Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

4 Pages<1234>
Options
View
Go to last post Go to first unread
phamlang  
#41 Posted : Sunday, May 17, 2015 5:42:33 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Mảnh bằng


Đoàn Xuân Thu


Nông thôn mình hồi xưa ở ngoài Bắc hễ ai có ruộng vườn bát ngát (nói bát ngát cho ‘le’ chơi... chớ chừng 5, 7 mẫu là cùng!), nhiều ao cá liền bờ là giàu, là địa chủ (Dân Lục Tỉnh Nam Kỳ không kêu là địa chủ (chủ đất) mà kêu là điền chủ (chủ ruộng)!)

Miền Tây, đồng bằng sông Cửu Long, phì nhiêu bát ngát (thứ thiệt), đất rộng người thưa, ai được cái danh ‘điền chủ’ là phải có ít nhứt vài trăm mẫu ruộng, có khi tới chục, trăm ngàn mẫu! Và có giai thoại nầy (hổng biết thiệt hay không?) là quý Hắc công tử Bạc Liêu, Trần Trinh Huy, tức Ba Huy, đi thăm ruộng phải bằng máy bay, bay mới giáp?! Sao giống chủ ‘farm’ Úc bên nầy hết sức vậy ta?!)

Cái ngộ là mấy em thôn nữ miền Bắc quê mình ‘Chẳng tham ruộng cả ao liền, Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ?’ Giữa tiền và chữ, em khoái chữ hơn khoái tiền? Tiếng rằng ‘danh lợi’, em chọn chữ, chọn danh trước... còn lợi thủng thẳng nó tới mà... thì việc gì phải lo chớ!

Nói một cách dễ hiểu là mấy em theo tam đoạn luận: có chữ, có danh, (được bổ làm quan, là mình ‘quằm’) tất có lợi! Tuy nhiên cái tam đoạn luận chắc ăn như bắp nói trên đôi khi cũng trật lất!

Sao vậy? Thưa Tú tài hồi xưa là le lói lắm như ông Trần Tế Xương đậu Tú tài nên mới gọi là Tú Xương. Nhưng cái Tú tài của ổng là Tú tài Hán học. Mà Hán học đang suy tàn trước Tây học, ổng có chữ, có danh (nhưng Tú tài chưa được bổ làm quan!) nên nghèo sặc máu, nghèo mạt rệp, nghèo rớt mồng tơi. Ðành ‘Cao lâu thường ăn quỵt/thổ đĩ lại chơi lường’ (Nhà thơ Tú Xương gan hết biết... chơi lường mà hổng sợ ‘ma cô’ nó quánh cho lòi bản họng!)

Nhà thơ nổi tiếng đất Vị Xuyên nầy còn có một bài thơ mà con vợ tui đọc xong nó cảm động quá chừng chừng. ‘Quanh năm buôn bán ở mom sông/nuôi đủ năm con với một chồng/Lặn lội thân cò khi quãng vắng/eo sèo mặt nước buổi đò đông!’ Ðọc xong, em thổn thức: “Sao đau khổ... giống đời em quá vậy? Hu hu!”

Nhưng nhà thơ Tú Xương của chúng ta đã ơn đền nghĩa trả (còn hơn là đầy đủ) công khó của vợ hiền; ông Tú dắt tay bà Tú thong dong đi guốc vông vào văn học sử dù chỉ bằng một bài thơ thôi... Rồi trăm năm sau, hay ngàn năm nữa, tình nghĩa, vợ hy sinh cho chồng nên danh phận vẫn lóng lánh như ngọc lưu ly!

(Bài thơ đó người viết ‘chôm’ để dành trong bụng hầu làm ‘biện minh trạng’ cho mình, một ông chồng hư quá là hư! Tui cũng biểu em yêu nên học tập, làm theo gương của Bà Tú... để đừng cằn nhằn, cửi nhửi lúc tui hư nữa nhe em!)

Thưa! Rồi cũng chuyện hồi xưa, đầu thập niên 60, tại rạp Hưng Ðạo (dĩ nhiên là nó nằm trên đường Trần Hưng Ðạo rồi) thường chiều Thứ Bảy có Ðại nhạc hội hay sáng Chủ Nhựt có tổ chức cuộc thi Tuyển lựa ca sĩ, được trực tiếp truyền thanh trên làn sóng điện đài Sài Gòn cho bà con cả nước nghe.

Trong chương trình phụ diễn văn nghệ nầy, ban Tam ca Trào phúng AVT hay trình diễn. Ra sân khấu, ba ông diện khăn đóng, áo gấm thụng ba màu khác nhau. Mỗi người sử dụng một nhạc cụ dân tộc: đàn sến (Tuấn Ðăng), đàn cò (Lữ Liên) và trống (Vân Sơn), hát những bài đa phần là lời thanh nhưng ý tục, hết sức ý nhị, thâm thúy... kiểu nữ sĩ Hồ Xuân Hương vậy. Khi có những câu thoại thì mỗi người nói rặt giọng của mỗi miền Trung, Nam, Bắc.

Cái bài mà tui khoái và nhớ tới bây giờ là bài ‘Mảnh bằng’ vì nó trúng ý tui ghê nha!

‘Mảnh’ là tiếng Bắc, là mạo từ, chỉ đồ vật nên hổng có giống đực, giống cái gì ráo. Nhưng tiếng Nam Kỳ Lục Tỉnh thì gọi là cái bằng, nghĩa là giống cái... Giống cái mà sao con gái lại mê quá trời?

Té ra em mê cái công danh! Như chồng làm Bác sĩ thì vợ tự động lên bà Bác sĩ vậy. Bên Mỹ cũng vậy thôi! Chồng làm Tổng thống thì vợ tự động leo lên làm Ðệ nhứt Phu nhân (The First Lady).

Năm tới, năm 2016, nếu Hillary đắc cử Tổng thống thì cựu Tổng thống Bill Clinton sẽ thôi làm cựu (cựu hổng có oai vì về ‘hưu’ rồi sao bằng ‘đương kim’ cho được chớ?) Ngài Bill Clinton sẽ là Ðệ nhứt Phu quân ‘The First Gent’ (chức nầy xưa giờ Mỹ chưa có nghe bà con!).

Nữ Tổng thống Mỹ Hillary Cliton là số 1; nhưng Bill là chồng của Tổng thống... còn ngon hơn số 1 nữa, Bill là số một La Mã... vì tui nói bả phải nghe! Sướng nhé!)

Thưa rằng xưa thì thiệt là xưa, ban AVT hát rằng: ‘Ngày xưa, lúc tuổi còn ấu thơ/Bố tôi thường nói con ráng học cho chuyên cần/Học nhiều thì ấm vào thân/Biếng lười sau chỉ vác chân đàn bà/Vợ con nó bắt coi nhà/Ðuổi gà mà biết nhục, thì ráng học mà làm to… Cái bằng nó chỉ một gang thôi/Mà sao con gái họ mê quá trời…?’

Mà tại sao con gái họ lại mê ‘cái bằng chỉ một gang thôi’ là vì: ‘Võng anh đi trước võng nàng theo sau’... ké! Anh lều chõng đi thi Hương, thi Hội rồi thi Ðình mà đỗ đầu thì được làm Trạng nguyên! (Nhớ đừng lấy công chúa con vua, rồi thành Phò mã nghe huynh. Hãy bắt chước Trần Minh (Thanh Sang) không phụ nghĩa tào khang với vợ hiền Quỳnh Nga (Thanh Nga) trong tuồng cải lương Bên cầu dệt lụa của soạn giả Thế Châu mới là thủy chung như nhứt, không tham phú phụ bần!)

Xui cái là Tây tới, cái bằng Hán học dẹp, treo giàn bếp. Giờ là cái bằng Thành chung, Tú tài, Cử nhân, Tiến sĩ dù tên mảnh bằng cũng na ná như xưa, nhưng không có Tứ thư, Ngũ kinh gì ráo mà sĩ tử thời nầy nói tiếng Tây như bẻ mía vậy!

Thời thế đổi thay! Tây nó dọt, miền Nam mình hết làm thuộc địa cho Tây, thì tiếng Tây, tiếng U nó de lại làm sinh ngữ... chớ hổng dám đòi làm ‘cha’, làm quốc ngữ vì tổ tiên chúng ta là người Gaulois (Nos ancêtres sont des Gaulois) như trước nữa... Thầy cô dạy mình bằng tiếng Việt cho nó độc lập nước nhà phải hông?

Rồi cái miền Nam trù phú của mình lại bị cái miền Bắc cộng sản nó xâm lăng nên đa phần nhân tài, vật lực phải dồn vô guồng máy chiến tranh để chống trả lại. Tuy vậy chánh phủ cũng ráng xây dựng trường lớp, đào tạo thầy cô. Nên những năm năm 50, 60 quận đã có trường Tiểu học, Trung học tới lớp Ðệ Tứ... Học trò học hết chữ ở quận nhà, nếu Tía Má khá giả thì cụ bị quần áo, sách vở, gạo muối cho thằng ‘cu’ lên tỉnh, ở trọ nhà người ta, học lên nữa... hầu theo đuổi cái mộng công hầu!

Thưa thân phận người viết thì khác. Bà con mình hồi xưa có nói ‘ăn học’. Nghĩa là ăn trước rồi học sau. Nhà nghèo không đủ ăn thì nói chi tới cái chuyện học hành cho nó viển vông chớ!

Nên Tía Má của người viết ráng hết sức cho tui hết cái bậc sơ học, tức cái lớp Ðồng ấu (Cours Enfantin), lớp Dự bị (Cours Préparatoire), lớp Sơ đẳng (Cours Élémentaire) tổng cộng 3 năm. Tía Má nói ‘oải’ quá rồi con! Bình dân học vụ vậy là đủ!

Phần người ta lấy bồ đựng lúa chớ hổng ai lấy bồ đựng chữ đâu con. (Ðừng có nghe ông Cao Bá Quát nói: Thế gian có 4 bồ chữ; mình ổng hết 3 bồ mà chi!) Cho dù có 3 bồ chữ cũng hổng làm được gì đâu... Học biết đọc, biết viết, biết làm tính cộng, tính trừ là đã đủ. Ở nhà tiếp Tía Má làm ruộng, mới có gạo mà nấu cơm! Kẻo chết đói cả đám bây giờ!

Sau nầy vì ít chữ, đi hỏi vợ... Tới đâu, thiên hạ cũng lắc đầu quầy quậy, nhà gái nào cũng đòi ‘cái bằng chỉ một gang’ thôi... làm thằng nhỏ mang mối hận lòng năm cũ biết bao giờ nguôi! Hu hu!

Thưa mãi sau nầy, trôi dạt tới Úc Châu, mối hận lòng năm cũ mới trả được! Niềm ao ước của đời ta mới trở thành hiện thực! Người viết đã cầm trong tay được cái bằng rồi! Dạ! Ðó là cái bằng lái xe của Nha Lộ vận tiểu bang Victoria, nước Australia cấp! Vẻ vang thay cho dân Việt!

Ôi mảnh bằng, cái bằng niềm ao ước của đời ta suốt bốn chục năm ròng! Mà hổng phải mình tui có, con vợ tui nó cũng có nữa bà con ơi!

Cái bằng lái xe nầy Úc nó không có sắp hạng ‘Thứ, Bình thứ, Bình, Ưu’ như cái bằng Tú tài quê mình năm cũ đâu... mà là cá mè một lứa. Chính vì vậy mới có chuyện so nạnh nhau. ‘Bằng mầy giỏi; Bằng mầy cao! Sao bằng Bằng tao?!’ Ai lái xe cũng hay hết trơn, hết trọi hà!

UserPostedImage
Bảo Huân

Edited by user Sunday, May 17, 2015 5:43:18 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#42 Posted : Friday, May 22, 2015 4:22:42 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Con Cắc Kè Bông!


Thưa, bà con người Việt mình có người rất thích thơ và thuộc thơ, thuộc làu làu; cho dù bài thơ dài ngoằng. Như Truyện Kiều của Nguyễn Du, dài tới 3254 câu mà có ông thuộc từ: ‘Trăm năm trong cõi người ta’… tới… ‘Mua vui cũng được một vài trống canh’ luôn. Chẳng qua ông nầy làm quan, hay đăng đàn diễn thuyết cho bà con nghe. Tới cái đoạn ‘thuyết pháp’ nào hợp với cái ‘văn cảnh’ là ông vác Truyện Kiều ra minh họa cho cái ý kiến của mình thêm phần văn… nghệ với gừng… Cho bà con ngồi nghe, không ngáp sái quai hàm, không có buồn ngủ, cụng đầu vô đứa khác.

Thưa còn tui, thơ thì có thích thiệt nhưng thuộc thơ thì một hai câu nào hay… là dữ lắm rồi. (Chính vì vậy mà tui rất khoái ca dao!) Thuộc để dành ru con ngủ trong lúc vợ bận đi bán xôi! Vậy thôi!
Chẳng qua là sau 75, tui bị ‘mất dạy’, lúc đó còn độc thân tại chỗ. Em Bảy bán xôi đầu xóm nói: “Cưới em đi! Cưới em đi! Kẻo VC thấy em chưa chồng; nó bắt em lấy thương binh của tụi nó thì em chết!”

Tui đang thất nghiệp, đói hỏng ai nuôi; thấy em bán xôi đề nghị thiết tha như vậy cũng khoái tỉ tê, nhưng lòng tui lại suy nghĩ thiệt là lung! Chỉ sợ cái thân bồ tượng của mình, ăn hao cơm lắm, thành gánh nặng cho người ta! Tạo cái nghiệp, món nợ tình em, đầu thai biết bao nhiêu kiếp mà trả cho nó nổi?! Nhưng cái bụng đói cồn cào, kêu ào ào như ấm nước sôi, lại bảo rằng: “Bữa nào xôi ế, hai vợ chồng ăn xôi trừ cơm cũng được! Cưới đi! Hoàn cảnh bi thảm như vầy mà còn tính tới tính lui gì nữa chớ?!” Cuối cùng tui ưng em Bảy!

Em Bảy, vợ tui, nhạy thiệt nha! Cưới về, mới cọ quẹt sơ sơ, chưa giáp năm, là em tọt cho tui một thằng cu rồi.
Một hôm xôi đắt, em đội cái thau không về, dừng trước cửa mà nghe tui ru con nằm trên võng, nghe buồn não ruột như vầy: “Hãy đem hết những đổi đời tan tác; gói giùm vào cơn mộng dữ đêm qua”.
Em hỏi: “Thơ ai mà hay vậy Tía nó!”; “Thơ Cao Tần!”

Thưa năm 80, tui may mắn đọc được thơ ông Cao Tần trên báo Nhân Dân của đảng Cộng Sản Việt Nam. Cái nầy phải nói cho rõ kẻo bà con hiểu nhầm. Ông Cao Tần, lúc đó đang ‘hải ngoại thương ca’ mà lại có thơ đăng báo trong nước là vì có một tay bồi bút nào đó, ‘chôm’ thơ ổng đăng bên Mỹ, rinh về… cắt ra từng đoạn, viết thêm mấy lời phê phán chung chung theo chỉ đạo của Tuyên huấn cấp trên.

Tờ báo Nhân Dân nầy thực ra hôm trước, con vợ tui mua lại của bà ve chai lông vịt, đem về cho tui rọc giấy, để gói xôi bán cho khách. Xôi gói bằng lá chuối trước, ngoài thêm tờ giấy nữa để cho bà con nào, còn đi làm, mua mang vào ‘cơ quan’ mà ăn thế cơm trưa. Cái thời, trưa ăn hủ tíu mì hoành thánh ở quán nước Viễn Lạc dưới đường Phan Đình Phùng đã chìm vào quá vãng khá lâu rồi!!!

Thưa tui còn nhớ vài câu như vầy, công nhận hay thiệt dù trong bụng cũng hơi ganh tị với ông nhà thơ thông minh và may mắn nầy vọt kịp lúc, trước khi Sài Gòn thất thủ… mà tui còn kẹt lại. Hu hu!
“Thư quê hương như tên hề ốm nặng/ Hồn tang thương sau mặt nạ tươi cười/ Son phấn hân hoan phủ nghìn cay đắng/ Mắt lệ đầy, miệng hát những lời vui…

…Và gửi cho anh một tờ giấy trắng/ Thấm nước trời quê qua mái dột đêm mưa
Để anh đọc: Mênh mông đời lạnh vắng/ Em tiếc thương hoài ấm áp gối chăn xưa …”
Và cũng chính nhờ mấy câu thơ nầy của ông Cao Tần, từ bên kia biển, đã giúp tui có mối nhậu ‘chực’ dài dài trong những ngày ốm… đói năm xưa đó. Xin cám ơn ông!

Chẳng qua bữa đó, trốn vợ nhà, tui đi nhậu cùng mấy chiến hữu Tháng Ba gãy súng. Hơi xỉn xỉn, tui ngâm vài câu của ông Cao Tần cho mấy thằng bạn nhậu nó nghe… Ai cũng gục gặt cái đầu là: “Thơ hay thiệt là hay nha! Thôi vô trăm phần trăm đi!”
Bất ngờ bàn bên có một tay vác ly rượu qua, khen thơ ai nghe hay vậy? Làm cả bọn xanh mặt như tàu lá chuối ‘tiêu’… Tưởng ‘tiêu’ rồi chớ! Nào ngờ, ảnh nói: “Tui không phải là Công an đâu! Đừng có sợ! Tui là giảng viên (lưu dụng) Khoa Văn của trường Đại học cuối đường, qua khỏi cái ngã tư Tạ Thu Thâu và Trần Hưng Đạo!”
Quán gần trường hèn chi dạy xong, tay còn dính phấn, là chú em đáp vô cái rẹt, giải khát vài xị cho thông cái cần cổ mà khỏi phải cực khổ đạp xe đạp đi xa.

Từ đó, cái tình văn nghệ, văn gừng của hai đứa vốn yêu thích văn thơ, nẩy nở trên đất cày lên sỏi đá, có sức mình đá cũng thành sạn, thành sỏi… vậy thôi!

Hôm nào kiếm thêm được chút cháo, là anh bạn văn rủ húp chung bằng cách lôi nhau ra quán của Tư Tẹo, mặt tiền, nằm trên đường Trần Hưng Đạo, Cần Thơ gần cái hẻm 10C và Bệnh viện Nhi Đồng hồi xưa vốn là của Bác sĩ Khoa!
Tư Tẹo, trước 75 hành nghề đánh xe ngựa, chạy từ Vị Thanh đi Vị Thủy, tỉnh Chương Thiện. Chạy cái đường mất an ninh nên hay ‘bị’ mấy thằng du kích chận lại nhờ mua rượu đế và thuốc Ruby Quân Tiếp Vụ. Từ chối sợ bị đi mò tôm bất tử; nên đành phải nhận.

Sau 75, nhờ có công tiếp tế cho cách mạng, tụi nó cho theo vô rừng trên Lộc Ninh làm cây, nghĩa là cưa cây chở về Cần Thơ bán cho trại cưa! Nhứt phá sơn lâm; nhì đâm hà bá mà… Chẳng mấy chốc mà giàu. Thấy có ăn, bọn khác nhẩy vô giành. Tranh không lại! Rồi có lần bị cướp cây, bị phục bắn xém chết… nên Tư Tẹo bỏ nghề ‘lâm tặc’ về Cần Thơ mua nhà ở mặt tiền đường để mở quán nhậu.

Quán nầy văn nghệ một cái là cho khách quen nhậu thiếu. Thầy chú nào kẹt đạn, nhậu bữa nay tới kỳ lãnh lương trả cũng được! Trả bằng tiền, bằng gạo ‘chế độ’, bằng thịt heo phân phối, xà bông hay bột ngọt gì tao chơi tất, hỏng có chê (chẳng qua là trả giá rẻ hơn là tụi bây đem nó đi bán ngoài chợ Trời, mắc công đi mỏi cẳng!)
Cầm bằng thầy chú nào… không trả; tao vô ‘cơ quan’ đòi cho tụi bây bị chi bộ kiểm điểm nếu là đảng viên, còn quần chúng thì mất mặt chơi… Nên hỏng có đứa nào nhậu chịu mà dám giựt… trốn luôn.

Một chiều tui lơn tơn ra chờ anh bạn giảng viên Khoa Văn nầy ra nhậu như mọi khi mà sao hỏng thấy tăm hơi. Chợt thấy ảnh hớt ha hớt hải chạy xe đạp cái vù qua. Chận lại! “Ê chạy đâu mà gấp vậy?” Ảnh ngừng xe cái kịch nói ông vô trước kêu xị rượu lai rai chờ tui, để tui chạy cái áp phe nầy mới được. “Tui vô văn phòng Khoa xin cái giấy giới thiệu của thằng Trưởng khoa để đi mua hòm!” “Ủa nhà ông ai chết vậy?” “Đâu có ai chết đâu. Tiệm hòm chỉ còn hai cái… phải tranh thủ, mua cho lẹ chở về nhà… chờ bán lại kiếm tiền chênh lệch nhậu chơi!”

Tuần sau thì đến hẹn lại lên, anh bạn Văn nầy mặt có vẻ ‘hồ hởi phấn khởi’ lắm. Ảnh ve vẩy một tép giấy bạc. Nè tiền lời! Nhậu! Tớ đưa cho ‘bu’ nó ở nhà hết phân nửa rồi. Tay nầy tếu! Là Nam Bộ rặc ròng đó, nhưng lâu lâu nói chuyện, ảnh hay chêm tiếng Bắc 75 vào cho giống Nguyễn Quang Sáng.
Có lần ảnh nói tui khoái ông ở cái tánh chân thật. Thời buổi nầy vàng đã khó kiếm. Ai có vàng cây là đóng tàu vượt biên, vọt hết rồi. Cái còn lại, khó kiếm hơn vàng nữa là cái tánh chân thật. Bởi nhìn quanh quất, đứa nào cũng nói dóc hết trơn.
Có lần ảnh hỏi tui một câu trớt he, hỏng ăn nhậu gì đến văn chương hết ráo: “Nhà nhiều chuột quá mà hỏng biết làm sao? Đi chợ mua thuốc chuột thì hỏng có vì bà con mình mua hết trơn để dành, đối đế, sống khổ quá là… xong!”
Tui trả lời là: “Về nhà, ông gắn lên cái bảng “Tập đoàn sản xuất nông nghiệp”. Bảo đảm với ông là Chuột nó sợ chết đói… nó bỏ đi hết trọi cho coi!” Anh bạn đang cầm ly, nghe xong, cười hắc hắc, tay rung làm đổ rượu hết trơn… Thiệt là uổng!

Ngược lại, tui cũng khoái anh bạn văn nầy hết biết. Lâu lâu, ảnh đem cho tui một tờ báo tỉnh nhà, bán hỏng ai mua, có đăng bài của ảnh trong mục phê bình văn học ký bút hiệu là: Cắc Kè Bông! Sao bút hiệu gì lạ đời vậy?
Ảnh cắt nghĩa rằng: Cắc Kè Bông là con vật hay đổi màu theo hoàn cảnh môi trường để mà sống sót trước kẻ thù lăm lăm, chực ăn thịt mình. Ở bụi cỏ, nó có màu cỏ; trèo lên cành phượng nó chuyển qua màu phượng đỏ. Cũng giống như ông Trịnh Công Sơn vậy thôi!

Cắc Kè Bông có cái ‘lưỡi’ rất dài, lưỡi không xương nhiều đường lắc léo, để tóm lấy con mồi. Chính vì vậy, Con Cắc Kè Bông đâu có khác gì cái nghiệp văn bút của tui đâu nè! Nên tui lấy tên nó làm bút hiệu cho nó ‘oách’.
Anh bạn Cắc Kè Bông đổi màu với ai kia kìa; còn với tui là ảnh có sao nói vậy người ơi! Những lời ảnh nói trên bàn nhậu và những bài ảnh viết rất khác nhau. Ảnh chỉ viết những bài phê bình văn học vô thưởng vô phạt, nhạt như nước ốc, vái tứ phương cho nó lành… chớ hỏng thèm sáng tác gì ráo trọi. Hỏi sao vậy? Anh nói: “Mỗi lần đi họp tổ Văn trong Khoa, tui mang cái ý kiến của tui vô. Tan họp, tui mang cái ý kiến của cái thằng Tổ Trưởng ra”.
Nên tui bắt chước ông Cao Tần cho nó ‘phẻ’: “Và gửi cho anh một tờ giấy trắng/ Thấm nước trời quê qua mái dột đêm mưa!”

Thôi làm tờ giấy trắng… nghĩa là hỏng sáng tác gì hết… để sau nầy mình, vốn là kẻ sĩ, hỏng có ân hận, mắc cỡ ên, vì đã từng viết ‘dóc’ như ông Chế Lan Viên nhe!
Ảnh nói: Ông nầy xưa đổi màu Việt thành Chàm, theo Chế Bồng Nga viết ‘Điêu Tàn’ mà nổi danh. Sau 54, ông lại đổi màu, viết tùm lum, viết tà la để cuối đời, sắp chết, để lại lời trăng trối trong ‘Di Cảo thơ’ nhắn với bạn đọc là:

“…Cái cần đưa vào thơ, tôi đã giết rồi/ Giết một tiếng đau – giết một tiếng cười/ Giết một kỷ niệm – giết một ước mơ – tôi giết/…. Tôi giết bão ngoài khơi cho được yên ổn trên bờ/ Cho nên câu thơ tôi gầy còm như thế!”
Hay: “Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ… Chả là nếu anh từ chối
Chúng sẽ bảo anh phá rối. Đêm vui. Bảo anh không còn có khả năng nhai. Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc… Thế thì còn dịp đâu nhai thứ thiệt?”

Thưa! Vì muốn ‘nhai thứ thiệt’ nên Chế thi sĩ đành phải biến thành Chế họa sĩ đó bà con ơi!
Rồi ông đấm ngực sám hối rằng: “Lỗi tại tôi! Lỗi tại tôi muôn phần!”
“Mậu Thân hai ngàn người xuống đồng bằng/ Chỉ một đêm còn sống có ba mươi/ Ai chịu trách nhiệm về cái chết hai ngàn người ấy? Tôi!
Tôi người viết những câu thơ cổ võ/ Ca tụng người không tiếc mạng mình…”
Nghĩ cho cùng, thấy tội nghiệp cho anh bạn Văn của tui và những “Con Cắc Kè Bông” nầy biết bao nhiêu mà kể!

Đoàn Xuân Thu
Melbourne
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#43 Posted : Saturday, May 30, 2015 5:25:30 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Mặt trái những tấm vé số


Thời Việt Nam Cộng Hòa trước đây có chương trình Xổ số Kiến thiết Quốc gia được xổ hằng tuần, không nhớ vào ngày nào, nhưng là vào buổi chiều. Tiền lời từ chương trình này được chính phủ dùng để xây dựng đường xá, trường học và những cơ sở hạ tầng khác ở miền Nam đúng như ý nghĩa của cái tên của nó là kiến thiết quốc gia. Điểm đặc biệt nhất của chương trình xổ số này là bài hát mở đầu được giọng ca của quái kiệt Trần Văn Trạch cất lên giống như một cách chào mời để mở hàng. Những ai đã từng sống qua thời gian đó đến nay mỗi khi nhắc lại không ai là không nhớ đến bài hát vui nhộn và giọng ca đặc biệt đó. Thử hỏi nếu không có bài ca đó thì chương trình xổ số chắc sẽ kém hào hứng rất nhiều và nay sẽ không còn ai nhớ tới nó nữa. Trong bài hát của Trần Văn Trạch chỉ có mấy câu ngắn, điển hình như mấy câu sau: “Triệu phú đến nơi/Chỉ mười đồng thôi/Mua lấy xe nhà/Giàu sang mấy hồi…” Nhạc rộn ràng tạo thêm sự hồi hộp khi những con số may mắn lần lượt rớt khỏi vòng quay. Mỗi một cuộc xổ số như thế đã có hàng triệu người miền Nam chăm chú lắng nghe theo dõi bên chiếc radio.

Không hiểu hồi đó những người trúng lô độc đắc có thể mua được xe được nhà như trong câu hát của Trần Văn Trạch hay không, chứ riêng ở Mỹ lắm khi người trúng lô độc đắc lên đến cả hàng trăm triệu đô thì không chỉ mua nhà thôi mà còn dư khả năng để mua nhiều căn biệt thự nữa. Và hầu như năm nào chương trình xổ số như Powerball ở Mỹ, với 44 tiểu bang cùng khu vực thủ đô District of Columbia, Puerto Rico và quần đảo U.S. Virgin chơi chung, đều lên cơn sốt một hai lần với lô độc đắc có khi lên tới xấp xỉ nửa tỉ đô như chơi, làm người dân rủ nhau đổ xô đi xếp hàng mua vài tấm vé số cầu hên, nhỡ may lô độc đắc rơi vào tay mình thì ăn tới mấy đời cũng không hết.
Thế nhưng, như tất cả mọi thứ trên cõi đời này thường luôn có hai mặt trái và phải của nó. Chương trình xổ số ở Mỹ, và có lẽ ở nhiều nơi khác nữa trên thế giới, cũng không ngoại lệ.

Ta có thể coi chương trình xổ số ở Mỹ như một ngành kinh doanh mà chỉ chính quyền tiểu bang được độc quyền khai thác. Không một công ty tư nhân nào được dự phần ngoại trừ những tiệp tạp hóa có môn bài để được bán vé số và ăn huê hồng.

Năm 2014, người Mỹ chi ra cho xổ số tổng cộng $70 tỉ. Một con số không thể tin nổi. Nghĩa là cứ mỗi người Mỹ – tính cả đàn ông, đàn bà và con nít – chi hơn $230 cho những chiếc vé số, hay khoảng $300 cho mỗi người lớn (tất cả các tiểu bang đòi hỏi phải từ 18 tuổi trở lên mới được quyền chơi xổ số). Con số này cao hơn những số tiền người Mỹ chi ra để mua vé coi thể thao, sách, trò chơi điện tử, vé coi phim và đĩa nhạc. Và con số $70 tỉ sẽ còn tăng cao hơn trong những năm tới vì nếu so với số tiền người Mỹ chi ra cho xổ số năm 2009 chỉ ở mức $50,9 tỉ.
Và nếu coi xổ số như một ván bài, chính quyền tiểu bang là người làm cái và người dân là những người đặt tiền. Ai thắng nhà cái sẽ chung và ai thua nhà cái thu về. Tất cả số tiền thu về từ bán vé số, chính quyền tiểu bang sẽ chi ra 62% trả cho những người thắng, còn dư lại là 38% tiền lời. Nghĩa là trong ván bài này, nhà cái luôn luôn thắng.

Nhưng người thật sự thua là người nghèo. Theo nghiên cứu của Đại học Duke, một phần ba số gia đình nghèo nhất mua tới một nửa số vé, một phần vì xổ số được quảng cáo mạnh nhất ở trong những khu dân cư nghèo.

Một cuộc thăm dò tại tiểu bang California năm 1986 cho thấy tỉ lệ những người chơi xổ số chia đều 50-50, một nửa chơi vì tiền và nửa kia chơi cho vui. Nhưng với những gia đình có lợi tức thấp hơn $30.000 một năm, số người chơi vì tiền cao hơn 25% so với người chơi cho vui, trong khi với những gia đình có lợi tức cao hơn thì ngược lại. Các nhà nghiên cứu còn cho thấy người nghèo càng ngày càng mê mua vé xổ số nhiều hơn trước, trong khi những thứ vé khác như vé đi coi hát thì không tăng. Nói cách khác, chơi xổ số với người nghèo là một hình thức giải trí khác rẻ tiền hơn. Đó còn là một thứ niềm tin, một hy vọng thoát ra khỏi cảnh nghèo. Phải chăng chính quyền của những tiểu bang có xổ số đang biến những người dân nghèo sống trong tuyệt vọng của họ thành những tay nghiện ngập cờ bạc để chi trả cho những dịch vụ hoặc những chương trình xã hội của chính phủ.

Một số nhà hoạch định chính sách phản bác lại và cho rằng cái giá cho vấn đề đạo đức mà chương trình xổ số gây ra nếu có thì cũng tương đối thấp. Mà xét cho cùng, chơi xổ số là chuyện tự nguyện, không ai bắt buộc ai cả. Và có lẽ với số tiền mà chính phủ tiểu bang thu được từ xổ số, mà phần lớn quả thật là để chi tiêu cho hệ thống trường học, thì cũng còn hơn là chi cho những món độc hại như bia, rượu, thuốc lá, và những thứ khác.
Nhưng nếu thử hỏi cứ mỗi đầu người lớn thuộc gia đình nghèo chi ra $300 cho tiền chơi xổ số. mỗi năm. Vậy tính ra, nếu cứ mỗi gia đình nghèo có hai người lớn nếu không chơi xổ số, thì một năm họ có thể để dành được $600. Con số đó không nhiều nhưng nó là số tiền rất cần thiết trong những trường hợp khẩn cấp khi có chuyện gì không may bất ngờ xảy ra như – bị thương tích do tai nạn, bị đau ốm, hoặc chiếc xe bị hư – thì có ngay số tiền đó để tiêu thay vì phải đi mượn ở những công ty cho vay lãi cao, một thứ “cá mập” hiện đại có môn bài hoạt động kinh doanh, rất rành trong việc biến vài trăm đô thành những món nợ không bao giờ trả dứt.

Với những con số dài dằng dặc in trên mỗi tấm vé số, cơ hội để người ta có thể trúng lô độc đắc là nhỏ hơn một phần một trăm triệu. Khi người ta mua một hay nhiều tấm vé số cùng một lượt để cầu may thì cơ hội làm giàu kiểu này vẫn là gần như con số không. Có thể nói, dưới cái nhìn của các nhà kinh tế, khi người ta bỏ tiền ra mua vé số (và có người mua đều đặn mỗi tuần nhiều lần), thì đây là một quyết định kinh tế thiếu khôn ngoan.

Có người còn ví chương trình xổ số như là một hình thức thuế má mà lại không bị người dân phản đối. Bởi vì chơi hay không chơi xổ số là hoàn toàn tự nguyện, nhưng mấy ai cưỡng lại được sự cám dỗ khi giải thưởng dành cho lô độc đắc lúc nào cũng hấp dẫn. Và khi đã là tự nguyện thì chẳng ai có lý do gì để chống cả. Ngược lại, mỗi khi cần phải tăng thuế thì chính phủ luôn luôn gặp phải sự chống đối, nhiều khi rất quyết liệt, có thể làm cho vài vị chức sắc thất cử trong lần bầu cử tới. Thay vì để có thêm thu nhập bằng cách tăng thuế nhưng có phần chắc sẽ gặp phản ứng bất lợi, chính quyền bèn tìm một giải pháp an toàn hơn là mở ra những chương trình xổ số.
Hơn nữa, nhiều khi tiền thu về từ chương trình xổ số còn cao hơn cả tiền thuế. Năm 2009, có tới 11 tiểu bang có thu nhập từ tiền xổ số cao hơn là từ thuế đánh trên các công ty. Như tiểu bang Rhode Island, cứ $1 tiền thuế thu vào từ các công ty thì có hơn $3 tiền thu vào từ chương trình xổ số.

Nếu chơi xổ số được xem như một hình thức cờ bạc, thì nửa thế kỷ trước, cờ bạc là món “quốc cấm” ở tất cả mọi tiểu bang ngoại trừ Nevada. Mới năm 1980 đây thôi, chỉ có 14 tiểu bang cho phép chơi xổ số. Nay thì đã có tới 44 tiểu bang có xổ số. Nhìn bằng con mắt chính trị với một chút mỉa mai thì việc cho phép chơi xổ số là một chính sách hoàn toàn hợp lý: Đánh thuế dưới hình thức một trò chơi giải trí sẽ không gặp phải sự chống đối của những tổ chức vận động hành lang (organized lobbyists). Thuế đánh lên các công ty bị xem là hình thức trừng phạt các công ty, và các công ty sẽ phản ứng lại bằng cách mướn những tay vận động hành lang để tạo áp lực lên chính phủ. Thuế lợi tức cá nhân và thuế tài sản làm thiệt hại cho nhà giàu, mà nhà giàu thì thường là những người chịu quyên góp tiền cho các quỹ tranh cử, thế thì không nên gây phiền phức cho đám ấy. Cho dù xổ số có làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người nghèo đấy, nhưng đây là những thành phần cử tri mấy khi đi bầu, lại ít đóng góp cho những quỹ tranh cử, và thường chẳng có đại diện ở những cơ quan quyền lực để lên tiếng tranh đấu cho quyền lợi của họ. Thế nên, ta cũng không mấy ngạc nhiên khi càng ngày càng có nhiều tiểu bang tổ chức nhiều trò xổ số khác nhau, là một thứ cờ bạc trá hình và là cách thu thuế khác, mà chẳng bao giờ phải lo có người chống đối.

Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu xã hội, chúng ta đang sống trong thời đại mà sự bất quân bình về lợi tức càng ngày càng cao, thì việc nhiều chính quyền tiểu bang tìm cách thu thêm lợi tức cho công quỹ từ những đồng tiền đánh cược trên niềm hy vọng hết sức mong manh và vu vơ của những người dân nghèo khổ nhất là điều đáng trách và nguy hiểm. Chương trình xổ số là thứ thuế đánh trên người nghèo và miễn cho nhà giàu, trong khi nó luôn được quảng bá dưới chiêu bài là một món giải trí hoàn toàn tự nguyện. Cấm việc chơi xổ số có lẽ sẽ không làm cho cuộc sống của người nghèo khá hơn ngay lập tức nhưng ít ra trong túi họ còn có thêm được vài trăm đô. Người nghèo vẫn luôn bị thua thiệt và họ đã bị thua thiệt từ bao lâu, thậm chí trước khi xổ số xuất hiện.

Huy Lâm
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#44 Posted : Monday, June 1, 2015 3:33:08 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

Vợ và nhiều… vợ!

Đoàn Xuân Thu


Con gái lớn lên là phải theo chồng. Con trai lớn lên là phải cưới vợ, sanh con đẻ cái, nối dõi tông đường! Ðể mình già có đứa chở vô nhà dưỡng lão bỏ đó và mình chết có đứa đem chôn, và mỗi năm có đứa làm đám giỗ, đốt nhang kính mời mình về nhậu mà không phải trả tiền gì ráo trọi. Sướng nhé!

Nên với thân trai mười hai bến nước, cưới vợ là điều cực kỳ hệ trọng, là bổn phận, là nghĩa vụ của những chàng trai yêu nước… Úc, lo cho quốc phòng (có đứa đi lính khi chiến tranh lỡ nổ ra), lo cho kinh tế (có đứa đóng thuế chớ bằng không tiền đâu mà phát lương cho mấy ông bà dân biểu liên bang, tiểu bang ăn no rồi nói dóc).

Tuy nhiên cũng có đứa lại khăng khăng muốn sống độc thân, cu ky một mình, ở vậy mới chết chớ!

Trong quán rượu hai thằng bạn học cũ gặp nhau: Sao mầy không cưới vợ đi? Tính chớ nhưng mỗi lần tính… là tao lại nhớ con vợ của mầy? Ê! Bạn bè mà ‘chim chuột’ vợ bạn là thằng lạng quạng, là thằng khốn nạn! là đồ lựu đạn nhe! Ðâu có ‘chim chuột’ gì đâu! Mầy hiểu lầm tao rồi! Tao nhớ con vợ mầy vì sợ cưới nhằm con vợ dữ như bà chằn của mầy là tao chết! Thôi ở vậy sướng hơn! He he!

Tóc em dài em cài bông lý. Miệng em cười anh để ý anh thương. Ðó mấy chàng Việt Nam mình yêu rồi chọn vợ… thơ như vậy đó. Chứ Tây nó thương, nó yêu, nó lựa vợ thực tế hơn mình nhiều.

Một thằng Úc hẹn hò tới ba em một khoảng thời gian; rồi quyết định sẽ cưới một trong ba về làm vợ. Một ngày ‘y’ cho cả ba em mỗi đứa một ngàn đô coi mấy em tiêu xài như thế nào? Một em đi mua sắm quần áo mới hết trơn tiền. Em thứ hai đi casino đánh bài, ăn được thêm hai ngàn nữa. Em thứ ba đầu tư chứng khoán, lời được mười phần trăm.

Sau đó quý bạn đọc thân mến biết ảnh chọn em nào để về làm vợ không? Ảnh chọn em có hai trái ‘dưa hấu’ bự nhứt! Ha ha!

Cưới vợ, lấy chồng rồi là: vui ơi chào mi mà buồn ơi bắt tay! Khi đôi ta dẫn nhau ra nhà thờ trao nhẫn ‘cỏ’ cho nhau nghĩa là trao vào cẳng nhau hai cái còng… số không… rồi đó. Hết đi sớm về khuya. Mà lỡ ngựa quen đường cũ, chiều nào cũng lặn không cần bình hơi ra ‘pub’ để bù khú với bạn bè như thuở độc thân là nghe càm ràm, cằn nhằn, cửi nhửi những lời em nói ra… thiệt là khó ngửi?!

'Chồng em đêm nào cũng đi nhậu khuya lơ khuya lắc tới ba giờ sáng mới ló đầu về mà hổng biết làm sao để tốp thằng chả lại! Nghe nè! Chồng chị xưa cũng vậy! Có lần ba giờ sáng ‘chả’ mới vác đầu về! Chị từ buồng ngủ hỏi vọng ra: Anh Tí đó hả? Và kết quả thiệt là nhiệm mầu! Từ đấy thằng chả không dám đi sớm về khuya nữa. Nghĩa là sao em không hiểu? Thằng ‘chả’ tên Tèo em ơi!’

Do đó muốn cột cẳng ông chồng, mấy em đầu tư trí ‘tệ’, nghĩ hết cách mà không xong thì tầm sư mẫu, nhờ chỉ dạy bùa phép như câu chuyện nói trên. Mấy em muốn chàng ở nhà tuy nhiên cái vụ kia, cái vụ đôi ta ‘tù ti tú tí’ thì lại do quyền em ký! Chứ chẳng phải lúc nào mình muốn là có em đây đâu! Chồng rủ vợ mình đêm nay chỉ hai đứa mình thôi nhé. Vợ nói: Không! Chắc chưa em? Chắc! Vậy em cho phép anh lại nhà con bạn em một chút nhé! Câu trả lời lần nầy là cái ‘bốp’ vô mặt!

Cấm chồng đi ăn vụng nhưng đôi khi em lại hổng chịu cấm mình!

Một ông thích đi câu cá ban đêm mỗi cuối tuần. Khuya, sáng Chủ Nhựt, vác cần câu ra sông nhưng mưa gió quá đành quay về, thay quần áo, leo lên giường, ôm em cho nó ấm. Con vợ cựa mình nhừa nhựa, ảnh bèn than phiền: Thiệt thời tiết mắc dịch ghê! Em nửa tỉnh nửa mê đáp lại: Ờ thằng chồng em cũng mắc dịch y như vậy! Thời tiết như vầy mà nó lại vác cần của nó đi câu cá” chớ!

Xã hội Úc là một xã hội văn minh, nam nữ bình quyền. Cái gì đàn ông làm là đàn bà cũng làm. Chữ của ông bà mình gọi là “ông ăn chả bà ăn nem… Cái Răng!”

Một tay vô quán nhậu giận dữ nói với bạn mình: Con vợ tao đúng là cái đồ nói láo. Tối qua nó không về nhà! Hỏi nó nói nó ngủ nhà con em gái còn độc thân của nó. Hai chị em lâu rồi hổng có dịp gặp nhau! Tao biết nó nói láo ngay lập tức là vì tối hôm qua tao ngủ ở đó chớ ở đâu!

Một vợ một chồng mà còn rắc rối tình ta trăm điều như đã kể còn nhiều vợ thì sao?

Có người binh người chống.

Cũng có tay liều mạng, xem luật pháp nước Mỹ hổng ra cà ram nào, dám vỗ ngực xưng tên tui theo đạo Mormons, có quyền tự do đa thê nhe, mấy bả chịu thì thôi chớ ông Tòa làm gì ở đây? Chánh quyền nầy đâu phải là ‘nanny state’ (nhà nước vú em) đâu? Mà tui đâu phải thằng con nít. Ðời tui, tui quyết chớ. Ðừng đàn áp tôn giáo nghe!

Ông Tòa hổng chịu nghe, bèn đưa một chú đa thê ở Texas, Hoa Kỳ ra kết án 75 năm tù. Thiệt là một bản án bất công! “Ổng’ nhiều vợ thì đã là một hình phạt khắc nghiệt lắm rồi. Chịu đựng đau khổ như vậy… giờ còn nhốt người ta… làm khổ thằng chả… thêm nữa hay sao?!

Ngay từ hồi đi học, Tây đầm nào cũng đều được giáo dục là: chế độ đa thê đồng nghĩa với chế độ nô lệ (Polygamy is slavery!). Nhưng mấy nước Hồi giáo ở Châu Phi thì dạy khác: Nuôi nổi; đối xử công bằng thì được quyền có bốn vợ!

Cho bốn vợ; nhưng tay Mohammed Bello Abubakar, người Nigeria, năm nay chỉ mới có 84 cái xuân xanh mà có tới 86 con vợ và 170 đứa con. Úy trời! Làm sao mà nhớ hết tên tụi nó cho được chớ. Tui hổng biết bên Nigeria có tục ăn mừng sinh nhựt hay không? Nếu có, thì gia đình nầy chắc vui lắm vì ngày nào cũng lễ sinh nhựt hết trơn mà cũng có thể ngày năm ba cái. Ăn xong cái nầy, đi ngủ, thức dậy ăn nữa. Ăn tối ngày sáng đêm luôn!

Hồi xưa là thầy giáo sau nầy đi thuyết giảng đạo Hồi, sống ở bang Niger, y khoe rằng: Một người có mười vợ có thể ngã xuống xỉu, rồi đi chầu ông bà ông vải luôn nhưng tui, thì được thánh Allah ban cho quyền lực siêu nhiên, nên tui vẫn còn dư sức kiểm soát được 86 em.

Trong kinh Koran đâu có hình phạt nào dành cho ông có hơn 4 vợ đâu thưa mấy nhà thông thái cực kỳ kính mến. Theo tui biết là ngài chỉ trừng phạt sự thông dâm và ngoại tình của mấy bả mà thôi!

Ông thần nầy và 86 bà vợ không làm gì ráo mà vẫn sống phây phây nhưng hổng cho biết tiền đâu mà có. Một gia đình đông như bộ lạc mà duy chỉ có một ‘cha’ làm tù trưởng thì làm sao mà sống? Té ra thằng chả bắt đám con mình đi xin ăn. Mỗi đứa kiếm 200 naira, tiền Nigeria, khoảng 1 đô 69 xu thì cả bọn kiếm tổng cộng khoảng 290 đô một ngày.

Mỗi bữa cơm nấu tới 12 ký gạo; rồi đồ ăn một ngày tốn tới 915 đô Mỹ. Hỏi ổng tiền đâu bù vô? Ổng cười hè hè nói: Tất cả từ Thượng đế!

Không khui được bí mật từ thằng cha ba trợn nầy, mấy ông nhà báo quay sang mấy bà vợ. Có em tuổi nhỏ hơn con của ổng. Cứ lấy 86 cái xuân xanh của ổng mà chia cho 4 thì được tuổi của em.

Hỏi một bà vợ mới 25 tuổi thì bả cười ‘hí hí ’ đáp rằng: Mới đầu em đâu chịu vì ổng già háp hà, hơn tuổi của ông ngoại em nữa đó. Rồi em đi lấy chồng, cơm không lành canh không ngọt. Chồng em chỉ có mình em mà còn lo không xuể. Còn ổng có 86 bà rồi thì chắc tại ổng biết cách lo! Nên em thôi chồng mà ưng ổng cho ‘phẻ’! Cám ơn Thượng đế giờ em đà toại nguyện. Hi hi!

Một bà khác thì nói em bị bịnh nhức đầu kinh niên đến ảnh chữa là em hết luôn rồi có chửa… nên khi ảnh hỏi cưới em, em chịu liền! He he! Năm đó em cũng mới 25 mà anh đà 74.

Thực ra tay lừa đảo có hạng nầy có khả năng chữa bịnh gì đâu. Ngay cả hai đứa con của y bị bịnh sốt rét mà y còn không cho uống thuốc tới khi hai đứa chết ngắc rồi thì y phán rằng: Tụi nó tới số rồi! Thượng đế kêu đi thì đi thôi! Ai dám cãi?

Phần ông bà mình cũng có dạy rằng: Một vợ nằm giường Lèo. Hai vợ nằm chèo queo! Ba vợ thì ra chuồng heo mà nằm. Nằm chèo queo thì lạnh lắm vì mùa đông nước Úc đã về sát bên khung cửa sổ! Và bên Úc nầy chuồng heo không có thì tui biết nằm đâu hả em yêu?

Một vợ đã ‘nhức đầu’ lắm rồi, tui có ‘tửng’ đâu mà kiếm thêm một, hai bà nữa! Tin tui đi, hỡi em yêu dấu ơi… ơi!

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#45 Posted : Monday, June 8, 2015 4:55:52 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
A, đây rồi!



UserPostedImage
Bảo Huân


Thưa năm 1954, chia đôi đất nước, hàng triệu đồng bào miền Bắc theo tàu há mồm, di cư vào Nam, để chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản. Bà con mình lìa quê bỏ xứ ra đi nhưng mang theo quê hương vào Sài Gòn.

Cái mang theo thấy rõ nhứt là: Thuốc lào ba số 8, Vĩnh Bảo, món phở Bắc và thịt cầy 7 món! Còn gọi là mộc tồn, “cây còn” nói lái “con cầy”.

Hồi nhỏ, lâu lâu có dịp đạp xe qua Ngã Ba Ông Tạ, quận Tân Bình, Sài Gòn tui thấy mấy chiếc xe ba bánh đậu ven lề đường bán thịt chó! Trên móc sắt treo lủng lẳng những con chó đã thui, vàng rộm, mỡ; nhưng cái đầu còn nhe hàm răng trắng nhởn thấy mà gớm.

Rồi lớn lên, đọc các nhà văn di cư chín nút (54) nầy, nghe họ kháo với nhau rằng: “Sống trên đời ăn miếng dồi chó! Chết xuống Diêm Vương biết có hay không?” Nghĩa là ngon lắm nhưng chưa hề dám thử.

Sau lục lọi thêm thì biết rằng: Thịt chó bán ở Ngã Ba Ông Tạ là thịt của các loài chó nhà, là chó cỏ không phải các loại chó kiểng. Chó kiểng, chó Bẹc-giê, nhà giàu mới nuôi nổi, mắc lắm, cả cây vàng nên không ai mần thịt ăn bao giờ. Thứ hai là thịt nó đâu có ngon lành gì so với con Mực, con Vện, con Vằn... ngon như thịt nai nhưng mà nai... đồng quê!

Muốn nấu chó 7 món, cũng cần có tay nghề công phu, thượng thừa lắm.

Phải có đầy đủ đồ ‘tẩn liệm’ là: mẻ, sả, riềng, lá mơ tam thể, húng chó, hành sống, củ sả, riềng. Rồi các loại rau thơm, rau sống ăn kèm với bánh đa và ớt trái. Dĩ nhiên không thể nào thiếu mắm tôm dùng để chấm, có xắt vài lát ớt sừng trâu bỏ vô rồi nặn một chút chanh! Ăn là phải nhậu. Có tiền thì uống bia 33; bình dân, mậu lúi, thì chơi rượu đế Gò Ðen.

Không biết nấu nướng mà muốn ăn ‘cây còn’, thì vô mấy cửa hàng bán thịt chó bình dân như: “A! Ðây rồi!” “Ô Kìa!” “Mộc tồn!” “Hạ cờ tây” hay "Nai đồng quê!” Ôi thôi, đủ bảng hiệu treo la liệt dọc theo hai bên đường khu Ngã tư Bảy Hiền, chào mời quý khách.

Rồi năm 75 tới, Bắc Kỳ hai nút (75) tràn vô miền Nam thì món thịt cầy cũng tràn vô theo! Lần nầy coi bộ còn dữ đội hơn lần trước. Lần trước chỉ những khu như Hố Nai, Biên Hòa; Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn, còn bây giờ ở những thành phố lớn thuộc miền Tây như Cần Thơ, Mỹ Tho đều cũng có “A! Ðây rồi!”

Thưa dẫu vậy, tui vẫn chưa dám nếm thử cái món ‘con cầy’ nầy nó ra làm sao thì phải bỏ nước ra đi.

Ngày đi, con chó vàng nuôi trong nhà, chắc linh cảm rằng ông bà chủ với hai cậu trai nhỏ sẽ bỏ nó đi mãi mãi, không trở lại nữa hay sao? Mà hôm cuối cùng, nó cứ quấn quýt bên chưn, hết người nầy người khác, rên ư ử, rồi chảy nước mắt sống nữa chớ!

Chiếc xe lôi chở vợ chồng con cái ra khỏi cái hẻm, để đi Sài Gòn, lên phi trường Tân Sơn Nhứt mà bay qua Úc... Con chó tuyệt vọng, cong đuôi chạy theo như muốn nói: “Cho tui đi với!”... Làm mình, ngồi trên băng sau chiếc xe lôi, ngoái lại, vẫy vẫy tay mà muốn rớt nước mắt.

Qua tới đây, nghe má tui nói: Tụi con đi rồi, nó buồn quá, bỏ ăn hai ba bữa rồi ngã lăn ra chết ngắc. Má đem nó ra chôn ở sau vườn; dù mấy thằng cha lưu linh hàng xóm nài nỉ mua lại làm thịt để nhậu chơi.

Vâng! Tui còn bỏ lại quê hương mình một kỷ niệm buồn đau như thế đó!

o O o

Thưa! Qua đất lạ quê người, mới hay Mỹ hay Úc gì đều thương ‘chó’ hết! Không ăn thịt bạn hiền bao giờ!

Tối Chúa Nhựt rồi, một cơn bão xoáy tràn qua phía Bắc tiểu bang Texas, Hoa Kỳ làm sập nhà dân. Sáng ra bà con tìm trong đống đổ nát coi có người nào bị thương còn kẹt lại hay không... thì tìm thấy xác người chồng, là viên cảnh sát đã về hưu, trên tay còn ôm con chó nhỏ còn sống. Tay kia với về phía người vợ cũng đã chết rồi.

Rồi sực nhớ lại cái tin bên Nhựt đã lâu, có con chó, chiều chiều cứ ra nằm ở sân ga chờ ông chủ đi làm về ròng rã suốt mười năm. Dù ông chủ lúc đi làm căng thẳng về công việc quá, đã đột tử tại sở làm, không về nữa. Mà con chó nầy cứ chờ, chờ hoài...

Ðọc những cái tin ngắn nầy rồi nhớ lại con chó của mình! Vì tự do, tui bỏ ra đi hai chục năm về trước mà lòng tui đau quá đỗi!

o O o

Thưa! Hồi mới qua, tui có đi làm chung với mấy thằng Úc. Úc thời nầy không còn là chánh gốc Anh, gốc Tô Cách Lan hay Ái Nhĩ Lan như hồi xưa nữa mà gốc tùm lum tà la, đầu sói, đầu trọc lóc, đầu đen, loại nào cũng có.

Có đứa gốc Thổ Nhĩ Kỳ, không ăn thịt chó đã đành; mà cũng không ăn thịt heo. Chỉ xơi thịt bò hay thịt trừu thôi. Và vòng vòng nội thành Melbourne có những khu ngoại ô mà sắc tộc này chiếm đa số như Coburg hay Broadmeadows, những tiệm thịt ở khu nầy vì lý do tôn giáo đạo Hồi nên bán toàn loại thịt gọi là “Halal Meat”. Con vật trước khi bị giết thịt phải tuân theo nghi thức cầu nguyện của đạo Hồi.

(Cái nầy hồi xưa tui cũng thấy bà con nông dân miền Tây của mình trước khi giết con gà để xé phay hay con vịt để nấu cháo đều lâm râm khấn nguyện cho mi đầu thai kiếp khác, rồi hóa thân trong loài hoa dại để muôn đời không biết đớn đau!)

Ðể thu hút khách hàng, chủ tiệm thịt trương cái bảng ‘Halal Meat’ trước cửa, và mấy em, mấy anh đạo Hồi vô ra nườm nượp như đi hội chợ.

Kế bên là Chú Ba Tàu, chạy trốn Tập Cận Bình, qua xớn xác mở cái tiệm bán thịt heo. Nhìn qua tiệm nó, sao mà đông vui, tiền đếm không kịp; còn tiệm mình sao vắng như Chùa Bà Ðanh vậy cà? Ðêm về nằm gác chưn lên trán suy nghĩ nát nước làm gì bây giờ để cứu vãn cái thương vụ bán thịt heo của mình bên bờ sập tiệm?!

Sáng hôm sau, Chú Ba bán thịt heo nầy kêu tay thợ vẽ làm lại cái bảng hiệu quảng cáo là: “Halal Pork” (Pork là thịt heo!) Hi hi!...

Thưa đi làm, chung đụng với nhiều sắc tộc khác, tụi nó có cái bất lịch sự là hay để ý, nhòm ngó trưa mình ăn gì, chớ tui lịch sự có thừa, tôn trọng chuyện tư riêng, thì nó ăn cái gì là kệ nó, tùy khẩu vị, văn hóa, tôn giáo vân vân và vân vân, tui đâu có ở không mà ‘nhòm’ vô cái thực đơn của nó làm chi! Dẫu vậy, nó cũng hổng để tui yên chớ!

Có đứa biết tui là người Việt, hỏi đố như vầy: “Ê bồ! Nước Úc, nơi nào chó nó chạy nhanh nhứt?” Rồi nó cười đểu, trả lời ‘ên’ luôn: “Nước Úc nầy, ở Springvale, chó chạy nhanh nhứt!”

(Springvale là khu ngoại ô nằm về phía Ðông, cách Melbourne khoảng 40 cây số; nơi mà bà con người Việt mình tập trung sống rất là đông đảo).

Như vậy là thằng Úc, gốc Thổ nầy, nó muốn ‘chơi’ tui. Nó ám chỉ người Việt mình ăn thịt chó! Chính vì vậy mà chó tới Springvale là chạy tóe khói vì sợ bị làm chó bảy món: “Tiết canh, Dồi, Thịt luộc, Chả nướng, Sườn xào, Lòng xào, Rựa mận, Xáo ninh...”

Quân tử mười năm trả thù chưa muộn! Thằng Úc nầy phải biết người Việt chúng ta không phải ai ai cũng thích ăn thịt chó... nhưng cái thù dai là ai ai cũng có. Dân Việt Nam mình hiếu hòa lắm nhưng nó chơi ta là ta phải chơi nó lại.

Người viết bèn đem câu chuyện nầy đi ‘méc’ sư phụ cũng là nhà văn, viết báo, rất đa mưu túc kế như Khổng Minh vậy. Ảnh nói:”Ðể thằng đó cho tui!”

Cuối tuần, ảnh kêu tui mời thằng Úc, gốc Thổ nầy, tới nhà ảnh nhậu chơi. Nghe ăn nhậu mà miễn phí là nó OK đi liền!

Tiếp thằng Úc, ôi thôi, bia khui lốp bốp. Ðúng ra nó gốc Thổ, đạo Hồi, là cấm bia, cấm rượu nghiêm nhặt lắm... nhưng cái thằng nầy ba má nó đẻ nó ở đây nên nó hơi ‘cà chớn’ vậy đó.

Dứt vài chai, sương sương, đứa nào cũng đói bụng. Ảnh vô bếp bật cái lò ga nghe cái cóc, hâm nóng cái món đặc biệt nầy. Chu choa cái mùi nó bay ra ngào ngạt khắp không gian, thơm phức. Món đó là ‘heo giả cầy’.

Anh bạn nhà văn và tui cầm đũa. Còn thằng khách thì dao nĩa, cắt rẹt rẹt, cắm cái nĩa vô miếng thịt, đưa vô mồm nhai rau ráu. Quất hết phần ăn của mình trong 30 giây! Chùi mép, cầm chai bia lên tu một cái. Quá đã! Nó hỏi: “Thịt gì vậy? Ngon quá xá là ngon!”

“Thịt chó!” Nó nghe xong, sùi bọt mép, thiếu điều chết giấc!

Tui thấy cũng tội nghiệp nên đính chánh lại cho nó trúng: “Ảnh giỡn chơi đó mầy! Thịt heo giả cầy đó!”

“Thịt heo hả? Trời ơi! Hai đứa bây có biết tao đạo Hồi hông? Mà tụi bây cho tao ăn ‘Halal Pork’! Ðiệu nầy chết... tao sẽ xuống địa ngục rồi má ơi!”

“Ê! Cho mầy từ rày về sau bỏ cái tật ‘cà chớn’ với ‘Vietnamese’ nhe! Hi hi!”

Đoàn Xuân Thu

Edited by user Monday, June 8, 2015 5:00:06 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#46 Posted : Tuesday, June 9, 2015 11:32:47 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Người Mỹ xài hàng Mỹ

UserPostedImage

Người Việt, hầu như ai cũng đều khoái hàng Mỹ. Có lẽ bắt đầu từ thập niên 60, lúc lính Mỹ kéo sang Việt Nam giúp “phe ta” chống nạn xâm lăng của cộng sản. Lúc đó, hàng Mỹ tràn lan, đủ loại, từ hộp xúc xích, lon coca nhỏ bé đến máy in, máy lạnh, máy bơm nước, máy phát điện cồng kềnh…Thực phẩm đóng hộp của quân đội Mỹ đã có một thời gian dài nuôi sống hàng vạn gia đình nghèo ở miền trung và miền nam. Lính Mỹ xài sang, đồ hộp vừa hết hạn vội bỏ ngay vào hố rác. Dân nghèo mang về, vừa xài, vừa bán ra cho các gia đình nghèo khác. Thời sinh viên, ngày hai bữa, tôi từng ăn cơm với các đồ hộp này. Bột “xúp” rất ngon, chỉ cần nấu nước sôi lên, quậy vài muổng bột, tôi đã có một tô canh đầy đủ hương liệu. Thịt bò hộp cũng vậy, vừa mềm vừa thơm, mùi vị đậm đà, ăn hôm nay – bụng lại nghĩ đến bữa ăn ngày mai. Thời đó, người ta đua nhau sắm hàng Mỹ. Vì hàng Mỹ vừa đẹp, vừa chắc, lại vừa bền. Nó còn là thời trang là phong trào cho dân thượng lưu, cho dân chơi nổi tiếng. Hàng Mỹ được tuồn ra từ PX (Post Exchange), từ những người có chồng Mỹ…qua tay con buôn xâm nhập vào các chợ phố chợ làng…

Theo thống kê của tạp chí Time, có khoảng 200.000 hộp quẹt Zippo theo chân lính Mỹ sang Việt Nam đánh trận. Gần một triệu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa hút thuốc đều có “thủ” sẵn hộp quẹt Zippo trong túi quần. Zippo của Mỹ vừa đẹp, vừa phong trần, vừa bền bỉ theo năm tháng. Nó còn là một vật kỷ niệm có ý nghĩa trong thời buổi chiến tranh. Ðẩy tay khẩy một cái “xạch”, ngọn lửa xanh bay lên, uốn éo múa may trước làn gió nhẹ. Zippo không kỵ gió, không kỵ sương, không kỵ cả những giọt mưa lâm thâm trên các chiến trường. Nó vượt trội và đẩy xa các hộp quẹt Trung Quốc, Thái Lan…xuống hạng “cá kèo”. Loại hộp quẹt này khi gặp chút gió hoặc chút mưa, cứ đứng quẹt “xạch xạch” suốt buổi …rồi chỉ có nước vụt chúng vào thùng rác.

Sau 1975, Mỹ kéo nhau về nước, bỏ lại hàng đống máy móc trên hai miền: trung và nam. Trong số đó, có hàng triệu động cơ Kohler được các nông dân Việt Nam chế biến lại để chạy ghe hoặc để tát đìa, bơm nước vào ruộng…v…v…Kohler xử dụng riết cũng phải thay “bu-ji” (spark plug). Mỹ về nước, làm sao có “bu-ji” Mỹ để thay? Nông dân phải xài đến “bu-ji” Trung Quốc, Liên Xô. Các loại “bu-ji” này, tội nghiệp, mấy ông nông dân khom lưng “giựt” máy cả buổi trời, đổ mồ hôi sôi nước mắt, máy mới chịu nhúc nhích ” cục cạch”. Máy đã chạy, cũng chưa yên, nó có thể ngừng bất cứ lúc nào. Rồi lại thay hết “bu-ji” này đến “bu-ji” nọ…cho đến khi kiếm được cái “bu-ji” cũ mèm chính cống của Mỹ ở chợ trời, về chùi rửa lại sạch sẽ, máy mới chạy ngon lành.

Cũng sau 1975, người Việt định cư ở Mỹ, hầu hết ai cũng đều có ấn tượng hàng Mỹ đẹp, bền và chắc. Khi trở về thăm viếng Việt Nam, hầu hết ai cũng tìm món quà mang nhãn hiệu “Made in USA” để tặng người thân, để kỷ niệm những năm tháng sống trên đất khách. Người Việt, sau 5 năm ở Mỹ, đa số đều trở thành công dân Mỹ. Người Mỹ xài hàng Mỹ, tức xài hàng nội hóa, là yêu nước là góp phần kích thích nền kinh tế nước nhà phát triển. Ðiều này là lẽ tất nhiên, tôi nhớ ngày xưa tôi đã từng học trong bài công dân giáo dục thời Trung Học Ðệ Nhất Cấp. Mới đây, ông Roger Simmermaker viết cuốn sách ” How Americans can buy American ” nhằm cổ xúy việc xài hàng Mỹ giúp kinh tế Mỹ phát triển. Cuốn sách này, thật ra chỉ để nhắc lại những vấn đề mà các dân tộc trên thế giới đã am hiểu từ lâu. Tuy vậy, ông vẫn có công ngồi liệt kê trên 20.000 sản phẩm do các công ty Mỹ làm. Và ông đã tận tình hướng dẫn dân Mỹ đến những nơi nào có bán thứ ” Made in USA ” đó.

Cũng mới đây, tôi dẫn gia đình đi giải trí ở một trong số những nơi giải trí nổi tiếng nhất nước Mỹ : SeaWorld, San Diego. Khi vào trong cửa hàng bán đồ lưu niệm, gia đình tôi định tìm các vật có ý nghĩa về SeaWorld để làm quà gửi bạn bè. Tôi rất lấy làm ngạc nhiên, vì nơi nổi tiếng nhất nước Mỹ như thế, tìm đỏ mắt…vẫn không thấy có vật nào ” Made in USA “. Từ những áo T-shirt in đặc trưng hình cá Shamu, cá Dolphin…cho đến các toys, các khung ảnh, các hình tượng, nón, huy hiệu…v…v…đều ” Made in China ” tất. Ðọc một bài viết của người Mỹ do Hoàng Lan dịch từ Reader, chuyện kể lại bà ta đi tìm hàng ” Made in USA ” để mua, giống như đi tìm con lạc chơ. Cho đến nổi cây kem đánh răng hiệu Colgate cũng do Mễ làm. Nhãn hiệu bóng đèn có tiếng ở Mỹ là GE, bây giờ cũng được ghi là: Assembly by Mexico. Cuối cùng, bà khuyên mỗi người Mỹ nên cố gắng tìm kiếm hàng Mỹ để tiêu xài, vì dùng hàng nội hóa là yêu nước, là vực dậy nền kinh tế Mỹ đang suy thoái.

Tôi đã hai lần thất nghiệp vì Hãng dọn qua Mễ hoặc Trung Quốc làm ăn. Chủ Mỹ tính toán lợi hại, mướn nhân công rẻ tiền nơi xứ người, trong lúc hàng trăm dân Mỹ phải lâm vào tình cảnh thất nghiệp. Một hãng, rồi nhiều hãng có ý định giống vậy, kinh tế Mỹ sẽ suy thoái, đó là trường hợp tất nhiên.

Ðọc báo cũng thấy Tượng Ðài danh nhân nổi tiếng nước Mỹ: Martin Luther King lại do Trung Quốc làm. Các thợ điêu khắc cũng là người Trung Quốc. Vật liệu cũng của Trung Quốc. Rồi cũng chính tay Trung Quốc đục đẽo, tạo tác xong, mới chở sang Mỹ dựng lên. Trung Quốc cũng lãnh thầu để sửa lại di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh của Mỹ. Nói chung, ” Made in China ” tràn ngập nước Mỹ, đè bẹp ” Made in USA ” khiến người dân muốn yêu nước, rất khó lòng yêu nước. Muốn tìm hàng Mỹ để mua, dân Mỹ phải lùng xục vất vả, tương tự như người mẹ mếu máo đi tìm con lạc chợ.

Viết về nước Mỹ, tôi nghĩ không phải lúc nào cũng ca tụng, đưa lên những ưu điểm nổi bật. Bên cạnh đó, chúng ta cần tìm ra các khuyết điểm để góp ý, để xây dựng. Như vậy mới xứng đáng là công dân của xứ sở Tự Do, Công Bình và Dân Chủ.

Phạm Hồng Ân

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
tieng Viet on 6/28/2015(UTC)
stormy  
#47 Posted : Thursday, June 11, 2015 11:47:16 AM(UTC)
stormy

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 383

Thanks: 396 times
Was thanked: 393 time(s) in 209 post(s)
CHUYỆN TIẾU LÂM : ÔN CÁI LẰN – ĂN CÁI ĐẦU .

Anh Giáp vốn không khá giả gì, làm ngày nào ăn ngày ấy, chiều chiều giải ngể ở gia đình các người bạn, thỉnh thoảng cũng phải mời các chiến hữu đến nhà 1 bữa chứ ! nhậu ké mãi xem sao được .

Chiếu rượu chiều nay tại nhà anh Giáp với 4 người bạn, trong nhà chỉ còn 1 gà trống và 2 gà mái, hy sinh 1 con mái đãi khách vậy.

Thực đơn : Cháo gà và gỏi gà. Lúc đầu các thực khách rôm rã bảo chủ nhà : đem ra ít thôi, chừa lại cho vợ con của mầy nữa chứ !

Đến lúc bắt mồi, bắt rượu, mồi cạn anh Giáp phải đem thêm … phần còn lại sau cùng để lại cho vợ và 2 đứa con chiều đi học về ăn, cũng đem ra nốt.

Chiếu rượu hấp dẫn, hào hứng … đến màn NÓI LÁI , một anh gắp cái cánh gà nói :” canh cái ắn “, anh kia :” mê cái ằn “, anh nọ “ gio cái ằn “ … cứ thế mà lái …

Chị Giáp buồn bực, ra đứng trước nhà xem các bác nhậu và nói lái, trên chiếc đĩa chỉ còn lại 1 cái đầu gà và ít cọng gỏi, một bác còn bảo anh Giáp vào nhà lấy thêm mồi … còn đâu mà lấy ?

Tức quá, dằn lòng không được ,chị Giáp hỏi : còn ÔN CÁI LẰN nầy nè ăn không ? mang ra luôn cho !

Anh Giáp nghe qua sợ quá, 1 anh bạn cũng nghe hỏi lại : Vợ mầy nói gì thế?

Anh Giáp vội trả lời : nó nói ÔN CÁI LẰN là ĂN CÁI ĐẦU, còn cái đầu gà nè, mầy ăn luôn đi .

Vừa giận, vừa tức cười, trở vô nhà chị Giáp lẩm bẩm : “ mấy cha nhậu nầy thiệt lì lợm hết chổ chê ! bó tay !

Từ đó có câu chuyện ÔN CÁI LẰN là ĂN CÁI ĐẦU, chuyện có thật đấy quí vị ạ !

Trịnh Kim Thuấn
UserPostedImage
thanks 2 users thanked stormy for this useful post.
tieng Viet on 6/28/2015(UTC), phamlang on 7/2/2015(UTC)
stormy  
#48 Posted : Sunday, June 14, 2015 11:03:55 AM(UTC)
stormy

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 383

Thanks: 396 times
Was thanked: 393 time(s) in 209 post(s)
UserPostedImage

LOL LOL LOL nhâm nhi càfe coi Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài (Vân Sơn) Flapper Flapper Flapperéntroi.Woot

Edited by user Sunday, June 14, 2015 11:04:44 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 3 users thanked stormy for this useful post.
CatLinh on 6/25/2015(UTC), tieng Viet on 6/28/2015(UTC), phamlang on 7/2/2015(UTC)
CatLinh  
#49 Posted : Thursday, June 25, 2015 11:45:21 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
Originally Posted by: stormy Go to Quoted Post
UserPostedImage

LOL LOL LOL nhâm nhi càfe coi Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài (Vân Sơn) Flapper Flapper Flapperéntroi.Woot

LOL LOL LOL LOL Flapper Flapper Flapper ThumpUp ThumpUp RollEyes RollEyes OhMyGod OhMyGod Scared Woot Woot
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
tieng Viet on 6/28/2015(UTC)
CatLinh  
#50 Posted : Thursday, June 25, 2015 11:47:23 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)

UserPostedImage
UserPostedImagecoffee and xì-pill beans, khè khè khè. Need 2 xây beans nát ra đấy anh stormy. Coffee tự xây uống mới ngonWoot Woot Woot Scared Nhửng điều trông thấy thật ư mét cười UserPostedImageLOL LOL LOL
UserPostedImage
thanks 2 users thanked CatLinh for this useful post.
tieng Viet on 6/28/2015(UTC), phamlang on 7/2/2015(UTC)
tieng Viet  
#51 Posted : Sunday, June 28, 2015 12:10:30 PM(UTC)
tieng Viet

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 515

Thanks: 1039 times
Was thanked: 464 time(s) in 237 post(s)
Originally Posted by: stormy Go to Quoted Post
UserPostedImage

LOL LOL LOL nhâm nhi càfe coi Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài (Vân Sơn) Flapper Flapper Flapperéntroi.Woot


Got it Ho^ho^ Chuc Anh Dai Kafe thít phiu liu tứ chiến nhễ Flapper Scared ScaredLaugh Laugh
UserPostedImage
thanks 1 user thanked tieng Viet for this useful post.
phamlang on 7/2/2015(UTC)
phamlang  
#52 Posted : Thursday, July 2, 2015 11:17:15 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

Bóp khóa quăng chìa

Đoàn Xuân Thu


Thưa khi đại ca yêu tiểu muội mà tình ta coi bộ hiu hắt quá, đêm lạnh chùa hoang quá, thì muội bắt “hia” thề.

Đàn bà con gái xứ nào cũng vậy, là chúa đa nghi, nên đại ca thề đi, đừng “ca” nữa thì muội mới tin.

Thì đại ca chỉ lên Trời, xí xô xí xào như Chệt chìm tàu: “Hoàng thiên tại thượng, chiếu chứng lưỡng tâm tri, thệ hải minh san, vĩnh bất di.”

Nghĩa là dù biển cạn non dời, tình ta mãi mãi muôn đời, hổng bỏ em để chạy theo con “ngựa bà” nào hết á! Chịu chưa? Tin chưa?!

Chưa chịu, chưa tin! Nếu đại ca không giữ lời thề “hòa ái ni” như Đặng Quang Vinh với Chân Trân thì phải chịu hình phạt gì?

Thì ông tơ bà nguyệt sẽ bẻ lọi giò đại ca đi, thì đại ca chẳng còn giò nào mà chạy khỏi tình của muội!

Còn phần muội, “Trăng thề vườn Thúy” ra làm sao? Thì cũng y chang như vậy đó đại ca ơi!

Thưa “khờ” thì mới tin. Thấy Vương Thúy Kiều hông? Mới thề non hẹn biển với chàng Kim tối qua mà sáng nay phụ thân, Vương ông, cùng bào đệ, Vương Quan, bị lính bắt, bọn sai nha đòi tiền chuộc tới 300 lạng vàng là nàng quên tuốt luốt, nuốt “Trăng thề vườn Thúy” cái “ực”, để bán mình chuộc cha!

UserPostedImage

Bảo Huân

“Duyên hội ngộ, đức cù lao/Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn?/Để lời thệ hải minh sơn/ Làm con trước phải đền ơn sinh thành.”

Em đem chữ tình và chữ hiếu bỏ lên cân tiểu ly, cân như cân vàng vậy, rồi kết luận rằng chữ hiếu nặng hơn chữ tình nên hai đứa mình đành “sayonara” [1]! Em đi vô với Mã Giám Sinh (đuốc hoa còn đó mặc nàng nằm trơ), còn anh đi ra với Thúy Vân, lấy lô an ủi!

Đó là chuyện bên Tàu do chú Ba, Thanh Tâm Tài Nhân, soạn Kim Vân Kiều truyện, bày đặt ra như vậy.

Còn Việt Nam mình, khi cô cậu yêu nhau cũng thề, bằng cách cắt tóc gởi nhau làm kỷ vật để làm tin. Hồi xưa, quê mình ai cũng để tóc dài nên mới có cái mà cắt để trao nhau. “Nè, lọn tóc xanh trao anh làm kỷ vật. Nếu em có vong thề thì ‘dịch vật’ em đi!”

Cái lọn tóc cho đi, còn cái lọn tóc còn dính lại trên đầu cũng gọi là tóc thề luôn. Dĩ nhiên tóc thề nầy năm dài chày tháng nó lại mọc ra chớ. Rồi em hẹn hò với thằng khác, em mới có tóc mà cắt nữa để thề nữa. Bằng không mọc ra, thề hết thằng nầy rồi với thằng khác, em cắt hoài, cắt mãi, cắt cho trụi lủi, cắt cho trọc lóc hết thì bà con biết em thề dóc hay sao?

Nhưng cũng có em hơi bị khó, hổng chịu thề thốt gì ráo trọi, nên em phán rằng: “Đường vào tình yêu tin ai cho được, bữa nay nó ‘chớp chớp’ em này, mai nó ‘chớp chớp’ em khác thì sao?”

Phần em, lỡ mai mình gặp đứa giàu hơn, xịn hơn, thì lại mắc công nhờ thầy pháp giải lời thề, tốn tiền. Nên yêu thì yêu, mà thề thì không thề, cho nó “phẻ”!

Nhưng anh chàng yêu dấu kiêm đầu gấu nầy đâu có chịu, dân chơi lúc nào cũng có lận đồ chơi trong người, móc dao ra đe dọa, làm em phải than rằng: “Tội chi mà bắt em thề! Cầm dao lá liễu dựa kề tim son.”

Thôi thì thề cho nó tin, bằng không nó lụi một phát thì tía mình cũng thác.

Dẫu bị buộc thề cho vui như vậy, dao lá liễu nó nhét lưng quần rồi, mà em may gặp đại gia cỡ “triệu đô la” thì em cũng đành rời xa thôi. Lặn kỹ, trốn sâu biết đâu mà tìm, nên chàng bèn rên như vầy: “Đôi ta mới gặp đã lìa/ Trách ai bẻ khoá quăng chìa xa nhau?!”

Việt Nam mình yêu có khóa và chìa, thì mới đây tui đọc báo thấy bên Tây cái vụ bóp (bẻ) khóa quăng chìa nầy, mới vỡ lẽ ra rằng nó cũng học của ta.

Sự tích như vầy: Hồi đệ nhứt thế chiến, có chàng sĩ quan võ bị, Relja, người Serbia, yêu em Nada. Relja đi đánh nhau tận xứ Hy Lạp, xa em từ độ ấy, chàng mới “ấy” em khác tên là Corfu. Lời thề hẹn đôi ta trên chiếc cầu nầy, tổ cha nó nỡ lòng quên! Em Nada buồn đau quá, sanh bệnh chết thành “ma da”.

Từ đấy, mấy em Serbia muốn cột chân chàng lại bèn dắt chàng ra chiếc cầu thơ mộng bắc ngang dòng sông, mua hai cái ống khóa, viết tên nhau, rồi khóa lại trên thành cầu, ném cả hai chìa xuống dòng sông đang lặng lờ xuôi ra biển.

Cầm bằng muốn quên nhau, muốn bỏ nhau, là phải chịu khó bịt lỗ mũi, nín hơi, lặn xuống đáy sông, mà tìm chìa khóa lên mở, mới xóa được lời thề.

Vâng truyền thuyết là vậy đó ai tin thì tin, ai hổng tin thì hổng tin. Còn trường hợp chàng yêu em mà khăng khăng nhứt định không thề, thì em sẽ dụ chàng ra giữa cầu rồi tống một đạp, cho chết tía nó cho rồi, cái đứa mang mầm phản trắc, như chàng sĩ quan Relja.

Từ đấy cái sự vụ hẹn thề bằng hai ống khóa nầy lan ra toàn thế giới, từ Âu sang Á, từ Bắc Mỹ xuống Mỹ Latinh.

Mấy đứa yêu nhau, đi cùng trời cuối đất, lúc nào trong túi cũng có hai cái ống khóa, chỗ nào thấy được là nó móc vô, bóp nghe cái cốp! Thề!

Người Úc thấy cũng vui vui (dù biết rằng hổng có đứa nào ngu đâu mà tin) bèn bắt chước theo, từ Sydney tới Canberra rồi lần xuống Melbourne.

Nơi tui ở, có cái cầu dành cho người đi bộ, từ bờ bắc sông Yarra qua bờ Nam, Southgate. Ngày nào đi làm, xuống xe lửa bên trạm Flinder, tui tà tà qua sông trên chiếc cầu nầy, cũng thấy nhiều đôi tình nhân khóa lời thề “mãi mãi yêu nhau” trên lan can cầu đó.

Có hôm, tui thấy một em xách cưa sắt ra cưa cái ống khóa đó đi! Hỏi khóa tình rồi sao em lại đổi ý mở ra? Thì em thổn thức: “Nó không còn yêu em nữa mà về Việt Nam cưới con bồ nhí rồi, nên em cưa cái ống khóa thề tình nầy, lấy ra, để xóa lời nguyền cho nó an tâm đi bước nữa, rồi em cũng đi bước nữa cho nam nữ bình quyền chớ, phải không nào?”

Hỏi, sao không lấy cái chìa mở ra cho nó gọn, cưa làm chi cho tốn sức? Em tấm tức chỉ xuống dòng sông, chìa khóa em vụt xuống dưới rồi, vì từng nghĩ khóa mãi tình ta không rời xa, thì cái chìa đâu cần chi nữa! Giờ hổng lẽ nhờ người nhái lặn xuống tìm, khó như mò kim đáy biển, mà lại tốn tiền anh ơi!

Bài học đắt giá cho em là: “Từ rày về sau, yêu là yêu, hổng thề thốt gì ráo trọi! Vì đường nào dài cho bằng đường Trần Hưng Đạo! Trai nào xạo cho bằng trai ở Melbourne.”

Cái truyền thuyết và cái truyền thống khóa tình yêu nầy có chỗ khác đã lâu, và du khách đến Paris, chỉ mới vài năm trở lại đây thôi, mang cái ống khóa tình yêu, móc vào mười mấy chiếc cầu bắc ngang qua sông Seine, bóp lại để cột chặt tình ta từ giờ mãi tới thiên thu.

Dẫu “Lên xe tiễn em đi/ Chưa bao giờ buồn thế/ Trời mùa đông Paris/ Suốt đời làm chia ly/ Tiễn em về xứ mẹ/Anh nói bằng chiếc hôn/ Không có gì lâu hơn/Một trăm ngày xa cách/Hôn nhau phút này/ Rồi chia tay tức khắc/ Khóc đi em!/Khóc nữa đi em!” [2]

Bây giờ đôi cánh uyên ương không còn đến ga Lyon đèn vàng khóc bù lu bù loa mà đến dòng sông Seine, cười hí hí, móc khóa tình yêu lên thành cầu để thề nguyền mãi mãi bên nhau.

Thưa có hai cái cầu, các đôi tình nhân móc ống khóa vô nhiều nhứt là cầu Pont des Arts và cầu Pont de l’Archevêché. Cầu Pont de l’Archevêché, nơi móc khóa anh thề mãi mãi yêu em, thì đã hết chỗ móc. Cầu Pont des Arts, nơi móc khóa em thề mãi mãi yêu anh, thì vẫn còn trống chỗ. Mới hay con gái ít dám thề lắm, mấy ông anh ơi!

Thưa quý ông anh sẽ hỏi: “Sao vậy?” “Dạ biết rồi còn hỏi chi nữa làm tan nát lòng tui! Hu hu!”

Thưa bấy lâu nay người Tây vẫn tự hào rằng Paris là thủ đô của tình yêu, của lãng mạn, nhưng hành động nầy coi bộ “lựu đạn” quá, thì họ cắt nghĩa rằng: Khóa tình yêu móc vào thành cầu thấy cũng hay hay (Mua một cái, từ 5 tới 10 Âu Kim, bán dọc đường hai bên bờ sông). Ngày nào cũng cả đống đứa tới móc vô, rồi ném chìa khóa xuống dòng sông! Khóa thề xong, họ chu mỏ cắn nhau, nước miếng không hà. Cái vụ nước miếng truyền vi khuẩn cho nhau là chuyện của hai đứa nó không có liên quan gì tới tình hình thế giới thôi mình nói làm gì.

Cái có liên quan với thiên hạ là sức nặng của trăm ngàn ổ khóa nầy đã lên tới 45 tấn thì cầu nào chịu cho nổi chớ. Rồi còn 700 ngàn cái chìa khóa tụi nó vụt xuống đáy sông coi như bỏ luôn, chớ ai mà lặn xuống vớt lên cho được!

Mấy cây cầu nầy là di sản văn hóa về kiến trúc, phải bảo tồn vì xây vào những năm 1800, hơn 100 tuổi rồi! Già rồi, nặng quá, sao cõng tình em cho nổi nữa đây?

Do đó để tránh cầu sập bất tử, “cáo sồ” của Paris cho xe cạp đến cạp mấy cái bửng trên cầu đầy ống khóa ra, thay bằng kiếng chịu lực cho tụi bây hết móc!

Du khách đi Tây là để xem tháp Eiffel, điện Louvre và những cây cầu có móc khóa tình yêu nầy, giờ dẹp hết cái vụ yêu nhau, móc khóa vào nhau, e cũng hơi buồn!

Anh bạn nhà thơ mấy tuần trước đi Tây chơi về, tui hỏi ảnh có dắt em yêu ra đó thề thốt gì không, thì ảnh cười hí hí: “Già háp rồi, cuối đường hoa mộng rồi, còn thề thốt gì nữa đây?”

Nhưng hồi mới quen “bà đầm”, tui hổng có cái vụ bóp khóa thề yêu gì hết ráo mà có làm “thơ thề ” để tặng em yêu. Thơ rằng,“Tình ta là ánh nến... chập chùng trong bão gió. Có anh thề... cố chắn, cố che... để thiên thu cháy mãi. Bỏng tay anh, anh chịu... để lửa tình anh... mãi mãi thuộc về em!”

Trời ơi! Bóp khóa thề yêu, hết yêu còn đem cưa sắt ra mà cưa cho nó đứt, còn khờ như tui, lỡ dại thề bằng thơ, thì biết bao giờ và bằng cách nào mới xóa được đây?

DXT - Melbourne

Chú thích của tòa soạn:

[1] sayonara (tiếng Nhật): tạm biệt.

[2] trích thơ của nhà thơ Cung Trầm Tưởng.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#53 Posted : Saturday, July 11, 2015 8:29:53 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Phê bình


”Bờm ơi là bờm !”
Bùi Công Thuấn



1.”Bờm ơi là bờm !”

Có lần, tôi hí hửng đi chợ mua một miếng heo quay về ăn, gọi mừng món mới ngày lĩnh lương. Những tưởng thế nào cũng được người bạn đời khen, “ trời ơi! sao hôm nay anh đảm đang thế!”, và tôi sẽ ưỡn tấm ngực ra đầy tự hào:”Xưa nay anh vẫn đảm đang, ấy chứ lị”. Ai ngờ, nàng cầm miếng thịt lên nhìn và lắc đầu, “bờm ơi làm bờm! đàn ông đàn ang các anh đi chợ là dễ bị lừa lắm. Nó bán được cho anh chỗ này nó vừa mừng lại vừa cười vào mũi cho, bờm ạ!. Tôi ớ người ra, tôi bị nàng gọi là bờm, mà sao là bờm ? Tôi hỏi nàng, sao em bảo anh bờm? Nàng nói, chính câu hỏi của anh đã chỉ ra anh là thằng bờm thứ thiệt rồi chứ còn là sao nữa. “Bờm ơi là bờm! lại còn hỏi”. Tôi là thằng bờm, tôi là thắng bờm? thế nào là bờm ?
Tôi chợt nhớ đến bài ca dao.

Thằng Bờm có cái quạt mo

Phú ông xin đổi ba bò chín trâu

Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu

Phú ông xin đổi một xâu cá mè

Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè

Phú ông xin đổi một bè gỗ lim

Bờm rằng Bờm chẳng lấy lim

Phú ông xin đổi con chim đồi mồi

Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi

Phú ông xin đổi nắm xôi Bờm cười



Bài ca dao giúp tôi hiểu Bờm là thằng khờ, là thật thà quá đến mức không biết tính toán lợi lộc gì cả. Ba bò chính trâu, ao sâu cá mè, bè gỗ lim không lấy, lại lấy nắm xôi! Vâng bờm là khờ, là quá thật thà, dưới mức trung bình của thói thường tình trong đời sống.

Tôi những tưởng rằng bài ca dao thằng bờm do nhân dân làm ra là để giải thích thuộc tính “bờm” của một loại người chất phác, thật thà, không biết tính toán lợi lộc cho mình. Nhưng khi đọc bài viết của Nguyễn Trọng Bình, Lê Tiến Dũng, Đỗ Minh Tuấn thì các tác giả “giải mã” ý nghĩa bài ca dao không phải là vậy. Nguyễn Trọng bình tổng kết ý kiến người đi trước và đưa ra các lý giải ý nghĩa bài ca dao như sau:

1.” Bài ca dao Thằng Bờm là tiếng cười châm biếm, đả kích những hạng người giàu có nhưng tham lam, ngu dốt và đặc biệt là rất hay khoe khoang, vênh váo, tự đắc, mình là số một trong thiên hạ – một dạng “trọc phú” hay “trưởng giả học làm sang” trong xã hội mà Đông Tây, kim, cổ đều có.

2. Bài ca dao Thằng Bờm phản ánh sự bất công trong xã hội. ..Tiếng cười của thằng Bờm ở cuối bài ca dao là tiếng cười để tác giả dân gian qua đó bộc lộ những khát vọng, những ước mơ chính đáng về một cuộc sống, một xã hội công bằng, dân chủ.

3 Bài ca dao thể hiện một triết lý nhân sinh có ý nghĩa muôn thuở của người xưa đó là: trong cuộc sống không phải anh có tiền, có của là anh muốn gì cũng được, mua gì cũng được, đổi gì cũng được, làm gì cũng được...

Bài ca dao Thằng Bờm khẳng định chiều sâu của vẻ đẹp trí tuệ và tư duy dân gian sâu sắc và độc đáo của người xưa: những kẻ mà trong cuộc sống tuy giàu về tiền bạc, của cải nhưng chưa chắc đã “giàu” về trí tuệ, ngược lại những người nghèo khó về tiền bạc nhưng có khi họ rất “giàu” về trí tuệ “(Kiến thức ngày nay, số 740,ngày 01/03/2011

2. Hạn chế của phương pháp phê bình.

Bây giờ thì tôi hoang mang thật sự, không còn biết ý nghĩa thực của bài ca dao là gì. Ý kiến của những nhà nghiên cứu trên có thật là chân lý của vấn đề hay không. Tôi mơ hồ rằng những kiến giải ấy nằm ngoài văn bản bài ca dao, điều này thúc giục tôi bước vào một cuộc truy tìm ý nghĩa khả tín mà nhân dân muốn gửi trong bài ca dao này

nguyễn Trọng Bình cho rằng Phú Ông là kiểu người như Thạch Sùng, tự hào có mọi thứ, chỉ thiếu cái quạt mo. “Lão trọc phú đã huênh hoang cho rằng nhà ta “cái gì cũng có” nhưng khi thằng Bờm trưng ra “cái quạt mo” thì lão mới tá hỏa. Nếu “Thạch Sùng thiếu mẻ cá kho” thì tên Phú Ông này thiếu cái “cái quạt mo” cũng không có gì là lạ và khó hiểu.”(đd). Tôi đọc đi đọc lại bài ca dao, rõ ràng là trong văn bản bài ca dao trên tuyệt nhiên không có bất cứ một dấu chỉ nào, rằng nội dung cuộc trao đổi của thằng bờm với phú ông giống như cuộc trao đổi trong truyện Thạch Sùng. Tác giả bài viết đã tưởng tượng ra câu chuyện Thạch Sùng ngoài văn bản bài ca dao, hay nói cách khác tác giả đã áp đặt cái nghĩa chủ quan của mình cho văn bản mà bản thân văn bản không hề có. Vì thế, những suy diễn tiếp theo càng lạc xa ngoài văn bản hơn nữa. Ấy là, tác giả kết luận :“Bài ca dao Thằng Bờm là tiếng cười châm biếm, đả kích những hạng người giàu có nhưng tham lam, ngu dốt và đặc biệt là rất hay khoe khoang, vênh váo, tự đắc, mình là số một trong thiên hạ”.

Kết luận rằng :” Bài ca dao Thằng Bờm phản ánh sự bất công trong xã hội, bộc lộ những khát vọng, những ước mơ chính đáng về một cuộc sống, một xã hội công bằng, dân chủ.”nghe như là tác giả đang nói về thằng bờm trong thời đại hôm nay, ước mơ xây dựng một nước Việt Nam XHCN văn minh, tiến bộ, công bằng, dân chủ, và giàu mạnh. Đọc bài ca dao, người đọc đều nhận rõ Bờm đâu có ước mơ gì. Tất cả những gì phú ông hứa đổi đều bị Bờm gạt phăng đi. Bờm đâu có mơ giàu có để công bằng với phú ông. Phú ông cũng không dùng quyền lực để tước đoạt quạt mo của thằng bờm. Trong tương quan xã hội, địa vị Bờm, vẫn ngang hàng với phú ông. Nó vẫn làm chủ tài sản của nó. Phú ông chẳng làm gì được.

Kết luận sau đây có lẽ là một ngẫu hứng lãng mạn không hơn không kém:” Bài ca dao Thằng Bờm khẳng định chiều sâu của vẻ đẹp trí tuệ và tư duy dân gian sâu sắc và độc đáo của người xưa: những kẻ mà trong cuộc sống tuy giàu về tiền bạc, của cải nhưng chưa chắc đã “giàu” về trí tuệ, ngược lại những người nghèo khó về tiền bạc nhưng có khi họ rất “giàu” về trí tuệ”(đd). Hóa ra tác giả ám chỉ thằng bờm là nhân vật trí tuệ, là người giàu có, còn phú ông mới là kẻ ngu dốt, nghèo nàn ! nếu được như vậy thì quả là phúc đức 10 đời cho thằng bờm. Hoan hô Bờm, hoan hô thằng Bờm rất giàu có về trí tuệ !!! (hoan hô người bạn đời đã mắng yêu tôi là Bờm! Hóa ra nàng khen tôi trí tuệ!)

Tôi không tin điều ấy, bởi đã là bờm thì làm gì có trí tuệ! Dân gian không ai gọi Bờm là người tuy nghèo về vật chất mà rất giàu có về trí tuệ cả. Bờm là bờm, là khờ khạo, thậm chí thiểu năng trước những người khôn ngoan.Thế thôi. Vậy do đâu lại có những giải mã như vậy. Tôi nhận ra rằng các tác giả đã áp dụng phương pháp phê bình Marxist và Phản ánh luận của Lê Nin để phân tích bài ca dao. Đọc tác phẩm văn học bằng phương pháp này, người ta luôn tìm xem đâu là cuộc đấu tranh giai cấp được phản ánh trong tác phẩm, tìm xem ý nghĩa xã hội của tác phẩm là gì, và luôn đứng trên lập trường quần chúng, lập trường cách mạng để đánh giá tốt xấu, hay dở. Từ đó người ta gán cho phú ông là giai cấp địa chủ bóc lột muốn cướp đoạt hết thành quả lao động của người nông dân kể cả cái quạt mo là thứ chẳng có giá trị gì; Từ đó suy ra câu chuyện trong bài ca dao là cuộc đấu tranh giai cấp mà nhân dân là kẻ chiến thắng; cũng từ đó nói đến sự “phản ánh sự bất công trong xã hội” và phản ánh khát vọng về một cuộc sống, một xã hội công bằng, dân chủ. Những suy diễn như thế hoàn toàn là áp đặt chủ quan của tác giả, nằm ngoài ý nghĩa của chính văn bản bài ca dao.

3.Đâu là căn cốt của vấn đề ?

Bài ca dao này nói đến phú ông - thằng Bờm, nói đến trâu bò, ao cá, bè gỗ… chắc chắn nó đã ra đời trước khi chủ nghĩa Marx truyền vào Việt Nam. Như thế tác giả dân gian đâu có sáng tác theo quan điểm cách mạng, đâu có xây dựng nhân vật điển hình cho các giai cấp trong xã hội, đâu có miêu tả hoàn cảnh điển hình mà ở đó tập trung mâu thuẫn giai cấp, đâu có mở ra tương lai theo cách nhìn lãng mạn cách mạng. Bờm không đại diện cho một giai cấp nào trong xã hội Việt Nam. Cuộc đổi chác giữa bờm và phú ông không phải là một cuộc đấu tranh giai cấp, nó rất khác với “cảnh mua bán ở nhà Nghị Quế “ trong Tắt Đèn. Người ta không thể tìm thấy bất cứ yêu cầu nào của của chủ nghĩa Hiện Thực Xã Hội Chủ nghĩa trong bài ca dao này. Vì thế, làm gì có chuyện tố cáo giai cấp thống trị bóc lột, làm gì có “ai thắng ai ”. Rõ ràng phương pháp phê bình Marxist không phù hợp để phân tích bài ca dao này, đơn giản phương pháp này chỉ áp dụng cho các tác phẩm viết bằng phương pháp tả thực. Tức là những tác phẩm mà nhà văn hướng về hiện thực để sáng tác, tìm nhân vật, tìm cốt truyện, quan tâm đến những vấn đề xã hội. Nhà văn viết tác phẩm là để lên tiếng nói với hiện thực, để góp phần cải tạo xã hội. Nói như Sóng Hồng :“Dùng bút làm đòn chuyển xoay chế độ/ mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền” hay như Thạch Lam, “văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có , để vừa tố cáo vừa thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác , vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn” . Bút pháp tả thực buộc nhà văn phải tuân thủ những quy luật vận động khách quan của hiện thực.

Bài ca dao Thằng Bờm được viết bằng bút pháp gì?

Tác giả dân gian thuật lại câu chuyện trao đổi giữa phú ông và thằng Bờm. Như vậy bài ca dao là một câu chuyện (phương thức tự sự), nhưng người thuật truyện đã tước bỏ hết không gian, thời gian, tước bỏ những chi tiết về nhân thân của nhân vật. Ta không biết sự việc xảy ra ở đâu, vào lúc nào, mặt mũi, thái độ của nhân vật ra sao. Câu chuyện chỉ còn là lời thoại được thuật gián tiếp :”Bờm rằng bờm chẳng lấy…”. Xem xét thái độ trong cuộc đối thoại của hai nhân vật, ta thấyThái độ của phú ông rất ẩn nhẫn và từ tốn. Tác giả dân gian thuật lại rằng: “Phú ông xin đổi”nhiều lần, có vẻ như nài nỉ. Phú ông không quát nạt, hăm dọa hay tạo bất cứ áp lực trên Bờm. Phú ông xin đổi, đó không phải là thái độ trịch thượng, bất nhân như vợ chồng Nghị Quế khi thương lượng mua ép mua rẻ cái Tý và đàn chó của chị Dậu (Tắt Đèn). Trong thực tế không hề có câu chuyện trao đổi như thế. Chuyện ngã giá, lẽ ra phú ông phải tăng giá để đổi được quạt mo, trái lại ông cứ giảm giá dần dần. Điều này trái với quy luật khách quan của hiện thực. Như vậy ta có thể khẳng định bài ca dao Thằng Bờm không được viết bằng bút pháp hiện thực. Thế nghĩa là ta không thể khai thác ý nghĩ bài ca dao như một câu chuyện có thật trong đời, không thể coi những chi tiết của câu truyện là thật, để từ đó chỉ ra ý nghĩa xã hội của bài ca dao. Tất cả hệ thống truyện chỉ có ý nghĩa biểu trưng như một câu chuyện ngụ ngôn.

Chẳng ai lại tin rằng trong ngụ ngon Trí Khôn Của Ta Đây (1), cọp lại đi đứng nói năng như người, và để bác nông dân trói vào cây mà đập, mà đốt. Chủ đề của truyện Trí Khôn Của Ta Đây thật đơn giản: con người hơn loài vật, làm chủ muôn loài nhờ có trí khôn. Truyện cũng giải thích tại sao trâu không có răng cửa , tại sao trên mình cọp lại có những sọc vằn. Cũng vậy câu chuyển trao đổi giữa phú ông và thằng bờm chứa đựng một bài học nào đó cần khám phá như một ngụ ngôn.

Thông điệp từ bài ca dao Thằng Bờm cũng thật rõ ràng. Trước tiên bài ca dao giải thích thuộc tính “bờm”. “Bờm” là “khờ”, là không biết gì, là ngây thơ trước thực tại. Đơn giản là vậy, như truyện Trí Khôn của Ta Đây giải thích tại sao trâu không có răng cửa, tại sao cọp lại có vằn vện trên thân. Tuy nhiên, cũng cần xem xét vấn đề này là, khi thuật lại câu chuyện trao đổi này, thái độ tình cảm của nhân dân nghiêng về nhân vật nào ? phú ông hay thằng Bờm? Câu trả lời hiển nhiên là, nhân dân dành cho bờm nhiều thiện cảm. Tại sao vậy? bởi Bờm chân thật, thẳng thắn, không thủ đoạn để vụ lợi, không ham mê vật chất, không thấy kẻ giàu có mà xun xoe đeo bám, nhờ vả, không hạ thấp nhân cách trước những kẻ có quyền lực trong xã hội. Những phẩm chất này vốn là những giá trị căn bản của nhân dân ta. Bạn có thể kiểm tra điều này: Nếu về thăm quê, bạn giản dị, chân thực, nghĩa tình, hòa đồng với mọi người, bạn sẽ được mọi người quý mến, trái lại nếu bạn ăn diện, bộ dạng khệnh khạng trưởng giả, thái độ quan cách trịch thượng, chắc chắn sẽ bị xa lánh.

Có một bí mật cần giải mã là thái độ “bờm cười” ở cuối bài ca dao. Có người cho rằng bờm đồng ý đổi lấy xôi cho chắc ăn, vì tính thực dụng nông dân vốn thế. Có nguời cho đó là thái độ minh triết. “dù thằng Bờm cười - đồng ý hay cười - không đồng ý đổi “cái quạt mo” thì trong cuộc đấu trí giữa tên “trọc phú” và anh “dân đen” cuối cùng tên trọc phú cũng thua một cách thật thảm hại và nhục nhã”(đd). Tôi không nghĩ vậy. Thái độ của bờm trước sau chỉ một mực từ chối :”bờm rằng bờm chẳng lấy..” Khi đã quá nhiều lần Bờm nói thẳng ra ý kiến của mình mà phú ông vẫn nài nỉ, thì Bờm không thèm trả lời nữa, mà bày tỏ thái độ bằng một nụ cười. Nụ cười ấy tiếp tục là sự từ chối, là không đối thoại nữa, là sự bày tỏ thái độ khinh miệt vào mặt phú ông, bởi lão đang dùng thủ đoạn. không phải Bờm đồng ý đổi lấy nắm xôi như người người đã giải thích một cách bôi bác tính thực dụng, tính phàm ăn tục uống, thói dĩ thực vi tiên của người nông dân. Bài ca dao kết lửng, ta không rõ thái độ phú ông thế nào sau cái cười của Bờm, có điều chính nụ cười này làm lộ ra rằng Bờm không “bờm” chút nào.

Muốn biết Bờm không “bờm” chút nào , ta hãy xem chiến thuật chiến lược của phú ông trong cuộc thương lượng, và thái độ ứng phó của Bờm. Phú ông liên tiếp đưa ra các đòn nặng cân để hạ knock out “đối thủ”. Phú ông đặt trước mặt Bờm “ba bò chín trân”, “ao sâu cá mà”, “ một bè gỗ lim”. Theo lẽ thường, chẳng đối thủ nào chống đỡ nổi với lòng tham trước những lợi lộc lớn lao như vậy. Ngày xưa người nông dân làm việc cật lực, dành dụm mãi mới có thể mua được hai chân sau con trâu cày, rồi lại làm cận lực và dành dụm nữa mới mua được cả con trân, vậy mà nếu Bờm chỉ cần đồng ý là có ngay “ba bò chín trâu”. Quả là một tài sản hết sức lớn đối với một nông dân nghèo. Nếu bây giờ, bỗng dưng có ai đem một triệu USD đến đổi cái nhà rách của mình, hẳn nhiều người sẽ choáng ngợp không cưỡng lại được. Thí dụ, Ngày 3/5/ 2012, Công an tỉnh Vĩnh Phúc bắt tạm giam ông Lại Hữu Lân, nguyên chủ tịch UBND và Bí Thư Thành Ủy TP Vĩnh yên (Vĩnh Phúc ) về tội nhận quà biếu là một chiếc ô tô Toyota Camry biển số 30T-7703, mà theo thời giá hiện nay là khoảng một tỷ rưỡi đồng VN. Làm sao từ chối lòng tham một món quà như thế? Thế nhưng trước những món lợi lớn như vậy, Bờm đã không bị lòng tham quật ngã. Bờm từ chối dứt khoát, một thái độ thẳng băng, trước sau lập trường không thay đổi, bụng dạ không nao núng, không đắn đo nghĩ suy hơn thiệt. Điệp ngữ “Bờm rằng bờm chẳng lấy” bộc lộ một thái độ lạnh lùng như không của Bờm trước những dụ dỗ vật chất.

Phú ông chuyển sang đổi con chim đồi mồi, nắm xôi . Chiêu gì đây ? là đánh vào cái sở thích của trẻ con, trẻ con vốn thích chim, trẻ thích xôi, bởi nông thôn xưa, xôi là món quý. Phú ông đánh vào lòng tham không được thì đánh vào sở thích. Mấy ai trong cuộc sống lại không có sở thích, nhiều khi đam mê một thứ gì đó. Mê đánh cờ, mê thả diều, chơi chim hoa cá cảnh, hòn non bộ, thích đi du lịch, mê đánh bạc, mê gái, mê nổi tiếng (thói háo danh), mê quyền lực (ngồi bắt ốc vít vào cái ghế quyền lực). Đối phương có thể dùng cái đam mê này mà quật ngã ta. Hãy lấy thí dụ , mới đây (24&25/12/2011), cơ quan CSĐT công an tỉnh Sóc Trăng đã đề nghị truy tố quan chức đánh cờ bạc tỷ là các ông Nguyễn Thanh Lèo, nguyên PGĐ Sở GTVT Sóc Trăng; Trần Văn Tân, nguyên Giám đốc TT Đào tạo lái xe loại 3 và Đinh Văn Mười, nguyên Phó chủ nhiệm UBKT thành ủy Sóc Trăng. Số tiền đặt cược trong mỗi ván cờ từ 500 nghìn đồng rồi tăng lên 5 tỷ đồng. Máu mê cờ bạc đã quật ngã các quan chức. Thế nhưng phú ông đã không quật ngã được Bờm, dù liên tiếp đánh vào sở thích trẻ con của Bờm.

Đến đây thì ngụ ngôn thằng bờm lộ ra thông điệp về giữ gìn nhân cách làm người trong đời. Bao nhiêu kẻ đã thân bại danh liệt vì lòng tham không cùng trước những lợi lộc do hợp đồng, do quà biếu, do hối lộ đem lại, để rồi tự bán thân làm nô lệ. Cũng vậy không biết bao nhiêu người vì “máu mê” mà đánh đổi tất cả. Những thí dụ tôi nêu ở trên đủ làm rõ bài học mà ngụ ngôn thằng Bờm nhắc nhở chúng ta. Thế còn thằng Bờm, nói với chúng ta thông điệp gì? Bờm không chỉ giữ vững nhân cách trước những cám dỗ vật chất, nhưng Bờm còn sáng lên nhiều phẩm tính đẹp khác, Bờm không sợ hãi, không quỵ lụy, trước phú ông (kẻ giàu có, quyền lực), Bờm biết rõ giá trị cái mình có và không đánh mất giá trị đó (cái quạt- có người bảo đó là cuộc sống thanh thảnh nhàn nhã). Bờm có cách ứng xử khôn khéo khi từ chối phú ông bằng nụ cười im lặng. Nụ cười vượt lên tất cả. Có người bảo nụ cười của Bờm là nụ cười của Thiền Sư :” Nụ cười của Bờm quả là nụ cười của thiền sư, vì trở thành câu hỏi cho nhiều người. Hãy thử hình dung vào buổi trưa hè ấy, ngài cầm quạt mo, cử chỉ ung dung tự tại, an lạc...”,” Chẳng thấy đức Phật, các vị cao tăng đắc đạo, nét mặt luôn hoan hỉ, lúc nào cũng cười đó sao? (2). Xin thưa rằng, bài ca dao không thể hiện tư tưởng Thiền, không viết bằng thi pháp Thiền mà đặc trưng là vô ngôn, vì thế không thể áp đặt nụ cười của Bờm là nụ cười Thiền được.(Xin cứ so sánh với thơ Thiền Lý-Trần)(3)

Quả là thú vị. Bài ca dao thằng Bờm gợi mở ra nhiều điều cho bạn đọc. Đó là sự giao thoa về thi pháp giữa kiểu truyện hiện thực và kiểu ngụ ngôn, có những điều nghịch lý trong truyện so với hiện thực, khiến cho thật khó nắm bắt ý nghĩa đích thực của bài ca dao (phú ông năn nỉ xin đổi một gia tài lớn để lấy cái quạt chẳng có giá trị gì, nghịch lý về sự giảm giá), một kết thúc mở bằng nụ cười đa nghĩa của thằng Bờm (Bờm đồng ý- Bờm từ chối- Bờm Thiền sư…). Bản thân tôi hiểu đơn giản Bờm là “bờm”, và mỗi lần làm việc gì, tôi phải hết sức ý tứ nếu không lại được nghe người bạn đường cười cười bảo “Bờm ơi là bờm!!!”

Ôi! thằng Bờm thật đáng yêu.

Tháng 5.2012

( 1) Trí khôn của ta đây

Bác nông dân hàng ngày dắt trâu đi cày. Con trâu đi trước kéo cái cày thật nặng theo sau. Dù công việc nặng

nhọc nhưng trâu ta vẫn vui vẻ đi làm.

Một hôm, sau buổi cày, bác nông dân đang ngồi nghỉ dưới gốc cây, cho trâu ăn cỏ bên bờ ruộng. Cọp đến hỏi trâu rằng: "Này trâu, sao mày to xác như vậy mà lại để cho một thằng người bé nhỏ xỏ mũi kéo, đánh đập, mà mày cứ chịu lép vế". Trâu trả lời cọp: "Tuy người bé nhỏ, nhưng nó có trí khôn".

Cọp đến chỗ bác nông dân chặn hỏi: "Nghe trâu nói là người tuy bé nhỏ nhưng có trí khôn. Vậy trí khôn đâu, cho ta xem với". Bác nông dân đáp: "Trí khôn tôi để ở nhà". Cọp bảo: "Hãy về nhà lấy trí khôn cho ta xem". Bác nông dân trả lời: "Được chứ... Nhưng e rằng trong lúc tôi vắng mặt, thì ông cọp ăn mất trâu của tôi thì sao?"


Cọp không biết trả lời thế nào. Bác nông dân thấy vậy nói: "Vậy, cọp có bằng lòng cho tôi trói lại đã, rồi tôi về nhà lấy trí khôn cho mà xem?". Cọp ta bằng lòng. Bác nông dân bèn lấy dây thừng, cột cọp thật kỹ vào gốc cây, lấy tay cày đập vào đầu cọp rồi châm lửa đốt. Bác vừa đốt, vừa nói rằng: "Trí khôn của tao đây... Trí khôn của tao đây".

Trâu thấy vậy, nó cười ngã nghiêng, cắm đầu xuống đất, gãy mất hàm răng trên. Lửa cháy làm đứt sợi dây trói, cọp thoát được. Từ đó trên mình cọp có vết vằn, cọp sợ lửa là vậy.

(1) http://rongmotamhon.net/...500&p_id=16&tg=2

(2) Thơ Thiền Lý-Trần

Không Lộ Thiền Sư

言 懷

宅 得 龍 蛇 地 可 居

野 情 終 日 樂 無 餘

有 時 直 上 孤 峰 頂

長 叫 一 聲 寒 態 虛

Ngôn hoài

Trạch đắc long xà địa khả cư

Dã tình chung nhật lạc vô dư

Hữu thì trực thượng cô phong đỉnh

Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.


Tỏ lòng


Kiểu đất long xà chọn được nơi

Tình quê nào chán suốt ngày vui

Có khi đỉnh núi trèo lên thẳng

Một tiếng kêu vang lạnh cả trời.

(Người dịch: Phan Võ)


Mãn Giác Thiền Sư:


告疾示眾 春 去 百 花 落

春 到 百 花 開

事 逐 眼 前 過

老 從 頭 上 來

莫 謂 春 殘 花 落 盡

庭 前 昨 夜 一 枝 梅


Cáo tật thị chúng

Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đáo bách hoa khai

Sự trục nhãn tiền quá

Lão tùng đầu thượng lai

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.


Có bệnh bảo mọi người

Xuân ruổi trăm hoa rụng

Xuân tới, trăm hoa cười

Trước mắt việc đi mãi

Trên đầu già đến rồi

Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua, sân trước một nhành mai

(Người dịch: Ngô Tất Tố)


Vạn Hạnh Thiền Sư


示弟子 身 如 電 影 有 還 無

萬 木 春 榮 秋 又 枯

任 運 盛 衰 無 怖 畏

盛 衰 如 露 草 頭 鋪


Thị đệ tử


Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,

Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô.

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy,

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.


Dặn học trò


Thân như bóng chớp, có rồi không,

Cây cối xuân tươi, thu não nùng.

Mặc cho thịnh suy đừng sợ hãi,

Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông.

(Người dịch: Ngô Tất Tố)

Edited by user Saturday, July 11, 2015 8:30:51 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
CatLinh on 7/14/2015(UTC)
phamlang  
#54 Posted : Saturday, July 11, 2015 9:06:51 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

Hồn ở đâu bây giờ?

Đoàn Xuân Thu


Thưa, một đất nước không bình yên, biến loạn về thời cuộc, thì bà con mình đành đứt ruột rời bỏ quê hương mà đi; dù trong lòng đâu ai muốn?!

Tha hương, người Việt mình gặp nhau, sau khi làm quen, chào hỏi, thường là: tên tuổi, để tiện xưng hô: anh Ba, chú Bảy… (dù Tây rất kỵ vụ mới quen mà hỏi tuổi lẫn nhau nha!)
“Dà quê anh ở đâu?” “À quê tui ở Quận Nhứt, Sài Gòn! He he!” Vậy mới ‘le’ chớ!?

Còn quê tui không có ở Quận Nhứt, Sài Gòn. Tía Má tui đâu có quyền thế hay giàu có gì mà ở Quận Nhứt cho được. Đường Nguyễn Huệ, đường Lê Lợi… là mấy chỗ dành cho giai cấp thượng lưu hồi xưa, như khu Toorak ở thành phố Melbourne nầy vậy. Nhìn cái post code, khu bưu chính, là mình ngán nó rồi, vì nó giàu… Nhà vài triệu đô lấy lên không hà… Lạng quạng nó lấy tiền chọi mình lỗ đầu là cái chắc!

Thưa tui xa quê đã lâu, chưa về, dù đêm nào mơ cũng mớ. Giờ thì chắc biển đã xanh dâu, còn quê chỉ là bóng hình mình, chìm trong cơn mộng dữ mà thôi!
Anh bạn nhà thơ nịnh ‘đầm’ dở như vầy: Anh không về, vậy mà hay! Thà giữ hình bóng quê nhà đẹp như thời năm cũ; hơn là về rồi, lại chịu cảnh bẽ bàng như nhà thơ Hạ Tri Chương, đời Đường, bên Tàu.
“Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi/ Hương âm vô cải, mấn mao tồi/ Nhi đồng tương kiến, bất tương thức/ Tiếu vấn, khách tòng hà xứ lai?”

(Bé đi, già mới về nhà/ Tiếng quê vẫn thế, tóc đà rụng thưa/ Trẻ con trông thấy hững hờ,/ Cười ồ, hỏi khách lại từ phương nao?”)

Quê tui ở Xoài Hột (mà Xoài nào không có hột chớ?) Ở Chợ Bưng, (chợ nào mà không bưng chớ?!) Dẫu vậy, nó là một vùng quê yêu dấu, là cuống rún chưa lìa của tui đó bà con ơi!
Nhắc tới quê, là tui nhớ tới Má, nhớ Má dẫn thằng nhỏ đi ăn cơm chùa vào ngày rằm tháng Bảy. Mùa Vu Lan, cúng cô hồn các đảng và giựt giàn của bố thí. Hồi hộp và ‘phấn khích’ ghê… Hổng biết chú tiểu, đầu chừa ba vá miếng vùa, ngồi vắt vẻo trên cao, sẽ ném xuống cái gì cho mình giựt, dù lần nào cũng vậy, bị mấy đứa lớn con hơn nó đạp đau thấy Tía. Đau mà vui!

Rồi lớn lên, nghe cái gì Chùa, như ăn ‘chùa’, nhậu ‘chùa’, nghĩa là hỏng tốn tiền là tui khoái chí tử. (Coi vậy chớ đỡ tốn lắm nha huynh!)

Thưa, dân mình xưa cũng vậy, phiêu bạt thương hồ, lỡ độ đường sông, đồng không mông quạnh, bụng đói cồn cào mà nghe tiếng chuông chùa bong bong vang trên mênh mông mùa nước nổi là mừng ra mặt; vội chèo ghe bương tới vì chí ít cũng biết rằng nhà chùa sẽ cho ăn một bữa, dù cháo rau, dưa muối và cho một chỗ nghỉ chân an toàn đêm nay cho khách lỡ độ đường.
Thưa cái làng, nhứt là miệt Lục Tỉnh Nam Kỳ của mình, không có lũy tre xanh, không có cây đa cao ngất từng xanh… Mà là xóm nhà rời rạc, cách xa nhau một số đám ruộng. Bởi vậy chùa ở Miền Nam không còn là của riêng một làng nào nữa mà thường trên một gò cao nào đó để cả vùng gồm nhiều làng thờ chung ông Phật. Thường là do một sư ông vân du đến đây, thấy phong cảnh hữu tình, lập am tu hành. Mới đầu là am thôi, sau lâu ngày chày tháng mới phát triển thành chùa.
Tu rồi làm sao sống? Thì làm ruộng! Ruộng chùa cũng ít ỏi, do các tăng, ni tự khai khẩn rồi canh tác, tự cung tự cấp. Nhưng qua hàng trăm năm theo bước chân của lưu dân từ miền Trung vào, có ngôi chùa nhỏ, dần dần trở thành danh lam, thắng tích như chùa Sắc Tứ Linh Thứu ở Xoài Hột, Mỹ Tho, quê tui vậy đó!

Chùa quê, nhưng với tấm lòng từ bi, bác ái của Sư cụ trụ trì giúp người trong cảnh khốn cùng bị truy đuổi ráo riết, đã góp phần làm thay đổi lịch sử nước ta sau nầy:
Tích rằng: Nguyễn Ánh và quân Xiêm bị Nguyễn Huệ đánh một trận tơi bời, bị đại bại tại đoạn Sông Tiền từ Rạch Gầm đến Rạch Xoài Mút (1785), ông đã bỏ thuyền lên bờ, chạy vào Chùa Long Tuyền, trốn trong chiếc chuông đồng (Đại Hồng Chung), rồi mạng nhện đan kín lại, thoát được cuộc truy nã ráo riết của quân Tây Sơn. (Số chánh vì vương mà! Lận đận long đong, xong rồi cũng là ‘vương’ nha?!)
Năm 1802, sau khi dẹp được nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy hiệu là Gia Long. Năm 1811, nhớ lại ngôi chùa đã từng cứu mạng mình nên vua Gia Long ra sắc chỉ đặt lại tên chùa là Long Nguyên Tự.
Đến năm 1841, Vua Thiệu Trị cho đổi tên chùa thành Linh Thứu Tự, (chữ Linh Thứu nói trên, tiếng phạn là Kỳ Xà Quật, tên của một hòn núi mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thường thuyết pháp khi xưa).
Còn dân gian gọi là chùa Sắc Tứ; hãnh diện là chùa quê nhưng lại được bảng vàng của nhà vua phong cho! Mà quên đi bài học chánh của giai thoại nầy: Phàm là bậc chân tu, phải có lòng từ bi, bác ái sẵn sàng ra tay cứu vớt bất cứ kỳ ai trong cơn cùng khốn!

Thưa bà con mình, mất quê, mất nước, mất cả bầu trời. Phiêu bạt chỉ mang theo trong lòng những hình bóng cũ, những hồn ma cũ, mất rồi thì cách chi mà tìm lại được.

Hình ảnh ngôi chùa, chú tiểu đầu ba vá miếng vùa, những ni cô lòng quảng đại, từ bi dù phải chịu hàm oan như Quan Âm Thị Kính, theo ta suốt một thời luân lạc.

Còn đối với các nhà thơ, nhắc tới chùa, là nhắc tới tiếng chuông, nhắc tới một kỷ niệm buồn đau; dẫu vậy, cũng rất đẹp của thời niên thiếu.
Nhà thơ Xuân Tâm: “Năm xưa tôi còn nhỏ/ Mẹ tôi đã qua đời!/ Lần đầu tiên tôi hiểu/Thân phận trẻ mồ côi. Quanh tôi ai cũng khóc/ Im lặng tôi sầu thôi/ Để dòng nước mắt chảy/ Là bớt khổ đi rồi… Hoàng hôn phủ trên mộ/ Chuông chùa nhẹ rơi rơi/ Tôi thấy tôi mất mẹ/ Mất cả một bầu trời”
Nhưng than ôi, ngoái nhìn về quê cũ thì thấy thiệt đau lòng.

Hỏng đau lòng sao được khi các ni cô của Chùa Phước Hải, huyện Bình Chánh, Sài Gòn, cởi bó áo nâu sòng, mặc đồ bộ đội và cầm súng AK, lên sân khấu nhảy cà tưng, nhảy vòng vòng, nhảy tới, nhảy lui… Thiệt là hỏng có giống ai hết ráo!

Bà con trong nước cũng ‘rầu’ như tui vậy, nói: “Đạo Phật mong cầu thoát khỏi thất tình lục dục.Thi thố ăn thua, đàn ca hát xướng, cởi áo nâu sòng khoác áo lính. Các vị có thuộc ngũ giới mà Phật đã dạy cho ni chúng không?”
Vậy mà còn xúm lại vỗ tay khen: “Mô hình nầy hay; Cần mở rộng?!” Trời, Phật ơi!
Tưởng bà con Phật tử đau lòng mà sửa lưng như vậy là quý ni cô chùa Phước Hải nầy ăn năn hối cải, lo tu học để giúp đời, giúp lòng dân đang loạn, bởi đời giờ hỏng biết phải tin ai?

Nào ngờ, sư cô Thích Nữ Huệ Ngọc và đại sư Pháp Quang, ở nước ngoài, thỉnh thoảng mới về Việt Nam (phải có đại sư ‘Việt kiều’ là mới đáng tin nhe?!) làm lễ quy y cho một con Bò. Đặt pháp danh là Thiện Sanh, rồi cho đeo một chiếc máy phát tiếng kinh Phật quanh cổ ‘nhà tu hành’ đặc biệt này.
Đến nỗi vị Viện phó Học viện Phật giáo rầy: “Con bò không thể quy y cho được”. Vì người Việt Nam thường dùng hình ảnh con bò để chỉ những người “có đầu mà không có óc”, không phát triển ý thức, không phát triển trí tuệ thì quy y là quy y làm sao?

Rồi sau cái vụ con Bò quy y thì tới cái vụ con Chó ăn chay nhằm ngày rằm mỗi tháng. Tay phóng viên của báo chí quốc doanh nhà nước dám ‘phịa’ ra như vầy. (Thiệt tao cũng chạy chú mầy luôn!)
Chú phịa rằng: “Ấp Thông Lưu, nằm cuối cù lao Thanh Bình, huyện Vũng Liêm, Vĩnh Long, có một ông cứu được con chó, nhém chết trôi, đem về nuôi dưỡng; đặt tên là Lượm.

Con chó Lượm nầy ngày rằm là ăn chay, quẳng cho miếng thịt bò cũng chê. Nghĩa là con Chó Lượm biết coi lịch Tam Tông Miếu, mà coi ngày âm nữa đó đa. Vì con chó ăn chay, nên cả nhà đều ăn chay theo! Trước nghèo mạt, giờ khơi khơi trở nên giàu hà?”

Thiệt là mấy đứa báng bổ Phật giáo, tôn giáo mà tui từng hết lòng thờ kính đó nhe!
Buồn ghê khi đọc mấy cái tin trời ơi đất hỡi nầy nhưng tui không ngạc nhiên chút nào. Hổng phải vô tình, mà họ có chủ đích đó bà con ơi.

Cách đây hơn 60 năm, nhà thơ CS Cù Huy Cận đã báng bổ Phật Giáo như thế nầy rồi qua bài thơ: “Các vị La Hán chùa Tây Phương /Tôi đến thăm về lòng vấn vương/ Há chẳng phải đây là xứ Phật, Mà sao ai nấy mặt đau thương?”
Chủ nghĩa xã hội của ông Cù Huy Cận nầy chưa về nên ai cũng khổ, cũng đau thương hết ráo. Cho tới khi nó về thì… vui? (Phải vậy hông?)
“…Các vị La Hán chùa Tây Phương/ Hôm nay xã hội đã lên đường /Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại/ Xua bóng hoàng hôn, tản khói sương!”
Để một nhà phê bình văn học phải kêu lên: “Cuộc sống rất đa dạng, không có gì là toàn ác, cũng không có gì là toàn thiện, những pho tượng La Hán nầy không phải trò đùa để cho Huy Cận đem ra bàn luận linh tinh…”

Thưa tui đã từng được nghe các vị cao tăng giảng về Tam quy và Ngũ giới.

Tam quy: Điều thứ nhất: Phải noi theo Phật tính! Điều thứ nhì: Giữ gìn khuôn phép. Điều thứ ba: Phải theo bạn, theo thầy.

Còn Ngũ giới là: Năm điều ngăn cấm do Đức Phật, vì thương xót chúng sanh, mà tạo ra, cốt khiến đời sống họ được an lành hạnh phúc.

1. Không sát sanh. 2. Không trộm cướp: 3. Không tà dâm. 4. Không nói dối. 5. Không uống rượu.

Mà nhìn quanh quất thì một số (tui không dám quơ đũa cả nắm) nhà sư quốc doanh (cà chớn) trong nước đều phạm giới hết ráo. Mà cái tội lớn nhứt, to nhứt là cái tội nói dóc, tức vọng ngữ.

Đa phần người Việt mình, theo Phật giáo, thấy đất nước mình đang trải qua cái mùa Pháp nạn nầy, thiệt là lòng đau như cắt. Nhưng chắc bà con mình, hy vọng ngày nào đó, không xa, tiếng chuông chùa rơi rơi lại trở về ngân nga, vang vọng trong tâm cảm người con Phật.

Chớ bây giờ thiệt: Nhớ lại những ngôi chùa quê, thời thơ dại từng theo Má đến thăm mà tiếc hoài… Nên không khỏi chép miệng, than thầm:

“Những người muôn năm cũ! Hồn ở đâu bây giờ?”

July 8, 2015

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
stormy  
#55 Posted : Wednesday, August 5, 2015 5:40:35 PM(UTC)
stormy

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 383

Thanks: 396 times
Was thanked: 393 time(s) in 209 post(s)
Điển tích "mọc sừng" và "cắm sừng" từ đâu mà có?


Rất nhiều người dân Việt Nam dùng từ “mọc sừng” hay “cắm sừng” để chỉ người chồng/vợ bị người bạn đời của mình phản bội, ngoại tình. Vậy 2 từ này xuất hiện từ đâu?

Rất nhiều người dân Việt Nam dùng từ “mọc sừng” hay “cắm sừng” để chỉ người chồng/vợ bị người bạn đời của mình phản bội, ngoại tình. Thế nhưng từ “mọc sừng” bắt nguồn từ đâu và nguyên nghĩa là gì không phải ai cũng biết.

Xuất hiện từ thời Pháp thuộc

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ, ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội cho rằng, từ “mọc sừng” xuất hiện ở Việt Nam từ thời Pháp thuộc, được dịch từ tiếng Pháp là Cocu. Đối với Người Pháp, khi chế giễu người đàn ông “mọc sừng” (bị cắm sừng) người ta thường dùng từ “Cocu hay Coucou”. Theo truyền thuyết Âu châu từ xa xưa, chữ “cocu hay cocou” xuất phát từ tiếng Pháp, chỉ con chim coucou, một giống chim không biết làm tổ, chuyên đi đẻ nhờ vào tổ chim khác. Chuyện con coucou đi đẻ ở một ổ khác được người ta hiểu theo cách giống như một người đàn ông bị vợ phản bội, đi quan hệ với một người đàn ông khác. Nghĩa là không phải người ta đến cướp vợ/chồng mà đó là hành động tự nguyện.

GS.TS Ngô Đức Thịnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn văn hóa tín ngưỡng dân gian Việt Nam cho rằng, có những câu nói cửa miệng hàng ngày nhưng rất ít người để ý và biết nguồn gốc nó xuất phát từ đâu. Từ “mọc sừng” cũng là một loại như vậy, có rất nhiều cách lý giải khác nhau về nguồn gốc của từ này, tuy nhiên cách lý giải nào là đúng nhất thì không ai chứng minh được. Có những tài liệu phân tích cũng có lý rằng ngày xưa trong thần thoại Hy Lạp, các vị thần được tái hiện đều có sừng trên đầu, như một biểu trưng của sức mạnh.

Theo các luận cứ đó, ý nghĩa xấu xa của câu “bị cắm sừng” khởi đầu liên quan tới hoàng đế Andromic I Comin xứ Vizantin, nắm quyền trong một thời gian ngắn từ năm 1183 - 1185. Chỉ trong 2 năm trị vì, Andromic đã cai trị dân chúng bằng những biện pháp tàn khốc, trả thù một cách man rợ những người chống đối cũ và rất có biệt tài chinh phục phụ nữ một cách dâm loạn. Nhà vua tống chồng các cô nhân tình vào ngục để dễ bề thỏa chí dục vọng, còn trước cửa nhà họ, cho đặt đầu hươu nai, hoặc thủ cấp động vật có sừng khác mà ông kiếm được trong những dịp đi săn. Từ đó xuất hiện câu “Để người ta cắm sừng lên đầu mình” đồng nghĩa với những nỗi bất hạnh mà các ông chồng kia phải gánh chịu. Tới năm 1185, thất trận, vua bị nhục hình nhổ răng, nhổ tóc, móc lòi một bên mắt, chặt đứt một cánh tay và chết ngày 11/9/1185.

Nhiều giả thuyết khác nhau

Trong văn học, người Hy Lạp, La Mã cổ đại cũng dùng từ “mọc sừng” để chỉ những gã chồng khờ, có vợ ngoại tình mà không biết. Nhà văn Nicétas viết tiểu sử hoàng tử Andronicus có đoạn: “Ngài treo nhiều cặp sừng thú mà ngài săn được trên các cây cột trong nhà để giễu cợt những vị anh hùng bị mọc sừng”. Sách cũng kể rằng: “Cặp sừng đặc biệt đó giống như sừng dê, một con vật được coi là dâm dật nhất trong tất cả các loài thú”. Truyền thuyết cổ Ai Cập cũng kể chuyện về vị thần cai quản thượng giới là Jupiter đã biến ra con bò có sừng để trăng hoa với người đẹp Europe, khiến hoàng hậu thời đó là Pasiphac hạ sinh cho vua Minos một hoàng tử có sừng. Tất cả những truyền thuyết trên, những sự tranh cãi về sự ra đời của chiếc sừng, thật ra, cho đến nay vẫn chưa ngã ngũ.

Trong thế giới của các thần trên đỉnh Olympia, cho tới thế giới trần gian, cặp sừng đã có và sẵn sàng cắm lên trán bất kỳ ai lơ đễnh. Vị hoàng đế được cắm nhiều sừng nhất là Claude, nhà vua thứ ba trong dòng Ceasar ở La Mã. Trong lúc ngài xông pha trận mạc, chinh phục xứ Gaule, vợ của ngài là hoàng hậu Messali hạ sinh được một đứa con trai. Khi trở về, biết chuyện, ông cũng đã xử tử vợ, nhưng cặp sừng trên trán thì vẫn bị chế giễu, không sao nhổ đi được. Sau đó, vua Claude tục huyền với nàng Agrippine, một thiếu phụ chuyên cắm sừng chồng, bà này có đứa con riêng là Néron, bà đã đầu độc vua Claude và đưa Néron lên ngôi thành một bạo chúa. Ngay đại anh hùng Pháp quốc, như Napoleon, khi chiến chinh xa cũng bị hoàng hậu Josephine liên tiếp cho mọc sừng trên đầu nhưng ông vẫn tha thứ.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ, tất cả các giả thuyết đó được đưa ra đều có cơ sở. Còn nguồn gốc từ “mọc sừng” ở Việt Nam chắc chắn là do người Pháp du nhập vào mà có, chứ không xuất phát từ bất cứ một điển tích nào trong nước.

Bị “cắm sừng” là ngu?

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, ở Việt Nam, việc một người đã có gia đình rồi mà ngoại tình là “tội tày trời”, đáng “gọt gáy bôi vôi” thả trôi trên sông nước. Người đàn ông mà bị “cắm sừng” thì bị coi là một người yếu kém, “ngu” vì bị vợ lừa bỏ đi theo trai mà không biết. Những con có sừng như con bò, con trâu, vốn được coi là những con vật ngu ngốc, “ngu như bò”. Dân gian ta cũng vốn ví những người có trí tuệ kém giống như con vật có sừng là trâu, bò. Vì thế, khi nói đến việc đàn ông bị cắm sừng, tức là những người đàn ông trí tuệ kém. Đây là quan niệm dù có những thay đổi nhưng có lẽ xuất phát từ đó mà từ “mọc sừng” được mặc nhiên công nhận gắn cho những người có chồng/vợ ngoại tình. Bản thân những câu chuyện đưa ra lý giải cho từ này cũng chưa có gì chắc chắn là thật, có thể chỉ là hư cấu nhưng ít nhiều đó là những cách lý giải làm thỏa mãn trí tò mò muốn biết của con người.

TS Ngô Đức Thịnh cho biết, giống như chúng ta vẫn nói “sư tử Hà Đông”, rõ ràng địa danh Hà Đông trong câu nói đó là ở Trung Quốc chứ không phải Hà Đông ở Việt Nam, nhưng người ta quen miệng dùng nên nó thành phổ quát. Từ “mọc sừng” có lẽ cũng như vậy, tại sao lại là sừng chứ không phải là bộ phận nào khác? Có lẽ cách lý giải gần gũi với văn hóa người Việt nhất là những con vật được ví như ngu nhất thường có sừng, nên người đàn ông có vợ ngoại tình bị so sánh như con vật có sừng ngu ngốc đó. Mãi sau này, từ “cắm sừng” mới sử dụng cho cả đàn bà. Rất khó để truy nguyên nguồn gốc cặn kẽ, thực sự của từ đó, tùy theo quan niệm của mỗi người, mỗi vùng mà tin vào cách lý giải nào gần gũi với mình nhất. Phong Lâm

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, ngày nay, rất nhiều quan niệm xã hội thay đổi, định kiến về những việc như ngoại tình, có con ngoài giá thú... cũng đã khác dù xã hội lên án, không ủng hộ. Việc người ta sử dụng từ “mọc sừng” khi nói về một người chồng/vợ bị phản bội đa phần là câu cửa miệng, chứ cái hàm nghĩa mắng là ngu dốt, tầm nhìn hạn hẹp, năng lực yếu kém... gần như rất hiếm gặp.

hải ngoại phiếm đàm

Edited by user Wednesday, August 5, 2015 5:42:26 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked stormy for this useful post.
phamlang on 8/9/2015(UTC)
phamlang  
#56 Posted : Sunday, August 9, 2015 3:43:28 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Trốn


Phụ nữ. Xinh đẹp, giỏi giang, dịu dàng, dễ thương, ngọt ngào, trong sáng, thông minh, đáng yêu, giàu có, khiêm tốn và đơn giản như tôi, thường yêu hoa. Có thể bỏ dăm ba tháng đến cả năm để cắm được một bình hoa xiêu vẹo và sặc sỡ đầy “nghệ thuật”, có thể vì một bó hoa to mà hối hận cả nửa đời sau vì lỡ gật đầu với một chàng “không như là mơ”, có thể đem theo một đóa hồng khô suốt bao lần dọn nhà mà quên lửng lấy số phone những chàng hàng xóm duyên dáng...

Tuy vậy, tôi vẫn là một ngoại lệ, vì ngoài những yếu tố trên, tôi còn rất... cá tính. Mỗi khi tôi mua hoa, là cả xóm đều hiểu là tôi vừa “tầm” ra một cái bình cắm hoa mới. Sở thích này có hồi còn nhỏ xíu, ảnh hưởng từ bà ngoại nuôi, bà rất ghét “ba cái hoa hòe hoa sói” nhưng dưới gầm giường đầy những bình hoa từ cũ đến mới, từ đắt tiền đến sứt mẻ, không còn giá trị. Chúng đa phần có hoa văn, kiểu dáng lạ lẫm. Vô cùng tinh tế và “cổ tích” qua lời kể của bà. Sau này bà mất, chúng tôi chôn cất luôn “gia tài” của bà. Mỗi khi đi đâu đó thấy những bình, lọ hoa đẹp, lạ tôi thường mua về như để tưởng nhớ đến bà. Sẵn đó ghé ngang đường mua vài ba cành hồng cắm vào cái bình mới “mở hàng”. Đó cũng có thể là lần cuối nó được thực hiện thiên chức “chân chính” của mình, trong nhà tôi. Cứ vậy mà ghiền lúc nào không hay, đến khi nhìn lại thì ở khắp nhà, trên bàn thờ, trong tủ kính, phòng ngủ, lan can, nhà bếp đã đầy những bình hoa được dùng để cắm... đũa, chổi lông gà, viết, móc đồ trang sức, để nón, trồng cỏ, làm ly hương hoặc ly lẫn bình uống nước... mới hết hồn!

Tôi biết yêu rất trễ, tận sau hai mối tình đầu. Đó cũng là mối tình cuối cùng, đến nay, với tôi. Gặp nhau trong một tiệm hoa. Anh mua một giỏ lan, tôi mua một đóa hồng. Anh nói biết và nhận ra tôi qua fb, nói tôi xinh đẹp, duyên dáng, dịu dàng hơn trên mạng. Thế là tôi ngã, không cần ai xô đẩy. Sau vài tháng mặn nồng, chúng tôi chia tay vì lý do “không hợp nhau”. Có lẽ vì, kẻ yêu hoa, kẻ lại yêu... bình. Tôi đã thất tình rất lâu sau đó và nguôi ngoai nhờ những... chiếc bình.

Đàn ông, dĩ nhiên không thể so sánh với những chiếc bình sứ, nhựa, thủy tinh, inox mà tôi sở hữu. Chúng ngồi yên và luôn trong vòng kiểm soát, trừ khi bị vỡ hoặc bị trộm. Còn đàn ông, họ luôn di chuyển ngay cả khi ngồi một chỗ, có thể “vỡ” và bị “trộm” bất cứ lúc nào. Cái quan trọng là, muốn “vứt” họ đi, quả tình là một việc làm rất khó khăn và... nguy hiểm.


Hàng ngày, có vài trăm vụ cướp hiếp giết người tình mà hung thủ 3/4 là đàn ông. Hàng ngày, cả triệu đàn ông điên cuồng trên Internet. Họ đi tìm sự thật? Không! Họ ầm ĩ lên để thể hiện về sự từng trải và có thể, họ đang quá rảnh trong cái thời buổi họ cho là suy thoái. Marlboro dùng hình ảnh một người đàn ông một mình một ngựa giong ruổi giữa sa mạc hoang vắng nóng bỏng, như là hình ảnh người đàn ông đích thực để quảng cáo thuốc lá. Hình ảnh nầy trái ngược với hình ảnh, hàng ngày, cái bàn nhậu ồn ào mạnh ai nấy chém gió rồi ra về và yên tâm rằng mình là đàn ông trong cái sự mê muội hoang tưởng.

Tôi yêu đàn ông. Nhưng đôi lúc, tôi nghĩ, nên yêu những chiếc bình hơn. Chiếc bình không có hoa thì có thể dùng vào việc linh tinh khác. Còn đàn ông không có “ruột” thì...

Người ta luôn mặc định đàn ông là “phái mạnh”, khoác lên mình vẻ mạnh mẽ nam tính, kiên cường, lạnh lùng, thậm chí vô cảm. Tuy nhiên điều này đã không còn đúng hiện nay. Rất nhiều đàn ông bị biến thành “phái yếu” nhưng rất may, họ vẫn giữ nguyên sự... vô cảm của mình!!!


o O o


Chiều Sài Gòn, trong căn hộ nhỏ ở tầng 6 một khu chúng cư cũ kỹ đang đung đưa theo từng đợt gió. Một cô gái xinh đẹp, giỏi giang, dịu dàng, dễ thương, ngọt ngào, trong sáng, thông minh, đáng yêu, khiêm tốn và đơn giản đang đưa đẩy chân trên võng, nhấn gửi mail trêu một anh bạn :


“Viết thư cho anh...

Viết xong rồi”


Nàng mỉm cười, chắc mẩm chàng sẽ không bao giờ hồi âm. Nếu có, cũng sẽ chỉ là hai từ “hehe” quen thuộc. Không ngờ phone “pin” một cái, ra “câu trả lời” dài sọc:

“dear em!

nội dung thư của em để lại trong anh nhiều ẩn ức và lòng trắc ẩn thì đang trào dâng. Vì vậy, anh nghĩ là mình nên phản hồi lại em những xúc cảm trong anh.

công ty anh đang mưa. ngoài cửa sổ, mấy giọt nước đập vào kính chắn. vỡ vụn. dưới tòa tháp văn phòng xanh như một tửu điểm, mấy chiếc taxi rệu rã ngược xuôi. bỗng dưng anh thèm rượu...

bao giờ anh cũng thích đối diện nỗi cô đơn của mình bằng một ly whisky. thế rồi, anh thấy thẻ tín dụng của mình đang âm. nó mơ hồ như trận mưa vậy. còn sự thực là, tháng nào nhà băng cũng gửi trát đòi lãi lẫn vốn...

em có sẵn lòng ăn với anh một miếng rựa mận(*) ở cống quỳnh và đối diện với nỗi cô đơn của chúng ta bằng một ly rượu đế không?
anh sẽ nói với em về cái bọn ngân hàng lúc nào cũng rình rập, phủ xuống đời người như những trận mưa...

đó, chuyện chỉ có vậy. đừng ngạc nhiên khi sau dấu chấm câu anh không viết hoa. anh bắt chước đám nhà văn đấy. anh chỉ viết hoa hai chữ anh rất thích. đó là: CẦY TƠ

cảm ơn đã viết thư cho anh!

Hahahahahahahaha”

Nàng bỗng bật dậy, hốt hoảng vì đã sớm quên. Đàn ông, không chỉ nguy hiểm với phụ nữ, mà còn cả với những người bạn của phụ nữ. Không chỉ hoa, lọ hoa mà cả chó.

Căn phòng nghiêng hẳn, trái tim nàng rớt ra khỏi ngực, lăn về phía mặt trời lặn. Những chiếc bình nghiêng theo, cũng lăn về phía đó.

Du Uyen

(*) rựa mận: một món thịt cầy

Edited by user Sunday, August 9, 2015 3:44:18 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#57 Posted : Wednesday, September 2, 2015 5:37:27 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

“Thượng hạ giai cẩu”!

Đoàn Xuân Thu



Thưa Tây nó thường coi con Chó là một thành viên trong gia đình. Nhưng mình hổng biết nó ám chỉ đứa nào trong gia đình của nó?!

Còn Tàu thì nói: “Khuyển Mã tri tình” nghĩa là: Chó và Ngựa coi vậy nhưng tụi nó sống có tình, có nghĩa lắm đa!

Còn Việt Nam mình, sính thơ, con gì cũng ‘văng’ ra thơ được hết ráo.

Đây là một bài thơ ngợi khen con Chó và đá ‘đểu’ con Vợ nhà!

“Hôm qua anh đi tỉnh về. Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều. Con Vợ chẳng nói một điều! Chỉ con Chó Mực vẫy liều cái đuôi!”

Thấy chưa? Chó không bao giờ dám ‘phê’ ông chủ nó ‘’rậm rật’’ như Chó tháng Bảy... vì nó cũng vậy mà thôi.

Ðó là đức tính của con Chó. Tuy nhiên đời mà... Con gì, kể cả con Người cũng vậy! Có tánh tốt và có tánh xấu. Không ai hoàn hảo, toàn bích bao giờ!

Thưa tui, vốn đầu môi chót lưỡi, khen con Chó một phát... rồi cũng chê nó một phát... cho nó công bình!.

Như bà con đã biết, hiện thời, bọn cán bộ có chức, có quyền, có tiền trong nước, cái con gì nó cũng ăn, nam nữ gì cũng nhậu. Thịt Chó lẫn thịt Mèo; đâu, xa tận Nhà Bè, Hố Nai gì đi nữa, nếu nấu ngon là tìm đến nơi... xơi tất.

Thịt Chó thì gọi là nai đồng quê; còn thịt Mèo thì gọi là tiểu hổ. Toàn là thịt rừng không hà, ăn như thế mới là đại gia chớ!

Nên quán nhậu ì xèo!! Hai nữ õng ẹo gọi anh bồi: “Anh ơi, cho hai đĩa thịt tiểu hổ nhé!” Hai anh thì: “Anh ơi, cho hai đĩa thịt chó nhé!”

Anh bồi vội hướng vào bếp, la lớn: “Hai Mèo mới vô, hai Chó mới vào!”

Thưangười Việt mình có nuôi Chó nhưng chắc chắn không yêu Chó như Tây. Không ai quen ôm và nựng Chó, coi Chó là bạn ‘hiền’.

Không những vậy, do tính xấu của Chó được con người biết đến nhiều, nên người ta khinh và ghét Chó thậm tệ, đem Chó ra, mà chửi kẻ mình ghét cay ghét đắng!

Lúc bình thường, giữa Chó với nhau, chúng đùa giỡn,thân thiện như bạn bè, nhưng khi có ‘miếng đỉnh chung’, chúng giành và cắn nhau sống chết. Ðó là tính phản phúc, tráo trở, lật lọng.

Khi trong xóm có một con Chó sủa, thì cả xóm... Chó đều sủa theo, Chó hùa. Ðó là tính: nhiều chuyện, a dua, xu hướng.

Khi chúng đã ghét một ai, thì ghét suốt đời, bất cứ giờ nào gặp mặt, chúng cũng sủa tới khi nào khuất mặt mới thôi. Ðó là tính: nhỏ nhặt, thù dai.

Ngoài đường, Chó chỉ dữ khi có chủ bên cạnh, còn như không có chủ thì 10 con cụp đuôi hết 10. Ðó là tính: dựa hơi, cậy thế.

Chửi nhau, không có gì nặng nề hơn chữ: “Ðồ chó!. “Ðồ chó đểu! Chó ghẻ! Chó chết! Chó má! Chó săn! Chó hùa! Ðồ trâu sinh chó đẻ!

Còn chửi vợ là: lòng lang dạ sói (cũng là Chó) là chuẩn bị ra Tòa ly dị đi em!

Rồi kết luận một câu làm loài Chó rất lấy làm tự ái là: “Làm người thì khó, làm chó thì dễ”.

Xưa nhà thơ bất khuất Cao Bá Quát đã chửi Chó mắng Mèo.

“Tiền thần bất tri/ Hậu thần bất tri/ Trung gian thần tri/ Ðản kiến: Thượng bàn hô cẩu!/ Hạ bàn hô cẩu!/ Thượng hạ giai cẩu/ Lưỡng tương đấu ẩu/ Thần gián bất đắc/ Thần kiến thế nguy/ Thần hoảng thần tẩu’’

(Trước thế nào, Thần không biết; Sau thế nào, Thần không biết; Giữa chừng thì Thần biết! Thấy: Bàn trên hô: “Chó!”; bàn dưới cũng hô:“Chó!” Trên dưới đều Chó. Rồi hai bên đánh nhau. Thần can không được. Thần thấy thế nguy, thần ‘tẩu’.)

Rồi ông Ích Khiêm, một quan võ, đã chửi mắng bọn quan văn là một lũ Chó, toàn ăn hại.

Một bữa, ông thết tiệc, mời các quan đại thần văn, võ đến xơi. Bàn trên cỗ dưới đều ăn toàn là thịt Chó cả. Có người không ăn thịt Chó, hỏi món khác, ông Ích Khiêm xoa tay cười, đáp lại: “Xin lỗi, trên Chó dưới Chó, tất cả đều là Chó, thành không có gì khác nữa!”

Thưacòn chuyện bây giờ: “Nhà em có con Chó đen, người lạ nó cắn, người quen nó mừng!”

Nên bà con mình đừng có ngạc nhiên khi thấy mấy chú bưu tá ăn mặc như phi hành gia của Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ, NASA, vậy. Quần áo phủ kín mít hết trơn! Ðầu đội nón an toàn có kiếng che con mắt! Vì tụi nó sợ bị Chó cắn đó bà con ơi.

Theo ‘’National Dog Bite Prevention Week’’ thì bên Mỹ có “gần 3500 người đưa thư bị Chó cắn chỉ riêng năm 2003”.

Mùa Giáng Sinh năm 1989, Floyd Bertran Sterling, đi đưa thư, được chủ nhà thân ái mở cửa trao tặng một chai rượu whiskey. Chú Chó cũng lẹ chân nhào ra. Tay bưu tá phát hoảng, lật đật móc súng, tặng lại chú Chó săn giống Ðức này mấy viên kẹo đồng.

Vác chiếu ra Tòa, Tòa hỏi: ‘’Sao lại nỡ lòng nào bắn con Chó chết ngắc vậy?’’

“Con Chó nầy tính cắn tui nhiều lần lắm rồi! Thưa Tòa!”

Ông Tòa lục hồ sơ tư pháp lý lịch của chú em, thì thấy tay phát thơ nầy chẳng phải tay vừa. Y đã từng đánh đập vợ con; từng trộm cắp; từng mang vũ khí bất hợp pháp v.v...

Ong Tòa cho chú em 6 tháng ngồi đếm lịch... về tội tàn ác với súc vật.


Sở Bưu Ðiện Hoa Kỳ tốn 685 đô la tiền chôn con Chó, tức quá, nắm đầu chú em đuổi luôn.

Thưachuyện bên Mỹ, giờ mình tới chuyện bên Tàu mà Tàu hồi xưa nhe!


“Chó đâu có sủa lỗ không. Hổng thằng ăn trộm cũng ông ăn mày”


Thấy ăn mày là nó sủa, nó ào ra, nó táp hà. Ðể bảo vệ thân ngà vóc ngọc của mình, bọn Cái Bang, tức hành khất, tức ăn mày, tức ăn xin, võ trang “Ðả cẩu bổng tức Gậy đánh Chó!” để phòng khi bị Chó dữ tấn công; nếu không thì nó cắn cho thấy mẹ!

(Cái Bang là một Bang hội thành lập từ đời nhà Tống. Người nghĩa khí gia nhập Cái Bang phải đem của cải chia hết cho mọi người, rồi sống bằng nghề hành khất. Ðứng đầu là Bang Chủ, 8 túi là ‘lon’ cao nhứt!


Kết quả là Ðả cẩu bổng pháp tức cách đánh Chó, do kinh nghiệm thực tế chiến trường... mà đúc kết thành bí kíp ma công, theo cách cắt nghĩa của Sư phụ viết truyện kiếm hiệp, Kim Dung.

Hoàng Dung, con gái của Ðông Tà Hoàng Dược Sư, nữ bang chủ duy nhất của Cái Bang, tinh thông đả cẩu bổng pháp, có 36 chiêu biến hóa khôn lường, xuất thần nhập hóa.

Khi nhậm chức nữ Bang Chủ ăn mày, Hoàng Dung phải dùng chiêu này đánh 4 vị trưởng lão, bất phục tùng, toan đảo chánh, làm bọn họ đau quá kêu ‘gâu gâu’... xin đầu hàng, thần phục)


Thưa còn tui biết rằng Chó và Mèo xưa ở trong rừng, rồi con người mới thuần hóa, đem về nuôi trong nhà. Mèo thì bắt chuột. Chó thì giữ nhà, đi săn, chăn cừu, đi bắn vịt ‘giời’...

So sánh giữa Chó và Mèo, ai cũng biết Chó thông minh hơn Mèo... “Con Mèo trèo lên cây vông, con Chó đứng dưới ngó ‘mông’ con mèo” Thiệt hết biết! Ngó đâu sao mầy hổng ngó hả con Ki Ki?

Thưa ai yêu Chó thì yêu, tui lại yêu Mèo... Nhứt là Mèo có hai chưn nữa đó bà con ơi! Có một sự thật rất thú vị, mà các nhà khoa học đã chứng minh, đó là những người yêu Mèo thường thông minh hơn những người yêu Chó. Ðó chính là lý do làm tui yêu Mèo hơn yêu Chó!


Ðể kết bài nầy, tui xin kể đến một người, gan cùng mình, dám so sánh ‘em yêu’ của mình với con Chó... mà là con Chó ốm nữa...


(Ngộ thay ‘em’ yêu hổng có giận mà còn nói thiệt là thơ cách tân nha!)

Chẳng qua, nhà thơ Nguyên Sa, từng đi học bên Tây nhưng lại làm bài thơ về Nga.

“Hôm nay Nga buồn như một con Chó ốm/ Như con Mèo ngái ngủ trên tay anh...”

Nguyên Sa dám làm như vậy nhưng kêu tui bắt chước ổng: “Dà, thú thiệt! Em hổng dám đâu mấy huynh ơi!”

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#58 Posted : Saturday, September 12, 2015 5:52:24 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
ƠN ĐỜI CHỨA CHAN
Tràm Cà Mâu


Tuổi già, buổi sáng thức dậy, nghe gân cốt đau rêm mà mừng, vì biết mình còn sống. Đại ý viết như vậy, trong một cuốn sách Mỹ mà ông Tư đọc được, làm ông thấm thía cái hạnh phúc lâng lâng của từng sớm mai khi vừa tỉnh giấc. Bạn bè cùng trang lứa với ông, nhiều người đã về với Diêm Vương khi còn trẻ măng, vì cuộc tương tàn khốc liệt dài ngày trên quê hương. Nhiều người khác gục ngã trong trại tù vì đói khát, bệnh tật, mồ hoang vùi cạn. Một số khác nữa, vì khao khát tự do mà chôn thân dưới đáy biển, hoặc chết khô giữa rừng sâu. Không ít người còn lại, tử thần cũng đã đón mời vì bạo bệnh, khi tuổi năm sáu mươi. Phần ông vẫn còn dai dẳng sống sót cũng là ân huệ trời ban, không vui hưởng tháng ngày, cũng uổng lắm sao!

Ý nghĩ đó làm ông mỉm cười sung sướng. Ông vẫn trùm thân trong chăn ấm. Tội chi mà dậy sớm cho mệt. Mỗi khi nghe tiếng khởi động máy xe từ hàng xóm vọng qua trong buổi tinh sương, ông càng vui sướng hơn, vì không còn phải vùng dậy giữa đêm đen, lặn lội đi kiếm cơm hàng ngày như mấy gã trẻ tuổi ở cạnh nhà. Về hưu rồi, mỗi tuần hưởng bảy ngày chủ nhật, bảy ngày thảnh thơi. Hết áp lực của công việc hàng ngày, không phải lo lắng bị thất nghiệp khi kinh tế khủng hoảng xuống dốc. Khoẻ re.

Cứ nằm trùm chăn ấm nghe nhạc mềm văng vẳng ru đưa, phát ra từ cái radio nhỏ, có khi ông chợp thêm được một giấc ngủ ngắn ngon lành. Ngủ chán thì dậy. Bước xuống giường, dù khớp xương sưng đau, đi khập khễnh ông cũng thầm cám ơn cái chân chưa liệt, còn lê lết được. Chưa phải nằm dán lưng vào giường như một số người bất hạnh khác. Những kẻ này mà nhích được vài bước cà thọt như ông, thì chắc họ cũng sướng rân người. Ông thầm bảo, có thêm được một ngày để sống, để vui, để yêu đời. Bệnh hoạn chút chút, thì phải mừng, chứ đừng có nhăn nhó than vãn ỉ ôi.

Mỗi khi đánh răng rửa mặt, ông lầm thầm: “Mình sướng như vua rồi, có nước máy tinh khiết để dùng. Giờ nầy, cả thế giới, có hơn một tỉ người thiếu nước để nấu ăn, để tắm giặt và nhiều tỉ người khác không có nước sạch, phải uống nước dơ bẩn.” Dù cái bàn chải đánh răng đang ngọ ngoạy trong hàm, ông cũng ư ử hát ca. Khi áp cái khăn tẩm đầy nước lên mặt, ông cảm được cái mát lạnh và niềm sung sướng chứa chan đang lan tỏa chạy khắp người. Ông biết đang được ân sủng của trời đất ban cho trong tuổi già. Ông cứ nhớ mãi thời đi tù Cộng Sản, mỗi ngày chỉ có được một lon nước chừng một lít, để rửa ráy tắm giặt. Chừng đó thôi, mà cũng xong việc. Khi ấy, thấm cái khăn ướt lau khắp người, nghe mát rượi, đã đời, và khi còn lại một phần nước cặn đen ngòm dưới đáy lon, cầm đổ lên đỉnh đầu, sướng đến rên lên được.

Ngồi lên cái bồn cầu êm ái, nhà cầu sạch sẽ, trắng toát, thơm tho, không vướng một chút mùi vị hôi hám, đèn đóm lại sáng trưng, có nhạc văng vẳng từ radio, ông cầm cuốn sách thưởng thức chữ nghĩa của “thánh hiền”, tư tưởng của Đông Tây. Không bao giờ ông quên cùng giờ phút nầy, có hơn ba tỉ nhân loại không có cầu tiêu để làm cái chuyện khoái lạc thứ tư. Có người phải ra đồng lồng lộng gió, mà làm chuyện “nhất quận công, nhì ị đồng”. Phải gấp gấp cho xong chuyện, không nhẩn nha được, vì hai tay phải múa lia lịa hất ra đàng sau, để xua đuồi lũ ruồi đồng đang vo ve “oanh tạc”. Xong việc, may mắn lắm thì có lá chuối khô mà lau chùi, còn không thì dùng đất cày, đá cục, nắm cỏ, que nhánh cây tươi, khô. Ông cứ nhớ thời làm việc ở quận lị, chỉ có nhà tiêu lộ thiên, hai tấm ván bắt ngang qua một hầm cầu lộ thiên, nắng xông hơi phân người lên nóng hừng hực rát cả mặt, bên dưới giòi bọ lúc nhúc lổm nhổm làm thành một tấm màn trắng-ngà chuyển động. Có con gà ở đáy hầm, nó đang thưởng thức ngon lành món giòi bọ, thấy ông xuất hiện bất thần, sợ hãi hoảng hốt đập cánh bay lên kêu quang quác và vung vãi ‘ám khí’ khắp trong không gian, làm ông cũng khiếp viá, ôm đầu phóng chạy dài. Nghĩ đến chừng đó thôi là ông đủ cảm được cái sung sướng đang có ngay bây giờ. Ngồi thật lâu, đọc cho xong mấy trang sách, mới nhởn nhơ rời phòng.

Ông Tư tự đãi một bình trà nóng, một ly cà phê thơm, rồi nấu nồi cháo gạo tẻ đặc rền ăn với cá kho mặn. Dọn ra bàn, đèn vàng soi một khoảng ấm cúng. Ông thong thả vừa hớp nhâm nhi, vừa ăn từng muỗng cháo, chất gạo béo tạo vị giác đi qua trong cổ họng. Ông lầm thầm:“Ngon, cao lương mỹ vị cũng không bằng”. Ông thường ngâm nga hai câu thơ :

“Vợ cũ, chó già, tô cháo nóng.

Ba nguồn thân thiết dạt dào thương”.


Mắt ông dán vào trang thơ đang cầm trên tay, gật gù thưởng thức ý lời hoa gấm. Ông trầm mình vào những giòng thơ, tim xao xuyến xúc động mênh mang. Thỉnh thoảng ông dừng lại, và nói nhỏ cho chính ông nghe: “Tiên trên trời cũng chỉ sướng và thong dong như thế này là cùng”. Ông nhớ đến cái thời “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa”, buổi sáng bụng đói meo, vác cuốc đi làm lao động tay chân nặng nhọc, ráng uống một bát nước lã để cầm hơi và đánh lừa cái bụng đang sôi sồn sột. Bây giờ được như thế nầy, phải biết cám ơn ân sủng của trời ban cho. Biết bao nhiêu tỉ người trên thế giới này mơ ước được có một buổi sáng thảnh thơi và no ấm như ông mà không được nhỉ?

Nhìn xuyên qua cửa phòng ngủ, ông thấy bà vợ nằm ngủ giấc yên bình, lòng ông dạt dào niềm thương. Bà đã cùng ông mấy mươi năm dắt dìu nhau trong phong ba bão táp của giòng đời nghiệt ngã. Đã chia sẻ ngọt ngào cũng như đắng cay của một thời khói lửa điên đảo. Giờ này, may mắn vẫn còn có nhau trong cuộc đời, thương yêu thắm thiết, nhường nhịn nâng đỡ chăm sóc ngày đêm. Không như những cặp vợ chồng già khác, cứ lục đục gây gỗ nhau, tranh thắng thua từng li từng tí, làm mất hạnh phúc gia đình. Ông thương bà biết an phận thủ thường, không đứng núi ầy trông qua núi nọ. Ông thấy bà hiền lành và có trái tim đẹp như thánh nữ. Ông muốn vào phòng, hôn bà lên trán, nhưng ngại làm vợ mất giấc ngủ ngon buổi sáng. Ông lại cám ơn trời đã đem bà buộc vào đời ông. Ông cười và nhớ câu nói của một nhà văn nào đó: “Đời sống không thể thiếu đàn bà, nhưng sống được với một người đàn bà không phải dễ.”

Ông Tư ra vườn. một mảnh đất nhỏ trồng vài cây hoa, hương thơm thoang thoảng, có tiếng chim kêu đâu đó líu lo vọng lại. Mấy đoá hoa sặc sỡ còn đọng sương đêm lóng lánh. Nắng mai ấm áp phả lên da thịt ông, tạo thành một cảm giác dịu dàng, êm ái. Ông vươn vai, xoay người trong thế thể dục chậm, xương sống được thư giãn kêu răng rắc, đã đời. Hít thở và phất tay chừng mười lăm phút cho máu huyết lưu thông. Loại thể dục nầy đã giúp ông bớt được những cảm mạo thông thường, ông tin vậy.

Ông Tư thay áo quần để đi ra đường. Cầm cái áo lành lặn bằng vải tốt trên tay, ông thường nhớ đến thời đi tù, khâu bao cát làm áo, rách tả tơi, không đủ che gió lạnh thấu xương của núi rừng. Thế mà cũng có nhiều tù nhân khéo tay và nghịch ngợm, khâu bao cát thành bộ đồ lớn, đủ ba mảnh, và làm luôn cả cái “cà vạt”, mang vào trông cũng sang trọng như đi ăn đám cưới. Nhớ lại thời đó mà rùng mình. Còn sống sót, và đến được đất nước tự do này, cũng là một điều mầu nhiệm lạ lùng. Ông Tư đi ra đường, xe cộ vùn vụt qua lại liên miên. Lề đường rộng, phẳng phiu, sạch sẽ. Bên kia là giao điểm của hai xa lộ, các nhánh cầu cao đan uốn éo chồng chất lên nhau, vòng vèo trên không, như những nùi rối. Ông Tư thầm cám ơn tiền nhân đã đổ sức lực, mồ hôi, tài nguyên khai phá và xây dựng nên những tiện nghi nầy cho ông nhảy xổm vào hưởng dụng, mà không ai có một lời ganh ghét, tị hiềm.

Ông, từ một trong những nước lạc hậu nhất của hành tinh nầy, bị chính quyền cuả xứ ông bạc đãi, kỳ thị, kềm cặp và lấy hết các tự do cơ bản. Đến đất nước này, ông được bình đẳng, có công ăn việc làm hợp với khả năng, con cái ông được đến trường, học hành thành tài, có nghề nghiệp vững chắc và sống với mức trung lưu. Ông cảm thấy còn nợ quê hương mới nầy quá nhiều thứ, từ tinh thần đến vật chất, mà biết không bao giờ trả lại được một phần nhỏ nào. Ông Tư vừa đi bộ vừa ca hát nho nhỏ.

Một người cảnh sát cao lớn dềnh dàng đi ngược đường chào ông, ông chào lại bằng lời cám ơn đã giữ gìn an ninh cho dân chúng sinh sống. Người cảnh sát cười và nói đó là bổn phận, vì lương bổng của ông ấy được trả bằng thuế của dân chúng, trong đó có ông. Ông Tư thấy trong lòng bình an, ông không làm điều gì phạm pháp, thì không sợ ai cả. Ông đọc trong báo, thấy có những xứ, dù không làm gì sai quấy cả, cũng bị cảnh sát giao thông chận lại đòi tiền, nếu không cho tiền, thì bị quy kết đủ thứ tội mà mình không có.

Nắng chiếu hoe vàng cả dãy phố của một ngày thu, ông Tư bước đi mà lòng rộn rã. Gặp ai cũng chào, cười vui vẻ. Nghe ông chào hỏi nồng nhiệt, mọi người đều vui theo. Thấy một ông cụ mặt mày đăm đăm rầu rĩ đi ngược đường, ông Tư lớn tiếng:

“Chào cụ? Có mạnh khỏe không? Hôm nay trời nắng đẹp quá!” Ông cụ trả lời qua loa: “Tàm tạm, chưa chết! Chán cái mớ đời.” Ông Tư nói to: “Việc chi mà chán đời cho mệt cụ ơi. Chưa chết là vui lắm rồi. Cụ có biết là chúng ta đang sung sướng phước hạnh, tội chi phí phạm thời gian để buồn nản?” Ông cụ thở dài: “Ai cũng có nhiều việc âu lo! Đời đâu có giản dị! À, nầy, mà hình như ông đau chân, bước đi không được bình thường? Thế thì vui nỗi gì? ” Ông Tư cười lớn: “Vâng, tôi đau chân, nhờ đau chân mà tôi thấy được niềm vui hôm nay lớn hơn, vì còn đi được, bước được, chứ chưa phải nằm nhà. Cụ ơi, nếu lo âu mà giải quyết được những khó khăn, thì nên lo. Nhưng nếu lo âu, mà không giải quyết chi được, thì hãy vui lên, cho đỡ phí phạm ngày tháng trời cho” Ông cụ già lắc đầu bỏ đi.

Ông Tư xà vào ngồi trên ghế đá mát lạnh của công viên dưới tàng cây có bóng nắng lung linh. Nhìn bọn trẻ con chơi đùa la hét lăn lộn trên bãi cát, ông vui lây với cái hồn nhiên của chúng. Bên kia đồi cỏ, có đôi nam nữ nằm dưới gốc cây, kê đầu lên tay nhau, tóc đổ dài óng ánh, thỉnh thoảng vang tiếng cười rúc rích. Đất nước nầy ấm no và thanh bình quá, sao có nhiều người còn kêu ca đời sống khó khăn? Phải chăng những kẻ này chưa biết an phận, muốn được nhiều hơn điều đang có, đang đủ. Không thấy được phước hạnh là lỗi tại họ. Ông dong tay bắt vài tấm lá rơi đang quay cuồng trong gió và lấy bút ghi lên mặt lá mấy giòng thơ vừa thoáng qua trong trí để ca ngợi cuộc đời. Thấy bãi cỏ êm mát, ông nằm dài, những vòng tròn sáng màu vàng rải rắc trên mgười ông. Gió hiu hiu mát từ hồ nước vờn qua làm mơn trớn thịt da. Ông Tư rút từ túi quần một cuốn sách nhỏ có nhan đề “14 ngàn điều làm nên hạnh phúc”. Tác giả tập sách nhỏ nầy, thấy đâu đâu cũng là hạnh phúc tràn đầy. Vấn đề là cảm nhận được cái sung sướng, cái hạnh phúc đang có. Từ việc đặt chân lên một tấm thảm mềm êm ái, đến việc cắn một trái ngọt chín mọng trong miệng, đến mơ mộng được hát trên bục một hộp đêm, nghe một lời nói dịu dàng yêu thương…

Hạnh phúc và sung sướng cảm nhận được từ những điều rất nhỏ nhặt, đơn sơ, tầm thường nhất trong sinh hoạt hàng ngày. Không cần phải là ôm chặt người yêu trong vòng tay, cũng chẳng phải vật nhau lăn lộn trên giường, cũng không cần đến việc cầm trong tay cái vé số trúng độc đắc, hoặc làm chủ được một tòa lâu đài sang trọng… Ông nghĩ, chắc sẽ có người cho tác giả tập sách nầy là kẻ “lạc quan tếu”. Nhưng thà lạc quan tếu hơn là bi quan.

Đời nầy, có nhiều người đắm mình trong hạnh phúc, mà cứ tưởng đang ngụp lặn trong bể khổ. Hoặc đang được phước hạnh mà không biết và xem thường, chỉ khi mất đi, hay đã trôi qua, mới biết, thì đã quá muộn màng.

Nắng đã xông hơi nồng nóng, ông Tư đón chuyến xe buýt ra về. Cái vé xe cho người già rẻ rề, chỉ bằng một phần ba vé bình thường. Ông nói lời cám ơn tài xế, và thấy mang ơn những người cùng đi xe công cộng nầy, vì xem như họ đã gián tiếp gánh một phần tiền vé cho ông.

Về nhà, bà Tư đã dọn sẵn cơm trưa, mời ông rửa ráy cho sạch sẽ mà ra ăn. Thấy ly nước chanh muối, ông cầm uống, chất nước ngọt ngào mằn mặn chua chua, ngon lành đi qua cổ họng. Ông nhìn vợ với ánh mắt thương yêu và nói lời cám ơn cho bà vui. Chưa ăn, mà thấy bát canh bông bí nấu tôm đã biết ngon. Những món ăn thanh đạm này, với ông, còn ngon hơn sơn hào hải vị.

Ăn xong, còn chút cơm thừa, bà Tư bỏ vào chén, cất vô tủ lạnh, không dám đổ đi, vì sợ phí phạm của trời. Bà nhắc câu nói của ông: “Ngay giờ khắc nầy, trên thế giới có hơn năm trăm triệu người đang đói rã, không có một miếng gì đề ăn, và có hơn vài tỉ người ăn chưa no bụng, và nhiều tỉ người khác quần quật ngày đêm, cũng chỉ mong có đủ no mà thôi.” Đã từng đói, nên ông bà không dám phí phạm thức ăn.

Ông Tư mừng vì ăn còn thấy ngon miệng, không như một số người khác, ăn gì cũng như nhai đất sét, không muốn nuốt, vì nhạt miệng, mất vị giác. Một số người khác còn tệ hại hơn nữa, họ không còn ăn bằng miệng được, mà ăn bằng bụng, nhờ ống dẫn thức ăn nối với dạ dày, như đổ xăng cho xe hơi.

Ông Tư ngồi vào bàn mở máy vi tính lướt mau tin tức thế giới biến động. Đôi khi thấy gía thị trường chứng khoán tụt dốc xuống thấp, làm nhiều nhà bình luận lo ngại. Nhưng ông Tư cười, ông chẳng thèm để ý, không cần quan ngại chi cả. Chứng khoán lên hay xuống, cũng thế thôi. Ông có lo ngại hay quan tâm cũng chẳng thay đổi được gì. Với số tiền hưu khiêm tốn, và cách ăn tiêu trong khả năng tài chánh, ông bà Tư chưa bao giờ thấy thiếu thốn cái gì. Có một ông bạn khoe rằng nay đã thành triệu phú. Bà Tư đùa và hỏi, triệu phú thì khác người không là triệu phú cái gì? Ông bạn lúng túng ấp úng không biết phải trả lời ra sao. Nhưng ông bà Tư chắc chắn rằng, họ ít tiền, nhưng được sung sướng, đầy đủ hơn nhiều người giàu triệu phú khác.

Ông Tư rà mắt qua các tin tức và các biến cố mới nhất. Thật là tuyệt diệu và thần kỳ. Chuyện vừa xảy trong giờ trước, đã được tường thuật ngay. Dạo một vòng tin tức xong, ông quay qua mở vi-thư của bạn bè. Có những người bạn xa cách hàng ngàn dặm, mấy chục năm nay chưa gặp lại nhau, mà thư từ qua lại liên miên, tưởng như gần gũi trong gang tấc. Tha hồ hàn huyên tâm sự. Tình cảm qua lại thân thiết chứa chan. Nhờ máy vi-tính, khi viết, tha hồ bôi xoá tẩy sửa lung tung, mà không cần phải xé tờ nầy, viết lại tờ kia, vô cùng tiện lợi. Thư viết xong, chỉ cần một cái nhấp con chuột, bạn ông nhận được ngay tức thì. Không cần phải nhờ bưu điện chuyển đi có khi cả tuần mới đến. Hàng chục lá thư của bạn bè khắp nơi trên thế giới chuyển đến ông đủ điều hay, lạ, nhiều bài thuốc hiệu nghiệm, trăm bản nhạc du dương, ngàn hình ảnh tuyệt vời của các thắng cảnh thiên nhiên, các đoạn phim ngắn đủ thể loại của nhiều vấn đề khác nhau. Ông cám ơn khoa học kỹ thuật tiến bộ, đem thế giới mênh mông lại gần gũi trong không gian và cả thời gian.

Mỗi khi nghe tin một người già bệnh hoạn qua đời, ông Tư mừng cho họ thoát được thời gian đau yếu sống không chất lượng. Nhiều người nằm liệt vài ba năm, không sống, không chết. Còn có những kẻ phải cưa tay cưa chân. Ông vẫn thường mong sau này, nếu được chết, thì chết mau chóng, yên lành, khỏi qua thời gian bệnh hoạn lâu ngày.

Có một bạn già mỉa mai, cho ông Tư là “kẻ tự sướng” ông chỉ cười và nói : “Thà tự sướng hơn là tự khổ”

Ông Tư thường nghĩ rằng, ông đã và đang được quá nhiều phước hạnh của trời ban, nhiều ân nghĩa của nhân loại, xã hội, nhiều tình thương của gia đình, bạn bè, người quen và cả chưa quen. Ông thấy sung sướng hạnh phúc. Ông tội nghiệp cho những người suốt đời than van, nắng không ưa, mưa không chịu, và tự bôi đen ngày tháng đẹp đẽ của họ, và dìm đời vào bất mãn, khổ đau./.

Tràm Cà Mau

Edited by user Saturday, March 26, 2016 1:17:36 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#59 Posted : Tuesday, September 15, 2015 5:02:07 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Tiếng Việt mới (Truyện vui mà buồn)


Đồng-hồ không người lái có cửa sổ của tôi chỉ ba giờ rưỡi chiều. Trong máy bay, ngồi nhìn ra cửa sổ bên ngoài, tôi lặng nhìn đất nước thân yêu, và tôi chợt thở dài. Thấy vậy, người hành-khách ngồi bên cạnh quay sang hỏi:

– Trông anh có vẻ căng lắm? Ngồi trong nội-thất chiếc phi-cơ mà trông ông hình như bức-xúc làm sao?

– Vâng thưa ông, tôi về Việt-Nam lần này là lần thứ nhất, sau bốn mươi năm xa nhà nên có phần hồi-hộp, tôi đáp.

– À, ra thế, tâm-trạng ông hiển-thị trên nét mặt rõ lắm. Ông rời xứ lâu như vậy, tôi đoán lúc trước ông phải là du-sinh đi chuyên tu ở đâu đó; người Việt mình vốn trọng-thị vấn đề học-vị lắm mà.

– Vâng, ông đoán không sai, lúc trước, tôi có được đi du-học bên Pháp, nhưng thú thật với ông, riêng tôi không coi-trọng bằng cấp cho lắm, nhất là thời-buổi này- tôi nói tiếp.

– Tôi thống nhất ông, chủ-yếu là phải biết triển-khai tính năng-nổ, rồi tranh-thủ vào đó, khẳng định tài-nghệ mình thì mới thành công một cách tiên-tiến được.

– Ông muốn nói là ông đồng ý với tôi, điều quan trọng là mình phải khai-triển tính siêng năng tháo vát, cố gắng sao cho tài-nghệ mình được công nhận để có thể thành công mỹ-mãn? tôi hỏi lại cho chắc.

– Đúng vậy. À này, ông cũng nên cập-nhật lại ngôn-ngữ văn-hoá hiện-đại của mình đi thì hơn. Chúc ông thư-giãn và đi tham-quan tốt những cảnh-quan nước nhà.

– Cám ơn ông!



Một lúc sau, gần đến cửa khẩu Tân Sơn Nhất, người lái cho biết Trung tâm quản lý đường bay đã cho phép phi-cơ đáp xuống đường băng. Chúng tôi đã đến Sài-Gòn.

Vào đến trạm kiểm tra, người cán-bộ hỏi tôi:

– Hộ-chiếu đâu?

– Dạ thưa, hộ-chiếu là gì ạ? tôi ngớ ngẩn hỏi lại.

– Giấy tờ du-lịch do cơ-quan chủ quản cấp chứ là gì nữa? Xin ông nghiêm-túc một chút – người cán-bộ sẵng giọng.

Tôi chìa sổ thông-hành ra.

– Ông sống bên Mỹ à? Bang nào? người cán-bộ hỏi tiếp.

– Dạ thưa, tiểu bang New Jersey .

– Đem vào bao nhiêu kiều-hối?

– Dạ thưa, kiều-hối là gì ạ? tội lại ú ớ.

– Ông không biết từ này à? Ông đừng có linh tinh nữa, khẩn trương lên đi, người cán-bộ bắt đầu sốt ruột.

Hoảng quá, chắc ông ta nói tôi vớ-vẩn và dục tôi phải nhanh lên. Nghĩ đến chữ “hối-xuất”, tôi đoán mò.

– Dạ, ngoại-tệ tôi có 1000 mỹ-kim.

– Thôi được rồi, ông đi đi. Có vấn nạn gì thì cứ đến Phòng công-tác người nước ngoài mà hỏi.

– Cám ơn Ngài!

***



Lấy hành-lý xong, qua trạm hải-quan, không có gì để khai quan-thuế, tôi bước ra ngoài. Tôi thở phào, nhẹ nhõm. Mới đến có vài giờ mà đã ấn-tượng như vậy. Dáo dác nhìn quanh, tôi vẫy một cái tắc-xi để về khách sạn. Thấy cái mặt “nai vàng ngơ ngác” của tôi, bác tài-xế chào hỏi:

– Hoan nghênh ông, chắc ông là Việt-Kiều về thăm nhà? Lần này về, ông có dự-kiến làm gì không, em chỉ giúp cho?

– Ờ, xem nào, ăn ngon thì ông đề-nghị đi đâu?

– Muốn ăn ngon thì em xin đề-xuất nhà hàng này, em đảm-bảo chất-lượng, thực đơn cao-cấp, giá rẻ, ông có thể ăn uống vô-tư, chứ đừng có mà đi tìm những nơi hoành-tráng khác, có khả năng đắt khủng lắm, bình quân 100 Đô-La một người đó, nhất là nếu ông là người nước ngoài.

– Ui chao, có thể trung bình 100 Đô? Quả nhiên đắt khủng khiếp thật!

– Nhưng ngược lại, ông vào mấy tiệm chui thì cũng có khả-năng bị chũm lắm đấy.

– Đúng rồi, những nơi lén lút, không ai kiểm-soát, bị gạt là cái chắc.

– Thi thoảng, ông có muốn đi tươi mát để hộ lý cho khoẻ không? bác tài hỏi tới.

– Tươi mát? Hộ lý? ông muốn nói gì? Tôi hỏi lại

– Thì chuyện quan-hệ đàn ông – đàn bà đó mà? Về Việt-Nam, ai mà không biết cái đó? bác tài cười mỉm chi.

– Thôi, cám ơn ông, chắc không cần đâu. À về đến khách sạn tôi có xa không? tôi ngượng-nghịu đánh trống lảng.

– Từ đây vào thành phố không có đường cao tốc, nhưng đi giờ này không sợ ùn-tắc đâu, nếu không gặp tai tệ nạn trong một sự cố giao-thông gì, sẽ nhanh lắm.

– Không có xa-lộ, nhưng giờ này, nếu không gặp tại nạn xe cộ hay cản trở lưu-thông gì thì chả sợ kẹt đường, sẽ nhanh thôi. Tôi lẩm bẩm trong đầu như để học khoá cấp-tốc tiếng Việt mới.

Bác tài-xế nói xong, phóng vun vút và chẳng bao lâu tôi về đến khách sạn.Đăng ký xong, tôi lên phòng nằm xem chiếu bóng hộp chỉ được năm phút là lăn quay ra ngủ một mạch đến sáng.

Mấy hôm sau, một người bạn sinh-sống tại đây liên-hệ với tôi và đề-nghị:

– Tụi tao có quy-hoạch một buổi tiểu-trà để chiêu-đãi mày thứ bẩy này nhé.

– Cám ơn tụi mày đã định làm một buổi tiệc nhỏ để thết-đãi tao. Về đây chơi, có thổ-công như tụi mày thì nhất rồi.

Tối hôm đó, tôi đến nơi hẹn. Nhà hàng này cũng nhỏ, nhưng rất sạch-sẽ, tươm-tất, có cả một ban nhạc sống nữa. Không biết mấy thằng bạn quỷ có mưu mô gì nhưng chúng đã bố-trí một cuộc gặp, cho tôi ngồi cạnh M., một cô gái xinh trẻ, rồi lấy máy ảnh kỹ-thuật số ra chụp tôi với em.

Nói chuyện, ăn uống một lúc, tôi làm ly cà-phê cái nồi ngồi trên cái cốc, còn đang miên man suy-nghĩ thì M. lay tôi, gọi:

– Anh ơi (cô ấy chỉ bằng tuổi con tôi mà dám gọi tôi bằng “anh”), anh đang tư duy gì vậy? Bên kia, mấy người nghệ-nhân đang chơi nhạc kìa, mình ra hát đôi đi, hay là anh thích múa đôi ?

Mấy thằng bạn cũng đốc vào nên tôi cũng đành ra sàn nhẩy với M.

– Anh ơi, bên Mỹ, anh làm nghề gì, thu-nhập tầm được bao nhiêu? M. bắt đầu hỏi chuyện.

Trời ơi, tiền lương tôi khoảng bao nhiêu, cô ấy hỏi làm gì? Tôi trả-lời qua loa cho xong, nhưng M. tiến-công tiếp:

– Anh ơi, em phát-hiện là em cảm thấy rất hứng-thú với anh. Anh là đối-tượng của em rồi, em hồ-hởi quá. Hay là anh quản-lý đời em đi anh?

– Tôi quản-lý đời cô hay cô quản-lý đời tôi đây? Nhưng thí-dụ như tôi chịu thì mình như thế nào? Tôi hỏi đùa.

– Trước hết, mình phải tuyên-bố.

– Tuyên bố gì?

– Tuyền bố là lễ hứa-hôn đó anh. Sau đó, anh mua cho em một căn hộ; và lần hồi, mình sẽ đả-thông nhau, rồi mình sẽ…

– Trời ơi, tôi làm gì có tiền mua nhà cho cô?

– Em nghe nói bên Mỹ, ai cũng sở-hữu một căn hộ mà, anh bán nó đi rồi sang đây mua hộ cho em. Sang bên này, anh bảo-quản tốt cho em, em sẽ ủng-hộ anh triệt để. Anh xử-lý cho em đi, nhe?

(Quan-hệ, ủng-hộ kiểu này thì hệ-quả chắc phải bị cao huyết áp, tai-biến mạch máu não sớm !!!)

Cứ thế cô tích-cực tiến-công tôi hầu gia tăng sức ép đến mức tầm cỡ:

– Anh ơi, anh đừng có chảnh với em mà, em giản đơn lắm.

Chảnh? Lần đầu tiên trong đời, tôi nghe chữ này, hỏi ra, mới biết là “làm bộ”, “làm eo”.

Cuối cùng, M. đột-xuất ra chiêu độc:

– Anh ơi, bú mồm (!!!) em đi.

Xốc quá, choáng quá, tôi bất-tỉnh tại chỗ.









Vài hôm sau, tôi muốn ra Huế chơi. Hỏi dưới văn-phòng khách-sạn xem trạm xe-lửa ở đâu, người tiếp-viên cho tôi biết:

– Cục đường sắt gần đây thôi. Ông đi bộ cho mát, hôm nay đài thuỷ-văn cho biết trời đẹp lắm.

Ngoài nhà ga, tôi mua một vé đi Huế.

– Một vé tầu-lửa đi Huế? Ghế mềm hay ghế cứng?

– Cứng thì bao nhiêu? Mềm bao nhiêu? tôi hỏi lại.

Rốt cuộc, giá không xê-xích bao nhiêu nên tôi mua ghế mềm, ngồi cho sướng … bàn toạ.

Đến nơi, tôi đi thăm vài danh lam, thắng cảnh xong, ngồi nghỉ chân một lúc rồi tôi phải hỏi một ông khách qua đường.

– Xin lỗi ông, tôi đang đau bụng quá, gần đây có chỗ nào cho tôi đi không ạ?

Ông khách chỉ sang bên nọ và trả-lời:

– Cuối đường có cái nhà ỉa kia, ông lại đó đi. Nhưng còn tuỳ ông đi nặng hay đi nhẹ nữa, vì đi nặng thì dịch-vụ đắt tiền hơn.

– Trời!!!

………

Đến đây, tôi chợt thức tỉnh. Hoá ra chỉ là một giấc mơ, nhưng sao hãi-hùng quá. Lâu lắm rồi, tôi không được về thăm nhà, bây giờ có về, không lẽ tôi phải có thông-dịch viên đi theo sao?

Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời…

Tiếng nước tôi, tiếng nói đồng-bào tôi mà sao nghe lạ tai quá? Bây giờ, khi xem phim với phụ-đề tiếng Việt, tôi lại còn khó hiểu hơn là không có phụ-đề nữa; đọc những bài thâu lượm trên Internet thì nhiều khi cứ phải đoán mò, và khó chịu làm sao khi đọc chữ “y” cứ bị thay thế bằng “i”.

Nhưng điều tôi không thể hiểu nổi là tại sao có những tờ báo Việt-Nam bên Mỹ này cũng hùa theo cái “phong-trào” ấy, như để “khoe” là mình “văn minh hiện đại” (?)

Vẫn biết sinh-ngữ nào chả biến-đổi cho thích-hợp với thời-đại nhưng sao thay đổi “khủng” quá? Không biết cụ Nguyễn Du hay cụ Trần Trọng Kim, nếu còn sống sẽ nghĩ gì về tiếng Việt mới này? Hay có lẽ chúng tôi quá “cổ hủ”? Dầu sao đi nữa, chúng tôi sẽ không cầm bút để viết lịch-sử Việt-Nam nên chúng tôi chắc chắn là sai lầm.

Nhưng thôi, đất nước tôi không còn là đất nước tôi, tôi cũng không còn thẩm-quyền gì để phê-bình, tôi chỉ có quyền buồn (ít ra, cái tư-do này, không có chính-quyền nào có thể cấm-đoán được).

Tôi buồn, nhưng thôi, như đã chia-xẻ trong bài “Thế-hệ bánh mì kẹp”, chỉ vài mươi năm nữa, vấn-đề này sẽ không còn là vấn-đề nữa, một khi chúng tôi sẽ lũ-lượt rủ nhau đi hết. Lúc đó, chúng tôi sẽ lại được nói lại “tiếng Việt cũ” với bố mẹ, ông bà chúng tôi.

Ôi, tiếng nước tôi.

Yên Hà
tháng năm, 2012

Edited by user Tuesday, September 15, 2015 5:02:43 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
stormy  
#60 Posted : Saturday, September 19, 2015 6:09:03 AM(UTC)
stormy

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 383

Thanks: 396 times
Was thanked: 393 time(s) in 209 post(s)
Sài Gòn hay Hồ Chí Minh???


Mỗi mùa xuân về trên quê hương Việt Nam, chúng ta lại nhớ đến địa danh Sài Gòn.

Sài Gòn, tự nó đã đầy đủ ý nghĩa. Không cần phải thêm thủ đô hay thành phố gì cả. Hai chữ Sài Gòn đã in sâu vào từng tâm hồn của ngưòi dân Việt Nam mà còn quen thuộc với người ngoại quốc với tên gọi không có dấu: “Saigon”. ...

... Để rồi từ đó mọi người đều có thể viết chữ Sài Gòn dính liền lại với nhau mà không bỏ dấu “SAIGON”.

Không biết bao nhiêu bài luận văn của các em học sinh từ tiểu học đến trung học tả về Saigon. Không biết bao nhiêu thi sĩ, nhạc sĩ viết về Saigon. Saigon nằm soi mình bên dòng sông cùng tên Saigon, thật lãng mạng và kêu ngạo cùng tuế nguyệt.

Chúng ta hãy lắng động tâm hồn để tìm về sự mộc mạc của người Việt Nam đối với Saigon thân yêu.

1. Thưa cô đi đâu?

- Saigon.

2. Bà ngoại đi đâu?

- Lên Saigon.

3. Mầy từ đâu về?

-Từ Saigon.

Chỉ cần một chữ Saigon là đầy đủ rồi.

Nhưng trong 30 năm qua, Saigon bị mất tên, bị thay thế bằng tên của nhân vật Hồ Chí Minh. Sàigon ngậm ngùi tức tưởi, thổn thức với lời ca trong bài Vĩnh Biệt Saigon: “...ta mất người như người đã mất tên…”.

Người Cộng Sản Việt Nam rất lấy làm hãnh diện với cái gọi thành phố Hồ Chí Minh. Cái tên nghe vừa dài vừa chói tai, lúc nào cũng phải thêm chữ “thành phố”. Nếu thiếu chữ “thành phố” thì nguy to. Bởi vì kêu Hà Nội thì ai cũng hiểu là điạ danh Hà Nội, nhưng kêu Hồ Chí Minh khơi khơi thì có khi người ta không biết kêu cái quái gì?

Bây giờ xin mời những người Cộng Sản Việt Nam cùng chia xẽ có nên để tên Hồ Chí Minh hay nên trả tên lại cho Saigon. Nếu quí vị nhất định khư khư giữ nguyên tên Hồ Chí Minh, thì nên cùng thưởng thức những mẫu chuyện và truyền khẩu từ ngưòi này sang người khác, từ nơi này sang nơi khác mà tạm gọi là truyền khẩu dân gian, hãy xem như một cuộc trưng cầu dân ý có được không?

1. Bây giờ nói về tệ nạn xã hội:

- Người ta thường kêu là “Du Đãng Saigon” nay xin sửa lại: “Du Đãng Hồ Chí Minh”

- Saigon ngày xưa ít thấy bây giờ Saigon nhiều quá. “Đĩ Saigon” xin đổi lại là “Đĩ Hồ Chí Minh”

- Saigon ngày xưa ít thấy mấy thằng điếm bây giờ phải coi chừng mấy thằng điếm. ‘Điếm Sàigon” xin đổi lại là “Điếm Hồ Chí Minh”.

2. Bây giờ nói về dân gian:

Khi nói đến dân gian thì không phải như viết văn chương, chỉ nói tắt hiểu là được. Không cần chính tả hay văn phạm.

- Mầy lấy vợ ở đâu? dạ em lấy vợ Saigon. ”Lấy vợ Saigon" xin đổi lại là “Lấy vợ Hồ Chí Minh”.

- Chị mua gà ở đâu? mua gà Saigon. Gà Saigon xin đổi lại là “Gà Hồ Chí Minh”.

- Đi Saigon nhớ coi chừng chó, chó Saigon dữ lắm. “Chó Saigon” xin đổi lại là “chó Hồ Chí Minh”

- Má ơi lên coi truyền hình kìa xe đụng ghê lắm. Xe đụng chỗ nào? Xe đụng Saigon. Xe đụng Saigon xin đổi lại là “xe đụng Hồ Chí Minh.”

- Thịt chó Saigon ăn ngon quá. Thịt chó Saigon xin đổi lại là “thịt chó Hồ Chí Minh”

- Đừng làm giả đồ của Pháp bị bắt đó nghe. Vỏ Paris, ruột Saigon là phạm pháp. Xin đổi là: “Vỏ Paris, ruột Hồ chí Minh”.

- Saigon nóng đổ mồ hôi, xin đổi lại là “Hồ Chí Minh nóng đổ mồ hôi”.

- Saigon nóng muốn lột quần lột áo. Xin đổi là “Hồ Chí Minh nóng muốn lột quần lột áo”.

- Đi Saigon thì phải mua giầy da Saigon. Xin đổi lại “Giầy da Hồ Chí Minh”

- Gió thổi mạnh quá nên nhà Saigon bị sập. Xin đổi lại ‘nhà Hồ Chí Minh bị sập’.

Và còn nhiều nhiều lắm lắm……….

Hãy cùng nhau qua truyền khẩu dân gian để thay thế cái gọi là Hồ Chí Minh vào “Saigon” để cả 82 triệu người dân Việt Nam có dịp thi thố tài văn chương dân gian của mình để có những trận cười hả hê mà người ta gọi là chuyện cười dân gian.

Trăm năm bia đá cũng mòn,

Ngàn năm bia miệng vẩn còn trơ trơ

Để người cộng sản Việt Nam hiểu được sức mạnh của quần chúng. Ai đã đổi tên Saigon? Bây giờ họ phải gánh chịu “gậy ông đập lưng ông”.

Các địa danh như, Hà Nội, Huế, Nha Trang, Vũng Tàu, Cần Thơ, Cà Mau… Mà hình như tất cả các điạ danh ở Việt Nam chỉ cần nói tên là người ta hiểu được liền đâu cần phải thêm chữ: thành phố hay tỉnh…. Vây nói khơi khơi Hồ Chí Minh thì là cái con khỉ khô gì? Thật là cười ra nước mắt.

Chú lơ xe đò gọi hành khách: Saigon không? Saigon đây? Hành khách đứng dưới đường vẫy tay trả lời : Saigon, Saigon….. Bây giờ sửa lại : Chú lơ xe đò gọi hành khách: Hồ Chí Minh, không? Hồ Chí Minh đây? Hành khách đứng dưới đường vẫy tay trả lời: Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh… Có thể trong đám hành khách đó có cả đảng viên đảng CSVN.

Việc đổi tên Saigon và áp đặt cái gọi là Hồ Chí Minh là do chính những người công sản Việt Nam tạo ra. Nay chỉ xin được dùng cái gọi là Hồ Chí Minh để thay thế những lời nói dân gian. Nghĩa là cứ chỗ nào có chữ Saigon thì thay vào đó là chữ Hồ Chí Minh. Quí vị CSVN nghĩ sao? Quí độc giả nghĩ sao?

Người cộng sản Việt Nam đã sai lầm giữa địa danh và tên nhân vật, mà cái ác nhất lại là tên của nhân vật được những người cộng sản Viêt Nam sùng bái. Cái thây ma nằm giữa Ba Đình, mỗi năm phải tiêu phí biết bao nhiêu tiền của nhân dân Việt Nam? Người cộng sản sống thì tham nhũng, tham lạm tài sản quốc gia. Người cộng sản chết cũng ăn bám nhân dân Việt Nam, đó chính là cái thây ma Hồ Chí Minh.

Người chết phải trở về cát bụi. Thây ma thì phải đem chôn hay thiêu. Có một người vào xem xác chết của Hồ Chí Minh, khi về nhà không dám ngủ, mà nhắm mắt lại là thấy ác mộng hay nói đúng hơn là thấy thây ma Hồ Chí Minh. Cuối cùng phải đi xem bác sĩ tâm lý. Bác sĩ tâm lý khuyên: bạn đừng nghĩ tới cái xác đó nữa, cứ xem như nhìn thấy xác của một con vật nào đó, thí dụ như xác con gà, con cá bán ở chợ là được rồi.”

Đất nước Việt Nam đã bị người cộng sản tàn phá. Không biết bao nhiêu bút mực của các nhà văn, nhà phê bình, nhà bình luận… của rất nhiều thế hệ lên án. Người cộng sản cần phải thức tỉnh một cách thật sự mà hãy trả lại những gì của Việt Nam cho dân tộc Việt Nam.

Cỏ cây còn biết hờn sông núi

Giang sơn gấm vóc phải ngậm ngùi.

Saigon phải được trân trọng trả lại tên cho Saigon. Saigon mãi mãi là Saigon.

Nguyễn Thanh Nam

Edited by user Saturday, September 19, 2015 6:10:02 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked stormy for this useful post.
phamlang on 9/22/2015(UTC)
Users browsing this topic
Guest (4)
4 Pages<1234>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.