Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

11 Pages«<91011
TIẾNG VIỆT KỲ DIỆU
phamlang
#209 Posted : Sunday, July 24, 2016 12:37:28 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)

Chữ Việt Gốc Pháp

Sưu Tầm

Cây cao su và anh sớp phơ nói tiếng Tây

Các chủ đồn điền thời tây là những nhà giàu có nhiều quyền thế và ảnh hưởng trong việc cai trị. Những ngôi nhà do họ xây cất để ở là những dinh thự to lớn, còn tồn tại ở rải rác nhiều nơi. Số lớn các ngôi nhà nầy nằm trong vùng đồn điền hẻo lánh. Chủ nhân người Pháp của thời đó đều mang súng và có nhiều cận vệ.

Câu chuyện rằng có một sớp phơ VN làm việc cho chủ đồn điền Pháp. Anh sớp phơ chỉ nói được lõm bõm một số chữ Pháp thôi. Vậy mà trong lúc nguy cơ và sợ hãi, đã dùng Pháp Việt ba rọi (lẫn lộn) diễn tả cho chủ hiểu được ý mình, để chủ đối phó với tình trạng nguy cấp, là câu chuyện mà tôi được nghe kể lại như một giai thoại vui. Chuyện nầy có thực hay là chuyện đùa để cười chơi, nào ai biết được. Câu chuyện như sau: Có một hôm, anh sớp phơ đang lau xe ngoài sân, trước dinh thự giữa một đồn điền cao su rộng lớn. Anh thấy một con cọp xuất hiện ở bìa rừng, ngoài rào của tòa nhà. Anh ta sợ điếng người, chạy một mạch vào trong nhà, đóng cửa cái lại và chạy nhanh về phía ông chủ người Pháp. Anh vừa báo cáo bằng miệng vừa ra dấu bằng tay: “Mông sừa, mông sừa: lủy côm bốp, mè ba bốp; lủy tí tí noa, lủy tí tí dôn, lủy măn rê vu, lủy măn rê mỏa; lủy bạt lê cà ùm, cà ùm. Mông sừa lấy mút cà tông, mông sừa tia rê cắc bùm cắc bùm thì lủy mủ ria.” Ông chủ nghe vậy hiểu ngay câu chuyện, xách súng trường ra cửa và bắn chết con cọp. Câu trên là câu ba rọi Pháp Việt (lẽ dĩ nhiên là sai văn phạm Pháp) như sau: “Monsieur, monsieur: lui comme boeuf, mais pas boeuf; lui petit noir, lui petit jaune; lui manger vous, lui manger moi; lui parler cà ùm cà um. Monsieur lấy mousqueton, monsieur tirer cắc bùm cắc bùm thì lui mourir.” (Xin tạm dịch: Ông ơi, ông ơi: nó giống con bò, nhưng không phải bò; nó (có chút) đen nhỏ, nó (có chút) vàng nhỏ; nó ăn thịt ông, nó ăn thịt tôi; nó kêu cà ùm cà ùm. Ông lấy (súng) mút ca tông, ông bắn cắc bùm cắc bùm thì nó chết)].

quart ca (vật có dung tích bằng 1/4 lít, có quai, dùng để uống nước)

quart ca (phiên làm việc hay canh gác)

queue cơ (cây gậy để thụt billard)

quinine ký-ninh (thuốc để trị bệnh sốt rét)

rafale ra-phan (tràng súng dài)

rafle (bố -) ráp (cuộc ruồng bắt)

ragoủt ra-gu (món thịt nấu với rau, củ)

rail (đường) rầy (cho xe lửa chạy)

ralenti ra-lăng-ti (chạy chậm)

rame “ram” (xấp 500 tờ giấy)

recette rờ-sết (cách nấu món ăn)

reçu rờ-xuy (tờ biên nhận)

réglo rếch-glô (trung thực, nguyên tắc)

remorque rờ-mọt (xe được kéo bằng một xe khác)

ressort rét-so, lò-so

retouche rờ-tút (chấm, sửa lại hình ảnh)

revers rờ-ve (cú đánh ngược tay trong môn bóng bàn hay quần vợt)

rhum rum (tên loại rượu nho)

rideau ri-đô (tấm màn)

robinet rô-bi-nê (vòi nước, do Robin, người đã sáng chế)

rodage rốt-đa (chạy cho nhuần máy)

ronde rông (một loại ngòi viết đầu dẹp)

rondelle long-đền (vòng sắt mỏng)

roquette rốc-kết (phi đạn tự bay đi)

rôtie rô-ti (món thịt nướng hoặc quay)

roulette ru-lết (bánh xe răng cưa của thợ may để vạch đường trên vải; tên một trò cờ bạc ở casino)

sabot sa-bô (guốc)

sacoche xà-cột (túi vải nhỏ để đựng đồ nghề, thường máng sau yên xe)

salaud xà-lù (đồ vô lại, tiếng để chửi)

salon sa-lông (phòng để tiếp khách)

sandale săng-đan (loại giày da hở chân)

sandwich săng-uých (bánh mì cắt thành nhiều miếng đặt sát nhau)

sapotier sa-pô-chê (cây, trái hồng xiêm)

satin sa-tanh, sa-teng (tên loại vải)

sauce xốt (nước xốt)

saucisse xúc-xích (lạp xưởng của Tây)

savon xà-bông, xà-phòng

saxo sắc-xô (tên loại kèn do ông Sax chế tạo)

scène “sen” (màn kịch)

seau sô (vật để đựng nước)

serge sẹc (một loại vải len mỏng)

seringue sơ-ranh (ống tiêm)

sérum xê-rum (huyết thanh)

sieur xừ (ông ấy)

signal(er) si-nhan (ra dấu)

sirop xi-rô (nước đường dạng sệt)

slip xì-líp (quần lót)

sofa sô-pha (loại ghế nằm được)

solde son (bán hạ giá, bán rẻ)

sompteux xôm-tụ (thịnh soạn, nhiều)

sou xu (đồng xu)

soude xút (chất kiềm soda NaOH)

souffler súp-lê (hú còi; nhắc bài, nhắc tuồng cho người khác)

soupape xú-bắp (van để chặn và cho thoát hơi trong náy nổ)

soupe xúp (nước canh)

sous-titre sú-tít (phụ đề phim)

sủre suya (chắc chắn)

tablier tạp-dề (áo che trước ngực lúc làm bếp hay chăm sóc bệnh nhân)

talon ta-lông (niền thép quanh vỏ xe; cùi nhân phiếu)

tank tăng (xe thiết giáp)

taquet tắc-kê (miếng gỗ để đóng chìm vào tường, lấy chỗ để bắt vít)

tasse tách (vật để đựng nước uống)

taxi tắc-xi (loại xe chuyên chở khách)

teinte teng (rỉ sét)

teinture d’iode canh-ti-dót (tên một thứ thuốc sát trùng ngoài da)

temps tăng (thời gian; một trận)

terrasse te-rát (sân thượng)

tétanos tê-ta-nốt (bệnh phong đòn gánh)

thermos téc-mốt (bình thủy)

timbre tem (để dán nơi bì thư)

titre tít (tựa đề)

tôle tôn (tấm kim loại để lợp nhà)

tonneau ton-nô (thùng gỗ để đựng rượu)

tourne-vis tua-vít (đồ để mở vít)

tout de suite tút-suỵt (ngay lập tức)

tranchée tăng-xê (hào chiến đấu)

traverse tà-vẹt (thanh thép ngang trên đường rầy xe lửa)

treillis trây-di (quần áo lính để tập trận)

treuil trơi (bánh xe có quấn dây cáp để nâng các vật nặng lên)

tube tuýp (ống, ống đựng thuốc)

tulipe tuy-líp (hoa uất kim hương)

tulle tuyn (loại hàng mỏng)

tungstène tung-teng (kim loại thường dùng làm tim bóng đèn điện)

type týp (loại)

typo ty-pô (thợ sắp chữ ở nhà in)

vaccin vắc-xanh (thuốc chủng ngừa)

vagabond ma-cà-bông (người lang thang)

valise va-li (cặp da để đựng quần áo)

valve van (khóa đường ống)

vanille va-ni (trái của cây vanillier, có mùi thơm dùng để làm bánh)

vernis vẹc-ni (chất để đánh màu gỗ)

veste vét (áo vét)

veston vét-tông (loại áo vét ngắn)

vin vang (rượu nho)

vis con vít, con ốc

yaourt da-ua (món sữa chua)

J’aime le français
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 7/11/2017(UTC)
phamlang
#210 Posted : Sunday, July 24, 2016 12:40:54 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Chữ Việt Gốc Pháp (TT)

Sưu Tầm




Trong chữ “làm le” hay “lấy le” mà bạn vẫn thường nghe hoặc vẫn thường nói, cũng có nửa phần là tiếng Pháp. Trong tiếng Việt, “le” có nghĩa là lè ra, thè ra, như: le lưỡi. đó là một động từ, còn thấy trong từ “măng le”, một giống măng. Thế nhưng trong “làm le” và “lấy le”, “le” lại là một danh từ, bắt nguồn từ chữ l’air của Pháp, có nghĩa là không khí (giống tiếng Anh), cũng có nghĩa là dáng vẻ bên ngoài. Làm le tức là làm ra dáng mình ngon lành lắm, lấy le là làm cho có dáng hơn người khác. đó là những expressions bị ảnh hưởng của Pháp, còn tồn tại mãi cho đến ngày nay, nhưng chữ “le” trong lăm le lại là chữ Việt, một từ để láy, không có nghĩa.

Một thành ngữ khác cũng còn được nhiều người nói là “làm reo” (khác với “làm eo” do chữ “yêu” trong tiếng Hán yêu sách).

REO trong tiếng Việt là động từ, có nghĩa là phát ra tiếng lớn, nhưng trong “làm reo”, nó lại là danh từ. Trong tiếng Việt, không có chữ “reo” nào là danh từ cả. Vậy thì ta biết đó là gốc ngoại lai.

Thật vậy, đó là phiên âm của chữ GRèVE trong tiếng Pháp, nghĩa là sự đình công. Trong tiếng Pháp, FAIRE GRèVE là đình công (faire là làm, grève là sự đình công), nhưng trong tiếng Việt, “làm reo” không có nghĩa là đình công, đó là làm nư để tỏ thái độ bất đồng về một vấn đề gì đó, có thể dùng trong nhiều trường hợp khác nhau.

Sự phiên âm còn dẫn đến chỗ dần dần bị người đời đơn giản hóa.

Ví dụ: Bóp-phơi từ chữ Porte-feuille (đồ để đựng giấy tờ, tiền bạc), về sau chỉ còn chữ Bóp, nghĩa là cái ví, chữ Cạc-táp từ chữ Cartable, về sau biến thái thành cặp-táp rồi chỉ còn chữ Cặp, E-ghi từ chữ Aiguille (chữ dùng trong ngành đường sắt), về sau chỉ còn chữ Ghi, ô-ri-gin từ chữ Origine về sau chỉ còn chữ Gin, Lô-can từ chữ Local về sau chỉ còn chữ Lô.

Xu chiêng là phiên âm của từ soutien-gorge tiếng Pháp. Từ này vào tiếng Việt có các biến thể khác như xu chiên, xu cheng, xú cheng, xú chiêng….

Nói chung, từ này nghe không được tao nhã bằng áo (nịt) ngực mặc dù không phải loại áo nịt ngực nào cũng là xu chiêng. Cũng chính vì cái tên gọi mơ hồ này mà xu chiêng còn được gọi là cọc xê (hay coọc xê / coóc xê) trong khi đúng ra cọc xê (tiếng Pháp là corset) là loại trang phục lót nịt cả bụng và ngực.

Kể qua một số điều, bạn đọc cũng thấy cái khó của ngôn ngữ, bởi vì quá quen rồi, thường khi chúng ta không thấy.

Để hiểu về tiếng Việt, bạn phải học rất nhiều mới thấu đáo được, 12 năm ở tiểu học và trung học cộng với 7 năm ở đại học vẫn chưa thấm tháp gì, bạn học cả đời cũng chưa hết chữ.

Biết chữ, xài được chữ và hiểu nghĩa đã là tốt, nếu biết cả gốc gác của nó lại càng tốt hơn. Vì thời gian qua đã lâu rồi, lớp già lần lần chết mất, lớp trẻ không còn hiểu nhiều lịch sử ngày xưa và ngày nay số người biết tiếng Pháp cũng không nhiều.

Bạn trẻ Việt nam nên nhớ một điều: Việt nam bị ảnh hưởng rất nhiều của người Hán (Trung quốc) và người Pháp. Trong tiếng Việt có hơn 60% là từ gốc Hán, khoảng hơn 400 từ là từ gốc Pháp, do đó, muốn hiểu rành tiếng Việt, bạn phải biết cả tiếng Hán và tiếng Pháp. Muốn hiểu rõ hai thứ tiếng đó, bạn phải tốn ít nhất 20 năm miệt mài học không ngơi nghỉ, dưới thời gian đó thì hiểu biết khó tận tường.

Việc cắt bỏ chữ đã gây nhiều sự khó khăn cho người muốn tìm hiểu, trong chữ này lại còn có sự cắt vần: CA-VE, do chữ CAVALIèRE. ở đây, có một sự cắt vần và nối âm: CA – V + èRE (bỏ đi A và LI) thành ra CAVèRE, đọc là ca-ve. Chữ này rất nhiều người không giải thích được, kể cả những người sinh trước thập niên 50 nhưng sống ở miền Bắc, vì nó xuất hiện trên báo chí ở miền Nam thường hơn. Cũng vậy, chữ SON (cái nồi nhỏ) là do chữ CASSEROLE, khi phiên âm, người ta đã bỏ CAS và ER, còn lại S + OLE

Trong việc phiên âm, người Việt lại còn hay nói trại. Ta gặp trong các từ:

1.- BA Dớ từ chữ BAVURE

2.- BạT từ chữ BâCLE

3.- CùI DìA từ chữ CUILLèRE

4.- LON TON từ chữ PLANTON

5.- LONG đềN từ chữ RONDELLE

6.- MA-Cà-BôNG từ chữ VAGABOND

7.- PHó-MáT từ chữ FROMAGE

8.- PHú DE từ chữ FOURRIèRE

9.- PHú LíT từ chữ POLICE

10.- SU HàO từ chữ CHOU-RAVE

11.- Xà CộT từ chữ SACOCHE

12.- Xà LIM từ chữ CELLULE

Trong chữ 1, VURE mà thành Dớ, trong chữ 3, LLèRE mà thành DìA, trong chữ 7, MAGE mà thành MáT, trong chữ 10, RAVE mà thành HàO, trong chữ 12, LULE mà thành LIM… đã là thấy lạ, nhưng có lẽ lạ nhứt là chữ VAGABOND thành chữ MA-Cà-BôNG, chữ CRESSON thành chữ Xà-LáCH-SON.

Việc nói trại cộng thêm việc cắt bỏ chữ cũng gây nên sự khó khăn trong việc tìm hiểu, điển hình là chữ hủ-lô. Xe hủ-lô ai cũng biết, nhưng đó là do chữ gì thì ít người biết.

Thật ra đó không phải là xe mà chỉ là một bộ phận được gắn vào xe thôi. Nguyên chữ đó là ROULEAU COMPRESSEUR, nghĩa là ống cán ép bằng thép rất nặng nên phải được gắn vào xe có động cơ để dễ di chuyển. Nó chỉ xuất hiện ở Việt nam từ thời Pháp thuộc, thấy lạ, người Việt mới đặt tên để gọi, nhưng người ta không lấy toàn chữ mà chỉ lấy một phần ở đầu, không phiên âm thành ru-lô mà nói trại thành hủ-lô, dùng quen rồi nên không thấy gì lạ chứ sự thực đó là một chữ rất dị kỳ trong tiếng Việt Nam.

Việc phiên âm trong quá khứ đa phần là việc của cá nhân, vì không có chữ, buộc lòng người ta phải mượn và đặt ra để nói.

Nhìn gần để khảo sát, bạn thấy có nhiều khi người Việt như sính dùng ngoại ngữ trong khi tiếng nước nhà đã có chữ để nói. “Tựa” là một chữ vốn đã có, thoát thai từ chữ “Tự” của Tàu, nhưng người ta vẫn thích nói chữ “Tít”, phiên âm từ Titre của Pháp. “Bộ vó” là một chữ có trong tiếng Việt nam, nhưng người ta vẫn thích dùng chữ “Mác”, phiên âm từ chữ Marque của Pháp.

Có chữ này nói ra nghe mới buồn cười: Việt nam có chữ “Bố” (Hán Việt), nghĩa là ruồng bắt, nhưng trong từ ngữ bình dân còn có chữ “bố ráp” cũng để chỉ điều đó.

Trong tiếng Việt, ráp có nghĩa là nối lại với nhau, nhưng ở dây không phải là tiếng Việt, đó là phiên âm chữ RAFLE của Pháp, cũng có nghĩa là ruồng bắt (danh từ).

Các bạn trẻ ngày nay không biết vào thời Pháp, những cuộc ruồng bắt kinh khủng như thế nào. Một chiếc xe của Pháp đi qua, một quả lựu đạn ném ra là cả xóm đó bị lùa hết. Pháp sẽ cho lính làm một cuộc RAFLE, vây bắt hết người trong xóm và đem tập trung vào một bãi đất, cho người trùm bao bố có khoét hai lổ nhỏ đi nhận diện. Chỉ cần hắn gật đầu một cái là người đối diện kể như bị lôi ra bắn chết ngay, đó là chưa nói việc nhà cửa trong xóm bị biến thành bình địa do súng lớn của xe tăng, dân chúng đi về, không biết phải ở nơi nào, thật là khổ.

Chữ “bố ráp” có từ thời ấy. Nghe nói Tây đi bố (hay bố ráp) là dân chúng tái mặt, kinh hoàng. Bố ráp là một từ gây hãi hùng cho người Việt thời Pháp thuộc, trong chữ ấy có nửa phần là tiếng Pháp.

dalle đan (tấm đúc bằng xi măng)

dame đầm (đàn bà Pháp, cũng để chỉ tên con bài nhưng tiếng Pháp là reine)

dancing đăng-xinh (nơi khiêu vũ)

dé đê (vật bằng kim loại để tra vào đầu ngón tay lúc may vá, tránh bị kim châm)

démarrer “đề” (khởi động máy)

démarreur đề-ma-rơ (bộ phận khởi động máy xe)

docteur đốc-tờ (bác sĩ y khoa)

douille đuôi (bộ phận để gắn bóng đèn)

drap d’ra (vải trải giường)

eau de Cologne ô (đờ) cô-lôn (xem Cologne) eau de Javel ô (đờ)

ja-ven (nước Javel, tên thương mại của dung dịch hypochlorite và chlorure de sodium)

écho ê-cô (tiếng vang)

écrou ê-cu (con tán để vặn vào bù-lon)

enquête ăn-kết (cuộc điều tra)

équerre ê-ke (thước vuông góc)

étiquette ê-ti-kết (nhãn vở)

faille phay (đường nứt sụp trên mặt đất)

fantaisie phăng-te-zi (sự làm ngược đời)

fauteuil phô-tơi (ghế bành)

fiche phích (vật để cắm điện)

filtre phin (vật để lọc lấy nước, bỏ bã)

fond phông (nền phía sau)

fontaine phông-tên (vòi nước máy)

fourrière phú-de (nơi chứa những đồ vật bị cảnh sát tịch thu)

fraiser phay (cắt gọt phẳng bằng máy)

frein phanh (cái thắng, từ dùng ở miền Bắc)

fủt phuy (thùng đựng xăng dầu)

galant ga-lăng (nịnh đầm)

galon ga-lông, “lon” (quân hàm)

gamelle cà-mèn (đồ để đựng thức ăn)

gant găng (bao tay)

garage ga-ra (nhà để xe)

garantie ga-răng-ti (bảo đảm, bảo hành)

garde gác (canh chừng) g

arde-boue gạc-đờ-bu (cái vè xe)

garde du corps gạc-đờ-co (người hộ vệ)

garde-manger gạc-măn-giê (tủ đựng đồ ăn)

garde-robe gạc-đờ-rốp (tủ treo quần áo)

gardien gác-dan (người giữ cửa)

gare ga (nhà ga, nơi tàu hỏa đậu)

garrot ga-rô (băng buộc để ngăn máu chảy ngược về tim)

gaz ga (hơi đốt)

gendarme sen đầm (cảnh binh)

gène gi-en (genus, yếu tố di truyền)

glaĩeul lay-ơn (hoa huệ tây)

gomme gôm (cục tẩy)

goủt “gu” (sở thích)

grève (cuộc đình công)

reo (trong: làm reo)

guidon ghi-đông (tay lái xe hai bánh)

harmonica ác-mô-ni-ca (kèn dẹp)

hautbois ô-boa (kèn mộc)

haut-parleur ô-pạc-lơ (cái loa)

houblon hốt-bố (loài dây leo có quả để tạo mùi cho rượu bia)

jeu “rơ” (chỗ bị sút rời ra, long ra)

jeu “jơ” (cách chơi, như “hợp jơ”)

jour rua (chỗ vải được tách ra thành ô trống khi thêu viền)

jube ríp (váy phùng của phụ nữ)

jube serrée ríp se-rê (váy bó của phụ nữ)

judo juy-đô (nhu đạo)

l’air “le” (trong: làm le, lấy le)

la bière la-de (bia) laine len (sợi làm từ lông cừu)

lancer lăng-xê (quảng cáo để đưa lên) libre líp (tự do)

limonade li-mô-nát (nước chanh)

litre lít (dm khối)

local lô-can, “lô” (đồ nội địa, đồ xấu)

lot lô (một phần trong toàn khối)

loto lô-tô (trò chơi gồm 90 con số)

loupe kính lúp (kính phóng đại)

maboul (từ gốc ả rập) ma-bùn (điên)

maillechort mai-so (hợp kim đồng, kền và kẽm, dùng làm dây điện trở bếp lò, do tên hai nhà sáng chế Maillot và Chorier ghép lại)

maillot may-ô (áo thun)

malin ma-lanh (láu cá)

manchette măng-sết (cổ tay áo; tít lớn)

manchon măng-sông (loại đèn)

mangoustan măng-cụt (quả)

manỵuvre ma-nớp (sự vận động, chạy chọt)

marque mác (thương hiệu; bộ vó)

matraque ma-trắc (dùi cui)

médaille mề-đay (huân chương)

(Je) m’en fout măng-phú (tôi) cóc cần

menthe măng (dầu chiết xuất từ lá bạc hà)

merci méc-xì (cám ơn)

merde mẹt (cứt, tiếng để chửi)

mètre mét (thước)

mignonne mi-nhon (dễ thương)

mine mìn (chất nổ)

molette mỏ-lết (kìm vạn năng)

monsieur me-xừ (ông)

mortier mọt-chê (súng cối)

mousse mút (vật mềm và đàn hồi được)

mouchoir mùi-xoa (khăn tay)

nette “nết” (rõ ràng, nói về hình ảnh)

nỵud nơ (cái gút thắt bằng vải)

notaire nô-te (chưởng khế)

note nốt (chấm dùng trong âm nhạc)

nouille nui (thức ăn bằng bột mì, gốc ý)

ovale ô-van (hình thuẫn)

pagaille (sự hỗn loạn)

ba-gai (hay sinh sự)

palabre(s) bá-láp (chuyện phiếm)

(en -) panne ăn-banh (bị hư máy)

passe-port pát-po (giấy thông hành)

passer pát-xê (đưa qua)

pastel phấn tiên (loại bút màu để vẽ)

pâté pa-tê (thịt hoặc gan bằm và hấp)

pâté chaud pa-tê-sô (loại bánh có nhân thịt)

patente pa-tăng (thuế môn bài)

patron pa-trông (rập để may quần áo)

patrouille pa-trui (việc đi tuần tiễu)

pédale pê-đan (bàn đạp)

pédé pê-đê (người đồng tính luyến ái)

perle bẹt (hạt trai, hột cườm lớn)

permis pẹc-mi (giấy phép)

petit pois pơ-tí-poa (tên loài đậu hạt tròn)

phare pha (đèn rọi sáng ra xa)

phase pha (giai đoạn, vị tướng hình sin của chu kỳ điện xoay chiều)

pile pin (nguồn điện một chiều)

pince “banh” (chỗ xếp trên thân áo để thu nhỏ vòng eo)

pipe píp (ống điếu) pique bích (tên con bài tây ở)

pique-nique píc-níc (bữa ăn ngoài trời)

piste pít (sàn nhảy)

piste (d’envol) pít (đường bay, đường băng)

piston pít-tông (vòng để nén hơi)

plafond pla-phông (trần nhà)

planton lon-ton (người tùy phái)

pli li (chỗ xếp nếp quanh váy đầm)

poignard boa-nha (dao găm)

poignée poa-nhê (tay cầm xe đạp)

police phú-lít (cảnh sát)

polir pô-lia (đánh bóng)

pompe bơm (đồ để thổi hơi)

pont boong (cầu tàu)

popeline pô-pơ-lin (tên loại vải có số sợi đường canh ít hơn đường dọc)

porte-bagage bọt-ba-ga (yên phụ để chở đồ)

portefeuille bóp-phơi (cái bóp, cái ví)

pose pô (sự đứng để chụp hình, được hiểu là kiểu hình)

poste bót (cái đồn)

poulie pu-li (cái ròng rọc)

poupée con búp-bê

pourboire buốc-boa (tiền bo, tiền tip)

prise-de courant pri-cu-răng (ổ cắm điện)

J’aime le français
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 7/11/2017(UTC)
phamlang
#211 Posted : Tuesday, August 16, 2016 3:44:14 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Tiếng Việt Kỳ Diệu – 10 đặc trưng lớn của Tiếng Việt


Tiếng Việt được kể là rất phong phú về nguyên âm, có tới 12 nguyên âm, trong khi tiếng Nhật chỉ có 5 nguyên âm. Lại có nhiều kép đôi, kép ba cả nguyên âm và phụ âm cộng thêm 6 dấu thinh tức dấu giọng nên số âm vị biến hóa thành khoảng 15.000 âm.

Cali Today News – Bài này nguyên đánh trên máy Mac, có cả chữ Hán và bản in có chữ Nôm… nhưng khi chuyển mã đưa qua máy Window, đã phải bỏ hết chữ Hán nên đôi khi việc giải thích không được rõ ràng, xin thông cảm cho

10 ĐẶC TRƯNG LỚN CỦA TIẾNG VIỆT

1- 9 yếu tố cấu thành thế chân vạc, mỗi chân vạc là 1 kiềng 3 chân. – Tiếng Nôm – Hán-Việt – Ngoại lai – Giọng Bắc – Trung – Nam – Chữ Hán – Nôm – La Tinh

2- Ngôn ngữ duy nhất thuộc hệ chữ Hán (Trung Hoa – Nhật Bản, Triều Tiên, Mông Cổ, Mãn Châu) chuyển sang La Tinh.

3- Nhiều âm nhất: ước khoảng 15.000 âm (29 ký tự và 6 dấu giọng, có phụ âm đơn hay đôi ở đầu và cuối, có nguyên âm đơn, đôi , ba).

4- Phức tạp trong xưng hô, tùy theo quan hệ, vị thế của những người liên hệ, cách dùng từ mang tính tương đối tùy theo vị trí giữa người và ngoại cảnh hay vật…

5- Dễ đảo ngữ trong câu, như câu: “Tôi cho anh con gà.”, có thể cho ra 24 câu với nghĩa khác nhau, có khi đảo được cả 1 bài thơ thất ngôn bát cú, đọc xuôi cũng được, đọc ngược từ dưới lên cũng được.

6- Dễ tạo ra những bài ngắn độc vần (dùng 1 phụ âm như b, c, đ, h, t, v…). “Bà Ba béo bán bánh bò bên bài biển…”.

7- Nói láy, là giao hoán âm đầu vần và thanh điệu hoặc trật tự của 2 âm tiết để tạo nghĩa khác hẳn, như: đại phong  lọ tương, đầu tiên  tiền đâu…

8- Từ đôi, như: có “một, hai, ba…” lại có “nhất, nhị, tam…” (song song nhau khoảng 70%). Văn bình dân có khoảng 70% từ Nôm, văn bác học có khoảng 70% từ Hán-Việt.

9- Văn phạm đôi, như: nhà trắng – bạch ốc, viện bảo tàng – bảo tàng viện; không chia động từ, tính từ…

10- Loại chữ đơn âm tiết, mỗi chữ 1 âm, nhưng có một số ký tự thì lại đa âm như: l, m, n, x, y… (chữ “nghiêng”, có 7 ký tự, dài nhất và duy nhất).

——–

TẠI SAO CHỈ CÓ CHỮ VIỆT ĐỔI RA LA TINH?

Trong các ngôn ngữ thuộc hệ chữ Hán như Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Mãn Châu và Việt Nam, chỉ có Việt Nam đổi ra dùng mẫu tự La Tinh. Tiếng nói các nước trên đều có thể ghi bằng La Tinh, có phần còn dễ hơn tiếng Việt, nhưng mỗi quốc gia có hoàn cảnh riêng nên không thay đổi được.

Việt Nam do bị Pháp đô hộ hoàn toàn, nên năm 1911 (1918) nhà cầm quyền Pháp ra nghị định dùng chữ Quốc Ngữ và khoảng năm 1945 nhà cầm quyền cả hai miền Nam và Bắc chính thức áp dụng. Nhưng cũng do yếu tố quan trọng là tiếng Việt có tới khoảng 15.000 âm, nên ít bị đồng âm dị nghĩa. Về các chữ Hán đồng âm và dị nghĩa, nhiều nhất là âm “kỳ” có 22, chữ “hoàng” có 17, chữ “hoa” có 10, chữ “kiều” có 7, chữ “minh” có 5… còn đa số 1 âm chỉ có 1 hay 2 chữ Hán, nhưng 1 chữ Hán thường có nhiều nghĩa.

Nhật Bản do chỉ có 120 âm, nên đồng âm dị nghĩa rất nhiều, như âm “kò” có khoảng hơn 400 chữ Hán, “yoshi” hay “shò” mỗi âm có khoảng 300 chữ Hán, nên nếu viết bằng La Tinh thì không rõ nghĩa. Đôi khi người Nhật nói rằng họ ganh với người Việt vì tiếng Việt chuyển sang La Tinh được, trong khi tiếng Nhật thì không. Việc đổi sang La Tinh có lợi lớn, nhưng cũng có hại là hầu hết người Việt ngày nay không đọc được văn kiện của người xưa.

Trung Hoa với tiếng Bắc Kinh, Phổ Thông hay Quan Thoại có 1.300 âm, còn Quảng Đông, Phúc Kiến cũng 5.000 đến 7.000 âm. Nhưng nếu viết La Tinh theo tiếng Bắc Kinh hay Quan Thoại thì các vùng khác không hiểu được. Vì Trung Hoa rộng lớn, có 8 tiếng nói chính và hằng trăm tiếng nói của người thiểu số. Chỉ viết bằng chữ Hán thì cả nước mới có thể đọc và hiểu được, do đó, chữ Hán là văn tự duy nhất có thể dùng để thống nhất cách viết, còn vùng nào cũng vẫn cứ đọc theo tiếng vùng đó.

1 一 2 二 3 三 Quan Thoại: di (yi) ớ (èr) san (san) Quảng Đông: dách dì xám Việt Nam:_ nhất nhị tam

Về tình trạng chữ Hán tại một số nước khác. Triều Tiên chủ trương bỏ bớt chữ Hán, chuyển sang Hangul (nghĩa là vĩ đại, trước có khi gọi là Ganmon hay Onmon = Ngạn Văn) do họ tự đặt ra, đây là loại văn tự ký âm tương tự như La Tinh vậỵ Ở trung học, Nam Hàn chỉ học 1.300 chữ Hán và Bắc Hàn chỉ học 500 chữ Hán (thường để viết tên người cho khỏi bị lẫn lộn vì trùng âm và các từ truyền thống quen thuộc…), nên thế hệ ngày nay không còn đọc được văn kiện cổ của tiền nhân. Vì vậy, ở Nam Hàn đang có chương trình cổ động học chữ Hán. Ở Singapore (Tân Gia Ba), sau thời gian dài chạy theo tiếng Anh thực dụng, các thế hệ Hoa Kiều trẻ không đọc được sách Hoa nên cũng đang đẩy mạnh việc học chữ Hán.

9 YẾU TỐ KẾT TINH THÀNH TIẾNG VIỆT

Huyền diệu thay, có 9 yếu tố đã kết tinh thành Tiếng Việt theo thế 3 chân vạc, mỗi chân vạc là 1 trụ, mỗi trụ là 1 kiềng 3 chân.

3 trụ đó là tiếng nói, giọng nói và chữ viết.

– Trụ thứ 1, tiếng nói: Tiếng Nôm (người), Hán-Việt (nhân), Ngoại Lai (“va-li” từ tiếng Pháp, “phim” từ tiếng Anh, “Nha Trang” tứ tiếng Chàm, “Cái Răng” từ Chân Lạp)…

– Trụ thứ 2, giọng nói: Bắc (mẹ) – Trung (mệ) – Nam (má).

– Trụ thứ 3, chữ viết: Hán (漢) – Nôm (喃)- La Tinh (a, b, c). Vạc hay kiềng đều có 3 chân, ở đây mình có đủ cả vạc và kiềng. Với sổ điểm hay chân ít nhất nhưng tao nên 1 mặt phẳng, dễ dàng tạo thế vững vàng nhất. Thế chân vạc là 3 trụ, mà mỗi trụ là 1 kiềng.

TIẾNG VIỆT CÓ GÌ LẠ?

1- Chữ Quốc Ngữ gốc La Tinh

Văn tự hay ký tự ngày nay của người Việt gọi là Quốc Ngữ, là tiếng Việt viết bằng chữ La Tinh. Quốc Ngữ là một cái tên có lẽ đã được dùng để nhấn mạnh đến tính quốc gia dân tộc khi mới được công nhận và cho dễ được chấp nhận, chứ thực ra thì chữ Hán và chữ Nôm còn ở với dân tộc ta lâu đời hơn và đáng gọi là Quốc Ngữ hơn. Những năm 50, học sinh tiểu học thường ê a: “Chữ Quốc Ngữ, tiếng nước ta, con cái nhà, đều phải học”… Chính phủ còn phát hành cả tem khuyến học chữ Quốc Ngữ. Người Việt học chữ Quốc ngữ chỉ độ 6 tháng hay 1 năm là đọc được báo, trong khi người Nhật phải học chữ Hán ít nhất khoảng 5, 6 năm mới đọc được.

Còn chữ mà chúng ta thường gọi là La Tinh như a, b, c, … i, … y, z đôi khi bao gồm cả 1, 2, 3… thực ra, trong số này có cả “y dài” tức “y Greek (Hy Lạp)”, chứ chữ La Tinh chỉ có “i ngắn” mà thôi. Thêm nữa, ai cũng biết số La Mã là I, II, III, IV… nên 1, 2, 3 thực ra là số Ả Rập, riêng số 0 là phát minh “vĩ đại” của Ấn Độ.

Chữ Quốc Ngữ giản dị bội phần so với chữ Hán và Nôm, nên giúp mau chóng giải quyết nạn mù chữ. Nhưng dân tộc Việt đã hơn 2.000 năm gắn liền với chữ Hán và 7, 8 thế kỷ với chữ Nôm. Các văn hiến cổ đều viết bằng hai thứ chữ này, nên khi đổi sang La Tinh, chúng ta có cái lợi rất lớn, nhưng cũng không thể tránh cái hại là bị đoạn lìa với văn hóa quá khứ.

Trước năm 75, dù có đến cả triệu người Hoa ở Việt Nam, người Việt hầu như không ai học tiếng Hoa, người Hoa muốn giao thiệp với người Việt thì phải học tiếng Việt, ít nhất là học nóị Nhưng từ khoảng năm 1985, người Việt bắt đầu học tiếng Hoa và Nhật vì đầu tư của các nước này tăng mạnh (chiếm 70%) và nếu biết một trong hai thứ tiếng trên đi làm sẽ có mức lương cao gấp bội. Từ đó đến nay, ước lượng có khoảng 300.000 người học tiếng Hoa và 250.000 người học tiếng Nhật.

Lại đúng vào thời đại điện toán, việc đánh máy chữ Hán và ngay cả chữ Nôm trở thành dễ dàng. Đây chính là cơ may thật hãn hữu, có thể giúp phục hồi văn hóa dân tộc Việt.

2- Tiếng Việt đơn âm

Tiếng Việt cũng như tiếng Hoa thuộc loại đơn âm tiết, nghĩa là mỗi chữ đọc lên chỉ có một âm, trong khi tiếng Nhật thuộc loại đa âm tiết. Nhưng có nghịch lý là nhiều ký tự như l, n, m, x, y… lại đa âm tiết. Tiếng Việt ít ký tự nhất, chỉ có 1 ký tự như “a” (tiếng kêu tỏ vẻ vui mừng hay ngạc nhiên; chạy theo như “a dua”; cái “a”), “á” (tiếng la), “à” (tiếng gật gù tán đồng), ơ (tiếng thảng thốt)… Tiếng Việt nhiều ký tự nhất là chữ “nghiêng” có đến 7 ký tự, đặc biệt chữ này là chữ duy nhất có 7 ký tự và chỉ ở dạng không dấu, không đi với dấu thinh nào.

3- Kép đôi và kép ba các nguyên âm và phụ âm

Tiếng Việt có tổng cộng 29 ký tự, chưa kể f, j, w, z. 12 nguyên âm: a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y 17 phụ âm: b, c, d, đ, g, h, k. l, m, n, p. q, r, s, t, v, x Tiếng Việt được xếp vào loại âm đóng vì đa số tận cùng bằng phụ âm, trong khi tiếng Nhật được xếp vào loại âm mở vì đa số tận cùng bằng nguyên âm. Nếu tiếng Nhật thường đơn giản chỉ ghép 1 hay 2 phụ âm với 1 nguyên âm thì tiếng Việt có thể kép đôi, kép ba cả nguyên âm và phụ âm.

Nguyên âm đơn như: lo, na… Nguyên âm đôi như: keo, hòa… Nguyên âm ba như: người, quyên… Phụ âm đôi như: nho, pha… Phụ âm ba như: nghe, nghinh… Từ có phụ âm đôi ở cả đầu và cuối cũng rất nhiều như: ngang, thang, thanh…

4- Sự phong phú về phát âm

Tiếng Việt được kể là rất phong phú về nguyên âm, có tới 12 nguyên âm, trong khi tiếng Nhật chỉ có 5 nguyên âm. Lại có nhiều kép đôi, kép ba cả nguyên âm và phụ âm cộng thêm 6 dấu thinh tức dấu giọng nên số âm vị biến hóa thành khoảng 15.000 âm. Trong khi đó, tiếng Nhật hầu như không có dấu thinh nên tổng cộng chỉ có khoảng 120 âm, tiếng Bắc Kinh tức Quan Thoại hay Phổ Thông có khoảng 1.300 âm, tiếng Quảng Đông hay Phúc Kiến có từ 5.000 đến 7.000 âm.

Ngoài sự lên xuống của dấu sắc và huyền, đặc biệt tiếng Việt có dấu hỏi và ngã phát âm uốn éo như sóng lượn, nên tiếng Việt rất giàu nhạc tính.

Khi dạy phát âm tiếng Việt cho các học viên Nhật, tôi thường vung tay và yêu cầu họ vung theo 6 dấu thinh. Nên nếu tiếng Việt mà có tới 8 dấu thinh như một âm giai bát âm của nhạc thì có lẽ chúng tôi sẽ thành nhạc trưởng hết lúc nào không biết.

Khi giảng dạy tiếng Việt, nhất là về phát âm cho người ngoại quốc ở Việt Nam và Nhật Bản… chúng tôi thấy hầu hết các giảng viên đều dùng hai đồ biểu trên, nhưng ở Hoa Kỳ và Úc hầu như không dùng. Qua kinh nghiệm giảng dạy tiếng Việt cho người Nhật cũng như trẻ em Việt, chúng tôi nhận thấy hai biểu đồ trên rất thiết yếụ Sự phức tạp về phát âm của tiếng Việt đã được thu gọn trong hai biểu đồ giản dị này. Người ngoại quốc nắm được hai biểu đồ này thì không lo gì phát âm không chính xác cả. Phát âm tiếng Nhật quá đơn giản nên người Nhật thấy khó khăn khi phát âm tiếng Việt, nhưng nếu luyện tập, họ có thể phát âm được, chỉ khó nhớ ngay và không nhớ hết mà thôị Nên vấn đề còn lại là thường xuyên tập luyện, thực hành để nhớ.

5- Bắc-Nam ai đúng, ai sai?

Trong khi tiếng Bắc được coi là tiêu chuẩn, nhưng người miền Bắc yếu về cách phát âm các ký tự s, x, ch, tr, một số người lẫn lộn giữa l và n, còn người Nam thì hay lẫn lộn giữa v và d, dấu hỏi và ngã. Về những thiếu sót trong phát âm của người Bắc chúng tôi không rõ nguyên nhân, nhưng về việc người Nam “sai” chính tả “hỏi, ngã” thì chúng tôi ngờ rằng thực ra họ đã viết rất chính xác đối với phát âm.

Xin xem bảng biểu diễn 6 dấu thinh sẽ thấy, dấu “hỏi” là dấu sóng (hình sin) viết đứng nhưng lại phát âm nằm, dấu “ngã” là dấu sóng viết nằm lại phát âm thành đứng. Như vậy chính tả viết “sai” chăng? Và người Nam viết đúng chăng?

Qua bảng biểu diễn trên, chúng ta thấy các dấu thinh không phải là các ký tự được viết ra một cách ngẫu hứng mà chính là đường biểu diễn phát âm. Nói cách khác, các dấu chính là hình thu nhỏ của biểu đồ phát âm. Khi chúng ta phát âm, đầu của chúng ta cũng lắc lư như các đường biểu diễn hay các dấu sẽ thấy dễ dàng hơn. Và chính các dấu thinh này chi phối sự lên xuống của âm cả chữ.

Tiếng Việt vốn phong phú về nhạc tính, mỗi chữ đã chứa sẵn âm điệu riêng, vì vậy khi trở thành lời trong một bài hát, có thêm âm điệu (melody) của bài hát nữa thì thành ra một âm điệu kép. Tuy nhiên, âm điệu bản nhạc là chính nên đôi khi âm điệu của lời hát tiếng Việt đã bị biến đổi đi, như lên giọng thành xuống giọng…

Thí dụ như hát chữ “hỡi” ở nốt la tròn, thì không phải chỉ ở cao độ la, mà còn phải diễn tả dấu “ngã”, có thể tượng trưng bằng 4 nốt 1 móc liên tiếp nhau hình sóng như trong bảng biểu diễn thì mới ra tiếng Việt được.

6- Nhị trùng từ và nhị trùng văn phạm

Tiếng Việt chịu ảnh hưởng sâu đậm tiếng Hoa, nên không những một sự vật thường có hai từ là từ Nôm và Hán-Việt, còn có nhị trùng văn phạm nữa, tức vừa văn phạm Việt vừa Hoa (đặc biệt là danh từ ghép, về điểm này, tiếng Hoa và Nhật giống nhau, danh từ phụ trước, danh từ chính sau).

Thí dụ: – người đọc = độc giả = 読者, “người đọc” là âm Nôm xếp theo văn phạm Việt, “độc giả” là âm Hán-Việt xếp theo văn phạm Hoa, Nhật. – núi Phú Sĩ = Fuji yama/san =富士山, “núi” và “yama” là âm Nôm và Nhật, “núi” đứng trước theo văn phạm Việt, nhưng “yama” đứng sau theo văn phạm Hoa, Nhật. Phú Sĩ sơn = Fujisan, “sơn” và “san” là âm Hán-Việt và Hán-Nhật, đều đứng sau theo văn phạm Hoa, Nhật. Hai từ Hán-Nôm cùng nghĩa như Đại-Cồ Việt (Đại = Hán-Việt, Cồ = Nôm), nhập-vào, xuất-ra, in-ấn, sao chép, phân chia, đường lộ, bao bọc, bồi đắp, kỳ lạ…

Phần 2: Những cấu trúc trong Tiếng Việt

Tiếng Việt có nhiều chữ khởi đầu bằng vần “c” và “t” nhất, cho ra nhiều chữ khởi đầu bằng phụ âm vần “b”, “c”, “đ”… có thể đi với nhau thành câu chuyện ngắn Lắm chữ “b”, “c”, “đ”, “h”, “m” và “t”… Tiếng Việt có nhiều chữ khởi đầu bằng vần “c” và “t” nhất, cho ra nhiều chữ khởi đầu bằng phụ âm vần “b”, “c”, “đ”… có thể đi với nhau thành câu chuyện ngắn “độc vận” có ý nghĩa, nhất là vần “t” thì dễ làm nhất và có thề cho tới cả vài trăm chữ.

1- Trẻ em Việt Nam hay nghêu ngao:

Bà Ba béo bán bánh bò, bên bãi biển, bị bắt bỏ bót ba bốn bữa. Xin bổ sung thành bài vần “b” với 50 chữ như sau:

BÀ BA BÉO

Bà Ba béo bán bánh bò, bánh bèo, bên bãi biển, bị bắt bỏ bót ba bốn bữa… Bèn bẻ bông bưởi bên bờ bến bán. Bà bị bệnh, buồn bã, bèn bỏ bê buôn bán. Bị bác Bảy bắt bồng bế bé bú bầu, bưng bô!

Hoặc: Đêm đông đốt đèn đi đâu đó. Đốt đèn đi đái đó, đánh đổ đèn đếch đái được. Xin bổ sung thành mẫu đối thoại vần “đ” với 82 chữ như sau:

ĐÁNH ĐỔ ĐÈN

– Đang đêm đầu đông, đất động đong đưa đến đổ đền. Đậu đốt đèn đi đâu đó? – Đậu định đi đường đèo đầy đất đá, đầu đội đồ, đem đạp, đổng, đài, đến đâu đóng đô đấy. Đến đây đớp đậu đen đậm đà đều đều. Đốt đèn định đi đái đó. – Đừng đái đường, đừng đụng đâu đái đó. – Đậu đần độn, đánh đổ đèn, đếch đi đến đầu đường đái được, đằng đẵng đợi, đành đứng đầu đình đái đại!

Nếu “Đậu đốt đèn đãi đậu đen, đậu đỏ.” thì câu chuyện sẽ rẽ sang hướng khác.

2- Xin soạn 1 bài vần “c” với 162 chữ để vẽ nên một bức tranh quê trong đó có hai loại cò như sau:

CON CÒ

Chiều chiều, chim chóc, chuồn chuồn, châu chấu chọn chốn cao, Chỗ chân cầu cuối chơ, cạnh chùa cổ, có chín con cò: Cạnh các con cò cái chăm chỉ, cần cù, chịu cực, Có các con cò cái chững chạc, cung cúc, cố, công, Có con cò co co cẳng chân cặp càng cua cáy, Có con cò chăm chăm canh chừng chờ cắp cà cuống, Có con cò cong cong cổ chực chụp chú cá chốt, Có con cò cúi cúi cắn cước cần câu cá chép, Co con cò cau cau có có cuỗm cả cành cây, Có con cò căng cánh chạy còn cố công cọng cỏ… Cạnh các con cò cái chanh chua, cãi chày, cãi cối, Có các con cò cái cười cợt, cà chớn, chán chường, Chẳng cặp cũng chẳng cắp, Chẳng chụp cũng chẳng cắn, Chẳng cuỗm cũng chẳng chạy, Chúng cóc cần chi cả, chỉ có chơi cho chán chê… Chờ chết!!!

3- Xin soạn một bài vần “h” với 138 chữ, trong đó hầu hết là các cặp đối nhau như sau:

HÒA HỢP

1. Hồi hôm hãn hữu họ hàng hội họp hàng hiên… Hảo hán Hoàng Huy Hùng hào hoa, hung hăng hậm họe hành hung hèn hạ, hà hiếp Hải Hương, hàm hồ hằn học hăm he hạch hỏị Ha ha! Hiếu hạnh Hà Hải Hương ham học, hay hát hứa hẹn hát hay hơn hết, hao hao Hồng Hạnh, hết hồn hất hàm hậm hực hứa hãọ Hừ hừ!

2. Hồi hôm hiếm hoi hòa hợp hát hỏng hữu hảo…

Hài hước Hoàng Huy Hùng hạ hỏa, hòa hảo, hết ham hão huyền hư hỏng, hau háu hàn huyên hào hứng, hiện hình hiền huynh hào hùng. Hề hề! Hoa hồng Hà Hải Hương hấp háy, hà hơi, hăm hở hát hò hả hê, háo hức hẹn hò hăng hái, hiển hiện hiền hòa, háu hỉnh. Hì hì!

4- Vần “t” tương đối dễ làm thành một bài, ai chịu khó suy ngẫm một lúc có thể nghĩ ra. Xin soạn một bài vần “t” với 202 chữ như sau:

TỰ TÌNH

Tôi tên Trần Thị Thanh Thủy, tự Thu Tâm, tuổi Thân, tuổi trăng tròn. Tính tình thật thà, thẹn thùng, thường tủm tỉm, tim thường thương trộm, thích thầm, thổn thức theo tình, tiếng thỏ thẻ trong trẻo, thích tỉ tê… Thân thì tròn trùng trục, tướng thì thấp tủn, thấp tịt… thành thử thường tự than thân: “Thôi thì tại trời tính thế.”.

Tháng trước, tôi tức tốc từ Tân Thuận tới thăm thày tiếng Tây tên Trịnh Thành Tuấn, tự Tre Trúc, tuổi tứ tuần, tại tỉnh Thừa Thiên. Thày tôi trèo thang té, trặc tay, trầy trán, tét thịt thâm tím, thương tích trầm trọng. Thương thày, tôi tặng thày thang thuốc thật tốt. Thầy thấy thế thì tự trách: “Tại tôi, tại tôi thiếu thận trọng thôi.”.

Thú thật tôi thương thày, tính thày thành thật, thày thương tôi thiệt tình thành thử tôi thót tim… Thứ Tư thượng tuần tháng Tám/Tám Tư, tôi – thày tình tự, tính tới tình tơ tóc. Tình tôi tưởng tốt theo thời thế. Từ từ tình tan, thày thẳng thừng tống tôi, tôi thương thân, toan tính tự tử, tưởng tượng thắt tòng teng thấy thật thê thảm. Tôi thôi!

5- Xin soạn bài vần “v” với 123 chữ như sau:

VÔ VỌNG!!!

Vô vi Võ Văn Việt võ vẽ viết văn vung vít và vấp váp vỏn vẹn vài vụ việc. Võ Văn Việt vui vẻ về với vợ, vừa vờ vĩnh vỗ vai vừa vén váy vợ vồn vã, ve vãn, vỗ về, vòi vĩnh… Vũ Vi Vân vợ Việt vóc voi, vầy vò vặt vãnh vô vàn vất vả, vùng vằng vặn vẹo ví von văng vẳng: “Vớ vẩn, vui với vầy, vầy với vò!”. Và Vũ Vi Vân vội vã vun vén, vơ vét vàng, vải vóc vùn vụt vọt… Võ Văn Việt vò võ, vật vờ, vẩn vơ, vàng vọt, vòng vòng vất va vất vưởng, vì vậy viết vào vở: “Vuột, vời vợi vấn vương vẫn vô vọng!!!”.

6- Anh Vĩnh Linh nghe thân hữu nói kể lại, tôi thêm câu 4 cho thành 1 bài thất ngôn tứ tuyệt (?):

Lâm li, lưu luyẽ’n, lòng lai láng, Thất thểu, thì thầm, thấy thẩn thơ, Đường đi, đất đỏ, đều đầy đá, Cơm chiều, canh cá, có chén cà… 7- Không hiểu sao có rất nhiều từ bắt đầu bằng vần “m” tập trung ở “đầu” như: má, lông mày, lông măng, lông mi, mắt, mặt, men răng, màng tang, mép, mí mắt, miệng (Nam)/mồm (Bắc), mỏ ác (trên đỉnh đầu), môi, mũi, tóc mai. Rồi lại còn: lá mía, màng não, màng nhày (mũi), màng nhĩ, màng óc, máu cam (máu mũi), mụn bọc, mụn trứng cá, nước miếng…

– – – – –

Nói lái!?

Một trong những đặc trưng của tiếng Việt là nói lái, nhằm mục đích đố chữ, vui đùa… Nói lái là nói bằng giao hoán âm đầu vần và thanh điệu hoặc trật tự của hai âm tiết để tạo nghĩa khác hẳn. Xin bạn đọc xem thử mẩu đối thoại tưởng tượng dưới đây

A: Bên đó thế nào? B: Ồ, có đại phong! A: Làm gì thì làm, nhớ thủ tục đầu tiến đấy nhé. B: Vâng, biết rồi, khổ lắm nói mãi. À, anh thấy cô ấy thế nào A: Người đẹp có đôi chân thảo bình nên hình chụp tôi lộng kiếng rồi! B: Anh thì lúc nào cũng tếu, cũng vũ như cẩn. A: Thôi chào, chúc anh mạnh sự lời…

Trong đó có mấy từ hơi ngớ ngẩn, vừa nghĩa này vừa nghĩa khác:

– “đại phong” là gió lớn, gió lớn thì đổ chùa, đổ chùa thì tượng lo, tượng lo là “lọ tương” (Giai thoại giữa Trạng và Chúa Trịnh). – “đầu tiên” tức “tiền đâu”. – “thảo bình” là cỏ bằng, tức “cẳng bò”. – “lộng kiếng” tức “liệng cống”. – “vũ như cẩn” tức “vẫn như cũ”. – “mạnh sự lời” tức “mọi sự lành”.

– – –

Đảo ngữ

Một câu đảo ngữ thành ra rất nhiều câu với nghĩa khác nhau.

Tuy rằng văn phạm tiếng Việt tương đối dễ, nhưng khó về âm, khó về xưng hô và khó cả về đảo chữ trong câu. Chỉ một câu đơn giản, ngắn 5 chữ sau mà có thể trở thành 24 câu khác nhau trong văn nói (có những từ hiểu ngầm):

1- Tôi cho anh con gà. I gave you a chicken.

2- Anh cho tôi con gà. You gave me a chicken.

3- Tôi cho anh gà con. I gave you a chick.

4- Anh cho tôi gà con. You gave me a chick.

5- Tôi (và) anh cho con gà. You and I gave a chicken.

6- Tôi (và) anh cho gà con. You and I gave a chick.

7- Anh (của) tôi cho con gà. My old brother gave a chicken.

8- Anh (của) tôi cho gà con. My old brother gave a chick.

9- Con tôi cho anh gà. My child gave you a chicken.

10- Con anh cho tôi gà. Your child gave you a chick.

11- Con gà tôi cho anh. The chicken that I gave yoụ

12- Con gà anh cho tôi. The chicken that you gave mẹ

13- Gà con tôi cho anh. The chick that I gave yoụ

14- Gà con anh cho tôi. The chick that you gave mẹ

15- Con gà tôi (và) anh cho. The chicken that you and I gavẹ

16- Gà con tôi (và) anh cho. The chick that you and I gavẹ

17- Con gà anh (của) tôi cho. The chicken that my old brother gavẹ

18- Gà con anh (của) tôi cho. The chick that my old brother gavẹ

19- Gà (mà) con tôi cho anh. The chicken that my child gave yoụ

20- Gà (mà) con anh cho tôi. The chicken that your child gave mẹ

21- Con gà cho tôi (và) anh. The chicken that gave me and yoụ

22- Gà con cho tôi (và) anh. The chick that gave me and yoụ

23- Con gà cho anh (của) tôi. The chicken that gave my old brother. 24- Gà con cho anh (của) tôi. The chick that gave my old brother.

ĐTM

Nếu chữ “Anh” (cả nam và nữ) và “Tôi” là tên người, thực tế chúng tôi biết có người tên như vậy, thì chúng ta còn có thêm một số câu khác nữa.

(*) Chữ “cho” có nghĩa là “give” mà cũng là “for” (phần của)… cho = give và còn có nghĩa làm cho, (I do it for you) tôi làm việc đó cho anh…

– – – – –

Đôi khi chúng ta còn có thể đảo ngữ nguyên cả một bài thơ thất ngôn bát cú, đọc từ trên xuống hay từ dưới lên đều có nghĩa như sau:

ĐỀN NGỌC SƠN

(đọc xuôi)

Linh uy tiếng nổi thật là đây

Nước chắn hoa rào một khóa mây

Xanh biếc nước soi, hồ lộn bóng

Tím bầm rêu mọc, đá tròn xoay

Cung tàn lúc đánh chuông âm tiếng

Khách vắng khi đưa xạ ngát bay

Thành thí tiếng vang đồn cảnh thắng

Rành rành nọ bút với nghiên này.

(đọc ngược)

Này nghiên với bút nọ rành rành

Thắng cảnh đồn vang tiếng thị thành

Bay ngát xạ đưa khi vắng khách

Tiếng ầm chuông đánh lúc tàn cung

Xoay tròn đá, mọc rêu bầm tím

Bóng lộn hồ, soi nước biếc xanh

Mây khóa một rào hoa chắn nước

Đây là thật nổi tiếng uy linh.

(Vô danh)

Trích Việt Nam Văn Học Sử Yếu của Dương Quảng Hàm, Trung Tâm Học Liệu Bộ QGGD, Sài Gòn 1968, trang 133.

– – – – –

Những từ tượng thanh!?

Tiếng Việt rất phong phú với khoảng 15.000 âm, nên so với nhiều ngôn ngữ, việc diễn tả âm thanh hay các tiếng tượng thanh tương đối cũng phong phú và chính xác. Sau đây là hơn 130 từ diễn tả âm thanh.

– “á” (tiếng thốt ra vì sửng sốt hay đau đớn đột ngột).

– “à” (tiếng thốt ra vì ngạc nhiên, chợt nhớ ra hay ưng thuận).

– “ái” (tiếng người kêu khi chợt bị đau).

– “ái da” (tiếng người kêu khi chợt bị đau đớn).

– “ào ào” (tiếng gió hay nước phát ra dồn dập).

– “ầm” (tiếng động lớn do vật nặng rơi hay tiếng nổ).

– “ầm ầm” (tiếng đập mạnh hay sấm nổ liên tục).

– “ầm ì” (tiếng trầm nhỏ và kéo dài như tiếng sóng, tiếng động cơ (ở xa)).

– “băng băng” (tiếng súng nhỏ liên tiếp).

– “bịch” (tiếng vật rơi, người té hay tiếng đánh, đá vào người).

– “boong” (tiếng chuông kêu).

– “bôm bốp” (tiếng vỗ tay liên tục).

– “bốp” (tiếng tát hay vỗ).

– “bùm” (tiếng nhạc trầm hay trống, tiếng nổ lớn).

– “bùng bung” (tiếng nhỏ, trầm đục như trống cơm).

– “bùng bùng” (tiếng lửa cháy rực lên).

– “cạc cạc” (tiếng vịt kêu).

– “càng cạc” (tiếng vịt kêu).

– “cắc cắc” (tiếng gõ tang trống (thành trống)).

– “chát” (tiếng đập bằng vật dẹp, tiếng nhạc bổng…).

– “chan chát” (tiếng gõ hay nói đanh sắc nghe chói tai).

– “chóp chép” (tiếng nhai).

– “chíp chíp” (tiếng gà con kêu).

– “chụt” (tiếng hôn).

– “cóc cóc” (tiếng gõ).

– “cót két” (tiếng khô giòn và liên tiếp do vật cứng không bằng kim thuộc gây ra).

– “côm cốp” (tiếng vang và đanh do vật cứng nện liên tục xuống vật cứng khác).

– “cục cục tác” (tiếng gà mái sau khi đẻ trứng).

– “đoành” (tiếng nổ lớn như tiếng súng).

– “đùng” (tiếng nổ như pháo, súng…).

– “đùng đùng” (tiếng súng lớn liên tiếp).

– “gầm gừ” (tiếng kêu nhỏ trầm có vẻ tức giận của loài chó…).

– “gâu gâu” (tiếng chó sủa).

– “grú” (tiếng chó hú).

– “grừ” (tiếng gầm gừ trầm của con thú hay quái vật).

– “gù gù” (tiếng chim bồ câu kêu khi con đực con cái gần nhau).

– “ha ha” (tiếng cười lớn).

– “hắt xì” (tiếng người hắt hơi).

– “hây a” (tiếng hô lớn khi ra đánh võ).

– “hi hi” (tiếng cười hoặc khó nhỏ, liên tiếp).

– “hí hí” (tiếng cười nhỏ, hơi cao, liên tiếp, tỏ vẻ thích thú).

– “hích hích” (tiếng khóc nhỏ hơi đứt đoạn).

– “hừ” (tiếng thốt ra bằng giọng mũi, biểu thị sự bực bội).

– “hự” (tiếng nặng, khan do dồn hơi từ ngực, như khi bị đánh đau).

– “inh ỏi” (tiếng vang to theo nhiều nhịp độ, âm hưởng gây chói tai).

– “ken két” (tiếng đanh và chói phát ra liên tục do 2 vật cứng chạm nhau, nghiến răng…).

– “két” (tiếng thắng xe).

– “khò khò” (tiếng ngáy đều đều).

– “lách cách” (tiếng đanh gọn mà không đều như tiếng so đũa, xếp bát đĩa).

– “lách tách” (tiếng nổ nhỏ gọn phát ra đều của củi được đốt lửa…).

– “lạch cạch” (tiếng guốc, tiếng gõ nhẹ).

– “lâm râm” (tiếng nhỏ nhẹ và kéo dài hay tiếng cầu kinh nhỏ đều không rõ lời).

– “lập cập” (lạnh run hay sợ run nên răng đập vào nhau).

– “lật phật” (tiếng tấm vải hay bạt bị gió thổi bật qua lại, lên xuống).

– “leng keng” (tiếng vang dòn nghe vui tai do 2 vật nhỏ bằng kim khí chạm nhau).

– “loạt roạt” (tiếng nhỏ sắc liên tiếp như tiếng súng lên đạn).

– “loạt soạt” (tiếng nhỏ liên tiếp như lá cọ vào nhau).

– “lọc bọc” (tiếng trầm đục như tiếng khua nước trong bình kín).

– “lọc cọc” (tiếng trầm lúc nhỏ lúc to như tiếng khua trên mặt đất cứng, mặt đá).

– “lốp bốp” (tiếng nổ giòn nối tiếp nhau không đều).

– “lốp cốp” (tiếng ngắn gọn, lúc mạnh lúc yếu nối tiếp nhau không đều).

– “lộp bộp” (tiếng trầm và nặng, không đều và thưa).

– “lộp cộp” (tiếng ngắn gọn nối tiếp nhau của vật cứng trên nền cứng).

– “lộp độp” (tiếng nhẹ, trầm và gọn của hạt mưa…).

– “lục bục” (tiếng nổ trầm nhỏ nối tiếp).

– “lục cục” (tiếng trầm nhỏ nối tiếp của vật cứng va chạm nhau như cuốc đất).

– “lục cục lạc cạc” (tiếng trầm nhỏ nối tiếp của vật cứng va chạm nhau).

– “lục xục” (tiếng lục lạo đồ đạc…).

– “meo meo” (tiếng kêu của mèo).

– “ngheo ngheo” (tiếng kêu của mèo).

– “ò ó o ò…” (tiếng gà trống gáy, thường bắt đầu từ 5 giờ sáng).

– “oa oa” (tiếng khóc to của trẻ em).

– “oái” (tiếng người kêu khi chợt bị đánh thật đau).

– “oành” (tiếng nổ lớn (gây kinh hoàng)).

– “oăng oẳng” (tiếng chó kêu to khi bi đánh đau).

– “oang oang” (tiếng to vang xa).

– “oe oe” (tiếng khóc của trẻ sơ sinh).

– “oe oé” (tiếng kêu to với giọng cao phát ra liên tiếp nghe chói tai).

– “ọt ẹt” (tiếng kêu do ma sát và chậm như cối xay).

– “ô” (tiếng kêu lên khi ngạc nhiên).

– “ồ ồ” (tiếng nước chảy nhiều và mạnh).

– “ôi ối” (tiếng người kêu to dồn dập từng hồi do bị đau).

– “ối” (tiếng người kêu khi chợt bị đá hay đánh làm đau đớn).

– “ồm ộp” (tiếng kêu của ễnh ương).

– “ông ổng” (tiếng to trầm từng chuỗi khó nghe).

– “phập” (tiếng răng cắn hay dao cắm vào một vật).

– “pặc pặc” (tiếng đánh, đấm liên tiếp vào một vật hay người).

– “păng păng” (tiếng súng nhỏ bắn liên tiếp như súng lục..).

– “quạ quạ” hay “quác quác” (tiếng quạ kêu).

– “quang quác” (tiếng gà hay chim lớn kêu to vang. liên tiếp).

– “rào rào” (tiếng động xem vào nhau liên tiếp và rộ đều khắp như mưa hay vỗ tay).

– “rắc” (tiếng vật cứng gẫy như cành cây gẫy).

– “rầm” (tiếng đụng xe; làm ồn; cãi nhau).

– “rần rần” (tiếng ồn ào vang động của đám đông).

– “rè” (tiếng pha nhiều tạp âm, rất khó nghe như loa rè).

– “rè rè” (tiếng pha nhiều tạp âm phát ra liên tục).

– “réc réc” (tiếng dế đá gáy).

– “reng reng” (tiếng chuông điện thoại hay chuông điện).

– “réo rắt” (tiếng cao, thanh với nhịp điệu lúc nhanh cúc chậm như tiếng sáo diều).

– “rẹt” (tiếng lướt đi nhanh như tiếng thanh kiếm chém, máy bay bay).

– “ríu rít” (tiếng nói cười nhỏ không rõ, trong trẻo, liền nhau hay tiếng của bầy chim).

– “róc rách” (tiếng nước chảy nhẹ, luồn lách).

– “roẹt” (tiếng xé giấy, vải hay tiếng quất roi).

– “rột” (tiếng xé giấy).

– “sè sè = xè xè” (tiếng đi tiểu hay máy chạy đều đều).

– “soẹt” (tiếng cắt nhanh).

– “tạch tạch” (tiếng đạn nhỏ bắn liên tục).

– “tí tách” (tiếng nhẹ và gọn liên tiếp của hạt nước).

– “tíc tắc” (tiếng đồng hồ quả lắc…).

– “tòm tõm” (tiếng vật nhỏ rơi liên tiếp xuống nước hay ếch nhái nhảy xuống nước)

– “tõm” (tiếng 1 vật nhỏ nặng rơi xuống nước hay ếch nhái nhảy xuống nước)

– “tùm tũm” (tiếng vật nhỏ rơi liên tiếp xuống nước hay như ếch nhái nhảy xuống ao)

– “tủm” (tiếng đánh rắm, tiếng Hán-Việt là trung tiện bên cạnh đại tiện và tiểu tiện)

– “tùng tùng” (tiếng đánh trống, như trống trường báo hiệu giờ vào lớp, tan lớp…)

– “ù ù” (tiếng mạnh, trầm và kéo dài, tiếng vang lùng bùng trong tai).

– “ùng ục” (tiếng trầm đục phát ra liên tiếp như nước sôi).

– “ư ư” (tiếng nhỏ và cao, kéo dài trong cổ không rõ lời như hát ư ư).

– “ư ử” (tiếng rên nhỏ trầm).

– “ực ực” (tiếng uống nước nhiều và nhanh).

– “vèo vèo” (tiếng vật bay nhanh ngang qua).

– “ve ve” (tiếng ve kêu ran đều vào mùa hè).

– “vi vu” (tiếng gió thổi, tiếng sáo diều).

– “vo ve” (tiếng côn trùng có cánh như muỗi hay ong bay).

– “vo vo” (tiếng côn trùng có cánh như muỗi hay ong bay).

– “vù vù” (tiếng gió thổi mạnh).

– “vùn vụt” (tiếng roi quất liên tục hay tiếng nhiều vật di động vượt qua nhanh).

– “vụt” (tiếng roi quất trong gió hay tiếng vật di động vượt qua nhanh).

– “xào xạo” (tiếng cọ xát của nhiều vật nhỏ cứng).

– “xèo xèo” (tiếng lửa đốt cháy nhanh hay cho thức ăn vào chảo dầu nóng).

– – – – –

Học Giả Đỗ Thông Minh

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 7/11/2017(UTC)
phamlang
#212 Posted : Tuesday, September 6, 2016 6:00:43 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Phép bỏ dấu hỏi - ngã trong Tiếng Việt


Trích: http://www.maxreading.co...ung-ve-thinh-29257.html

Tiếng Việt gồm hai loại, tuy liên hệ nhau nhưng vẫn giữ đặc tính riêng rẽ:

- Tiếng HÁN VIỆT là chữ Hán đọc theo giọng Việt.
- Tiếng NÔM là tiếng do người Việt-nam tạo nên với những tiếng mượn của nước ngoài nhưng đã Việt-hoá.

1 TIẾNG HÁN-VIỆT

Tiếng Hán-Việt là tiếng mượn của tiếng Hán nhưng đọc theo giọng của người Việt. Phần lớn tiếng Hán-Việt là những tiếng gồm hai tiếng trở lên. Ví dụ: quốc gia, kinh tế, quân sự, chánh trị, xã hội, ngoại giao, văn hoá, dân chủ, công ty, v.v. Trong tiếng Việt hiện nay, khoảng 60% là tiếng Hán-Việt. Chúng ta xử dụng khá nhiều tiếng Hán-Việt trong mọi giao tiếp và nói năng hằng ngày.

Ví dụ: "Hôm qua nghiệp đoàn công nhân tổ chức hội nghị thảo luận vấn đề gia tăng niên liễm". Chỉ có hai chữ thuần Việt là "hôm qua", còn các chữ khác đều là tiếng Hán-Việt.

Tiếng Hán-Việt có quy luật riêng về dấu Hỏi Ngã. Vì vậy, nếu xử dụng được Luật Hỏi Ngã trong tiếng Hán-Việt thì chúng ta đã giải quyết được hơn 60% công việc về dấu Hỏi Ngã.

Tiếng Hán-Việt có hai đặc tính:

1. Về Chánh tả: giữa âm và giọng có sự liên quan chặt chẽ.

- Các tiếng Hán-Việt khởi đầu bằng một Nguyên-âm, chỉ có thể có dấu Sắc, dấu Hỏi, hoặc Không dấu.

- Các tiếng Hán-Việt khởi đầu bằng các Phụ-âm: L, M, N, NG, NH, D, V, chỉ có thể có dấu Ngã hay Nặng.

2. Về vị trí của các tiếng dùng chung:

Tiếng Chỉ-định luôn luôn đứng trước tiếng được chỉ-định, gọi là Ngữ-pháp đặt ngược

Ví dụ:
Bạch tượng. Bạch chỉ định, làm cho rõ nghĩa tiếng tượng.
Ký sinh trùng. Ký chỉ định sinh, ký sinh chỉ định trùng.

CÁCH NHẬN BIẾT TIẾNG HÁN-VIỆT

1. Các tiếng Hán-Việt thường không tách ra dùng riêng một mình, mà phải dùng trọn từ.

Chẳng hạn chỉ có thể nói làm thương mãi chớ không thể nói làm thương, làm mãi, hoặc nói làm chánh trị chớ không thể nói làm chánh, làm trị v. v...

Vậy mỗi khi gặp một từ ghép, ta thử tách các tiếng cấu tạo từ ấy ra riêng rẽ, nếu chúng không dùng độc lập được, thì đó là một tiếng Hán-Việt.

2. Về nghĩa của một tiếng Hán-Việt.

Các tiếng hợp lại để làm thành một từ Hán-Việt đều có nghĩa, nhưng nghĩa của chúng rất mơ hồ đối với những người không có một trình độ Hán học nhất định. Ví dụ như nếu đem xét riêng biệt các chữ: dĩ, nhiên, hành, chánh, lãnh, tụ, thì chúng đều có nghĩa cả, nhưng hỏi nghĩa thế nào thì không dễ trả lời.

Cho nên khi gặp một từ ghép, nếu cả hai tiếng đều mơ hồ về nghĩa ví dụ như: cảnh giác, mãnh liệt, dũng cảm, thì đó là từ Hán-Việt.

Còn các Tiếng-Nôm-đôi và Tiếng-Nôm-Lấp-láy thì đều có khả năng dùng riêng ra từng chữ và nghĩa của chữ dùng riêng đều rõ và dễ nhận biết. Ví dụ: xe lửa, máy bay, tàu ngầm, xe đạp.

Do đó, dựa vào cách phân biệt như trên, chúng ta dễ dàng biết được tiếng nào là tiếng Hán-Việt và tiếng nào là Tiếng Nôm.

a) Tóm lại: Tất cả tiếng HÁN-VIỆT khởi đầu bằng các nguyên-âm: A, Â, Y, O, Ô, U, Ư, đều viết DẤU HỎI vì các nguyên-âm của Tiếng Hán-Việt thuộc Thanh-âm (Bổng).

Ví dụ: Ải quan, Ảnh hưởng, Ẩm thực, Ẩn dật, Ỷ lại, Oải nhân, Ổn thỏa, Ủy hội, Ưởng.

Phụ chú: Sách của G.s. Lê-ngọc-Trụ có ghi Ê và I vào nhóm nguyên âm nầy. Nhưng vì chữ HÁN-VIỆT không có chữ nào khởi đầu bằng Ể, Ễ hoặc Ỉ, Ĩ nên tôi không ghi hai nguyên âm nầy vào, cho người học đỡ mệt trí [Đ-s-T].

b) Tất cả tiếng HÁN VIỆT khởi đầu bằng phụ âm CH, GI, KH, PH, TH, S, X, đều viết DẤU HỎI vì các phụ-âm nầy cũng thuộc Thanh-âm (Bổng).

Ví dụ:
- CHẩn đoán, CHỉ huy, CHỉnh tề, CHiểu chi, CHủ tọa, CHưởng quản.
- GIải phẫu, GIảm thiểu, GIản tiện, GIảng đường, GIảo quyệt, học GIả.
- KHả dĩ, KHải hoàn, KHảo thí, KHẩu hiệu, KHổng giáo, KHủng hoảng
- PHản bội, PHẩm cách, PHỉ báng, PHổ thông, PHủ nhận. (trừ PHẫn nộ)
- THải hồi, THảm thương, THản nhiên, THảo mộc, (trừ Mâu THuẫn, Phù THũng)
- Sản khoa, Sảnh đường, Sỉ nhục, Siểm nịnh, Sở dĩ, Sủng hạnh, (trừ Sĩ = học trò)
- Xả thân, Xảo trá, công Xưởng, (trừ Xã hội, Xã trưởng, Hợp tác Xã)

Để khỏi bỏ sai dấu, xin độc giả đừng lẫn lộn tiếng Hán Việt với những tiếng Nôm sau đây:

CHĨNH=hủ bằng đất; GIÃ (giã gạo, từ giã); GIÃI (giãi bày); GIÃN (co giãn, giãn ra= tăng độ dài: dây cao su bị giãn); PHŨ (phũ phàng); THÃI (thừa thãi); SŨNG (ướt sũng)

c) Tất cả tiếng HÁN VIỆT khởi đầu bằng Bảy phụ âm L, M, N, NG, NH, D, V, đều thuộc Trọc-âm, cho nên viết DẤU NGÃ (trừ một ngoại lệ duy nhất là Ngải cứu).

Ví dụ:
- Lãng mạn, Lãnh đạm, Lão ấu, Lẫm liệt, Lễ nghĩa, Lũng đoạn, thành Lũy, Lãng phí.
- Mã não, Mãi mại, Mãn nguyện, Mỹ Mãn, Mãnh hổ, Mẫn tiệp, Mẫu nghi, Mỹ nữ.
- Não tủy, Noãn sào, Nỗ lực, phụ Nữ.
- NGẫu nhiên, NGũ cốc, đội NGũ, ngôn NGữ.
- NGHĩa khí, NGHiễm nhiên, NGHĩa trang.
- NHã ý, NHãn khoa, NHẫn nại, NHĩ mục, NHiễm bệnh, NHũ mẫu, NHãn hiệu.
- Dẫn lực, Dĩ nhiên, Diễm lệ, Diễn đàn, Dũng cảm, Dưỡng dục, Dĩ vãng, Dã man.
- Vãn bối, Vãng lai, Vĩ đại, Viễn thị, Vĩnh viễn, Võ trang, Vũ trụ, Vĩ tuyến.

Xin đừng lộn tiếng Hán-Việt với những tiếng Nôm sau đây:

- LẢ (lả lơi, ẻo lả); LẢNG (lảng vảng); LẢNH (lảnh lót); LẢO (lảo đảo) LẨM (lẩm rẩm); LỂ (lể ốc, lể gai); LIỂM (cờ bạc đặt tiền ở giữa hai ô, ra ô nào mình cũng trúng); LƯỞNG (lưởng thưởng);
- MẢ (mồ mả); MẢI (mải miết); MẢNH (mảnh mai); MẨN (mê mẩn); MẨU (mẩu chuyện);
- NẢO (viết thử trước); NỔ (nổ bùng);
- NGẢ (ngả quỵ); NGỦ (đi ngủ);
- NHẢ (nhả mồi, nhả tơ) NHẢN (nhan nhản); NHỈ (vui nhỉ!); NHỦ (khuyên nhủ);
- DẨN (dớ dẩn) DỈ (dỉ hơi);
- VẢNG (lảng vảng); VỈ (vỉ lò, vỉ bánh); VIỂN (viển vông) VỎ (vỏ ốc, vỏ sò).

d) Mấy phụ-âm khởi-đầu khác, gồm có B, C, Đ, H, K, QU, và T, vì đều có ở cả hai bậc Thanh và Trọc, khó phân biệt, nên phải tra tự điển; nhưng cũng theo luật "Thanh viết dấu HỎI, Trọc viết dấu NGÃ".

Vì tiếng giọng Ngã ít hơn tiếng giọng Hỏi nên chúng tôi biên ra dưới đây các tiếng Hán-Việt giọng Ngã của mấy phụ-âm khởi đầu vừa nói trên, để giúp bạn đọc:


Bãi : thôi, nghỉ (bãi công, bãi khóa, bãi thị)
Bão : ẵm bồng (hoài bão, bão hòa, bão mãn)
Bĩ : xấu (bĩ cực thái lai, bĩ vận)
Cưỡng : gắng ép (cưỡng bách, cưỡng chế)
Cữu : cậu vua (quốc cữu), hòm (linh cữu)
Đãi : thết, xử với (đãi bôi, bạc đãi, biệt đãi, khoản đãi, trọng đãi, ưu đãi, đãi lịnh)
Đãng : rộng, phóng túng (đãng tử, du đãng)
Đễ : kính nhường (hiếu đễ)
Điễn : điện (điễn khí, điễn học, điễn lực)
Đỗ : họ Đỗ, chim đỗ quyên, cây đỗ trọng
Hãi : kinh sợ (kinh hãi, hãi hùng, sợ hãi)
Hãm : xông phá (hãm địch, hãm trận)
Hãn : mồ hôi (xuất hãn, phát hãn, liễm hãn)
Hãnh : may mắn (hãnh diện, kiêu hãnh)
Hoãn : chậm (trì hoãn, hoãn đãi, hoãn binh)
Hỗ : lẫn nhau (hỗ trợ, hỗ tương)
Hỗn : lộn xộn (hỗn chiến, hỗn loạn, hỗn hợp)
Huyễn : hoa mắt (huyễn hoặc, huyễn mục)
Hữu : có (hữu cơ, hữu hạn, hữu dụng, hữu lý)
Kỹ : tài năng (kỹ sư, kỹ thuật, kỹ nghệ, kỹ xảo)
Quẫn : khốn đốn (quẫn bách, cùng quẫn)
Quỹ : tủ cất tiền (thủ quỹ, công quỹ, ký quỹ)
Tễ : thuốc huờn (dược tễ, điều tễ, thuốc tễ)
Tiễn : đưa (tiễn biệt, tiễn hành, tiễn khách)
Tiễu : dẹp trừ (tiễu trừ, tuần tiễu, tiễu phỉ)
Tĩnh : im lặng (tĩnh dưỡng, tĩnh mịch)
Tuẫn : liều chết (tuẫn tiết, tuẫn nạn)
Trãi : Nguyễn-Trãi
Trẫm : tiếng vua tự xưng
Trĩ : trẻ (ấu trĩ), bịnh trĩ (trĩ nội, trĩ ngoại)
Trữ : chứa (lưu trữ, oa trữ, tàng trữ, tích trữ)

CÁCH NHỚ LUẬT HỎI NGÃ CHO TIẾNG HÁN-VIỆT

Xem vậy Luật viết dấu Hỏi Ngã cho tiếng Hán-Việt khá phức tạp. Tuy nhiên ta có thể dùng mẹo để nhớ một cách dễ dàng.

a) Chỉ cần nhớ những trường hợp viết dấu Ngã trong tiếng Hán-Việt, tức là nhớ BẢY phụ âm đầu viết dấu Ngã và khoảng 30 trường hợp ngoại lệ phải viết dấu Ngã.

Các trường hợp viết dấu hỏi không cần nhớ vì các tiếng Hán-Việt có âm đầu khác hơn Bảy phụ âm nói trên đều viết dấu hỏi.

b) Để nhớ Bảy Phụ-âm-đầu viết dấu Ngã, các bạn học thuộc lòng câu sau đây:

Mình Nên NHớ Vũ Là Dấu NGã
(M N Nh V L D Ng)

Như vậy là bạn đã nắm được luật viết dấu Hỏi Ngã của tiếng Hán-Việt. Còn các ngoại lệ thì xin chịu khó học thuộc lòng.

2 TIẾNG NÔM

Tất cả những tiếng không phải là tiếng Hán-Việt, được gọi chung là Tiếng Nôm.

PHÂN BIỆT TIẾNG NÔM VÀ TIẾNG HÁN-VIỆT

1. Về ý nghĩa. Tiếng Nôm là những tiếng nói sao hiểu vậy. Trái lại tiếng Hán-Việt thường có thể dịch ra bằng một tiếng thông thường hơn (tiếng thông thường đó gọi là tiếng Nôm).

Ví dụ:

- tiếng Nôm: tập vở, tờ giấy (nói sao hiểu vậy)
- tiếng Hán-Việt: bệnh viện (nhà thương), phi cơ (máy bay)

Tuy nhiên cũng có một số tiếng Hán-Việt không thể dịch ra bằng một tiếng thông thường hơn. Ví dụ: kết quả, hạnh phúc, thành công v.v...

Ngoài ra, nhiều tiếng Hán-Việt, nhất là những tiếng đơn được dùng làm tiếng Nôm (gọi là Tiếng Nôm gốc Hán Việt) vẫn giữ nguyên giọng đọc cũ. Ví dụ: danh, pháp, hải, lao, lãnh v. v...

2. Nhờ quan sát Ngữ Pháp ta sẽ phân biệt tiếng Hán-Việt và tiếng Nôm rất dễ dàng.

Ví dụ:

- LẠC CẢNH: lạc (hình dung từ) làm rõ nghĩa tiếng cảnh (danh từ). Hình dung từ đứng trước danh từ, tức là thuộc Ngữ-pháp đặt ngược. Vậy LẠC là tiếng Hán-Việt.

- TIỂU QUỐC: tiểu (hình dung từ) làm rõ nghĩa tiếng quốc (danh từ). Hình dung từ đứng trước danh từ, thuộc Ngữ-pháp đặt ngược. Vậy TIỂU là tiếng Hán-Việt.

- GẠCH TIỂU: tiểu làm rõ nghĩa tiếng gạch. Hình dung từ tiểu đứng sau danh từ gạch, tức thuộc Ngữ-pháp đặt xuôi.

Vậy tiểu nầy là TIẾNG NÔM GỐC HÁN VIỆT.

3. Trong TIẾNG ĐÔI thì:

- tiếng Nôm liên kết với tiếng Nôm.
- tiếng Hán-Việt liên kết với tiếng Hán-Việt.

Ví dụ:

- LỖI LẦM: khi ta biết lỗi là tiếng Nôm, thì ta có thể quả quyết lầm cũng là tiếng Nôm.
- TƯƠI TỐT: biết chắc tốt là tiếng Nôm, ta có thể quả quyết rằng tươi cũng là tiếng Nôm.
- HỌA SĨ: biết chắc sĩ là tiếng Hán-Việt, ta có thể quả quyết rằng họa là tiếng Hán-Việt.
- LUẬT SƯ: khi biết sư là tiếng Hán-Việt thì ta có thể quả quyết luật cũng là tiếng Hán-Việt.

Cũng có một số tiếng-đôi hợp thành bởi một tiếng Nôm và một tiếng Hán-Việt. Tuy nhiên đó là trường hợp đặc biệt của những tiếng Hán-Việt đã được dùng đơn độc làm tiếng Nôm. Chỉ có những tiếng Hán-Việt ấy mới có thể liên kết với tiếng Nôm để tạo thành tiếng-ghép. Ví dụ:

- máu huyết: huyết là tiếng Hán-Việt có nghĩa "máu". Tiếng huyết cũng được dùng đơn độc làm tiếng Nôm, như: cháo huyết, huyết heo.

- lý lẽ: lý là tiếng Hán-Việt có nghĩa "lẽ", nhưng cũng được dùng đơn độc làm tiếng Nôm, như: lời nói có lý, không có lý nào.

- ưa thích: thích là tiếng Hán-Việt được dùng đơn độc làm tiếng Nôm.

TIẾNG NÔM GỐC HÁN-VIỆT

Dấu giọng của những Tiếng-Nôm Chuyển gốc từ tiếng Hán-Việt, phải theo dấu giọng của tiếng gốc, nghĩa là:

a) khi tiếng HÁN GỐC là một tiếng Không dấu hoặc dấu Sắc hoặc dấu Hỏi, thì Tiếng Nôm có Gốc Hán-Việt viết dấu Hỏi. (KHÔNG, SẮC, HỎI = HỎI)

hô > thở; tu > sửa; giá > gả (con); giả > kẻ

b) khi tiếng HÁN GỐC là tiếng dấu Huyền hoặc dấu Nặng hoặc dấu Ngã thì Tiếng-Nôm có Gốc Hán-Việt viết dấu Ngã. (HUYỀN, NẶNG, NGÃ = NGÃ)

hàng > hãng (buôn); kỵ > cỡi; dĩ > đã

TRỪ ngoại lệ:

lý > lẽ; miếu > miễu; nỗ > (cung) nỏ; ngưỡng > ngẩng (ngửng, ngửa), nhĩ > nhử (mồi); dụ > rủ (rê)...

TIẾNG NÔM KHÔNG GỐC HÁN VIỆT

Những Tiếng-nôm không chuyển gốc từ tiếng Hán-Việt thì gọi là TIẾNG-NÔM-LÕI. Có hai loại Nôm-Lõi: Tiếng-Đơn và Tiếng-Đôi.

A. TIẾNG NÔM ĐƠN

Những Tiếng Nôm Đơn, trại ra từ một tiếng khác (không phải là tiếng HÁN), đều tùy tiếng chánh mà viết Hỏi hay Ngã theo luật:

KHÔNG, SẮC, HỎI = HỎI
HUYỀN, NẶNG, NGÃ = NGÃ

Không dấu chuyển ra Hỏi và ngược lại như:

cản/can; chăng/chẳng; chửa/chưa; không/khổng quẳng/quăng; nhủi/chui;

Sắc chuyển ra Hỏi và ngược lại

búa/bửa; thế/thể; hả/há; lén/lẻn; rải/rưới;

Hỏi chuyển ra Hỏi

bảo/biểu; cổi/cởi; tỏa/tủa; xẻ/chẻ; nhỉ/rỉ;
tủi lòng/mủi lòng; rủ/xủ; quên lảng/quên lửng;

Huyền chuyển ra Ngã và ngược lại như:

cùng/cũng; dầu/dẫu; đã/đà; cỗi/còi; lãi/lời; bõ/bù; giũa/giồi; mõm/mồm; ngỡ/ngờ;

Nặng chuyển ra Ngã và ngược lại như:

cội/cỗi; đậu/đỗ; chõi/chọi; giẵm/giậm; trĩu/trịu; chậm/chẫm (chẫm rãi);

Ngã chuyển ra Ngã:

đĩa/dĩa; hẵng/hãy; khẽ/sẽ; nỗi/đỗi; ngẫm/gẫm; dõi/rõi; giễu/riễu; ruỗng/rỗng

TRỪ ngoại lệ:

gõ/khỏ; hõm/(sâu) hóm; kẻ/gã; rải/vãi; mặn/mẳn; (thuộc) lảu/làu; (mệt) lử/(đói) luỗi; phồng/phổng; ngõ/ngả; quãng/khoảng; rõ/tỏ; trội/trổi; lõm/lóm.

B. TIẾNG NÔM ĐÔI

Bởi tánh cách ĐỘC VẬN (mono-syllabic) ngắn ngủn, nên tiếng Việt thường hợp thành Tiếng-Đôi để cho dịu giọng.

TIẾNG NÔM ĐÔI khác hơn TIẾNG GHÉP (là tiếng HÁN-VIỆT do hai hoặc ba tiếng có nghĩa riêng ghép lại để chỉ một ý niệm mới).

TIẾNG NÔM ĐÔI là Tiếng-nôm do hai hoặc nhiều tiếng hiệp lại để cho rõ ý, hoặc dịu giọng.

* Có loại Tiếng Nôm Đôi do Hai tiếng đều có nghĩa hợp lại mà thành.

* Có loại Tiếng Nôm Đôi khác, gọi là Tiếng Đôi LẤP-LÁY, do một tiếng có nghĩa hợp với một tiếng không nghĩa; hoặc do hai tiếng không nghĩa hợp lại nhưng giọng nghe hài hoà, thuận tai, dễ đọc.

Tiếng Nôm Đôi mà CẢ HAI TIẾNG ĐỀU CÓ NGHĨA THÌ KHÔNG THEO LUẬT TRẦM BỔNG mà mỗi tiếng giữ chánh tả riêng của nó về Âm về Vần (Vận) cũng như về Giọng (Thinh).

Ví dụ: mồ mả; cú rũ; rỗi rảnh; bàn ghế; bồng ẵm; cổi gỡ; chống chõi; đầy đủ; lỡ dở; mỏi mệt; ủ rũ; sàng sảy; sâu xa; trồng tỉa; siêng năng; tìm kiếm; kiêng cữ; tỏ rõ; lú lẫn...

Tiếng Nôm Đôi còn chia thành hai loại: Tiếng Nôm Đôi Liên Hiệp và Tiếng Nôm Đôi Độc lập.

Tiếng Nôm Đôi Độc Lập là tiếng đôi mà hai tiếng đều có nghĩa và bình đẳng: thôn xóm, tốt tươi.
Tiếng Nôm Đôi Liên Hiệp là tiếng đôi mà nghĩa của hai tiếng phụ thuộc lẫn nhau để làm cho rõ thêm nghĩa: cà chua, máy cày, xe đạp.

C. TIẾNG NÔM ĐÔI LẤP LÁY

Tiếng Nôm Đôi Lấp Láy là những Tiếng-đôi gồm hai tiếng có liên hệ với nhau về âm thanh mà trong đó phải có ít nhất là một tiếng không có nghĩa.

Ví dụ: đẹp đẽ, mới mẻ, lạnh lùng, vội vàng, v. v... những tiếng đẽ, mẻ, lùng, vàng, đều không có nghĩa. Sự phân biệt tiếng có nghĩa và tiếng không có nghĩa giúp ta nhận ra Tiếng-đôi Lấp-láy dễ dàng.

1. Các mối liên hệ về âm trong Tiếng Đôi Lấp Láy:

a) Liên hệ ở phụ âm đầu. Có những Tiếng Đôi chỉ láy lại phụ-âm đầu: (m-m) mát mẻ, (đ-đ) đồn đãi, (l-l) lểnh lảng, (n-n) nói năng.

b) Liên hệ về vần. Có những Tiếng Đôi chỉ có phần vần được láy lại: lai rai, lải nhải, lạng chạng, lằm bằm, lẫm đẫm, lễ mễ, lơ thơ.

c) Liên hệ cả phụ-âm đầu lẫn vần. Có những Tiếng Đôi láy lại cả phụ-âm đầu lẫn vần như: cào cào, ba ba, bươm bướm, rầm rầm, châu chấu, khinh khỉnh.

Do đó, khi nói về Tiếng Đôi Lấp Láy ta cần chú ý đến sự liên hệ của phụ-âm đầu và vần.

2. Liên hệ về giọng điệu.

a) Cùng một giọng điệu với nhau.

lui cui, lung tung (không dấu)
chí chóe, chíu chít (dấu sắc)
lỏng chỏng, thỉnh thoảng (dấu hỏi)
lễ mễ, dễ dãi (dấu ngã)

b) Cùng một nhóm giọng với nhau.

Tiếng Việt được chia thành hai nhóm giọng:

Nhóm giọng cao gọi là giọng Bổng
Nhóm giọng thấp gọi là giọng Trầm.

Nhóm cao (Bổng), gồm có các giọng: Ngang (còn gọi là Không), Sắc, và Hỏi.

Nhóm thấp (Trầm), gồm có các giọng: Huyền, Nặng, và Ngã.

Trong Tiếng Đôi Lấp Láy, giọng của hai tiếng bao giờ cũng thuộc cùng một nhóm. Nếu một tiếng của Tiếng Đôi Lấp Láy có giọng cao thì giọng của tiếng kia cũng thuộc nhóm giọng cao.

Ví dụ: vui vẻ, mới mẻ, lửng lơ, nho nhỏ...

Ngược lại nếu một tiếng của Tiếng Đôi Lấp Láy có giọng thấp thì tiếng kia cũng có giọng thấp, ví dụ: mạnh mẽ, đẹp đẽ, ngại ngùng, lạnh lùng...

Qui luật về giọng-điệu giữa các tiếng trong Tiếng Đôi Lấp Láy gọi là Qui luật Thuận-thinh-âm (cũng còn gọi là Luật Trầm Bổng).

Tóm lại, TIẾNG ĐÔI LẤP LÁY bỏ dấu theo luật Trầm Bổng:

KHÔNG, SẮC, HỎI đi với HỎI
HUYỀN, NẶNG, NGÃ đi với NGÃ

Tiếng đầu Không dấu hoặc dấu Sắc hoặc dấu Hỏi thì tiếng sau phải bỏ dấu HỎI.

Tiếng đầu dấu Huyền hoặc dấu Nặng hoặc dấu Ngã thì tiếng sau phải bỏ dấu NGÃ.

Thí dụ:

BỔNG

Không dấu đi chung với HỎI và ngược lại: nghỉ ngơi, bảnh bao, lẻ loi, hăm hở, thong thả, sởn sơ, viển vông, run rẩy, vẻ vang, vui vẻ.

Sắc đi chung với HỎI và ngược lại: mải miết, nhắc nhở, thẳng thớm, dí dỏm, bóng bảy, chải chuốt, khỏe khoắn, nhảm nhí, mắt mỏ.

Hỏi đi chung với HỎI: hể hả, lỏng lẻo, nhỏng nhẻo, thỏ thẻ, bải hoải, mỏng mảnh, thỉnh thoảng, tỉ mỉ, xửng vửng.

TRẦM:

Huyền đi chung với NGÃ và ngược lại: vỗ về, rầu rĩ, tầm tã, não nề, đãi đằng, nòng nã, sẵn sàng, kỹ càng, chẵn chòi, lời lãi...

Nặng đi chung với NGÃ và ngược lại: gỡ gạc, vội vã, dữ dội, cặn kẽ, não nuột, lạt lẽo, cãi cọ, lũ lượt, đẹp đẽ, chập chững, gãy gọn...

Ngã đi chung với NGÃ: dễ dãi, lỗ lã, cãi lẫy, mãi mãi, kỹ lưỡng,...

Như vậy, theo luật nầy thì khi gặp Tiếng Đôi Lấp Láy như: bẽ bàng, rõ ràng, vững vàng, chúng ta yên tâm viết bẽ, rõ, vững với dấu ngã vì các chữ bàng, ràng, vàng, đã có dấu huyền.

Đối với Tiếng Đôi Lấp Láy như cãi cọ, chập chững, dọ dẫm, đẹp đẽ, chúng ta viết cãi, chững, dẫm, đẽ, với dấu ngã vì các chữ cọ, chập, dọ, đẹp, là những chữ đã viết dấu nặng.

Đối với Tiếng Đôi Lấp Láy như lỗ lã, dễ dãi vì ta đã biết dễ và lỗ viết dấu ngã (do suy biết từ lỗ lời, dễ dàng) thì theo luật nầy ta biết chắc lã và dễ phải viết dấu ngã.

Khi một chữ của Tiếng Đôi Lấp Láy viết dấu sắc, không dấu, hoặc dấu hỏi, thì chữ kia phải viết dấu hỏi chớ không thể viết dấu ngã.

Ví dụ:

- cứng cỏi, trống trải, trắng trẻo vì đã có các chữ cứng, trống, trắng viết dấu sắc nên các chữ cỏi, trải, trẻo phải viết dấu hỏi.

- trong trẻo, bươn chải, trả treo vì các chữ trong, bươn, treo viết không dấu nên các chữ trẻo, chải, trả phải viết dấu hỏi.

- các Tiếng Đôi Lấp Láy như lẩm bẩm, lủng củng, bỏm bẻm cũng vậy, vì các chữ lẩm, lủng, bỏm, mang dấu hỏi, thì chữ đứng sau phải viết dấu hỏi.

CÁCH NHẬN RA TIẾNG ĐÔI LẤP LÁY

Khi hai tiếng của một từ mà hai phụ âm đầu của hai tiếng ấy giống nhau, hoặc cả âm đầu lẫn vần đều giống nhau (cùng giọng Bổng cả, hoặc cùng giọng Trầm cả), thì đó là Tiếng Đôi Lấp Láy.

DỰA VÀO NGHĨA: Một Tiếng Đôi mà cả hai tiếng đều có nghĩa, thì Tiếng Đôi đó KHÔNG PHẢI là Tiếng Đôi Lấp Láy.

ĐẢO NGƯỢC TRẬT TỰ: Khi đảo ngược trật tự của một tiếng-đôi mà tiếng-đôi đó vẫn còn y nghĩa như khi chưa bị đảo trật tự, thì tiếng đó là tiếng ghép chớ KHÔNG PHẢI là Tiếng Đôi Lấp Láy.

Ví dụ: giữ gìn, lả lơi, lơ lửng, hờ hững, là tiếng ghép chớ không phải là Tiếng Đôi Lấp Láy, vì khi đảo ngược, nó vẫn giữ nghĩa như trước. (gìn giữ, lơi lả, lửng lơ, hững hờ).

TIẾNG ĐÔI BỎ BỚT MỘT DẤU GIỌNG: Có nhiều Tiếng-Đôi vì muốn cho êm tai nên

1) phải bỏ bớt một dấu giọng. Mấy tiếng mất dấu giọng đó là tiếng chánh lập lại, chớ không phải tiếng đệm, nên những tiếng đôi đó không bỏ dấu theo luật Trầm Bổng. Thí dụ: khe khẽ, là khẽ khẽ; dê dễ là dễ dễ; đăng đẵng là đằng đẵng.

2) Có nhiều Tiếng-Đôi bị đổi giọng, như hẳn hoi trở thành hẳn hòi; kỹ càng trở thành kỹ cang.

Ngoài ra, NHỮNG TIẾNG NÓI TẮT do ghép với tiếng ẤY, đều viết dấu Hỏi. (Nói Tắt là nói thúc hai chữ thành một, theo lối giản ước). Ví dụ như:

anh + ấy = ảnh; bà + ấy = bả; cậu + ấy = cẩu; chị + ấy = chỉ; hôm + ấy = hổm; mợ + ấy = mở; năm + ấy = nẳm; thằng cha + ấy = thằng chả; con mẹ ấy = con mẻ

NHỮNG NGOẠI LỆ CỦA TIẾNG-ĐÔI (Không còn theo luật Trầm Bổng)

bền bỉ, chàng hảng, chèo bẻo, dòm dỏ, ẻo ẹo, giãy nảy, hoài hủy, hẳn hòi, ĩnh ương, khe khẽ, lảng xẹt, lý lẽ, luồn lỏi, lẳng lặng, mình mẩy, se sẽ, mủ mĩ, niềm nở, ngoan ngoãn, nhểu nhão, phỉnh phờ, rẻ rề, rỗng tuếch, sành sỏi, sừng sỏ, sửng sờ, thỏng thừa, thung lũng, trễ nải, trọi lỏi, trơ trẽn, ve vãn, vỏn vẹn, xảnh xẹ.

MUỐN BIẾT PHẢI BỎ DẤU GÌ?

1) Cách lẹ nhất là thử tìm một Tiếng Đôi khác, có cái chữ mình đang phân vân về dấu hỏi hay ngã.

Ví dụ chữ dễ dãi: Chỉ cần biết được một trong hai chữ dễ hoặc dãi mang dấu gì thì biết được luôn cả dấu của chữ kia. Thử chọn chữ dễ trước. Với chữ dễ ta có Tiếng đôi Lấp-láy dễ dàng. Với dễ dàng ta biết chữ dễ phải viết dấu ngã vì chữ dàng có dấu huyền. Khi đã biết chữ dễ viết dấu ngã thì ta xác định được là chữ dãi phải viết dấu ngã do luật "HUYỀN, NẶNG, NGÃ = NGÃ"

Đối với các chữ mang dấu Hỏi cũng làm như vậy.

2) Khi không tìm ra một Tiếng-đôi Lấp-láy trong đó có chữ mà ta cần biết là mang dấu gì thì ta nên thử đưa nó vào loại chữ-láy bốn tiếng.

Ví dụ chữ đủng đỉnh: Ta có đủng đa đủng đỉnh, về lủng lẳng ta có lủng la lủng lẳng. Khi ta thấy đủng đa, lủng la, thì ta có thể khẳng định đủng và lủng phải viết dấu hỏi theo luật "KHÔNG, SẮC, HỎI = HỎI". Khi đã biết đủng và lủng phải viết dấu hỏi rồi thì ta biết được đỉnh và lẳng củng phải viết dấu hỏi theo luật Trầm Bổng "KHÔNG, SẮC, HỎI = HỎI".

3) Đối với Tiếng-Nôm-đơn, và Chữ-ghép.

Khi gặp tiếng Nôm-đơn hoặc một tiếng trong các Chữ-ghép mà ta phân vân về dấu hỏi ngã, thì ta tìm một Tiếng-đôi Lấp-láy có tiếng đó, rồi áp dụng luật đễ tìm dấu hỏi hay ngã.

Ví dụ 1: ta gặp các chữ: nghỉ, nghĩ, dở, dễ, khoẻ... Ta tìm xem các chữ nầy viết hỏi hay ngã. Ta xem tiếng Lấp-láy phải viết dấu gì?

nghỉ: nghỉ ngơi --> dấu hỏi
nghĩ: nghĩ ngợi --> dấu ngã
dở: dở dang --> dấu hỏi
dễ: dễ dàng --> dấu ngã
khoẻ: khoẻ khoắn --> dấu hỏi

Ví dụ 2: như gặp chữ sửa chữa, không biết chữ nào viết hỏi, chữ nào viết ngã, thì ta tách chữ đó ra để mà tìm.

Ta sẽ có Tiếng-đôi sửa sang. Khi đã có sửa sang thì ta yên tâm viết sửa với dấu hỏi vì "KHÔNG, SẮC, HỎI = HỎI".

Đến chữ chữa thì ta biết chữa là Tiếng-nôm có Gốc-Hán-việt là chữ Trị, vậy phải viết dấu ngã, vì "HUYỀN, NẶNG, NGÃ = NGÃ".

Ví dụ 3: gặp chữ ủ rũ, không biết chữ nào viết hỏi, chữ nào viết ngã, thì ta cũng tách chữ đó ra, rồi tìm cách đưa thành một Tiếng-đôi Lấp-láy.

Ta sẽ có ủ ê. Khi đã có ủ ê thì ta yên tâm viết ủ với dấu hỏi, vì ê là chữ không dấu, theo luật "KHÔNG, SẮC, HỎI = HỎI"

Đến chữ rũ thì ta có Tiếng-đôi Lấp-láy rũ rượi nên ta biết là rũ phải viết dấu ngã vì rượi là chữ có dấu nặng, theo luật "HUYỀN, NẶNG, NGÃ = NGÃ"

CHÚ Ý: Khi tạo Tiếng-đôi Lấp-láy để dựa vào đó mà xác định dấu hỏi ngã, ta cần chọn Tiếng-đôi Lấp-láy sao cho nghĩa của Tiếng-đôi đó, khi tách ra một mình, phải cùng nghĩa với chữ mình đang muốn tìm dấu.

Thí dụ: dễ (dễ làm) và dễ trong Tiếng-đôi Lấp-láy dễ dàng, dễ ợt, cùng có nghĩa giống nhau.

Nếu tìm được một Tiếng-đôi Lấp-láy hay không Lấp-láy nhưng chữ trong tiếng đó lại khác nghĩa với nghĩa của chữ mình đang tìm dấu thì không thể dùng được. Chẳng hạn như rũ trong ủ rũ mà ta lại dùng chữ rủ của rủ rê, rủ ren thì không cùng nghĩa cho nên ta sẽ viết sai dấu ngay.

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 7/11/2017(UTC)
phamlang
#213 Posted : Saturday, October 15, 2016 1:36:34 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Nụ Cười Gia Đình: Tên Bánh Việt Nam



Theo nghệ sĩ Kyo York các loại bánh Việt Nam đều có "logic":

Lúc yêu nhau thì muốn ăn bánh Hỏi
Lúc lấy nhau thì có bánh Phu Thê (người Bắc phát âm là Xu Xê)
Khi về với nhau có bánh Khoái
Lúc nghi ngờ thì có bánh Canh
Cãi nhau hoài chán có bánh Đập
Sau đó là ăn bánh Tét
Đánh cho đã thì có bánh Phồng
Công an xuất hiện thì có bánh Còng
Cuối đời thì là bánh Tiêu.



sưu tầm
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 7/11/2017(UTC)
phamlang
#214 Posted : Saturday, March 4, 2017 12:52:10 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)

TIẾNG VIỆT: Tiếng Việt Dễ Mà Khó

Nguyễn Hưng Quốc



Tiếng Việt vừa dễ vừa khó, đúng hơn, dễ mà lại khó. Dễ đến độ rất hiếm người Việt Nam nào cảm thấy có nhu cầu phải sắm một cuốn Từ Điển Tiếng Việt trong nhà. Dễ đến độ bất cứ người nào trưởng thành ở Việt Nam cũng đều có thể tưởng là mình thông thái, và nếu muốn, đều có thể trở thànhà nhà văn được. Thế nhưng, chỉ cần, một lúc thảnh thơi nào đó, ngẫm nghĩ một chút về tiếng Việt, chúng ta bỗng thấy hình như không phải cái gì chúng ta cũng hiểu và có thể giải thích được.

Trước đây, có lần, đọc cuốn Trong Cõi của Trần Quốc Vượng, một nhà nghiên cứu sử học, khảo cổ học và văn hoá dân gian nổi tiếng ở trong nước, tới đoạn ông bàn về hai chữ "làm thinh", tôi ngỡ đã tìm thấy một phát hiện quan trọng. Theo Trần Quốc Vượng, "thinh" là thanh, âm thanh, hay là tiếng ồn. "Nín thinh" là kiềm giữ tiếng động lại, là im lặng. Thế nhưng "làm thinh" lại không có nghĩa là gây nên tiếng động mà lại có nghĩa là... im lặng. Cũng giống như chữ "nín thinh". Trần Quốc Vượng xem đó như là một trong những biểu hiện của Phật tính trong ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam: "nín" và "làm" y như nhau; có và không y như nhau; ấm và lạnh cũng y như nhau (áo ấm và áo lạnh là một!); "đánh bại" và "đánh thắng" y như nhau. Quả là một thứ tiếng "sắc sắc không không", nói theo ngôn ngữ Phật giáo, hay "huyền đồng", nói theo ngôn ngữ của Trang Tử. (1)

Thú thực, đọc những đoạn phân tích như thế, tôi cảm thấy mừng rỡ và thích thú vô hạn.

Thế nhưng, chẳng bao lâu sau, đọc bài viết "Tìm nguồn gốc một số từ ngữ tiếng Việt qua các hiện tượng biến đổi ngữ âm" của Lê Trung Hoa, tôi lại bàng hoàng khám phá ra là chữ "làm thinh" thực chất chỉ là biến âm của chữ "hàm thinh" trong chữ Hán. "Hàm" có nghĩa là ngậm (như trong các từ: hàm ân, hàm oan, hàm tiếu, hàm huyết phún nhân...). "Hàm thinh" là ngậm âm thanh lại, không cho chúng phát ra, tức là không nói, tức là... im lặng. (2) Y như chữ "nín thinh". Nhưng sự giống nhau ở đây chỉ là sự giống nhau của hai từ đồng nghĩa, chứ chả có chút Phật tính hay Trang Tử tính gì trong đó cả.

Tôi mới biết là mình mừng hụt.

Một ví dụ khác: về hai chữ "vợ chồng".

Trước đây, đã lâu lắm, đọc cuốn Ngôn Ngữ và Thân Xác của Nguyễn Văn Trung, tôi thấy tác giả giải thích hai chữ "vợ chồng" đại khái như sau: "Chồng" là chồng lên nhau, nằm lên nhau. Còn chữ "vợ"? Nguyễn Văn Trung chỉ viết bâng quơ, trong câu chú thích in cuối trang: "chữ vợ phải chăng là vơ, vớ, đọc trại đi, theo giọng nặng; nếu thế, chữ vợ chỉ thị việc quơ lấy quàng lên, vơ vào, phù hợp với việc chồng lên trong hành động luyến ái?" (tr. 40)

Đọc đoạn ấy, tôi hơi ngờ ngờ, nhưng rồi cũng bỏ qua, không chú ý mấy. Gần đây, tôi sực nhớ lại vấn đề ấy khi đọc cuốn Phương Ngữ Bình Trị Thiên của Võ Xuân Trang. Tôi được biết là ở Bình Trị Thiên, thay vì nói cái "vai", người ta lại nói cái "bai"; thay vì nói đôi "vú", người ta lại nói đôi "bụ"; thay vì nói "vải", người ta lại nói "bải"; thay vì nói "vá" áo, người ta nói "bá" áo; thay vì nói "vả" (vào miệng) , người ta lại nói "bả" (vào miệng), v.v... Qua những sự hoán chuyển giữa hai phụ âm V và B như thế, tự dưng tôi nảy ra ý nghĩ: phải chăng nguyên uỷ của chữ "vợ" là... bợ? "Vợ chồng" thực ra là "bợ chồng"?

Tôi càng tin vào giả thuyết trên khi nhớ lại, trong tiếng Việt hiện nay, có cả hàng trăm từ nguyên thuỷ khởi đầu bằng phụ âm B đã biến thành V như thế. Nhiều nhất là từ âm Hán Việt chuyển sang âm Việt. Ví dụ: trong chữ Hán, chữ "bái" sang tiếng Việt thành "vái"; chữ "bản" sang tiếng Việt thành "vốn" và "ván"; chữ "bích" sang tiếng Việt thành "vách"; chữ "biên" sang tiếng Việt thành "viền"; chữ "bố" sang tiếng Việt thành "vải"; chữ "bút" sang tiếng Việt thành "viết"; chữ "bà phạn" sang tiếng Việt thành "và cơm", v.v...

Theo Nguyễn Tài Cẩn, trong cuốn Giáo Trình Lịch Sử Ngữ Ấm Tiếng Việt (sơ thảo), quá trình hoán chuyển từ B đến V kéo dài khá lâu cho nên hiện nay thỉnh thoảng cả hai biến thể B/V vẫn còn tồn tại song song với nhau, như: băm và vằm (thịt); be và ve (rượu hay thuốc); béo và véo; bíu và víu, v.v...

Chúng ta biết là hiện tượng tồn tại song song của hai biến thể như thế không phải chỉ giới hạn trong hai phụ âm B và V. Theo nhiều nhà ngôn ngữ học, ngày xưa, từ khoảng thế kỷ 17 trở về trước, trong tiếng Việt có một số phụ âm đôi như BL (blăng, blời...), ML (mlầm) hay TL (tlánh). Đến khoảng thế kỷ 18, các phụ âm đôi ấy dần dần rụng mất. Điều đáng chú ý là khi những phụ âm đôi ấy rụng đi thì chúng lại tái sinh thành một số phụ âm khác nhau. Ví dụ phụ âm đôi TL sẽ biến thành TR hoặc L, do đó, hiện nay, chúng ta có một số chữ có hai cách phát âm và hai cách viết khác hẳn nhau, cùng tồn tại song song bên nhau, đó là các chữ tránh và lánh; trộ và lộ, trồi và lồi, trêu và lêu, trũng và lũng, trộn và lộn, trọn và lọn, trệch và lệch, trèo và leo, tràn và lan, v.v... Trong khi đó phụ âm đôi ML sẽ biến thành L hoặc NH, bởi vậy, chúng ta cũng có một số từ tương tự, như lầm và nhầm, lời và nhời, lẽ và nhẽ, lát và nhát, lạt và nhạt, lớn và nhớn.(3) Trong những cặp từ tương tự vừa kể, có một số chữ dần dần bị xem là phương ngữ hoặc là cách nói cổ, càng ngày càng ít nghe, như các chữ Nhớn, Nhời, và Nhẽ. Thay vào đó, chúng ta sẽ nói là lớn, lời và lẽ. Tuy nhiên, những chữ khác thì cho đến nay cũng vẫn còn tồn tại khá phổ biến, ví dụ chúng ta có thể nói là rượu lạt hoặc rượu nhạt; nói lầm lẫn hoặc nhầm lẫn; nói một lát dao hay một nhát dao đều được cả.

Đặt trong toàn cảnh mối quan hệ giữa hai phụ âm B và V cũng như quá trình biến đổi phụ âm đầu như thế, chúng ta sẽ thấy ngay giả thuyết cho nguồn gốc của chữ "vợ" trong "vợ chồng" là "bợ" rất có khả năng gần với sự thật. "Vợ chồng" như thế, thực chất là "bợ chồng". "Bợ": từ dưới nâng lên; "chồng": từ trên úp xuống. Danh từ "bợ chồng" diễn tả tư thế thân mật giữa hai người nam nữ khi ăn ở với nhau. Cách gọi tên khá thật thà như thế kể cũng thú vị đấy chứ?

Qua các trường hợp biến đổi từ "hàm thinh" thành "làm thinh" và từ "bợ chồng" thành "vợ chồng", chúng ta tiếp cận được một hiện tượng rất phổ biến trong tiếng Việt: hiện tượng biến âm. Biến âm không phải chỉ vì nói ngọng, kiểu "long lanh" thành "nong nanh" hay "nôn nao" thành "lôn lao" như một số người ở một số địa phương nào đó. Biến âm cũng không phải chỉ vì phương ngữ, kiểu "về" thành "dề" như ở miền Nam, hay "nhà" thành "dà" như ở một số làng huyện ở miền Trung, "trung trinh" thành "chung chinh" như ở miền Bắc. Điều đáng nói hơn là những hiện tượng biến âm xuất phát từ những quy luật nội tại của ngôn ngữ, những sự biến âm có mặt ở mọi vùng đất nước và nếu không tự giác và tốn công truy lục, chúng ta sẽ không thể nào tái hiện được nguyên dạng của nó. Chúng ta dễ ngỡ biến âm là chính âm. Dễ ngỡ nó tự nhiên là thế. Ví dụ, để diễn tả tâm sự buồn nào đó dần dần giảm nhẹ đi, chúng ta hay dùng chữ "nguôi ngoai". Đúng ra là "nguôi hoai". Trong các từ điển cổ, "hoai" có nghĩa là phai nhạt. Nghĩa ấy, cho đến bây giờ chúng ta vẫn dùng trong chữ "phân đã hoai". "Nguôi hoai" là từ ghép chỉ sự phai dần của một nỗi buồn, một niềm đau. Tương tự như vậy, chữ "yếu ớt" chúng ta hay dùng ngày nay là do chữ "yếu nớt". "ớt" thì không có nghĩa gì cả. Trong khi "nớt" có nghĩa là sinh thiếu tháng, vẫn còn dùng trong từ "non nớt". "Yếu nớt", do đó, có nghĩa là yếu đuối, là non nớt. Chữ "nói mớ" thật ra là biến âm của chữ "nói mơ", nói trong giấc mơ. "Nước miếng" thật ra là biến âm của "nước miệng", nước chảy ra từ miệng, cùng cách kết cấu với các chữ nước mắt hay nước mũi. Chữ "to tát" hiện nay tất cả các từ điển đều viết với chữ T ở cuối, TáT; nhưng trong Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của thì lại viết chữ TáC kết thúc bằng C: "to tác", kèm theo lời định nghĩa là: thô kệch, lớn tác. Mà chúng ta đều biết chữ TáC có nghĩa là tuổi hay vóc dáng, như trong các từ tuổi tác, tuổi cao tác lớn, hay ngày xưa người ta nói bạn tác, tức bạn hữu; trang tác, tức cùng lứa, cùng tuổi với nhau. (4)

Các con số đếm, nơi rất cần sự chính xác, cũng không thoát khỏi luật biến âm. Như số 1, chẳng hạn. Đứng một mình là một. Đứng trước các con số khác cũng là một. Nhưng khi đứng sau các con số khác, trừ số 10, nó lại biến thành "mốt": hai mươi mốt; ba mươi mốt, bốn mươi mốt. Những chữ "mốt" ấy chính là biến âm của "một". Nhưng không phải lúc nào "mốt" cũng có nghĩa là một: "Mốt" trong một trăm mốt hay trong một ngàn mốt, một triệu mốt... không phải là một. Con số 5 cũng vậy. Đứng một mình là năm. Đứng trước các số khác cũng là năm. Nhưng khi đứng sau các số, từ 1 đến 9, nó lại biến thành "lăm": mười lăm, hai mươi lăm... Con số hai mươi lăm ấy lại được biến âm thêm một lần nữa, thành hăm nhăm. Số ba mươi lăm cũng thường được biến âm thành băm nhăm. Từ số bốn mươi lăm trở lên thì chỉ có một cách rút gọn là bốn lăm; năm lăm, sáu lăm, bảy lăm, tám lăm, và chín lăm chứ không có kiểu biến âm như hăm nhăm và băm nhăm. Con số 10, cũng vậy. 10 là mười. Nhưng từ 20 trở lên thì "mười" biến thành "mươi": hai mươi, ba mươi, bốn mươi... Dấu huyền bị biến mất. Có điều, "mươi" không phải lúc nào cũng có nghĩa là mười. Trong nhóm từ "mươi cái áo", chẳng hạn, "mươi" lớn hơn hoặc nhỏ hơn mười: một con số phỏng định, ước chừng, bâng quơ.

Con số còn thay đổi được, huống gì những từ khác. Như từ "không", chẳng hạn. Phủ định điều gì, người ta có thể nói "không", mà cũng có thể nói "hông", nói "khổng", nói "hổng". Xuất hiện trong câu nghi vấn, chữ "không" ấy có thể có thêm một biến âm khác là "hôn": "nghe hôn?" Chưa hết. Một số âm vị trong cụm "nghe hôn" ấy bị nuốt đi; "nghe hôn" biến thành "nghen", rồi đến lượt nó, "nghen" lại biến thành "nghén" hay bị rút gọn lần nữa, thành "nhen", rồi "hen", rồi "hén", rồi "nhe", v.v...

Như vậy, biện pháp biến âm trở thành một biện pháp tạo từ. Đã có từ "vậy", chỉ cần thay dấu nặng bằng dấu huyền, chúng ta có từ mới: "vầy" (như vầy này!). Đã có từ "lui hui", người ta tạo thêm các chữ "lúi húi" rồi "lụi hụi". Đã có từ "chừ bự", người ta tạo thêm các từ mới: chư bư, chừ bư, chừ bử, chử bử, chứ bứ, chự bự. Đã có "trật lất", người ta tạo thêm: trết lết, trét lét, trớt lớt, trớt huớt... (5) Đã có từ "ngoại" vay mượn từ chữ Hán, chúng ta tạo thêm hay từ khác: "ngoài" để các quan hệ không gian cũng như thời gian và "ngoái" để chỉ quan hệ về thời gian: "năm ngoái".

Biện pháp biến âm như vậy đã dẫn đến một hiện tượng khá thú vị trong tiếng Việt: hiện tượng từ tương tự, tức những từ hao hao gần nhau về cả ngữ âm lẫn ngữ nghĩa, chẳng hạn: các chữ bớt và ngớt; đớp, tợp, hớp và đợp; bẹp, xẹp, lép, khép, nép và nẹp; khan, khàn và khản; xẻ, chẻ, bẻ và xé; xoăn, xoắn, quăn và quắn; tụt, rụt và thụt; véo, nhéo, và béo; v.v...

Các từ tương tự ấy có khi khác nhau về từ loại nhưng lại tương thông tương ứng với nhau về ý nghĩa, chẳng hạn: chúng ta có cái nẹp để kẹp, cái nêm để chêm, cái nan để đan, cái mõ để gõ, cái nệm để đệm, cái vú để bú; hoặc chúng ta cưa thì thành khứa, rung thì rụng, phân thì có từng phần, dựng thì đứng, thắt thì chặt, đập thì giập, dìm thì chìm, ép thì ẹp, dứt thì đứt, chia thì lìa, gạn thì cạn, v.v....

Mới đây, đọc báo, không hiểu tại sao, tình cờ tôi lại chú ý đến chữ "đút" trong một câu văn không có gì đặc biệt: "Chị ấy đút vội lá thư vào túi quần..." Từ chữ "đút" ấy, tôi chợt liên tưởng đến chữ "rút": cả hai từ làm thành một cặp phản nghĩa: đút (vào) / rút (ra).

Điều làm tôi ngạc nhiên là cả hai từ đều có phần vần giống nhau: "-ÚT". Chúng chỉ khác nhau ở phụ âm đầu mà thôi: một chữ bắt đầu bằng phụ âm "đ-" (đút) và một chữ bằng phụ âm "r-" (rút). Hơn nữa, cả từ "đút" lẫn từ "rút", tuy phản nghĩa, nhưng lại có một điểm giống nhau: cả hai đều ám chỉ sự di chuyển từ không gian này sang không gian khác. "Đút" cái gì vào túi hay "rút" cái gì từ túi ra cũng đều là sự chuyển động từ không gian trong túi đến không gian ngoài túi hoặc ngược lại.

Tôi nghĩ ngay đến những động từ có vần "-ÚT" khác trong tiếng Việt và thấy có khá nhiều từ cũng có nghĩa tương tự. "Sút" là động tác đưa bóng vào lưới. "Hút" là động tác đưa nước hoặc không khí vào miệng. "Mút" cũng là động tác đưa cái gì vào miệng, nhưng khác "hút" ở chỗ vật thể được "mút" thường là cái gì đặc. "Trút" là đổ cái gì xuống. "Vút" là bay từ dưới lên trên. "Cút" là đi từ nơi này đến nơi khác do bị xua đuổi. "Nút" hay "gút" là cái gì chặn lại, phân làm hai không gian khác nhau.

Thay dấu sắc (ÚT) bằng dấu nặng (ỤT), ý nghĩa chung ở trên vẫn không thay đổi. "Trụt" hay "tụt" là di chuyển từ trên xuống dưới. "Vụt" là di chuyển thật nhanh, thường là theo chiều ngang. "Lụt" là nước dâng lên quá một giới hạn không gian nào đó. "Cụt" là bị cắt ngang, không cho phát triển trong không gian. "Đụt" (mưa) là núp ở một không gian nào đó, nhỏ hơn, để tránh mưa ngoài trời, v.v...

Nếu những động từ có vần "-ÚT" thường ám chỉ việc di chuyển (hoặc việc ngăn chận quá trình di chuyển ấy) giữa hai không gian thì những động từ có vần "-UN" lại ám chỉ việc dồn ứ lại thành cục trong một không gian nhất định nào đó, thường là có giới hạn. "ùn", "chùn", "dùn", hay "đùn" đều có nghĩa như thế. "Thun" hay "chun" cũng như thế, đều chỉ cái gì bị rút, bị co. "Cùn" là bẹt ra. "Hùn" là góp lại. "Vun" là gom vào. "Lún" hay "lụn" là bẹp xuống. Cả những chữ như "lùn" hay (cụt) "lủn", (ngắn) "ngủn", "lũn cũn"... cũng đều ám chỉ cái gì bị dồn nhỏ hay thu ngắn lại.

Với cách phân tích như vậy, nếu đọc thật kỹ và thật chậm các cuốn từ điển tiếng Việt, chúng ta sẽ dễ thấy có khá nhiều khuôn vần hình như có một ý nghĩa chung. Chẳng hạn, phần lớn các động từ hay tính từ kết thúc bằng âm éT hay ẹT đều chỉ những động tác hay những vật thể hẹp, thấp, phẳng. "Kẹt" là mắc vào giữa hai vật gì; "chẹt" là bị cái gì ép lại. "Dẹt" là mỏng và phẳng; "tẹt" là dẹp xuống (kiểu mũi tẹt); "bét" là nát, dí sát xuống đất; "đét" là gầy, mỏng và lép. Những dộng từ kết thúc bằng âm EN thường chỉ các động tác đi qua một chỗ hẹp, một cách khó khăn, như: "chen", "chẹn", "chèn", "len", "men", "nghẽn", "nghẹn", "nén". Những từ láy có khuôn vần ỨC - ÔI thì chỉ những trạng thái khó chịu, như "tức tối", "bức bối", "bực bội", "nực nội", "nhức nhối", v.v...

Những ví dụ vừa nêu cho thấy hai điều quan trọng:

Thứ nhất, nếu chịu khó quan sát, chúng ta sẽ phát hiện trong những chữ quen thuộc chúng ta thường sử dụng hàng ngày ẩn giấu những quy luật bí ẩn lạ lùng. Tính chất bí ẩn ấy có thể nói là vô cùng vô tận, dẫu tìm kiếm cả đời cũng không hết được. Điều này khiến cho không ai có thể an tâm là mình am tường tiếng Việt. Ngay cả những nhà văn hay nhà thơ thuộc loại lừng lẫy nhất vẫn luôn luôn có cảm tưởng ngôn ngữ là một cái gì lạ lùng vô hạn.

Thứ hai, vì có những quy luật, những điểm chung tiềm tàng giữa các chữ như vậy cho nên việc học tiếng Việt không quá khó khăn. Nói chung, người Việt Nam đều có khả năng đoán được ý nghĩa của phần lớn các chữ mới lạ họ gặp lần đầu. Lần đầu gặp chữ "thun lủn", chúng ta cũng hiểu ngay nó ám chỉ cái gì rất ngắn. Lý do là vì chúng ta liên tưởng ngay đến những chữ có vần "UN" vừa kể ở trên: cụt ngủn, ngắn ngủn, v.v... Lần đầu gặp chữ "dập dềnh", chúng ta cũng có thể đoán là nó ám chỉ một cái gì trồi lên trụt xuống do sự liên tưởng đến những chữ có khuôn vần tương tự: bấp bênh, gập ghềnh, khấp khểnh, tập tễnh, v.v...

Nói tiếng Việt vừa dễ vừa khó là vì thế.

Nguyễn Hưng Quốc

Chú thích:

(1) Trần Quốc Vượng (1993), Trong Cõi, Garden Grove: Trăm Hoa, tr. 169.

(2) Lê Trung Hoa, "Tìm nguồn gốc một số từ ngữ tiếng Việt qua các hiện tượng biến đổi ngữ âm", in trong cuốn Những vấn đề văn hoá, văn học và ngôn ngữ học (nhiều tác giả), nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1999: 211-225.

(3) Xem bài "Vài chuyển biến trong phụ âm đầu tiếng Việt và các hiện tượng láy từ liên hệ" của Nguyễn Phú Phong trên Tập san Khoa Học Xã Hội (Paris) số 3 năm 1977, tr. 73-80.

(4) Một số ví dụ trong đoạn này lấy từ bài viết của Lê Trung Hoa theo sách dẫn trên.

(5) Biện pháp biến âm này đặc biệt thông dụng trong phương ngữ miền Nam. Có thể xem thêmcuốn Từ Điển Phương Ngữ Nam Bộ của Nguyễn Văn Ái, Lê Văn Đức và Nguyễn Công Khai, nxb Thành Phố ***, 1994.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 7/11/2017(UTC)
phamlang
#215 Posted : Friday, March 31, 2017 4:20:54 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)

Thảo Mộc Trong Văn Chương, Thi Ca Và Ngôn Từ Thông Dụng Việt Nam
Phạm Đình Lân, F.A.B.I.


https://trangvhntnguonco...c%a3c-trong-van-chuong/

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 7/11/2017(UTC)
phamlang
#216 Posted : Sunday, June 11, 2017 4:50:07 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Nói lái mà chơi, nghe lái chơi



Đúng bọi rồi, dừng chân ơm căn đi thôi.
Nếu anh không ngại, tôi sẽ mời anh đến quán mộc tồn gần đây, quán lão Điền đó.
Điền nào, Điền đô người Bắc phải không ?


Trong mỗi câu của đoạn hội thoại trên đều có nói lái, một hình thức sử dụng ngôn ngữ khá phổ biến, người quen dùng, nghe nói là hiểu ngay. Đơn giản như đang giỡn, nói lái chỉ là cách hoán đổi phụ âm đầu của hai từ (đói bụng > đúng bọi ) , ai cũng thực hành được, chẳng những trong đời thường mà còn đưa vào tác phẩm văn chương như là một biện pháp chơi chữ khá thú vị.
Nếu chưa quen nói xin mời bạn nghe lái trước đã.

NÓI LÁI TRONG ĐỜI THƯỜNG .


Có thể nói ai cũng có lần nói lái ở trong đời, đôi lúc chỉ vô tình thôi. Nếu bạn buột miệng nói “đi giữa trời nắng cực quá “ hoặc khi đèn điện không sáng mà bạn nói “điện sao lu quá chừng” , người nghe sẽ cho là bạn nói tục, có oan cũng đành chịu vì, dù bạn không cố ý nhưng nắng cực, điện lu nói lái nghe tục thật. Tương tự như thế, hãy cẩn thận đừng nói dồn lại, dồn lên, đồn láo, đồn lầm…

Ngoài những lúc vô tình như vậy, mọi người đều cố ý nói lái nhiều lắm. Từ nhỏ, ai cũng biết nghịch ngợm trêu chọc bạn với những cái tên. Thái thì Thái dúi, Thái giếng, Thọ thì Thọ lỗi, Điền thì Điền đô, Đức thì Đức cống … Còn những tên như Thu, Tốn, Bắc … sẽ có rất nhiều cách gán ghép để nói lái lại nghe không thanh nhã chút nào. Chưa kể những người có tên bắt đầu bằng chữ Đ, trẻ đến mấy cũng bị gọi bằng Cụ ! Học giả Vương Hồng Sển, lớn tuổi còn dạy học, sinh viên có khi gọi Thầy, có khi gọi Cụ để tỏ lòng kính trọng. Thầy dặn : Gọi tôi bằng họ, Cụ Vương, hay bằng tên, Cụ Sển, đều được, nhưng với thầy Vi Huyền Đắc thì nhớ chỉ được gọi là Cụ Vi.
Có khi các văn nghệ sĩ nói lái tên mình để đặt bút danh. Thế Lữ tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, Lê Đức Vượng biến thành bút danh Vương Đức Lệ. Và, bạn có tin không, văn hào VOLTAIRE của Pháp ( 1694-1778 ), tên thật là François Marie AROUET, lấy tên thành phố quê hương là Airvault ( thuộc vùng Deux Sèvres ) nói lái là Vault – Air để có bút danh Voltaire đó !
Tuổi nhỏ nghịch ngợm trêu chọc nhau bằng những câu như ” Mi là cái đồ ức căn bồng sơ chuối đỏ lọ cháy “ hoặc “ Ai đi đó ?” và trả lời “ O đi ……”

Có khi nói lái chỉ để đùa chơi, không có hậu ý gì ( Ôm nhiều thì yếu, yêu nhiều thì ốm , chà đồ nhôm chôm đồ nhà… ) nhưng cũng có lúc nói lái có ý nghĩa phê phán chỉ trích ( đấu tranh thì tránh đâu , thủ tục đầu tiên là tiền đâu , Nguyễn Y Vân , vẫn y nguyên, Vũ Như Cẩn , vẫn như cũ, Bùi Lan , bàn lui… ).

Có thể nói lái bằng cách dùng cả chữ Hán rồi dịch ra. Mộc tồn là cây còn tức là con cầy, vậy quán mộc tồn là quán thịt chó ! ( Nhiều nơi cũng gọi là Cờ tây, dễ hiểu hơn ). Còn nói đại phong để chỉ lọ tương thì phải đi lòng vòng một chút : đại phong là gió to, gió to thì chùa đổ, chùa đổ thì tượng lo, tượng lo là lọ tương !

Cũng có khi bịa ra những câu, có vẻ như câu đối, dùng từ Hán Việt, nghe rất kêu:

Giai nhân tái đắc, giai nhân tử,
Anh hùng khai đống, anh hùng tiêu.
Thật ra chỉ để cài vô mấy chữ ” tái đắc “, ” khai đống “, nói lái lại là hiểu liền!

Mấy ông bạn nhậu thường hay nói : Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu. Chẳng cần quan tâm đến ý nghĩa cả câu, chỉ tách riêng hai chữ cuối rồi giải thích: bôi thiểu > biểu thôi – ( biểu = bảo ) : Uống rượu gặp bạn hiền có Trời mới biểu thôi ! Nhắc đến mấy ông này phải nói đến tài nói lái, nhất là mấy ông trong hội “hoàng gia”, nhậu món mực mấy ông hỏi có mực ngò không, món lươn thì hỏi lươn sao không có rau dền, gọi dưa leo thì dặn nhớ thái dọc đừng thái ngang, ăn món lẩu thì đòi phải đun bằng cồn lỏng, tốt nhất là cồn nhập từ bên Lào ! Lúc uống trà thì dặn đừng lấy trà Thái đức.

Có kiểu nói lái tưng tửng, có mà không, không mà có, ai hiểu thì cười, không hiểu cũng chẳng sao. Con gái thời nay thích nhất những chàng trai có chỗ đứng./ Đừng nói tui hay đánh vợ. Tui có đánh thiệt đâu, chẳng qua là đánh mẹo thôi ! / Tui không làm ăn chi nữa, chỉ sống nhờ lương thôi. / Nếu không biết làm sương cho sáo thì cứ thử lấy tóc mà may…

Một ứng dụng độc đáo là dùng nói lái như một thứ mật mã , chỉ người nói người nghe hiểu với nhau. “ Lôi thi lừng đì lói ní lữa nĩ , lụi tị lỏ nhỉ lô vi lìa kì ” . Nói kiểu này, người ta dùng quy ước chọn một từ và thêm dấu thanh – sắc huyền hỏi ngã …- đặt trước từ muốn nói và nói lái lại; trường hợp này từ được chọn là li và thêm dấu thành lí, lì, lỉ lĩ, lị … . Vậy giải mã câu trên là : (Lôi thi) li thôi ( lừng đì) lì đừng lí nói lĩ nữa lị tụi lỉ nhỏ li vô lì kìa = Thôi đừng nói nữa, tụi nhỏ vô kìa.

NÓI LÁI TRONG DÂN GIAN

Trong dân gian, hầu như ở miền nào cũng có nghe truyền tụng những sản phẩm nói lái, hoặc câu đố, câu đối, hò vè, thơ ca không rõ tác giả …

Câu đố :

Những câu đố sử dụng nói lái không khó giải vì thường lời giải đã có sẵn :
– Khoan mũi, khoan lái, khoan khứ, khoan lai
Bò la, bò liệt đố ai biết gì? – (đáp: khoai lang).
– Con gì ở cạnh bờ sông,
Cái mui thì nát cái cong thì còn – (đáp: con còng – cong còn nói lái thành con còng)
– Cái gì bằng ngón chưn cái mà chai cứng – (đáp: ngón chưn cái)
– Khi đi cưa ngọn, khi về cũng cưa ngọn – (đáp: con ngựa)
– Miệng bà ký lớn, bà ký banh
Tay ông cai dài, ông cai khoanh – (đáp: canh bí, canh khoai)
– Ông cố ngoài Huế ông cố ai. (đáp : cái ô )
– Ông đánh cái chen, bà bảo đừng. (đáp : cái chưn đèn – chen đừng ) .

Câu đối :
Phần lớn câu đối có sử dụng nói lái đều không đạt những yêu cầu nghiêm ngặt (đối ý, đối nghĩa, đối thanh … ) của loại hình này, chỉ thể hiện sự dụng công nói lái thôi .

Nhiều câu ai cũng biết :
– Kia mấy cây mía.
Có vài cái vò.
– Con cá đối nằm trên cối đá.
Mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo.
Thời kỳ đời sống khó khăn, hình ảnh người thầy giáo phải tháo giày, giáo chức phải dứt cháo là cảm hứng cho nhiều câu đối :
– Kỹ sư đôi lúc làm cư sĩ
Thầy giáo lắm phen cũng tháo giày.
– Thầy giáo tháo giày đi dép lốp
Nhà trường nhường trà uống nước trong
– Thầy giáo tháo giầy, tháo cả ủng, thủng cả áo, lấy giáo án dán áo;
Nhà trường nhường trà, nhường cả hoa, nhòa cả hương, dùng lương hưu lưu hương.
Một câu khác, cũng nói lái liên tiếp như vậy :
– Chê số đời, chơi số đề, cầu giải số, cố giải sầu, càng cố càng sầu;
Cầm cái đuốc, cuốc cái đầm, soi đầy ốc, xốc đầy oi, càng soi càng xốc.
Rất ngắn gọn, mà không kém thú vị :
– Chả lo gì, chỉ lo già.
Nỏ muốn chi, chỉ muốn no.
Thơ ca, hò vè :
Trong loại hình thơ ca, hò vè cũng có thể tìm thấy nhiều câu nói lái :
– Mắm nêm ăn với quả cà
Vắng anh Tử Trực đâu mà biết ngon.
( Không kể chuyện Lục Vân Tiên đâu ! Chơi chữ đó : ăn mắm nêm với cà mà thiếu quả ớt thì không ngon. Ớt ? Thì tử là con, trực là ngay , con ngay > cay ngon, là ớt chứ gì nữa ! )
– Bụi riềng trồng ở bờ ao
Chú Mộc Tồn quấn quít ngày nào cũng xin.
( mộc tồn : cây còn, con cầy, đã nói ở đoạn trên )
– Bài hò đối đáp sau đây phát triển từ cách nói lái cá đối cối đá :

Nữ :
Hát tình hát nghĩa đã qua
Bây giờ hát lái mới biết là hơn thua
Mẹ mua con cá đối lúc trưa
Để trên cối đá sao bây giờ mất tiêu
Chàng chỉ giùm con cá đối ở đâu
Hay mèo tha giấu ngoài rào sau mất rồi!

Nam :
Cá mắm chuyện của nữ nhi
Bậu còn vô ý thì chuyện gì cho nên
Con mèo đuôi cụt nhà bên
Biết mẹ đi mua cá nó leo lên mút đuôi kèo
Mẹ xách con cá đối nó nhìn theo
Thấy để trên cối đá nó khều liền tay
Lần sau nhớ lấy lần này
Thấy mẹ mua cá đem ngay cất liền.
– Bài khác : xin để ý từng cặp nói lái ngay trong mỗi câu :
Cá có đâu mà anh ngồi câu đó
Biết có không mà công khó anh ơi ?
Anh ra đây em vẽ cho một nơi cá nhiều.
Anh ngồi đây ngày đôi ba lượt
Biết mất công mong cất con cá diếc lên
Để anh về làm giống nhân trên ruộng đồng.
– Một câu hò ở Nam bộ , giải rõ ra thì tục, nhưng mới nghe qua khó nhận thấy :
Thằn lằn đeo cột thằn lằn trốn
Cá nằm trong đăng, cá mắc kẹt đăng
Anh với em nhân ngãi đồng bằng
Dù xa duyên nợ nhưng cột lằn đừng xa.

Có những bài không rõ tác giả ; trong bài sau đây, cách nói méo trời méo đất thật là tài tình :
Yêu em từ độ méo trời
Khi nào méo đất mới rời em ra .
Bài này đọc lên nghe rất tục :
Ban ngày lặt cỏ tối công phu
Đậu ủ lâu ngày hóa đậu lu
Ngày ta địa chủ, đêm tu đạo
Đạo chi lạ rứa: “Đạo ù ù”.

Từ thập niên 50 của thế kỷ trước bài sau đây được nhắc đến nhiều, hẳn là phản ảnh thời cuộc :
Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi
Chiến khu thu cất chú khiêng rồi
Thi đua thắng lợi thua đi mãi
Kháng chiến lâu ngày khiến chán thôi.

NÓI LÁI TRONG VĂN HỌC

Trong văn xuôi hình như ít thấy nói lái, hoặc tản mác nên khó phát hiện. Tác giả sở trường món này chắc phải là Vương Hồng Sển (1902- 1996 ). Rải rác trong tác phẩm ” Hơn nửa đời hư ” ông chen vô mấy chữ ” ủ tờ “, ” mống chuồng ” , dễ thấy là tiếng lái của ” ở tù “, ” muốn chồng “. Khi nhắc lại kỷ niệm chuyến du lịch thăm Đài Loan và Nhật Bản, ông kể chuyện cùng người bạn Pháp trọ ở một khách sạn, mặc tạm áo kimono để sẵn trong tủ: “Đến cái áo kimono màu sặc sỡ, mỗi phòng trọ đều có treo sẵn cho khách mượn, Menken và tôi chưa quen, vừa xỏ tay vào, tấm thân bồ tượng áo che không khuất, trống trước trống sau, đứa ” lù coi “, đứa ” lắc cọ “, áo nhột nhột, cảnh thật buồn cười”. Cũng chính tác giả của ” Saigon năm xưa”, ” Saigon Tạp pín lù ” đã đặt tên cho xe thổ mộ là xe u mê, và giải thích: ” vì sàn xe bằng gỗ cứng, khách ngồi bệt trên sàn, ê ẩm bàn trôn, nhứt là khách phụ nữ đều phải ê mu, nói lái cho bớt tục”.

Còn trong thơ ca thì nói lái không thiếu.

Tác giả đầu tiên phải nhắc đến tất nhiên là HỒ XUÂN HƯƠNG.
…Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc,
Trái gió cho nên phải lộn lèo. (Kiếp Tu Hành)
…Quán sứ sao mà cảnh vắng teo
Hỏi thăm Sư cụ đáo nơi neo.
Chày kình, tiểu để suông không đấm,
Tràng hạt, vải lần đếm lại đeo. (Chùa Quán Sứ)
…Đang cơn nắng cực chửa mưa hè,
Rủ chị em ra tát nước khe. ( Tát nước )
…Thú vui quên cả niềm lo cũ
Kìa cái diều ai nó lộn lèo. ( Quán Khách )

Nhà thơ trào phúng TÚ MỠ ( Hồ Trọng Hiếu, 1900-1976 ) có bài ” Lỡm cô Ngọc Hồ ” với hai câu nói lái phong cách Hồ Xuân Hương:
HỒ tù ngán nỗi con rồng lộn
NGỌC vết thương tình kẻ cố đeo
(Nhắn khách Băng Tâm ai đó tá
Mỹ danh hai chữ, nghĩ buồn teo.)

THẢO AM NGUYỄN KHOA VY ( 1881-1968 ) nhà thơ miền Sông Hương Núi Ngự cũng rất nổi tiếng với những bài thơ nói lái :

Lũ quỷ nay lại về lũy cũ
Thầy tu mô phật cũng thù tây.
Trông khống vô phòng thấy trống không
Chứa chan sầu lệ chán chưa chồng
Dòng châu lai láng dầu chong đợi
Bóng nhạn lưng chừng, bạn nhóng trông
Nhòm ngó đã cùng nơi ngã đó
Mơ mồng bên cạnh gối mền bông
Đêm thâu mưa gió đâu thêm mãi,
Xông lướt đi tìm phải xước lông.

Còn BÙI GIÁNG , có người gọi là nhà thơ Bán Dùi vì là Ông ưa nói lái. Kiểu nói lái của Bùi Giáng thật khác người, không cần người đọc có hiểu hay không. Ông thường dùng những từ như: tồn lưu, lưu tồn, tồn liên, liên tồn, tồn lí tí ngọ, tồn lập tập trung, tồn lập tập họp…

Lọt cồn trận gió đi hoang
Tồn liên ở lại xin làn dồn ra
(Mưa nguồn)

Cá ở ngoài khe có ít nhiều
Cồn lau cỏ lách có hoang liêu
Em về có hỏi răng ri rứa
Nhắm mắt đưa chân có bận liều.
(Bờ trần gian)

Bài “Trong bàn chân đi” đầy dẫy những chỗ nói lái nhưng thật khó mà hiểu được :
Có mấy ngón
Năm ngón
Mười ngón
Món người
Non ngắm
Nắm ngon
Hoặc là năm ngón nón ngăm
Màu đi trên nước cá tăm chuyên cần
Nón ngăm dặm bóng xoay vần
Đọng nơi góp tụ và chần chờ đưa.
( … )
Có nhiều nhà thơ lúc cao hứng cũng lái ngay một bài, tinh nghịch và bất ngờ thú vị. Đó là NGUYỄN THÁI DƯƠNG:
Mực ngò, mực ngó, mực ngằn
Mực, bao nhiêu mực chẳng bằng mực nghi
Chao ôi bất luận mực gì
Vẫn thua mực ngút li bì sớm hôm.
Và cả BÙI CHÍ VINH, người có thể ” khạc ra thơ ” ( chữ dùng của chính tác giả trong hồi ký ) mọi nơi mọi lúc mọi đề tài, có bài Đảo Ngữ Hành lái từ đầu đến cuối:
Hành đảo ngữ kể từ GIẢI PHÓNG
Thi ca làm PHỎNG DÁI niêm vần
Muốn in báo phải làm đầy tớ
Nhưng ta nào phải kẻ lòn trôn
Ta nào phải là ông Hàn Tín
Phò Lưu Bang phản bạn lừa thầy
KỸ SƯ vì thế thành CƯ SĨ
THẦY GIÁO từ đây chịu THÁO GIÀY
Họp ĐỒNG CHÍ thấy toàn ĐÌ, CHỐNG
XÔ VIẾT ngày nay khoái XIẾT VÔ
Hình treo LỘNG KIẾNG như LIỆNG CỐNG
Ðể thằng TO DỰ hét TỰ DO
Chú đeo BẢNG ĐỎ mà BỎ ĐẢNG
Mượn SAO VÀNG che đậy SANG GIÀU
CĂNG BỒNG nhờ nói CÔNG BẰNG nhỉ
LƯU MANH nào lại chẳng LANH MƯU?
Theo CHÍNH PHỦ ai ngờ CHÚ PHỈNH
Vào CHIẾN KHU thì bị CHÚ KHIÊNG
Mồm ĐÁNH MỸ mà tâm ĐĨ MÁNH
TIỀN ĐÂU? chú chặn họng ĐẦU TIÊN
GIÁO CHỨC đói meo đành DỨT CHÁO
Làm NHÀ THƠ vô bót NHỜ THA
THIÊN TÀI không đủ THAI TIỀN hả?
CẤT ĐUỐC về quê CUỐC ĐẤT à!
KHIẾN CHÁN ta làm thơ KHÁNG CHIẾN
Gào THI ĐUA chú bịp THUA ĐI
LÀM THƠ mà LỜ THAM mới nhục
THÌ CẤY cày mất đất THẤY KỲ
LÃNH TỤ sạch nhờ ôm TỦ LẠNH
BẨN NGƯỜI DO bác BỎ NGƯỜI DÂN
BÁC ĐI quá sớm thành BI ĐÁT
NGHỆ SĨ tụi con NGHĨ XỆ quần.
Nói lái qua vài câu, vài bài thơ đã là thú vị, vậy mà nhà thơ VÕ QUÊ xứ Huế dai sức, dài hơi, làm luôn một tập gần 50 bài . Khởi đầu là một bài cảm tác từ trận lụt kinh hoàng năm 1999 ở Huế:
Trời lụt ca nhi cũng trụt lời
Trời đong mưa lũ xuống trong đời
Vái lạy lụt tan lành váy lại
Đời cho du khách dạo đò chơi.
Bài thơ nhanh chóng được ” xuất bản miệng ” rộng rãi trong thân hữu, tạo cảm hứng cho tác giả tiếp tục sự nghiệp thái lơ của mình, gom góp lại thành tập NGƯỢC XUÔI THẾ SỰ, do nhà xuất bản Văn Học ấn hành năm 2011.
Đầu năm thi tứ nằm đâu?
Sắc màu nhân thế đượm sầu mắt ai?
Ngược dòng thế sự láng lai
Lang thang nhặt lái một vài câu chơi!
Có nhiều bài bỡn cợt vui vui kiểu như bài đùa các bợm rượu:
Một chai mai chột, coi chừng!
Nhị chai nhai chị tưng tưng ngà ngà
Ba chai là bai nghe cha!
Bốn chai cẩn thận kẻo mà bái chôn
Ngũ chai ngai chủ hùng hồn
Sáu chai sai cháu bếp cồn luộc tôm!

Hoặc là TỰ HỎI:
Viết câu chi đó?
Có viết chi đâu!
Trống rỗng tim, đầu
Tìm đâu chữ nghĩa…

Và TỰ TRÀO:

Mùa lễ hội thơ hoa lỗi hệ
Lục bát đành lạc bút từ khuya
Đợi lâu mới biết đâu có lợi
Bìa treo đây mai ruột đầy bia?
Nhiều nhất là những trăn trở của nhà thơ trước những vấn đề thời sự:
Dầu xăng tăng giá dạ giăng sầu
Đầu tiên trăn trở bạc tiền đâu
Giật gấu vá vai theo vật giá
Thâu đêm nhức nhối nghĩ thêm đau!
Hoặc:
Biến chất điếm đàng đi chiếm đất
Cánh đồng xoang bởi quán đồng xanh
Hối mại chức quyền gieo mối hại
Lanh mưu thoái hóa thật lưu manh!

Và:
Dân mình hiến đất xây trường
Quan tham lấn đất trầy xương thầy trò
Học đường lắm nỗi sầu lo
Quan tham thì vẫn trùm sò dài lâu.
Lần vô danh lợi hại dân lành
Tranh thùng tranh thủ mới trung thành!
Đầy tớ vét tiền bao tờ đấy
Giành nhau tham nhũng chúng giàu nhanh

Thơ lái Võ Quê, thông minh, dí dỏm, thâm trầm và sâu sắc, không chỉ là những lời cười cợt mua vui.
Tóm lại, nói lái là một hình thức sử dụng ngôn ngữ khá thú vị nhưng phải lưu ý một điều là, cũng như chuyện tiếu lâm, nói lái thường có yếu tố tục. Vấn đề là phải nói sao cho đúng nơi, đúng lúc, đúng liều lượng, nhẹ nhàng dí dỏm. Nói lái thể hiện tính khôi hài, óc châm biếm, đôi khi rất thông minh, sáng tạo bởi có nhiều cách nói lái. Nói lái nhiều lần liên tiếp theo kiểu Thầy giáo tháo giầy, tháo cả ủng, thủng cả áo, lấy giáo án dán áo là lái dồn. Nói lái mà gây phản cảm, làm khó chịu người nghe là lái dở, lái dỏm. Còn lái giỏi là nói kín đáo, bất ngờ, có khi không nhận ra được ngay. Chẳng hạn khi ăn thịt chồn, bạn chỉ cần nói con chồn có cái lạ là không bao giờ đi tới trước (để cho mọi người suy ra là chồn đi lùi ! ) . Chẳng hạn khi đứng trước nhiều giống hoa lạ, có ai hỏi tên bạn cứ trả lời đây là hoa ” khiết bông “ chứ đừng vội thú nhận là bạn không biết, thế nào người ta cũng nói cái hoa lạ quá mà tên nghe cũng lạ. Cũng là hoa, nhưng nên nhớ đừng nói với bạn gái là ” em rạng rỡ như hoa dã quỳ ”. Người ta giận đó! Lái kiểu này là lái ( giả ) đò.

Trong một truyện ngắn, nhà văn Y BAN kể chuyện một bà vợ chạy chữa bệnh liệt dương cho chồng bằng đủ loại thực phẩm, thuốc men đều không hiệu quả, nên mới nghĩ tới một bài thuốc dân gian. ” Bài thuốc này gồm 3 vị : Hà thủ ô, cỏ thiên, và trứng vịt lộn “. Người đọc cứ thắc mắc, hà thủ ô với trứng vịt lộn thì ai cũng biết, nhưng cỏ thiên là cỏ gì ? Tác giả bật mí : Ba vị thuốc đó gọi tắt là HÀ THIÊN LỘN, có thể do tâm lý ông chồng không thấy hứng thú khi gần vợ, cho ông đi tìm … , may ra hết bệnh ! Nói lái kiểu đó chắc phải gọi là lái ( bóng ) gió !

Vậy thì, bạn cứ thử nói lái đi, nhiều kiểu lắm và kiểu nào cũng có luật của nó. Nếu bạn không ngại luật nói thế tức là bạn đã biết nghệ thuật nói lái rồi đó.

Đọc xong bài này, nếu bạn thấy nóng trong người vì những chỗ ( có vẻ ) không thanh tao lắm thì tôi xin tạ tội bằng cách mời bạn một ly nước ” bất hiếu “. ??? Chẳng có gì bí mật khi tôi bật mí thế này: tôi mời một ly đá chanh! Ủa, đánh cha mà không phải bất hiếu sao?

THÂN TRỌNG SƠN
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 7/11/2017(UTC)
phamlang
#217 Posted : Tuesday, September 12, 2017 4:28:09 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao dân ca Việt Nam



Thế nào là "chơi chữ"?


Chơi chữ là một nghệ thuật độc đáo trong ngôn ngữ nói chung và trong Tiếng Việt nói riêng. Có nhiều định nghĩa, khái niệm, … giải thích vấn đề này, xin được nêu một số ý kiến như sau:

Tự điển Tiếng Việt giải thích: "Chơi chữ là lợi dụng hiện tượng đồng âm, đa nghĩa, v.v, … trong ngôn ngữ nhằm gây một tác dụng nhất định (như bóng gió, châm biếm, hài hước, …) trong lời nói. (Hoàng Phê (chủ biên) – Từ điển Tiếng Việt – Nhà xuất bản Giáo Dục. H. 1994).


Từ điển thuật ngữ văn học gọi chơi chữ là "lộng ngữ" và giải thích là một biện pháp tu từ có đặc điểm: người sáng tác sử dụng những chỗ giống nhau về ngữ âm, ngữ nghĩa, văn tự, văn cảnh để tạo ra sự bất ngờ thú vị trong cách hiểu, trong dòng liên tưởng của người, người nghe". Các hình thức của lộng ngữ rất phong phú, trong đó có: nói lái, dùng từ đồng âm hoặc gần âm, dùng từ gần nghĩa, tách một từ thành các từ khác nhau. (có thể xem đây là hình thức của nghệ thuật chơi chữ - người viết chú thêm). Các tác giả trong quyển "từ điển" này cho rằng: nhìn chung các lộng ngữ đều mang tính hài hước, thường được sử dụng trong văn thơ trào phúng (có thể xem đây là tác dụng của nghệ thuật chơi chữ - người viết chú thêm). (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi - Từ điển thuật ngữ văn học – Nhà xuất bản Giáo Dục . H. 2007


Tác giả Hữu Đạt thì xem chơi chữ là một đặc điểm độc đáo của ngôn ngữ thơ Việt Nam và nêu định nghĩa: "Chơi chữ là một biện pháp tu từ nghệ thuật dựa vào những khả năng tiềm tàng của ngôn ngữ, vận dụng linh hoạt đơn vị cơ bản của tu từ học (là chữ hoặc tiếng) đặt nó trong mối quan hệ nhiều chiều, nhiều phía với các đơn vị cùng bậc và khác bậc, nhằm khai thác tính chất nước đôi của các đơn vị ngôn ngữ dựa vào sự hiện diện của văn cảnh". (Hữu Đạt – Ngôn ngữ thơ Việt Nam – Nxb Giáo dục. H. 1996).

Từ những cách lý giải trên soi rọi vào ca dao chúng ta dễ dàng thấy được nghệ thuật độc đáo mà ngày xưa cha ông ta đã vận dụng.

Từ những từ láy lại đơn giản:

Trong chúng ta ai đó đã từng nghe câu hát của những người làm "nghề " nói thơ dạo của những năm cuối thế kỷ trước:

Vân Tiền, Vân Tiễn, Vân Tiên

Ai cho đồng tiền tôi kể Vân Tiên.


Vân Tiên là tên nhân vật chính trong tác phẩm "Lục Vân Tiên" của cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu. Tác giả dân gian khi hát đã láy lại thành câu lục "Vân Tiền, Vân Tiễn, Vân Tiên" trong cặp lục bát dẫn trên cho đủ lượng chữ cần thiết của một dòng thơ. Giá trị của việc chơi chữ ở đây chỉ có vậy.

Cũng tương tự như thế ta có thể dẫn chứng một trường hợp khác: chơi chữ bằng việc sử dụng từ láy kiểu như trên:


Con mèo, con mẻo, con meo

Ai dạy mày trèo, mà chẳng dạy tao?

Từ "con mèo" được láy lại hai lần nhằm tạo âm hưởng cho câu thơ!

Với cách chơi chữ lặp đi lặp lại như thế, nhiều câu ca dao đã gợi nên cuộc sống quẩn quanh bế tắc không lối thoát của phận cái kiến, con ong ở xã hội ngày trước:



Con kiến mà leo canh đa

Leo phải cành cụt leo ra, leo vào

Con kiến mà leo cành đào

Leo phải cảnh cụt leo vào, leo ra.



Hoặc như trong một tình cảnh khác, chơi chữ kiểu láy này để thể hiện nét nghĩa gắn lết không muốn xa rời nhau của đôi nam nữ "đá trót dan díu"…

Rau má là lá lan dây,

Đã trót dan díu, ở đây đừng về.

Rau má là lá lan thề

Đã trót dan díu đừng về ở đây.



Đó là cách chơi chữ bình thường vốn dĩ quen thuộc trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của ng dân quanh năm "một nắng hai sương" bên cánh đồng thửa ruộng. Trong thơ ca bình dân còn có nhiều kiểu "chơi chữ" khác mà dụng ý của nó cũng rất uyên thâm.

Chơi chữ bằng cách dùng hiện tượng từ đồng âm khác nghĩa giữa từ đơn tiết với tiếng trong từ đa tiết:

Xin dẫn bài ca dao quen thuộc sau đây để làm ví dụ:



Một trăm thứ dầu, dầu chi là dầu không thắp?

Một trăm thứ bắp, bắp chi là bắp không rang?

Một trăm thứ than, than chi là than không quạt?

Một trăm thứ bạc, bạc chi là chẳng ai mua?

Trai nam nhi anh đối đặng thì gái bốn mùa xin theo.



Muốn biết nghĩa của các từ "dầu"; "bắp"; "than"; "bạc" trong các câu hát đố trên, ta xem tiếp phần đáp lại thì hiểu được sự điêu luyện của nghệ thuật này.



Một trăm thứ dầu, dầu xoa không ai thắp. (Một dị bản khác: Một trăm thứ dầu, dãi dầu thì không ai thắp)

Một trăm thứ bắp, bắp chuối thì chẳng ai rang. (Một dị bản khác: Một trăm thứ bắp lắp bắp mồm, lắp bắp miệng thì chẳng ai rang)



Một trăm thứ than, than thân là than không ai quạt.

Một trăm thứ bạc, bạc tình bán chẳng ai mua

Chơi chữ là cách dùng các từ đơn tiết đồng âm nhưng khác nghĩa:

Trời mưa, trời gió vác đó(1) ra đơm

Chạy vô ăn cơm chạy ra mất đó(2).

Kể từ ngày mất đó(3) đó(4) ơi

Răng đó(5) không phân qua nói lại đôi lời cho đây hay?



Từ đó mà tác giả dân gian sử dụng trong bài ca dao trên vừa là danh từ chỉ một dụng cụ đánh bắt, vừa là đại từ chỉ nơi chốn được "mượn" làm đại từ nhân xưng chỉ người. Từ đó(2), đó(3), đó(4) là thú vị và đa tầng nghĩa nhất vậy.

Gợi lên một ý nghĩa khác "tục" mà thanh bởi từ "đẩy" đa nghĩa (cả nghĩa trong khẩu ngữ) của câu ca dao sau đây:


Em ơi nên lấy thợ bào

Khom lưng ảnh đẩy cái nào cũng êm


Xét từ ngữ nghĩa tường minh của văn bản thì không có gì hết, nó chỉ miêu tả một hành động bình thường của anh thợ mộc làm động tác bào cây, gỗ, nhưng xét về nghĩa hàm ẩn của nó thì thật là "độc", mà cái "độc" ấy là do nghệ thuật "chơi chữ' tạo ra.


Công dụng của nét chơi chữ ấy dùng để phê phán. Phê phán thầy đồ đạo cao đức trọng, cố ý "thanh cao" nhưng không tránh khỏi cái bản năng bình thường của con người, tác giả dân gian chơi chữ "đồ" để mỉa mai hết sức thâm thuý trong bài ca dao sau đây:



Nhân lúc đồ ngồi nhàn hạ

Ra hồ sen xem ả hái hoa

Ả hớ hênh ả để đồ ra

Đồ trông thấy ngắm ngay tức khắc

Đêm năm canh đồ nằm khôn nhắp

Những mơ màng đồ nọ tưởng đồ kia



"Đồ nọ" tưởng "đồ kia" là hai từ đồng âm nhưng một từ với nghĩa là thầy đồ - một hạng người trong xã hội, và một từ "đồ" cũng là danh từ nhưng để chỉ sinh thực khí của phụ nữ!

Nhiều khi cách chơi chữ đồng âm này tránh được cái tục, một sự nói tránh hết sức tinh tế:


Sáng trăng em nghĩ tối trời

Em ngồi em để sự đời em ra

Sự đời em bằng lá đa

Đen như mõm chó chém cha sự đời.


Cái sự đời mà câu ca dao đề cập bằng việc dùng nghĩa lấp lửng nước đôi như trên chắc chắn rằng ai cũng biết đó là cái gì rồi!

Phê phán "bà già" còn muốn chồng được tác giả dân gian mỉa mai bằng cách chơi chữ "lợi" trong một bài ca dao quen thuộc:


Bà già đi chợ Cầu Đông

Xem bói một quẻ lấy chồng lợi chăng

Thầy bói gieo quẻ nói rằng

Lợi thì có lợi nhưng răng không còn



Lợi vừa là tính từ chỉ việc có ích, vừa chỉ một bộ phận trong vòm họng con người: cái " nướu răng"!

Đôi khi kín đáo hơn, nhẹ nhàng, để nói đến thân phận bấp bênh về thân phận của người phụ nữ trong xã hội ngày trước dân gian có câu:


Thân em như cá rô mề

Lao xao giữa chợ biết về tay ai.


Ví "thân em" với cá rô mề, quả là khó còn từ ngữ nào đắc hơn trong văn cảnh vừa dẫn, bởi nói vừa chỉ được nhiều điểu mà người sáng tạo ra nó muốn nói.

Trái lại hiện tượng trên, là việc dùng từ đồng nghĩa để chơi chữ với dụng ý phê phán rõ ràng:


Có cứt thì lúa mới xanh

Quần hồ áo cánh bởi anh cứt này


Thực ra những từ không được sạch sẽ trên đây có từ "phân" đồng nghĩa với nó, nhưng dân gian không dùng "phân" mà thay "phân" bằng …(!) để nhắc nhở những người gần bùn mà vội "quên đi mùi bùn"(!)

Xong có lẽ hiện tượng dùng từ cùng trường nghĩa, gần nghĩa để tạo nét liên tưởng thú vị là phổ biến nhất trong ca dao:


Con quạ nó ăn tầm bậy tầm bạ nó chết,

Con diều xúc nếp làm chay,

Tu hú đánh trống bảy ngày,

Con bịp nó dậy, nó bày mâm ra.

Con cuốc nó khóc u oa,

Mẹ nó đi chợ đàng xa chưa về.


Bài ca dao tập hợp những con chim sống trọng bụi quạ, diều, tu hú, bìm bịp, cuốc, cho mỗi con đóng vai trò thích hợp với đặc điểm của chúng: diều với quạ cùng loại nên đóng vai trò chính; tu hu đầu mùa hè hay kêu; bìm bịp thường hay ở trong bụi rậm, ít bay đi đêm, như người nội trợ; cuốc lủi trong bụi như tìm ai, tiếng kêu của nó sầu não như khóc như than. Đây là cách chơi chữ dùng các từ cùng trường nghĩa để khắc hoạ lên những bức tranh dân gian về một đám ma nghèo nhưng đầy đủ lễ thức. Vừa phản ảnh một phong tục ngày trước với nhiều màu sắc độc đáo nhưng cũng không giấu tính châm biếm sắc sảo.

Cùng kiểu như vậy ta còn có thể gặp trong các bài ca dao tương tự:


Con cò chết rủ trên cây,

Cò con mở lịch xem ngày làm ma

Cà cuống uống rượu la đà

Chim ri ríu rít bò ra chia phần

Chào mào thì đánh trống quân,

Chim chích cỡi trần vác mõ đi rao.


Hoặc:


Con cò mắc giò mà chết

Con quạ ở nhà mua nếp làm chay

Con cu đánh trống bằng tay

Chào mào đội mũ làm thầy tế văn

Chiền chiện vừa khóc vừa lăn

Một bầy chim sẻ bịt khăn khóc cò


Chọn những con vật cùng trường nghĩa khác, bài ca sau đây cũng dùng cách chơi chữ ấy:


Cóc chết bỏ nhái mồ côi,

Chẫu ngồi chẫu khóc :" Chàng ơi là chàng"

Ễnh ương đánh lệnh đã vang,

Tiền đâu mà trả nợ làng ngoé ơi!



Tác giả dân gian tập hợp trong bài ca dao này các con vật cùng loài với cóc: nhái, chẫu chuộc, chầu chàng (chẫu chàng thân và chi mảnh, dài; chẫu chuộc cũng giống như chẫu chàng nhưng lớn hơn); ễnh ương, ngoé là giống nhái bén. "Chàng" trong câu câu ca trên vừa là con vật (chẫu chàng) vừa là đại từ chỉ người trong cặp đại từ nhân xưng cổ: chàng – nàng. Như vậy, bài ca dao vừa chơi chữ bằng cách dùng từ đồng âm, vừa chơi chữ bằng cách dùng các từ cùng trường nghĩa.

Đôi lúc ghép những từ cùng trường nghĩa để chơi chữ với tính chất "trào lộng":


Chị Xuân đi chợ mùa hè

Mua cá thu về chợ hãy còn đông


Những từ đồng âm khác nghĩa (Xuân, thu, đông) và các kết hợp các từ cùng trường nghĩa với nhau tạo nên nét độc đáo: hoá ra đó là bốn mùa trong năm!

Một bài khác:


Anh Hươu đi chợ Đồng Nai

Bước qua Bến Nghé ngôi nhai thịt bò

Vui đùa với chữ là dụng ý chính của những câu ca dao này!


Hoặc để chỉ một cảnh sinh hoạt bình thường của một gia đình làm nghề chài lưới:


Cha chài mẹ lưới con câu

Chàng rễ đóng đáy con dâu ngồi nò.

Hay như để chỉ các sản vật là lương thực mà con người đổ không biết bao nhiêu giọt mồ hôi để tạo ra, tác giả dân gian gửi gắm:



Thấy nếp thì lại thèm xôi

Ngồi bên thúng gạo nhớ nồi cơm thơm

Hai tay xới xới đơm đơm

Công ai cày cấy sớm hôm đó mà.

Chiết tự ra từ một từ láy, hoặc một từ ghép để "chơi chữ":

Cô giỏi cô giang, cô đang xúc tép

Cô thấy anh đẹp cô đổ tép đi


Từ "giỏi giang" được chiết tự ra làm hai thành tố để rồi kết hợp lại nhằm nhấn mạnh tính cách của chủ thể "cô" trong câu ca trên. Đó cũng là một dạng của nghệ thuật chơi chữ!

Việc dùng từ trái nghĩa trong cùng một câu thơ, cũng là một hiện tượng chơi chữ của dân gian:


Bánh cả thúng sao gọi là bánh ít

Trầu cả khay sao dám gọi trầu không.

Hoặc như:

Lươn ngắn mà chê trạch dài

Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm.


Chạch là loại cá trông giống lươn cỡ nhỏ, thân ngắn. Thờn bơn là loại cá thân dẹt, miệng và mắt lệch lên phía trên đầu. Trai là loại động vật thân mềm, vỏ cứng, gồm hai mảnh, thường há ra như cái miệng. Với nghệ thuật chơi chữ để giễu nhại giống như kiểu: "Chuột chù chê khỉ rằng hôi/ Khỉ mới trả lời cả họ mày thơm" tác giả dân gian muốn châm biếm những người đem chủ quan của mình gán ghép cho người khác mà không thấy được mình cũng có khuyết điểm tương tự như thế, chả ai hơn ai, chả biết mèo nào cắn mỉu nào!


Trong nhiều lời hát đối đáp cũng có hiện tượng như vậy:


Giàn hoa bể cạn nước đầy

Cá vàng hoá bạc chàng rày đối chi?

Chơi chữ là dùng cách nói lái, tức là đảo vị trí phần vần và thanh điệu của hai từ liền kề nhau:

Con cá đâu anh ngôi câu đó

Biết có không mà công khó anh ơi


Và:


Con cá đối nằm trong cối đá

Con mèo đuôi cụt nó năm mục đuôi kèo,…

Chơi chữ bàng cách dùng các từ thuần Việt đồng nghĩa với nhau:



Đi tu Phật bắt ăn chay

Thịt chó ăn được, thịt cầy thì không.



"Chó với cầy là những từ cùng nghĩa, gần nghĩa được sử dụng "chơi" để phê phán một hiện tượng "ngược đời"

Hay:


Bạn vàng chơi với bạn vàng

Chớ chơi với Vện ra đàng cắn nhau.


Từ "bạn vàng" của "những con chó" làm cho người nghe liên tưởng đến "bạn vàng của con người" cũng là một dụng ý thật đắc mà nghệ thuật chơi chữ tạo ra.

Hoặc đôi lúc dùng một tiếng Việt đồng nghĩa với một từ Hán Việt để chơi chữ:


Có răng nói thật đi nha

Lúc trăng đang tỏ thì hoa đang thì.

"Nha" là từ Hán Việt tương đương với từ thuần Việt "răng"!



Hay như:


Rắn hổ đất leo cây thục địa

Ngựa nhà trời ăn cỏ chỉ thiên.

Rồi thì:

Cha con thầy thuốc về quê

Hồi hương phụ tử thì chàng đối chăng?



Cái độc đáo ở nghệ thuật chơi chữ trong câu thơ này là vừa có hai từ tương đương nghĩa "cha con" (thuần Việt) với "phụ tử" (Hán Việt); "về quê" (thuần Việt) với "hồi hương" (Hán Việt). Rồi "thầy thuốc" để chỉ nghề nghiệp của hai "cha con" mà "hồi hương", "rồi phụ tử" là những vị thuốc nổi tiếng trong đông y!

Cuối cùng hết của các dạng chơi chữ trong ca dao mà chúng tôi khảo sát được là việc đảo trật tự từ ngữ để tạo ra nghĩa ngược với thực tế:

Bao giờ cho đến tháng ba

Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng

Hùm nằm cho lợn liếm lông

Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi

Nắm xôi nuốt bé lên mười,

Con gà mâm rượu nuốt người lao đao

Lươn nằm cho trúm bò vào

Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô

Lúa mạ nhảy lên ăn bò,

Cỏ năn, có lác rình mò bắt trâu

Gà con đuổi bắt diều hâu,

Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông.


Tất cả các sự việc, các hành động và chủ thể tạo nên hành động trong bài ca dao trên đều ngược nghĩa so với hiện thực cuộc sống. Đều mà tác giả dân gian muốn gửi gắm ở đây có lẽ với hai dụng ý rõ rệt: vừa mua vui với chữ nghĩa, vừa muốn nói lên một sự bất công ngang trái trong xã hội ngày trước!


Như vậy, tuy khác nhau về lời lẽ song có thể thấy mấy điểm chung trong các cách hiểu trên về chơi chữ.

- Chơi chữ là một biện pháp tu từ được dùng trong ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ văn thơ)

- Biện pháp chơi chữ được thực hiện dựa trên các tiềm năng về chất liệu ngôn ngữ dân tộc. Các tiềm năng về âm thanh, chữ viết, từ đồng âm, đồng nghĩa, v.v, ...càng phong phú thì càng tạo điều kiện cho chơi chữ phát triển.

- Chơi chữ tạo nên những liên tưởng bất ngờ, thú vị về nhận thức, đồng thời có tác dụng châm biếm, hài hước, thư giãn bằng chữ nghĩa, v.v…

Riêng trong ca dao chơi chữ đã thể hiện nét phong phú độc đáo trong tâm hồn của người nông dân "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn"./.


*Trong bài viết có tham khảo tài liệu chép tay (chuyên đề dành cho thạc sĩ Ngữ văn): "Truyền thống ngữ văn của người Việt" của T.S Trần Văn Minh, Trường Đại học Vinh.

Trần Minh Thương
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Users browsing this topic
Guest (2)
11 Pages«<91011
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.