Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

104 Pages«<102103104
NHỮNG NÉT ĐẸP VĂN HÓA VIỆT NAM
CỏThơm
#2159 Posted : Saturday, June 4, 2016 12:22:54 PM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 162
Points: 516
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 127 times
Was thanked: 93 time(s) in 68 post(s)


Mộc mạc nón lá Việt Nam ngày xưa, pre-75



Từ ngàn xưa, nón lá đã gắn liền với vẻ đẹp của người Việt Nam. Nét mộc mạc, chân phương của vành nón lá đã đi vào hình ảnh, thi ca, làm ngẩn ngơ say đắm bao thế hệ.

Nón lá theo người nông dân ra đồng, theo tà áo dài thiếu nữ xuống phố, theo bà theo mẹ ra buổi chợ sớm hôm. Chợ xưa chẳng ồn ào xe cộ, nhưng tấp nập người vào kẻ ra, trên đầu ai cũng có vành nón lá, trông xa xa tinh tươm, đẹp đẽ vô ngần.

Sáng tới trường, khi chiều tà hối hả, từng tốp thiếu nữ đôi mươi thanh tân, duyên dáng trong tà áo dài và vành nón lá, vòng xe vội vã lướt qua mà khiến ai nấy ngoái lại ngẩn ngơ.

Nón lá theo người Việt suốt chiều dài lịch sử. Cùng với áo dài, thấy nón lá ở đâu là thấy hồn quê ở đó, xuyến xao khôn nguôi.

Cùng ngắm lại những hình ảnh xưa cũ, mộc mạc về chiếc nón lá quê hương dưới đây. Hầu hết trong số đó là hình ảnh được ghi lại bởi các nhiếp ảnh gia ngoại quốc, có mặt tại Việt Nam giai đoạn 1960 - 1970.






Chợ Cần Thơ 1959 - 1960





Chợ cá Tây Ninh năm 1968







Một góc chợ Đà Lạt xưa







Buổi chợ đông đúc và náo nhiệt tại Ban Mê Thuột năm 1969





Chợ Lớn - Sài Gòn 1967







Chợ Biên Hòa 1965





Hình ảnh đặc biệt tại chợ Kontum năm 1969, gần như tất cả người đi chợ đều đội nón lá





Ảnh hiếm về chợ Đông Ba - Huế năm 1923





Một khu chợ ở Quảng Trị năm 1965. Qua những khung hình ta có thể thấy các chị các mẹ thời xưa thường mặc áo dài trong sinh hoạt đời thường.





Chợ Huế năm 1963





Chợ Huế trong cơn mưa năm 1961





Cần Thơ 1968 - Chợ Bến Ninh Kiều





Chợ cũ Sài Gòn 1967





1968 - Đường Trần Hưng Đạo - Huế, đoạn trước chợ Đông Ba





Chợ Ban Mê Thuột năm 1963 - 1964



Theo Depplus.vn



1 user thanked CỏThơm for this useful post.
phamlang on 7/14/2016(UTC)
CỏThơm
#2160 Posted : Saturday, June 4, 2016 12:25:17 PM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 162
Points: 516
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 127 times
Was thanked: 93 time(s) in 68 post(s)

.




Thương chiếc nón lá của mẹ




Chiếc nón lá gắn bó với mẹ trên mọi nẻo đường quê nuôi những đứa con lớn khôn thành người. Hình ảnh người mẹ dầm mưa dãi nắng mưa sinh làm lòng tôi bổi hổi bồi hồi một thuở vi hàn cả nhà nương tựa vào nhau rau cháo qua ngày.

Từng gọt mồ hôi rơi thấm vào kí ức tôi nỗi nhớ quê nhà đã gắn bó với tôi suốt một đời ấu thơ bên mẹ cha mà tôi không thể nào quên. Ngày ấy mỗi lần mua chiếc nón mới mẹ quý lắm, mẹ nói không được cầm nón để quạt rất dễ làm hư nón.

Có lẽ vì thế mà trong nhà mẹ làm rất nhiều quạt mo cau để quạt mát cho đứa con vào giấc ngủ mỗi trưa hè và cũng là để giữ gìn chiếc nón lá.

Chiếc nón được mẹ cất cao trên thành phên mỗi lần ra khỏi nhà nó như vật bất ly thân của mẹ. Mẹ tìm một đoạn dải lụa màu hồng làm sợi dây buộc chiếc nón trông thật dịu dàng mà không kém phần rực rỡ.

Chiếc nón lá âm thầm đo chiều dài mưu sinh dặm trường mà mẹ mưu sinh để kiếm tiền cho chúng tôi ăn học. Thưở ấy có lúc ba đi làm ăn xa cả tháng mới về.

Một mình mẹ lặng lẽ trên đồng xa chăm chút cho từng bông lúa chờ vụ mùa đến, chờ mùa gặt rộn rã sắp cận kề. Nắng mùa thu vừa dịu dàng vừa đỏng đảnh hắt lên đôi mắt hiện đầy nỗi lô âu nhưng lại tràn đầy yêu thương trìu mến.

Chiếc nón bảo vệ mái tóc dài đen huyền của mẹ khỏi bạc màu thời gian. Nắng gay gắt nón ưỡn tấm thân ra nhận từng hơi nóng bỏng rát da thịt - mưa tầm tã nón lại đón từng giọt mưa khỏi ướt thân gầy suốt một đời lam lũ nào nghĩ đến bản thân mình.





Chiếc nón đếm từng hơi sương từ trên cành cây vào ban mai rơi xuống lúc mẹ đi chợ xa bình minh còn chưa ló dạng. Mẹ một thân một mình đi trong đêm trời còn tối nhem.

Mẹ vẫn một đầu gánh mít non, đầu kia gánh sả ra chợ bán rồi mua quà về cho đàn con mỏi cổ ngóng trông nơi thềm nhà. Đường làng đã in không biết bao nhiêu dấu chân mẹ cực nhọc những gánh hàng như thế, những gánh hàng gánh cả cuộc đời con.

Chiếc nón lá tả tơi theo tháng năm khi hứng nắng hứng gió cho dáng mẹ bớt hao gầy. Mỗi lần cầm chiếc nón trên tay tôi cảm nhận như nón đang thầm thì với tôi bao gian lao sương gió mẹ trải qua trên đường đời xuôi ngược.

Những câu thơ vụng về tôi viết tặng mẹ ngày sinh nhật thực không thể khắc hoạ hết nỗi cơ cực mẹ dành cho chúng tôi: “Còn chiếc nón cời mẹ vác trên vai/ Cái nón rách nát tả tơi với đời/ Nắng rọi cháy sạm làn da/ Da đen da trắng cũng vì đàn con…”. Mẹ một đời vất vả là vậy nhưng khi chiếc nón hư gần hết mẹ vẫn không đổi nón mới.

Mẹ hi sinh đội nón rách đi làm để chắt chiu từng đồng cho con mua quyển vở cây bút mới đến trường. Nhà nghèo mẹ làm gì có tiền sắm sửa cho mình mỗi khi gió Đông Bắc lùa về mang theo sương gió lạnh giá.

Mẹ vẫn như vậy, vẫn chiếc nón cời đội từng cơn mưa ròng chăm chút cho những giấc mơ chưa thành lời của đứa con nhỏ. Giờ đây con bôn ba trên đường đời xuôi ngược con lại nhớ đến chiếc nón cời đã theo mẹ suốt một đời, nhớ chiếc nón của tuổi thơ dại khờ mà con nào đâu có biết.

Một ngày bất chợt con về thăm mẹ, con mua cho mẹ chiếc nón mới của xứ Huế. Mẹ vui mừng cầm chiếc nón ôm vào lòng nức nở: “Mua làm chi tốn tiền rứa con, để dành đấy mà phòng khi ốm đau…”.

Câu nói mẹ chưa dứt lời mà lòng con đã nhói đau. Con nhận thấy trong đôi mắt trũng sâu của mẹ ngân ngấn lệ.



Phan Nam



Duy An
#2161 Posted : Saturday, June 18, 2016 1:44:56 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)

Cấp của ngày xưa


Trang Nguyên

Tình cờ vào trang web thấy lại một số hình ảnh xưa Vũng Tàu tự nhiên làm tôi nhớ. Tôi nhớ đó cũng là lần đầu tiên Ba sắm được chiếc xe Honda 68 mới toanh “trùm mền” cất trong nhà ít có dịp đi đây đó vì nghiệp binh lửa luôn phải xa gia đình. Rồi một ngày chiều Thứ Sáu cuối tuần từ quân đoàn về, Ba nói với chúng tôi “ngày mai đi Cấp chơi”. Cuộc đi chơi xa chẳng cần chuẩn bị gì trước, nói đi là đi theo kiểu nhà binh. Má tôi chỉ kịp gói ghém ít quần áo cho ba cha con, còn ăn uống thì Ba bảo đi đường gặp gì ăn nấy.





Tôi không biết bắt đầu chuyện Cấp của ngày xưa như thế nào vì có quá nhiều hình ảnh gợi nhớ những hoài niệm hiện ra trong đầu. Và không hiểu sao tôi từng có một thời gian dài mấy chục năm để chẳng hề nhớ gì cả mặc dầu đó là chuyến đi chơi đầy ấn tượng với một đứa trẻ con và sau này tôi có hàng chục lần đi chơi Vũng Tàu với bạn bè. Nhưng sao bây giờ ở cái tuổi đầu điểm hai màu tóc thì tôi lại nhớ, nhớ từng chi tiết chuyến đi mà tôi cứ ngỡ như là chuyện của mới ngày hôm qua. Già rồi. Chỉ có người già mới sống bằng ký ức, cố níu ký ức một thời để khơi gợi quãng thời gian đẹp đẽ mà thuở đó mình từng trải qua. Ðó là lần đầu tiên anh em chúng tôi được đi chơi xa nhà đến những hai ngày. Suốt đêm tôi thấp thỏm mong trời mau sáng.




Bãi Trước Vũng Tàu với hàng dừa lả lơi (Ảnh: Jeff Lander)


Ba cột cái túi mà Má tôi đã chuẩn bị phía sau yên xe, hai anh em tôi ngồi ở phía trước. Tôi lớn nên ngồi phía đầu để che gió cho thằng em kế ngồi giữa. Chiếc xe nổ máy rời nhà bon bon trên đường Sài Gòn hướng ra xa lộ Biên Hòa. Tôi không rõ, một đứa trẻ con trí óc non nớt sao lại nhớ từng con đường như thế. Thật ra, có thể những ký ức ngày xưa trộn lẫn với những gì tôi nhận biết sau này vào thời còn sinh viên và tôi gom vô thành một. Nhưng điều đó không quan trọng, cũng có thể hình ảnh đó không chính xác nhưng ít ra nó lẩn khuất đâu trong góc ký ức rồi bỗng hiện ra khi tôi ngồi xem lại những tấm hình tư liệu của các nhà nhiếp ảnh ngoại quốc đưa lên trang mạng. Cái hình mũi tên trắng ở ngã ba Biên Hòa, bên dưới là chữ Vũng Tàu hiện ra. Tôi nhớ Ba nói bên tai: “Ði thẳng con đường này là ra Ô Cấp”.

Vào thời 67-68 chỉ có những người như Ba tôi mới gọi Vũng Tàu là Ô Cấp hay nhiều người nói một chữ Cấp cho gọn. Thật ra, theo tập sách “Vũng Tàu xưa” của nhà biên khảo Huỳnh Minh cho biết, tên gọi Vũng Tàu đã có từ xa xưa trước khi người Bồ Ðào Nha đi tàu qua mũi đất này lấy tên Thánh Jacques đặt cho nó. Kế đến người Pháp cũng gọi vùng này là Cap Saint Jacques, người Việt gọi trại thành Cấp hay Ô Cấp (Au Cap) cho cái mũi đất nằm ở cực Ðông của Vũng Tàu là Mũi Nghinh Phong. Tôi không nghĩ nhiều người gọi Vũng Tàu là Cấp cho nó sang, nghe Tây một chút, mà chẳng qua là quen miệng gọi vì Ô Cấp đã xuất hiện chính thức trên bản đồ hành chánh cách nay gần trăm năm. Việc đổi tên một thành phố cần rất nhiều thời gian để làm thay đổi thói quen cách gọi cũng như nhiều người vẫn quen gọi cái tên thành phố Sài Gòn cho dù thời thế có đổi thay đến trăm năm đi nữa.



Góc đường Trần Hưng Đạo ở phía bãi Trước với nhiều kiosk mua bán đồ lưu niệm (Ảnh: Bruce Tremellen)


Ði Cấp tắm biển là điều gì đó xa xỉ với người lao động bình dân Sài Gòn thời đó. Tuy Vũng Tàu là một khu du lịch biển hình thành từ trước đó rất lâu làm nơi nghỉ mát của người Pháp, vua Bảo Ðại và các đời nguyên thủ và tướng lãnh VNCH. Rồi tiếp theo là nơi vui chơi giải trí của quân đội Mỹ, Úc trong thời chiến tranh. Vào giai đoạn này nhiều căn cứ quân sự của Mỹ và quân đồng minh được xây dựng trên khu Núi Lớn, Núi Nhỏ và nhiều nơi khác trong khu vực Thị xã Vũng Tàu được xác lập hành chánh lại từ năm 1964 sau khi tách quận Phước Tỉnh sáp nhập cho tỉnh Phước Tuy (thuộc Bà Rịa ngày nay). Mặt khác trong thời buổi chiến tranh tao loạn, đường quốc lộ 15 đi Vũng Tàu vẫn còn rất nhiêu khê, không an ninh vào ban đêm, nhiều đoạn đường trải đất đá, xe đò Liên Hiệp chạy tuyến Sài Gòn-Vũng Tàu chỉ le que vài chiếc chở khách nhưng đa phần nhà xe chở hàng hóa của giới thương buôn.

Biển Vũng Tàu, là cái gì đó lạ lẫm trong mắt một đứa trẻ con như tôi lần đầu được đi chơi hóng mát. Bãi Sau còn vắng, lèo tèo vài chỗ cho thuê dù, ghế bố, tắm nước ngọt. Người tắm biển không nhiều như bây giờ vào những ngày cuối tuần hay ngày lễ. Tôi chợt bắt gặp tấm ảnh tảng đá bằng phẳng ngày xưa nằm trên bãi cát gần Hòn Bà, nơi ba cha con sau một hồi vui đùa tìm ốc bắt còng quanh bãi đá gần đó mỏi rả người ngồi ngả lưng nghỉ mệt. Ðó là cảnh đằm thắm nhất trong kỷ niệm gia đình ít khi nào cha con có dịp đi chơi xa mà có lẽ đó là ý muốn của Ba tôi có thể thực hiện được một vài lần dành cho con cái. Ngồi trên tảng đá nhỏ này tôi hướng mắt về phía Bạch Dinh gần Bãi Dứa mà lát nữa thôi, Ba sẽ cùng chúng tôi thả bộ men theo bãi cát khi triều xuống để cho chúng tôi đến xem bên ngoài nơi nghỉ mát của nhà vua Bảo Ðại một thời xa xưa.

Nhưng Bạch Dinh đối với tôi là nơi chẳng có gì thú vị để xem vì mình cũng chẳng có thể ngang nhiên bước vào chiêm ngưỡng. Những con cá nhỏ bị sóng đánh dạt vào các hốc đá do anh em tôi dùng tay bóc cát tạo thành một cái vũng nhỏ mới là niềm vui của thế giới trẻ con nô đùa bên bãi biển. Một con cá nhỏ bằng ngón tay cái da xám chấm đen nằm yên trên bàn tay bé nhỏ của tôi bỗng chốc thân mình nó từ từ phình to ra. Ba nói đó là cá nóc, khi lớn da cá có gai, cá này có độc không ai ăn. Nhưng đến khi đi vòng ra Bãi Dứa, đứng xem những người kéo lưới chiều, tôi gặp những con cá nóc to bằng cườm chân người lớn, người ta bắt bỏ vào giỏ tre cũng bộn. Ba tôi hỏi ra mới biết, người ta đem cá nóc bán cho nhà hàng. Ba tôi không nói gì thêm cho cái chuyện cá nóc không ăn được mà lại rủ chúng tôi đi bắt dã tràng. Dã tràng xe cát biển Ðông, Những con dã tràng chạy vô chạy ra cái hang tạo thành những viên cát li ti trên mặt bãi cát ướt khiến tôi nhớ đến câu ca dao cô giáo vừa mới dạy tuần rồi “Dã tràng se cát biển đông/nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì”.




Phố Lý Thường Kiệt, một trong những con phố ở trung tâm thị xã Vũng Tàu có nhiều quán bar nhỏ phục vụ cho quân đội Mỹ và đồng minh giải trí (Ảnh: Bruce Tremellen)


Nhưng điều làm tôi nhớ nhất là hình ảnh cảnh bãi Trước với hàng dừa xanh dọc theo bãi cát. Một hình ảnh nên thơ và nhẹ nhàng dễ đi vào lòng người, nhất là kỷ niệm khi tôi được ngủ một đêm dưới “khách sạn ngàn sao”. Nơi đây có mấy kiosk xây bằng gạch bên ngoài tô đá rửa. Người ta bán hàng mỹ nghệ vỏ ốc và cá nóc phơi khô phình to như trái sầu riêng, lại có nơi bán nước giải khát, cơm bình dân cho du khách không tiện ghé nhà hàng khách sạn sang trọng vì túi tiền ít ỏi. Tôi nhớ chỗ ngủ là những hàng ghế bố xếp bằng vải màu xanh rêu nhà binh sắp đặt san sát một hàng dài. Ba tôi thuê hai chiếc ghế bố ngủ đêm sau nửa ngày ba cha con lang thang khám phá trên bãi biển cho đến lúc chiều buông.

Tôi cũng không hiểu sao thời đó Vũng Tàu đã có điện nhưng những kiosk người ta lại dùng đèn khí đá. Ánh sáng vàng vọt lập lòe mờ tỏ trên mặt cát khi màn đêm phủ kín mặt biển làm cảnh vật trở nên u buồn không còn nét thơ mộng của cảnh biển ban ngày, cho dù trên bầu trời đêm cao vút kia có hàng triệu ánh đèn pha lê đang lấp lánh. Phía trước mặt xa xa cũng có ánh sáng nhấp nháy trông như những ánh sao rơi xếp hàng ngang trên những thuyền chài câu mực. Chốc chốc một chùm ánh sáng từ ngọn hải đăng có từ thời Pháp thuộc quét ngang trên bầu trời. Tôi nằm thao thức giữa bầu trời lộng gió ngàn sao một bên là Núi Lớn và một bên là Núi Nhỏ, mắt ngắm nhìn bầu trời đen treo đầy ánh đèn của một câu chuyện cổ tích, tai lắng nghe tiếng sóng xa bờ rì rào và thi thoảng gió đưa tiếng đại bác vọng về từ cõi xa xăm. Rồi bỗng nghe vài tiếng “bụp… chắc bụp”, trời đen sáng tỏ ánh hỏa châu rơi trên vùng Núi Lớn. Ba tôi xoay sang hỏi: “Sao giờ này chưa ngủ?”. Tôi nằm nhắm mắt, lòng mong cho trời mau sáng để về nhà.




Bảng ghi công các nước viện trợ cho miền Nam Việt Nam trong thời gian chiến tranh (Ảnh: Jeff Lander)


Cái ghế bố tôi và thằng em nằm được xếp lại sau cùng mặc dầu mặt trời chỉ vừa nhú khỏi mặt nước biển xanh đen. Cái khách sạn ngàn sao biến mất nhường chỗ cho người ta bày bàn ghế bán buôn cà phê buổi sáng. Ba cha con tôi không ăn sáng tại đây. Ba gói ghém cột đồ sau yên xe rồi chở chúng tôi đi chợ Vũng Tàu ăn phở. Hồi đó, tiệm ăn ở Vũng Tàu không có nhiều như bây giờ nên vài tiệm gần chợ lúc nào cũng đông khách. Ðây là hình tấm bảng cổ động ghi nhớ công lao các nước viện trợ quốc tế cho miền Nam Việt Nam trong thời chiến tranh, nơi Ba dừng xe để chúng tôi ngồi chờ trong lúc ông chạy vào cửa Tây chợ mua vài gói mắm ruốc “Bà giáo Thảo” về làm quà.

Thời gian như bóng câu qua cửa sổ, mới đó mà thoát nửa thế kỷ. Cuộc sống vật đổi sao dời. Rồi một ngày khi ta bất chợt thấy lại hình ảnh xưa, lòng bỗng chùng xuống, khiến ta hình dung đầy đủ về cuộc đời mình, về cái quãng đời đã qua dù chỉ là một thời gian ngắn ngủi đầu tiên đặt chân đến vùng đất “Cấp của ngày xưa”. Và nhớ nhung nó vô cùng.

1 user thanked Duy An for this useful post.
CỏThơm on 6/27/2016(UTC)
Duy An
#2162 Posted : Sunday, June 26, 2016 9:44:21 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Vài kiểu nhà nơi các vùng sông rạch – Kỳ 1


Hai Trầu

Nơi các làng quê ngày xưa tổ tiên nhiều đời truyền nhau câu nói rất quen thuộc như “sống cái nhà, thác cái mồ”, nghĩa là khi sống, dù nghèo dù giàu gì cũng phải có nhà cửa tử tế, và khi thác, phải có mả mồ cao ráo. Do vậy người ta lúc nào cũng ráng làm lụng dù vất vả để có chút ít tiền mua sắm vật liệu cất được cái nhà để gia đình vợ chồng con cái có nơi trú ngụ, nghỉ ngơi. Từ rất xa xưa, khi con cái lớn cha mẹ dựng vợ gả chồng rồi, ở chung với cha mẹ một thời gian vài năm thì cũng đều lo dành dụm tiền bạc để cho có được cái nhà.

Nhưng khởi thủy của cái nhà có lẽ bắt đầu là một cái chòi, nhứt là thời kỳ khẩn hoang làm ruộng, những người lưu dân nghèo khó, làm lụng hết mùa này qua mùa khác đều thất mùa, họ mới bắt đầu thu xếp để lên đường tìm đất mới như trường hợp ở kinh Lagrange thuộc Ðồng Tháp Mười:




Nhà một mái – HÌNH HUỲNH HỮU ĐỨC


“Dân ở đây đều là người tứ chiếng, từ mọi nơi trôi dạt lại. Họ là những tá điền ở Cần Thơ, Long Xuyên, Sa Ðéc, Rạch Giá… Sau vài năm thất mùa liên tiếp, một ngày kia thu thập cả gia tài: mùng, nóp, nồi niêu, một vài giạ lúa, một con heo, rồi dắt nhau xuống xuồng, chồng chèo mũi, vợ chèo lái, cứ nước xuôi thì đi, nước ngược thì nghỉ, lênh đênh trên các kinh, rạch, ghé đây một ngày, kia một buổi để điều tra, tìm một miếng đất mới hoặc một ông chủ điền nhân đức hơn, rồi sau cùng phiêu bạt tới đây. Họ cắm sào, lựa một chỗ làm nền nhà rồi khuân đồ lên bờ. Họ đốn vài cây tràm làm cột: tràm miền này không thiếu; chặt lá dừa nước về lợp và làm vách: lá dừa nước đây đầy đồng.

Chỉ vài ngày là xong cái chòi. Vợ nuôi heo vịt, chồng đánh cá, làm ruộng. Ðất đây vô chủ, khỏi phải mướn ruộng chỉ cần cái phảng và vài giạ lúa giống là đủ vốn để làm ăn rồi. Tới mùa khá thì họ ở lại làm thêm một mùa, nếu không lại chở cả gia tài xuống xuồng phiêu lưu một chuyến nữa.”(1) Chẳng những không ở được lâu, mà hồi xa xưa ấy, xa xa mới gặp được một cái chòi: “Khoảng năm sáu trăm thước hoặc một hai cây số mới gặp một túp lều lá thấp lè tè, tối om om, vì chỉ có mỗi một cái cửa nhỏ để ra vào. Trước mỗi túp lều, ở dưới kinh có cặm một cái xuồng.”(2)

Lúc còn nghèo túng thì là vậy, nhưng có những trường hợp gặp được đất tốt, trúng mùa thì họ sẽ tiếp tục khai mở ruộng đất thêm và rồi lần hồi những căn nhà chòi thấp lè tè ấy được thay bằng những căn nhà cao ráo hơn với cột kèo chắc chắn hơn. Ðiển hình là các làng quê vùng Châu Ðốc, Long Xuyên ngày trước dọc theo các kinh rạch nhà cửa dù thưa thớt hơn bây giờ nhiều nhưng bên cạnh những căn nhà lá nhỏ cũng có nhiều nhà rất khang trang bằng cây ván thật chắc như gỗ thao lao, gỗ dầu thay vì lúc mới cất chỉ là cột, kèo làm bằng cây tràm, đòn tay tre, mái lợp lá dừa nước, vách dừng cũng bằng lá dừa. Dần dần khá hơn, có nhà đóng vách bằng ván bổ kho, có nhà xây tường bằng gạch, mái lợp ngói nếu có dư dả tiền bạc.




Căn nhà một mái, nền đất, lợp lá vùng Tân Bình (Lấp Vò). – HÌNH HUỲNH HỮU ĐỨC


Nhắc về vài kiểu nhà, xin lược kể vài loại nhà thường gặp như nhà một mái lợp lá, vách lá lúc còn nghèo; rồi khá chút nữa cất nhà hai mái cột tràm lợp lá; khá thêm chút nữa thì cất nhà cột vuông bằng gỗ dầu, gỗ thao lao, lợp lá rồi dần dần lợp tole hoặc lợp tybro-xi măng, hoặc lợp ngói. Nhà giàu có thì thường cất kiểu nhà áp quả, tức là nhà có cột giữa. Nhà đâm trính, là loại nhà không có cột cái, có hai cây trính đâm ngang trên cột hàng nhì để chịu những cây trổng thế cột cái. Mục đích của kiểu nhà đâm trính là làm cho nhà được rộng rãi, vì không có cột cái ở giữa nên lấy cột hàng nhì phía trong làm vách ngăn giữa nhà trước và nhà sau, do vậy cửa buồng thụt vô được một khoảng khá rộng. Thường thường khi cất nhà lớn với gỗ thao lao, gỗ căm-xe, gỗ cà chất hoặc gỗ dầu người ta mới cất nhà đâm trính vì các loại gỗ này thịt rất rắn chắc và bền mới chịu đựng nổi cả hai mái nhà không có hàng cột cái. Nhà ba gian hai chái bắt-vần là loại nhà lớn gồm ba gian (còn gọi ba căn) và có hai chái cặp hai bên. Thường ngày xưa các chủ điền hoặc nhà giàu ưa cất kiểu nhà này. Nơi các làng quê ngày trước, các nhà khá giả còn cất thêm cái nhà phía trước nhà lớn gọi là thảo bạc; nhà này không dừng vách mục đích để cho mát và dùng khi có đám tiệc không cần phải bông rạp hay dựng nhà khách.

Tại các vùng sông rạch miệt Long Xuyên, Châu Ðốc vì là vùng đất có mùa nước ngập hằng năm nên nhà sàn là loại nhà thông dụng hơn cả. Có loại nhà sàn cất hẳn trên mặt đất hoặc nửa trên mặt đất, nửa nằm trên mặt nước tùy theo địa hình nơi mình đang ở mà liệu lượng cách cất nhà cho phù hợp với hoàn cảnh mỗi người. Nếu chủ nhà khá giả thì sàn nhà lót bằng ván thao lao, ván dầu; còn nhà nghèo thì sàn nhà có khi làm bằng vạc tre. Ðể đỡ sàn nhà cho chắc chắn, không bị lún, người ta thường dùng những vật liệu chắc cứng làm táng, làm nống như táng làm bằng đá vùng Ba Thê, Núi Sập, Núi Sam, sau này có người dùng trụ xi măng cốt sắt làm nống nhà sàn; nhưng thông dụng nhứt, những người nghèo thường lấy cây tràm, thân tre già (lấy phần gốc từ gốc trở lên) làm nống cho sàn nhà. Nhớ hồi những năm 1950 ở Mặc Cần Dưng (làng Bình Hòa) có nhiều nhà sàn khá lớn với táng đá cao cỡ một thước mốt, mỗi bề dày cỡ bảy, hoặc tám tấc; mỗi lần có tây bố hoặc có súng nổ tụi nhỏ chúng tôi được người lớn kêu xuống sàn nhà trải chiếu nằm núp theo mấy táng đá này.

Chú thích

1&2/ Trích trong “Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười” của Nguyễn Hiến Lê, nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê (Sài Gòn), năm 1954. Trí Đăng tái bản năm 1971, có sửa chữa.
1 user thanked Duy An for this useful post.
CỏThơm on 6/27/2016(UTC)
CỏThơm
#2163 Posted : Monday, June 27, 2016 1:15:00 PM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 162
Points: 516
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 127 times
Was thanked: 93 time(s) in 68 post(s)
.




n h Ớ .đ Ò
_______________________________________________________________

m â y t r ắ n g . b v


như câu non nước hữu tình
thinh không vang vọng bóng hình sông quê
cô liêu vẳng khúc đam mê
đò ơi... tiếng gọi tái tê bên chiều

chơi vơi ai giữa quanh hiu
hương trong man mác xiêu xiêu cuối trời
tâm tư cuộn sóng quanh đời
mà nghe luống những đổi dời tháng năm

bâng khuâng bao nỗi mù tăm
dòng thơ lai láng trầm ngâm nhớ đò...





1 user thanked CỏThơm for this useful post.
thunder on 9/29/2016(UTC)
Duy An
#2164 Posted : Friday, July 1, 2016 4:46:02 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Vài kiểu nhà nơi các vùng sông rạch – Kỳ 2


Hai Trầu


Hồi đời trước vùng Mặc Cần Dưng (Long Xuyên) vì tới mùa nước ngập thì nước ngập rất sâu nên phần lớn là dân cư ở đây giống như các vùng khác đều cất nhà sàn, ít có nhà nền đất; dường như chỉ có ngôi nhà ngói nền đúc duy nhứt của ông Nhà Lầu là ngôi nhà lớn nhứt. Ngoài ngôi nhà lầu này, ở Mặc Cần Dưng hồi xưa tức khoảng thập niên 1950, có nhiều ngôi nhà sàn ba gian hai chái với mái ngói, vách bổ kho rất đồ sộ. Từ chợ Bình Hòa đi dài vô tới ngã ba Vàm Nha có thể kể vài ngôi nhà tiêu biểu như nhà của thầy Nguyễn Văn Chánh, nguyên Hiệu Trưởng trường Tiểu Học Bổ Túc Bình Hòa, nhà của gia đình bạn Thái Văn Sự, bạn học với tôi hồi học lớp Nhì, lớp Nhứt trường Tiểu Học Bổ Túc Bình Hòa, nhà của ông Xã Cương; vô xóm trong gần cua Vàm Nha có nhà của Thầy Giáo Cầm, nhà của ông thầy Sáu Màu cũng là những nhà sàn khá lớn… Từ Vàm Nha, vô gần chợ Vàm Xáng (xã Cần Ðăng) có xóm nhà sàn của người Miên, họ cất sàn cao khỏi đầu, có thể xay lúa, giã gạo ngay dưới sàn nhà đó được mà không sợ đụng đầu. Có một điểm chung là vùng Mặc Cần Dưng con đường làng chạy cặp theo bờ sông Mặc Cần Dưng vô Tri Tôn, nhà lại cất quay mặt ra đường làng mà đường làng, giống như các làng mạc khác vùng Long Xuyên, Châu Ðốc nhà nào cũng có bến sông với những cây cầu ván bắc từ trên bờ dài xuống tới mé nước để dùng trong việc tắm giặt, hoặc gánh nước lên chứa trong các lu khạp để dùng trong việc nấu nướng ăn uống thường ngày.




Nhà sàn nơi bến đò Chợ Cũ (Lấp Vò) – HÌNH TRẦN NHIẾP CHỤP


Sau này có dịp đi về Tân Châu, từ Vịnh Ðồn đi lên Vĩnh Xương, nhiều nhà sàn cũng cất sàn cao như vậy. Loại nhà này vừa tránh được nước ngập vào mùa nước lên, còn mùa khô người ta có thể để máy cày dưới sàn nhà hoặc những vật dụng dùng trong các việc rẫy ruộng. Vùng Long Sơn, Long Phú, Phú Lâm thuộc Tân Châu loại nhà sàn, nhà đúc xưa ngày trước khá nhiều, nay thì vì thời gian quá lâu nên mái ngói rêu phong, hư hại nhiều và đến đời sau con cháu sau này đã sửa chữa lại một phần hoặc đập phá hoàn toàn và xây cất lại thành nhà mới nên các kiểu nhà xưa hồi đời trước ngày nay rất hiếm.




Nhà ngói xưa nền đất, cửa lá sách vùng Tân Châu. – HÌNH TRẦN NHIẾP CHỤP


Nếu bạn đi xuống vùng Lấp Vò (Sa Ðéc) lác đác bạn cũng tìm ra được vài ngôi nhà xưa có tuổi thọ trên trăm năm như nhà ông Hội Ðồng Tự nằm gần vàm rạch Lấp Vò, cách chợ quận không xa lắm; hoặc bạn về hướng Cái Nai (Chợ Mới) (hồi đời trước Cái Nai thuộc Lấp Vò) nhà ngói xưa cũng nhiều. Vùng Sa Ðéc, mặc dù cũng bị cảnh lụt lội vào mùa nước ngập nhưng cư dân ở đây thường có lập vườn cây ăn trái nên nhà cất ngay trên nền vườn, thường là nhà nền đất đắp cao khỏi mực nước ngập hằng năm, ít nhà sàn hơn miệt Long Xuyên, Châu Ðốc.




Ngôi nhà ngói xưa ba gian vùng Châu Phong (Tân Châu) cửa đóng kín gần như hoang phế. – HÌNH TRẦN NHIẾP CHỤP


Ở Trà Vinh, hồi đời xưa, khoảng năm 1928, tác giả Huỳnh Văn Lang có mô tả ngôi nhà sàn bằng gỗ thao lao của song thân ông như sau: “Sàn cao khoảng một thước hai, nhà ba gian rộng 12 thước, gồm một cái sảnh đường sâu 5 thước, cái nhà trên sâu 10 thước, cái nhà giữa 6 thước và cái nhà dưới 8 thước. Ba cái nhà trước lợp ngói âm dương, nhà dưới lợp lá dừa nước chằm. Sau nhà dưới có chuồng gà và chuồng vịt và sàn nước ngay cái xẻo nhỏ, còn chuồng heo thì ở xa sau vựa lúa… Bên hông nhà có một cái giếng sâu, có nước tốt để nấu ăn”(3)




Nhà ngói xưa vùng Long Sơn (Tân Châu). – HÌNH TRẦN NHIẾP CHỤP


Cũng theo tác giả Huỳnh Văn Lang ở tả ngạn sông Láng Thé với các làng Ðại Phước, Nhị Long và Ðức Mỹ thuộc quận Càng Long (Trà Vinh), nhà cửa ở đó được tác giả kể lại như sau:“Nếu bổ đồng mỗi gia đình trung bình 4 người thì chỉ có trên dưới 2,000 gia đình hay 2,000 nóc nhà là cùng. Nhưng trừ ra chung quanh chợ Dừa Ðỏ và nhứt là họ đạo Công Giáo Bãi Xan, nhà cửa có tập trung, có chợ búa có trường học, kỳ dư thì nhà cửa rất thưa thớt, nhưng không lộ liễu, nóc nhà ẩn hiện trong những khu vườn rất trù phú, có nhiều cây ăn trái, có những cây dừa, cây cau thật cao… Bờ sông gần luôn luôn có rừng dừa nước rậm rạp bảo vệ cho khỏi lở với một ít cây bần cao lớn. Ngồi ghe ngồi thuyền đi dưới sông nhiều khi không thấy nhà cửa, trừ ra những nhà ngói cao lớn của các đại điền chủ.




Nhà xưa với mái ngói rêu phong vùng Long Sơn (Tân Châu) – HÌNH THÁI LÝ CHỤP


Nhà cửa thường quay mặt ra đường làng, quay lưng ra mé sông. Ðường làng chạy song song dài theo con sông, khá rộng lớn, có thể chạy xe đạp được… Phần nhiều nhà cửa của họ cất trên nền đất là nhà gỗ, nóc nhà và vách nhà đều bằng lá chằm hay lá xé dừa nước, khá giả thì vách gỗ xẻ và một số ít nhà ngói nhỏ và thấp lè tè vách gỗ, nền gạch tàu, không nền đúc, không vách gạch. Giữa những nhà lá nhà gỗ nổi lên ba nhóm nhà ngói vách gạch nền đúc, có nhà còn có hàng rào sắt cổng sắt như nhà quan chức ở quận lỵ hay tỉnh lỵ. Những nhà ngói nền đúc nầy lại có tính cách phô trương nên thường quay mặt ra sông, ghe thuyền qua lại đều trầm trồ khen phục.”(4)




Nhà sàn vùng Kinh Cũ (Kinh Vĩnh An Hà, Tân Châu) với những cây cầu ở mỗi bến sông. – HÌNH TRẦN NHIẾP CHỤP


Chú thích

3/ Trích trong “Ký Ức Huỳng Văn Lang, tập I, do tác giả xuất bản, Hoa Kỳ, năm 2011, trang 20.

4/ Ký ức Huỳnh Văn Lang, sđd, trang 41.
1 user thanked Duy An for this useful post.
phamlang on 7/14/2016(UTC)
phamlang
#2165 Posted : Thursday, July 14, 2016 5:18:52 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)



Mùa mơ chùa Hương nhớ Nguyễn Bính

Hoàng Yên Lưu


Ca dao của chúng ta có câu:

Tháng giêng ăn Tết ở nhà.

Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè

“Tháng hai cờ bạc” chỉ là cách nói, người nông dân, có thể giải trí trong thời gian ngắn sau một năm vất vả chứ không phải khuyến khích trò đỏ đen. Nhưng tháng ba (âm lịch) hội hè là truyền thống của dân tộc nên kẻ xa quê thường than thở khi nhớ quê như nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1916-1976) từng viết vào một mùa xuân năm nào ở Sài gòn trước 1975:

Người đi bóng ở lại cùng

Non Hương vách Phật, núi Hùng đu tiên

Bóng chưa nhòa, dễ ai quên

Mơ chùa Hương chín mộng đền Hùng xanh

Giờ đây các chị các anh

Mộng phai mơ héo cho đành được sao?


Hằng năm cứ từ 6-1 tới tháng 3 âm lịch là Hương tích sơn mở hội. Hoàn cảnh có thể đổi thay nhưng lòng người với non nước chẳng bao giờ thay đổi. Nhà văn tiền chiến Ngọc Giao (1911-1997) lúc mái tóc điểm sương, thuật lại một kỷ niệm êm đẹp trong đời khi cùng bạn bè thăm chùa Hương vào một năm trước 1945. Kỷ niệm này gắn liền với hồi ức về một nhà thơ tài hoa suốt đời long đong là thi sĩ Nguyễn Bính (1918-1966) và một bài thơ tuyệt tác của ông là bài Cô gái mơ đã từng được phổ nhạc và rất thịnh hành ở Sài gòn trước 1975. Đọc lại hồi ức này chúng ta biết thêm về nơi mà chúa Trịnh từng tôn xưng “Nam thiên đệ nhất động” và sản phẩm của nơi Bầu trời, Cảnh Bụt là mơ chùa Hương.

“Giờ đây là mùa thăm viếng chùa Hương. Đã quá lúc rồi tôi không còn sức khỏe, không còn hứng thú rủ bạn văn đi vãn cảnh động Nam Thiên. Không còn cái thú nhìn các cô gái hái mơ. Nhưng giữa phố phường Hà Nội, lão già tôi còn đủ sức chống gậy đi nhìn các cô gái bán mơ đây, những bàn tay cô gái bán mơ thoan thoắt bốc mơ trao cho khách, làm sao có thể không nhớ đến bài thơ rừng mơ bất hủ của thi nhân Nguyễn Bính. Bởi vậy, sớm nay tôi cố nghĩ về anh, viết về anh.

… Như tôi thường nhắc nhiều lần, bọn viết lách chúng tôi, thời cũ sống với nhau, cũng như đối với cuộc đời, hết lòng trân trọng, hết tình nhân ái, chúng tôi luôn giữ cách sống cho phong nhã, nghiêm chỉnh, mà vui vẻ, lễ độ, dù chung sống với cô gái yên hoa, sa chân lỡ bước.

Ngày ấy đã quá xa xôi. Ngày nay, tôi thấy một số bài viết phê phán, có thể nói là diễu cợt những cây bút lớp trước, coi họ như những anh hề xiếc. rằng họ vội nhảy xuống xe, sụp xuống vỉa hè một phố đông, vái lạy mấy ông nhà văn trẻ thiên tài, rằng có người phục kích trước chợ Hàng Da đánh một cây bút có tên gọi đùa là Long toét… Thưa rằng, không, không, không có những cái trò hề ấy ở cái thời Lão Trang bảo thủ chúng tôi. Quả tình chúng tôi có lạy nhau, chỉ khi nào trong phòng kín, chúng tôi bái phục một án văn tuyệt bút của tiểu thuyết gia này, nhà thơ nọ. Lê Văn Trương, Lan Khai, con người ngang bướng ấy, đã nhiều lần vái lạy Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Nguyễn Bính. Người xưa nhất là kẻ sĩ, vào triều kiến hoàng đế, có khi không lạy, nhưng đi đường, thấy tảng đá núi dáng hình kỳ lạ, ông ta vội thụp xuống lạy, gọi là “bái thạch vi huynh”. Kẻ sĩ biết ngẩng đầu, cũng có lúc biết cúi đầu.

Ơ này, tôi đã lạc đề rồi. Xin trở lại với mấy cô bán mơ trên vỉa hè bụi bậm, nghĩ về mấy thôn nữ hái mơ rừng chùa Hương của thi nhân Nguyễn Bính.

Tôi nhớ năm 1939, một bọn nhà thơ thành phố Nam Định, trong đó có Hiếu Lang, tức Đồ Đức, Võng Xuyên, Nguyễn Bính, Việt Quyên (nhà thơ trào phúng tuyệt vời), Nguyệt Hồ họa sĩ, cuối là tôi.

… Chúng tôi thuê chiếc thuyền lớn trên sông Đáy, khời hành từ Phủ Lý, vào bến Đục, chùa Hương. Trong thuyền, ngoài lũ chúng tôi, còn có một đào nương ca trù, một ông kép đờn lớn tuổi. Trong khoang rộng, trải chiếu hoa, đặt một khay đèn nha phiến, theo đề xuất của nhà thơ Nguyễn Bính, Thuở ấy, chuyện “ả phiến” làm khuây là chuyện rất bình thường, cuộc họp mặt bình văn nào, cuộc du hý lớn nhỏ nào cũng không thể vắng nàng tiên nâu nũng nịu, duyên dáng mà giết người như bóp nát một cánh hoa.

Thuyền rời bến Phủ Lý vào chập tối. Đàn đáy đã rung tơ, phách đào nương đã hòa nhập cùng sóng vỗ mạn thuyền. Tiếng trống của Hiếu Lang đã lách vào đàn, vào phách, khuyên những lời văn đẹp ca trù của Nguyễn Công Trứ, Tú Xương, Tản Đà, Dương Thập Lang, Dương Khuê, một tay chơi sành sỏi như Nguyễn Khản, anh Nguyễn Du thời chúa Trịnh, Tĩnh Đô Vương.

Con dê buộc ở đầu thuyền đã được ông lái thuyền hóa kiếp. Ông và cô gái xinh đẹp đang dọn tiệc. Nửa đêm, trời đổ cơn dông, gió xoáy, sấm ran trời, mưa trút. Gió giật mạnh liên hồi , con thuyền tuy được cha con ông lái già cố điều khiển mà vẫn trườn lên ngụp xuống, có khi quay theo sức lốc.

Chúng tôi, không ai biết làm dấu thánh cũng không ai biết “nam mô”, chỉ nhìn nhau, bình tĩnh chờ thăm Hà Bá. Nhà thơ Nguyễn Bính bình thản hơn ai hết, anh vẫn nằm bên ả phù dung, tay che ngọn đèn gió thổi, tay vẫn múa tiêm như Quan Vũ múa đao.

Thế rồi, sóng gió dần im, Nguyễn Bính nói đùa:

– Lũ mình thì trời tru đất diệt còn không nổi, kể gì cái gió xoáy này.

Sáng hôm sau đã đến chùa Hương. Chúng tôi nhập cùng thiên hạ, một chốc đã không thấy Nguyễn Bính đâu. Mãi đến gần bữa ăn chiều mới thấy gã về nhà trọ tìm chúng tôi. Trong bữa ăn, Nguyễn Bính uống rượu nhiều hơn thường, miệng luôn lẩm bẩm, có lúc rút sổ tay ra ghi vội đôi câu gì đó.

Sau này tôi mới biết: thì ra Nguyễn Bính đã mang thai nghén bài thơ Cô hái mơ từ thuở ấy. Thoạt đến chùa Hương anh đã một mình lẻn vào rừng mơ, một mình cấu tứ. Điều khiến tôi lạ là Nguyễn Bính chưa bao giờ phải đăm chiêu vò tóc về việc hoàn chỉnh một thi phẩm dài ngắn và khó dễ. Anh thường ứng khẩu đọc trước mọi người, coi việc sáng tác một bài thơ dễ dàng như tớp rượu. Bài Cô hái mơ nằm trong đầu Nguyễn Bính từ năm 1939. Vậy mà cho đến gần đây viên ngọc bích ấy mới sáng rực lên. Phải, viên ngọc sáng lên khi anh vĩnh viễn đi vào cõi tối, tan vào nơi cảnh ảo.

Rồi những năm kháng chiến, thi nhân Nguyễn Bính vào Nam. Chúng mình xa nhau tưởng chừng như muôn thuở. Nhưng may sao, năm 1954 mình lại thấy nhau trong bốn bàn tay nóng hổi. Bính ở Hà Nội, có một mình, tâm sự một lần trên miệng chén đầy, rằng anh ra Bắc, để lại bên giòng sông Cửu long một cô vợ tư đẹp, một đứa con thơ.

Không thể nào xa cây bút, Nguyễn Bính xoay xỏa cả tám phương, lấy tiền ra tuần báo Trăm hoa. Tôi chưa kịp viết gì cho bạn cố tri, chỉ đến tìm anh, thăm báo. Ngồi bên anh, tôi thấy một nàng nho nhỏ khá xinh tươi. Anh nháy mặt ra cái điều rằng cô nàng là nữ thư ký của Trăm hoa. Tôi thấy lo sợ thay cho cô gái non trẻ ấy, hàng ngày có thể cả hàng đêm giữ gìn sao được tấm thân mình bên con quỷ rượu. Chỉ ít ngày sau, báo Trăm hoa đâu như mới ra ba số, đã tàn rồi, nghĩa là đã chết. Nhà thơ, chỉ biết ngẫu hứng làm thơ, đâu có biết gì là kinh tế, về phương pháp điều khiển tờ tuần báo, từ bài vở, đường lối chính trị, đến việc cận tiếp các người trợ bút, cận tiếp nhà in… Nhà thơ không thể trở nên nhà báo mà không cần học hỏi. Trăm hoa chết không trống kèn. Riêng cô nàng thơ ký đi đâu? Tôi nghe thiên hạ đồn cô đã trở thành phu nhân Nguyễn Bính. Tôi không tin, cũng không cần tìm hiểu rõ, coi đó là chuyện quá thường…

Báo đóng cửa, Nguyễn Bính cảm thấy mệt mỏi, yếu đau. Anh về Nam Định sống với gia đình, coi như an phận. Chị Bính là người hiền hậu, nết na. Chị hằng ngày ra chợ Rồng, thu nhặt từng xu từng hào với mẹt bày quả chanh, quả ớt. Chị tháo mồ hôi, phai tàn tuổi trẻ, làm sao cho hàng ngày có đủ rượu, đồ nhắm, bồi dưỡng ông chồng thơ.

Ngày tháng qua đi trên cái thị xã tẻ buồn, cách đây đã ba năm, một ngày gần tết. Người ta tấp nập đón xuân, Nguyễn Bính quá nghèo, chị Bính đành bất lực với cái mẹt với mớ chanh cay chua ấy. Bính quá buồn, một buổi sáng gió đông se lạnh, anh lững thững rời đất Vị Hoàng, đến một thôn xóm ven đô. Tình cờ anh gặp một người lạ mặt. Ông này đã biết Nguyễn Bính, chịu tài Nguyễn Bính, vồ vập ngay Nguyễn Bính, nói rõ lòng thán phục nhà thơ, tự giới thiệu là Hân, cựu y sĩ thời cũ, xin kính mời thi nhân về nhà uống rượu.

Tất nhiên, nhà thơ không từ chối. Với sự tiếp đãi quá nồng hậu, với rượu đế thơm ngon, đồ nhắm tốt, lại thêm ông Hân có huê viên, mai trắng, đào phai, hải đường, hoàng cúc nở rộ. Chủ nhân mời quý khách ngồi dưới gốc mai, đào, đánh chén. Bà Nguyễn Bính không biết ông chồng thơ ở mô tê, bà đi tìm kiếm. Ông thi sĩ không cần biết chuyện vợ tìm, cứ uống tối ngày với đào, mai.

Thế rồi, vào ngày cuối năm cũ 21-1-1966 dương lịch, nhà thơ vẫn chưa tắm rửa, thay quần áo! Trong người ngứa ngáy không chịu được, mặc cơn say, nhà thơ bò ra bờ sông nhà ông Hân. Bính lảo đảo bước xuống ván cầu, ngồi cởi áo, vén cao ống quần vốc nước ao bèo gội tóc, rửa mặt, rửa cả mình. Xong, áo vắt cánh tay, lại lảo đảo bước khỏi ván cầu. Cơn gió bấc phào thổi đến. Nguyễn Bính, thấy trời đất xoay tròn, anh chỉ kịp kêu một tiếng rồi cả thân hình đổ sấp xuống, mặt úp vào bùn nước, máu mũi rỉ ra. Anh vừa mổ dạ dày tháng trước. Có lẽ anh chết vì bục dạ dày.

Nhà thơ thiên tài Nguyễn Bính đã ra đi, sự thực, như thế đấy. Anh rời cõi tục này giữa mùa mơ rừng chùa Hương gởi hương cho thiên hạ, và kết trái, cùng với bài thơ Cô hái mơ của anh giao duyên với những ai bấy lâu yêu thương Nguyễn Bính, suốt từ Nam đến Bắc, qua từ tuổi già đến tuổi trẻ, nữ như nam, người có học cũng như người vô học.

Nguyễn Bính ơi, anh đã đi rồi! Thôi nhé! Hôm nay người bạn già này tâm niệm, uống hớp nước mơ do bà vợ già đưa trong khi đang viết về anh, đang nói với anh, với một hồn ma, còn lang thang như một làn sương khói trong rừng mơ ấy.

Nguyễn Bính ơi, anh đã đi rồi! Thôi thì cũng cứ coi là một việc bình thường của kiếp phù du. Xưa Lý Bạch say rượu vồ trăng, chết chìm trên dòng sông lớn. Nay, thi nhân Nguyễn Bính, cũng say, chết nổi bên vũng nước ao bèo, âu cũng là cái chết, bằng cách nào cũng là cái chết, và Bính ơi, nó cũng nhẹ nhàng như… RỪNG MƠ HIU HẮT LÁ MƠ RƠI.”
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
2 users thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 8/10/2016(UTC), thunder on 9/29/2016(UTC)
Duy An
#2166 Posted : Saturday, July 30, 2016 12:19:46 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Dắt cô Tây đi chợ Vĩnh Long




Chợ Vĩnh Long, thành phố Vĩnh Long


Đi chợ thì một người nội trợ như tôi ngày nào cũng phải đi rồi. Nhưng dắt hai cô Tây về thăm chợ Vĩnh Long vừa đi vừa giới thiệu bung lung boa la thì lần đầu. Cùng chung chuyến về Cần Thơ, chúng tôi gặp nhau và làm quen. Hai cô Tây dễ thương đến từ Pháp và cũng trạc tuổi tôi. Trong thời gian 3 giờ đồng hồ ngắn ngủi, tôi chỉ kịp dẫn các cô biết đôi điều về chợ Vĩnh Long.



Hello Cô Tây!


Chợ Vĩnh Long nằm ở trung tâm thành phố Vĩnh Long, đây là nơi giao thương của bà con Vĩnh Long với các thương lái, tiểu thương xuôi theo sông Tiền và sông Long Hồ. Hàng ngày trên những chuyến xe và những ghe thuyền lớn từ khắp nơi xuôi ngược đưa hàng đến và đi từ chợ này.




Cua đồng




Bán hoa

Vĩnh Long nằm cách thành phố Sài Gòn 135 cây số về hướng Bắc, cách Cần Thơ 33 cây số hướng Nam theo quốc lộ 1. Tỉnh này nằm trong vùng đồng bằng bằng phẳng, không có núi đồi. Nói đúng hơn nó nằm trong lòng chảo, chính giữa hơi trũng, cao dần ở ngoài bìa, phía Bắc, Ðông Bắc và Nam Ðông Nam. Nơi đây có nhiều sông rạch chằng chịt, và cũng có khí hậu như Sài Gòn.

Vĩnh Long nằm giữa hai sông Tiền và Hậu. Cá, tôm rất nhiều trong sông rạch ở đây, đặc biệt cá Basa và cá Tra. Hai loại cá da trơn được xuất sang Mỹ. Tỉnh này còn có đủ thứ trái cây miền Nam như Măng Cụt, Chôm Chôm, Sầu Riêng, Bưởi, Cam…




Đàn ông ra chợ kiếm sống



Khô sặc và khô mực


Vĩnh Long còn là quê hương của Pétrus Trương Vĩnh Ký, một học giả uyên bác và là người sáng lập ra tờ báo quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam với tên Gia Ðịnh báo…

Sau một hồi bập bẹ tiếng Anh để giới thiệu đôi nét về Vĩnh Long cho cô Tây. Chúng tôi ghé vào hàng trái cây. Ở đây không thiếu một loại quả miệt vườn miền Tây nào. Giá cả chỉ từ vài ngàn đến vài chục ngàn đồng mỗi kí lô. Riêng một số loại như bòn bon, mận miền Bắc là đắt hơn chút, với giá 70 chục ngàn một kí lô. Gặp một chị bán hàng cũng vui vẻ, tôi buột miệng:

– Ðủ loại trái hả chị, có cả trái cây miền Trung và miền Bắc nữa phải không chị?

– Ừ, trái cây ở đây loại nào cũng rẻ, riêng những loại nhập ngoài kia vào (miền khác) thì hơi đắt chút.

– Em thấy xoài ở đây coi bộ ngon và rẻ quá!

– Xoài miền Tây nổi tiếng mà em, nhưng mấy tháng nay chỉ bán được cho người miền Tây thôi?

– Ủa, mấy công ty du lịch đưa khách đến nhiều mà?

– Khách họ đi chứ cũng ít mua thứ gì em à, nhất là xoài. Sau cái vụ mấy báo đài trong nước đưa tin rằng xoài bị nhiễm độc vì dùng túi bao trái, chẳng còn mấy người mua. Người trồng xoài chết đứng, ai đời bọc trái bằng túi sản xuất từ giấy, được phủ một lớp dầu chống thấm để bảo vệ trái mà cũng la có độc!

– Việt Nam mình mà chị, chỗ nào la được họ la chứ!

– Thì mấy ổng giỏi sao không la lên cái vụ biển nhiễm độc đi, cá bè trong này cũng bắt đầu chết hết rồi, không biết có phải mấy ổng đưa ống xả thải vào trong này rồi không nữa?!







Nói đến đây, chị bán hàng hỏi chúng tôi mua gì. Tôi chọn một mớ me rốp với giá chỉ mười ngàn đồng và một ký bòn bon. Cô Tây có vẻ ngạc nhiên về trái me và trái bòn bon, lần đầu tiên cô thấy nó.

Lạc trong chợ trái cây chừng nửa giờ đồng hồ. Chúng tôi tìm đến gian rau củ. Gặp một cụ già trạc 80 chục tuổi vẫn ngồi bán ở góc chợ, tôi được biết thêm:

– Nghe mẹ tôi kể lại, trước thời Pháp, chợ họp trên một doi đất cách đây không xa. Ðông lắm, người bán, người mua đều mặc áo bà ba hết, bà tui cũng vậy. Thời đó toàn gánh gióng, thúng mẹt, ngồi khắp nơi để bán. Ai mua gì cũng dùng lá gói lại chứ không như giờ, toàn là bao ni lông.

– Sao chợ dời qua đây vậy bà?

– Ngày xa xưa người ta đi chợ và chở hàng hóa bằng ghe, thuyền. Có lúc con nước lớn, ghe thuyền đi không khéo còn bị chìm nữa. Tụi Tây chuyển chợ qua đây. Rồi xây nhiều cơ quan hành chánh, đồn lính nữa.

– Chợ còn nét gì của ngày xưa không bà? – Tôi hỏi.

– Ừ, thì cái điệu chợ thay đổi, hàng hóa cũng nhiều hơn, ngon cơm hơn, nhưng trái cây miệt vườn Vĩnh Long thì vẫn vậy. Cô có thể mua đủ thức trái cây ở chợ này, có cả bông điên điển, củ sen…

Có cả những bầy ong theo bông điên điển xuống chợ. Có cả những củ sen vừa vớt lên khỏi bùn.




Một tiệm sửa giày dép cũ, mũ bảo hiểm



Nụ cười Vĩnh Long


Tạm biệt cụ già, chúng tôi len lỏi trong các ngóc ngách để tìm những cô áo bà ba nhưng chẳng thấy. Có chăng là những mảnh bà ba bóng láng của những cô bên công ty du lịch.

Tôi cùng cô Tây ghé hàng nước của một anh chàng trạc tuổi ba mươi.

– Con trai sao bán nước khéo vậy anh? Tôi đùa.

– Thì mình không có thân để bán, thôi bán nước chứ biết sao giờ cô!

Thoáng thấy đứa trẻ khoảng 3 tuổi ở sau lưng anh, tôi đoán là con của anh.







Sau một hồi trò chuyện, anh bảo:

– Sống như mấy người Tây cũng sướng, thấy họ sang đây nhiều, tôi nghe người ta nói họ thất nghiệp. Vậy mà cũng đi du lịch, chẳng thấy họ chạy ăn từng bữa như mình.

– Ở bên các nước, có trợ cấp thất nghiệp mà anh. Tôi nói.

– Ừ, ở mình mà có được khoản trợ cấp đó thì cha con tôi cũng đỡ rồi.

Ðược biết, trước đây anh đạp xe ba gác, trong một lần bị tai nạn, anh phải bán chiếc xe ba gác để đền tiền cho người ta. Không có vốn làm ăn, vay đâu cũng không được, nhà anh dần dần lâm nợ. Ðập dập kéo lết được khoảng vài tháng, thấy cảnh chồng thất nghiệp, cái ăn cũng không có, cô vợ để lại đứa con chưa đầy 1 tuổi và bỏ đi lên Sài Gòn. Nghe đâu hiện cô ta đang làm vợ hờ cho một tay Ðài Loan ở đất Sài Thành. Thấy anh ôm đứa con nhỏ bơ vơ, bà con người giúp chút ít qua ngày, lần mò, anh cắm dùi được một góc nhỏ để bán nước ở chợ này.







– Các cô cứ dạo quanh chợ, không mua gì cũng không sao. Bà con ở đây mến khách lắm!

Cô Tây tươi cười vẫy tay tạm biệt anh chàng bán nước.

Dắt cô Tây thăm nhiều gian hàng khác, rồi ghé quán cà phê cách cổng chợ khoảng 500 mét. Chúng tôi chọn một bàn nhỏ bên sông. Mời cô măm măm trái me rốp, kể cho cô nghe về câu chuyện trái bòn bon, về cái tên Nam Trân mà Chúa Nguyễn Ánh đặt cho loại trái này khi được dân Ðại Lộc, Quảng Nam mang tặng để cầm hơi cứu sống trong lúc chạy loạn, bị nhà Tây Sơn rượt đuổi.

Câu chuyện của chúng tôi cứ kéo dài bên dòng nước đang chảy. Gió cuối chiều đưa lục bình trôi nhanh… Câu chuyện của anh hàng nước có cô vợ trôi nổi lên Sài Gòn không ra khỏi trí tôi. Ừ, thì cuộc đời là một cụm lục bình, phải trôi và trôi… Nhưng đâu phải cụm nào cũng được trôi về biển, được thấy mênh mông!

Chúng tôi tạm biệt chợ Vĩnh Long, tạm biệt bà cụ bán rau miên man hoài niệm, tạm biệt anh bán nước nỗi niềm, tạm biệt những con người vui vẻ, mến khách, chịu thương chịu khó… Tự dưng thấy bàn chân mình sao nhỏ bé và lạc lõng giữa gần ba nghìn bàn chân du khách bước qua thành phố này mỗi ngày.














Phà cập bến Vĩnh Long

1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 8/10/2016(UTC)
Hạ Vi
#2167 Posted : Wednesday, August 10, 2016 9:41:23 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,330
Points: 16,876
Location: CỏThơm

Thanks: 4124 times
Was thanked: 9960 time(s) in 2467 post(s)






kỷ niệm vui


Ta nhận từ em một gói thơ
Mở ra xem dưới ánh trăng mờ
Chuyển mùa gió lộng làm bay mất
Còn mỗi ta ngồi tiếc ngẩn ngơ

Niềm vui là thế, không tồn tại
Như áng mây hồng bay mãi bay
Một mai ta ghé "đồi phượng tím"
Kỷ niệm vui xưa chắc vẫn đầy

Nay ta gửi lại bài thơ hoạ
Và chút thân tình nơi rất xa
Chút nắng tàn thu miền cực bắc
Mong qua bên ấy sẽ chan hoà


Cạn Nguồn




.


1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
thunder on 9/29/2016(UTC)
Duy An
#2168 Posted : Tuesday, August 30, 2016 1:47:37 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Giàn thiên lý đã xa


Tim Nguyễn


Những ngày này nắng rực rỡ trên phố xá, công viên. Trong khu chung cư Nguyễn ở đêm đã thấy mảnh trăng non mọc sớm. Không hiểu sao nhìn trăng Nguyễn thường nghĩ đến mẹ mình. Và nghĩ đến mẹ, nhất là trong những ngày vào hè, là nhớ tới giàn hoa thiên lý lấp lánh nắng trong khu vườn ở Vỹ Dạ ngày xưa.

Dạo ấy, cái thuở Nguyễn còn nhỏ như con cún, trong sân nhà có trồng một giàn hoa thiên lý. Cái giàn hoa ấy tỏa bóng mát khi nắng hè rực lên ngoài bãi sông và những nụ nhỏ bắt đầu hé nở. Nguyễn và cô bé nhà bên gọi chúng là những ngôi sao xanh. Những chiều hè, mẹ thường bảo chị Thoa hái bông thiên lý vào nấu canh. Canh hoa thiên lý nấu với tôm thịt ngọt ơi là ngọt, lại thoang thoảng mùi ánh trăng (ấy là sau này Nguyễn tưởng tượng ra thêm khi nhớ tới con bé mắt nâu ngày xưa).

Nhưng như mọi thứ tốt đẹp ở đời… Giàn thiên lý đã xa / đã rời xa…* Những buổi chiều hè ấy không còn nữa. Lớn lên, cô bé hàng xóm theo cha mẹ lên lập vườn cà phê trên Ban Mê Thuột. Không còn hoa lý rụng trong chiều hè. Thỉnh thoảng viết về cho Nguyễn mấy chữ cô hàng xóm ngày nào cho biết hoa cà phê thơm nhưng không ở lâu như hoa thiên lý và không có “mùi của ánh trăng”.




Nguồn gocnhosantruong.com


Giàn thiên lý năm xưa giờ đã xa khuất cuối chân mây. Chiều nay nhớ đến mẹ và chị Thoa và cô bé nhà bên cùng những chùm hoa thiên lý trong bát canh ngày xưa, Nguyễn lên lưới gõ vào Google mấy chữ “hoa thiên lý” và đọc được những đoạn văn sau đây, bèn chép lại gởi tới những ai yêu hoa thiên lý như Nguyễn, gọi là chút tình cố hương mong manh như ánh trăng.

“Hoa thiên lý thường nở vào mùa hè còn có tên gọi là hoa dạ lài hương. Là loại dây leo, lá hình tim, hoa mọc thành chùm, lúc nở có màu vàng xanh và thoang thoảng hương về đêm. Ở quê tôi đa số các nhà thường trồng giàn hoa thiên lý trước hiên nhà để che nắng, đồng thời làm nguồn thực phẩm để chế biến các món ăn.

Hoa thiên lý có thể chế biến thành nhiều món như lẩu mắm hoa lý, hoa lý nấu canh chua, hoa lý xào tôm, hoa lý luộc nhưng phổ biến nhất vẫn là hoa lý nấu canh và hoa lý xào thịt bò.

Canh thiên lý dễ nấu, không cầu kỳ, có thể nấu suông hoặc nấu với tôm, thịt… Dù nấu với thịt, cá hay tôm, thứ nào cũng ngon nhờ vị ngọt tự nhiên và cái chất bùi bùi, ngòn ngọt của hoa lý, nhai vào cảm thấy giòn giòn mới thật thú vị. Nhưng có lẽ canh hoa thiên lý nấu với cua đồng là đúng điệu nhất.

Cua đồng bóc mai, bỏ yếm, rửa sạch, cho vào một thìa muối, xay nhuyễn. Lọc xác cua với nước sạch qua rây từ 3 đến 4 lần, gạn bỏ cấn để làm nước dùng. Ðun nước dùng cua đến khi nước sôi lăn tăn, dùng muỗng khuấy đều theo một chiều để xác cua đông kết tạo thành gạch cua và gạch không bị bám vào đáy nồi và không bị vỡ nát. Nước sôi, cho hoa thiên lý vào nấu chung, đảo nhẹ tay để hoa không bị nát cánh. Khi nước sôi lại là được, múc ra bát, ăn nóng. Bưng bát canh thiên lý nấu với cua đồng nóng hổi trên tay, nhìn những những cánh hoa xanh nõn đã thấy người sảng khoái, muốn ăn ngay để cảm nhận vị ngon ngọt, đậm đà…”

Ðoạn văn trên là của Hoàng Oanh. Sau đây là một đoạn văn khác: “Mùa gió chướng về đem theo cái nóng như nung làm người ta bức bối. Chợt một sáng nào, thấy trong giàn thiên lý mát dịu những chùm hoa xinh xinh xanh nõn. Và ngoài chợ cũng đã có những mâm hoa vun đầy mời mọc, sẵn sàng dâng hiến cho ta những món ăn bình dị mà ngọt ngào. Nhưng không phải ai cũng biết ngoài cái mùi hương thoang thoảng trong giàn lá mướt xanh, hoa thiên lý còn được dùng chế biến thành những món ăn hấp dẫn, vừa ngon mắt lại vừa ngon miệng.

“Trước hết phải kể đến những món ăn được nhiều người ưa thích là canh hoa thiên lý nấu giò sống. Tô canh nóng thoảng nhẹ mùi hoa, những cánh hoa xanh rập rờn trong làn khói mỏng, điểm quanh đây đó là những lát giò nâu hồng gợi cảm. Chỉ có thế mà cái nóng nung người của trưa hè đã như lùi xa…”

Giờ đây… Giàn thiên lý đã xa, đã rời xa …* Ở xứ người không thiếu gì kỳ hoa dị thảo, nhưng với Nguyễn hoa thiên lý vẫn là thân thiết nhất. Ðôi lúc mình lẩn thẩn tự hỏi ở Vương Phủ bây giờ có còn ai trồng hoa thiên lý?
2 users thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 9/8/2016(UTC), thunder on 9/29/2016(UTC)
Hạ Vi
#2169 Posted : Thursday, September 8, 2016 5:45:23 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,330
Points: 16,876
Location: CỏThơm

Thanks: 4124 times
Was thanked: 9960 time(s) in 2467 post(s)






chợt ngó thấy đám mây quê


những đám mây lang thang cánh cò
vẽ lộ trình khúc sông đang chảy
em lặng im như vậy
làm sao cánh đồng học được cách bay

đuổi bướm vàng một thuở mê say
bông mướp nhẩm hoài chưa nở hết
con đường đất vui hơn ngày tết
qua rằm rồi ai dắt lối mùa đi

ngôi chùa nghiêm khoác dáng từ bi
mỏng chuồn ớt đậu buồn cong mái ngói
em cười riêng không nói
cây trúc xinh trúc mọc đầu đình

chiếc lá rơi lòng giếng sâu, nông
tiếng võng đưa như niềm bí ẩn
em còn nhớ vai áo chằm ân hận
mười năm trời chưa nhắc một lần quê

dòng sông vẫn trôi
người thôi đợi tôi về



ĐCĐ







1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
thunder on 9/13/2016(UTC)
thunder
#2170 Posted : Tuesday, September 13, 2016 10:38:23 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,092
Points: 12,473

Thanks: 1863 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)


Nguồn gốc, phong tục và ý nghĩa của ngày Tết Trung Thu
Tết Trung Thu


Theo phong tục người Việt chúng ta, Tết Trung Thu được tổ chức vào giữa mùa thu, tức là hôm rằm tháng tám ta. Trong dịp này người ta làm cỗ cúng gia tiên và bày bánh trái ra sân cúng mặt trăng. Nhân dịp tết này, người lớn thì uống rượu, thưởng trăng, và hát trống quân; trẻ em thì rước đèn, đi xem múa lân, ca hát các bài hát Trung Thu, và vui hưởng bánh kẹo cùng các thứ trái cây do cha mẹ bày ở ngoài sân trong đêm Trung Thu dưới hình thức một mâm cỗ. Theo tục lệ, việc trẻ con thưởng thức bánh kẹo trái cây trong đêm Trung Thu này được gọi là "phá cỗ." Nguồn Gốc Tết Trung Thu Người Việt ta ăn Tết Trung Thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch là do ta phỏng theo phong tục của người Tàu. Chuyện xưa kể rằng vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Trong đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp và không khí mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và du dương với âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc. Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quí Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian. Cũng có người cho rằng tục treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám âm lịch là do ở điển tích ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng. Vì ngày rằm tháng tám là ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng nên triều đình nhà Đường đã ra lệnh cho dân chúng khắp nơi trong nước treo đèn và bày tiệc ăn mừng. Từ đó, việc treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám trở thành tục lệ. Người Hoa và người Việt đều làm bánh trung thu để cúng, ăn, biếu thân bằng quyến thuộc, và đãi khách. Điểm chung kế tiếp là người Hoa và người Việt đều tổ chức rước đèn trong đêm trung thu. Ý Nghĩa Tết Trung Thu Tết Trung Thu của người Việt có nhiều điểm đặc biệt khác với Tết Trung Thu của người Trung Hoa. Theo phong tục người Việt, bố mẹ bày cỗ cho các con để mừng trung thu, mua và làm đủ thứ lồng đèn thắp bằng nến để treo trong nhà và để các con rước đèn. Cỗ mừng trung thu gồm bánh trung thu, kẹo, mía, bưởi, và các thứ hoa quả khác nữa. Đây là dịp để con cái hiểu được sự săn sóc quí mến của cha mẹ đối với mình một cách cụ thể. Vì thế, tình yêu gia đình lại càng khắng khít thêm. Cũng trong dịp này người ta mua bánh trung thu, trà, rượu để cúng tổ tiên, biếu ông bà, cha mẹ, thầy cô, bạn bè, họ hàng, và các ân nhân khác. Thật là dịp tốt để con cháu tỏ lòng biết ơn ông bà cha mẹ và để người đời tỏ lòng săn sóc lẫn nhau. Người Hoa hay tổ chức múa lân trong dịp Tết Nguyên Đán. Người Việt lại đặc biệt tổ chức múa Sư Tử hay Múa Lân trong dịp Tết Trung Thu. Con Lân tượng trưng cho điềm lành. Người Trung Hoa không có những phong tục này. Thời xưa, người Việt còn tổ chức hát trống Quân trong dịp Tết Trung Thu. Điệu hát trống quân theo nhịp ba “thình, thùng, thình.” Ngày xưa trai gái dùng điệu hát trống quân để hát trong những đêm trăng rằm, nhất là vào rằm tháng tám. Trai gái hát đối đáp với nhau vừa để vui chơi vừa để kén chọn bạn trăm năm. Người ta dùng những bài thơ làm theo thể thơ lục bát hay lục bát biến thể để hát. Tết Trung Thu mới đầu là tết của người lớn để thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên, ăn bánh, và uống trà ngắm trăng rằm vào giữa tiết Thu. Dần dần Tết Trung Thu trở thành Tết Trẻ Em hay Tết Nhi Đồng, nhưng người lớn cũng dự phần trong đó. Trẻ em được người lớn chú ý săn sóc như các hội đoàn người Việt hải ngoại đã và đang làm. Các em có dịp vui chơi rước đèn, ca hát, phá cỗ do cha mẹ anh chị bày cho và nhất là có dịp ăn bánh kẹo thả cửa mà không sợ bị quở mắng là “ăn kẹo hư răng.” Trong dịp Tết Trung Thu, trẻ em có dịp được học bài hát “Rước Đèn Tháng Tám” một cách thích thú: “Tết Trung Thu rước đèn đi chơi, em rước đèn đi khắp phố phường. Lòng vui sướng với đèn trong tay. Em múa ca trong ánh trăng rằm. Đèn kéo quân với đèn cá trắm, đèn thiên nga với đèn bươm bướm. Em rước đèn này đến cung trăng. Đèn xanh lơ với đèn tím tím, đèn xanh lam với đèn trắng trắng. Trông ánh đèn rực rỡ muôn màu.” Tết Trung Thu là một phong tục rất có ý nghĩa. Đó là ý nghĩa của săn sóc, của báo hiếu, của biết ơn, của tình thân hữu, của đoàn tụ, và của thương yêu. Cần cố gắng duy trì và phát triển ý nghĩa cao đẹp này. (Theo Mummy Blog)

Source: VietBao

1 user thanked thunder for this useful post.
Hạ Vi on 9/16/2016(UTC)
CỏThơm
#2171 Posted : Sunday, September 25, 2016 4:00:30 PM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 162
Points: 516
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 127 times
Was thanked: 93 time(s) in 68 post(s)
.





Nhánh Sao Đêm


sợi tơ hồng buộc tim em thuở nọ
tháo làm chi cho gió cuốn tình đi
dòng nước mắt muộn màng khơi rất nhỏ
rơi âm thầm sao vỡ cả lòng sông !

tình cứ ngỡ lá trầu không chưa úa
trái cau xanh bổ nửa vẫn còn tươi
mâm ngũ quả, nến hồng còn rực rỡ
môi đang xinh sao trót lỡ nụ cười !

lặng lẽ thoát qua em mùa lá đổ
chiều, từng chiều, qua những phố quen xưa
lời thầm lắng âm vang tình lướt gió
xao xuyến buồn gõ xuống bước chân đưa !

mùa Hạ cũ mà Phượng còn chín đỏ
từng cánh bay qua ngõ tựa môi quen
ghép giữa gió những mảnh rời tim vỡ
hạnh phúc về từ một nhánh sao đêm !


Cao Nguyên




2 users thanked CỏThơm for this useful post.
thunder on 9/29/2016(UTC), Duy An on 1/25/2017(UTC)
thunder
#2172 Posted : Thursday, September 29, 2016 12:12:42 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,092
Points: 12,473

Thanks: 1863 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)




hai phía trời



em trời đông tôi trời tây
đêm riêng một phía, phía ngày cũng riêng
mai này trái đất chao nghiêng
đôi ta phải chịu lệch thêm một giờ

phía trời tôi có câu thơ
gửi cho em đọc qua bờ biển xa
thơ tôi tìm phía quê nhà
hình như có giọt lệ sa giữa trời?

cuối ngày dỗ giấc đêm vơi
trái tim lãng tử ru lời thập phương
chao ôi hai phía trời tròn
phía tôi là lại phía buồn của em




Hoàng Lộc




Duy An
#2173 Posted : Tuesday, November 8, 2016 7:37:38 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)

Đói ăn rau?


By Hỷ Long


Rau là nguồn vitamin vô cùng quan trọng với con người, mặc dù chưa phân tích được thành phần sinh hóa của rau nhưng ông bà mình vẫn đúc kết rằng “đói ăn rau, đau uống thuốc”. Đó là chuyện của cây rau thời nó còn là cây rau, còn thời bây giờ, không ai dám nói câu này nữa bởi cả rau và thuốc ở Việt Nam đều có vấn đề, đặc biệt, cây rau trở thành nguồn độc tố nguy hiểm đối với người Việt trên mọi mặt.




Rau nào cũng là rau


Tôi có chơi với một nông dân tên Hiền, ở Ðại Hồng, Ðại Lộc, Quảng Nam, tính ông này chân chất, hiền từ. Trong một lần nhậu, hứng chí, ông hát nhại bài “Ru ta ngậm ngùi” của Trịnh Công Sơn:“Rau nào cũng là rau/ Rau trồng cũng là rau/ Rau mua cũng là rau/ Rau nào cũng tào lao/ Rau trồng để mình ăn/ Chắc chi đã bình yên bởi phân nào cũng là phân/ Hóa chất nó lần khân/ Lại còn thêm hạt giống Trung Quốc nó nhập sang/ Rồi nhãn mác Việt Nam/ Ma dê in Việt Nam/ Chú Phúc nói thật ngon/ Chỉ tội cho tụi con/ Te tua với đời con…”. Bài hát khá dài và nghe có vẻ như không có lối ra, tôi cắt ngang lời ông Hiền:

“Anh Hiền, rau mình trồng ăn thì mình phải tin tưởng hơn là rau mua chứ anh nói sao kỳ vậy? Hát vậy mà cũng hát được!”.



Tự trồng rau để ăn

Ông Hiền tợp một một ly đế nghe cái rột, rõ dài, trả lời: “Cậu không biết đó thôi, đương nhiên là về mặt lý thuyết thì nó đúng đó, rau mình trồng mình ăn thì sẽ tốt hơn rau mua ngoài chợ. Nhưng mà cậu không có biết cái chất độc lưu cữu đâu!”.

Nghe ông nói “cái chất độc lưu cữu” với dáng bộ nhà nông đúng hiệu, tay chân chai sần, đen đúa, mặt mày sừng sộ, tôi nhịn cười làm thinh để nghe tiếp cái vụ chất độc lưu cữu của ông.

“Cậu biết không? Cây rau bây giờ cậu mua ngoài chợ, chắc chắn là độc rồi, bởi nguồn nước tưới cũng chưa chắc đã an toàn, rồi nguồn phân, nguồn thuốc, nguồn giống đều có vấn đề. Ðặc biệt là nông dân họ khổ quá, chạy đua với thời vụ, với thị trường. Họ phải bơm thuốc dưỡng cây trước khi hái đi bán. Mai đi bán thì tối nay họ bơm thuốc. Mà loại thuốc đó thì hai tuần mới giảm tác dụng chứ chưa hết tác dụng đâu. Ăn vào là ăn độc. Dân mình hại dân mình cả thôi!”.




Vườn rau sạch ở Trà Quế, Hội An.

“Ông có thể nói rõ hơn, chi tiết hơn một chút được không?”.

“Vì cậu biết rồi đó, tiền nó cũng giống như nước vậy, nó chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp, đằng này nó bị chặn hết từ trên cao thì chỗ thấp phải bí bách, nước thối nước gì cũng tuồn vào là chắc chắn rồi! Tôi lấy ví dụ, nhà ông sát rừng, nghèo đói, ông thấy bọn kiểm lâm với lâm tặc nó thi nhau cưa gỗ, bọn quan lại thì được biếu gỗ để lót tới cầu tiêu thì cách gì ông cũng phải cưa trộm vài khúc để bán mà sống chứ!”

“Ban đầu trồng rau mà nghe nhiều độc thì nông dân nào cũng sợ, nhưng giờ thành quen rồi nên ai cũng làm! Tôi cũng trồng rau, cũng bơm thuốc để đi bán. Chứ nếu mình nghĩ tới lương tâm mà không làm thì lấy gì mà sống. Rồi lỡ xã nó yêu cầu đóng vài triệu tiền làm đường thì cũng có mà đóng chứ!”




Chăm sóc xà lách và chuẩn bị bơm thuốc dưỡng cây

Kết thúc câu chuyện mà ông Hiền vẫn chưa nói rõ được cái “độc lưu cữu” trong cây rau, tôi đành phải tự tìm hiểu vậy.

Tự trồng rau có hết độc?

Giúp tôi tìm hiểu việc này là ông Phi, một chủ cửa hàng bán hạt giống và vật tư nông nghiệp ở Thăng Bình, Quảng Nam, ông này bỏ mối hạt giống, phân và thuốc trừ sâu cho cả khu vực miền Trung nên khá rành rõi. Khi nghe tôi hỏi về vấn đề an toàn rau xanh khi tự trồng, ông nói: “Cũng có an toàn hơn so với người ta bán cho mình nhưng chỉ được 50% thôi!”.




Nguồn nước để rửa rau dơ bẩn cũng là nguyên nhân khiến cho rau trở nên độc hại


“Mình tự trồng, không bơm thuốc và bón phân hóa học, tưới nước sạch sao lại an toàn có 50% vậy ông?” – Tôi hỏi.

“Tôi có quen một đầu mối chuyên bỏ rau cho các siêu thị tại Ðà Nẵng, từ Big C cho đến VinMart đều lấy rau của cô này. Cô này sống tại Ðà Nẵng, giàu lắm. Cô chỉ lấy có 30% rau nguồn từ Ðà Lạt, mà rau ở Ðà Lạt cũng trồng bình thường, thậm chí chỉ biết là do nông dân Ðà Lạt gởi ra chứ không có gì là chứng minh nó được trồng sạch, 70% còn lại là cô ta lấy từ chợ đầu mối Hòa Cường Ðà Nẵng. Khuya là cô cùng một nhóm nhân viên toàn người nhà ra chợ đầu mối thu gom rau về, sáng ra thì chở đi bỏ mối các siêu thị. Tôi khẳng định là rau ở các siêu thị toàn rau bẩn. Bởi vì rau lấy từ chợ đầu mối mang vào siêu thị thì có khác gì rau ngoài chợ bình thường chứ! Ðó là rau mình tưởng sạch, có nhãn mác siêu thị! Còn rau ngoài thị trường thì miễn bàn!”.

“Riêng rau tự trồng thì không phải dính thuốc độc và phân hóa học, cũng đỡ được 50% nguy hiểm. Nhưng ông biết rồi đó, Việt Nam không có nhiều người sản xuất hạt giống rau củ quả, chủ yếu là trồng rau, củ, quả xanh để bán thôi. Hạt giống chủ yếu là do Trung Quốc cung cấp, nó cung cấp với mức giá rẻ bằng 30% giá hạt giống Việt Nam nên mấy đại lý lớn lấy hạt giống của nó về bỏ mối. Như cửa hàng tôi thuộc hàng đại lý vùng mà vẫn phải chịu chi phối của đại lý cấp trên, hạt giống đưa về cho tôi bán dán nhãn mác Việt Nam nhưng toàn là hạt Trung Quốc cả. Vì tôi làm nghề này gần hai chục năm nay, nhìn vào hạt giống, nhìn vào mã vạch, và nếu vẫn chưa tin thì gieo thử vài cây con là biết ngay nó ở đâu ra liền. Mà hạt giống Trung Quốc thì nó bị nhiễm độc từ đời ông tổ nó rồi, từ thâm căn cố đế trong đất, nó phải mang nguồn gen độc từ thủy tổ nên nó phải là giống rau không an toàn. Mà tôi thấy hầu hết những nhà tự trồng rau trong thùng xốp, thau nhựa đều dùng hạt Trung Quốc, đất thì cũng vơ đại đâu đó để trồng, miễn là có đất thôi, vì thành phố thì hiếm đất mà! Với hạt giống Trung Quốc cộng với môi trường đất không tốt lành và thùng xốp, thau nhựa cũng nguy hiểm không kém, cây rau nó có còn an toàn không chắc ông cũng biết rồi!”.



Tranh thủ trồng rau bên vỉa hè để xài hằng ngày

Cuộc trò chuyện chóng vánh với ông Phi giúp tôi hiểu được cái gọi là “độc lưu cữu” mà ông Hiền đã nói rồi bỏ lửng. Và nó cũng khiến tôi thấy thương mình, thương cho những người chung quanh tôi. Bởi chúng tôi, người dân Việt Nam này đang sống như những con cá, cố bơi lặn trong hồ nước độc. Mà đáng sợ nhất là độc lưu cữu từ thủy tổ của cây rau bên Tàu đang ngấm dần vào cơ thể Việt, độc lưu cữu từ ngót nghét nửa thế kỷ con người phải sống và đối mặt với dối trá, man rợ, tàn nhẫn và độc đoán, đạp trên nỗi đau đồng loại mà làm giàu!
phamlang
#2174 Posted : Sunday, January 15, 2017 11:14:42 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)

Con rạch nhỏ quê mình



Mầy còn nhớ không? Hồi tụi mình còn nhỏ, thời tiểu học, có ngày nào mà tụi mình không đùng xuống con rạch trước nhà để tắm. Mầy còn nhớ con rạch đó không? Nó có cái tên cục mịch và quê mùa: rạch “Cồn Cỏ”.

Người ta gọi như vậy bởi vì ở phía sông cái có một cái cồn khá lớn – gần như là một cái cù lao – làm tách con rạch ra làm hai nhánh. Có lẽ hồi xưa, trên cồn chỉ có cỏ nên họ gọi là “Cồn Cỏ”, chớ hồi thời tụi mình, trên đó thấy đầy cây cối mà một số là cây ổi “chim ăn” và cây xoài hột. Mầy bỏ xứ ra đi lâu quá, không biết còn nhớ “ổi chim ăn” và xoài hột không?

“Ổi chim ăn” là loại ổi nhỏ bằng trứng chim cút, bên trong toàn hột là hột nên không có ai trồng. Chim hay mổ ăn mấy trái chín, còn tha đi chỗ này chỗ nọ. Hột ổi rớt mọc lên cây, nhà vườn chặt bỏ để lấy đất trồng thứ khác. Còn “xoài hột” thì như tên của nó nói: trái nhỏ bằng nắm tay con nít, bên trong chỉ có cái hột lớn với chút xỉu cơm! Người ta cũng gọi là “xoài mút” bởi vì muốn ăn loại xoài đó phải lựa trái chín muồi, lột võ rồi mút cái hột với lớp cơm mỏng dánh dính chung quanh. Người lớn không ai thèm ăn bởi vì ăn không đã miệng mà mút xong một trái là hai bàn tay dơ hầy! Chỉ có con nít là khoái! Cho nên vào mùa xoài – cũng là mùa mưa – khi thấy trời nổi gió, trẻ con thường lội qua cồn để lượm xoài, được trái nào là đứng ngay dưới cây xoài mút lia mút lịa. Tao nhớ có lần mầy với tao cởi quần đội lên đầu rồi lội qua cồn cỏ lượm xoài. Mầy nhớ không? Mình phải đội quần để quần xà lỏn đừng bị ướt bởi vì tụi mình “lội chó” đầu lòi ra khỏi nước. Mới nút được có mấy trái thì trời mưa ụp xuống làm hai đứa ướt ngoi. Lần đó về nhà tao bị bắt quì gối gần nửa tiếng. Tao tưởng mày là cháu đích tôn của ông Cả, được cưng nhứt nhà không ai dám rớ. Té ra hôm sau đi học, mầy kể lại mầy cũng bị ông nội mầy bắt quì cũng như tao! Mầy coi! Cái xã hội của mình hồi đó nó tốt như vậy. Quan quyền hay dân dã gì cũng dạy con dạy cháu na ná như nhau hết.

Trở lại với con rạch của tụi mình. Con rạch cong cong quanh quanh chạy tuốt vô xóm chợ, chui qua cây cầu đúc của con lộ cái rồi đi mất hai con đường đất dùng cho người đi bộ và xe đạp. Nhà cửa cất dài theo hai con đường đất. Mỗi nhà nằm trong một khu vườn đầy cây ăn trái và hoa kiểng. Hai bờ, lâu lâu, được nối với nhau bằng một cây cầu khỉ. Mỗi cây cầu khỉ đều có một cái tên: cầu cây gừa (vì nó nằm cạnh cây gừa), cầu cây trôm (cạnh cây trôm), cầu bà Sáu Lộc (nằm trước nhà bà Sáu Lộc, chớ không phải bả dựng cây cầu đó!) Cầu ván (làm bằng hai tấm ván thay vì hai cây tre) v.v…

Tía tao nói về sau, ông nội mày bỏ tiền ra xây một cây cầu đúc, giúp cho dân chúng đi lại dễ dàng. Mầy nhớ cái cầu đúc nằm ở xóm chợ không? Đó, cái cầu đó, đó! Người ta gọi là “cầu ông Cả”. Không biết mầy có biết rằng ông nội mầy hồi đó được dân chúng thương lắm không? Tía tao nói rằng ổng thôi làm “Cả” từ thời Tây lận, nhưng dân trong vùng vẫn gọi ổng là “ông Cả”. Hồi trào Việt Minh, ông nội của mầy là người chức sắc cũ duy nhứt không bị cho đi “mò tôm”. Để thấy ổng ăn ở có nhơn biết chừng nào.

Nói đến cầu khỉ, tao nhớ hoài chuyện bà Năm Chiện té rạch. Bả té đâu hồi tụi mình chưa sanh. Lớn lên nghe kể lại mà bắt tức cười. Mầy biết không? Hồi xưa, rạch Cồn Cỏ chỉ có loại cầu khỉ “một cây tre”, trơn trợt khó đi. (Về sau, dân chúng cặp thêm một cây tre như tụi mình đã thấy.)

Một hôm bà Năm Chiện đi tới giữa cầu, hụt chân té xuống rạch. Người ta nghe tiếng bà Năm la chói lói, “Bớ làng xóm! Bớ làng xóm!”

Rồi giọng bả bỗng thấp xuống, “Ủa mà cạn!”

Thì ra bả không biết lội, hồi té là la làng kêu cứu, chừng coi lại thấy nước mới tới lưng quần, bả té nhằm nước ròng. Bà con lối xóm nghe la, chạy ra thì thấy bà Năm Chiện lóp ngóp bò lên bờ rạch, miệng cười lỏn lẻn mắc cỡ! Chuyện này về sau khi tao đi làm việc ở Sàigòn, tao có nghe kể nhiều lần. Họ kể “có bà đó” chớ không nói là bà Năm Chiện, và họ kể như là chuyện tiếu lâm đặt ra để cười chơi. Đâu có ai biết là chuyện tiếu lâm đó xuất xứ từ con rạch Cồn Cỏ của quê mình!

Ở làng Nhơn Hoà Cồn Cỏ, trẻ con chia ra thành bọn để đi chơi với nhau. Bọn mình có ba đứa: thằng Đực Nhỏ, mầy, tao. Mầy còn nhớ thằng Đực Nhỏ không? Cái thằng học dở ẹc, tánh tình thì ngổ ngáo, học chung với tụi mình nhưng lớn hơn tụi mình tới ba tuổi. Vậy mà cũng chia và nó hay bầy đặt trò chơi này trò chơi nọ. Nó lúc nào cũng ra vẻ đàn anh bảo vệ mầy với tao.

Nó nói với bọn trẻ khác, “Thằng Cương, thằng Lân là bạn của tao, đứa nào đụng vô là biết!”

Mầy có biết nó nói với tao làm sao không? Nó nói, “Thằng Cương hiền khô nhát hít. Nó là cháu ông Cả chớ tụi xóm Chợ đâu có coi ra gì. Tụi nó không nể nang ai hết, bắt nạt được là tụi nó bắt nạt. Tao phải dằn mặt tụi nó trước như vậy.”

Rồi nó nhìn tao, “Còn mầy thì tao khỏi lo.” Nó biết rằng tao cũng không vừa gì!

Không biết mầy còn nhớ vụ bọn mình đi ăn cắp tôm không? Bọn mình ở xóm Cồn, gần sông cái, nên biết mặt gần hết mấy ông thợ câu.

Một bữa nọ thằng Đực Nhỏ hỏi, “Tụi bây muốn ăn tôm nướng không?”

Tụi mình hỏi lại: “Tôm ở đâu mà nướng? Mầy câu hả?”

Nó nói, “Muốn ăn thì đi theo tao.”

Nó dẫn tụi mình ra ngoài vàm, chỉ tay ra đó, “Tôm cả đống ở ngoải.”

Tụi mình nói nó xí gạt nên vừa “xì” một tiếng vừa quay trở vô định về. Nó níu lại, “Thiệt mà! Ông Hai Sầm câu tôm ổng rộng tôm ngoài đó đó.”

Rồi nó giải nghĩa, “Tao thấy ổng đi câu về là ổng thả cái rọ tôm có treo cục đá xuống sông. Cái rọ có sợi dây dính vô khúc củi nổi trên mặt nước để làm dấu. Tụi bây dòm coi.”

Nước đang ròng. Cách bờ độ ba thước có khúc củi nhỏ lắc lư lắc lư như muốn trôi mà bị cái gì rị lại phía dưới. Mầy nói: “Tôm của người ta, ăn cắp chúng bắt chết.”

Nó cười, “Mình lặn xuống xin mỗi đứa một con ăn chơi. Ăn nhầm gì? Chừng nào rinh hết cái rọ của ổng mới là ăn cắp chớ!”

Ba đứa dợm bước xuống sông để lội ra đó thì tao khựng lại: “Không được! Phải có một thằng đứng canh. Rủi có người thấy tưởng tụi mình ăn cắp cái rọ thì khổ.”

Vậy là mầy được chỉ định đứng canh trên bờ. Tao lại nghĩ lại: “Không được! Nước ròng chảy mạnh, ba con tôm, tay nào cầm tay nào lội?”

Thằng Đực Nhỏ “Ờ” rồi ngồi bẹp xuống như cái bong bóng xì. Bỗng nó đứng phắt lên chỉ vào cái quần dài bằng vải đen nó đang mặc, “Tao cột túm ống quần lại, mình bỏ tôm vô quần rồi lội vô!”

Rồi nó vừa cười ha hả vừa chạy lại mấy cây chuối hoang gần đó tét mấy sợi dây thân chuối cột ống quần. Mầy nói, “Mẹ! Coi chừng càng tôm nó kẹp cho thấy bà!”

Đực Nhỏ vừa nói vừa ra dấu, “Mình bẻ càng nó!”

Tao chen vô, “Ờ, mà còn cái răng cưa trên.”

Vậy là hai đứa tao đùng xuống sông, lội ra khúc củi, mò theo sợi dây lặn xuống. Như đã giao hẹn hồi lội ra, tao lãnh phần bắt tôm, nó lãnh phần bẻ càng bẻ răng cưa rồi “nhốt” vô quần. Đang làm tới con tôm thứ hai thì bỗng thằng Đực Nhỏ trồi lên mặt nước la làng chói lói. Tao hết hồn nắm đầu nó vừa lội vừa kéo vô bờ. Nó vùng vẫy như điên, hất tay tao ra rồi chìm xuống nước. Trên bờ, mầy nhớ không, mầy vừa nhảy đông đổng, vừa la, “Chết cha! Thằng Đực Nhỏ bị ma da rút rồi! Chết cha!”

Vô tới bờ, tao chưa biết phải làm sao thì thằng Đực Nhỏ trồi đầu lên, mặt mài nhăn nhó, vừa lội vô vừa rên, “Đau thấy mẹ! Trời ơi! Rát thấy mẹ!”

Chừng nó đứng lên mới thấy cái quần nó tuột xuống hai ống chân, còn hai bên bắp vế của nó thì máu me tùm lum như bị đâm bị cắt. Nó nói như mếu, “Mẹ bà nó! Mình quên con tôm còn có cái đót giấu ở dưới đuôi nữa! Nó búng đuôi chém tao đau thấy ba bốn ông Trời! Tao phải lặn xuống cởi quần cho nó phóng ra sông!”

Thằng Đực Nhỏ vừa nói vừa khoát nước rửa máu chừng đó mới thấy cái đùm giữa của nó còn nguyên chỉ bị thương ở đùi. Hú vía! Thằng Đực Nhỏ sau này đi lính đánh giặc rồi chết trận ở Kontum. Nó chưa vợ chưa con, cũng may cho nó.

Trở về với con rạch của tụi mình. Trẻ con đi học về là nhảy ùm xuống tắm. Người lớn còn đợi nước lớn mới tắm chớ con nít thì nước lớn nước ròng gì cũng tắm được hết, bởi vì tắm lội là một trò chơi. Nhắc đến vụ tắm rạch, tao còn nhớ tới chuyện này. Chắc, tao nghĩ, mầy cũng còn nhớ. Hôm đó, mầy bận cái quần xà lỏn mới tinh của má mầy vừa may cho. Mầy sợ quần ướt nên cởi quần vắt lên cây gừa, ở truồng nhào xuống lội. Hồi thời tuổi nhỏ, tụi mình tắm ở truồng là thường. Tắm giỡn đã rồi leo lên bờ thì đứa nào đã ăn cắp cái quần mới. Mầy mếu máo khóc, tao phải qua nhà tao lấy cái quần cho mầy mượn mà mặc đi về. Hôm sau đi học, mặt mầy buồn xo. Mầy trật đít ra cho tao coi hai lằn roi đỏ ửng! Vụ đi tắm mất quần đó, chắc mầy còn nhớ mà! Cho dù đã mấy chục năm, hai lằn roi đó làm sao quên được?

Vậy mà đã mấy chục năm! Tụi mình xa lần con rạch Cồn Cỏ từ hồi lên tỉnh học trung học. Rồi xa luôn từ ngày mầy đi Tây, còn với tao thì kể cũng gần như xa luôn từ ngày tao đi lính. Mầy không biết chớ hồi tao đi lính, tao đánh giặc lì lắm. Bạn đồng đội nói tao là, “Thằng Lân ăn pháo, chỗ nào Việt Cộng bắn rát là có nó lăn tới.”

Rồi tụi nó đặt cho tao cái hỗn danh “Lân pháo”, hỗn danh này tao mang tới ngày mất nước. Suốt cuộc đời nhà binh của tao, tao đánh giặc không biết bao nhiêu trận, có vào sanh ra tử, có thắng có thua, nhưng không hiểu sao tao chưa hề bị thương một lần! Vậy mà hôm tao phải liệng súng đầu hàng vào cuối tháng tư 75, tao nghe đau điếng như vừa lãnh một viên đạn. Lần đó, tao không đánh giặc vậy mà tao lại bị thương, bị thương ở trong lòng. Vết thương đó, bây giờ, gần hai mươi năm sau, vẫn chưa chịu lành. Mầy thấy không? Kể lại cho mầy nghe mà tao vẫn còn rơm rớm nước mắt.

Bên vợ tao có cơ sở làm ăn ở Marseille. Nhờ vậy, tao mới qua Pháp theo diện đoàn tụ gia đình bên vợ. Mầy thấy không? Cuối cùng rồi tao cũng được đi Tây như ai! Trước khi đi, tao có về thăm Cồn Cỏ. Con rạch nhỏ bây giờ nó rộng huỵch, tại vì ghe thuyền bây giờ toàn chạy máy nên sóng đập lở bờ. Cầu khỉ được thay bằng cầu ván. Cầu Ông Cả gãy hết một chân lòi cốt sắt rỉ sét. Người ta nói hồi mới vô, mấy cha Việt Cộng thách đố nhau bắn chơi! Cái cồn đã được một ông lớn nào đó chiếm ngụ. Ổng xây bờ kè, xây tường rào kiên cố, phía sông có cầu tàu, nhà thủy tạ, bên trong là nhà lầu kiểu cọ theo điệu Tàu.

Bây giờ mầy có về mầy nhìn không ra đâu! Người cũ chết bớt, đi bớt. Người mới, phần đông là dân cách mạng tụi mình không quen, về cất nhà lầu dài theo rạch. Tao có đến thăm con Huê, cái con nhỏ má lúm đồng tiền học chung với tụi mình đến hết lớp nhứt, đó, rồi về sau nó bán vải ở chợ nhà lồng; có năm đó trong dịp Tết nó tặng mầy một cái mu-soa thêu trước khi mầy đi Tây, mầy nhớ hôn? Con nhỏ đó, đó! Bây giờ nó vẫn bán vải, vẫn chưa có chồng, coi hơi già hơn tao một chút nhưng vẫn còn có duyên. Nó với tao nhắc không biết bao nhiêu chuyện cũ, để lâu lâu thở dài…

Khi con Huê tiễn tao ra đến cổng, nó đứng ngập ngừng một chút rồi bỗng nói một mạch lè lẹ như tụi mình trả bài thuộc lòng thuở nhỏ, “Anh qua bên Tây, có gặp anh Cương nói em gởi lời thăm ảnh.”

Nói rồi nó bỏ chạy vội vào trong, tao thấy nó đưa tay lên quẹt mắt mấy lần. Tao đứng chết trân, nhớ lại lời con Nhàn, em con Huê, nói với tao cách đó khá lâu hồi tao gặp nó bán vải ở chợ An Đông, “Anh Lân biết không? Chị Huê thương anh Cương từ hồi còn học lớp nhứt lận!”

Nó vừa nói vừa cười, tao tưởng nó nói chơi, té ra nó nói thiệt. Tao kể lại chuyện con Huê cho mày nghe, tao biết mày không làm gì được, nhưng tao vẫn kể. Để cho mầy thấy người con gái ở dưới quê mình nó thật thà trung hậu đến mức độ mà khi đã trót thương ai thì thương cho đến chết. Họ coi đó là sự tự nhiên. Cũng như, hễ đã là con rạch thì tự nhiên phải có nước lớn nước ròng.

Hồi hôm, coi télé chương trình văn nghệ đài TF1, nghe hát bài “Dòng sông tuổi thơ”, tao bỗng nhớ tới con rạch nhỏ quê mình. Rồi tao nhớ mầy Cương ơi! Bây giờ mầy ở đâu?

Truyện này tôi viết theo lời yêu cầu của người kể. Ông đó nói, “Nhờ ông viết lại dùm. Biết đâu chừng thằng Cương sẽ đọc. Để nhắc nó đừng quên con rạch Cồn Cỏ, đừng quên thằng Đực Nhỏ, thằng Lân, con Huê.

Tiểu Tử
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Duy An
#2175 Posted : Wednesday, January 25, 2017 10:33:56 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)




Anh đến thăm em đêm ba mươi
Còn đêm nào vui bằng đêm ba mươi
Anh nói với người phu quét đường
Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em.

Tay em lạnh để cho tình mình ấm
Môi em mềm cho giấc ngủ em thơm
Sao giao thừa xanh trong đôi mắt ngoan
Trời sắp Tết hay lòng mình đang Tết.

Tháng ngày đã trôi qua
Tình đã phôi pha
Người khuất xa
Chỉ còn chút hương xưa
Rồi cũng phong ba
Rụng cùng mùa.

Dòng sông đêm
Hồn đen sâu thao thức
Ngàn vì sao mọc
Hay lệ khóc nhau
Đá buồn chết theo sau
Ngày vực sâu
Rớt hoài xuống hư không
Cuộc tình đau….

Nguyễn Đình Toàn

phamlang
#2176 Posted : Saturday, March 4, 2017 12:39:42 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)
Tết này anh trở về





Cô Hai Nguyện săm soi mớ dưa giá trắng phau phau trong chiếc thau nhôm. Cọng giá mập mạp thấy thương hết sức! Ðiểm vào đó là những cọng hẹ xanh biếc. Tui có biệt tài nấu bất cứ món rau cải nào cũng giữ được màu xanh. Rau lang luộc, rau cải trời luộc, rau giền, mồng tơi, bồ ngót, cao kỷ nấu canh xanh tươi ngăn ngắt. Còn tui mà xào cải bẹ với thịt gà thì màu cải khi chưa vô chảo chỉ xanh có bảy, đến khi ra dĩa nó xanh tới mười, vừa xanh vừa trong, đẹp dễ sợ!

Năm nay cô Hai Nguyện tính ăn Tết tươm tất hơn năm ngoái. Cô đã lựa con cá lóc vừa bự vừa mập để kho chung với thịt bắp đùi, nước kho phải bằng nước dừa xiêm tươi thì cô mới bằng bụng. Có nồi thịt cá kho chung đệm trứng luộc để dành ăn với bánh tét hoặc bánh chưng của cô Ký người Bắc thì phải điệu quá rồi, ăn lai rai, ăn hoài hoài tới hạ nêu cũng không ngán. Bánh tét ăn với món kho phải đệm thêm dưa giá, dưa cải hoặc củ kiệu, củ hành ngâm giấm thì mới nổi vị mà không ngán. Bởi vậy cô Hai Nguyện cùng hai đứa con gái lớn, Trang và Hiền, làm đủ thứ dưa. Trang trổ tài làm khéo, mua củ cải trắng, cà rốt, đu đủ xanh để tỉa bông huê, chim bướm trước khi ngâm giấm, coi vừa đẹp lại vừa ngon!

Sáng ba mươi tháng chạp ta, cô Hai Nguyện thở một cái phào, khoan khoái hết sức. Nồi cá thịt cùng trứng luộc kho chung đã xong. Cô còn làm thêm nồi giò heo hầm với măng, nồi khổ qua dồn thịt bằm với bún tàu, nấm mèo nước trong leo lẻo, niêu tôm kho tàu nước gạch đỏ ối… Chiều nay cô mới mổ gà nấu cháo kèm gỏi gà trộn bắp chuối, rau răm để cúng rước ông bà.

Cô Hai Nguyện đã lau chùi, quét tước nhà cửa, bàn thờ ông bà. Lư hương, chân đèn, mâm cổ bồng đã đánh sáng loáng. Trên vách, cô treo bộ tranh tứ quí màu sắc tươi rói. Trên các cột hàng ba, cô dán liễn bằng giấy hồng đơn, chữ thảo mực tàu đen lánh. Năm nay cô chỉ mua một cặp cúc vạn thọ màu hoàng yến, một cặp mồng gà lưỡi búa đỏ để bày trong sân. Bánh phồng, bánh tráng, bánh tét thì đã có má cô là bà Hương kiểm Thiện ở chợ Trường An cho ê hề. Còn mứt thì cô mua ở chợ Vĩnh Long. Hai hộp mứt hình trái tim gói giấy trang kim lấp lánh cài cái nơ sa-ten hường coi mê quá! Trong hộp, mứt củ cải và mứt bí như giồi phấn, mứt khổ qua tươi nước cốt cỏ rồng chầu xanh như cẩm thạch, mứt cà-rốt màu gạch mới, mứt cà chua đỏ như son tàu, mứt nào cũng khéo ơi là khéo, bỏ tiền ra mua giá phải chăng, tội gì mà làm cho mệt để lãnh cái thua sút, thô kém!

Dữ ác! Năm nay không hiểu ông ứng bà hành gì mà cô Hai Nguyện phấn khởi đón xuân như vậy? Năm năm qua, thằng bảy Huỳnh Kim Báu, thằng chồng trời đánh thánh đâm của cô đã bỏ nhà theo vợ bé, trôi nổi ở chơn trời góc biển nào rồi. Hễ cỡ mười năm mà nó không về, hoặc cô không tìm được tung tích nó, thì cô đành lấy cái ngày nó ra đi để làm đám giỗ. Thây kệ, ai quấy ai sai có trời cao đất dày, có nước mây cây cỏ chứng giám. Thằng Bảy kia dù gì cũng là tía của lũ con cô. Bên chồng cô kể từ khi biết nó ăn ở tệ bạc với cô, họ đâm ra thương mến cô. Bởi đó tuy giận nó, cô vẫn không nỡ để lũ con cô quên nguồn cội, tổ tông.

Năm năm qua, một thân đàn bà yếu đuối, cô Hai Nguyện vẫn phải đảm đương mọi việc mưu sinh. Cô mua lúa đem tới nhà máy chà gạo rồi đem gạo ra bán ngoài chợ. Con Trang vừa học xong đệ lục phải bỏ học ngồi trước rạp hát bóng Lạc Thanh bán quà vặt như cốc, ổi, xoài dầm chua, me ngào đường…Con Hiền thì ở nhà coi việc bếp núc, dọn dẹp. Chỉ có thằng Ðức được đi học. Nhờ trời thương Phật độ, má con cô lần hồi đủ ăn. Tối tối Trang đi xuống cầu Cái Cá học nghề luôn áo vắt sổ nơi cô Tám Kim Chi, em kế ba nó. Tới năm ngoái, bà nội nó mua cho nó cái máy vắt sổ để nó trả góp. Nhờ luôn áo khéo, vắt sổ tính giá phải chăng nên nó có khá nhiều khách hàng.

Năm nay con Trang mười tám, sáng đẹp như trăng rằm. Con nầy lanh lợi, biết phải quấy, ăn nói mực thước, lớp lang nên được lối xóm mến yêu, bạn bè trang lứa nể nang. Còn con Hiền mười lăm tuổi mà khờ khạo lắm! Nước da nó trắng hơn con Trang, vóc vạc thanh cảnh, thân hình đã bắt đầu dậy mẩy. Chiều chiều nó ưa mượn cáo quần xăng-đầm của cô Hai Nguyện mặc vào rồi kéo quần lên tới ngực buộc chặt, nhảy xuống cái đìa bên hông nhà tắm lội đùng đùng như cù dậy. Một hôm ngủ đêm sáng dậy, nó thấy máu từ quần loang ra ướt mền, ướt chiếu, nó hoảng hồn gọi cô Hai Nguyện, mếu máo kể lể: “Má ơi, con hay tắm đìa nên chắc đĩa chui vô người con làm ổ, máu me nhểu tùm lum đây nè!”. Cô Hai an ủi: “Hễ làm đờn bà con gái, tới tuổi dậy thì là mỗi tháng máu tuôn ra rỉ rả như vậy đó, không sao đâu con”.

Nhìn hai đứa con gái, cô Hai Nguyện tự hào, nhủ thầm: “Tui không được đẹp nên không giữ nổi thằng chồng mắc dịch, bị nó phụ bạc bỏ lăn bỏ lóc. Bù lại, tui được bầy con hiếu hạnh, ngoan ngoãn. Con Trang sắc sảo, con Hiền đoan trang, thằng Ðức siêng năng, tuy giống ông già nó như đúc nhưng thằng tía nó mặt mày dúc dắc, lẳng lơ bao nhiêu thì thằng con nghiêm trang, đằm thắm bấy nhiêu.

***

Từ ngoài đầu ngõ, Trang và Hiền la chói lói:

– Má ơi, ba dìa! Ba dìa má ơi!

Cô Hai Nguyện đang ngồi xắt su hào, vụt đứng dậy, mặt xanh dờn như đờn bà xảo thai. Nhưng cô không nhúc nhích, chơn cẳng như chôn chặt trong đất. Thằng Ðức tưởng má nó chưa nghe kịp, nhắc:

– Ba dìa má à. Ba dìa thiệt mà!

Cô Hai Nguyện vụt tỉnh cơn bàng hoàng, ngây ngất. Thằng chồng ôn dịch của tui về? Nó còn dám vác cái bản mặt chai mày đá về đây làm gì? Tưởng nó chết bờ chết bụi, không bỏ xương trong miệng cọp thì cũng gởi thịt trong bụng sấu rồi chớ! Ai dè nó còn xách đít về đây để tui tức thiếu điều trào máu hoè ra khỏi họng. Cô rít lên:

– Thây kệ mồ nó!

Cô ngoe nguẩy ra ngoài vườn, ngồi trên cây sung gie ra mặt ao. Hừ, thằng khốn nạn Bảy Báu, thằng chồng oan gia của cô, năm năm nay đi theo con Tư Mỹ Huệ, chẳng hiểu nó có phỉ chí trong thú yêư đương, hay bị con dâm nương kia hành thân hoại thể? Hồi nó gây gổ, bỏ cô đi theo con Tư, cô hăm he:

– Mầy đành đoạn bỏ tao mà đi theo bợ đít mấy con thúi thây lầy cốt, mai sau mầy vác mặt về đây là chổi nhúng đường mương, chổi dọn chuồng heo tao sẽ quét mầy ra khỏi nhà, biết chưa?

Tên Huỳnh Kim Báu đã mặt trơ trán bóng, bảo:

– Con cá buôi quạt đuôi ra biển Bắc,

Bơi dọc lộc ngang, không chắc trở về.

Ôi năm năm qua, ngày ngày cô làm lụng đầu tắt mặt tối để kiếm miếng ăn. Ðêm đêm, càng nghĩ tới thằng chồng lòng lang dạ thú kia mà tay chân cô lạnh ngắt, ngực cô nặng trĩu, châu lụy cô tuôn rơi đồm độp:

Cu kêu từng cặp trên cây

Tào khương nghĩa nặng, sao mầy bỏ tao?

Ngồi trên cành sung, cô Hai Nguyện lắng tai nghe tiếng lao xao từ trên nhà vọng tới. Có lẽ chòm xóm tới chào hỏi thằng chồng đi hoang của cô đó mà. Xời ơi, họ chỉ biết nó là thằng hàng xóm dễ thương chớ đâu thèm biết tới cái tánh bạc bẽo, ưa thay đào đổi mận của nó! Còn lũ con cô đó, bởi sợi dây huyết thống thiêng liêng, thấy tía nó về là mừng rối rít. Lá rụng về cội mà! Tụi nó quên tuốt luốt cái thói vô trách nhiệm của tía tụi nó, quên lúc tên Bảy Báu bỏ nhà ra đi, bốn mẹ con đổ mồ hôi hột ra vật lộn kiếm miếng ăn, chơn chạy không bén đất. Ðã bao phen đi bán gạo về, thay vì nghỉ ngơi, cô hăng hái ra sở rẩy sau nhà để săn sóc mười luống dưa gang. Tháng bảy âm lịch vừa rồi, cô trúng mùa dưa. Cô bán mớ dưa chín mềm, còn kỳ dư loại dưa cứng cạy, cô bán cho các vựa mắm để họ gài mắm. Vốn là dân làng Tân Ngãi nên cô rất mát tay trồng dưa:

Dưa Tân Ngãi, bự trái dầy cơm,

Dẫu mình không nợ, không duơn,

Tháng bảy, tháng tám mau chơn trở về

Té ra, Tết nầy chồng cô trở về! Cơn giận làm trái tim cô nhảy ạch đụi trong lồng ngực. Thiệt tình cô Hai Nguyện không oán cô Tư Mỹ Huệ. Cô có bao giờ gặp mặt con tình địch nầy đâu! Nhiều lần cô suy nghĩ, biết Bảy Báu là thứ tham thanh chuộng lạ, hết đèo con nọ tới xọ con kia. Cô đã từng nhiều phen trách ai tham giấy bỏ bìa; khi thương, thương vội, khi lìa, lìa xa… Chồng của cô nếu không dính con Tư Mỹ Huệ vốn là gái điếm chợ Lách, thì cũng rượn theo con Bảy Kim Hoàng ở Cái Nhum, cũng lẹo tẹo với con Mít con Xoài, cũng mê say con Ổi con Lựu nào đó…Trước con Tư Mỹ Huệ, Bảy Báu cũng đã từng cặp xách hết con ngựa bà nầy lại du dương mùi mẫn với con khác. Cô Hai Nguyện đã từng ốm o so bại, mình mẩy mỏng lét, da dẻ xanh chành vì ghen. Ngày tối cô đâu có làm ăn gì cho an ổn được! Cô cứ rình rập để bắt gian phu. Cô hết ghịt tóc lột quần tình đình lại đè đầu đè cổ chồng ngắt véo, đánh vả. Cô phung phí hơi sức chửi bới la rầy chồng tới mỏi miệng rát cổ, ran ngực thốn tim. Chồng cô lúc nào cũng nhịn cô, mặt mày lấm la lấm lét, mắt mũi dớn dác, lơ láo… Vậy mà đời nào nó chừa thói ngoại tình, bỏ tật phong nguyệt cho cô nhờ! Mà cắc cớ thay, ông trời ổng sanh chi cho cô cái tánh lạc lòng. Chồng cô mỗi khi chán mèo hoặc bị mèo đá đít là quay về với cô, dùng giọng kèn tiếng quyển lung lạc khiến cô xiêu lòng ăn ở với nó, để nó bơm cho cô một cái bầu bự chình ình. Hễ cô vừa đẻ xong là nó đánh lừa đánh đảo cô để đi ve vãn, tò tí mấy con khác rồi quất ngựa chuối bôn đào.

***

Bảy Báu xách chiếc valise bự tổ chảng, tay kia bồng một thằng nhỏ cỡ hơn một tuổi đứng tần ngần trước ngõ. Trang vồn vã:

– Ba vô nhà đi ba, kẻo nắng. Không sao đâu!

Bảy Báu gượng làm tỉnh:

– Ừ, có sao đâu! Nhưng ba nhờ tụi bây năn nỉ má tụi bây dùm ba một tiếng.

Hiền rụt rè hỏi:

– Con của ai đây ba?

Bảy Báu tỉnh tuồng:

– Em của bây đó đa. Ba đặt tên nó là thằng Phước. Má nó chết rồi. Ba vừa làm tuần bách nhật cho cổ hôm qua.

Ðứa nhỏ thiệt dễ thương, mập mạp trắng trẻo. Nó giuơng cặp mắt đen huyền như hai hột nhãn, nhìn hai cô gái rồi cười hịch hạc, thấy thương đứt rưột. Trang sốt sắng:

– Ba đưa em cho con bồng. Vô nhà mau đi ba.

Khi bốn cha con vô nhà thì Hiền đòi bồng em lấy hên rồi hun thằng nhỏ chùn chụt. Trang giằng lấy thằng nhỏ, hun ngay cái nọng của nó, đả đớt:

– Mèn ơi, cưng của chị “Chang” thơm “xữa” quá “chời” quá đất!

Hiền xía vô nựng đứa nhỏ, miệng tía lia:

– “Chắng” gì mà “chắng” như dừa nạo, như bông bưởi vậy nè “chời”!

Thằng Phước nhột quá cười sằng sặc. Chu choa ơi, hoàn cảnh côi cút của đứa nhỏ cùng sợi dây huyết thống đã làm hai cô gái yêu thương đứa em khác mẹ của mình tức thời. Hai cô gái giống mẹ ở chỗ ưa con nít. Ba mẹ con hễ rảnh rang là dạo xóm, thấy con ai cũng bồng, cũng hun hít, cũng nựng nịu. Cô Hai Nguyện ưa làm bánh chuối, kẹo chuối để kêu tụi con nít lối xóm lại ăn.

Thằng Ðức lỏn lẻn nhìn cha rồi nhìn thằng Phước. Vì nhút nhát, nó không dám tới gần để rờ rẫm hun hít, nhưng nó nhìn em nó bằng cặp mắt sáng quắc vì thèm thuồng coi thiệt tức cười. Bảy Báu buông valise ở góc nhà một cái xạch rồi dựa ngửa người trên ghế, hỏi:

– Má tụi bây đâu rồi?

Ðức xớt trả lời:

– Nghe tin ba dìa, má bỏ ra vườn sau rồi. Má cứ bụm mặt khóc ào ào…

Bảy Báu nhìn đứa con trai, ứa nước mắt:

– Ðức lại đây!

Ðức ngoan ngoãn bước lại gần cha. Bảy Báu vuốt ve con trai, ngậm ngùi:

– Thiệt thằng con tui mau lớn quá! Năm nay con ngồi lớp mấy?

Ðức thỏ thẻ:

– Dạ con học lớp đệ thất rồi ba. Con thi nhảy lớp hồi năm ngoái, nghĩa là từ lớp nhứt con thi thẳng một lèo vô đệ thất chớ không cần ngồi lớp tiếp liên.

Bảy Báu đỏ mặt vì ăn năn, hổ thẹn, nước mắt chảy ròng ròng. Sau cùng, anh ta nói vắn tắt:

– Con học giỏi là ba mừng.

Vừa thấy Bảy Báu cà rà trước ngõ, bà Năm Thẹo ở gần bên, cách hàng rào xương rồng, đã lập lờ lập lượn sau cánh cổng để nghe ngóng. Rồi kế đó bà chạy qua nhà thím Năm Én, nhà cô Bảy Ơn rủ họ nhập bọn qua nhà cô Hai Nguyện. Liền sau đó, bà Chín Ích ở đối diện nhà bà Năm Thẹo cũng lạch bạch bước qua, miệng ong óng:

– Bây chờ tao đi với chớ!

Bà Năm Thẹo tuôn vô nhà cô Hai Nguyện trước hết, cười ỏn ẻn:

– Nghe thằng Bảy mầy dìa nên tao rủ chị Chín với mấy con lủng, con lành qua thăm.

Bà Chín Ích nhìn thằng Phước trầm trồ:

– Chèn ơi, thằng nhỏ giống cháu Bảy quá chừng chừng!

Cô Bảy Ơn nói:

– Thiệt tình, chị Bảy khi khổng khi không có thằng con dễ thương quá!

Thím Năm xuýt xoa:

– Tui nghĩ rằng ông trời thương chị Bảy nên Tết nầy ông lì xì cho chỉ đứa con trai nầy. Con Trang, con Hiền, thằng Ðức đều thua nó màu da trắng.

Phút chốc chòm xóm bu tới, ồn ào bàn tán. Cô Hai Nguyện từ ngoài vườn bước vào, mặt trắng bệch như sáp, mắt chau quảu ngút lửa. Cô hét:

– Ai vào đây làm giặc, nổi loạn đó vậy?

Bảy Báu làm tỉnh, đứng dậy:

– Qua đây, em Hai. Bảy Báu, chồng của em dìa ăn Tết với vợ con đây!

Cô Hai Nguyện xáng cho chồng một cái nhìn sấm sét:

– Báu nào? Báo đời, báo hại chớ quí báu gì nà! Mà thôi, nhà tui là nhà mần ăn, không chứa cái phường mèo mả gà đồng, cái quân mèo đàng chó điếm, thầy nghe chưa? Thầy làm ơn xách gói đi chỗ khác, chỗ nào có mấy con dâm phụ chuyên môn cướp giựt chồng người. Thầy còn nấn ná chần chờ thì tui sẽ lấy chổi quét cứt gà, chổi tẩm cứt heo quét thầy xuống đường mương cho thầy coi.

Bảy Báu nhăn nhó:

– Tội nghiệp qua lắm mình ôi. Mình hãy cho qua phân giải đôi lời.

Cô Hai Nguyện nhảy đong đỏng:

– Thầy đã phân giải nhiều lần rồi. Tui cũng đã lạt lòng nhiều quá rồi. Không mình không đầu gì nữa hết! Thầy hãy cuốn gói cho lẹ để mẹ con tui ăn Tết.

Nói được những tiếng thô nhám như đá ong, cứng nặng như đá xanh đó, cơn giận cô hạ xuống, rút biệt một cái rột như nước lọt qua miệng cống.

Bà Năm Thẹo tằng hắng can:

– Thôi cho tao can đi! Mầy cũng để cho thằng chồng mầy phân bua phải quấy đôi lời chớ! Hễ nó vừa mở miệng là mầy nạt nhào thì còn non nước gì!

Thím Năm Én khuyên:

– Hai, em phải nghe lời bác Năm, bác Chín. Chị cũng can em. Bổn phận làm vợ là phải nể nang, ngọt dịu với chồng. Nó dẫu ăn ở quấy với em thì có trời cao chứng giám, có bà con láng giềng chê cười nó. Nhưng nếu em mà gay gắt với nó quá thì té ra em cũng quấy theo nó hay sao? Gắt quá thì nó nổ đa em! Hễ mọi sự nổ tanh banh tét bét thì mụ nội ai mà hàn gắn lành lặn như xưa?

Cô Hai Nguyện quét mắt qua khắp bà con hàng xóm láng giềng. Coi bộ ai cũng có ý binh vực thằng chồng dâm bôn bạc bẽo của cô. Cô nhìn con Hiền bồng đứa nhỏ. Mèn đéc ơi, thằng nhỏ coi giống hịt thằng Bảy Huỳnh Kim Báu quá trời quá đất! Nó ngó cô, hả miệng chim dòng dọc ra cười hịch hạc, bày cái nướu màu hồng tươi vừa nhú mấy cái răng sữa lùn tịt. Chèn ơi, nụ cười nó giống nụ cười tía nó quá chừng chừng! Bởi nụ cười đó mà hồi mười tám năm về trước, cô lén ăn cắp tiền bạc vòng vàng của tía má cô để đi theo tiếng gọi của trái tim. Trái tim cô lúc nào mà chẳng dại dột! Nụ cười đó đã từng hóa giải tủi hờn, căm tức nơi cô mỗi khi thằng Bảy Báu bị mèo đá xất bất xang bang bò về. Cô Hai Nguyện hét:

– Con cái ai đây?

Bảy Báu ấp úng:

– Thì…nó là con của…qua. Qua bồng nó về đây cho em nuôi làm phước.

– Ê, đùng có giỡn nghe cha nội! Cây không trồng, lòng không tiếc; con không đẻ, mẹ ghẻ không thương

Cô Bảy Ơn khuyên lơn:

– Chị Bảy, em khuyên chị bớt nóng. Thiệt tình chị nóng cũng phải, chẳng ai dám trách chị chút nào. Anh Bảy bậy quá, sái quấy lung lắm. Em mà ở vô hoàn cảnh chị, em cũng giống như chị vậy, cũng tức bể ngực rồi hộc máu cả chậu cả vịm chớ không vừa. Nhưng mà xin chị suy cho cùng, nghĩ cho cạn. Nếu chị nóng quá mất khôn, làm cho gia cang xào xáo thì tụi nhỏ khốn đốn, gẫm có ích lợi gì đâu! Xin chị cho ảnh ăn năn chuộc tội.

Cô Hai Nguyện rống lên khóc:

– Ðây đâu có phải lần đầu nó vác mặt mo mặt thớt về đâu? Tui nuôi nó lúc nó thất cơ lỡ vận để rồi khi sung sức mập thây, nó xách đít đi cho ốm o so bại, thân tàn ma dại rồi mới trở về. Một lần, hai lần thì còn bỏ qua được, chớ lần nầy thì nhứt quá cửu, quá thập rồi chớ đâu phải quá tam! Nó đội vàng cả thúng, hột xoàn cả tráp về đây tui không ham nữa là!

Bà Chín Ích xía vô ỉ ôi:

– Con vợ thằng Bảy nè. Con phải nghe lời má Chín lần nầy. Chồng con trở về đây tốt tươi phi mỹ chớ không te tua bèo nhèo, không rách rưới đói khát. Nó ăn bận như thầy thông thầy ký ở đất thầy-gòn đó con. Nó về đây chắc có duyên cớ gì đó chớ không phải mong nhờ hột cơm của con đâu! Vợ chồng bây có thể hiểu nhau, chớ người ngoài làm sao tỏ tường trong đục! Vậy con gắng nuốt giận, nghe nó cạn phân bày giải. Má Chín khuyên con đùng tỏ ra lấn lướt với kẻ lép vế, thất thế hơn mình. Không nên đâu con!

Thấy chưa? Chỉ vừa thấy thằng nhỏ mà coi bộ bà con lối xóm đều ngã rạp về phía tên Bảy Báu hết trọi. Họ thấy đứa nhỏ mồ côi mồ cút chớ họ làm sao thấy lúc cô canh khuya trằn trọc, tủi phận bị chồng chán, chồng chê, não nề lo gánh mưu sinh cho bầy con dại? Té ra tên Bảy ó đâm nầy sanh ra để được thương yêu dung thứ. Còn cô sanh ra để làm nạn nhơn của nó cho tới tim bảy lỗ héo khô, gan bảy lá héo hắt mà người ngoại cuộc đương thèm biết tới.

Bỗng đứa nhỏ bị con Hiền ôm chặt khóc ré lên. Thằng Ðức vụt chạy lại ôm tía nó, khóc rống:

– Ba ơi, ba đừng đi đâu hết! Má ơi, má đừng để ba bồng em cho bà phước xóm đạo nghe má! Em con dễ thương quá má à!

Mấy bà lối xóm cùng khóc ngon khóc ngọt theo thằng Ðức.

***



Khi lối xóm về hết, cô Hai Nguyện xuống bếp bắt con cá lóc rọng trong vịm ra cạo vẩy. Cô hỏi Trang:

– Tía mầy đâu rồi?

– Ông Năm Thẹo mời tía qua cụng ly bên bển rồi.

– Còn con Hiền đâu?

– Nó bồng thằng Phước qua nhà thím Năm Én mượn cái bình sữa và núm vú cao su.

Cô Hai Nguyện trề môi:

– Tía mầy là thứ đờn ông hư thúi. Vừa về tới nhà là liệng va-ly cái xạch nên bình sữa mới bể hai bể ba như vầy….

Bảy Báu chỉ dám nhậu sương sương với ông Năm Thẹo rồi lật đật trở về nhà kẻo vợ quở, vợ rầy. Cô Hai Nguyện và Trang lo nấu, dọn cơm trưa. Cô dặn cô trưởng nữ của minh:

– Con lên nhà trên mời tía con rửa mặt, thay đồ mát đi. Cơm nước xong, con nhớ gói bánh tét, bánh dừa để tối nay má luộc. Chút nữa má ra chợ Vãng mua bình sữa, xà bông, khăn lau,thau chậu cho thằng Phước.

Hiền mượn được bình sữa, bồng em về nhà. Cơm canh chưa xong nhưng cô Hai Nguyện đã dọn chén, bày bàn sẵn. Cô rửa tay sạch sẽ, bồng đứa nhỏ. Thằng nầy dễ thương thiệt mà. Cô vừa bồng nó là nó rúc đầu vô ngực cô làm cô bồi hồi xúc động. Nó lại cười tít toát, thấy ghét hết sức! Nhưng cô Hai Nguyện chưa hun nó liền đâu. Cô tự hỏi mình có thể yêu thương nó thiệt tình không? Cô chưa biết mặt má nó lần nào. Cô chỉ có thể hình dung má nó qua khuôn mặt của những tình địch khác: mắt con nầy, mũi con kia, tóc tai con nọ, hình vóc con khác nữa…Mà lạ dữ! Thiệt tình cô chẳng ghét con nào hết. Bao nhiêu việc oan trái cũng do cái tánh chuộng trăng hoa của tên Bảy Báu mà ra. Nếu nó không có tâm địa uốn éo ruột rồng, lòng vòng ruột rắn, lắn quắn ruột dê thì chẳng có con nào có thể nhảy vào cuộc sống lứa đôi của cô để ăn mót hoặc cướp giựt hạnh phúc của cô được hết. Bởi chồng cô già không bỏ, nhỏ không tha, tươi như hoa nó liền mê lú, xấu như ục cú nó cũng say sưa…như vậy thì con đờn bà nào cũng có thể để nó dê, nó nịch ái ráo trọi. Nhưng mà trời ơi, dù cô đã khóc cả thùng, cả thau, cả xô nước mắt vì sự bạc bẽo của chồng, nhưng lòng cô vẫn sẵn sàng dọn một chỗ tha thứ đợi ngày nó trở về.

Trang làm bình sữa xong, đem lại mẹ. Cô Hai Nguyện cho thằng Phước bú. Và khi bình sữa chưa cạn thì nó đã ngủ khò, miệng thỉnh thoảng mỉm cười. Cô Hai Nguyện đặt nó lên vạt tre trải chiếu đậu, rồi đắp mền mỏng lên tận ngực nó. Thằng Ðức cứ cà rà bên em ngắm nghía, lâu lâu hun lên đôi má măng sữa của nó.

Bảy Báu rửa mặt chải đầu, thay đồ mát xong. Biết là vợ bớt cơn thịnh nộ, anh ta giả bộ ra sàn nước rủa chơn rồi mang guốc lóc cóc tới bên vợ nói nhỏ:

– Mình! Bảy Huỳnh Kim Báu, chồng mình dìa với mình đây nè, mình.

Cô Hai Nguyện quắc mắt khi thấy Bảy Báu chờn vờn muốn ôm mình:

– Anh chớ rớ tới tui. Anh mà xáp lại gần là tui tri hô anh muốn ám sát tui, nói cho anh biết.

Bảy Báu tha thiết:

– Mình ôi, anh dìa đây là quyết lòng trụ luôn bên mình cho tới mãn đời suốt kiếp. Anh đã chán ngán việc mèo đàng chó điếm rồi. Khi má thằng Phước lâm chung có dặn anh quay về với mình và bắt anh thề dứt bỏ chuyện én anh, ong bướm để tạo dựng nghiệp nhà.

Cô Hai Nguyện trề môi:

– Nói dóc! Con Tư Mỹ Huệ đó mà kể số gì tới tui. Ðừng có xạo nghe cha nội! Con này ăn cơm bảy phủ, dạo đủ khắp nơi, nó đâu có khờ như anh tưởng!

Bảy Báu giọt dài giọt vắn:

– Má thằng Phước không phải là cô Tư Mỹ Huệ đâu!

Cô Hai Nguyện chưng hửng:

– Ủa! Vậy chớ con nào?

Bảy Báu kể vắn tắt:

– Khi qua đưa cô Tư Mỹ Huệ lên Tân Châu lập nghiệp thì cổ tình cờ gặp lại thằng chồng cũ. Ông bà mình thường nói: “Vợ chồng cũ không rũ cũng tới” nên cổ đành đoạn bỏ qua để về với thằng cha đó. Cả hai dắt nhau qua Hồng Ngự mần ăn. Riêng qua thì dẫu gặp cảnh xất bất xang bang thì cũng không còn mặt mũi nào về với mình. Qua nhờ nghề chích dạo kiếm ăn rồi gặp má thằng Phước tức cô Hai Lành con gái thầy Hương quản Nên…Cổ làm cô mụ vườn mát tay lắm, tiền kiếm bộn bàng nhưng duyên số hẩm hiu nên mãi ba mươi ngoài mà cổ còn ở vá. Cùi mít trôi lên gặp cùi thơm trôi xuống, cả hai gá nghĩa với nhau mà ăn nên làm ra. Bởi qua xử tệ với mình nên trời không cho qua hưởng trọn cảnh êm ấm với cô Hai Lành cho tới mãn kiếp. Ðẻ thằng Phước xong một tháng là cô Hai đau dây dưa gần một năm rồi nhắm mắt qua đời…

Món canh chua cá lóc với bạc hà do Trang nấu ngon dễ sợ. Trong bữa cơm trưa hôm đó, Bảy Báu hỏi han vợ con đủ thứ.

Hiền mặc cái áo lụa màu hoàng yến, đeo sợi dây chuyền bướm lóng lánh, dịu dàng bảo mẹ:

– Má cứ ở nhà hủ hỉ với ba, con đón xe ngựa ra chợ Vãng mua sắm vật dụng cho thằng Phước. Con có nấu nước bồ kết và hái chanh cho má gội đầu.

Cô Hai Nguyện ôn tồn:

– Con nhớ mua phấn trị sảy, xà bông thơm, rượu chổi cho em con. Về sữa, con nhớ mua sữa hiệu Con chim chớ đừng mua hiệu khác. Nhớ mau về nghe con. Má cần đủ thứ bộ vận để tắm rửa cho nó.

Khi thằng Phước thức dậy, thằng Ðức giành bồng em đi dạo xóm. Cô Hai dặn dò:

– Nhớ đừng bồng em ra chỗ nắng nôi, gió máy mà nó ấm đầu sổ mũi nghe hôn con!

Rồi cô dặn Trang:

– Con Trang nhớ làm gà nấu cháo và trộn gỏi bắp chuối để ba con rước ông bà về ăn Tết với con cháu. Tối nay con nhớ ủi quần áo cho cả nhà. Cúng tất, hạ nêu xong, má sẽ đi chuộc bùa trừ tà tróc quái cho em con ăn chơi, mau lớn.

Tết nầy cô Hai Nguyện mua xấp lụa cẩm vân màu cánh sen, xấp lụa hồng đào để may áo dài cho Trang. Cô mua xấp cẩm nhung màu hoàng yến và xấp nhiễu tím may áo dài cho Hiền. Còn thằng Ðức, cô sắm cho nó chiếc quần tây bằng nỉ xám, áo sơ-mi trắng bằng tít-so và đôi giày xăng-đan.

Sực thấy chồng cứ theo tò tò bên mình, cô hỏi:

– Còn ông tía non nầy, ông uống trà hay uống cà-phê thì nói một tiếng cho tui biết để tui làm?

Bảy Báu cười mơn:

– Mình cho gì thì uống nấy.

Cô Hai Nguyện nguýt chồng rồi lủi xuống bếp, lầu bầu lẩm bẩm:

– Cái thứ trời đánh thánh đâm như anh, uống nước cống, nước đường mương mới đáng, ở đó mà uống cà phê, uống trà…

Nói vậy, nhưng cô vẫn pha một tách cà phê cho chồng và không quên pha thêm một bình trà Xiểu Chủng.

Xế xế, cô Hai Nguyện gội đầu bằng nước bồ kết và nước cốt chanh tươi. Hôm nay là ngày ba mươi tháng chạp, cô Hai Nguyện theo thường lệ, tắm rửa và gội đầu để xả xui.

Bữa cơm chiều, vì để mừng ngày phu thê tái hiệp, cô Hai Nguyện làm thêm vài món nhậu tươm tất cho chồng như mắm cá cơm ăn với thịt phay, bún, rau sống; như gỏi sứa tôm thịt…

Tối hôm đó, Trang và Hiền tình nguyện thức canh nồi bánh tét, bánh dừa cùng nồi luộc đầu heo, lòng heo.

Vợ chồng lâu ngày tái hiệp, ân ái thiệt mặn nồng. Thằng Ðức nằm ngủ ở vạt tre kê giáp tấm vách ngăn buồng cô Hai, nửa đêm thức giấc, nghe tiếng lào xào của cha mẹ.

Tối hôm nay, cô Hai Nguyện mặc chiếc áo bà ba lụa tím, quần lãnh trơn cặp lưng bằng nhiễu màu hường cánh sen, chơn đi guốc sơn đen. Khi cô ra ngoài trung đường thắp nhang, cúng nước trở vào thì thấy Bảy Báu mở valise lôi ra một cái gói vuông bọc mo cau. Anh ta mở gói, bày những phiến vàng lá, bảo vợ:

– Bốn chục lượng vàng đó. Xứ Tân Châu dễ làm ăn hơn ở đây nhiều. Qua tặng mình hết để làm vốn, đặng cho hai đứa con gái mình rảnh rang kiếm cách học thêm.

Cô Hai Nguyện nhìn sững chồng rồi gói vàng lại, cẩn thận cất vô tủ. Cô nhỏ nhẹ:

– Mình cứ ngủ đi. Em sửa soạn cúng giao thừa đây.

Giao thừa tới. Pháo chuột, pháo tre hàng xóm nổ vang. Thằng Phước giật mình khóc ré. Cô Hai Nguyện cúng kiếng xong, lại bồng nó, dỗ nó ngủ lại. Bảy Báu ăn mặc chỉnh tề, bước ra phòng khách, bảo vợ:

– Mình kêu sắp nhỏ ăn mặc đàng hoàng để mừng tuổi vợ chồng mình.

Bảy Báu lì xì cho Trang chiếc kiềng chạm, cho Hiền chiếc kiềng trơn kèm chiếc nhẫn nhận hột cẩm thạch hình hột dưa. Thằng Ðức thì được chiếc đồng hồ đeo tay.

Trước khi xuống bếp vớt bánh tét dừa đặt vào rổ cho ráo nước, Trang hỏi mẹ:

– Năm nay con gì ra đời vậy má?

Cô Hai Nguyện trầm ngâm:

– Má chẳng nghe con gì ra đời hết! À, lúc giao thừa, em con giựt mình khóc om sòm. Vậy là con trống ra đời đó. Con trống nầy tên Phước, tức nhiên nó đem phước tới cho nhà mình.

Khi trở về buồng, Bảy Báu ôm chặt vợ vào lòng. Anh ta thấy giờ đây vợ mình mặn mòi quá cỡ, môi má đỏ au chớ không xanh xao như chầu xưa. Anh ta ứa nước mắt:

– Kiếp trước chắc anh tu kỹ nên kiếp nầy được trời ban thưởng cho một người vợ hiền như mình.

Cô Hai Nguyện nguýt:

– Xạo vừa vừa chớ! Em đã bao phen bầm dập bởi lời ỏn thót của mình rồi. Mình về đây được…

Cô toan nói rằng mình về đây được ngày nào là em mừng ngày đó, nhưng cô ngưng ngang vì đó là câu nói gở, gây điềm xui xẻo. Cô nằm bên chồng, cất giọng ngọt lìm lịm:

– Ra giêng, mình nhớ đem hình má thằng Phước họa lớn để thờ. Em muốn vong linh má nó theo phù hộ cho nó mạnh khoẻ, ăn chơi….

Hồ Trường An

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 3/8/2017(UTC)
Duy An
#2177 Posted : Friday, April 21, 2017 3:53:38 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)

Đờn ca tài tử biến thành gánh hát nhỏ ở nông thôn


Ngành Mai


Bìa cuốn bài ca “Mục Tử Ca Chiều.” (Hình: Ngành Mai sưu tập)


Thời những năm cuối của thập niên 1950, ở vùng thôn quê miền Nam các nhóm đờn ca tài tử mọc lên như nấm, và một số sau thời gian ca hát được bà con khuyến khích đã dần dần biến thành gánh hát bỏ túi.

Đào kép các gánh hát nhỏ này là dân đờn ca tài tử ở ngay các xã ấp địa phương. Bầu gánh là một nhạc sĩ từng dạy cho họ ca vọng cổ và bài bản. Gánh hát nhỏ này chẳng có phông màn trang phục gì cả nhưng vẫn có vẽ mặt, son phấn. Khi hát họ chỉ mang một tấm choàng trên cổ thả che phần lưng dài tới nhượng chân.


Thông thường thì diễn viên gồm bốn người: kép mùi, kép độc, một cô đào và một anh hề là đủ cho buổi diễn. Họ thường hay chọn bãi đất trống nào đó, có thể là trước sân chợ, sân banh,… và hát miễn phí chớ không có bán vé. Họ chỉ mong bà con thương tình mua giúp cho một vài chai thuốc, vài gói cao đơn hoàn tán mà thôi.

Buổi chiều trước khi trời tối, việc trước tiên là đánh trống quy tụ bà con, và khi hai chiếc đèn măng xông được cháy sáng thì bắt đầu rao bán thuốc bằng cách ca các bài bản cổ nhạc. Lúc này thì ban đờn làm việc liên tục, đờn cho các nghệ sĩ vừa ca vừa cầm thuốc đi vòng vòng giới thiệu, lời ca cũng được sáng tác nói lên sự công hiệu của loại thuốc nào đó. Xong phần bán thuốc thì hát tuồng, tóm lại đối với gánh hát này dù khán giả có mua thuốc hay không, cũng được nghe ca, nghe đờn, và xem trình diễn cải lương.

Về tuồng tích thì thường là lấy trong cuốn bài ca, hoặc sao chép lại của các gánh, rồi bỏ bớt đi để cho vừa với thời lượng 45 phút, hoặc nhiều hơn cũng một giờ đồng hồ là vãn hát. Thiên hạ gọi là gánh hát dạo bán thuốc, vì hình thức cùng hoạt động nghệ thuật chẳng khác gì mấy gánh hát Sơn Đông mãi võ của người Trung Quốc. Vậy mà đêm nào khán giả cũng đông đảo bao quanh địa điểm bán thuốc cũng là sân khấu luôn.

Về phía gánh hát thì đêm nào bán được nhiều thuốc thì hầu hết đều vui vẻ, hăng say hát. Còn như đêm nào bán ế, thuốc còn chất đầy thì kể như đêm đó cả đoàn đều xuống tinh thần phải miễn cưỡng mà hát vậy.

Dù sao thì các gánh hát bán thuốc này cũng tạo nguồn vui cho bà con nông thôn được một thời gian vài năm. Cho đến năm 1961 thì hầu hết các gánh tự nhiên biến mất, do chiến tranh bắt đầu nổi lên ở nông thôn. Từ đó bà con vùng quê kể như không còn được coi cải lương, mà trở lại thưởng thức đờn ca tài tử như trước.

Kỳ này chúng tôi đăng bài vọng cổ “Mục Tử Ca Chiều” của soạn giả Hải Hà Thanh được thu thanh dĩa hát Tân Thanh, do Hữu Phước và Hương Lan ca.

Tân nhạc:
Con trâu hỡi! Con trâu này!
Con trâu hỡi! Con trâu cày?
Trâu cùng với cày.
Trâu cày đi bình minh hay hoàng hôn.
Đem cơm về ấm no cho người.
Lúa ngát thơm lúa đặng hương tình.
Hò… lơ… ơ hò…
Trâu ơi hỡi! Ra công cày,
Cho bông lúa dâng hương đầy.
Đâu màng tháng ngày
Thương nhà nông mồ hôi tưới đồng sâu,
Thương trâu gầy nắng mưa chan hòa.
Hãy lắng nghe tiếng ca câu hò
Hò… lơ… ơ… Hò…


Vọng cổ:

1) Trâu ơi hãy bước nhanh trên luống cày sương rướm máu người dân rẫy bái, hòa cùng nhạc nhái hồn quê cho mục tử ca… chiều, để sương khói đồng xanh không đượm vẻ tiêu đìu. Khói trắng bay lên quyện hồn dân tộc, tù và cất tiếng quê hương khi bông bần lả tả gói chiều sương, ta và mi là đôi bạn đường, tha thiết yêu nhau qua tình cọng rơm, bó cỏ, qua hương đọt lúa, qua luống cày sâu từng thấm mồ hôi của ta và trâu, đất lành mới lên cây đơm trái.

2) Nhạc nhái ơi! Hãy cùng ta hòa tiếng sáo diều ngợi ca đồng ruộng để nhớ đồng xanh luôn yêu chuộng thanh bình. Cố ấp yêu trong tim ta hình ảnh quê mình. Có núi, có sông, có bầy trâu xám, có đọt lúa vàng reo hát tình quê. Có khói lam chiều quyện theo dòng sông nhỏ, có người cha già quanh năm cặm cụi bên nương khoai rẫy lúa. Có người mẹ hiền xay gạo khì nắng tắc giữa đường sương…

Nhạc:
Ta luôn nhớ dân quê mình.
Bao năm tháng, bao công trình,
Cánh đồng ngát tình.
Đem mồ hôi nhà nông tưới đồng sâu.
Trâu ơi cày đất khô lên màu,
Lúa trĩu bông chúng ta say lòng.
Hò… lơ… ơ… Hò.

Vọng cổ:

5) Giọt máu khai hoang thấm vào lòng đất mới, luống cày sâu vội trổ bông vàng. Hột cơm nồng vị người nông phu đổ lệ đôi hàng, khi dầm nắng đội sương đốt rừng phá rẫy cho đất lầy trổ đọt lúa thơm. Trâu nhỏ mồ hôi vàng kéo bừa thưa quần tan đồng cỏ, làm người phá rẫy ta chẳng phụ ơn đâu!

– Gạo là nước mắt của trâu,
Ăn cơm lại nhớ ơn sâu dân cày.

6) Vóc dáng con trâu uy nghi hùng vĩ, vào lúc tơ nắng chiều in hình trên dệt mây xanh, trâu từ từ cất bước lê thân về nơi chuồng cũ. Đôi ba thiếu nữ gánh bàng thoát cuối chơn đê. Khói un theo gió thành mây trắng, dập dồn tiếng chó sủa, vẻ nên bức tranh trác tuyện ruộng đồng.

Sương chiều vây quyện dòng sông,
Điệu hò kéo chỉ thong dong đều đều.
Đồng xanh mục tử ca chiều,
Ta yêu quê lắm đừng tiêu điều quê ơi
.
Users browsing this topic
Guest (3)
104 Pages«<102103104
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.