Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

141 Pages«<139140141
BẢO TỒN & LƯU TRUYỀN VĂN HÓA
phamlang
#2929 Posted : Tuesday, May 31, 2016 12:04:23 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,513
Points: 4,755

Thanks: 1669 times
Was thanked: 998 time(s) in 646 post(s)
Chuyện huyệt đất kết và vận khí triều Nguyễn



lăng Gia Long

Mặc dù cả vua Gia Long và vua Minh Mạng đều chọn cho mình những huyệt đất tốt nhưng chỉ hai đời sau vận khí triều Nguyễn đã bắt đầu suy vi.

Việc kén đất của Gia Long và Minh Mạng

Vua Gia Long sớm đã để tâm đến việc tìm đất làm lăng mộ cho mình nên khi còn đang mạnh khỏe đã sai các quan đại thần đến vùng Thiên Thọ Sơn tìm huyệt đất tốt. Khu vực này có 42 ngọn núi lớn nhỏ trong đó ngọn Đại Thiên Thọ là lớn nhất được chọn làm tiền án của lăng. Để tìm huyệt đất, vua tin cẩn giao cho Thượng thư bộ Binh Phạm Như Đăng, đại thần Tống Phúc Lương. Vua lại đặc biệt cho vời Lê Duy Thanh – con trai nhà bác học Lê Quý Đôn vào để cùng các đại thần lo công việc.

Tìm đi kiếm lại nhiều lần Lê Duy Thanh mới chọn được một thế đất ưng ý nhưng khi vua Gia Long lên xem thì nhà vua không ưng. Sách “Kể chuyện các vua Nguyễn” thuật lại: “Được tin, Gia Long thân hành cỡi voi đến nơi xem xét, nhưng không đồng ý, nên đã chọn nơi mai táng hiện nay. Gia Long nói với Lê Duy Thanh một cách nghiêm nghị:

– Nếu người ta đề cập đến long mạch thì nơi đây thật chính là nơi thích hợp cho một “lăng”. Thế có phải nhà ngươi muốn giữ chỗ này để chôn cho nhà ngươi phải không?”.

Duy Thanh van xin, Gia Long mới tha tội”.

Trước khi khởi công, nhà vua lại bảo hoàng tử thứ tư bói một lần nữa, được quẻ Dư, lời chiêm rằng: Đại Cát Hanh nghĩa là rất tốt và hanh thông. Lăng bắt đầu được xây dựng từ năm 1814 đến năm 1820 thì hoàn tất.

Sau khi vua Gia Long băng hà, vua Minh Mạng nối ngôi cũng rất chú ý đến việc xây lăng mộ cho mình. Chỉ 7 năm sau khi lên ngôi ông đã phái các quan đi đến vùng đồi núi ở quanh Huế để tìm huyệt đất tốt.

Theo sách “Đại Nam thực lục”, vua Minh Mạng dụ cho các quan về việc đi tìm đất như sau:

Các thánh đế minh vương đời xưa muốn cầu nhiều phước đều có dự định đất tốt vạn niên để mong trời cho cơ đồ dài lâu. Kể từ đức Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta khôi phục miếu xã, xây dựng các lăng, lại dự kế cất để nghìn muôn năm, năm Gia Long đã từng hạ sắc cho bầy tôi tìm kiếm ngôi Vạn niên cát địa. Nay trẫm kính lo đường kế thuật, may gặp buổi thái bình, việc phần mộ không thể không dự tính trước. Vậy hạ lệnh cho đình thần cùng với Khâm thiên giám đi đến miền núi thuộc các xã Kim Ngọc, Định Môn, lựa trước ngôi “Vạn niên đại cát địa” và ngôi “Vạn niên cát địa”, cho được gần chốn khí thiêng mà để lại phước ấm về sau. Các khanh đều nên hết lòng nhận kỹ, cốt cho thoả hợp, rồi vẽ địa đồ dâng trình, đợi trẫm thân đến lựa chọn”.

Các quan đã đi xem xét nhiều ngày và tìm được một số ngôi đất nhưng các ý kiến khác nhau. Trải qua nhiều năm suy xét, đến năm 1840 vua Minh Mạng mới cho xây lăng trên ngôi đất ở núi Cẩm Khê. Nhà vua cũng cho đổi tên núi từ Cẩm Khê thành Hiếu Sơn. Công việc tiến hành chưa bao lâu thì vua Minh Mạng băng nên chủ yếu công trình do vua Thiệu Trị xây dựng dựa trên bản vẽ đã được vua Minh Mạng chuẩn y.

Đất tốt vì sao không sinh vượng khí?

Như ở trên trình bày, cả vua Gia Long và vua Minh Mạng là những ông vua đầu triều Nguyễn đều rất chú trọng đến việc tìm đất kết để mong cho con cháu được hưởng phúc ấm lâu dài, vương triều truyền nối mãi mãi. Bởi vì khoa địa lý phong thủy xưa nói rằng nếu chọn được huyệt đất tốt mà táng vào đó thì con cháu sẽ được hưởng phúc ấm. Trong bài “Địa đạo diễn ca” của cụ Tả Ao được sách “Phong thủy địa lý Tả Ao chính tông” chép lại có câu: “Đất có cát địa chân long, Táng cho phải phép anh hùng giầu sang”. Rồi đoạn sau lại có câu nữa: “Quả nhiên huyệt chính long chân, Tiêu sa nạp thủy chớ nhầm một ly, Táng thoi phúc lý tuy chi, Trâm anh bất tuyệt thư thi gia truyền”.

Đất tốt có nhiều kiểu đất. Có kiểu đất phát công hầu khanh tướng, có kiểu phát vương giả, có kiểu phát tiền tài… Với người dân thường thì chỉ mong được đất phát đến quan lại công hầu hoặc phát tiền tài là đã tốt lắm rồi. Nhưng ở địa vị vua Gia Long và vua Minh Mạng, không lý gì các ông lại chọn cho mình kiểu đất chỉ phát công hầu. Như vậy há chẳng phải là thụt lùi hay sao? Bởi vì các ông đã là vua thì đất chọn phải là long mạch phát vương giả để vượng khí vương triều được lâu bền, con cháu đời đời truyền nối ngai vàng mới là hợp ý, hợp lý.

Đối với việc chọn đất, cả hai vua đều làm rất cẩn thận. Vua Gia Long ngoài các quan trong triều còn đặc biệt mời con trai bác học Lê Quý Đôn để tầm long cho chắc chắn. Rồi đến khi chọn được lại thân hành lên xem và còn tỏ ra khá am hiểu phong thủy khi quở trách Lê Duy Thanh. Vua Minh Mạng cũng mất 14 năm suy xét và cũng đích thân đến xem rồi mới quyết định xây lăng.

Như vậy, trong một chừng mực nào đó, có thể nói rằng hai huyệt đất mà hai vị vua này chọn đều là những thế đất tốt, đã được nhiều học giả, quan lại và giới chuyên môn thời đó nghiên cứu kỹ và công nhận. Việc lăng cha ông đặt nơi đất tốt là sự thực nhưng việc chỉ hơn chục năm sau vận khí nhà Nguyễn bắt đầu suy vi cũng là sự thật.

Chỉ 18 năm sau khi vua Minh Mạng mất, quân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta và cháu nội ông là vua Tự Đức liên tục phải cắt đất cầu hòa. Không những mặt sự nghiệp sa sút mà mặt vua Tự Đức dù có rất nhiều thê thiếp và cũng không chết trẻ nhưng cũng không có một mụn con nào.

Để giải thích cho việc vua Gia Long và Minh Mạng được táng vào đất kết phát mà con cháu đã chẳng phát lại còn suy vi chúng ta hãy quay trở lại thời Trần. Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, tháng 6 năm 1248, vua Trần theo lời Trần Thủ Độ sai các nhà phong thủy đi xem khắp sông núi cả nước, chỗ nào có vượng khí đế vương thì dùng phép thuật để trấn yểm, như các việc đào sông Bà Lễ, đục núi Chiêu Bạc ở Thanh Hóa; lấp các khe ở kênh, mở đường ngang dọc rất nhiều.

Đối với sự việc này, sử thần Ngô Sĩ Liên thời Lê đã bình luận rất chí lý rằng: “Từ khi có trời đất này, thì đã có núi sông này, mà khí trời chuyển vận, thánh nhân ra đời, đều có số cả. Khí trời từ Bắc chuyển xuống Nam, hết Nam rồi lại quay về Bắc. Thánh nhân trăm năm mới sinh, đủ số lại trở lại từ đầu. Thời vận có lúc chậm lúc chóng, có khi thưa khi mau mà không đều, đại lược là thế, có can gì đến núi sông? Nếu bảo núi sông có thể lấy pháp thuật mà trấn áp, thì khí trời chuyển vận, thánh nhân ra đời có pháp thuật gì trấn áp được không? Ví như Tần Thủy Hoàng biết là phương đông nam có vượng khí thiên tử, đã mấy lần xuống phương ấy để trấn áp, mà rút cuộc Hán Cao tổ vẫn nổi dậy, có trấn áp được đâu”.

Lời bàn của Ngô Sĩ Liên đã nói rõ cái lý là vượng khí do đất kết không thể có uy lực thắng được sự xoay chuyển của bánh xe lịch sử thời đại.

Một ý nữa cần nói đó là ngay trong chính khoa địa lý phong thủy, các nhà địa lý cũng nói rằng: “Đất có tuần, dân có vận”. Có nghĩa rằng mỗi dòng họ phát vương phát tướng hay phát công hầu chỉ có thời hạn nhất định và chỉ do ảnh hưởng của một cuộc đất chứ không thể tìm thêm nhiều đất phát để mong cộng thêm phúc phần. Tức là như sự nghiệp họ Nguyễn phát lên từ chúa Nguyễn Hoàng thì có thể đã được hưởng phúc ấm từ đất kết của cha ông hoặc cụ kị chúa Nguyễn Hoàng, kéo dài đến tận đời Bảo Đại là hơn 300 năm chứ không thể sử dụng cuộc đất kết khác để mong kéo dài phúc phần vương giả khi vận số đã hết.

(Theo kienthuc.net)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 6/27/2016(UTC)
Hạ Vi
#2930 Posted : Saturday, June 4, 2016 10:57:53 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,333
Points: 16,885
Location: CỏThơm

Thanks: 4126 times
Was thanked: 9969 time(s) in 2470 post(s)





BỒ ĐỀ


Hôm qua gió lộng cửa thiền
Lá hồn nhiên rụng ưu phiền xuống sân
Tiểu cầm chổi đứng bâng khuâng
Quét đi cũng uổng mấy vần thơ rơi

Hình như nơi chổ Phật ngồi
Có người đến nhặt luân hồi bỏ đi
Đêm qua dưới cội bồ đề
Có con dế thức nằm nghe tiếng mình



PXT.2/2016

Thanh Pham







1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
thunder on 6/27/2016(UTC)
Hạ Vi
#2931 Posted : Saturday, June 4, 2016 11:01:22 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,333
Points: 16,885
Location: CỏThơm

Thanks: 4126 times
Was thanked: 9969 time(s) in 2470 post(s)


>> click nghe nhac >> Rong RêuSaxophone Đình Thanh








































Photos: sưu tầm







1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 7/20/2016(UTC)
Hạ Vi
#2932 Posted : Saturday, June 25, 2016 7:03:05 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,333
Points: 16,885
Location: CỏThơm

Thanks: 4126 times
Was thanked: 9969 time(s) in 2470 post(s)







Con Đường Phượng Tím



Con đường phượng tím chiều nay đổ
Bóng lá che nghiêng một góc đời
Nghe trong cõi nhớ niềm xa xót
Chợt thoáng hiện về dấu yêu ơi

Con đường phượng tím mùa hạ đỏ
Nhắc nhở trong em kỷ niệm sầu
Phượng tím có là hoa phượng nhớ
Khung trời một dạo luyến lưu nhau

Con đường phượng tím chiều nay khóc
Thương lối năm xưa dáng nhỏ gầy
Thương những cuộc tình màu tang tóc
Chinh chiến qua rồi vẫn chưa phai

Con đường phượng tím hàng cây vắng
Tình yêu như thuở mới vào đời
Xin cho được trọn lần sau cuối
Phượng Vỹ còn hồng nét đôi mươi



Miên Thụy







1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
thunder on 6/27/2016(UTC)
CỏThơm
#2933 Posted : Monday, June 27, 2016 1:09:43 PM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 162
Points: 516
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 127 times
Was thanked: 93 time(s) in 68 post(s)






Phượng tím


Không đỏ hoe như màu phượng trên cao
Hoa nở lung linh màu tím biếc
Tiết học cuối níu thời gian da diết
Phượng tím buồn phượng tím thẫn thờ mong

Không sặc sỡ không khoe sắc áo hồng
Tím e ấp nép mình trong lưu bút
Để mai này chia xa còn một chút
Phượng tím buồn phượng tím thẫn thờ mong

Một mai xa còn lưu luyến trong lòng
Kỷ niệm ấm êm trắng trong thời mực tím
Mai xa trường gợi nhớ nhung xao xuyến
Phượng tím buồn phượng tím thẫn thờ mong

Lớp học cùng bàn ghế vẫn ngóng trông
Hơi ấm một thời có bao giờ trở lại
Để cho ta thương yêu và mãi nhớ
Phượng tím buồn phượng tím thẫn thờ mong.



Bảo Anh




.
1 user thanked CỏThơm for this useful post.
thunder on 6/27/2016(UTC)
thunder
#2934 Posted : Monday, June 27, 2016 10:16:08 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,092
Points: 12,473

Thanks: 1863 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)
KINH NGHIỆM SỐNG CỦA DÂN GIAN
QUA VĂN CHƯƠNG BÌNH DÂN

Đã nhiều tháng qua, tôi bị hấp dẫn bởi những tiếng nổ của các kho đạn, những chuyện kỳ cục, những điều "trồi", "nổi" quanh mình nen trong một chừng mực nào đó, tôi đã quên bẵng đi những vần ca dao mà bà nhà Bắc Kỳ của tôi đã chép ra từ trong trí nhớ của bả, để trên bàn viết mỗi ngày như một sự nhắc nhở tôi đừng quên chuyện ngày xưa. Càng hít thở không khí trên cõi đời phiền muộn, đầy dẫy oái ăm này càng lâu chừng nào, người ta càng nhớ và sống với quá khứ nhiều chừng nấy. Vui hay buồn gì, ai trong chúng ta cũng đều có quá khứ và sống với nó ít hay nhiều thì tùy thuộc tâm trạng mỗi người. Thế nhưng, cái "chuyện xưa" mà tôi đề cập dưới đây là chuyện chung, không thuộc về ai cả. Và tôi cũng xin tầm phào tào lao một chút về những kinh nghiệm sống trong dân gian qua những vần ca dao, xem người xưa đã suy nghĩ, và sinh hoạt ra sao, âu cũng là một điều "vệ sinh và bổ". Bây giờ, xin mời bạn đọc những vần ca dao sau:

Rau răm ngắt ngọn lại trồng
Em thương anh lắm sợ lòng chị ghen.
Anh về bảo chị đừng ghen,
Để em thấp thoáng ánh đèn cho vui.

Bạn cũng như tôi, có lẽ đều thuộc "nòi tình"? Bạn nghĩ gì và có thấy vừa thương vừa tội nghiệp cho người con gái xưng "em" ấy không? Thương và tội nghiệp cho nàng vì nàng biết phận mình, không có cái chuyện "đến sau" mà cứ ghen ngược, đòi chiếm cứ làm của riêng như chúng ta thường thấy xảy ra trong đời sống hàng ngày. Nàng có đòi hỏi điều gì quá đáng đâu, chỉ xin "thấp thoáng ánh đèn" cho vui thôi mà. Dễ thương biết chừng nào! Đó là nói về nàng, còn người viết ra mấy câu trên thì tôi tin chắc cũng thuộc thành phần "Ta cũng nòi tình, thương người đồng điệu" (Chu Mạnh Trinh). Đó là một người ham thích của lạ, muốn đèo bòng chạy một lúc vài ba "máy" cho đời thêm vui, và thêm...rắc rối. Thật ra, trong 10 anh "đần ông" (không phải đàn ông) thì hết 11 anh có máu loạng quạng, léng phéng không ít thì nhiều. Quý vị nam nhi chi chí nào tự xưng mình là người mẫu mực, đạo đức, không hề phiêu lưu, mơ tưởng đến những "vùng đất xa lạ" thì người ấy có thể được sánh ngang với hàng "thánh sống" rồi. Đa phần còn lại, trong đó có tôi, thuộc loại phàm phu tục tử, một thứ "đần ông" chính hiệu ngất ngư con tàu đi. Cho nên, xin có lời bái phục! Phải bái phục các vị thánh sống đó là bởi vì, chính các cụ đạo đức cùng mình ngày xưa, đã không ngần ngại mà thốt lên rằng:

Thế gian ba sự không chừa,
Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương tơ.

Một nàng thì rất dịu dàng, e ấp, chịu phần lép vế chỉ xin "thấp thoáng ánh đèn" thôi, nàng kia thì can đảm hơn, chận anh giữa đường, níu áo anh lại để than thở với anh vài lời:

Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại em than vài lời.
Đi đâu vội thế anh ơi,
Công việc đã có chị tôi ở nhà.

Và một nàng khác, tuy cũng thương anh nhưng rất thực tế, nàng cảnh giác tối đa chỉ sợ bà cả vác dao chém cho vài nhát thì còn chi là đời nữa:

Gặp anh em cũng muốn chào
Sợ rằng chị cả dắt dao trong người.

Tục ngữ có câu "cái nết đánh chết cái đẹp", nghĩa là coi chuyện nhan sắc của người phụ nữ không quan trọng bằng tính nết. Tục ngữ nói vậy thì ta cứ biết như vậy, nhưng cái hấp dẫn đầu tiên của người phụ nữ đối với các đấng nam nhi là cái gì? Có phải nhan sắc của người phụ nữ ấy không? Tôi không biết người yêu của Chí Phèo trong tiểu thuyết của Nam Cao xấu xí ra sao nhưng các cụ ngày xưa vẫn một mực cương quyết:

Chẳng thà chịu lạnh nằm không,
Còn hơn có vợ lẹm cằm, răng hô.

Cằm lẹm, răng hô thì các cụ chê đã đành rồi mà ngay cả đến cô nàng có cái mặt mo phinh phinh, chân lại đi vòng kiền chữ bát thì có cho không, các cụ cũng chẳng thèm:

Người mà phinh phính mặt mo,
Chân đi chữ bát, có cho chẳng thèm

Ngược lại, người con gái có đôi mắt lá răm, chân mày lá liễu thì đúng là của quý, đáng trăm quan tiền:

Người mà con mắt lá răm,
Chân mày lá liễu đáng trăm quan tiền.

Đến đây các bạn có thể thắc mắc: thế cái loại nhan sắc nào của các nàng khiến cá cụ nhìn rồi muốn chửi(?):

Mặt má miếng bầu, nhìn lâu muốn chửi
Mặt chữ điền, tiền rưỡi cũng mua.

Các cụ có được những hiểu biết về cách ăn ở, đối xử của người chung quanh là do quan sát, tích lũy kinh nghiệm rồi đói chiếu, so sánh để có một nhận định chung. Theo đó, người phụ nữ nào mà đáy thắt lưng ong thì khéo chiều chồng và khéo nuôi con. Còn "mệ" nào béo trục béo tròn thì ăn vụng như mèo lại hay rầy rà con cái. Đúng được bao nhiêu phần trăm thì khó mà khẳng định, có điều những hình ảnh đó đã truyền lại cho con cháu suốt bao thế hệ và đã ở lại mãi mãi trong văn chương bình dân:

Người mà đáy thắt lưng ong,
Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con.
Những người béo trục béo tròn,
Ăn vụng như chớp, cấu con cả ngày.
Cũng qua kinh nghiệm trên một số người mà các cụ có nhận xét:
Trai Nhâm Đinh Quý thì tài,
Gái Nhâm Đinh Quý phải hai lần đò.

Hai lần đò là trong cuộc đời của người phụ nữ có cái tuổi Nhâm Đinh Quý này sẽ có tới hai đời chồng. Ngày xưa, ít có vụ ly dị mà chỉ khi chồng chết rồi người đàn bà mới tái giá, đi thêm một bước nữa. Còn thời nay, nhất là ở trên xứ Mỹ tự do một cách kỳ cục này thì không hẳn là do chồng chết mà là do không còn "hợp" nhau nữa nên "anh đường anh, tôi đường tôi" đấy thôi. Không nói tới chuyện tiền bạc, dốp diếc làm chi, chỉ cần chàng ngủ ngáy hơi lớn tiếng là nàng vác đơn ra tòa ca bài "hai giòng sông ly biệt" rồi. (Nhân nói về một người đàn bà đi thêm bước nữa gọi là tái giá, tôi thấy Tiếng Việt ta thật hay và phong phú. Đàn ông vợ chết, lấy vợ khác gọi là tục huyền, còn đàn bà lấy chồng khác gọi là tái giá. Tôi đã lẩn thẩn nghĩ rằng trong trường hợp các bà, sao ta không gọi là "tục tỉu", có phải vui hơn không? Nghĩa là: đàn ông, vợ chết lấy vợ khác; gọi là tục huyền. Đàn bà, chồng chết, lấy chồng khác: gọi là tục tỉu. Cũng đều bắt đầu bằng chữ "tục" cả. Tái nạm, tái gầu vào đây làm chi cho thêm phiền toái!)

Trong khi đó, về cánh đàn ông, các cụ không e ngại gì mà tuyên bố thẳng thừng rằng:

Sông bao nhiêu nước cũng vừa,
Trai bao nhiêu vợ cũng chưa vừa lòng

Hoặc:

Trong nhà có sẵn yến ngâm,
Lại còn muốn những nhung sâm nước ngoài.
Và đây là một chàng tuy đã có vợ nhưng không lúc nào quên bồ nhí của mình:
Con quạ bay xa, bay qua vườn hoa kêu chua chát,
Con nhạn đậu lầu vàng nghỉ mát kêu sương
Nhạn kêu tiếng nhạn đau thương,
Đêm nằm nhớ vợ, ngày thường nhớ em.

Chàng có vợ bé hoặc bồ nhí hay cho rằng vợ người khác đẹp hơn vợ mình thì cũng là chuyện thường tình nhưng chàng sẽ là một tên "đại cà chớn" nếu có tà ý đem lòng thương yêu vợ bạn. Chàng cũng hiểu như thế là bất nhơn, là không đạo đức:

Ai xui ai khiến bất nhơn
Tui thấy vợ bạn tui thương hơn vợ nhà.

Còn chàng có thương vợ người khác mà không được thì thôi chứ chẳng lẽ ăn vạ hay tự tử(?):

Buồn tình chẳng muốn nói cười,
Bởi thương vợ người không được thì thôi.

Thương không được thì thôi chứ không như mấy anh chàng có máu "dê" đầy mình và gan góc, chết thì chịu chứ quyết theo đuổi nàng tới cùng:

Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết tôi, tôi chịu, buông nàng không buông.

Nếu chàng gan dạ và can đảm cùng mình như thế thì hẳn chàng có nhiều lá gan và không chỉ chàng dành cho vợ mà còn cho người khác nữa.:

Đàn ông năm bảy lá gan,
Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người.
Đó chỉ mới là "toan tính" thôi chứ chưa chắc đã dám hành động rõ ràng dứt khoát như trường hợp của phe tóc dài dưới đây:

Hai tay cầm hai quả hồng,
Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai.
Đêm nằm vuốt bụng thở dài,
Thương chồng thì ít thương trai thì nhiều.

Như thế, cuộc sống lứa đôi của cặp vợ chồng trên đây không có gì bảo đảm sẽ tồn tại với thời gian, không thể nào ăn đời ở kiếp đến răng long đầu bạc được. Người chồng ở đây là một người chồng đau khổ. anh đau khổ là vì lỗi là do chính anh chứ không phải nguyên do nào khác. Vợ anh không thương anh mà đem lòng thương trai là do anh đần độn quá sức:

Một là em lấy chồng quan,
Hai là chồng lính, ba là chồng dân
Nhưng em không chịu lấy chồng đần,
Về nhà cha mẹ mắng, ra đường chị em khinh.

Cái quan niệm chọn chồng của người đàn bà ở trên thật minh bạch. Lấy ai cũng được, sang hèn gì cũng xong nhưng không thể đi nâng khăn sửa túi cho một anh ngu đần, ăn nói vụng về luôn luôn gây phật lòng người khác. Có một câu chuyện kể rất tiếu lâm về một anh chồng đần độn kiểu này như sau:

"Một anh chồng trong một gia đình nọ, vừa ngu vừa vụng về. Hễ mở miệng ra là đem bực mình đến cho người khác. Vì thế, trong mọi giao tiếp, bà vợ phải cấm chỉ anh ta, không nói gì hết. Một hôm, hai vợ chồng được mời dự bữa tiệc đầy tháng con của một người bạn. Bà vợ dặn chồng là suốt bữa tiệc phải im lặng hoàn toàn. Anh chồng nghe lời. Đến dự, mặc cho thiên hạ nói gì thì nói, suốt buổi anh thủ khẩu như bình. Đến khi tiệc tan, mọi người chia tay nhau ra về, mỗi người đều nói một lời chúc tụng nào đó cho cháu bé. Anh chồng buộc lời phải phát ngôn. Anh bèn nói với chủ nhà, là mẹ của đứa trẻ sơ sinh: Chị thấy đó, từ đầu tiệc đến giờ tôi hoàn toàn không có nói điều chi cả. Lỡ ngày mai cháu bé có chết, chị đừng có đổ thừa là tại tôi đấy nhá!"

Cánh đàn ông chúng ta thường tự nhận mình là "đần ông" để vuốt ve, thỏa mãn tự ái của các bà chứ nếu các bà thật sự chê chúng ta là ngốc, là đần thì ta đành phải xách xe không chạy mút chỉ cả tha thôi:

Một đêm quân tử nằm kề,
Còn hơn thằng ngốc vỗ về quanh năm.

Hay:

Một ngày dựa mạn thuyền rồng
Còn hơn chín tháng nằm trong thuyền chài

Từ Đông sang Tây, một ngàn năm trước hay hay một triệu năm sau, bất cứ ở đâu, thời nào cũng có những người đàn bà không đoan chính, tự do xả láng sáng về sớm. Có chồng thì càng dễ..."lăng ba vị bộ", vì đã có người đứng mũi chịu sào rồi mà.

Có chồng càng dễ chơi ngang,
Đẻ ra con thiếp, con chàng, con ai?
Và còn ra cái điều "thách thức" nữa các cụ ạ:
Con tôi đi kiếm về đây,
Có cho nó gọi bằng thầy thì cho.

Không những thách thức mà còn trân tráo, đanh đá, trơ mặt ngồi xổm trên luân thường đạo lý mới là kinh hãi. Trong đời, bạn đã từng gặp loại người đàn bà này chưa:

Lẳng lơ cũng chẳng có mòn ,
Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ.

Trường hợp nàng gặp phải một anh chàng ba phải, phổi bò, không quan tâm thắc mắc gì đời sống của nàng, ra cái điều rộng lượng thì nàng cũng có quyền rong chơi với tháng ngày chứ:

Em đây là gái năm con,
Chồng em rộng lượng, em còn chơi Xuân.

Thà là như thế còn hơn cái cảnh đêm nay để cửa chờ chồng, đêm mai thì chờ ông láng giềng:

Đêm qua để cửa chờ chồng
Đêm nay để cửa chờ ông láng giềng.

Ngày xưa, khi người chồng qua đời, người vợ để tang 3 năm, sau đó có quyền lấy chồng khác. Tuy thế, cũng không ít trường hợp chưa mãn tang, người đàn bà đã vội có người đàn ông khác:

Mả chồng còn đó trơ trơ,
Đã cùng người khác đợi chờ năm canh.

Bên cạnh đó cũng có những người vợ rất đàng hoàng, đoan chính, nhỏ nhẹ, thưa với người đi theo tán tỉnh rằng "cám ơn những tình cảm anh dành cho tui nhưng xin anh đừng đến nhà tui nữa kẻo chồng tui ghen":

Có lòng thì tạ ơn lòng
Anh đừng đến nữa mà chồng em ghen.

Trong đời sống hàng ngay, vợ chồng chia bùi xẻ ngọt với nhau. Không ai có thể săn sóc lo lắng cho nhau tận tình như vợ với chồng. Thử hình dung ra cảnh người chồng đau nằm liệt giường, người vợ lo thuốc thang, chân thấp chân cao bưng thuốc đến cho chồng uống, vừa đi vừa vái trời cho chồng mạnh khỏe để cùng ăn đời ở kiếp...Làm sao ta không thương hết mình những người vợ như thế được:

Cầm con dao sắc cắt đôi củ gừng,
Bỏ vô nồi đất, sắc lại vài phân.
Cái tay em bưng, cái chân em bước
Mái tóc em xước, cái lược em rơi
Vừa đi vừa vái ông trời
Cho chồng em mạnh, ở đời với em.

Nếu người đàn bà thương chồng nhiều đến thế thì hẳn nhiên là cũng thương con ngập lòng. Nàng bương chải đi làm nuôi con, mặc cho áo rách sờn vai:

Em đi làm mướn nuôi ai,
Cho áo em rách, cho vai em mòn.
Em đi làm mướn nuôi con,
Áo rách mặc áo, vai sờn mặc vai.

Một vài hình ảnh khác cho thấy sự buôn tần bán tảo và bương chải ngược xuôi, đầu tắt mặt tối để lo sinh kế gia đình của người đàn bà đến nỗi vú xẹp, lưng nàng teo:

Một ngày ba bận trèo đèo,
Vì ai vú xẹp, lưng teo hỡi chàng?

Nhìn chung, qua những vần ca dao, chúng ta có thể hình dung và hiểu được những suy nghĩ cùng tâm tình và cách sống của dân gian. Cũng qua ca dao, người xưa đã để lại cho chúng ta một kho tàng về kinh nghiệm sống trên mọi lãnh vực, trong đó đáng kể nhất là kinh nghiệm nói về bản chất không thể thay đổi ở một số người, hay nói nôm na là khi đã thành "tật" rồi thì khó mà chữa được:

Trời nắng rồi trời lại mưa,
Tính nào tật nấy có chừa được đâu.

HUỲNH VĂN PHÚ

1 user thanked thunder for this useful post.
phamlang on 7/20/2016(UTC)
Hạ Vi
#2935 Posted : Tuesday, July 12, 2016 4:54:10 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,333
Points: 16,885
Location: CỏThơm

Thanks: 4126 times
Was thanked: 9969 time(s) in 2470 post(s)
.




n O n .t Ơ
________________________________________________________________________


tôi còn ngơ ngẩn bao lâu nữa
sục sạo lòng xuân kiếm chút hè
thương những con đường xanh . thẳm thẳm
riết róng ngang trời. ngợp giọng ve

ký ức bung thùa. vòm mắt ngọc
cổng trường trong vắt. chỉ lòng tôi
vẩn một chòm mây màu xám đục
mùa hè không gió . chắc . không trôi

năm tháng liên miên con nước . chảy
tôi còn ở lại dưới tàn me
khất thực . giữa trần gian lãnh đạm
thèm một bàn tay . ngón tiểu thơ


t h a n g t r a m






1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
thunder on 9/13/2016(UTC)
phamlang
#2936 Posted : Wednesday, July 20, 2016 12:27:16 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,513
Points: 4,755

Thanks: 1669 times
Was thanked: 998 time(s) in 646 post(s)
Phùng Há & Năm Châu: Tình chỉ đẹp khi còn dang dở

Soạn giả Nguyễn Phương


Nữ nghệ sĩ tiền phong Phùng Há (30/4 /1911 – 05 /7/2009), tên thật là Trương Phụng Hảo, sanh ngày 30 tháng 4 năm 1911 (Tân Hợi), tại làng Điều Hòa, tổng Thuận Trị, Huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho, đã phụng sự nghệ thuật sân khấu liên tục trong 80 năm kể từ vai diễn đầu tiên, năm 13 tuổi (vai Giả Thị trong tuồng Hoàng Phi Hổ qui Châu của thầy tuồng Nguyễn Công Mạnh).



Dòng họ Trương ở tại làng Phú Lạng, huyện Hạc San, tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Dưới chế độ Mãn Thanh, cuộc sống ngày càng khó khăn, nên con cái của họ Trương thường đi phương xa lập nghiệp. Trương Nhân Trưởng (cha của nữ nghệ sĩ Trương Phụng Hảo) được gia đình cho đi Quảng Châu làm việc tại một vựa trái cây. Trương Nhân Trưởng đã quấn pháo vào chiếc bính của người bạn, pháo nổ văng mất bính, sợ bị tù tội mới bỏ trốn sang Việt Nam. Trương Nhân Trưởng đã có vợ ở bên Tàu, nhưng vì đang trốn chạy không mang theo được. Ông Trưởng đến Mỹ Tho làm nghề bán thịt bò. Ông cưới bà Lê Thị Mai, người làng Điều Hòa, sanh hạ được 7 người con: Trương Tích Kỳ (nam), Trương Ngân Hảo (nữ), Trương Liên Hảo (nữ), Trương Tích Huy (nam, đã chết lúc nhỏ), Trương Tích Trung (nam), Trương Phụng Hảo (nữ), Trương Nguyệt Hảo (nữ).

Trương Phụng Hảo sau này trở thành đệ nhứt tài danh sân khấu cải lương Việt Nam.

Bà Lê Thị Mai thường gọi Trương Phụng Hảo là Phùng Há , theo tiếng gọi của làng quê Trung Quốc nên Trương Phụng Hảo lấy nghệ danh Phùng Há để tưởng nhớ mẹ của mình.

Những năm tháng ghi nhớ trong cuộc đời đi hát của Phùng Há

– Năm 1916 và năm 1918, bà hai lần theo mẹ về quê cha ở huyện Hạc San, tỉnh Quảng Đông – Trung Quốc.

– Năm 1920 – 1924, bà và mẹ trở về VN, nhưng người anh thứ hai Trương Tích Kỳ chiếm đoạt gia sản của cha để lại và đuổi hai mẹ con bà trở về Hạc San, nên hai mẹ con bà về sống với bà ngoại ở làng Điều Hòa, huyện Châu Thành, Mỹ Tho.

– Nhà nghèo, bà ngoại và mẹ thường bị bệnh, năm 13 tuổi bà đã phải đi làm ở lò gạch ông Bang Hoạch để có tiền nuôi bà ngoại và mẹ. Ông Bầu Hai Cu, chủ gánh hát Tái Đồng Ban, nghe đồn cô bé xẩm lai ở lò gạch ca hay nên tới tìm, mời ký hợp đồng hát cho gánh Tái Đồng Ban. Nhạc sĩ Tư Chơi dạy ca. Ông thầy tuồng Nguyễn Công Mạnh và kép Năm Châu dạy hát. Từ đó Phùng Há đóng vai đào chánh, hát cặp với hai kép Năm Châu, Từ Anh.

– 1926 sanh con gái đầu lòng, đặt tên Bửu Chánh. Chồng là nhạc sĩ Tư Chơi, (tên thật là Huỳnh Thủ Trung, soạn giả)

– 1927 – 1929: gia nhập gánh hát Thầy Năm Tú.

– 1929 – 1934: 18 tuổi lập gánh hát Huỳnh Kỳ (Phước George)

– 1934 – 1935: cùng với nghệ sĩ Năm Châu gia nhập gánh hát Trần Đắc.

– 1935 – 1936: nhập với gánh Phước Cương, lập gánh hát Phi Phụng.

– 1936 – 1939: lập gánh hát Phụng Hảo 1 tại Cầu Ngang (Nguyễn Bửu).

– 1940: gánh Phụng Hảo 1 rã

– 1941 – 1945: lập Phụng Hảo 2

– 1945: Phụng Hảo 2 rã.

– 1946: gia nhập gánh Con Tằm – Lập gánh Phụng Hảo 3 tại Mỹ Tho.

– 1947: Phụng Hảo 3 rã, đi hát chầu cho Năm Châu ở Cầu Muối.

– 1948: thành lập Tam Phụng Hảo. Thành lập Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu Tương Tế.

– 1949: sáu tháng hát cho đoàn Việt Kịch Năm Châu. Lập đoàn Phụng Hảo 4 – cuối năm rã gánh.

– 1950: lập gánh Phụng Hảo 5 (được sự tài trợ của ông Châu văn Sáu tự bầu Nhơn). Tổ chức hát Hội mỗi tuần, gây quỹ cho Hội và cứu trợ nghệ sĩ nghèo yếu, neo đơn, đồng bào nạn nhân thiên tai, chiến cuộc.

– 1955: rã gánh Phụng Hảo 5.

– 1955 – 1956: Hội Trưởng Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ.

– 1959: Bửu Chánh, người con gái lớn của bà mất lúc cuối năm.

– 1960: đi Pháp với Kim Cương – hát tại restaurant Table des Mandarins.

– 1962: giáo sư khóa Nghệ Thuật Cải lương trường Quốc Gia Âm Nhạc & Kịch Nghệ Saigon,

– 1964 Sau cuộc đảo chánh của Tướng Nguyễn Khánh, bà đi Pháp và thường xuyên đi hát với Trần Văn Khê, giúp Hội Việt Kiều tập vở Mẫu Đơn Tiên.

– 1965 – 1975: hoạt động Hội Ái Hữu Nghệ sĩ, tổ chức hát Hội gây quỹ, xây Chùa Nghệ sĩ, lập Nghĩa trang Nghệ sĩ, tổ chức cứu trợ từ thiện cho nghệ sĩ và đồng bào nghèo yếu neo đơn, nạn nhân thiên tai và chiến cuộc.

– 1976 – 1980: cố vấn nghệ thuật cho đoàn cải lương Saigon 1 và đoàn Thanh Nga.

– 1981 – 2001: dạy khóa kịch nghệ – trường Sân Khấu Thành Phố và trường Đào tạo nghệ sĩ Nhà hát Trần Hữu Trang. Cố vấn Hội Sân Khấu Thành Phố, Cố vấn Ban Ái Hữu Nghệ sĩ. Khởi xướng lập Viện dưỡng lão nghệ sĩ thành phố. Phụ trách Hội Chùa Nghệ Sĩ.

(Theo tài liệu lưu trong Phòng riêng của Bà ở Chùa Nghệ Sĩ, nay là Viện bảo tàng Phùng Há ở Nghĩa trang Nghệ Sĩ và Chùa Nghệ Sĩ)



***

Tôi là đồng môn trường Pratique d` industrie de Saigon với anh Tám Kiết, quản lý đoàn Việt Kịch Năm Châu. Anh Tám Kiết là chồng của cô Tám, em ruột của anh Năm Châu nên khi tôi cộng tác với đoàn Việt Kịch Năm Châu, anh Tám Kiết giúp tôi bằng cách giới thiệu cho tôi biết tính cách và tài nghệ của các nghệ sĩ trong đoàn hát để cho tôi dễ làm việc. Anh cũng thường tâm sự với tôi về đời tư và sự nghiệp sân khấu của anh Năm Châu. Tôi hỏi: “Tôi nghe các bạn nghệ sĩ ở Hội Ái Hữu nói: Anh Năm Châu và cô bảy Phùng Há là cặp đôi lý tưởng. Vậy cặp đôi đây là đôi tình nhơn hay đôi bạn diễn?”

Anh nói: “Anh Năm Châu và cô Bảy Phùng Há là cặp diễn viên thinh sắc lưỡng toàn, vừa là đôi bạn diễn, vừa là đôi bạn tình, tuy yêu nhau nhưng vì hoàn cảnh trớ trêu nên không thể thành vợ chồng, hai anh chị không vượt vòng lễ giáo. Hồi cô Bảy gia nhập gánh Tái Đồng Ban (1924) anh Năm Châu chỉ dạy cho cô ca hát, đóng cặp với cô trong nhiều tuồng, khán giả rất hoan nghênh và cho là một cặp lý tưởng. Tôi nghĩ hai người yêu nhau thì mới thể hiện được mối tình nồng thắm của nhân vật. Lúc đó cô Phùng Há còn vị thành niên nên anh Năm tính vài năm nữa sẽ cầu hôn, không ngờ nhạc sĩ kiêm soạn giả Tư Chơi đi trước một bước. Anh Tư Chơi lấy cô Bảy, năm 1926 cô sanh con gái đầu lòng đặt tên Bửu Chánh. Năm 1927, anh Năm lấy cô Ngọc Xoa (Sáu Trâm). Năm 1929, anh Tư Chơi cặp với cô Kim Thoa, cô Bảy ly dị Tư Chơi thì anh Năm đã có vợ.

Có lẽ không có duyên số với nhau nên khi anh Năm có vợ thì cô Bảy không chồng, khi cô Bảy có chồng thì anh Năm không vợ. Hai anh chị được khán giả và nghệ sĩ đàn em nể phục nên không thể tư tình vụng trộm, phá hoại gia cang của người bạn diễn, bạn tình.”

Năm 2000, tôi về quê hương, đến thăm cô Phùng Há trong chùa nghệ sĩ, nhắc lại chuyện xưa, tôi hỏi cô Bảy: “Thưa Cô, có phải là từ Tái Đồng Ban nẩy sanh ra Đôi Bạn Tình: Năm Châu – Phùng Há?”

Cô Bảy trả lời: “Mối tình đầu của tôi là nghệ sĩ Tư Chơi (tên thật là Huỳnh Thủ Trung). Ông là người chồng đầu tiên của tôi. Chúng tôi ăn ở với nhau có được một đứa con gái là Bửu Chánh. Cháu mất năm 1959, mới có 33 tuổi. Anh Năm Châu là người thầy, người bạn tình, người bạn diễn hết sức tâm đắc của tôi….”

Cô Bảy Phùng Há có vẻ đăm chiêu, ánh mắt mơ màng nhìn ra phía nghĩa trang, tôi theo ánh mắt của cô, đoán biết cô đang nghĩ tới người bạn tình đã mất, người mà cô vừa nhắc đến với lời lẽ hết sức xúc động, bi thương. Tôi nháy mắt ra hiệu cho anh họa sĩ Hoài Nam, đang cầm máy quay phim để anh thu hình ảnh và những lời tâm sự hiếm có nầy của một bậc tài danh độc nhất vô nhị của giới sân khấu cải lương. Cô Bảy đắm chìm trong nỗi nhớ riêng tư…

“Ngày đó, khi tôi lấy chồng, “Ảnh” đột ngột rời gánh Phụng Hảo, nghe đâu đi Hà Nội một thời gian. Khi đó gánh Phụng Hảo hát ở Nam Vang, tôi chưa tới 30 tuổi. Tôi quyết định lấy chồng để cả hai chúng tôi có thể dứt khoát.

Người ta đưa cho tôi lá thư “Ảnh” gởi trước khi đi, không một lời từ biệt. Lá thư đó là 12 câu vọng cổ, là tất cả tâm tình của “Ảnh “, trong từng câu, từng lời, tôi hiểu “Ảnh” rất buồn bực, thất vọng và trách móc tôi rất nhiều… Nhưng cho dù có hiểu nhau, thương nhau đến mấy, cũng bằng không thôi, số phần như vậy rồi…

(Cô Bảy có lẽ quên rằng chúng tôi đang có mặt ở đó, cô ca bằng cả tâm hồn của cô hướng về người tình xưa)

1.- Ngàn dặm xa trong cánh nhạn xòe. Cứ mỗi độ báo tin, sương mờ mịt ngọn khói lam. Nghi ngút tỏa bung lung trên các hàng thành quách cũ.

2.- Lơ lửng lá vàng rơi, thoang thoảng gió heo may, đưa hương vị cố nhân về, đánh thức bao ký vãng xa xăm mà ta đã cùng hưởng chung với nhau ở giữa đất phong trần.

3.- Lòng bỗng rạo rực băn khoăn vội vàng tạ liễu từ hoa, ân cần giao trả lại cho nước non, rồi xếp gió trăng thơ mộng, vùn vụt bánh xe lăn trong muôn dặm tử phần.

4.- Bồi hồi lòng mong mỏi, xé không gian tìm dấu cũ. Nặng nề lòng nhớ nhung mến tưởng, đinh ninh cái câu tao ngộ ta sẽ cùng sớt chia nhau mà trang trải nợ nần.

5.- Nào dè đâu thời gian đã tàn phá bức tranh tình. Mùi đã lạt, tình đã phai, cùng cố nhân tuy gần nhau trong gang tấc mà cách xa nhau như núi Sở sông Tần.

6.- Ánh thái dương đương sáng lạng trong veo tưng bừng hoa cỏ đon, bỗng thình lình đâu cơn gió vụt, đám mây vần, ôi cố nhân ơi, sao nỡ để tay hèn nâng phẩm tiên?

7.- Bây giờ đây tui có đi hay ở cũng lỡ làng rồi, mảnh hương nguyền đốt không thơm, tơ loan chùng phím trúc. Thơ ngày xưa đã lạc, mộng ngày xưa đã tan. Gió trúc cuốn xa, trăng tà chiếc bóng.

8.- Ngao ngán nỗi đường xa quán khách, bây giờ có ra đi thì sức mỏi chân chùng, nhung hoa còn đâu, liễu còn đâu? Nước non đã bao phen nắng vàng mưa bụi thì biết bao năm đã hỏi liễu tầm hoa.

9.- Mờ mịt ánh trăng mây lòng hơi chùng dưới gối. Chiếc nhạn trong sương nhiều khi tràn trụa chảy, không ngăn dòng máu nối dòng châu. Giọt lờ pha giọt đậm.

10.- Nhìn trộm cố nhân đang vui tươi bỗng thảm đạm, đang cười cợt bỗng âu sầu nhưng hoa kết gót sen, vàng bao thân ngọc, nhẹ nhàng cố nhân thoăn thoát lượn như con chim hoàng oanh sáng tối hát rồi ca.

11.- Ầm ĩ sống bến mê, rạt rào mưa khóm trúc, chiếc khăn tàn, con ma dại cứ lầm lũi đi trên con đường gió bão. Kìa ai ơi, một hồn quê mà ai đã sa đà.

12.- Cõi lòng đang hăm hở vui tươi bỗng đượm lấy một dòng sầu man mác. Giữa độ đầu xanh tuổi trẻ mà tâm khảm vì ai pha máu lạnh cho đến đổi nét xuân tươi mà nay tôi đã hóa ra cằn cỗi héo già.


Dù đã hơn nữa thế kỷ qua… sáu mươi năm dài đăng đẳng, 12 câu vọng cổ giã biệt vẫn không phai trong ký ức của Cô Bảy… 94 tuổi đời, giọng đã run, ca không còn rõ nhịp, nhưng từng lời, từng câu cứ tuôn tràn theo cảm xúc…

Từ khi nổi tiếng là một ngôi sao tài sắc, biết bao là vương tôn công tử và khách mộ điệu cải lương thầm yêu trộm nhớ, si mê, tôn vinh, nhưng có lẽ trong cuộc đời của Cô Bảy, trong những mối tình có thật và mơ hồ ấy, có “một mối tình không bao giờ phai lạt”. Dầu người đàn ông ấy đã về cõi vĩnh hằng nhiều năm rồi (khi tiếp chuyện với tôi, Cô Bảy đã 94 tuổi), cái tuổi hầu như khó thể nhớ về một thuở đã quá xa thì Cô Bảy vẫn không quên. Cô vẫn nhớ… Nhớ hầu như tất cả những đoạn trường, những trái ngang, nghịch cảnh giữa hai người, nhớ cả lời giã biệt của người xưa cách đây đã hơn 60 năm.

Nước mắt lăn dài trên đôi má, môi run run, cô cắn môi như muốn ngăn để không bật lên tiếng khóc. Vợ tôi vội ôm cô, vỗ nhè nhẹ trên lưng: ” Cô Bảy! Cô đừng xúc động quá! Cô khóc sẽ làm mệt, sẽ bệnh đó “…

Cô Bảy nghẹn ngào: “Tôi vui lắm… Tôi ca cho Ảnh nghe để Ảnh biết là cho tới bây giờ tôi vẫn còn yêu Ảnh…”

Chung quanh Cô Bảy, nhiều tiếng khóc ồ lên… Thanh Thanh Hoa, Nam Hùng, Tô Kim Hồng, Hương Xuân, Phương Ánh… những đứa học trò thân yêu của Cô Bảy và anh Năm Châu, không sao ngăn được tiếng khóc khi nghe kể lại mối tình dang dở xưa kia của Thầy và Cô.

Phải có một trái tim tuyệt vời, một tâm hồn cao cả mới chứa đựng được khối tình muôn thuở không phai. Có lẽ mối tình của Phùng Há và Năm Châu mãi mãi đẹp, chính bởi vì dang dở.

Nhân ngày giỗ lần thứ 7 của danh sư Phùng Há

Soạn giả Nguyễn Phương


Tháng 7/2016
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 9/13/2016(UTC)
Duy An
#2937 Posted : Saturday, July 30, 2016 10:29:49 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Mộng hái sen


Tim Nguyễn

Mộng Hái Sen. Viết xuống những từ này lòng chợt bồi hồi nhớ đến “Mộng Ðắc Thái Liên” của Nguyễn Du. Cùng cô hàng xóm nhỏ đi hái sen ở Hồ Tây, Nguyễn biết bài thơ Hái Sen của Nguyễn Du cũng đã khá lâu cho nên khi được đọc bài của Nguyễn Huệ Chi do Bùi Huy (Tô Thẩm Huy) gởi đến thì lại càng tràn đầy xúc cảm. “… trong một bài thơ làm thời kỳ đã ra làm quan với nhà Nguyễn, Nguyễn Du bỗng mơ về cái thời trẻ trung ở Thăng Long. Ông nhớ đến một người đẹp, cô bạn hàng xóm, đã cùng ông đi hái sen ở Hồ Tây. Một Nguyễn Du khác lạ bỗng đâu hiện về làm mờ hẳn Nguyễn Du già nua trước mắt. Sự xuất hiện bất thần của cô bạn gái được nhà thơ gợi tả thông qua cái bóng của cô lung linh dưới mặt nước khiến cho cảnh vật chợt bừng sáng, thời gian đảo ngược từ dĩ vãng trở thành hiện tại.”

Khẩn khúc thù điệp quần,
Thái liên trạc tiểu đĩnh
Hồ thủy hà xung dung,
Thủy trung hữu nhân ảnh.

Thắt chặt quần cánh bướm,
Hái sen thuyền nhỏ bơi.
Nước hồ sen trong vắt,
Trong nước có bóng người… *


Ôi, mộng hái sen… Còn gì tuyệt vời bằng.

Nhưng trước hết, Nguyễn xin được nói một chút về hoa sen trong đạo học và văn học Ðông phương. Bông sen xuất hiện khắp các nước Á châu và được xem là hoa của những người theo Ấn giáo và Phật giáo (flowers of Hindus and Buddhists). Từ những thời xa xưa, hoa sen được xem là tượng trưng cho những gì là thuần khiết thuộc về tinh thần. Ấn giáo tôn thờ hoa sen trong hình ảnh các nữ thần Vishnu và Lakshmi thường xuất hiện trên một đóa sen hồng. Trong Phật giáo, hình ảnh Ðức Phật ngồi trên tòa sen đã trở thành quen thuộc. Còn khi Phật cầm cành hoa chỉ vào mặt trăng cho ông Ca Diếp xem, Nguyễn nghĩ cành hoa đó chỉ có thể là bông sen.



Lăng Tự Đức – nguồn kienviet.net


Hoa sen đẹp, nhất là trong vùng nước xanh với bóng cô gái hái sen. Trong bài thơ “Mộng Ðắc Thái Liên”, Nguyễn Du cũng cho ta thấy vẻ đẹp ấy khi hẹn với cô gái nhà bên buổi sáng đi hái sen, và nào là người chưa đến mà đã nghe tiếng cười, và hoa sen thì đẹp và cuống sen có những sợi tơ vương vấn.

Ấu thời của Nguyễn cũng gắn liền với bông sen. Tắm ở ao sen đầu làng. Những bông sen mẹ mua về cắm trên bàn thờ, hương thơm thoang thoảng khắp căn nhà lợp tranh. Có một lần Nguyễn được cùng với chị Thoa bơi chiếc thuyền thúng hái sen trên hồ Thủy Ðình lúc trăng chiều vừa mới lên. Gió nhẹ thổi lá sen rào rạt. Hai chị em vừa bơi thuyền vừa cười giỡn vô tư. Rồi chị Thoa đi lấy chồng làm Nguyễn nhiều buổi nghẹn ngào nhớ chị. Và trí óc mông lung của Nguyễn còn bóng bài thơ Hái Sen (Cueillir Les Lotus) bằng tiếng Pháp của ai đó, hình như cũng kể chuyện ngày xưa được cùng chị hái sen trong đầm nước xanh. Kỷ niệm với chị, nhất là chị họ, bao giờ mà chẳng đẹp và long lanh ngấn lệ. Ôi tình xưa như nhãn và sen / Dẫu tình phai khi chưa kịp hẹn… Thơ của Nguyễn đấy.

Huế là nơi trồng rất nhiều sen. Sen dưới hào nước chung quanh tường thành. Lê Văn Ngăn (ôi, bạn đã ra ga lên chuyến tàu cuối) kể nhiều đêm thanh vắng, đi qua cầu vào cổ thành, chợt nghe một tiếng soạt dưới đầm, nhìn xuống thấy một bông sen nở trắng. Tôi nghĩ chắc ông thi sĩ tưởng tượng thêm vì Ngăn nổi tiếng là nhà thơ duy cảm. Và hồ Tịnh Tâm, nơi sen nở có người chờ đợi trước. Hạt sen hồ Tịnh Tâm là thứ quý như vàng, Thỏ nấu chè cho Cu ăn một mùa hè bãi trường về thăm nhà ở Vương Phủ, em còn nhớ hay em đã quên, hay là cũng do Nguyễn tôi tưởng tượng mà thôi… Và em có biết, Sen xa hồ sen khô hồ cạn / Lựu xa đào lựu ngả đào nghiêng… Còn anh xa em thì sao, ở hai bên bờ Tây và bờ Ðông, có nhánh hoa lavander nào tàn úa không, hay chẳng có gì cả, dửng dưng như không, vì đời đã quen với những lúc xa nhau? ** / ** Ca từ Trịnh Công Sơn

Sang Mỹ, nhiều lúc thấy nhớ bông sen và lá sen. Nhớ lạ lùng. Bông như môi và lá như tay. Xin cùng Nguyễn đọc lại câu thơ rất hay của Nguyên Sa: Vẫn biết lòng mình là hương cốm / Chẳng biết tay ai làm lá sen… Ôi, trong đầm gì đẹp bằng sen. Nhưng tìm đâu thấy? Vừa mới đây thôi, trong lúc trò chuyện với những chú ve nhỏ, kẻ viết những dòng vẩn vơ này có nói tới hoa sen. Ðó chỉ là một liên tưởng, và hắn có nói là mắt chưa từng được thấy cây bông sen ở xứ này. Lời ấy đã không còn đúng nữa rồi: Trong một chuyến đi đọc thơ ở Florida, mắt hắn đã được thấy cả một hồ sen nở ngát. Hồ sen của Trần Ðệ.

Thật là tuyệt vời. Anh bạn văn Trần Ðệ – quê ở Mỹ Tho nơi hắn đã có một thời để sống và để mơ… – anh Ðệ đã chống thuyền đưa hắn ra giữa hồ hái những bông sen trắng, sen hồng. Và trong một thoáng ngắn ngủi, hắn nghĩ đến cô bé Kiến An trong phim Ba Mùa – em đã có xem phim này, chắc em còn nhớ – cô bé nửa đêm bơi thuyền trên hồ sen bát ngát đến thăm nhà thơ bất hạnh. Cái ánh lửa từ những ngọn đèn rơi trên nước, những vùng lá và bông sen xô giạt dưới nhịp chèo, mái tóc dài bay trong gió tối… những ảnh bóng đó còn đọng trong tâm trí hắn cho tới phút giây này.

Giờ đây, hái sen đối với hắn không còn là một giấc mộng nữa. Dẫu chẳng được như Lý Bạch “đọc nát vạn cuốn sách” nhưng hắn cũng là gã lãng du, mê sách mê tranh, từng đi hết vạn dặm đường. Cô gái Hàng Châu thấy Lý Bạch chèo thuyền tới thì núp bóng vào vùng lá và bông sen, nhưng cô gái Phượng thành trên trang văn của hắn thì “từ dưới vùng nước xanh ao sen mùa hạ bước lên, hai tay ôm đầy bông sen đỏ, tóc và quần áo đẫm nước dán vào da thịt”… Thế thì Lý Bạch, và cả Vương Xương Linh, Bạch Cư Dị… chắc gì có diễm phúc hơn gã thơ lãng du kiết xác, bụi bặm này. Có lẽ hắn chỉ thua Nguyễn Du, không được cùng người đẹp Tây Hồ chèo thuyền con đi hái sen thôi. Nhưng biết đâu, ở kiếp sau… Chúng ta cùng hẹn nhé?

* Nguyễn Huệ Chi
Hạ Vi
#2938 Posted : Wednesday, August 10, 2016 10:27:48 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,333
Points: 16,885
Location: CỏThơm

Thanks: 4126 times
Was thanked: 9969 time(s) in 2470 post(s)






Lục Bát Tháng Tám


Tháng Bảy qua... tiếp đợi trông,
Hẹn em tháng Tám, nhủ lòng mình thôi!
Đường xa nghìn dặm bước rồi,
Vẫn mong manh... biết ở đời tin ai?

Tháng Tám lòng bỗng nguôi ngoai,
Dịu đi vị đắng đời ngoài vào ta.
Trời xanh trong, nắng hiền hòa,
Mắt môi ai thắm nở hoa dâng đời.

Tháng Tám rớt giọt ngâu rơi,
Cơn mưa rả rích gọi lời sầu dâng.
Mắt em sâu thẳm mấy quầng,
Vai mềm nắng đọng cho lòng vấn vương.

Tháng Tám ơi... lắm yêu thương,
Hứa lời đi tận cuối đường dài lâu.
Trái tim yêu mãi thắm màu,
Kéo gần lại khoảng xa nhau tháng ngày!


Trần Mạnh Tuân






1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
thunder on 9/13/2016(UTC)
Duy An
#2939 Posted : Tuesday, August 30, 2016 1:33:11 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Từ những giọt mưa…



Tim Nguyễn

Mấy hôm, bỗng nhiên nhận được nhiều thư của bạn bè ở Vỹ Dạ Huế thời gia đình Phật Tử Chơn Tuệ, lòng mình chợt bồi hồi nhớ lại những hình bóng xưa.

Buổi sáng, trời Garland lại nhiều mây và có mưa thưa. Ngồi nhìn những giọt mưa rơi trên lá bỗng nghĩ tới Trần Vàng Sao với bài thơ Đứa Bé Thả Diều Trên Đồng Và Vắt Cơm Cúng Mả Mới. Không biết giờ này những giọt mưa có rơi trên cánh đồng trước trường Thế Dạ của mình và bạn bè?

Vâng. Nhìn những giọt mưa, nghĩ tới Trần Vàng Sao và tuổi nhỏ trên cánh đồng làng Lại Thế. Ôi, cả một thời bỗng sống lại. Lại thêm vừa được đọc email của Vĩnh Tiền bạn thời nhỏ nhắc tới Nguyễn Ðính hồi ở gia đình Phật Tử mà mình là đội trưởng đội thiếu niên ở đó. Thì ra không có gì mất đi cả từ thời ấy. Vĩnh Tiền viết như sau.

“Nguyễn Ðính có bút hiệu Trần Vàng Sao. Ðã đọc bài hồi ức những ngày bị các đồng chí đì cho tưởng phải ra nằm với cóc nhái, giun dế khi bị cô lập trong một căn nhà hoang, ruộng đồng ngập nước ngoài Bắc và bài thơ “Tau Chửi” trứ danh. Trần Vàng Sao uất ức chán nản khi thấy rõ bộ mặt thật chế độ. Thuở ấy, Trần Vàng Sao mặt vàng khè mắt tóe 36 ông sao “cứ vô được qua khỏi cầu Mỹ Chánh là cứt cả” (nguyên văn của Ðính). Còn nhớ Ðính là Ðồng Niên vì một lần đi trại liên đoàn khi về chùa Ba La. Ngang trước trường Thế Dạ bắt gặp chú bé Ðính trong y phục Ðồng Niên hai tay xách đồ đi trại, cổ đeo cái mền tòn teng trước ngực như đeo máy ảnh khi chụp. Phải sửa thế đeo qua hông cho Ðính thoải mái. Trao duyên tướng cướp thấy mà thương.”



Đình làng Lại Thế


Nhớ một lần mình có viết, thuở ấy ở Vương Phủ Vỹ Dạ có ba người làm thơ: Võ Ngọc Trác, mình và Trần Vàng Sao. Riêng cuộc đời Trần Vàng Sao buồn và oan khốc. Buồn và oan khốc. Ðúng vậy. Buồn từ lúc tuổi còn thơ. Vì gia đình nghèo, cha chết sớm, mẹ tần tảo đầu sông cuối chợ. Mơ mộng của tuổi thơ chết theo cánh diều trên cánh đồng đầy những mồ mả… Trần Vàng Sao, tên thật là Nguyễn Ðính sinh năm 1941, sống từ thuở ấu thời đến bây giờ tại phường Vỹ Dạ, thành phố Huế. Năm 1961 ông thi đỗ tú tài rồi vào Ðại học Huế, tham gia các phong trào đấu tranh của sinh viên cùng thế hệ với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Ngô Kha. Từ 1965 đến 1970, ông lên chiến khu và công tác tại Ban Tuyên huấn Thành ủy Huế, viết báo với các bút danh Nguyễn Thiết, Lê Văn Sắc, Trần Sao. Năm 1970 ông được đưa ra miền Bắc an dưỡng, chữa bệnh. Ở nơi đây, ông có viết nhật ký ghi lại những suy nghĩ của ông về cái gọi là ‘hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa’. Sau đó bị tố cáo, đấu tố và cô lập đến nỗi ông có cảm giác ông không còn được coi là con người mà đã thành ‘một con vật, một con chó’, theo như Hồi ký ‘Tôi bị bắt’ ông viết sau này.

Ðiểm qua như vậy ta thấy được Trần Vàng Sao là người yêu nước với tâm hồn ngây thơ trong sáng và nhiệt tình của tuổi trẻ nhưng rồi ông bị vỡ mộng khi nhìn thấy bộ mặt thật của Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa và sự tham lam, tàn ác và dã tâm của những người Cộng Sản. Những tác phẩm của ông như Hồi ký Tôi bị bắt (1976), Cương lĩnh chính trị diễn ca, Bài thơ của một người yêu nước mình (19-12-1967), Người đàn ông 43 tuổi nói về mình (1984), Buổi trưa giữa đường tôi ngồi núp mưa (1990), Tau chửi… là những bức tranh màu xám của xã hội đồng thời là bản cáo trạng lên án chế độ với “những con người bằng máy / đầy gân thiếu trái tim”.

Trở lại với bài thơ “Ðứa Bé Thả Diều Trên Ðồng…” Bài thơ gây ấn tượng mạnh cho Nguyễn. Với Trần Vàng Sao, hình ảnh con diều bay trên cánh đồng, thương thay, không phải là hạnh phúc của tuổi thơ nữa. Bởi bên nó lởn vởn sự nghèo đói và những nấm mộ trên cồn đất cao. Cậu bé thả diều trong bài thơ nằm trên cỏ mà nhớ tới những miếng sắn khô luộc chấm với muối sống. Cậu đang đói. Muốn chợp mắt ngủ cho quên cơn giày vò của cái dạ dày nhưng không được. Cậu vẫn mở mắt nhìn con diều bay trên bầu trời. Nằm một lát thấy chán cậu đứng dậy đi lên cồn cao ngồi nhìn người ta đi cúng viếng mộ. Có cả trẻ con nữa. Chúng cũng nhìn theo cánh diều của Trần Vàng Sao. Bao nhiêu hình ảnh chập chờn trên cánh đồng tha ma. Và, mấy cây hương còn cháy trên vắt cơm cúng mả mới…

“tôi ngồi xuống đất

những hột cơm trắng và khô

tôi ăn cả tàn hương phẩm đỏ vào bụng

liệu ai ở nhà tôi chết có được một vắt cơm to

trắng thế này để trên mả không
tôi phủi hai bàn tay vào nhau

đến chiều gió rất to

hai cái đuôi con diều muốn đứt

nhưng tôi không còn dây nữa”

Rời khỏi cái không gian của tuổi thơ nghèo đói cô đơn, Trần Vàng Sao đi vào thời trung niên bão tố và bầu khí quyển ngột ngạt một thời sau khi đất nước chuyển mình đỏ rực. Bây giờ, ngày ngày ngồi nhìn cảnh nhà nghèo, Trần Vàng Sao lấy giấy bút vẽ Bồ Ðề Ðạt Ma.

Nghĩ tới cánh diều của Trần Vàng Sao rồi nghĩ tới tuổi nhỏ ngày nào. Tuổi nhỏ của Nguyễn ở Vương Phủ vậy mà còn có những ngày vui. Với hình ảnh cây bàng lá đỏ, mái ngói thâm nâu ở Vương Phủ, và con bé Thỏ ngày ngày cùng chơi đùa. Với cánh đồng trước trường Thế Dạ nhìn qua biệt thự Mai Trang có Diệu Uyển ở đó, với những buổi thả diều và đá banh cùng đám trẻ đồng trang lứa. Ký ức ơi, còn gì nữa? Còn những ngày sinh họat trong gia đình Phật Tử Chơn Tuệ ở chùa Ba La Mật. Còn đình làng Lại Thế với ao sen và bóng người đánh xe ngựa mặc áo màu vỏ lựu ngồi nghỉ chân uống trà. Còn nữa với những buổi tắm sông ở bến nhà Dạ Khê, những đêm trăng chạy chơi trong xóm. Một thời rong chơi với mái đầu húi cua rồi cũng khép lại. Xin cám ơn, cám ơn tuổi nhỏ của tôi.

1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 9/13/2016(UTC)
CỏThơm
#2940 Posted : Thursday, September 8, 2016 5:48:50 AM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 162
Points: 516
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 127 times
Was thanked: 93 time(s) in 68 post(s)






Màu mưa Huế


(Nhớ một mùa mưa Huế đã rất xa)

Em có về những ngày mưa của Huế
Mới yêu Trường Tiền áo tím trong thơ
“Chưa ướt tóc nghĩa là chưa yêu Huế [1]
Yêu dòng Hương mềm dải lụa đôi bờ.

Mưa níu giữ bước chân người đến Huế
Thèm lang lang đường dệt tiếng mưa rơi
Đường đại nội kết đầy màu phượng đỏ
Tiếng hàng rong đêm trong gió chơi vơi.

Em thấy được gì trong mưa xứ Huế
Chút dịu dàng trong sóng mắt ngày mưa
Nhớ cô gái đi qua hàng long nảo
Trên gác trọ buồn thuở cuộc tình xưa [2].

Mưa rây hạt trên hàng cây góc phố
Buổi sáng hồng lên chợt tím lưng chiều
Người ta nói Huế mưa hay đỏng đảnh
Phải lòng cô gái đẹp lại lắm chiêu.

Em còn giữ bao niềm riêng của Huế
Trong màn mưa trầm mặc tiếng chuông chùa
Nghe tiếng thở của đền đài lăng tẩm
Như mơ hồ tan biến dưới cơn mưa.

Người đã xa trong mưa dầm xứ Huế
Từng giọt mưa thành giọt nhớ giọt thương
Tuổi thanh xuân một thời em để lại
Tôi nao lòng nhớ vạt áo thơm hương.

Tôi yêu Huế yêu dáng mưa của Huế
Yêu thương người để được đến gần nhau
Tiếng lá ướt rạt rào trôi hun hút
Yêu câu hò qua bến Phu Văn Lâu.

Màu mưa Huế là nét riêng rất Huế
Màu thâm nâu núi Ngự cố đô xưa
Màu thời gian phủ trên từng di tích
Gọi em về thầm lặng Huế trong mưa.


[1] Thơ Văn Công Toàn
[2] Hình ảnh Diễm trong Diễm Xưa của Trịnh Công Sơn.



Nguyễn An Bình









1 user thanked CỏThơm for this useful post.
thunder on 9/13/2016(UTC)
thunder
#2941 Posted : Tuesday, September 13, 2016 10:30:18 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,092
Points: 12,473

Thanks: 1863 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)


Yếu nghĩa của Nam mô A-di-đà Phật


A-di-đà là phiên âm chữ Amita, tiếng Sanskrit, dạng viết tắt của hai chữ Amitàbha có nghĩa là “Vô Lượng Quang” – “ánh sáng vô lượng” và Amitàyus có nghĩa là “Vô Lượng Thọ” – “thọ mệnh vô lượng”. Ðây là tên một vị Phật quan trọng được tôn thờ nhiều nhất trong Ðại thừa, giáo chủ cõi Tây phương Cực Lạc, tiếng Sanskrit là Sukhàvati, và được nhân gian tin thờ sớm nhất trong lịch sử Phật giáo, vào khoảng thế kỷ thứ nhất sau công nguyên (1).

Phật tử theo Tịnh-Ðộ tông đã tin thờ lan rộng nước Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam, coi Ðức A-di-đà là biểu tượng cho Từ Bi và Trí Huệ. Người tu Tịnh-Ðộ tông thường thờ tượng A-di-đà Tam Tôn, ở giữa là Phật Di Ðà, bên phải là Ðại Thế Chí Bồ Tát, bên trái là Quán Thế Âm Bồ Tát.


Nam-mô A-di-đà Phật! Sáu chữ Hồng Danh xưng niệm Phật hiệu đã trở thành câu niệm Phật quen thuộc và phổ biến rất rộng rãi trong giới Phật tử xuất gia cũng như cư sĩ tại gia. Mức độ thông dụng trong sinh hoạt hàng ngày chứng tỏ lòng tín niệm của Phật tử thể hiện ở câu chào khi gặp nhau gồm có bốn chữ A-di-đà Phật!

Về mặt giáo lý, đây là pháp trì danh niệm Phật trong Tịnh-Ðộ tông được tín hành nhiều nhất, ngắn gọn dễ dàng tu tập nhất , thích hợp với tất cả mọi tầng lớp tín đồ không phân biệt thượng, trung hay hạ căn, trí huệ cao hay thấp, nghiệp chướng nặng hay nhẹ, chỉ cần hành giả trì danh nhất tâm tín nguyện, không thối chuyển cho đến khi mệnh chung sẽ được vãng sanh, Phật A-di-đà và thánh chúng tiếp dẫn về Tây phương Cực Lạc.

Phổ biến lan rộng như thế, thông dụng thích hợp với mọi căn duyên chư thế, dễ dàng hành trì tu tập như thế, sáu chữ Nam-mô A-di-đà Phật lại có nội dung thậm thâm vi diệu, đệ nhất thù thắng so với các pháp môn tu tập khác. Ðiều này là mối nghi trong tâm thức của đa số Phật tử có thiên kiến lệch lạc về công năng của pháp niệm A-di-đà cho rằng pháp trì danh này không đạt tới đạo quả bằng pháp tu Thiền Ðịnh và chỉ thích hợp cho người già cả hay kẻ có trình độ trí huệ thấp kém không đủ khả năng theo Thiền Tông hay Mật Tông.

Ðể giải trừ mối nghi thiên lệch này, xin mời ai có nghi tâm lắng nghe Ðức Phật Thích Ca nói trong kinh Niệm Phật Ba-la-mật: Nếu có chúng sanh nào chí thành xưng niệm danh hiệu Nam-mô A-di-đà Phật thì uy lực bất khả tư nghị của danh hiệu khiến cho Tâm thể thanh tịnh mà chúng sanh ấy không hề hay biết, tự nhiên chứng nhập Sơ phần Pháp thân … Muốn vãng sanh Cực Lạc chỉ cần xưng niệm danh Phật là đủ. Vì danh hiệu Phật chính là biểu tượng của Pháp thân, do đó niệm danh hiệu Phật tức là niệm Pháp thân Phật và người niệm Phật khỏi cần phải kiêm thêm bất cứ môn tu nào nữa.

Trong kinh Ðại Tập Phật dạy: Thời Mạt pháp vạn ức người tu không được một người giải thoát, chỉ nương pháp môn Niệm Phật mới có thể ra khỏi được luân hồi. Phật còn so sánh với pháp môn Thiền Ðịnh: Nếu cầu Vô thượng Bồ-đề nên tu Niệm Phật Thiền Tam Muội… Xưng niệm Phật A-di-đà là Vô thượng thâm diệu Thiền… Trong kinh Bửu Tích Phật thưa với Phụ Vương Tịnh Phạn: Phụ Vương nên niệm danh hiệu của Phật A-di-đà nơi cảnh Tây phương Cực Lạc, tinh tấn chuyên cần thì sẽ thành Phật, vui mừng niệm Phật sẽ được Vô Sanh Pháp Nhẫn.

Ngoài ra trong nhiều kinh Ðức Phật thuyết về Tịnh Ðộ, ngay cả các kinh về Mật tông cũng nói đến Phật A-di-đà. Một nhận xét chính yếu để giải trừ mối nghi về tu thiền và pháp môn niệm Phật: Tu Thiền mà không được chân truyền rất dễ lạc vào tà kiến, ma đạo thường gọi là Ma Thiền, giống như kiến bò lên núi, mọt đục mắt tre. Do đó tu Thiền cần thêm Niệm Phật, nhiều Thiền sư vẫn chuyên cần niệm Phật. Ðây chính là nguyên do có giải pháp Thiền Tịnh song tu. Mật Tông cũng thờ Phật A-di-đà, xưng là Cam Lộ Vương, sáu chữ Hồng Danh gọi là Cam Lộ chú, Cam Lộ minh.

Nói đến sáu chữ Hồng Danh Nam-mô A-di-đà Phật, nhiều người có tín tâm tu Phật cầu phước đã ngộ nhận đây chỉ là câu niệm Phật cầu xin ân cứu độ, ban phước lộc cho hành giả. Sự thật không đơn thuần giản dị như vậy, càng thâm tín, càng lý giải tường tận, càng hành trì miên mật hành giả mới dần dần tỏ ngộ nội dung ý nghĩa sáu chữ Hồng Danh là vô lượng bất khả tư nghị, ai chứng ngộ mới tỉnh thức được rốt ráo. Trong giới hạn một bài viết, ở đây chỉ trình bầy một số đặc thù của pháp môn Niệm Phật, lấy sáu chữ Nam-mô A-di-đà Phật làm đề tài.

I- GIẢI THÍCH PHÁP MÔN NIỆM PHẬT.

* GIẢI THÍCH THEO TỪ NGỮ. Niệm có nghĩa là nghĩ đến, nhớ đến, giữ lại trong tâm thức, nghĩ đến như ý niệm, khái niệm, quan niệm…, nhớ đến không quên như kỷ niệm, lưu niệm, tưởng niệm… Do đó, niệm Phật là nghĩ tưởng nhớ đến Phật. Từ ngữ Phật ở đây có nghĩa rất rộng bao gồm danh hiệu, sắc thân, pháp thân, ân đức Phật…
Phổ Hiền Ðại Bồ Tát giảng về Lục tự Hồng Danh có vô lượng vô biên bất khả thuyết ý nghĩa thâm mật vi diệu. Sau đây chỉ là sơ lược yếu chỉ chia làm ba phần:

– NAM-MÔ: Phiên âm tiếng Sanskrit Namah, có nghĩa như quy y quyết tâm vâng theo, cung kính và nương theo gửi đời mình cho Phật. Ðây là giai đoạn Thủy Giác có nội dung bao gồm năng niệm, trì giới, diệu quan sát thế gian giới, là bắt đầu đi trên con đường Giác Ngộ.

– A-DI-ÐÀ: Phiên âm tiếng Sanskrit Amita, có nghĩa Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ, chỉ Năng lực bất tư nghị của Ðức Di-Ðà. Ðây là giai đoạn Tương tục Giác, có nội dung bao gồm tương tục niệm, thiền định thâm nhập Pháp giới, bình đẳng tánh trí, là liên tiếp trì niệm trên suốt hành trình Giác Ngộ.

– PHẬT: Phiên âm tiếng Sanskrit Buddha, tức Phật-đà nói tắt, có nghĩa là giác ngộ, dứt khỏi luân hồi, giải thoát. Ðây là giai đoạn Bản Giác, có nội dung bao gồm thành tựu sở niệm, trí huệ, là đại viên cảnh trí, vô tận sở hữu trí, viên thành Phật quả.

Nói tóm tắt, ba giai đoạn gồm có Thường, Tịch và Quang.

Niệm Phật là pháp hữu vi tác nghiệp gieo nhân lành gồm cả ba nghiệp thân, khẩu và ý. Khi niệm Phật, hành giả thường đứng hay ngồi ngay ngắn, thái độ trang nghiêm, mắt nhìn thẳng vào hình tượng Phật: Ðó là thân nghiệp. Hành giả nói ở miệng thành lời: Ðó là khẩu nghiệp, từ ngữ xưng niệm diễn tả rõ nghĩa này. Hành giả nghĩ tưởng đến Phật: Ðó là ý nghiệp, từ ngữ tâm niệm diễn tả rõ nghĩa này. Niệm Phật cần phải tín nguyện và nhất tâm thì mới thành tựu được công đức pháp tu này là lúc mệnh chung vãng sanh về nơi Cực Lạc, đạt tới pháp vị Thượng Thiện Nhân, nghĩa là đã thấy Phật.* NIỆM PHẬT LÀ PHÁP TU TỊNH NGHIỆP.

Theo kinh Niệm Phật Ba-la-mật, Niệm Phật xưng danh A-di-đà với sáu chữ Nam-mô A-di-đà Phật là hành giả nhất tâm chí thành, chuyên cần bất thối, không gián đoạn luôn luôn nghĩ tưởng trong thâm tâm: Pháp thân, Hóa thân và Báo thân của Ðức Phật A-di-đà đang hiện ra trong thân và tâm của mình, và danh hiệu Nam-mô A-di-đà Phật đang tuôn chảy thành một dòng tâm, lâu ngày sẽ thành một khối lưu ly sáng rực… Danh hiệu Nam-mô A-di-đà Phật sẽ lọc sạch phiền não trong thân tâm Người Niệm Phật. Hành giả sẽ dứt hết nghiệp quá khứ, thân tâm trở nên Thanh Tịnh, chỉ còn nghiệp ở hiện tại.

Cần lưu tâm điều thiết yếu: Ðạt tới thân tâm Thanh Tịnh, nói cách khác là siêu thăng Tịnh Ðộ, vãng sanh về cõi Tịnh Ðộ của một vị Phật, mỗi vị Phật có một cõi Tịnh Ðộ, vô số Phật có vô số cõi Tịnh Ðộ. Cõi Tịnh Ðộ của Ðức Phật A-di-đà mang tên Tây phương Tịnh Ðộ, Tây phương Cực Lạc, hay nói tắt là cõi Cực Lạc.

Siêu thăng Tịnh Ðộ chưa phải là Nhập Diệt Niết Bàn, chưa phải là Tịch Diệt, chưa phải là Vô Sanh, Liễu sanh thoát tử, tóm lại chưa phải là Giải thoát khỏi luân hồi. Lý do: Sau khi được Phật A-di-đà tiếp dẫn khi mệnh chung vãng sanh về nơi Cực Lạc, hành giả đã dứt hết nghiệp quá khứ, thân tâm trở nên Thanh Tịnh an trụ ở cương vị Thượng Thiện Nhân. Hành giả chưa chứng nhập Tịch Diệt vì vẫn còn tiếp tục tạo nghiệp, nghĩa là còn tiếp tục gieo nhân, chuyển hóa theo lý luân hồi nghiệp báo. Vì vậy hành giả vẫn tiếp tục hành trì niệm Phật miên mật bất thối. Với thân tâm Thanh Tịnh đã đạt tới, lại ở nơi thường gập Thánh chúng Bồ Tát và chư Phật, hành giả có sẵn phước duyên dễ dàng nhanh chóng chứng đắc Phật quả.

Kinh Niệm Phật Ba-la-mật dẫn giải: Niệm Phật Ba-la-mật là nhiếp thọ hào quang do Phật A-di-đà phóng ra. Cây cỏ, chúng sanh cũng đều có hào quang nhưng bị lu mờ vì vô minh. Khi niệm Phật, hai hào quang của Phật và chúng sanh dung thông nhau, lập tức Ðức A-di-đà nhiếp thọ, và ngay lúc đó ở cõi Cực Lạc thấy mọc lên một mầm sen của chúng sanh Niệm Phật… Hai hào quang dung thông phóng ra làm cho ác ma xa lánh 40 dậm và sen của hành giả sẽ được tươi tốt.

Niệm Phật Ba-la-mật là rốt ráo nhất tâm tín nguyện, niệm sao cho không còn có một vọng tưởng nào đến quấy đảo tâm thanh tịnh của hành giả. Hoa sen có tánh đặc thù là sống trong bùn mà không nhiễm mùi bùn, vẫn giữ được hương thơm nhẹ nhàng thanh thoát.

Trong Phật học, hoa sen là biểu tượng của tâm Thanh Tịnh do hào quang của Phật A-di-đà nhiếp thọ tiếp dẫn đem về nuôi trong ao Thất Bảo (2) có nước thanh tịnh gọi là Tịnh thủy. Kể từ khi được nuôi bằng Tịnh thủy, hành giả vẫn tiếp tục hành trì Niệm Phật miên mật bất thối để hoa sen tiếp tục nở cho đến lúc mãn khai. Khi hoa sen mãn khai, hành giả đắc pháp vị A-duy-việt trí Bồ Tát, có đủ phép thần thông, có khả năng thuyết pháp độ sanh như chư Phật, chỉ chờ thời kỳ khế hợp thì đi làm Phật.

Theo từ ngữ, A-duy-việt trí là Trí bất thối chuyển, viên mãn Phật quả, nghiệp chướng được tẩy sạch, giải thoát khỏi luân hồi sanh tử. Khi hoa sen chưa đến độ mãn khai trong ao Thất Bảo, nếu hành giả không giữ được tâm bất thối chuyển, hoa sen sẽ tàn héo. Ðây là trường hợp đáng tiếc, hành giả hết còn duyên với Phật A-di-đà!

Nói cụ thể hơn, sau khi đươc vãng sanh về Tây phương Cực Lạc, hành giả vui hưởng quả phúc nơi Tịnh Ðộ thường sanh tâm luyến chấp lạc cảnh nơi này, tâm luyến cảnh không còn thanh tịnh rốt ráo, nhất tâm Niệm Phật như trước. Người khéo tu cần nhớ nhập tâm: Vãng sanh Cực Lạc chỉ mới là giai đoạn Tịnh hoá thân tâm, cần tiếp tục hành trì phát tâm cứu độ chúng sanh mới đạt tới cứu cánh giải thoát. Diệt đươc Khổ nhưng lại chấp thủ Lạc thì chưa ra khỏi được Luân hồi sanh tử.

II. NĂNG LỰC BẤT TƯ NGHỊ CỦA DANH HIỆU PHẬT.

Trong số tám vạn bốn ngàn pháp tu chỉ có pháp môn Niệm Phật là thù thắng đệ nhất, cứu cánh đệ nhất, hữu hiệu và siêu việt nhất. Ðó là lời dạy của Ðức Thích Ca. Sự Nhất Tâm Niệm Phật bao gồm cả hai phần Sự và Lý:

-Nhất tâm về Sự là không trụ vào một niệm nào khác,

-Nhất tâm về Lý là thể nhập vào thực tướng của Phật, hành giả dần dần thành tựu Chánh Ðịnh Như Lai và tự nhiên phát sanh Tuệ Giác Không Tánh.

Danh hiệu Nam-mô A-di-đà Phật sẽ lọc sạch phiền não trong thân tâm Người Niệm Phật. Nhờ xưng niệm sáu chữ Hồng Danh, hành giả nhìn thấy cảnh vật bên ngoài đúng như bản thể thực chất của chúng, không còn bị chúng chi phối, do đó điều phục thân tâm và không còn móng khởi tâm phân biệt.

Trong khi niệm Phật, nếu gập bất cứ thanh trần nào cũng đừng để tâm vào, cứ tiếp tục niệm Phật. Ðó là danh hiệu Phật đang tuôn chảy liên miên bất tận thành một dòng tâm mà mỗi sát na đều hiển hiện Chân Như Tánh…Tiếp tục hành trì niệm Phật như thế, chẳng bao lâu thì Tánh Nghe cũng không còn. Khi ấy, Phật trí tự nhiên tỏa rạng, danh hiệu Phật vẫn tương tục, không gián đoạn. Thuật ngữ Phật học gọi là VONG SỞ, có nghĩa không còn nghe thấy tiếng mình niệm Phật. Cũng nói là Niệm, vô niệm, niệm khi không còn phân biệt năng niệm với sở niệm nữa. Ðó là khi hành giả đã chứng ngộ ngũ uẩn là không, ngã kiến ngã chấp bị lọc sạch, thân tâm trở nên quang minh thường tại, chiếu suốt mười phương pháp giới. Nói cách khác, Tri Kiến Giác Ngộ của hành giả trở nên đồng đẳng với Tri Kiến Giác Ngộ của chư Như Lai.

Chúng sanh vô minh vì lý do chấp ngũ uẩn làm thân và tâm thật của mình. Năng lực nhiệm màu của pháp môn Niệm Phật chuyển hóa dần dần VÔ MINH thành VIÊN GIÁC theo tiến trình: Biết tất cả các pháp đều như huyễn, nhất thiết pháp giai không. Biết là huyễn, là không tất sẽ ly. Ly huyễn tức là Giác. Danh hiệu Phật hòa tan căn, trần, thức và tất cả đều nhập vào Viên Giác Tánh, cũng gọi là Hư Không Tạng, Vô Cấu Tạng, Tịch Tịnh Tạng. Hành giả dần dần thành tựu Chánh Ðịnh Như Lai, tự nhiên phát sanh Tuệ Giác Không Tánh. Nói vắn tắt: Niệm sanh Tịnh, Tịnh sanh Ðịnh và Ðịnh sanh Huệ.

Tuệ Giác Không Tánh đạt tới mức hết sức Thanh Tịnh, gọi là Vô Cấu Thức hay Bạch Tịnh Thức, tiếng Sanskrit là A-mạt-la thức (thức thứ 9, cao hơn A-lại-da thức). Trong Kinh Vô Lượng Thọ, Ðức Thích Ca bảo: Này A-Nan! Ðức Phật Vô Lượng Thọ oai thần quang minh tối tôn đệ nhất, quang minh của chư Phật chẳng bằng! (3)

III – NIỆM PHẬT TÔNG YẾU.

Niệm Phật là Pháp Môn Tha Lực duy nhất trong Phật Pháp mà điểm then chốt là tin tưởng tuyệt đối vào Bổn Nguyện của Ðức Phật A-di-đà. Ðó là dùng DANH HIỆU của ngài để cứu độ tất cả chúng sanh. Không hiểu tường tận ý này, nhiều người nhất là hàng cư sĩ tại gia thường cho rằng Niệm Phật Xưng Danh là pháp môn dành cho hạng hạ căn không đủ căn cơ để tu những pháp môn về Thiền Quán như Quán Thật Tướng, Quán Tưởng, Quán Tượng, v…v… Hơn nữa khi tu Niệm Phật phần đông mang tâm niệm TỰ LỰC, trông cậy vào sức mình để được vãng sanh. Ðây chỉ là Tự Lực Niệm Phật.

Pháp Nhiên Thượng Nhân (1133-1212), tên Nhật là Honen, Khai Tổ của Tịnh Ðộ Tông Nhật Bản (4) nhận định tông yếu của pháp môn Tha Lực Niệm Phật. Tác phẩm quan trọng nhất Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập được coi như một áng linh văn bất hủ về Tịnh Ðộ có những điểm then chốt như sau:

1-Thánh Ðạo Môn gồm các pháp môn ngoài Tịnh Ðộ Tông tuy thâm diệu nhưng thời điểm và căn cơ chẳng tương ứng. Tịnh Ðộ Môn hình như nông cạn nhưng thời điểm và căn cơ đều tương ứng.

Thời Mạt Pháp một vạn năm, các kinh điển khác đều tiêu diệt, chỉ còn pháp môn Di Ðà để cứu độ chúng sanh.

2-Tông Tịnh Ðộ siêu hơn các tông. Hạnh Niệm Phật siêu hơn các hạnh. Lý do vì thâu nhiếp tất cả các căn cơ.

3- Chẳng kể có tội hay vô tội, trì giới hay phá giới, tại gia hay xuất gia, thiện hay ác, trong các tiền kiếp có phúc căn hay tội căn, hữu trí hay vô trí, nếu căn cứ vào thời điểm và căn cơ thì chỉ có pháp môn Tịnh Ðộ, Hạnh Niệm Phật là yếu pháp thoát khỏi sanh tử trong đời này.

4-Quang minh của Ðức A-di-đà chỉ soi chiếu người Niệm Phật, chẳng soi chiếu người tu các hạnh khác.

5-Trụ vào cái Tâm Tha Lực (Nguyện Lực của Ðức Di-Ðà) mà Niệm Phật thì chỉ trong khoảnh khắc sẽ được vào sự lai nghinh của Ðức Phật A-di-đà.

Ðiều 18 trong số 48 Ðại nguyện của Ðức Phật A-di-đà: Lúc tôi thành Phật, thập phương chúng sanh chí tâm tín mộ muốn sanh về nước tôi, nhẫn đến mười niệm, nếu không được sanh thời tôi không ở ngôi Chánh Giác, trừ kẻ tội tạo ngũ nghịch cùng hủy báng Chánh pháp.

Ðiều 19 bổ sung trường hợp phát Bồ-đề tâm: Lúc tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương phát Bồ-đề tâm tu các công đức, chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước tôi, lúc thọ mạng chung, tôi và đại chúng vây quanh hiện ra trước mắt họ. Nếu không như vậy, tôi chẳng lấy ngôi Chánh Giác.

6- Niệm Phật hoàn toàn không có hình thức, đã lấy KHÔNG HÌNH THỨC làm hình thức. Chỉ cần biết rằng thường Niệm Phật, Chí tâm niệm Phật thì đến lúc lâm chung nhất định Phật lai nghinh mà vãng sanh sang cõi Cực Lạc.

7- Nếu thường xưng danh hiệu thì do công đức của Phật danh, vọng niệm tự dừng, tán loạn tự yên, tam nghiệp tự điều, nguyện tâm tự phát.

8- Trong nhãn quan của Pháp Nhiên thì:

-Tam tâm (chỉ Thành tâm, Thâm tâm, Hồi hướng phát nguyện tâm) cũng là Nam mô A-di-đà Phật.

-Ngũ Niệm (Lễ bái, Xưng tán,Phát nguyện, Quán sát, Hồi hướng) cũng là Nam mô A-di-đà Phật.

-Tứ Tu (Cung kính tu, Vô dư tu, Vô gián tu, Trường thời tu) cũng là Nam mô A-di-đà Phật.

9- Người lười biếng Niệm Phật là kẻ đánh mất đi vô lượng châu báu. Người siêng năng Niệm Phật là kẻ khai mở ra vô biên sáng suốt. Nên dùng cái tâm NƯƠNG PHẬT LỰC, cầu vãng sanh mà tương tục Niệm Phật.

10- Nghe nói một niệm, mười niệm cũng được vãng sanh rồi lơ là việc Niệm Phật: Ðó là TÍN chướng ngại HẠNH. Nghe nói niệm niệm chẳng rời rồi nghĩ rằng một niệm vãng sanh bất định: Ðó là HẠNH chướng ngại TÍN. Tin thì một niệm cũng vãng sanh, mà hành thì siêng năng xưng niệm suốt đời. Vãng sanh mà nghĩ rằng nhất định thì NHẤT ÐỊNH, nếu nghĩ rằng bất định thì BẤT ÐỊNH!

11- Không để ý đến thiện ác của bản thân, chỉ một lòng cầu vãng sanh mà Niệm Phật. Ðó là Tha Lực Niệm Phật. Tin rằng bản thân bị tội chướng khó được vãng sanh là điều sai lầm rất lớn. Hạng vô trí, tội chướng Niệm Phật mà được vãng sanh mới là Ý CHÁNH của bổn nguyện của Phật A-di-đà.

12- Tuy được nghe Danh Hiệu mà không tin thì cũng như không được nghe. Tuy có tín tâm mà không xưng niệm thì cũng như không tin. Bởi thế nên một lòng Niệm Phật, không chút nghi ngờ.

13- Phật lai nghinh là để người tu Niệm Phật lúc lâm chung được chánh niệm, không phải lúc lâm chung cần phải có chánh niệm thì mới được Phật lai nghinh.

14- Tất cả Phật pháp nhằm chế phục điều ác. Vì hạng ngu si phàm phu không dễ gì làm được nên khuyên Niệm Phật để diệt tội. Hễ có tín tâm thì tội lớn cũng diệt, không có tín tâm thì tội nhỏ vẫn còn.

15- Người tu Tịnh Ðộ trước hết cần biết hai điều:

-Vì người có duyên, dù phải bỏ thân mạng, tài sản cũng nên vì họ mà nói pháp môn Tịnh Ðộ.

-Vì sự vãng sanh của chính mình, nên xa lìa mọi phiền nhiễu mà chuyên tu hạnh Niệm Phật.

Ngoài hai điều trên, không nên tính toán gì khác. Tất cả mọi việc trong đời đều y theo Niệm Phật mà quyết định. Tất cả đều là trợ duyên cho Niệm Phật, hễ gây chướng ngại thì nên từ bỏ.

16- Thánh Ðạo Môn (các tông phái khác) đều tu cái NHÂN của tam thừa, tứ thừa để được cái QUẢ của tam thừa, tứ thừa. Do đó không thể so sánh với hạnh Niệm Phật vì lý do mục đích khác nhau. Còn trong Tịnh Ðộ Môn thì các hạnh (đọc tụng kinh điển, lễ bái, quán tưởng, quán tượng…) và hạnh Niệm Phật đều là NHÂN để vãng sanh nên có thể so sánh với nhau.

Nhưng các hạnh khác đều chẳng phải là Di Ðà Bổn Nguyện, do đó quang minh của Ðức Di Ðà chẳng thu nhiếp, mà Ðức Thích Ca cũng chẳng phó chúc. Bởi thế, Thiền Ðạo Ðại Sư (5) có dạy: Tất cả các hạnh khác tuy gọi là thiện, nhưng so với Niệm Phật thì hoàn toàn không thể so sánh được.

17- Muốn mau lìa sanh tử, trong hai loại thắng pháp hãy bỏ qua Thánh Ðạo Môn mà theo TỊNH ÐỘ MÔN.

Trong các pháp Tịnh Ðộ Môn có hai hạng Chánh và Tạp, hãy bỏ qua các Tạp hạnh mà quay về theo CHÁNH HẠNH.

Trong phạm vi Chánh Hạnh có hai phần Chánh Ðịnh và Trợ Nghiệp, chớ theo Trợ Nghiệp mà chuyên tu CHÁNH ÐỊNH, tức XƯNG NIỆM PHẬT DANH nương theo BỔN NGUYỆN DI-ÐÀ thì tất nhiên được vãng sanh. Niệm Phật là việc mình làm, tiếp dẫn vãng sanh là việc Phật làm, hai việc hữu duyên tương ứng là năng lực bất tư nghị của Danh hiệu Phật. Thâm tín trì niệm là đủ, không còn nghi ngờ tính toán gì khác.

18- Năm điều quyết định sự vãng sanh:

– Bổn Nguyện của Ðức Di-Ðà.

– Lời dạy xác minh của Ðức Thích Ca.

– Sự chứng minh của Chư Phật.

– Giáo thích của Tổ Thiện Ðạo.

– Tín tâm của người Niệm Phật.

19- Di Ðà Bổn Nguyện phát ra không phải chú trọng đến hạng thiện nhân có phương tiện, có thể dùng tự lực để thoát ly sanh tử, mà chính vì hạng ác nhân tội chướng không có phương tiện để tự giải thoát. Tuy nhiên hạng Bồ Tát, Thánh Hiền cũng có thể nương vào THA LỰC NIỆM PHẬT mà được vãng sanh. Di-Ðà Bổn Nguyện không có sự phân biệt, tất cả đều bình đẳng như nhau.

20- Tu Thánh Ðạo Môn thì cần trí huệ tột cùng để lìa sanh tử. Tu Tịnh Ðộ Môn thì trở lại ngu si để được vãng sanh, chẳng dựa vào trí huệ, chẳng lo tròn đạo hạnh, chẳng cần tu tâm dưỡng tánh, mà chỉ cần tự thấy mình là người vô năng vô trí, cần nương vào Bổn Nguyện Di-Ðà mà Niệm Phật để được vãng sanh.

Thâm tín và hành trì như trên, lúc lâm chung chắc chắn Phật lai nghinh. Nếu bình thường đã thường xuyên xưng danh tích lũy công đức thì dù cho lúc lâm chung vì lý do nào đó tâm vọng động tán loạn bất định không xưng được Phật danh, hành giả vẫn được quyết định vãng sanh.

Giáo pháp tuy vô lượng nhưng xét đến chỗ cương yếu thì Tha Lực Ðốn Giáo thù thắng hơn cả. Tổ Huệ Viễn (334-416), Sơ Tổ của Tịnh-Ðộ Tông Trung Hoa, một cao tăng đầu tiên nhấn mạnh đến sự quan trọng của Thiền Ðịnh có xác nhận: Các môn Tam Muội tuy nhiều nhưng công cao lại dễ tu thì Niệm Phật lại hơn cả.

21- Nương tựa Bổn Nguyện Di-Ðà không phải là quán tưởng trong tâm, mà là XƯNG NIỆM DANH HIỆU, đừng trụ tâm ở quán tưởng mà cần xưng danh ra tiếng.

Xưng danh là CHÁNH NHÂN quyết định vãng sanh. Ngoài xưng danh ra không có gì quyết định vãng sanh như chánh hạnh, chánh nghiệp, trí huệ…

22- Quyết định quy kết của Pháp Nhiên Thượng Nhân: Sống thì Niệm Phật tích lũy công đức, Chết thì vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Không có gì trong đời này làm bận tâm nữa.

KHAI THỊ VÀ DI HUẤN CỦA PHÁP NHIÊN THƯỢNG NHÂN ÐỂ LẠI CHO ÐỆ TỬ LÚC LÂM CHUNG:

Thày mấy chục năm nay, công phu Niệm Phật tích lũy, được bái kiến Cực Lạc Trang Nghiêm và Chân Thân của Phật, Bồ Tát là việc bình thường, nhưng thày giữ kín không nói ra. Nay đã đến lúc tối hậu nên mới bày tỏ đôi chút …

Hai ngày trước khi vãng sanh, Ngài Pháp Nhiên lấy bút viết bản di huấn tối hậu:

Chẳng phải là Niệm Phật theo lối quán niệm mà các bậc trí giả Trung hoa, Nhật Bản thường nói đến;

Cũng chẳng phải là Niệm Phật theo lối phải thâm nhập kinh tạng để thấu hiểu thâm nghĩa của Niệm Phật.

Chỉ nghĩ rằng: Ðể vãng sanh Cực Lạc thì xưng niệm Nam-mô A-di-đà Phật là quyết định vãng sanh, không nghi ngờ mà xưng niệm. Ngoài ra, không có thâm áo gì khác.

Bởi vì điều gọi là Tam Tâm, Tứ Tu đều đã quyết định bao hàm trong tưởng niệm Nam-mô A-di-đà Phật, quyết định vãng sanh (Xin xem lại số 8 đã nói ở trên).

Ngoài đó ra, nếu có gì thâm áo khác là ở ngoài lòng từ mẫn của hai Ðấng Từ Tôn (Phật Thích Ca và Phật A-di-đà), lọt khỏi bổn nguyện.

Người muốn tin Niệm Phật thì dù cho có thể học hết giáo pháp một đời của Ðức Thích Ca cũng thành ra kẻ một chữ chẳng biết, ngu độn như hạng vô trí, chớ hiện ra vẻ trí giả, hãy một mực Niệm Phật.

Tôi in vào đây cả hai bàn tay của tôi để xác nhận di huấn này… Không còn gì để nói nữa, tôi đã viết hết những điều cốt tủy ở đây để ngăn ngừa những dị kiến sau khi tôi ra đi.

KẾT LUẬN

Ðọc đến đây, chắc có nhiều bạn chưa tin hẳn vào NĂNG LỰC BẤT TƯ NGHỊ của NIỆM PHẬT đã trình bày ở trên, lý do rất dễ hiểu: Hạnh tu gì đơn giản, dễ dàng đến người già trẻ con đều làm được mà lại có năng lực thâm mật vi diệu đến thế? Ðể giải trừ nỗi vương vấn phân vân, một ẩn dụ dẫn giải tường tận và chính xác giúp các bạn NHẤT THIẾT GIỮ TÍN TÂM TUYỆT ÐỐI đối với sáu chữ Nam-mô A-di-đà Phật:

Nếu cùng đi trên con đường gồ ghề có nhiều lối rẽ như băng qua rừng núi thì một người sáng mắt khoẻ chân mới có thể nhất định đi đến đích, một người mù què chân đi phải chống nạng tất nhiên là không thể so sánh được. Ðấy là cả hai người đều dùng TỰ LỰC để di chuyển. Nếu cùng dùng đường hàng hải hay đường hàng không thì cả hai người đến tới đích cùng một lúc, nhanh chóng và dễ dàng như nhau. Ðây là cả hai người đều dùng THA LỰC để di chuyển.

Kẻ cầm bút thiết tha xin các bạn đã vững tín tâm và hành trì Niệm Phật hãy phổ biến tài liệu này đến các bạn đồng đạo còn vương vấn chút nghi ngờ về ƠN CỨU ÐỘ vô lượng vô biên của Bổn Nguyện Di-Ðà. Ðó là pháp duyên gieo Nhân lành, tích lũy Công Ðức, xin chớ bỏ qua.

Ai tự nhận thấy mình là người mù què, hãy xưng niệm ngay NAM MÔ A-DI-ÐÀ PHẬT! Ðức A-di-đà sẽ đến đón vãng sanh với lòng thương xót.

Ai tự nhận thấy mình là người sáng suốt khỏe chân, cũng xưng niệm ngay NAM-MÔ A-DI-ÐÀ PHẬT! Ðức A-di-đà cũng sẽ đến đón vãng sanh với lòng hoan hỷ.

Ai tự nhận thấy mình không thuộc một trong hai hạng người vừa kể trên thì người đó không hiểu biết chút gì về Bổn Nguyện Di-Ðà, đã tự đánh mất cả một kho báu vô giá mà Phật đã ban cho tất cả mọi chúng sanh một cách đồng đều, không bỏ sót bất cứ ai.


DUYÊN HẠC Lê Thái Ất

CHÚ THÍCH:

1- Phật A-di-đà: Tiền thân hai vị Phật Ðức A-di-đà và Ðức Thích Ca cùng với 14 vị Phật khác đều là anh em ruột, phụ vương là Ðức Phật Ðại Thông Trí Thắng (Mahabhidjadjnnabhikhu). Tất cả 16 vị vương tử đều theo cha xuất gia, thọ trì Bồ Tát Ðạo và được cha truyền cho quả Phật.

Tịnh-Ðộ, tiếng Sanskrit Buddhaksetra có nghĩa là Phật độ, nơi Thanh Tịnh, cõi Phật, nơi cuối cùng cần đạt tới, sau đó mới tiến tới chứng nhập Niết Bàn. Mỗi vị Phật có một cõi Tịnh-Ðộ. Cõi Tịnh-Ðộ của Ðức A-di-đà gọi là Tây phương Tịnh Ðộ, Tây phương Cực Lạc, cõi Cực Lạc. Cõi Tịnh-Ðộ của Ðức Thích Ca là Tịnh Ðộ phương Ðông Bắc, và theo Kinh Ðại Bát Niết Bàn cõi này mang tên cõi Vô Thắng Tịnh Ðộ. Ðức Phật Di-Lặc, vị Phật tương lai hiện đang giáo hóa ở cõi Trời Ðâu-Xuất sẽ tạo ra một Tịnh-Ðộ mới.

2- Ao Thất Bảo: Ao có nước Tịnh Thủy để rửa sạch mọi phiền não, trong đó có bảy vật báu biểu tượng cho Tâm Thanh Tịnh rốt ráo ở cõi Cực Lạc. Lục Tổ Huệ Năng giảng trong Pháp Bảo Ðàn kinh: Thất Bảo tiêu biểu cho bẩy Ðại Hạnh gồm có KIM (Giới), NGÂN (Tín), LƯU LY (Văn), PHA-LÊ (Tâm), XÀ CỪ (Tinh Tấn) XÍCH CHÂU (Huệ) và MÃ NÃO ( Xả). Ðây là Thất Thánh Tài tức tài sản của Chư Thánh dùng để nuôi dưỡng Chân Tâm người trì niệm.

3- Danh hiệu của đức A-di-đà: Trong Kinh Vô Lượng Thọ , Ðức Thích Ca bảo A-Nan: Này A-Nan! Ðức Phật Vô Lượng Thọ oai thần quang minh tối tôn đệ nhất, quang minh của chư Phật chẳng bằng. Kinh Vô Lượng Thọ nói Ðức A-di-đà có 13 Phật danh, ngoài tên Vô Lượng Thọ Phật còn 12 tên khác đều có chữ QUANG ở sau, có nghĩa là ánh sáng chứng tỏ oai thần quang minh của Ðức A-di-đà có đặc tính tối tôn đệ nhất:

1- Vô Lượng Quang Phật
2- Vô Biên Quang Phật
3- Vô Ngại Quang Phật
4- Vô Ðối Quang Phật
5- Diệm Vương Quang Phật
6- Thanh Tịnh Quang Phật
7- Hoan Hỷ Quang Phật
8- Trí Huệ Quang Phật
9- Bất Ðoạn Quang Phật
10- Nan Tư Quang Phật
11- Vô Xứng Quang Phật
12- Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật

4- Pháp-Nhiên Thượng Nhân (1133-1212), tên Nhật là Honen, Khai Tổ của Tịnh-Ðộ Tông Nhật Bản. Tiểu sử của ngài cho biết ngài đã mãn nghiệp thế gian đúng như Chánh Nghiệp: Làm con một vị quan đến ngoại tứ tuần vẫn chưa có con nối dõi, Ngài ra đời sau khi cha mẹ vào chùa tụng kinh bẩy ngày đêm xin Phật gia hộ. Khi Ngài đản sinh có hai luồng hào quang ở trên không chiếu xuống, tiếng chuông ngân vang. Ngài có tướng mạo phi phàm từ thuở sơ sinh.

Khi Ngài chín tuổi, phụ thân bị địch quân sát hại. Lúc lâm chung, vị quan thất thế kêu Ngài đến dạy: Ðây là túc nghiệp của cha, tuyệt đối không nên ôm hận báo thù. Hãy nhớ rằng oán không thể diệt được oán!… Sau này thành nhân, con hãy cầu vãng sanh Cực Lạc, lợi lạc bình đẳng cho người và cho mình.

Năm 14 tuổi, tuân theo lời cha dạy Ngài xuất gia với Pháp sư Giác Quán ở chùa Bồ Ðề tại quê nhà. Pháp sư Giác Quán thấy Ngài thông tuệ khác thường liền đưa Ngài đến một tu viện nổi tiếng ở kinh đô để tham học với Pháp sư Nguyên Quang. Không bao lâu Pháp sư Nguyên Quang lại tiến cử Ngài tham học với Tổ Hoàng Viên Tông Thiên Thai thời đó. Thu nhận Ngài làm đệ tử chưa đầy ba năm, Tổ Hoàng Viên thấy Ngài đã thấu triệt tất cả những áo diệu của Giáo Pháp Thiên Thai có ý muốn truyền Tổ vị cho Ngài. Nhận thấy ở Nhật Bản thời đó một chức sắc trong giáo quyền được hưởng rất nhiều quyền lợi, vì không muốn bị ràng buộc lợi danh Ngài ra đi vào năm 18 tuổi đến ẩn tu ở núi Hắc Cốc, tham học với Hòa Thượng Duệ Không, một vị cao tăng của Mật Tông thời bấy giờ. Hòa Thượng Duệ Không đặt pháp hiệu cho Ngài là PHÁP NHIÊN, có nghĩa Pháp vốn Như Vậy và pháp danh là NGUYÊN KHÔNG, ghép chữ đầu và chữ cuối ở tên của hai vị Ðại Sư Nguyên Quang và Ðại Sư Duệ Không mà Ngài thọ huấn. Tại đây Ngài được truyền thụ Viên Thừa Ðại Giới và Du Già Bí Pháp. Ngài tinh thông mọi Tông phái, duyệt đọc 5 lần Ðại Tạng nên được đương thời tôn xưng là Trí Huệ Ðệ Nhất.

Về Giáo Pháp, dưới nhãn quan của Ngài thì Xưng Danh Niệm Phật vừa là Chánh Hạnh, Chánh Nhân và Chánh Nghiệp trong đời sống thế gian. Lưu ý tại Nhật Bản có hai Tông phái dễ gây ngộ nhận: Tịnh-Ðộ Tông, tiếng Nhật là Jodo-shu, Khai Tổ là Pháp Nhiên và Tịnh-Ðộ Chân Tông, tiếng Nhật là Jodo- Shinshu, về sau do Thân Loan đệ tử của Khai Tổ Pháp Nhiên biến thái lập riêng ra.

5- Thiện Ðạo Ðại Sư theo truyền thuyết của Trung Hoa là Hóa thân của Phật A-di-đà.

Nguồn: chuaphuclam.com

thunder
#2924 Posted : Saturday, September 24, 2016 11:28:55 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,092
Points: 12,473

Thanks: 1863 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)


Áo Dài Trong Thơ và Nhạc


Lê Hữu


Trong vườn quên lãng áo ai xanh

(“Dạ hội”, thơ Đinh Hùng)

Chiều nào áo tím nhiều quá, lòng thấy rộn ràng nhớ người...

Giọng hát trầm ấm, dìu dặt của Duy Trác cất lên đâu đó trong một ngày đầu thu gợi nhớ hình ảnh và nơi chốn thân quen trước “cổng trường áo tím” những chiều tan học. Áo tím túa ra như đàn bướm, áo tím thướt tha dọc theo những “lối đi dưới lá” trên những đường phố Saigon ngập nắng. Những tà áo nhẹ bay trong gió từ lâu lắm đã đi vào thi ca, làm rung động lòng người và là nguồn cảm hứng vô tận của những người làm thơ, viết nhạc. Tà áo nên thơ ấy, dưới đôi mắt ngắm nhìn của người nghệ sĩ, là bức tranh sinh động với nhiều đường nét, nhiều dáng vẻ, thể hiện qua từng lời thơ ý nhạc:

Dưới mắt Phạm Đình Chương là “Áo bay mở, khép nghìn tâm sự...” (Mộng dưới hoa)

Dưới mắt Vũ Thành là “Áo dài bay ngờm ngợp cả khung trời...” (Mùa kỷ niệm)

Dưới mắt Hoàng Dương là “Áo mầu tung gió chơi vơi...” (Hướng về Hà Nội)

Dưới mắt Trịnh Công Sơn là “Áo xưa lồng lộng đã xô dạt trời chiều...” (Tình nhớ)

Những vạt áo dài, từ lâu lắm, đã lất phất trong những trang thơ tiền chiến.

Từ…

“Đôi tà áo lụa bay trong nắng” (Áo lụa, Bàng Bá Lân)

đến…

“Nắng thơ dệt sáng trên tà áo
lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài” (Áo trắng, Huy Cận)

Áo dài cũng len cả vào những câu lục bát trữ tình của Nguyễn Bính:

“Hồn anh như bông cỏ may
một chiều cả gió bám đầy áo em” (Bông cỏ may)

Và len cả vào dòng thơ hào hùng và lãng mạn của Quang Dũng:

“Em đi áo mỏng buông hờn tủi
dòng lệ thơ ngây có dạt dào” (Đôi bờ)

Áo dài còn là giấc mơ thanh bình của những làng quê hiền hòa trong tình ca quê hương của Phạm Duy:

Nằm mơ, mơ thấy trăm họ tốt tươi / mơ thấy bên lề cuộc đời / áo dài đùa trong tiếng cười…

(Quê nghèo)

Áo dài lướt thướt như vạt áo của nàng Xuân trong thơ Trần Mộng Tú:

“Tôi gói xuân vào hai vạt áo
ngước nhìn mây trắng dạ mang mang” (Mẫu Đơn)

Áo dài bồng bềnh như dải trăng thu huyền ảo trong thơ Nghiêu Minh:

“Dấu thu kinh tự còn mê
Em mang tà áo bốn bề là trăng” (Thu vô lượng)

Kỷ niệm êm đềm về một tà áo, một đôi mắt huyền được Tô Vũ ghi lại bằng nét nhạc lâng lâng:

Em đến thăm anh / người em gái
Tà áo hương nồng / mắt huyền trìu mến sưởi ấm lòng anh…

(Em đến thăm anh một chiều mưa)

“Ta ước mơ một chiều thêu nắng...”, nỗi “ước mơ” của chàng nhạc sĩ họ Tô ấy được vẽ lại trong những câu lục bát Trần Dạ Từ. Trong phút giây chờ đợi bước chân người tình khe khẽ đến bên hiên nhà, chàng tưởng chừng nghe được cả tiếng gió lay động vạt áo dài và tiếng lá nhẹ rơi bên thềm:

“Môi cười vết máu chưa se
cành hoa gạo cũ nằm nghe nắng hiền
Anh nằm nghe bước em lên
ngoài song lá động, trên thềm áo bay” (Khi nàng đến)

Áo bay làm gió lộng cả đường đi, làm lay động cả… trái tim chàng nhạc sĩ Tuấn Khanh:

Mỗi lần em về là gió lộng đường đi / Anh nhìn em bồi hồi trông theo tà áo…

(Từ đó khôn nguôi)

Áo bay làm nhớ nhung, như nỗi nhớ da diết một mầu áo, một đôi môi thắm trong nhạc Từ Công Phụng:

Chiều nay nhớ em rồi / và nhớ áo em đẹp trời thơ / môi tràn đầy ước mơ…

(Bây giờ tháng mấy)

Áo bay làm ngơ ngẩn, như chàng Huy Cận thuở mới lớn, trước cổng trường nữ sinh:

“Một hôm trận gió tình yêu lại
đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư” (Học sinh)

Áo bay mất làm “cậu học trò” rụt rè Nguyên Sa phải hối tiếc vì một lời yêu chưa kịp nói:

“Nàng đến gần tôi chỉ dám... quay đi
Tà áo khuất, thì thầm: ‘Chưa phải lúc’” (Tuổi mười ba)

Áo bay trong nắng sân trường làm xao xuyến trái tim anh chàng làm thơ Kim Tuấn:

“Áo chiều bay trong nắng
sân trường ai bâng khuâng” (Thuở xa người)

Áo bay làm chàng thi sĩ đa tình Nguyễn Tất Nhiên phải thẫn thờ, dõi mắt nhìn theo mãi một tà áo vu quy:

“Đò qua sông chuyến đầu ngày
người qua sông mặc áo dài buông eo” (Chuyến đò Cửu Long)

Áo bay mịt mù theo gió theo mây, như cánh chim đã bay mất, như tình đã vụt bay trong thơ Như Thương:

“Thôi thì anh, cánh chim bay
Em tà áo mỏng theo mây nghìn trùng” (Vàng thu)



“Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong” 1

Áo trắng trinh nguyên tuổi học trò, áo trắng của “một thời áo trắng”, từng làm ngất ngây trái tim bao chàng trai, để đêm đêm trong giấc ngủ chập chờn còn trông thấy “áo ai bay trắng cả giấc mơ”. 2

Áo trắng như dòng suối mát trong thơ Huy Cận:

“Dịu dàng áo trắng trong như suối tỏa phát đôi hồn cánh mộng bay” (Áo trắng)

Áo trắng như lụa trắng trong thơ Hoàng Anh Tuấn:

“Áo em lụa trắng sông Hương qua đò Thừa Phủ nhớ thương rạt rào” (Về chân trời tím)

Và trong thơ Nguyễn Tất Nhiên:

“Đài các chân ngà ai bước khẽ quyện theo tà lụa cả phương đông” (Tháng Giêng, chim)

Và trong thơ Kim Tuấn:

“Em về tà áo lụa
bay ngập ngừng trong anh” (Thuở xa người)

Và cả trong thơ Nguyên Sa:

“Guốc cao, gót nhỏ, mây vào gót
áo lụa trăng mềm bay xuống thơ” (Tám phố Saigon)

Áo trắng như gió, như mây, để “nhà thơ của tình yêu” phải tương tư và lòng tự hỏi lòng:

“Có phải em mang trên áo bay
hai phần gió thổi, một phần mây?

Hay là em gói mây trong áo
rồi thở cho làn áo trắng bay?” (Tương tư)

Áo trắng của nhà thơ còn là dải sương mù lướt thướt trên bến sông Seine giữa kinh thành hoa lệ Paris, gợi nhớ một vạt áo dài mềm mại nơi chốn xa quê nhà:

“Anh về giữa một dòng sông trắng
là áo sương mù hay áo em” (Paris có gì lạ không em?)

Áo trắng của Hoàng Thi Thơ là bướm trắng, là hoa trắng, là mây trắng…

Ngày nào em đến áo em mầu trinh / áo xinh là xinh

Áo em trong trời buồn / là gió / là bướm / là hoa / là mây chiều tà…

(Hình ảnh người em không đợi)

Áo trắng một màu trắng thanh khiết trong nhạc Nguyễn Vũ:

Áo trắng em bay như cánh thiên thần… (Bài thánh ca buồn)

Áo trắng nhẹ bay trong chiều giáo đường trong nhạc Lê Trọng Nguyễn:

Tà áo trinh nguyên tung bay / nụ cười thân ái… (Chiều bên giáo đường)

Áo trắng một màu trắng xóa làm hoa cả mắt nhà thơ Hàn Mặc Tử:

“Áo em trắng quá nhìn không ra” (Đây thôn Vĩ Dạ)

Áo trắng như bài thơ trên những nhịp cầu chênh vênh đón bước ai qua trong thơ Y Dịch:

“Áo em trắng cả bài thơ
Cầu cong giữa nhịp chân chờ bước ai” (Tiễn đưa)

Áo trắng níu chân người trên đường phố dập dìu trong nhạc Phan Ni Tấn:

Nghe xôn xao thị thành / áo ai trắng bay mù lòng đường / làm rối bước anh về cõi thơ...

(Sinh nhật của cây đàn)

Áo trắng không còn bay trên những đường phố cũ trong nhạc Phạm Anh Dũng:

Xa xôi ngàn khơi đâu tà áo trắng / Duy Tân im lìm phố vắng / thương cây lá hoang tàn…

(Nhớ Saigon)

Áo trắng xôn xao mùa tựu trường trong thơ Đoàn Vị Thượng:

“Sáng nay áo trắng tựu trường
gót chân cuống quýt cả hương cúc vàng” (Ánh mắt tựu trường)

Áo trắng lượn lờ như đôi cánh trắng trong thơ Luân Hoán:

“Tà áo trắng xoè như đôi cánh lượn
trải dịu dàng trên cỏ mượt mà xanh” (Trong sân trường bữa ấy)

Áo trắng trên đường lá me bay và ánh mắt trông theo trong thơ Trần Huy Sao:

“Đường em về vàng rụng lá me trưa
anh ngơ ngẩn vời theo màu áo trắng” (Áo trắng học trò)

Áo trắng ngày xưa nay trôi dạt về đâu, để lại nỗi tiếc nhớ trong thơ Ngàn Sau:

“Tôi về Ban-mê-thuột chiều mưa
em ơi áo trắng bây giờ ở đâu?” (Nhớ Ban Mê)

Bao nhiêu là áo trắng trên sân trường kỷ niệm!…

Mỗi người đều cần có một mái trường để luyến tiếc, để nhớ về... Nhớ về ngôi trường cũ là nhớ về những người thầy, người bạn, nhớ về những lớp học, những giờ ra chơi, những tà áo mầu, áo trắng mềm mại và những tháng năm tươi đẹp nhất của một đời người.

“Áo mầu tung gió chơi vơi” 3

Áo bay như bướm lượn, áo bay như đàn bướm muôn mầu muôn sắc trong khu vườn mùa xuân. Áo bay nhiều quá, để chàng nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm... thơ:

Hôm nay sao áo bay nhiều thế! / Tôi tưởng ngàn cánh bướm khoe mầu… (Tà áo cưới)



Áo mầu của Phạm Duy lất phất trong gió chiều như lòng người... phất phơ:

Xin cho em một chiếc áo mầu / cho em đi nhẹ trong nắng chiều

Một chiều nhiều người theo / ở ngoài đường trên phố / và lòng người như áo phất phơ…

(Tuổi ngọc)

Nhớ về một mầu áo là nhớ về những đường phố quen tên, nhớ áo ai bay trong chiều trên những con đường ngập xác lá vàng, như nỗi nhớ ngút ngàn của Trịnh Công Sơn:

Nhớ Saigon những chiều lộng gió / lá hát như mưa suốt con đường đi
Có mặt đường vàng hoa như gấm / Có không gian mầu áo bay lên…

(Em còn nhớ hay em đã quên)

Những tà áo muôn mầu muôn vẻ vẫn khoe sắc thắm trong những trang thơ và nhạc. Áo vàng trong thơ Nguyên Sa có khi là bông cúc vàng:

“Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc” (Tuổi mười ba)

Có khi là nắng thu vàng:

“Có phải mùa xuân sắp sửa về
hay là gió lạnh lúc đêm khuya?
hay là em chọn sai mầu áo
để nắng thu vàng giữa lối đi?” (Tương tư)

Áo vàng như cánh mai vàng trong nhạc Trần Thiện Thanh. Người lính trẻ thấy sắc hoa rừng, mơ về mầu áo năm xưa:

Những hôm vừa xong phiên gác chiều ven rừng kín hoa mai vàng

chợt nhớ tới sắc áo năm nào em đến thăm gác nhỏ… (Đồn vắng chiều xuân)

Người lính chiến trong nhạc Phạm Đình Chương cũng bâng khuâng vì một sắc hoa, một mầu áo, một “đôi mắt người xưa”:

Ngày hành quân anh đi về cánh rừng thưa / thấy sắc hoa tươi nên mơ mầu áo năm xưa

Kỷ niệm đầu len lén trở về tâm tư / Có mắt ai xanh thắm trong mộng mơ… (Màu kỷ niệm)

Tà áo màu xác pháo để lại nỗi buồn lắng đọng trong thơ Nguyễn Tất Nhiên:

“Người qua sông mặc áo hường
Nắng dương gian, nắng buồn hơn trước nhiều” (Chuyến đò Cửu Long)

Áo mầu tím, mầu của “định mệnh”, của mộng mơ, của nhớ nhung và chia cách. Chuyện tình “ngàn thu áo tím” của cô bé trót yêu màu tím, được Hoàng Trọng, “nhạc sĩ của mầu tím”, kể lại:

Ngày xưa xa xôi em rất yêu mầu tím...

Chiều xuống áo tím thường thướt tha / bước trên đường thắm hoa / ngắm mây trời lướt xa…

Rồi khi vừa biết yêu là khi chia tay với mầu tím, chia tay với tình đầu:

Ngàn thu mưa rơi trên áo em mầu tím
Ngàn thu đau thương vương áo em mầu tím… (Ngàn thu áo tím)

Trong mắt Vũ Thành, “nhà thơ của mầu tím”, khi mùa thu buông áo xuống một phương trời, mầu mây tím trông như mầu áo người mình yêu để lòng chàng gợn lên nỗi buồn trăn trở:

“Áo em tím cả phương này
anh nghe thành phố đêm nay trở buồn” (Áo tím)

Vạt áo dài mầu tím hoa sim, trong thơ Phạm Thiên Thư, chỉ là thoáng lay động, vừa ngập ngừng e ấp vừa nao nức gọi mời:

“Áo em vạt tím ngàn sim
nửa nao nức gọi, nửa im lặng chờ
Yêu nhau từ độ bao giờ
gặp đây giả bộ hững hờ khói bay” (Động hoa vàng)

Rồi áo tím qua cầu, mang theo cả mùa thu, để lại nỗi trống vắng mênh mang trong lòng nhà thơ Trang Châu:

“Thế giới của anh không có chân trời
không có mùa xuân lấy đâu hoa bướm
không có bàn tay cho bàn tay hò hẹn
áo tím qua cầu nên cũng hết mùa thu” (Thế giới của anh)

Có những gặp gỡ rất tình cờ, bất chợt, như gặp gỡ một tà áo tím, cũng đủ để lòng chàng nhạc sĩ Hoàng Nguyên mãi vấn vương theo mầu áo:

Một chiều lang thang bên dòng Hương giang / tôi gặp một tà áo tím / nhẹ thấp thoáng trong nắng vương… / Rồi về đêm đêm mơ mầu áo ấy… (Tà áo tím)



“Nhạc sĩ của mầu xanh”, danh hiệu ấy chắc phải thuộc về hai chàng nghệ sĩ Đoàn Chuẩn–Từ Linh chứ chẳng ai khác hơn:

Với bao tà áo xanh đây mùa thu…

(Gửi gió cho mây ngàn bay)

Câu hát nghe như bàn tay kéo nhẹ tấm màn cửa mở ra khung trời bát ngát mùa thu, bát ngát màu xanh.

Trong những dòng kẻ nhạc của hai chàng nghệ sĩ đa tình ấy vẫn luôn luôn thấp thoáng một “tà áo xanh” và một “màu xanh ái ân”:

Tà áo xanh nào về với giấc mơ / Mầu áo xanh là mầu anh trót yêu… (Thu quyến rũ)

“Trót”, như một định mệnh, buộc chặt người viết câu hát ấy với mầu xanh kia.

Hẹn một ngày nao khi mầu xanh lên tà áo… (Cánh hoa duyên kiếp)

Câu hát nghe như câu hẹn ước, như lời thề nguyền sắt son.

Khi nào em đến với anh / xin đừng quên chiếc áo xanh… (Tà áo xanh)

Còn lời dặn dò nào ân cần, thiết tha hơn thế nữa!

Nhớ về một mầu áo là “nhớ những giây phút êm đềm / nắng loang trên sân trường một chiều nào...” 4 Màu áo xanh trong thơ Nguyên Sa là màu cỏ cây hoa lá xanh tươi trên sân trường phượng vỹ:

“Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường” (Tuổi mười ba)

Màu áo xanh trong nhạc Y Vũ & Nhật Ngân gợi nhớ một mái tóc, một tà áo thấm đẫm nước mưa:

Chiều xưa mưa rơi âm thầm / để thấm ướt chiếc áo xanh / và đẫm ướt mái tóc em…

(Tôi đưa em sang sông)

Tà áo mầu xanh thắm của một “tiếng hát học trò” gieo vào lòng hai chàng nhạc sĩ Nguyễn Hiền và Minh Kỳ bao “niềm thương nhớ đầy vơi”:

Thuở ấy không gian chìm lắng trong mơ

Tà áo em xanh / mầu mắt ngây thơ… (Tiếng hát học tròThiếu nữ vừa biết yêu trong nhạc Trần Thiện Thanh cũng bồi hồi khoác vào người chiếc áo mầu xanh da trời trong lần hò hẹn đầu tiên:

Biết anh thích mầu trời / em đã bồi hồi chọn mầu áo xanh… (Bảy ngày đợi mong)

“Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé”, để chàng trai phải buồn bã “như anh chàng làm thơ”, cứ thờ thẫn “ngó trên tay điếu thuốc cháy lụi dần” 5…

Chiều mù sương hay mù khói thuốc anh?
Áo ai xanh hờ hững đi vào đêm… (Chuyện hẹn hò)

Tà áo dài trong nhạc Nguyễn Văn Đông có màu xanh của rừng thông Đà Lạt một mùa nào Giáng Sinh:

Tà áo năm xưa xanh màu thông Đà Lạt… (Màu xanh Noel)

Áo xanh mộng mị còn bay cả vào trong thơ “trung niên thy sỹ” Bùi Giáng:

“Biển dâu sực tỉnh giang hà
còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh” (Áo xanh)

Áo xanh mộng mị của một thời quên lãng trong thơ Đinh Hùng:

“Trong vườn quên lãng áo ai xanh” (Dạ hội)

*
Làm sao kể hết được câu chuyện về những vạt áo dài dịu dàng, tha thướt, những vạt áo dài lộng gió trong thơ và nhạc. Tà áo dài mềm mại đã nhẹ nhàng êm ái đến với cuộc đời, nhẹ nhàng êm ái đi vào lòng người...

Bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, dù ở chốn quê nhà gần gũi, hay ở phương trời nào xa thẳm, chiếc áo dài cũng mang theo bầu trời quê hương, cũng mang về mùa xuân ấm áp trong lòng người Việt tha hương. Chiếc áo dài còn là biểu tượng thân quen để người Việt nhận ra nhau trên bước đường lưu lạc trong cuộc sống nổi trôi nơi xứ lạ quê người.

Thấy một vạt áo dài, thấy quê hương xa xăm mà gần gũi.

Qua bao mùa tang thương dâu bể, qua bao nhiêu vật đổi sao dời, chiếc áo dài truyền thống, chiếc áo dài duyên dáng và trữ tình của người phụ nữ Việt Nam vẫn luôn luôn là hình ảnh khó phai mờ và còn đọng lại mãi trong lòng người.

Lê Hữu
1 user thanked thunder for this useful post.
Duy An on 1/24/2017(UTC)
phamlang
#2942 Posted : Tuesday, November 1, 2016 9:59:07 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,513
Points: 4,755

Thanks: 1669 times
Was thanked: 998 time(s) in 646 post(s)
Chú Tư Cầu - Lê Xuyên



Trước hết là mẩu tin trên lưới cách đây mấy năm loan báo “Nhà Văn Lê Xuyên Từ Trần Tại Sài Gòn”

Bản tin viết: Sau nhiều năm tháng lâm trọng bệnh, nhà văn, nhà báo tên tuổi Lê Xuyên đã từ trần tại tư gia ở quận 10 thành phố Saigon, hưởng thọ 78 tuổi.

Theo Văn Quang, nhà văn Lê Xuyên đã từ trần hồi 9 giờ tối ngày thứ ba 2/3/2004 nhằm ngày 12 tháng 2 năm Giáp Thân tại tư gia số 523/238/146 Nguyễn Tri Phương, Quận 10, thành phố Sài Gòn. Hưởng thọ 78 tuổi.

Nhà văn Lê Xuyên tên thật là Lê Bình Tăng, sinh năm 1927 tại Phong Điền – Tỉnh Cần Thơ. Ông là tác giả của nhiều tiểu thuyết nổi danh tại Sài Gòn, ngay từ tác phẩm đầu tay của ông là Chú Tư Cầu đã được độc giả đón nhận nồng nhiệt. Tác phẩm Chú Tư Cầu, tuy là tác phẩm đầu tay của tác giả, nhưng vào thời điểm mà tác phẩm chưa in thành sách, chỉ đăng nhiều kỳ trên nhật báo, đã tạo được một tiếng vang khiến anh em văn nghệ sĩ sau đó ít ai gọi nhà văn bằng bút hiệu Lê Xuyên nữa mà đã vui miệng gọi ông là “Chú Tư Cầu” hay “Chú Tư” thay cho cái tên Lê Xuyên.

Sau ngày 30/4/1975 nhà văn Lê Xuyên bị CSVN bắt giữ cùng chung khoảng trên dưới 100 văn nghệ sĩ ở miền nam với tội danh “văn nghệ sĩ phản động”. Nhà văn từng bị giam ở Sở Công An Thành Phố tức Nha CSQG Đô Thành cũ, trại giam T.54 hay Phan Đăng Lưu tức Đề Lao Gia Định và Khám Chí Hòa.

Sau khi được CSVN trả tự do, nhiều năm ông sống lầm than ở Sài Gòn, bán thuốc lá lẻ đầu phố, góc Nguyễn Tri Phương gần với Trần Quốc Toản. Ông thậm chí không có thẻ căn cước (Chứng minh Nhân Dân) và cũng chẳng có sổ gia đình (hộ khẩu).

Lúc sinh tiền nhà văn Lê Xuyên là hình ảnh đậm nét của người gốc miền Nam với lối sống bình dị, chân thật và lúc nào cũng yêu đời và vui vẻ cởi mở với mọi người. Chắc chắn đời sau sẽ còn nhớ tới ông và Chú Tư Cầu, Nguyệt Đồng Xoài, Rặng Trâm Bầu…
Và sau đây là môt đoạn bút ký của Nguyễn Thụy Long về Lê Xuyên:

… Tôi dừng lại ở đầu đường Gia Long (nay là Lý Tự Trọng) và đường Nguyễn Trung Trực. Tại nơi này nhìn qua Thư viện Quốc gia, Đại học Văn khoa hồi xưa, có một kiosque bán cà phê, nhìn sang bên kia đường là tòa báo Đại Dân Tộc, phía góc đường Thủ Khoa Huân, Gia Long là báo Sống. Nói tóm lại có rất nhiều tòa báo trên quãng đường ấy. Ký giả, phóng viên, nhà văn sáng sáng ngồi đầy các quán cà phê lề đường, tất cả đều quen nhau, thân thiết đến độ xộc thẳng vào đời tư của nhau, nên tình nghĩa bạn bè cũng rộn rã. Sau năm 1975, ngày “đứt phim”, báo chí thuộc chế độ cũ dẹp tiệm, ký giả nhà văn có người đi mất, người còn sót lại lêu bêu. Tôi ở trong số đó. Buồn quá đi thôi, bỗng dưng tôi phải buông bút (mới chỉ buông chứ chưa gác), vẫn còn nghĩ mình dùng được ngòi bút để phục vụ độc giả. Sau vài lần “vỡ mặt” mới sáng mắt ra.

Nơi tôi đứng là một lề đường rộng, cái kiosque sơn màu xám xỉn cũ kỹ nay đã biến mất. Nơi đó tôi từng ngồi, thân thiết chủ quán đến độ có thể ghi sổ nợ từng ly cà phê, điếu thuốc thơm trợ hứng cho lúc viết bài hay trang feuilleton đăng trên nhật báo. Chẳng phải riêng mình tôi mà nhiều anh em đồng nghiệp cũng thế. Sau ngày đứt phim tôi còn thấy lai rai vài người. Họ vớt vát cái gì, hay chờ đợi như ngày anh em tụ lại với nhau khi báo được lệnh đóng cửa.

Hình ảnh nhà văn Lê Xuyên, anh em quen đùa gọi là chú Tư Cầu, tên tác phẩm nổi tiếng của anh viết về đồng quê Nam Bộ, dĩ nhiên là có những mối tình quê mùa mà không kém đam mê, tiêu biểu là nhân vật chú Tư Cầu Trước ngày miền Nam bại trận, Lê Xuyên là tổng thư ký báo Sài Gòn Mai rồi Đại Dân Tộc, anh có cái nhạy cảm của người làm báo cùng với sự sâu sắc của người viết văn. Anh đã có cả lô tiểu thuyết ấn hành, tôi không nhớ hết. Nhà văn Lê Xuyên hay nhà báo Lê Xuyên cũng được. Nhưng anh em gọi anh là chú Tư Cầu cho thêm phần thân mật. Nhưng hình ảnh của nhà văn Lê Xuyên gây ấn tượng nhất cho tôi là sau ngày chế độ Sài Gòn bại trận, tôi vẫn còn thấy anh ngồi ở quán cà phê đó vào những buổi sáng kế tiếp. Mắt nhìn lên tòa soạn xưa buồn rười rượi, y nguyên như ngồi uống cà phê chờ anh chef typo xuống báo cáo đã đủ khuôn, xin lệnh chạy máy, hay cần lấp một lỗ hổng. Bây giờ không còn gì nữa, không vắng lặng mà có cái xôn xao của cờ quạt, biểu ngữ khẩu hiệu và các trẻ thơ nối vòng tay lớn nhảy múa như cuồng ở góc đường, góc công viên.

Lê Xuyên vẫn cái áo sơ mi bỏ ngoài quần tây, cái mũ phở giản dị, đôi dép. Tôi chưa bao giờ thấy ở anh một sự “se sua” thời trang nào. Con người anh rất giản dị, cái giản dị của người miệt quê Nam bộ, nên gọi anh là chú Tư Cầu cũng rất đúng, không từ nào chính xác bằng. Tôi đã ngồi đó nới chuyện với Lê Xuyên, tôi không nhớ mình nói gì. Sau đó các văn nghệ sĩ, nhà văn nhà báo chúng tôi hầu hết bị vồ đi học tập cải tạo, Lê Xuyên đương nhiên có mặt trong đám “học viên” đó. Anh về sớm, tôi lại gặp anh trên những nẻo đường đi bán bánh tiêu bánh bò, rồi anh mở quán bán thuốc lá lẻ ở đường Ngô Quyền, Chợ Lớn gần nhà anh. Tôi ngồi sửa xe đạp ở góc đường Nguyễn Kim gần đó, nên thỉnh thoảng tạt qua gặp nhau.

Đã lâu rồi, đến hai ba năm tôi không có ghé qua anh. Sáng nay tại sao tôi không ghé, lần sau cùng gặp anh coi bộ anh yếu lắm. Khi đó anh nói với tôi anh tròn 70 tuổi. Đường về Chợ Lớn đối với tôi bây giờ xa vời vợi, nhưng phải đi chứ. Thăm một người bạn sau nhiều năm giam mình ở ấp Đông Ba cũng là một điều hay.

Kia kìa, chú Tư Cầu còn đó, sau cái quầy bán thuốc lá cũ rích, con người anh cũng cũ rích, gầy guộc và đầy chất Nam bộ chân chất. Cái mũ bánh tiêu rúm ró chụp trên đầu, cái sơ mi mỏng lét, mòn cả vai, cái quần tây màu nâu ống cao ống thấp, đôi dép không rõ bằng vật liệu gì nữa. Mặt anh gầy rộc, xanh mét. Tôi gọi anh:

“Chú Tư Cầu!”

Anh nhìn tôi một giây xong mới hỏi:

“Có phải Trâu Nước không?”

“Chính tớ, mà sao ông gầy thế, có khỏe không?”

“Ông cũng chẳng hơn gì tôi, tôi suy yếu toàn diện rồi, 72 tuổi, hai mươi năm ngồi bán thuốc lá lẻ ở lề đường, trên góc đường này còn gì. Cám ơn, ông mò đến tôi mới nhớ mình là Lê Xuyên, chú Tư Cầu…”

Niềm hãnh diện còn lại của một người cầm bút. Niềm xót xa của một nhà văn đã từng có một thời vang bóng. Nay anh ngồi đây trong sự lãng quên, hai mươi năm ngồi ở một góc đường. Trước mặt, bên kia đường có cái đình tên Vĩnh Viễn, bên cạnh đình có một căn nhà có bản đề “BCH phường đội 8”.

Tôi nói với anh, tôi mới đi thăm thành phố Sài Gòn về, tức là thuộc khu vực Quận 1, Quận 3. Anh nói:

“Tớ 15 năm nay không lên đến thành phố Sài Gòn, chẳng biết bây giờ nó ra sao nữa?”

“To cao lắm, đúng là chốn phồn hoa đô hội, cũng đã lâu lắm tớ không tới đó, giống như gã nhà quê ra tỉnh…”

“Chúng ta giống nhau.”

Nhìn cái quầy thuốc lá cũ rích, long đinh, tróc sơn thấp lè tè của Lê Xuyên, tôi lại lo lắng cho anh trong trận mưa chiều ngày 9 tháng 11 vừa qua nhiều con đường ngập lụt, hàng hóa chợ Bình Tây bị nước úng hư hỏng thiệt hại bạc tỉ. Lê Xuyên cũng chỉ cười.
Anh cố ép tôi hút một điếu thuốc Con Mèo. Trong câu chuyện của anh, tôi rút ra được có một câu: “Tớ suy sụp toàn diện rồi”. Tôi cũng được biết hoàn cảnh gia đình anh, bà vợ bị mắc bệnh hiểm nghèo từ mấy năm nay, một đứa con gái của anh đã chết vì ung thư bỏ lại hai đứa con và cái quầy thuốc lá này cho anh, anh là ông ngoại của chúng. Tôi hỏi về sự học hành của hai đứa cháu mồ côi, anh có vẻ ngạc nhiên. Qua câu nói của anh, tôi biết anh không đủ sức nuôi hai cháu ăn học. Một quầy bán thuốc lá lẻ như vầy ở đường kiếm chác được bao nhiêu, nuôi bao nhiêu miệng ăn, đã thế lại phải lo thuốc thang cho người bệnh. Tôi cũng đang mệt nhọc vì còn ba đứa con đi học nên rất đồng cảm với anh.

Xoay sang chuyện văn học nghệ thuật, Lê Xuyên than phiền với tôi rằng anh mới đọc một bài báo nói về các tác giả làm văn học Việt Nam từ năm chục năm trở lại đây, những nhà văn nhà thơ ở miền Nam đã từng cầm bút và có danh không được nhắc đến một ai, nghĩa là bị gạt ra ngoài lề. Tôi nói tôi có biết quyển từ điển văn học ấy.

Báo Kiến thức Ngày nay số 297 trang 186, mục “Ai sao?” có một độc giả tên Lê Minh (Khánh Hòa) hỏi: Vì sao các nhà văn Võ Hồng, Sơn Nam, Nguyễn Văn Xuân, Kiên Giang, Bình Nguyên Lộc không có tên trong Từ điển văn học do nhà xuất bản Khoa học Xã hội in năm 1983-84? Người tòa soạn có tên là Phan Hoàng trả lời: Chúng tôi thiết nghĩ ông nên gởi thẳng câu hỏi này về Ban biên tập Từ điển văn học và NXB KHXH. Tin rằng ông sẽ nhận được hồi âm cho thắc mắc mà dường như tất cả những người yêu thích văn chương đều quan tâm. Chúng tôi chỉ xin lưu ý, bên cạnh những nhà văn trên đây, còn rất nhiều tên tuổi văn học đáng kính khác cũng không hề được nhắc đến, dù chỉ cái tên, trong bộ từ điển tầm cỡ quốc gia này. Chẳng hạn như các bậc tiền bối thời tiền chiến: Hoàng Đạo, Đinh Hùng, Nguyễn Vỹ, Phạm Hầu, Đoàn Phú Tứ, Bàng Bá Lân… cho đến những nhà văn nhà thơ góp phần đáng kể vào diện mạo văn học Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến vừa qua: Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, Vũ Anh Khanh, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Văn Cao, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Quang Dũng…

Những nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ tầm cỡ như thế còn chưa được ngồi sau porte bagages đèo xe đạp vào văn học sử nữa là… Đừng nói là người ta thiếu sót trong việc biên soạn, vì ban biên tập toàn là người có đầu óc, có văn hóa được đào luyện. Sỏi đá xôn xao. Chúng tôi cười xòa, cũng xong cả thôi. Quan tâm làm đếch gì đến chuyện đó.

Bạn bè lâu ngày gặp nhau không cà kê dê ngỗng, thì cũng dây cà ra dây muốn. Tôi hỏi anh về việc cư trú, anh nói anh chưa có hộ khẩu, đương nhiên không thể có chứng minh nhân dân, chẳng có giấy tờ mẹ gì cho biết anh là một con người sống trong chế độ.

“Ông có xin nhập hộ khẩu sau khi đi học tập cải tạo về không?”

“Có chứ sao không, xin nhiều lần rồi mà người ta không cho, đôi khi còn bị mắng mỏ khi xin giấy tờ, nên đành ì ra, bị phạt thì chịu thôi, chán rồi người ta cũng nản.”

Đến lúc ấy tôi mới thấy Lê Xuyên xì ra chuyện sống chết.

“Tớ cũng nghĩ về những trường hợp của những người chết chui.”

Tôi ở dưới chế độ này lâu lắm nên hiểu rất rõ từ “chui” là gì, từ này được nhập cảng vào miền Nam sau năm 1975. Chui có nghĩa là lậu, buôn chui, bán chui, phở chui. Những thứ không được công nhận. Chết chui thì thảm lắm, thảm còn hơn phở chui lèo tèo mấy miếng, nước lèo thì nhạt thếch nhạt thác đựng trong bình thủy, bát phở không hành ngò. Nói theo kiểu thời thượng là “phở không người lái”.

… Nhìn sang bên kia đường tôi thấy một sạp báo. Báo chí đủ các thể loại phục vụ độc giả, sắc màu rực rỡ, hấp dẫn, in ấn đẹp bằng mười ngày xưa, hơn thuở tôi còn xách bút chạy rong nhiều. Sự tiến bộ trong ngành báo chí trông thấy ngay trước mắt. Tôi nói với Lê Xuyên:

“Có một dạo tôi tính mở một sạp báo bán cho đỡ buồn, nhưng rồi lại thôi, dù có mượn được vốn.”

“Tại sao vậy?”

Tôi lắc đầu:

“Sau những ngày thực tập nghề bán báo, tôi bỗng cảm thấy buồn, vì ngày nào cũng đụng đến báo chí tự nhiên mình thấy nhớ nhung gì đâu không, cái dĩ vãng làm báo tội nghiệp của tôi ám ảnh tôi quá nhiều.”

Lê Xuyên vốn là tổng thơ ký của nhiều nhật báo gật gật đầu:

“Ờ ông nói có lý đấy, chúng ta không thể hành nghề bán báo được, sẽ buồn lắm, không như nghề bán thuốc lá lẻ của tôi.”

Có người khách ghé mua một gói thuốc lào. Bây giờ tôi mới biết anh còn bán cả thuốc lào đượm khói dân tộc nữa, nhặt nhạnh từng cắc một, quả là con người lương thiện từ đầu đến chân.

Chia tay chú Tư Cầu vì trời đã muộn. Gặp anh tôi không thể không nhớ đến nhan đề một truyện dài của anh là Gió đưa trăng. Sau này tôi biết anh lấy từ câu hò trữ tình trên sông nước Cửu Long. Câu hò như thế này: Gió đưa trăng, trăng đưa gió, [con] trăng lặn rồi gió biết đưa ai?…

Tôi như nghe thấy tiếng ca trữ tình vút lên thinh không, man mác trên sông nước Cửu Long, đồng bằng lúa gạo Nam bộ. Tính chất Nam bộ trải dài trong tác phẩm của anh và ở ngay chính con người anh. Trăng lặn rồi gió biết đưa ai? Có phải một câu than thở không? Tôi lẩn thẩn mãi với câu hỏi ấy trong đầu. Tôi nghĩ đến hát ru Nam bộ mà Lê Xuyên đặt tên cho tác phẩm của mình, có một câu bỏ lửng.

Tôi về đến nhà ở Ấp Đông Ba xưa vào buổi trưa, mở truyền hình lên coi. Tôi nhận được tin cơn bão số 6 đang trên đường đổ vào bờ biển Việt Nam. Sao mà khổ thế nhỉ, bao nhiêu là tai ương. Người ta kêu gọi nhân dân chống bão lụt.

Tôi nghĩ hoài về nhà văn Lê Xuyên. Mưa ập xuống ngập đường như sông. Trên con đường Lê Xuyên ngồi bán thuốc lá lẻ nước ngập đến bụng, liệu Lê Xuyên có khiêng nổi xe thuốc đội lên vai lên đầu để tránh ướt không, bảo vệ cái vốn liếng nhỏ bé, duy nhất của gia đình anh trên đôi vai còm cõi.

Tôi lo lắng, thương xót bạn, thầm cầu xin sự an lành đến với anh. Năm hết Tết đến rồi. Anh từng nói từ lâu rồi anh không có mùa xuân.

Nguyễn Thuỵ Long
(Nguồn: “Giữa đêm trường”, hồi ký Nguyễn Thuỵ Long nxb Tiếng Quê Hương, VA 2000, USA.)

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang
#2943 Posted : Saturday, December 17, 2016 11:24:03 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,513
Points: 4,755

Thanks: 1669 times
Was thanked: 998 time(s) in 646 post(s)
Bà Hoàng Đạo





Bà Hoàng Đạo (Marie Nguyễn Thị Bình, 1913-1975)


Năm 1971, tôi (Đoàn Dự) từ miền Tây được đổi về dạy tại một trường ở Biên Hòa. Đến năm 1974 thì chị Nguyễn Từ Dung tức ca sĩ Từ Dung, con gái nhà văn Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long (1907-1948), vợ của nhạc sĩ Từ Công Phụng, được đổi về dạy Anh văn tại trường.

Thời chúng tôi, tốt nghiệp ĐHSP được coi là tương đương với bằng cử nhân. Nhưng vì học ĐHSP, nếu thuộc ban văn chương thì phải học chung với sinh viên ở trường Đại học Văn Khoa, còn nếu thuộc ban khoa học thì học chung ở trường Đại học Khoa Học. Bởi vậy khi tốt nghiệp ĐHSP, hầu hết các sinh viên đều có bằng cử nhân Văn khoa hay Khoa học. Tôi biết chị Từ Dung đậu Cử nhân Anh Văn, còn chị có học ĐHSP hay không thì tôi không rõ. Ngoài ra, trước đây tôi tưởng cái tên “Từ Dung” của chị có liên quan với tên người chồng là Từ Công Phụng. Nhưng không, sau khi dạy cùng trường với chị, tôi mới biết tên thật của chị là Nguyễn Từ Dung, con gái nhà văn Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long, cháu gọi nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam bằng bác và gọi nhà văn Thạch Lam Nguyễn Tường Lân bằng chú, không liên quan gì đến họ “Từ” của NS Từ Công Phụng.

Sau năm 1975, chị có cô bé con gái thấy gọi tên là bé Ti-cu, khoảng 5 – 6 tuổi, thỉnh thoảng chở xuống trường chơi nhưng không thấy anh Từ Công Phụng xuống bao giờ cả.

Thế rồi khoảng 10 năm sau, tức năm 1983 hay 1984 gì đó, tự dưng chị biến mất, không đi dạy nữa. Cả ban giám hiệu lẫn bạn bè đều không biết tin tức gì về chị. Mãi mấy năm sau chúng tôi mới nghe tin chị và anh Từ Công Phụng đã chia tay nhau, anh Phụng đem bé Ti-cu vượt biên sang Mỹ còn chị Từ Dung thì không biết ở đâu tại Sài Gòn. Rồi lại mấy năm sau nữa, chúng tôi được tin chị lấy chồng người Mỹ và đã sang Mỹ.

Bẵng đi suốt bao nhiêu năm, mới đây tự nhiên tôi bỗng nhận được email của một người bạn ở Mỹ gửi cho một bài của chị Từ Dung viết về người mẹ của chị tức bà Hoàng Đạo. Cả nhà văn Hoàng Đạo lẫn chị Từ Dung đều là người của công chúng, vậy tôi xin đăng lên đây để quý bạn độc giả tờ báo thân yêu của chúng ta hiểu rõ một phần nào về gia đình nhà văn Hoàng Đạo. Sau đây là nguyên văn bài viết của chị Từ Dung kể cả hai chữ “Chấm hết” khá đặc biệt của chị ở cuối bài…


Tôi không biết phải bắt đầu ra sao khi viết về mẹ tôi, vì có rất nhiều điều để nói. Cũng có thể dưới con mắt chủ quan, tôi nghĩ bà là một trong những người phụ nữ phương Đông tuyệt vời nhất trên cõi đời này. Người mẹ dịu hiền mà tôi được may mắn biết đến, với đầy đủ những đức tính về công, dung, ngôn, hạnh của một người đàn bà Á Đông, đã hy sinh cả một cuộc đời mình cho chồng, cho con và cho những nghĩa cử từ thiện ngoài xã hội với nụ cười luôn trên môi cùng chiếc răng khểnh duyên dáng.


Công, dung, ngôn, hạnh

Về mặt dung nhan, vẻ đẹp dịu dàng và đằm thắm của mẹ tôi đã hơn một lần làm rung động những người phái nam có địa vị quan trọng trong nhiều lãnh vực xã hội. Bà cao dong dỏng, thân hình đều đặn thanh tú, nước da mịn màng trắng trẻo, dáng đi yểu điệu và uyển chuyển, khuôn mặt trái soan, cặp mắt hơi hiếng (lé kim),mơ màng nhưng sâu sắc, miệng cười duyên dáng với chiếc răng khểnh và cặp môi đầy đặn.

Tôi có đọc vài cuốn sách viết về mẹ tôi với những lời mô tả thiên lệch bắt nguồn từ những ghen ghét nhỏ mọn. Những người viết này cố tình hạ thấp dung nhan, phẩm hạnh của bà vì đố kỵ nên những người từng được tiếp xúc với bà vô cùng bất mãn vì những dối trá trắng trợn đó. Theo ý một số những người có dịp tiếp xúc với bà, bà là một trong những người đẹp và hợp thời trang nhất tại Hà Nội vào những thập niên 1930-40. Ngay cả về sau, khi đã trên bốn mươi tuổi và có bốn người con lớn, bà vẫn là một phụ nữ có vẻ đẹp sang trọng và thanh lịch có tiếng ở Sài Gòn.

Tôi còn nhớ, trong lúc ở giá để nuôi các con ăn học thành tài, mẹ tôi đã từ chối khéo léo và khiêm nhượng những người đàn ông theo đuổi bà và về sau họ vẫn quý mến và nể phục tư cách của mẹ tôi. Một trong những người này đã qua đời đã giữ lòng thương quý mẹ tôi ngay cả khi bà đã tạ thế. Khi ra nước ngoài, ông gửi thơ về nhờ tôi đặt lên mộ mẹ tôi một bó hồng đỏ thắm mỗi tuần lễ, như ông vẫn thường làm trước khi ra đi! Mẹ tôi đã từ chối tất cả những người đàn ông đến sau, vì trong trái tim của bà chỉ có hình bóng của một người yêu duy nhất, đó là ba tôi, Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long.

Về công, tức là tài năng khéo léo, ít có người phụ nữ nào có tài nấu nướng những món ăn Việt cũng như Pháp tuyệt hảo như mẹ tôi. Nào canh bóng, vây, bào ngư, nấm nhồi giò, chả nem rán, bánh chưng gói, món Tây thì súp legume, bò hầm đậu, cua phá xi…

Các ngày giỗ chạp, tiệc rượu linh đình, một mặt mẹ tôi nấu ăn và chỉ dẫn cho người giúp việc, một mặt tiếp đãi khách với nụ cười hiền thục trên môi. Ai cũng phải mến yêu bà. Chị Thu tôi đã lớn thì giúp một tay, còn tôi bé út nhất nhà (cách anh Lân đến 9 tuổi) chỉ chạy chơi và chực ăn trứng luộc trên bàn thờ!

Sau này mẹ tôi mở tiệm Chả Cá Thăng Long (1959) ở đầu đường Phan Thanh Giản. Tiệm rất đắt khách và là một trong những tiệm ăn sang trọng thanh lịch và ngon lành tinh khiết nhất Sài Gòn lúc bấy giờ.

Về ngôn, khoa ăn nói, mẹ tôi ăn nói nhã nhặn, điềm đạm và nhu thuận, lúc nào cũng giữ vẻ bình tĩnh. Bà cũng dạy các con phải ăn nói đàng hoàng. Ngoài phái nam ra, phái nữ cũng thương mến bà, bạn bè và các bà cô, dì hai bên họ đều tìm đến bà khi hoạn nạn, nhưng cũng có một số nhỏ đem lòng ganh tị và tìm cách bôi nhọ thanh danh bà.

Về phẩm hạnh, không ai có thể chối cãi rằng mẹ tôi là một phụ nữ đảm đang, hy sinh cả cuộc đời cho chồng, cho con mà không hề phàn nàn, than vãn.


Thời thơ ấu của mẹ tôi – ba mẹ tôi gặp nhau

Sinh ra trong một gia đình quý phái, trưởng giả, mẹ tôi lại có những đức tính đơn giản, tốt bụng hay thương người. Ông ngoại tôi làm tham tá công chánh dưới thời Pháp thuộc, bà ngoại tôi là một mệnh phụ đài các nhưng khôn ngoan, biết quản lý tài sản của ông tôi, biết tiết kiệm. Mẹ tôi lại là con một nên được lo toan rất chu đáo, quá chu đáo đến nỗi mẹ tôi cảm thấy ngộp thở.

Bà ngoại tôi tính tình độc đoán, muốn chồng con phải phục tùng theo cách sinh hoạt của bà. Thậm chí mẹ tôi chỉ được quyền chơi những đồ chơi bà ngoại cho phép. Mẹ tôi kể lại rằng một lần ông ngoại lén cho mẹ một con búp bê mà mẹ tôi thích, khi bà ngoại biết được, bà lập tức vứt đi. Mẹ tôi khóc và nhớ mãi chuyện ấy. Bà ngoại rất yêu mẹ tôi, nhưng cụ vẫn giữ tính khắc nghiệt đó nên có những đụng chạm cãi vã không thể tránh được giữa hai mẹ con.

Khi ba mẹ tôi gặp gỡ nhau, họ bị tiếng sét ái tình đánh choáng váng. Một bên cảm vì sắc, một bên mến vì tài. Ba tôi tuy ít nói, nhưng có lối châm biếm khôi hài thật duyên dáng và sâu sắc đã chinh phục được trái tim trong trắng của mẹ tôi. Tính cách khôi hài này được thể hiện trong tập “Trước vành móng ngựa”. Mối tình của ba mẹ tôi là nguồn hứng khởi của mối tình của Duy và Thơ trong “Con đường sáng”.

Là một phụ nữ có tâm hồn nhạy cảm và chịu ảnh hưởng phong trào văn hóa mới vì mẹ tôi theo học trường Pháp và tốt nghiệp trường Pháp, bà thông cảm và hỗ trợ chí hướng phi thường của ba tôi, người đã từ chối chức tri huyện khi tốt nghiệp cử nhân luật, sau lại bỏ chức biện lý vì chống lại tòa án Pháp thuộc ngày đó. Điều này thể hiện trong tác phẩm “Trước vành móng ngựa”.

Phải là một phụ nữ phi thường mới thấu hiểu và tôn trọng một tâm hồn phi thường như ba tôi, và mới hy sinh tuổi xuân sắc để giúp đỡ chồng một cách đắc lực trong quá trình tranh đấu cho dân tộc và đất nước.

Lần đầu khi đi xem mắt mẹ tôi tại tòa biệt thự của bà ngoại tôi ở bãi biển Sầm Sơn, ba tôi đã bị tiếng sét ái tình. Mối tình đẹp như thơ đó đã bị cả hai bên gia đình phản đối, bên nội vì lý do bà nội tôi không chuộng gia đình trưởng giả, bên ngoại vì không cho là đủ môn đăng hộ đối. Nhưng ba mẹ tôi đã vượt thắng tất cả để tìm đến nhau và lập gia đình!




Nhà văn Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long, 1907-1948)



Một cuộc hôn nhân đầy hy sinh và chia ly


Chị cả tôi, chị Minh Thu, ra đời năm 1934, là tác phẩm đầu tiên của sự kết hợp tuyệt vời đó. Năm kế là anh Nguyễn Tường Ánh và cách một năm nữa là anh Nguyễn Lân. Ba mẹ tôi những tưởng anh Lân là con út rồi vì lúc đó ba tôi rất ít khi ở nhà, ông đã bị quay vào guồng máy thời cuộc lúc ấy. Khi ba tôi bị bắt, bị tra tấn tại sở mật thám và sau bị đi đày ở Vụ Bản, Chân Lạp Sơn, mẹ tôi rất lo buồn và đi lại tiếp tế nhiều lần.

Tháng Tám, 1946, ba tôi cầm đầu phái đoàn hòa giải, trong đó có cả người của Việt Nam Quốc Dân Đảng, của bên Việt Minh, và có nhân viên bộ Công Chính là kỹ sư Đỗ Xuân Dung để xem tình hình nước lụt ở Việt Trì (ngã ba sông Hồng Đào) và ba tôi bị bắt. Khi được thả ra, ba tôi sang Trung Hoa gặp gỡ bác Nguyễn Tường Tam và các anh em khác. Thời gian đó mẹ tôi thường xuyên mang vật phẩm và tiền bạc sang tiếp tế cho ba tôi và các anh em khác. Ngoài ra, một tay bà lo dạy dỗ các con, chăm sóc mẹ già và cũng một tay bà lo toan hỗ trợ người chồng cách mạng lưu vong nơi xứ người. Phụ nữ như thế không phải ở thời đại nào cũng có!

Ba mẹ tôi lúc ấy như Chức Nữ Ngưu Lang, chẳng được thường xuyên gặp gỡ nên mỗi lần trùng phùng thật quý giá vô cùng! Tôi là kết qủa của một trong những lần gặp gỡ đó. Ba tôi gởi thư về dặn mẹ nếu là con gái thì đặt tên Từ Dung, con trai thì Duy hoặc Giản. Như vậy Từ Dung là tên cúng cơm của tôi chứ không phải tên hát xướng đặt theo một nhân vật khác! Từ Dung có nghĩa là hình Dung giống mẹ, vì ba tôi lúc nào cũng tưởng nhớ mẹ tôi.

Tôi ra đời ngày 30 tháng Mười năm 1946 tại Hà Nội trong tình thương yêu của cả nhà. Ba tôi vẫn ở biền biệt bên Trung Hoa nên chẳng thấy mặt tôi, chỉ nhận được tin tức qua thư tín gia đình.

Lần gặp gỡ cuối cùng của ba mẹ tôi năm 1948 tại Hongkong rồi sau đó ba tôi bị một cơn đau tim tạ thế trên đường đi xe lửa về Quảng Châu, lúc đó tôi được 19 tháng. Được tin sét đánh, mẹ tôi phải lo tiền bạc quay trở lại chôn cất ba tôi tại Quảng Châu. Hiện nay không còn biết mộ phần nằm đâu nữa vì các nấm mồ đều bị khai quật dưới chế độ Trung Hoa Cộng Sản!

Kể từ đó, mẹ tôi ở vậy nuôi con cho đến khi các con khôn lớn. Bố con tôi chỉ biết nhau qua hình ảnh thư từ. Tôi được nghe kể lại về ba tôi qua lời nói của mẹ, của anh chị và của cậu tôi, Như Phong Lê Văn Tiến. Tôi nghĩ rằng tôi được thừa hưởng óc khôi hài châm biếm của ba tôi, cũng như dòng máu văn chương chảy cuồn cuộn trong tim óc!

Tại Hà Nội, gia đình tôi sống tại đường Lý Thái Tổ, Hàng Vôi. Trường Hàng Vôi là ngôi trường đầu tiên trên con đường học vấn của tôi. Năm 1990, trước khi rời Việt Nam, tôi ghé thăm ngôi nhà gia đình và ngôi trường thơ ấu. Ngôi nhà xinh đẹp hai tầng có cây bàng trước sân giờ đây ngăn ra cho tám hộ ở, phòng ngăn bằng vải rideau. Bàn thờ tổ tiên vẫn còn nguyên chỗ cũ nhưng chỉ còn một ông lão còn nhớ về nguồn gốc căn nhà.

Trở lại năm 1954, chúng tôi rời căn nhà thân yêu lên đường vào Nam trên một chiếc phi cơ quân đội. Tôi mới có 8 tuổi nên chỉ nhớ là mẹ tôi vội trở lại miền Bắc để thanh toán mấy căn nhà ở Hà Nội của bà tôi và gom tiền bạc để sinh sống trong Nam. Lúc đó sắp sửa đóng cửa ra vào hai miền nên các anh chị, tôi lo lắng sợ mẹ tôi bị kẹt lại Hà Nội.

Khi mẹ về, chúng tôi hết sức mừng rỡ. Chúng tôi tạm ở chia với họ hàng bên ngoại một căn nhà đường Đặng Dung, Tân Định. Đó là thời gian đẹp nhất của đời tôi! Mẹ con, anh chị em đoàn tụ yêu mến nhau. Tôi ở tuổi bắt đầu ý thức được tình cảm quý báu của gia đình. Ý nguyện của tôi là anh chị em tôi sẽ trở lại quây quần như thời đó!


Khi đến học lớp Tư trường Huỳnh Thị Ngà thì tôi gặp khó khăn với cô giáo Nam Kỳ với giọng đọc chính tả mới lạ. Tôi có đến mười lỗi trong bài “Lạc vào rừng” vì tôi không hiểu gì cả. Các bạn chế nhạo accent Bắc kỳ và gọi tôi “Bắc kỳ rau muống”.Đó là bài học đầu tiên của tôi về kỳ thị địa phương dạy tôi sau này chống lại mọi thứ kỳ thị trên cõi đời này!


Đời sống tại Sài Gòn

Cùng lúc ấy, mẹ tôi mở tiệm phở và chả cá Thăng Long trên đường Trần Quang Khải, Tân Định, sau chuyển về tiệm chả cá Thăng Long trên đường Phan Thanh Giản. Sau này ngẫu nhiên quán cà phê nhạc Từ Dung của tôi mở năm 1978 cũng lại tọa lạc trên con đường Trần Quang Khải và người hầu bàn trưởng tại chả cá Thăng Long tên là anh Tư lại trở thành người pha cà phê chính của quán Từ Dung.

Tiệm chả cá Thăng Long do họa sĩ Nguyễn Gia Trí trang hoàng có một vẻ Á Đông trang nhã với những chiếc cột đỏ, những tấm bình phong và hình vẽ đặc biệt Việt Nam rất mỹ thuật. Một tấm tranh dân gian của Phạm Tăng treo dọc cả bức tường trong căn phòng riêng của quán. Bức tranh này sau tôi bị một tay văn sĩ hạng b, c gì đó lừa lấy mất!

Căn nhà mẹ tôi mua rộng lớn, một bên mở tiệm, còn một bên gồm năm phòng để gia đình tôi ở. Tiệm luôn đông khách tấp nập và các danh nhân, nghệ sĩ như Mặc Thu, Nguyễn Hoạt, bác Nhất Linh, Chu Tử thường xuyên đến ăn chả cá. Thế nhưng vấn đề tài chính không mấy khả quan vì mẹ tôi quá tốt bụng, luôn nuôi ăn ở và trả lương cho 6,7 người giúp việc nên tiền vào tuy khá nhưng ra cũng lắm. Mẹ tôi không bao giờ từ chối mở hầu bao giúp cho những người đến cầu cứu gia đình tôi!

Lúc đó chị Minh Thu, anh Tường Ánh lập gia đình nhưng lúc đầu anh Ánh vẫn ở chung với mẹ tôi. Các anh chị có gia đình riêng nên không còn gần gũi nhau như xưa. Tôi cảm thấy mẹ buồn nhưng không biết an ủi mẹ ra sao, chỉ biết rúc vào lòng mẹ. Khi anh Ánh và vợ dọn đi ở riêng trong một căn nhà mẹ mua cho anh, tôi được thừa hưởng căn phòng trống cạnh phòng anh Lân. Trước mặt hai căn phòng là một sân cement nhỏ trồng vài cây cảnh như cây trúc đào, cây mận sai trái vì tôi chôn xác con mèo dưới gốc cây.

Đằng sau phòng tôi là một cây trứng cá trái mọng nước và rất ngọt. Căn phòng này đã ghi một ấn tượng sâu đậm về thời thơ ấu của tôi sống êm đềm trong tay mẹ hiền. Có phòng riêng rồi nhưng tôi vẫn đòi ngủ với mẹ để được hít mùi da thịt của bà, thơm mùi nước hoa Guerlain và mùi phấn. Tôi cũng đòi mẹ ngâm thơ Kiều hoặc hát quan họ cho nghe như lúc còn bé tí.

Cũng vì vậy mà tôi rất thuộc Kiều và những bài thơ ru em. Mẹ tôi yêu nhạc Đông phương nhưng cũng mê nhạc cổ điển Tây phương, nên khi mẹ mất, gia đình tôi mở nhạc Bach và Beethoven bên quan tài để hương hồn mẹ tôi về thưởng thức, thay vì giọng ê a của các vị sư hay kinh của các cha cố!

Sau này mẹ tôi bắt đầu gặp khó khăn về tài chính nên phải bán đi một số nữ trang. Lúc đó là đầu thập niên 1960, quân đội Mỹ đổ sang Việt Nam nên mẹ tôi theo trào lưu cũng dẹp tiệm chả cá và cho Mỹ thuê một bên nhà để mở nhà hàng có âm nhạc tên là Kontiki. Đêm nào tôi cũng được nghe tiếng đàn hát vọng sang từ bên nhà hàng của ban nhạc Đăng Tiến, thỉnh thoảng tôi cũng sang hát chơi những bản như Autumn leaves, A very precious love, Mona Lisa….

Tôi khoảng 16 tuổi, tuổi đầy mộng đẹp và bắt đầu mơ đến tình yêu! Mấy năm sau mẹ tôi bán căn nhà rộng lớn đường Phan Thanh Giản và mua căn nhà nhỏ hơn có ba phòng ngủ và một căn gác ở Ngã năm Bình Hòa đường Chu Văn An. Nhiều người ngăn cản bà mua căn nhà này vì nó nằm cuối ngõ cụt và có một ngôi mộ đằng sau nhà nên theo địa lý rất xấu. Không biết có phải là mê tín không mà sau này mẹ tôi bị ung thư nặng và chết tại căn nhà đó, bà ngoại tôi cũng chết theo ở tuổi 98 vì quá đau đớn, mẹ tôi là con duy nhất của cụ, cậu tôi Như Phong Lê văn Tiến bị bắt giam cũng ở đó, gia đình vợ chồng tôi thì phân tán, chia ly.

Năm Mậu Thân 1968 nơi này là tử địa của tàn quân Việt Cộng, sau khi VC thất bại trong trận tổng công kích Saigon, đã rút lui về nơi đây. Ngôi nhà chúng tôi bị đạn bắn từ máy bay xuống lỗ chỗ đầy những vết đạn, cũng may là khi cả khu phố bốc cháy như một con rồng lửa thì bỗng dừng lại khi tới nhà chúng tôi. Thật là một phép lạ! Tôi giúp mẹ, bà ngoại và hai mẹ con bác giúp việc chạy khỏi nhà, chân phải chạy lung tung tránh xác VC nằm đầy ngõ và tránh tầm đạn của hai bên bắn nhau. Một ông hỏi ông khác “ai đánh ai?”, ông kia trả lời “quân mình đánh quân ta”!

Từ lúc đó mẹ tôi bị ung thư bên cánh tay trái và căn bệnh kéo dài tới năm 1975 thì mất. Vị bác sĩ đã hết lòng chữa chạy cho mẹ là bác Trần Ngọc Ninh, một người bạn thân của gia đình tôi. Hai bác sĩ khác của gia đình tôi là bác sĩ Phan Huy Quát và bác sĩ Kỳ Quan Thân. Cánh tay xinh đẹp, nuột nà, trắng bóc của mẹ tôi chỉ để đeo những nữ trang quý giá nay đã bị cắt đi đến hai lần, và sau cùng căn bệnh quái ác đã ăn vào tủy sống làm mẹ hôn mê trong 24 tiếng đồng hồ trước khi từ giã cõi đời. Trước khi bị hôn mê, căn bệnh ăn vào tủy làm bà thấy mọi vật nhuộm muôn màu muôn sắc.

Không có gì diễn tả nổi nỗi đau đớn của người mắc bệnh ung thư. Lầu 5 của Viện Ung Thư ở Gia Định phải rào lại vì nhiều người trong cơn đau đã nhảy xuống tự vận. Trong khoảng cuối cùng của cuộc đời đầy hy sinh, chịu đựng, đau đớn, bà vẫn tiếp tục làm phước, giúp người. Bà bảo trợ cho một số người bị ung thư trong Viện, trong số đó có một anh binh sĩ trẻ, đẹp trai như Alain Delon. Anh bị ung thư xương chân, chỉ trong vài tháng là từ trần. Mẹ tôi, lúc đó đã phải dùng tới codein cho bớt đau và bò lết dưới đất rên la, cũng vẫn lo cho anh trong những ngày chót của cuộc đời anh!

Tại sao một phụ nữ hiền hậu như mẹ tôi và có lòng thương người lại phải chịu một số phận đớn đau như vậy? Khi mẹ tôi mất đi, bà không bám víu vào một niềm tin tôn giáo nào cả vì bà không tìm thấy đức tin nơi cuối đời. Lúc gần chết, bà cảm thấy hoang mang… Khi nhìn ngắm xác mẹ trong chiếc áo trắng tôi mặc cho bà và cành hoa lan trắng trước ngực bà, tôi mới ý thức được nỗi mất mát lớn lao đến thế nào. Đã quá muộn để chiều chuộng mẹ, để nói rằng mẹ ơi con yêu mẹ, để cám ơn bà cho tôi đời sống hôm nay và niềm tin ngày mai.

Có một con bướm trắng bay quanh quan tài của mẹ nhiều lần trước khi hạ huyệt, có phải chăng linh hồn mẹ muốn từ giã các con lần cuối? Từ Dung xin thay mặt người quá cố cũng như các anh chị gửi lời cám ơn anh Sơn, con của cô Thế đã lo việc rải tro xuống biển cho bà và mẹ chúng tôi tại Việt Nam để linh hồn bà và mẹ chúng tôi được siêu thoát và xin Chúa ban phước lành cho anh và gia đình anh.

Chấm hết.
Từ Dung
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Duy An
#2944 Posted : Tuesday, January 24, 2017 2:35:24 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Thế Lữ,
ngôi sao thứ sáu của Tự lực văn đoàn


Hoàng yên Lưu

Có nhà nghiên cứu Văn học VN tiền bán thế kỷ 20 cho rằng khi thành lập Tự lực văn đoàn vào năm 1933, Nhất Linh có nghĩ tới nhóm Thất tinh (La Pleiade trong văn học Pháp thế kỷ 16 Pháp với các tài danh như Ronsard, du Bellay).

Nhóm Phong Hóa buổi đầu không có Thế Lữ mà chỉ có Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ và họa sĩ Nguyễn Gia Trí. Rồi Thế Lữ lọt vào mắt xanh của Nhất Linh khi chàng trai mới vào nghề văn và cho đăng truyện Vàng và Máu trên tờ Ngọ Báo và lên Hà nội kiếm việc. Qua Tú Mỡ, Thế Lữ được giới thiệu với Nhất Linh và được Nhất Linh niềm nở đón tiếp và tạo cơ hội cho góp mặt trên tờ Phong Hóa bằng bài thơ Con người vơ vẩn đăng trên số Tết 1933. Tiếp đó ông trở thành nhà thơ đầu đàn phong trào thơ mới. Khi văn đoàn được thành lập Thế Lữ là ngôi sao thứ sáu của văn đoàn. Còn Xuân Diệu chỉ gia nhập văn đoàn sau này và bước đầu sự nghiệp cuœa tác giả Thơ thơ một phần do công cuœa Thế Lữ nâng đỡ.

Thế Lữ tên thực là Nguyễn Đình Lễ, còn có tên là Thứ Lễ, sinh tại ấp Thái Hà, Hà nội nhưng thuở nhỏ sống ở Lạng sơn với bà nội. Quê nội của ông ở xóm Tự, làng Phù đổng. Sau đây là vài nét cuộc đời của Thế Lữ:

1918 theo học chữ quốc ngữ và chữ Pháp tại trường Pháp Việt ở Ngõ Nghè, Hải phòng, 1924 đỗ bằng sơ học yếu lược, vào trường Cao đẳng tiểu học ở Hải phòng, đến năm thứ ba thành chung nghỉ học vì bệnh, sau đó có lên Hà nội dự thính tại trường Mỹ thuật. Tuy nhiên sức khỏe không đủ nên ông quay về Hải phòng dưỡng bệnh. Khỏi bệnh, được một người bạn sau này là luật sư Vũ Văn Hiền giúp đỡ lên Hà nội kiếm việc (làm thợ sửa bài cho tờ La Volonté Indochinoise) và quen biết Tú Mỡ rồi được giới thiệu với Nhất Linh.

Hoàn cảnh của Thế Lữ trước khi bước chân vào nhóm Phong hóa có nhiều áp lực (sinh 1907, cưới vợ vào tuổi 17, sinh con đầu lòng vào tuổi 22, con thứ hai vào tuổi 24, học hành dở dang, lại bị bệnh lao… và thất nghiệp) đã được ông tự giới thiệu khá chân thành trong bài thơ đầu tiên góp mặt trên thi đàn Phong hóa:

Đó là một kẻ không nơi trú ẩn
Bốn phương trời xuôi ngược bấy lâu nay
Tối ba mươi theo bước tới nơi đây
Giữa hoan lạc riêng thấy mình trơ trọi


Từ khi vào Phong Hóa và tiếp đó có chân trong Tự Lực văn đoàn, sự nghiệp “đường mây rộng thênh thênh cử bộ” của Thế Lữ gắn liền với Phong hóa và Ngày nay nói chung và nói riêng với người lãnh đạo văn đoàn là Nhất Linh. Có Nhất Linh mới có Thế Lữ nên Thế Lữcoi Nhất Linh là ân nhân. Cũng vì thế trong Mấy vần thơ, một trong những bài thơ hay nhất là bài Nhớ rừng đã được Thế Lữ đề tặng Nhất linh. Thế Lữ đã biết tâm trạng muốn phá ách nô lệ của tác giả Đoạn Tuyệt và Đôi Bạn nên mới tạo ra hình ảnh con hổ bị giam trong vườn bách thú “gậm một khối căm hờn trong cũi sắt”. Còn bài Giây phút chạnh lòng cũng là cảm xúc của nhà thơ về tâm trạng của người anh cả trong Tự Lực Văn Đoàn.

Thế Lữ là cây viết đa dạng của TLVĐ. Ông là nhà thơ lớn, một kịch tác gia có tài và cũng là cây viết truyện kinh dị số một cuœa nền Văn học Chữ Quốc ngữ. Nếu nhiều người còn nhớ bài Nhớ Rừng, Cây Đàn Muôn Điệu và Tiếng Sáo Thiên Thai… trong thi tập Mấy Vần Thơ thì cũng chẳng mấy ai quên những tác phẩm khiến người đọc dựng tóc gáy như Vàng và Máu, Ba Hồi Kinh Dị và Trại Bồ Tùng Linh cuœa cây viết đa năng này.

Nhớ đến Thế Lữ có một số điều không thể quên. Trước hết, ông là một con người cực kỳ mơ mộng và phong phú trí tươœng tượng ngay nơi mình ra đời cũng không biết rõ, khi thì ông nói ra đời năm 1907 ơœ Lạng sơn, khi thì baœo sinh ơœ Thái Hà ấp và sau này lại khai quán làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Ông lấy bút hiệu Thế Lữ chỉ là hoán đổi mẫu tự cuœa hai chữ tên thực Thứ Lễ (Nguyễn), và lấy bút hiệu Lê Ta trên báo Phong hóa cũng hàm ý Lê ngã (ta) Lễ.

Khi cánh chim bằng Thế Lữ đã lên tới đỉnh trời cao, ông là thần tượng của thanh niên một thời.

Huy Cận kể lại vào năm 1934, nhân hội chợ Huế, ông cùng Nguyễn xuân Sanh (sau này cũng là một nhà thơ trong nhóm Xuân thu nhã tập) đã có cơ hội gặp thần tượng Thế Lữ.

Đây là chân dung tác giả Mấy vần thơ dưới mắt hai cậu học sinh thời ấy:

“Gần tết năm 1934 ở Huế có mở hội chợ gần viện Dân Biểu, bên bờ sông Hương. Có một tin làm chúng tôi náo nức, là nhà thơ Thế Lữ sẽ vào thăm hôi chợ. Lúc bấy giờ chúng tôi đã đọc các bài thơ của Thế Lữ đăng trên tờ Phong hóa và lúc đó tập Mấy vần thơ của Thế Lữ cũng vừa mới phát hành. Một bạn đọc lớp tôi đã đặt mua được một bản Mấy vần thơ giấy đẹp (giấy De Rives), giấy trắng xốp rất đẹp. Quyển Mấy vần thơ là quyển đầu tiên trong loại sách mỹ thuật của nhà xuất bản Đời Nay, do kỹ sư ấn loát Đỗ Văn trình bày, và do họa sĩ Trần Bình Lộc minh họa. Xuân Sanh và tôi suốt cả một buổi chiều đi đi lại lại trong hội chợ cốt gặp cho được Thế Lữ để chào anh, để nói với anh vài lời, tỏ lòng hâm mộ của chúng tôi. Không khí hội chợ gần tết rất phơi phới, có cái gì như xui lòng người ta rạo rực, nghĩ đến những tình duyên đẹp, những cuộc hội ngộ đằm thắm. Rồi xế chiều, Thế Lữ đi vào hội chợ, đi theo có vài người bạn. Thế Lữ lúc đó còn trẻ lắm, nhưng như anh đã nói trong một bài thơ, ‘Nỗi gian truân trên bước đường đời’ đã cho nét mặt anh có một vẻ trầm tư xa hơn cái tuổi của anh. Bọn tôi ngắm anh từ đôi mắt nhìn thẳng mà vẫn mơ mộng, đến hai bàn tay thon như bàn tay các cụ đồ ngày xưa, đến dáng đi rất nhẹ của anh với thân hình mảnh dẻ, dáng đi như lướt trên đường, không nghe tiếng chân ấn xuống đất. Chúng tôi chào Thế Lữ, không nói được gì nhiều, một phần vì chúng tôi cảm động, một phần vì anh cũng có vẻ phải đi vội. Nhưng anh cười với chúng tôi một cách rất bè bạn, tỏ ý thông cảm lòng yêu văn thơ của chúng tôi”.

Sau 1945 Thế Lữ chỉ còn là nhà biên soạn kịch và chèo bị quên lãng trong caœnh cơ hàn và bệnh hoạn nên về già phải bỏ Hà nội vào Sài gòn.

Khi công danh xán lạn ông bỏ vợ cả (bà Nguyễn thị Khương) vào 1938 để lấy cô đào trẻ (Song Kim Nguyễn thị Nghĩa) và 1977, bệnh hoạn thì bỏ người tình kịch nghệ quay về với vợ cả và con gái ở 161 đường Nguyễn Đình Chiểu, Sài gòn. Tại đây trước khi mất vào 1989 Thế Lữ xin trở lại đạo sau gần nửa thế kỷ bỏ đạo.

Cuộc đời Thế Lữ gây nhiều mâu thuẫn và vào lúc cuối đời, có người thương và không ít người trách ông.

Bản chất Thế Lữ, như Tú Mỡ kể lại là “hiền lành” và đôi chút nhút nhát. Cũng theo Tú Mỡ vào 1940 khi nhóm Hoàng Đạo, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí bị Pháp bắt giải lên châu Vụ Bản, Hòa Bình thì Thế Lữ trốn về Hải phòng lánh nạn. Sau 1945, ông cũng là người viết tự kiểm thảo và nhìn nhận tác phẩm thơ văn của mình là thứ “văn xa thực tế, đi từ mơ màng, huyền diệu đến chán nản, trụy lạc” và không tiếc lời phê bình Nhất Linh tới mức thóa mạ một kẻ đã nâng đỡ mình trên văn đàn: “Nó nuôi cái mộng ăn trên ngồi chốc của nó trong những huyễn tưởng cải cách: lập đồn điền kiểu mới, tổ chức văn nghệ ‘từ lâm’ và phỉnh độc giả bằng những tiểu thuyết lấy ‘hành động cách mạng’ làm đề tài – nhưng là thứ ‘cách mạng’ mơ hồ, dựng trên cơ sở của một ảo mộng làm lớn. Nguyễn Tường Tam là một cái bóng ma, vừa thu mờ vừa thu nhỏ lại của tên cuồng vọng Hitler. Kích thích vì những hành động của ông thầy quốc xã của nó, nó mơ làm chính trị từ hồi viết Đoạn Tuyệt… Đường lối chính trị của nó rõ rệt nổi ở những điểm này: thỏa hiệp đầu hàng thực dân Pháp hồi làm báo; ôm chân phát xít Nhật hồi Nhật chiếm Đông dương; ôm chân quân đội Tưởng Giới Thạch hồi Cách mạng dân chủ nhân dân thắng lợi và bây giờ làm nốt cái sự nghiệp phản dân phản nước bằng cách trở về ôm chân đế quốc Pháp-Mỹ. Hiện nay núp sau lưng giặc, nó đang cố dựng lại Tự lực văn đoàn với những tên bồi bút ăn phải bả của nó”.

(Trích “Những sợi dây trói buộc tôi trên đường phục vụ cách mạng”

– Tạp chí văn nghệ tháng 7, 1953)
Hạ Vi
#2945 Posted : Wednesday, March 8, 2017 7:04:07 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,333
Points: 16,885
Location: CỏThơm

Thanks: 4126 times
Was thanked: 9969 time(s) in 2470 post(s)





Tà áo tương tư


Tình riêng theo gót em qua
Tương tư đem dấu trong tà áo bay
Em về giặt áo có hay
Vô tình vò nát tim này đem phơi

Gió bay không gửi được lời
Đành đem giấu kín một trời nhớ nhung
Mai kia dù vẫn lạnh lùng
Từng trong tà áo một vùng si mê


Trần Đại






Duy An
#2946 Posted : Monday, April 17, 2017 3:43:34 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)


Bong bóng vẽ


Trang Nguyên

"Bong bóng Thanh Dung, bong bóng từ miền Trung chở tới, bong bóng đi rồi các em nhỏ đứt ruột em ơi…"

Tôi có anh bạn lớn tuổi không phải người Quảng Nam hay cãi Quảng Ngãi hay la, vậy mà anh ta cứ cãi tới cho bằng được rằng, bong bóng Thanh Dung có xuất xứ từ miền Trung. Anh kể hồi nhỏ, từng nghe lời rao đến thuộc lòng của mấy ông bán bong bóng ở tận vùng quê miệt Thứ của anh. “Bong bóng Thanh Dung, bong bóng từ miền Trung chở tới, bong bóng đi rồi các em nhỏ đứt ruột em ơi…”. Trẻ con ở đâu cũng thích bong bóng, cớ sao lại là bong bóng Thanh Dung đâu tận miền Trung mang vào bán ở miệt sông nước phương Nam. Tên lò bong bóng này từng gắn bó với tôi một thời gian ngắn, khi còn bé tôi thường theo thằng bạn trong xóm đạp xe đến lò mua bong bóng đủ các loại về bơm hơi đi bán dạo khắp con phố Sài Gòn.

Từ xóm Hòa Hưng, chúng tôi đi theo đường Lê Văn Duyệt qua khỏi nghĩa trang Chí Hòa là tới lò bong bóng Thanh Dung nằm trong con hẻm nhỏ thông qua đường Nguyễn Văn Thoại (nay là Lý Thường Kiệt). Con hẻm nhỏ bây giờ mở rộng thành đường cái mang tên Bành Văn Trân. Lò bong bóng Thanh Dung vẫn còn đó và mở rộng thành Công ty sản xuất cung cấp các loại bong bóng ở Sài Gòn. Không biết anh bạn lớn tuổi của tôi nói bong bóng Thanh Dung xuất xứ từ miền Trung có đúng không, nhưng khu vực trong những con hẻm từ đường Nghĩa Phát chạy qua khỏi Ngã Ba Ông Tạ đến Ngã Tư Bảy Hiền, bên ngoài mặt lộ là hầu hết người Bắc di cư năm 1954 cư ngụ. Bên trong các con hẻm đa phần là người Quảng Nam vào Sài Gòn sinh sống từ những năm 1960. Từ hồi năm 1967 thì tôi đã biết lò bong bóng Thanh Dung rồi, phía trước là căn nhà nhỏ như bao căn nhà trong xóm, bên trong có phần đất rộng che chắn mái tôn, vài ba nhân công làm việc với cái lò nấu cao su và mấy máy dập thủ công sản xuất ra bong bóng đủ màu.

Mỗi lần thằng bạn đi mua bong bóng sỉ thường hay rủ tôi đi cùng. Tôi thích đi với nó vì mỗi khi mua hàng ở lò Thanh Dung, bà chủ thường hay cho thêm một nắm bong bóng. Phần cho thêm đó thằng bạn dành riêng cho tôi. Tôi mang mớ bong bóng dài như chiếc đũa về thổi lên vặn nắn đủ mọi hình thù, có khi là quấn thành cái vòng đeo trên đầu gắn thêm hai cái lỗ tai con thỏ, có khi đổ nước vào xoay vặn thành chùm nho căng mọng bỏ đầy một cái rổ tre trông thật hấp dẫn. Nhờ sáng kiến này làm tôi kiếm được khá nhiều bạc cắc khi đem bán những chùm nho bong bóng cho đám học trò buổi sáng đi học ngang nhà. Chẳng bao lâu, ba tôi biết được la rầy một trận, “còn nhỏ không lo học hành, lớn lên có nước đi bán bong bóng”.

Thằng bạn trong xóm có lớn đâu mà vẫn bán bong bóng. Nhà nó nghèo, cha đạp xích lô, má gánh nước mướn, còn nó học chung với tôi hết lớp năm thì thi rớt cuối cấp vào trường trung học công lập, rồi nghỉ luôn ở nhà phụ giúp gia đình bằng cách đi bán bong bóng dạo. Thằng bạn có hoa tay, mười ngón đều có hình vân tay xoáy tròn. Nó vẽ hình đẹp lắm và thường xin tôi cục phấn trắng vẽ hình nhân vật Tintin trong truyện tranh trên nền xi măng ngoài sân nhà cho tôi xem. Tôi nói, “mày vẽ Tintin theo hình trong truyện thì dễ thôi, mày vẽ được con quỷ hiện hình khi trăng lên tao mới phục”. Tôi biết nhà nó không có máy truyền hình nên không thể nào xem “Chương trình lúc 0 giờ” của Thẩm Thúy Hằng và La Thoại Tân mà mỗi khi ba tôi bận trực ở quân đoàn không có ở nhà, tôi cùng mấy bà chị ngồi trước cái tivi trắng đen hồi hộp theo dõi “người đẹp Bình Dương” đóng vai cô gái con nhà giàu mang một chứng bệnh kỳ lạ hiện hình thành con quỷ đi hút máu người mỗi khi xuất hiện trăng rằm giống trong truyện ác quỷ Dracula.



Công viên trước Toà Đô Chánh Sài Gòn nơi tập trung các thợ chụp hình và trẻ em bán bong bóng vẽ trước 1975
Ảnh: Corbis


Sau khi suy nghĩ một chút, thằng bạn cầm cục phấn vẽ mặt trăng, rồi tới đôi mắt, khuôn mặt con quỷ hiện ra, tiếp theo là thân hình có hai bàn tay đang ghì cắn cổ một cô gái. Sau cùng là một cái chân. Tôi chờ nó vẽ thêm một cái chân nữa, nhưng chờ hoài chẳng thấy. Nó cất cục phấn vô cái lỗ gạch ống bên vách hông nhà, phủi tay bảo: “Xong rồi đó. Con quỷ hiện hình khi trăng lên”. Tôi cự lại, “không phải, mày vẽ con quỷ một giò”. “Mày đâu có nói là con quỷ có hai giò hay một giò. Mày chỉ nói con quỷ hiện hình khi trăng lên, tao vẽ ánh trăng đàng hoàng đó chứ”. Tôi xem kỹ bức tranh phấn rồi ngợ ra hình con quỷ một giò vẽ trên bìa tập truyện tranh hồi học cuối lớp năm tôi mua tặng cho nó. Năm đó hai thằng đi học chung, thường ghé tiệm bán truyện tranh gần trường học coi cọp cả đống truyện Lucky Luke, Xìtrum, Chú Thoòng. Thấy nó cầm cuốn truyện mà cứ xem cái bìa hoài, tôi bảo mày thích thì mua, tao trả tiền. Trả tiền xong, tôi cầm cuốn truyện xem, té ra là “Con quỷ một giò tập 1”. Tôi nói với nó: “Xem làm gì ba cái chuyện ma quỷ tào lao, tập 2 mày tự bỏ tiền túi nhé”. Nói xong, tôi chợt im re, bởi tôi cũng mê xem “Chương trình lúc 0 giờ”, cái bóng con quỷ dưới ánh trăng lôi cuốn hết tập này đến tập khác.

Thằng bạn không có cơ hội mua “Con quỷ một giò tập 2” vì hoàn cảnh gia đình. Nhiều khi tôi đi học về lúc xế chiều, thấy bóng dáng gầy còm của nó dắt chiếc xe đạp rẽ vào con hẻm nhỏ, lòng tôi vui mừng biết ngày hôm nay nó bán hết bong bóng nên về nhà sớm. Có lần sang nhà nó chơi, tôi nói “mày vẽ đẹp, sao không vẽ bong bóng bán cho cả người lớn. Mấy cái bong bóng dập hình con thỏ cứ bán hoài cho mấy đứa con nít, tụi nhóc mua riết rồi cũng chán”. Nó đáp: “Tao vẽ bằng phấn thì được, chứ chưa bao giờ cầm cọ vẽ sơn dầu. Mà hình vẽ bong bóng đâu phải là con quỷ một giò hay thằng Xìtrum, làm sao mà vẽ. Bong bóng vẽ bán mắc tiền nên khó bán hơn bong bóng in hình sẵn, cứ việc bơm lên bán là xong, khỏi phải lỉnh cà lỉnh kỉnh đồ nghề cho mệt”.

“Thế mà cũng đòi đi bán bong bóng, tôi “lên lớp” một hồi… rồi kể cho nó nghe chuyện chú Năm ở xóm ngoài làm tranh sơn mài. Nó cự nự, tranh sơn mài thì mắc mớ gì đến chuyện vẽ bong bóng ở đây.

Hồi năm rồi, một viên chức người Mỹ làm việc chung với ba tao tặng cho nhà tao vài món quà ăn Tết. Ba tao đáp lễ bằng bộ tranh sơn mài kỷ niệm ông Mỹ về nước. Mua tranh ở tiệm bán đồ mỹ nghệ thì chẳng nói, đằng này ba tao muốn thực hiện tranh theo ý của ổng. Giá mắc hơn nhiều nhưng không trùng lặp hình ảnh của tranh sơn mài hàng chợ. Ba tao nói ý, chú Năm thực hiện. Theo ngày hẹn, tao chạy ra nhà chú Năm nhận hàng. Thế nhưng, bốn tấm tranh vừa mới mài xong, nên đành phải ngồi chờ chú đánh bóng. Trong lúc đó thì anh con trai của chú đi xe gắn máy vừa về tới. Phía sau xe chở cái thùng gỗ, phía trước kẹp một bó đũa nan tre trên đầu có cái vòng kẽm để cột bong bóng. Thấy bó đũa nan tre, tao nghĩ tới mày. Tao suy đoán, chẳng lẽ con trai chú Năm… Ðoán sao thì y rằng vậy, chú kể chuyện con chú học trường mỹ thuật, cuối tuần bán bong bóng vẽ trong sở thú kiếm tiền mua sơn dầu, giấy vẽ.



Cảnh buôn bán bong bóng và dòng người đi chợ Tết giữa Sài Gòn thập niên 1960 – Ảnh: Tư liệu


Thằng bạn không nói gì sau khi nghe chuyện kể. Nhưng nó bắt đầu bán bong bóng vẽ. Ban đầu nó vẽ hình đơn giản như điểm thêm đôi mắt đen, cái mũi đỏ, cái miệng cùng mấy sợi râu thỏ khiến cái bong bóng trông thật sinh động. Một hôm nó sang nhà tôi với khuôn mặt hớn hở, tíu tít đủ chuyện trên đời. “Lúc này buôn bán được lắm, có mấy đứa nhóc tì đòi vẽ hình nó lên bong bóng. Tao không dám vẽ sợ không giống tụi nhóc la làng. Tao nói chơi, nếu vẽ thì giá gấp đôi, vậy mà tụi nó nhao nhao đồng ý. Tao làm liều vẽ luôn, vọt vẹt vài nét theo kiểu cắt hình bóng đen thui, tụi nhóc bu quanh cứ đòi vẽ em, vẽ em trước”. Tôi hỏi: Thế mày vẽ có giống không mà mấy đứa nhóc mê thích?”. Nó đáp: “Giống phân nửa thôi nhưng tao viết tên tụi nhóc phía dưới, rồi bảo đây là hình thằng Tí, hình thằng Tèo, giống y chang chứ nị. Thế là tụi nhóc khoái chí”.

Thôi đi ông, ông gạt tụi con nít thì có. Thiếu gì cảnh vẽ như con thuyền bến nước, mái tranh nhà quê dưới bóng dừa. À này, mùa Tết sắp tới mày vẽ nhành hoa mai với lời chúc mừng năm mới hoặc cung chúc tân xuân cùng phong pháo đỏ. Tao thấy loại bong bóng in sẵn những câu chúc bán đầy chợ hoa Sài Gòn, màu sắc thì vui nhưng thiếu cái gì đó mà chỉ có người bán bong bóng để cái tâm cái hồn vẽ chữ vẽ hoa trên đó mới làm cho chiếc bong bóng thu hút người mua. Bán bong bóng đâu chỉ bán cho con nít mà cả người lớn nữa, nhiều người thích mua trang trí nhà cửa nhân dịp sinh nhật hay lễ lạt cuối năm.

Cái Tết năm đó, thằng bạn mang sang nhà tặng tôi cái bong bóng màu xanh hy vọng với dòng chữ bay bướm “Chúc mừng năm mới”. Rồi năm sáu tháng sau, nó lại gặp tôi buồn bã giã từ “Ba tao bán nhà đi kinh tế mới”. Và đó là lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau cho đến lúc tôi hay tin nó đạp phải trái mìn trong lúc đi làm cỏ. Cho đến bây giờ cứ mỗi lần thấy bong bóng vẽ tôi lại chạnh lòng nhớ thằng bạn nhỏ ngày xưa. Bong bóng đi rồi các em nhỏ đứt ruột em ơi.
phamlang
#2947 Posted : Saturday, June 10, 2017 3:18:19 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,513
Points: 4,755

Thanks: 1669 times
Was thanked: 998 time(s) in 646 post(s)
Văn Quang kể về Chân Trời Tím






Phim Chân Trời Tím, quay tại Việt Nam năm 1970 với sự hỗ trợ của Bộ Quốc Phòng và các binh chủng VNCH. Phim dựa trên tiểu thuyết cùng tên của nhà văn quân đội Văn Quang, được 2 giải thưởng văn học nghệ thuật do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trao tặng. Sau gần 47 năm, bản phim gốc đã được gia đình hãng phim Mỹ Vân tìm được như một nhân duyên. Bộ phim nay đã được phục hồi màu sắc và âm thanh với kỹ thuật digital của Hollywood rất tốn kém. Phim có sự xuất hiện của Hùng Cường, Kim Vui, Mộng Tuyền, Bảo Ân, Hà Huyền Chi, Ngọc Phu, Ngọc Đức, Bà Năm Sa Đéc, Khả Năng…. Kịch bản Mai Thảo, âm nhạc Phạm Đình Chương, tiếng hát Thái Thanh.

Hãng Mỹ Vân Films và gia đình (tại Hoa Kỳ) đã đồng ý cho phép Tôn Thất Hùng (hậu duệ đời thứ hai của VNCH) được chiếu ra mắt CHÂN TRỜI TÍM tại Toronto với 2 xuất 12:00PM và 3:00PM, ngày 11 tháng 6, 2017 tại rạp Hot Docs Ted Rogers Cinema (Bloor W & Bathurst). Đây cũng là một sinh hoạt của thế hệ thứ hai muốn tri ân những anh hùng và những tử sĩ VNCH đã vị quốc vong thân. Từ Việt Nam, nhà văn quân đội Văn Quang- một cây viết quen thuộc của Thời Báo- đã dành cho Tôn Thất Hùng một cuộc phỏng vấn.


*Kính thưa ông, vào ngày 11 tháng 6 sắp tới, Chân Trời Tím sẽ được trình chiếu ra mắt lần đầu tiên tại Toronto (Canada) với 2 xuất trong một rạp hát sang trọng, không phải chỉ dành khán giả gốc Việt mà còn với cả khán giả nói tiếng Anh vì sẽ có phụ đề Anh Ngữ. Đây là một cuốn phim nổi tiếng được dựng lại từ tiểu thuyết cùng tên của ông. Cảm tưởng của ông thế nào?

– Trước hết tôi xin gửi lời chào trân trọng đến bạn đọc Thời Báo và các vị sẽ đến dự buổi chiếu phim này ở Canada. Tôi nhớ không lầm thì hãng phim Mỹ Vân ngày xưa ở Việt Nam cũng là một trong 7 nhà sản xuất phim Chân Trời Tím. Ngày nay hậu duệ của hãng phi Mỹ Vân đã được anh Phi Hà công phu làm mới lại để giới thiệu dưới danh hiệu Mỹ Vân Films 21, anh Phi Hà là cháu ngoại thừa kế của ông bà Mỹ Vân. Phim nhựa 35 ly xưa cũ trải qua trên 50 năm đã hư hỏng qua thời gian nhưng với kỹ thuật tân tiến của phim trường Hollywood đã được làm mới lại đến 90%. Phim Chân Trời Tím mới này được chiếu lần đầu tiên tại Mỹ, nơi chiếu là “hội trường quận” hạt Santa Clara. Khi được ông Giao Chỉ tức cựu Đại Tá Quân Lực VNCH báo tin tôi thật sự rất xúc động, không ngờ vẫn còn nhiều người nhớ đến những tác phẩm điện ảnh Việt Nam xưa. Thật ra điện ảnh VN thời xưa còn khá nhiều những tác phẩm nổi tiếng rất hay, vậy mà phim Chân Trời Tím đã được chú ý đến đầu tiên. Tôi tự hỏi tôi đã làm gì trong thời gian đó? Câu trả lời này gần như không có đáp số. Có lẽ cần phải hỏi những vị đã có công phu tìm tòi khám phá ra giá trị của cuốn phim này.

Hồi đó tôi chỉ là anh chủ bút và cũng là phóng viên của tờ báo Chiến Sĩ Cộng Hòa của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị QL VNCH. Tôi viết truyện này bằng tất cả những gì tôi đã sống, đã thấy, đã cùng những đồng đội trên các chiến trường xưa. Những điều tôi viết ra trong cuốn truyện dài đó gần như hầu hết toàn là sự thật, tất nhiên khi viết tôi cũng phải tiểu thuyết hóa đi vài phần cho đúng với lối viết truyện dài của tôi. Nó có thể phản ảnh trung thực đời sống của một người lính VNCH. Giản dị có thế thôi.

Không ngờ đến nay cuốn phim phóng tác theo truyện dài của tôi lại được quan tâm đến thế. Tất nhiên đó là một vinh dự cho bất cứ người viết văn nào. Tôi rất cảm động như đã nhận được một phần thưởng quá lớn trong cả cuộc đời mình.

*Cuốn tiểu thuyết Chân Trời Tím của ông ra đời trong hoàn cảnh như thế nào? Nhân duyên như thế nào mà lại chuyển thành phim, ông còn nhớ một vài kỷ niệm ngày ấy hay không?

– Trước hết, anh Quốc Phong thương lượng với tôi để làm thành một cuốn phim “đặc biệt”, thời đó kỹ thuật mới nhất của điện ảnh là cinemascope, màu technicolor… ở VN chưa hề có hãng phim nào thực hiện được. Vì tất cả các hãng phim thời đó đều chỉ là hãng phim tư nhân, không thể nào đủ tiền để thực hiện cuốn phim theo kỹ thuật như hãng phim nước ngoài. Thế nên ông Quốc Phong mời 7 hãng phim cùng hợp tác làm cuốn phim này lần đầu tại VN.

Chúng tôi nghĩ đến đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc, người ôm ấp rất nhiều ý tưởng “làm mới” theo điện ảnh nước ngoài. Gặp Hoàng Vĩnh Lộc, người cũng rất hào hứng sau khi đọc Chân Trời Tím, anh loay hoay viết tạm kịch bản và tìm diễn viên. Anh muốn có một khuôn mặt mới cho điện ảnh VN nên tìm được một anh sinh viên cao ráo, bảnh trai, hoạt bát, đóng vai Phi, vai chính trong phim, rồi đến một dàn nữ diễn viên như Kiều Chinh, Thanh Lan… Nhưng 7 ông chủ của hãng phim Liên Ảnh lại có nhiều bất đồng. Sau đó anh Quốc Phong đề nghị đạo diễn Lê Hoàng Hoa và 2 diễn viên nam nữ chính là Hùng Cường và Kim Vui. Chẳng biết ông Quốc Phong thuyết phục ra sao, tất cả 7 ông chủ hãng phim đều nhiệt tình cộng tác. Có lẽ các ông chủ hãng phim là những người rất thành thạo trong việc tìm ra con đường đi đến thành công về tài chánh nên hăng hái cùng hợp sức sản xuất cuốn phim “cinemascope” màu “technicolor”.

Thời gian của tác phẩm là giai đoạn chuyển tiếp giữa đệ nhất và đệ nhị cộng hòa. Không gian và ngoại cảnh là Sài Gòn và miền duyên hải Việt Nam. Ngoài cốt chuyện sinh ly tử biệt của tình yêu, cuốn phim dựng lại không khí chiến tranh và thời cách mạng 1963.

*Đã 47 năm trôi qua, những người tham gia trong phim ngày ấy, nhiều người nay đã không còn nữa. Bây giờ nếu nói những câu nhận xét thật lòng để so sánh giữa tiểu thuyết và điện ảnh, ông thấy có sự khác biệt nào không và chỗ nào ông không hài lòng?

-Tôi có nhiều kỷ niệm với những nhân vật đóng phim này bởi tôi đã đi cùng đoàn làm phim từ ngày đầu tiên cho đến ngày cuối cùng. Cuốn phim đòi hỏi nhiều kiến thức quân sự và tâm tình người lính, nhất là cần phải có nhiều đơn vị tham gia yểm trợ mới thực hiện được nên hãng phim làm đơn xin Bộ Tổng Tham Mưu cho một sĩ quan đi theo đoàn làm “cố vấn” và họp với các đơn vị cần thiết để yểm trợ cho việc quay phim. Bộ Tổng Tham Mưu chị thị cho Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đề cử một sĩ quan đi cùng đoàn làm phim. Sau khi Bộ Tham Mưu của Tổng Cục CTCT họp, các vị đó đã chỉ định tôi đi cùng đoàn làm phim vì tôi đã từng làm phóng viên chiến trường và đã từng tốt nghiệp khóa Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp tại Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị tại Đà Lạt năm trước. Tôi được sự vụ lệnh đi theo đoàn làm phim và được phép thay mặt Bộ Tổng Tham Mưu họp với các đơn vị yểm trợ cho cuốn phim.

Thế là từ hôm ấy tôi đi theo đoàn làm phim.

Theo chỉ thị của Bộ Tổng Tham Mưu, một buổi họp tại Bộ Tư Lệnh Biệt Kích tại Nha Trang được tổ chức. Tham dự gồm có cái vị đại diện có thẩm quyền tại Bộ Tư Lệnh Biệt Kích, Bộ Tư Lện Không Quân tại Nha Trang, Trường Biệt Kích – Động Bà Thìn (Cam Ranh), Trường Hạ Sĩ quan Đồng Đế, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, Đại diện Tiểu Khu Nha Trang… Ông Quốc Phong đại diện hãng phim và tôi là đại diện của Bộ Tổng Tham Mưu thuyết trình về cuốn phim và nhu cầu yểm trợ. Buổi họp được các vị tư lệnh các binh chủng có mặt thảo luận sôi nổi và rất tích cực giúp mọi phương tiện cho cuốn phim.

Trường BK có một tiểu đoàn đóng vai “địch tấn công đồn”. Một tiểu đoàn của Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế làm đơn vị đồn trú bị tấn công được không quân yểm trợ, sau đó là pháo binh, thiết giáp. Vũ khí địch được điều động từ Phòng 4 Bộ Tổng Tham Mưu ra.

Thật ra kỷ niệm thì rất nhiều, như tôi với đạo diễn Lê Hoàng Hoa vẫn thường gặp nhau ở những phòng trà dancing và nhiều buổi chiều ngồi tán chuyện cùng nhau ở hàng hiên nhà hàng La Pagode cũ đường Catinat, thời đó buổi chiều khi tan việc những nghệ sĩ Sài Gòn thường gặp nhau ở đây, có các anh Mai Thảo, Hoàng Hải Thủy, Thanh Nam, Nguyên Sa, Thái Thủy và có cả “đàn anh” Đinh Hùng…

Còn chuyện vui thì rất nhiều, tôi chỉ kể sơ lược một truyện vui thôi: Hùng Cường đi mua “lon hạ sĩ”. Cũng trong ngày đầu quay phim, Hùng Cường chạy đến ghé tai tôi hỏi nhỏ: “Anh ơi cái lon hạ sĩ thế nào, em chưa có”. Chết thật, Hùng Cường đóng vai chính là hạ Sĩ tên Phi trong phim, vậy mà không ai ngờ anh chưa biết cái lon hạ sĩ ra sao, đeo ở đâu. Tôi bèn lôi ngay Hùng Cường ra xe, chở đến tiệm An Thành trước cửa chợ Bến Thành, mua một cặp “lon hạ sĩ” và đeo giùm lên tay áo.
Trẻ con, người lớn, nhất là phụ nữ kéo đến xem nghệ sĩ Hùng Cường, cứ nháo nhác hỏi nhau “anh ấy vào lính khi nào vậy” rồi chỉ trỏ lung tung, chả ai thèm nhìn tôi cả. Cái “lon” ấy Hùng Cường đeo gần hết cuốn phim.

Năm 1996 Hùng Cường mất tại Mỹ, mãi đến sau này tôi mới biết tin nên không chia buồn cùng gia đình anh được. Đó là nỗi ân hận của tôi cho đến bây giờ.

Thật ra phim Chân trời tím còn có một số tài tử, danh ca khác cùng tham gia diễn xuất có nhiều kỷ niệm với tôi nhưng tôi không nhớ hết, xin tạm kể: Diễn viên trong phim gồm: Hùng Cường vai Phi, Kim Vui vai Liên, Ánh Nga và Mộng Tuyền trong vai hai cô con gái của trung tá Lạc, Bảo Ân vai Điền, Ngọc Đức vai Paul, Ngọc Phu vai đại úy Minh. Hà Huyền Chi, Khả Năng dù đóng phim lần đầu song cũng rất thành thạo trong vai quân nhân bảo vệ tiền đồn…

Những tài tử điện ảnh đóng phim ngày xưa phần lớn là không chuyên nghiệp, kể cả đạo diễn, thường cũng không tốt nghiệp ở một trường lớp đào tạo nào. Họ đóng phim theo bản năng tự nhiên hay còn gọi là tài năng thiên phú. Nhưng họ vẫn hoàn thành khá xuất sắc trong vai diễn của mình.

Còn so sánh giữa tiểu thuyết và phim ảnh ngày xưa thì thú thật tôi chỉ đọc qua loa vài cuốn tiểu thuyết của vài tác giả khá nổi danh thời nay thôi. Về phim ảnh Việt Nam bây giờ tôi cũng ít xem vì đôi khi thấy họ sáng tác và viết theo kiểu “đơn đặt hàng của nhà nước” nên buộc phải tuân theo “đường lối” các ông chủ muốn họ phải làm gì. Thế nên nhiều cuốn phim cứ như cái loa tuyên truyền, không còn là sáng tác nữa. Chính vì thế rất nhiều người dân VN cũng chán xem phim VN. Đó là điều đáng buồn nhất cho sự nghiệp văn học VN.

*Những độc giả của nhà văn Văn Quang cách đây trên 50 năm vẫn còn nguyên vẹn, chỉ khác xưa là rất nhiều người họ không còn ở gần ông nữa mà di tản ra khắp bốn phương trời. Họ vẫn quan tâm đến ông cũng như những văn nghệ sĩ ngày xưa của VNCH ngày xưa. Xin ông cho độc giả năm châu được biết về sức khỏe của ông hiện nay như thế nào? Ông có hay gặp lại hay liên lạc với những văn nghệ sĩ cũ của ngày xưa không?

-Tôi có nhiều loại bạn như bạn viết văn làm báo, bạn đồng đội xưa, bạn trong các trại gọi ngụy trang là “trại cải tạo”.

Cải tạo cái gì? Ai cải tạo ai? Hãy hỏi những người từ miền Bắc có dịp vào miền Nam sau năm 1954 thì biết miền Bắc hồi đó đói rách khổ sở như thế nào, vào đến miền Nam họ thấy đời sống vô cùng phong phú từ người dân đến văn hóa hoàn toàn tự do.

Tôi luôn nhớ đến tất cả các bạn của tôi. Đến nay người còn kẻ mất, tôi vẫn ngậm ngùi nhớ về những ngày xưa. Hầu hết các bạn tôi còn lại đều ở nước ngoài, tôi vẫn thường xuyên liên lạc với họ qua thư từ hoặc đôi khi bằng điện thoại. Tôi có cái may mắn là các bạn ở nước ngoài về VN vẫn chịu khó tìm đến căn nhà trên chung cư rách nát này thăm tôi. Những lúc như thế tôi mới có cảm tưởng mình được sống thật. Tôi hy vọng qua bài phỏng vấn này của anh, các bạn tôi chưa liên lạc được cũng sẽ nhớ đến tình bạn bè xưa.

*Xin chân thành cảm tạ thời gian của nhà văn Văn Quang đã dành cho Tôn Thất Hùng, hậu duệ đời thứ hai của Cựu Quân Cán Chính VNCH. Xin chú nhận nơi cháu lòng ngưỡng mộ và sự tôn trọng tuyệt đối với những bậc tiền bối. Kính chúc chú luôn luôn có được sức khỏe tốt, vẫn hoài nghệ sĩ tính cùng lòng khí khái của một văn sĩ ngày xưa.

– Sau cùng tôi cảm ơn các bạn đã hỏi thăm về sức khỏe của tôi. Hiện nay tôi đã 85 tuổi rồi, cuộc đời trải qua nhiều thăng trầm biến đổi, nhất là sau hơn 12 năm trong các trại tù “cải tạo” nên sức yếu dần, ngày qua ngày tôi chỉ nằm trong nhà thôi, nhìn cuộc đời qua khung cửa sổ và chỉ để biết trời nắng hay mưa, nhìn hàng cây trong chung cư dường như những tàu lá ủ rũ cũng buồn theo năm tháng trôi qua. Những chiếc lá chưa biết sẽ rơi rụng bất cứ lúc nào, cũng như cuộc sống của tôi chỉ tính bằng ngày chứ không phải bằng tháng.

Dù sao tôi cũng hài lòng vì tất cả những gì mình đã làm trong cuộc đời mình. Đến bây giờ tôi vẫn có cảm tưởng như mình vẫn còn đeo ba lô trên vai làm tiếp nhiệm vụ của một người lính VNCH.

Xin cảm ơn những độc giả đã đọc bài trả lời cuộc phỏng vấn này.


Tôn Thất Hùng thực hiện cuối tháng 4, 2017
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Users browsing this topic
Guest
141 Pages«<139140141
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.