Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

7 Pages«<567
Options
View
Go to last post Go to first unread
phamlang  
#121 Posted : Tuesday, July 19, 2016 1:32:40 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
June 10, 2016

SO MUCH I SEE MY MUMMY!


Một lần cách đây không lâu ở Trung quốc có xẩy ra một trận động đất tuy không lớn lắm nhưng cũng làm thiệt mạng một số người, khoảng hơn hai trăm mạng gì đó. Bản tin ấy đến với chúng tôi trong bữa ăn tối ở nhà người bạn. Một phụ nữ trong bàn ăn nghe thấy bản tin truyền hình vọng từ phòng khách vào đã ngậm ngùi và nói với chủ nhà rằng bà thấy rất tội nghiệp cho các nạn nhân, rồi cứ thế mà "thương quá đi cơ chứ... tội quá... sao mà lại khổ đến như thế..." Tôi tưởng nàng sắp buông bát xuống, bỏ ngang bữa cơm và gục xuống bàn khóc như trời thảm đất sầu đến nơi. Nếu nàng làm đúng như vậy thì tôi, lúc ấy đang ngồi trước mặt nàng, sẽ phải phản ứng như thế nào? Phải phụ họa vài ba câu nghẹn ngào, đứng dậy đến bên nàng, đặt tay lên vai nàng đang rung lên và an ủi mấy câu chăng?

May mà tôi đã không làm những việc đó. Nhưng may hơn nữa là tôi đã tự kiềm chế được để không đặt mạnh chai bia xuống bàn ăn và buông ra đôi ba lời thô tục. Rất thô tục. Và hét lên câu này: "That served them well! I hate them so much I see my mummy! They deserved it!" Tuy thế, nghĩ lại, không lẽ lúc nào cũng... lôi mẹ mình ra nên lại thôi. Nhưng sự thực là tôi ghét chúng nó... thấy mẹ luôn.

Chúng nó là bọn hàng xóm cực kỳ khốn nạn của chúng ta. Đi thuê nhà, bị thằng hàng xóm mất dậy thì dọn nhà đi chỗ khác. Bán anh em xa mua láng giềng gần nhưng khổ cho dân tộc chúng ta, đâu có phải cứ thấy thằng hàng xóm đểu giả là chúng ta kiếm chỗ khác mà dọn đi được đâu. Trên thế giới này thiếu gì những nước sống yên bình hiếu hảo với nhau. Gần với chúng ta thì như Lào và Thái. Xa xôi thì như Pháp, Thụy Sĩ với Bỉ hay Ý. Xa hơn nữa là như Úc và Tân Tây Lan chẳng hạn. Cũng có những nước từng có thời xung đột với nhau nhưng rồi lại vượt lên trên những xích mích đó để lại sống hòa hoãn với nhau như Hoa kỳ với Canada và Anh quốc.

Nhưng Trung quốc là một nước vô cùng đểu giả và khốn nạn với Việt Nam. Không có một lúc nào Trung quốc đối xử tử tế với Việt Nam. Cho dù là dưới triều đại nào đi chăng nữa. Bất kể là Hán, Nguyên, Minh hay Thanh... hay gì gì đi nữa. Chúng nó lúc nào cũng chỉ muốn chiếm lấy Việt Nam, tiêu diệt nền văn minh, văn hóa của Việt Nam. Cái gì của chúng, chúng giữ làm của riêng cho chúng, không bao giờ để lọt vào tay những dân tộc khác. Trong khi đó, chúng tìm đủ mọi cách để chiếm đoạt những thứ của các nước khác. Chúng cậy lớn bắt nạt Việt Nam, bắt phải trao nộp các sách vở của người Việt, cống các học trò giỏi, các bộ óc của chúng ta. Đến như trái bắp chúng cũng giữ riêng nếu không nhờ một sứ thần Việt Nam lén mang được vài cái hạt giống về nước thì chúng ta cũng sẽ chẳng bao giờ có được cái bắp ngô.

Nếu như hai nước đang ở trong những xung đột, tranh chấp với nhau mà nó đối xử với chúng ta như thế thì cũng có thể tạm hiểu được đi, mặc dù những vụ xung đột đó không xẩy ra vì những khiêu khích đến từ phía Việt Nam. Có bao giờ một nước nhỏ là Việt Nam lại dại dột đem quân đánh một nước lớn, ngoại trừ những toan tính không thành của Lý Thường Kiệt và Quang Trung nhắm đòi lại những vùng đất chúng chiếm của Việt Nam.

Những ý đồ khốn nạn nhất của bọn Bắc Kinh lại đang được đẩy mạnh tối đa vào lúc này

Không may cho Việt Nam, những âm mưu tàn độc đó lại được tiếp tay rất tích cực của bọn bán nước ở Hà Nội. Không bán thì chúng nhường, cho không, không cho không thì cho thuê với những điều kiện gần như không là một điều kiện nào hết. Và khi bọn Tầu khốn nạn ngang nhiên chiếm lấy những hải đảo, những vùng hải phận của chúng ta thì bọn tay sai chỉ biết câm miệng trước hành động của bọn thái thú mới. Dân chúng, nếu có nói lên thái độ yêu nước, thì bọn tay sai đàn áp tàn bạo. Đến nỗi bênh vực cho biển, cho cá cũng không được phép.

Trong khi đó, người Tầu, thường dân thôi nhé cũng đang tiến hành những kế hoạch giết dần người Việt một cách qui mô. Bọn thương lái tìm đủ mọi cách thâm độc để tàn phá nền nông nghiệp của người dân trên cạn, cộng thêm vào đó là việc đánh phá nền ngư nghiệp và đời sống của các ngư dân Việt. Chúng đưa vào Việt Nam những sản phẩm độc hại cho sức khỏe của người Việt. Không chỉ các loại hóa chất để chế biến thực phẩm gây bệnh tật cho người tiêu dùng, mà ngay cả những quần áo, giầy dép trẻ em, phụ nữ đầy độc chất gây các loại bệnh hiểm nghèo cũng được đổ sang Việt Nam để về lâu về dài tạo ra những tác hại vô cùng độc hại cho dân tộc chúng ta.

Bọn Tầu đã trở thành một giống dân vô cùng nguy hiểm, độc ác đặc biệt với Việt Nam. Chúng cũng hết sức khốn nạn với luôn cả các quốc gia khác trên thế giới. Chúng bị khinh bỉ và thù ghét ở khắp mọi nơi, cho đó là Âu, Mỹ hay Phi châu. Chúng là một giống dân tàn ác và đểu giả ở trong chính nước chúng nó cũng như khi chúng đi du lịch ở nước ngoài. Một số nơi đã công khai ghê tởm bọn du khách vô văn hóa và thẳng tay cấm cửa bọn chúng.

Thế thì việc "éo" gì mà tôi phải phí vài ba giọt nước mắt của một người mà "tuổi già gạt lệ như sương / hơi đâu chuốc lấy đôi hàng chứa chan".

Thế bộ không sót thương cả những đứa bé bị chôn sống, thiệt mạng trong trận động đất ở Trung quốc hay sao? Không cần. Chỉ phí nước mắt. Tôi nhìn những thằng Tầu khốn nạn đang tàn phá, tiêu diệt đất nước chúng ta và biết ngay và rất rõ là trước đây chúng nó cũng đã từng là những thằng Tầu nhỏ cả đấy chứ!

Vì thế, để những sót thương của chúng ta cho những đứa bé của các tỉnh miền Trung đang khốn khổ vì Formosa, những đứa bé sắp đói khát ở đồng bằng sông Cửu Long, những phụ nữ Việt bị bán sang Trung quốc làm nô lệ thì hơn.

Những đứa trong trận động đất thì kệ cha chúng nó. Vẫn ghét chúng nó thấy mẹ luôn!

Kim Thánh Thán, nhà phê bình văn học đời nhà Thanh, có lần kể là buổi sáng thức dậy thấy trong nhà xôn xao tiếng người, hỏi ra mới biết là tối hôm trước có một kẻ độc ác nhất trong tỉnh vừa lăn cổ ra chết. Ông phải thốt lên rằng "Chẳng cũng khoái ư!"

Vậy thì (tuy không "ác" như Kim Thánh Thán), tôi không khoái, nhưng nói là sót thương thì không bao giờ!



LẠI THÊM MỘT CON KANGAROO KHỐN NẠN NỮA



Một em kangaroo già vừa bị vồ trên đường trở về Úc và có thể sẽ bị cho ngồi tù bóc lịch cho đến lúc chết vì tuổi tác của em này cũng đã cao lắm rồi. Và như vậy, tuy (có thể sẽ) không bị tòa phạt tử hình nhưng em sẽ vẫn chết trong tù.

Đáng lẽ ra, em kangaroo cao niên này cứ hồn nhiên nhẩy lăng quăng với bầy, hay cà tửng với bọn roo con (joye) có phải là vui đời kangaroo không nào. Nhưng em không chịu. Phải mà em nổi máu ngựa lên, thì cứ kiếm vài ba anh kangaroo cao niên khác mà ngựa thì đâu đến nỗi. Em kangaroo cao niên này lại học đòi mê cờ bạc. Thế là cậy có cái túi (kangaroo thì phải có túi chứ) đựng ít tiền lẻ, em cứ lết tới mấy cái sòng bài mà chơi. Nhưng rồi em đánh nhỏ thua nhỏ, đánh lớn thua lớn, càng đánh càng thua. Móc hết tiền trong cái túi trước bụng ra cũng hết luôn, gỡ mãi không dược. Thế là em quay sang đi vay mượn để đánh tiếp. Em lại càng thua đậm. Em lại vay tiếp. Nợ càng ngày càng nhiều. Em trả sao nổi. Tiền đâu bây giờ. Bên Úc cũng có trợ cấp cho mấy kangaroo cao niên như em nhưng cũng không đủ để trả nợ. Tiền em vay lại là tiền của xã hội đen. Chúng nó mà đòi thì không hề có chuyện nương tay. Em phải tìm cách để trả lại số tiền vay của chúng với một khoản tiền lời còn hơn cả "xanh xít, đít đui" của mấy anh chà ở Việt Nam trước kia nữa. Không trả được thì làm sao sống. Túng thì phải tính. Em kangaroo già này được gợi ý là đi mấy chuyến du lịch Việt Nam, bỏ những gói bột mầu trắng vào trong cái túi trước bụng mang về Úc, rồi trao lại cho mấy thằng kangaroo mất dậy thuộc xã hội đen và sau vài ba chuyến như thế, em sẽ trả xong nợ. Em cứ nghĩ như thế.

Nhưng khốn nạn cho đời em. Em bị bắt quả tang ở phi trường Tân Sơn Nhất với 9 bánh bạch phiến nặng 3 kilô dấu trong 5 hũ mắm cá rô khi em định mang sang Úc để hại đời bọn kangaroo mà lại có tiền trả nợ.

Thôi nói gần nói xa mãi có thể làm xấu mặt bọn kangaroo thứ thiệt. Chi bằng nói thẳng và rõ ràng ra rằng con kangaroo mang bạch phiến sang Úc này là một con kangaroo gốc Việt Nam được cho nhập tịch Úc sau khi được cho tị nạn ở Úc. Không biết nó sang Úc được bao nhiêu năm, nó và gia đình nó được nước Úc giúp đỡ như thế nào để rồi nó quay lại cắn những bàn tay từng giúp đỡ nó, cưu mang nó.

Cái con mẹ khốn nạn, vô ơn bạc nghĩa đó nào phải là thứ trẻ người non dạ gì cho cam. Nó đã quá cái tuổi "cổ lai hy" cả mấy năm để có thể nhắc tới nó bằng danh xưng "cụ bà" như trong một vài tờ báo Việt ngữ ở đây. Phải gọi nó là một con mụ chó má khốn nạn làm xấu mặt tất cả những người Việt ở Úc. Nó không là một "cụ bà". Nó là cái thứ lưu manh khốn nạn nhất đã trở mặt quay lại cắn những bàn tay ân nhân từng cứu giúp nó.

Nhưng nó không phải là đứa duy nhất. Năm ngoái, một con già khốn nạn khác cũng ngoài tuổi "thất thập" cũng bị bắt khi tìm cách đưa vào Úc một số bạch phiến dấu trong mấy chục bánh xà bông. Rồi một con khác thì chết trước khi lên máy bay vì bọc bạch phiến bị vỡ khi dược dấu trong cửa mình. Một bọn khác thì dấu trong những chiếc trang thờ mang từ Việt Nam qua. Mấy năm trước, một thanh niên định mang bạch phiến vào Úc thì bị chặn ở Malaysia và bị tử hình mặc dù có sự can thiệp của chính phủ Úc. Ngoài ra còn hơn một chục vụ khác cũng do những con kangaroo khốn nạn tương tự định hại đời những người Úc, những người dân của cái quốc gia mà bọn sinh viên Việt Nam chúng tôi hưởng học bổng Colombo du học ở Úc vô cùng yêu mến trong những năm trước năm 1975.

Nhớ chuyện cây quýt Giang Nam đem trồng chỗ khác thì mất đi vị ngọt. Hay là cây quýt được tưới bằng thứ nước tưới khốn nạn thì cũng chua lè chua lét. Hệt như cá ở Vũng Áng lăn ra chết vì cái thứ nước biển chó chết chăng!

ĐÔNG Á BỆNH PHU

Giữa thế kỷ 19 Trung Hoa dưới triều nhà Thanh đã trải qua hai cuộc chiến tranh với đế quốc Anh. Trận Nha Phiến Chiến Tranh thứ nhất diễn ra từ năm 1840 đến 1843 và trận thứ nhì từ 1856 đến 1860. Trong trận thứ nhì, Anh còn được Hoa kỳ, Pháp và Nga trợ chiến. Triều đình Thanh thua nặng nên đã phải ký với Anh một số hiệp ước bất bình đẳng, phải nhường một số đất đai cho Anh, phải mở cửa khẩu cho các nước ngoài tiến vào buôn bán và phải chấp thuận nhiều đòi hỏi phi lý ngay trên đất nước Trung Hoa.

Nguyên do đưa tới hai cuộc binh biến này là vì Anh muốn đem nha phiến do công ty Đông Ấn của họ sản xuất để bán tại Trung quốc kiếm lời. Nhưng việc đưa nha phiến vào cũng khiến cho đông đảo người Trung Hoa mắc vào vòng nghiện ngập. Triều đình nhà Thanh nhìn ra những nguy hiểm này của nha phiến nhưng cũng không làm được gì. Nếu tình trạng nghiện nha phiến kéo dài và lan rộng khắp trong nước thì người dân Trung Hoa sẽ trở thành một dân tộc bạc nhược, yếu hèn. Họa diệt vong nhất định sẽ tới với nước Trung Hoa.

Người Nhật nhìn ra điều đó và thấy ngay người Hoa đang trên đường trở thành môt dân tộc bạc nhược, bệnh hoạn, ươn hèn. Các võ sĩ Nhật thách đấu với võ sĩ Trung quốc và đã thắng lớn trong nhiều cuộc tỉ thí nên người Nhât càng tin là Trung Hoa đang trên đường hủy diệt. Điều này được nhắc lại trong cuốn phim nhan đề "Tinh Võ Môn". Trong phim, võ đường của Hoắc Nguyên Giáp, một võ sư tìm cách dấy lên phong trào dùng võ thuật để lành mạnh hóa đất nước Trung Hoa, bị một võ đường của người Nhật ở Thượng Hải hạ nhục bằng cách tặng cho bốn chữ "Đông Á Bệnh Phu", người bệnh của Đông Á châu. Một võ sinh thuộc võ đường Tinh Võ Môn là Trần Chân (do Lý Tiểu Long thủ diễn) đã đến tận võ đường Nhật bản quăng trả lại bức hoành phi có nội dung nhục mạ người Hoa đó.

"Đông Á Bệnh Phu" là chữ Hán. Các quốc gia Tây phương thì gọi nước Trung Hoa là "the sick man of Asia". Việc hạ nhục nước Trung Hoa như thế phần nào đã là nguyên do đưa tới cuộc nổi dậy phò Thanh diệt dương, đánh ngoại quốc giúp nhà Thanh, lôi kéo Trung Hoa vào những cuộc chiến khác.

Thực ra người Anh khi đưa nha phiến vào Trung Hoa là chỉ cốt làm tiền chứ cũng không nghĩ tới việc làm suy yếu đất nước và dân tộc Trung Hoa. Nhưng nha phiến thì lại tạo ra một thảm họa khác cho nước Trung Hoa. Chuyện nghiện ngập tạo ra những tác hại về sức khỏe, cho thể lực và tinh thần, ý chí của người dân Trung Hoa chỉ là cái phó sản của nha phiến. Người Anh khi đi chiếm thuộc địa thì cũng độc ác lắm nhưng trong trường hợp đưa nha phiến vào Trung Hoa thì họ không có chủ đích độc địa là muốn biến nước này thành một quốc gia có những người dân bệnh hoạn, bạc nhược cả thể xác lẫn tinh thần.

Tuy thế, nếu nha phiến đưa tới những hậu quả như thế thì cũng... chẳng sao.

Ngày nay những "bệnh phu", những người bệnh ở Đông Á đang thấy dần dần xuất hiện.

Lần này, người Anh không phải là thủ phạm tạo ra những người bệnh này. Thế giới đã trải qua nhiều thay đổi. Thế giới không còn nước nào có những hành xử độc ác như cố tình gây ra những tai họa khủng khiếp cho những dân tộc, những quốc gia như hồi thế kỷ thứ 19 nữa.

Thì chúng ta vẫn tin tưởng như thế. Nhưng sự thực không đúng như vậy. Nếu chúng ta nhìn vào Việt Nam thì sẽ thấy ngay là người Việt đang trở thành những "Đông Á Bệnh Phu" của thế kỷ 21. Thủ phạm tìm cách biến người Việt thành "Đông Á Bệnh Phu" mới này là nước láng giềng với chủ trương đối với Việt Nam bằng 16 chữ vàng 4 chữ tốt, dựa trên tình đồng chí anh em, môi hở răng lạnh... Trung quốc đang làm tất cả những gì làm được để đẩy Việt Nam vào tình trạng diệt vong. Các "Đông Á Bệnh Phu" mới này sẽ lôi đất nước và dân tộc đến chỗ hủy diệt trong một thời gian rất ngắn. Vào năm 2020, con số người Việt mắc bệnh ung thư sẽ là con số cao nhất thế giới.

Trung quốc đang làm mọi việc để đưa tới thảm họa đó. Trung quốc đầu độc người Việt bằng các sản phẩm mà họ bán sang Việt Nam và tràn ngập Việt Nam bằng các loại hàng hóa gây ung thư và nhiều thứ bệnh nan y khác cho người tiêu thụ Việt Nam, cho đó là những loại quần áo, đồ chơi trẻ em hay những nịt vú của phụ nữ... Tại sao những hàng hóa do Trung quốc bán sang Việt Nam đều chứa những độc chất gây ung thư cho người dùng thì không ai có thể hiểu được. Gần như tất cả các sản phẩm Trung quốc bán sang Việt Nam đều có các chất gây càc bệnh độc địa mà nhiều nhất là bệnh ung thư.

Các loại thực phẩm mà Trung quốc bán sang Việt Nam cũng chứa các độc chất gây ung thư. Từ trái cây đến các loại thịt đều được tẩm ướp các hóa chất mà quốc tế đã cấm dùng trong kỹ nghệ chế biến thực phẩm đều được Trung quốc đưa sang Việt Nam. Những loại hàng không nhập cảng từ Trung quốc và được sản xuất ở Việt Nam thì đều dùng các loại hóa chất sản xuất tại Trung quốc bán đầy ở Việt Nam để chế biến, giữ cho tươi, không bị hư hỏng. Tất cả đều là những hoá chất độc hại có thể tạo hậu quả nguy hiểm cho người tiêu thụ Việt Nam. Luôn cả các thuốc Tây y cũng như các loại dược thảo do họ bán sang Việt Nam cũng có những tác hại nguy hiểm cho người dùng vì có thể là sản phẩm giả mạo hay cố tình bào chế bằng các loại chất độc. Tại một số thành phố, ngay cả Hà Nội và Sài Gòn cũng có các y sĩ giả Trung quốc mở phòng mạch chữa bệnh "chui" cho bệnh nhân người Việt và kết quả ra sao thì ai cũng có thể đoán được.

Trung quốc còn tung ra những hoạt động khác để giết cho bằng được dân tộc Việt Nam, trong đủ mọi lãnh vực nông nghiệp, kinh tế, xã hội...

Những trò thu mua chân bò, chân trâu, lông đuôi voi, ốc bươu vàng, đỉa...hay đặt mua hột điều, dưa hấu, thịt heo... rồi thình lình không mua nữa làm cho nông dân điêu đứng sống dở chết dở. Kỹ nghệ sản xuất cà phê của Việt Nam đang bị đe dọa trầm trọng vì một số khu vực trồng cà phê đang bị dẹp để trồng các loại cây khác qua kế hoạch độc hại của bọn thương lái Trung quốc. Đó là trên cạn, trên đất liền còn ở ngoài biển thì tầu đánh cá của ngư dân Việt bị tầu Trung quốc tấn công, cấm đánh cá ngay trong hải phận Việt Nam. Gần đây hơn là việc nhà máy thép Formosa thả độc chất xuống biển khiến cá chết ở khắp 4 tỉnh miền Trung. Đó là chưa kể những tàn phá tạo ra cho môi trường sống ở cao nguyên và nhiều nơi khác của Việt Nam. Và luôn cả vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng đang bị bức tử vì những đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong do Trung quốc xây dựng. Nhiều diện tích trồng lúa và cây trái của Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng. Sản lượng lúa gạo sẽ giảm sút nặng.

Đất đai bị mất vào tay Trung quốc bằng nhiêu cách như ngụy trang bằng những bề ngoài hợp pháp hay bất hợp pháp. Nhiều khu vực chiến lược đã bị bán cho Trung quốc. Người Hoa có mặt khắp nơi ở Việt Nam. Những khu phố Tầu mọc lên ở nhiều tỉnh, các bảng hiệu toàn viết bằng chữ Tầu, nhiều cơ sở thương mại không tiếp người Việt, chỉ nhận nhân dân tệ. Một vài nơi đã trở thành những tô giới hay nhượng địa tuy chưa chính thức trên giấy tờ. Những nơi ấy người Việt bị cấm ra vào. Cảnh sát cũng không được phép xâm nhập.

Người Việt đang trở thành những "Đông Á Bệnh Phu" mới về đủ mọi mặt cả về sức khỏe cũng như đời sống kinh tế. Nhưng khác với "Đông Á Bệnh Phu" ở Trung Hoa thời thế kỷ 19, các "Đông Á Bệnh Phu" ở Việt Nam đang được sự tiếp tay của chính nhà nước Việt Nam. Nhà nước không làm bất cứ gì để ngăn chặn các việc làm giết người Việt của Trung quốc, để mặc và khuyến khích, tiếp tay với Trung quốc kệ cho người Việt trở hành "Đông Á Bệnh Phu" của thế kỷ 21.

Khốn nạn vô cùng!


THE OLD MAN AND THE... CLAMS



Năm 1953 Ernest Hemingway cho in cuốn tiểu thuyết ngắn của ông, cuốn The Old Man And The Sea, tác phẩm đã đóng góp nhiều cho giải Nobel Văn Chương mà Hemingway được trao năm 1954. Cuốn novella của Hemingway mở đầu như thế này:

"Lão là một ông già đánh cá một mình trên chiếc thuyền nhỏ trên dòng hải lưu trong vịnh Mexico. Ròng rã đi biển trong suốt 84 ngày, lão không bắt được con cá nào. Trong 80 ngày đầu tiên, lão có một chú bé đi cùng. Nhưng vì lão không câu được con cá nào nên cha mẹ chú bé nói với chú rằng lão xui quá nên chú được đưa sang thuyền của người khác, và ngay trong tuần lễ đầu, chiếc thuyền đó đã bắt được rất nhiều cá..."

Ông già Santiago sống một mình, không vợ, không con, chỉ có cậu bé Manolin làm bạn trong những chuyến ra khơi. Nhưng rồi chính người bạn nhỏ ấy của ông già, Manolin, cũng bỏ ông. Không bỏ cuộc, ông vẫn ngày ngày dong thuyền ra biển bất kề những buổi chiều thuyền trở về bến không có một con cá nào trên thuyền. Chú bé Manolin vẫn mỗi chiều đón ông trở về bến, giúp ông đem lưới và kéo thuyền lên bờ. Người dân của cái làng chài ấy không hiểu vì sao ông vẫn ra biển nhưng Santiago tin là ông thế nào cũng sẽ bắt được một con cá lớn như ông vẫn thấy trong những giấc mơ về thời tuổi trẻ của ông. Trong những giấc mơ ấy, ông vẫn là một ngư ông kinh nghiệm, suốt cả một đời sống với biển và với cá.

Đến ngày thứ 85, một con cá chắc là lớn lắm đã cắn vào lưỡi câu của ông lão. Con cá vùng vẫy dữ dội lôi thuyền của ông đi xa trong suốt hai ngày đêm. Ông lão cố đem nó vào bờ. Ông tìm đủ mọi cách để đưa nó lên thuyền nhưng không được. Con kiếm ngư quá lớn. Rồi ông không còn nghĩ nó là một con cá mà ông phải giết cho bằng được nữa. Ông thấy nó như một người bạn giữa biển rộng trời cao. Ông cảm thấy bớt đi những cô đơn. Ông thấy nó là một an ủi như con chim nhỏ từ đất liền bay ra đậu trên mũi thuyền của ông. Đến lúc con marlin không còn vùng vẫy tìm cách thoàt đi nữa thì ông lại thấy nó như một người em mà ông phải hết lòng bảo vệ chống lại bầy cá mập hung dữ kéo đến tới tấp tấn công nó. Ông giết được 5 con cá mập nhưng con kiếm ngư mà ông yêu quí sau những trận tấn công của bầy cá mập chỉ còn một bộ xương khi ông trở về bến.

Ông kéo thuyền lên bãi cùng với bộ xương con kiêm ngư và về nhà ngủ, mơ tiếp những cơn mơ về thời trẻ, những chuyến đi săn sư tử ở Phi châu.

Tôi nghĩ đến một lão ngư ông với một câu chuyện không khác chuyện của ông già Santiago bao nhiêu. Ông cũng ngày ngày ra khơi một mình trên chiếc thuyền nhỏ như ông đã làm từ cả mấy chục năm nay. Những mẻ cá ông lưới được tuy không bao nhiêu nhưng cũng vừa đủ nuôi sống gia đình ông trong suốt nhiều năm. Vợ ông đã chết. Mấy đứa con không theo nghề của ông đã rời cái xóm chài ấy đi làm ăn xa. Ông lão vẫn một mình đi biển. Ông không ra xa vì sức khỏe không cho phép, ngoài ra ông cũng sợ lũ tầu "lạ" kéo cờ 5 ngôi sao tấn công như nhiều tầu cá cũng ở xóm chài đã bị húc tan tành, đắm ở xa bờ, người trên thuyền thì bị đánh đập, bắt đi để đòi tiền chuộc mặc dù những chiếc thuyền ấy chỉ đánh cá ở những vùng ngư dân như ông vẫn đánh cá từ bao nhiêu năm nay.

Tưởng như vậy cũng đã đủ khó khăn cho ông lão và các bạn chài của ông rồi nhưng đột nhiên đầu tháng 4 vừa qua, sáng ra cả làng hốt hoảng khi thấy cá chết tấp vào trắng xóa bãi biển. Hàng trăm ngàn đủ mọi giống cá to nhỏ chết nhiều vô số kể. Dân làng không biết phải làm gì với những con cá chết đó. Chỉ một hai ngày sau, những con cá chết này thối rữa dưới nắng nhiệt đới. Vài ba người trong xóm mang về ăn thử thì lập tức ói mửa dữ dội nên không ai dám đụng tới chúng nữa. Rồi những con hải âu cũng lăn ra chết sau khi ăn những con cá chết.

Ngư dân xóm chài vẫn ra biển, cố ra xa hơn mọi lần. Số cá đánh được giảm hẳn và chiều đến, khi trở về bến thì những con cá lưới được trên thuyền cũng chết hết. Người ta không biết chuyện gì đang xẩy ra trong vùng biển của họ. Đài phát thanh cũng không cho biết thêm được bao nhiêu. Một vài người nói là cá chết là do những chất độc thải ra từ một nhà máy ở gần đó. Nhưng các cán bộ thì nói không phải. Đến nay đã là hơn một tháng nhưng những người có quyền ăn, quyền nói vẫn không một lời giải thích về vụ cá chết. Một vài người nói là cá vẫn an toàn, vẫn ăn được và biển vẫn sạch có thể tắm được. Họ còn biểu diễn ăn những con cá nói là bắt từ biển lên. Nhưng biết đâu đó chẳng là cá bắt ở những nơi khác, và xuống biển tắm xong thì ù té lên bờ tắm lại bằng nước sạch trong khách sạn.

Và cá vẫn chết trắng trên những bãi biển ở nhiều tỉnh. Cá thì chết trong khi đó, bọn ngao, hến, sò, ốc bỏ trốn (rất nhiều) khỏi các vùng biển về những nơi an toàn hơn và nhầt định tiếp tục... câm như hến cả lũ không đả động hay nhắc đến chuyện cá chết và nguyên do đưa tới cảnh khốn khổ của ngư dân...

Biển đã chết. Cá cũng chết.

Không còn ông lão Santiago, chú nhỏ Manolin nữa, Những con kiếm ngư cũng đã bỏ đi thật xa. Lão ngư ông không còn biển cả nữa. Hemingway muốn đổi cái nhan đề của cuốn sách.

Hay là đề nghị ông đổi thành The Old Man And The Clams : Lão Ngư Ông và bầy Hến.

Không còn biển cả nữa. Chỉ còn một lũ ăn hại đái nát, khi có chuyện thì câm như hến! Lũ hến còn bắt cả những người khác cũng phải câm như chúng. Ai lên tiếng đòi biển sạch là chúng dùng bọn côn quang hành hung rồi bắt hết.

Khốn nạn cho biển cả của lão ngư ông! Cha tiên sư bọn hến!


XÚI TRẺ ĂN CÁNH (?) GÀ


Cái tựa của bài viết, "Xúi Trẻ Ăn Cánh Gà", chắc chắn sẽ / đã làm cho người đọc thắc mắc không ít. Chuyện xúi bẩy nhất định không thể nào là chuyện cần thiết. Xúi bẩy chỉ cần khi một hành động nào đó không phải là chuyện đem lại thú vị, thuận lợi, có ích... cho người ta. Những điều ngược lại có thể tạo thích thú, lợi ích thì nhất định không cần phải được xúi bẩy. Thí dụ món cánh gà chiên bơ, hay chiên nước mắm chẳng hạn thì cần gì phải đợi được xúi bẩy người ta mới ăn. Người Mỹ cũng rất ưa món buffalo wing. Không cần được xúi mới ăn.

Món chân gà trong thực đơn của mấy tiệm Tầu, với cái tên "phụng trảo", nghe hấp dẫn và bí hiểm hơn cũng vậy. Không cần phải xúi, vẫn có nhiều người mê nó.

Thế thì tại sao lại có cái tựa nghe không thuận tai cho bài viết này? Lý do là vì có thể một vài người lại thấy... không thuận tai nếu viết đúng như người xưa vẫn nói từ rất lâu. Câu người xưa vẫn nói là "xúi trẻ ăn cứt gà". Nhưng với một số người thì danh từ "cứt" không được thanh tao lắm nên mỗi khi đề cập tới nó, nhiều người tránh nói thẳng ra mà thay vào đó, chọn cách viết tắt chữ "cứt" thành "c..". Việc (viết tắt) này chỉ có thể làm được sau khi ông Bá Đa Lộc và mấy ông cố đạo Bồ Đào Nha đến Việt Nam và chế ra chữ quốc ngữ cho chúng ta. Có chữ quốc ngữ chúng ta mới biết viết tắt. Trước khi có chữ quốc ngữ thì các cụ muốn tránh nói huỵch toẹt ra thì phải làm sao? Không lẽ xẻ đôi chữ Nôm ra, dùng chữ "thỉ", bỏ chữ "cát" đi hay sao? Dĩ nhiên là không được. Viết tắt như vậy thì ông Hàn Thuyên hay bà Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm cũng chịu thua. Vậy thì cứ làm như người Anh, người Mỹ: "Call a spade a spade", gọi cái xuổng là cái xuổng cho tiện việc sổ sách.

Chuyện "xúi trẻ ăn cứt gà" tưởng chỉ là một cách nói của chúng ta khi muốn đề cập tới chuyện khuyến khích, hối thúc ai đó làm một công việc mà chính người làm công việc xúi bẩy đó không sẵn sàng để làm, vì việc đó chắc chắn sẽ bất lợi, gây thiệt hại hay tổn thương cho người làm công việc đó.

Nhưng mới đây, ở Việt Nam, các trường học đã đem dùng một bộ sách có tên "Thực Hành Kỹ Năng Sống" do nhà xuất bản Giáo Dục phát hành từ năm 2014. Bộ sách này gồm nhiều cuốn dùng để dậy các học sinh ở nhiều trình độ khác nhau nhắm phát triển kỹ năng sống, trở thành những người can đảm, dũng mãnh. Sách dậy các em không biết sợ là gì. Thí dụ dùng cưa một quả bom chưa nổ để lấy thuốc nổ trong quả bom. Hay dậy các em can đảm đi chân trần trên những mảnh thủy tinh vỡ. Toàn là những việc làm mà các cha mẹ của các em từng tốn bao nhiêu công sức để dậy các em tránh đừng làm. Ngay cả ông già Nguyễn Trãi cũng phải dùng mấy chục câu song thất lục bát trong Gia Huấn Ca để can ngăn dậy dỗ. Nhưng bộ sách "Thực Hành Kỹ Năng Sống" thì dẹp hết những lời can ngăn khuyên bảo đó để cố sao đào tạo được những người Việt anh dũng để dựng xây cho được một xã hội toàn những người anh hùng không biết sợ là gì.

Trong một cuốn thuộc bộ sách "Thực Hành Kỹ Năng Sống" có một bài kể lại chuyện trong một lớp học, cô giáo đã dậy cho các học sinh trong lớp của cô không nên sợ bất cứ gì trên đời, trong đó có cả chuyện ăn cứt gà. Một em học sinh tên là Ân đã được xúi bẩy để làm công việc đó. Lúc đầu em còn băn khoăn không biết có làm công việc đó được hay không. Nhưng sau những lời khuyến khích của cô giào, Ân ăn luôn đống phân gà và thấy cũng... được, không quá ghê rợn nên hết sợ luôn.

Em học sinh quả là một người can đảm không biết sợ là gì, khi cần em sẽ là anh hùng như Lê Văn Tám tẩm xăng vào người đốt kho xăng của Tây ngày nào, cho dù Lê Văn Tám không bao giờ là người có thật như trong trò dối trá của bọn Cộng Sản Việt Nam từ suốt mấy chục năm nay bất chấp những lời thú nhận của Trần Huy Liệu và Phan Huy Lê, theo đó, không hề có nhân vật Lê Văn Tám. Lê Văn Tám chỉ là trò dối trá của Trần Huy Liệu.

Ngày nay, nhà nước lại cần thêm những trò giả dối, bịa đặt theo kiểu Lê Văn Tám và đang muốn tạo dựng những thứ anh hùng tưởng tượng như vậy. Anh hùng vào lúc này là những người sẵn sàng ăn cá ở Vũng Áng và xuống tắm ở các vùng biển có cá chết để lấp liếm những trò khốn nạn của bọn đầu sỏ đã được nhét đầy túi những đồng tiền của bọn khốn nạn Formosa.

Sống chết mặc bay, tiền thì bọn khốn nạn đã nhét đầy túi...

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#122 Posted : Tuesday, July 19, 2016 1:36:13 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
June 24, 2016

NO SPEAK ENGLISH : NO SIN


Nhân vật Tarzan trong tác phẩm của Edgar Rice Burroughs là một thanh niên da trắng lạc cha mẹ từ bé, lớn lên với bầy thú trong rừng già Phi châu, không hề có những tiếp xúc với xã hội loài người, nói chi với người Anh, người Mỹ nên làm sao nói được tiếng Anh. Nhưng rồi chàng gặp người phụ nữ tên là Jane, hai người vẫn trở nên đôi bạn. Không biết chàng học ESL (English as a Second Language) ở đâu nên mới có người bịa ra chuyện hai người lúc mới gặp nhau, Tarzan nói với Jane rằng: "Me Tarzan, you Jane". Sự thực thì không có chuyện này ở trong truyện của Burroughs cũng như trong phim do Johnny Weissmuller thủ diễn. Tuy hoàn toàn không có những chi tiết vừa kể, nhưng vẫn có nhiều người đoan chắc là Tarzan có nói câu đó.

Ăng Lê kiểu Tarzan nói với Jane không biết phải gọi là Ăng Lê gì, nhưng nhất định không phải là Ăng Lê bồi, vì Tarzan có đi làm bồi cho ai đâu. Nó là phương tiện thông tin giữa những người không nói chung một ngôn ngữ và cũng không được dậy hay học để nói một ngôn ngữ chung ngõ hầu giao tiếp với nhau. Hai bên sắp xếp những tiếng gần gũi nhất với đời sống ngay trước mặt để thông tin với nhau, bỏ qua những câu nệ về văn phạm, ngữ học. Đó là thứ ngôn ngữ (pidgin English) của những thành phần ít học, không trường lớp, bài bản.

Tuần qua, một video clip được phổ biến rộng rãi trên face book với cảnh một hoa hậu Việt Nam làm giám khảo cho cuộc thi đàn ông đẹp trai thế giới năm 2015. Người đẹp Việt Nam này, cô Vũ Trần Triều Thu (hoa hậu Đông Nam Á năm 2014) đặt một câu hỏi cho người thí sinh Hàn quốc bằng tiếng Anh. Câu hỏi được ban tổ chức viết sẵn. Cô hoa hậu Việt Nam học thuộc lòng, chỉ việc phát âm theo giọng Ăng Lê Hà Nội. Tội nghiệp cô. Cô phát âm câu hỏi đó lần đầu. Mọi người ớ ra... "Ơ quả mơ!" cóc hiểu gì hết. MC trên sân khấu xin cô nhắc lại. Cô nhắc lại câu hỏi bằng tiếng Anh theo cách phát âm kiểu "con-cu-lây-tinh" (calculating) và "min mai địt" (mean minded) như trong một cuốn sách dậy tiếng Anh vô học ở trong nước. Dĩ nhiên là... bố Mỹ, bố Ăng Lê cũng không hiểu được. Thế là một MC trên sân khấu phải nói thay cô, dùng bản chính của câu hỏi tiếng Anh đọc lên (bằng cách phát âm bình thường) đến lúc ấy mọi người mới hiểu.

Cô hoa hậu Việt Nam vẫn cười vui vẻ với khán giả một cách khả ái. Khán giả có vẻ hoàn toàn thông cảm với cô. Đó là một thái độ văn minh và lịch sự. Cô nói tiếng Anh không ai hiểu thì đã sao! Cô là người Việt, không phải người Anh. Cô không nói được tiếng Anh là chuyện dễ hiểu. Có bao nhiêu (hoa hậu) người Anh, người Mỹ, người Úc... nói được tiếng Việt? Cô là môt người đẹp. Việc của cô là chăm sóc sắc đẹp của cô. Chúng tôi không cần cô ngày ngày phải mở cuốn văn phạm tiếng Anh (Mastering American English) ra làm các bài tập rồi lại vào "lab" luyện giọng theo những cái máy.

Xin cô cứ "Sois belle et tais-toi", hãy cứ đẹp đi nhưng câm mồm lại cho chúng tôi nhờ là được rồi như tên cuốn phim của Alain Delon và Jean Paul Belmondo ngày nào. Cô không nói giỏi tiếng Anh cũng không sao, không chết thằng Tây nào hết. Bằng cớ là cuộc thi vẵn diễn ra một cách thành công với câu Ăng Lê dễ sợ của cô.

Câu hỏi tiếng Anh ấy quả thực là đã chơi khó cô. Những chữ trong câu hỏi đều không phải là những chữ thường gặp trong tiếng Anh. Nào là "essence", rồi lại "pageant"... mà cô lại phát âm theo giọng chợ Đồng Xuân và giọng Ăng Lê bờ Hồ làm sao người ta hiểu được.

Đáng lý ra phải có người chỉ cho cô đọc câu tiếng Anh một cách ngọn ngành. Nathalie Cole khi hát bài 'C'est Si Bon' đã phải nhờ một người Pháp chỉ cho cách phát âm đúng ba chữ Pháp đó nên chúng ta cũng chẳng nên "ném đá" cô tới tấp đến nỗi cô đã phải khóa face book của cô lại.

Cô không phải là một nhà ngoại giao tại một hội nghị quốc tế. Cô không đưa ra một phát biểu liên quan đến sinh mạng của những con cá tội nghiệp đang phơi bụng ngoài Vũng Áng. Cô không phát biểu tại tòa án quôc tế về vùng biển chết ở ngoài khơi Việt Nam,

Tiếng Anh như của cô là đủ xài rồi,

Nhưng cái đứa nói MÊ DZÊ IN ZIEC NAM thì không được.

Dốt và ngu lắm. Đỉnh cao trí tuệ cái... củ gì!

Nghĩ tới câu Ăng Lê của nó thì nên tha cho cô Vũ Trần Triều Thu. Hệt như một người không học Nga ngữ một ngày nào bị dí vào tay một mảnh giấy viết bằng tiếng của ông Putin thì có... ngọng không?

Nhưng mấy chữ MADE IN... thì trên thế giới này, ngay mấy con chó chạy lông nhông ngoài đường gác chân lên cột đèn (để chào bác Hồ) cũng phải biết. Vậy mà nó không nói được rồi cứ thế ông ổng MÊ DZÊ...

Không nói được tiếng Anh chẳng có gì xấu cả. Cũng không bao giờ là một cái tội. Không học thì làm sao nói được?

Nhưng ngu và dốt thì không tha được. Thế mà cũng khoe là trình độ Anh ngữ (theo tiểu sử) được ghi nhận là hạng B (biết nói những câu thông thường).

Ăng Lê như thế thì chó cũng chịu thua.

Thà như ông Tú Xương:

"Hán tự chẳng biết Hán
Tây tự chẳng biết Tây
Thôi đi về đi cầy... "


Bố khỉ! Nó là thằng đã ngu lại dốt, không ở mức độ ngang hàng với cô Vũ Trần Triều Thu!

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#123 Posted : Sunday, July 31, 2016 3:09:49 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
July 27, 2016


ĂNG LÊ ĂNG LIẾC


Nguyễn Xuân Phúc, sau này và mãi mãi, sẽ được nhớ đến, chắc không phải vì chức vụ thủ tướng của hắn, mà là mấy chữ tiếng Anh hắn cao hứng xí xố trong một buổi nói chuyện nào đó ở Hà Nội. Nghe đi nghe lại, càng nghe người ta càng thấy hắn phát âm một cách vô học và dốt nát chữ "MADE", một chữ chẳng khó khăn, hiếm gặp gì, ngay cả với những người không biết tiếng Anh, thành "MA ZÊ". Phải như những chữ dài và khó, hay ít khi gặp thì cũng có thể hiểu được. Thí dụ thay vì "Made in Vietnam", mà là "Manufactured in Vietnam", hay "Fabricated in Vietnam", hay "Bottled in...", "Boxed in...", "Packed in..." thì phát âm sai hay không rõ thì cũng... người ta thường tình. Nhưng phát âm có chữ "MADE" mà cứ như đồ vô học thì không được. Bộ cả đời chưa bao giờ thấy cái chữ đó trên những sản phẩm tiêu dùng hàng ngày trong đời sống hay sao?

Hồi sau tháng 4 năm 1975, từ rừng vào thành phố thì có gọi xe "Hông đa za me" (Honda dame kiểu phụ nữ) hay lấy tiền ở ngân hàng bằng "chè que" (chèque chi phiếu bằng tiếng Pháp) thì cũng tạm tha cho lũ... vượn. Nhưng bây giờ đã hơn 40 năm, lại là người đang giữ những chức nọ, chức kia, từng mua hai ba căn nhà ở Mỹ mà có chữ "MADE" nói cũng không được thì ngu dốt quá. Trong khi tiểu sử thì ghi là biết hai ngoại ngữ là tiếng Anh và tiếng Nga ở trình độ B tức là ở mức thông thạo, trôi chảy.

Đã học tiếng Anh thì ngay trong những bài học đầu tiên cũng phải biết nó. Nó là quá khứ phân từ của động từ "to make", một động từ bất qui tắc mà ai mới học Anh ngữ cũng phải biết.

Nhưng thôi, nhắc một chút văn phạm ra đây làm gì với cái ngữ đó. Trong khi đó, thỉnh thoảng lại có vài ba nhận xét khoe nhắng lên rằng trình độ tiếng Anh của học sinh, sinh viên Việt Nam là cao nhất Đông Nam Á! Chắc Đông Nam Á không có Philippines, Hương Cảng, Singapore, Malaysia... chăng.

Mới đây, xem cái bằng tốt nghiệp của đại học Yersin cấp cho một sinh viên học môn kiến trúc thì thấy ngay cái trình độ tiếng Anh đó. Môn học kiến trúc tiếng Anh là "Architecture". Kiến trúc sư, người học và tốt nghiệp môn kiến trúc là "Architect". Tấm bằng tốt nghiệp cấp cho người sinh viên này phải là "Degree of Architecture" thay vì "Degree of Architect" như đã ghi trong tấm bằng.

Một tấm bằng khác của một đại học khác (cũng bằng tiếng Anh) thì ghi sai là "Bachelor of Engineer" thay vì "Bachelor of Engineering". Lý do vì "Engineer" là (người) kỹ sư. "Engineering" mới là môn học.

Một trường trung học ở Hạ Long cũng khoe chút tiếng Anh bằng cái bảng danh dự viết bằng tiếng Anh (mà trường gọi là "Dean's List"). Trường dùng động từ "DONATE" để nói là cấp cho học sinh cái Dean's List đó. Thưa không! Phải dùng "AWARDED" chứ.

Thế rồi ngay ở dòng dưới là tên của học sinh mà tấm giấy khen ghi là "KID".

Ối giời đất ơi là giời đất ơi. Thật là khốn khổ cho cái tiếng Anh của thời đại Nguyễn Xuân Phúc.

Một tấm bảng quảng cáo mời khách cho một tiệm giặt chắc ở Hà Nội hay đâu đó ở miền Bắc có kẻ hai chữ rùng rợn này: "WASHING ARE". Chắc nó phải ở miền Bắc. "WASHING ARE" là giặt là. Trong Nam là giặt ủi. Ủi không là...ARE là... là được.

Hay trên một bảng quảng cáo của một siêu thị ở Điện Biên Phủ dịch ô mai là "UMBRELLA TOMORROW", "DRY FRUITS" thay vì phải là "DRIED FRUITS"...Nhưng đó lá Anh ngữ đầu đường xó chợ.

Bây giờ hãy ngó qua mấy cái tiếng Anh ở nơi... không được quyền láo toét như thế nhé.

Trong một bệnh viện không biết là ở đâu người ta đọc được những tấm bảng song ngữ như thế này:

NƠI CẤP PHÁT THUỐC: ALLOCATED WHERE DRUGS

NƠI TIẾP BỆNH NHÂN: WHERE PATIENTS RECEIVE

LỐI ĐI NHÂN VIÊN: EMPLOYEE ENTRANCES GO

Anh Mỹ nào hiểu được thứ tiếng Anh này hở Giời! Khốn khổ cho tiếng Anh biết là chừng nào! Bộ trong một bệnh viện không có nổi một hai người biết tiếng Anh để nhìn ra những sai sót như thế hay sao. Lỡ có được vài ba y sĩ ngoại quốc tới thăm hay dậy thì những người này biết đâu mà ra vào, phát thuốc, giải phẫu cho các bệnh nhân?

Tiếng Anh "ma zê in Ziecnam" là như thế cả sao!


MÀ NÓI CÁI GÌ CƠ CHỨ?



Bây giờ thì cả nước đã được nghe tài nói tiếng Anh của Nguyễn Xuân Phúc khi chàng kêu gọi phát triển kỹ nghệ để đem các sản phẩm của Việt Nam đến các thị trường thế giới. Nếu cứ tiếng ta, ta... xài thì chó nó cũng không biết chàng dốt tiếng Anh một cách tàn tệ như thế. Đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại. Đọc tiểu sử thấy chàng khoe nhắng lên là có bằng cử nhân, nói thạo hai ngoại ngữ là Anh và Nga văn thì phải tin vào khả năng ngoại ngữ của chàng chứ. Chẳng gì nước ta cũng đã... lâu dài với Liên Bang Sô Viết thì việc chàng thông thạo Nga văn là thường tình. Tiếng Anh thì trong những năm gần đây cũng đã vùng lên trở lại, nên chắc chàng nói lưu loát cái thứ tiếng của đế quốc Mỹ cũng là chuyện dễ hiểu. Nhưng rồi tự nhiên, tự địa chàng khơi khơi..."MA ZÊ IN ZIỆC NAM" người ta mới thất kinh về tiếng Anh của chàng.

Mấy chữ "Made in Vietnam" thì có khó khăn lắm gì cho cam mà chàng hồn nhiên ra như thế để lòi cái dốt của chàng ra. Đến khổ! Chao ơi có mấy chữ đó nói còn không nên thân thì những câu khác còn ngọng đến đâu nữa.

Nhưng chàng không phải là đứa ngọng duy nhất ở Việt Nam bây giờ. Nhớ anh y tá chích đít bỏ học sớm theo cách mạng khoe có bằng cử nhân Luật cũng không khá gì hơn trong chuyến chàng đi Tây và gặp thủ tướng Pháp cũng biểu diễn cái dốt của chàng tại cuộc họp báo truyền hình mà một đài truyền hình ở Paris lôi ra diễu cho khán giả cười vỡ bụng. Ba Ếch không biết tiếng Tây là chuyện dễ hiểu. Chàng muốn đóng cái cửa sau lưng lại mà cứ ngọ lại nguậy, không biết nói nhỏ vào tai phụ tá để được thông dịch lại mà phăng phăng tiếng Việt, bất chấp các lễ nghi thông thường của cuộc họp báo. Nhưng thôi, quen sống trong rừng có thô lậu một chút cũng tạm tha cho chàng. Không nói được tiếng Pháp thì cứ nhận là chỉ... quen nói tiếng Anh là xong. Nhưng nói được ngoại ngữ không phải là điều tối quan trọng. Làm sao một người có thể biết được tất cả các thứ tiếng trên thế giới để đi đến đâu nói tiếng nước đó được. Phan Thanh Giản đi sứ sang Pháp có cần phải biết nói tiếng Pháp đâu. Những điều nói ra mới quan trọng. Cụ Phan đi đòi đất đai mà người Pháp chiếm của nước ta. Thông ngôn của cụ làm công việc chuyển những nguyện vọng của triều đình sang tiếng Pháp. Các cụ Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Ngụy Khắc Đản... không cần phải nói tiếng Tây như đầm con, Tây con học Marie Curie hay Jean Jacques Rousseau...

Ý tưởng, điều muốn nói mới là quan trọng. Nhưng đó lại là điều tệ hại tại cuộc họp báo mặc dầu điều Ba Ếch nói chỉ là một câu xã giao rất bình thường nhưng chỉ một câu ấy, cái dốt nát ngớ ngẩn của chàng cũng lộ ra hết. Thay vì chỉ nói đại khái rất vui mừng được đến Pháp và có dịp gặp gỡ các giới chức chính phủ Pháp để thào luận về một loạt các vấn đề quan trọng song phương, hy vọng chuyến đi sẽ thành công và có lợi cho cả hai bên thì chàng nói một câu ngớ ngẩn nguyên văn thế này:"Thưa ngài thủ tướng... Pháp. Trước hết thay mặt đoàn đại biểu cấp cao chính phủ Việt Nam, tôi bầy tỏ vui mừng trở lại thăm nước Pháp ở châu Âu và trên thế giới..."

Thế là thủ tướng Pháp được cho nghe mấy chi tiết về địa lý nước Pháp của ông. Thiếu điều lôi cuốn atlas mở ra trang có bản đồ Pháp ra chỉ cho thủ tướng nước chủ nhà xem cho đủ. Làm cứ như không có hai chi tiết "ở châu Âu" và "trên thế giới" là chủ nhà không biết nước mình ở đâu mà về báo cáo lại cho tổng thống Hollande không bằng.

Vớ vẩn và thập phần ngớ ngẩn. Ăn với lại chả nói. Trông cái mặt nhâng nháo và tự mãn của anh ta mà muốn phát ói. Nhưng nhờ đó mà khán giả đài Canal Plus được một trận cười đã đời.

Tôi chợt nhớ một bài thơ rất ngắn của Prévert, bài Le Jardin:

Des milliers et des milliers d'années
Ne sauraeint suffire
Pour dire
La petite seconde d'éternité
Où tu m'as embrassé
Où je t'ai embrassé
Un moment dans la lumière de l'hiver
Au Parc Montsouris à Paris
À Paris
Sur la terre
La terre qui est un astre...

Hàng nghìn năm, hàng nhiều nghìn năm
Cũng không đủ
Để nói
lên cái giây phút ngắn ngủi vĩnh cửu
Khi em hôn anh
và anh hôn em
trong ánh sáng của mùa đông
ở công viên Montsouris ở Paris
ở Paris
trên trái đất
trái đất là một hành tinh...

Prévert viết bài thơ như một chứng cớ cho cái phút giây mầu nhiệm khi đôi tình nhân hôn nhau trong một ngày đông ở công viên. Muốn ghi nhớ thêm để giữ lại cái vĩnh cửu đó, Prévert làm rõ thêm cái nơi chốn mà hai người hôn nhau ở cái hành tinh rộng lớn nhưng lại rất riêng tư của hai người...

Thi sĩ thì viết như thế. Nhưng cái nhà anh Ba Ếch nói về vị trí của nước Pháp thì lại thành ra ngớ ngẩn. Vớ vẩn và ấm ớ.

Tôi không tin là anh ta muốn dẫn một chút Prévert vì chắc chắn là anh ta thì không thể biết Prévert được.

Vì thế, biết nói một hai ngoại ngữ là một chuyện. Còn nói lên điều gì thì lại là chuyện khác. Rất khác! Đầu óc của ếch nhái, cắc ké thì vẫn chỉ toàn ếch nhái và cắc ké mà thôi vì chúng nó được "MA ZÊ IN ZIỆC NAM".


***


"TIẾNG U"




Khoảng thời gian sau tháng Tư năm 1975 bỗng nhiên có hai chữ xuất hiện mà tôi nhớ là trước đó không nghe thấy bao giờ: "tiếng U". Sau một hồi, tôi hiểu đó là những tiếng láy cho đi sau để hai chữ "tiếng Anh" khỏi cô đơn trên con đường tị nạn. Hai tiếng này luôn luôn được nghe thấy trong những câu than thở của nhiều người về cuộc sống mới trên nước Mỹ, và cũng có thể ở luôn cả Canada hay Australia, hay ở những nơi nói tiếng Anh mà người Việt tị nạn tới sinh sống. Thường thường là trong một câu đại khái than thở là bi đẩy vào một môi trường mà ngôn ngữ không thông thạo, ăn nói khó khăn, người bản xứ nói mình không hiểu, mình nói người ta lại càng không hiểu vì một chữ tiếng Anh tiếng U cũng không có trong đầu...

Như vậy, hình như không hề bao giờ có một thứ ngôn ngữ nào tên là tiếng U. Nhưng gần đây, tôi tin là có một thứ tiếng có tên là tiếng U thật. Nó mơ hồ, dường như cũng họ hàng xa gần đâu đó với tiếng Anh nhưng nhất định không phải là tiếng Anh.

Lang thang một hồi nó cùng đến Việt Nam với tiếng Anh lúc nào không biết. Và như để trả thù cho việc tiếng Anh bị thù ghét vì bị coi là tiếng của đế quốc nên cần phải bị tận diệt sau khi nón cối dép râu tiến vào Sài Gòn. Những tủ sách tư nhân có cuốn sách nào viết bằng tiếng Anh đều bị ném hết vào ngọn lửa phần thư hay dùng làm giấy gói xôi, miếng thịt, con cá... cho bằng hết. Luôn cả những bộ tự điển, những cuốn bách khoa Britanica cũng cùng chung những cái chết nghiệt ngã đó. Ngay cả những cuốn sách để học tiếng Anh của nhà xuất bản Longman mà tôi dùng trong suốt bao nhiêu năm thời trung học cũng ra đống rác hết. Sợ rắc rối, ông ngoại các cháu phải thuê hai chuyến xe ba gác mới thanh toán hết đống xà bần tôi để lại ở nhà...

Mấy chục năm nay, ở Việt Nam người ta bỏ tiếng Nga để quay sang học tiếng Anh nhưng càng học tiếng Anh thì lại càng ra tiếng... U. Y hệt như "cha em trồng khoai lang, đào lên thấy khoai mì... thật là điều vô lý..."

Tiếng U cứ tự động nhẩy ra không chỉ ở đầu đường xó chợ, mà còn từ lỗ miệng của Nguyễn Xuân Phúc, thủ tướng chính phủ khi chàng hồn nhiên hô hào phát triển các sản phẩm "MA ZÊ IN ZIỆC NAM". Người ta sính tiếng Anh đến độ đâu không cần cũng lôi tiếng Anh vào. Trên các thực đơn, trong những bảng đường, nhà cầu...

Trong những tấm bằng cấp cho các sinh viên tốt nghiệp thì người ta có thể hiểu được: Việt Nam đang vươn ra ngoài, sinh viên tốt nghiệp muốn có việc làm với các công ty ngoại quốc nên nếu cứ đem tấm bằng viết bằng "chữ quốc ngữ, chữ nước ta, con cái nhà, đều phải học..." thì chắc lại phải đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan, Hàn quốc... mất thôi. Nên tấm bằng tốt nghiệp phải có chút tiếng Anh cho oai. Nhưng tiếng Anh không thấy, chỉ toàn tiếng... U. Thí dụ thay vì Bachelor of Engineering thì tấm bằng ghi là Bachelor of Engineer. Thay vì Pharmacy thì ghi là Farmacy. Thay vì Degree of Architecture thì ghi rõ là Degree of Architect...

Đúng là tiếng U.

Mới đây, nhiều người đang xôn xao về tấm giấy khen song ngữ Việt Anh của một trường trung học ở Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh tặng cho một học sinh giỏi của niên học 2015-2016. Không biết trường Trần Quốc Toản ở Quảng Ninh to nhỏ ra sao, thành tích giáo dục thế nào... để phải có cả giấy khen viết bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh cho... thế giới biết mà sợ chơi.

Học sinh được giấy khen đang học lớp 7 bậc trung học. Đứng đầu trường là hiệu trưởng. Trong tiếng Anh, hiệu trưởng một trường trung học được gọi là headmaster hay headmistress hay principal hay head teacher. Tờ giấy khen dùng danh từ "DEAN" thì không đúng. Dean là khoa trưởng của một đại học, Giấy khen hay bảng danh dự thời tiểu học và trung học của tôi, tôi còn nhớ, trị giá chỉ là 1 hay 2 đồng bạc Đông Dương của bà nội, bà ngoại chứ có ông Tây cà lồ nào ngó mắt tới đâu, nên thời ấy chỉ là một tờ giấy bằng nửa trang vở viết bằng tiếng Việt là cùng. Đức Quốc Trưởng Bảo Đại cũng không thèm để mắt tới. Mà đó là ở Hà Nội chứ đâu phải ở Quảng Ninh xa xôi.

Đọc tiếp lại càng thấy tiếng U kinh hoàng hơn. Cái "Dean List" này được "trao cho" thì tiếng U ghi là "DONATE" thay vì phải là "AWARDED". Tờ giấy khen được trao cho người học sinh XYZ thì thay vì chỉ cần nêu tên thì bản tiếng Anh ghi là "KID"...

Và đó là tiếng U, một thứ tiếng có thật đang được dùng rất nhiều ở Việt Nam ngày nay.
Bố Mỹ cũng không hiểu được.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#124 Posted : Wednesday, August 31, 2016 5:51:05 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
August 5, 2016


FASHION SHOW


Em thua tôi 10 tuổi, nên có gọi bằng "em" thì cũng đúng. Đọc tiểu sử của em thì em gốc gác người Bến Tre, lên Sài Gòn ghi tên học ở Đại Học Văn Khoa năm 1973 nhưng chỉ khoảng hơn một năm sau, việc học của em bị gián đoạn vì "chính quyền Cộng Hòa Miền Nam kiểm soát toàn bộ miền Nam". Nói rõ hơn là khi Cộng Sản chiếm miền Nam. Như vậy, theo tiểu sử của em trong Wikipedia, em lớn lên và được cho học hành trong vùng kiểm soát của Việt Nam Cộng Hòa, không chỉ vào rừng chích đít tầm bậy tầm bạ rồi nhận bừa là có bằng cử nhân luật như thằng Ba Ếch hay những thứ ngợm nhảm nhí khác ở Việt Nam bây giờ.

Em vào trường Văn Khoa trên đường Cường Để, khi tôi không còn thỉnh thoảng ghé ngang để...tìm một tà áo:

Ta nhớ ngày xưa cuối giảng đường
Mắt đầy sao và áo đầy hương
Em đem trời đẹp vào trong lớp
Ta thấy trong hè bỗng đã xuân...

Ta thấy chiều rơi trên hành lang
Nắng loang vệt nhỏ dưới sân trường
Em đi chiều bỗng vàng trên mái
Tà áo bâng khuâng lá ngập đường...

Như vậy là tôi không thấy em trong những giờ của các giáo sư Nghiêm Thẩm, Nguyễn Khắc Hoạch, Nguyễn Khắc Kham, Vũ Khắc Khoan...

Rồi em theo Việt Cộng, không còn học Văn Khoa nữa.

Em về Bến Tre, đúng là "không có chó, bắt mèo ăn...", em đi làm cho cách mạng, từ từ leo dần lên một số những chức vụ không lấy gì làm vẻ vang cho lắm như phó phòng, trưởng phòng... toàn những việc không dính gì tới những môn học (chưa chắc em đã ghi danh) ở trường văn khoa, rồi và cuối cùng là chủ tịch cuốc, không phải là QUỐC hội.

[img]https://encrypted-tbn3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRoyMGy7hSOBqwBjXOd8G1kWFanqOdunRwS_bZri9vxHsurGRnU[/img]

Em tên là Nguyễn thị Kim Ngân, không biết có phải là tên thật hay không, nhưng phải nói ngoại hình, em trông khá hơn nhiều em khác, tên cũng tối tân hơn cái kiểu em Tòng thị Phóng nhiều.

Mới đây, nói rõ hơn là sau khi em được bọn đười ươi đưa lên làm chủ tịch cuốc hội, em bỗng... nổi cộm hẳn lên, với cảnh em tuyên thệ nhậm chức. Em mặc một chiếc áo dài rất hoa lá cành, giơ một tay lên thề, tay kia đặt trên một tập giấy gói xôi (?), phía sau có ba đười ươi cười toe toét... Người ta chú ý ngay đến chiếc áo thêu hoa hoét em mặc, Đó là một chiếc áo dài rất kiểu cọ, không hề giống như những chiếc áo của mấy em đười ươi khác. Áo em mặc có cổ thấp, vai raglan, mầu sắc tươi tắn hoa hòe hoa sói tưng bừng, khiến phe chợ Đồng Xuân phát điên lên vì ghen tức.

Và cũng từ đó, em xuất hiện nhiều hơn, lần nào cũng áo dài kiểu cọ rất dã man, cứ như vừa đi vừa ưỡn ẹo "la plus belle pour aller danser..." không bằng. Những chiếc áo em mặc đều được may khá đẹp, trước ngực có thêu hay vẽ như những chiếc áo của các buổi trình diễn thời trang áo dài. Thôi thì đủ kiểu cổ cao, cổ thấp, cổ thuyền... nhưng vẫn phải là tay raglan mới được.

Thế là những kiểu áo kiểu đồi trụy mà dép râu nón cối thù ghét của thời Ngụy được cho vùng lên, sống lại sau khi bị cấm đoán, cắt nghiến cái vạt đi cho đúng nét đẹp cách mạng lại xuất hiện ở em. Người ta nghĩ có thể trong những ngày ở trường Văn Khoa đã có những lần em dõi mắt trông vời những chiếc áo tiểu thư Sài Gòn, nên bây giờ em phải mặc cho bằng được những chiếc áo đầy nét đồi trụy đó. Nhưng những chuyện như vậy thường hay đi những bước quá độ. Em mặc áo dài kiểu cọ lia chia. Mỗi lần xuất hiện là lại phải một chiếc áo với một design mới, cho dù là để cho cá ăn cho Obama tởn hồn hay vài ba dịp khác. Nhưng gần đây, em thừa thắng xông lên khiến em lộ nguyên hình một con nhà quê bầy đặt học làm sang nhân dịp em xuất hiện cạnh mấy đười ươi đực trong buổi lễ thương binh liệt sĩ. Trong khi mấy đười ươi đực mặc Âu phục, ca vát thì em chơi nguyên một quả áo dài đỏ loét hoàn toàn không thích hợp trong một dịp cần một (chút) không khí trang nghiêm. Em lại chơi một quả fashion show trình diễn thời trang cho bõ những ngày cơ cực. Em không hề biết trang phục cũng phải cho hợp thời và đúng lúc: không phải lúc nào cũng có thể y phục giống như mọi lúc. Chức vụ đứng đầu cuốc hội của em không cần phải diêm dúa, lòe loẹt như thế, huống chi khi xuất hiện trong những dịp cần trang nghiêm. Em có thấy quần áo của tổng thống Đại Hàn chưa? Đâu phải lúc nào tổng thống Phác Cận Huệ cũng một chiếc hanbok lụa đầy mầu sắc đâu. Hay Indira Gandhi trong chiếc sari tha thướt, hay Margaret Thatcher, hay Hillary Clinton, Golda Meir...


Càng kiểu cọ càng hố là vậy. Bớt lại đi chứ em! Hay là hồi xuân hơi... muộn?
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#125 Posted : Wednesday, August 31, 2016 5:52:22 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
August 20, 2016


NHỮNG MẨU NHẮN TIN


Chúng thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trên những trang báo Việt ngữ, có khi chúng bị đẩy vào những chỗ khuất lấp, nép cạnh những quảng cáo không liên quan gì tới những nội dung của chúng. Những quảng cáo rao bán mắm muối, thịt cá, địa ốc, tiệm ăn, nhà hàng... thì dính gì tới những mẩu nhắn tin tìm người quen ấy, như một ông thiếu uý ở một tiểu khu nào đó thuộc quân đoàn I, một người hàng xóm cũ, một người di tản từ năm 1975 tìm hai ba người thất lạc trong chuyến vượt biên bằng thuyền hồi những năm 80, muốn tìm lại một người gặp lần cuối tại đảo Galang, một người bạn tù nằm chung một góc phòng giam... Ngoài việc chúng xuất hiện trên những trang báo, chúng còn được nghe thấy trong mục nhắn tin hàng tuần của một chương trình phát thanh nọ. Mỗi lần thấy chúng, tôi cũng tò mò đọc xem có còn ai kiếm mình không. Một người bạn cũ ở Sài Gòn, thời học trung học, một quen biết thời tuổi trẻ, trong một tiệm nước bên một ly cà phê... những gặp gỡ vài ba chục năm, có khi hơn nửa đời người...

Những đoạn nhắn tin, tìm người ấy vẫn còn, tuy theo tôi nghĩ, có phần tuyệt vọng. Không biết có bao nhiêu người còn để mắt đọc những dòng nhắn tin trên những trang báo, hay đón nghe chương trình nhắn tin với thời lượng không bao nhiêu trên làn sóng phát thanh. Những lời nhắn ấy bay trong không gian không bao giờ nghe lại được nữa.


Nhưng chúng vẫn được đọc thấy, nghe thấy. Những người nhắn vẫn nuôi những hy vọng sẽ tìm được những người cũ, không biết đã trôi giạt về những chân trời góc biển nào, trong khi Kiều thì cũng chỉ luân lạc có 15 năm. Những thất lạc của chúng ta thì dài hơn nhiều. Mười năm, hai chục, ba chục năm, hơn nữa cũng có. Những chi tiết có khi rất rõ như địa chỉ của căn nhà cuối cùng, người ấy có mấy anh em, con cái tên là gì, cha mẹ làm gì, cả những cái tên gọi thân mật ở nhà, xuống thuyền vượt biên tháng mấy, năm nào hay di tản ngay trong những chuyến đầu của cuối tháng 4. Cũng có khi nghe được tin tần chót từ Mỹ ở tiểu bang thành phố nào rồi dọn đi một địa chỉ khác và bặt tin luôn...


Bao nhiêu nước đã chảy qua cầu. Những địa chỉ đầu tiên hay cuối cùng ấy không mấy người con nhớ. Cuộc sống hối hả và thay đổi, di chuyển quá nhiều làm sao còn lúc nào ngồi xuống moi móc trí nhớ ra những tháng ngày cũ. Nhưng ngần ấy thứ thỉnh thoảng vẫn trở lại. Người em bặt tin trong một trận đánh hồi tháng 3, gia đình vẫn hy vọng chỉ mất tích, đứa con vượt biển đã thoát, người đàn ông đi tù về cũng vượt biển từ năm 85 rồi sau một hai lá thư là bặt tin từ đó...


Nhưng cũng từ đó đã bao nhiêu chuyện xẩy ra, bao nhiêu đổi thay cho cả hai phía, người nhắn cũng như người được nhắn. Người được nhắn có khi chỉ để lại tấm thẻ bài trong một góc rừng nào đó, hay một ngôi mộ không tên ở một hòn đảo xa vắng của Indonesia, Malaysia, Thái không chừng. Đứa con có thể đang sống đâu đó ở nước Mỹ và đã lâu không còn nhớ về gia đình cũ của nó, mà đời sống của nó củng chẳng có bao nhiêu chuyện đáng để kể cho cha mẹ, anh em ở nhà. Người đàn ông vượt biển có thể đã có những liên hệ mới, ràng buộc mới nên không thể liên lạc lại với người vợ và những người con của đời sống cũ. Cũng có thể có những lúc quả tim lỡ một nhip đập, và ý tưởng nhắn một mẩu tin tìm người nhen nhúm nhưng rồi lại thôi. Cũng có những mẩu nhắn tin chỉ nghe qua cũng hiểu được nửa chuyện. Như lời nhắn tìm cô em của một người bạn hồi ấy hay đi qua nhà nay "duyên ghé về đâu" (như lời bài hát của Lê Trọng Nguyễn). Những năm tháng xa cách nay đã dài hơn cả thời gian hai người tình già của Phan Khôi là 24 năm rất nhiều. Hai bên chắc nay đều đã lục tuần cả. Tìm được thì làm gì đây ?

...Khi tôi ngồi xuống ở bên em
Mở tập thư xưa đọc trước đèn
Vẫn ngọn đèn mờ trang giấy lạnh
Tiếng mùa thu lạnh tiếng mưa đêm...( Đinh Hùng)


Hay là như Lý Thương Ẩn trong Dạ Vũ Ký Bắc, đêm mưa gửi về bắc:


Quân vấn qui kỳ vị hữu kỳ
Ba sơn dạ vũ trướng thu trì
Hà dương cộng tiễn tây song chúc
Khước thoại Ba Sơn dạ vũ thì


Tạm dịch:


Người hỏi ngày về, chưa thể nói
Ba Sơn mưa tối ngập ao thu
Bao giờ khêu lại tim nến cũ
Kể chuyện bên song vợi nỗi sầu


Nhưng những mẩu nhắn tin vẫn thỉnh thoảng còn để nuôi tiếp những hy vọng đã từ gần nửa thế kỷ.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#126 Posted : Saturday, December 17, 2016 11:42:15 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
August 26, 2019

CÁO PHÓ


Tôi không nhớ đã đọc cái cáo phó đầu tiên hồi nào nhưng chắc không phải ở Hà Nội. Hồi ấy (trước năm 1954) ở Hà Nội chỉ có hai tờ nhật báo là tờ Tia Sáng và tờ Giang Sơn mà tôi (mới biết "đọc báo" ) cầm chúng lên, ở tuổi lên 8 hay lên 9, tôi chỉ thích xem những bức hí họa của hai họa sĩ Mạnh Quỳnh và Dzuy Nhất cùng với những truyện bằng tranh mà phòng thông tin Hoa Kỳ cung cấp cho các báo này, trong đó có một truyện tuyên truyền chống Cộng rất hấp dẫn của George Orwell, Trại Thú Vật (Animal Farm). Thỉnh thoảng tôi cũng tò mò đọc những bản tin về chiến sự và nhờ đó, biết lơ mơ về những trận đánh ở Na Sản, Cánh Đồng Chum, Điện Biên Phủ, rồi hội chợ ở Bờ Hồ, đức Quốc Trưởng Bảo Đại đi đâu, làm gì... Nhưng những mẩu cáo phó thì không và cũng vì hình như chúng rất ít thì phải. Ngay hồi chú tôi tử trận ở Đại Đồng, Bùi Chu năm 1954 gia đình tôi cũng không đăng cáo phó trên hai tờ Tia Sáng và Giang Sơn ở Hà Nội. Có lẽ phải tới khi vào Sài Gòn khoảng cuối những năm 50 tôi mới đọc những thứ tin này.

Tôi không biết những tờ báo tiên phong của nền báo chí Việt Nam có đăng những cáo phó không, nhưng khi tôi biết đọc "nhựt trình" thì chúng đã có rồi, khoảng những năm cuối của thập niên 50 ở Sài Gòn. Rất tiếc cụ Vương Hồng Sển không còn nữa để hỏi cụ.

Phải tới khoảng giữa những năm 50 tôi mới tìm đọc chúng. Cáo phó là thông báo về sự qua đời của một người mà gia đình của người đó muốn gửi tới bạn bè và quyến thuộc. Nhưng chúng được viết theo một lối văn đặc biệt không biết ai là người đầu tiên viết xuống để sau đó được những người khác viết theo. Có thể trong lúc tang gia bối rối, gia đình không có thì giờ cho câu cú văn chương để viết mẩu tin thông báo chuyện buồn của gia đình. Thế là cứ theo những cáo phó đã đọc thấy trước và viết lại. Chính vì thế mà tôi tìm đọc chúng trên những tờ báo hồi ấy. Và cũng đó mà lần đầu tiên tôi biết những từ ngữ như vãng sinh miền cực lạc, qui tiên, phiêu diêu nơi tiên cảnh, hưởng nhan Thánh Chúa...

Bẵng đi mấy năm không ở trong nước, không đọc báo Việt ngữ, đến khi đọc lại báo chí trong nước, thì bỗng một hôm đọc thấy tên một người bạn cũ thời trung học. Người bạn này nhập ngũ sau khi hỏng kỳ thi tú tài. Sau đó thỉnh thoảng chàng trở lại trường thăm bạn bè. Có người đùa chúc chàng sớm vinh thăng lon mới. Và ít lâu sau, chàng được vinh thăng thật. Rồi xuất hiện trong những cáo phó những từ ngữ mới như truy thăng, anh dũng hy sinh, truy tặng bảo quốc huân chương với nhành dương liễu...

Thế là những mẩu cáo phó lại nghe khác hẳn những cáo phó vẫn đọc được trước đó. Và cũng từ đó, tôi chú ý đọc chúng thường hơn. Đó là trong những buổi chiều tan sở ngồi ở một quán cà phê đọc mấy tờ báo vừa phát hành. Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt thì những trang cáo phó càng nhiều tên tuổi hơn. Và tuổi tác của người chết cũng gần với tôi nhiều hơn. Có những người hơn hai hay ba tuổi, có những người bằng tuổi và có những người thua vài tuổi. Có những người chưa vợ con và có những người để lại mấy đứa con còn rất nhỏ. Đó là những mẩu cáo phó của thời chiến. Cuộc chiến càng dữ dội cuối thập niên 60 và đầu những năm 70 thi những cáo phó như thế càng đọc thấy nhiều hơn. Tuổi của những người ra đi cũng xấp xỉ tuổi của tôi hồi ấy.

Rồi bẵng đi một vài năm sống ở Mỹ, tôi bỗng thấy trong những tin cáo phó đọc thấy trên mấy tờ báo Việt ngữ, tuổi tác của những người ra đi rất gần với tuổi của mình trong hoàn cảnh không còn chiến tranh tang tóc nữa. Lác đác không còn nhiều những trướng hợp hưởng dương dưới 50 tuổi nữa mà đã được coi là hưởng thọ nghĩa là đã sống được trên tuổi 50. Rồi thoắt một cái, những cái tuổi trên 60 cũng ập tới, và nay, những tuổi trên 70 cũng trở thành rất thường. Thỉnh thoảng lại thấy tên một người bạn vừa gặp vài tháng trước.

Nhưng vẫn có một cách viết cáo phó tôi thấy rất kỳ lạ. Đó là những câu như "... đau đớn báo tin XYZ đã được Chúa gọi về..."Tôi nghĩ là được Chúa gọi về phải là một hạnh phúc, môt ân sủng thì tại sao gia đình phải đau đớn ? Tôi có đem hỏi một linh mục thì được ngài cho biết nói như vậy là không đúng. Chúa không bao giờ muốn con của người phải chịu những khổ đau. Nhưng một bữa tôi đã bị một người đàn ông phản bác kịch liệt nói rằng bài báo tôi viết đề cập tới chuyện đó là xúc phạm tới tôn giáo của ông và tôi hoàn toàn sai lầm mặc dù tôi có dẫn lờì của linh mục T.Q.T. nay đã khuất.

Mấy chục năm đọc những cáo phó từ khi những người ra đi hơn tuổi, rồi bằng tuổi và nay là những người ít tuổi hơn có khi cả chục tuổi. Một ông bạn tôi tuần trước viết cho cái e-mail và kết bằng câu "Chẳng cũng khoái ư!"

Nghe cứ như Nguyễn Hiến Lê dịch Lâm Ngữ Đường vậy.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#127 Posted : Saturday, December 17, 2016 6:20:05 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Nhà báo Bùi Bảo Trúc qua đời, thọ 72 tuổi

December 17, 2016



UserPostedImage


Nhà báo Bùi Bảo Trúc. (Hình: Khôi Nguyên/Người Việt)

WESTMINSTER (NV) – Nhà báo Bùi Bảo Trúc, tên tuổi quen thuộc với người Việt hải ngoại, vừa qua đời lúc 11:45 tối 16 Tháng 12 năm 2016, tại Bệnh viện Fountain Valley, Quận Cam, California, Hoa Kỳ, ở tuổi 72.

Nhà báo Bùi Bảo Trúc, có bút danh khác là Bảo Lâm, sinh năm 1944 tại Bắc Việt, di cư vào Nam năm 1954, học trung học Chu Văn An, Sài Gòn. Ông đi du học tại Tây Tây Lan, về nước năm 1967 làm việc cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, sau đó là phát ngôn viên chính phủ đến năm 1974, rồi được cử qua London làm việc.


Sau biến cố 30 tháng Tư 1975, khi miền Nam thất thủ, ông từ London qua Canada sống một thời ngắn, rồi sang Washington DC làm việc cho Ban Việt ngữ đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA).

Năm 2002, ông rời đài VOA về sống tại Nam California, tiếp tục làm việc tại đài Little Saigon Radio, tuần báo Viet Tide đồng thời là gương mặt quen thuộc trên đài Hồn Việt TV.

Nhà báo Bùi Bảo Trúc nhiều năm viết cho báo Người Việt trong mục Thư Gửi Bạn Ta bằng lối viết dí dỏm được rất nhiều độc giả yêu thích. (Đ.Q.A.T)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
DuyKhiem  
#128 Posted : Tuesday, December 20, 2016 1:06:19 AM(UTC)
DuyKhiem

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered, Administrators
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,623
Location: USA

Thanks: 152 times
Was thanked: 934 time(s) in 352 post(s)
Thương tiếc Bùi Bảo Trúc


00

Người ta nói, người dậy sớm “có cả thế giới trong tay,” thì tôi cũng xin nói thêm, “biết được tất cả mọi chuyện sớm hơn mọi người.” Cũng vì cái tội dậy trễ, mãi đến 12 giờ trưa Thứ Bảy tôi mới được tin Bùi Bảo Trúc qua đời qua điện thoại của Phan Dụy ở Houston, mà nguồn tin này lại phát xuất từ gia đình Trần Duy Đức, một người ở không xa tôi đến mấy dặm đường.

Đây cũng là một tin khá đột ngột, vì mấy năm nay tôi biết tin Bùi Bảo Trúc mổ tim rồi sau đó được một thời gian, bỗng yếu đi, bỏ rất nhiều sinh hoạt đang thực hiện, qua làn sóng phát thanh thì lúc có lúc không. Ngày trước lúc còn khỏe, chúng tôi vẫn có dịp gặp nhau ở quán Song Long, rồi Bùi Bảo Trúc bỏ thói quen ngồi quán. Sau này ông không còn đủ sức đến trụ sở của Little Saigon Radio cũng là đài truyền hình Hồn Việt, mà chỉ còn nói chuyện từ nhà với thính giả qua mục “Ngày Này Năm Xưa,” phát thanh mỗi ngày vào lúc 10 sáng, từ California.



Cách đây hai tuần, còn được gặp Bùi Bảo Trúc qua điện thoại, gần đây có ngày mừng nghe tiếng ông trở lại trên đài phát thanh, ngày Thứ Tư, texting với ông câu nhắn, không thấy hồi âm, thì đêm Thứ Sáu, ông đã ra đi. Không ngờ! Hai tiếng “không ngờ” chúng ta vẫn thường dùng, vì chẳng bao giờ hiểu nỗi sự sống sự chết, và biết được lúc nào chúng ta bỏ cuộc đời này ra đi.

Bùi Bảo Trúc ra đi, để lại trong lòng bạn bè, độc giả, thính giả của ông nhiều thương tiếc. Thương là vì chúng ta đã mất đi một người bạn thân tình, tiếc là tiếc cho một con người lịch lãm, tài hoa khó kiếm. Những trang báo, những câu chuyện qua làn sóng phát thanh, những talk show, Bùi Bảo Trúc đang thực hiện trên đài truyền hình, khi ông ra đi, có thể nói là không có người thay thế. Bùi Bảo Trúc uyên bác hay Bùi Bảo Trúc có một trí nhớ tốt cũng là một cách nói. Sách vở và giấy bút không thể nào giúp cho một người “host” trong vòng nửa giờ trên đài phát thanh hay truyền hình làm việc trôi chảy, nếu không có một trí nhớ tốt.

Có trí nhớ tốt chưa đủ, mà người dẫn chương trình dù chúng ta thấy mặt hay chỉ nghe tiếng nói phải có cái duyên dẫn dắt câu chuyện. Trong vòng nửa giờ, người nghe cảm thấy chưa hả dạ thì đã đến giờ tạm biệt, xin hẹn gặp lại chương trình sau, và có cái gì đó để người nghe có thể mong đợi, đến giờ này, ngày mai mở lại chương trình để đón nghe giọng nói thân quen của một chương trình kế tiếp.

Bởi vậy, khi Bùi Bảo Trúc ra đi, chúng tôi thật sự mất một người bạn quý, nhưng tôi hiểu sự mất mát lớn lao khó bù đắp của chương trình “Ngày Này Năm Xưa” của Little Saigon Radio và “Chào Hoàng Hôn” của Hồn Việt TV. Giọng nói và khuôn mặt của Bùi Bảo Trúc đã là một điều gì đó rất quen thuộc, hẹn giờ, với tất cả khán, thính giả của các cơ quan truyền thông rất phổ cập này.

Người ta dùng nhiều danh xưng để nói về Bùi Bảo Trúc, nhà văn, ký mục gia, nhà báo, ký giả, có sự hiểu biết rộng rãi, hay một MC lịch lãm, duyên đáng trên sân khấu. Ông cũng là giáo sư Anh Ngữ tại Hội Việt Mỹ từ năm 1965 và London School ở Sài Gòn của ông Nguyễn Ngọc Linh, nhưng ít ai gọi ông là giáo sư. Đối với ông hai tiếng gọi thân thiết “nhà báo” là đủ: “Nhà báo Bảo Lâm.”

Bùi Bảo Trúc là một người sinh hoạt từ trong nước ra đến ngoài nước, có dịp đi đây đó nhiều, được nhiều người biết và biết đến nhiều người, nhưng không thể dùng tiếng “quảng giao” để nói đến ông, nếu hiểu theo đúng nghĩa “quảng giao” là giao thiệp rộng rãi với nhiều người. Bùi Bảo Trúc có nhiều bạn bè nhưng con số giao tiếp không nhiều, vì ông có một cá tính đặc biệt, kiêng nể ai thì thấy rõ, nhưng ghét bỏ ai thì cũng ra mặt. Đối với Bùi Bảo Trúc, không có chữ “xuề xòa,” không phải ai cũng là người ông vui vẻ bắt tay xã giao, kiểu “quảng giao” cho xong chuyện, “chín bỏ làm mười,” mà “thương ai thì nói rằng thương, ghét ai thì nói rằng ghét,” dù đó là một kẻ thù chính trị khác ranh giới hay cả một người ông vẫn thường gặp ngoài đường, hay trong sở làm.

Có lần, trong một tiệm ăn, một bác sĩ “dược thảo,” chưa quen biết gì, đã bước đến bàn ăn của Bùi Bảo Trúc, ngỏ lời nhờ ông đứng ra quảng cáo giúp cho thương vụ bán thuốc của mình, ông đã đáp lại rất nặng lời, những lời mà tôi nghĩ không tiện ghi lại ở đây. Bùi Bảo Trúc là vậy!

Đó là xấu tốt phân minh, thiện ác rõ ràng, qua lối viết của ông. Khi ghét ông dùng chữ rất thậm tệ, khi thương kính ông không tiếc lời trang trọng. Bùi Bảo Trúc thường công nhận lối viết của ông không “hiền,” là rạch ròi, nếu cần dùng chữ nghĩa để diễn đạt ý nghĩ và tâm tính của ông.

Bởi vậy, ông có nhiều người thương mà cũng không thiếu người ghét, ngay cả khi ông mất, còn có người theo đuổi kê kích ông.

Trên đời, người đào hoa và hào hoa chưa hẳn là người có hạnh phúc. Bùi Bảo Trúc không nằm trong những người có biệt lệ. Trong sinh hoạt thường ngày, ông vẫn nhận mình là người “cơm hàng cháo chợ,” ăn uống thất thường, không có người thân sống gần bên cạnh, có lẽ vì như vậy, mà lúc đã luống tuổi, sức khỏe ông giảm sút rất nhanh.

Có những câu chuyện xảy ra trong đời, mà Bùi Bảo Trúc cảm thấy ray rứt khôn nguôi, hối hận, xem đây như là những chuyện sai lầm nhất của cuộc đời mình. Một người sống như thế làm sao có thể là một con người hạnh phúc trên đời này được.

Trong những ngày cuối đời, thấy Bùi Bảo Trúc không được vui. Một người thân thiết với ông, qua dòng nước mắt, đã nói với chúng tôi rằng, Bùi Bảo Trúc thấy không còn tha thiết với cuộc sống này nữa. Vậy cuối cùng, thì sự ra đi cũng là ý muốn của ông.

Bùi Bảo Trúc ơi! Mong ông đừng chấp trách, phiền lòng, ông thích nói thật thì nhớ đến ông hôm nay, tôi cũng nói sự thật mọi điều.

Bùi Bảo Trúc đã không còn ở trên đời này nữa! Bùi Bảo Trúc ra đi rồi thật sao!

Thất thập cổ lai hy! Mới bước qua ngưỡng cửa “thất thập” chưa bao lâu mà ông đã bỏ anh em ra đi. Cái chết của Bùi Bảo Trúc không phải là non yểu mà cũng là một cái chết sớm, vì ông còn những việc đang làm và phải làm. Vẫn biết sống chết là lẽ vô thường, nhưng sao cái chết của ông làm cho chúng tôi ngậm ngùi khôn xiết.

Chung quanh đây người ta đang rộn ràng chuẩn bị đón Giáng Sinh và Năm Mới, mà Bùi Bảo Trúc lại vẫy tay từ biệt cuộc đời. Hình như đối với những người luống tuổi, những ngày cuối năm không bao giờ là những ngày vui. Rồi sẽ còn ai nữa, sắp bỏ “cuộc chơi?”

Sáng mai này, thức dậy, rất nhiều người theo thói quen mở đài phát thanh hay đài truyền hình, sẽ nhớ nhiều đến ông.

Thôi, “Bạn Ta!” Xin đừng nói lời vĩnh biệt!

Người xưa nói, cái chết như trở về đi trên con đường làng xưa! Ông đã được trở về, tất cả chúng ta rồi cũng sẽ trở về thôi!

Huy Phương
Nguồn Người Việt


1

Edited by user Tuesday, December 20, 2016 1:07:26 AM(UTC)  | Reason: Not specified

.
thanks 1 user thanked DuyKhiem for this useful post.
phamlang on 1/15/2017(UTC)
phamlang  
#129 Posted : Sunday, January 15, 2017 11:11:00 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Về một người làm thơ vừa ra đi: Bùi Bảo Trúc


Bùi Bảo Trúc là tên thật của nhiều người: nhà truyền thông, nhà văn, nhà thơ, ký mục gia, nhà báo… Mỗi một phương diện, mỗi một vị trí, đều là những chân dung nổi bật khiến ông nổi tiếng trong cộng đồng người Việt hải ngoại.

Ngày thứ sáu 16 tháng 12 năm 2016, ông vừa rời khỏi cõi trần. Sự ra đi của ông khiến nhiều người thương tiếc. Chúng tôi cũng ở trong đám đông ấy. Bài viết này như một nén tâm hương tưởng niệm.

Nói về Bùi Bảo Trúc, với những chân dung đặc biệt như vậy mà chỉ nói về chân dung nhà thơ có lẽ không đủ. Nhưng, với tôi, chân dung nhà thơ gần gũi hơn và có nhiều chia sẻ với cá nhân tôi trong đời sống văn chương và đời thường.

Tôi quen biết với Bùi Bảo Trúc từ năm 1985, cách nay khoảng hơn 30 năm về trước khi tôi in tập thơ đầu tiên. Lúc ấy, anh Bùi Bảo Trúc đang làm ở đài VOA và phụ trách chương trình điểm sách của đài này. Một buổi sáng anh gọi điện thoại đến chỗ tôi đang làm việc để hỏi một vài chi tiết về tập thơ của tôi. Mặc dù lúc đó tôi khá bận rộn nhưng vẫn hào hứng nói chuyện với anh cả tiếng đồng hồ. Mà chỉ nói về tập thơ của tôi chừng năm, mười phút còn toàn chuyện về nhà thơ Ðinh Hùng, một nhà thơ mà cả anh và tôi cùng ngưỡng mộ. Từ đó, thỉnh thoảng điện thoại chúng tôi đều nói nhiều về thi ca mà ít nói với nhau những đề tài khác.

Từ lâu tôi vẫn muốn nói chuyện với anh về thơ của anh trên chương trình Tản Mạn Văn Học mà tôi phụ trách. Lý do là tôi thích những bài thơ của anh nhắc lại đời sống tôi lúc vừa mới lớn khi còn ngồi trong lớp học trường Chu Văn An. Anh lớn hơn tôi vài tuổi và trên tôi vài lớp nhưng sao những suy nghĩ về thầy, về bạn, về tuổi trẻ của anh sao có nét gì tương hợp với tôi. Anh tả tình, anh tả cảnh của riêng anh trong thơ sao đối với tôi là cả một khung trời hoài niệm. Chúng tôi đã sống trong thời gian ấy, không gian ấy, với những khuôn mặt bạn bè, với những tâm tình của những cánh chim non còn chập chững trên bờ tổ nhưng đã hướng đến những khung trời cao rộng của mây trắng của trời xanh.

Trong thơ của Bùi Bảo Trúc rất nhiều hình ảnh gợi lại sự hoài cảm của những nơi chốn mà anh sống lúc đầu đời. Với tôi, những hình ảnh ấy cũng quen thuộc bởi vì những con đường ấy, những ngõ hẻm ấy cũng in hàn trong bộ nhớ của tôi. Những bài thơ của anh đánh động rất nhiều trong tôi những kỷ niệm.

Trong một lần điện thoại vào tháng 6 năm nay, anh dự trù sẽ in một tác phẩm mới vì anh thú thực muốn làm một việc sau một thời gian ngưng nghỉ và anh hẹn sẽ làm một chương trình Thơ Bùi Bảo Trúc với tôi. Nhưng thời gian lần lữa, anh đã vì lý do sức khỏe nên không thực hiện được những điều mong muốn.

Khi anh còn ở miền Ðông Hoa Kỳ, bên cạnh công việc làm cho đài VOA anh còn viết hằng tuần lá thư miền Ðông cho báo Người Việt và Thời Báo, sau được đặt tên là Thư Gửi Bạn Ta được chon lựa lại và nhà xuất bản Văn nghệ của thầy Từ Mẫn in thành 3 cuốn. Thư Gửi Bạn Ta biểu lộ phong cách tài hoa của cây bút Bùi Bảo Trúc. Ðề tài thì thường rộng rãi, tùy hứng nhưng phần đông theo sát thời sự dù người đọc sau một thời gian vẫn không cảm thấy đã cũ. Một chút châm biếm, một chút lãng mạn. Có khi là những giận dữ biểu lộ từ những biến cố trong nước của những người Cộng sản ngu dốt. Có khi là những trang sách đầy nét thơ mộng của tình yêu, của tình người. Nhưng rõ ràng vẫn là chất lửa của đời sống của những suy tư nhân bản luôn được tỏa sáng qua lăng kính văn chương.

Anh có một suy nghĩ riêng một phong cách riêng, khác biệt với ứng xử thường hằng. Luôn luôn anh tìm được những điều khác lạ có khi nhỏ nhoi không ai để ý tới nhưng vào văn chương đã trở thành những nét lôi cuốn người đọc. Có những chân dung, dù là người thân thiết hay những kẻ ông không ưa, chỉ vài nét cũng phác họa được khuôn mặt tiêu biểu.

Loạt bài Thư Gửi Bạn Ta viết liên tục một thời gian khá dài, tôi nghĩ là đến hơn hai thập niên. Thử tưởng tượng, qua một thời gian lâu như thế, mà vẫn giữ được sự hấp dẫn thì điều đó thực sự không phải là dễ dàng. Viết phiếm, không phải chỉ là khơi khơi kể chuyện, mà còn chất chứa đằng sau những nỗi niềm, những tâm sự nhiều khi khó ngỏ thẳng thắn bằng ngôn từ. Thư Gửi Bạn Ta là một minh chứng của nội lực văn chương dài hơi, của một tâm hồn mẫn cảm đầy mơ mộng.

Nhà truyền thông Bùi Bảo Trúc thì sao? Hãy đọc những bài báo và nghe những chương trình phát thanh, truyền hình trên Little Sài Gòn Radio hay Hồn Việt TV của Bùi Bảo Trúc như Ngày Này Năm Xưa, hay Chào Hoàng Hôn để thấy được sự lôi cuốn mãnh liệt khán thính giả. Là người MC hay dẫn chương trình, ông đã mở ra những con đường mới là dẫn dắt nhiều liên tưởng cho người nghe và người xem…

… Thơ của anh nặng chất hoài niệm và nhắc lại những kỷ niệm mà chúng ta trân quý trong đời.

Thí dụ, tôi đọc bài thơ Xa Nhà Ðọc Thơ Hạ Tri Chương. Ðọc từng dòng, dần dần những cảm giác cũ hiện về. Ở nơi chốn này, hình như không phải chỉ là những con đường của khu Ngã Sáu mà rộng khắp hơn là quê hương chúng ta. Ôi chao, những chữ Ngã Sáu, Ngã Bảy của phương trời xa xôi kia sao mang lại nhiều ấn tượng đến thế. Ðọc những câu thơ cổ để mang mang khung trời xưa để nhớ lại một thời. Còn câu chữ nào diễn tả được ngoài câu “Tôi đọc thơ ông nát cả hồn”. Hãy tưởng tượng đi, một người đã lâu lắm lưu lạc phương trời. Bài thơ chỉ có 4 đoạn, mở ra từ giây phút tưởng tượng về sống ở chốn xưa và đóng lại vì nhớ nhung hoài niệm từ tháng ngày biệt xứ.

Có phải là tưởng tượng hay là sự thực cơn mơ mộng ấy:

Tưởng tượng mai về khu Ngã Sáu

Chiều ra đầu ngõ đứng trông xe

Có người quen hỏi “Lâu không gặp

Ðáp khẽ “Ði xa mới trở về

Ðọc câu thơ cổ, tìm lại được tứ thơ mới. Ngày trở về của người thơ:

Cũng hệt như Hồi Hương Ngẫu Thư

Tóc xanh giờ đã bạc như tơ

Tiếng quê nghe vẫn đầy âm cũ

Mà cũng lạ tai câu trẻ thơ

Ô hay tiền bối Hạ Tri Chương

Tiền bối xa quê thuở Thịnh Ðường

Sao thơ hệt chuyện bây giờ nhỉ

Thuở ấy mà sao cũng não lòng

Từ thơ người xưa, chạnh nghĩ đến thân phận mình, nát cả hồn:

“Tôi cũng như ông đời biệt xứ

Trẻ ra đi già vẫn tha hương

Mấy chục năm buồn trên xứ lạ

Tôi đọc thơ ông nát cả hồn…”

Anh Bùi Bảo Trúc. Bây giờ anh đã ra đi, hết đời biệt xứ. Linh hồn anh có trở về lại không, thành phố Sài Gòn mà anh đã có nhiều thân thuộc. Chắc anh đã trở về căn nhà xưa, con hẻm cũ để thương mến từng ngày tháng còn cắp sách đến trường để nao nao nhớ từng cơn mưa từng chiều nắng…

Khi còn sinh tiền, Bùi Bảo Trúc làm thơ tưởng tượng. Bây giờ ông đã đi xa nhưng sự tưởng tượng vẫn còn. Ông tưởng tượng khi làm bài thơ “Gửi Căn Nhà Cũ”:

Hãy tưởng tượng khi bước vào cuối ngõ

Căn nhà xưa rêu phong kín tường vôi

Khung cửa sắt đã bong lỗ chỗ

Chìa khóa mòn trong ổ bỗng reo vui.

Ðoạn tiếp theo cũng là từ ký ức. Những câu thơ như đánh đụng vào tâm thức tưởng đã hao mòn:

Hãy tưởng tượng trong hộp thư ngoài cửa

mấy bức thư đọng lại những năm qua

một tấm thiếp báo tin người yêu nhỏ

đã tìm ra hạnh phúc dưới trời xa.

Rồi khu vườn cũ và cây ngọc lan, bụi trúc và hàng thược dược nhắc nhở mùi thơm cơn mưa đầu mùa:

Hãy tưởng tưỡng trong khu vườn thuở trước

Cây ngọc lan ngày đó đã ra hoa

Mấy bụi trúc và một hàng thược dược

mùi đất thơm cơn mưa nhỏ đầu mùa.”

Cũng vẫn tưởng tượng. Căn gác nhỏ nhắc đến những cơn mưa khuya dìu dặt mà những giọt buồn vương vấn giấc đêm. Chiếc giường cũ thân thiết nằm nghe tiếng gió. Nơi hò hẹn xưa nơi nhắc lại những lời tâm sự và những nét chữ tuy mờ với thời gian nhưng như vẫn đâu đây.

Và:

Hãy tưởng tượng buổi chiều ra ngồi quán

Bạn cũ tới đầy đủ mặt cố tri

Dăm ba đứa biệt tăm trong thời loạn

Ðã trở về cùng khật khưỡng vài ly

… Hãy tưởng tượng ghé vào thăm tên bạn

Bắc ghế ra ngồi đọc lại Ðường Thi

Trên căn gác năm xưa trăng vẫn sáng

Nhớ Hạc Vàng từ thuở mới bay đi

Có phải là những giấc mơ hay chỉ là tưởng tượng. Nhưng sao đẹp quá tâm tình cho bạn cho một tuổi mới lớn học trò. Thi sĩ đã mang vào trong thơ nỗi niềm ấm áp của một thời đầy ước vọng của tuổi trẻ của những buổi khởi hành vào những cuộc rong chơi tưởng như mộng đội đá vá trời khi bước vào đời.

Những con đường cũ. Những vỉa hè xưa lát lá me non. Như nhân vật trong thơ Ðinh Hùng tung tăng những giờ trốn học. Sách vở trong tay nhưng đầy chật mộng ước trong hồn. Cậu học trò Bùi Bảo Trúc ngày xưa nay đã thành một người lớn tuổi nhưng vẫn chưa quên những cảm giác của vị ngọt nhân sinh lúc ấy. Ðời reo vui như bước chân lang thang trên vỉa phố. Quen thuộc nhưng đẫm chất tình cảm…

Hãy tưởng tượng lại đi trên đường cũ

Những lề đường đá lát lá me non

Thời trốn học lang thang trên vỉa phố

Sách trong tay mộng ước chất đầy hồn…

Câu thơ kết:

Và tưởng tượng vừa tan cơn mộng dữ

bạn bè xưa người tình cũ về đây

căn gác nhỏ của một thời sách vở

vẫn còn nguyên- cơn ác mộng xa bay

Trong tâm cảm của tôi khi đọc xong bài thơ lại chạnh nghĩ đến thân phận của mình. Những câu thơ gợi lại cho tôi những tiếc nhớ tuổi học trò dù sống trong một thời thế đảo điên nhưng cũng có nhiều kỷ niệm… Những con đường đến trường. Những thầy xưa bạn xũ vẫn muôn đời trong ký ức không quên.

Ðọc thơ Bùi Bảo Trúc khi anh vừa ra đi cũng là giây phút cảm tạ thi sĩ đã cho đời sống những chân tình của một người tuy vẫn hoài niệm quá vãng nhưng tràn đầy giấc mơ làm đẹp cho mình làm đẹp cho đời. Dù thân phận lưu vong biệt xứ nhưng vẫn trìu mến nhìn về quê mẹ với cả tấm tình…

Thơ tình của Bùi Bảo Trúc hình như phảng phất một mùi hương của quá khứ, của những giây phút để tưởng vọng và nhớ về, Ông luôn đi tìm kiếm một điều gì xa xôi vô cùng nhưng lại gần gũi xiết bao. Những bài thơ lục bát phảng phất một mùi hương. Thí dụ bài C.A.T.19709 một nhan đề rất riêng tư và bí mật! Có phải những câu thơ này chỉ để tặng cho chỉ có một người:

Buổi chiều trở lại chỗ này

mùi hương đã nhạt dấu giầy đã xa

người đi bỗng chốc thoắt mà

màu son kỷ niệm nay ra nghìn trùng

vẫy tay chào những mịt mùng

người vô tận đã đi cùng sớm mai

gió buông một tiếng thở dài

lối xưa vẫn cứ hoài hoài đứng trông

nhớ nhau chiều bỗng võ vàng

thương cho ngọn cỏ bàng hoàng ngó theo

Cũng lại là một mùi hương của mùi tóc ai trong hơi thở của mùa xuân của buổi chiều còn đọng mãi trong câu thơ lục bát:

“lẫn trong hơi thở mùa xuân

là mùi tóc đã có lần rất quen

người đi chưa nhạt dấu chân

vẫn còn đọng mãi mùi hương buổi chiều”

Có một bài thơ mà Bùi Bảo Trúc viết như trở về những ngày tháng sinh viên mà một hình bóng lúc nào cũng chập chùng trong óc nhớ.

Khi giọt mưa bay cuối giảng đường

Mây và tóc biếc giấu trong khăn

Bàn tay em bỗng dưng thành đá

Dòng chữ trong bài nét cũng run

Con đường cũ, ở những dốc lên

Buổi chiều níu lại những bước chân

Thương cho đôi cánh loài di điểu

Trí nhớ giờ này đã đóng băng

Ðường về ngập dưới cơn mưa tuyết

Chĩu nặng chiều trong nỗi nhớ người

Có một vì sao vừa tuẫn tiết

Gĩưa một chiều đông rất ngậm ngùi

Người đã xa, xa cả bàn tay

Mùi hương tóc ấy vẫn đâu đây

Cho thơm mãi mãi câu thơ cũ

Trong một ngày đông tuyết xuống đầy

Nói về dịch thuật, Bùi Bảo Trúc là người tuy có căn bản Anh , Pháp ngữ vững nhưng rất cẩn trọng khi cầm bút. Anh cũng rất nghiêm khắc khi nhận thấy những sai sót của những dịch giả cẩu thả không trân trọng với chữ nghĩa. Anh không muốn sa vào hiện tượng dịch là phản, dịch là diệt. Nhất là với thi ca, nhập vào hồn thơ ngoại quốc để thành hồn thơ của mình đòi hỏi một trình độ cũng như một thái độ nghiêm chỉnh.

Tôi đọc một bài viết Chữ nghĩa chúng ta của Bùi Bảo Trúc phê phán dịch giả John Balaban:

“Spring Essence là nhan đề cuốn sách của John Balaban in đầu năm 2000 với những bài thơ của Hồ Xuân Hương được dich sang Anh ngữ.

Dịch giả John Balaban là một người liều lĩnh nếu không nói là cẩu thả. Ông để lại rất nhiều lỗi khiến câu cách ngôn traduttore, traditore của người Ý, nghĩa là bản dịch thường thiếu nét trung thành đến độ phản bội tư tưởng của tác giả nguyên bản, cũng chỉ là nhận định quá nhẹ nhàng khi đọc những bản dịch tiếng Anh những bài thơ Hồ Xuân Hương của ông. Những lỗi ông để lại quá nhiều và có thể nói là không một bài nào không để lại một hai lỗi. Có những lỗi hết sức sơ đẳng khiến người đọc tự hỏi không biết những người ông ghi tên ở cuốn sách nói là đã khuyến khích và giúp ông dịch những bài thơ này có thực sự đọc bản Anh ngữ của ông không. Mà toàn là những tên tuổi, bằng cấp ghê gớm cả, không giáo sư thì cũng là tiến sĩ lại có luôn cả một nhà ngoại giao cao cấp nữa…”

Sau khi phân tích một số lỗi tượng trưng, Bùi Bảo Trúc kết luận: “Trời ơi là trời… Thôi dịch như vậy mà còn “table” cái gì thêm được nữa. Bàn (table) cái gì bây giờ?

Dịch như thế không sợ Xuân Hương hiện ra sửa lưng “mấy bồ” là… “bố mày” hay sao?”

Nên khi chuyển ngữ Bùi Bảo Trúc vô cùng cẩn trọng. Ðọc bản dịch Tặng Vật Của Tình Nhân dịch từ nguyên bản Anh ngữ The Lover’s Gift của Tagore sẽ thấy được ngay điều đó.

Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng đã có một nhận xét khá xác đáng: “Ðọc thơ Tagore là một chuyện. Hiểu được thơ Tagore tất nhiên là một chuyện khác. Nhưng đưa thơ Tagore đến với người đọc Việt Nam bằng một thứ ngôn ngữ vừa mang tính Tagore lại vừa tràn ngập tính dân tộc, tôi nghĩ trước Bùi Bảo Trúc không có ai và sau Bùi Bảo Trúc người viết tạp văn hay nhất Việt Nam hiện nay thật khó tìm được người thứ hai”

Tập thơ Lover’s Gift gồm một số bài viết bằng Anh ngữ và một số bài bằng tiếng Bengal được chính tác giả Tagore dịch sang Anh ngữ.

Bài thứ nhất của Tặng Vật của Tình Nhân là bắt đầu của chuyện kể một thiên tình sử đã vượt qua được không gian thời gian để thành bất tử với ngôn ngữ của trái tim đầy xúc cảm:

“Ðại đế Jehan, người đã mặc cho đế quyền sụp đổ nhưng ước muốn của người lại là biến giọt lệ tình thành thiên thu bất diệt.

Thời gian thật tàn nhẫn với trái tim con người. Thời gian cười cợt nhạo báng trước nỗ lực buồn nản để khắc ghi hoài kỷ niệm của trái tim.

Người đem thẩm mỹ mê hoặc, giữ lấy thời gian, vinh thăng cái chết vô hình bằng một hình thể đời đời không phai nhạt.

Niềm bí ẩn thì thầm bên tai người yêu dấu, trong u tịch của bóng đêm được tạc sâu vào sự câm nín muôn đời của đá.

Dù cho bao nhiêu vương quốc đã đổ nát, tan hoang cùng cát bụi, dù cho bao nhiêu thế kỷ đã mất theo bóng đêm, cẩm thạch vẫn ngậm ngùi thở dài, nói với những vì sao, “Ta vẫn nhớ”

“Ta vẫn nhớ” Nhưng cuộc đời thì lãng quên, vì nàng đã về nơi Vô Tận nàng thảnh thơi ra đi trong chuyến viễn hành không vướng măùc, để lại những kỷ niệm trong hình thể cô đơn của thẩm mỹ…”

… Dịch thơ có phải là một công việc khó? Tôi đã hỏi câu ấy với nhà thơ Bùi Bảo Trúc thì được anh trả lời dịch bằng ngôn ngữ thì không khó nhưng dịch bằng hồn thơ là cả một công việc thiên nan vạn nan. Có người từ ngữ văn phạm rất giỏi nhưng nếu không có hồn thơ nhập vào thì chữ chỉ có nguyên hình chữ mà hồn thì chẳng tìm được trong thơ. Bùi Bảo Trúc dịch Tặng Vật của Tình Yêu hình như muốn ký gửi theo tâm tình của mình khi dịch sang Việt ngữ những lời thơ Tagore. Anh muốn khởi hành đi vào không gian vô tận của tình yêu mà vũ trụ là đích đến phải gặp là những cõi vĩnh hằng qua bao nhiêu biến đổi của không gian thời gian. Tìm ở bầu trời cao rộng và những vì tinh tú lóe sáng để cõi thơ mông lung kia tràn đầy mơ ước. Có phải dịch thơ như Bùi Bảo Trúc là đã sáng tác một khổ thơ tuy bắt nguồn từ nguyên bản Anh ngữ nhưng đã biến thành một áng văn Việt ngữ xúc tích và đầy chất sáng tạo…

Nguyễn Mạnh Trinh
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Users browsing this topic
Guest
7 Pages«<567
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.