Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

105 Pages«<103104105
Options
View
Go to last post Go to first unread
Duy An  
#2081 Posted : Sunday, July 23, 2017 2:28:54 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,224

Thanks: 206 times
Was thanked: 680 time(s) in 493 post(s)

Thời nhiễm mặn

Uyển Ca

Hè rồi, đi đâu bây giờ? Biển chết. Chắc có lẽ, trốn cái nóng Sài Gòn trong một hai ngày thì nên ghé đất Cần Thơ để đi chợ nổi. Không gì khoan khoái bằng ngồi chênh vênh trên mạn tàu, đầu đội cái nón lá dừa bện, tay cầm miếng thơm chua chua ngọt ngọt cắn một miếng, nhìn ngắm ghe thuyền tấp nập người mua kẻ bán.

Nghẹt thở bởi lục bình

UserPostedImage



Ðất Cần Thơ sầm uất một thuở càng trở nên chộn rộn, ồn ào hơn khi hệ thống giao thông đường bộ phát triển mạnh. Nhất là khi cầu Cần Thơ nối liền hai thành phố Vĩnh Long và Cần Thơ khánh thành vào năm 2010. Mỗi năm, sân bay Cần Thơ (trước đây là sân bay quân sự Trà Nóc từ thời Việt Nam Cộng Hòa) đón và đưa hàng trăm nghìn lượt khách đến và đi. Hằng ngày, hàng chục xe chở khách du lịch từ Sài Gòn, Vĩnh Long, Tiền Giang và các tỉnh miền Tây khác về Cần Thơ. Chợ nổi Cái Răng ở quận Cái Răng được chánh quyền địa phương xem là tài nguyên du lịch của tỉnh này. Du khách thập phương đến đây đều nghe giới thiệu rằng, chưa đi chợ nổi Cái Răng xem như chưa đến Cần Thơ.

UserPostedImage

Một đoàn khách đi thăm chợ nổi Cái Răng đang xuống thuyền từ bến Ninh Kiều


Thế nhưng miền đất vốn dĩ hiền hòa và trù phú này ngày càng trở nên ngột ngạt đối với những người dân sông nước, bởi sông đã bị nhiễm mặn, vừa bị ô nhiễm; các con kênh rạch ngày càng khô cạn và nghẹt thở bởi lục bình.

Miền Tây có 5 chợ nổi lớn, đó là Chợ nổi Cái Bè nằm ở đoạn sông Tiền giáp ranh giữa ba tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long và Bến Tre. Chợ nổi Phụng Hiệp ở tỉnh Hậu Giang, Phụng Hiệp là tên của huyện, còn địa điểm họp chợ là giao điểm của bảy nhánh sông. Chợ nổi Châu Ðốc ở tỉnh An Giang gần thị xã Châu Ðốc… Và Chợ nổi Cái Răng ở thành phố Cần Thơ.


UserPostedImage

Người phụ nữ ngồi xe lăn đan mũ lá dừa ngay trước bến đò

Thuở xưa, chợ nổi hình thành là vì đường bộ và phương tiện lưu thông đường bộ chưa phát triển, trong khi đó vì nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa, người ta tụ tập trên sông và bằng các phương tiện như xuồng, ghe, tắc ráng…

Những thương lái sẽ xuôi xuồng, ghe vào các miệt vườn, tận nhà của bà con nông dân để thu mua nông sản, trái cây. Từ củ khoai lang, trái bí đỏ, bí đao, trái su… đến các loại trái cây như măng cụt, dừa, thơm, sầu riêng, chôm chôm… không có gì khó tìm ở vùng đất trù phú này. Thế nhưng khoảng năm năm trở lại đây, các chợ nổi như Cái Bè, Châu Ðốc, Cái Răng… trở nên thưa thớt và ngột ngạt. Thưa thớt không phải vì ít xuồng, tàu bè, thậm chí còn nhiều hơn bởi các công ty lữ hành mở tour du lịch đến các chợ này, mà chợ nổi thưa thớt vì hàng hóa không còn phong phú như xưa. Các con sông đã trở nên dơ bẩn.

UserPostedImage

Một góc chợ nổi Cái Răng

Ghé bến Ninh Kiều, quận Cái Răng thành phố Cần Thơ lúc 7 giờ sáng, mua một vé tàu với giá gần 2 đô rưỡi, chỉ chưa đầy 15 phút là du khách đến chợ nổi Cái Răng. Trước khi đi, tôi mua cái mũ lá dừa với giá mười lăm ngàn đồng (tương đương gần 0.7 đô la) vừa che cái nắng, cái gió vừa giúp người phụ nữ tàn tật ngồi trên chiếc xe lăn với đôi tay khéo léo đan nón kiếm sống.

Hỏi sao gọi là Cái Răng, người lái tàu cho hay:

Người ta lý giải chữ Cái Răng theo nhiều cách. Có người nói là ngày xưa có con cá sấu khổng lồ mắc kẹt ở đây rồi bị chết, để lại cái hàm răng nên người ta gọi quen vùng đất này là Cái Răng. Nhưng tôi thì tôi tin câu chuyện mà ông nội tôi kể hơn. Ông bảo ngày xưa người Khờ Me hay mang cái cà rang xuống vùng đất này để đổi hàng hóa. Người địa phương mỗi lần đi mua cà rang, gọi Cà Ràng riết thành Cái Răng.

UserPostedImage


Cà ràng là một loại bếp lò được làm bằng đất nung hình số 8, có gờ cao để chắn gió, chứa tro và một ít cây củi. Mục đích là không để tro văng ra ngoài, lại giữ nhiệt tốt hơn. Bếp có thể để trên sàn nhà bằng tre nứa, sàn ván gỗ hay có thể để ngay trên ghe thuyền mà không sợ bị bén lửa cháy mặt sàn, lại gọn nhẹ và dễ di chuyển. Có lẽ chính vì thế mà thuở trước, và ngay cả bây giờ, trên một số tàu thuyền ở miền Tây sông nước vẫn còn ưa chuộng loại bếp này.

Những cây bẹo

UserPostedImage


Từ xa đã thấy những cây bẹo vươn cao (tức cây tre mà người buôn bán cắm trên ghe, dùng để treo thứ mà mình muốn bán, như người bán khoai lang, bí ngô thì treo lên vài củ khoai, trái bí ngô, người bán thơm thì treo lên vài trái thơm để người khác nhìn là biết ghe, thuyền đang bán thứ gì). Thế nhưng ở đây cũng không phải cứ treo gì là bán đó. Có ba trường hợp ngoại lệ, treo mà không bán và bán mà không treo. Thí dụ, thấy treo áo quần là đang phơi áo quần vì họ sinh sống ngay trên thuyền. Hay thấy treo vài cộng lá dừa là chủ ghe muốn bán cái thuyền.

Một số thuyền chạy len lỏi bán đồ ăn, nước uống cũng chẳng thấy treo gì cả. Cũng có một trường hợp nữa, vài cô xinh xinh, da trắng, tóc dài, mắt đen huyền nhìn như búp bê máy cũng không treo thứ gì trên cây bẹo cả, cứ lái thuyền thẳng đến chỗ đám đông đàn ông để bán thứ… tự có.

UserPostedImage


Cây bẹo ở chợ nổi


Nhìn thấy trái thơm treo lủng lẳng một cách ngon lành trên cây bẹo, chúng tôi yêu cầu chủ thuyền ghé vào. Chị bán thơm tay thoăn thoắt gọt thơm để bán cho du khách với giá mười ngàn đồng một trái (quá rẻ!). Hỏi chuyện chị cho hay:

– Mấy năm nay buôn bán cũng qua ngày thôi em à! Cũng nhờ vào mấy công ty du lịch họ đưa khách tới nhưng càng ngày càng ít khách hơn.

– Sao vậy chị?

– Nước sông ngày càng ô nhiễm rồi, thêm việc nước bị nhiễm mặn, đời sống ngày càng khó khăn hơn. Người ta đi nhiều nhưng cũng ít mua gì.

Xin phép chị lên thăm thuyền, tôi bắt gặp đứa con 14 tuổi của chị đang phụ mẹ dọn dẹp.

– Hôm nay không đi học hả em? Tôi hỏi thăm.

– Dạ không chị ơi, em nghỉ học lâu rồi.

– Ủa, tuổi em còn nhỏ mà?

– Ở đây ít đứa nào đi học lắm chị ơi, theo cha mẹ, theo ghe đi khắp nơi.

– Thế sao em không gắng mà học, bộ lớn lên định làm chủ thuyền à?

– Trước, em cũng muốn nhưng giờ hết rồi. Phải phụ mẹ buôn bán, chợ này ế quá thì xuôi theo con nước, tới chợ khác bán. Trước cha mẹ em cũng định xin cho em lên bờ học, nhưng không có sổ hộ khẩu nên không được.

Chợ nổi Cái Răng – toàn cảnh hiện ra trước mắt chúng tôi. Những chiếc ghe nhỏ lấy hàng từ thuyền lớn. Các mặt hàng ở đây bao gồm củ, trái, rau… Nhiều ghe bán thức ăn cho du khách hủ tiếu, cà phê, bánh bao, bún… Những người phụ nữ mải miết bán hàng, những người đàn ông bốc khuân rau củ. Quanh các mạn thuyền, người ta đang ào ào đổ vỏ thơm, đổ rác xuống sông. Bà con tắm rửa, đi vệ sinh ngay trên thuyền, mọi rác thải sinh hoạt đều thải ra sông.

Trong buổi sáng, có khoảng 10 chiếc thuyền du lịch chở khách thăm chợ nổi. Ði du lịch thì chẳng ai mua rau củ làm gì. Có người định mua trái cây về làm quà sông nước nhưng người lái tàu can ngăn:

UserPostedImage



“Không chắc là trái cây trong vườn đâu. Ở đây người ta lên bến lấy hàng trái cây xe đem tới. Có khi giá còn mắc hơn trên chợ.”

Thuyền của chúng tôi lướt qua những thuyền bán hàng khác. Cái gió miền sông nước làm tóc cô Tây cùng thuyền tung lên đẹp mắt. Nước không còn mênh mông như năm nào tôi đi nữa.

Thuyền chúng tôi thả máy lênh đênh, tiếp tục dạo chợ, gặp anh bán hủ tiếu bằng xuồng máy. Tôi hỏi thăm:

– Chợ nổi vui quá hả anh?

– Ừ, vui! Không vui cũng phải cười người ta mới mua chứ.

– Hủ tiếu có vẻ dễ bán mà anh?

– Nhìn vậy thôi chị ơi, cái gì cũng khó. Hồi trước, tui chạy xuồng vào tận nhà bà con mua hàng ra bán lại, ngày còn dư được 200 ngàn. Bữa này, lục bình dày đầy kênh, sông, xuồng không vào được. Hai vợ chồng tui chuyển qua bán hủ tiếu, bán cả ngày dư không được một trăm…

– Bộ lục bình nhiều thế hả chị? – Tôi quay sang hỏi thăm vợ của anh.

– Nhiều lắm chị ơi, ghe xuồng đều vào không được. Mà bữa nay có vào cũng ít có đồ để mua rồi. Hạn quá, nước bị nhiễm mặn nữa. Trồng cây gì, trái gì cũng khó, bà con ai cũng khó khăn.

Người đàn bà loay hoay nấu tô hủ tiếu cho khách. Tạm biệt chợ nổi, trong đầu tôi vẫn còn nghe tiếng của máy ghe xuồng, mở lên bành bạch vào buổi sáng và tắt lịm lúc chiều về, khi chợ tan… có vẻ giống tiếng cười của người buôn bán vất vả trên chợ nổi thời nhiễm mặn.


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
CỏThơm on 8/3/2017(UTC)
CỏThơm  
#2082 Posted : Thursday, August 3, 2017 4:10:34 AM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 164
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 131 times
Was thanked: 95 time(s) in 69 post(s)



UserPostedImage


h ỏ i .e m . . .



muốn gửi về em bao nỗi nhớ
theo làn mây trắng lững lờ bay
cùng nửa vầng trăng bên mành vỡ
hong xót xa ngày tháng đọa đày

tình lục bình theo làn nước biếc
kiếp nổi trôi xuôi ngược giữa dòng
người ra đi không lời từ biệt
đắng cay ai thấu nỗi chờ mong

anh vẫn đó bên bờ sông lở
nắng thầm rơi phai nhạt mộng yêu
gió ru khúc tình ca dang dở
quặn lòng thơ day dứt những chiều

giăng mây xám chiều sương nhiều quá
hay lệ lòng ướt đẫm hàng cây
vẫn lối cũ sao chừ xa lạ
nghe vấn vương xao xuyến hồn này

con đò nhỏ nằm im bến cũ
bạc thếch sờn mưa nắng đợi mong
người có về ươm tình ấp ủ
cho mầm xanh nở ngát hương lòng



g i ó b ụ i



UserPostedImage
Hạ Vi  
#2083 Posted : Saturday, October 14, 2017 8:04:25 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,377
Location: CỏThơm

Thanks: 4147 times
Was thanked: 10131 time(s) in 2505 post(s)


UserPostedImage


Gởi người nhớ Huế


làm gì có Huế trong thơ nhỉ
chỉ có trong mơ mà mấy khi
được chạm nhẹ tay vào mộng ảo
hỡi ơi đã lỡ mất xuân thì

ừ thì huế vẫn trong thơ vậy
chẳng khác phù vân đùa bóng mây
gió lay cành trúc buồn thôn vĩ
mặt chữ điền đâu sương khói đầy

thôi thì cứ ngỡ câu hát ví
lơ lửng thuyền trăng ghẹo đường thi
khúc dạo nam bình ai hiểu hết
ý tình vương vấn đọng bờ mi

tịnh tâm hồ cũ sen còn nở
hay đã lụy tình dạ ngẫn ngơ
từ người quá hải sang bờ khác
hoa lá nhạt phai nước hững hờ

quanh đi quẩn lại còn đâu nữa
tím huế ngày xưa đã nhạt mờ
thôi về viết lại câu mái đẩy
đẩy nhẹ thuyền trăng nghiêng vào thơ.



Túy Hà



,

Edited by moderator Wednesday, December 27, 2017 12:40:38 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Duy An  
#2084 Posted : Wednesday, December 27, 2017 12:37:57 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,224

Thanks: 206 times
Was thanked: 680 time(s) in 493 post(s)

Chùa Ngọc Hoàng


Trang Nguyên -December 26, 2017


Ít có ngôi chùa nào ở Sài Gòn được gọi bằng nhiều cái tên như Chùa Ngọc Hoàng ở Đa Kao, toạ lạc tại số 73 Mai Thị Lựu Sài Gòn (Phạm Đăng Hưng ngày trước). Người Pháp, khoảng đầu thế kỷ 20 gọi là Chùa Đa Kao trên các văn bản hành chánh, người Việt mình gọi Phước Hải Tự theo đúng tên chữ Hán từ khi chùa được thành lập. Cũng có người gọi là Long Hoa Phật Đường hoặc Ngọc Hoàng Điện bởi ngôi chùa này thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế do Lưu Minh pháp danh Đạo Nguyên xuất tiền lập chùa và cũng là nơi họp hội kín chống triều Mãn Thanh.


UserPostedImage
Điện Ngọc Hoàng Đa Kao vào đầu thế kỷ 20 với cảnh trí chung quanh còn nên thơ. Ảnh: Panoramio



Lưu Minh vốn là người Tàu ở Quảng Ðông, ủng hộ phong trào “Phản Thanh phục Minh” sau sự kiện Thái Bình Thiên Quốc xảy ra giữa thế kỷ 19. Ðây là cuộc chiến tranh do Hồng Tú Toàn lãnh đạo kết hợp với nhiều thủ lãnh khắp nơi trong nước nổi lên chống nhà Thanh. Nhà Mãn Thanh đã đưa ra chính sách sưu cao thuế nặng, vơ vét của cải để bù đắp sau cuộc Chiến tranh Nha Phiến với người Anh.

Cuộc cách mạng của Hồng Tú Toàn thành công lập nên Thái Bình Thiên Quốc được 14 năm sau khi chiếm được Nam Kinh, thiết lập nên chính quyền và đưa ra nhiều chính sách cai trị. Một trong những chính sách tôn giáo là cấm thờ Khổng, Lão, Phật, ông bà cha mẹ mà chỉ tôn thờ duy nhất Thượng Ðế, Thượng Ðế là đấng tối cao, trên hết tất cả mọi tư tưởng tín ngưỡng, mỗi ngày đều phải tán tụng ân đức. Thượng Ðế đối với người châu Âu theo Công giáo và Ki-tô giáo là Ðức Chúa trời. Còn với người Á Ðông, Thượng Ðế là Ngọc Hoàng, vua trên hết các vua ngự ở thiên đình.

Tuy nhiên, triều đình Mãn Thanh ở Bắc Kinh đã nhờ người ngoại quốc giúp đỡ dẹp tan Thái Bình Thiên Quốc. Triều đình truy quét loạn đảng và những người có tình cảm với các phong trào nông dân chống đối. Chùa chiền thờ phụng Thượng Ðế bị dẹp tan, nhiều người bị bắt bớ đưa ra pháp trường khiến dòng người Hoa có ý định phản Thanh phục Minh lưu vong sang xứ khác. Vua Tự Ðức, đồng ý cho dòng người Tàu tị nạn sang định cư.


UserPostedImage
Các bao lam điêu khắc bằng gỗ thật tinh xảo. Ảnh: Internet



Xin mở rộng một chút để giải thích hai chữ “người Tàu”. Chuyện người Tàu di cư sang Việt Nam đã có từ lâu tuỳ theo từng thời kỳ lịch sử, gần nhất vào giữa thế kỷ 17 là người Minh Hương sang định cư ở Cù Lao Phố, Sài Gòn – Chợ Lớn, Hà Tiên, kế tiếp sau thời kỳ Thái Bình Thiên Quốc và gần đây nhất vào thời Pháp thuộc, cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 người Pháp thành lập quy chế Bang hội của người Hoa (bang Quảng Ðông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Hạ Châu) để dễ quản lý cho việc thuận lợi tuyển mộ phu phen người Hoa khai thác hầm mỏ, cao su…

Trước đó, chính sách của các chúa Nguyễn mở rộng phương Nam cần thêm nhiều nhân lực. Tiếp nhận di dân được lợi đôi điều. Tuy nhiên, người dân trong nước vẫn giữ thái độ miệt thị người Hoa, gọi họ là người Tàu, người Chệt, cắc chú (đọc trại từ “khách trú”). Trong một bài phiếm luận của Gia Ðịnh báo phát hành ngày 16/2/1870 giải thích gọi người Hoa là người Tàu như sau: “Người bên Tàu thường gọi là người Trung-Quốc nghĩa là nước ở giữa vì thuở xưa bên ấy có 18 nước chư hầu; chỗ Kinh thành Hoàng-đế lại vô ở giữa các nước chư hầu nên gọi là Trung Quốc. Người bên Tàu thường kêu mình là Ðường-nhơn hay Thanh-nhơn, nghĩa là người nhà Ðường nhà Thanh. An-nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu v.v…”.

Trở lại nhà sư Lưu Minh sau khi bị triều đình Mãn Thanh truy bức, cùng dòng người Hoa chạy trốn đến vùng Ðất Hộ (Ða Kao) định cư. Vốn ủng hộ chính sách Thái Bình Thiên Quốc, xuất tiền riêng ông lập Ðiện Ngọc Hoàng, theo tôn chỉ thờ phụng Ngọc Hoàng Thượng Ðế cùng làm cơ sở bí mật hoạt động hội kín ở nước ngoài chờ thời cơ lật đổ Mãn Thanh. Ðiện thờ chia ra làm nhiều công trình trong một cảnh quan cây xanh nên thơ, kiến trúc kiểu Trung Hoa. Theo Vương Hồng Sển, chùa được khởi công năm 1905, sang năm 1906 thì hoàn thành.

Tuy nhiên, theo một nghiên cứu văn hoá cụ thể trên các dòng lạc khoản bằng chữ Hán thì Ðiện Ngọc Hoàng tạo năm 1900 và khánh thành 1905. Việc thời gian lập và khánh thành ngôi chùa không quan trọng bằng những tranh thờ, tượng thờ, bao lam, hương án trong chùa. Những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc, vẽ bằng giấy bồi rất có hồn còn nguyên trạng đến hiện nay. Từ cổng tam quan vào bái đường có miếu thờ thần Hộ pháp trước khi bước vào các điện thờ gồm tiền điện, trung điện và chánh điện.


UserPostedImage

Chùa Ngọc Hoàng ngày nay bị các nhà cao tầng che chắn. nguồn Instagram n.k.c



Nhìn chung các tượng thờ phụng bên gian trái đều là những nhân vật trên thiên đình và kể cả Thập điện Diêm Vương với các bức gỗ chạm tầng địa ngục rất sắc sảo. Cũng theo các mô típ tượng thờ trong chính điện Ngọc Hoàng cai trị vua của các vua và muôn dân dưới trần thế, lại có thêm tượng Ông Tơ Bà Nguyệt, Kim Hoa Thánh Mẫu (nữ thần cai quản việc sinh nở), 12 bà mụ tạo hình hài hài nhi, 13 đức thầy lo việc dạy dỗ cho trẻ nên người.

Chánh điện là điện thờ Ngọc Hoàng Thượng Ðế làm bằng giấy bồi cao ba mét, sơn son thếp vàng, chung quanh là các thiên tướng có cả Tề Thiên Ðại Thánh theo truyền thuyết từ đời nhà Ðường trong tác phẩm Tây Du Ký; Quan Thánh Ðế Quân (Quan Vũ) nhân vật trong thời đại Tam Quốc xa xưa hơn nữa.

Gian phải thờ Bồ Tát Quán Thế Âm, Ðạt Ma Sư Tổ và tổ lập chùa Lưu Minh. Bên trên tượng Quán Âm Bồ Tát có bức hoành bằng gỗ khắc dòng chữ “Tiên Phật Nho tông” (tạo năm 1905), thể hiện sự dung hợp tư tưởng Tam giáo. Ðây là một trong hàng trăm di sản Hán nôm bằng những hoành phi, liễn đối giáo huấn tinh thần tam giáo đồng nguyên trong Chùa Ngọc Hoàng. Vậy Ðiện Ngọc Hoàng không chỉ thờ Ngọc Hoàng Thượng Ðế đấng tối cao mà còn là sự kết hợp giữa tinh thần Phật Giáo và Nho Giáo và Ðạo giáo (Lão giáo). Dòng tín ngưỡng tam giáo đồng nguyên đã hình thành ở nước Việt từ thời những năm đầu đời nhà Trần (Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông) do ảnh hưởng từ thời Bắc thuộc.


UserPostedImage

Tổng thống Obama trò chuyện với sư thầy Thích Minh Thông trụ trì Chùa Ngọc Hoàng nhân chuyến thăm Sài Gòn năm 2016. Ảnh: Reuters



Ở đây ta không bàn đến tôn giáo đồng nguyên mà vấn đền chính là tại sao, nhà sư tại gia Lưu Minh lập chùa không duy nhất thờ Ngọc Hoàng Thượng Ðế theo tinh thần chính sách tôn giáo của lãnh tụ Hồng Tú Toàn? Một vài ý kiến cá nhân nêu ra mang tính chất tham khảo: Một là, tại Trung Quốc, triều đình nhà Thanh đã suy sụp, các cuộc cách mạng đang diễn ra mạnh mẽ chuẩn bị cho Cách mạng Tân Hợi xoá bỏ chế độ phong kiến (1911). Hai là, chùa chiền lập ở đất Việt với mục đích làm hội kín tập hợp nhân lực lật đổ nhà Thanh, theo tình hình không còn cần thiết nữa. Ba là, với việc chỉ thờ Ngọc Hoàng Thượng Ðế là đấng tối cao, xem ra không thu hút được khách thập phương đa số là người Việt đã thấm nhuần tư tưởng Phật giáo từ thời nhà Trần đã hoà nhập vào lòng dân tộc, nhất là từ thời Trần Nhân Tông trở về sau.

Chuyện hình thành dòng tư tưởng tôn giáo là một vấn đề dài, cũng như ngôi chùa này được Tổng thống Omaba ghé đến thăm nhân chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 5/2016 được nhiều người bàn luận là cuộc viếng thăm có chủ đích đưa ra một thông điệp chính sự nào đó. Giáo sư lịch sử tôn giáo Dương Ngọc Dũng người giới thiệu Tổng thống Obama đến thăm chùa là do Chùa Ngọc Hoàng thì nhỏ, dễ dàng bảo vệ an ninh. Mặt khác Sư thầy Thích Minh Thông trụ trì của Chùa Ngọc Hoàng cũng là một Việt kiều, có thời gian sống ở Mỹ. Tôi cũng học ở Mỹ về, chừng đó lý do để ráp lại thành một lựa chọn hoàn chỉnh (Theo Zing.news).

Chùa Ngọc Hoàng thu hút khách thập phương trong nước và người ngoại quốc vào thời gian sau này nhờ nổi tiếng là một ngôi chùa cầu duyên, cầu tự (khấn và sờ vào tượng Ông Tơ Bà Nguyệt, cầu khấn 12 bà mụ cùng Kim Hoa Thánh Mẫu). Nhiều câu chuyện cầu duyên cầu tự được toại ý cũng có chuyện cầu hoài cả chục năm mà vẫn không xong. Tuỳ duyên mà được ý. Dẫu quang cảnh chung quanh ngày xưa đã thay đổi nhiều do đô thị hoá mọc lên những ngôi nhà cao tầng che chắn, ngôi chùa vẫn thu hút đông đảo khách thập phương là nhờ kiến trúc bảo tồn còn nguyên vẹn dù trải qua nhiều lần trùng tu. Chùa được công nhận là công trình Kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia từ năm 1994.

UserPostedImage
Duy An  
#2085 Posted : Wednesday, December 27, 2017 4:16:33 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,224

Thanks: 206 times
Was thanked: 680 time(s) in 493 post(s)

Một mảnh đời Hồ Dzếnh


Trần Mộng Tú


Hồ Dzếnh là Hà Anh đọc theo tiếng Quảng Đông. Tên thật là Hà Triệu Anh, sinh năm 1916 tại Thanh Hóa. Thân sinh người Hoa di cư từ Quảng Đông, mẹ là người Việt.

UserPostedImage



Hồ Dzếnh thành danh với tập truyện Chân Trời Cũ (1942) và tập thơ Quê Ngoại (1943), Hoa Xuân Đất Việt (1945), và ký bút hiệu Lưu Thị Hạnh trong tiểu thuyết Những Vành Khăn Trắng (1942) và Một truyện tình 15 năm về trước (1943).

Nhiều người biết đến bài thơ Chiều của ông được Dương Thiệu Tước phổ nhạc, cũng như hai câu thơ rất phổ biến:

Tình mất vui khi đã vẹn câu thề
Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở


trích trong bài thơ Ngập Ngừng. Bài này đã được các nhạc sĩ Anh Bằng, Hoàng Thanh Tâm và Minh Duy phổ nhạc. Anh Bằng còn phổ nhạc bài thơ Hoa Mẫu Đơn của ông.

Vào năm 1954, gia đình tôi mới di cư vào Nam được vài tháng, nhận được một lá thư của Hồ Dzếnh (thời gian đầu của năm 1954-1955 Bắc-Nam còn nhận được thư). Lúc đó tôi còn bé chưa biết ông là một thi sĩ, Ba tôi nói: Có người đàn ông Trung Hoa muốn lấy thím Phương. Thím Phương của chúng tôi là vợ góa của chú Trần Trung Phương, người có tập Thơ cho học trò Mấy Vần Tươi Sáng, mà từ nhỏ anh chị em chúng tôi đã thuộc lòng nhiều bài trong đó. Khi học ở Tiểu Học được học lại ở trong lớp như những bài Học Thuộc Lòng.

Chiều qua trăng ngã xuống hồ

Bầy sao nghịch ngợm đổ xô xuống tìm

Trên không có mấy con chim

Vội vàng đâm bổ đi tìm bóng trăng.


Vội Vàng- TTP

Lá thư của chú Dzếnh, tôi không được đọc, chỉ nghe Ba nói là một lá thư với lời lẽ hết sức lễ phép, xin phép anh chị cho em được thay anh Phương vào làm em anh chị trong gia đình. Ba tôi vốn sẵn hiền lành, nên đọc thư cảm động đến ngồi ngây người ra, không biết trả lời sao cho xứng với lá thư đó.

Chú Trần Trung Phương của tôi khi còn sống viết văn, làm báo cho thiếu nhi, hoạt động chống Pháp, bị bắt, tra tấn trong tù. Khi được thả ra thì ho lao chết ngày 4/27/1945. Lúc đó con trai mới 6 tháng tuổi. Thím Hồng Nhật, một người đàn bà có học, có nhan sắc, yêu văn chương, được tất cả các bạn văn của chồng kính nể. Mỗi năm làm giỗ chồng, thím mặc khăn áo đại tang làm giỗ, mời các bạn Văn/ Họa Sĩ của chồng như: Mạnh Quỳnh, Hữu Thanh, Tống Ngọc, Tam Lang, Khái Hưng v.v… đến dự. Ai cũng kính phục.

Thím ở vậy nuôi con, cho tới khi gặp Hồ Dzếnh. Cũng nên nhắc lại, thím Hồng Nhật cũng viết văn, làm thơ, lúc trẻ Hồng Nhật có gửi bài cho Phong Hóa và Ngày Nay, là thời điểm Trần Trung Phương đang phụ trách trang Thiếu Nhi của hai tờ báo này. Duyên văn nghệ đưa đến cuộc hôn nhân đẹp nhưng quá ngắn (không đầy 2 năm).

UserPostedImage

Hình gia đình Hồ Dzếnh và một người bạn


Khi chú mất, tôi cũng chỉ hơn em Cường một tuổi nên không biết gì cả.

Lớn lên mới biết thím là một phụ nữ đảm đang, qua bao nghịch cảnh, góa chồng, ly loạn vẫn gây dựng lại được những gì đã mất. Hiệu Sách Bình Minh 200 A, Phố Huế, nức tiếng ở Hà Nội một thời.

Vào năm 1951 thím Hồng Nhật muốn tái bản tập thơ Mấy Vần Tươi Sáng, nên có vào Nam nhờ Hồ Dzếnh đỡ đầu. Hồ Dzếnh cũng đang trong cảnh gà trống nuôi con rất vất vả. Hai người cảm thông nhau cùng hoàn cảnh góa bụa, cùng có hai đứa con trai nhỏ, cùng yêu văn chương nên nhanh chóng yêu nhau. Ðầu năm 1954 Hồ Dzếnh trở về Hà Nội, cuối năm đó lập lại gia đình với thím Hồng Nhật.

Giai thoại kể lại: Hôm đám cưới, các bạn văn cũ của chú Phương đến dự đông đủ, có một người ra câu đối: “Vợ góa nhà văn lấy nhà văn góa vợ.” Không ai đối được.

Cũng có thêm giai thoại nữa về cái tên Hồ Dzếnh, bạn hữu hay gọi đùa là Hồ Dính và có ra câu đối: Hồ Dính, dính hồ, hồ chẳng dính, có người đối là Ngọc Giao, giao ngọc, ngọc không giao.

Sau năm 1975 chú Dzếnh và Thím Hồng Nhật có vào Nam tìm gia đình anh chị, thì cha mẹ và chúng tôi đã sang Mỹ. Khi tôi liên lạc được với chú thím bằng thư thì cha mẹ tôi đã qua đời. Lá thư cuối tôi nhận được, chú nhờ tôi lấy tiền nhuận bút của những nhà sách bên Mỹ đã tái bản và phát hành những tác phẩm của chú nhưng không nhà xuất bản nào trả một đồng (Các nhà xuất bản hồi đó đều nghĩ việc họ tái xuất bản sách Việt ở hải ngoại là một đặc ân họ ban phát cho tác giả.)

Năm 1998 lần đầu tiên tôi về Việt Nam thì chú Dzếnh đã mất được 7 năm (1991). Buổi tối, nằm ngủ chung với thím trên chiếc giường của hai người, nghe thím kể lại: lúc biết mình sắp mất, chú đòi về nhà, mất trên cái giường của vợ chồng. Câu cuối cùng của chú là lời gọi: Mình ơi! trước khi nhắm mắt.

Mình vừa là chị là em
Tấm lòng người mẹ, trái tim bạn đời
Mai này tới phút chia đôi
Hai ta ai sẽ là người tiễn nhau?
Xót mình đã lắm thương đau
Tôi xin làm kẻ đi sau đỡ mình
Cuộc đời đâu phải phù sinh
Nước non chan chứa nghĩa tình, mình ơi!

Bài Thơ Tặng Vợ – Hồ Dzếnh


Chú Dzếnh muốn đi sau để tránh cảnh thương đau cho thím, nhưng chú lại là người đi trước. Trên chiếc giường gỗ ở ngôi nhà 80 phố Hòa Mã, Hà Nội, trong bóng tối mờ mờ của ngọn đèn đêm ngoài phố hắt vào, tôi nằm cạnh thím, nắm chặt bàn tay già nua của thím, nhìn lên đình màn, hình dung ra khuôn mặt thanh nhã với nụ cười hiền lành ở bức ảnh trên bàn thờ của một thi sĩ Trung Hoa mang trái tim Việt Nam trong lồng ngực, tôi nói thầm trong lòng: Cám ơn thi sĩ đã vào trong gia đình họ Trần Trung.

Tuổi thơ tôi lớn lên bằng những bài Thơ học trò ngây thơ trong Mấy Vần Tươi Sáng của thi sĩ Trần Trung Phương và tôi nghĩ đó chính là những hạt giống văn chương đã gieo vào mảnh đất hồn tôi để sau này mọc lên hoa trái. Rồi tiếp theo đó là Thơ và Văn Chương trong sáng, giản dị của Hồ Dzếnh ảnh hưởng tới văn chương và cách viết của tôi.

Tôi cám ơn Thượng Ðế đã cho tôi cả hai ông chú tuyệt vời.


UserPostedImage

Thủ bút của Hồ Dzếnh


UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (2)
105 Pages«<103104105
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.