Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

142 Pages«<140141142
Options
View
Go to last post Go to first unread
thunder  
#2821 Posted : Sunday, July 30, 2017 3:07:06 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)


NỤ TẦM XUÂN NỞ RA XANH BIẾC



Trong kho tàng văn chương bình dân phong phú của dân tộc, những bài ca dao nói về tình yêu lứa đôi là nhiều hơn cả; nhưng không phải cuộc tình nào cũng đi đến hôn nhân tốt đẹp, mà đời sống thực tế , như ca dao chứng tỏ , đã có lắm cuộc tình lỡ vì nhiều lý do khác nhau .Trong số những bài ca dao loại này , bài Nụ Tầm Xuân được xem là nổi tiếng nhất:

Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân .
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay !
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không ?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng , như cá cắn câu .
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thưở nào ra .

Tương truyền bài ca dao trên gồm hai đoạn đối đáp giữa Chúa Trịnh Tráng và ông Đào Duy Từ .

Nguyên vào thời Nam Bắc phân tranh , hồi đầu thế kỷ thứ 17 , chúa Trịnh Tráng đã nhiều phen cử đại binh vào Nam chinh phạt chúa Nguyễn mà vẫn không thành công , chỉ vì nơi đây có nhiều chiến luỹ kiên cố , như luỹ Đồng Hới , luỹ Trường Dục ...

Chúa Trịnh cho dò hỏi , được biết ông Đào Duy Từ , gốc người Thanh Hoá , Đàng Ngoài, hiện là quân sư cho Chúa Nguyễn , đã giúp nhà Chúa đắc lực trong việc chấn chỉnh nội trị cũng như trong việc xây thành , đắp luỹ để chống chọi với quân Bắc Hà . Hối tiếc vì đã không trọng dụng họ Đào từ trước , để ông trốn vào Nam phù trợ chúa Nguyễn , Trịnh Tráng bèn sai người ngầm đem phẩm vật ban tặng họ Đào với bốn câu ca dao nhắn gửi : -Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân .

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em có chồng, anh tiếc lắm thay !

Biết ý chúa Trịnh muốn chiêu dụ mình , Đào Duy Từ rất khó xử , vì mồ mả tổ tiên còn ở Đàng Ngoài nên không dám cự tuyệt . Nhớ lại tích Trương Tịch đời Đường xưa , sống trong cảnh loạn ly , họ Trương cũng đã rơi vào trường hợp éo le như ông , sau giải quyết được êm thấm là nhờ bài “Tiết Phụ Ngâm” mà giải bày được cảnh ngộ : -Gái tiết nghĩa không thể lấy hai chồng , khác nào trai trung liệt không thể thờ hai chúa .

Đào Duy Từ bèn bắt chước Trương Tịch , mượn lời một người thiếu phụ tạ tình khác để trả lời chúa Trịnh :

-Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không ?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng , như cá cắn câu .
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thưở nào ra .

Tất nhiên bài ca dao trên được truyền tụng sâu rộng trong dân gian (ngày nay giới trẻ cũng biết nhiều qua bản phổ nhạc của Phạm Duy) không phải vì lý do chính trị như vừa kể, mà vì tính chất trữ tình đặc thù của nó .

Bài ca dao chỉ vỏn vẹn có mười câu thơ viết theo thể song thất lục bát biến thức , nhưng đã cực tả được một cuộc tình lỡ đầy thơ mộng và cũng đầy cảm khái .

Trước hết, bốn câu thơ đầu (c.1-4) giới thiệu cho ta biết hoàn cảnh, tình cảm và tâm trạng của chàng trai.

Người con trai rời quê hương đi du học phương xa đã mấy năm nay , một ngày nào đó chàng bỗng cảm thấy nhớ nhung tha thiết cô bạn láng giềng nơi quê nhà , và ý thức được rằng chàng đã thực sự yêu ai . Chàng thường lấy làm thích thú mỗi khi ôn lại những kỷ niệm chơi đùa cùng nàng trong thời niên thiếu vừa qua : -Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân …

Càng ôn lại kỷ niệm xưa , chàng càng thấy mình có hy vọng sẽ chiếm được trái tim của ai, lòng mừng khấp khởi như đã nắm được hạnh phúc trong tay . Và chàng thấy hồi hộp khi tưởng tượng ra giây phút gặp lại người xưa . Cô hàng xóm bé bỏng ngày nào hẳn giờ đây đã dậy thì , đã xinh đẹp lắm . Chàng sẽ nói gì khi gặp lại nàng đây ?Tất nhiên chàng sẽ thổ lộ cho nàng nỗi nhớ niềm thương của mình . Nàng sẽ … nàng sẽ phản ứng ra sao nhỉ ? Ngạc nhiên ? Không đâu , nàng phải đoán ra những cảm tình đặc biệt của chàng dành cho nàng chứ ?… Thật khó mà tượng tượng hết được … Chỉ biết rằng hiện tại tim chàng đang rộn rã yêu đương , và lòng chàng đang chứa chan hy vọng .

Khi vừa thành đạt trở về, chàng nôn nóng ngóng trông sang bên hàng xóm, sao lạ chưa, không hề nghe thấy tiếng nàng nói cười, và “bên hiên vẫn vắng bóng nàng”( thơ N. Bính) .Dò hỏi cha mẹ, chàng mới hay nàng đã bị gia đình ép gả chồng xa, nay thì đã yên bề gia thất .

Hỡi ơi ! Cả bầu trời như xụp đổ dưới chân chàng , chàng đau đớn nghe lòng mình như tan vỡ ra hàng trăm ngàn mảnh . Thương cho ai mà lại tiếc cho mình!

Cơn xúc động lắng dần, trách ai bây giờ ? Chàng chỉ biết ôn lại những kỷ niệm cũ. Chàng nhớ rất rõ , tất cả mới như ngày hôm qua , chàng sống lại với từng tiếng nói, tiếng cười, từng cử chỉ của ai . Như một cuốn phim ,những kỷ niệm thân yêu xưa cứ diễn đi diễn lại trong nỗi nhớ thương , tiếc hận của chàng … Bỗng bên hàng xóm có tiếng người lao xao, nghe vẳng lại như tiếng nói của ai xưa . Chàng chồm dậy, chạy vội ra khu vườn tuổi thơ, " -Trèo lên cây bưởi hái hoa...." Chàng lập lại những động tác như hồi còn thơ ngây một cách vô thức ... Hồi ấy , mỗi khi nhìn thấy nàng xuất hiện ngoài vườn, thì chàng, nếu đang rảnh rỗi, thế nào cũng chạy ra trèo cây, hái hoa , chơi đùa cùng nàng . Hai nhà chỉ cách nhau có một hàng giậu thưa, trồng hoa hồng tầm xuân, chàng và nàng chi cần lách rào là có thể sang được vườn nhà nhau dễ dàng.

Chúng tôi xin nhắc lại, chàng trai trẻ của chúng ta lúc này đang trèo cây, hái hoa một cách vô thức như người mộng du: -Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà …

Chàng vừa giơ tay chực ngắt bông hồng tầm xuân thì mắt chàng chợt nhìn thấy người đẹp -Trời hỡi ! Nàng ! Chính nàng ! Nàng đẹp quá đỗi khiến chàng sửng sốt . Ðúng lúc chàng bừng tỉnh cơn mộng mê thì lại chìm vào một cảm giác choáng ngợp vì xúcđộng trước nhan sắc lộng lẫy của ai. Rồi ý thức tình cảm tiếc hận trỗi dậy khiến chàng không thể không thốt lời cảm thán : -Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em có chồng, anh tiếc lắm thay !

Nhưng tại sao nụ tầm xuân lại không nở cánh màu hồng mà lại màu xanh , xanh biếc cơ ? Cái khúc mắc là ở chỗ đó . Xin thưa , chúng ta có nhiều cách lí giải:

Đơn giản nhất cho rằng nụ tầm xuân mới nhú nơi đầu cành , còn ở thể trạng một nụ hoa xanh ngắt .

Nếu như vậy câu thơ sẽ mất đi sức sống , hình ảnh sẽ thiếu sinh động , rực rỡ và ý thơ trở nên nghèo nàn . Vả không ai ngắt một nụ hoa còn xanh ngắt để chơi , nhất là để tả nhan sắc người đẹp .

Vậy hoa tầm xuân ở đây thuộc loại hoa có cánh màu xanh ? Theo một số các bô lão cho biết thì tầm xuân, một loại hoa hồng dại , thường trồng bên hàng giậu nơi quê nhà , có cánh hoa màu hồng , thảng khi mới có màu trắng hay màu vàng . Trong trường hợp này , theo thiển ý , chúng ta có thể giải thích như sau :

- Khi đôi mắt chàng trai của chúng ta đã “bám chặt” vào cô bạn láng giềng hết sức xinh đẹp và rất mực thương yêu của chàng thì chàng còn nhớ gì đến màu hoa tầm xuân hồng hay xanh nữa . Nhưng không phải chàng nói “Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc” mà không có lý do .

Khi từ cây bưởi bước xuống, dù vô ý đến đâu , mắt chàng cũng phải nhìn thấy đám hoa cà xanh xanh ở dưới chân mình . Và dù đang trong cơn mê mẩn tâm thần, không để ý hoa cà màu gì , nhưng trong tiềm thức chàng vẫn biết :

-Chơi hoa phải biết mùi hoa
Hoa lê thì trắng , hoa cà thì xanh.
(Ca dao)

Vì thế , khi vừa có ý giơ tay ngắt bông hoa tầm xuân , chàng chợt nhìn thấy nàng :

- Nàng đẹp quá ! Vâng nàng đẹp quá ! Chàng phải khen tặng nàng , nhưng không thể nói một cách sỗ sàng như thế , mà phải khen bóng bẩy , tế nhị kia … , phải rồi , nàng đẹp như một nụ hoa … hoa gì ? Hoa tầm xuân ! (Ý tưởng định giơ tay ngắt bông tầm xuân vừa có đó) . Hoa đẹp vì sắc . Hoa tầm xuân sắc gì ? Đang cơn xúc động , chàng không còn đầu óc để nhận định , chàng liền liên kết nó với màu xanh xanh của hoa cà vừa xuất hiện trước đó . Thế là nụ tầm xuân của chàng bỗng nhiên mang màu xanh !

Nhưng màu xanh của hoa cà ngả sang tim tím , nhàn nhạt , tầm thường lắm . Không , nụ tầm xuân của chàng phải nở ra những cánh hoa xanh mơn mởn nguyên trinh, ngát một màu xanh rất tươi , rất thắm..., phải rồi, một màu xanh biếc , một màu xanh tâm tưởng! -Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc !

Thế là màu hoa tầm xuân của chàng trai đã rời khỏi màu sắc hiện thực của ngoại giới để trở thành màu" xanh biếc "của tâm giới. Có thế mới đủ diễn tả sắc đẹp kiều diễm của người chàng yêu và lòng ngưỡng mộ của chàng lúc đó .

Chỉ một sát-na của thời gian , bằng ấy sự suy luận , tưởng tượng, so sánh , cân nhắc, liên kết hình ảnh , màu sắc và nỗi xúc động bởi tình yêu đắm đuối cùng trước nhan sắc rực rỡ của người xưa đã diễn ra trong tâm trí của chàng trai, để thoát ra thành một lời khen tặng vừa bóng bẩy , ý nhị , vừa thâm trầm , thắm thiết: -Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc !

"Nụ tầm xuân " chẳng những tượng trưng cho nhan sắc của cô bạn láng giềng, sằc đẹp của nàng càng xinh tươi, kiều mỵ bao nhiêu (nở ra xanh biếc) , mà đồng thời còn cho tinh yêu của chàng trai, tình chàng càng bồng bột , say đắm , thuần khiết bao nhiêu( nở ra xanh biếc) thì lòng tiếc hận của chàng càng thống thiết bấy nhiêu : -Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em có chồng anh tiếc lắm thay !

Chỉ một câu thơ giản dị ấy thôi , chàng đủ thổ lộ hết cùng nàng cái tâm sự yêu đương tha thiết , và nỗi lòng tiếc hận không cùng của mình . Và cả hai câu thơ trên rút lại chỉ một chữ “tiếc” đủ gói ghém trọn ý .

Thật vậy , người ta đã hỏi nàng làm vợ , đã lấy nàng vì những lý do nào chàng không cần biết , nhưng đối với chàng , nàng là viên bảo ngọc vô giá :

Nàng là tượng trưng cho tất cả những kỷ niệm hạnh phúc của chuỗi ngày niên thiếu thơ ngây ;

Nàng là tất cả nỗi nhớ niềm thương trong thời gian xa cách ;

Nàng là tất cả sự khích lệ khiến chàng cố gắng phấn đấu học hành , xây dựng sự nghiệp , để mau chóng thành công trở về ;

Nàng là đoá hoa hồng tầm xuân lộng lẫy, là đối tượng của tất cả tấm lòng bồng bột khao khát yêu đương ở tuổi thanh xuân của chàng .

Quả là suốt hai mươi năm nay nàng đã không xa chàng , trong tiếp xúc gần gũi hay trong lòng tưởng nhớ; thế mà giờ đây :" Em đã có chồng !" Đổ vỡ hết rồi , tiếc nuối biết bao nhiêu ! -Em có chồng , anh tiếc lắm thay !
Tiếc … ! Tiếc lắm thay !

Còn cô láng giềng thì sao ?

Sáu câu thơ cuối (c.5-10) đã cho chúng ta biết về cảnh ngộ cùng tâm tình, thái độ của người con gái .

Từ bao tháng rồi đi lấy chồng xa ,maĩ hôm nay nàng mới có dịp trở lại quê nhà .Vừa ra thăm khu vườn cũ ,nào ngờ được gặp lại người bạn trai hàng xóm thưở xưa . Chàng đi xa học hành , lập nghiệp từ năm, sáu năm nay , chàng đã trở về rồi đó ư ? Người thanh niên cao lớn đang đứng trước mặt nàng là chàng đó ư ?-Ðúng rồi, người xưa đây mà ! Nàng vừa xúc động , vừa bối rối , thẹn thùng ...

Suốt thời niên thiếu thơ ngây , chàng và nàng thường vui chơi thân thiết bên nhau . Từ ngày chàng ra đi , đôi khi nàng có thoáng thấy lòng mình nhớ nhung ai , nhưng mãi đến tuổi dậy thì , bắt đầu biết mơ mộng thì hình ảnh ai kia mới thực sự ngự trị trong trái tim nàng ; và từ đó nàng âm thầm mong ngóng ai về . Trong thời gian này , có người đến dạm hỏi nàng làm vợ thì nàng đều tìm hết cớ này, cớ nọ để thoái thác, nàng cố tình chờ đợi chàng...

Năm tháng lặng lẽ trôi qua, chàng đã chẳng có lấy một lời nhắn gửi thăm hỏi , nàng tránh sao khỏi buồn tủi :

-Duyên kia ai đợi mà chờ
Tình kia ai tưởng mà tơ tưởng tình !
(ca dao)

Nên đã có một ngày, nàng đành gạt nước mắt , nghe lời cha mẹ đi lấy chồng , một người chồng xa xứ mà trước đó nàng không hề quen biết , yêu thương . Hôm nay bỗng nhiên gặp lại người xưa , nàng xúc động và bối rối quá nên cũng chưa kịp ý thức được chàng đang làm gì ?… À ! "Trèo lên cây bưởi hái hoa , bước xuống vườn cà …" Chàng vẫn ưa trèo cây ,hái hoa như thời niên thiếu ngày xưa; và chàng đã nói gì với nàng? -Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em có chồng anh tiếc lắm thay !

Trời hỡi ! Thì ra chàng cũng yêu nàng , và đã muốn cùng nàng kết tóc xe tơ !
Sung sướng và cảm động làm sao ! và nàng đã không khỏi tiếc nuối : -Ba đồng một mớ trầu cay Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không ?

Nàng có ý trách chàng sao quá chậm bước , đã không đi dạm hỏi nàng ngay khi nàng còn con gái. Có nghĩa là, nếu chàng hỏi nàng từ thưở ấy thì nàng đã bằng lòng . Qua câu này vô tình nàng đã thổ lộ tình yêu của mình cho chàng hay .

Hơn nữa, không chỉ mình nàng bằng lòng mà cha mẹ nàng cũng đã sẵn sàng đón nhận cuộc hôn phối này nên vẫn có ý nấn ná chờ đợi chàng về , và sẽ dành mọi dễ dàng cho chàng , chỉ cần : -“Ba đồng một mớ trầu cay “

( “một mớ trầu cay” là cách nói hoán dụ, lấy một phần để chỉ tổng thể lễ vật dạm hỏi gồm trầu, cau, trà, rượu)
vâng, chỉ với lễ vật tối thiểu trong nghi thức đi dạm vợ đó thôi là gia đình nàng sẽ chấp nhận cho chàng làm rể , vậy mà chàng đã không sớm lo liệu .

Năm tháng trôi qua , nàng đã đứng tuổi (thời xưa con gái 17,18 tuổi chưa có chồng đã bị coi là "ế"), vả lại cha mẹ chàng cũng không có một lời gấm ghé , hẹn hò , thế nên gia đình nàng đành phải ép nàng lấy chồng .

Hôm nay chàng và nàng được gặp lại nhau , hiểu rõ lòng nhau (điều này hẳn là một niềm an ủi lớn cho họ , nhưng cũng vì vậy mà nỗi tiếc hận của nàng và nhất là của chàng càng nhân lên gấp bội) , thì than ôi ! đã quá muộn ; đã lỡ làng hết rồi !

Nay nàng đã là gái có chồng , nàng ý thức rất rõ bổn phận của mình, mặc dầu cuộc sống lứa đôi bị gò bó , không hạnh phúc “như chim vào lồng , như cá cắn câu” , nhưng nàng chấp nhận như một định mệnh đã an bài : -Bây giờ em đã có chồng Như chim vào lồng , như cá cắn câu .

Nàng xin chàng hãy hiểu cho cảnh ngộ của nàng, và nàng cũng đã cam phận , mà đừng yêu thương , tơ tưởng , hy vọng gì nữa : -Cá cắn câu biết đâu mà gỡ Chim vào lồng biết thưở nào ra !

Câu trả lời rất thành thực là tuy có buồn cho cảnh ngộ, nhưng cũng rất đúng đắn , dứt khoát của người thiếu phụ trước người bạn trai láng giềng thân thiết thuở xưa đang tỏ tình cùng nàng, đã làm ta phải cảm động và quí mến nàng .

Nàng đã biết chế ngự tình cảm lãng mạn của mình, biết dừng ở lúc phải dừng. Và dù lấy chồng không yêu thương, cuộc sống hiện tại không như ý, nhưng một khi đã làm vợ , nàng biết giữ bổn phận phải thủ tiết với chồng để duy trì sự yên ấm cho gia đình . Nàng không giống như người tiết phụ của Trương Tịch , nhận ngọc của một chàng trai xa lạ , đem giấu trong dải yếm , khi ý thức ra bổn phận phải chung thuỷ với chồng mới trả ngọc lại cho người , với hai hàng nước mắt tiếc rẻ : -Hoàn quân minh châu song lệ thùy Hận bất tương phùng vị giá thì .

Ðể hết luận ta có thể nói, bài ca dao NỤ TẦM XUÂN chỉ với mười câu thơ ngắn ngủi để tả một cuộc tinh lỡ nhưng đã hội đủ những ưu điểm : nhạc thơ khi êm đềm , thanh thoát (ở những câu lục bát chỉ gieo toàn vần bằng) , lúc lại bổng trầm nức nở (ở những câu song thất gieo hai vần bằng, trắc xen nhau) ;từ ngữ , hình ảnh thì giản dị trong sáng nhưng vô cùng hàm súc,gợi cảm ; tình ý vừa thơ mộng thắm thiết lại vừa ngậm ngùi cảm kích … đã khiến nó dễ thấm sâu vào lòng người . Ðây quả là một bài ca dao trữ tình đặc sắc ,vưà có giá trị nhân bản, vừa có giá trị nghệ thuật rất cao của dân tộc

GS Phạm Thị Nhung


phamlang  
#2822 Posted : Tuesday, September 12, 2017 4:01:41 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,531

Thanks: 1690 times
Was thanked: 1029 time(s) in 666 post(s)
UserPostedImage


Tháng ngày lưu vong của Nam Phương hoàng hậu



Là con gái của một trong 4 gia đình giàu có nhất miền Nam thế kỷ XX- đại điền chủ Nguyễn Hữu Hào, trở thành hoàng hậu An Nam, khi dứt áo rời quê hương để lưu vong nơi đất khách, Nam Phương hoàng hậu vẫn có cuộc sống sung túc đề huề với những khối tài sản đồ sộ trên khắp nước Pháp và các lãnh địa Pháp như các lâu đài lớn ở Cannes, Limousin, Paris.. nhiều nhà đất ở bên xứ Maroc, Congo… Sở hữu nhiều lâu đài, đồn điền như thế, nhưng rốt cuộc Nam Phương hoàng hậu tìm được hạnh phúc ở đâu trong những năm tháng cuối đời?

Tháng 3/1946, cựu hoàng Bảo Đại sang Hồng Kông cùng vũ nữ Lý Lệ Hà. Tháng 12/1946, tình hình chính t rị và quân sự giữa Việt và Pháp rất căng thẳng, chiến tranh tới gần. Hoàng hậu Nam Phương một nách 5 con sống trong cung An Định trong khi mẹ chồng cũng đã tản cư, cảm thấy hoang mang và tuyệt vọng.

Ở lại Huế thì nay mai chiến sự nổ ra, khó tránh hòn tên mũi đạn, tản cư về nông thôn thì sợ các con mình quen nếp sống vương giả, không hòa nhập được.

Tính đi tính lại, người phụ nữ thông minh ấy chọn giải pháp đưa các con vào nương nhờ nhà thờ dòng Chúa cứu thế, nơi thuộc quyền quản lý của các linh mục Canada, một nước trung lập, không ngả về Mỹ hay Pháp. Cuộc sống ở đây khá kham khổ so với sinh hoạt trước kia của họ, sáng sáng các hoàng tử, công chúa phải tự đi tìm nước rót vào ca để rửa mặt.

Súng bắt đầu nổ ở Huế vài tuần và bà Nam Phương rất lo vì tu viện có thể bị tấn công. Bản thân các linh mục trong nhà dòng cũng cảm thấy bà và các con nên sang Pháp tản cư.

Năm 1947 ấy, bà cùng các con cuối cùng đã ra đi và không có lần quay về Việt Nam nữa, mặc dù trong lòng bà cũng đã có lần muốn về lại chốn quê hương.

UserPostedImage

Nam Phương Hoàng hậu và Thái tử Bảo Long, các công chúa Phương Mai, Phương Liên, Phương Dung và hoàng tử Bảo Thăng khi mới sang Pháp

Những tháng ngày tại lâu đài Thorenc ở Cannes

Thời gian đầu, mẹ con cựu hoàng hậu sống ở lâu đài Thorenc tại Cannes. Bà Nam Phương gửi các con vào trường trung học Couvent des Oiseaux, nơi bà từng học thời con gái.

Hằng ngày, ngoài việc chăm sóc con cái, bà thường đọc sách báo hoặc chăm sóc hoa lá trong vườn, buổi tối thì chơi dương cầm cho các con nghe. Những ngày lễ, mấy mẹ con cùng ra phố xem phim hoặc mua sắm.

Nam Phương hoàng hậu sành thời trang và có gu ăn mặc thanh lịch, tinh tế. Bà rất thích mua đồ của nhãn hiệu Christian Dior và Balmin, màu tím nhạt được bà ưa chuộng nhất.

Về nghệ thuật, bà treo tranh của của Renoir, Buffet trong nhà. Bà không thích tranh lập thể của Picasso vì tâm hồn bà không hợp với trường phái hội họa này cũng như siêu thực.

Bà cũng rất thích nuôi chó. Trong nhà bà có cả một đàn chó, và trong đó có một con thuộc giống Saint Bernard, loại chó to như con cọp, loại chó này để sử dụng tìm người mất tích trong rừng, trong khi đi trượt tuyết. Về thể thao bà có thể chơi bong bàn, quần vợt, và golf nhưng không giỏi lắm.

Bảo Đại thỉnh thoảng mới về Pháp, và đôi khi bà cũng cùng chồng tới casino xem ông đánh bạc. Những lần đó, nếu thắng bạc, ông tặng hết tiền cho bà để mua sắm. Tuy nhiên, cái niềm vui ở bên chồng quá ít ỏi, nhất là từ sau năm 1955, Bảo Đại chán đời bỏ đi tứ xứ, các con thì đã lớn, như chim bay đi…

Điền viên ở vùng quê Chabrignac


UserPostedImage

Điền trang La Perche ở làng Chabrignac


Năm 1958, nhằm tránh mặt báo chí, dư luận và những người quen biết, bà Nam Phương đã rời bỏ cả Cannes xa hoa hay thành Paris hoa lệ và ồn ào.

Những cơ ngơi đồ sộ ở Neuilly, hàng tá căn nhà lớn ở Morocco, biệt thự trên đại lộ Opéra, Paris hay trang trại rộng lớn ở Congo đều không còn sức hấp dẫn để có thể níu giữ nổi bà.

Nam Phương Hoàng hậu đã rời xa Paris 500km về phía nam, về làng Chabrignac, hạt Correze tỉnh Limousin, mua lại điền trang La Perche rộng 160 ha của một quý tộc Pháp đã sa sút làm nơi sống nốt những năm tháng còn lại.

Điền trang đẹp như mơ có rừng bao quanh gồm 32 phòng, 7 phòng tắm, 5 phòng khách… và một vườn hồng tuyệt đẹp. Lâu đài cách nhà dân khá xa, hàng xóm ít qua lại. Có lẽ bà hoàng xa xứ chọn nơi yên tĩnh này để nội tâm được bình ổn, sống kiểu nửa tu hành trong những năm cuối đời.

Hạnh phúc thực sự ở nơi đâu?

Ngoài hoa lợi thu được từ cây trái trong điền trang, bà hoàng Nam Phương còn nuôi thêm khoảng 100 con bò sữa trên một trang trại lớn với 160 mẫu đất.

Tất cả những người con của bà đều sống với bà trong điền trang La Perche. Theo Daniel Grande Clemént, tác giả cuốn “Bảo Đại, hay những ngày cuối cùng của Vương quốc An Nam” thì “dường như thời gian sống tại điền trang La Perche là những tháng năm bình yên và hạnh phúc nhất của Nam Phương Hoàng hậu”

Cho đến cuối đời, bà vẫn sống trong nhung lụa nhờ gia đình cự phú của mình. Tuy nhiên, với bà Nam Phương, tiền không giúp mua được niềm vui.

Cựu hoàng hậu sống lặng lẽ với thú vui điền viên trong trang trại Charbrignac, bất động sản duy nhất bà giữ lại cho riêng mình, sau khi chia hết các tài sản khác cho các con.

Rũ bỏ lớp áo vàng son quyền quý, bà Nam Phương quay lại sống đúng nghĩa cuộc đời an lành, bình dị của một phụ nữ An Nam học thức.

Hàng ngày, bà dậy rất sớm, thường tự tay trang trí, dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc cây cảnh. Vừa làm bà vừa khe khẽ hát. Khi có việc ra ngoài, bà thường tự tay lái chiếc xe hơi hiệu Dauphine, có thêm cô hầu gái hay người quản gia đi theo.

Bà nuôi trong điền trang 4 người giúp việc nông, một số người hầu gái và một viên quản gia người Pháp. Tất cả người ăn kẻ ở trong nhà đều được bà đối xử thân tình, gần gũi. Trong các dịp lễ, Noel hay ngày đầu năm mới, bà đều không quên có quà tặng cho họ và gia đình.

Lucien Boudy – một cựu xã trưởng Chabrignac, cho biết Hoàng hậu Nam Phương “…Là một mệnh phụ phu nhân rất duyên dáng, đặc biệt thân thiện rộng rãi với dân làng. Bà cũng rất nhân từ và yêu thương với cả người hầu kẻ hạ trong nhà”

Nam Phương Hoàng hậu sống rất cởi mở, quảng giao, thường xuyên đi thăm thú điền trang để gặp gỡ và trò chuyện thân mật với những người nông dân. Vì thế dân làng rất quý mến bà. Từ chỗ xa lạ, sau 5 năm làm dân Chabrignac, bà đã để lại biết bao tình cảm trong tâm trí người dân địa phương. Họ xem bà là một cô-rê-diên (Người địa phương Correze) chính cống.

Người quản gia Pháp

Đối với bà, người quản gia người Pháp có một vị trí rất đặc biệt. Ông này luôn tháp tùng bà trong những chuyến làm khách, dự tiếp tân đối với các gia đình quyền quý ở trong vùng. Không ai có bằng chứng xác đáng nhưng dường như những người quen biết trong vùng đều cho rằng, ông quản gia này đã yêu thầm Nam Phương hoàng hậu.

Cựu hoàng Bảo Đại, ít khi đến thăm bà. Dân làng chỉ nhớ có một lần Cựu hoàng về Chabrignac vào tháng 1 năm 1962, nhân dịp Công chúa Phương Liên tổ chức lễ thành hôn với một người Pháp tên Bernard Soulain.

Thế nhưng rất kỳ lạ, suốt 5 năm sống ở Chabrignac, bà vẫn không hề ghé thăm viếng lâu đài De La Nouche – nơi ở của Công chúa Như Lý, con gái vua Hàm Nghi ở, lấy một lần, dù hai điền trang nằm gần như cạnh nhau. Cả Công chúa Như Lý và Hoàng hậu Nam Phương đều có vẻ như không hề biết đến sự tồn tại của người kia trên cùng một vùng đất, dù trên quan hệ, Công chúa Như Lý là cô chồng của bà Nam Phương.

Bốn chín chưa qua, năm ba đã tới

Có lẽ sự cô đơn và nỗi đau buồn cho cuộc đời tuy vàng son mà bất hạnh của mình khiến hoàng hậu lưu vong mắc bệnh tim.

Ngày 14/9/1963, vừa từ thị trấn Brive cách điền trang 30 km trở về, bà Nam Phương đã cảm thấy đau họng. Viên bác sĩ được mời đến đã khám qua loa và kết luận là bà bị viêm họng nhẹ, chỉ uống thuốc vài ngày là khỏi. Kỳ thực, bà bị chứng lao hạch tràng hạt, cơn đau tiếp tục hoành hành dữ dội. Trước khi viên bác sĩ thứ hai kịp đến nơi thì Nam Phương Hoàng hậu, 49 tuổi, đã qua đời vì nghẹt thở.

Bà mất vào ngày 15 tháng 9 năm 1963. Đám tang của bà rất lặng lẽ. Ngày đưa tang, ngoài hai Hoàng tử Bảo Long (1936), Bảo Thăng (1943) và ba Công chúa Phương Mai (1937), Phương Liên (1938) và Phương Dung (1942) đi bên cạnh quan tài của mẹ, không có mặt vua Bảo Đại và cũng không có một người bà con thân thuộc nào khác ngoài dân làng Chabrignac. Về phía giới chức Pháp thì chỉ có ông Quận trưởng Brive la Gaillarde và ông xã trưởng Chabrignac.

Mộ phần của bà được đặt trong phần mộ của dòng họ Bá tước De La Besse. Bà Bá tước De La Besse, tức Công chúa Như Lý cũng có mặt trong dòng người đưa tang của làng Chabrignac, với nỗi ân hận vì trước đó hai người đã không hề có cơ hội gặp gỡ nhau.

Ít lâu sau, Công chúa Như Lý đã lần lượt cải táng mộ Vua Hàm Nghi từ Alger về nghĩa trang này. Sau đó, Công chúa Như Mai, Hoàng tử Minh Đức cũng lần lượt được đưa về an táng tại làng Chabrignac, cách mộ của Nam Phương Hoàng hậu không xa lắm.

Ngôi mộ của bà Hoàng Hậu Nam Phương, người vợ chính thức đầu tiên của Bảo Đại, rất dễ nhận ra, vì có hai cây tùng trồng hai bên mộ, nay đã cao và to phình. Ngôi mộ có vẻ mới được trùng tu lại, sạch sẽ, đơn sơ. Trên ngôi mộ đơn sơ dựng một tấm bia đá giản dị. Mặt trước tấm bia ghi dòng chữ Hán:

“Đại Nam Nam Phương Hoàng Hậu chi lăng” (Dịch nghĩa: Lăng của Hoàng hậu Nam Phương nước Đại Nam).

Nắp đậy huyệt chỉ là một tấm bê tông phẳng phiu, có chạm nổi hình thánh giá và một tấm bia chìm đề hàng chữ tiếng Pháp “Sa Majesté Nam Phuong Impératrice d’Annam 1913 – 1963” .

Trên nắp huyệt dựng một tấm bia khác đề rõ hơn một chút “Ici repose l’Impératrice Nam Phuong, née Jeanne Mariette Nguyen Huu Hao, 14.11.1913 – 15.09.1963” (Tại đây an nghỉ Nam Phương Hoàng Hậu, tên gốc Jeanne Mariette Nguyen Huu Hao, 14.11.1913 – 15.09.1963 ).

Có một nghịch lý là, hoàng hậu Nam Phương nổi tiếng là một Đệ nhất phu nhân đẹp nhất nước Nam, nhưng thời gian 5 năm bà làm dân Chabrignac và lăng mộ của bà ở Chabrignac, không mấy người Việt Nam ở Việt Nam hay ở ngay trên đất Pháp biết đến. Trong lúc đó người dân Chabrignac hạt Corrèze thì lại rất tự hào khi quê hương họ đã từng là nơi sinh sống 5 năm cuối đời và là nơi an nghỉ của bà Hoàng hậu đẹp nổi tiếng của Việt Nam.

Với niềm tự hào ấy, người chủ Domaine de la Perche ngày nay đã xây dựng khu nhà cũ và lăng mộ của bà thành một điểm du lịch ở trung tây nước Pháp.

Vậy là, một cuộc đời oanh liệt của hoàng hậu Nam Phương đã khép lại. Những ngày tháng buồn nhiều hơn vui. Tiền tài, của cải, vật chất, danh vọng, sắc đẹp… thoáng qua đi như bong bóng. Nhưng vẻ đẹp tâm hồn đức hạnh của bà lại là điều sống mãi, lưu hương lại mãi, như cái tên bà hoàng hậu Nam Phương- Hương thơm từ Phương Nam…

(Theo caphevannghe)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Duy An  
#2823 Posted : Sunday, November 12, 2017 6:44:24 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,232

Thanks: 207 times
Was thanked: 685 time(s) in 497 post(s)

UserPostedImage

Họa sĩ / nhà văn Tạ Tỵ


Nguyễn Đình Toàn

Tạ Tỵ (1921 – 2004), tên thật là Tạ Văn Tỵ. Là một họa sĩ và còn là một nhà thơ, nhà văn Việt Nam. Ông sinh ngày 3 tháng 5 năm 1921 tại Hà Nội.

Từ khi còn là một sinh viên, Tạ Tỵ đã thành danh khá sớm. Năm 1941, nhờ nhận một giải thưởng tranh, ông được đến thăm kinh đô Huế.

Năm 1943, ông tốt nghiệp tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Và cũng năm này, bức tranh “Mùa Hè” của Tạ Tỵ đoạt một giải thưởng của Salon Unique.

Năm 1946, chiến tranh nổ ra giữa Việt Nam và Pháp, Tạ Tỵ cùng với nhiều hoạ sĩ Việt Nam khác, đã tham gia mặt trận Việt Minh chống Pháp và ông là người thầy dạy mỹ thuật đầu tiên trong Liên khu 3. Tác phẩm “Nhớ Hà Nội” năm 1947 (20- 25 cm) được Tạ Tỵ vẽ trong giai đoạn này.

Tháng 5 năm 1950, Tạ Tỵ rời vùng kháng chiến trở về Hà Nội. Ông viết cho một người bạn rằng “Cách suy nghĩ của tôi không hợp với kháng chiến sau mấy năm chung sống với họ”.

Bắt đầu từ đầu thập niên 1950, ngoài tài vẽ chân dung hí họa, ông còn sáng tác trên nhiều lĩnh vực khác, như: truyện, thơ, kịch bản, bút ký…

Năm 1951, ông triển lãm 60 bức tranh tại Hà Nội.

Sau 1954, ông vào Nam và sống ở Sài Gòn. Ở đây ông đã phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa với cấp bậc sau cùng là Trung tá trong Tổng cục Chiến tranh Chính trị.

Năm 1956, ông triển lãm hơn 60 bức tranh đầu tiên tại Sài Gòn. Năm 1961, ông triển lãm lần thứ hai 60 bức tranh lập thể và trừu tượng cũng ở nơi đó.

Năm 1975, sau thời gian đi tù cải tạo, ông cùng vợ con vượt biển đến Malaysia và đến định cư tại Hoa Kỳ.

Trong thời gian sống tại nước ngoài, Tạ Tỵ lại tiếp tục sáng tác. Năm 2003 sau khi vợ ông qua đời tại Hoa Kỳ, ông quyết định trở về Việt Nam với ước vọng sống những ngày cuối cùng ở quê hương mình.

Vào 10 giờ sáng 24 tháng 8 năm 2004, Tạ Tỵ từ trần tại nhà riêng số 18/8 đường Phan Văn Trị, Quận 5, Sài Gòn, sau một cơn bệnh kéo dài do tuổi già, hưởng thọ 83 tuổi.

Tạ Tỵ là một nghệ sĩ đa tài. Ban đầu ông có vẽ sơn mài, cùng thời kỳ với những họa sĩ như Nguyễn Gia Trí, Lê Phổ, Nguyễn Tư Nghiêm… Nhưng ông được biết đến nhiều hơn cả khi đi theo trường phái tranh lập thể. Theo họa sĩ Trịnh Cung, Tạ Tỵ là người gắn bó và đi đầu trong phong cách hội họa lập thể ở Việt Nam từ thập niên 1940 đến 1960. Sang thập niên 1970, ông chuyển sang phong cách trừu tượng.

Tuy sống trong thời kỳ hai miền Việt Nam chia cắt, nhưng người ta không tìm thấy bóng dáng chiến tranh trong hội họa Tạ Tỵ. Một mảng tranh được công chúng biết đến nhiều là những bức ký họa do Tạ Tỵ vẽ về những nghệ sĩ mà ông quen biết. Những bức chân dung này được giới nghệ sĩ đánh giá cao.

Ngoài hội hoạ, ông còn nổi tiếng trên nhiều lĩnh vực sáng tác: truyện, thơ, kịch bản, bút ký… Trong hơn nửa thế kỷ sáng tác, Tạ Tỵ đã để lại nhiều tác phẩm với các thể loại khác nhau.

Sau đây để cảm thông và tưởng nhớ một nghệ sĩ tài danh, trang TLVH xin giới thiệu bài viết của Nguyễn Đình Toàn nhân ngày giỗ đầu của Tạ Tỵ.

Ngày giỗ đầu Tạ Tỵ


Lại vẫn ông Vũ Ánh nhắc nhở trong máy, mới nhớ ra đã đến ngày giỗ đầu Tạ Tỵ. Vài người quen biết nhau nói rằng, cái chỗ người ta gặp lại nhau thường nhất, không cần hẹn trước, hiện nay là… Peek Family! Rất nhiều văn nghệ sĩ của chúng ta đã nằm lại đây.

Riêng Tạ Tỵ mất tại Việt Nam.

Những người quen biết ông, nhắc đến ông, khi tới viếng người khác ở Peek Family, chứ không phải để tiễn ông ở đấy. Tạ Tỵ từng ở tù cộng sản, vượt biên, tới Mỹ, nơi các con ông đều đã trưởng thành, thành đạt. Nhưng sau khi người bạn đường của ông, bà Tạ Tỵ mất, ông đã quyết định trở về “để chết ở Việt Nam” như lời ông nói.

Mỗi người một hoàn cảnh. Không ai biết rõ ông suy nghĩ những gì. Cứ bề ngoài mà xét, ông đã được toại nguyện.

Nhưng liệu ông có vui chăng?

Hoàn cảnh đất nước chúng ta thật không biết nói làm sao cho đúng. Có lẽ phải dùng đến hai chữ “kinh khủng!” Vì, sống ở trong nước cũng đáng sợ, ra đi cũng đáng sợ, đi rồi lộn trở về lại càng là điều đáng sợ hơn nữa. Biết bao nhiêu mối ràng buộc, liên quan tới người sống, người chết, quá khứ, hiện tại. Một hành động, lời nói của người này, có thể làm chảy máu tâm, trí người khác.

Phần Tạ Tỵ, ông ra về lặng lẽ, chết trong lặng lẽ. Liệu ông có vui chăng? Có lẽ không một người Việt Nam nào lại không mong ước được chết trên đất nước mình. Ðó là ước muốn âm thầm nhưng vô cùng mạnh mẽ. Có thể gọi là ước muốn thiêng liêng nữa.

Nó có cùng với thân xác, lớn lên cùng thân xác và chết đi cùng thân xác, dù người ta có là một người tầm thường nhất trong đời sống, có không làm được gì đáng coi là để lại cho đời. Các cụ kể rằng, xưa, những người vì lý do này lý do khác lưu lạc chân trời , tha phương cầu thực, không về được quê hương, lúc chết cũng muốn được chôn đầu hướng về cố quận.

Ước muốn đó làm cho mọi người ngang hàng với nhau đối với Ðất Nước. Nhân đây cũng xin nhắc lại đôi dòng tiểu sử của ông: Tạ Tỵ sinh năm 1921 tại Hà Nội. Ông tốt nghiệp trường Cao Ðẳng Mỹ Thuật Ðông Dương năm 1943, ngành sơn mài.

Nhưng ông lại nổi tiếng như một họa sĩ lập thể rồi trừu tượng về tranh sơn dầu. Ngoài vẽ ông còn viết văn, làm thơ, phê bình văn học.

Những tác phẩm văn học chính của Tạ Tỵ có thể kể:

– Những Viên Sỏi

– Yêu Và Thù

– Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ

– Phạm Duy Còn Ðó Nỗi Buồn

– Cho Cuộc Ðời

– Bao Giờ

– Ðáy Ðịa Ngục

– Mây Bay

Ðề tựa cho tuyển tập truyện ngắn Những Viên Sỏi của Tạ Tỵ xuất bản lần đầu tiên, nhà văn Nguyễn Hoạt viết: “Tôi nhận thấy trong con người Tạ Tỵ cũng như trong tác phẩm văn chương của anh, cái đáng yêu nhất, đáng quý nhất vẫn là Tình Thương chân thành, một Tình Thương do sự khích động qua xúc cảm mà bật ra, chứ không phải là một thứ văn chương hời hợt, giả tạo.” Xin trích dẫn sau đây vài đoạn trong bài thơ “Ðôi Ta” in trong Tuyển Tập Tạ Tỵ [các trang 612-613]. Ðây là bài thơ Tạ Tỵ đã viết khi ở trong trại tỵ nạn Pulau Bidong:


Chúng ta ngồi đây, trên mỏm đá này,

không thuộc về quê hương nước Việt

Ðã xa rồi, xa thật rồi, những hình bóng thân yêu

Ðã vĩnh viễn chia tay cùng phố phường quen thuộc

Việt Nam đó, bàn chân nào nghiêng nghiêng lối bước

Tà áo nào tha thướt phủ hoàng hôn

Mưa đêm về có là ướt môi hôn

Và sương gió có đùa vui bờ vai nhỏ

Chúng ta ngồi đây, trên mỏm đá này, ôm đầy nỗi nhớ

Theo sóng triều dào dạt tấp vào bờ cát đìu hiu

Từng nỗi buồn vui đã mất

Chúng ta nhìn xác những con tàu phơi mình trên bãi vắng

Như nhìn thấy bao nhiêu kiếp người trôi giạt, nằm lại

Nơi đây, trên ngọn đồi Vĩnh Biệt

Chúng ta nắm tay nhau, những đường gân nổi lên xanh, tím

Hơi nóng truyền lan ấm chiều hoang đảo cô liêu!



Chúng ta ngồi đây, trên mỏm đá này, cho nhau hơi thở

Cho nhau niềm Tin để làm lại cuộc đời

Cho hy vọng trên môi cười héo hắt

Chúng ta xích lại gần nhau, khi nắng chiều sập xuống


Khi không gian lắng đọng, mịt mùng sóng vỗ ngoài khơi

Khi tất cả chìm vào vắng lặng

Chúng ta chẳng còn nhìn rõ nhau

Chỉ nghe tiếng gió thở dài trên sóng tóc

Với nhịp tim ru nhẹ chẳng thành lời…



Thơ ông như thế. Ông ra đi như thế, trở về như thế. Ông muốn được trên quê hương. Ông đã toại nguyện. Liệu ông có vui chăng?

UserPostedImage
Hạ Vi  
#2824 Posted : Wednesday, January 10, 2018 11:57:47 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,405
Location: CỏThơm

Thanks: 4159 times
Was thanked: 10174 time(s) in 2524 post(s)
.

Credit "Sài Gòn Xưa" Facebook:
https://www.facebook.com/oldsaigon75


UserPostedImage


UserPostedImage


Giáo sư Lê Xuân Khoa là một “chứng nhân” của nền giáo dục đại học trước 1975, vì ông từng giữ những chức vụ quan trọng như giáo sư triết học phương Đông tại ĐH Văn khoa Sài Gòn, thứ trưởng Bộ Giáo dục (1965) và phó viện trưởng (như phó hiệu trưởng đại học ngày nay) của Viện Đại học Sài Gòn (1974-1975). Ông định cư ở Mĩ năm 1975, trở thành giáo sư thỉnh giảng tại trường Cao học Nghiên cứu Quốc tế thuộc Ðại học Johns Hopkins. Nay thì ông đã nghỉ hưu.

Khi được một thành viên trong Ban chủ biên Kỷ yếu Humboldt 200, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Xanh, mời viết một bài về Đại học Miền Nam cho tập Kỷ yếu đánh dấu 200 năm Đại học Humboldt, tôi rất vui vì có cơ hội tham gia vào một công trình có ý nghĩa của một tập hợp trí thức trong và ngoài nước quan tâm đến sứ mệnh giáo dục Đại học ở Việt Nam. Tuy nhiên, tôi đã rất ngần ngại nhận lời, không chỉ vì tôi đã rời xa ngành giáo dục Việt Nam trên 35 năm mà còn lo ngại ký ức của tôi không còn nhớ nhiều về tổ chức và hoạch định chính sách cho nền giáo dục Đại học Miền Nam trước 1975. Quả thật, ngoài 15 năm giảng dạy một môn học rất xa thực tế là “Triết học Upanishad” và “Thiền học Việt Nam” ở Đại học Sài-gòn (sau này có dạy thêm “Văn minh Việt Nam” ở Đại học Đà-lạt,) tôi chỉ tham gia vào bộ phận điều hành ở Bộ Giáo dục, Viện Đại học Vạn Hạnh và Viện Đại học Sài-gòn trong những thời gian rất ngắn, từ năm tháng tới một năm. Tôi cũng ít có dịp hợp tác trực tiếp với những nhà lãnh đạo Đại học, trừ bốn người là cố Giáo sư Nguyễn Quang Trình (ĐH Sài-gòn), cố Linh mục Nguyễn Văn Lập (ĐH Đà-lạt), Thượng Tọa Thích Minh Châu (ĐH Vạn Hạnh) và cố Bác sĩ Nguyễn Ngọc Huy (ĐH Sài-gòn). Nhưng tôi đã được TS Nguyễn Xuân Xanh thuyết phục khi anh nhắc nhở rằng một bài viết về Đại học miền Nam của một “người trong cuộc”, dù ít dù nhiều cũng là điều không thể thiếu trong tập kỷ yếu Humboldt 200, trong đó có phần lịch sử Đại học Việt Nam từ thời cổ, triết lý và quá trình phát triển của nó trong 30 năm chiến tranh (1945-1975) và 35 năm sau thống nhất, đặc biệt là những vấn đề của hiện tại và nhu cầu “đổi mới để nhanh chóng vươn lên với thế giới”.

Vì đã có nhiều tác giả viết về lịch sử, triết lý và hệ thống tổ chức của nền giáo dục miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) từ Tiểu học tới Đại học, tôi thấy không cần thiết phải mô tả lại hệ thống giáo dục này. Tôi sẽ chỉ trình bày một số nhận xét và kinh nghiệm riêng của tôi về chính sách và điều kiện sinh hoạt Đại học trong khung cảnh chung của nền giáo dục ở miền Nam trước 1975, sau khi đã kiểm lại một số dữ kiện với hai bạn đồng nghiệp cũ là Giáo sư Nguyễn Thế Anh và Giáo sư Lê Thanh Minh Châu, cả hai đều từng giữ chức vụ Viện trưởng Viện Đại học Huế. Tuyệt nhiên đây không phải là một bài nghiên cứu hay luận thuyết mà chỉ là một bài ghi nhận một số sự kiện đáng được lưu ý trong lịch sử ngắn ngủi 20 năm của nền giáo dục đại học ở miền Nam, từ ngày đất nước chia đôi đến ngày thống nhất. Do sự suy giảm của trí nhớ, tôi có thể đã bỏ sót hay không nhớ đích xác một số sự kiện diễn ra trên dưới 50 năm về trước.

Từ trung ương tập quyền đến tự trị đại học

Nói đến giáo dục Đại học hiện đại không thể không nói đến quyền tự trị của Đại học. Đó là xu thế chung của đại học ở các nước dân chủ như một điều kiện sine qua non cho sự phát triển của con người và xã hội. Điều 10 trong Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa năm 1967 ghi rõ: “Nền giáo dục Đại học được tự trị”. Điều này phản ánh tinh thần khai phóng trong triết lý giáo dục miền Nam được xác định trong Đại hội giáo dục lần thứ nhất năm 1958, với ba nguyên tắc căn bản là “nhân bản, dân tộc, khai phóng”. Đại hội này được tổ chức với sự tham gia của đại diện giáo chức các cấp trên toàn quốc cùng một số trí thức độc lập bên cạnh các đại diện của Bộ Giáo dục. Mọi quyết định của hội nghị đều là kết quả của những cuộc thảo luận và biểu quyết hoàn toàn tự do không có bất cứ sự can thiệp nào của chính quyền. Tinh thần khai phóng ở Đại học được thể hiện rõ rệt nhất trong việc tiếp thu những kiến thức khoa học tiến bộ và những giá trị văn hóa nhân bản của thế giới nhằm hiện đại hóa đất nước và phát triển toàn diện con người. Điểm này sẽ được đề cập chi tiết hơn ở một đề mục dưới đây.

Thật ra cho đến năm 1975 Đại học miền Nam vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt tình trạng chuyển tiếp từ truyền thống trí thức hàn lâm của Đại học Pháp sang truyền thống thực dụng của Đại học Mỹ. Năm 1955, trước khi Pháp hoàn tất việc chuyển giao tất cả các cơ sở công quyền cho Việt Nam, hai nước đã ký kết một bản thỏa hiệp có hiệu lực mười năm về hợp tác và trao đổi văn hóa. Lý do là chính phủ Pháp muốn duy trì sự hiện diện và ảnh hưởng của văn hóa Pháp ở Việt Nam trong lâu dài, trong khi chính phủ mới ở miền Nam cũng cần phát triển giáo dục từ một nền tảng đã có sẵn, nhất là vì các nhà lãnh đạo chính quyền và trí thức đại học đều được đào tạo bởi nền giáo dục Pháp. Trong mười năm đó, chính phủ Pháp cấp học bổng cho nhiều giáo sư trung học sang Pháp tu nghiệp ngắn hạn hay tiếp tục học để lấy bằng tiến sĩ. Nhưng dần dần ảnh hưởng Pháp mờ nhạt đi kể từ khi Việt Nam bắt đầu gửi công chức và sinh viên sang Hoa Kỳ, Úc, Tân-Tây-Lan và các nước khác vào những năm cuối thập kỷ 1950.


UserPostedImage


UserPostedImage



Truyền thống giáo dục cổ điển của Đại học Pháp bắt nguồn từ bản Hiến Pháp năm 1791 (hai năm sau Cách Mạng 1789) xác định vai trò của quốc gia trong giáo dục, bảo đảm mọi công dân có cơ hội đồng đều về giáo dục ở mọi cấp và mọi ngành. Những nghị định năm 1806 và 1808 dưới thời Napoléon I đặt toàn thể hệ thống giáo dục từ tiểu học tới đại học dưới sự điều hành và kiểm soát của Bộ Quốc gia Giáo dục. Chính sách trung ương hóa nền giáo dục toàn quốc có mục đích kiện toàn nền thống nhất của quốc gia và tinh thần đoàn kết trong nhân dân Pháp. Định chế toàn quốc ấy đã tồn tại cho đến tận ngày nay, nhưng qua nhiều lần cải cách, chức phận điều hành và kiểm soát của Bộ Giáo dục đã được nới lỏng để con người được phát triển đầy đủ và tự do hơn. Đặc biệt ở cấp Đại học, sự kiểm soát không nhắm vào các hoạt động hàn lâm mà chú trọng đến sự hợp lệ trong các thủ tục điều hành ngân sách và nhân viên.

Chịu ảnh hưởng truyền thống cổ điển của Pháp, giáo dục đại học ở miền Nam không được tự trị về cả ba phương diện ngân sách, nhân viên và học vụ. Quả thật các Viện Đại học Sài-gòn, Huế, Cần Thơ, Đại học Bách Khoa Thủ Đức, các trường Cao đẳng và Đại học Cộng đồng của chính phủ đều được đặt dưới quyền điều hành của Bộ Giáo Dục. Các quyết định quan trọng như tuyển dụng hay thăng ngạch trật của giáo sư, mua sắm vật liệu hay chi phí xây dựng đều phải trình cho Bộ trưởng duyệt ký. Riêng chức vụ Viện trưởng là do Tổng thống bổ nhiệm, nhưng dưới thời Đệ nhị Cộng hoà thì việc bổ nhiệm Viện trưởng phải được Quốc hội thông qua sau một buổi điều trần về đường lối và tổ chức Đại học. Tiếp theo đó, Thủ tướng bổ nhiệm các Phó Viện trưởng theo đề nghị của Viện trưởng nhưng không cần phải thông qua Quốc hội. Chữ ký của Viện trưởng trên các văn bằng Đại học luôn luôn theo sau dòng chữ “Thừa ủy nhiệm Bộ trưởng Giáo dục”. Các khoản viện trợ từ bên ngoài cho phảt triển Đại học cũng phải qua ngân sách của Bộ Giáo dục ngoại trừ dưới hình thức hiện vật như sách vở, dụng cụ, máy móc, hay giáo sư thỉnh giảng (visiting professors) không do chính phủ Việt Nam trả lương. Nguồn viện trợ thường là các chương trình ngoại viện của các chính phủ Pháp, Mỹ, Úc, Tân-Tây-Lan . . . Về học vụ, mặc dù nội dung chương trình giảng dạy thuộc thẩm quyền của Đại học, việc tổ chức các phân khoa, thi cử và văn bằng cùng với mọi sáng kiến thay đổi hay dự án mới đều phải được sự chấp thuận của Bộ Giáo dục. Tóm lại, Bộ Giáo Dục giữ vai trò điều hợp tổng quát các đại học để thống nhất về mặt triết lý giáo dục, quản trị nhân viên và tài chánh (trừ Học Viện Quốc Gia Hành Chánh huấn luyện công chức là trực thuộc phủ Tổng Thống).[1]

Công bằng mà nói thì truyền thống đại học của Pháp không hẳn là một di sản xấu khiến cho đại học Việt Nam bị yếu kém về phẩm chất, như nhận xét của hai tác giả Thomas Vallely và Ben Wilkinson trong bản phúc trình của Đại học Harvard năm 2009. Nhận xét này đã bị Giáo sư Tạ Văn Tài phản bác rất đúng khi ông trả lời cuộc phỏng vấn của Đài Á châu Tự do, nhấn mạnh rằng những giáo sư đại học Việt Nam do Pháp đào tạo đều là những trí thức ưu tú không thua kém gì những đồng nghiệp người Pháp hay ngoại quốc khác. Họ đã xây dựng vững chắc nền đại học miền Nam từ 1954 và hầu hết sinh viên của họ khi ra nước ngoài đi làm hay học lấy bằng cấp cao hơn cũng đều là những nhân tài xuất sắc.[2] Có bậc thày không chỉ có công đào tạo ít nhất là hai thế hệ sinh viên mà còn là tấm gương sáng về đạo đức nghề nghiệp. Chẳng hạn, Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, người có công gây dựng Đại học Văn Khoa từ những ngày đầu ở Hà Nội vào năm 1949-1950; bên Y khoa không mấy ai không biết đến Giáo sư Phạm Biểu Tâm là một vị thày thuốc điển hình của truyền thống Hippocrate.

Giáo sư Phạm Biểu Tâm đang tiếp chuyện với sinh viên Y khoa về việc ông bị bắt trong biến cố 1963

Ở miền Nam, khi ghi trong Hiến pháp năm 1967 là “Nền giáo dục Đại học được tự trị,” các nhà làm chính sách giáo dục đã xác nhận sự cần thiết phải hội nhập với thế giới dân chủ, nhất là theo mô hình của Mỹ. Nhưng việc trao cho đại học quyền tự trị, nhất là về quản trị nhân viên và sử dụng ngân sách, từ những định chế lâu đời như Bộ Giáo dục, Tổng Nha Công vụ và Tổng Nha Ngân sách đòi hỏi những sự thay đổi hay điều chỉnh thích hợp về luật lệ và thủ tục, do đó cần phải có thời gian thực hiện theo một tiến trình chuyển tiếp.

Trụ sở Viện Đại Học Sài Gòn cạnh bên Hồ con rùa (góc đường Duy Tân – Trần Quý Cáp). Trước 1975, các trường ĐH công lập như Luật khoa, Văn khoa, Kiến trúc, Dược khoa và Y khoa v.v… đều là các Phân khoa thuộc Viện ĐH Sài Gòn. (Hình ảnh và ghi chú trích từ “flickrer” manhhai)

Dù sao trong tiến trình tự trị hóa, Đại học miền Nam đã được hưởng nhiều ưu đãi. Các đề nghị của Hội đồng đại học về nhân viên hay ngân sách thường được chính phủ chấp thuận mau chóng ngoại trừ những quyết định thật quan trọng. Do sự tín nhiệm sẵn có đối với lãnh đạo đại học, sự chấp thuận của chính phủ được căn cứ vào sự hợp lệ về hành chánh và khả năng ngân sách hơn là xét về nhu cầu và giá trị của đề nghị. Về mặt học vụ, sự chấp thuận của Bộ Giáo dục lại càng có tính hình thức hơn nữa vì không khi nào Bộ ra chỉ thị hay can thiệp vào việc ấn định nội dung các môn học, thể lệ thi cử và chấm thi, các công tác nghiên cứu và giảng dạy, miễn là không trái ngược với ba nguyên tắc căn bản là nhân bản, dân tộc và khai phóng. Chính sách uyển chuyển này đối với lãnh đạo đại học đưa đến thái độ mặc nhiên chấp thuận cho đại học thử nghiệm sáng kiến mới để rốt cuộc chính thức công nhận kết quả của thử nghiệm. Một thí dụ: khoảng giữa năm 1965, tôi được biệt phái từ Đại học Văn khoa Sài-gòn sang Viện Đại học Vạn Hạnh trong một năm để giúp tổ chức và soạn thảo chương trình cử nhân cho Phân khoa Văn học và Khoa học Nhân văn. Sau khi hội ý với Thượng Tọa Viện trưởng Thích Minh Châu và được sự đồng ý của Thượng Tọa, tôi bắt đầu soạn thảo các môn học theo hệ thống tín chỉ (credits) thay thế cho các chứng chỉ cử nhân nhưng vẫn duy trì chế độ niên khóa. Tôi trở về Đại học Sài-gòn khi xong công việc và được biết dự án cải cách dung hòa cũ-mới này sau đó được Hội đồng Viện hoàn chỉnh và lần lượt áp dụng vào các Phân khoa khác. Điều đáng chú ý là khi Viện ĐH Vạn Hạnh trình dự án này lên Bộ Giáo dục xin ý kiến, Bộ không chính thức chấp thuận hay bác bỏ, nhưng các văn bằng cử nhân của Đại học Vạn Hạnh đều được Bộ công nhận. Những buổi lễ phát bằng tốt nghiệp cho sinh viên luôn luôn có sự hiện diện của Bộ trưởng Giáo dục. Từ đầu thập kỷ 1970, hệ thống tín chỉ chính thức được áp dụng ở các Đại học Cộng đồng và Đại học Bách khoa Thủ đức của chính phủ.

Sự nảy nở các đại học cộng đồng (hay đại học sơ cấp hai năm) từ 1971 đáp ứng nhu cầu thực tế về nhân lực của địa phương và thể hiện tinh thần dân chủ vì có sự tham gia trực tiếp về tài chính và quản lý của địa phương đó. Sự thành lập Đại học Bách Khoa Thủ Đức năm 1973 được phỏng theo mô hình California Polytechnic State University đích thực là một đại học đa khoa, không chỉ gồm những phân khoa thiên về nghiên cứu mà bao gồm cả các ngành thực tiễn như nông nghiệp, kỹ thuật cơ khí, điện tử . . . là những ngành cần thiết cho nền kinh tế tại Đô thành và các tỉnh lân cận. Một đặc điểm trong chương trình đại học cộng đồng hồi đó là chương trình giáo dục bổ túc dành cho những sinh viên do hoàn cảnh chiến tranh nên thiếu căn bản vững chắc để theo các lớp đại học. Chương trình này cũng nhắm vào những quân nhân giải ngũ, nhất là khi đất nước hòa bình, cần được cập nhật và bổ túc kiến thức sau một thời gian bị gián đoạn việc học. Như vậy, việc cải cách giáo dục đại học theo xu hướng thực dụng và dân chủ hóa đã thật sự bắt đầu từ năm 1971.

Tự do học thuật và phát triển con người

Mặc dù một phái đoàn của Đại học Michigan đã đến Sài-gòn từ năm 1954 để giúp cải tổ chương trình đào tạo cán bộ ở Học viện Quốc gia Hành chánh, ảnh hưởng giáo dục đại học Mỹ chỉ bắt đầu ba bốn năm sau và đến những năm đầu thập kỷ 1970 mới có sự tăng tốc trong tiến trình đổi mới, với sự nâng cấp một số trường Cao đẳng Chuyên nghiệp, sự ra đời của một loạt Đại học Cộng đồng và của trường Đại học Bách Khoa Thủ Đức. Thế hệ trí thức theo truyền thống cũ của Pháp cũng ý thức được nhu cầu đổi mới và lợi ích của tự trị đại học trong công cuộc phát triển xứ sở nên cũng sẵn sàng chuyển hướng theo triết lý giáo dục của Mỹ. Tuy nhiên, mọi nỗ lực dân chủ hóa và thực tiễn hóa giáo dục đại học không có đủ thời gian thành tựu khi chế độ Cộng Hòa ở miền Nam sụp đổ năm 1975.

Tự trị học vụ trong qui chế tự trị đại học thường bị lẫn lộn với một chức năng liên hệ là tự do nghiên cứu và giảng dạy nay đã trở thành một truyền thống đại học ở các nước dân chủ. Đến đây, cần phải nhắc đến triết lý giáo dục của Đại học Humboldt nhấn mạnh vào sứ mệnh của trí thức đại học là phát triển toàn diện con người bằng khoa học và văn hóa, và điều kiện của phát triển là tự do nghiên cứu, sáng tạo và giảng dạy. Phát triển con người bằng khoa học là tinh thần khai phóng, phát triển con người bằng văn hóa là tinh thần nhân bản. Đó là hai nguyên tắc chính yếu đã được đưa vào triết lý giáo dục các cấp ở miền Nam cùng với nguyên tắc thứ ba là tinh thần dân tộc, theo thứ tự “nhân bản, dân tộc, khai phóng,” phù hợp với nhu cầu và sứ mệnh của một quốc gia đang mở mang muốn vươn lên và hội nhập thành công trong cộng đồng thế giới.

Giáo dục nhân bản lấy con người làm cứu cánh nên chú trọng vào việc xây dựng đạo làm người, phát triển mầm mống tốt ở con người, phục vụ nhân sinh để tiến đến một xã hội hoàn thiện, đúng như đã được định nghĩa trong sách Đại học của Nho giáo (Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện). Đạo Nho có những giáo điều phong kiến lỗi thời nhưng những nguyên tố để đào tạo mẫu người lý tưởng như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín đều có giá trị phổ quát và vĩnh viễn. Người “quân tử” hay “kẻ sĩ” thời phong kiến khác với người “trí thức” thời dân chủ về trách nhiệm cụ thể, nhưng hoàn toàn giống nhau về tư cách đạo đức và tinh thần trách nhiệm. Giáo dục dân tộc nhằm bồi dưỡng tinh thần hiếu hòa nhưng nhiệt tình yêu nước của giống nòi Hồng Lạc qua hơn hai nghìn năm lịch sử, bảo tồn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Tinh thần dân tộc được thể hiện ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng Ba 1945 và trao trả độc lập cho chính quyền Bảo Đại/Trần Trọng Kim: nền giáo dục Việt Nam lập tức được Việt hóa với chương trình Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Giáo dục khai phóng tiếp thu những tri thức khoa học, kỹ thuật và tinh hoa văn hóa của các nước Tây phương một cách không định kiến. Rút kinh nghiệm mất nước vì chính sách tự cô lập với thế giới của vua chúa nhà Nguyễn, giáo dục khai phóng cũng du nhập những tư tưởng mới về triết học và chính trị, chuẩn bị cho học sinh sau khi tốt nghiệp tiểu học hay trung học có điều kiện trở thành những công dân hữu ích cho xã hội.

Tinh thần khai phóng được thể hiện đầy đủ nhất ở Đại học qua sự thành lập các trường đại học mới, bổ sung tính chất nghiên cứu hàn lâm bằng khuynh hướng thực dụng để gia tăng khả năng phát triển kinh tế và công nghệ hóa miền Nam. Trong hai năm đầu, miền Nam mở thêm hai đại học, một công là Đại học Huế và một tư là Đại học Đà-lạt, cùng thành lập trong năm 1957; từ 1964 đến 1972 có thêm một đại học công là Đại học Cần Thơ (1966) và năm đại học tư là ĐH Vạn Hạnh (1964), ĐH Phương Nam (1967), ĐH Hòa Hảo (1970), ĐH Cao Đài (1971) và ĐH Minh Đức (1972). Sự gia tăng con số đại học tư—tổng cộng sáu đại học tư đều do bốn tôn giáo chính ở Việt Nam thành lập—cho thấy một đặc tính dân chủ ở miền Nam, mặc dù sự phát triển tự do này có vẻ biểu hiện nhu cầu xác lập vai trò và ảnh hưởng của mỗi tôn giáo trong xã hội hơn là nhu cầu thật sự về giáo dục đại học. Một đặc điểm khác của tinh thần khai phóng là quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo và giảng dạy của các giáo sư. Các chứng chỉ, văn bằng và các môn học vẫn phải được Bộ Giáo dục duyệt y, nhưng nội dung các môn học và phương pháp giảng dạy đều do mỗi giáo sư tự ý quyết định.

Đáng tiếc là do tình hình chiến tranh, các hoạt động tự do học thuật này không phát triển được đến mức độ cao như mong đợi. Quả thật các giáo sư Đại học miền Nam được tự do nghiên cứu và giảng dạy, nhưng họ lại thiếu điều kiện để phát huy khả năng của họ. Trước hết là sự thừa kế truyền thống đại học cũ của Pháp từ thời Đại học Đông Dương. Trong những năm đầu chuyển tiếp từ 1954, Đại học Sài-gòn còn giảng dạy bằng tiếng Pháp ở các Phân khoa, trừ trường Văn Khoa, Cao đẳng Sư Phạm. (Ở trường Luật, nhờ những nỗ lực đặc biệt của GS Khoa trưởng Vũ Quốc Thúc và các đồng nghiệp của ông như Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Cao Hách, việc giảng dạy bằng tiếng Việt đã thực hiện được từ niên khóa 1955-56.)[3] Ngay cả khi đã hoàn toàn Việt hóa, Đại học miền Nam vẫn theo mô hình cũ của Pháp về tổ chức học theo năm và thói quen giảng bài hay phát bài cho sinh viên học thuộc lòng, trừ một số bộ môn khoa học như Toán và Vật lý. Giáo sư ít có những công trình nghiên cứu riêng, giữ nguyên bài giảng hàng năm hoặc chỉ thêm bớt đôi chút, không hoặc ít hướng dẫn cho sinh viên đọc sách tham khảo và thảo luận trong lớp học. Điểm bài thi cuối năm cao hay thấp phần lớn là tùy theo mức độ thuộc bài của sinh viên. Cho đến những năm cuối thập kỷ 1960, truyền thống cũ mới bắt đầu được thay đổi do sự trở về nước của một số giáo sư sau thời gian du học hay tu nghiệp ở những quốc gia ngoài hệ thống của Pháp như Anh, Đức, Úc, Tân-Tây-Lan, Nhật và Hoa Kỳ. Thật vậy, số người đậu tiến sĩ ở những nước này về Việt Nam dạy học gia tăng từ những năm giữa thập kỷ 1960, nhưng trách nhiệm lãnh đạo về học vụ vẫn ở trong tay thế hệ chịu ảnh hưởng của Pháp, vừa có thâm niên vừa chiếm đa số. Hệ thống giáo dục Đại học vì thế vẫn còn khá bảo thủ. Sự kéo dài tình trạng chuyển tiếp được thấy rõ ở Đại học Y khoa vào những năm cuối cùng: thành phần giảng huấn gồm các giáo sư Việt, Pháp và Mỹ, nhưng một số giáo sư người Việt khi giảng dạy vẫn pha lẫn tiếng Pháp và các bài giảng được viết bằng Pháp văn, đem đánh máy và in ronéo cho sinh viên học thuộc lòng để làm bài thi cuối năm.


(còn tiếp)

Edited by user Wednesday, January 10, 2018 11:58:21 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Hạ Vi  
#2825 Posted : Wednesday, January 10, 2018 11:59:34 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,405
Location: CỏThơm

Thanks: 4159 times
Was thanked: 10174 time(s) in 2524 post(s)
.

Trường Sư phạm, thuộc Viện ĐH Sài gòn


UserPostedImage


Trong thời gian chuyển đổi từ ảnh hưởng của Pháp sang ảnh hưởng của Mỹ, một số giáo sư do Pháp đào tạo được đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ và khi về nước đã cập nhật kiến thức và phương pháp mới vào việc giảng dạy. Mâu thuẫn giữa hai khuynh hướng mới và cũ tan biến mau chóng ngay cả ở Y, Dược khoa và sinh viên rất thích thú được hướng dẫn tra cứu thêm những sách báo y học và khoa học của Mỹ. Bên Luật khoa, các giáo sư trẻ mới du học về đưa ngay vào học trình một số môn mới trong hệ thống đại học Mỹ như kinh toán học, thống kê, phương pháp các khoa học xã hội, chính trị, bang giao quốc tế. Từ nay, thay vì chỉ ghi chép bài giảng của thày và học thuộc lòng để cuối năm sẽ viết ra y hệt (cours magistral), sinh viên đã có dịp áp dụng các phương pháp tự tìm kiếm tài liệu nghiên cứu, do đó tập được thói quen tự học suốt đời, và có dịp tranh luận trong lớp để huấn luyện óc phê bình, sáng tạo. Bên Văn Khoa thì bất kể là giáo sư xuất thân từ đại học Pháp hay Mỹ, đều “trăm hoa đua nở”, tự do giới thiệu và phê bình các hệ tư tưởng triết học, các khuynh hướng văn học, nghệ thuật, tức là rất sát với trào lưu quốc tế. Thí dụ, hồi đó triết học hiện sinh (existentialisme) của Kierkegaard, Heidegger, Sartre và Merleau-Ponty được thảo luận sôi nổi nhất, và những tiểu thuyết hiện sinh của Albert Camus hay Simone de Beauvoir là những tác phẩm thời thượng. Lại có giáo sư không ngần ngại lập ra trường phái mới như Giáo sư Linh mục Kim Định viết cả ngàn trang sách về tư tưởng “Việt Nho”. Các giáo sư trong Tạp chí Đại học thì nghiên cứu và phê phán không thiếu vấn đề gì, từ triết học, văn học đến chính trị. `Đại học Văn Khoa còn có một sồ giáo sư là Thượng Tọa và Linh Mục, như TT Thích Mãn Giác, TT Thích Quảng Liên, LM Trần Thái Đỉnh, LM Hoàng Sĩ Quý. Nói chung, dù xuất thân từ bất cứ đại học nào và thuộc khuynh hướng nào, các giáo sư văn khoa và các ngành khoa học nhân văn đều áp dụng phương châm giáo dục của Kant là “không chỉ giảng dạy cho sinh viên các tư tưởng mà dạy cho họ biết tư tưởng.”

Một câu chuyện đáng ghi nhớ về tự do tư tưởng của trí thức Đại học miền Nam là vào năm 1965, ngay sau khi chính phủ quân nhân cầm đầu bởi Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ được thành lập. Khi đó, Giáo sư Nguyễn Văn Bông, Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh, giao trách nhiệm đọc bài khai giảng niên khóa toàn trường cho Giáo sư Tạ Văn Tài, một trí thức trẻ mới ở Mỹ về, xác nhận rằng ông có quyền tự do phát biểu. Giáo sư Tài đã trình bày tóm lược bản luận án tiến sĩ của ông ở Mỹ về vai trò của quân đội tại các nước Đông Nam Á, phân tích ưu khuyết điểm của chế độ quân nhân ở những nước láng giềng như Thái Lan, Miến Điện, Indonesia, nhấn mạnh đến quyết định sáng suốt của một số chính quyền quân đội đã mau mắn trao trả quyền lực cho nhân dân qua bầu cử, tránh được những cuộc đấu tranh chính trị gây đau thương chia rẽ trong cộng đồng dân tộc và kìm hãm sự phát triển của đất nước. Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ cử Đại tá Dương Hồng Tuân đến tham dự và lấy bài giảng về làm tờ trình cho Hội Đồng Quân Lực. Sau đó, Tổng Thư ký Hội đồng Quân lực là Trung tướng Phạm Xuân Chiểu nhận trách nhiệm nghiên cứu bản luận án của Giáo sư Tài nhưng không thấy công bố kết quả hay phản ứng của Hội Đồng Quân Lực như thế nào.

Ngoài truyền thống bảo thủ của Pháp, một lý do quan trọng khác làm chậm sự phát triển đại học là tình hình kinh tế thời chiến và nạn thiếu giáo sư so với tỉ lệ gia tăng của sinh viên và số đại học được mở thêm khiến nhiều giáo sư phải nhận dạy ở nhiều trường, có khi còn kiêm nhiệm chức vụ khác nữa. Mỗi lần đi dạy xa như từ Sài-gòn ra Huế hay Đà-lạt hay Cần Thơ, giáo sư cần phải ở lại địa phương trung bình hai, ba ngày. Công việc nghiên cứu chuyên môn lại càng bị hạn chế, sáng kiến và phương pháp giảng dạy mới cũng không được phổ biến khi những người có hiểu biết và đầu óc đổi mới lại chính là những người được giao phó thêm chức vụ mà công việc hàng ngày thường chiếm nhiều thì giờ hơn là dạy học. Riêng cá nhân tôi, trước khi được bổ nhiệm Phó Viện trưởng Đại học Sài-gòn đặc trách nghiên cứu và phát triển năm 1974, tôi đã kiêm nhiệm hai chức vụ trong khu vực tư là Giám đốc Nhà Xuất bản Hiện Đại do Hội Việt-Mỹ bảo trợ và Phó Tổng Giám đốc của Mandarin Garment Co., một công ty hợp tác đầu tư Việt Nam-Hong Kong-Tây Đức, trong khi vẫn giảng dạy ở Đại học Văn Khoa. Dự án cải cách và phát triển Đại học Sài-gòn của tôi bị đình trệ vì phải huy động giáo sư và sinh viên tham gia công tác cứu trợ khẩn cấp đồng bào di tản vì chiến tranh từ các tỉnh miền Trung.

Nhà Xuất bản Hiện Đại là một dự án văn hóa có những đóng góp không nhỏ cho những hoạt động tự do, khai phóng của Đại học. Vì sự gia tăng cường độ của chiến tranh, công cuộc phát triển Đại học gặp phải nhiều khó khăn, đặc biệt trong việc gửi sinh viên đi du học nước ngoài. Bộ Giáo dục và Viện Đại học đã phải mời một số giáo sư ngoại quốc tới giảng dạy nhưng không đáp ứng đủ nhu cầu. Khi làm Đổng lý Văn phòng tại Bộ Văn hóa Giáo dục năm 1965, tôi đã có dự án du nhập trí tuệ bằng việc mời giáo sư nước ngoài và dịch sách nghiên cứu để giải quyết nạn thiếu giáo sư và mở rộng kiến thức của sinh viên. Khi nói chuyện với các cơ quan viện trợ văn hóa nước ngoài, khẩu hiệu “We want to bring the brain in” của tôi có sức thuyết phục nhưng chưa kịp làm được gì thì chính quyền dân sự Phan Huy Quát đã phải ra đi. Năm 1971, cùng với sự nở rộ của các đại học tư và đại học cộng đồng kiểu Mỹ, tôi có cơ hội quan hệ với Hội đồng Quản trị Hội Việt-Mỹ và đề nghị chương trình dịch tài liệu giáo khoa của Mỹ cho giáo sư và sinh viên đại học Việt Nam bên cạnh chương trình phổ biến kiến thức phổ thông về văn học, khoa học và nghệ thuật mà Hội Việt-Mỹ đang thực hiện. Dự án được chấp thuận, Hội Việt-Mỹ phụ trách điều đình với các nhà xuất bản ở Mỹ về quyền được dịch sách và NXB Hiện Đại ra đời với sự hợp tác của nhiều giáo sư và học giả có uy tín cho đến những ngày cuối tháng Tư 1975.

Trong bốn năm hoạt động, NXB Hiện Đại đã hoàn thành được 45 tác phẩm trong đó 30 cuốn là sách nghiên cứu về kinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật. Điển hình là : Căn bản Chính trị của Phát triển Kinh tế của Robert T. Holt và John E. Turner, Vũ Quốc Thúc dịch; Sự Biến đổi của Quốc tế Công pháp của W. Friedman, Tạ Văn Tài dịch; Chính trị và Bang giao Quốc tế của Hans J. Morgenthau, một nhóm chuyên viên dịch, Nguyễn Mạnh Hùng chủ biên; Thế Quân bình Thế giới và Tương lai của Á châu của Robert Scalapino và William Griffith, Phạm Thiên Hùng dịch; Á châu và các Đại cường của Robert A. Scalapino, Nhóm Toàn Hưng dịch; Văn minh Dân chủ của Leslie Lipson, Vũ Trọng Cảnh dịch; Nguyên tắc Quản trị: Phân tích các Chức vụ Quản trị của Harold Koontz và Cyril O’Donnell, Trần Lương Ngọc và Cung Thúc Tiến dịch; Xã hội học của Joseph Fichter, Trần Văn Đĩnh dịch; Khía cạnh Kinh tế của Phát triển Nông nghiệp của John W. Mellor, Nguyễn Đăng Hải dịch; Năng lượng và Thế giới Ngày mai của Hal Hellman, Ngô Đình Long dịch; Ký giả Chuyên nghiệp của John Hohenberg, Lê Thái Bằng và Lê Đình Điểu dịch. Đáng chú ý là bộ Kinh tế học của Paul Samuelson, người được giải Nobel Kinh tế năm 1970, Cung Thúc Tiến, Nguyễn Minh Hải và Trần Lương Ngọc dịch, Nguyễn Cao Hách hiệu đính, mới in xong tập I (700 trang) khoảng giữa tháng Tư 1975, chưa kịp bán. Năm 1990, khi tôi và phái đoàn SEARAC gặp cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch ở New York để vận động việc định cư cựu tù nhân cải tạo ở Mỹ, nhân dịp đề cập đến kế họach đổi mới của Nhà nước, ông Thạch báo tin vui là bộ sách của Samuelson đang được dịch sang tiếng Việt. Tôi kể lại chuyện năm 1975 NXB Hiện Đại để lại hai nghìn bản dịch cuốn sách này còn thơm mùi giấy mới và nói thêm: “Chắc lúc đó các anh đã cho đốt hết rồi.” Ông Thạch trả lời bằng một nụ cuời xòa.

Ngoài chương trình dịch sách của các tác giả người Mỹ, NXB Hiện Đại cũng xuất bản sách dịch từ Pháp văn và sách viết bằng tiếng Việt của tác giả người Việt. Cuốn sách tiếng Pháp làm sôi nổi dư luận thế giới hồi đó là cuốn Ni Marx, Ni Jesus của triết gia Pháp nổi tiếng Jean-François Revel được Nguyễn Khắc Nhân dịch sang tiếng Việt là Không theo Marx, không theo Jesus. Ba cuốn sách viết bằng tiếng Việt do Hiện Đại xuất bản là Từ điển Quản trị và Hành chánh của Bùi Quang Khánh và Vũ Quốc Thông, William Faulkner: Cuộc đời và Tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ và Nguyễn Văn Nha, và Đặc khảo về Dân nhạc ở Việt Nam của Phạm Duy.


UserPostedImage


UserPostedImage



Tại mỗi phân khoa đại học, các giáo sư cũng đưa những công trình nghiên cứu chuyên môn của mình vào những ấn phẩm của phân khoa, như Y Dược có tạp chí Acta Medica Vietnamica, trường Luật có Luật học Kinh tế Tạp chí, Học Viện Quốc gia Hành chánh có Tập san Nghiên cứu Hành chánh, Văn Khoa Sài-gòn có tập san Nghiên cứu Sử Địa, Đại học Huế có tạp chí Đại Học do một nhóm giáo sư phụ trách với sự hợp tác của nhiều giáo sư ở Sài-gòn. Về bên Khoa học, tôi chỉ nhớ có cuốn sách nổi tiếng được ngoại quốc biết đến nhiều là cuốn Cây Cỏ Miền Nam của GS Phạm Hoàng Hộ. Tôi không thể kể ra hết danh tính của những giáo sư đã có công đóng góp vào sự nghiệp phát triển đại học miền Nam, nhưng có thể khẳng định một cách tổng quát là những người trong ban giảng huấn đại học ở mọi cấp bậc đều được đào tạo theo hệ chính quy, trong nước hay ngoại quốc, có khả năng và tư cách nghề nghiệp xứng đáng được tôn trọng. Họ là một lực lượng trí thức Tây học đông đảo chưa từng có trong lịch sử đất nước, có đầy đủ tinh thần và phẩm chất của người trí thức ở các nước phát triển, không thua kém về trình độ so với các nước trong khu vực, có tư duy độc lập, có thái độ rất dấn thân và tâm huyết cho sự nghiệp phát triển nước nhà. Nếu có điều kiện tiếp tục phát triển hoà bình, chắc chắn họ sẽ tạo nên sự thăng hoa cho đất nước, như giới trí thức, khoa học gia đã từng làm cho nước Đức thế kỷ 19.

Ngoài sự nghiệp giáo dục đào tạo, giới trí thức đại học hồi đó cũng thấy rõ nhu cầu phát triển xã hội trong thời chiến đồng thời với công cuộc chuẩn bị tái thiết đất nước trong thời bình. Bởi vậy mặc dù ít thì giờ cho những công trình nghiên cứu lâu dài, một số trí thức vẫn đóng góp ý kiến với những nhà làm chính sách bằng những bài luận thuyết về những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trí thức đại học chưa nghĩ đến việc thành lập “think tank” như ở Mỹ nhưng đã tụ họp với nhau trên các diễn đàn độc lập có những tiếng nói đáng kể như tạp chí Quê Hương do GS Nguyễn Cao Hách và đồng sự chủ trương, Văn Hóa Á châu (thêm ấn bản tiếng Anh Asian Culture) của Hội Nghiên cứu Liên lạc Văn hóa Á châu, Thế kỷ Hai mươi do GS Nguyễn Khắc Hoạch chủ nhiệm, và Phát triển Xã hội (thêm ấn bản tiếng Anh Social Development) do tôi và một số đồng nghiệp phụ trách. Ngay cả những tạp chí của chính quyền như Pháp lý Tập san của Bộ Tư pháp, Tập san Quốc phòng của Bộ Quốc Phòng cũng có sự tham gia của nhiều giáo sư đại học và trí thức độc lập. Cũng cần nhắc đến bản Phúc trình Thúc-Lilienthal của “Nhóm Nghiên cứu Kế hoạch Hậu chiến” là kết quả hợp tác giữa trí thức đại học Việt Nam và các chuyên gia về chính sách của Hoa Kỳ.

Kết luận

Đại học miền Nam chỉ tồn tại có hai mươi năm trong đó mười năm đầu còn chịu ảnh hưởng Pháp khá sâu đậm do thỏa hiệp hợp tác văn hóa Việt-Pháp năm 1955. Chỉ từ 1965 Đại học miền Nam mới có cơ hội tiếp cận với tinh thần thực dụng và chế độ tự trị đại học của Mỹ và tìm cách áp dụng vào hệ thống đại học Việt Nam. Tuy nhiên, ngay từ những năm còn theo truyền thống cũ của Pháp, Đại học miền Nam đã được hưởng nhiều sự dễ dãi của Bộ Giáo dục về các thủ tục hành chánh, tài chánh, nhất là về học vụ. Các giáo sư được tự do nghiên cứu và giảng dạy mặc dù còn thiếu nhiều điều kiện giúp cho việc phát triển tiềm năng. Mười năm sau (1965-1975) vẫn được coi như thời kỳ chuyển tiếp vì khuynh hướng thực dụng và những thay đổi theo mô hình đại học Mỹ chỉ có cơ hội nảy nở từ những năm đầu thập kỷ 1970.

Sự gia tăng cường độ của chiến tranh kéo theo tình trạng bất ổn về xã hội và khó khăn về kinh tế đã hạn chế rất nhiều khả năng nghiên cứu, cập nhật kiến thức và phương pháp giảng dạy của các giáo sư. Nhiều người đậu tiến sĩ ở ngoại quốc chưa muốn trở về nước giảng dạy vì bất mãn với chính quyền miền Nam. Nạn thiếu giáo sư càng trầm trọng trước sự gia tăng số sinh viên và số truờng đại học mới mở khiến cho những giáo sư giỏi phải đi dạy ở nhiều trường hoặc đảm nhận thêm công việc khác. Trong những điều kiện hạn chế và khó khăn như thế, Đại học Việt Nam vẫn cố gắng phát triển, nâng cấp những trường cao đẳng chuyên nghiệp, mở thêm các đại học cộng đồng và đại học bách khoa, áp dụng hệ thống tín chỉ . . . Môi trường đại học đích thực là một môi trường tự do của hoạt động trí thức. Nhiều giáo sư, dù bận dạy nhiều trường hay có việc làm thêm, vẫn cố gắng đóng góp ý kiến qua những diễn đàn trí thức về những vấn đề quan tâm chung. Tiếc rằng vào thời điểm những năm đầu thập kỷ 1970, chưa có ai nghĩ đến việc thành lập “think tank” để tư vấn cho những nhà làm chính sách, có lẽ khái niệm về những cơ quan nghiên cứu tư vấn kiểu Mỹ này còn khá xa lạ đối với Việt Nam.

Tôi không muốn so sánh Đại học miền Nam trong 20 năm chiến tranh trước 1975 với nền Đại học Việt Nam hiện nay, sau 35 năm đất nước hòa bình và thống nhất. Nhưng tôi thành thật nghĩ rằng nếu hiệp định Paris 1973 giữa bốn phe tham chiến được thi hành nghiêm chỉnh, thực hiện những đìều khoản đã thỏa thuận về “hòa giải và hòa hợp dân tộc” (chương IV, điều 10, 11 và 12) thì miền Nam Việt Nam dưới một chính quyền mới sau cuộc tổng tuyển cử đã có triển vọng giàu mạnh không thua kém Nam Hàn, và Đại học miền Nam cũng đã đạt được “đẳng cấp quốc tế.” Kết quả này cũng chắc chắn đã diễn ra, dù chậm trễ hơn nhiều năm sau khi đất nước thống nhất, nếu đường lối đổỉ mới thật sự của những nhà lãnh đạo có tầm nhìn như Nguyễn Cơ Thạch hay Võ Văn Kiệt không bị trở ngại trên bước đường thực hiện.

Cũng may là ở Việt Nam ngày nay vẫn còn có những trí thức không quên theo đuổi lý tưởng của người làm thày cao hơn người làm quan (tiến vi quan, đạt vi sư), nhất là không quên sứ mạng “lương sư hưng quốc”. Họ đã không ngừng tuyên dương và cố gắng phát huy truyền thống đại học Humboldt, trong đó tự do nghiên cứu và giảng dạy là điều kiện thiết yếu để đào tạo con người và phát triển xã hội. Các nhà lãnh đạo Nhà nước cũng đã nhấn mạnh đến sự cần thiết xây dựng đại học “đẳng cấp quốc tế”, đang tiếp cận với các nền giáo dục phát triển phương Tây, đặc biệt nền giáo dục đại học Hoa Kỳ, nhưng đến bao giờ thì mới thật sự tạo điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu này? Thời gian không chờ đợi trên vũ đài thế giới.

Xin hết.
Cảm ơn bài viết anh Lê Xuân Khoa (Irvine, California)




;

Edited by user Wednesday, January 10, 2018 12:01:33 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Hạ Vi  
#2826 Posted : Thursday, January 18, 2018 6:29:54 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,405
Location: CỏThơm

Thanks: 4159 times
Was thanked: 10174 time(s) in 2524 post(s)


.

Tranh Mai Trung Thứ


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage


UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage


UserPostedImage

UserPostedImage







Ngày Xuân xem lại tranh lụa Mai Trung Thứ


UserPostedImage

Là một trong 3 danh họa Việt Nam về tranh lụa, 2 họa sĩ kia là Nguyễn Phan Chánh và Lê văn Đệ, họa sĩ Mai Trung Thứ ra đời ở Hải Phòng, năm 1906,
tốt nghiệp khóa đầu Trường Mỹ Thuật Đông Dương – Hà Nội, sang Pháp và định cư tại đây năm 1938.
Sau nhiều năm nổi tiếng với thể loại tranh lụa đặc sắc vẽ về đề tài phụ nữ và trẻ em Việt Nam được người Pháp yêu quý, ông mất vào năm 1980.



Điểm cách tân trong vẽ Lụa của Mai Trung Thứ

UserPostedImage


Khác với cách vẽ tranh lụa của hai nhà danh họa Nguyễn Phan Chánh và Lê Văn Đệ, họa sĩ Mai Trung Thứ không áp dụng cách vẽ lụa ướt (lụa rửa) từng được hai bạn đồng môn đồng khoá tài hoa như đã nêu trên áp dụng và được lưu truyền cho rất nhiều thế hệ họa sĩ Việt Nam từ trước đến ngày nay, ông tìm ra một cách vẽ lụa khác, phi truyền thống, đó là vẽ trực tiếp xuống nền lụa được bồi sẵn như vẽ bột màu trên giấy canson, như vẽ sơn dầu trên vải bố, tạm gọi là vẽ lụa khô. Đây là cách vẽ lụa được ông cách tân dựa trên kỹ thuật vẽ của hội họa hiện đại phương Tây.

Với cách vẽ trực tiếp xuống nền lụa như thế sẽ giúp nhà nghệ sĩ tránh được việc phải trải qua các công đoạn chuẩn bị cầu kỳ như căng lụa, làm phác thảo rồi dùng giấy “can” đặt lên phác thảo để đồ lại những nét vẽ (đường viền) của các hình thể trong bức phác thảo, sau đó đặt giấy “can” này có lót giấy than (một loại giấy dùng cho máy đánh chữ) lên mặt lụa và đồ lại cho những nét vẽ ấy được in trên mặt lụa, sau đó làm ướt lụa trước khi tô màu, … sau cùng là bồi lụa trên giấy bản để kết thúc một tiến trình vẽ tranh lụa theo truyền thống. Cách vẽ này quá lệ thuộc vào nhiều giai đoạn có tính thủ công, bức tranh bị chép đi chép lại nên cảm xúc của người nghệ sĩ bị mất đi sự sống động vì tính gò bó của thủ pháp.


UserPostedImage



Mặt khác, cách vẽ lụa của Mai Trung Thứ cho người xem sự trực cảm với màu sắc và đường nét trong tranh. Màu và nét vẽ của Mai Trung Thứ được họa sĩ chọn lọc dựa trên luật tương phản vừa có sức thu hút mạnh mẽ thị giác người xem đồng thời cũng không kém phần tinh tế của thứ thẩm mỹ kinh điển. Hiển nhiên, đây là kết quả tuyệt vời của sự kết hợp hoàn hảo giữa 2 bản sắc nghệ thuật Đông và Tây, một bên đầy lý tính và phía kia là thế giới của trầm mặc.

“Thiếu nữ choàng khăn”, một kiệt tác tiêu biểu cho tranh lụa “khô” của Mai Trung Thứ

Để thấy rõ điều này, chúng ta thử khảo sát một tác phẩm thuộc loại kiệt tác của ông, bức Thiếu Nữ Choàng Khăn (Mona Lisa). Thật là đặc sắc về hình họa, mềm mại, nhịp nhàng về đường nét không thể vẽ tốt hơn. Mặc dù ông đã dựa vào hình mầu của Mona Lisa, tác phẩm bất tử của Leonardo da Vinci nhưng hai cách vẽ hoàn toàn khác. Leonardo không vẽ đường viền, trường phái cổ điển loại bỏ đường viền và dùng sắc độ tối sáng để phân biệt các hình ảnh nằm kế nhau. Sử dụng đường viền có từ chủ nghĩa hiện đại và được áp dụng mạnh nhất trong các tác phẩm của trường phái Biểu Hiện. Một sự khác biệt lớn khác là trong Mona Lisa, Leonardo không dùng màu tương phản mà là một tuyệt bích của gam màu “harmoni”.


UserPostedImage



Và điều mà trong tranh lụa truyền thống không ai vẽ được những mảng màu nguyên sắc như xanh, đỏ, vàng, lục,… một cách đậm đà và tươi tắn như Mai Trung Thứ mà thường chỉ thấy có trong tranh bột màu hay sơn dầu. Màu sắc, độ tương phản giữa xanh của chiếc khăn choàng trên nền của áo đỏ trong bức Thiếu Nữ Choàng Khăn thật sự đã tạo nên một hiệu ứng thị giác rất sống động, thật quyến rũ. Đây là một điểm khác biệt rất lớn trong dùng màu cho tranh lụa của Mai Trung Thứ và với tranh lụa của hầu hết các họa sĩ Việt Nam, từ những họa sĩ bậc thầy như Nguyễn Phan Chánh, như Lê Văn Đệ,… hầu như tất cả các họa sĩ vẽ tranh lụa đều chỉ dùng màu có độ nhạt và mỏng, trong một gam màu nghiêng về xanh và nâu. Dùng màu cho tranh lụa kiểu Mai Trung Thứ, từng mảng lớn và đậm màu thì chỉ có vẽ khô trên nền lụa đã canvas hóa như ông đã nghĩ ra.

Đây là một thách thức hết sức táo bạo vì như thế là đi ngược lại với tranh lụa truyền thống, đã phá vỡ tính thẩm mỹ mượt mà sương khói vốn đã ăn sâu vào tâm hồn bao thế hệ người Việt yêu tranh. Nó hiển nhiên là một đặc tính vĩnh cửu, một thẻ căn cước xác định chỗ đứng độc đáo của tranh lụa Việt Nam trên thế giới sau sơn mài của Nguyễn Gia Trí.


UserPostedImage

UserPostedImage


Sáng tạo, chìa khóa làm ra sự khác biệt

Mặt khác, khi vẽ dựa vào bố cục và chủ đề của một kiệt tác như Mona Lisa là một cuộc phiêu lưu điên rồ nếu không thì cũng vô cùng ngớ ngẩn cho bất cứ một ai nếu không có trong tay một tài năng nghệ thuật xuất sắc và một cái đầu lớn để làm khác, để thoát ra cái bóng khổng lồ của một kiệt tác có một không hai và cũng vô tiền khoáng hậu trong nền mỹ thuật của nhân loại; hạnh phúc thay cho người Việt chúng ta, Mai Trung Thứ có được cả hai yếu tố vàng ấy khi thực hiện một Mona Lisa hoàn toàn Việt Nam và bằng ngôn ngữ hội họa hiện đại của thế kỷ 20. Ông đã dùng màu khác hẳn, chân dung nhân vật khác hẳn, xu hướng nghệ thuật khác hẳn và chất liệu cũng khác hẳn. Tất cả những gì của thời hiện đại và tính dân tộc, nguồn cội của Mai Trung Thứ đều toát lên một cách bao trùm toàn bộ bức tranh lụa Thiếu Nữ Choàng Khăn, tác phẩm của một họa sĩ được sinh ra từ một xứ sở nhỏ nhoi, lạc hậu, sau cả 6 thế kỷ tính từ thời Phục Hưng của Leonardo da Vinci, Mai Trung Thứ đáng được tôn vinh hơn bất cứ một tài năng hội họa nào của người Việt.



Trịnh Cung
http://baotreonline.com/...tranh-lua-mai-trung-thu/




UserPostedImage
thanks 1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 2/6/2018(UTC)
Hạ Vi  
#2827 Posted : Thursday, January 25, 2018 12:36:18 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,405
Location: CỏThơm

Thanks: 4159 times
Was thanked: 10174 time(s) in 2524 post(s)


UserPostedImage


Phiêu lãng


Em về khép cổng vườn thơ
Gối trăng kỷ niệm để mơ mộng lòng
Bến đời ngập ngựa bão dông
Thuyền em chới với trên dòng sông Ngân

Em về, chiều xuống bâng khuâng
Tầm xuân tím rụng cuối sân nắng tà
Một lần trong cõi người ta
Biết tìm đâu rũ tiếng ca lạc loài


Nguyễn Sinh k7





UserPostedImage
phamlang  
#2828 Posted : Tuesday, February 6, 2018 12:58:59 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,531

Thanks: 1690 times
Was thanked: 1029 time(s) in 666 post(s)
Làng bánh chưng Tranh Khúc vào dịp Tết


Gần đến Tết cổ truyền, làng Tranh Khúc lại nhộn nhịp với những nồi bánh chưng dẻo thơm, nóng hổi.

UserPostedImage
Làng Tranh Khúc (Hà Nội) hiện có khoảng 90 hộ làm bánh chưng (trên tổng số 300 hộ), trong đó có hơn 10 hộ là các cơ sở lớn, còn lại là làm nhỏ lẻ.

Vào những ngày rằm hoặc giáp Tết, không khí nơi đây nhộn nhịp với những nồi bánh chưng, tạo nên một khung cảnh đậm nét truyền thống khó có thể tìm thấy nơi nào khác.

UserPostedImage
Nhà bà Nguyễn Thị Doan (78 tuổi) những giáp Tết chất đầy lá dong xanh và những nồi bánh chưng vẫn còn đang bốc khói.

UserPostedImage
Công đoạn gói bánh được chia thành các khâu do từng người phụ trách, người rửa lá, người làm nhân, người gói bánh, người quấn lạt…
Làm nghề lâu năm, bàn tay người thợ khéo léo, một lớp gạo - một lớp nhân rồi lại một lớp gạo… không cần khuôn mà vẫn có thể gói “trăm cái như một”, chưa đầy 30 giây đã gói xong một chiếc bánh chưng vuông vức.

UserPostedImage

Yếu tố quyết định hương vị thơm ngon của chiếc bánh chính là việc lựa chọn nguyên liệu kỹ càng.
Người làm bánh phải thực sự chu đáo và cầu kỳ từ khâu chọn lá, gạo, đỗ xanh và thịt. Gạo phải là gạo Nếp Nhung Bắc Ninh hoặc nếp cái hoa vàng thì vỏ bánh mới dẻo.

UserPostedImage
Nhân được làm bằng thịt lợn ba chỉ hoặc nạc mông, bọc trong lớp đỗ xanh tách vỏ nấu nhuyễn, tạo nên sự hài hòa cho các nguyên liệu từ trong ra ngoài.

UserPostedImage
Khung cảnh tất bật của một cơ sở làm bánh chưng trong làng.

UserPostedImage
Bánh được xếp vào nồi hơi để đem luộc, đun 8 – 10 tiếng sẽ cho ra thành phẩm cuối cùng là những chiếc bánh chưng nổi tiếng làng Tranh Khúc.

UserPostedImage
Lâu nay làng Tranh Khúc đã chuyển từ luộc bánh chưng bằng bếp củi sang bếp điện.
Sử dụng bếp điện không chỉ giúp người dân bảo vệ sức khỏe mà còn thân thiện với môi trường, hạn chế khói bụi.

UserPostedImage
Nhiều cơ sở dùng máy hút chân không để bảo quản bánh chưng được lâu hơn, vận chuyển đi xa.

UserPostedImage
Ngày bình thường gia đình bà Đặng Thị Thảo (53 tuổi) gói khoảng 200 – 300 bánh. Nhưng trong dịp lễ Tết, số lượng bánh tăng lên từ 500 đến cả nghìn chiếc; mỗi chiếc bánh có giá 30.000 đến 50.000 đồng tùy khách đặt.

Nguyễn Nga - Mạnh Cường

Edited by user Tuesday, February 6, 2018 1:01:11 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Users browsing this topic
Guest (3)
142 Pages«<140141142
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.