Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

142 Pages«<140141142
Options
View
Go to last post Go to first unread
thunder  
#2821 Posted : Sunday, July 30, 2017 3:07:06 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)


NỤ TẦM XUÂN NỞ RA XANH BIẾC



Trong kho tàng văn chương bình dân phong phú của dân tộc, những bài ca dao nói về tình yêu lứa đôi là nhiều hơn cả; nhưng không phải cuộc tình nào cũng đi đến hôn nhân tốt đẹp, mà đời sống thực tế , như ca dao chứng tỏ , đã có lắm cuộc tình lỡ vì nhiều lý do khác nhau .Trong số những bài ca dao loại này , bài Nụ Tầm Xuân được xem là nổi tiếng nhất:

Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân .
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay !
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không ?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng , như cá cắn câu .
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thưở nào ra .

Tương truyền bài ca dao trên gồm hai đoạn đối đáp giữa Chúa Trịnh Tráng và ông Đào Duy Từ .

Nguyên vào thời Nam Bắc phân tranh , hồi đầu thế kỷ thứ 17 , chúa Trịnh Tráng đã nhiều phen cử đại binh vào Nam chinh phạt chúa Nguyễn mà vẫn không thành công , chỉ vì nơi đây có nhiều chiến luỹ kiên cố , như luỹ Đồng Hới , luỹ Trường Dục ...

Chúa Trịnh cho dò hỏi , được biết ông Đào Duy Từ , gốc người Thanh Hoá , Đàng Ngoài, hiện là quân sư cho Chúa Nguyễn , đã giúp nhà Chúa đắc lực trong việc chấn chỉnh nội trị cũng như trong việc xây thành , đắp luỹ để chống chọi với quân Bắc Hà . Hối tiếc vì đã không trọng dụng họ Đào từ trước , để ông trốn vào Nam phù trợ chúa Nguyễn , Trịnh Tráng bèn sai người ngầm đem phẩm vật ban tặng họ Đào với bốn câu ca dao nhắn gửi : -Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân .

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em có chồng, anh tiếc lắm thay !

Biết ý chúa Trịnh muốn chiêu dụ mình , Đào Duy Từ rất khó xử , vì mồ mả tổ tiên còn ở Đàng Ngoài nên không dám cự tuyệt . Nhớ lại tích Trương Tịch đời Đường xưa , sống trong cảnh loạn ly , họ Trương cũng đã rơi vào trường hợp éo le như ông , sau giải quyết được êm thấm là nhờ bài “Tiết Phụ Ngâm” mà giải bày được cảnh ngộ : -Gái tiết nghĩa không thể lấy hai chồng , khác nào trai trung liệt không thể thờ hai chúa .

Đào Duy Từ bèn bắt chước Trương Tịch , mượn lời một người thiếu phụ tạ tình khác để trả lời chúa Trịnh :

-Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không ?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng , như cá cắn câu .
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thưở nào ra .

Tất nhiên bài ca dao trên được truyền tụng sâu rộng trong dân gian (ngày nay giới trẻ cũng biết nhiều qua bản phổ nhạc của Phạm Duy) không phải vì lý do chính trị như vừa kể, mà vì tính chất trữ tình đặc thù của nó .

Bài ca dao chỉ vỏn vẹn có mười câu thơ viết theo thể song thất lục bát biến thức , nhưng đã cực tả được một cuộc tình lỡ đầy thơ mộng và cũng đầy cảm khái .

Trước hết, bốn câu thơ đầu (c.1-4) giới thiệu cho ta biết hoàn cảnh, tình cảm và tâm trạng của chàng trai.

Người con trai rời quê hương đi du học phương xa đã mấy năm nay , một ngày nào đó chàng bỗng cảm thấy nhớ nhung tha thiết cô bạn láng giềng nơi quê nhà , và ý thức được rằng chàng đã thực sự yêu ai . Chàng thường lấy làm thích thú mỗi khi ôn lại những kỷ niệm chơi đùa cùng nàng trong thời niên thiếu vừa qua : -Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân …

Càng ôn lại kỷ niệm xưa , chàng càng thấy mình có hy vọng sẽ chiếm được trái tim của ai, lòng mừng khấp khởi như đã nắm được hạnh phúc trong tay . Và chàng thấy hồi hộp khi tưởng tượng ra giây phút gặp lại người xưa . Cô hàng xóm bé bỏng ngày nào hẳn giờ đây đã dậy thì , đã xinh đẹp lắm . Chàng sẽ nói gì khi gặp lại nàng đây ?Tất nhiên chàng sẽ thổ lộ cho nàng nỗi nhớ niềm thương của mình . Nàng sẽ … nàng sẽ phản ứng ra sao nhỉ ? Ngạc nhiên ? Không đâu , nàng phải đoán ra những cảm tình đặc biệt của chàng dành cho nàng chứ ?… Thật khó mà tượng tượng hết được … Chỉ biết rằng hiện tại tim chàng đang rộn rã yêu đương , và lòng chàng đang chứa chan hy vọng .

Khi vừa thành đạt trở về, chàng nôn nóng ngóng trông sang bên hàng xóm, sao lạ chưa, không hề nghe thấy tiếng nàng nói cười, và “bên hiên vẫn vắng bóng nàng”( thơ N. Bính) .Dò hỏi cha mẹ, chàng mới hay nàng đã bị gia đình ép gả chồng xa, nay thì đã yên bề gia thất .

Hỡi ơi ! Cả bầu trời như xụp đổ dưới chân chàng , chàng đau đớn nghe lòng mình như tan vỡ ra hàng trăm ngàn mảnh . Thương cho ai mà lại tiếc cho mình!

Cơn xúc động lắng dần, trách ai bây giờ ? Chàng chỉ biết ôn lại những kỷ niệm cũ. Chàng nhớ rất rõ , tất cả mới như ngày hôm qua , chàng sống lại với từng tiếng nói, tiếng cười, từng cử chỉ của ai . Như một cuốn phim ,những kỷ niệm thân yêu xưa cứ diễn đi diễn lại trong nỗi nhớ thương , tiếc hận của chàng … Bỗng bên hàng xóm có tiếng người lao xao, nghe vẳng lại như tiếng nói của ai xưa . Chàng chồm dậy, chạy vội ra khu vườn tuổi thơ, " -Trèo lên cây bưởi hái hoa...." Chàng lập lại những động tác như hồi còn thơ ngây một cách vô thức ... Hồi ấy , mỗi khi nhìn thấy nàng xuất hiện ngoài vườn, thì chàng, nếu đang rảnh rỗi, thế nào cũng chạy ra trèo cây, hái hoa , chơi đùa cùng nàng . Hai nhà chỉ cách nhau có một hàng giậu thưa, trồng hoa hồng tầm xuân, chàng và nàng chi cần lách rào là có thể sang được vườn nhà nhau dễ dàng.

Chúng tôi xin nhắc lại, chàng trai trẻ của chúng ta lúc này đang trèo cây, hái hoa một cách vô thức như người mộng du: -Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà …

Chàng vừa giơ tay chực ngắt bông hồng tầm xuân thì mắt chàng chợt nhìn thấy người đẹp -Trời hỡi ! Nàng ! Chính nàng ! Nàng đẹp quá đỗi khiến chàng sửng sốt . Ðúng lúc chàng bừng tỉnh cơn mộng mê thì lại chìm vào một cảm giác choáng ngợp vì xúcđộng trước nhan sắc lộng lẫy của ai. Rồi ý thức tình cảm tiếc hận trỗi dậy khiến chàng không thể không thốt lời cảm thán : -Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em có chồng, anh tiếc lắm thay !

Nhưng tại sao nụ tầm xuân lại không nở cánh màu hồng mà lại màu xanh , xanh biếc cơ ? Cái khúc mắc là ở chỗ đó . Xin thưa , chúng ta có nhiều cách lí giải:

Đơn giản nhất cho rằng nụ tầm xuân mới nhú nơi đầu cành , còn ở thể trạng một nụ hoa xanh ngắt .

Nếu như vậy câu thơ sẽ mất đi sức sống , hình ảnh sẽ thiếu sinh động , rực rỡ và ý thơ trở nên nghèo nàn . Vả không ai ngắt một nụ hoa còn xanh ngắt để chơi , nhất là để tả nhan sắc người đẹp .

Vậy hoa tầm xuân ở đây thuộc loại hoa có cánh màu xanh ? Theo một số các bô lão cho biết thì tầm xuân, một loại hoa hồng dại , thường trồng bên hàng giậu nơi quê nhà , có cánh hoa màu hồng , thảng khi mới có màu trắng hay màu vàng . Trong trường hợp này , theo thiển ý , chúng ta có thể giải thích như sau :

- Khi đôi mắt chàng trai của chúng ta đã “bám chặt” vào cô bạn láng giềng hết sức xinh đẹp và rất mực thương yêu của chàng thì chàng còn nhớ gì đến màu hoa tầm xuân hồng hay xanh nữa . Nhưng không phải chàng nói “Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc” mà không có lý do .

Khi từ cây bưởi bước xuống, dù vô ý đến đâu , mắt chàng cũng phải nhìn thấy đám hoa cà xanh xanh ở dưới chân mình . Và dù đang trong cơn mê mẩn tâm thần, không để ý hoa cà màu gì , nhưng trong tiềm thức chàng vẫn biết :

-Chơi hoa phải biết mùi hoa
Hoa lê thì trắng , hoa cà thì xanh.
(Ca dao)

Vì thế , khi vừa có ý giơ tay ngắt bông hoa tầm xuân , chàng chợt nhìn thấy nàng :

- Nàng đẹp quá ! Vâng nàng đẹp quá ! Chàng phải khen tặng nàng , nhưng không thể nói một cách sỗ sàng như thế , mà phải khen bóng bẩy , tế nhị kia … , phải rồi , nàng đẹp như một nụ hoa … hoa gì ? Hoa tầm xuân ! (Ý tưởng định giơ tay ngắt bông tầm xuân vừa có đó) . Hoa đẹp vì sắc . Hoa tầm xuân sắc gì ? Đang cơn xúc động , chàng không còn đầu óc để nhận định , chàng liền liên kết nó với màu xanh xanh của hoa cà vừa xuất hiện trước đó . Thế là nụ tầm xuân của chàng bỗng nhiên mang màu xanh !

Nhưng màu xanh của hoa cà ngả sang tim tím , nhàn nhạt , tầm thường lắm . Không , nụ tầm xuân của chàng phải nở ra những cánh hoa xanh mơn mởn nguyên trinh, ngát một màu xanh rất tươi , rất thắm..., phải rồi, một màu xanh biếc , một màu xanh tâm tưởng! -Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc !

Thế là màu hoa tầm xuân của chàng trai đã rời khỏi màu sắc hiện thực của ngoại giới để trở thành màu" xanh biếc "của tâm giới. Có thế mới đủ diễn tả sắc đẹp kiều diễm của người chàng yêu và lòng ngưỡng mộ của chàng lúc đó .

Chỉ một sát-na của thời gian , bằng ấy sự suy luận , tưởng tượng, so sánh , cân nhắc, liên kết hình ảnh , màu sắc và nỗi xúc động bởi tình yêu đắm đuối cùng trước nhan sắc rực rỡ của người xưa đã diễn ra trong tâm trí của chàng trai, để thoát ra thành một lời khen tặng vừa bóng bẩy , ý nhị , vừa thâm trầm , thắm thiết: -Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc !

"Nụ tầm xuân " chẳng những tượng trưng cho nhan sắc của cô bạn láng giềng, sằc đẹp của nàng càng xinh tươi, kiều mỵ bao nhiêu (nở ra xanh biếc) , mà đồng thời còn cho tinh yêu của chàng trai, tình chàng càng bồng bột , say đắm , thuần khiết bao nhiêu( nở ra xanh biếc) thì lòng tiếc hận của chàng càng thống thiết bấy nhiêu : -Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em có chồng anh tiếc lắm thay !

Chỉ một câu thơ giản dị ấy thôi , chàng đủ thổ lộ hết cùng nàng cái tâm sự yêu đương tha thiết , và nỗi lòng tiếc hận không cùng của mình . Và cả hai câu thơ trên rút lại chỉ một chữ “tiếc” đủ gói ghém trọn ý .

Thật vậy , người ta đã hỏi nàng làm vợ , đã lấy nàng vì những lý do nào chàng không cần biết , nhưng đối với chàng , nàng là viên bảo ngọc vô giá :

Nàng là tượng trưng cho tất cả những kỷ niệm hạnh phúc của chuỗi ngày niên thiếu thơ ngây ;

Nàng là tất cả nỗi nhớ niềm thương trong thời gian xa cách ;

Nàng là tất cả sự khích lệ khiến chàng cố gắng phấn đấu học hành , xây dựng sự nghiệp , để mau chóng thành công trở về ;

Nàng là đoá hoa hồng tầm xuân lộng lẫy, là đối tượng của tất cả tấm lòng bồng bột khao khát yêu đương ở tuổi thanh xuân của chàng .

Quả là suốt hai mươi năm nay nàng đã không xa chàng , trong tiếp xúc gần gũi hay trong lòng tưởng nhớ; thế mà giờ đây :" Em đã có chồng !" Đổ vỡ hết rồi , tiếc nuối biết bao nhiêu ! -Em có chồng , anh tiếc lắm thay !
Tiếc … ! Tiếc lắm thay !

Còn cô láng giềng thì sao ?

Sáu câu thơ cuối (c.5-10) đã cho chúng ta biết về cảnh ngộ cùng tâm tình, thái độ của người con gái .

Từ bao tháng rồi đi lấy chồng xa ,maĩ hôm nay nàng mới có dịp trở lại quê nhà .Vừa ra thăm khu vườn cũ ,nào ngờ được gặp lại người bạn trai hàng xóm thưở xưa . Chàng đi xa học hành , lập nghiệp từ năm, sáu năm nay , chàng đã trở về rồi đó ư ? Người thanh niên cao lớn đang đứng trước mặt nàng là chàng đó ư ?-Ðúng rồi, người xưa đây mà ! Nàng vừa xúc động , vừa bối rối , thẹn thùng ...

Suốt thời niên thiếu thơ ngây , chàng và nàng thường vui chơi thân thiết bên nhau . Từ ngày chàng ra đi , đôi khi nàng có thoáng thấy lòng mình nhớ nhung ai , nhưng mãi đến tuổi dậy thì , bắt đầu biết mơ mộng thì hình ảnh ai kia mới thực sự ngự trị trong trái tim nàng ; và từ đó nàng âm thầm mong ngóng ai về . Trong thời gian này , có người đến dạm hỏi nàng làm vợ thì nàng đều tìm hết cớ này, cớ nọ để thoái thác, nàng cố tình chờ đợi chàng...

Năm tháng lặng lẽ trôi qua, chàng đã chẳng có lấy một lời nhắn gửi thăm hỏi , nàng tránh sao khỏi buồn tủi :

-Duyên kia ai đợi mà chờ
Tình kia ai tưởng mà tơ tưởng tình !
(ca dao)

Nên đã có một ngày, nàng đành gạt nước mắt , nghe lời cha mẹ đi lấy chồng , một người chồng xa xứ mà trước đó nàng không hề quen biết , yêu thương . Hôm nay bỗng nhiên gặp lại người xưa , nàng xúc động và bối rối quá nên cũng chưa kịp ý thức được chàng đang làm gì ?… À ! "Trèo lên cây bưởi hái hoa , bước xuống vườn cà …" Chàng vẫn ưa trèo cây ,hái hoa như thời niên thiếu ngày xưa; và chàng đã nói gì với nàng? -Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em có chồng anh tiếc lắm thay !

Trời hỡi ! Thì ra chàng cũng yêu nàng , và đã muốn cùng nàng kết tóc xe tơ !
Sung sướng và cảm động làm sao ! và nàng đã không khỏi tiếc nuối : -Ba đồng một mớ trầu cay Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không ?

Nàng có ý trách chàng sao quá chậm bước , đã không đi dạm hỏi nàng ngay khi nàng còn con gái. Có nghĩa là, nếu chàng hỏi nàng từ thưở ấy thì nàng đã bằng lòng . Qua câu này vô tình nàng đã thổ lộ tình yêu của mình cho chàng hay .

Hơn nữa, không chỉ mình nàng bằng lòng mà cha mẹ nàng cũng đã sẵn sàng đón nhận cuộc hôn phối này nên vẫn có ý nấn ná chờ đợi chàng về , và sẽ dành mọi dễ dàng cho chàng , chỉ cần : -“Ba đồng một mớ trầu cay “

( “một mớ trầu cay” là cách nói hoán dụ, lấy một phần để chỉ tổng thể lễ vật dạm hỏi gồm trầu, cau, trà, rượu)
vâng, chỉ với lễ vật tối thiểu trong nghi thức đi dạm vợ đó thôi là gia đình nàng sẽ chấp nhận cho chàng làm rể , vậy mà chàng đã không sớm lo liệu .

Năm tháng trôi qua , nàng đã đứng tuổi (thời xưa con gái 17,18 tuổi chưa có chồng đã bị coi là "ế"), vả lại cha mẹ chàng cũng không có một lời gấm ghé , hẹn hò , thế nên gia đình nàng đành phải ép nàng lấy chồng .

Hôm nay chàng và nàng được gặp lại nhau , hiểu rõ lòng nhau (điều này hẳn là một niềm an ủi lớn cho họ , nhưng cũng vì vậy mà nỗi tiếc hận của nàng và nhất là của chàng càng nhân lên gấp bội) , thì than ôi ! đã quá muộn ; đã lỡ làng hết rồi !

Nay nàng đã là gái có chồng , nàng ý thức rất rõ bổn phận của mình, mặc dầu cuộc sống lứa đôi bị gò bó , không hạnh phúc “như chim vào lồng , như cá cắn câu” , nhưng nàng chấp nhận như một định mệnh đã an bài : -Bây giờ em đã có chồng Như chim vào lồng , như cá cắn câu .

Nàng xin chàng hãy hiểu cho cảnh ngộ của nàng, và nàng cũng đã cam phận , mà đừng yêu thương , tơ tưởng , hy vọng gì nữa : -Cá cắn câu biết đâu mà gỡ Chim vào lồng biết thưở nào ra !

Câu trả lời rất thành thực là tuy có buồn cho cảnh ngộ, nhưng cũng rất đúng đắn , dứt khoát của người thiếu phụ trước người bạn trai láng giềng thân thiết thuở xưa đang tỏ tình cùng nàng, đã làm ta phải cảm động và quí mến nàng .

Nàng đã biết chế ngự tình cảm lãng mạn của mình, biết dừng ở lúc phải dừng. Và dù lấy chồng không yêu thương, cuộc sống hiện tại không như ý, nhưng một khi đã làm vợ , nàng biết giữ bổn phận phải thủ tiết với chồng để duy trì sự yên ấm cho gia đình . Nàng không giống như người tiết phụ của Trương Tịch , nhận ngọc của một chàng trai xa lạ , đem giấu trong dải yếm , khi ý thức ra bổn phận phải chung thuỷ với chồng mới trả ngọc lại cho người , với hai hàng nước mắt tiếc rẻ : -Hoàn quân minh châu song lệ thùy Hận bất tương phùng vị giá thì .

Ðể hết luận ta có thể nói, bài ca dao NỤ TẦM XUÂN chỉ với mười câu thơ ngắn ngủi để tả một cuộc tinh lỡ nhưng đã hội đủ những ưu điểm : nhạc thơ khi êm đềm , thanh thoát (ở những câu lục bát chỉ gieo toàn vần bằng) , lúc lại bổng trầm nức nở (ở những câu song thất gieo hai vần bằng, trắc xen nhau) ;từ ngữ , hình ảnh thì giản dị trong sáng nhưng vô cùng hàm súc,gợi cảm ; tình ý vừa thơ mộng thắm thiết lại vừa ngậm ngùi cảm kích … đã khiến nó dễ thấm sâu vào lòng người . Ðây quả là một bài ca dao trữ tình đặc sắc ,vưà có giá trị nhân bản, vừa có giá trị nghệ thuật rất cao của dân tộc

GS Phạm Thị Nhung


phamlang  
#2822 Posted : Tuesday, September 12, 2017 4:01:41 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
UserPostedImage


Tháng ngày lưu vong của Nam Phương hoàng hậu



Là con gái của một trong 4 gia đình giàu có nhất miền Nam thế kỷ XX- đại điền chủ Nguyễn Hữu Hào, trở thành hoàng hậu An Nam, khi dứt áo rời quê hương để lưu vong nơi đất khách, Nam Phương hoàng hậu vẫn có cuộc sống sung túc đề huề với những khối tài sản đồ sộ trên khắp nước Pháp và các lãnh địa Pháp như các lâu đài lớn ở Cannes, Limousin, Paris.. nhiều nhà đất ở bên xứ Maroc, Congo… Sở hữu nhiều lâu đài, đồn điền như thế, nhưng rốt cuộc Nam Phương hoàng hậu tìm được hạnh phúc ở đâu trong những năm tháng cuối đời?

Tháng 3/1946, cựu hoàng Bảo Đại sang Hồng Kông cùng vũ nữ Lý Lệ Hà. Tháng 12/1946, tình hình chính t rị và quân sự giữa Việt và Pháp rất căng thẳng, chiến tranh tới gần. Hoàng hậu Nam Phương một nách 5 con sống trong cung An Định trong khi mẹ chồng cũng đã tản cư, cảm thấy hoang mang và tuyệt vọng.

Ở lại Huế thì nay mai chiến sự nổ ra, khó tránh hòn tên mũi đạn, tản cư về nông thôn thì sợ các con mình quen nếp sống vương giả, không hòa nhập được.

Tính đi tính lại, người phụ nữ thông minh ấy chọn giải pháp đưa các con vào nương nhờ nhà thờ dòng Chúa cứu thế, nơi thuộc quyền quản lý của các linh mục Canada, một nước trung lập, không ngả về Mỹ hay Pháp. Cuộc sống ở đây khá kham khổ so với sinh hoạt trước kia của họ, sáng sáng các hoàng tử, công chúa phải tự đi tìm nước rót vào ca để rửa mặt.

Súng bắt đầu nổ ở Huế vài tuần và bà Nam Phương rất lo vì tu viện có thể bị tấn công. Bản thân các linh mục trong nhà dòng cũng cảm thấy bà và các con nên sang Pháp tản cư.

Năm 1947 ấy, bà cùng các con cuối cùng đã ra đi và không có lần quay về Việt Nam nữa, mặc dù trong lòng bà cũng đã có lần muốn về lại chốn quê hương.

UserPostedImage

Nam Phương Hoàng hậu và Thái tử Bảo Long, các công chúa Phương Mai, Phương Liên, Phương Dung và hoàng tử Bảo Thăng khi mới sang Pháp

Những tháng ngày tại lâu đài Thorenc ở Cannes

Thời gian đầu, mẹ con cựu hoàng hậu sống ở lâu đài Thorenc tại Cannes. Bà Nam Phương gửi các con vào trường trung học Couvent des Oiseaux, nơi bà từng học thời con gái.

Hằng ngày, ngoài việc chăm sóc con cái, bà thường đọc sách báo hoặc chăm sóc hoa lá trong vườn, buổi tối thì chơi dương cầm cho các con nghe. Những ngày lễ, mấy mẹ con cùng ra phố xem phim hoặc mua sắm.

Nam Phương hoàng hậu sành thời trang và có gu ăn mặc thanh lịch, tinh tế. Bà rất thích mua đồ của nhãn hiệu Christian Dior và Balmin, màu tím nhạt được bà ưa chuộng nhất.

Về nghệ thuật, bà treo tranh của của Renoir, Buffet trong nhà. Bà không thích tranh lập thể của Picasso vì tâm hồn bà không hợp với trường phái hội họa này cũng như siêu thực.

Bà cũng rất thích nuôi chó. Trong nhà bà có cả một đàn chó, và trong đó có một con thuộc giống Saint Bernard, loại chó to như con cọp, loại chó này để sử dụng tìm người mất tích trong rừng, trong khi đi trượt tuyết. Về thể thao bà có thể chơi bong bàn, quần vợt, và golf nhưng không giỏi lắm.

Bảo Đại thỉnh thoảng mới về Pháp, và đôi khi bà cũng cùng chồng tới casino xem ông đánh bạc. Những lần đó, nếu thắng bạc, ông tặng hết tiền cho bà để mua sắm. Tuy nhiên, cái niềm vui ở bên chồng quá ít ỏi, nhất là từ sau năm 1955, Bảo Đại chán đời bỏ đi tứ xứ, các con thì đã lớn, như chim bay đi…

Điền viên ở vùng quê Chabrignac


UserPostedImage

Điền trang La Perche ở làng Chabrignac


Năm 1958, nhằm tránh mặt báo chí, dư luận và những người quen biết, bà Nam Phương đã rời bỏ cả Cannes xa hoa hay thành Paris hoa lệ và ồn ào.

Những cơ ngơi đồ sộ ở Neuilly, hàng tá căn nhà lớn ở Morocco, biệt thự trên đại lộ Opéra, Paris hay trang trại rộng lớn ở Congo đều không còn sức hấp dẫn để có thể níu giữ nổi bà.

Nam Phương Hoàng hậu đã rời xa Paris 500km về phía nam, về làng Chabrignac, hạt Correze tỉnh Limousin, mua lại điền trang La Perche rộng 160 ha của một quý tộc Pháp đã sa sút làm nơi sống nốt những năm tháng còn lại.

Điền trang đẹp như mơ có rừng bao quanh gồm 32 phòng, 7 phòng tắm, 5 phòng khách… và một vườn hồng tuyệt đẹp. Lâu đài cách nhà dân khá xa, hàng xóm ít qua lại. Có lẽ bà hoàng xa xứ chọn nơi yên tĩnh này để nội tâm được bình ổn, sống kiểu nửa tu hành trong những năm cuối đời.

Hạnh phúc thực sự ở nơi đâu?

Ngoài hoa lợi thu được từ cây trái trong điền trang, bà hoàng Nam Phương còn nuôi thêm khoảng 100 con bò sữa trên một trang trại lớn với 160 mẫu đất.

Tất cả những người con của bà đều sống với bà trong điền trang La Perche. Theo Daniel Grande Clemént, tác giả cuốn “Bảo Đại, hay những ngày cuối cùng của Vương quốc An Nam” thì “dường như thời gian sống tại điền trang La Perche là những tháng năm bình yên và hạnh phúc nhất của Nam Phương Hoàng hậu”

Cho đến cuối đời, bà vẫn sống trong nhung lụa nhờ gia đình cự phú của mình. Tuy nhiên, với bà Nam Phương, tiền không giúp mua được niềm vui.

Cựu hoàng hậu sống lặng lẽ với thú vui điền viên trong trang trại Charbrignac, bất động sản duy nhất bà giữ lại cho riêng mình, sau khi chia hết các tài sản khác cho các con.

Rũ bỏ lớp áo vàng son quyền quý, bà Nam Phương quay lại sống đúng nghĩa cuộc đời an lành, bình dị của một phụ nữ An Nam học thức.

Hàng ngày, bà dậy rất sớm, thường tự tay trang trí, dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc cây cảnh. Vừa làm bà vừa khe khẽ hát. Khi có việc ra ngoài, bà thường tự tay lái chiếc xe hơi hiệu Dauphine, có thêm cô hầu gái hay người quản gia đi theo.

Bà nuôi trong điền trang 4 người giúp việc nông, một số người hầu gái và một viên quản gia người Pháp. Tất cả người ăn kẻ ở trong nhà đều được bà đối xử thân tình, gần gũi. Trong các dịp lễ, Noel hay ngày đầu năm mới, bà đều không quên có quà tặng cho họ và gia đình.

Lucien Boudy – một cựu xã trưởng Chabrignac, cho biết Hoàng hậu Nam Phương “…Là một mệnh phụ phu nhân rất duyên dáng, đặc biệt thân thiện rộng rãi với dân làng. Bà cũng rất nhân từ và yêu thương với cả người hầu kẻ hạ trong nhà”

Nam Phương Hoàng hậu sống rất cởi mở, quảng giao, thường xuyên đi thăm thú điền trang để gặp gỡ và trò chuyện thân mật với những người nông dân. Vì thế dân làng rất quý mến bà. Từ chỗ xa lạ, sau 5 năm làm dân Chabrignac, bà đã để lại biết bao tình cảm trong tâm trí người dân địa phương. Họ xem bà là một cô-rê-diên (Người địa phương Correze) chính cống.

Người quản gia Pháp

Đối với bà, người quản gia người Pháp có một vị trí rất đặc biệt. Ông này luôn tháp tùng bà trong những chuyến làm khách, dự tiếp tân đối với các gia đình quyền quý ở trong vùng. Không ai có bằng chứng xác đáng nhưng dường như những người quen biết trong vùng đều cho rằng, ông quản gia này đã yêu thầm Nam Phương hoàng hậu.

Cựu hoàng Bảo Đại, ít khi đến thăm bà. Dân làng chỉ nhớ có một lần Cựu hoàng về Chabrignac vào tháng 1 năm 1962, nhân dịp Công chúa Phương Liên tổ chức lễ thành hôn với một người Pháp tên Bernard Soulain.

Thế nhưng rất kỳ lạ, suốt 5 năm sống ở Chabrignac, bà vẫn không hề ghé thăm viếng lâu đài De La Nouche – nơi ở của Công chúa Như Lý, con gái vua Hàm Nghi ở, lấy một lần, dù hai điền trang nằm gần như cạnh nhau. Cả Công chúa Như Lý và Hoàng hậu Nam Phương đều có vẻ như không hề biết đến sự tồn tại của người kia trên cùng một vùng đất, dù trên quan hệ, Công chúa Như Lý là cô chồng của bà Nam Phương.

Bốn chín chưa qua, năm ba đã tới

Có lẽ sự cô đơn và nỗi đau buồn cho cuộc đời tuy vàng son mà bất hạnh của mình khiến hoàng hậu lưu vong mắc bệnh tim.

Ngày 14/9/1963, vừa từ thị trấn Brive cách điền trang 30 km trở về, bà Nam Phương đã cảm thấy đau họng. Viên bác sĩ được mời đến đã khám qua loa và kết luận là bà bị viêm họng nhẹ, chỉ uống thuốc vài ngày là khỏi. Kỳ thực, bà bị chứng lao hạch tràng hạt, cơn đau tiếp tục hoành hành dữ dội. Trước khi viên bác sĩ thứ hai kịp đến nơi thì Nam Phương Hoàng hậu, 49 tuổi, đã qua đời vì nghẹt thở.

Bà mất vào ngày 15 tháng 9 năm 1963. Đám tang của bà rất lặng lẽ. Ngày đưa tang, ngoài hai Hoàng tử Bảo Long (1936), Bảo Thăng (1943) và ba Công chúa Phương Mai (1937), Phương Liên (1938) và Phương Dung (1942) đi bên cạnh quan tài của mẹ, không có mặt vua Bảo Đại và cũng không có một người bà con thân thuộc nào khác ngoài dân làng Chabrignac. Về phía giới chức Pháp thì chỉ có ông Quận trưởng Brive la Gaillarde và ông xã trưởng Chabrignac.

Mộ phần của bà được đặt trong phần mộ của dòng họ Bá tước De La Besse. Bà Bá tước De La Besse, tức Công chúa Như Lý cũng có mặt trong dòng người đưa tang của làng Chabrignac, với nỗi ân hận vì trước đó hai người đã không hề có cơ hội gặp gỡ nhau.

Ít lâu sau, Công chúa Như Lý đã lần lượt cải táng mộ Vua Hàm Nghi từ Alger về nghĩa trang này. Sau đó, Công chúa Như Mai, Hoàng tử Minh Đức cũng lần lượt được đưa về an táng tại làng Chabrignac, cách mộ của Nam Phương Hoàng hậu không xa lắm.

Ngôi mộ của bà Hoàng Hậu Nam Phương, người vợ chính thức đầu tiên của Bảo Đại, rất dễ nhận ra, vì có hai cây tùng trồng hai bên mộ, nay đã cao và to phình. Ngôi mộ có vẻ mới được trùng tu lại, sạch sẽ, đơn sơ. Trên ngôi mộ đơn sơ dựng một tấm bia đá giản dị. Mặt trước tấm bia ghi dòng chữ Hán:

“Đại Nam Nam Phương Hoàng Hậu chi lăng” (Dịch nghĩa: Lăng của Hoàng hậu Nam Phương nước Đại Nam).

Nắp đậy huyệt chỉ là một tấm bê tông phẳng phiu, có chạm nổi hình thánh giá và một tấm bia chìm đề hàng chữ tiếng Pháp “Sa Majesté Nam Phuong Impératrice d’Annam 1913 – 1963” .

Trên nắp huyệt dựng một tấm bia khác đề rõ hơn một chút “Ici repose l’Impératrice Nam Phuong, née Jeanne Mariette Nguyen Huu Hao, 14.11.1913 – 15.09.1963” (Tại đây an nghỉ Nam Phương Hoàng Hậu, tên gốc Jeanne Mariette Nguyen Huu Hao, 14.11.1913 – 15.09.1963 ).

Có một nghịch lý là, hoàng hậu Nam Phương nổi tiếng là một Đệ nhất phu nhân đẹp nhất nước Nam, nhưng thời gian 5 năm bà làm dân Chabrignac và lăng mộ của bà ở Chabrignac, không mấy người Việt Nam ở Việt Nam hay ở ngay trên đất Pháp biết đến. Trong lúc đó người dân Chabrignac hạt Corrèze thì lại rất tự hào khi quê hương họ đã từng là nơi sinh sống 5 năm cuối đời và là nơi an nghỉ của bà Hoàng hậu đẹp nổi tiếng của Việt Nam.

Với niềm tự hào ấy, người chủ Domaine de la Perche ngày nay đã xây dựng khu nhà cũ và lăng mộ của bà thành một điểm du lịch ở trung tây nước Pháp.

Vậy là, một cuộc đời oanh liệt của hoàng hậu Nam Phương đã khép lại. Những ngày tháng buồn nhiều hơn vui. Tiền tài, của cải, vật chất, danh vọng, sắc đẹp… thoáng qua đi như bong bóng. Nhưng vẻ đẹp tâm hồn đức hạnh của bà lại là điều sống mãi, lưu hương lại mãi, như cái tên bà hoàng hậu Nam Phương- Hương thơm từ Phương Nam…

(Theo caphevannghe)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Duy An  
#2823 Posted : Sunday, November 12, 2017 6:44:24 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,220

Thanks: 206 times
Was thanked: 679 time(s) in 492 post(s)

UserPostedImage

Họa sĩ / nhà văn Tạ Tỵ


Nguyễn Đình Toàn

Tạ Tỵ (1921 – 2004), tên thật là Tạ Văn Tỵ. Là một họa sĩ và còn là một nhà thơ, nhà văn Việt Nam. Ông sinh ngày 3 tháng 5 năm 1921 tại Hà Nội.

Từ khi còn là một sinh viên, Tạ Tỵ đã thành danh khá sớm. Năm 1941, nhờ nhận một giải thưởng tranh, ông được đến thăm kinh đô Huế.

Năm 1943, ông tốt nghiệp tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Và cũng năm này, bức tranh “Mùa Hè” của Tạ Tỵ đoạt một giải thưởng của Salon Unique.

Năm 1946, chiến tranh nổ ra giữa Việt Nam và Pháp, Tạ Tỵ cùng với nhiều hoạ sĩ Việt Nam khác, đã tham gia mặt trận Việt Minh chống Pháp và ông là người thầy dạy mỹ thuật đầu tiên trong Liên khu 3. Tác phẩm “Nhớ Hà Nội” năm 1947 (20- 25 cm) được Tạ Tỵ vẽ trong giai đoạn này.

Tháng 5 năm 1950, Tạ Tỵ rời vùng kháng chiến trở về Hà Nội. Ông viết cho một người bạn rằng “Cách suy nghĩ của tôi không hợp với kháng chiến sau mấy năm chung sống với họ”.

Bắt đầu từ đầu thập niên 1950, ngoài tài vẽ chân dung hí họa, ông còn sáng tác trên nhiều lĩnh vực khác, như: truyện, thơ, kịch bản, bút ký…

Năm 1951, ông triển lãm 60 bức tranh tại Hà Nội.

Sau 1954, ông vào Nam và sống ở Sài Gòn. Ở đây ông đã phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa với cấp bậc sau cùng là Trung tá trong Tổng cục Chiến tranh Chính trị.

Năm 1956, ông triển lãm hơn 60 bức tranh đầu tiên tại Sài Gòn. Năm 1961, ông triển lãm lần thứ hai 60 bức tranh lập thể và trừu tượng cũng ở nơi đó.

Năm 1975, sau thời gian đi tù cải tạo, ông cùng vợ con vượt biển đến Malaysia và đến định cư tại Hoa Kỳ.

Trong thời gian sống tại nước ngoài, Tạ Tỵ lại tiếp tục sáng tác. Năm 2003 sau khi vợ ông qua đời tại Hoa Kỳ, ông quyết định trở về Việt Nam với ước vọng sống những ngày cuối cùng ở quê hương mình.

Vào 10 giờ sáng 24 tháng 8 năm 2004, Tạ Tỵ từ trần tại nhà riêng số 18/8 đường Phan Văn Trị, Quận 5, Sài Gòn, sau một cơn bệnh kéo dài do tuổi già, hưởng thọ 83 tuổi.

Tạ Tỵ là một nghệ sĩ đa tài. Ban đầu ông có vẽ sơn mài, cùng thời kỳ với những họa sĩ như Nguyễn Gia Trí, Lê Phổ, Nguyễn Tư Nghiêm… Nhưng ông được biết đến nhiều hơn cả khi đi theo trường phái tranh lập thể. Theo họa sĩ Trịnh Cung, Tạ Tỵ là người gắn bó và đi đầu trong phong cách hội họa lập thể ở Việt Nam từ thập niên 1940 đến 1960. Sang thập niên 1970, ông chuyển sang phong cách trừu tượng.

Tuy sống trong thời kỳ hai miền Việt Nam chia cắt, nhưng người ta không tìm thấy bóng dáng chiến tranh trong hội họa Tạ Tỵ. Một mảng tranh được công chúng biết đến nhiều là những bức ký họa do Tạ Tỵ vẽ về những nghệ sĩ mà ông quen biết. Những bức chân dung này được giới nghệ sĩ đánh giá cao.

Ngoài hội hoạ, ông còn nổi tiếng trên nhiều lĩnh vực sáng tác: truyện, thơ, kịch bản, bút ký… Trong hơn nửa thế kỷ sáng tác, Tạ Tỵ đã để lại nhiều tác phẩm với các thể loại khác nhau.

Sau đây để cảm thông và tưởng nhớ một nghệ sĩ tài danh, trang TLVH xin giới thiệu bài viết của Nguyễn Đình Toàn nhân ngày giỗ đầu của Tạ Tỵ.

Ngày giỗ đầu Tạ Tỵ


Lại vẫn ông Vũ Ánh nhắc nhở trong máy, mới nhớ ra đã đến ngày giỗ đầu Tạ Tỵ. Vài người quen biết nhau nói rằng, cái chỗ người ta gặp lại nhau thường nhất, không cần hẹn trước, hiện nay là… Peek Family! Rất nhiều văn nghệ sĩ của chúng ta đã nằm lại đây.

Riêng Tạ Tỵ mất tại Việt Nam.

Những người quen biết ông, nhắc đến ông, khi tới viếng người khác ở Peek Family, chứ không phải để tiễn ông ở đấy. Tạ Tỵ từng ở tù cộng sản, vượt biên, tới Mỹ, nơi các con ông đều đã trưởng thành, thành đạt. Nhưng sau khi người bạn đường của ông, bà Tạ Tỵ mất, ông đã quyết định trở về “để chết ở Việt Nam” như lời ông nói.

Mỗi người một hoàn cảnh. Không ai biết rõ ông suy nghĩ những gì. Cứ bề ngoài mà xét, ông đã được toại nguyện.

Nhưng liệu ông có vui chăng?

Hoàn cảnh đất nước chúng ta thật không biết nói làm sao cho đúng. Có lẽ phải dùng đến hai chữ “kinh khủng!” Vì, sống ở trong nước cũng đáng sợ, ra đi cũng đáng sợ, đi rồi lộn trở về lại càng là điều đáng sợ hơn nữa. Biết bao nhiêu mối ràng buộc, liên quan tới người sống, người chết, quá khứ, hiện tại. Một hành động, lời nói của người này, có thể làm chảy máu tâm, trí người khác.

Phần Tạ Tỵ, ông ra về lặng lẽ, chết trong lặng lẽ. Liệu ông có vui chăng? Có lẽ không một người Việt Nam nào lại không mong ước được chết trên đất nước mình. Ðó là ước muốn âm thầm nhưng vô cùng mạnh mẽ. Có thể gọi là ước muốn thiêng liêng nữa.

Nó có cùng với thân xác, lớn lên cùng thân xác và chết đi cùng thân xác, dù người ta có là một người tầm thường nhất trong đời sống, có không làm được gì đáng coi là để lại cho đời. Các cụ kể rằng, xưa, những người vì lý do này lý do khác lưu lạc chân trời , tha phương cầu thực, không về được quê hương, lúc chết cũng muốn được chôn đầu hướng về cố quận.

Ước muốn đó làm cho mọi người ngang hàng với nhau đối với Ðất Nước. Nhân đây cũng xin nhắc lại đôi dòng tiểu sử của ông: Tạ Tỵ sinh năm 1921 tại Hà Nội. Ông tốt nghiệp trường Cao Ðẳng Mỹ Thuật Ðông Dương năm 1943, ngành sơn mài.

Nhưng ông lại nổi tiếng như một họa sĩ lập thể rồi trừu tượng về tranh sơn dầu. Ngoài vẽ ông còn viết văn, làm thơ, phê bình văn học.

Những tác phẩm văn học chính của Tạ Tỵ có thể kể:

– Những Viên Sỏi

– Yêu Và Thù

– Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ

– Phạm Duy Còn Ðó Nỗi Buồn

– Cho Cuộc Ðời

– Bao Giờ

– Ðáy Ðịa Ngục

– Mây Bay

Ðề tựa cho tuyển tập truyện ngắn Những Viên Sỏi của Tạ Tỵ xuất bản lần đầu tiên, nhà văn Nguyễn Hoạt viết: “Tôi nhận thấy trong con người Tạ Tỵ cũng như trong tác phẩm văn chương của anh, cái đáng yêu nhất, đáng quý nhất vẫn là Tình Thương chân thành, một Tình Thương do sự khích động qua xúc cảm mà bật ra, chứ không phải là một thứ văn chương hời hợt, giả tạo.” Xin trích dẫn sau đây vài đoạn trong bài thơ “Ðôi Ta” in trong Tuyển Tập Tạ Tỵ [các trang 612-613]. Ðây là bài thơ Tạ Tỵ đã viết khi ở trong trại tỵ nạn Pulau Bidong:


Chúng ta ngồi đây, trên mỏm đá này,

không thuộc về quê hương nước Việt

Ðã xa rồi, xa thật rồi, những hình bóng thân yêu

Ðã vĩnh viễn chia tay cùng phố phường quen thuộc

Việt Nam đó, bàn chân nào nghiêng nghiêng lối bước

Tà áo nào tha thướt phủ hoàng hôn

Mưa đêm về có là ướt môi hôn

Và sương gió có đùa vui bờ vai nhỏ

Chúng ta ngồi đây, trên mỏm đá này, ôm đầy nỗi nhớ

Theo sóng triều dào dạt tấp vào bờ cát đìu hiu

Từng nỗi buồn vui đã mất

Chúng ta nhìn xác những con tàu phơi mình trên bãi vắng

Như nhìn thấy bao nhiêu kiếp người trôi giạt, nằm lại

Nơi đây, trên ngọn đồi Vĩnh Biệt

Chúng ta nắm tay nhau, những đường gân nổi lên xanh, tím

Hơi nóng truyền lan ấm chiều hoang đảo cô liêu!



Chúng ta ngồi đây, trên mỏm đá này, cho nhau hơi thở

Cho nhau niềm Tin để làm lại cuộc đời

Cho hy vọng trên môi cười héo hắt

Chúng ta xích lại gần nhau, khi nắng chiều sập xuống


Khi không gian lắng đọng, mịt mùng sóng vỗ ngoài khơi

Khi tất cả chìm vào vắng lặng

Chúng ta chẳng còn nhìn rõ nhau

Chỉ nghe tiếng gió thở dài trên sóng tóc

Với nhịp tim ru nhẹ chẳng thành lời…



Thơ ông như thế. Ông ra đi như thế, trở về như thế. Ông muốn được trên quê hương. Ông đã toại nguyện. Liệu ông có vui chăng?

UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (2)
142 Pages«<140141142
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.