Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

106 Pages«<104105106
SÀI GÒN, lịch sử, văn hoá, và kỷ niệm
Duy An
#2179 Posted : Sunday, May 21, 2017 10:23:52 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 3,746

Thanks: 206 times
Was thanked: 678 time(s) in 492 post(s)


Dạ Lan ơi, những năm nào chiến tranh đã quên…


By Tim Nguyễn -
May 2, 2017


Những năm nào chiến tranh đã quên…* Có thật vậy không? Đành rằng chiến tranh đã lùi xa ngoài bốn mươi năm, nhiều cuộc đời đã đổi khác -hoặc đã héo hắt tàn phai (như Nguyễn và các bạn ta) hoặc mập béo phây phây (như mấy cha nội ở quê nhà)- và lớp người trẻ sinh sau chiến tranh nay đã bước vào đời với những bước chân bất định… Vâng, đành rằng là thế, nhưng rải rác đây đó vẫn còn dấu tích của một thời đã qua, và một khi cơn giông kéo đến trên bầu trời làm bật lên những gốc rễ từ trong lòng đất, thì lòng người bên này và bên kia bờ sóng còn dấy lên những u hoài.

Lòng người bên này và bên kia trong đó có Nguyễn Xuân Thiệp này và Dạ Lan. Tháng Tư rồi, làm sao không nhớ… Mây của trời xưa đang bay về. Dạ Lan cánh hoa của thời loạn ly ấy có nhìn thấy mây xám buồn. Ở một thời lớp lớp những người trẻ phải lên đường đi giữ nước, gởi thân nơi doanh trại đồn ải, để đem lại cho các chiến sĩ chút ấm nồng, Dạ Lan đã gởi tiếng nói và tâm tư của mình đến an ủi khích lệ và chia sẻ cùng các anh. Ðêm đêm trên làn sóng điện của Ðài Phát Thanh Quân Ðội, giọng nói của người em gái hậu phương ấy có mãnh lực thu hút cảm tình của những người lính trú đóng khắp trên bốn vùng chiến thuật. Danh từ “em gái hậu phương” và “anh trai tiền tuyến” là một danh từ khá quen thuộc phát sinh trong thời gian này được nghe và dùng nhiều trong các bài thơ hay nhạc phẩm thịnh hành.

Chương trình Dạ Lan do Ðại tá Trần Ngọc Huyến thiết lập, phỏng theo chương trình Bông Hồng Ðen của Ðài Loan hướng về Trung Quốc lục địa vào thập niên 1950. Chương trình được phát thanh từ 7 giờ đến 9 giờ hằng đêm, gồm các phần câu chuyện hằng ngày, tin tức, thời sự, điểm báo và phần văn nghệ. Ðặc biệt nhất là phần trao đổi thư tín giữa Dạ Lan và các quân nhân, phần lớn là các quân nhân ở các tỉnh xa thủ đô, nhất là thành phần trú đóng ở các tiền đồn. Chương trình được sự giúp sức của nhiều người: Lưu Nghi, Nguyễn Triệu Nam, nhà văn Huy Phương và thi sĩ Mai Trung Tĩnh. Phần nhạc do nhạc sĩ Ðan Thọ, Ngọc Bích chọn và các nhà văn viết lời giới thiệu để Dạ Lan đọc trên đài.

Chương trình Dạ Lan rất được anh em quân nhân hoan nghênh, nhất là các quân nhân xa nhà, trú đóng ở các tiền đồn hẻo lánh. Vào hai năm 1964 – 1965, Ðài Phát Thanh Quân Ðội phải tuyển thêm một số nữ nhân viên để phụ trách vấn đề trả lời thư của các “anh trai tiền tuyến” hằng đêm. Chương trình đang hưng thịnh thì Dạ Lan rời đài đi lên Ðà Lạt. Người thay thế là Hồng Mỹ Linh cũng có giọng đọc rất hay giống Dạ Lan và cũng xưng là Dạ Lan. (Tài liệu Internet)

Nguyễn tôi gặp Dạ Lan Hoàng Xuân Lan ở đài phát thanh Ðà Lạt. Hai người thành thân nhau. Nguyễn thường hay qua nhà Dạ Lan chơi, nhà nằm trên con dốc đường Tự Ðức. Biết bao ấm lạnh hàn huyên. Trong ngôi nhà nhỏ cùng ngồi uống cà phê, uống trà và xây mộng ước. Ngày ấy, mình và Dạ Lan nuôi dự tính mở một quán trà cà phê ở Ðà Lạt sẽ có bạn bè đông vui, ấm cúng. Không biết Dạ Lan còn nhớ không?

Thuở ấy, trong thời chiến tranh, Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II Quân Khu II dự tính mở một đài địch vận ở Pleiku, bèn kêu Nguyễn qua, mình đem theo Dạ Lan. Một thời thiệt vui. Ban ngày mình làm bản tin, viết bài Dạ Lan đọc trên một chiếc xe dã chiến làm phòng vi âm. Dạ Lan ở trong nhà vãng lai của Quân Ðoàn còn mình ở nhà Kim Tuấn. Trưa đưa Dạ Lan đi ăn ở Hội Quán Phượng Hoàng, chiều tối đi chơi với Kim Tuấn, Tô Mặc Giang, Chi. Bún bò Nhà Thương, Cà phê Dinh Ðiền. Chuyện trò vui thiệt là vui. Ánh lửa ngày ấy còn soi rõ khuôn mặt, nụ cười của từng người. Làm sao quên.

Năm 1974, mình về làm Ðài Quân Ðội Sài Gòn. Một hôm Dạ Lan cùng với Tô Mặc Giang (Trầm Trọng Tài) ghé thăm. Ba người kéo nhau qua câu lạc bộ uống cà phê, chuyện trò. Dạ Lan nhắc lại ước mơ một thuở của hai người: mở quán trà cà phê…

Thế rồi chia tay, xa nhau mãi mãi. Những năm đi tù CS về thỉnh thoảng nghĩ đến Dạ Lan. Nhưng biết đâu tìm. Sang Mỹ thỉnh thoảng báo chí lại nhắc tới Chương Trình Dạ Lan năm xưa. Tin anh em cũng cho biết Dạ Lan đã đi tu!

Gần đây chuẩn bị họp mặt anh chị em Ðài Tiếng Nói Quân Ðội thuở xưa. Các bạn lại nhắc tới Dạ Lan. Dương Ngọc Hoán cho biết có email cho Dạ Lan và được cho biết Dạ Lan hiện tu ở một thiền viện. Nghĩ tới Dạ Lan và những ngày tháng cũ mình bèn xin Hoán địa chỉ email của Dạ Lan và viết thư thăm.

Dạ Lan ơi, NXT đây, Dạ Lan còn nhớ không? Những ngày ở Ðà Lạt và Pleiku có Dạ Lan dường như vẫn còn ẩn hiện đâu đó.

Sau năm 1975 ở tù CS ra sống lây lất ở Sài Gòn rồi tới Mỹ, thỉnh thoảng nhớ Dạ Lan với niềm ray rứt.

Kèm theo đây là một bài thơ gởi Dạ Lan. Ðọc để xem lòng có dao động chút nào không?

Mừng Dạ Lan vui với cửa thiền. Nhớ thư cho anh nha.

Thương mến, NXT

Lời gởi Tô Mặc Giang

Tô mặc giang ơi

dường như sông sài gòn vẫn chảy

chiều nay. tôi nhìn thấy bạn. đi cùng với đinh cường

trên phố bonard

tóc bờm xờm. lộng gió

và tôi cũng nhìn thấy bạn

ở pleiku

cùng với người nữ làm thơ tên chi

trong cà phê dinh điền

có cả kim tuấn. ngồi cười

mới đó mà mấy chục năm trôi qua

người xa người. người bỏ người đi

những quán khuya. nơi chúng mình họp mặt. không còn ánh lửa

mới đây. hải phương nói với tôi

sẽ làm một bài thơ. nhớ pleiku

hồi tôi. và dạ lan. qua làm đài địch vận

và chúng mình mê cô ca sỹ trong hội quán phượng hoàng

những cây thông còn đó

bài thơ chắc vẫn còn trong trí óc hải phương

còn bạn đã cho in. gió cũng nói lời từ biệt

thôi hãy gởi cho nhau xem

để nhớ lại pleiku

và kim tuấn

và dạ lan


lời này xin thả bay trong nắng

ơi. tô mặc giang

NXT

Và Dạ Lan đã viết trả lời:

Anh T.

Sáng hôm nay, như thường lệ, dalan thức dậy lúc 2g30 – để ngồi Thiền, lễ Phật, vào Internet…

dalan check mail. sau 30’ ngồi Thiền và … đã rất bất ngờ nhận được mail của anh. Một người quen đã mấy chục năm, nay mới lại được tin.

dalan có thói quen thức dậy rất sớm, mở toang cửa, cho khí lạnh tràn vào và hưởng cái cảm giác thế giới này, không gian này chỉ thuộc về một mình ta! Cái cảm giác tuyệt đối cô đơn, tuyệt đối cô độc thật là tuyệt vời!

dalan đọc bài thơ của anh, bỗng như thấy Ðàlạt Pleiku rất gần! và nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè- anh, anh Kim Tuấn và rất nhiều nhiều bạn bè nữa… Nhưng bây giờ chắc là đã lạ lắm rồi, phải không anh? Biết bao vật đổi sao dời, bãi biển nương dâu, thế thái nhạt nồng, nhân tình ấm lạnh. Biết bao nỗi đau không nói hết được – biết bao nỗi oan khiên hàng hàng lớp lớp, trùng trùng điệp điệp… Nói sao cho hết? Nói sao cho vơi?

Như anh biết, những ngày cuối cùng, dalan đã tình nguyện vào giữ đài Phát thanh SG mà không tìm cách đi Mỹ – dù có nhiều người quen rủ đi – có 3 lý do:

Không dễ dàng bỗng chốc bỏ lại cả quê hương để ra đi (vì sao biết được có ngày thăm lại? Như khi hai miền nam bắc phân chia, chỉ một con sông Bến Hải bé nhỏ mà khg còn biết tin nhau được, thì làm sao có tin được khi xa đến cả trùng trùng đại dương?)
Còn ông già kẹt ở miền Trung mà vì miền Trung đã mất, không liên lạc được.
Và cuối cùng là lý do chính đáng nhất: hận người bạn đồng minh 1975 của đất nước mình – thấy không lợi nữa thì buông một cách tức tưởi- không bằng người bạn đồng minh 1954!

Và sáng 30/4 khi ông Minh đầu hàng, dalan ra về với con bé con của dalan, ở nhà một bà bạn thân.

Sau một thời gian đầu óc tỉnh táo đã quyết định đặt tất cả mọi thứ của cuộc đời này ngoài vòng phủ sóng, kể như dalan không dính dáng gì đến cuộc đời này nữa, chỉ còn 2 đối tượng để sống nốt quãng đời còn lại: Ðức Phật và đồng bào nghèo khốn khó của mình -hay nói theo con nhà Phật- chúng sinh đau khổ. Thế là ăn chay trường, đi từ thiện liên miên, ngồi Thiền, lễ Phật… Nhờ vậy dalan tìm thấy sự vững vàng an lạc trong tâm hồn và trong cuộc sống. dalan hiện đang sống rất “tĩnh” trong thế giới “động’

Hiện nay, bà bạn dalan cho vay tiền xây một tịnh thất – tịnh thất Hạnh Vân – ở một vùng khu dân cư mới ở Ðồng Nai, tương đối còn hoang sơ. dalan sống độc cư vì yêu thích sự độc cư nhưng khi đau ốm thì… hơi bị phiền. Nhưng cũng không sao. À, hạnh vân là… tên tây (pháp danh) của dalan đó

Lâu lắm mới viết một lá thư dài, dalan là người kiệm lời, mà thật ra những nỗi đau của mình ai mà hiểu nổi được mà nói? Nói ra còn nguy hiểm là khác.

Chúc anh thân tâm luôn an lạc nhé!

Thân,

Dalan

TN – Tháng Tư 2017

* Thơ Thanh Tâm Tuyền:
Những năm nào chiến tranh đã quên
Con mắt đen. niềm im lặng…
3 users thanked Duy An for this useful post.
thunder on 7/11/2017(UTC), CỏThơm on 8/3/2017(UTC), phamlang on 9/12/2017(UTC)
Duy An
#2180 Posted : Sunday, July 23, 2017 2:48:34 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 3,746

Thanks: 206 times
Was thanked: 678 time(s) in 492 post(s)

Sài Gòn nhớ


Trang Nguyên

Là người Sài Gòn, người ta thường nhớ gì ở Sài Gòn nhất? Một khoảng lặng trôi qua. Có lẽ sự hồi tưởng đang trở lại trong đầu những người bạn nay tóc ngả hai màu. Có người nhớ tiếng rao trên đường phố, nhớ tiếng ồn ào trong khu xóm lao động, nhớ cảnh nhộn nhịp Sài Gòn dịp Tết những ngày còn thơ, nhớ những cuộc tình lang thang dưới vòm me xanh lá trên con đường Duy Tân đầy bóng mát, nhớ nhiều thứ lắm… Nỗi nhớ ùa về như cơn gió thoảng rồi qua. Nhưng với tôi những con đường góc phố Sài Gòn vẫn còn đọng lại mãi mãi.



Đường Lê Lợi ở Sài Gòn năm 1965 Ảnh: Larsdh


Ðầu tiên tôi nhớ góc bùng binh Quách Thị Trang, nơi lần đầu tuổi nhỏ được ba tôi dẫn đi ngao du thành phố Sài Gòn. Quách Thị Trang là ai, biết để làm gì. Cái chợ Bến Thành treo đầy biển quảng cáo hình kem đánh răng anh Bảy Chà Hynos và Perlon kín chợ chẳng có gì đẹp. Chợ cũng chẳng làm tôi nhớ, bởi đi chơi Sài Gòn nhưng ba tôi chẳng ghé vào ăn. Ði chơi khơi khơi, mỏi chân ngồi nghỉ trên băng ghế xi măng giữa công viên thưa thớt cây xanh và chung quanh trang trí vài bồn hoa sặc sỡ. Ngồi đây nhìn ngắm phố phường Sài Gòn bốn phương tám hướng. Nhìn dòng xe xuôi ngược, những dòng người tay xách nách mang hành lý băng qua cầu thang sắt ngang đường đến ga xe lửa về quê, những người buôn thúng bán bưng ngồi chật phía ngoài cửa chợ cất cao tiếng rao mời khách, những đứa trẻ đành giày, bán báo dạo lăng xăng đánh bóng mấy đôi giày “botte de sault” của mấy anh lính Mỹ.

Tôi may mắn hơn mấy đứa trẻ cùng trang lứa đó. Và tôi cố tìm trong những đứa đánh giày xách thùng đi trong công viên trước chợ một hình dáng thân quen. Tự nhiên lúc đó tôi nhớ thằng Hên người bạn nhỏ nhà xóm bên mới học lớp ba đành bỏ học đi bụi đời. Chừng tuổi ấy ra đời có thể làm gì kiếm sống? Hoàn cảnh gia đình nó không đến nỗi tan hoang khi tự dưng ba nó bỏ nhà theo vợ bé, má nó cũng không vừa bỏ mặc đám con sống chết tự lo đi buôn chuyến xe hàng dài ngày, cả tháng mới về nhà năm ba bữa. Rồi tôi nghe hàng xóm nói thằng Hên bỏ nhà ra đi, mới tí tuổi đầu mà lá gan to bằng người lớn. Thỉnh thoảng tôi ghé ngang dò la tin tức nhưng lúc nào cửa nhà cũng đóng im lìm.




Con đường Duy Tân cây dài bóng mát – Ảnh: Manhhaiflick


Thế là tôi mất một thằng bạn nhỏ chơi bắn bi, nó sống ở đầu đường xó chợ khiến lòng tôi ngậm ngùi, chợt nhớ đến bài hát “Nó” văng vẳng đâu đây. “Thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ. Tuổi ấu thơ đã mang nhiều âu lo. Ngày nó sống kiếp lang thang. Ngẩn ngơ như chim xa đàn, Nghĩ mình tủi thân muôn vàn”.

Hồi nhỏ tôi không thích bài hát này, nghe như nỗi đau quất vào da thịt một đứa nhỏ nhưng sau này hiểu ra chút ít. Thời buổi đó, trẻ con mồ côi mất cha mất mẹ vì chiến tranh bom đạn, vô gia đình vì muôn vàn lý do đều có thể đẩy đứa trẻ ra ngoài đường phố. Lòng cảm thương cho thân phận nhỏ bé lặn hụp trong cuộc đời mà ông nhạc sĩ Anh Bằng viết nên lời nhạc buồn đó chăng. Xem ra thằng có cái tên Hên mà chẳng may chút nào.

Lớn lên chút xíu, tôi biết la cà trên đường phố sau những buổi tan học cuốc bộ về nhà. Trường tôi nằm ở quận 3, nên con đường Bà Huyện Thanh Quan bán đầy bò bía, chè đậu xanh đậu đỏ, là một địa điểm hấp dẫn giới học trò chúng tôi. Nhưng với tôi, con đường Trương Ðịnh cắt ngang gần đấy rất đỗi nên thơ, nhất là đoạn giữa gần trường Nguyễn Thị Minh Khai (Gia Long ngày trước) ra Công viên Tao Ðàn. Một con phố bình yên và rất lặng lẽ với những hàng dầu hàng sao rợp bóng.

Những hàng cây cao bóng mát này lại là ký ức đẹp, tôi mang hình ảnh đó vào bài tạp văn “Những hàng cây thị xã” trong một lần về thị xã Trà Vinh.

Mỗi khi có dịp đi qua tỉnh nào đó, tôi hay hỏi người bản xứ về cảnh đẹp địa phương. Hôm đến Trà Vinh, người đầu tiên tôi hỏi là chị chủ nhân khách sạn chỗ tôi trọ. Ðã gần nửa thế kỷ sống ở đất Trà Vinh, chị bảo trong thị xã không có cảnh gì đẹp ngoại trừ những ngôi chùa Tàu, chùa Việt và đặc biệt là chùa Khmer cổ kính.

Hôm sau, trên đường đến Trường Ðại học Trà Vinh, tôi hỏi một cô gái tuổi mười chín, đôi mươi. Sau vài phút do dự, cô cho tôi một câu trả lời thật bất ngờ: Những con đường rợp bóng cây xanh ở thị xã…

Ðúng vậy đó. Chiều dần buông, đứng ngoài ban công khách sạn nhìn về góc xanh thị xã thấy rõ những vạt nắng vàng vương trên tàn me làm những vòm lá trông thật mơ màng. Hình ảnh ấy đã quyến rũ tôi rời khách sạn thả bộ về hướng đó. Từ con đường Hàng Ðiệp bông trổ lấm tấm vàng, qua Hàng Sao cao vút đứng lặng thinh, bước lại Hàng Dầu um tùm lá chen lẫn màu hoa dầu hồng non ưng ửng. Dầu là loại cây rừng cho gỗ, thân có nhựa dùng để trét ghe rất tốt nên người ta cũng gọi là dầu rái, có người gọi là dầu dù. Trái dầu có hai cánh lá, nhưng nói là cánh hoa đúng hơn. Lúc còn non, chúng có màu hồng pha màu cà phê sữa, hạt lộ ở cuống hoa. Hạt non màu xanh có khía giống như hạt xí muội. Ðến cuối tháng Bảy thì trái dầu già khô lại. Trái cùng hai cánh hoa ngả sang màu nâu đất sét. Chỉ cần một chiều lộng gió, những cánh hoa già rơi khỏi cành mẹ bung ra như cơn mưa dù, xoay tít bay bay trong không trung mang theo chiếc hạt, nhẹ nhàng đáp xuống mặt đất. Hình ảnh đó trông thật thích mắt và luôn để lại ấn tượng cho nhiều người. Chẳng thế, hình ảnh cánh hoa dầu bay trong gió đã vào thơ vào nhạc:

Cánh hoa dầu xoay tít bay bay
Nhớ chiều nào, bên em từng giờ…




Nét đẹp bình dị của một hẻm thông từ đường Hàm Nghi ra đường Nguyễn Huệ tại Sài Gòn – Ảnh: Mike Gilmore


Dù chưa có được cái cảm giác hạnh phúc bên em như nhạc sĩ Giáp Văn Thạch nhưng những “cánh hoa dầu xoay tít bay bay” ấy bay mãi trong ký ức tuổi học trò của tôi. Tôi biết được điều này là nhờ có lần được ba tôi dẫn đi Chợ Cũ Sài Gòn ăn phở. Từ nhà, hai cha con đi bằng xe ngựa, rồi lội bộ dọc theo đường Hồng Thập Tự vào vườn Tao Ðàn. Vườn Tao Ðàn ngày ấy rất vắng người, chỉ toàn cây dầu cao tít và tàn lá che mát cả một vùng rộng lớn. Ba đi trước, tôi theo sau, giẫm chân lên những chiếc lá khô xào xạc giống như những nhà thám hiểm trong một cánh rừng già. Bỗng ba tôi cúi xuống nhặt những trái có hai cọng lá khô, hỏi tôi có biết trái gì không, rồi ba tôi bảo quăng chúng lên trời. Kể từ sau đó, những trái dầu dù theo tôi đến lớp cùng chúng bạn thả từ lầu ba xuống chào đón ngày khai giảng năm học mới, khi những cánh phượng hồng đã rời xa mùa hạ. Những cánh hoa dầu bay bay không mất tiền mua của lũ nam sinh chúng tôi đã làm bọn con gái học trò thích mê…

Tất nhiên nỗi nhớ nơi mảnh đất mình sinh ra và lớn lên của mỗi người đều rất nhiều và mỗi người có quyền lựa chọn những hình ảnh ký ức đẹp đẽ nhất. Cái đẹp làm tâm hồn lắng đọng cho ta khoảnh khắc bình yên giữa nhịp sống hối hả xôn xao của chốn thị thành. Có người chẳng thèm nhớ con hẻm nhỏ ngày xưa nơi sinh ra và lớn lên như anh bạn của tôi. Anh bảo ghét lắm cái xóm lao động đã nghèo mà còn hay sanh sự, đánh lộn nhau hà rầm. Người bên ngoài nghe đi vào xóm Miếu Nổi là sợ bọn lưu manh. Anh thích những con hẻm ngoài phố trung tâm bên hông đường Hàm Nghi hay các con hẻm của người Tàu Chợ Lớn trên đường Trần Hưng Ðạo, Ðồng Khánh. Những con hẻm đó bình dị và hiền lành khác xa hẻm lao động xô bồ xô bộn.

Thế nhưng khi nghe tôi hỏi chuyện xóm nhỏ Miếu Nổi ngày xưa thì anh kể ngàn chuyện lẻ một không hết. Anh nhớ từ góc phố con hẻm xưa với một tâm hồn trẻ trung và rộng lượng. Dường như anh yêu mảnh đất mình “ghét bỏ” hơn bao giờ. Bởi vì khi cái gì mất đi hay xa rồi mới làm lòng ta hồi tưởng và càng yêu mến hơn. Chẳng thế mà nhà thơ Chế Lan Viên từng viết: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn”.
1 user thanked Duy An for this useful post.
CỏThơm on 8/3/2017(UTC)
CỏThơm
#2181 Posted : Thursday, August 3, 2017 4:04:05 AM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 164
Points: 522
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 131 times
Was thanked: 95 time(s) in 69 post(s)



(Hình ảnh Sài Gòn xưa)

Chờ người - Tình bơ vơ (Lam Phương)







phamlang
#2182 Posted : Tuesday, September 12, 2017 3:53:38 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)



Chuyện người giàu thứ hai Sài Gòn thuở ấy




Tổng đốc Phương (1841-1914) tên thật Đỗ Hữu Phương, từng được xem là tỷ phú giàu thứ hai tại Sài Gòn trong tứ đại phú “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Trạch”.

Ở quận 3, phía sau Bệnh viện Saint Paul có một ngôi từ đường cổ hơn 100 tuổi. Người ta gọi là Đỗ Hữu Từ đường, là nơi thờ tự dòng họ Đỗ Hữu, còn gọi là đền Tổng đốc Phương nhưng người dân từ xưa quen gọi là đền Bà Lớn, vì cũng là nơi thờ người vợ của Tổng đốc Phương, do bà vốn có nhiều công đức với dân chúng quanh vùng.

Không tạo ân oán

Biết tiếng Hán và tiếng Pháp nhưng Đỗ Hữu Phương lại rất chuộng văn hóa Pháp nên tìm cách ra làm việc với Pháp. Sau khi chiếm được thành Chí Hòa năm 1861, Pháp mở cửa thương mại và mở rộng mối quan hệ với người Hoa trong vùng để phát triển buôn bán. Ông Phương nhờ người quen giới thiệu với tham biện hạt Chợ Lớn lúc này là Đại úy Francis Garnier và được Garnier tuyển dụng. Đến năm 25 tuổi được phong làm hộ trưởng ở Chợ Lớn.

Dù làm việc cho Pháp nhưng chủ trương của ông Phương là không gây thù chuốc oán, cho nên ngay cả trong trường hợp không dụ hàng được mà phải đưa quân đánh dẹp, sau đó Đỗ Hữu Phương lại đứng ra che chở và xin chính phủ Pháp ân xá cho những người Việt tham gia khởi nghĩa.

Trong tài liệu của Pháp mang ký hiệu SL. 312 ở Cục Lưu trữ Nhà nước II, có đoạn khen ngợi Đỗ Hữu Phương: “Ông ta cố gắng tránh đổ máu trong lúc dập tắt nhiều cuộc nổi loạn gần đây. Ông ta đã xin chính phủ Pháp ân xá cho một số đông những đồng bào của ông đã cầm vũ khí chống lại chúng ta…”.

Nhờ cách hành xử như vậy cho nên dù bị ghét vì theo Pháp nhưng nhiều người vẫn cho rằng Đỗ Hữu Phương là người hiền đức.

Câu chuyện lạ lùng về tình bạn

Nguyễn Hữu Huân đỗ đầu thi hương năm Nhâm Tý nên được gọi là Thủ Khoa Huân. Ông vốn là bạn thân với Đỗ Hữu Phương từ nhỏ. Sau này lớn lên hai người hai ngả đường. Năm 1864, Nguyễn Hữu Huân bị bắt ở An Giang, Pháp xử án 10 năm tù, đày sang Guyan rồi Cayenne – là thuộc địa của Pháp ở Nam Mỹ.

Sau khi ông thọ án năm năm, Đỗ Hữu Phương đứng ra bảo lãnh để xin chính phủ Pháp ân xá cho Thủ Khoa Huân. Ngoài ra ông Phương xin đưa Thủ Khoa Huân về an trí ngay ở nhà của mình và phục chức giáo thụ là chức cũ trước đây để dạy học cho sinh đồ ở vùng Chợ Lớn.

Lợi dụng việc cho dạy học, Thủ Khoa Huân bí mật liên lạc với nhiều sĩ phu yêu nước và hội kín của Hoa kiều để mua vũ khí chuẩn bị khởi nghĩa. Thủ Khoa Huân bỏ trốn khỏi nhà Đỗ Hữu Phương rút về Mỹ Tho cùng với Âu Dương Lân để hội quân khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa lần thứ ba này được rất nhiều nông dân và địa chủ ủng hộ nên thanh thế rất mạnh.

Phải hai năm sau, Pháp đưa quân bất ngờ tấn công thẳng vào căn cứ Bình Cách mới đánh dẹp được. Thủ Khoa Huân chạy thoát nhưng sang năm khi đi huy động quân binh khởi nghĩa thì bị Pháp phục kích bắt. Sau khi bị giam ở Mỹ Tho và được Tỉnh trưởng Gailland chiêu dụ hàng nhưng Thủ Khoa Huân vẫn từ chối, Pháp quyết định xử tử ông.

Vươn lên ngôi thứ hai của tứ đại phú


Trong quá trình làm việc, Đỗ Hữu Phương được thăng làm đốc phủ sứ Vĩnh Long, tổng đốc danh dự, rồi làm phụ tá Xã Tây Chợ Lớn, dân gian quen gọi là Tổng đốc Phương. Đây là chức vụ không quá lớn nhưng thiên hạ đồn rằng chức vụ này giúp ông Phương trở thành trung gian cho các thương gia Hoa kiều hối lộ viên chức Pháp, nhờ vậy thu rất nhiều tiền của trong các phi vụ làm ăn này.

Tuy nhiên, nguồn tin khác cho rằng nhờ giao thiệp rộng, lại nhanh nhạy với việc làm ăn buôn bán nên ông Phương đã gầy dựng, mở mang các mối làm ăn thông qua các chuỗi cửa hiệu trong vùng Chợ Lớn.

Ông Phương có người vợ họ Trần (không rõ tên) là con của một viên tri phủ miền Trung. Bà là người rất giỏi giang trong việc quán xuyến nhà cửa và buôn bán. Nhà có hơn 2.000 mẫu ruộng do Toàn quyền Doumer cho khẩn trưng ruộng đất, bà vợ không chỉ lo việc cai quản, thu hoa lợi từ ruộng đất mà còn điều hành hệ thống buôn bán, phân phối hàng hóa cả ngàn cửa hiệu trong vùng. Hai vợ chồng “song kiếm hợp bích”, chồng ngoại giao mở mang, vợ tề gia, tiền đẻ ra tiền, đến mức thiên hạ đồn gia đình có gia nhân chuyên cho việc đếm tiền vì tiền thu vào nhiều quá, bà vợ không thể đếm xuể.

Nhớ đến nguồn gốc Minh Hương của mình, Đỗ Hữu Phương đã xây dựng nên Nghĩa Nhuận hội quán trên đường Gò Công. Ông Phương cũng đã bỏ tiền xây dựng Trường Collège de Jeunes Filles Indigènes tức Trường nữ Trung học Sài Gòn, sau này gọi là Trường Áo Tím, Gia Long.

Ngoài ra ông ta cũng bỏ nhiều tiền tu bổ rất nhiều chùa chiền miếu mạo quanh vùng nên được dân chúng ghi công. Dọc theo kinh Chợ Lớn có một cây cầu gọi là cầu Ông Lớn. Ông Lớn đây chính là Đỗ Hữu Phương, theo lý giải của nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển. Hồi đó người dân không gọi bằng tên thật. Cũng như sau này ngôi từ đường thờ người vợ rồi trở thành từ đường của dòng họ, được gọi là đền Bà Lớn.

Phong lưu cuối đời

Danh vọng và tiền bạc đều có đủ, Đỗ Hữu Phương sống phong lưu, thụ hưởng. Ông nhiều lần sang Pháp du ngoạn, đi thăm thú thủ đô nhiều nước châu Âu và đi vòng quanh thế giới. Trong danh sách các hành khách đi tàu Anadyr từ Sài Gòn đến Marseille ngày 29-4-1889 có tên ông cùng với hai người con. Điều này chứng tỏ ông tham dự Hội chợ kỷ niệm 100 năm cách mạng Pháp và sau này góp phần tổ chức khu triển lãm Đông Dương ở Hội chợ quốc tế Paris năm 1900.

Đỗ Hữu Phương sống trong một tòa nhà được xem là to nhất nhì Sài Gòn, nằm trên bờ kênh Xếp (sau này lấp thành đường gọi là đường Tổng đốc Phương). Bề ngoài nhà kiểu Tây nhưng bên trong nội thất theo kiểu Việt và Trung Hoa.

Bá tước Pierre Barthélemy kể lại khi được viếng thăm: “Nhà ông là một sự pha trộn lạ kỳ giữa Âu và Á. Sân trong thiết kế theo kiểu Trung Hoa, chung quanh sân là các phòng kiểu An Nam mà một phòng salon ở tận trong rất đáng chú ý. Đối diện với salon này là một biệt thự kiểu Âu. Bàn thờ trong phòng salon An Nam này là một công trình tuyệt diệu nổi tiếng, bàn thờ được cẩn xà cừ. Những cột nhà làm bằng gỗ teck rất quý, trụ mái nhà của phòng salon này trông rất thanh tao và trên một bàn làm bằng gỗ quý là những chai rượu absinthe, amer Picon và những sản phẩm của Pháp khác. Ông Phủ thích đãi khách các đồ ăn đặc biệt và ông ta cũng biết thưởng thức các loại rượu của chúng ta. Nếu phải diễn tả hết tất cả sự giàu sang của nội thất An Nam này thì phải viết rất nhiều trang giấy…”.

Bá tước Pierre Barthélemy cũng kể về bữa ăn đặc biệt với những món ăn Tây, Việt và Trung Hoa, trong đó ông được đãi món đuông dừa vô cùng ấn tượng.

Đỗ Hữu Phương còn được biết đến như một người giao thiệp rộng, hiếu khách, hào phóng và sành điệu mà chính Toàn quyền Paul Doumer cũng phải kể lại trong hồi ký về Đông Dương: “Ông Phủ ở Chợ Lớn tiếp khách người Âu trong nhà ông, mời uống rượu Champagne và bánh petits beurres de Nantes, cho khách xem một vài sản phẩm đặc thù lạ kỳ của người An Nam và tổ chức theo sự đòi hỏi, ước muốn của khách, xem một tuồng hát của người bản xứ (hát bội)…”.

Trong nhà mình, ông Phương có xây cả một rạp hát bội nhỏ để chiêu đãi khách khứa. Ông thường đến nhà hàng, khách sạn Continental ở Sài Gòn và Café de la Paix, nơi gặp gỡ của các bạn bè Pháp-Việt thượng lưu trí thức để giao lưu.

Sau khi vợ chồng ông Phương mất, căn nhà được con cháu bán lại cho Hoa kiều, do vị trí đắc địa tại trung tâm Chợ Lớn. Họ đã phá bỏ tất cả để xây thành cửa hiệu và rạp hát. Nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển đã tả lại trong cuốn Sài Gòn năm xưa:

“Ngôi nhà nầy nay đã dỡ, đất thì bán cho khách Tàu xây nhà chọc trời làm tửu quán, cao lầu và rạp ciné. Chỉ chừa một khuỷnh để làm nơi thờ phượng. Mấy chục năm về trước, cờ bạc còn thạnh hành, vua đổ bác, “Thầy Sáu Ngọ” nhiều tiền, mướn đấy làm chỗ hốt me ăn thua ức vạn. Nghĩ cho con cháu rân rát, đỗ đạt thành danh, mà từ đường chứa đầy tiếng thô tục, nước bọt và đờm xanh, có phải chăng là căn quả?”.

(Theo VNN)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Users browsing this topic
Guest (3)
106 Pages«<104105106
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.