiên tôi hỏi là chị chủ nhân khách sạn chỗ tôi trọ. Ðã gần nửa thế kỷ sống ở đất Trà Vinh, chị bảo trong thị xã không có cảnh gì đẹp ngoại trừ những ngôi chùa Tàu, chùa Việt và đặc biệt là chùa Khmer cổ kính.

Hôm sau, trên đường đến Trường Ðại học Trà Vinh, tôi hỏi một cô gái tuổi mười chín, đôi mươi. Sau vài phút do dự, cô cho tôi một câu trả lời thật bất ngờ: Những con đường rợp bóng cây xanh ở thị xã…

Ðúng vậy đó. Chiều dần buông, đứng ngoài ban công khách sạn nhìn về góc xanh thị xã thấy rõ những vạt nắng vàng vương trên tàn me làm những vòm lá trông thật mơ màng. Hình ảnh ấy đã quyến rũ tôi rời khách sạn thả bộ về hướng đó. Từ con đường Hàng Ðiệp bông trổ lấm tấm vàng, qua Hàng Sao cao vút đứng lặng thinh, bước lại Hàng Dầu um tùm lá chen lẫn màu hoa dầu hồng non ưng ửng. Dầu là loại cây rừng cho gỗ, thân có nhựa dùng để trét ghe rất tốt nên người ta cũng gọi là dầu rái, có người gọi là dầu dù. Trái dầu có hai cánh lá, nhưng nói là cánh hoa đúng hơn. Lúc còn non, chúng có màu hồng pha màu cà phê sữa, hạt lộ ở cuống hoa. Hạt non màu xanh có khía giống như hạt xí muội. Ðến cuối tháng Bảy thì trái dầu già khô lại. Trái cùng hai cánh hoa ngả sang màu nâu đất sét. Chỉ cần một chiều lộng gió, những cánh hoa già rơi khỏi cành mẹ bung ra như cơn mưa dù, xoay tít bay bay trong không trung mang theo chiếc hạt, nhẹ nhàng đáp xuống mặt đất. Hình ảnh đó trông thật thích mắt và luôn để lại ấn tượng cho nhiều người. Chẳng thế, hình ảnh cánh hoa dầu bay trong gió đã vào thơ vào nhạc:

Cánh hoa dầu xoay tít bay bay
Nhớ chiều nào, bên em từng giờ…


UserPostedImage


Nét đẹp bình dị của một hẻm thông từ đường Hàm Nghi ra đường Nguyễn Huệ tại Sài Gòn – Ảnh: Mike Gilmore


Dù chưa có được cái cảm giác hạnh phúc bên em như nhạc sĩ Giáp Văn Thạch nhưng những “cánh hoa dầu xoay tít bay bay” ấy bay mãi trong ký ức tuổi học trò của tôi. Tôi biết được điều này là nhờ có lần được ba tôi dẫn đi Chợ Cũ Sài Gòn ăn phở. Từ nhà, hai cha con đi bằng xe ngựa, rồi lội bộ dọc theo đường Hồng Thập Tự vào vườn Tao Ðàn. Vườn Tao Ðàn ngày ấy rất vắng người, chỉ toàn cây dầu cao tít và tàn lá che mát cả một vùng rộng lớn. Ba đi trước, tôi theo sau, giẫm chân lên những chiếc lá khô xào xạc giống như những nhà thám hiểm trong một cánh rừng già. Bỗng ba tôi cúi xuống nhặt những trái có hai cọng lá khô, hỏi tôi có biết trái gì không, rồi ba tôi bảo quăng chúng lên trời. Kể từ sau đó, những trái dầu dù theo tôi đến lớp cùng chúng bạn thả từ lầu ba xuống chào đón ngày khai giảng năm học mới, khi những cánh phượng hồng đã rời xa mùa hạ. Những cánh hoa dầu bay bay không mất tiền mua của lũ nam sinh chúng tôi đã làm bọn con gái học trò thích mê…

Tất nhiên nỗi nhớ nơi mảnh đất mình sinh ra và lớn lên của mỗi người đều rất nhiều và mỗi người có quyền lựa chọn những hình ảnh ký ức đẹp đẽ nhất. Cái đẹp làm tâm hồn lắng đọng cho ta khoảnh khắc bình yên giữa nhịp sống hối hả xôn xao của chốn thị thành. Có người chẳng thèm nhớ con hẻm nhỏ ngày xưa nơi sinh ra và lớn lên như anh bạn của tôi. Anh bảo ghét lắm cái xóm lao động đã nghèo mà còn hay sanh sự, đánh lộn nhau hà rầm. Người bên ngoài nghe đi vào xóm Miếu Nổi là sợ bọn lưu manh. Anh thích những con hẻm ngoài phố trung tâm bên hông đường Hàm Nghi hay các con hẻm của người Tàu Chợ Lớn trên đường Trần Hưng Ðạo, Ðồng Khánh. Những con hẻm đó bình dị và hiền lành khác xa hẻm lao động xô bồ xô bộn.

Thế nhưng khi nghe tôi hỏi chuyện xóm nhỏ Miếu Nổi ngày xưa thì anh kể ngàn chuyện lẻ một không hết. Anh nhớ từ góc phố con hẻm xưa với một tâm hồn trẻ trung và rộng lượng. Dường như anh yêu mảnh đất mình “ghét bỏ” hơn bao giờ. Bởi vì khi cái gì mất đi hay xa rồi mới làm lòng ta hồi tưởng và càng yêu mến hơn. Chẳng thế mà nhà thơ Chế Lan Viên từng viết: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn”.

Edited by user Sunday, July 23, 2017 2:49:57 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
CỏThơm on 8/3/2017(UTC)
CỏThơm  
#2102 Posted : Thursday, August 3, 2017 4:04:05 AM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 172
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 135 times
Was thanked: 97 time(s) in 71 post(s)



(Hình ảnh Sài Gòn xưa)

Chờ người - Tình bơ vơ (Lam Phương)






UserPostedImage
phamlang  
#2103 Posted : Tuesday, September 12, 2017 3:53:38 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,534

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1043 time(s) in 671 post(s)
UserPostedImage


Chuyện người giàu thứ hai Sài Gòn thuở ấy




Tổng đốc Phương (1841-1914) tên thật Đỗ Hữu Phương, từng được xem là tỷ phú giàu thứ hai tại Sài Gòn trong tứ đại phú “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Trạch”.

Ở quận 3, phía sau Bệnh viện Saint Paul có một ngôi từ đường cổ hơn 100 tuổi. Người ta gọi là Đỗ Hữu Từ đường, là nơi thờ tự dòng họ Đỗ Hữu, còn gọi là đền Tổng đốc Phương nhưng người dân từ xưa quen gọi là đền Bà Lớn, vì cũng là nơi thờ người vợ của Tổng đốc Phương, do bà vốn có nhiều công đức với dân chúng quanh vùng.

Không tạo ân oán

Biết tiếng Hán và tiếng Pháp nhưng Đỗ Hữu Phương lại rất chuộng văn hóa Pháp nên tìm cách ra làm việc với Pháp. Sau khi chiếm được thành Chí Hòa năm 1861, Pháp mở cửa thương mại và mở rộng mối quan hệ với người Hoa trong vùng để phát triển buôn bán. Ông Phương nhờ người quen giới thiệu với tham biện hạt Chợ Lớn lúc này là Đại úy Francis Garnier và được Garnier tuyển dụng. Đến năm 25 tuổi được phong làm hộ trưởng ở Chợ Lớn.

Dù làm việc cho Pháp nhưng chủ trương của ông Phương là không gây thù chuốc oán, cho nên ngay cả trong trường hợp không dụ hàng được mà phải đưa quân đánh dẹp, sau đó Đỗ Hữu Phương lại đứng ra che chở và xin chính phủ Pháp ân xá cho những người Việt tham gia khởi nghĩa.

Trong tài liệu của Pháp mang ký hiệu SL. 312 ở Cục Lưu trữ Nhà nước II, có đoạn khen ngợi Đỗ Hữu Phương: “Ông ta cố gắng tránh đổ máu trong lúc dập tắt nhiều cuộc nổi loạn gần đây. Ông ta đã xin chính phủ Pháp ân xá cho một số đông những đồng bào của ông đã cầm vũ khí chống lại chúng ta…”.

Nhờ cách hành xử như vậy cho nên dù bị ghét vì theo Pháp nhưng nhiều người vẫn cho rằng Đỗ Hữu Phương là người hiền đức.

Câu chuyện lạ lùng về tình bạn

Nguyễn Hữu Huân đỗ đầu thi hương năm Nhâm Tý nên được gọi là Thủ Khoa Huân. Ông vốn là bạn thân với Đỗ Hữu Phương từ nhỏ. Sau này lớn lên hai người hai ngả đường. Năm 1864, Nguyễn Hữu Huân bị bắt ở An Giang, Pháp xử án 10 năm tù, đày sang Guyan rồi Cayenne – là thuộc địa của Pháp ở Nam Mỹ.

Sau khi ông thọ án năm năm, Đỗ Hữu Phương đứng ra bảo lãnh để xin chính phủ Pháp ân xá cho Thủ Khoa Huân. Ngoài ra ông Phương xin đưa Thủ Khoa Huân về an trí ngay ở nhà của mình và phục chức giáo thụ là chức cũ trước đây để dạy học cho sinh đồ ở vùng Chợ Lớn.

Lợi dụng việc cho dạy học, Thủ Khoa Huân bí mật liên lạc với nhiều sĩ phu yêu nước và hội kín của Hoa kiều để mua vũ khí chuẩn bị khởi nghĩa. Thủ Khoa Huân bỏ trốn khỏi nhà Đỗ Hữu Phương rút về Mỹ Tho cùng với Âu Dương Lân để hội quân khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa lần thứ ba này được rất nhiều nông dân và địa chủ ủng hộ nên thanh thế rất mạnh.

Phải hai năm sau, Pháp đưa quân bất ngờ tấn công thẳng vào căn cứ Bình Cách mới đánh dẹp được. Thủ Khoa Huân chạy thoát nhưng sang năm khi đi huy động quân binh khởi nghĩa thì bị Pháp phục kích bắt. Sau khi bị giam ở Mỹ Tho và được Tỉnh trưởng Gailland chiêu dụ hàng nhưng Thủ Khoa Huân vẫn từ chối, Pháp quyết định xử tử ông.

Vươn lên ngôi thứ hai của tứ đại phú


Trong quá trình làm việc, Đỗ Hữu Phương được thăng làm đốc phủ sứ Vĩnh Long, tổng đốc danh dự, rồi làm phụ tá Xã Tây Chợ Lớn, dân gian quen gọi là Tổng đốc Phương. Đây là chức vụ không quá lớn nhưng thiên hạ đồn rằng chức vụ này giúp ông Phương trở thành trung gian cho các thương gia Hoa kiều hối lộ viên chức Pháp, nhờ vậy thu rất nhiều tiền của trong các phi vụ làm ăn này.

Tuy nhiên, nguồn tin khác cho rằng nhờ giao thiệp rộng, lại nhanh nhạy với việc làm ăn buôn bán nên ông Phương đã gầy dựng, mở mang các mối làm ăn thông qua các chuỗi cửa hiệu trong vùng Chợ Lớn.

Ông Phương có người vợ họ Trần (không rõ tên) là con của một viên tri phủ miền Trung. Bà là người rất giỏi giang trong việc quán xuyến nhà cửa và buôn bán. Nhà có hơn 2.000 mẫu ruộng do Toàn quyền Doumer cho khẩn trưng ruộng đất, bà vợ không chỉ lo việc cai quản, thu hoa lợi từ ruộng đất mà còn điều hành hệ thống buôn bán, phân phối hàng hóa cả ngàn cửa hiệu trong vùng. Hai vợ chồng “song kiếm hợp bích”, chồng ngoại giao mở mang, vợ tề gia, tiền đẻ ra tiền, đến mức thiên hạ đồn gia đình có gia nhân chuyên cho việc đếm tiền vì tiền thu vào nhiều quá, bà vợ không thể đếm xuể.

Nhớ đến nguồn gốc Minh Hương của mình, Đỗ Hữu Phương đã xây dựng nên Nghĩa Nhuận hội quán trên đường Gò Công. Ông Phương cũng đã bỏ tiền xây dựng Trường Collège de Jeunes Filles Indigènes tức Trường nữ Trung học Sài Gòn, sau này gọi là Trường Áo Tím, Gia Long.

Ngoài ra ông ta cũng bỏ nhiều tiền tu bổ rất nhiều chùa chiền miếu mạo quanh vùng nên được dân chúng ghi công. Dọc theo kinh Chợ Lớn có một cây cầu gọi là cầu Ông Lớn. Ông Lớn đây chính là Đỗ Hữu Phương, theo lý giải của nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển. Hồi đó người dân không gọi bằng tên thật. Cũng như sau này ngôi từ đường thờ người vợ rồi trở thành từ đường của dòng họ, được gọi là đền Bà Lớn.

Phong lưu cuối đời

Danh vọng và tiền bạc đều có đủ, Đỗ Hữu Phương sống phong lưu, thụ hưởng. Ông nhiều lần sang Pháp du ngoạn, đi thăm thú thủ đô nhiều nước châu Âu và đi vòng quanh thế giới. Trong danh sách các hành khách đi tàu Anadyr từ Sài Gòn đến Marseille ngày 29-4-1889 có tên ông cùng với hai người con. Điều này chứng tỏ ông tham dự Hội chợ kỷ niệm 100 năm cách mạng Pháp và sau này góp phần tổ chức khu triển lãm Đông Dương ở Hội chợ quốc tế Paris năm 1900.

Đỗ Hữu Phương sống trong một tòa nhà được xem là to nhất nhì Sài Gòn, nằm trên bờ kênh Xếp (sau này lấp thành đường gọi là đường Tổng đốc Phương). Bề ngoài nhà kiểu Tây nhưng bên trong nội thất theo kiểu Việt và Trung Hoa.

Bá tước Pierre Barthélemy kể lại khi được viếng thăm: “Nhà ông là một sự pha trộn lạ kỳ giữa Âu và Á. Sân trong thiết kế theo kiểu Trung Hoa, chung quanh sân là các phòng kiểu An Nam mà một phòng salon ở tận trong rất đáng chú ý. Đối diện với salon này là một biệt thự kiểu Âu. Bàn thờ trong phòng salon An Nam này là một công trình tuyệt diệu nổi tiếng, bàn thờ được cẩn xà cừ. Những cột nhà làm bằng gỗ teck rất quý, trụ mái nhà của phòng salon này trông rất thanh tao và trên một bàn làm bằng gỗ quý là những chai rượu absinthe, amer Picon và những sản phẩm của Pháp khác. Ông Phủ thích đãi khách các đồ ăn đặc biệt và ông ta cũng biết thưởng thức các loại rượu của chúng ta. Nếu phải diễn tả hết tất cả sự giàu sang của nội thất An Nam này thì phải viết rất nhiều trang giấy…”.

Bá tước Pierre Barthélemy cũng kể về bữa ăn đặc biệt với những món ăn Tây, Việt và Trung Hoa, trong đó ông được đãi món đuông dừa vô cùng ấn tượng.

Đỗ Hữu Phương còn được biết đến như một người giao thiệp rộng, hiếu khách, hào phóng và sành điệu mà chính Toàn quyền Paul Doumer cũng phải kể lại trong hồi ký về Đông Dương: “Ông Phủ ở Chợ Lớn tiếp khách người Âu trong nhà ông, mời uống rượu Champagne và bánh petits beurres de Nantes, cho khách xem một vài sản phẩm đặc thù lạ kỳ của người An Nam và tổ chức theo sự đòi hỏi, ước muốn của khách, xem một tuồng hát của người bản xứ (hát bội)…”.

Trong nhà mình, ông Phương có xây cả một rạp hát bội nhỏ để chiêu đãi khách khứa. Ông thường đến nhà hàng, khách sạn Continental ở Sài Gòn và Café de la Paix, nơi gặp gỡ của các bạn bè Pháp-Việt thượng lưu trí thức để giao lưu.

Sau khi vợ chồng ông Phương mất, căn nhà được con cháu bán lại cho Hoa kiều, do vị trí đắc địa tại trung tâm Chợ Lớn. Họ đã phá bỏ tất cả để xây thành cửa hiệu và rạp hát. Nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển đã tả lại trong cuốn Sài Gòn năm xưa:

“Ngôi nhà nầy nay đã dỡ, đất thì bán cho khách Tàu xây nhà chọc trời làm tửu quán, cao lầu và rạp ciné. Chỉ chừa một khuỷnh để làm nơi thờ phượng. Mấy chục năm về trước, cờ bạc còn thạnh hành, vua đổ bác, “Thầy Sáu Ngọ” nhiều tiền, mướn đấy làm chỗ hốt me ăn thua ức vạn. Nghĩ cho con cháu rân rát, đỗ đạt thành danh, mà từ đường chứa đầy tiếng thô tục, nước bọt và đờm xanh, có phải chăng là căn quả?”.

(Theo VNN)

Edited by user Tuesday, September 12, 2017 3:54:33 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 1/18/2018(UTC)
Hạ Vi  
#2104 Posted : Saturday, October 14, 2017 7:57:18 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,523
Location: CỏThơm

Thanks: 4243 times
Was thanked: 10672 time(s) in 2618 post(s)


UserPostedImage



UserPostedImage
Duy An  
#2105 Posted : Sunday, November 12, 2017 6:55:31 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,249

Thanks: 208 times
Was thanked: 692 time(s) in 504 post(s)
Những chiếc buýt màu vàng của Sài Gòn xưa


Tim Nguyễn


Ơ, tại sao hôm nay mình lại viết về những chiếc xe buýt ấy nhỉ? Nguyễn đã tự hỏi như thế khi gõ những chữ đầu tiên cho bài viết. Có phải gần đây mình đã đọc nhiều bài viết về Sài Gòn trên những trang net. Sài Gòn: Chuyện đời của phố. Sài Gòn xưa. Sài Gòn trong tôi… Nhiều lắm. Và chính mình cũng hơn một lần viết về quán cơm Anh Vũ, phòng trà Sài Gòn, tiếng hát Thanh Thúy. Vậy thì Những chiếc buýt của Sài Gòn xưa cũng chỉ là thêm một nét vào bức bích họa hoành tráng của Sài Gòn.

Nói về những chiếc buýt Sài Gòn, một người ký tên là NHA đã viết: “Những chuyến xe buýt ngày ấy mãi là ký ức đẹp. Những chuyến xe ấy đã đi về đâu – không rõ, chỉ biết -nó chở theo một thời sinh viên nhiều kỷ niệm.” Mình cũng có nhiều kỷ niệm về những chiếc buýt Sài Gòn thân thương. Này nhé…


UserPostedImage
nguồn: hinhanhvietnam.com



Những năm còn là sinh viên trường Luật ở Sài Gòn, lòng chưa yêu ai, chỉ mơ màng theo một cô gặp trên chuyến xe buýt từ nhà thờ Tân Ðịnh về tới ngã tư Phú Nhuận. Hồi đó Nguyễn tôi nghèo lắm, ở nhờ nhà chú thím trong xóm Nguyễn Ngọc Sương, đâu có xe cộ gì, đi học bằng xe buýt. Do đó mà gặp được người đẹp. Nàng lớn hơn tui cỡ một hai tuổi. Ðẹp ơi là đẹp. Tóc dài, mắt nâu lóng lánh, miệng như hoa hồng. Còn Nguyễn tui, trời ơi, chỉ là một thư sinh, mặt mày xanh lướt. Mỗi chiều, khoảng 5 giờ ở trường ra đón xe buýt về Phú Nhuận là gặp nàng trên xe. Hôm nào không gặp được là ngẩn ngơ buồn. Rồi đi lang thang qua những con phố không đèn để tìm một vầng trăng (?). Hạnh phúc đó rồi buồn khổ đó. Những hôm xe buýt chật, hai người được đứng sát nhau. Ôi, phê ơi là phê. Mùi tóc, mùi hương phấn da người đủ ngây ngất cho đêm về làm thơ. Ui, những chuyến xe buýt của thời xa xưa ấy sao mà êm đềm thơ mộng thế. Qua nhiều lần gặp nhau trên xe, nàng bắt đầu chú ý tới mình, mắt chớp chớp mỗi khi nhìn nhau.

Thiệt đó, đúng như nàng Lâm Phi Anh (Lê Uyên) và ông Lộc trong bài hát: Vì trót yêu anh áo vai gầy không nỡ để quên mùa xuân, mùa xuân ái ân!…Và rồi cũng biết tên nàng là Hiền, làm ở bưu điện Sài Gòn. Có hôm len lén xuống xe theo Hiền vào trong ngõ xóm. Nàng đi tui theo sau/ tui không dám đi mau (thơ Nguyễn Nhược Pháp?) Thiệt là thơ mộng, phải đi qua cây cầu bắc ngang ao rau muống mới tới nhà nàng. Nhà thường thôi nhưng bởi có Hiền trong đó nên mình xem là thiên đường để đêm đêm học bài chưa xong cũng đi ngang qua tìm vầng trăng. Kết quả của những cơn mơ mộng và biếng nhác tụng cours là mình rớt ở năm thứ hai Luật, phải theo bạn về Mỹ Tho dạy học kiếm cơm. Một cuối tuần từ Mỹ Tho theo xe đò Minh Trung về vội vã tới nhà Hiền thì thấy nhà giăng đèn kết hoa đề hai chữ Vu Quy và Hiền thì mặc áo cô dâu đầu đội vương miện rực rỡ như Dương Quý Phi (nhưng không béo mập bằng). Thôi, thế là thôi, đêm đêm mình lại đi lang thang qua phố mùa đông và hát một mình: Thuở đó có em anh chưa từng buồn / chưa đi lang thang ngoài đường phố đêm khuya… (Thuở Ðó Có Em. Huỳnh Anh).

Chuyện tình mùa đông thật lãng xẹt vậy mà khi bị động viên vào quân trường mình viết thành truyện ngắn, dặm thêm mắm muối và phịa thêm là sau khi thất tình Nguyễn đã tình nguyện vào lính để tìm quên trong khói lửa. Truyện được đăng trên Nguyệt San Thủ Ðức chớ bộ! Một bạn còn rất trẻ dáng bặm trợn cùng khóa tên Ðức đọc xong khen nức nở sao giống chuyện tình và chuyện đời em thế!

UserPostedImage

Bến xe đường Petrus Ký – nguồn: maivantran.com


Ui chao. Những chuyến buýt của thời trẻ, làm sao mà quên được! Ngoài ra còn những chuyến xe đêm với Ðinh Cường. Ơi, Ðinh Cường ơi, toa ở nơi mô để nghe moa kể lại. Dạo ấy mới chân ướt chân ráo từ Huế vào Sài Gòn đâu có quen biết ai ngoài Ðinh Cường. Ấy là bạn văn bạn thơ hồi viết trên Ðời Mới khoảng trước sau 1954. Vào Sài Gòn là mình đi tìm Cường. Và hai đứa đánh đu nhau miết. Hồi ấy, Ðinh Cường làm thơ, chưa vẽ nhiều, chưa vào trường Họa. Biết bao nhiêu chuyện để kể lại. Ở đây chỉ gói gọn trong chuyến xe buýt đêm cùng rong ruổi với Cường ngày nào. Thời tóc còn xanh ấy hai đứa thuộc nằm lòng mấy câu thơ của Xuân Diệu “Tôi nhớ Rimbaud và Verlaine / Hai chàng thi sĩ choáng hơi men / Say thơ xa lạ mê tình bạn / Khinh rẻ khuôn mòn bỏ lối quen…” Chỉ là yêu thơ và rong chơi với nhau thôi đấy nhé chứ không gay ghiếc gì ráo trọi. Mặc dầu Cường có nói với tui: Nếu là con gái, tui yêu anh ngay. Vào thời gian rảnh rỗi sau kỳ thi ở trường Luật mình tới Ð.Cường chơi. Cường đề nghị đêm nay hai đứa lên xe buýt đi vòng vòng quanh Sài Gòn-Chợ Lớn chơi. Nghe cũng hợp với tính ưa giang hồ vặt, mình bèn đồng ý. Thế là sau khi ăn tối xong và làm thêm chầu cà phê cho tỉnh táo, Ðinh Cường và mình bước lên một chiếc buýt ở bùng binh Sài Gòn chờ xe lăn bánh. Buổi tối mà xe cũng đông khách gồm những người lao động đi làm đêm hay đang trên đường trở về nhà sau khi tan ca.

Thế rồi xe nổ máy chạy vào khu Chợ Lớn sáng trưng đèn. Hai đứa nhìn thiên hạ lên xuống xe cũng vui mắt. Tới trạm đổi xe, trong lúc ngồi chờ thì nói chuyện tình ái và thơ văn. Ðủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Sau nhiều vòng, qua những khúc đường bắt đầu vắng người, nhìn thiên hạ vạ vật ngáp lên ngáp xuống, cả hai không còn thấy hứng thú như lúc đầu. Ðêm vào khuya, bèn bàn nhau tìm chỗ ngủ chờ sáng. Tới trạm chỗ gần ga xe lửa Sài Gòn, hai đứa xuống xe đi tìm khách sạn. Lúc này phố hầu như không còn ai, mọi cửa tiệm đều đã đóng cửa. May thay, cũng trên con đường Lê Lai, có một cái hotel còn sáng đèn. Hai đứa bèn bước vào, người quản lý đang ngủ gà ngủ gật, tỉnh dậy tiếp. Khách sạn thuộc loại rẻ tiền, phòng rất nhỏ nhưng có còn hơn không.

Hai đứa bước vào phòng. Nhìn đồng hồ đã hơn 2 giờ rưỡi sáng. Buồn ngủ lắm rồi, hai đứa bước lên giường chờ qua đêm. Chợp mắt được chừng hơn nửa tiếng thì bật dậy, gãi cùng mình. Rệp. Trời ơi, rệp. Rồi bò trên nệm như rắc đậu. Hãi quá. Thôi, trả phòng đi tiếp thôi. Lại ra đường, lang thang đón xe buýt đi cho tới mờ sáng thì ai về nhà nấy. Thật chẳng thơ mộng chút nào nhưng cả hai nhớ mãi cuộc lãng du xe buýt của kiếp bohemien. Nó vẫn có vẻ đẹp riêng của kiếp người.

Những chiếc xe buýt vàng ngày ấy… Xin được kết thúc bài bằng một đoạn viết của NHA nhắc ở trên: “Những chuyến buýt ngày xưa… Xe đầy anh đứng nhường em / Thoảng bay hương tóc nghe thèm ước mơ. Sinh viên Sài Gòn trong thập niên 1960-1970 đã sống qua một thời vô cùng sôi động nhưng cũng không kém phần lãng mạn. Có thật nhiều kỷ niệm sâu sắc để chúng tôi, nhóm bạn cùng thời ấy nay liên lạc nhau bằng điện thư, phải nói “Một thời để yêu và một thời để nhớ” mỗi khi nhắc nhở Sài Gòn.”
UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 1/18/2018(UTC)
Hạ Vi  
#2106 Posted : Thursday, January 18, 2018 5:36:54 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,523
Location: CỏThơm

Thanks: 4243 times
Was thanked: 10672 time(s) in 2618 post(s)

Sưu tầm tranh vẽ của Hoạ Sĩ ViVi (Võ Hùng Kiệt)


Võ Hùng Kiệt, họa sĩ năm 13 tuổi

...Những bậc phụ huynh tại Việt Nam vào thập niên 60 nếu thường mua báo Tuổi Xanh, Tuổi Hoa về cho con gái là bắt đầu làm quen với nét vẽ của ViVi. Lúc đó ít người biết về anh chàng họa sĩ của phòng 7, bộ Tổng Tham Mưu, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa với tên Võ Hùng Kiệt.

Thực ra cho đến nay, tìm trong internet (http://www.hoasivietnam.com) mới biết ViVi là chữ tắt của Việt Nam và Vĩnh Long. Gia đình chúng tôi có các cháu học trường Trần Quý Cáp do cụ Bùi Văn Bảo làm hiệu trưởng. Mẹ của các cháu là Hội trưởng hội phụ huynh học sinh nên được cụ Bảo tặng cho các số báo Tuổi Hoa và Tuổi Xanh do cụ phát hành với sự cộng tác của họa sĩ ViVi lúc đó còn rất trẻ. Nét vẽ hồn nhiên, đôn hậu, đầy nữ tính của ViVi, đã tràn ngập trên trang sách của tuổi học trò. Những cô nữ sinh bé nhỏ, ngày nay đã trở thành các bà mẹ Việt Nam ở tuổi 50.

Trong lúc Việt Nam khói lửa và chiến tranh tang tóc, thế giới hội họa của ViVi đem đến sự yên vui thanh bình cho tuổi thơ Việt Nam. Nét vẽ của ViVi phản ảnh sự tốt đẹp của con người. Dù vẽ cho thiếu niên hay vẽ cho người lớn, cho tôn giáo hay cho xã hội, nét họa của ViVi đơn giản và không có hận thù. Từ lúc còn là cậu bé 13 tuổi đam mê hội họa, vào học trong chủng viện cho đến khi trở thành sinh viên Cao Đẳng Mỹ Thuật, Võ Hùng Kiệt mãi mãi vẫn là họa sĩ của tuổi trẻ, của Việt Nam, và của quê mẹ Vĩnh Long.

Sau những năm phục vụ trong đơn vị tình báo, phòng 7 Tổng Tham Mưu, Võ Hùng Kiệt cũng vẫn mãi mãi là họa sĩ ViVi của miền sông nước Cửu Long. Một trong những thành tích hết sức quan trọng là ông đã tham dự hầu hết các kỳ thi vẽ tem Bưu chính Việt Nam và được giải thưởng đến 40 lần. Vẽ tem bưu chính là một đề tài hết sức cô đọng, đòi hỏi nhu cầu sáng tạo. Những bộ tranh bưu họa phản ánh nhiều sinh hoạt của chính quyền và xã hội. Ghi dấu các ngày lịch sử, nhân vật lịch sử bao gồm mọi lãnh vực chính trị, văn hóa, kỹ thuật. Mỗi con tem góp lại làm thành tập bưu họa ghi dấu nền văn minh của đất nước qua từng giai đoạn. Với bốn mươi tác phẩm đoạt giải vẽ tem bưu chính, quả thực là niềm hãnh diện chưa có họa sĩ nào đạt được....


Theo nguồn: https://thanhthuy.me/201...-long-giao-chi-san-jose/




UserPostedImage

UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage

UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage

UserPostedImage







UserPostedImage
Duy An  
#2107 Posted : Sunday, February 11, 2018 2:32:30 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,249

Thanks: 208 times
Was thanked: 692 time(s) in 504 post(s)

UserPostedImage
Quán Brodard đường Tự Do – Sài Gòn thập niên 60.

Nơi phố xưa anh về

Tim Nguyễn


Chỉ là tưởng tượng. Nhắc lại một câu đã viết năm nào: Làm sao về được khi bóng chúng còn trên tiền trường sân khấu.

Mà nơi phố xưa ấy là nơi đâu? Ở Sài Gòn, tất nhiên. Là con đường Tự Do (Catinat) từ bến Bạch Ðằng chạy lên tới Nhà Thờ Ðức Bà và Nhà Bưu Ðiện. Nguyễn cũng như bao chàng và nàng khác ở cái thời xa xưa ấy từng nhiều lần qua lại những nơi này. Phòng trà Mỹ Phụng nơi đã nghe hát Chiều xóa thành đô/thế nhân bàng hoàng/giọng hát lời ca ôi sao nhịp nhàng…* Rồi khách sạn Majestic nơi Thanh Tâm Tuyền thường ngồi uống cà phê… Passage Eden với những cửa hàng và rạp chiếu bóng. Phòng trà Tự Do như còn vang giọng ca Bạch Yến với Ðêm Ðông** và Xin Mặt Trời Ngủ Yên***. Mà nói tới con đường Catinat là phải nói tới những hàng me rợp bóng – nay còn không hở người cố cựu. Và Brodard. Và Givral và Khách sạn Continental. Nơi đây mình thường đón Dung đi taxi tới và rồi cùng nhau tay nắm tay dạo chơi phường phố. Nguyễn Ðình Toàn ngày ngày ngồi buồn trên căn gác ở Quận Cam bây giờ chắc không ngừng nghĩ tới cà phê La Pagode và một thời viết văn làm Nhạc Chủ Ðề. Ði nữa ta sẽ tới Nhà Thờ Ðức Bà và Bưu Ðiện Sài Gòn. Ðây là nơi quá quen thuộc với Nguyễn. Mình và Dung thỉnh thoảng ngồi ăn bò bía trước nhà thờ nhìn những chú bồ câu đáp xuống kiếm thức ăn. Bên kia đường trước Bưu Diện có một kiosque bán bánh, nay còn không.


UserPostedImage
Kiosque bán bánh trước bưu điện


Nhưng thôi, trí nhớ của mình không còn đủ sáng để thấy lại hết những hình ảnh của một thời. Xin dừng đây nhường lời cho Thụy Vi nói về Sài Gòn thuở ấy. Mình đọc Thụy Vi đã lâu đặc biệt chú ý tới Hầm Nắng nơi cô ngồi viết văn. Vừa qua lên Văn Chương Việt gặp lại Thụy Vi và những ký ức về Sài Gòn làm mình xúc động, xin ghi lại một hai đoạn sau đây:

“Tôi nhớ những con đường cụt có hai hàng cây phủ um bóng mát. Tôi nhớ những góc phố xưa. Tôi hy vọng người ta chưa xử tệ nó. Những con đường ngắn đủ để đi bộ. Những con đường ngắn châu đầu nhau nơi góc nhà thờ như câu thơ Haiku. Ðẹp. Vài chữ đã xuống dòng. Những con đường ngắn. Khi chân vừa mỏi, kịp để dừng lại trước bức tượng Ðức Bà bằng cẩm thạch trắng do nhà điêu khắc lừng danh G. Ciocchetti tạc tại Ý. Ðứng hồi lâu cho trái tim đập chậm lại vì nỗi choáng váng của một cơn vui bất ngờ. Tôi tiếp tục bước. Bước thật chậm. Bước một vòng. Cơn vui như càng huyên náo khi thấy từng viên gạch trần đỏ au của ngôi Thánh đường còn y nguyên. Thèm được ngồi xuống nơi bậc tam cấp tòa Bưu điện. Có khi ngồi đó nhìn người Sài Gòn loang loáng trước mắt. Hoặc để hy vọng bắt gặp lại mùi thơm của từng khuôn Pâté Chaud vàng ngậy năm nào nơi góc đường. Có khi chỉ ngồi là để ngồi. Có khi là để đợi. Ðợi một buổi chiều đi qua. Ðợi mặt trời nồng nàn đi qua, những vách tường màu gạch tôm cao ngất của khu Thánh đường sáng lên bỡ ngỡ. Và trời, trời như một ngày nào trẻ thơ cao vút mênh mông trên đầu tôi – như trang trải của mộng mơ và tình tự.

“Lòng tràn đầy những ý tưởng thất vọng do trở về muộn màng không kịp nhìn những nơi chốn thân yêu…Những quán cà phê của một thời SàiGòn không còn như La Pagode, quán cà phê Cái Chùa nằm trên góc chỗ ngã tư Lê Thánh Tôn và Tự Do. Nhớ Givral từng được đem vào tác phẩm văn học của Graham Greene – Givral cũng được xuất hiện trong trường đoạn của cuốn phim Người Mỹ Trầm Lặng cũng bị phá bỏ rồi. Nhớ Brodard bây giờ thay kiểu, đổi màu mất tên. Những nơi này đã ghi dấu nhiều nghệ sĩ lẫy lừng trong văn học, thi ca, họa sĩ, phim kịch, nghệ thuật cùng những nhân vật tai mắt trong chính trường, xã hội của Sài Gòn một dạo – Những nơi này lẽ ra phải được giữ gìn. Mặc dù tôi cũng biết Hoàng Gia. Quán Gió. Chiều Tím. Quán Văn. Thằng Bờm biến mất. Passage Eden có rạp ciné Eden 2 tầng lầu xưa nhất Sàigòn đang hấp hối, hay tan tành trong đống gạch vụn. Building Tax. Crystal Palace. Rex đã được tô phết. Trùng tu – Tôi không có cảm tình với hai chữ này – Với tôi, trong xã hội này nó vừa đồng nghĩa với hủy diệt, với xa lạ, với xót xa. Tất cả không còn là những mắt nhìn thân quen của tôi xưa. Của một thuở Trà Hoa Nữ, Love Story mộng mị….”

Còn nhiều, còn nhiều nữa. Sài Gòn, nơi chốn xưa… Làm sao thấy lại những bông sứ máu ngoài bến Bạch Ðằng. Ðâu, đâu rồi đàn chim én vẫn bay đầy trời chiều đường phố Sài Gòn như trong thơ Thanh Tâm Tuyền. Bao giờ có lại ly nước mía Viễn Ðông, ngồi ở vỉa hè Kim Sơn, đứng đọc sách báo trong nhà sách Khai Trí và Xuân Thu. Tất cả dường như đã thay đổi, chẳng còn gì. Nguyễn Xuân Hoàng sinh thời trong một lần về lại Sài Gòn đã không thấy lại dấu tích xưa. Không, chẳng còn gì. Nevermore…


UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 5/9/2018(UTC)
Duy An  
#2108 Posted : Wednesday, February 14, 2018 12:47:51 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,249

Thanks: 208 times
Was thanked: 692 time(s) in 504 post(s)
Câu chuyện báo Xuân

Nguyễn Sinh
February 13, 2018



Nhớ lúc còn sinh thời, nhà văn Sơn Nam (1926-2008) từng nói rằng “Báo Xuân chính là sáng kiến lý thú nhất của người Sài Gòn”. Lý do vì hầu như trên khắp thế giới này, không hề có nơi nào báo chí ra số đặc biệt Xuân, trừ Việt Nam ta. Ngay ở Việt Nam, xưa kia cũng chẳng có tờ báo nào “chơi” số đặc biệt như vậy, mà thường chỉ in đôi dòng “Cung chúc” cùng một ít bài vở có liên quan đến chuyện Tết nhất nhân dịp Xuân về. Mãi tới lúc đón Tết Canh Ngọ 1930, tuần báo Phụ Nữ Tân Văn ở Sài Gòn (lúc ấy do bà Nguyễn Ðức Nhuận làm chủ nhiệm và ông Ðào Trinh Nhất làm chủ bút) đã nảy ra sáng kiến thực hiện số báo đặc biệt Xuân, lập tức được độc giả hoan nghênh nhiệt liệt. Khi ấy tờ báo này đã đưa bài thơ có khá nhiều chữ Xuân được in thật đậm ra ngoài trang bìa một:

“Vui xuân vui khắp xa gần
Lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng.
Ðốt hương nguyện với xuân hoàng;
Sao cho nước cũ ngày càng thêm xuân?
Xuân tới xuân đi, xuân chẳng ở,
Có yêu xuân xin chớ phụ ngày xuân.
Chợ Dinh hoàn đương lúc chen chân
Chúc xuân mới quốc dân mau tiến bộ…”


UserPostedImage



Kể từ thời điểm đó trở về sau này, báo chí khắp trong Nam ngoài Bắc lần lượt noi theo, cứ hễ đến dịp gần Tết lại tập trung bài vở cho số Xuân. Thậm chí có tờ đã bắt đầu cho lên khuôn từ tháng 10 âm lịch cả hai số đặc biệt gồm số Tết Dương lịch và số Xuân trước khi in số tất niên! Có thể kể ra một số tờ báo tiêu biểu như Thành Chung, Tiếng Dội, Tin Ðiển, Phụ Nữ Diễn Ðàn, Phụ Nữ Ngày Mai, v.v… tổng cộng vào thời điểm những năm 1930 – 1940 có lúc xuất hiện trên các sạp báo khoảng hai mươi – ba mươi tờ báo Xuân như vậy!

Báo Xuân đúng là đặc biệt về mọi mặt: trình bày ấn loát rành mạch, rực rỡ, có tăng thêm trang, tăng thêm bài và dĩ nhiên cũng tăng thêm… giá bán. Nội dung gồm tổng kết tin tức nổi bật năm cũ, dự đoán tình hình năm mới, sớ Táo quân, thơ Xuân, câu đối, chuyện hoa quả và thực phẩm ngày Tết, tục lệ ăn Tết gần xa, phỏng vấn các vị chức sắc và văn nghệ sĩ, đặc biệt không thể bỏ quên mục “Năm nào chuyện ấy” ví dụ như năm Dậu nói rặt chuyện Gà, năm Ngọ nói rặt chuyện ngựa, năm Mùi nói rặt chuyện dê… Nói tới đây chợt nhớ về câu chuyện trên số báo xuân của năm Mùi phát hành vào thập niên 1930, khi ấy danh tiếng của tay Tổng đốc chuyên nịnh bợ bọn thực dân Tây Nguyễn Hữu Phương (tức Tổng đốc Phương) ảnh hưởng còn khá nặng nhưng một nhà báo đã kể lại một giai thoại độc đáo liên quan tới tay bồi Tây này, có liên quan tới con dê, chuyện như sau: Mùa xuân năm ấy quan Tổng đốc nhà ta vốn có thói quen lòn cúi, xu nịnh quan Tây bèn thuê mướn thợ quay lấy một con dê béo ú để mang đến làm quà đón giao thừa của quan và đích thân ông ta mang quà tới tận nhà dâng quan. Quan Tây nhìn con vật quay vàng nghệ bốc mùi thơm phưng phức nhưng không thể nhận ra đây là con gì nên thắc mắc hỏi. Viên Tổng đốc nịnh Tây khúm núm khi đứng trước quan Tây. Song vốn bản thân lão ta cũng không rành tiếng Tây, tiếng u, chỉ thuộc dạng “ba xí ba tú” nên lúc nghe quan Tây hỏi bèn quýnh quáng lên cũng không biết giới thiệu món quà là gì. Lúc ấy lão ta quên khuấy chữ “bouc” hay là “chèvre” để nhằm chỉ con dê hay con cừu nên lúng túng tả hình dáng của con vật bằng tiếng “Tây bồi”: “Lũy mêm xối xiêm, già na bắp, già na cót” (câu này đọc đúng theo tiếng Pháp là “Lui même chose chien, il y a parpe, il y a corne”) nghĩa là nó vừa giống như con chó nhưng có râu và có sừng. Tuy nhiên quan Tây vẫn hiểu nên tiến lại bắt tay gã Tổng đốc rồi khen lấy khen để. Nhờ vậy lão Tổng đốc chuyên bợ đỡ quan Tây đã được điểm về món quà “cái con giống con chó” ấy! Giai thoại này người viết đưa lên báo có ý mượn con vật cầm tinh của năm Mùi khi Tổng đốc Phương dùng làm quà tặng quan Tây mà ví nó như con chó, chẳng khác nào chửi tên quan Tây và cả tên Việt gian kia đều là chó. Một cách chửi thật cay độc mà có lẽ chỉ dân nhà báo mới biết chửi theo kiểu ấy mà thôi!



UserPostedImage


Như đã nói, mảnh đất Sài Gòn xưa cũng là nơi xuất hiện tờ báo Việt ngữ đầu tiên (tờ Gia Ðịnh Báo – năm 1865) đồng thời là nơi đi đầu thực hiện tờ báo Xuân, cho đến nay vẫn là trung tâm báo chí khá sôi động của cả nước. Có thể nói nơi đây báo chí đã trở thành một ngành thương mại. Cứ tới lúc năm tàn tháng tận là ngành thương mại này bắt đầu hoạt động với tốc độ và cường độ cực đại. Trước ngày những tờ báo Xuân được ấn hành, đi ra phố, nếu tình cờ nhìn thấy tay nào mặt mũi bơ phờ “đôi con mắt ố mấy lim dim” thì có thể “bói” ra đích thị anh này (hoặc cô này) là nhà báo, cam đoan đúng tới…70%!

Số lượng báo chí ở Sài Gòn vốn đã nhiều, gần Tết lại càng nhiều thêm. Cứ thử tìm tới các nhà in thì biết. Công nhân làm tăng giờ, tăng ca vẫn không xuể. Hàng loạt các tờ báo của những địa phương khác, nếu không thường xuyên thực hiện ở Sài Gòn, thì số đặc biệt Xuân thế nào cũng dồn về đây để in ấn, chí ít là cái trang bìa và mấy chục trang phụ trương quảng cáo, rồi phát hành. Mà thật ra dân Sài Gòn tiêu thụ báo Xuân phải nói là ở mức “có cỡ”. Thường nhật, mỗi người quen mua vài ba tờ báo hợp “gu”, sắp Tết liền chạy đi “vét” về nhà cả lô lốc báo Xuân. Dùng để so sánh, để làm quà hoặc để dùng chưng chơi, dành cho khách đến thăm viếng có cái để xem lúc nhàn rỗi trong phòng khách. Cũng trong dịp cuối năm, cho dù bây giờ là thời đại của công nghệ thông tin, của smartphone, nhưng bạn thử bỏ chút thời gian tìm vào các quán cà phê, tiệm may, tiệm hớt tóc, văn phòng công ty…vẫn có thể nhìn thấy những tờ báo Xuân. Một số gia đình nghèo khó, quanh năm chạy ăn từng bữa, chẳng bao giờ dám sờ tới tờ báo, đến Tết cũng dành dụm chút ít tiền mua một tờ báo Tết. Có người cho rằng Tết nhất mà thiếu vắng tờ báo Xuân cảm thấy dường như bị hụt hẫng điều gì đó. Nhớ đầu năm rồi, tôi ghé chúc Tết nhà một ông anh họ hiện đang làm việc ở một doanh nghiệp chuyên ngành gốm sứ ở Bình Dương, nhác thấy trong phòng khách, bên cạnh chậu mai vàng có bày một án thư cẩn xà cừ trông rất đẹp, trên bày biện toàn báo Xuân, từ báo chí thành phố, báo quận huyện và nhiều loại đặc san, tuyển tập, giai phẩm Xuân. Ðếm thử chắc không dưới… 60 -70 tờ!



UserPostedImage

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 9/30/2018(UTC)
Duy An  
#2109 Posted : Thursday, February 22, 2018 5:01:45 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,249

Thanks: 208 times
Was thanked: 692 time(s) in 504 post(s)
Những mùi hương năm cũ


Song Chi-
February 20, 2018



Ðến Tết này là 9 năm rồi tôi không có Tết. Những năm đầu, cứ vào những ngày từ sau Giáng Sinh cho tới trước Tết là tôi lại nôn nao, quay quắt nhớ Sài Gòn, nhớ Tết. Nhớ cái thời tiết mát dịu, dễ chịu nhất trong năm, nhớ cái không khí lười biếng, trễ nải, mặt khác lại nhộn nhịp, hối hả chờ đón Tết trong những ngày này, của Sài Gòn. Nhớ những con đường thân thuộc, những buổi chiều tà tà chạy xe không mục đích chỉ để ngắm phố xá, nhớ những quán café quen, những chỗ ngồi quen, những khuôn mặt bạn bè, đồng nghiệp, tình nhân… Nhớ những vạt nắng đổ trên một mái ngói cũ, một bức tường phủ rêu phong, ngay cả nắng vàng như cũng lười biếng hơn, bâng khuâng hơn trong những ngày chờ Tết.

Nhưng tôi lại chỉ thích, chỉ nhớ Sài Gòn trước Tết. Qua mồng Một với tôi là đã hết Tết. Ngại nhất là phải mua sắm, bày biện, cúng kiếng, đi chúc Tết người này thăm viếng người kia, mệt cả người. Chỉ có sự vắng vẻ, yên tĩnh trong ngày mồng Một và cảm giác thảnh thơi không phải đi làm, không phải chạy sô là làm tôi thích Tết. Còn ăn uống, quanh năm cũng ăn đủ thứ rồi, có thèm khát gì nữa đâu.


UserPostedImage

Pháo Tết, thứ không thể thiếu ở mỗi nhà lúc Giao thừa..
(Nguồn: nguoithanglong.wordpress.com)


Ði xa, những năm đầu nhớ Sài Gòn, nhớ Tết lạ lùng. Những năm đầu còn siêng, còn mua sắm, bày biện, cúng kiếng đủ ba ngày Tết. Còn đi ăn Tết với người Việt (do các Hội, đoàn người Việt tỵ nạn tổ chức, để phân biệt với Tết do Sứ quán VN tổ chức với những người còn giao thiệp, còn có mối quan hệ với Sứ quán VN). Rồi dần dần lười, bỏ hết. Nhà ít người, con gái lại đi học xa, bạn bè khách khứa không có mấy ai, nấu nướng, cúng kiếng làm gì cho cực. Cũng không đi ăn Tết Việt nữa. Ngày Tết nếu không có facebook, báo chí Việt nhắc thì cũng như mọi ngày bình thường khác trên nước người. Na Uy lại không được như khu Little Saigon có khu người Việt, có Tết hẳn hoi. Nên trừ người Việt Nam, chả ai biết đó là những ngày Tết của VN.

Dần dần nỗi nhớ chìm xuống, tạm ngủ ở một góc nào đó của ký ức. Ðến nỗi bây giờ thấy mấy gói mứt, kẹo xanh xanh đỏ đỏ, dưa hấu, bánh chưng bánh tét, củ kiệu dưa món, phong bì đỏ lòe loẹt… bày bán ở mấy siêu thị do người Việt làm chủ, lòng cũng không rộn ràng bao nhiêu. Chẳng phải đã mất gốc, chẳng phải đã quên. Khi sinh ra, lớn lên và đã sống quá nửa đời người ở một đất nước nào đó làm sao có thể quên? Với tôi, dù sống ở bất cứ đâu, tôi biết, mình chỉ có một Tổ quốc là VN.

Chỉ là cảm giác nhớ nhà đã chuyển sang một trạng thái khác. Thật lạ lùng là thời gian sau này đôi khi nhớ Tết tôi lại không nhớ Tết Sài Gòn như trước nữa. Thỉnh thoảng tôi lại nhớ những cái Tết rất xa, từ hàng chục năm trước, thời tôi còn nhỏ. Không nhớ những cái Tết no đủ lại nhớ những cái Tết thời đói kém, không nhớ những kỷ niệm vui lại nhớ những kỷ niệm buồn. Nhớ những hình ảnh, và nhớ những mùi vị khác nhau.


UserPostedImage

Múa lân giáp Tết ở Sài Gòn trước 1975. (Nguồn: OVV – WordPress.com)



Nhớ tiếng pháo đêm Giao thừa, hồi đó còn cho đốt pháo, mùi pháo thơm nồng hăng hăng, xác pháo hồng rải rác trước nhà mọi người, không ai nỡ quét đi, đợi xong ba ngày Tết mới quét. Nhớ bếp lửa củi nổ lép bép, ánh lửa đỏ bập bùng nồi bánh chưng tỏa mùi thơm phức, hoặc mùi mứt dừa, mứt gừng đang sên trên bếp thơm lừng, ngọt ngào. Những năm sau biến cố 1975 một thời gian, Sài Gòn và miền Nam bị nghèo đi nhanh chóng, một miếng bánh chưng, một nồi thịt kho, miếng mứt dừa xanh xanh hồng hồng, nồi cơm gạo trắng không độn đã là niềm vui không nhỏ đối với bọn trẻ con vì ngày thường cứ phải ăn cơm gạo mốc, hẩm độn khoai mì, độn bo bo, cao lương hay ăn bánh canh nấu suông, ăn bột mì luộc phi hành mỡ chấm nước mắm vì phải mua bột mì mỗi tháng.

Nhớ mùi vải mới của bộ quần áo Tết mẹ sắm cho, Mồng Một Tết là mặc ngay đi khoe hàng xóm! Có một dạo Sài Gòn nghèo, nhiều gia đình trong đó có nhà tôi, áo quần mặc ở nhà toàn loại vải trắng sợi thô, đem đi in, nhuộm hoa văn, mua về phải giặt nước lạnh một lần rồi mới mặc nếu không màu thuốc nhuộm phai ra người. Nhớ mùi bồ kết gội đầu hăng hăng, mùi chanh, sả dìu dịu rất dễ chịu làm nước tắm “tẩy trần” ngày cuối cùng trong năm. Nhớ mùi nhang trầm thơm ngào ngạt trên bàn thờ tổ tiên ba ngày Tết. Nhớ mùi than tổ ong nồng nồng, dạo đó Sài Gòn nghèo, nhiều gia đình phải tự nặn than tổ ong làm chất đốt. Ôi chao Sài Gòn, Hòn ngọc Viễn Ðông, chỉ sau khi kết thúc chiến tranh chừng dăm ba năm đã nghèo hẳn đi! Và nhớ hình ảnh cả nhà tôi, nhà dì tôi ngồi quây quần chơi bài cào, domino, cờ triệu phú, cờ cá ngựa… ăn tiền, say sưa ba ngày Tết.

Ðã xa quá rồi những ngày đó. Ngay cả Tết Sài Gòn mấy mươi năm sau cũng đã trở thành xa xôi.


UserPostedImage

Chợ hoa ở Sài Gòn. (Nguồn: Hội thân hữu Gò Công)



Hơn 8 năm, thời gian đủ dài để cuộc đời trước đó đã trở thành quá khứ. Sài Gòn, Việt Nam đã là quá khứ xa xôi không biết đến bao giờ “gặp” lại, trở về… Cuộc sống ở Na Uy nói chung và cuộc sống của tôi ở Na Uy lại khác hẳn với phần đời ở VN, nên phần đời trước càng chìm sâu vào ký ức.

Như những ngày này, tháng Một, Sài Gòn vẫn nắng, nóng, dù có dịu đi đôi chút, ồn ào, bụi bặm, xô bồ, náo nhiệt suốt ngày suốt đêm. Dòng người và xe cộ lúc nào cũng tuôn chảy ngược xuôi đủ mọi hướng, trên đường. Con người lúc nào cũng hối hả chạy đuổi theo đời sống, chạy theo những cái gì đó. Và càng gần Tết thì cái không khí tất bật, hối hả càng tăng. Ở Sài Gòn thì chỉ muốn chui vào những quán café máy lạnh để thư giãn một chút và trốn cái nắng nóng cho đến khi chiều xuống mới có thể ngồi ngoài trời hay lang thang ngoài phố.

Nhớ Sài Gòn là nhớ cái bụi bặm, ồn ào, hối hả đó. Mùi bụi nồng, mùi khói xăng khét lẹt cộng với mùi nắng nóng cả ngày, chỉ đến đêm mới dịu bớt. Chen vào đó là mùi café thơm lừng những buổi chiều đi về ngang qua tiệm bán café gần nhà, mùi thơm tỏa ra ngoài đường, những buổi xê xế ngồi quán với bạn bè, ly café nhỏ từng giọt chậm rãi trong lúc tiếng đàn piano của người nghệ sĩ thánh thót vang lên trong một góc quán, hay những bản tình ca quen thuộc của những năm 60, 70, 80… của thế kỷ XX vang lên từ chiếc máy cassette.

Càng gần Tết thì càng lắm mùi, mùi hoa tươi rồi héo rữa, mùi trái cây đủ loại chín tới, mùi mứt đủ loại, mùi thức ăn đủ thứ món trên đời trộn thành một hỗn hợp mùi đa dạng, phong phú, thừa mứa, hòa trong mùi nắng, càng chín nẫu hơn trong nắng, Và không thể thiếu mùi nhang trầm những ngày Tết, nhất là khi đi chùa.

Còn ở Oslo, Na Uy này tháng Một đang là mùa đông. Mùa đông ở đây kéo dài đến 5 tháng, chiếm mất cả mùa Xuân. Không lạnh lắm nếu so với…Canada, phía Bắc của Na Uy hay một số vùng của Nga, nhưng so với VN thì chắc là người Việt… hết hồn khi nghe lạnh nhất ở đây khoảng -12, -13 độ C, còn -5, -6 là bình thường. Và tuyết. Tuyết trắng trời trắng đất. Một màu tuyết phủ trắng xóa khắp nơi, tuyết phủ trên mái nhà, trên những chiếc xe hơi, trên những băng ghế, những pho tượng ngoài đường, tuyết dày dưới chân, tuyết đọng trên những thân cây trông như những bộng hoa… Tuyết rơi rơi trên mũ, trên áo quần… Cộng thêm vào sự tĩnh lặng, trông như những bức tranh. Không có mùi gì rõ rệt trong một bức tranh tĩnh lặng như vậy. Không khí lạnh buốt, trong lành và sạch. Có những buổi tối đi làm về khuya, con đường trước mặt dài hút, tuyết trắng sáng lên trong đêm, và cũng không có mùi gì, ngoài một mùi thanh sạch của tuyết!

Hình như năm tháng qua đi, ký ức con người cũng thay đổi. Nỗi nhớ cũng khác.

Nhiều người bảo nếu bây giờ về lại Sài Gòn, VN, có khi tôi lại bị sốc, chịu không nổi cái nóng, cái bụi bặm, xô bồ ồn ã của Sài Gòn. Có thể. Những con người xa quê hương sống trên xứ người luôn lơ lửng không thuộc hẳn về đâu, quê nhà hay quê hương thứ hai, là vậy. Nhưng tôi biết, mình vẫn muốn có ngày trở về, để một lần nữa chìm trong cái ồn ào, và cái mùi phong phú pha trộn đó của Sài Gòn, của Tết VN.

Edited by user Thursday, February 22, 2018 5:02:29 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 9/30/2018(UTC)
Duy An  
#2110 Posted : Wednesday, March 21, 2018 10:37:59 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,249

Thanks: 208 times
Was thanked: 692 time(s) in 504 post(s)
Thuở Sài Gòn xài nước phông-tên



Trang Nguyễn


Nhiều người sống thời thập niên 60 và trước đó, chắc còn nhớ các vòi nước phông-tên công cộng trên những con phố Sài Gòn. Hình ảnh người dân xếp hàng hoặc có khi tranh nhau hứng từng thùng nước gánh về dùng trong sinh họat. Hình ảnh đó vừa lạc hậu nghèo nàn, lại vừa hiện đại trong thời buổi dân chúng nhiều nhà còn dùng nước giếng đào, không cần qua thanh lọc khử trùng. Thuở đó, nước máy công cộng là một điều gì đó rất mới mẻ, sạch sẽ. Và thật khoái chí làm sao đưa tay hứng từng bụm trong lành đưa vào miệng để dòng nước mát rượi trôi qua cổ họng trong lúc chờ hứng đầy đôi thùng nước vào những lúc chiều hôm.

UserPostedImage



Có được vài đôi thùng nước mang về nhà là điều khó khăn cho nhiều người dân xóm nhỏ của tôi. Nhưng lạ một điều, tôi chưa bao giờ thấy ai phàn nàn chính quyền sao không lo cung cấp nguồn nước máy cho dân trong xóm mà chỉ mở đường nước cho người dân sống ở mặt tiền đường. Chuyện bình thường ở huyện, chẳng gì phải ầm ĩ, đào đường ống trước nhà mặt tiền thuận lợi thi công và mặt tiền đường cũng là bộ mặt đô thị, phải lo trang điểm bộ mặt trước, chuyện sau lưng thì hẳn tính sau, không năm này đặt đường ống thì sang năm sau, năm sau nữa, rồi nhà nào cũng được xài nước máy.

Chuyện nước máy tôi đang nói đến vào thuở giữa thập niên 60, khi nhà máy nước Thủ Ðức đã xây dựng hoàn thành (1966). Nước máy được cung cấp rộng khắp đến Phú Nhuận, Gò Vấp, Q.11 hay Q.6. Thế trước đó nữa thì sao, chẳng lẽ dân Sài Gòn ở các quận trung tâm không xài nước máy? Nước máy thật ra đã có từ rất lâu nhưng chỉ phục vụ cho những nhà mặt tiền khu trung tâm. Nhiều người lớn tuổi ở Sài Gòn còn nhớ cái thủy đài đầu tiên Pháp khánh thành năm 1886 nằm ở góc xéo Công trường Quốc tế tức Hồ Con Rùa (ngày nay là Công ty Cấp nước Sài Gòn – Sawaco). Nước được bơm thủ công lên bể chứa từ các giếng cạn gần đó để phục vụ cho các công sở, nhà các quan chức Pháp cùng một ít dân cư người Việt khá giả tại khu vực trung tâm Sài Gòn khi ấy chỉ lèo tèo vài con đường đất.

UserPostedImage

Thủy đài đầu tiên ở Sài Gòn xây năm 1886 nằm ở góc xéo Hồ Con Rùa ngày nay – Nguồn: Anhxuasaigon


Mãi đến nửa thế kỷ sau, người Pháp mới bắt đầu cho xây các phông-tên công cộng dọc theo các con phố chính để người dân đến lấy nước sinh họat. Những phông-tên này chính là các giếng khoan trực tiếp do công ty Société Layne France et Cie khảo sát và khoan thẳng vào tầng nước ngầm sâu trên trăm mét. Vào thời điểm ấy dân Sài Gòn-Chợ Lớn bắt đầu sử dụng nước ngầm rộng rãi hơn mặc dầu số giếng khoan đưa vào sử dụng chỉ có 30 cái trong khi dân số Sài Gòn đầu thập niên 1930 đã lên đến ba trăm ngàn người. Muốn lấy nước phải dùng tay kéo cần bơm lên xuống một hồi, nước mới trào lên vòi.

Việc lấy nước khó khăn như vậy khiến nhiều nhà buôn bán hay công chức không có thời gian chờ đợi lấy nước nên thuê người gánh nước cho khoẻ. Từ đó nghề gánh nước mướn ra đời. Nghề này kéo dài cho đến đầu thập niên 1970, khi người dân từ các nơi nhập cư về Sài Gòn khiến dân số tăng cao đến hai triệu người, vượt gấp bốn lần theo quy họach thành phố “Paris nhỏ ở Viễn Ðông” của người Pháp đề ra khi thành lập thành phố Sài Gòn năm 1874. Dân số nhập cư bùng nổ, nhu cầu tiêu dùng nước sinh họat cấp bách, chính quyền cho mở đường nước máy vào các khu xóm khắp Sài Gòn để phục vụ dân sinh.

UserPostedImage

Một phông- tên nước công cộng bơm bằng tay hồi năm 1931 trên đường Nguyễn Huệ cho người dân lấy nước – Nguồn: Anhxuasaigon


Dường như trong bất cứ xóm nào cũng có người làm nghề gánh nước mướn, nhất là những người nhà quê chân ướt chân ráo lên Sài Gòn định cư, chưa tìm kiếm được công việc, đành đi gánh nước thuê đắp đổi qua ngày. Cũng có những người chuyên làm nghề này coi như một công việc ổn định. Công việc quanh năm suốt tháng, do đó mới có chuyện tranh giành phông-tên công cộng, cãi vã nhau người đến trước kẻ đến sau, thậm chí vài chị em gánh nước “nóng mặt” đập lộn bằng đòn gánh.

Tôi nhớ, trên đường Tô Hiến Thành gần nhà thờ Thánh Tâm, đầu hẻm xóm tôi có một vòi nước phông-tên công cộng. Thỉnh thoảng sau giờ học, tôi thường ra đây hứng một hai đôi nước về đổ đầy cái khạp da bò dành cho việc nấu ăn mặc dầu trong nhà nước mưa lúc nào cũng chứa đầy bốn năm khạp lớn. Công việc gánh nước thực ra là của mấy bà chị, nhưng đôi khi tôi làm cho vui để biết công việc gánh nước ra sao. Sức tôi chỉ gánh được nửa đôi thùng nước, từ phông-tên vào xóm đi qua một đoạn đường chưa đầy trăm mét mà tôi phải dừng lại nghỉ mấy lần, thế mới biết công việc gánh nước thuê quả là nhọc nhằn, mỗi ngày phải gánh xệ vai mấy chục đôi nước đầy để kiếm vài chục đồng bạc.


UserPostedImage

Phông-tên công cộng là nơi lấy nước sinh họat. Nhiều người mang đồ ra giặt như sân nhà của mình là chuyện thường nhật
ở Sài Gòn thập niên 1960 – Nguồn: Anhxuasaigon


Cuộc sống vất vả, kiếm được đồng tiền lại càng khó khăn hơn, phải giành chỗ trước để còn thời gian trở lại phông-tên lấy nước cho kịp chủ cần, cho nên tính khí mấy chị gánh nước thuê thường hay cộc cằn, dễ nổi nóng. Tôi hay gọi đùa mấy chị miệng mồm đi trước gánh nước theo sau là nàng “La Phông-tên”. Miệng mồm la ó chửi lộn tranh giành với ai chứ không hiểu sao, có mấy chị lúc nào cũng ưu ái nhường thùng cho thằng nhóc con mặt đực ra chịu khó đứng chờ tới lượt mình lấy nước. Có lần, một chị gánh nước thuê nói với tôi “Sao đứng khờ ra đó, người ta chen ngang đặt thùng trước mặt mà không chịu đá cái thùng nó ra. Ở đời, đừng có hiền quá người khác ăn hiếp”. Nghe thì nghe vậy với nụ cười cảm ơn vì có người quan tâm tới mình nhưng lòng tôi lại nghĩ, “đá cái thùng nó ra, nó đá đít mình lỡ té dập mặt thì má nhìn không ra”.

Rồi cái ngày có nước máy trong xóm tôi đến đột ngột cùng lúc chương trình hỗ trợ an sinh hào phóng dành cho dân chúng của chính quyền cấp từ Quỹ viện trợ của Liên Hiệp Quốc. Bà con trong xóm ghi tên, kháo nhau mỗi nhà được tặng vài ba bao xi-măng, vài tấm tôn fibro để xây bể nước, lợp lại mái nhà hứng nước mưa xài thêm trong khi chờ thi công đào đường lắp đặt hệ thống ống cái, ống con dẫn vào các con hẻm nhỏ. Nhu cầu cung cấp nước sạch khi ấy là cấp thiết, trong khi ngành y tế dán bích chương đầy đường cổ động bà con ăn sạch uống sạch, nấu chín nước giếng trước khi dùng và hạn chế dùng nước mưa hứng từ mái nhà fibro xi-măng. Thế là nhiều bà con trong xóm tôi sau khi nhận xi-măng, tôn fibro đem bán lại cho mấy ông thầu xây dựng lấy tiền xài chơi, coi như trúng số lô an ủi, lại còn được tặng thêm đồng hồ nước gắn trong cái thùng đúc bằng xi-măng. Người dân không cần xài nước phông-tên công cộng nữa, nghề gánh nước mướn tàn lụi.

UserPostedImage

Xây dựng tuyến đường ống cấp nước tại trung tâm Sài Gòn năm 1966 – Ảnh: Tư liệu



Theo tài liệu cấp nước Sài Gòn thời đó, nhờ nguồn viện trợ của người Mỹ, chính phủ tiến hành thiết kế và xây dựng các thủy đài chung quanh thành phố nhằm điều áp lưu lượng nước chảy đến đường ống của tất cả các khu vực dân cư ở xa sau khi nhà máy nước Thủ Ðức hoàn thành. Các thủy đài lần lượt xây từ năm 1965 đến năm 1969, hầu hết đều cao và to hơn các thủy đài thời Pháp. Toàn bộ thủy đài sử dụng van tự động, khi sử dụng nhiều, thủy đài tự mở van cung cấp; khi sử dụng ít, lượng nước dư tự động bơm ngược lên thủy đài. Tuy nhiên, theo nhiều thông tin báo chí, từ khi xây dựng xong các thủy đài do kiểm tra có rò rỉ nên không đưa vào vận hành cho đến năm 1975.

Chuyện hư thực thế nào chẳng rõ, nhưng sau 1975 nguồn nước máy sinh hoạt chảy rất yếu. Có lần tôi hỏi một anh công nhân ghi đồng hồ nước trước đây làm cho Công ty Sài Gòn Thủy cục về nguyên nhân các thủy đài xây xong do rò rỉ mà không vận hành. Anh nói, không hoàn toàn đúng như vậy. Hầu hết các thủy đài vận hành một thời gian sau mới phát hiện một hai cái rò rỉ nên sở cung cấp nước dừng vận hành để sửa chữa. Nước chảy yếu là do thiếu áp suất điều tiết từ trạm bơm Thủ Ðức, công suất không đủ đẩy nguồn nước xa hơn. Muốn nước chảy khá hơn, cần phải đào âm xuống đất và hạ đường ống đồng hồ nước xuống ngang bằng ống dẫn.

UserPostedImage

Tháp điều áp nước tại nhà máy nước Thủ Đức năm 1969 – Ảnh: George Lane


Thế là ở góc hành lang nhà tôi có một cái bể âm xuống đất chừng ba bốn tấc do chính tay tôi làm. Nước từ đường ống rỉ rả suốt ngày tuy không nhiều nhưng còn đỡ hơn cái vòi nước trên cao chỉ nhỏ giọt cầm chừng. Thời buổi khó khăn, chẳng ai phàn nàn chuyện nước nôi chi cả miễn đừng cúp nước là được. Cũng như chuyện chưa có nước máy mấy năm trước đây thôi, người dân xóm nhỏ của tôi đi ra phông-tên công cộng gánh nước về nhà mà miệng vẫn cười vui.

UserPostedImage
Duy An  
#2111 Posted : Tuesday, April 10, 2018 3:48:39 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,249

Thanks: 208 times
Was thanked: 692 time(s) in 504 post(s)
Xe hơi Sài Gòn xưa


Trang Nguyên

Tôi thường đem xe đi thay nhớt tại garage nhỏ của chú Ba Tam ở Fort Worth. Tự dưng cách đây mấy tháng, chú hỏi tôi ở Việt Nam bây giờ có công ty sản xuất xe hơi không? Câu trả lời có thì cũng không đúng, mà không thì cũng sai luôn. Tôi nhớ không lầm hồi mấy năm trước ở ngoài Bắc có công ty xe hơi Vinaxuki bị phá sản. Mang danh công ty xe hơi nội địa nhưng máy móc của Nhật, bánh xe Đài Loan, chỉ có khung sườn, bửng trước sau được làm trong nước với mục đích nội địa hóa xe hơi nhưng cũng chỉ đạt được chưa tới 40%. Giá thành rẻ chỉ bằng một phần ba xe nhập cảng. Tuy vậy, người ta vẫn thích mua xe ngoại cho dù mắc tiền. Nó vừa sang, đẹp lại an toàn. Không trách người ta sao sính ngoại.


UserPostedImage
Sài Gòn Xe hơi Công ty thuộc công ty mẹ Citroen của Pháp nơi sản xuất xe nội địa hóa La Dalat – Nguồn: Anhxuasg


Chú Ba kể, hồi trước có Sài Gòn Xe hơi Công ty ở đường Lê Thánh Tôn Q.1. Chú từng làm nhân viên kỹ thuật đóng thùng xe La Dalat. Công ty này nguyên là chi nhánh hãng Citroën của Pháp. Chiếc La Dalat được tiếng là hàng nội địa nhưng máy móc, bánh xe, thắng, trục chuyển động nhập từ Pháp; người Việt mình làm kèn, hộp đèn, ghế ngồi và khung thùng, lại lấy tên thương hiệu của thành phố sương mù Ðà Lạt. Ban đầu dân Sài Gòn thích xe hơi nhưng túi tiền hạn hẹp nên “kết” loại xe này lắm. Xe nhẹ, đơn giản, ít hao xăng dầu, máy bền lại dễ sửa chữa, đặc biệt là giá rẻ bằng phân nửa xe nhập từ Nhật Bổn. Cuộc triển lãm ra mắt sản phẩm La Dalat hồi năm 1970 ở vườn Tao Ðàn đã thu hút nhiều đơn đặt hàng nên công ty sản xuất ồ ạt. Công việc làm không xuể, nhân công phải làm đêm làm ngày để cung cấp xe ra thị trường. Không biết việc buôn bán ra sao, đến năm 73 thì xe tồn kho rất nhiều, nhân viên làm tại công ty nếu mua thì được hưởng ưu đãi giảm giá so với thị trường.


UserPostedImage
Một quảng cáo trên báo xe La Dalat năm 1973 khi dòng xe hơi rẻ tiền này gặp vấn đề thị trường tiêu thụ – Nguồn: Citroen2CVDalat



Câu chuyện của chú Ba khiến tôi quan tâm, bởi thời ấy tuy chưa biết nhiều về các loại xe hơi nhưng tôi đã nghe người lớn kháo nhau về chiếc La Dalat, và tôi từng thấy nhiều xe này chạy trên đường phố Sài Gòn. Chiếc xe hơi “Made in Vietnam” trông ngầu, đường nét góc cạnh giống xe Jeep, mui vải có thể tháo ra thành mui trần để tà tà bát phố. Có xe mui kín bốn chỗ ngồi, hoặc loại đòn xe dài mà chú Ba Tam nói rằng La Dalat sản xuất đến bốn kiểu xe khác nhau. Ðúng là như vậy. Nhiều người thích xe hai chỗ hơn, phía sau chở hành lý đồ đạc về quê hay đi du lịch miền biển miền núi đều sành điệu. Tôi nhớ mấy tấm bích chương quảng cáo dán ở vách tường bên hông tòa nhà đầu đường Nguyễn Huệ và bến Bạch Ðằng vẽ hình chiếc La Dalat trong khung cảnh miền quê mùa xuân Quý Sửu năm 1973. Bây giờ tôi bắt gặp lại hình ảnh này trên trang mạng lòng vẫn còn thấy mới như ngày nào khi chương trình quảng cáo rầm rộ trên đài phát thanh với lời xướng ngôn viên trầm ấm: “La Dalat cày sâu cuốc bẫm để phục vụ quý vị”.


UserPostedImage
Hãng bán xe hơi thương hiệu Vauxhall của Anh tại Sài Gòn năm 1952 – Nguồn: Anhxuasg


Vấn đề quảng cáo rầm rộ hồi đầu xuân năm 1973 và việc chú Ba Tam mua xe La Dalat được giảm giá tại công ty nói lên phần nào việc sản xuất loại xe theo phương châm “Facile À Fabriquer, Facile À Financer” (Dễ sản xuất, Dễ trả tiền) của công ty gặp vấn đề rắc rối về tiêu thụ chứ không như từ khi khởi đầu quá trình sản xuất, Citroën đã chủ quan về chuyện giá thành rẻ thu hút người tiêu thụ ham thích chiếc xe thực dụng và dễ sửa chữa này. Thật ra năm 1973 Sài Gòn Xe hơi Công ty không còn cho xuất xưởng các loại xe La Dalat như báo chí ca tụng. Xe hơi nội địa La Dalat được sản xuất mỗi năm một ngàn chiếc cho đến thời điểm năm 1975 thì chấm dứt thời hoàng kim, lúc ấy miền Nam đã sản xuất ra chiếc xe hơi nội địa hóa đến 40% (tính ra có đến 5,000 chiếc).

Theo tư liệu và bản báo cáo thống kê sản xuất của Công ty Citroën tại Pháp về việc chế tạo dòng xe mới cho Việt Nam, thì La Dalat nguyên thủy do hai người Pháp tên là Letoquin và Lechanteur – chủ nhân của Công ty xe hơi và gắn máy ở Bờ biển Ngà, trực thuộc công ty mẹ Citroën – mang chiếc xe hơi hai sức ngựa (2CV) Baby Brousse về Sài Gòn cải tiến bộ khung một chút cho phù hợp thời tiết bản địa. Bản vẽ được phác thảo và Sài Gòn Xe hơi Công ty chịu trách nhiệm sản xuất một số phụ tùng tại chỗ để nội địa hóa mang tên La Dalat. Nói chung, dòng xe Citroën 2CV được sản xuất ở nhiều nước trên thế giới như Hy Lạp, Iran, Indonesia, Chile, Việt Nam… mỗi quốc gia có tên xe khác nhau nhưng đều dựa vào mẫu Baby Brousse sản xuất tại thành phố Abidjan Bờ biển Ngà. Thống kê sản xuất cho thấy năm 1970 ở Việt Nam xuất xưởng 30 chiếc giới thiệu ra thị trường, năm 71 sản xuất 2,385 chiếc nhưng qua năm 1972 chỉ còn 450 chiếc và ngưng sản xuất vào năm 1973. Tổng cộng La Dalat mà công ty mẹ gọi đúng tên là Citroën Dalat sản xuất được 2,895 chiếc, không có con số bán ra và số tồn kho.


UserPostedImage
Sài Gòn cuối thập niên 60 có đủ loại xe hơi nhưng xe Jeep quân đội cũng có khá nhiều – Nguồn: Anhxuasg

Chú Ba Tam nghĩ rằng, thoạt đầu dân chúng ưa chuộng vì giá rẻ, mẫu mã bề ngoài trông bắt mắt nhưng nội thất không có gì đặc biệt, đơn điệu nên sức thu hút giảm dần. Trong thời điểm này, xe Nhật, Mỹ và châu Âu nhập cảng vào Sài Gòn nhiều mẫu đẹp, hấp dẫn hơn. Người có đủ tiền mua xe mới (La Dalat giá 650,000 ngàn trong khi Mazda, Toyota giá chừng 1.1 – 1.3 triệu) nhưng vẫn thích đi mua xe cũ qua sử dụng được năm bảy năm, giá còn phân nửa bằng với mua mới chiếc La Dalat. Hơn nữa, đầu năm 1970 cho đến năm 1975 là thời kỳ đồng bạc VNCH mất giá kinh khủng (1USD = 275 năm 70; = 550 năm 72; = 750 năm 75). Trong khi thời điểm năm 72 giá vàng là 49USD/ounce tức 61USD/lượng tương đương 33,550 đồng VN. Ðồng tiền mất giá, nhu cầu mua xe cần cân nhắc, ngoại trừ những người có nhiều tiền và muốn chơi trội mua xe hơi lý le. Dân thương buôn làm ăn lớn nhỏ, công chức làm ra tiền đều tích lũy vàng hoặc quy đổi đô la chợ đen cất giữ. Còn một điều tác động không thể thiếu đã làm giảm sức mua xe hơi, các dòng xe gắn máy Nhật và Vespa của Ý sản xuất tại Pháp du nhập vào Sài Gòn rất nhiều, thuận tiện di chuyển và có chỗ đậu xe.

Tới đây, chúng ta đã giải mã phần nào về chiếc La Dalat một thời từng được người dân ca tụng lại “chết yểu” một cách đáng thương không phải vì biến động chính trị năm 1975 mà do kinh tế thời cuộc trước đó. Còn thắc mắc của tôi về chuyện tại sao lại không đặt tên sản phẩm xe hơi “Made in Vietnam” là Saigon mà lại dùng tên Ðà Lạt? Liệu có phải đó là tên thành phố Ðà Lạt hay chỉ là chữ Dalat trùng hợp ngẫu nhiên. Câu hỏi này theo chú Ba Tam nói ở trên, là tên Ðà Lạt viết theo tiếng ngoại quốc. Không thấy tài liệu nào giải thích. Ngay cả phòng triển lãm xe hơi tại vương quốc Bỉ, lưu giữ chiếc xe La Dalat đời 71 cũng dùng tên chính thức Citroën Dalat.


UserPostedImage
Một tai nạn trên con đường trung tâm Sài Gòn – Nguồn: Anhxuasg


Dẫu sao thì La Dalat đã để lại dấu ấn cho niềm tự hào lần đầu tiên người Việt Sài Gòn chế tạo được 40% phụ tùng, góp phần làm nên tên tuổi dòng xe hơi “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt”. Với số lượng gần 2,900 chiếc La Dalat góp một phần nhỏ trong nền giao thông miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào. Theo thống kê của ngành giao thông VNCH đến năm 1974 có tổng cộng 258,514 xe lưu thông trong đó có 35,384 xe vận tải lớn, 64,229 xe hơi châu Âu, Mỹ, Nhật, phần còn lại là xe taxi hiệu Citroën, Renault, Peugeot và xe jeep, xe vận tải nhà binh trong thời Mỹ mang vào miền Nam với mục đích quân sự.

Chỉ riêng con số xe hơi lưu thông trên 35 tỉnh và Ðô thành Sài Gòn cho thấy người có xe hơi riêng thật ít ỏi so với quãng thời gian hơn 70 năm (tính đến thời điểm 1975) kể từ khi người ta ghi nhận năm 1907 chỉ có 2 chiếc xe hơi nhập vào Việt Nam, một của người Pháp, và chiếc thứ hai thuộc về Thầy Năm Tú (Pierre Tú) chủ gánh cải lương Thầy Năm Tú ở Mỹ Tho. Sang đến thập niên 20 Sài Gòn có chừng 100 chiếc (tính riêng xe hơi) của các quan chức sắc tai to mặt lớn hoặc điền chủ hay người làm ăn giàu có. Xe hơi nói chung bao gồm xe đò xe tải đã xuất hiện khá nhiều (theo thống kê của Tạp chí Nature, năm 1926 Nam kỳ có 5,678 ô tô các loại, Trung kỳ có 966 xe, Bắc kỳ có 2,866 xe).


UserPostedImage
Citroen Dalat đời 1971 trưng bày tại Autosalon ở Bỉ – Nguồn: Citroen2CVDalat


Dân giàu Sài Gòn bắt đầu chuộng xe hơi, nhiều hãng, garage, đại lý phụ tùng xe hơi buôn bán mở ra khá nhiều trên đường Trần Hưng Ðạo, Gia Long, Lê Thánh Tôn, Tôn Thất Ðạm ngay từ đầu thập niên 30. Xe hơi các loại của châu Âu (nhiều nhất là Pháp) được ưa chuộng. Nhưng sang đến thập niên 60, người ta lại thích các loại xe Mỹ nhập vào. Các dòng xe hơi Mỹ như Austin, Ford, Lincoln, Cadillac, Dodge… máy mạnh chạy khỏe lấn ép dòng xe Nhật Toyota, Mazda, Nissan… lúc đó không phải là xe tốt bền như bây giờ nhờ phát triển cải tiến kỹ thuật từ thập niên 70.

Edited by user Tuesday, April 10, 2018 3:49:29 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Duy An  
#2112 Posted : Wednesday, May 9, 2018 5:49:46 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,249

Thanks: 208 times
Was thanked: 692 time(s) in 504 post(s)
Những con hẻm Sài Gòn


Tim Nguyễn

UserPostedImage



Nhớ về Sài Gòn không chỉ là nhớ những phố xá sang trọng, những cửa hàng lộng lẫy, những con đường với hàng cây dầu tỏa bóng hay hàng me xanh mướt. Nhớ Sài Gòn còn là nhớ những con hẻm yên tĩnh hay chật hẹp ồn ào nằm giữa lòng phố lớn. Nhiều người đã sinh ra và lớn lên từ lòng con hẻm đó. Nhiều cuộc tình đã nở ra từ những con hẻm đó. Có những đám cưới ở những con hẻm sâu hun hút. Cũng có những đám ma, kể cả đám ma lính ngày xưa, cử hành trong một con hẻm quanh co náo nhiệt.

Vâng. Sài Gòn có hàng trăm con đường mặt tiền sôi động suốt ngày đêm và cũng có hàng ngàn ngõ hẻm, đan nhau như mạng nhện, cài nhau như chân rết… tạo thành những không gian sống tương đối tĩnh lặng của hàng triệu cư dân. Còn nhớ lần đầu tiên Nguyễn đến Sài Gòn, trọ học, ở trong một ngôi nhà trong hẻm được nhớ lại như sau:

Ðêm nay

anh lại nghe tiếng sấm

từ xa dội về

chuyến xe lửa. chở anh tới ga sài gòn. cách đây ngoài năm mươi năm. đã rời bến chưa. mà sao anh còn nghe còi hụ

và căn nhà ở con hẻm xóm nguyễn ngọc sương. phú nhuận. nơi anh trọ học đầu tiên. còn không

còn không. chiếc xe phở. với đốm lửa khuya đầu ngõ

hình như

nhiều thập kỷ. đã trôi qua


Ðúng vậy. Nhiều thập kỷ đã trôi qua kể từ ngày ấy. Và mình đã sống ở nhiều con hẻm Sài Gòn. Con hẻm ngay sau lưng đường Hai Bà Trưng trước nhà thờ Tân Ðịnh, nơi gặp Kim và tiếng chuông nhà thờ mỗi chiều. Con hẻm ở sau đường Foucault Nguyễn Phi Khanh gần cà phê Thái Chi, với Trần Ðông Phong, con hẻm sau lưng đường Trương Minh Ký gần nhà thờ Ba Chuông với vợ chồng Thế Viên. Và con hẻm lát gạch ở đường Phát Diệm cũng với vợ chồng Thế Viên nơi Dung từng tới thăm. Rồi hai con hẻm ở đường Vườn Chuối và đường Hòa Hưng của cha mẹ Dung, nơi từng sum vầy hạnh phúc, nay tản lạc về đâu… Ôi, nhiều quá, nhớ không con hẻm ở đường Tự Ðức chỗ cà phê Hồ Hoàng Ðài ngày nọ, nơi thường xuyên gặp Ðinh Cường, Hồ Thành Ðức, Trịnh Cung… Trần Lê Nguyễn dung nhan phờ phạc, râu tóc bờm xờm, mỗi sáng đạp xe tới bán báo dạo. Còn Cung Tích Biền thì đi xe Honda chở vợ ghé vào lo công chuyện làm ăn, rồi đi…. Ðặc biệt, trong một bài thơ viết cho người bạn văn vừa gặp lại ở quán cà phê Ly Thơ nơi thành phố của bà Margaret Mitchell, mình có gợi lại ngõ 47C Duy Tân: chợt nhớ / buổi sáng ở sài gòn / ngồi với mùa hè. và tiếng đàn gỗ. xưa / con hẻm sâu đầy nắng / người nhạc sĩ ấy đã ra đi / mùi hoa sứ. đâu đây. còn mãi đau. thơ tôi

Cái ngõ nắng ấy lại hiện ra khi tình cờ gặp trên lưới một bài viết ký tên Hồng Minh với tấm hình chụp những người ngồi uống cà phê dựa lưng vào bức tường rêu cũ. Ôi, nhìn vào tấm ảnh mình chợt nhớ lại quãng đời rách rưới lang thang ở Sài Gòn những năm đầu 80. Ngày ấy, năm 1982, kẻ này vừa đi tù Cộng Sản về. Không việc làm, trong túi chỉ có những tờ bạc lẻ, buổi sáng đạp xe qua những đường phố quen, tìm bạn và tìm chỗ uống cà phê. Nghe nói em rể của Sơn mở một cái quán trên con hẻm 47C Duy Tân. Thế là anh em sáng sáng tụ về đây. Buổi đầu tiên kẻ này đến uống cà phê ở quán, gặp cả Sơn, Tịnh, Hà và mẹ Sơn. Gặp lại nhau, Sơn tỏ ý mừng. Một lát sau, bạn lấy xe PC đi đâu đó một vòng, trở về mang cho mấy điếu Lucky. Trời ơi, đây là thứ cỏ thơm ưa thích từ những ngày còn ở Ðà Lạt. Không ngờ bạn còn nhớ đến và tìm mua cho. Ngồi uống cà phê, thỉnh thoảng mẹ Sơn cầm lấy tay, bảo con cứ đến làm việc cho Tịnh, anh em sướng khổ có nhau. Và Tịnh, buổi sáng mai hôm ấy, cầm nguyên một xấp tiền 500 đồng trao vào tay mình và nói: “Em mong anh bớt khổ đi, để rồi từ từ làm lại.” Thú thật, lúc ấy nước mắt chỉ muốn trào ra. Tịnh còn nhớ không, Tịnh? Năm trăm lúc ấy là to lắm. Ðạp xe đi dạy chui tuần hai buổi mướt mồ hôi cũng chỉ được 80 đồng là cùng. Vậy mà… Vừa rồi, gặp lại Tịnh ở cà phê Nguyễn Ngọ, Houston, nhắc lại chuyện mà lòng rưng rưng.

Quán cà phê của em rể Sơn ở 47C Duy Tân không sống lâu. Sau này, những ngày tất bật đi dạy chui, thỉnh thoảng có lúc rỗi, lại ghé tới một quán cũng ở con hẻm gần đó, xích về phía Hồ Con Rùa một chút. Ở đây, cũng ngồi dựa lưng vào tường, nhìn lên ngọn sao đầy nắng và những đám mây bay qua, bay qua… Mình biết, phía đằng kia là nhà Sơn, nhưng giờ đây nhiều khuôn mặt mới của thời đại xuất hiện ở đó, lòng bỗng thấy ngại ngùng. Viết tới đây, nghĩ tới Chiêu Anh Nguyễn, sáng sáng em ngồi ở quán nào vậy mà có ánh nắng trên mặt bàn gỗ, bóng giàn hoa giấy và những điếu mild seven. Còn con hẻm với mùi dạ lý hương xui người ta tự tử nữa. Ở đâu, ở đâu vậy hả Chiêu Anh?

Những con hẻm Sài Gòn mình đã ở hoặc ghé qua vài lần nhưng nhớ mãi. Làm sao trở về thăm lại đây.
Thôi thì đành bằng lòng với ca từ bài Xóm Ðêm của Phạm Ðình Chương: Ðường về canh thâu / Ðêm khuya ngõ sâu như không màu / Qua phên vênh có bao mái đầu / Hắt hiu vàng ánh điện câu…

UserPostedImage


Hay những nét miêu tả của nhà sử học Nguyễn Thị Hậu ghi lại dưới đây:

“Hẻm ở các quận trung tâm thành phố là khu vực đô thị đã hình thành hàng trăm năm. Ðó là những hẻm tráng xi măng bằng phẳng sạch sẽ, tương đối thẳng, thường là hẻm cụt. Dân cư đa phần là công chức, nhà cửa xây dựng khá ổn định, kiến trúc hài hòa. Những ngôi biệt thự nhỏ, vài căn nhà phố, một hai ngôi nhà cao tầng nhưng tất cả đều mang vẻ trầm lặng sau những bức tường cũ loang lổ vôi và những cánh cổng sắt tróc sơn mỗi lần đóng mở kêu kin kít. Nhiều hẻm yên tĩnh đến mức hầu như không có ai đến đó dán các tờ quảng cáo, các số điện thoại dạy kèm học thêm khoan cắt bê tông… Trong hẻm rợp mát giàn bông giấy, bông hoàng anh… Ði xe chầm chậm trong hẻm bạn sẽ thấy lòng chợt bình yên lạ lùng.

Hẻm ở các khu vực khác dân cư đông đúc đến từ nhiều tỉnh thành, có gia đình đã vài đời ở Sài Gòn nhưng cũng có người chỉ ở nhà thuê. Trong hẻm nhà cửa lô xô ra vào, nhà trệt nhà lầu chen nhau. Gác gỗ mái hiên mạnh nhà nào nhà nấy chìa ra che mát hẻm nhỏ. Giống như đường làng quanh co, hẻm cũng có nhiều ngõ ngách rộng hẹp bất ngờ, có khi chỉ đủ cho một xe máy đi cũng có khi phình rộng tạo thành một khoảng sân cho lũ trẻ chơi đùa. Có hẻm vẫn còn có ngôi chùa nhỏ, ngày rằm mùng một tiếng mõ nhẹ nhàng mùi nhang thơm vẫn len vào từng ngôi nhà. Mỗi sáng đầu hẻm có xe bán hủ tiếu, bánh mì, cà phê quán cóc vài chiếc ghế nhựa…”

Thôi, Nguyễn xin khép những con hẻm của Sài Gòn lại ở đây. Hoàng hôn đã xuống trong cuộc đời và lòng người. Lòng chợt buồn như nắng cuối ngày…

TN
UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 5/9/2018(UTC)
Duy An  
#2113 Posted : Sunday, June 3, 2018 1:13:30 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,249

Thanks: 208 times
Was thanked: 692 time(s) in 504 post(s)
Elvis Phương và ban nhạc Shotguns


UserPostedImage

Ban nhạc Shotguns. (Hình: Trần Quốc Bảo)


Du Tử Lê/Người Việt

GARDEN GROVE, California (NV) – Năm 19 tuổi, nhạc sĩ Ngọc Chánh bị gọi động viên Thủ Đức. Tuy nhiên, tác giả “Bao Giờ Biết Tương Tư” không thuận hợp với đời binh nghiệp, cho nên một ngày trước khi phải nhập ngũ, ông được Bộ Công Dân Vụ tuyển dụng vào Ban Văn Nghệ của bộ này. Vì vậy, ông được hoãn dịch.

Tuy nhiên, sau ít tháng phục vụ thì ông rời Ban Văn Nghệ Công Dân Vụ. Nhạc sĩ Ngọc Chánh nhận làm trưởng ban nhạc cho phòng trà ca nhạc Hồ Tắm Cộng Hòa, ở đường Lê Văn Duyệt cũ. Tại đây, do sự giới thiệu, gửi gắm của một người bạn tên Tư, nhạc sĩ Ngọc Chánh đã nhận lời tuyển dụng một thiếu nữ tham gia ban nhạc của ông. Đó là ca sĩ Minh Hiếu.


Thời gian đó, gia đình ca sĩ Minh Hiếu còn ở Bình Long. Cô lên Sài Gòn, ở nhà người quen để học may… “Tuy nhiên chỉ vài tháng sau, Minh Hiếu đã thuộc thêm rất nhiều ca khúc mới và nổi tiếng ngay chỉ trong vòng nửa năm thôi,” nhạc sĩ Ngọc Chánh nhấn mạnh.

Do nổi tiếng quá nhanh, như con chim sớm đủ lông cánh, với sự thuộc lòng hàng chục tình ca nổi tiếng nhất của nền tân nhạc Việt Nam thời đó, nữ ca sĩ Minh Hiếu lập tức được nhiều khiêu vũ trường mời cộng tác.

Một trong những phòng trà ca nhạc mà ca sĩ Minh Hiếu nhận lời cộng tác là khiêu vũ trường Mỹ Phụng. Nhưng cũng chính tại nơi này, những người yêu tiếng hát Minh Hiếu suýt vĩnh viễn mất đi giọng ca và nhan sắc đặc biệt đó.

Nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Chánh kể, ngay từ những ngày đầu, được ông tuyển dụng năm 1961 ở phòng trà Hồ Tắm Cộng Hòa, có lẽ vì nhan sắc lộng lẫy trẻ thơ của Minh Hiếu đã khiến nhiều người trong nam giới, mang bệnh… tương tư. Một trong những vị “nam nhi” này là đại úy trẻ tuổi, tên Bằng (dư luận đồn đãi ông là con nuôi của Tổng Thống Ngô Đình Diệm).

Chỉ là một trong hàng chục người theo đuổi mơ ước, xin Minh Hiếu cho… “bàn tay” nhưng Đại Úy Bằng kiên trì và “nổi trội” hơn cả. Khi Minh Hiếu về hát ở khiêu vũ trường Mỹ Phụng, gần bến sông Bạch Đằng, Sài Gòn, tất nhiên, Đại Úy Bằng cũng là một trong những “cây si” có mặt ngay tự buổi đầu ở nơi chốn mới này.

Tác giả ca khúc “Bao Giờ Biết Tương Tư” kể, không biết Đại Úy Bằng tỏ bày tình yêu si mê của ông dành cho Minh Hiếu ở mức độ nào mà, một đêm, trong giờ trình diễn của mình, nữ ca sĩ Minh Hiếu đã cắn lưỡi tự tử. Cô được ban giám đốc vũ trường Văn Phụng, đưa gấp vào nhà thương. May mắn thoát chết…

Vẫn theo nhạc sĩ Ngọc Chánh thì sau scandal này, Đại Úy Bằng đã không còn là “thảm kịch” đeo đẳng ca sĩ Minh Hiếu nữa.

Trong tinh thần sống lại một thời tận hiến tài năng, tâm trí của mình, cho nền tân nhạc miền Nam Việt Nam, nhạc sĩ Ngọc Chánh nhớ rằng năm 1968, chính quyền Sài Gòn ra lệnh đóng cửa tất cả các phòng trà, khiêu vũ trường… Chính vì thế mà số ca, nhạc sĩ yêu nghề, đã phải chọn giải pháp trình diễn tại những Club Mỹ, phục vụ cho số binh sĩ Hoa Kỳ thời đó, có mặt tại miền Nam.

Ở tình cảnh bất ngờ, ngoài ý muốn này, nhạc sĩ Ngọc Chánh đã chọn quy tụ một số ca nhạc sĩ trẻ như Elvis Phương, Pat Lam (thường được gọi là Pat Lâm), Ngọc Mỹ, Hoàng Liêm… thành hình ban nhạc lấy tên Mỹ là Shotguns, để cùng một số ban nhạc Việt khác, trình diễn cho các Club Mỹ…

Đầu năm 1989, người trưởng ban nhạc Shotguns thấy rằng đã đến lúc phải quay trở lại với nhạc Việt, ông bèn lấy ý kiến của một số cộng tác viên nòng cốt của ông ở ban nhạc Shotguns. Trong số những người thân tín nhất, được nhạc sĩ Ngọc Chánh thăm dò, có ca sĩ Elvis Phương và nữ ca sĩ Ngọc Mỹ. Đó cũng là hai cộng tác viên cật ruột đầu tiên của trung tâm băng nhạc Shotguns. Nhưng tình trạng thực tế phải nói là không đơn giản!

Về Elvis Phương, tác giả ca khúc nổi tiếng “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” cho biết: “Tiếng hát cũng như kỹ thuật trình diễn của Elvis gần như hoàn hảo. Không ai có thể kiếm ra lỗi, để chê bai… Nhưng ngặt thay, Elvis lại không hát được nhạc Việt, ngoài nhạc Pháp và Mỹ. Lý do, từ nhỏ Elvis Phương đã sớm theo học trường Pháp.” (1)

Khởi thủy khi tìm về nhạc Việt, Elvis Phương chỉ biết một bài duy nhất là ca khúc “Mộng Dưới Hoa,” thơ Đinh Hùng, nhạc Phạm Đình Chương!

Trước khi cho ra đời trung tâm băng nhạc Shotguns, nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Chánh thấy không thể thiếu tiếng hát Elvis Phương… Để xóa đi trở ngại này, ông đã nhờ nhạc sĩ Hoàng Liêm (một thành viên trong ban nhạc Shotguns), bỏ thì giờ và công sức kèm cho Elvis Phương hát nhạc Việt… (2)

Còn ca sĩ Ngọc Mỹ là một trong những tiếng hát hàng đầu của nền tân nhạc Việt, thuở đó. Nhưng: “Rất tiếc, không lâu sau khi trở về với nhạc Việt, Ngọc Mỹ đã theo chồng về Mỹ. Cô bỏ hát, cho đến ngày hôm nay,” nhạc sĩ Ngọc Chánh nói.

Dù là người rất cẩn trọng từ chuyện lớn, tới chuyện nhỏ, làm việc gì cũng bàn bạc với anh chị em đồng chí hướng, nhưng sự ra đời của trung tâm băng nhạc Shotguns đã bất ngờ gặp phải trở ngại rất lớn: Làm sao phát hành? Mà trong thời gian say sưa với dự tính, tất cả mọi người đều không nghĩ tới!

Thuở mới trình làng, trung tâm băng nhạc Shotguns, vốn là một trung tâm “vô danh,” so với những trung tâm băng nhạc khác như Asia của nhóm Lê Minh Bằng (3) hay hãng đĩa Sóng Nhạc của cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông (4)…

Khi đã lỡ leo lên lưng cọp, đối đầu với thực tế, nhạc sĩ Ngọc Chánh mới ngỡ ngàng vì không biết làm cách nào để có thể gửi băng đi các tỉnh miền Nam cũng như miền Trung!

Cuối cùng, con chim đầu đàn của trung tâm Shotguns nhớ tới một số người quen ở cơ sở phát hành báo Nam Cường. Ông liền tìm tới và được cơ sở này nhận giúp, bằng cách gửi kèm băng nhạc Shotguns theo chuyến gửi sách, báo đi các đại lý.

Tuy nhiên, sau khi giải quyết được khâu phát hành, thì Shotguns lại đụng phải một rào cản tâm lý cũng bất ngờ, mạnh mẽ không kém. Đó là sự tẩy chay, quay lưng của khán giả tại các tỉnh: Các tỉnh đồng loạt không chấp nhận ca khúc “Một Trăm Phần Trăm Em Ơi,” sáng tác của Ngọc Sơn-Tuấn Hải trong trong băng nhạc Shotguns #1. Các đại lý đã gửi trả về cho Shotguns tất cả số băng nhạc nhận được… (5)

Tới hôm nay, nhìn lại, những người sản xuất băng nhạc thời đó, vẫn không thể có được một kết luận rõ ràng, dứt khoát về câu hỏi tại sao ca khúc kể trên lại đưa tới bước khởi đầu thất bại nặng nề cho Shotguns? Khi nội dung của ca khúc, chỉ có tính cách giải trí, mua vui một cách dễ dãi mà thôi: “Một trăm em ơi chiều nay một trăm phần trăm/ Một trăm em ơi chiều nay một trăm phần trăm/ Người yêu anh ơi giờ đây lại cấm trại rồi/ Nào đâu nàng biết tâm tư người lính/ Lòng anh nao nao mỗi khi ta hẹn nhau/ với em tâm tình/ Xin em nhớ cho rằng lính hay đa tình/ nhưng mãi mãi vẫn yêu chỉ yêu một người/ một người mà thôi và yêu trọn đời…” (Du Tử Lê)


Chú thích:

(1) Đầu thập niên, 1990, khi gặp lại nữ danh ca Thái Thanh ở Orange County, chúng tôi hỏi bà, theo đánh giá của bà thì trong số những ca sĩ lớp sau của Sài Gòn thuở trước 1975, bà có “chấm” được ai không? Người nữ danh ca được mệnh danh là “Tiếng Hát Vượt Thời Gian,” không ngập ngừng, trả lời ngay rằng, theo đánh giá chung của toàn Ban Thăng Long thì bên nam giới, Thăng Long “chấm” Elvis Phương và, nữ giới lớp sau, Thăng Long chọn Carol Kim.

(2) Nhạc sĩ Ngọc Chánh cho biết, thời trước Tháng Tư, 1975, ở Sài Gòn, nhạc sĩ Hoàng Liêm là một trong những người chơi guitar hay nhất. Vì họ Hoàng chỉ chơi trong ban nhạc mà, không sáng tác ca khúc, nên ngoài giới hầu như rất ít biết tên tuổi ông.

(3) Lê Minh Bằng là tên tắt, ghép lại của ba nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng.

(4) Thời đó, hãng đĩa Sóng Nhạc nghiêng về cổ nhạc nhiều hơn tân nhạc. Nhưng thị trường của Sóng Nhạc rất lớn. Nhất là ở các tỉnh miền Nam.

(5) Tới hôm nay, tự điển bách khoa toàn thư Wikipedia-mở, vẫn còn ghi theo chú thích của một số trang nhà hay bloger rằng, đó là sáng tác của Vũ Chương! Ngoài ra giai đoạn cuối thập niên 1980, vì chưa có hiện tượng Mai Lệ Huyền, nên ca khúc “Một Trăm Phần Trăm Em Ơi,” do một mình Hùng Cường đơn ca, nhạc sĩ Ngọc Chánh nhấn mạnh.
UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 9/30/2018(UTC)
Hạ Vi  
#2114 Posted : Friday, July 13, 2018 12:46:40 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,523
Location: CỏThơm

Thanks: 4243 times
Was thanked: 10672 time(s) in 2618 post(s)



UserPostedImage


m Ù a


sài gòn . không biết nữa . mùa ơi
xuân . hạ . hay thu . khoé mắt người
chòm mây bay lạc vào . như nhủ
với cuối lòng ta kịp mấy lời


t h a n g t r a m





UserPostedImage
Duy An  
#2115 Posted : Friday, September 28, 2018 8:19:03 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,249

Thanks: 208 times
Was thanked: 692 time(s) in 504 post(s)

Báo điện ảnh kịch trường trước năm 1975



Viên Linh/Người Việt

September 26, 2018

UserPostedImage
Ca sĩ, diễn viên Thanh Lan thời trẻ qua ống kính của Viễn Kính, tức Đinh Tiến Mậu. (Hình: Zing)


Giai đoạn 20 năm báo chí văn học nghệ thuật miền Nam 1954-1975 theo tôi là một thời kỳ khác thường hơn cả trong toàn thể lịch sử văn học Việt Nam của thế kỷ 20.

Qua đó, sự phức tạp cần được tìm hiểu và giải thích hầu cho sau này người đọc sẽ thấy dễ hiểu hơn nhờ bớt phải tìm kiếm tài liệu, vì tài liệu càng xa càng khó kiếm, càng lâu càng phai mờ dần. Cho nên đưa ra một nhận định khái quát có thể giúp ích cho sự tìm kiếm sắp xếp tài liệu, đó là nét chính của bài này.

Trước năm 1954 theo tôi được biết, Sài Gòn không có loại báo nào gọi là báo điện ảnh. Tuy rằng nếu tôi nhớ không lầm, khi còn ở Hà Nội tôi đã thấy rạp xi nê Đại Nam trên phố Huế chiếu một phim Việt Nam nhan đề “Kiếp Hoa” nhiều phần từ Sài Gòn đưa ra. Phim ảnh chưa sản xuất được thì báo điện ảnh chưa thể khai sinh.

Trên đường đi học về, từ Hồ Thiền Cuông qua đường Goussard, tới Phố Huế quẹo trái, tôi thấy có một rạp hát mới xây, là rạp Đại Nam. Trước rạp phía trên cao thấy tấm bảng quảng cáo cho một cuốn phim mới, một tấm bảng màu sắc rất bắt mắt.

Đây là loại bảng vẽ bằng chổi rơm, nhúng chổi vào thùng bột màu pha bằng nước lã, bảng hình như bằng một thứ vải thô kiểu bao tải, xung quanh kẹp lại bằng mấy thanh gỗ mỏng, trên kẻ tên phim và vẽ hình tài tử, hay một cảnh phim sơ sài.

Nay tôi không còn nhớ đó là bảng quảng cáo cho phim “Samson et Dalila” hay là cho phim “Kiếp Hoa” nữa. Tên phim là “Kiếp Hoa,” người nói là phim Việt Nam, người bảo là phim Tàu, tài tử trong phim “Kiếp Hoa” gồm những ai cũng không còn nhớ. Nổi tiếng lúc ấy là Lý Lệ Hoa, là Kim Chung. Nhiều phần là Kim Chung, tôi vẫn nhớ vẻ đẹp của bà.

Sau đó khoảng hai năm, khi đã ở Sài Gòn đoàn ca kịch Kim Chung được thành lập và đóng đô trên một con phố chạy dọc theo bức tường ngăn ga xe lửa với phố xá bên ngoài – dường như ở quãng gần Ngã Sáu và bùng binh Chợ Bến Thành, tôi đã có vài lần đạp xe qua, ngó vào rạp xem sao; chỉ tiếc năm lần đi qua thì có tới bốn lần rạp đóng cửa im ỉm.

Sau này rạp chuyển đi chỗ khác, gần đâu khu Trần Quí Cáp (Ngay cả những tên phố tên đường trong bài này tôi viết theo ghi nhận từ những năm giữa thập niên 1950, gần lắm cũng là khoảng 1957, 1958, hơn nửa thế kỷ tính tới lúc tôi đang viết bài này). Các nam tài tử diễn viên của Kim Chung nếu tôi nhớ được thì may ra có vai nam chính, điển trai, là Ngọc Toản. Có thể có một chàng nữa là Đức Quỳnh chuyên đóng vai ác, mặt nhọn, lông mày xếch ngược, ria mép đen, dáng đi khệnh khạng…

Sau phim “Kiếp Hoa,” nổi nhất, có lẽ không còn phim nào khác nổi hơn, Sài Gòn giữa thập niên 1950 chưa có báo chí chuyên về điện ảnh, tuy cũng có những bài báo về cải lương, và ca kịch.

Sinh hoạt của mấy ngành này chủ yếu nơi các đài phát thanh Hirondelle, Con Én, hay Con Nhạn, đài phát thanh của mấy người Pháp, dần dần cũng phiêu dạt, nhưng bù lại, khi người Pháp ra đi, mấy đài trên đổi tên, đổi người.


UserPostedImage
Tài tử Kiều Chinh thời trẻ. (Hình: Zing)


Mặt khác, từ 26 Tháng Mười, 1956, khi nền Cộng Hòa được thành lập, Đài Phát Thanh Quân Đội ở khu Cục Tâm Lý Chiến sau này, là nơi dụng võ của ngành văn nghệ phát thanh, nơi người ta cho chạy lại những đĩa nhạc Asia khổ lớn rất thịnh hành ở trong Nam hồi đó.

Tôi nghe người bạn thân là Thanh Nam nói nhiều về giai đoạn này, anh vào Nam từ năm 1952, và lúc ấy anh là nhân viên Đài Phát Thanh, cùng các tài tử giai nhân một hai năm về sau như Anh Ngọc, Quách Đàm, Tâm Vấn, Thu Trang, và Trung Tá Châu, như là giám đốc đài.

Những kịch sĩ miền Nam tên tuổi lớn có Phùng Há, Năm Châu, Ba Vân, Anh Lân, Kim Cương… Các ký giả liên hệ nhiều với giới ca kịch nhất là ca kịch miền Nam có Nam Đình, Trần Tấn Quốc, Tô Nguyệt Đình, Nam Thanh, Quốc Phượng…

Một thời văn nghệ hơn nửa thế kỷ trước nay không thể nhớ nhiều hơn được nhất là chúng ta không còn sách vở tài liệu, sau những di cư, di tản, và vượt biên, vượt biển, đường bộ hay đường thủy. Một lần để nhắc lại, một lần rồi thôi, dĩ vãng.

Năm 1959-1960 trong khi dạy học ở Ban Mê Thuột tôi vẫn viết bài gửi về cho tuần báo Điện Ảnh lúc ấy do ông Nguyễn Ngọc Nhạ trông coi, thường là truyện ngắn.

Nhưng sau một thời gian đọc tờ Điện Ảnh, thấy đủ loại bài viết về xi nê, từ chuyện tình các tài tử Hollywood cho tới các bài dịch thuật truyện phim, phỏng vấn minh tinh tài tử ca sĩ, tôi nghĩ sáng tác còn được nữa là phóng tác, mà phóng tác từ báo chí xi nê ngoại quốc, tôi thấy tiệm sách Tây (tên là Portail) trên đường Catina có bán.

Thỉnh thoảng tôi có mua một tờ, nhất là khi thấy những tấm hình lộng lẫy của Marilyn Monroe hay Brigitte Bardot in cả trang báo. Thời gian đó việc kiểm duyệt sách báo ngoại ngữ rất gắt gao, khôi hài là nếu tiệm sách chịu cắt bỏ cái hình đó, họ được phép bán tờ báo đó, hay trao tờ báo đó cho người đặt mua từ trước.

Bạch Đằng tại Ban Mê Thuột là một trường trung học tư thục do các bạn tôi thành lập, các anh Quy, Liễn, Thọ, tôi chỉ phải dạy 4 hay 6 giờ một tuần, nên dư thì giờ viết và vẽ.

Bài gửi về báo Màn Ảnh (vừa đổi tên từ Điện Ảnh sau khi nội bộ có đổ vỡ, nhánh ở lại vẫn làm Điện Ảnh, nhóm ra đi lập ra tờ báo mới tên là Màn Ảnh) tôi thường kèm theo cả tranh vẽ, hay hình cắt ra từ tờ báo Tây.

Một hôm tôi được tòa báo hỏi: anh vừa viết vừa vẽ đấy à? Phải anh vẽ không? Tôi bảo phải. Nếu anh vừa viết vừa phóng tác lại vừa vẽ những bài anh viết sao anh không về Sài Gòn làm báo với chúng tôi?

Thế là một hôm sau khi dạy giờ chót trong tuần (tôi vẫn nhờ thu xếp để chỉ dạy ba ngày thôi, sáng Thứ Sáu có thể ra bến xe đò Minh Trung mua một cái vé 110 đồng là sẽ về tới Sài Gòn trong ngày; sáng Thứ Hai lại đi ngược lại là mua cái vé Minh Trung lên Ban Mê Thuột, đi dạy đúng giờ) – tôi đã mua cái vé chót về Sài Gòn, và bỏ việc dạy học.

Lý do, ông bà Mai Châu, chủ nhân tờ Màn Ảnh, mời tôi làm thường trực cho tờ báo. Là một người làm việc bằng ba (viết, vẽ, dịch), thế nào các ông bà chủ báo cũng quý tài. Lúc ấy phim ảnh Tây phương khá rầm rộ, Sài Gòn có khoảng sáu, bảy rạp chiếu phim, và báo chí về phim ảnh đã có tới hai ba tờ, không kể những trang điện ảnh kịch trường trên các nhật báo.

Một số những tờ báo ban đầu chuyên về điện ảnh và nhân sự chính, khoảng năm năm đầu từ 1955-1960:

-Điện Ảnh tuần báo: Nguyễn Ngọc Nhạ, Quốc Phong, Anh Tuấn.

-Màn Ảnh: Mai Châu, Trần Quân, Hoàng Hải Thủy, Ngọc Hoài Phương.

-Kịch Ảnh: Quốc Phong, Mai Thảo, Lê Hoàng Hoa, Thanh Nam.

-Hồng tuần báo: Trịnh Quan, Viên Linh, Văn Quang, Quỳnh Kỳ.

-Sân Khấu Kịch Trường.

-Nhạc Trẻ: Trường Kỳ, Tùng Giang.

-Các nhật báo miền Nam phần đông có nguyên trang sân khấu điện ảnh…

Các đạo diễn điện ảnh và giới diễn viên tài tử trẻ trung hầu hết đều xuất hiện không nhiều thì ít trên vài diễn đàn này, như Đoàn Châu Mậu, Thân Trọng Kỳ, Lê Hoàng Hoa, Kiều Chinh, Thanh Lan, Trần Quang, Vũ Đức Duy, Đỗ Tiến Đức, Lê Quỳnh, Lê Mộng Hoàng…
(Viên Linh)

Edited by user Friday, September 28, 2018 8:29:29 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 9/30/2018(UTC)
Duy An  
#2116 Posted : Thursday, October 25, 2018 1:20:23 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,249

Thanks: 208 times
Was thanked: 692 time(s) in 504 post(s)
Đêm Sài Gòn xưa, và ban hợp ca Thăng Long

UserPostedImage

Từ trái, hàng đứng: Phạm Duy, Hoài Bắc-Phạm Đình Chương, Hoài Trung. Hàng ngồi: Thái Hằng, Khánh Ngọc, Thái Thanh. (Hình: Website phamdinhchuong)


Du Tử Lê/Người Việt


Quá khứ, Sài Gòn từng có một chân dung, một nhan sắc. Đó là chân dung khác. Trái tim khác. Phiên bản khác với đêm. Sài Gòn. Xưa.

Đêm, Sài Gòn bây giờ, với phố đi bộ, con đường gấm hoa của hàng ngàn tuổi trẻ, và thỉnh thoảng, những sân khấu lớn được dựng giữa đất/ trời, làm bệ phóng cho những tiếng hát như những phi tiễn, phóng vào vũ trụ, làm mờ cả những tinh tú sáng chói nhất: Đó là sự xuất hiện và thao diễn cuồng nhiệt của những… “siêu sao” âm nhạc. Những cật lực lao tới, bất kể bến bờ nhân gian nào, của những thần tượng giới trẻ, Sài Gòn hôm nay.

Tôi muốn nói, nếu đấy là quảng trường của đêm bập bùng những ngọn lửa ngồn ngộn khát khao, hối hả hơi thở của sức sống hôm nay thì, đêm, Sài-Gòn-xưa, là sự thiếp ngủ, bằn bặt chiêm bao của những tiếng vỗ một bàn tay.

Góc đêm, Sài Gòn xưa, với tôi, là những con đường vắng lặng, với những ngọn đèn đường lẻ loi, cúi xuống kiếm tìm linh hồn, hay ngắm nhìn chiếc bóng chơ vơ của chính nó.

Thị dân đêm, Sài Gòn, xưa, nếu phải ra khỏi nhà trước 12 giờ khuya, sẽ nghe được tiếng giày mình bị hè phố ném trả lại, như một nhắc nhở cay nghiệt của hoang vắng.

Nhưng, sự thực không phải thế. Đời sống tinh thần Sài Gòn, xưa, với tôi là những “địa đạo” văn hóa nghệ thuật, dưới tầng sâu. Những mái tóc-thề-âm-nhạc trên đôi vai sương khói của những cánh hạc vàng giữa đêm thơm hương hư ảo.

Cách khác, với tôi, đấy là những góc khuất – hay những miểng ngà, ngọc mosaic hoặc, quý kim, khi ráp lại, thành những bức tranh, tựa được hoàn tất từ cổ tích.

Những “địa đạo” văn hóa nghệ thuật của đêm, Sài Gòn xưa, dường được phân bổ đều cho từng góc phố. Tùy nhu cầu tinh thần, thời đó, bạn sẽ thoải mái tìm được cho mình chỗ ngồi thích hợp ở một phòng trà ca nhạc nào đấy.

Nếu là người ái mộ tiếng hát “liêu trai” Thanh Thúy và, chuyện tình tuyệt vọng của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, thời ông mới chập chững bước vào cõi chấp chới những chùm đèn tiền trường sân khấu bất trắc, thì bạn sẽ phải lên lầu hai, phòng trà Đức Quỳnh, ở đường Cao Thắng – để nghe “Thương Một Người” do chính linh hồn của ca khúc ấy: Thanh Thúy, diễn tả.

Nếu bạn là một trong những “fan” âm thầm nhưng quyết liệt của tài-hoa-bất-hạnh Trúc Phương, thì bạn sẽ phải tìm đến phòng trà hồ tắm Cộng Hòa nghe Minh Hiếu nghẹn ngào với “Tàu Đêm Năm Cũ,” hoặc “Buồn Trong Kỷ Niệm” với “Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn” mà dân Sài Gòn đã sớm đổi lời thành “Đường vào trường đua, có trăm lần thua, có một lần… huề”…

Dĩ nhiên, bạn cũng sẽ có một chỗ ngồi kín đáo ở phòng trà Hòa Bình, khu chợ Bến Thành hoặc phòng trà Tự Do gần đấy; nếu bạn muốn nghe Băng Tâm hát “Tiễn Em,” hoặc “Ngậm Ngùi” với tiếng hát Lệ Thu…

Cách gì, tôi cũng không thể quên phòng trà Khánh Ly trên đường Tự Do, những năm cuối thập niên 1960. Và cũng trên con đường này, là Đêm Màu Hồng, “địa đạo” của hợp ca Thăng Long. Cùng nhiều, nhiều nữa, những mạch ngầm văn hóa nghệ thuật khác.

“Địa đạo” mang tên Đêm Màu Hồng, từ ngày khai trương tới lúc phải đóng cửa vì giông bão thời thế, được mô tả là… “không giống ai!” Nó vốn là nơi tập trung những người bạn văn nghệ (đôi khi nhiều hơn khách) của nhạc sĩ Hoài Bắc (Phạm Đình Chương).

Đó cũng là cõi riêng của tiếng hát Thái Thanh – cánh “hạc vàng” của nền tân nhạc Việt Nam, khởi tự đầu nguồn…

Ở góc Sài Gòn, xưa này, hầu như không đêm nào, vắng bóng nhà văn Mai Thảo. Đặc biệt, rất hiếm khi ông đi một mình. Nếu đêm trước tác giả “Mười Đêm Ngà Ngọc” đi với Thanh Tâm Tuyền, thì đêm sau, bạn đừng ngạc nhiên, khi thấy ông đi với “Thần Tháp Rùa” Vũ Khắc Khoan, hoặc “Thu Vàng” Cung Tiến… Cũng có khi ông đem theo nhiều hơn một người bạn! Thí dụ tiếng hát châng lâng lẫy lừng Anh Ngọc; cùng “những ngón tay bắt được của trời” mang tên Duy Thanh, Thái Tuấn, Ngọc Dũng…

Từ “địa đạo” văn hóa nghệ thuật này, những đứa con tinh thần mới ra đời được tiếng hát Thái Thanh “giới thiệu,” hoặc do chính Hoài Bắc/ Phạm Đình Chương, đắp đỗi phần thịt da mới cho những sáng tác cũ, của ông. Những ca khúc, mà thời gian không đủ sức gạch bỏ; phải… ngả mũ chào thua…

Nhưng dù mới hay cũ, người nghe cũng sẽ nhận ra những ca khúc ấy, đa phần, như một thứ bút ký, hoặc nhật-ký-âm-giai của họ Phạm trong đời thường. Đó là những ca khúc như “Người đi qua đời tôi/ không nhớ gì sao người?” (Người Đi Qua Đời Tôi, thơ Trần Dạ Từ); “Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa/ cho tôi về đường cũ nên thơ/ cho tôi gặp người xưa ước mơ…” (Nửa Hồn Thương Đau, ý thơ Thanh Tâm Tuyền); hoặc “Hãy mang đi hồn tôi/ một hồn đầy bóng tối/một hồn đầy gió nổi/ một hồn đầy hương phai…” (Khi Cuộc Tình Đã Chết, thơ Du Tử Lê)…

Người nghe, cũng có thể bất ngờ chết lặng với “Kỷ Vật Cho Em” (thơ Linh Phương, nhạc Phạm Duy) qua tiếng hát Thái Thanh; hay “Xóm Đêm” do chính Hoài Bắc, gần sáng, chếnh choáng với ly rượu trên tay, lừng khừng bước tới sát giới hạn sân khấu, cất tiếng, theo yêu cầu của bằng hữu: “Đường về canh thâu/ Đêm khuya ngõ sâu như không màu/ Qua phên vênh có bao mái đầu/ Hắt hiu vàng ánh điện câu…”

Những góc đêm, Sài Gòn, xưa, như thế, cho tôi cảm tưởng ngay những người đang say cũng sẽ giật mình, tỉnh lại; khi những chùm dây dẫn điện của những khu bình dân, Sài Gòn, rối nùi khốn khó. Đó cũng là thời gian tác giả “Xóm Đêm” phải về tá túc nơi căn gác ngôi nhà thân mẫu của ông ở đường Cống Quỳnh, gần Chợ Thái Bình ở đường Phạm Ngũ Lão. Lúc bi kịch gia đình, thình lình chụp xuống, xô đổ mọi xây dựng những tưởng vĩnh cửu đời riêng, của con người tài năng ngoại khổ này!

Tuy nhiên, với tôi, mặt khác của “vàng vọt” nơi những ngọn đèn được câu từ nhà này, tới nhà khác, lại là ghi nhận rực rỡ nhân bản. Tinh thần chia sẻ lần đầu và duy nhất của tân nhạc Việt Nam, với những khu bình dân, xóm nghèo, của họ Phạm…

Cũng vậy, nếu bạn rời khỏi Đêm Màu Hồng vào một đêm hạ tuần, có trăng, tôi tin, tiếng hát Thái Thanh hay Hoài Bắc sẽ vẫn ở trong tâm hồn bạn cùng những vạt trăng lãng mạn tơ nõn: “Chưa gặp em, tôi đã nghĩ rằng/ có nàng thiếu nữ đẹp như trăng…” (Mộng Dưới Hoa, Đinh Hùng/ Phạm Đình Chương). Hoặc cảm thức bi lụy như những miểng chai gắn trên bờ tường ký ức đau đớn: “Đò trăng cắm giữa sông vắng/ Gió đưa câu ca về đâu/ Nhìn xuống đáy nước sông sâu/ Thuyền anh đã chìm đâu…” Đó là “Trương Chi” của Văn Cao. Là vầng trăng của những “Đàn đêm thâu/ trách ai khinh nghèo quên nhau/ Đôi lứa bên giang đầu/ người ra đi, với cuộc phân ly” (Khối Tình Trương Chi của Phạm Duy).

Nếu một khuya khoắt nào, ra khỏi “địa đạo” Đêm Màu Hồng, gặp những hạt mưa không hẹn nhưng đã đợi bạn nơi hè đường từ rất sớm thì, bạn cũng đừng ngạc nhiên, khi cảm được thanh âm lóc cóc của những chuyến xe thổ mộ, Sài Gòn, ngoại ô, dằn xóc, tủi hờn vì khoảng cách địa dư trong “Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội” của Phạm Đình Chương/ Hoàng Anh Tuấn, như những hồi tưởng, không đoạn kết.

Tôi cũng đã từng thấy những đôi vai sát, khi chia tay Đêm Màu Hồng. Họ không nói với nhau một lời nào. Tự thân những khung cửa khép, gió sông Sài Gòn, từ bến đò Thủ Thiêm thay bạn thì thầm về niềm tin yêu, ngày mai, bình minh. An lành thế giới…

Và, thưa bạn, đêm nay, giữa quê người, khi hợp ca Thăng Long, chỉ còn lại duy nhất Thái Thanh, “cánh hạc trong trăng” cũng đang trả lại nhân gian buồn/ vui một kiếp, chuẩn bị đi xa theo Phạm Đình Chương, Hoài Trung, Thái Hằng, và người khách thường trực, Mai Thảo cùng các bạn của ông, tôi chợt thấy, dường tất cả chúng ta, không ai thực sự bỏ đi khỏi đất nước của mình.

Mọi người vẫn ở đâu đó, trong những góc khuất, đêm. Sài Gòn. Xưa. Có thể mọi người đã chính là những đêm mưa, những vạt trăng, những miếng mosaic; những miểng thủy tinh vỡ, găm trên bờ tường đau thương, quá khứ… Thậm chí, có thể ai đó, cũng đã là những cột đèn lẻ loi, cúi xuống kiếm tìm hồn mình hay, chiếc bóng của chính họ giữa Sài Gòn, một thuở, dù đã lâu, không còn hiện hữu!

Bởi vì, thưa bạn, tôi vẫn nghĩ: như đất nước, Sài Gòn không của riêng ai. Sài Gòn, cũng không của một thời kỳ, một giai đoạn mà Sài Gòn, là ký ức tập thể. Và cũng từng là một phần lộng lẫy của trái tim tổ quốc. (Du Tử Lê)

UserPostedImage
Duy An  
#2117 Posted : Sunday, December 2, 2018 2:19:40 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,249

Thanks: 208 times
Was thanked: 692 time(s) in 504 post(s)
Hynos thương hiệu một thời



Trang Nguyên


“Hynos, cha cha cha. Chà chà chà, hàm răng em trắng bóc, nụ cười tươi như hoa, cha cha cha”. Đoạn nhạc quảng cáo vui nhộn trên radio gây ấn tượng với tôi từ thuở nhỏ. Nhưng vui hơn hết là lời hát này được phát qua loa phóng thanh từ miệng anh chàng lái xe bán kem đánh răng Hynos đậu trước cửa chợ Hoà Hưng. Cái giọng anh rè rè, hát rê ra nghe như tấu hài, khiến bà con đi chợ bu kín hai cánh cửa phía sau xe mở toang trưng bày các hộp kem mang hình anh Bảy Chà.

UserPostedImage

Biển quảng cáo kem đánh răng Hynos to đùng có thể bắt gặp ở các cửa ngõ vào thành phố. Nguồn: Manhhaiflicks


Chuyện gốc gác anh Bảy Chà thì tôi đã viết trong bài “Ấn kiều ở Sài Gòn” trước đây, nhắc lại nhiều thêm dông dài. Tôi chỉ xin gợi nhớ hình ảnh người đàn ông châu Phi da đen, cười nhe hàm răng trên các bảng quảng cáo kem đánh răng Hynos giăng khắp Sài Gòn, được dân chúng xem là hình ảnh của anh Bảy Chà. Anh Bảy Chà và anh châu Phi là hai chủng tộc khác một trời một vực, vậy mà dân chúng Sài Gòn vẫn cứ quơ chung làm một. Do đâu mà người ta nghĩ như vậy?

Chẳng qua, thời còn Pháp thuộc, người Chà Và luôn được người Pháp xem trọng hơn dân Annam, tuy họ chỉ là một nhóm sắc dân nước ngoài đến Sài Gòn làm ăn sinh sống bằng nghề chuyên cho vay, buôn bán, chăn nuôi dê, mua đất cho thuê, làm cảnh sát… Chính vì sự ưu đãi của người Pháp dành cho họ nên trong dân gian truyền miệng lời vè có ý chăm chọc “Chà và, ma ní tí te / Cái bụng thè lè, con mắt ốc bươu” để nói lên ngoại hình mấy ông Chà Và cởi trần quấn xà rông đưa cái bụng thè lè đứng bán vải ở Chợ Cũ.

Chuyện này cũng không lạ ngay cả đối với người phương Tây, chẳng cần phân biệt người nước nào, hễ là da trắng, người Annam mình khinh gọi “mắt xanh mũi lõ” tuốt. Nguyên cụm từ này xuất phát từ bài văn tế Ngạc Nhi (Garnier), bị quân Cờ Ðen giết gần đê La Thành khi quân Pháp tiến đánh Hà Nội. Tổng đốc Hà Nội lệnh cho Tam nguyên Yên Ðỗ (Nguyễn Khuyến) viết bài văn tế để làm hài lòng người Pháp trong lễ truy điệu. Nhưng bài văn tế chỉ được truyền khẩu lúc đó, sau này mới đi vào văn học Việt Nam. “Than ôi! Một phút sa cơ, ra người thiên cổ. Nhớ ông xưa: Cái mắt ông xanh, cái da ông đỏ. Cái tóc ông quăn, cái mũi ông lõ. Ðít ông cưỡi lừa, miệng ông huýt chó. Ông đeo súng lục liên, ông đi giày có mỏ. Ông ở bên Tây, ông sang bảo hộ…”.

Bài văn tế còn dài, thôi không sa đà. Tôi trở lại chuyện kem đánh răng Hynos với cái hình người da đen cười nhe hàm răng. Với cách nhìn quảng cáo của người làm thương mại, hình ảnh con người hay con vật dễ gây ấn tượng cho người xem nhất. Chẳng hạn xà bông Cô Ba, La-de (bia) con cọp, xá xị con cọp, nước cam vàng con nai… Kem đánh răng Hynos, Perlon, Leyna sản xuất trong nước, không kể đến các thương hiệu nhập cảng của Pháp trước đó như Kool, Gibbs, C’est it, và sau đó là Colgate của Mỹ bán ở cửa hàng PX cho quân đội, thì Hynos là một thương hiệu nổi bật nhờ hình ảnh anh Bảy Chà cười khoe hàm răng gây ấn tượng cho mọi giới.

Những người lớn tuổi còn nhớ vào giữa thập niên 1960 khi ông Vương Ðạo Nghĩa trở thành chủ hãng kem đánh răng Hynos, ông bắt đầu tung chiến dịch quảng cáo rầm rộ từ thành thị đến nông thôn qua mọi phương tiện truyền thông, hình ảnh anh da đen cười nhe hàm răng trắng bóc, màu sắc trắng đen đối lập để quảng bá kem đánh răng của hãng mình. Vào thời gian này, câu vè anh Chà Và được giới bình dân biến tấu, có chút dung tục nhưng rõ ràng “hàm răng trắng” đã in sâu vào trí nhớ của người tiêu dùng. “Chà và ma ní tí te / Hàm răng trắng nhách, con… đen thùi”.

UserPostedImage
Quảng cáo kem đánh răng Hynos vào ngày Tết năm 1969.Nguồn: Manhhaiflicks


Hãy khoan bàn đến chuyện khởi nghiệp của ông Vương Ðạo Nghĩa, ta thử nhìn lại một chút hình ảnh sinh hoạt đời sống của dân Nam kỳ nói chung dân Sài Gòn nói riêng, nhất là vấn đề vệ sinh răng miệng. Mãi đến năm 1945, chuyện vệ sinh răng miệng vẫn chưa được người dân quan tâm đúng mức. Hầu hết dân chúng sống ở nông thôn súc miệng chà răng bằng nước muối. Răng hư thì nhổ, người có điều kiện tài chánh thì khi mất răng đến nha công bịt răng vàng (sau năm 1954 mới bắt đầu xuất hiện nha khoa thẩm mỹ, trồng răng bằng hợp chất nhựa giả sứ). Chỉ một số người sống ở thành thị mới sử dụng bột kem đánh răng đựng trong hộp thiếc nhập cảng từ Pháp mỗi ngày để chăm sóc hàm răng.

Thực ra, việc bảo vệ răng đã có từ ngàn năm trước nhưng việc phát triển ngành nha khoa rất chậm, phải trải qua một chặng đường dài để hoàn thiện các phương thức thẩm mỹ răng. Việc nhuộm răng đen dành cho giới phụ nữ ở xứ ta trở thành một phong tục được xem là chuẩn mực đạo đức và là thẩm mỹ trong việc bảo vệ hàm răng. Nhà thơ Hoàng Cầm từng ca ngợi nét duyên của những cô gái chợ Hồ, chợ Sủi: “Những cô hàng xén răng đen / Cười như mùa thu tỏa nắng…” (Bên kia sông Đuống).

Hàm răng đen bóng của các cô gái trở thành điều bình thường trong cuộc sống ở đàng ngoài. Trong một bài báo của học giả nhà báo Phan Khôi viết trên Tạp chí Phụ nữ Tân Văn (số 66, 1930) dẫn lời của một nhà báo hiệu Lư Sơn Chơn Tướng rằng: “Tôi từng đi đủ Trung – Bắc hai kỳ, tôi thấy những nhà thi lễ, tức là bậc thượng lưu trong xứ, thì đàn bà con gái của họ cũng răng đen, cho như thế là trang nghiêm mỹ lệ; còn trái lại, răng trắng thì cho là đồ ăn chơi đĩ thõa. Coi đó thì biết cái tục răng đen của người Nam là từ các đấng tiên dân bày ra và đã lâu đời lắm rồi, chẳng những cho là đẹp mà cũng lấy đó tỏ ra là nề nếp con nhà nữa…. Khắp nước Việt Nam, trừ xứ Nam kỳ ra, thì tôi thấy đâu đâu đàn bà con gái cũng răng đen hết…”.

Có lẽ, ông Phan Khôi trích dẫn nhận xét của nhà báo nọ viết ra ở khoảng thời gian trước đó nữa khi ông vào Nam làm báo. Phong trào khai hoá văn minh của người Pháp ở mức độ nào đó, đến thời điểm đầu thế kỷ hai mươi đã bắt đầu có hiệu quả. Phong tục nhuộm răng tàn lụi dần chính thức ở khoảng thời gian 1945. Mãi đến năm 1954 khi Việt Nam chia đôi giới tuyến, người miền Nam bắt đầu biết đến hàm răng đen bóng của các bà lớn tuổi miền Bắc di cư. Ðó là những gì còn sót lại của hàm “răng đen nhưng nhức hạt dưa” mà ngày nay vẫn còn có thể tìm thấy ở một vài dân tộc miền núi vùng Tây Bắc.

UserPostedImage


Thời điểm đó cũng chính là thời kỳ ngành nha khoa trong nước bắt đầu phát triển. Việc giữ vệ sinh răng miệng được chú trọng hơn, Người dân ít còn sử dụng vỏ cau khô để chà sạch răng. Bột đánh răng, kem đánh răng theo phương thức sản xuất ở phương Tây bắt đầu phổ biến đến mọi tầng lớp ở thành thị cũng như nông thôn. Và nó hiển nhiên trở thành cơ hội cho các hãng kem đánh răng trong nước khởi nghiệp, cạnh tranh với hàng nhập cảng.

Trở lại chuyện ông Vương Ðạo Nghĩa một người Việt gốc Hồng Kông trở thành chủ hãng kem đánh răng Hynos là một chuyện hy hữu. Nguyên ông làm công cho hãng, do tính trung thực, làm việc cần cù mà được tín nhiệm chọn làm người “thừa kế”, khi người chủ trước gốc Do Thái nhượng lại hết cơ ngơi gầy dựng trở về cố quốc, bởi bà vợ người Việt của ông chẳng may qua đời sớm khiến ông không còn tha thiết chuyện làm ăn. Có nhiều tài liệu cho rằng, người chủ trước là người Mỹ nhưng thật ra chẳng ai biết và cũng chẳng có tài liệu nào ghi nhận chính xác gốc gác của hãng kem Hynos. Hynos liệu có phải là tên họ của ông không, chứ từ khi ông Vương Ðạo Nghĩa tiếp nhận cơ ngơi thì đã có tên thương hiệu này rồi.

Sau khi tiếp nhận, ông Vương Ðạo Nghĩa mở rộng chiến dịch quảng cáo khắp nơi. Bao nhiêu lợi nhuận, ông trích đến phân nửa để làm quảng cáo. Ðặc biệt, ông nhờ người cháu gọi ông bằng chú, là tài tử Vương Vũ trong lần sang Sài Gòn ghé thăm ông, thực hiện đoạn phim quảng cáo. “Thần đao đại hiệp” trong một lần theo đoàn bảo tiêu, vật phẩm quý giá bị sơn tặc cướp phá. Cuộc chiến kinh hoàng máu nhuộm xác thân. Tất cả đều chết, duy chỉ còn mỗi Thần đao tiến đến chiếc xe hàng, mở thùng bảo tiêu thì ôi thôi, bên trong đó là một lô kem đánh răng Hynos.

Ðoạn phim quảng cáo tốn kém này thường chiếu khởi đầu cho một bộ phim Võ thuật Hồng Kông không chỉ có các rạp ở Sài Gòn mà còn ở Hồng Kông, Thái Lan, Singapore nhằm đưa thương hiệu Hynos ra nước ngoài. Sau năm 1975 Hynos bị quốc hữu hoá thành hãng kem đánh răng Phong Lan, rồi theo thời gian thành P/S hiện nay.


UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (5)
106 Pages«<104105106
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.