Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

39 Pages«<3435363738>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
coffeebean  
#701 Posted : Wednesday, April 29, 2015 11:51:48 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)


Những vành khăn tang đầu tiên,
khóc cho ngày Quốc Hận 30/4 tại hải ngoại

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền, Pháp quốc 15/4/2012



Gọi những vành khăn tang đầu tiên, khóc cho ngày Quốc Hận 30/4, tại hải ngoại, dù những vành khăn tang ấy, đã xuất hiện cùng với lá Cờ vàng ba Sọc Đỏ trong cuộc tuần hành của các sinh viên tại kinh đô ánh sáng Paris; bởi vì vào thời điểm đó, dẫu rằng ở nhiều quốc gia trên thế giới đều có những sinh viên đang theo học ở các trường đại học, nhưng những sinh viên này đã không có những hành động để biểu lộ những tấm lòng đối với các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa cũng như đồng bào; nhưng trên hết, là đối với nước Việt Nam Cộng Hòa đang bị đảng cộng sản Hà Nội, là đảng cầm quyền của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã bất chấp Hiệp định Paris, 1973, về Việt Nam, xua quân cưỡng chiếm đất nước Việt Nam Cộng Hòa trước sự dửng dưng, quay mặt làm ngơ của cả thế giới; đặc biệt là những nước đã từng đặt bút để ký vào Hiệp định này.



UserPostedImage



Ba mươi bảy năm dài đã trôi qua rồi, nhưng chẳng hiểu tại sao giờ đây vẫn còn một số người vẫn mộng du, hoang tưởng, để rồi vẫn cứ tin và nghĩ đến chuyện cầu xin các ông tổng thống của các cường quốc để mong các "ngài" sẽ giúp người dân Việt về những điều mình mong ước.

Chúng ta, những người Việt Nam có tâm thành với đất nước, chắc đã thấy những hình ảnh của nạn nhân đã bị công an Việt Nam cộng sản hành hạ, đánh đập cho đến chết với những xác thân đầy những thương tích bằng dao đâm, điện giật, dùi cui, gậy gộc... đến kinh hoàng, mà chẳng hề có một cường quốc nào thèm ngó tới. Ngay cả những hình ảnh của những ngọn lửa bùng lên trên thân xác của những người trẻ tuổi ở Tây Tạng, họ đã tự đốt cháy thân mình để đòi độc lập, tự do cho Tây Tạng, và mỗi ngày những cuộc tự thiêu thật sự đều tăng lên. Đó là những cuộc đấu tranh, và sự đòi hỏi vô cùng chính đáng của người dân Tây Tạng, nhưng có ông tổng thống nào thèm nói tới hay không? Phải nói thật nhiều như thế, để hiểu rằng sinh mạng của người Tây Tạng không bao giờ được các cường quốc xem trọng bằng quyền lợi của họ.

Ngày xưa, khi Đức Đạt Lai Lạt Ma phải băng mình chạy trốn khỏi nước, để tỵ nạn, thì các cường quốc cũng đã làm ngơ, bỏ mặc cho Tây Tạng rơi vào tay của Tầu cộng. NHƯNG, trong lúc Trời sầu đất thảm ấy, chỉ có duy nhất một người đã lên tiếng ủng hộ người dân Tây Tạng; đó là cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, song chẳng những về mặt tinnh thần, mà còn đem hết số tiền 10.000 đô la, của Giải thưởng Leadership Magasaysay để gửi giúp cho Đức Đạt Lai Lạt Ma, là vị lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng.

Phải nói, để hiểu hết về lòng "nhân đạo" của các cường quốc. Để thấy, ngày xưa, khi Thượng tọa Thích Quảng Đức bị đồng đạo đem ra đốt chết, thì các cường quốc, đặc biệt là "đồng minh Hoa Kỳ" đã hết lòng thổi cuộc đốt người này lên tới "thượng đỉnh" để giết chết nền đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa, và còn chi ra những đồng tiền máu cho bọn đâm thuê chém mướn, và chúng đã vì những đồng tiền này, mà mất hết lương tri, trở thành những tên đồ tể, giết chết cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm là vị Tổng Tư Lênh đầu tiên của quân đội Việt Nam Cộng Hòa; và đó, là phát súng đầu tiên đã báo hiệu cho sự sụp đổ hoàn toàn, đi đến mất nước Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 30/4/1975, cho đến hôm nay đã là ba mươi bảy năm, và không ai có thể biết chắc sẽ còn bao lâu nữa?!

Phải nói, để biết rằng, suốt 37 năm qua, tại sao những cuộc đấu tranh, những cái chết vô cùng đau đớn của đồng bào Việt Nam tại quốc nội, nhưng các cường quốc vẫn cứ nhắm mắt làm ngơ như không hề hay biết, hoặc chỉ nói qua cho có, cho lấy lệ, trong khi chế độ cộng sản đã cai trị đất nước tới 37 năm, còn cả hai nền Đệ nhất và Đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa thì chưa đầy hai mươi năm ?!

Phải nói, để chúng ta tự hỏi rằng, có phải vì chúng ta, những người Việt Nam yêu nước chân chính, đã không thể kết hợp lại với nhau thành một đại khối dân tộc vững mạnh, để cùng nói lên tiếng nói chung, cùng đặt quyền lợi của Tổ Quốc và Dân Tộc lên hàng tối thượng, hầu có những hành động thực tiễn cho đại cuộc cứu dân, cứu nước ra khỏi bàn tay hung tàn của Tầu cộng đang chiếm cứ trên đất nước Việt Nam.

Phải nói, để hiểu rằng, nước Việt Nam Cộng Hòa dù đã bị một số người cố tình lãng quên, nhưng không hề bị biến mất khi lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ vẫn còn phất phới tung bay ở khắp năm châu bốn bể, những nơi nào có người Việt Nam tỵ nạn cộng sản, ở nơi ấy đều có lá Cờ Vàng, mà không một quốc gia nào trên thế giới ngăn cấm người Việt tỵ nạn cộng sản treo cờ Vàng, cũng như không hề cấm cộng đồng người Việt biểu tình vào ngày Quốc Hận 30/4 với những rừng cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Đó là những điều đã chứng tỏ cho mọi người thấy rằng, không một quốc gia nào trên thế giới có thể đơn phương xé bỏ Hiệp định Paris, 1973, về Việt Nam.

Và phải nói, để biết rằng những quốc gia đã ký vào Hiệp định Paris, 1973, về Việt Nam, theo như những điều khoản đã quy định không phủ nhận tất cả những điều khoản đã ghi trong bản Hiệp định Genève, 20/7/1954; đồng thời cũng chưa hề lên tiếng phủ nhận hiệp định này. Chính vì thế, cho nên trước Công pháp Quốc Tế, nước Việt Nam Cộng Hòa, gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn không hề bị khai tử. Và vì những lẽ đó, cho nên tất cả những người Việt Nam yêu nước chân chính cần phải ngồi lại với nhau, để tìm cho ra những kế sách, để đòi lại đất nước Việt Nam Cộng Hòa, để có đủ tư cách pháp lý trước Công pháp Quốc tế, hầu đòi lại cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

coffeebean  
#702 Posted : Friday, May 1, 2015 2:13:38 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)



UserPostedImage




Bốn mươi năm! Ơi Quê hương thống khổ
Ôi non sông nỡ xâu xé nát tan
Ơi giống dòng sao oằn thân tủi hận
Hãy thét lên một lời nguyện tha thiết
Việt Nam ơi, đất mẹ phải hồi sinh !



40 năm trước ... ngày này, chỉ mơ hồ bàng hoàng tê dại dường như không thấy đớn đau mãi đến khi những cái loa ra rả phóng ra giọng nói lanh lảnh chát chúa từ sáng sớm tới đêm khuya rặt một giọng điệu vừa sắt máu tuyên truyền vừa răn đe mới ứa nước mắt quặn thắt trong ngực , không còn nghe được nữa tiếng nói chừng mực lúc đầm ấm lịch sự lúc trong trẻo hiền hoà ... Đây là đài tiếng nói VN, phát thanh từ Sài gòn, bây giờ đã là 22 giờ đêm, yêu cầu đồng bào điều chỉnh âm thanh vừa đủ nghe để khỏi làm phiền hàng xóm đang cần sự yên tĩnh nghỉ ngơi ... (không nhớ chính xác từng chữ) tiếp theo là một bản nhạc hoà tấu "Đêm thu" của Đạng Thế Phong ... Đau! buồn! ngỡ ngàng lao theo giòng đời nghiệt ngã mà cả miền Nam trầm luân vướng phải nhưng vẫn tin có một ngày sẽ được nhắc nhở "điều chỉnh âm thanh vừa đủ nghe!"

Đau đớn nhất vẫn là những người lính . Họ đã bỏ qua cả một thời tuổi trẻ, cầm súng gìn giữ quê hương, gian khổ nhọc nhằn quên đi những an vui riêng mình, đau đớn nhìn bè bạn gục ngã, thương tích để rồi họ bị trói tay làm kẻ tội đồ , bỉ đày đoạ phỉ báng xỉ nhục ...
thế nhừng một niềm tin bền bỉ lúc âm ỷ cơn đau cuộc sống lúc dạt dào mãnh
liệt

"[color=blue]Một niềm tin con giữa muôn điều lụi tàn
Là một ngày kia se quay về quê hương"








Nước mất nhà tan, lý tưởng một đời người xây đắp gìn giữ quê hương phút chốc không chỉ tan nát mà trở thành oan nghiệt tội tình ... người lính nào có biết những dàn xếp đổi chác để anh chết đứng, uất nghẹn đớn đau nhìn quê hương điêu tàn, nhìn đồng đội chiến đấu đến giây phút cuối cùng dựa vào vòng đai lửa cháy da xém thịt ... người lính thật cô đơn bi tráng vẫn điềm tĩnh hào hùng một cách ngang tàng như cổ tích đi nốt bước cuối cùng cúa đời lính!

Những người lính đã trở thành huyền thoại trong trang sử quê hương








coffeebean  
#703 Posted : Saturday, May 2, 2015 2:39:24 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)



Giòng Sông Bến Hải Vẫn Còn

Kha Tran



UserPostedImage



Hôm nay là ngày 20 tháng 7 đúng 55 năm trước đất nước VN đã bị chia đối theo vĩ tuyến 17 ký giữa Pháp và VM . Sau biến cố đau thương tháng Tư 1975 dĩ nhiên theo con mắt bình thường xem như giòng sông Bến hải chia đôi bờ Nam-Bắc VN không còn nữa . Đảng CSVN từng vỗ ngực tự hào có công "thống nhất tổ quốc VN " thế nhưng những sự thực trân tráo và phũ phàng của hiện trạng đau thương đủ mọi mặt của quê mẹ VN đang quằn quại rên xiết dưới bàn tay cai trị độc tài của cái đảng tham tàn CSVN đã và đang dẫn đưa dãi đất hình chữ S thân yêu của con dân nước Việt tới bờ mất nước. Trong những biến thái đau khổ chung của dân tộc có nhũng hố sâu ngăn cách "Gìòng Bến Hải "vẫn còn đó dù vô hình cho đất nước chúng ta khi còn bóng cái đảng bán nước hại dân CSVN mà quốc Tặc Hồ Chí Minh đã đưa đường dẫn lối về tàn hại dân mình :
Xuân Khê xin mạn phép post lại một hồi ức cách đây đúng 1 năm cũng vào ngày 20 tháng 7:

Hôm nay ngày 20 tháng 7 năm 2008, đúng 54 năm trước đất nước VN chia đôi và từ đó giòng sông Bến Hải quê tôi trở thành một địa danh lịch sử.

Quá khứ chập chùng đưa tôi về lại hinh ảnh ngày xưa, những ngày còn bé một thuở tạm gọi thanh bình dưới thời Đệ nhất cộng hòa của Cố TT Ngô đình Diệm cứ mỗi năm dịp kỷ niệm 20 tháng 7 đất nước chia đôi tôi khi đó chỉ là một thằng bé được cả nhà đưa ra quận Trung Lương cùng đồng bào Qtrị làm lễ Mit ting kỷ niệm ngày chia đôi đất nước lần 5, lần 6 gì đó .

Hồi đó muốn ra tới Cầu Bến Hải xe phải qua đèo Ba Dốc. Đèo này không cao nhưng muốn xuống đèo xe phải lái rất cẩn thận xuống được 3 cái dốc rất ngặt nên và nguy hiểm . Hết đèo là xe có thể ‘bon bon’ chạy trên một đoạn đường thẳng trên một đồng bằng hiếm hoi của quận Trung Lương để đến chân cầu Bến Hải nơi này có trụ sở kiểm soát đình chiến kết hợp cảnh sát Trung Lương làm việc ở đây.

Tôi nhớ rõ nhất là hai lá cờ to lớn có thể là ‘vĩ đại’ nhất trong trí nhớ của tôi, dĩ nhiên cờ vàng ba sọc đỏ bên ‘miềng’ (tiếng gọi MÌNH của dân Qtrị chúng tôi) và cờ đỏ sao vàng bên “tê” (kia). Hai là cờ to lớn theo trí nhớ của tôi thì nó có thể phủ kín một cái nhà một cách dễ dàng. Cái cầu cũng bị chia đôi mỗi bên mỗi màu và sơn đúng một nửa bên mình thì màu xanh. Nhân viên 2 phía đi lui đi tới trên cầu thỉnh thoảng đi qua mặt nhau cũng đôi lúc cả 2 cùng nói gì đó và cùng ngó xuống mặt nước sông Hiền lương. Bề mặt của chiếc cầu rất hẹp và nó chẳng cần chi cho chuyện xe cộ mà để trao đổi nhân viên 2 miền qua lại làm việc hàng ngày. Gia đình tôi còn kể rằng mỗi ngày cảnh sát quận Trung lương cũng qua làm việc bên kia và đổi lại bên kia cũng có một người qua ‘làm việc’ bên mình. Văn phòng làm việc của mỗi bên đều gần sát cầu, kế cột cờ mà là cờ Vàng đang phần phật bay theo gió .

Đến giờ hành lễ, đồng bào tới sát cầu mặt hương về bờ sông bên kia tai thì nghe ban tổ chức đọc diễn văn và cáo trạng CS miền Bắc đang đày đọa đồng bào ruột thịt miền Bắc khi họ cố tâm xây dựng cho được Chủ nghĩa Xã hội áp đặt lý thuyết Cộng sản lên đầu dân chúng miền Bắc. Xen kẽ còn có những bài hát đề cao tự do no ấm của miền Nam như ‘khúc hát thanh bình" chuyến đò vĩ tuyến "nắng đẹp miền Nam” …

Lúc này phía bên kia đâu có chịu yên, họ đem một đội quân nhạc bận complet trắng, cùng hướng về bờ Nam hợp tấu những bài “hùng ca” gì đó nhưng phía bên mình ồn quá làm sao nghe được, hơn nữa họ chỉ muốn phá đám buổi lễ của đồng bào mình mà thôi .

Bỗng có những tiếng la hét và một đám đồng bào hốt hoảng chạy ngược lùi lại phía sau và những hoảng loạn đó lan truyền rất nhanh làm tôi cũng chạy mất luôn đôi dép ‘nhựa’ (hồi đó ít ai mà có giày). Sau đó mới vỡ lẽ là một ông ‘cán bộ VC” đang trực trên cầu vô ý vứt tàn thuốc xuống một đám cỏ khô bên cầu, có gió nó băt lửa lên khói làm đồng bào hoảng sợ tưởng chuyện gì . Những đám đông khác thấy chạy thì cứ chạy nên hoảng loạn mới lan nhanh như thế .

Tội nghiệp mấy chú cảnh sát Trung Lương vất vả giải thích một hồi lâu thì đồng bào mình mới yên tâm. Hết lễ, bà con chia thành từng tốp nhỏ đi theo men sông để ngắm phía ‘bên tê” .

Trí nhớ của tôi còn ghi lại một giòng sông nhỏ bé, nước lặng lờ trôi . Bên tê sông hình dáng những người dân miền Bắc kham khổ chịu đựng, những cánh áo nâu khom khom ngươi ‘lùng sục’ dưới đáy sông kiếm từng con cá . Hay những chiếc thuyền nan bé tí teo, những chiếc nón lá chỉ biết im lăng, câm nín cúi đầu với công việc kiếm ăn . Họ im lìm tuyệt đối không có một cử chỉ tò mò gì khi bên này sông đồng bào mình đang đi như trẩy hội . Bên kia sông chỉ một khoản cách ngắn ngũi mà thôi thế mà đồng bào bờ Bắc như không thấy không nghe, không dám ngẫng đầu nhìn. Một sức mạnh vô hình đang bắt họ phải điếc phải mù, ôi gớm ghiếc thay bạo quyền cộng sản, một sức mạnh khủng bố mà tôi đã cảm nhận ra ngay dù lúc còn bé xíu.

Men theo bờ Hiền Lương cứ cách chừng một cây số mỗi bên bờ đều có một trụ phát thanh, mỗi trụ gắn khoảng gần 20 cái loa đều mở hết ‘volume’ hướng về bờ kia đê phát thanh cùng ca nhạc tuyên truyền cho chế độ mình. Bên nào cũng mở hết cỡ âm thanh làm huyên náo cả một vùng khiến tôi quên cả sợ hãi phập phồng. Hình như tôi cũng biết sợ bị VC bắt qua phía bên kia thì phải, kiểm soát lại ký ức của tôi ngay từ thuở bé xíu cũng tâm trạng chung đồng bào phía Nam nghe hai chữ Việt Cộng thì sợ lắm .

Qua năm sau, cũng dịp này lần này tôi có dịp đi ra phía CỬA TÙNG cửa sông Hiền Lương. Cửa Tùng dáng vẻ đỉu hiu buồn bả vô cùng . Bên “tê” chỉ lác đác vài ba cái thúng của dân đánh cá miền Bắc , không có dân . Còn phía bờ Nam cửa Tùng thì tuyệt đối đồng bào mình không có làm ăn ở đây . Sau này tôi có thể hiểu rằng , bên kia tuy đóng vai dân chài làm ăn vậy nhưng toàn là cán bộ VC ngụy trang cả mà thôi .

Rôi chiến sự leo thang , cường độ cuộc chiến càng ngày càng ác liệt. Những năm sau này 1960 Trung Lương càng ngày càng hoang vắng , Công sản miền Bắc xé hiệp định Geneve tăng quân ngang nhiên xâm lăng miền Nam. Trung Lương và Ủy Ban Kiểm Soát Đình Chiến bất lực, quân Trung Lương xoá sổ, 1967 toàn bộ dân Gio Linh di tản hết lên Cam Lộ, vào Nam tái định cư . Tuyến MacNamara ra đời . Chiến tranh không tập miền Bắc gia tăng mức độ cường tập đến nỗi một cái cống trên giao thông miền Bắc cũng không còn . Và chuyện đi chơi dự Míting ở cầu Bến Hải đã thực sự nằm trong dĩ vãng.

54 năm qua , cầu Bến Hải phân chia hai miền Nam Bắc đánh dấu một khúc quanh lịch sử dân Việt tưởng chừng như nó đã là một danh từ trong sử Việt . Thế mà khi nhìn lại những gì Đảng CSVN đã di họa cho toàn dân Việt sau 34 năm cưỡng chiếm miền Nam “thống nhất” đất nước chỉ là hố phân cách sâu thăm thẳm giữa khối dân bị trị và một đảng cầm quyền . Đảng CSVN qua máu xương dân tộc đã nghiễm nhiên cướp lấy bộ máy cầm quyền đáng lý là do dân , vì dân và của dân , trái lại cái đảng cướp này dùng bộ máy này để làm một công cụ đàn áp, khống chế và bốc lột dân lành . Rõ rang giòng sông Bến Hải vẫn còn đó ngăn chia giữa dân và chính quyền nó chỉ lấp được khi chính quyền đó trở về lại quyền sở hữu của dân tộc VN , phục vụ cho ý muốn và quyền lợi toàn dân tộc.

Giòng sông Bến Hải vẫn còn khi trong xã hội VN hố phân chia sâu vời vợi giữa quần chúng lao động nghèo nàn , rách nát , đầu tắt mặt tối làm không đủ ăn . Cái đói cái nghèo đến mức phải bán máu và bán máu trớ trêu trở thành một cái nghề nuôi sống cho chính họ và gia đình . Trái lại giai cấp cầm quyền , quý tộc Đỏ thì tiền bạc thừa mứa, giàu nứt đố đổ vách , ăn chơi sa đọa , trụy lạc đến mức tận cùng của trụy lạc không còn bút mực nào tả xiết . Những thành phố xa hoa một cái “ bung tay “ cho ticket thưởng “boa’ cho các em “ cave” vũ trường hộp đêm thì số tiền đó các em nhỏ đánh giày, lượm nylon trong những đóng rác thành phố hay những ông già kéo xe, đạp xích lô không bao giờ dám mơ tưởng đến . Đó là chưa kể đến các ông thái thương hoàng CSVN , các ông cán bộ cấp trung ương thì của chìm của nổi không biết bỏ đâu ( chuyện này hỏi ở Hoa KỲ và Thuy sĩ ) .

Làm sao mà hết giòng sông Bến Hải chia đôi hai giai cấp nghèo giàu khi mà những thảm trạng ở miền Nam bộ những em gái tuổi còn dưới 10 mà phải bị bán qua Campuchia làm điếm . Hàng trăm ngàn thiếu nữ nông thôn phải "tự nguyện" lấy chồng ngoại rồi trở thành những ‘đồ chơi’ rẽ tiền và lăm lúc phải bỏ xác quê người cũng vì hoàn cảnh nghèo nàn đều khắp ở chốn nông thôn nước Việt. Còn còn nữa, những hố sâu “BẾN HẢI’ vẫn hằn sâu trên đất mẹ VN khi bạo quyền CS vẫn còn . Hãy nhìn những cụ già đói khát bệnh tật khắp mọi miền đất nước, đảng giàu đảng sang thế mà họ đang ngày ngày chờ long hảo tâm của Việt kiều hải ngoại động long về giúp đỡ cho từng ký gạo từng tấm mền .

Nội tình trong long dân Việt vẫn còn một ‘giòng Bến Hải” khi những tên cán bộ từ Bắc vào Nam đem theo gia đình , họ hàng ngang nhiên cướp đất cứơp nhà dân miền Nam, người sắc tộc Tây nguyên làm giàu phục vụ cho đầy túi tham của chúng . Thế là long căm thù miền Bắc càng lúc càng dâng trào chất ngất trong long họ và đã tạo nên long ác cảm chung Nam Bắc cũng do chính sách ĂN CƯỚP của đám cầm quyền CSVN là nguyên do to lớn nhất .

Làm sao lấp được một giòng sông khi những tiếng nói đòi hỏi tự do , công lý , dân chủ, nhân quyền hàng ngày bị CSVN dùng bạo lực công an quân đội khống chế đàn áp bịt miệng bỏ tù giam giữ ngày đêm trong tù ngục .
Những tập thể trí thức tranh đấu cho người dân thấp cổ bé miệng thì bị lũ côn đồ CSVN sai khiến trù dập khủng bố ngày đêm , ngăn sông cấm chợ ép bức trăm bề .

Đối với mấy triệu dân Việt bỏ xứ ra đi thì Giòng sông Bến Hải vẫn mãi trong long họ khi chính sách của chính quyền CS hiện tại vẫn coi Việt kiều là con bò sữa vĩ đại ‘VẮT’ cho được khối đô la này nhưng trong long bọn cầm đầu Bắc bộ phủ Hà Nôi vẫn canh cánh thành kiến là ‘âm mưu diễn tiến hòa bình" sẵn sang còng tay bỏ tù những ai về lại VN không hợp ý chúng .

Hai bờ Bến Hải” vẫn còn khi rõ rang chính quyền CS càng ngày càng trân tráo , ngang ngược dựa vào thế và lực của chúng đang có trong tay chà đạp dân quyền và nhân quyền toàn thể dân tộc Việt . Ngày nào tập thể chính quyển của Đảng CSVN còn tồn tại thì đất nước VN còn điêu linh thống khổ. Hoa Dân Chủ tự do cho dân Việt chỉ nở khi cái Đảng bán nước CSVN bị triệt tiêu và lúc này giòng sông BẾN HẢI mới thực sự được khỏa lấp để hòa ca khúc nhạc tình thương của 3 miền đất Việt.




coffeebean  
#704 Posted : Monday, May 4, 2015 12:32:44 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)


Tổ Quốc Muốn Ta Phải Kiên Cường
GS Bút Xuân Trần Đình Ngọc



UserPostedImage




Chào các cháu Tuổi Trẻ Việt Nam,

Với tư cách là một học sinh năm 1945, hơn chục tuổi, đã xung phong đi bộ đội "cụ Hồ" nhưng chưa đủ tuổi, phải đi Văn Công 2 năm bằng cách thoát ly gia đình, mang cơm gạo đi mà ăn (đoàn thể không nuôi), bác muốn nói với cac cháu vài lời sau đây:

1- Cả dân tộc VN ta đã bị HCM và đảng CS lừa gạt từ 1945 đến nay. Cả nước nay phải hiểu ra điều đó và vùng dậy đòi quyền sống (Dân chủ, tự do, nhân quyền) mà đảng CS dã man tàn độc đã tước bỏ gần 70 năm qua.

2- Gần 10 triệu dân VN đã chết cho chủ nghĩa CS quốc tế do HCM đem vào VN. Lẽ ra HCM không cần gây chiến tranh thì nước VN vẫn có Độc lập toàn vẹn lãnh thổ vì năm 1949, TT Pháp Vincent Auriole ký Sắc Lệnh trả Độc lập cho ba nước Việt-Miên-Lào. Đây là xu hướng chính trị toàn cầu, nước nào cũng được hưởng bởi chế độ thực dân đã lỗi thời do sự đồng thuận của quốc tế, nhất là các nước cai trị tại các Hội nghị Postdam và Bangdung. Chính Hoa Kỳ đã lên án chủ nghĩa thực dân và thôi thúc việc trả chủ quyền cho các nước xưa bị đô hộ như Ấn độ, Nam dương, Bangladesk, Phi luật Tân, Pakistan v.v...

3- Nhưng HCM gấp rút gây chiến tranh ngày 19-12-1946 với Pháp để nhờ chiến tranh, như Lenin nói, mới đẻ ra cách mạng, cách mạng mới có đấu tranh giai cấp, đấu tranh giai cấp mới vô sản hóa và ngu hóa toàn dân, đem chủ nghĩa CS vào đầu độc dân VN để biến thanh niên VN thành lính Lê dương đánh cho Nga và Tàu. Điều đó nay đã thấy quá rõ: Tàu ở khắp nước rồi. Lê Duẩn nói: "Chúng tôi đánh Mỹ đây là đánh cho Nga-Tàu."

4- HCM và đảng CSVN đã dâng nước cho Tàu từ 3-2-1930, ngày y vâng lệnh Quốc tế CS thành lập đảng CS Đông Dương (sau này sợ quá lộ liễu, phải đổi là đảng Lao động để ngụy trá).

Cuộc chiến 1946-1954, chiến thắng Điện biên phủ phần lớn cuộc chỉ huy đó là từ tướng Trần Canh (Cheng Ghai) và các Cố vấn Tàu với súng đạn đa số của Tàu cung cấp cho VC để đánh bật Pháp ra khỏi Đông Dương, sau đó thay thế Pháp làm kẻ thống trị.

Điều này đã quá rõ ràng khi dân VN trong nước ngày nay thấy Tàu ở khắp nước, chóp bu Hà Nội năm ngoái đón chào Tập cận Bình (người sẽ thay thế Hồ cẩm Đào) bằng lá cờ 6 sao của Trung cộng ý muốn sáp nhập nước VN vào làm một tỉnh lẻ của Tàu. Hàng hóa Tàu giết chết hàng hóa VN, thực phẩm Tàu giết dân VN từ từ. Tàu cho hàng trăm ngàn thanh niên Tàu giả dạng công nhân sang lấy gái Việt, mua đất, mua nhà, sinh con đẻ cháu, chẳng bao lâu từ vài ba triệu hiện nay sẽ thành 30, 40 triệu. Tàu là đa số, Việt thiểu số, dù có bầu cử công bằng Việt cũng thua. Chúng Hán hóa theo kiểu tằm ăn dâu, không tốn một giọt máu, một viên đạn nhưng chúng nắm linh hồn và sinh mạng bọn chóp bu Hà Nội. Chúng lái Văn hóa Việt thành Văn hóa Tàu. Trẻ em nay đã phải học chữ Hán, nói tiếng Tàu, sẽ thi chữ Tàu, mặc quần áo Tàu, phong tục Tàu, sách Tàu còn sách Việt dần dần bỏ xó.

5- Ngày 17-2-2013, nhân sĩ và tướng QĐ cùng nhân dân đem vòng hoa vào đài tưởng niệm Liệt sĩ và dân chúng đã hi sinh trong trận 34 năm trước (2-1979) đánh nhau với quân Tàu khi chúng bỗng dưng gây hấn, “dạy cho VN một bài học” xua hơn nửa triệu quân sang càn quét 6 tỉnh miền Bắc của VN làm hàng trăm ngàn lính VC và dân chúng thảm tử. Lãnh đạo Hà Nội cấm cản không cho tưởng niệm, báo chí cũng được lệnh lờ tít biến cố trọng đại đau xót đó. Bởi thế, chúng ta đã nhìn rõ thấy tim đen bán nước cho giặc Tàu của chúng. Chúng ta cứ ngồi yên cho chúng bán nước sao?

6- Hải ngoại chỉ có thể yểm trợ còn quốc nội phải vùng lên phá sập chế độ bán nước dã man để xây dựng một nước VN mới, phi CS, Dân chủ, Nhân quyền và Tự Do. Không trông mong gì chúng sửa sai như lời anh N.Đ. Kiên. Người VN không thù hận nhưng còn các nạn nhân của Việt gian Cộng Sản (VGCS) như trong Tết Mậu Thân, như Quỳnh lưu, Thái bình, Nam định thì sao? VGCS đã gây ra muôn vàn tội ác, ngày nay C/T QH Nguyễn sinh Hùng còn đe dọa những ai muốn sửa sai Hiến Pháp, đe dọa 72 trí thức đòi sửa sai HP. Chỉ nói lên tấm lòng của người dân tha thiết với công lý, với đất nước một cách hòa bình nhưng anh Nguyễn đắc Kiên đã bị Nguyễn phú Trọng trả thù một cách bần tiện là cho anh thôi việc, du anh và gia đình vợ con anh vào bí lối cơm áo. Lãnh đạo ti tiện như thế thực không xứng là một lãnh đạo và nhân dân trông mong gì!

7- Ai cũng có trách nhiệm cứu nước và giải thể chế độ CS tàn độc gây cả tỉ đau thương tang tóc trên quê hương chúng ta, làm nước VN lạc hậu vài, ba trăm năm so với láng giềng, nhưng tuổi trẻ còn nhiều năng lực phải tiên phong trong nhiệm vụ. Khi xưa còn trẻ, chúng tôi cũng đã đánh Pháp cướp súng đạn để giành Độc lập. Ngày nay giới trẻ phải nắm lấy cơ may làm nên Lịch sử.

8- Nếu ươn hèn, cái gương Tây Tạng còn sờ sờ ra đó.

Chệt sẽ xóa bỏ cờ máu, cho ngôi sao vào cờ Tàu thành 6 sao, đổi tên vùng này là tên Tàu, xóa bỏ nước VN, coi Hoàng, Trường Sa và tỉnh Tam Sa chúng lập là rõ. Bọn Bộ CT và những tên đầu sỏ đã nhẫn tâm bán nước, tướng tá bất động bởi chúng cho tiền, cho chức, cho hưởng thụ...


Nước VN ta đến hồi mạt rồi chăng?


Các cháu hãy suy nghĩ và cố gắng làm một cái gì kẻo để xú danh trong lịch sử 90 triệu người sao? Và khi đã vào vòng nô lệ của Tàu thì muốn thoát ra, xương máu phải tốn hơn nhiều lần. Đừng bao giờ quên Tàu thực dân đã cai trị nước ta 1055 năm ở những thế kỷ trước và cái ách đô hộ này dữ dằn gấp trăm lần ách đô hộ của thực dân Pháp từ 1864-1945!!!

Chúc các cháu và Thanh Niên Việt Nam chân cứng đá mềm, hoàn thành công cuộc cứu nước!

Bác là Cựu Dân Biểu Quốc Hội VNCH (1971-1975)
GS Bút Xuân Trần Đình Ngọc








Từ khắp những phương trời
Và muôn lối đi trong đời
Gặp nhau trong tâm hồn Việt Nam sáng ngời

Mồ hôi trên cánh đồng
Mẹ ru trên núi sông
Tình quê hương ta ôm ấm trong lòng

Chúng ta là bước người xông pha,
Chúng ta là những lớp phù sa
Chúng ta là ngọn đuốc bừng to
Chúng ta là TỰ DO !!!

Bạn hỡi... ơ....ơi !
Hành trang ta đem trong ta,
Một khối óc, một tấm lòng, một giấc mơ.



coffeebean  
#705 Posted : Tuesday, May 5, 2015 12:37:31 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)


12 ngày đêm trận chiến Xuân Lộc

Mặc Lâm, biên tập viên RFA



UserPostedImage

Sơ đồ trận chiến Xuân Lộc tháng 4/1975




Đúng vào ngày 8 tháng 4 năm 1975 bốn mươi năm về trước trận chiến 12 ngày đêm tại Xuân Lộc vẫn còn sống mãi trong lòng rất nhiều người đặc biệt là các đơn vị tham gia trực tiếp.


Mặc Lâm được dành riêng một cuộc phỏng vấn với Thiếu tướng Lê Minh Đảo, Tư lệnh sư đoàn 18 Bộ binh cũng là vị tướng mang trọng trách bảo vệ vành đai Xuân Lộc trước cuộc tấn công của quân đội miền Bắc nhằm chiếm lĩnh Biên Hòa và tiến về Sài Gòn sau đó.


Mặc Lâm: Xin cám ơn Thiếu tướng Lê Minh Đảo đã dành cho đài Á châu Tự do cuộc phỏng vấn đặc biệt này. Thưa ông ngày 8 tháng 4 hàng năm chắc có lẽ là ngày đáng nhớ nhất trong cuộc đời tướng lãnh của ông, xin Thiếu tướng cho biết diễn tiến trận đánh này để thính giả, độc giả của đài có cơ hội biết thêm những gì mà nhiều người chưa rõ ràng lắm thưa ông..

Thiếu tướng Lê Minh Đảo: Tôi có lời chào tất cả quý thính giả của đài Á châu Tự do và chào ông Mặc Lâm. Bây giờ tôi xin đi thẳng vào vấn đề của mặt trận Xuân Lộc. Mặt trận Xuân Lộc nó ác liệt đẫm máu ngay vào ngày đầu tiên 8 tháng 4 năm 1975 và kéo dài cho tới ngày sư đoàn 18 rút ra khỏi trận địa vào ngày 21 tháng 4. Cộng sản Bắc Việt đã tung vào mặt trận này một quân đoàn tăng cường gồm 3 sư đoàn là sư đoàn 341, sư đoàn 7 sư đoàn 6 và một sư đoàn pháo 130 ly, 122 ly và phòng không. Trung đoàn chiến xa và các đơn vị đặc công.

Đến 5 ngày sau sau khi họ thiệt hại khá nặng nề thì họ tăng cường thêm trung đoàn biệt lập 95A cùng với sư đoàn 325 nữa. Lực lượng này do Tướng Hoàng Cầm chỉ huy nhưng sau 5 ngày tổn thất thì họ điều Trần Văn Trà xuống điều nghiên và sau đó Trần Văn Trà chỉ huy luôn các đơn vị này của giai đoạn hai.

Còn lực lượng của VNCH trong 5 ngày đầu tiên chỉ có sư đoàn 18 bộ binh trừ một tiểu đoàn tăng phái cho quân đoàn III đưa qua sư đoàn 25. Có tiểu đoàn 82 biệt động quân họ rút đi từ Lâm Đồng tạm ghé Long Khánh để dưỡng chân và chờ về Sài Gòn. Chúng tôi đã trang bị tiếp tế cho tiểu đoàn này đầy đủ và họ sẵn sàng ứng chiến. Khi họ ứng chiến ở đó thì cộng sản đánh vào đêm 8 thì họ kẹt lại và lực lượng này đặt dưới quyền chỉ huy của tôi. Cho nên tôi có một tiểu đoàn Biệt động quân cộng thêm các lực lượng địa phương quân, nghĩa quân và tiểu khu Long Khánh. Về lực lượng yễm trợ thì có sư đoàn III không quân gồm có các phi tuần khu trục và các trực thăng chở quân và võ trang của Biên Hòa.

Về diễn tiến của cuộc hành quân này thì vào ngày 8 cộng quân ồ ạt tấn công dưới chiến thuật của họ là tiền pháo hậu xung tức là họ pháo kích trước rồi cho đơn vị xung phong vào sau. Họ pháo ác liệt trong suốt ngày đầu tiên 2.000 quả tối đêm 8 rạng ngày 9. Đến sáng họ cho hai mũi tấn công có chiến xa yễm trợ, tức nhiên họ bị chúng tôi đẩy lui ra ngoài.

Ngày thứ hai họ cũng tiếp tục tấn công như vậy, pháo vào 2.000 quả họ bắn vào thành phố kể như nát hết tất cả nhưng đơn vị chúng tôi thiệt hại rất ít vì tôi đã tổ chức trận địa trước và tôi biết pháo nó sẽ rớt ở trong chứ không thể rớt ở rìa ngoài trong khi chúng tôi đóng ở rìa bên ngoài chờ họ. Ngày thứ ba họ tiếp tục tấn công vũ bão như vậy là 3 ngày tất cả, mỗi ngày gần 3 trung đoàn kể như một sư đoàn.

Sau ba ngày tấn công họ vẫn không vào được và tổn thất rất nặng nề. Trong ba ngày đó họ tổn thất khoảng một sư đoàn rưỡi cho nên tới ngày thứ tư, thứ năm thì lực lượng họ yếu dần họ chỉ tấn công lấy lệ nhưng mà cường độ pháo của họ vẫn tiếp tục mạnh mẽ áp đảo thật nặng vào thị xã Xuân Lộc và các đơn vị phòng thủ.

Đến đây thì mặt trận Xuân Lộc có biến chuyển khác. Quân đoàn thấy mặt trận trở nên quan trọng ở đó cho nên ông Tư lệnh quân đoàn là Trung tướng Toàn mới tăng cường cho tôi một lữ đoàn I nhảy dù với bốn tiểu đoàn. Trực thăng từ Biên Hòa do Chinook đưa vào. Tôi đưa một tiểu đoàn để giữ sân bay Long Khánh giúp cho ông Đại tá Phúc Tỉnh trưởng Long Khánh để có lực lượng bảo vệ cho vững chắc để tôi yên tâm một chút.

Ba tiểu đoàn còn lại đánh từ ngoài đánh vô sau lưng địch bọc phía trong và ở ngoài đánh vào cũng như một ổ bánh mì sandwich. Nếu chúng tôi còn tiếp tục ở lại thì có thể nói với anh rằng tôi sẽ bắt luôn một tiểu đoàn của cộng quân bị kẹt vì họ không còn ai tiếp tế cho họ hết tại một vườn cây ăn trái tại Xuân Lộc.

Có những lúc chúng tôi phải đánh với họ một chống ba, có nơi một chống tới năm và có nơi như ở đồi Móng ngựa chúng tôi chỉ có hai đại đội phải chống nguyên cả một trung đoàn tăng cường chia làm ba hướng vào nhưng mà họ cũng khó mà đánh thủng chúng tôi được. Tại sao? Có thể nói chúng tôi yếu lực lượng nhưng mình yếu thì mình dùng mưu, dùng kế hoạch, mình không dùng sức.

Trận địa đó tôi đã tổ chức hai tuần lễ trước rồi cứ giao thông hào mà đánh. Tôi gài họ vào trong đó để họ dính vào trận địa pháo của tôi. Tôi có những cái hỏa tập ở nhiều khu vực chọn trước vì biết được họ tới đó sẽ bị cầm chân. Trong này tôi đánh ra cầm chân họ mà vô không được thì họ phải nằm ở đó. Khi họ nằm ở đó thì tôi cho pháo binh pháo vào tiêu diệt. Pháo binh tôi đem ra ngoài tất cả và tôi bắn vào trong thành phố yễm trợ các đơn vị cho nên sự thiệt hại của họ rất lớn.

Mặc Lâm: Thưa Thiếu tướng với tình hình mà Thiếu tướng vừa diễn tả đâu có gì quá nguy hiểm khiến ông phải rút quân ồ ạt vào ngày 20 tháng 4? Có gì thay đổi quan trọng khiến cho ông buộc phải rút quân thưa Thiếu tướng?

Thiếu tướng Lê Minh Đảo: Tình hình bắt đầu thay đổi khi ngày 16 tây thì mặt trận Phan Rang bắt đầu bể, một quân đoàn gọi là quân đoàn 2 Hương Giang họ đi ở quốc lộ 1 xuyên qua Phan Rang họ xuống Phan Thiết để về Sài Gòn. Họ đi vô Bình Tuy ngang Xuyên Mộc về Bà Rịa để tấn công con đường Bà Rịa đi Biên Hòa, đây là một sự uy hiếp vì họ không thể đi ngõ Xuân Lộc nên họ đi ngõ đó. Đồng thời Trần Văn Trà đã thay đổi kế hoạch họ đánh phá rất mạnh vào phi trường Biên Hòa vì họ biết phi trường đó còn thì sẽ yễm trợ cho chúng tôi. Mỗi ngày chúng tôi có chừng 50 phi xuất của Biên Hòa thành ra yễm trợ cho chúng tôi nhất là trực thăng võ trang anh em đó đánh rất là ngoan cường, đánh rất hay rót bom lên địch thành ra họ bị thiệt hại rất nhiều vì phi pháo của chúng tôi.

Chiến đoàn 52 của tôi ở tại ngã ba Dầu giây họ đánh nhiều ngày hết đạn dược rồi nên họ xuyên rừng đi thẳng vào rừng, họ đi xuyên rừng Bình Sơn để về Biên Hòa. Trước sự uy hiếp trên quân đoàn sợ rằng mặt trận của tôi nằm ở phía trên mà cộng sản nó đã lọt được vào bên dưới do quân đoàn Hương Giang đi từ bên kia nó vòng ngõ tắt về Biên Hòa cho nên ông trung tướng Toàn ra lệnh phải thay đổi chiến thuật, xin Tổng thống Thiệu và Tổng thống chấp nhận phải đổi chiến thuật là đưa sư đoàn 18 bộ binh về giữ mặt trận Trảng Bom, giữ quốc lộ 1 từ Trảng Bom về Biên Hòa.

Mặt trận này hồi nào đến giờ do chuẩn tướng Khôi, tư lệnh lữ đoàn 3 thiết giáp, đem chiến đoàn lên giữ mặt trận đó mà không lên tiếp được cho sư đoàn 18 tại vì ổng kẹt ngay chỗ đó vì tụi Việt cộng nó chận và ổng phải cầm cự ở đó. Thật ra thì ông Toàn cũng muốn giữ lực lượng đó để bảo vệ cho quân đoàn III nếu cái đoạn này mà lữ đoàn 3 dính vào mà nó đánh vô thì ổng không có đường mà đỡ, ổng ra lệnh cho tôi rút càng sớm càng tốt.

Một đơn vị khi đang chạm súng mạnh và hàng ngày như thế này mà phải rút quân là chuyện khó vô vàn. Đánh thì dễ còn rút thì dễ hỗn loạn và bị thua nhưng bây giờ lệnh thì phải rút. Kế hoạch tôi rút là dùng một chiến thuật không ngờ. Cái táo bạo của tôi là đi vào con đường hậu phương của nó. Đó là liên tỉnh lộ Long Giao, con lộ đi từ Long Giao xuống ranh giới của quận Đức Thạnh ở Bình Giả đi về Bà Rịa con đường đó dài khoảng 30 cây số.

Tôi biết khi họ đánh mặt trận lớn bên ngoài thì chỗ này không đáng kể, họ coi không quan trọng, họ điều nghiên chỗ khác coi như chỗ đó không có.

Muốn rút trên con đường này tôi lại ra lệnh lần nữa là không rút ban ngày, rút ban ngày địch nó biết nên tôi rút ban đêm. Bắt đầu 8 giờ tối tôi cho rút quân vì tôi biết cộng sản không bao giờ có thể nghĩ rằng một đại đơn vị của quân lực VNCH mà rút quân vào ban đêm như thế này hết, họ không bao giờ ngờ! Sáng hôm ông Toàn ra lệnh tìm cách rút quân thì tôi đã cho lệnh tất cả lữ đoàn dù và một tiểu đoàn của tôi ở trên Núi Thị nã pháo vào các vị trí của họ và mở cuộc tấn công để làm cho họ thấy rằng chúng tôi bắt đầu phản công để tiêu diệt họ thì họ lo chống đỡ và nghĩ rằng chúng tôi đánh họ chứ họ không biết khi đó tôi chuẩn bị rút đi.

Rút quân trong cuộc hành quân này thì rất táo bạo nhưng phải bình tĩnh tối đa, rút từng đơn vị. Trước hết tôi cho trung đoàn của tôi đi đầu, trung đoàn đó được một đơn vị pháo lớn tại căn cứ Long Giao của trung đoàn 48 nằm đó nó yễm trợ. Khi họ rút được êm rồi thì đơn vị pháo đó rút sâu dưới kia họ bắn ngược lên. Sau đó là lực lượng cơ giới do ông Đại tá Tham mưu trưởng hành quân (đại tá Hứa Yến Lến) của tôi ổng dẫn đi, đem hết tất cả cơ giới nặng, cả xe cả xác chết của binh sĩ mình trong ngày hôm đó không đi được bỏ lên xe chở về hết tất cả.

Kế đó là lực lượng tiểu khu xong rồi thì mới tới lực lượng của tôi là trung đoàn 43 do ông Đại tá Lê Xuân Hiếu và tôi cùng đi với ổng đi bộ để chỉ huy. Lực lượng sau cùng là Lữ đoàn dù và tiểu đoàn 2/43 của sư đoàn 18 rút sau. Cuộc rút quân này tương đối an toàn lắm. Chúng tôi đã đem tất cả đại bộ phận của mình đi ra khỏi Bình Giả sáng ngày hôm sau vào lúc 9 giờ thì tới rồi.

Chỉ có buổi sáng do rút trễ cho nên quân dù bị kẹt vì nó biết được do những đơn vị bôn tập nó đánh vội vàng đánh vào đại đội pháo của dù khi đại đội này rút đi. Nhưng rồi sau khi đến nơi tôi bay tới yễm trợ ngược trở lại với anh em dù, lúc 12 giờ trưa thì anh em cũng rút ra hết tất cả.

Mặc Lâm: Vâng thưa Thiếu tướng cho tới hôm nay vẫn còn một câu hỏi đặt ra trước việc có nhiều người cho là hai trái bom CBU-55 đã thả trong trận chiến khu vực Tân Lập nhưng cũng có người đã khước từ nói là chuyện này không có. Xin Thiếu tướng cho biết vấn đề này như thế nào.

Thiếu tướng Lê Minh Đảo: CBU-55 thì nó hút hết tất cả không khí oxygen làm người ta chết chứ còn hai trái bom mà đánh ở đó là BLU 82 đó nặng 14 ngàn pound nói theo kilogram thì nó chừng 7 tấn. Trái bom đó Hoa Kỳ họ đem qua Việt Nam họ dùng trong khi họ còn ở đây. Quả bom đó để tại Việt Nam nhưng không có ngòi nổ vì họ đã đem ngòi nổ về Mỹ. Và khi có phái bộ của ông đại tướng Frederick Weyand ổng qua duyệt xét tình hình, mang hai chiếc tank M48 trên phi cơ Galaxy để làm quà viện trợ cho quân lực VNCH đồng thời chở các em mồ côi về Mỹ. Chiếc phi cơ này bị rớt ở Tân Sơn Nhất. Phái bộ này họ đem mấy cái ngòi nổ cho mấy quả bom BLU 82 qua bởi họ thấy cộng sản nó đi lẹ quá họ cho VNCH cái đó để cản bước tiến của cộng sản. Trong mặt trận Xuân Lộc của tôi được họ cho 2 trái. Tôi không biết là có cái này đâu, tôi phải nói là như vậy.

Tôi chỉ biết là mỗi một ngày tôi chấm tọa độ. Tối tôi chấm tọa độ nơi nào cộng sản đóng quân, chẳng hạn chỗ này sư đoàn đóng chỗ này trung đoàn đóng, chỗ này là điểm tập trung quân của quân đoàn còn chỗ này là điểm của một đơn vị sắp sửa xuất phát. Tại sao tôi biết? Bởi vì trong cuộc chiến thì tới giờ này tôi nói luôn cho biết về vấn đề gọi là mật mã. Tháo ra hết tất cả mật mã của cộng sản thì chúng tôi có Phòng 7 họ gửi bao nhiêu chúng ta mở ra hết tất cả. Buổi chiều khi họ truyền tin thì chúng tôi bắt được hết. Họ báo tất cả bức điện của họ bằng chữ, ví dụ một lô chữ azkd...nhưng trong số chữ đó chúng tôi biết đọc ra mật mã, chính chỗ đó nên tôi đánh trúng họ và họ thiệt hại rất nhiều.

Trung tâm phối hợp hỏa lực của tôi chiều nào cũng kiểm tra cái này hết. Những mục tiêu xa tập trung những đơn vị của họ ở gần trên Định Quán thì tôi xin quân đoàn cho tôi đánh mục tiêu này. Tôi xin đánh vào mục tiêu đó nhưng tôi không biết rõ là quân đoàn đánh bằng quả bom BLU 82. Sự thiệt hại của địch quân rất cao. Còn một quả nữa thì tôi thấy nó không ép-phê gì trong trận địa của tôi, trái thứ hai không kết quả bao nhiêu.

Mặc Lâm: Thưa Thiếu tướng sau khi miền Nam hoàn toàn thất thủ thì Thiếu tướng cũng như toàn bộ sĩ quan, cán bộ viên chức cao cấp của VNCH đều bị giam giữ và chế độ mới gọi những tù nhân này là tù cải tạo. Có bao giờ ông đòi hỏi chế độ phải thay đổi cách gọi như vậy mà phải gọi chính xác những người tù này là “tù binh chiến tranh” hay không?

Thiếu tướng Lê Minh Đảo: Lúc đó chúng nó cả vú lấp miệng em nó nói: các anh còn cái gì nữa, còn đất nước đâu? Sự thật thì chúng tôi có còn đất nước đâu? Lực lượng bạn, đồng minh đã phản bội rồi. Tất cả các nước ký Hiệp định Paris họ đều êm re, họ như đầu hàng trước bạo lực của Cộng sản. Chúng tôi là những con người sống lạc loài trong xứ sở của mình mà cộng sản gán cho chúng tôi thành tội nhân của chiến tranh thành ra chúng tôi không nói được.

Chúng áp đặt chúng tôi, buộc tội chúng tôi ngay trong cái bản án, thí dụ một ông Trung tá thì nó đề: Ông Trung tá can tội gì? Can tội Trung tá tiểu đoàn trưởng hay cái gì đó. Còn tôi, tôi là Lê Minh Đảo, can tội gì? Can tội Tư lệnh sư đoàn 18 bộ binh! Như vậy sư đoàn 18 bộ binh là cái tội sao? Nó nắm quyền sinh sát trong tay nó nói gì nó nói làm sao chúng tôi nói được. Chúng tôi không nghe nó nói, chúng tôi chỉ kiên cường bất khuất trong nhà tù, cắn răng mà chịu.

Nó bắt mình quỳ nhưng mình không quỳ. Anh em họ chiến đấu một cách can trường như vậy. Đến ngày bắt buộc chúng nó phải thả chúng tôi ra có người nào trong đó mà được chúng tẩy não, rửa sạch theo cộng sản đâu?

Mặc Lâm: Trong lúc bị giam giữ cá nhân Thiếu tướng và các vị tướng khác có được đối xử một cách khác biệt hay không, chẳng hạn về tiện nghi cũng như chế độ ăn uống có đặc biệt hơn những anh em khác?

Thiếu tướng Lê Minh Đảo: Nó giam riêng chúng tôi, nó sợ giam chung với nhau thì dù sao chăng nữa kỷ luật quân đội cũng như hệ thống quân giai anh em họ còn nể trọng chúng tôi thành ra khó cho nó. Nó giam riêng chúng tôi nó hành hạ chúng tôi kiểu khác.

Có lần nó thử đưa tôi với ông Tướng Sang về trại giam Nam Hà nhưng do sự kính nể của anh em đối với cấp chỉ huy và thấy tôi bắt đầu quậy thì nó đem tôi về lại.

Mặc Lâm: 30 tháng 4 năm nay là kỷ niệm 40 năm cuộc di tản khổng lồ của người dân Việt. Nhìn ngược lại cuộc chiến đã qua Thiếu tướng thấy điều gì cần phải ghi nhớ và mổ xẻ như một kinh nghiệm sống không thể quên cho toàn dân tộc?

Thiếu tướng Lê Minh Đảo: Khi cuộc chiến tranh chấm dứt rồi tôi đang bị cộng sản đày đọa, bây giờ nhìn ngược lại cuộc chiến tranh Việt Nam trong suốt hai mươi mấy năm chúng tôi đã chiến đấu để bảo vệ đất nước mà rốt cuộc chúng tôi không làm tròn nhiệm vụ của mình là bảo vệ người dân Việt Nam thoát khỏi ách cộng sản.

Tôi nghĩ cuộc chiến nó như thế này, cuộc chiến tranh Việt Nam nếu anh nhìn kỹ từ sau năm 1945 sau khi chiến tranh thế giới thứ II chấm dứt thì Việt Nam là một điểm nóng trong chiến tranh lạnh kéo dài 50 năm giữa thế giới tự do và bên kia là cộng sản độc tài Nga và Trung cộng. Nó kèn cựa dành giựt từng quốc gia, từng tất đất để lấy ảnh hưởng của mình. Còn Việt Nam là điểm nóng trong cuộc chiến tranh lạnh đó. Nó lạnh nhưng Việt Nam thì nóng.

Bây giờ nhìn lại: Ai thắng, ai bại, ai thua, ai đau khổ nhiều nhất? Tôi thấy rốt cuộc lại thì Mỹ thắng, thắng vẻ vang trong cuộc chiến tranh lạnh kéo dài 50 năm. Mỹ đã hoàn toàn triệt tiêu chế độ cộng sản ở Liên xô.

Mỹ dùng chiến tranh Việt Nam để rồi bắt tay được với Trung Quốc. Họ đã hóa giải được với Trung cộng để kéo Trung Quốc về làm lực lượng của mình để rồi tiếp tục sức mạnh của Mỹ với sự để yên của Trung Quốc và chấp cánh thêm để đập tan Xã hội chủ nghĩa của Liên xô là mối đe dọa của thế giới tự do thì tôi thấy Mỹ đã thắng. Mỹ vì quyền lợi của họ cũng như thế chiến lược của họ, họ bội ước với VNCH, họ bỏ rơi VNCH đem VNCH dâng cho cộng sản Tàu để liên minh với cộng sản Tàu.

Không phải mình ghét hay căm thù mình nói mà đây là sự thật lịch sử. Tội đồ của dân tộc Việt Nam là cộng sản Việt Nam đã cõng rắn cắn gà nhà. Họ đã hiến dâng cái giang san này cho kẻ thù phương Bắc. Họ cầm quyền cai trị, đày ải dân mình. Họ dâng đất dâng biển của mình cho Tàu, cam tâm làm nô lệ cho phương Bắc đổi lấy quyền cai trị ngồi lên đầu dân tộc cỡi cổ vĩnh viễn.

Bây giờ tôi nói về nạn nhân của cuộc chiến tranh Việt Nam: toàn thể nhân dân cả hai miền Nam Bắc chứ không phải chỉ có miền Nam không mà là miền Bắc. Miền Bắc đã hy sinh rất nhiều những đứa con ưu tú của mình. Cái sức sống của quốc gia của từ 3 tới 4 triệu người. Rồi cũng cái tập đoàn đó nghe lời lường gạt họ gây tang tóc cho gần 1 triệu người ở miền Nam nữa. Năm triệu thanh niên miền Nam và miền Bắc đã chết oan uổng vì sự ngu xuẩn tàn độc của đảng Cộng sản Việt Nam. Có thể nói đây là một thiệt hại to lớn cho dân tộc chúng ta do Cộng sản Việt Nam đã tạo ra cuộc chiến tranh này đưa Việt Nam đến sự đau khổ ngày hôm nay.

Sự đau khổ của người dân Việt Nam thì ai là người đau khổ tột cùng? Chính người phụ nữ Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc, nhất là ở ngoài Bắc thì nhiều hơn. Họ mất chồng, mất cha, mất con. Chính đây là sự đau khổ của chị em trong cuộc chiến tranh oan nghiệt này đã làm cho đất nước Việt Nam của chúng ta đầy tang tóc và nước mắt lúc nào cũng không ngưng chảy cho đến ngày hôm nay.

Chúng ta thấy rằng ngày nào họ còn cai trị đất nước thì cộng sản Tàu còn bành trướng theo kiểu mới đối với dân tộc của ta và dân tộc sẽ chết dần chết mòn đi đến diệt vong.

Mặc Lâm: Đó là với người cộng sản Việt Nam, riêng về Hoa Kỳ một thời từng là đồng minh cay đắng của VNCH thì ông có kinh nghiệm gì để chia sẻ thưa Thiếu tướng?

Thiếu tướng Lê Minh Đảo: Tôi nói như thế này, tôi có thương mà tôi cũng có buồn!

Tôi thương và kính trọng nhân dân Hoa Kỳ họ đã dang tay rộng mở đón tiếp chúng ta, lòng họ hào hiệp lắm nhờ họ mà chúng ta mới sponsor cho người Việt ngày nay. Những người mà tôi kính trọng, tôi thương và tôi khóc đó là những người lính Mỹ chiến đấu tại Việt Nam. Họ có lý tưởng anh à. Họ chiến đấu vì lý tưởng tốt đẹp cho tự do và họ làm tròn bổn phận công dân của họ nhưng vì thế lực chính trị của Hoa Kỳ, những thế lực mà tôi không ưa được. Họ sống theo mùa, họ sống như con cắc kè họ đổi màu đủ thứ hết trơn. Họ chỉ vì quyền lợi cá nhân của họ, họ vì quyền lợi đảng phái của họ mà họ đã giết cả một dân tộc người ta một cách tàn nhẫn không tiếc thương gì cả.

Họ cũng giết người dân tộc của họ một cách lạnh mình. Những người lính Mỹ từ Việt Nam trở về có được họ đón tiếp gì đâu? Những người này là anh hùng của nước Mỹ. Họ phải được nước Mỹ tôn sùng họ, kính trọng và tổ chức những lễ vinh danh họ cũng như lo cho đời sống của họ không để họ như ngày nay. Tôi trân trọng cám ơn tất cả những người Mỹ có lòng hào hiệp đã cưu mang dân tộc Việt Nam.

Mặc Lâm: Vâng, trong 40 năm qua bên cạnh những khó khăn mà người tỵ nạn gặp không thể không nhìn thấy những thành tựu của những người trẻ trên nhiều lĩnh vực. Thiếu tướng nghĩ gì về họ?

Thiếu tướng Lê Minh Đảo: Ngày hôm nay tôi rất sung sướng mà nói với anh điều này: tuổi trẻ Việt Nam là nguồn sinh lực, một điểm tựa hết sức vững chắc cho tương lai Việt Nam sau này. Mình phân tích để thấy tuổi trẻ Việt Nam họ hội nhập nền văn minh các quốc gia mà họ lớn lên ở đây, họ gọi là tổ quốc của họ. Họ hoàn toàn không chịu một chút ảnh hưởng nào của nền văn hóa hủ lậu, lạc hậu của các triều đại phương Bắc vua chúa ngày xưa. Có những điều làm cho dân tộc không thể nào tiến bộ được.

Tuổi trẻ ở đây họ hoàn toàn thoát khỏi cái đó trong khi trong nước hỏi là làm sao thoát Trung, tội nghiệp tuổi trẻ trong nước! Tuồi trẻ hải ngoại đã hấp thụ được nền văn hóa phương Tây với văn minh khoa học kỹ thuật cũng như cuộc sống mới ngay thẳng, tự do, cởi mở hiểu được quyền con người. Đó là điều mà tôi hết sức tâm đắc.

Trong 40 năm qua đám trẻ của mình rất hiếu học, siêng năng, nó có truyền thống siêng năng từ cha mẹ đã làm vẻ vang cộng đồng Việt Nam khi đóng góp với cộng đồng hải ngoại. Từ Việt Nam sang đây họ lấy gia đình làm căn bản. Họ sống dưới sự giáo dục của cha mẹ cũng như cha mẹ họ có sự hào hùng do chống cộng sản ở bên kia. Họ lấy sự chết ngoài biển khơi để làm sự sống mới. Cái giá nó nặng lắm cho nên họ khuyên bảo dạy dỗ con cái và con cái họ cũng hiểu điều đó và rất thương gia đình. Họ hiểu thế nào là sự đau khổ của Việt Nam và họ biết quê mẹ của họ là Việt Nam.

Các thế hệ cha mẹ tiếp tục đi đừng xao lãng việc đó! Phải làm thế nào dạy dỗ cho con cái, hướng dẫn con cái mình phải biết lịch sử Việt Nam. Phải hiểu biết thật tường tận và trung thực. Thật trung thực chứ không méo mó sai lầm về lịch sử Việt Nam.

Nó biết cái đó để nó thương mình, nó thương những người đã chiến đấu để cho nó có cuộc sống ngày hôm nay như thế này. Mà khi nó thương cha mẹ nó thì tự nhiên nó thương nước Việt Nam.

Mặc Lâm: Đó là người trẻ, thích hợp với cuộc sống mới rất dễ dàng, còn riêng với thế hệ thứ nhất, những người cùng thời với ông khi ra nước ngoài ông có suy nghĩ gì về họ? Đặc biệt là đồng đội từng chiến đấu với Thiều tướng?

Thiếu tướng Lê Minh Đảo: Thế hệ chúng tôi hồi tôi mới qua đây tôi thấy anh em buồn lắm. Mấy anh em có vẻ còn mặc cảm là người thua cuộc thì thường thường tôi hay đi nói với anh em đừng mặc cảm. Các anh em đã làm hết bổn phận của các anh em rồi, chúng ta bị ngoại cảnh cũng như bạn đồng minh không cho chúng ta dịp thắng, các anh em đã làm hết bổn phận rồi. Qua đây các anh em biến tất cả đau thương của mình, sự cực khổ của mình để dạy dỗ con cái để nó thay thế mình nó làm những chuyện mà mình không làm được, tôi nói mọi người hãy tiếp tục đi.

Mặc Lâm: Xin cám ơn Thiếu tướng Lê Minh Đảo về những chia sẻ mà ông vừa trình bày với thính giả, độc giả của Đài Á châu Tự do.





coffeebean  
#706 Posted : Wednesday, May 6, 2015 12:38:38 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)



Thượng nghị viện California
thông qua Nghị quyết SJR5 về thương phế binh Việt Nam Cộng hòa

Người-Việt



SACRAMENTO, California (NV) - Nghị Quyết SJR 5, do Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn đề nghị, kêu gọi chính phủ Mỹ cho phép thương phế binh VNCH định cư tại Hoa Kỳ, vừa được Thượng Viện California thông qua hôm Thứ Năm, 30 Tháng Tư, thông cáo báo chí của văn phòng nữ dân cử gốc Việt này cho biết.




UserPostedImage

Các thương phế binh VNCH đến nhận quà tại chùa Liên Trì, quận 2, Sài Gòn. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)



Theo thông cáo, SJR 5 yêu cầu chính quyền liên bang tái thực hiện Chương Trình Tái Ðịnh Cư Vì Lý Do Nhân Ðạo và Chương Trình Ra Ði Trong Trật Tự. Sự tái thực hiện này sẽ cho phép thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa và con cái của họ đang sống ở Việt Nam được nộp đơn xin định cư tại Hoa Kỳ.

Các chương trình này trước đây cho phép những người Việt Nam từng bị tù trong các trại tập trung, người Việt Nam từng làm việc cho chính quyền, các công ty, hoặc các tổ chức của Hoa Kỳ trước ngày 30 Tháng Tư, 1975, được phép định cư tại Mỹ. Tuy nhiên, nhiều thương phế binh không nằm trong chương trình này, bởi vì họ không bị đưa vào các trại tập trung, vì họ bị thương tật trước khi cuộc chiến kết thúc. Thành ra, họ không đủ số năm bị tù để được tái định cư theo quy định của hai chương trình này.

Hàng ngàn thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, còn gọi là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và gia đình họ vẫn còn đang sống tại Việt Nam, và thường xuyên bị chính quyền Cộng Sản đàn áp, không có việc làm, không có nhà ở, và con cái không được đi học, theo thông cáo.

Cũng theo thông cáo, để giải quyết vấn đề này, Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn đã tổ chức một cuộc họp báo vào Tháng Mười Hai, 2014, cho biết bà dự định vận động các thành viên Quốc Hội Hoa Kỳ tái thực hiện Chương Trình Tái Ðịnh Cư Vì Lý Do Nhân Ðạo và Chương Trình Ra Ði Trong Trật Tự đối với thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa cùng với con cái của họ.

Nghị quyết này chiếu một tia sáng vào một kẽ hở, mà trong đó, hàng ngàn thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa bị bỏ quên. Ðây là những người đã chiến đấu rất can đảm bên cạnh đồng minh Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam,” Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn được trích lời nói. “Là một người tị nạn, đến quốc gia này để trốn chạy sự đàn áp của chế độ Việt Nam Cộng Sản, tôi xin chân thành cảm ơn các đồng viện đã ủng hộ và cùng tôi thông qua nghị quyết này.”

Hạ Viện California sẽ xem xét nghị quyết này trong những ngày tới. Và nếu được thông qua, SJR 5 sẽ được chuyển đến tổng thống và phó tổng thống Hoa Kỳ, lãnh đạo Ða Số Thượng Viện Hoa Kỳ, chủ tịch Hạ Viện Hoa Kỳ, tất cả các thượng nghị sĩ và dân biểu liên bang của tiểu bang California, theo thông cáo.

Ngoài ra, Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn dự định đến Washington, DC, để đích thân gặp các thành viên Quốc Hội nhằm vận động cho SJR 5, cũng theo thông cáo.

“Chúng ta mới chỉ vượt qua một chướng ngại với SJR 5, nhưng tôi rất lạc quan, là nghị quyết này sẽ được lưỡng viện Quốc Hội California thông qua,” Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn được trích lời nói. “Tôi sẽ tiếp tục tranh đấu cho những người không có tiếng nói, và vẫn đang phải tranh đấu cho tự do của họ ở Việt Nam, cho tới khi chính phủ Hoa Kỳ phải cho họ một cơ hội định cư tại đất nước này.” (Ð.D.)



coffeebean  
#707 Posted : Wednesday, May 6, 2015 11:43:30 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)



coffeebean  
#708 Posted : Sunday, May 10, 2015 1:51:56 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Vở Trường Ca “Đêm Nhớ Về Sài Gòn”
Tưởng Niệm 40 Năm Quốc Hận




Những tiếng vỗ tay òa vỡ. Những lá cờ - Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ - Lá cờ mang biểu tượng cho tự do, cho dân chủ cùng phất lên. Những cánh tay đưa cao cùng hát... Tiếng hát lời ca lúc thì uất nghẹn, khi thì hào hùng... tất cả đã làm nên một vở trường ca bất tận. Có thể nói đó là Bản Trường Ca Đêm Nhớ Về Sài Gòn.


Cali Today News - Trên những tấm vé, trên các hình ảnh được chiếu trên màn hình có mang dòng chữ “Đêm Nhớ Về Sài Gòn”. Đó là chủ đề của đêm văn nghệ Tưởng Niệm Quốc Hận đã diễn ra tại hí viện National Civic Center tại San Jose, tọa lạc trung tâm thành phố San Jose, 135 W. San Carlos vào đêm Chủ Nhật 3/5/2015 đánh dấu 40 năm tị nạn.

Chương trình bắt đầu vào lúc 5:30pm nhưng hơn 5:00pm đã thấy khán giả “rồng rắn” trước cửa rạp hát dọc theo con đường San Carlos chờ giờ mở cửa. Trong số những khán giả đến tham dự đêm văn nghệ có những cụ già, mà có cụ 100 tuổi và có lẽ khán giả “trẻ” nhất là 6 tuổi, những người ngồi trên xe lănvà trong số đó người ta thấy có cụ Trương Đình Sữu, cựu Đại tá Trần Thanh Điền, cựu đại tá Nguyễn Hồng Tuyền, cựu Trung tá Đỗ Hữu Nhơn và nhiều người lính của các quân binh chủng VNCH.


UserPostedImage

UserPostedImage


Giờ mở cửa khán giả tuần tự đi vào, nơi cửa, những chị trong Ban Tiếp Tân, những chiếc áo dài màu xanh phân phát cho mỗi khán giả một lá cờ Vàng. Chẳng bao lâu sau rạp hát đã chật kín người, có thể hơn 2,000 khán giả. Mọi người gặp nhau thân ái bắt tay nhau, chào hỏi. Nhìn quanh, chiếc ghế bên cạnh lại là người quen. Không hẹn mà gặp. Họ đến đây đêm nay để cùng tưởng nhớ về một nơi chốn mà họ đã ra đi. Mới đó đã 40 năm trôi qua. Khán giả đủ mọi thành phần. Là những cụ ông, cụ bà, những người trung niên, thanh niên nam nữ, và có cả những em nhỏ.

Tấm màn nhung mở ra. Trên sân khấu có bàn thờ Tổ Quốc với hình ảnh những vị sĩ quan Quân Lực VNCH đã tuẩn tiết vào ngày 30/4/1975. Toán Quốc Kỳ đã sẵn sàng cho lễ khai mạc. Những người lính năm xưa, trong bộ quân phục tiểu lễ của trường Bộ Binh Thủ Đức đã sẵn sàng cho lễ chào cờ.

Lễ chào quốc kỳ bắt đầu lúc 6:25 pm. Toán quốc kỳ do Lực Lượng Sĩ Quan Thủ Đức Bắc California đảm trách. Mọi người đứng lên nghiêm trang chào cờ. Phút tưởng niệm, kèn truy điệu trổi lên. Hai bài quốc ca Việt Mỹ cất lên hùng tráng, như chưa bao giờ hùng tráng và trang nghiêm như thế trong một đêm văn nghệ. Trong khi bài quốc ca Việt Mỹ lần lượt cất lên, hai màn ảnh lớn chiếu những hình ảnh Việt Nam. Những người lính, những lá cờ, những ngôi mộ, những chiếc thuyền bé nhỏ mong mang vượt đại dương…



UserPostedImage

UserPostedImage
Lễ chào quốc kỳ, cùng hát quốc ca VNCH và Hoa Kỳ
Phút mặc niệm tưởng nhớ quân dân cán chính VNCH, các anh hùng dân tộc đã Vị quốc vong thân, những chiến sĩ đã chết trong ngục tù cộng sản, đồng bào đã bỏ mình trên đường vượt biển tìm Tự do, trên vùng kinh tế mới, từ những oan khuất nơi quê nhà.
Một bài thơ tưởng nhớ được ngâm lên sau phút mạc niệm




UserPostedImage

UserPostedImage
Lễ đặt vòng hoa trước kỳ đài bàn thờ Tổ quốc, với di anh 5 vị tướng, đại diện cho những người lính VNCH đã cùng tuẩn tiết 40 năm trước.


Hình ảnh cũ - Một đoạn đường.

Một kỷ niệm khó phai mờ trong ký ức... của những người đang có mặt trong đêm nay. Những người tị nạn đã rời quê hương “Vì 2 chữ tự do” vì “không chấp nhận sống với chế độ cộng sản”, “ta mang đời lưu vong”…

Sau năm 1975, có hàng triệu con người bỏ nước ra đi, có gần nửa trong số đó đã bỏ mình trong lòng biển, trong rừng sâu. Hải tặc! Đói khát! Bơ vơ! Và đêm nay, tất cả đã về đây để tưởng niệm ngày Quốc Hận. Tiếng kèn đồng thê thiết. Những con người cúi đầu tưởng niệm người thân đã mất.

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng, Phó Giám Đốc Hệ Thống Cali Today Multi Media Network, bước ra ngỏ lời chào đón đồng hương khán giả.


Hôm nay đây, ngày quốc hận ba mươi tháng tư nhắc nhở chúng ta nhìn lại những lầm than của dân tộc để từ đó chúng ta phải thấy được trách nhiệm và bổn phận của một kiếp người, là sinh ra, lớn lên phải hành động hợp với lẽ phải, bảo vệ cái chân, thiện mỹ, chống lại cái gian tà, ác ôn chẳng những ở nơi đang sinh sống mà ngay trên chính quê hương Việt nam đang đối mặt với tà quyền, tham lam, hèn với giặc mà lại ác với dân. Chính thế, nguời Việt tỵ nạn khắp hoàn cầu không quên ngày quốc hận..”

“Tuổi trẻ của hôm nay và ngày mai phải ý thức cụ thể và rõ ràng rằng, chính sách độc đảng sai lầm của Cộng sản Việt nam đã đưa đến cái chết của hàng trăm ngàn người vượt biển, hàng vạn thanh niên bỏ xác tại Campuchia, dân oan đầy phố phường, nghèo đói vô cùng tận, văn hóa bại hoại, giang sơn tổ quốc bị lấn chiếm, ngoại bang hăm dọa đến sự vẹn toàn lãnh thổ của tiền nhân. Do đó, trách nhiệm của tuổi trẻ Việt nam dù ở hải ngoại cũng phải nổ lực để ngăn chận những hiểm họa do Đảng Cộng Sản Việt nam gây ra.”

Anh đã nói và nhắc đến nhiều sự kiện, và đó là lý do có đêm hôm nay…”

Giọng anh nói có mang hơi thở của một nỗi đau, một lời tâm sự: “Kính thưa quý vị: Nguời Việt tỵ nạn khắp hoàn cầu không quên ngày quốc hận, Nhật báo Cali Today trong lòng người Việt lưu vong đã, đang và sẽ không quên ngày này với sứ mệnh hỗ trợ cuộc đấu tranh của các chiến sĩ dân chủ tự do trong và ngoài nước hầu mang đến cho quê hương một thể chế phi Cộng sản dựa trên dân tộc, dân chủ và nhân quyền. Tuổi trẻ của hôm nay và ngày mai phải ý thức cụ thể và rõ ràng rằng, chính sách độc đảng sai lầm của Cộng sản Việt nam đã đưa đến cái chết của hàng trăm ngàn người vượt biển, hàng vạn thanh niên bỏ xác tại Campuchia, dân oan đầy phố phường, nghèo đói vô cùng tận, văn hóa bại hoại, giang sơn tổ quốc bị lấn chiếm, ngoại bang hăm dọa đến sự vẹn toàn lãnh thổ của tiền nhân. Do đó, trách nhiệm của tuổi trẻ Việt nam dù ở hải ngoại cũng phải nổ lực để ngăn chận những hiểm họa do Đảng Cộng Sản Việt nam gây ra.

Kính thưa quý vị: Trong giây phút này đây, chúng tôi vô cùng xúc động trước sự quan tâm của từng trái tim đang tưởng niệm về một ngày quốc hận đau thương. Chính sự có mặt của tất cả chúng ta đã thể hiện một niềm tin cho tiền đồ quê hương ngời sáng, một ước mơ thanh bình, dân chủ và nhân quyền cho quê hương. Bao lâu nay Nhật báo Cali Today ấp ủ một nguyện ước cho Việt nam thịnh vượng, tự do thì giờ đây quý vị đã cho Cali Today thêm năng lượng, thêm tình thương và sự quan tâm. Nếu không có quý vị, của những sự hỗ trợ bởi nhiều nhà hoạt động cộng đồng, những nhà đấu tranh chống cộng, những thân hữu, những bảo trợ viên hào hiệp, và những cơ quan truyền thông báo chí, những nghệ sĩ, và hàng ngàn khán giả thân thương... thì làm sao chúng ta có được một đêm tưởng niệm Bốn mươi năm đầy ý nghĩa, đầy tình người, đầy hoài niệm của quá khứ nhưng cũng đầy ước mơ cho tương lai. Chính quý vị là những người đã cùng chúng tôi đồng tâm và hiệp lực để chung tay tổ chức ngày quốc hận đánh dấu bốn mươi năm thật quy mô hầu lưu dấu mai sau ... Chúng tôi xin phép quý vị cho một tràng pháo tay thật lớn để cùng hòa nhau trong sự hiệp lực với tinh thần chống cộng mạnh mẽ của tất cả chúng ta.”

Sau nghi thức chào cờ là nghi lễ đặt vòng hoa. Đại diện các đoàn thể có: Cụ Trương Đình Sữu Hội Người Việt Cao Niên Vùng Vịnh, cụ Phạm Văn Tường Hội Diên Hồng Thời Đại, cựu Đại tá Trần Thanh Điền, cựu Đại Tá Nguyễn Hồng Tuyền, cựu Trung Tá Đỗ Hữu Nhơn đại diện Liên Hội Cựu Quân Nhân Bắc Cali, cựu Trung Tá Nguyễn Mộng Hùng, Ông Nguyễn Ngọc Tiên Chủ Tịch Cộng Đồng Việt Nam Bắc Cali, Ông Trương Thành Minh Chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Bắc Cali, Ông Lê Đình Thọ TTK Liên Hội/CQN, Ông Thái Văn Hòa Hội CSQG, TS Nguyễn Hồng Dũng Ban Tổ Chức đặt vòng hoa tưởng niệm trước đài Tổ Quốc Ghi Ơn.


Bắt đầu chương trình văn nghệ tưởng niệm. Ông Nam Lộc và cô Thùy Dương, hai người điều khiển chương trình bước ra sân khấu. Ông Nam Lộc nhắc lại những câu chuyện, những dấu mốc thời gian, lý do mà người Việt có mặt khắp nơi trên thế giới. Và ý nghĩa của Ngày Quốc Hận. Thùy Dương chuyển ngữ cho các bạn trẻ.

Dường như tôi nghe đâu đó quanh tôi có những tiếng thì thào, có những tiếng nấc nhẹ, và không biết có bao giọt nước mắt rơi trong đêm nay khi đệm cho lời nói của người điều khiển thì trên màn hình liên tục chiếu nhiều hình ảnh. Một Sài Gòn hoa lệ với Dinh Độc Lập, đường Lê Lợi, đường Tự Do, Tòa Đô Chánh, những chiếc xe, những tà áo dài, những cặp tình nhân… để rồi tiếp sau đó là chiếc thuyền mong manh trên mặt biển bao la, người già khóc con, những người vợ khóc chồng, là tiếng khóc của trẻ thơ, những ánh mắt ngơ ngác của con lạc mẹ, vợ lạc chồng… những vòng kẻm gai trong trại cấm, hình ảnh người tù trong các trại “cải tạo” thảm cảnh sau ngày mất nước: 30/4/1075. Và đó là Quốc Hận.

Diễm Liên và Nguyên Khang bước ra với một liên khúc các nhạc phầm của Nam Lộc, Nguyễn Đức Thành, Trúc Hồ & Trầm Tử Thiêng…” để đêm đêm nhớ về Sài Gòn Thấy mình vừa trở lại quê hương, đã gặp người một trời yêu thương cho lòng thêm chút ấm. Thấy bạn bè thèm ngồi bên nhau, nhắc chuyện người chuyện đời thương đau Tình chia trong đêm sầu …” Phải chăng đó là tâm trạng chung của những người phải xa xứ bất đắc dĩ?

Đêm nhạc được dàn dựng có lớp lang, bài bản. Là một thời đất nước bị phân ly, người miền Bắc Việt Nam phải lìa xa nơi chôn nhau cắt rốn. Nhạc bản Nỗi lòng người đi của Anh Bằng do Vũ Khanh trình bày đánh dấu thời kỳ thứ nhất. Rồi miền Nam thân yêu có một thưởu thanh bình, người người no ấm âu ca. Tâm tình đó được diễn tả qua các nhạc phẩm “Tôi muốn và Tình hồng” của Lê hựu Hà, Nguyễn trung Cang, Trưng Vương khung cửa mùa thu (Nhạc ngoại quốc/lời Nam Lộc) do Thanh Lan biểu diễn.

Những ngày thanh bình đó thật ngắn, đất nước bị đưa vào cuộc chiến tranh do cộng sản chủ mưu. Người dân phải tự đứng lên, tham gia vào việc mà họ không hề muốn để giữ gìn sự bình an cho dân. Những bản tình ca của một Việt Nam Cộng Hòa với các ca khúc trữ tình tràn ngập yêu thương, đầy ắp nhân bản của một thời chinh chiến. Kẻ ở miền xa của Duy Khánh, Đêm buồn tỉnh lẻ (Tú Nhi) do Đan Nguyên trình bày, hoặc Mấy dặm sơn khê (Nguyễn văn Đông) do Ngọc Diệp diễn tả đã nói lên điều đó thật rõ.

Nhưng người Việt không chủ động được. Miền Nam đã mất vào tay cộng sản. Người Việt đành cắt ruột lìa xa để làm người lưu vong. Thủ đô yêu dấu, Sài Gòn thân yêu đã mất. Tiếp theo là liên khúc Sài Gòn ơi vĩnh biệt, Người di tản buồn của Nam Lộc do chính Nam Lộc trình bày đã làm người xem xúc động.

Đây có phải là tâm tình của những người Việt lưu vong hôm nay?

Sài gòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời
Sài gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời
Sài gòn ơi, tôi xin hứa rằng tôi trở về
Người tình ơi, tôi xin giữ trọn mãi lời thề
Dù thời gian, có là một thoáng đam mê
Phố phường vạn ánh sao đêm
Nhưng tôi vẫn không bao giờ quên
.”

Họ đã ra đi bằng những chiếc thuyền nhỏ. Đánh đổi mạng sống tìm 2 chữ tự do đã chấn động lương tâm nhân loại. Thuyền Nhân (boat People đã thêm vào tự điển của loài người. Nhưng người Việt lưu vong sẽ đau thắt ruột, con cháu sẽ bỡ ngỡ khi biết cha ông đã ra đi như thế nầy:

Đêm nay anh gánh dầu ra biển anh chôn
Anh chôn, chôn hết cả những gì của yêu thương
Anh chôn, chôn mối tình chúng mình
Gửi lại em trăm nhớ ngàn thương
Hò ơi! Hò ới! tạm biệt nước non.
Đêm nay đêm tối trời anh bỏ quê hương
Ra đi trên chiếc thuyền
Hy vọng vượt trùng dương
Em đâu đâu có ngờ đêm buồn
Bỏ lại em cay đắng thật thương
Hò ơi! Hò ới! tạm biệt nước non
.”

Ca khúc Đêm chôn dầu vượt biển của Châu đình An do Diễm Liên trình bày gợi lại niềm đau, ghi dấu một thời mà người Việt đem mạng sống đổi lấy tự do. Freedom is not free, có ai cảm nhận được nó bằng người Việt tị nạn?

Những ánh đèn quét ngang sân khấu tràn xuống khán giả đang hừng hực lửa đấu tranh. Những lá cờ Vàng phất cao lên, tuôn trào như những đột sóng thần nhấp nhô tràn tới, tràn tới càng lúc càng dồn dập. Và Sài Gòn ơi ta hẹn rằng ta sẽ về. Đó có phải chăng là ước muốn của người Việt tị nạn? Người xem đã không còn đứng ngoài, họ tham dự vào sự trình diễn, họ đã nhập làm một với người ca sĩ trên sân khấu, không còn biên giới giữa người xem và người biểu diễn. Sân khấu và khán giả đã biến mất để nhường chỗ cho những người Việt yêu tự do, những người Việt mất Sài Gòn dấu ái đang bày tỏ thái độ, đang nói lên sự mong chờ, niềm hy vọng của một ngày mai!

Đến vùng đất mới, xây dựng đời sống mới. Người Việt có một dòng nhạc nhân bản tiếp nối những ngày Sài Gòn còn hoa lệ còn là Hòn Ngọc Viễn Đông. Dòng nhạc “lưu vong” tự nó đã là tiếng nói của con người từ trong đớn đau vươn lên. Dòng nhạc tình trên đất mới với: Chừng như em quanh đây (Nguyễn hoàng Duyên) do Hoàng Hiệp trình bày. Tiễn đưa (Lê Đức Long) Quốc Khanh hát.

Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh” có phải đó là khẩu hiệu khích động của những người cộng sản xúi giục dân chúng nổi loạn hầu lợi dụng? Nhưng người cộng sản không bao giờ biết rằng “gậy ông đã đập lưng ông”. Người Việt Nam không bao giờ chịu áp bức. Người Việt Nam muốn tự do. Những nhạc phẩm: Anh là ai? Việt Nam tôi đâu? (của Việt Khang) là những tiếng nói bất khuất phát ra từ trong nước. Những nhạc phẩm này do Đan Nguyên, Quốc Khanh, Nguyên Khang đã làm người nghe xúc động. Cả hội trường rạp hát bừng lên ngọn lửa đất tranh.


UserPostedImage

UserPostedImage


Đêm đã về khuya, dòng nhạc trở về với chủ đề NHẠC TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ.

Rồi tất cả các ca sĩ cùng kết thúc đêm nhạc bằng ca khúc Triệu con tim (Trúc Hồ) Đại diện BTC, anh Nguyễn Hồng Dũng bước ra nói lời cảm và hẹn một ngày về đem lá cờ Vàng hát tại Sài Gòn.

Mỗi một bài được trình bày trong đêm nay đều mang một ý nghĩa, một kỷ niệm, một đoạn đường. Dù là tình ca, hay chôn dầu vượt biển là nỗi nhớ về Sài Gòn. Tất cả là lời của người lưu vong, mang dấu ấn của người mất nước, tiếng thổn thức của kẻ mất quê hương qua hình ảnh “Sài Gòn” đã mất tên. Nhưng trong đó ẩn chứa một lời thề sắt đá

Người tình ơi, tôi xin giữ trọn mãi lời thề
Dù thời gian, có là một thoáng đam mê
Phố phường vạn ánh sao đêm
Nhưng tôi vẫn không bao giờ quên….



UserPostedImage
Bài hát Kết thúc chương trình "Triệu Con Tim ..."


Lê Bình

Photo Courtesy: Cali Today/Trương Xuân Mẫn

Edited by user Sunday, May 10, 2015 2:12:44 AM(UTC)  | Reason: Not specified

coffeebean  
#709 Posted : Tuesday, May 12, 2015 12:34:44 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)


Nghị Quyết của Quốc Hội Liên Bang Hoa Kỳ

Công nhận THÁNG TƯ ĐEN
và Vinh danh các Chiến sĩ Việt - Mỹ
Nhân tưởng niệm 40 năm ngày Quốc Hận



(nguồn: http://www.vietpressusa....c-hoi-lien-bang-hoa.html)


VietPress USA (08-5-2015): Văn phòng Quốc Hội Liên Bang Hoa Kỳ từ Thủ Đô Washington D.C. hôm nay đã gởi đến Hội Người Việt Cao Niên Vùng Vịnh Cựu Kim Sơn và Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Bắc California nguyên văn Bản Nghị Quyết Công Nhận Tháng Tư Đen và vinh danh tưởng niệm các chiến sĩ VNCH cùng các chiến binh Hoa Kỳ đã hy sinh cao cả trong cuộc chiến tranh chống csVN để bảo vệ tự do, dân chủ trước ngày 30-4-1975.


UserPostedImage




Bản Nghị Quyết ký ngày 30-4-2015 do Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ ZOE LOFGREN ký tên. Bà Dân Biểu Liên Bang Zoe Lofgren sinh ng ày 21-12-1947, đã đắc cử và hoạt động liên tiếp trong Hạ Viện Hoa Kỳ từ năm 1995. Bà là thành viên cao cấp trong Ủy Ban Điều Hành Quốc Hội, kiêm Trưởng các Tiểu Ban Giám Sát và Tiểu Ban Chính Sách về Di Trú và Thực thi pháp luật.


UserPostedImage


Là một cư dân vùng Vịnh bắc California, thủa thiếu thời bà Zoe Lofgren đã theo học trường High School tại Palo Alto và tham gia tổ chức học sinh trẻ Junior State of America trong các chương trình tranh luận, vận động chính trị, hoạt động thăng tiến học đường. Bà tốt nghiệp Thạc sĩ tại đại học nỗi tiếng Stanfortnăm 1970 và tốt nghiệp tại Trường Đại học Luật ở Santa Clara năm 1975. Bà lập gia đình với chồng là John Marshall Collins vào năm 1978 và làm việc tại văn phòng quận hạt của Edwards. Sau hai năm làm chung tại văn phòng luật ở San Jose, bà được bầu vào Ban Giam Đốc trường Đại học cộng đồng, rồi đắc cử vào Hội đồng Kiểm Soát quận hạt Santa Clara và bà đã phục vụ liên tục 13 năm.

Năm 1994 bà gia nhập làm đảng viên đảng Dân Chủ, sau khi Edwards về hưu sau 32 năm làm việc trong quốc hội. Với kinh niệm và khả năng, bà đã đánh bại cựu Thị trưởng San Jose là Tom McEnery để trở thành nhân vật thứ nhì giữ chức Dân Biểu Liên Bang đại diện cho San Jose tại đơn vị bầu cử số 19 cho đến nay. Bà đã được tái đắc cử tới 8 lần.

Bà Dân biểu Liên Bang Zoe Lofgren là một người bạn luôn có những hỗ trợ và ân cần đối với cộng đồng người Mỹ gốc Việt định cư tỵ nạn csVN tại San Jose. Trong những ngày gần cuốiTháng Tư Đen, nhiều tổ chức cộng đồng tại San Jose đã vận động với Chủ Tịch Hội Đồng Kiểm Soát quận hạt Santa Clara là ông Dave Cortese; tân Thị Trưởng San Jose là Sam Liccardo; và Nghị sĩ Tiểu Bang California Jim Beall ra các Nghị Quyết khác nhau cùng công nhận Tháng Tư Đen và tưởng niệm Ngày Quốc Hận 30-4 nhận 40 năm csVN vi phạm Hiệp Định Paris cưỡng chiếm VNCH.

Nhóm VietPress USA cùng trong nỗ lực nầy, đã đứng ra cùng với Hội Người Việt Cao Niên Vùng Vịnh Cựu Kim Sơn và Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Bắc California vận động với Quốc Hội Liên Bang Hoa Kỳ đề nghị ban hành Nghị Quyết công nhận Tháng Tư Đen và ghi ơn tưởng nhớ đến sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ VNCH và Hoa Kỳ để bảo vệ tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam nhân tưởng niệm 40 năm Ngày Quốc Hận.

Qua sự đề nghị nầy, Quốc Hội Liên Bang Hoa Kỳ đã Ban hành Nghị Quyết như văn bản kèm theo trên đây đã vừa được văn phòng Quốc Hội từ Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn gởi đến cho Hội Người Việt Cao Niên Vùng Vịnh Cựu Kim Sơn; Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Bắc California và VietPress USA. Nội dung của Nghị Quyết là Ghi Nhớ đến tất cả cộng đồng người Mỹ gốc Việt theo nguyên văn được dịch sau đây.

VIETPRESS USA
www.vietpressusa.com


Bản dịch Việt Ngữ:

NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI HOA KỲ
GHI DẤU
CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MỸ GỐC VIỆT



Xét Rằng: 40 năm trưóc đây, Cộng Sản đã tấn chiếm Saigon, chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam và thành lập thể chế cai trị của đảng Cộng Sản trên toàn cõi Việt Nam; và

Xét Rằng: Cộng Đồng người Mỹ gốc Việt hàng năm tổ chức buổi tưởng niệm đánh dấu 4o năm ngày Saigon thất thủ và sự chiến đấu và hy sinh anh dũng của rất nhiều người không ngừng nghỉ để bảo vệ cho tự do và hầu giúp các thế hệ tương lai có một cuộc sống tốt đẹp hơn; và

Xét Rằng: Hàng triệu người Việt đã buộc phải lìa xa quê hương để đi tìm tự do, có hàng ngàn người đã đến đuợc Hoa Kỳ và tại nơi đây những đóng góp thật vô cùng quý báu của họ cho quốc gia của chúng ta. Tôi rất hãnh diện được cơ hội là vị đại diện dân cử liên bang của đơn vị có rất đông thành viên của cộng đồng người Mỹ gốc Việt; và

Xét Rằng: Vào ngày Tháng Tư Đen, tất cả chúng ta cùng ngồi lại với nhau để chia sẻ những kinh nghiệm sống và những câu chuyện của những người tỵ nạn Việt Nam để chúng ta trân trọng và ghi nhớ lại quá khứ của họ, đồng thời chúng ta cũng vui mừng với hiện tại và tiếp tục tranh đấu cho những người còn đang bị sống trong sự kìm kẹp và bóp nghẹt tại Việt Nam; và

Xét Rằng: Cộng Đồng Người Mỹ gốc Việt và tôi luôn ghi ơn, tưởng nhớ những chiến sĩ của miền Nam Việt Nam và các chiến sĩ Hoa Kỳ đã anh dũng bảo vệ cho dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam. Cuộc chiến đấu này vẫn chưa chấm dứt.

DO ĐÓ NGHỊ QUYẾT NÀY ĐƯỢC CHẤP THUẬN BỞI
DÂN BIỂU LIÊN BANG ZOE LOFGREN

Và được trao cho Cộng Đồng người Mỹ gốc Việt để ghi dấu những nỗ lực của họ và như vậy
cũng giúp cộng đồng họ trở nên mạnh mẽ hơn qua những kỷ niệm của biến cố Tháng Tư Đen

Ngày 30 tháng 4 năm 2015
Ký Tên
Zoe Lofgren
Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ

coffeebean  
#710 Posted : Wednesday, May 13, 2015 11:49:29 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
coffeebean  
#711 Posted : Friday, May 15, 2015 12:39:50 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)

Đừng Bắt Con Quên



Buồn nhìn ngọn cỏ gió xoay,
Biết ai còn nhớ ngày này năm xưa.

UserPostedImage


Đừng Bắt Con Quên
Trần Văn Lương


Kính lạy Chúa, con là người tội lỗi,
Trong lòng luôn sôi sục mối hờn căm,
Nhìn quê nhà ròng rã mấy mươi năm,
Đau đớn chịu cảnh lầm than tủi nhục.

Kính lạy Phật, con là người phàm tục,
Thân u mê, đủ lục dục thất tình,
Nên lòng luôn oán hận lũ yêu tinh,
Đang tàn hại bao sinh linh đất Việt.

Nửa thế kỷ người dân con rên siết,
Chốn cao xanh nào có biết cho chăng.
Thân trâu ngựa nhọc nhằn,
Trong bóng tối trôi lăn chờ giải thoát.

Dưới chế độ phi nhân đốn mạt,
Quê hương giờ tan nát tả tơi.
Người dân con chẳng được sống ra người,
Kiếp nô lệ giữa dòng đời khắc nghiệt.

Bọn thống trị đang xóa dần dấu vết
Mấy mươi năm chúng giết hại dân lành.
Tết Mậu Thân tội ác đã rành rành,
Chúng vẫn giở trò lưu manh chối biến.

Đám đầu sỏ gây nên cuộc chiến,
Đem máu xương dân Việt hiến quan thầy.
Triệu người trai còn lứa tuổi thơ ngây,
Bị nướng sạch đêm ngày do lệnh Đảng.

Rồi nhờ Mỹ bắt tay Tàu buôn bán,
Chúng cuối cùng được gán trọn miền Nam.
Và thay vì chung sức dựng giang san,
Chúng hành hạ dã man người thất thế.

Chúng áp đặt nền độc tài chuyên chế,
Chà đạp lên máu lệ của toàn dân,
Nhưng lại ngu si hèn hạ bội phần,
Làm đầy tớ quỳ dưới chân lũ Chệt.

Người yêu nước bị dập vùi đến chết,
Kẻ thương quê nằm rũ liệt trong tù.
Chúng đọa đày cả những bậc chân tu,
Khi họ chẳng đui mù vâng ý chúng.


Con không là thánh sống,
Nên hờn căm cứ mãi đọng trong lòng.
Mỗi lần nhìn chúng tàn hại non sông,
Là dân Việt, làm sao không oán giận?

Ngoài mặt chúng hô hào quên thù hận,
Nhưng bên trong, chúng vẫn chẳng hề ngơi,
Lo bày mưu tính kế hại những người
Khác chiến tuyến mấy mươi năm về trước.

Làm sao “hòa hợp” được,
Với bọn người bạo ngược không tim,
Sống xa hoa trên của nổi của chìm,
Mặc dân chúng chịu trăm nghìn khổ ải.

Con dẫu biết chữ “từ bi”, ” bác ái”,
Nhưng làm sao “hòa giải” với “yêu thương”,
Khi chúng còn mãi gieo rắc tai ương,
Và đem cả quê hương dâng giặc Bắc.

Chúa Phật hỡi, lòng con hằng tin chắc,
Lúc chưa thành Phật tử hoặc “con chiên”,
Con đã là người dân Việt trước tiên,
Giây phút được mẹ hiền cho hơi thở.

Con lạy Chúa, đừng bắt con tha thứ,
Và thương yêu đám quỷ dữ hung tàn.
Nếu đó là điều kiện đến Thiên đàng,
Thì con sẽ sẵn sàng sa hỏa ngục.

Con lạy Phật, nếu bắt con nhẫn nhục,
Thôi hận thù bầy súc vật gian tham,
Để được mon men đến cửa Niết Bàn,
Ngục Vô Gián con đành cam chấp nhận.

Tháng Tư mãi mãi là ngày Quốc Hận,
Ngày đau thương cho số phận dân Nam.
Nên bao lâu còn sống ở trần gian,
Mối thù đó, muôn vàn con phải nhớ.

Xin hãy lắng nghe lời con than thở,
Đừng bắt con tắt ngọn lửa trong tim,
Đừng bắt con mòn mỏi đợi chờ thêm,
Và đừng bắt con quên hờn mất nước.


Trần Văn Lương
Yokohama, đầu mùa Quốc Hận 4/2015





Hãy quên đi ! quên đi những ngày 75
Quên đi cái Tết kinh hoàng Mậu Thân
Về đây ! về đây ta xây dựng lại quê hương
Quên đi, quên đi xin đừng nhớ tới !
Quên đi, quên đi xin đừng nhớ tới !
Đừng nhớ ! Đừng nhớ, đừng nhớ tới bảy trăm ngàn người
Máu tuôn đổ, đầu tuôn rơi
Con đấu tố cha, vợ đấu tố chồng
Hàng triệu người vượt trốn vào Nam
Hàng triệu người đổ xuống biển Đông
Thượng đế, Thượng đế! con cố quên
Quên đi nấm mồ tập thể, năm sáu ngàn sinh linh
Quên đi ! vùng Kinh tế mới
Quên đi ! lao tù cải tạo
Quên đi, cố quên đi!

Nhưng quên sao được , Hà nội bây giờ !
Máu, máu đang đổ, lệ đang tuôn
Công lý sự thật đang vùi chôn
Làm sao quên, làm sao quên!
Thượng đế, Thượng đế, Thượng đế ơi




coffeebean  
#712 Posted : Sunday, May 17, 2015 1:55:30 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)


Kỹ sư Dương Nguyệt Ánh, Lời tâm tình của người con Việt Nam đau đớn cho quê hương, xót thương đồng bào vào ngày 03 tháng 5 năm 2015 tại Montreal, Canada nhân ngày giỗ tổ Hùng Vung và tưởng niệm quốc hận 30/04.

Lời cô Dương Nguyệt Ánh nói khúc chiết, mạch lạc thiệt là rất đỗi xúc động, tuôn chảy tự nhiên, cô không cầm một mẫu giấy viết, soạn thảo dầu là tóm tắt, phác hoạ ý chính.


coffeebean  
#713 Posted : Monday, May 18, 2015 12:30:24 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)



Nếu
Trần Trung Ðạo

Nếu tôi chỉ được một ngày để sống
Xin một ngày được sống thật bình yên
Không ghen ghét, không hận thù, tranh chấp
Một ngày thôi trong tay mẹ dịu hiền

Nếu tôi chỉ được một lần để gọi
Giữa quê người xin gọi lớn Việt Nam
Ôi tổ quốc, bốn ngàn năm hưng phế
Vẫn còn đây qua mấy độ thăng trầm

Nếu tôi chỉ được một lần để hát
Tôi sẽ nghiêm mình hát khúc quốc ca
Xin mặc niệm bao nhiêu người đã chết
Ngọn Cờ Vàng thắm máu của ông cha

Nếu tôi chỉ được một lần để viết
Tôi chẳng ngại ngùng viết chữ thương yêu
Ngừng tay lại, hỡi ai còn chém giết
Hai mươi năm thù hận đã thêm nhiều

Nếu tôi chỉ được một lần để vẽ
Tôi sẽ vẽ hình chữ S thân thương
Từ hải đảo đến núi rừng sông biển
Đất trời ta, dáng đứng đẹp phi thường

Nếu tôi chỉ được một lần để khóc
Xin một lần được khóc cho riêng tôi
Hạt bụi vướng trên vai đời du tử
Tôi bay đi nghìn dặm áng mây trời.


coffeebean  
#714 Posted : Wednesday, May 20, 2015 12:54:34 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
UserPostedImage




Bài Trường Ca Máu
Trần Văn Lương


(Tháng Tư Đen về,
nhớ đến Việt Khang và những người Việt yêu quê hương
đang bị giam cầm trong lao tù Cộng sản)



Phòng giam lạnh, người tù se nét mặt,
Lặng lẽ vin tường, ánh mắt xa xôi.
Trôi lăn trong ngục tối mấy năm rồi,
Chỉ vì “tội” hát lên lời yêu nước.

Sức dẫu yếu, nhưng lòng không khiếp nhược,
Vì quê nhà, luôn giữ được quyết tâm.
Phút giây đây, trong bóng tối âm thầm,
Gượng đứng thẳng, lâm râm câu thề nguyện.


Dù chúng có giam cầm tôi vĩnh viễn,
Vẫn không làm tắt được tiếng hát tôi.
Vì bao lâu còn có chút tàn hơi,
Chí tranh đấu vẫn còn nơi nương náu.

Tôi sẽ viết lên bài trường ca máu,
Vạch trần điều chúng cố giấu lâu nay,
Là dân tôi đang gánh chịu đọa đày,
Sống kềm kẹp dưới bàn tay ác thú.

Tôi sẽ dựng lại xóm làng xưa cũ,
Nơi bao năm luôn ấp ủ tình người,
Nhưng giờ đây, sau một cuộc đổi đời,
Đã bất hạnh thành nơi đầy bất trắc.

Tôi sẽ tới miền cao nguyên xa lắc,
Đang dần dà bị chúng cắt sạch cây,
Và cho Tàu khai thác khắp đó đây,
Mưa trút xuống, thành vũng lầy đỏ ối.

Tôi sẽ nói thay người dân vô tội,
Vượt thác ghềnh đến Hà nội kêu than,
Vì đất đai bị cán bộ tham tàn,
Đem súng ống đến ngang nhiên làm chủ.

Tôi sẽ đến tiễn đưa đoàn ngư phủ,
Chết oan khiên dưới súng lũ giặc Tàu,
Để nhìn rừng khăn tang trắng phau phau,
Mà thấm thía dần nỗi đau bị trị.

Tôi sẽ khấn các vong hồn tử sĩ,
Đau lòng vì chốn yên nghỉ ngàn thu,
Cũng không sao thoát nanh vuốt kẻ thù:
Nghĩa trang cũ thành khu buôn bán lẻ.

Tôi sẽ gặp, dù lòng đau như xé,
Người dân lành đang làm mẹ, làm cha,
Đói nghèo đành đem máu, thận… mình ra,
Cắn răng bán, cầu qua cơn khốn khó.

Tôi sẽ tiếc thương người con gái nhỏ,
Vì miếng ăn phải rời bỏ thôn nhà,
Rồi vô tình vướng cạm bẫy phồn hoa,
Thành hàng hóa bày bán ra xứ lạ.

Tôi sẽ khóc khi nhìn khay thuốc lá,
Của người đang vất vả kiếp thương binh,
Vì cho dân xưa được sống an bình,
Đã không ngại hy sinh phần thân thể.

Tôi sẽ đến góp chung đôi dòng lệ,
Với gia đình những người trẻ hăng say,
Chống bọn Tàu xâm lược, để giờ đây,
Phải đau đớn chịu đắng cay tù rạc.

Tôi sẽ kể hết muôn ngàn tội ác,
Của bọn cầm quyền khắc bạc phi nhân,
Chà đạp nhân quyền, bán nước, hại dân,
Theo lệnh chủ, như một phần món nợ.

Tôi sẽ hát thật to lời nhắc nhở,
Để dân mình luôn nhớ đến non sông,
Để mai sau con cháu giống Lạc Hồng,
Không phải sống lưu vong trên đất Việt.

Và tôi sẽ cầu xin trong đoạn kết,
Cho toàn dân thôi hết sợ bạo quyền,
Cất cao đầu, cương quyết đứng vùng lên,
Đem hạnh phúc trở về trên cố thổ.


Từ ngục tối, từng câu ca thống khổ,
Vượt tường giam như thác đổ băng rừng.
Nhưng than ôi, lòng người đã dửng dưng,
Nên tiếng hát nửa chừng đành đứt đoạn.

Chỉ còn lại mớ âm thanh hỗn loạn:
Tiếng chào mời, tiếng rao bán hét la,
Tiếng bấm hình của các nhiếp ảnh gia,
Tiếng lanh lảnh của các nhà “từ thiện”,

Lẫn với tiếng huênh hoang trò chuyện,
Của đàn người vượt biển năm nao,
Về ăn chơi chè chén xôn xao,
Thành tích nổ ào ào vui hơn Tết.

Người nhạc sĩ trong tù nằm lịm chết,
Bản trường ca đoạn kết chửa kịp vang.
Và ngoài kia, dưới xiềng xích ngoại bang,
Vùng đất khổ vẫn ngập tràn tang tóc.


Đêm đất trọ, mấy ai còn trằn trọc,
Tháng Tư về, mấy kẻ khóc quê hương!

Edited by user Sunday, May 31, 2015 3:08:40 AM(UTC)  | Reason: Not specified

coffeebean  
#715 Posted : Wednesday, May 20, 2015 11:50:26 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)


UserPostedImage



Bốn mươi năm Tội Ác cộng sản,
ở trong trái tim mỗi người Việt Nam chúng tôi:
Mỗi ngày là 30 tháng Tư Đen!

Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ



Bốn mươi năm trước, ngày 17 tháng Tư năm 1975, Phnom Penh rơi vào tay cộng sản Khmers đỏ. Pol Pot và nhiều tên cầm đầu bọn sát nhân tập thể này vốn là đồng chí, đàn em và học trò của Hồ Chí Minh từ năm 1953. Hai nước trung lập Lào và Cam Bốt bị cộng sản Bắc Việt cài người, lấn chiếm, biến đường mòn thành xa lộ. Giao nửa phần đất nước cho Bắc Kinh “bảo hộ” và “kinh doanh”, các lãnh tụ Việt cộng đưa hết lính chính quy chủ lực vào Nam, đóng dọc theo bên kia biên giới Lào-Cam Bốt. Được Trung cộng đào tạo và võ trang, được Liên Sô cung cấp chiến xa và hỏa tiễn, được chỉ huy bởi đông đảo cố vấn Trung-Sô. Đến ngày 30 Tháng Tư năm 1975, bộ đội cộng sản Bắc Việt xâm lăng miền Nam Việt Nam, tiến vào Sài Gòn. Báo cộng sản Pháp ngạc nhiên không thấy “nhân dân đồng khởi”. Và truy tìm không thấy một văn kiện nào của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa chuyển nhượng hay bán đứng một phần đất nước cho Hoa Kỳ hoặc bất cứ một nhà nước nào khác. Cộng sản rao truyền rằng chúng lấy được miền Nam Việt Nam không có “biển máu”. Nhưng chúng tôi biết có nhiều con “suối máu”. Lịch sử mai sau, những nhân chứng và chứng tích, tuyên thệ trước đất trời, sẽ nói lên sự thật đầy đủ hơn. Người dân miền Nam bị lưu đày ngay trên quê hương, trong nhà tù lớn nhứt thế giới. Chỉ vì yêu nước nhưng không theo cộng sản, nhiều trí thức, triết gia, tu sĩ và người cầm bút, nhiều tài năng quốc gia bị cộng sản sát hại, thủ tiêu. Hàng triệu người phải bỏ nước ra đi. Bị công an bắt lại, câu lưu để tống tiền. Bị hải tặc cưỡng hiếp và tàn sát. Bị xua đuổi, chết đuối, chết đói khát, chết vì kiệt sức. Hơn nửa triệu người tị nạn bằng thuyền mất tích trên các biển phía Nam, biển Đông và Thái bình dương. Thay vì “biển máu”, Việt cộng đã tạo nên “biển xác”, xác người và xác thuyền.

Việt Nam bị chia cắt hồi tháng Bảy năm 1954. Khác với Nam Hàn và Tây Đức, hòa bình và an ninh lâu dài không hề được quốc tế bảo đảm cho Việt Nam Cộng Hòa cần có để xây dựng miền Nam. Cộng sản Bắc Việt không ngừng phá hoại và khủng bố, chuẩn bị cuộc xâm lăng, từ Lào và Cam Bốt. Thủ phạm của tấn đại bi thảm kịch cho cả dân tộc, không phân biệt Nam Bắc, chính là Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Lê Duẫn và đám cận thần, thân tín cộng sản. Họ cầm đầu đạo quân bản xứ, thứ lính đánh thuê cho đế quốc cộng sản Trung-Sô để thống trị bán đảo Đông Dương. Cần phải xác quyết rằng cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam sau năm 1954 đến ngày 30 Tháng Tư năm 1975 không phải là một cuộc nội chiến. Lại càng không phải là cuộc chiến của Hoa Kỳ. Chúng tôi biết ơn hơn năm vạn thanh niên Hoa Kỳ và những chiến hữu đồng minh đã hy sinh để giúp đỡ nhân dân miền Nam Việt Nam chiến đấu tự vệ. Dân chúng Việt Nam Cộng Hòa không bị lừa dối như một số đồng bào bất hạnh miền Bắc. Vì vậy miền Nam mới có cuộc Kháng chiến chống cộng dù đơn độc nhưng dũng cảm, chịu nhiều tổn thất đau thương, trước biển người cuồng tín “sinh Bắc tử Nam”. Hàng chục triệu thanh thiếu niên của cái gọi là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bị bọn lãnh tụ cộng sản lừa gạt, cưỡng bức, lùa vào cỏi chết thảm khốc.

Sau khi miền Nam bị cộng sản cưỡng chiếm bất hợp pháp, tâm hồn và trí tuệ của một dân tộc hiếu hòa, cởi mở và chân thật bị quản chế, biệt giam, che mắt, bịt tai, bóp nghẹt tiếng nói. Nền văn hóa Việt Nam kết tinh từ mấy ngàn năm bị thui chột bởi một ý thức hệ ngoại lai, độc ác và không tưởng. Con người bị tẩy não, mất nhân tính, biến thành vong thân vong bản. Bọn vệ binh đỏ Việt cộng đã tàn phá nhiều thư viện lớn, nhiều tủ sách hiếm quý vô giá của miền Nam tự do. Vô số tác phẩm văn chương, biên khảo triết học và tôn giáo đã bị tịch thu, tiêu hủy hoặc cấm đoán. Hàng trăm tác giả văn học bị đấu tố, kết tội độc đoán. Hàng chục vạn tù chính trị, ngôn luận và lương tâm bị nhục hình trong hàng trăm trại tù tập trung.

Lịch sử sẽ ghi đậm nét : ngụy quyền Việt cộng đóng đô ở Hà Nội đối xử cực kỳ tàn ác, bất nhân với đồng bào miền Nam sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975. Tồi tệ, kinh khiếp hơn thời thực dân Pháp. Dân cả nước cũng phải gánh đại khổ nạn cộng sản. Nhưng dân miền Nam vì bất khuất, biết liêm sỉ và ngay thẳng, bị cộng sản hành hạ, làm nhục, giết hại nhiều hơn hết. Cả nước bị nghiền nát dưới sức nặng của quân đội, công an và mật vụ. Bạo hành và trấn áp, thay vì phục vụ nhân dân và bảo vệ tổ quốc, những lực lượng võ trang cộng sản bị sử dụng để duy trì một chế độ độc tài hung ác và tham nhũng nhứt thế giới. Kể sao cho hết những trường hợp người dân bị buộc tội là thù nghịch, phản động, thuộc đủ mọi giới tính, tuổi tác và giai từng xã hội. Bị tra tấn, biệt giam, bỏ đói và đau ốm nặng không thuốc men, đày xa gia đình, nhiều nạn nhân đã chết cô đơn trong địa ngục cộng sản. Làm sao quên được tình cảnh đồng bào bị chà đạp nhân phẩm, lao công là hàng xuất cảng rẻ tiền, trẻ con và phụ nữ bị rao bán ra ngoại quốc làm nô lệ, các bà mẹ dân oan bị chiếm nhà cướp đất. Làm sao không phẩn nộ, đau xót khi những người yêu nước, nam nữ thanh niên, sinh viên, văn nghệ sĩ, nhà báo, tu sĩ, luật sư bị công an đội lốt côn đồ hành hung, đánh đập tàn nhẫn giữa ban ngày. Tội của họ chỉ là đã dám tuần hành để bày tỏ sự bênh vực nhân quyền, tố cáo bất công, tham nhũng. Và phản kháng hành vi xâm lược của Trung cộng, cùng thái độ khiếp nhược, đầu hàng và đồng lõa của bạo quyền Việt cộng. Trong lúc đi triều cống mới đây, các lãnh tụ cộng sản Hà Nội cúi đầu nhìn xuống đất, không biết nhục nhã, hổ thẹn trước gót sắt của lãnh chúa đỏ Bắc Kinh kênh kiệu.


Tạm thay lời kết:


Chế độ thực dân đã là xấu xa nhứt, nhưng bạo quyền Cộng Sản còn tệ hại hơn nhiều”.


Đó là tựa đề lớn của một bài viết mà nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt đã phổ biến và được nhiều nhựt báo ở Thụy Sĩ cho đăng nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày ký Hiệp định Genève năm 1954. Biến cố lịch sử đó đã khiến cho hàng triệu đồng bào đã phải lìa bỏ miền Bắc, liều chết, tìm đường vào miền Nam Quốc Gia, và sau đó là Việt Nam Cộng Hòa. Nhà thơ Việt Nam lưu vong đã viết từ 10 năm trước :

“(…) Khi xưa, Hiệp định Munich cũng đem lại “hòa bình” ! Thứ hòa bình của Thần Chết trong các trại diệt chủng Auschwitz. Và tiếp theo là “trật tự và ổn định”, thứ trật tự và ổn định kiểu cộng sản tại Varsovie, Bucarest, tại Sofia, tại Tirana và Belgrade. Rồi các cuộc “tái lập trật tự và ổn định” đẫm máu của cộng sản tại Berlin 1953, Hà Nội 1954, Budapest 1956, Lhassa 1959, tại Prague và Huế 1968, rồi Vientiane, Phnom Penh và Sài Gòn 1975. Tiếp theo là cuộc diệt chủng Cam Bốt với Khmers Đỏ !

(…) Theo Ân Xá Quốc tế, chế độ Việt cộng đứng hàng thứ hai tại Á Châu và hạng tư quốc tế về thành tích hành quyết các tử tội. Những trò hề luật pháp, các vụ bắt bớ bừa bãi và xử án nặng nề các văn thi sĩ, nhà báo, nhạc sĩ, các vị tu sĩ, tín hữu các Giáo hội thầm lặng, độc lập và các nhà tranh đấu cho Nhân Quyền được coi là vô địch trên diễn đàn thế giới.

(…) Theo Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh vực Nhà Văn bị Cầm Tù, nhiều nhà văn, nhà báo và trí thức đã bị giam cầm vì bị cáo buộc “tuyên truyền, làm gián điệp, gây phương hại cho an ninh quốc gia, lạm dụng các quyền dân chủ hoặc phá rối trật tự công cộng”. Rất quan tâm về tình trạng sức khoẻ suy yếu tồi tệ của nhiều tù nhân và đặc biệt là nhà luật học Lê Chí Quang 33 tuổi bị bệnh thận nặng…

(…) Theo Tổ chức “Minh Bạch Quốc tế ” (Transparency International), Việt cộng là một chế độ “tham nhũng nặng nề”, đứng hàng thứ 85 trên 102 quốc gia trong bảng xếp hạng các nước”. Tại Á Châu chỉ có hai nước Bangladesh và Nam Dương là tranh giành được thành tích này với Việt cộng ! Ít nhứt 35% tiền viện trợ giúp đỡ để phát triển của quốc tế rơi vào túi tham nhũng. Không thể biết bao nhiêu tỉ âu kim Euro hay mỹ kim USD thất thoát mỗi năm. Nhưng “Quốc sách tham nhũng” của đảng Việt cộng là một tội ác kinh khiếp đối với nhân dân Việt Nam mà tỷ lệ đói nghèo chiếm từ 37 đến 50% trên tổng số dân. (…)”.

Những biến động xảy ra năm 1989 và năm 1991 khai mở cho các dân tộc Đông Âu và Liên Sô cũ nhiều lộ trình để giành lại Tự do và Nhân phẩm. Đứng trước những biến cố lịch sử đó, cộng sản Hà Nội vẫn giữ nguyên chủ nghĩa cực đoan cuồng tín. Chúng tôn thờ Staline và Mao Trạch Đông làm kiểu mẫu. Việt cộng còn lên án gắt gao Công đoàn Solidarność ở Ba Lan. Cho nên, ông Raymond Aron đã lên tiếng tố cáo: “Việt Nam (cộng sản), là sự áp bức đẩm máu đó”. Phát biểu của triết gia Pháp nổi tiếng làm nhớ đến câu nói của cựu bí thư đảng Xã hội Pháp, ông Jacques Huntzinger, đặc trách Quan hệ Quốc tế:

Hà Nội là đảng khắc nghiệt nhứt và áp chế nhứt trong tất cả các đảng Cộng sản”. Và còn nữa, cựu tổng bí thư đảng Cộng sản Ý, ông Enrico Berlinguer đã phê phán (các cựu đồng chí đang thống trị bán đảo Đông dương): “Những người (lãnh đạo) cộng sản Việt Nam là những tên đế quốc bẩn thỉu nhứt trong lịch sử các đế quốc”. Nhân dân Lào và Cam Bốt sẽ làm chứng một ngày một tháng năm nào đó trước tòa án quốc tế xét xử những tội ác của những kẻ cầm đầu đảng Việt cộng, cùng với đàn em, đồng chí Pathet Lào và Khmers đỏ.(…)”.



Miền Nam Việt Nam bị bạo quyền Cộng sản tạm chiếm từ bốn mươi năm qua. Gần hai mươi năm sau miền Bắc. Chúng tôi ra đi, biết chắc những người ở lại, và Sài Gòn dung nhan yêu dấu, ngàn năm còn đứng trông. Ra đi, không tìm quên hay bỏ trốn, Đi mở đường cứu lấy quê hương (NHBV). Chúng tôi sẽ trở về quê hương mà chân trời là biên giới mới, nơi chia tay giữa con người và bóng tối, giữa yêu thương và tội ác. Cho nên, ở trong trái tim mỗi người Việt Nam chúng tôi, mỗi ngày là Ngày 30 của Tháng Tư Đen.

(*) Ghi chép từ những cuộc nói chuyện của nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt với các văn thi hữu và bạn đọc tại Hội Chợ Quốc Tế Sách Báo Genève những ngày cuối tháng Tư năm 2015).


Genève ngày 30 Tháng Tư năm 2015

Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
Ligue vietnamienne des Droits de l’Homme en Suisse-Vietnamese League for Human Rights in Switzerland



UserPostedImage



Con Đường Chúng Ta Đi
Nguyên Hoàng Bảo Việt



Ta có ngàn năm xưa dựng nước
Yêu Quê Hương và Quý Tự Do
Ta có ngàn năm để đuổi giặc
Nụ cười tiếng hát cho Tuổi Thơ



Ra đi làm chứng cho lịch sử
Ra đi làm chứng cho ngày mai
Dân tộc hành trình tìm đất hứa
Hơn bốn ngàn năm mới đến đây
Đi vẫn còn đi tìm lẽ sống
Tìm Tự do Nhân Ái Hòa bình
Hạnh phúc Việt Nam thật giản dị
Năm ngón tay trên một bàn tay
Trong thoáng nhìn có chùm hoa nở
Buồn vui phơi ra ánh mặt trời.
Cộng sản làm sao mà đổ nát
Đổ quê hương nát cả tình người
Khủng bố khoác mỹ từ 'Giải phóng'
Tù tập trung hầm tối khổ sai
Tuổi thơ bỏ học đi moi rác
Bụi đời mù mịt bóng tương lai
Đi vẫn còn đi tìm bằng hữu
Người ác hơn thú gọi ‘quang vinh’
Dắt dìu nhau băng rừng vượt biển
Mang theo năm mươi triệu tâm hồn
Đi vẫn còn đi qua cõi chết
Bãi mìn giặc cướp đáy vực sâu
Đi vẫn còn đi vì thế giới
Nhìn Việt Nam nhớ thân phận mình
Nhìn Lào Miên biết đâu địa ngục
'Thiên đường đỏ' đầy hố máu đen.

Mẹ yêu thương ơi không khóc nữa
Nước mắt dành cho mùa đoàn viên
Đau khổ nẩy mầm thành cây lúa
Các con về vàng chói cánh đồng
Cờ lau sẽ thay cờ liềm búa
Vươn lên từng mái ngói nóc tranh
Vươn lên những phố phường yêu dấu
Thăng Long Thần Kinh Gia Định Thành
Vươn lên chóp đỉnh trời xanh biếc
Niềm hân hoan tiếng chim sổ lồng
Hoa lan mọc kín mồ tập thể
Đàn trẻ thơ cười nói huyên thuyên
Bé chăn trâu ơi ngày trở lại
Đường quê không còn bóng hận thù.

Nhớ gương mặt buồn khi Tổ quốc
Nhìn vết thương trên trán đồng bào
Chiếc khăn tang phủ từng mái tóc
Vời trông tưởng chừng mây trắng bay
Đen tối nào hơn màu tuyệt vọng
Đêm tháng tư ác mộng kéo dài
Bạn ngã xuống chờ ta nối tiếp
Quang phục bình minh của đất trời.
Đi không tìm quên hay bỏ trốn
Đi mở đường cứu lấy quê hương
Ta hẹn gặp nhau ngày lịch sử
Sống một mùa Xuân, Xuân Việt Nam
Khắp ba miền vòng tay thân ái
Cao nguyên xuống đón ngàn khơi về...
Vững tay lái giữa vùng bão tố
Nhặt ánh sao để dệt niềm tin
Tin ở con người và đất nước
Biết xót thương cũng biết can trường
Qua tiếng sóng oan hồn nhắc nhở
Dân tộc hồi sinh có chúng tôi
Sấm sét bạo tàn không tắt được
Tiếng hát hò lơ trống ngũ liên

Đêm đêm thấy tấm lòng kẻ ở
Thắp sáng Trường Sơn soi biển Đông (1980)


Nguyên Hoàng Bảo Việt
Dấu Tích Phượng Hoàng
L’Empreinte du Phénix
(Bản tiếng Pháp của bà Hoàng Nguyên)

Bạn Văn - Paris 2008




Quê Hương Ngày Về
Sáng tác: Vũ Chính Nam - Hoàng Nhật Thông - Việt Khang

Ta là người xa quê hương
Ta là người đang tha phương
Đây đoạn đường ta đi mãi không về
Kiếp tha hương sao lắm ê chề
Khi là người xa quê hương
Khi là người đi tha phương
Đây đoạn đường mất lối quay về
Từng ngày qua khiếp sống não nề

Việt Nam tôi đó, sau bao năm lửa khói điêu linh
Nay còn đâu ánh nắng bình minh
Thương dân tốc sống trong ngục tù

Việt Nam tôi đó, thuyết vô thần ai đã mang sang
Máu tuôn tràn nặng gánh dân oan
Đang khóc than một trời Việt Nam

Ta là người yêu quê hương
Ta là người không tha phương
Đây đoạn đường ta đã mong chờ
Kiếp tha phương ta sẽ quay về
Dựng cờ vàng sọc đỏ quê hương
Màu cờ vàng sọc đỏ yêu thương
Cho Việt Nam da vàng máu đỏ
Nét môi cười một trời tự do

Việt Nam tôi đó ! đã đến ngày lịch sử sang trang
Đã đến ngày tà thuyết tan hoang
Cho dân tộc thoát ra ngục tù !

Việt Nam tôi đó! đã đến ngày dân bước hiên ngang
Khắp thôn làng ngõ hẻm thênh thang
Dân xuống đường đồng lòng đứng lên

Việt Nam, Việt Nam ! Việt Nam ! ... Tự do !


coffeebean  
#716 Posted : Sunday, May 24, 2015 1:59:59 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)


Thân Chiến sĩ nguyện xin đền nợ nước
TQLC, Trung Tá Nguyễn Văn Phán



UserPostedImage

Chiếm Lại Con Đường, Cửa Sập, Chiếm Lại Kỳ Đài




Từ Cai Lậy về thủ đô, nhập ngay vào đánh giải tỏa trại Cổ Loa của Thiết giáp và Xóm Mới của Gia Định xong xuôi. Quái Điểu, Tiểu đoàn I Thủy Quân Lục Chiến, về nằm dọc đường Ngô Tùng Châu. Mười hai giờ khuya họp Tiểu đoàn, hai giờ sáng có mặt tại phi trường Tân Sơn Nhứt, bốn giờ sáng lên máy bay bay đi, đi đâu không biết. Đồ khô và tái trang bị không lãnh kịp. Cứ lên phi trường rồi hay. Đó đây những loạt pháo kích, những loạt đại liên rời rạc, những đốm hỏa châu lủng lẳng trên bầu trời. Tôi để lại đằng sau một Sàigòn mang nặng bộ mặt chiến tranh. Những chiếc máy bay C-130 khổng lồ nuốt gọn 800 Quái Điểu và đưa chúng tôi lên cao trong đêm tối mịt mùng.

– Đi đâu bây.

– Nha Trang, tao nghe Nha Trang đang có đánh nặng.

Lượm Đại đội trưởng đại đội 1 (dân Nha Trang) trả lời, Tôn Đại đội trưởng đại đội 2 cãi:

– Đà Lạt.

Phán Phu Nhân nói:

- Đi đâu cũng được, đổi vùng là khoái rồi.

(Khi vào quân trường, Phán trình diện: Tui chánh quán làng Phú Nhơn, ở gần hồ Tịnh Tâm, quận Thành Nội Huế. Thế là sau đấy, giữa lửa đạn và thịt đổ xương rơi, qua tiếng thét trong máy truyền tin cái tên ngụy trang “Phu Nhân” ra đời nghe thật lạ tai!)

– Máy bay chi bay mãi ri bây.

Thời tiết xấu và rồi bánh xe phi cơ cũng chạm đất, những cặp mắt đổ đồn ra khung cửa sổ máy bay. Phú Bài! Cơn gió cắt da, bãi cát trắng trải dài, mưa nặng hột. Thiếu áo lạnh, tất cả đều cuốn Poncho, đứng nhìn đoàn người gánh gồng xuôi ngược, hấp tấp và lo sợ, một số về Truồi, một số lên Dạ Lê và An Cựu.

Phú Bài đó, Tịnh Tâm, Cầu Kho đó. Mạ, dì, chị em mình đó mà không liên lạc được. Tình hình không biết sao, ruột như lửa đốt. Trách nhiệm nặng nề, tôi nằm trằn trọc suy nghĩ thật nhiều để chờ sáng mai. Kỷ niệm thời đi học về trong trí tôi, đẹp quá, nhẹ nhàng quá, vụng dại quá.

10 Giờ sáng, đoàn xe GMC đưa chúng tôi về Huế. Qua Dạ Lê, đồng bào hỗn loạn, nét lo âu hiện rõ trên mặt. Tới An Cựu, dân chúng thưa thớt, nhà hai bên đường đóng kín cửa, dọc quốc lộ 1 từ Huế về Phú Bài. Binh sĩ Nhảy Dù từng toán nhỏ dìu nhau âm thầm đếm bước. Những cái nhìn như nhắn gửi như lo sợ giùm chúng tôi. Mạnh, Đại Úy Nhảy Dù cùng khóa cho tôi biết:

– Huế tang thương và điêu tàn lắm Phán ơi, Thừa cùng khóa chết, Phạm Duy Đà Lạt bị thương…

Mạnh khắp người băng bó, được hai đệ tử dìu về phía phi trường Phú Bài, Mạnh tiếp:

– Phán, mày cẩn thận, không yểm trợ, không thực phẩm, không tiếp liệu, thời tiết quá xấu. Tụi nó chiếm hết thành phố. Đại Nội, Gia Hội. Tụi nó chốt rất kỹ chỉ còn một cái lõm nhỏ ở Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn I ở Mang Cá.

Sau này được nghe nói: Vì nghe tin Tướng Trưởng bị kẹt nặng, nên đại bàng Lê Quang Lưỡng, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Nhảy Dù đã đưa quân đi bộ từ cây số 17 về Huế để cứu Tướng Trưởng. Tôi xin Tướng Lưỡng cho tôi được nghiêng mình chào một cách đầy kính phục cho cái tình nghĩa huynh đệ không bút nào tả nổi này. Để đáp trọn tình nghĩa, Lữ đoàn của Đại Tá Lưỡng cũng hao hụt nặng nề.

Đoàn xe dừng lại bên hông đại học Văn Khoa, cách con đường là trường Trung học Kiểu Mẫu vừa mới xây, đối diện là đài phát thanh Huế. Và trước mặt là cầu Tràng Tiền, chiếc cầu tượng trưng cho xứ Huế, chiếc cầu đã hàng ngàn, hàng vạn lần qua lại, đầy ắp kỷ niệm.

Nhìn qua chợ Đông Ba và phố Trần Hưng Đạo mà lòng quặn thắt. Một mái chợ đã sập, những cột khói ngút trời cách khoảng. Những cột khói khác vươn lên…Cả thành phố đã chết. Huế tôi tang thương đến thế sao? Một nhịp cầu đã sập, tôi nghĩ vành khăn tang trắng đã cuốn lấy Huế.

Xuống tàu tại chân Cầu Tràng Tiền, xuôi dòng sông Hương xanh biếc qua Gia Hội, quẹo trái sông Hàng Bè, cầu Đông Ba đó, có tiệm La Ngu ngày xưa chúng tôi thường mua dụng cụ học trò. Tiếp tục xuống ngang tiệm gạo mụ Đội, có người con gái đẹp não nùng tên Xuân, mà con trai Huế lứa tuổi tôi đều hơn một lần đi qua đó để nhìn người con gái trời cho đẹp. Đến Bao Vinh, dân chúng nhớn nháo khi thấy một đơn vị lớn đang đổ bộ tại bến đò.

Tôi hướng dẫn đơn vị vào Mang Cá nhỏ để tới bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Địch chào đón bằng hàng loạt hỏa tiễn 107 và 122. Tất cả nằm sát vào bờ tường để tránh pháo và tìm chỗ phòng thủ. Tôi cho lệnh Sự, Trung Úy Đại đội phó kiểm soát con cái và chuẩn bị cơm chiều. Trung Úy Sự là sĩ quan trẻ, có tài và đầy nhiệt huyết, xuất thân khóa 19 Võ Bị Đà Lạt, thủ môn hội tuyển Nha Trang, đúng là đa năng đa hiệu. Tôi dự buổi họp Tiểu Đoàn khẩn cấp và quan trọng, tiểu đoàn trưởng ra lệnh:

– Phu Nhân rành địa thế dẫn đầu, 8 giờ sáng mai xuất phát. Kế tiếp là Tôn đại đội 1, Lượng đại đội 2 . Tiếp đến là Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn cùng đại đội chỉ huy, sau cùng là Tòng đại đội 4.

Mục tiêu Phu Nhân phải chiếm là trường tiểu học Trần cao Vân. Trước trường có thành Quân Cụ, vào khoảng 1 đại đội ta đóng tại đó, không biết còn hay mất. Phán hỏi:

– Còn phi trường thành nội thì sao? Tình hình trong Đại Nội, Thiếu Tá có nắm vững không?

– Không rõ, tụi nó chiếm hết, chốt rất kỹ. Tất cả các cửa thành nội tụi nó đều chiếm và chốt rất kỹ. Cửa Hữu, cửa Chánh Tây, cửa Sập, Cửa An Hòa, cửa Đông Ba, Kỳ đài Phu Văn Lâu…tụi nó đều chiếm hết.

Trong óc tôi, 1 bản đồ chi tiết hiện ra rất rõ cho một cuộc hành quân, mà tình hình tôi nắm không được vững. Tôi cố tìm một con đường ngắn, an toàn cho đơn vị để tới mục tiêu. Có rất nhiều đường đưa tới đường Trần Cao Vân, nơi từ 9 đến 19 tuổi tôi đã bao nhiêu lần đi lại. Con đường nào cũng đầy hoa và mộng. Nay tôi đang tìm một con đường không có máu để cho anh em chúng tôi đi.

8 giờ sáng, tất cả đã gọn gàng, sẵn sàng di chuyển. Ba trăm thước đường từ Mang Cá đến nhà tôi sao quá dài. Bồn chồn, nóng ruột vì nơi đó có mạ tôi, dì tôi, chị tôi, và em trai út của tôi đang trông ngóng. Không biết có bị gì không? Thiếu úy Duật Trung đội trưởng trung đội dẫn đầu. Duật xuất thân khóa 21 Đà lạt, hăng say, gan, thích xóc đĩa và gái đẹp, uống rượu rất ít, chỉ phá mồi. Phan và BCH kế tiếp, Thiếu úy Nghênh, trung đội trưởng trung đội 1 tiếp theo. Nghênh kinh nghiệm, gan lì, thích đánh phé nhưng đánh nhỏ, rượu rất ít và không thích gái. Sau cùng là Thượng sĩ Hải, trung đội trưởng trung đội súng nặng. Hải người Nùng, lì lợm già chiến trường, không rượu, không gái, không thuốc lá.

Hai bên đường dân chúng đứng chen chúc, vẻ mặt hớn hở thật tội nghiệp cho họ. Lần lần những khuôn mặt quen thuộc hiện ra, những cánh tay vẫy chào, nào mụ Đội Dậu, mụ Ba, ông Sung, ông Dung, anh Thiên chủ bàn Ping pong… Những tiếng nói đó đây: “Anh Phán đó tề! anh Phán”, tiếng gọi lớn và lan dài suốt con đường tôi đi.

Con hẻm sát bên hồ Tịnh Tâm là đường vô nhà tôi, mạ tôi đó, di, chị và em tôi đó. Xao xuyến quá! Tôi đi nhanh đến ôm Mạ tôi, dì và chị tôi khóc như mưa, thằng em luống cuống chạy quanh, bị Mạ tôi nạt: “Mi chạy vô lấy khúc cá kho khô và đòn bánh tét gói lại đem ra đây bới cho anh mi”. Mạ tôi dụi vào tay tôi chai dầu Nhị Thiên Đường “Con xức cho khỏi gió”. Lính đi ngang hỏi nhau “Mạ Đại Úy sao đầu trọc lóc như vậy bây”. “Bà ấy đi tu để phước cho con, tụi mình cũng được hưởng ké đấy”. Phán và âm thoại viên vẫn còn dừng lại: “Nhà mình có răng không mạ? Bà con thân thuộc có ai bị chi không?” Nhà ông Quế chủ quán Chiêu bị trúng 2 trái, nhưng người thì không răng. Nhà mình bị ngói đổ một góc, cây đào bị gãy ngọn. Còn thằng Chi không biết đi mô. Chi là bạn tôi xuất thân khóa 17 Võ Bị Đà Lạt. Tôi xót xa đắng miệng:

– Thôi con đi. Mạ và gia đình đừng lo cho con.

Mạ tôi khóc òa, tôi thật não lòng. Những tiếng gọi anh Phán, anh Phán, tiếp tục vang lên cho đến giữa hồ Tịnh Tâm.

Tiếng gọi, giọt nước mắt và những cánh tay chào vẫy, phải chăng nhắc nhở trách nhiệm của tôi, bây giờ là lúc đền đáp ơn sâu nghĩa nặng. Vinh dự này thật khổ. Máu nóng sôi trong người, tôi và hai âm thoại viên vượt lên đi với Trung đội đầu. Cuối hồ Tịnh Tâm là đường Tịnh Tâm, tôi cho lệnh quẹo tay mặt theo đường lên nhà ông Ngự Đạt. Như vậy bên hông mặt của con cái tôi lúc nào cũng có bức thành và cái hồ che chở. Cuối đường Tịnh Tâm quẹo trái là trường Tiểu học Đoàn Thị Điểm, nhưng tôi không đi con đường này. Tiếp tục thẳng qua một con hẻm nhỏ, con đường đã bao lần đi lại, nào ăn cắp me, nào ăn trộm sấu, nào hái xoài, nào đào sen, nào học thi, nào thăm người yêu…,con đường nào cũng nhắc tôi bao kỷ niệm yêu dấu không quên.

Đến Canh Nông, chưa thấy phản ứng nào của địch, gần sân bay Tây Lộc dân chúng thưa thớt và kinh hãi. Tôi cho dừng quân bên này đường, một ông già mách:

– Con đường ni bị bắn rất rát, từ trong cửa Hòa Bình Đại Nội bắn ra.

– Còn sân bay thành nội ra sao ôn, có ai không?

– Đánh nhau mấy ngày ni dữ lắm, mà tui cũng không biết răng, không biết mình hơn hay thua nữa.

Tôi chỉ con đường và hướng dẫn Duật:

– Băng qua khỏi con đường này, đến một xóm nhà, qua 1 cái cổng thì bên trái là thành Quân Cụ. Nghênh và Mã Khện yểm trợ hông mặt cho Duật, và sau đó băng qua đường theo tôi.

Con đường chỉ có 5 thước mà hơn 1 giờ mới vượt qua với 6 thằng em rớt rụng trên mặt đất. Lần theo mép đường tới sát ống cống, tôi cho dừng lại, phi trường vắng tanh, tôi bảo Duật:

– Mày cho một thằng con nhỏ qua trước làm đầu cầu bên kia ống cống, chờ đó cho tất cả con cái mày qua rồi vào thành Quân Cụ, chờ tau lên.

Thành Quân Cụ cao khỏi đầu người, không liên lạc được với người bên trong. Tất cả con cái nằm sát thành để tôi và đám cận vệ bò tới cổng chính. Loáng thoáng thấy nón sắt, field jacket, giây ba chạc. không phải tụi nó đâu, chắc chắn là bạn rồi, thằng đệ tử tôi gọi lớn “Ê Thủy Quân Lục Chiến đây”. Một loạt đạn bay qua khỏi đầu một cách rùng rợn. Bò lết vào tới trong đồn, ông đồn trưởng nói tiếng Huế đặc sệt, ông Trung Úy Cát, thủ môn nỗi tiếng của Huế:

– Đại Úy ơi, bảy ngày không ra nổi, nó bao hết, trường Trần Cao Vân, Đại Nội, xóm nhà Bảo sanh, sau lưng trường cách một cái hồ tụi nó cũng chiếm luôn. Dân chúng chạy hết rồi không còn ai cả. Tụi nó pháo liên miên, không cho ngóc đầu, đủ loại cối 61, 82, hỏa tiển 107, 122. Tôi rán cố thủ ở đây được ngày mô hay ngày nấy, còn ngoài nớ tôi không liên lạc được nên không biết tình hình các nơi khác ra răng.

Tôi trở ra báo cáo về Tiểu đoàn. Lệnh của Tiểu đoàn trưởng:

– Phu Nhân chiếm cho bằng được trường Trần Cao Vân, dọn sạch chung quanh. Tiểu Đoàn Trưởng và Bộ Chỉ Huy sẽ lên ở trại Quân Cụ.

Quan Sát địa thế thêm một lần nữa, trước mặt trường là cái am lên đồng, bên cạnh là quán hớt tóc lợp tranh, chỉ có một ghế ngồi, sát đó là ngã ba đường chạy lên cửa sập, một chạy về trường Đào Duy Từ, và một chạy đến trường Trần Cao Vân. Có bốn năm cái đầu lố nhố bên trong trường.

Duật phải chiếm am trước, trong trường bắn ra mãnh liệt, có cả B40. Tôi ra lệnh Nghênh và Mã Khện cầm chân hỏa lực trong trường học. Duật chiếm xong am không một tổn thất. Tôi gọi Thượng sĩ Hải đem hai đại liên và một 57 không giật lên tăng cường cho Duật, để Duật yểm trợ cho Mã Khện vào trường. Sau 45 phút dùng mưu kế cùng với hỏa lực và sự gan dạ, kinh nghiệm, Mã Khện đã chiếm được một lớp học của trường, Nghênh tràn vào cùng với Mã Khện lục soát và làm sạch sẽ.

Hỏa lực từ góc Thành Nội đổ dồn về phía trường học, không sao, đã có thành của các lớp học che chở. Tôi kêu Sự:

– Pháo binh có chưa, kêu về đại bàng Thanh Hóa cứ bắn vào góc thành cho tau. Đến chiều vẫn không có một trái pháo bắn, anh em tôi có 7 đã lót đường cho mục tiêu, và 3 bị thương nặng. Tôi lên sát Duật và bảo đem cây 57 đến:

– Nhắm ngay vào góc thành, tụi nó bắn rát quá cứ phơ cho tau, trật trúng gì không cần, chỉ cần tiếng nổ.

Qua một vạt đất trống, trong một ngôi nhà gạch có bóng người lấp ló, Duật quay 57 nhắm thằng:

– Nhột quá, cho em bung cái nhà này đi.

Tôi bỗng thấy có bóng đàn bà, tôi la lớn:

– Khoan bắn, nhà thầy Tiềm.

Tôi băng qua đám đất trống đến gặp cô và các cháu. Không thấy thầy, tôi chào cô và giới thiệu tôi học sử địa trong trường Bồ Đề với thầy và khuyên cô về dưới phố. Tôi trở lại vị trí mà lòng nao nao buồn. Giờ này vẫn không có pháo làm sao khóa góc thành đó lại. Duật bảo con cái đào hầm cho kỹ tôi dặn: -“Mày cố thủ tại đây cho Tiểu Đoàn lên”. Rồi cùng đám đệ tử lúp xúp chạy đến tiệm hớt tóc để quan sát ngã ba đường và góc Thành Nội, chợt nghe tiếng đàn bà rên la quằn quại, sau cùng chỉ còn tiếng rên nho nhỏ. Nơi góc quán tối tăm, một người đàn bà máu me khắp nửa thân thể, vừa bị thương nặng, lại vừa sanh ra một bào thai lờ mờ tượng hình đứa bé trông giống như con rắn mối. Xót xa, chịu không nổi, tôi ra lệnh đem chôn đứa bé đã chết và chuyển người mẹ về đồn Quân Cụ cho bác sĩ Tựu giúp.

Đến đây 13 người chết, và 3 bị thương nặng để trải thảm cho đơn vị.

Tối đó, Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn đến trại Quân Cụ. Sáng hôm sau, Tiểu đoàn trưởng cho Đại đội 2 của Tôn, và Đại đội 1 của Lượm, dưới sự chỉ huy của đại ca Đã, Tiểu đoàn phó, chiếm nhà Bảo Sanh. Đoạn đường có 30 thước, cách một hồ nhỏ mà phải trả bằng 50 đứa con thân yêu, sau 8 tiếng đồng hồ mới chiếm được nhà bảo sanh. Tôn bị thương ngay từ phút đầu, Lộc Đại đội phó lên thay.

Mười ngày tiếp theo, nhìn nhau qua một con đường vừa đủ xe chạy mà hai bên đều khựng. Mưa vẫn rơi, ray rứt, lê thê, thỉnh thoảng cơn mưa gió thật lạnh thổi qua. Có những trận tấn công chớp nhoáng của địch vào đại đội của Lượm và Lộc, đều bị đánh bật lui. Ngược lại, ta cũng nhiều lần cố tràn qua bên kia, nhưng không chiếm được một tấc đất. Hai bên tải thương đều thấy nhau rất rõ, Lượm bị hao hụt nặng, Phu Nhân lên thay.

Tôi và con cái bò lên từng toán một, địch và ta đã sát nhau, ngóc đầu lên là đạn xuyên qua mũ sắt ngay. Hơn nửa ngày mới trám hết vị trí của Lượm. Lượm và Tòng về phòng thủ cho Tiểu Đoàn. Tối đến pháo địch đủ loại nổ vang trời. Xác chết của anh em nằm trên mặt đường mà không lấy được. Phía bên kia 4, 5, xác địch vẫn để yên, tụi nó không dám ra lấy về. Cố giữ đất, giữ vị trí và làm vài cuộc tấn công nhỏ vẫn không qua đường được.

Từ căn nhà hai tầng cuối nhà Bảo Sanh, một thượng liên và một trung liên nồi của tụi nó kiểm soát con đường rất kỹ, dưới sự chỉ huy của một đứa con gái mặc áo choàng màu xám, tóc xõa dài, nhưng không thấy rõ mặt. Tay đứa con gái chỉ tới chỉ lui thì đạn nổ dồn về hướng đó. Tôi nhắm bắn 2 phát M16 nhưng hụt, nó trốn nhanh vào sau cửa và mất luôn.

Hai mươi ngày nằm chịu pháo và bị bắn sẻ, tối nào hai bên cũng rà máy và chửi nhau. Theo dõi máy, đột nhiên tôi bắt được một câu báo cáo “Bồ câu hết thóc!’, và suy nghĩ địch quân đang hết đạn. Nếu cứ nằm như thế này, một lúc nào đó địch quân chỉ cần ho thật to mình cũng mất vị trí ngay, chỉ vì áp lực quá nặng nề, tổn thất nhiều, tinh thần anh em quá mệt mỏi. Tôi đi đến kết luận riêng: “Nếu mình không đánh nó, chắc chắn nó sẽ tấn công mình”. Tôi trình với tiểu đoàn trưởng:

– Thiếu Tá cho tôi luôn hai thằng để tôi tấn công tụi nó, tôi thấy tinh thần anh em xuống quá, và sức khỏe càng ngày càng hao hụt.

Thiếu Tá tiểu đoàn trưởng không cho, bắt ráng giữ vị trí. Phu Nhân năn nỉ:

– Nếu không thì cho tôi đột kích, tôi cùng vài toán nhỏ tràn qua đường đánh đột kích rồi về. Mình phải chứng minh cho địch quân thấy mình còn dư sức ăn thua đủ, thời địch không dám tấn công mình.

Tiểu đoàn trưởng nói:

– Làm kế hoạch xong cho tôi hay.

Tại hầm của tôi anh em đang chờ họp gồm: Lộc, Đại đội trưởng đại đội 2. Sự, Đại đội phó của tôi, Duật, Nghênh, và Mã Khện. Tôi nói:

– Nằm chờ lâu tau chán quá, chỉ muốn qua đột kích tụi nó rồi rút về.

Tất cả im lặng tôi nói tiếp:

– 4 giờ sáng mai mình đột kích. Nếu giữ được vị trí, tau cho tràn luôn. Bây giờ tau chọn 4 toán. Toán 1: Phán, Điểu, Việt, Can, Dư và Phúc mang máy. Toán 2: Duật và 3 người thật nhanh và gan dạ. Toán 3: Nghênh và 3 người. Toán 4: Thượng sĩ nhất Hải, và 3 người trang bị thật nhẹ, mỗi người 20 quả lựu đạn và 2 băng đạn cong ráp ngược cho M16. Sự và Lộc dẫn con cái ra sát bờ tường, khi thấy khói xanh thì lùa tất cả tràn qua, nếu thấy khói màu vàng thì yểm trợ tối đa cho tụi tao dọọc về. Sự và Lộc về lo cho con cái. Đúng 4 giờ sáng có mặt tại vị trí.

Duật, Nghênh và Hải ở lại, tôi nhìn anh em thật lâu rồi cho biết:

– Tau theo dõi tụi nó báo cáo qua máy, hình như tụi nó thiếu đạn, do đó tau quyết định cuộc đột kích hôm nay.

Tôi nghiêm mặt và lạnh lùng nói:

– Hai ông Duật và Nghênh tôi chỉ định phải đi với tôi, riêng ông Hải tôi cho ông suy nghĩ lần nữa. Lần này đi khó trở về, ông con cái đông, muốn ở lại vị trí tôi cho phép, và tôi hứa rằng, tôi không nghĩ ông thiếu can đảm.

Suy nghĩ một lát, Thượng sĩ Hải trả lời:

– Đại Úy cho tôi ở lại vị trí.

Tôi vui vẻ bằng lòng và gọi Mã Khện đến, Mã Khện đồng ý đi và xin đem theo Hạ sĩ nhất Mười. Tôi tiếp:

– Bây giờ các ông về chọn người xong lên gặp tôi.

Tôi ngồi suy nghĩ miên man, liều, phải liều mới cứu được đơn vị.

4 giờ, các toán trưởng lên gặp tôi có cả Trung Úy Sự . Tôi hỏi lần chót:

– Có ai xin ở lại, cho tôi hay.

Không ai trả lời, tôi căn dặn Sự, nhắc Lộc khi thấy khói xanh thì sao, khói vàng thì sao, phải nhớ kỹ. Tôi đưa 3 toán trưởng bò đến hầm của nhóm tiền đồn ở sát ngã tư đường. Tôi chỉ từng căn nhà bên kia đường:

– Cái thứ nhất gần ngã tư là mục tiêu của tau, cái thứ hai có hàng rào là của Nghênh, căn thứ 3 cũng có hàng rào và cây nhãn cao là của Mã Khện, căn thứ thứ 4 có mấy bụi chuối lớn là của Duật. Tất cả hãy quan sát cho kỹ và chọn một con đường tiến quân thích hợp, không cần báo cáo, miễn sao cho thích hợp thôi.

Tôi tiếp tục quan sát mục tiêu của tôi, căn nhà bằng gạch có nhà trên nhà dưới, kế đó là cầu tiêu xây bằng đá lợp tôn, sát đường là cái giếng xây bằng xi-măng. Trước sân có hai cây vú sữa cao và sai trái. Tôi biết phải làm gì để chiếm căn nhà đó, tôi quay lại nói:

– Lần chót tôi hỏi các ông có ý kiến gì không? Đúng 4 giờ sáng mai tôi sẽ chiếm trước, sau đó tùy các ông bằng mọi cách, phải hốt cho bằng được các mục tiêu tôi ấn định.

Tôi trở lại vị trí, đặn dò Điểu, Can, Việt, Dư và Phúc mang máy:

– Tối nay miễn gác, 3 giờ sáng gặp tau ở đây.

Sau đó tôi gặp Tiểu đoàn trưởng để trình bày kế hoạch, ông nói:

– Nguy hiểm quá, không được, chết cả lũ.

Tôi nói:

– Nếu Thiếu Tá không làm bây giờ, một vài ngày nữa, tụi nó chỉ cần ho là lính mình chạy hết.

Cuối cùng ông chấp nhận:

– Nhớ là có gì thì trở về liền, càng sớm càng tốt.

Tôi dạ nhưng trong đầu tôi nghĩ khác. Trước mắt tôi bây giờ không có gì ngoài đoạn đường từ tiền đồn qua cái giếng, lên cầu tiêu, tới nhà dưới, chiếm nhà trên. Tôi nằm suy nghĩ miên man cho đến 3 giờ sáng.

Trước khi bò ra tuyến xuất phát, tôi nhắc Sự và Lộc một lần nữa cho chắc ăn, 4 giờ kém 10 sáng, toán tôi có mặt ở tiền đồn. Trời vẫn mưa, mưa ở xứ Huế có dư âm của ngày Tết. Trời tối không thấy gì, tôi ngại bắn lầm nhau, gắng chờ một chút nữa, đến 5 giờ sáng mưa vẫn không tạnh, trời vẫn còn tối mù. Năm giờ rưỡi, cái giếng đã nhìn thấy được. Chuẩn bị, tôi cảm thấy hồi hộp. Chỉ cần 4 cái nhảy vọt là qua bên kia đường, nhưng khó như đi lên trời, vì con đường này là con đường tử thần làm ranh giới bên ta và bên địch, và 20 ngày trời không nuốt nổi một thước đất. Rách bao nhiêu cũng không qua được. Bây giờ mình cắt băng khánh thành, phải làm để cứu đơn vị, phải hy sinh để cứu đồng đội. Vừa suy nghĩ xong tôi phóng vụt qua bên bờ giếng, kế tiếp là Điểu, Việt, Can, Dư băng theo. Tất cả ngồi ôm thành giếng, mồ hôi ra như tắm, dù trời lạnh như cắt. Điểu và Cam chiếm cầu tiêu, bỗng một loạt đạn nổ dòn và thật gần, tôi quay nhìn ra đường, Phúc và cái máy nát mình nằm trên mặt đường nhựa, dưới làn đạn mịt mùng của địch. Tôi thét lớn:

– Dư, Việt, chiếm nhà bếp.

Tôi theo sát lên cầu tiêu, bên cạnh Điểu và Can. Súng và pháo nổ dồn dập, một B40 nổ ngay trên đầu mái tôn cong, cả ba thầy trò đều bị miểng nhỏ đâm đầy mặt, tóc râu và lông mày đều bị cháy. Cầu tiêu nhỏ quá, nên tôi cùng Điểu và Can lên nhà bếp. Tôi ra lệnh:

– Điểu và Dư chiếm nhà trên, lục soát thật kỹ.

Để Việt ở lại, tôi và Can cũng lên nhà trên, Điểu và Can giữ cửa chính nhìn ra sân, tôi và Dư giữ cửa sổ nhìn ra sau vườn có nhiều luống khoai lang.

Trời sáng hẳn, tôi lắng tai nghe nhà bên cạnh, chẳng có gì cả, bèn bò trở ra bờ giếng và thấy Nghênh, Duật, Mã Khện vẫn còn bên kia đường. Tôi toát mồ hôi, tôi nhìn thẳng vào mấy ông rất nghiêm và lấy ngón tay ngoắc. Tôi không dám gọi lớn, mấy ông kia gật đầu. Tôi bò trở lên nhà trên. Lựu đạn, súng nhỏ, súng lón, nổ khắp nơi, và nhất là phía bên tay mặt tôi. Tôi biết rằng con cái tôi đã băng được qua đường. Tôi hỏi khẽ:

– Thấy gì không Dư?

Dư lắc đầu. Tôi nghe tiếng thì thào sát vách tường phía ngoài, tôi đoán 7, 8 người đang ở trong một cái hầm, tôi dùng ngón tay đẩy nhẹ cửa sổ. Một loạt đạn từ phía nhà đối diện xuyên ào, ào vào cửa sổ. Bỗng Dư chỉ tay về phía các luống khoai. Tôi đếm đủ 11 người đang bò qua, Ka Ki Nam Định, súng AK và B40, cách vách tường khoảng 20 thước. Tôi đưa súng lên định bóp cò thì Dư kéo lại ra dấu đừng bắn, dùng lựu đạn. Tôi dựng cây súng xuống thật nhẹ, hai tay rút hai trái lựu đạn miệng cắn chốt, Dư cũng thế, 4 trái lựu đạn ném ra cùng một lúc, tiếng nổ xé trời, rồi 4 trái tiếp theo. Bên ngoài tường, tiếng thét lớn rồi tiếng rên và sau đó là im lặng, tụi còn lại, bò sát vào chân tường. Nhìn ra cửa, 5 xác còn nằm vắt trên luống khoai. Một loạt đạn nổ và tôi nghe:

– Chết em, Đại Úy.

Tôi sững sờ nhìn Dư, tay trái ôm ngón út của bàn tay mặt đầy máu, ruột của Dư đổ ra lòng thòng. Dư ngã vật ra chết tại chỗ. Nơi Dư đứng có một lỗ hổng nhỏ ở vách tường. Vì mãi nhìn qua cửa sổ mà không để ý ở phía dưới. Nguyên một họng AK thọc qua lỗ tường để sát vào bụng Dư và nhả đạn. Tôi bắn một loạt M16 ra cửa sổ, và cứ thế, hết quả này đến quả khác, tôi ném tất cả lựu đạn của tôi ra ngoài bờ tường. Hai thằng em đã hy sinh, còn 4 thấy trò phải giữ vững vị trí. Phía bên tay phải tôi, súng vẫn nổ dữ dội. Đến 10:30 sáng tôi cho Điểu liên lạc với Nghênh, Duật và Mã Khện. Điểu băng người ra đi, bốn căn nhà cách nhau 10 phút đi bộ, hơn một tiếng đông hồ sau Điểu mới về, báo cáo là tất cả đã chiếm được mục tiêu. Có đoạn đường nào xa và xấu hơn đoạn đường tôi đang đi!

Toán của Duật, 1 chết, 1 bị thương. Toán Mã Khện 2 chết. Toán Nghênh, 1 chết, 1 bị thương. Tất cả là 6 chết, 2 bị thương. Chúng tôi còn 11 người tại tuyến.

Điểu bò ra giếng, cố đem qua cho tôi một cái máy. Cột máy vào một đầu dây và quăng đầu dây kia qua cho Điểu kéo. Can mở máy, tôi liên lạc với Tiểu Đoàn Trưởng:

– Tôi sẽ cho tràn ngập vị trí với 2 thằng của Lộc và thằng 3 của tôi.

Đại bàng hỏi:

– Tại sao từ sáng đến giờ không chịu liên lạc với tôi? Tôi ra lệnh rút về ngay.

Phán nài nỉ:

– Đây là dịp may, tinh thần anh em đang lên, tôi xin Đại bàng cho làm luôn.

Đại bàng Thanh Hóa nói bằng bạch văn không ngụy trang:

– Nếu anh không rút về, tôi sẽ đưa anh ra tòa án quân sự.

Khí giận bừng bừng, tôi tắt máy không trả lời, trên tay vẫn cầm trái khói xanh. Suy nghĩ thật kỹ! Suy nghĩ thật kỹ! Hơn mấy giờ để đánh mục tiêu, 4 căn nhà và một con đường ngập máu. Mưa vẫn lạnh như cắt da, và mồ hôi tôi vẫn ra như tắm. Cuối cùng tôi đành bảo Điểu chuyển lệnh cho các toán:

– Rút về ngay, mạnh toán nào rút toán đó, không chờ đợi. Mang thương binh theo, xác chết bỏ lại.

Năm thước đường, đi đã khó về còn khó hơn. Mỗi bóng người nhúc nhích là đạn nổ hàng loạt, liên hồi, đạn bắn chéo bốn phía, đạn lưới thật dày trên mặt đường và khắp vị trí. Làm sao trở về đây! Con cái bên kia đường đưa mắt theo dõi. Toán tôi bò ra giếng, bỗng mấy bóng đen vụt qua đường như sao sẹt, nhào vào bờ và được anh em kéo ra sau. Đạn nổ dòn tan cày nát mặt đường. Đây là mấy đứa bị thương nặng, tưởng là di chuyển không nổi, nhưng khi nghe lệnh rút, chúng thu hết tàn lực vùng chạy về chớp mắt không kịp thấy.

Hỏa lực ba phía nổ vùi vào vị trí chúng tôi, các toán đột kích không còn liên lạc với nhau, Điểu và Can vẫn giữ căn nhà. Địch kiểm soát con đường bằng mấy cây thượng liên và trung liên, chúng bắn liên miên. Bên kia đường, Sự và Lộc đáp lễ bằng hỏa lực cơ hữu của Khăn Tím và của 2. Tôi lấy chân đạp vào thành giếng phóng người băng qua đường, lăn mình, nhảy, chạy và té ào vô bờ lề. Anh em kéo vôi tôi vô sau, tôi dừng lại bảo Lộc và Sự bắn từng loạt một để tụi nó dzọt về. Nhìn thấy Việt ngồi thành giếng trố mắt ngó về mà tội nghiệp. Sống và chết cách nhau có một con đường. Tôi hồi hộp xót xa cho mấy thằng em, tôi vừa quay mặt thét:

– Bắn kèm mấy cây thượng liên.

Thì những bóng người bay dzọt qua đường, tim tôi thắt lại, đạn nổ mịt mù. Lần lượt tôi gặp Nghênh, Duật, Mã Khện và tất cả anh em.

Tôi ôm ghì từng đứa, tụi nó còn sống cả, Can và Việt nhào đến ôm tôi một cách dữ dội, đậm đà trìu mến, lính với tay sờ người nắm nhẹ áo tôi:

– Đại Úy, tóc râu Đại Úy cháy hết rồi, mặt bị nhăm nhiều chỗ.

Cả đại đội bất chấp đạn địch, đứng dậy nhìn nhau hãnh diện sung sướng. Tôi báo cáo Tiểu Đoàn: “Tất cả đã về vị trí”. Bỗng tôi thấy thiếu một cái gì, tôi nhìn Can và Việt hỏi:

– Thằng Điểu đâu?

Tụi nó nói: “Lần cuối chúng em thấy nó vừa khóc vừa chạy lung tung tìm xác Đại Úy ở bên ấy”.

– Thôi chết tau rồi, tau phải cứu nó, hai thằng bây theo tau.

Tôi, Can và Việt bò trở ra đường. Bỗng nhiên một bóng người nhảy qua khỏi hàng rào, nhảy qua khỏi miệng giếng phóng nhanh qua đường, nhào lăn rào rào vào vị trí la lớn:

– Ê, tui bây thấy anh Hai đâu không?

Điểu đứng dậy nước mắt đầm đìa, tôi lao đến ôm Điểu:

– Tao định qua kiếm mầy đây.

– Trời anh Hai, tụi nó nói anh Hai chết rồi, em đi lục hết căn nhà mấy chục lần, chỉ không dám ra ngoài hè, mà không thấy xác anh Hai đâu. Hôm qua Mạ có dặn nhỏ với em, phải sát cánh bên anh Hai, nếu có gì thì cũng phải nhớ đem anh Hai về cho Mạ…

Tóc tai, mày, râu ria Điểu cháy nám, áo quần rách bươm, nó khóc mùi mẫn vì thấy tôi còn sống. Rồi nó lại bẽn lẽn cúi đầu, hai hàng nước mắt lã chã rớt xuống đất. Trong một cuộc chiến bạc bẽo lại có một chút tình nghĩa trao nhau qua mấy giọt nước mắt nóng hổi.

6 giờ chiều, xuống trình diện Tiểu đoàn trưởng, ông nói ngay:

– Ông làm những chuyện nguy hiểm quá, lỡ kẹt bên đó thì nói làm sao với Lữ Đoàn?

Tôi dạ dạ, vâng vâng cho qua rồi nghiêm mặt đề nghị:

– Thưa Thiếu Tá, ngày mai cho tôi tấn công, tôi tin chắc sẽ tràn ngập vị trí tụi nó. Cho tôi thêm 2 thằng của Lộc, để 1 thằng của Lượm đi sau thu dọn chiến lợi phẩm. Chỉ xin Thiếu Tá cho tôi hai chiếc tank kèm 2 bên hông của tôi. Ông hỏi:

– Có chắc ăn không Phán?

Tôi cương quyết:

– Chắc, và nếu tràn được vị trí, Thiếu Tá cho phép tôi đánh thẳng lên Kỳ Đài nếu kịp thời gian. Theo tôi, Tiểu Đoàn trưởng nên trình lên ông Già Hự (Đại Tá Đàm Quang Yên Tư Lệnh Phó).

Ông Già chấp nhận.

Tôi trở về họp các Trung đội trưởng:

– Ngày mai 8 giờ sáng, Đại đội 3 Khăn Tím bên trái, đại đội 2 của Lộc bên phải, dàn hang ngang, lấy con đường bên cửa Sập làm chuẩn, tiến song song. Sau khi 2 chiếc tank yểm trợ bằng hỏa lực xong, cả hai Đại Đội xung phong tràn ngập, vượt qua mỗi chốt thật nhanh, không cần thâu lượm chiến lợi phẩm, để cho Đại đội 1 đi sau làm chuyện đó. Tất cả balô và đồ ăn để lại, trang bị thật nhẹ, khi tới xóm nhà sát cửa thành thì chờ tôi.

coffeebean  
#717 Posted : Sunday, May 24, 2015 2:05:19 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)

Thân Chiến sĩ nguyện xin đền nợ nước
TQLC, Trung Tá Nguyễn Văn Phán



(tiếp theo)

Đúng 8 giờ sáng ngày hôm sau, dàn quân, hai chiếc tank Ontos hạng nặng tiến lên, mỗi chiếc trang bị 6 cây đại bác 106 ly. Tôi chỉ vị trí cho 2 trưởng xa người Mỹ, rồi ra lệnh khai hỏa. Hy vọng 12 cây 106 này sẽ san bằng mục tiêu trước mặt cho con cái tôi được dễ dàng đôi chút. Nhưng mỗi chiếc tank chỉ bắn một phát đạn duy nhất, rồi chạy lùi biến mất, không biết chạy về đâu. Tôi hết hồn, quân đã dàn xong, bắt buộc tôi phải ra lệnh xung phong. Tôi hét thật lớn, hét khản cả cổ: XUNG PHONG! Cả một đoàn quân, dàn hàng ngang, không một ai nhúc nhích. Con đường trước mặt, con đường của 21 ngày máu và nước mắt, con đường tráng nhựa đẹp đẽ, nhưng băng qua là đi vào cõi chết. Tôi tức giận chửi thề lung tung, rồi chụp cây đại liên M60 của một người lính bên cạnh, bắn một loạt dài, rồi một mình tôi vừa bắn, vừa băng qua đường cùng với toán cận vệ: Can, Việt, Điểu và 2 thằng mang máy. Qua khỏi đường xông tới trước, tiếng đại liên của tôi nổ dòn. Đúng lúc ấy cả đoàn quân hô xung phong và ào qua đường. Sau đó đoàn người vượt nhanh qua mặt tôi và lướt tới trước. Súng nổ vang rền, đoàn quân tiến đều. M16 bắn vãi vào chốt, lựu đạn ném vào chốt, đạp chốt, băng chốt, lướt qua, cố giữ đội hình. Tiếng nổ inh tai liên tục, đàn áp thật mãnh liệt và chạy tới trước. Đến 3 giờ chiều, chúng tôi đến xóm nhà sát cửa Sập. Tôi ra lệnh:

– Mỗi ông cho tôi 1 toán 10 người, băng thật nhanh đến áp sát mặt thành xong, ngồi xuống. Toán kế tiếp chạy đến leo lên vai toán thứ nhất để toán này đổ dồn lên thành. Khi bám được mặt thành thì tác xạ tối đa và bằng mọi cách giữ vững vị trị làm đầu cầu.

Con cái tôi hành động đẹp còn hơn tài tử xi nê. Tiếng đạn lớn, nhỏ nổ rền, hai toán lên thành chiếm xong vị trí.

Tôi cho con cái đem bàn ghế ra chất sát tường và leo lên ngay. Tiếng đạn và pháo địch vẫn mãnh liệt trên nóc thành, phải khóa lại.

Một chặng đường xương máu đã vượt qua, bây giờ mục tiêu chính, mục tiêu của niềm hãnh diện, mục tiêu của ơn sâu nghĩa nặng: Kỳ Đài Huế.

Đây là nơi tượng trưng linh thiêng của dân tộc nói chung, và cho Huế nói riêng.

Duật và 20 người tiến chiếm 6 cây súng thần công to lớn, từ đó Duật dùng hỏa lực kềm địch ở cửa Ngọ Môn, yểm trợ cho Nghênh và Mã Khện chiếm Kỳ đài.

Phản ứng của địch bắt đầu yếu, 5 giờ 12 phút chiều, màu áo rằn ri Thủy Quân Lục Chiến VNCH đã làm chủ Kỳ Đài.

Một thằng em rút đâu trong người ra một lá cờ vàng 3 sọc đỏ thật lớn. Tôi gọi về Tiểu đoàn:

– Tất cả sạch sẽ, xin Thiếu Tá cho tôi treo cờ.

Tôi còn nhớ rõ lệnh của Trung Tướng Lê Nguyên Khang:”Một người lính Thủy Quân Lục Chiến duy nhất còn sống sót cũng phải dựng lại cho được ngọn cờ vàng tại Phú Văn Lâu.”

Trong niềm vui sướng tột cùng, Hạ sĩ Hạnh thét lớn:

Thủy Quân Lục Chiến!

Xong lấy trái hỏa châu đập mạnh, định bắn pháo bông lên trời ăn mừng.

Trong cơn say chiến thắng, Hạnh xoay ngược đầu hỏa châu vào mình, hỏa châu nổ xuyên bụng. Hạnh cười tươi:

– Em không sao Đại Úy.

Phán nghĩ thằng em này tỉnh táo quá, chắc nó chết. Và nó chết thật.

Tiểu đoàn trưởng bảo Phu Nhân giữ đầu máy chờ. Sau này tôi được nghe: “Khi báo cáo về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn I, Chuẩn Tướng Trưởng xin Thủy Quân Lục Chiến dành vinh dự treo cờ cho Sư Đoàn I”. Sáng hôm sau ngày 24 tháng 2 năm 1968 (dương lịch), Phạm Văn Đính dẫn một đơn vị của Sư Đoàn I từ cửa Thượng Tứ lên Kỳ đài làm lễ thượng kỳ.


UserPostedImage

Mậu thân Huế – 1968, Thủy Quân Lúc Chiến và Hắc Báo (SĐ1) cắm cờ chiến thắng trên cột cờ Phu Văn Lâu




Hạnh phúc vô biên khi Cờ VNCH được dựng lại tại Kỳ Đài Phú Văn Lâu sau 23 ngày bị cộng quân cho treo cờ của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ, một tổ chức CS được lãnh đạo bởi Lê Văn Hảo và Thích Đôn Hậu.

Nhìn lá cờ vàng bay phất phới trên nền trời màu xám của Huế, tôi hãnh diện thật sự vì một thằng con của Huế đã góp phần dựng lại ngọn cờ này.

Trung Úy Sự trình tôi:

– Thằng Hạnh chết, mình còn 67 người.

Đại đội ra đi hơn 170 người, sau 24 ngày, với bao nhiêu lần bổ sung quân số, chỉ có 3 mục tiêu: Con đường, Cửa Sập, và Kỳ đài mà bây giờ chỉ còn lại 67 người.

Sáng hôm sau, tôi về phối trí đóng quân lục soát ở khu vực cửa Đông Ba, nhà Thương Nhỏ, chợ Xép. Ngã tư Anh Danh.

Bộ chỉ huy của tôi đóng tại một tiệm cầm đồ, tiệm này có Tôn và Lưu cùng học với tôi một lớp hồi còn nhỏ. Trong nhà không còn ai cả. Chiều hôm đó tôi gặp lại rất nhiều bạn bè cũ. Tình hình chưa được an ninh hoàn toàn, nhưng đóng quân ở đây, chúng tôi nhẩn nha hơn trước nhiều. Tôi đi kiểm soát các vị trí và cho lệnh lục soát tàn quân địch.

Lính canh bắt giải tới một người đàn ông lớn tuổi, gầy ốm, ăn mặc lếch thếch, áo vest nhàu rách, tóc tai rối bù, và dơ bẩn, miệng nói lí nhí. Người lính nói với tôi:

– Lịnh giới nghiêm đã 11 giờ đêm, sao ông này còn lang thang trên hè phố, em nghi quá.

Tôi sững sờ nhìn người đàn ông:

– Thầy Cao Hữu Triêm, trời ơi thầy.

Tôi gọi mấy tiếng lớn mà thầy cũng không nghe, thầy tiếp tục lẩm bẩm rất nhỏ, tôi cầm tay mời thầy ngồi:

– Con là học trò cũ của thầy đây.

Một ánh mắt lạc lỏng xa vời:

– Ờ ờ, sao con khỏe không, thầy mấy ngày ni chưa ăn chi cả.

Lính tôi kiếm cơm trắng và một đĩa gà luộc về, mời thầy xơi. Tụi nó còn kiếm được một bình trà nóng mời thầy. Sau một hồi thầy tỉnh tảo và cho biết:

– Cô và cháu nhỏ sắp vào Đà Nẵng, thằng con lớn bị chết rồi. Thầy không muốn về nhà nữa, rồi thầy khóc, giọt nước mắt lăn dài trên đôi má nhăn nheo.

– Thôi, thầy ở đây với con cho yên.

Tôi nói lính của tôi thay nhau hầu hạ thầy ân cần, đến ngày thứ Tư thầy đòi đi, tôi thu xếp để thầy vào Đà Nẵng. Từ đó tôi mất tin tức của thầy. Mong thầy bình yên.

Được sinh ra và lớn lên ở Huế, tôi cố trả một phần nào chữ hiếu cho nơi chôn nhau cắt rún. Máu của tôi, của anh em tôi, của đồng bào tôi đã tạo thành một cơn sóng thần cuốn đi tất cả kẻ thù, để dựng lại ngọn cờ trên Kỳ Đài tượng trưng cho Huế.

Hai mươi năm sau, hồi tưởng lại máu và xương kia đã theo giòng Hương Giang cuốn tôi và bằng hữu ra biển, bắt làm người biệt xứ.

Lạy trời, một ngày nào đó, cũng Cô Đô đó, cũng Kỳ Đài đó, cho tôi được góp phần dựng lại ngọn cờ một lần nữa để đền đáp ơn sâu và nghĩa nặng nơi tôi đã sinh ra, nuôi tôi lớn lên và cho tôi làm người.

Bốn mươi năm sau, kể từ ngày bị buộc phải buông súng, sống kiếp đời lưu vong, hào khí của người anh hùng TQLC/ VNCH vẫn còn đây:


Khi Tôi Chết, Đừng Đưa Tôi Ra Biển

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Lao Bảo, Khe Sanh
Để đêm nghe vang động khúc quân hành
Ôi lính chiến một thời kiêu hãnh quá.

Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Ben-Hét, Đắc-Tô
Nơi bạn bè tôi xây mộng giang hồ
Nguyện trấn giữ dãy Trường Sơn yêu quí.

Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển,
Đưa tôi về Bình Giả, Chiến khu D
Cho hồn tôi siêu thoát với lời thề
Thân chiến sĩ nguyện xin đền nợ nước.

Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Cái Nước, Đầm Dơi
Đêm U Minh nghe tiếng thét vang trời
Mừng chiến thắng để dâng về Tố quốc

Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển
Trả tôi về với dân tộc Việt Nam
Gói thân tôi Ba sọc đỏ mầu Vàng
Xin liệm kín với hồn thiêng sông núi.




coffeebean  
#718 Posted : Monday, May 25, 2015 1:54:08 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)

UserPostedImage




Nhân ngày lễ Chiến Sĩ Trận Vong (Memorial Day).
Xin trích đăng bài viết của Vi Anh về một tác phẩm được in ấn phát hành, và dựng thành phim. Câu chuyện thật sự của những người lính Việt - Mỹ chiến đấu bảo vệ miền Nam Việt Nam trước thảm hoạ xâm lăng của đế quốc đỏ.

Tựa đề : "Ride The Thunder", được dich sang tiếng Việt "Cưỡi Ngọn Sấm"
...



Cưỡi ngọn sấm - Ride the Thunder. Cuốn phim cảm động và trung thực về chiến tranh VN.
Vi Anh và tài liệu tổng hợp


Published: 25 March 2015

Hơn bốn mươi năm trôi qua/ nước vẫn chảy dưới cầu Đông Hà/ mây bay trên cổ thành Quảng Trị/ nhiều trang sách bụi phủ mờ/ bọn sử gia ngụy tín cúi gục đầu/ lũ phản chiến câm như đá núi/ có người vẫn cưỡi trên đầu ngọn sấm/ đi rao truyền sự thật về người/ và một vùng đất…

Ride The Thunder là một cuốn phim tài liệu, dựng theo nội dung cuốn sách có cùng tên, “Ride the Thunder: A Vietnam War Story of Honor and Triumph,” tạm dịch là “Cưỡi Ngọn Sấm: Câu chuyện về danh dự và vinh quang trong cuộc chiến Việt Nam,” phát hành năm 2009.


UserPostedImage




Cả sách lẫn phim đều là tác phẩm đầu tay của Richard Botkin, và ông cũng là nhà sản xuất phim.

Qua điện thoại, Richard Botkin cho báo Người Việt biết, để viết sách và thực hiện phim, ông phải đọc cả 100 cuốn sách về chiến tranh Việt Nam, đi thăm Việt Nam 4 chuyến, để nghiên cứu, gặp gỡ và phỏng vấn nhiều nhân vật.

Giúp ông Richard Botkin thực hiện cuốn phim, ngoài đạo diễn Fred Foster, còn có nhiều người Mỹ gốc Việt, như nữ tài tử Kiều Chinh, trong vai trò một co-producer, cố vấn cho đội ngũ làm phim về nghệ thuật sáng tạo hình ảnh đằng sau ống kính.

Là phim tài liệu “low budget,” Ride The Thunder không được quảng cáo rầm rộ, nhưng ông Richard Botkin tin chắc rằng tác phẩm sẽ làm khán giả, nhất là những ai có dính líu đến Việt Nam, “xúc động.” “Lý do, là vì câu chuyện được phim kể lại là chuyện thật, tiêu biểu của biết bao nhiêu người Việt tị nạn. Xem qua, hầu như ai cũng thấy hình ảnh của mình hay của người thân mình trong đó.” Ông Botkin nói.

Có ít nhất là một người đồng ý với ông.

“Cảnh về Quảng Trị làm tôi rớt nước mắt. Cha tôi trước kia phục vụ ở đó!” Một Facebooker ký tên Bình Nguyên viết trên trang Facebook của mình, sau khi xem khúc phim chiếu thử. Cảnh được Facebooker Bình Nguyên nói đến là một cảnh tại Ðông Hà, Quảng Trị, vào Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972.


Huynh đệ chi binh


Trận chiến giữa hai bên lúc ấy đã trở nên ác liệt, khi Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) bị dồn vào tình thế trứng chọi đá, trước chiến thuật biển người của quân đội Bắc Việt. “Chúng ta còn khoảng 700 quân sĩ. Phía bên kia sông, cộng sản có khoảng 20,000 người.” Người sĩ quan quân lực VNCH nói với đồng đội chung quanh bằng một giọng trầm buồn.

Ngồi đối diện ông trong ánh lửa đêm bập bùng, người cố vấn Mỹ, mồ hôi nhễ nhại, ánh mắt đẫm niềm lo lắng lẫn cảm thương, khẽ nói với người bạn đồng đội trong giây phút đó sẻ chia cùng một số phận: “Nếu giữ được cây cầu, chúng ta sẽ bảo vệ được Ðông Hà.”

Không đáp lời, người sĩ quan VNCH lạnh lùng nói lớn, nét cả quyết không giấu hết được bi thương trên khuôn mặt. “Lệnh của chúng ta là bảo vệ Ðông Hà, chúng ta chiến đấu ở Ðông Hà, và sẽ chết ở Ðông Hà!

Chỉ qua những ánh mắt nhìn nhau ngắn ngủi, tài diễn xuất của hai tài tử đã cho khán giả cảm nhận được tình cảm huynh đệ chi binh gắn bó của hai người đồng đội khác chủng tộc, nhưng cùng một chiến tuyến. Ðó là tình cảm có thật của hai nhân vật có thật, cựu Trung Tá Lê Bá Bình, nguyên tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến VNCH, và Ðại Úy John Ripley, một người trong nhóm cố vấn cho Tiểu Ðoàn 3, Thủy Quân Lục Chiến VNCH.

Cây cầu” mà Ðại Úy John Ripley nói đến là cầu Ðông Hà, cây cầu kiên cố do công binh Hải Quân Hoa Kỳ xây bằng bê tông cốt sắt vào năm 1967, mà chỉ ít lâu sau, cả hai được cấp trên là Trung Tá Turley ra lệnh phá hủy, để ngăn chặn không cho chiến xa và thiết giáp của bộ binh Bắc Việt tràn vào Quảng Trị, và Huế.



UserPostedImage

Lệnh của chúng ta là bảo vệ Đông Hà, chúng ta chiến đấu ở Đông Hà, và sẽ chết ở Đông Hà"
Trung tá Lê Bá Bình cả quyết nói. ( Cảnh trong phim)




Ðại úy John Ripley tình nguyện là người mạo hiểm phá cầu trong lúc hỏa lực của địch quân đang dầy đặc. Trước những cặp mắt theo dõi lo lắng và hồi hộp, ông nhận khối thuốc nổ nặng gần 500 lbs, bò dọc theo những thanh sắt dọc theo cầu, kiên nhẫn đặt từng thỏi mìn một. Trong lúc John Ripley gài mìn, Trung Tá Lê Bá Bình vừa bận rộn điều động 700 quân sĩ rải dọc theo hai bên cầu để bảo vệ đồng đội, vừa để mắt theo dõi từng động tác của người đồng đội chí thân.

Nhớ lại giây phút này, Trung Tá Lê Bá Bình kể với nhật báo Người Việt:

Việc gài mìn không phải là việc của một cố vấn. Nhưng ông ấy làm vì tình cảm của mình, vì muốn làm một việc phi thường. Trong suốt mấy tiếng đồng hồ, chúng tôi yểm trợ bảo vệ ông. Vừa bắn, vừa nhìn ông, tôi vừa lo lắng. Chúng tôi bắn tác xạ tối đa về phía Việt Cộng, mình cố hết sức mình để bảo vệ, nhưng chiến tranh mà, ai đâu biết số kiếp ông như thế nào.”

Ðặt xong bó mìn cuối cùng, ông ấy bò lên, hai chúng tôi nói thật lúc đó như tình nhân vậy, ôm chầm lấy nhau, thật chặt. Vừa ôm nhau vừa cảm ơn Trời Phật cho hai đứa còn sống sót.” Trung Tá Lê Bá Bình tâm sự.

“Ngày cuối cùng tôi gặp John Ripley ở Việt Nam là ngày chúng tôi từ căn cứ Ái Tử về dưỡng quân ở Thừa Thiên, Ripley mãn hạn về Mỹ cuối năm 1972. Ông Ripley là một người rất dễ thương, nụ cười luôn luôn ở trên môi. Lính (TQLC) rất thương ông. Ông rất mê thức ăn Việt Nam, nhất là món chả giò. Còn xuống bếp nói với tà lọt tôi chỉ cách làm chả giò, làm nước mắm cay để khi nào về nước, làm cho vợ ăn.”

Họ xa nhau một thời gian rất dài. Về nước Ðại úy John Ripley được ban thưởng huy chương Navy Cross vì sự quả cảm trong việc phá hủy cầu Ðông Hà, rồi dần dà được thăng chức Ðại tá.

Trong khi đó, ở lại Việt Nam Trung Tá Lê Bá Bình tiếp tục trách nhiệm của một sĩ quan quân lực VNCH, rồi sau biến cố 30 Tháng Tư, bị giam cầm 12 năm trong các trại tù cải tạo.

Xa nhau ngàn dặm, và nhiều biến cố cuộc đời, không làm Ðại úy John Ripley quên người đồng đội, và có thể nói là người đã giúp ông thoát lưỡi hái tử thần năm xưa, lúc điều động 700 chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến nã đạn vào quân địch.

Năm 2003, qua nhiều nỗ lực và quyết tâm của John Ripley, hai người tìm lại được nhau.

Ngày John gọi điện thoại chúng tôi hét lên trong máy vì mừng rỡ.” Trung Tá Lê Bá Bình kể.

Tôi ở San Jose, John cứ nhất định đòi mời tôi lên Washington, DC. Lúc đó, tôi còn bận lo kiếm cơm, làm gì có ngày nghỉ phép, làm gì có tiền đi đâu. Nhưng John cứ nằng nặc mời tôi qua.”

Ông kể tiếp:

John bảo chính phủ còn nợ tôi một cái huy chương.

Huy chương gì?

Ði qua thì sẽ biết huy chương gì, do Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng thay mặt Tổng Thống Bush, trao cho. John nói.”

Thế rồi đùng một cái Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ gửi cho hãng của Trung Tá Lê Bá Bình một lá thư, yêu cầu tạo điều kiện cho ông đi Washington, DC, để nhận huy chương Silver Star, mọi phí tổn do Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đài thọ.

Ngày được gắn huy chương, John cho tôi biết thêm một tin vui nữa là sau khi tôi trở về San Jose, sẽ có một Trung tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tên là Richard Botkin đến tìm tôi, hỏi chuyện, để viết sách.”


Trả sự thật cho lịch sử


Ðược hỏi lý do viết thêm một cuốn sách rồi lại làm thêm một cuốn phim về Việt Nam, tác giả Richard Botkin nhắc lại câu nói bất hủ của cố Tổng Thống Nixon: “Không biến cố nào trong lịch sử Hoa Kỳ bị hiểu lầm hơn là chiến tranh Việt Nam. Cuộc chiến này trước đây bị tường trình sai lệch, và giờ đây được nhớ lại một cách sai lạc.”

“Gặp và nghe chuyện của Trung Tá Lê Bá Bình là chuyện tình cờ. Nhưng từ đó, tôi đã nghiên cứu nhiều vô cùng, đọc biết bao nhiêu tài liệu, cả trăm cuốn sách, và nói chuyện với rất nhiều người, để cuối cùng phải đi đến kết luận là, đa số sách viết sai về cuộc chiến này, sai về dữ kiện lịch sử, về con người, người dân, người lính VNCH và người cựu chiến binh Hoa Kỳ.”


UserPostedImage

Những người sĩ quan của QLVNCH bị đày ải trong nhà tù cải tạo của CS, họ kéo cày thay trâu. (Cảnh trong phim)




Tôi muốn thay đổi những nhận thức và ký ức sai lạc đó.”

Trả lời câu hỏi ông muốn thay đổi nhận thức gì, đâu là sự thật?

Ông Richard Botkin nói:

Những người nói miền Nam thất thủ vì quân sĩ VNCH thiếu can trường, còn cựu binh Hoa Kỳ chỉ là những người trai trẻ bị tổng động viên, không có lý tưởng, là không hiểu đúng lịch sử. Người lính VNCH rất can trường, chiến đấu trong danh dự, và bạn họ, các chiến binh Hoa Kỳ xả thân vì yêu nước, vì chia sẻ lý tưởng chống cộng sản.”

Sự thật những người lính quân đội Việt Nam Cộng Hòa là những người quả cảm. Không ai muốn ngừng chiến đấu cả. Miền Nam Việt Nam đã gần đoạt được chiến thắng rồi. Nhưng họ phải bỏ súng vì Hoa Kỳ quyết định không hỗ trợ, không viện trợ nữa, trong khi miền Bắc vẫn tiếp tục được Nga và Tàu hỗ trợ.”

Còn nhiều sự thật nữa mà ông Richard Botkin muốn đưa lên màn ảnh. Sự thật về sự tàn ác của bên thắng cuộc tại những trại tù cải tạo. Sự thật về những người vợ có chồng đi cải tạo vừa bươn chải lo cho con, vừa đối phó với mọi khó khăn của cuộc sống, vừa bóp chắt thăm nuôi chồng, vừa mòn mỏi đợi chờ, cho đến ngày chồng hoặc được thoát khỏi ngục tù hay được tin chồng đã chết.

Ông Richard Botkin cho biết cũng vì mục đích trả lại sự thật cho lịch sử mà ông muốn biến cuốn “Ride the Thunder: A Vietnam War Story of Honor and Triumph” thành phim.

“Người Mỹ họ lười đọc sách lắm, cô thấy không? Vì thế tôi nghĩ chắc phải làm thành phim thì mới có nhiều người xem.”

“Ðây chỉ là một phim tài liệu loại ‘low budget,’ nhưng vẫn tốn khá nhiều tiền. Cá nhân tôi tài trợ 2/3 cho cuốn phim. Số còn lại, được một vài người góp sức.”

Cũng may, nhà làm phim Richard Botkin cho biết ông thấy ấm lòng khi được sự tiếp nhận nồng ấm của cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

“Chúng tôi làm việc trong tinh thần rất thân thương.”

Về điểm này, nữ tài tử Kiều Chinh tâm sự:

Chúng tôi đến với nhau như một gia đình. Trong lúc quay phim, ông Richard Botkin có mặt từ ngày đầu đến ngày cuối. Sáng sớm ở Hawaii mọi người còn ngủ ông đã lái xe đi mua cà phê về cho mọi người uống. Trưa nóng ở sân quay, ông mang khay nước về mời từng người…

Phim Ride The Thunder theo hai tài liệu giới thiệu bằng tiếng Anh, là một cuốn phim về Chiến Tranh Viet Nam về danh dự và chiến thắng, có hình quốc kỳ Mỹ và quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa.
Tài liệu thứ hai ở trên có hình một người Việt là tài tử Joseph Hieu và tài tử Eric St John, với quân phục Thủy Quân Lục Chiến, vẻ mặt rắn rỏi, đậm gió sương, nụ cười tự tin với tựa phim Ride The Thunder và câu giới thiệu A Viet Nam War story of Honor and Triumph (câu chuyện danh dự và chiến thắng về Chiến Tranh Viet Nam). Bên dưới là hình của tài tử này trong tù cải tạo của CS, đầu trần ướt đẫm mồ hôi đang kéo cái bừa thay cho trâu khi lao động khổ sai trong ngục tù CS.

Liệu cuốn phim Ride The Thunder rồi có thay đổi được những nhận thức và cái nhìn sai lạc về cuộc chiến và con người Việt Nam không?

coffeebean  
#719 Posted : Monday, May 25, 2015 11:31:17 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)


Cưỡi Ngọn Sấm

Bài và hình ảnh: Trịnh Bình An, DCVOnline.net




Một Câu Chuyện Về Vinh Dự Và Chiến Thắng Trong Cuộc Chiến Việt Nam



UserPostedImage
Ride the Thunder: A Vietnam War Story of Honor and Triumph.
Nguồn: WorldNetDaily




Cưỡi Ngọn Sấm kể lại câu chuyện có thật về tình “huynh đệ chi binh” hiếm có của một toán nhỏ cố vấn Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và các chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa trên một mặt trận hết sức đặt biệt của Chiến Tranh Việt Nam: Quảng Trị – Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Nhờ sự phối hợp chặt chẽ của cả hai bên nên dù bị đẩy vào một hoàn cảnh hết sức khắc nghiệt họ vẫn làm nên một chiến tích lẫy lừng: chặn đứng bước tiến của Cộng quân tại cầu Đông Hà.

Tinh thần chiến đấu dũng cảm của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong trận đánh 1972 đã thể hiện trọn vẹn trên khắp các vùng bị Cộng quân tấn công. Vì thế phải cần nhiều cuốn sách mới có thể ghi nhận đầy đủ về tình hình chiến sự cũng như về nhân cách của các chiến sĩ đã tham gia trận đánh.

Riêng tác phẩm “Ride The Thunder” của Richard Botkin chú trọng tới mặt trận Quảng Trị – Đông Hà trong đó câu chuyện xoay quanh ba nhân vật chính: Trung Tá Gerry Turley, Đại Úy John Ripley và Thiếu Tá Lê Bá Bình.


UserPostedImage
Đại úy John Ripley (thứ hai từ trái sang) cùng Đại tá Gerald Turley (thứ hai từ phải sang) ngày trước khi bắt đầu các cuộc tấn công của CSVN trong mùa Hè đỏ lửa (Easter Offensive 1972) tại một căn cứ quân sự phía Tây Đông Hà. Nguồn: http://nobility.org/




Trung Tá Gerry Turley có mặt trong Trung Tâm Hành Quân Chiến Thuật Ái Tử hai ngày trước cuộc tấn công trong một cuộc viếng thăm bình thường dự tính chỉ chừng vài ngày. Nhưng khi cuộc chiến nổ ra, ông được cấp chỉ huy gọi riêng và trao cho quyền tạm thời đảm trách toàn bộ hoạt động tại trung tâm này.

Đại Úy John Ripley là một “skipper”- sĩ quan chỉ huy, của Đại Đội Lima 6 TQLC Hoa Kỳ tại VN. Ông trở thành cố vấn cho Tiểu Đoàn 3-Sói Biển TQLC cuối năm 1971. Ông đã sát cánh với hơn 700 chiến sĩ VNCH đồn trú tại căn cứ Alpha 2 nằm trong tỉnh lỵ Đông Hà. [Chức vụ sau cùng của TQLC John Ripley là Đại tá TQLC Mỹ (USMC) – DCVOnline]

Trung Tá Lê Bá Bình trình diện Tiểu Đoàn 3 TQLC cuối năm 1962 với chức vụ thiếu úy và đã tham dự nhiều trận đánh trên khắp các vùng chiến thuật. Ông từng được huấn luyện tại Trường Căn Bản Quantico tại Virginia năm 1964. Năm 1972, ông giữ chức vụ Thiếu Tá -Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 3 TQLC.


UserPostedImage
Thiếu tá Lê Bá Bình đứng ở Quảng Trị trước khi bị thương lần thứ 9, 1972. Nguồn: OntheNet




Trận chiến “Mùa Hè Đỏ Lửa 1972” (tên tiếng Anh: Easter Offensive) là một kế hoạch táo bạo của Bắc Việt nhằm đánh một trận quyết định để tiêu diệt nền Cộng Hòa miền Nam đang mất dần sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Giữa trưa ngày 30 tháng Ba 1972, quân đội Bắc Việt đã phối hợp bộ binh, thiết giáp, pháo binh cộng thêm hệ thống phòng không tối tân nhất của Liên Xô đã viện trợ, đồng loạt tấn công 12 căn cứ quân sự VNCH trải dài từ Đông sang Tây trong vùng phi quân sự và từ Bắc xuống Nam sát với biên giới Lào. Những đợt pháo kích đầu tiên nhắm vào các vị trí pháo binh VNCH mà chúng đã rõ. Đàng sau những cuộc pháo kích là hơn 30.000 lính Bắc Việt và – lần đầu tiên tại VN – xuất hiện hàng trăm chiến xa T-54 và PT-76 do Liên Xô cung cấp. Không chỉ hạn chế ở các mục tiêu quân sự, Cộng quân còn pháo kích vào các khu đông dân cư nhằm gieo rắc hoảng loạn và phá chặn các mạng lưới giao thông quan trọng, từ đó làm chậm thêm phản ứng của Quân Lực VNCH.

Với tình hình chiến sự thảm hại diễn ra khắp phía Bắc Vùng I Chiến Thuật, Tướng Vũ Văn Giai ra lệnh cho những người Mỹ phải rút ra khỏi TTHQCT Ái Tử. Riêng Trung Tá Gerry Turley, với tư cách là sĩ quan Hoa Kỳ thâm niên nhất, phải ở lại điều hành công việc với một nhóm nhỏ và tiếp tục hướng dẫn các hỏa lực yểm trợ cho đến khi nào tổng hành dinh mới được thiết lập xong. Dĩ nhiên Turley không đồng ý với quyết định ấy với lý do mình chỉ là “một thằng TQLC ghé thăm”. Thế nhưng, cuối cùng “gã TQLC” này vẫn phải nhận lãnh trọng trách.

Rạng sáng ngày Chúa Nhật-Lễ Phục Sinh, khi 10 căn cứ hỏa lực lớn đã bị Cộng quân chiếm đoạt, khi xe tăng địch đã tàn phá hết phía bắc sông Cam Lộ-Cửa Việt, khi trong vùng chẳng còn mục tiêu nào đáng cho chúng tấn công nữa, Trung Tá Turley nhận ra rằng mũi nhọn tiến công của chiến xa và bộ binh Bắc Việt đang nhắm thẳng tới Đông Hà. Nếu chúng vượt qua được cây cầu này thì toàn bộ tỉnh Quảng Trị, và rồi Huế, sẽ lọt vào tay bọn chúng. Không cần suy tính lâu, Turley quyết định: bằng mọi giá phải phá nổ cây cầu Đông Hà. Trớ trêu thay, vì thời tiết xấu không thể xử dụng lực lượng Không Quân để ném bom, do đó cách duy nhất là phải có người trèo lên cầu và đặt chất nổ.

Cầu Đông Hà đã được “Toán Ong Biển” – một tiểu đoàn Công Binh Hải Quân Hoa Kỳ, xây mới vào năm 1967. Đó là một con “mãnh long” kiên cố có bộ khung bê tông và thép khổng lồ với những phiến gỗ chắc nịch. Để chống lại sự phá hoại của bọn đặc công, những hàng rào xích sắt và dây kẽm gai được dựng lên dày đặc dưới gầm cầu. Muốn phá hủy cây cầu ấy dù trong lúc bình thường cũng không hề là điều dễ dàng, nên khi ra mệnh lệnh cho toán Alpha 2–Bình/Ripley: “somehow destroy the bridge”, Turley hiểu rõ rằng ông đã ký vào bản khai tử cho họ.

Để đến gần Cầu Đông Hà, toán Alpha 2 đã bắn hư một chiếc xe tăng T-54. Khi thấy Cộng quân không tỏ dấu hiệu tiến lên thêm, John Ripley, Jim Smock và Lê Bá Bình nhanh chóng chạy tới chân cây cầu. Bộ ba chỉ có chưa đầy 4 tiếng đồng hồ và 500 cân thuốc nổ để thực hiện sứ mạng. Ripley từng được huấn luyện tại trường US Army’s Ranger School. Tại đây, ông đã được học về cách xử dụng chất nổ. Do đó, trong toàn thể binh sĩ nhóm Alpha 2, Ripley là người duy nhất biết cách phá hủy cây cầu. Trước tiên, Ripley đu người qua những hàng rào kẽm gai sắc lẻm. Sau khi nhận khối thuốc nổ do đồng đội chuyển qua rào, ông phải thực hiện công việc khó khăn nhất: leo lên cầu. Với sức mạnh và sự dẻo dai không ngờ, Ripley bám lấy những thanh sắt chữ I, đu người lên, và cuối cùng, bò vào trong khoang cầu. Bên dưới cầu là dòng nước sông chảy xiết, sẵn sàng cuốn phăng đi kẻ nào không may tuột tay rớt xuống. Phải mất 12 lần “đánh đu tử thần”, Đại Úy John Ripley mới đặt được hết toàn bộ khối thuốc nổ dọc theo cầu. Bốn tiếng đồng hồ tưởng chừng vô tận! Và rồi đất trời rung chuyển với một tiếng nổ vang dội. Ngày 2 tháng Tư năm 1972, Cầu Đông Hà bị phá hủy.


UserPostedImage
Tranh của Đại tá Charles Waterhouse vẽ cảnh Đại úy John Ripley đu lủng lẳng trên cầu Đông Hà, sông Cửa Việt
trong làn mưa đạn của cộng quân Bắc Việt. Nguồn: http://nobility.org




Cưỡi Ngọn Sấm”, tuy nhiên, không phải là câu chuyện chỉ có cơ bắp và hành động, cũng không phải là truyện ca ngợi vài đấng anh hùng theo kiểu phim Viễn Tây. Để kể lại thấu đáo “Một Câu Chuyện Về Vinh Dự Và Chiến Thắng Trong Cuộc Chiến Việt Nam” thì bên cạnh những nhân vật sáng chói như Turley, Ripley, Bá Bình, tác giả đã không bỏ quên những con người khác. Họ là những chiến sĩ Mỹ và Việt như Phillip, Eisenstein, Goggin, Lương, Nhã, Lượm,.. Họ cũng chính là vợ con, cha mẹ của các chiến sĩ đang ngày đêm trông ngóng tin xa như Bunny, Moline, Bành Cầm. Họ còn là những người dân bất hạnh vô tên vô tuổi bị Cộng quân tàn sát trên đường chạy loạn mà hình ảnh thảm khốc của họ đã đập vào mắt những người lính đang cố thủ tiền đồn. Chính tình cảm, suy tư, hành động của những nhân vật tưởng chừng không quan trọng ấy đã tạo nên cái nền vững chắc để rồi trên đó những người anh hùng mới có đủ quyết tâm và dũng khí để làm những điều họ phải làm.

“Cưỡi Ngọn Sấm” – qua 700 trang sách, trong khi kể về Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 nhưng không quên nhắc lại Tết Mậu Thân 1968; trong khi kể về sự thành lập lực lượng Thủy Quân Lục Chiến VNCH nhưng vẫn nhắc đến các cuộc huấn luyện TQLC tại Hoa Kỳ, kể chi tiết về các trận đánh và cũng rất tỉ mỉ trong các vấn đề kỹ thuật. Cuộc sống và tâm tư của thân nhân các chiến sĩ được mô tả cặn kẽ dù đó là Bunny-vợ Turley, Moline-vợ Ripley, hay Bành Cầm-vợ Bá Bình, cho thấy dù Mỹ hay Việt bất kỳ người vợ lính nào cũng đều phải chịu đựng những thiệt thòi, lo sợ, đau đớn không khác gì nhau.

Những gì còn đọng lại trong tâm trí những người đã từng thấy, từng nghe, về trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa thường là cảnh tượng kinh hoàng của bom đạn, hỗn loạn và xác chết. Thế nhưng, ít ai biết trong những thời khắc đau thương tột cùng ấy đã từng có những câu chuyện cảm động về tình người, tình chiến hữu màCưỡi Ngọn Sấm: Một Câu Chuyện Về Vinh Dự Và Chiến Thắng Trong Cuộc Chiến Việt Nam” là một.


***



Người viết bài này thuộc một thế hệ lớn lên sau chiến tranh, trong đời chưa từng nghe một tiếng súng nổ, một tiếng bom rơi dù sống ngay trong lòng nước Việt từ 1962. Cuộc sống hồn nhiên của đứa nhỏ ấy trong nhiều năm dài có được là do đâu? Nếu như năm 1972 miền Nam bị rơi vào tay Cộng quân thì nó sẽ ra sao? Những câu hỏi ấy chợt bùng lên sau khi đọc những dòng máu lệ Ride The Thunder, và rồi cứ ở mãi trong đầu…

Phải cần bao nhiêu hy sinh mới có được Tự Do?

Câu trả lời ở những chiến sĩ quyết tâm giữ vững bờ cõi thật đơn g
iản:

Chỉ cần duy nhất một hy sinh – Đó là hy sinh mạng sống của chính mình.

Những ngày cuối năm 2014.


***



Về tác giả Richard Botkin

UserPostedImage


Là cựu Thiếu Tá Thúy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (USMC), từng phục vụ suốt 15 năm (kể cả thời gian trừ bị từ 1980 tới 1995). Hiện đang làm việc cho tổ hợp tài chính Morgan Stanley với chức vụ Senior Vice President, phụ trách phân bộ Quản Trị Tài Sản. Tác giả đã bỏ ra hơn năm năm để nghiên cứu về Chiến Tranh Việt Nam, phỏng vấn hàng trăm nhân vật có liên quan đến cuộc chiến, và cũng đã đến tận Việt Nam để nghiên cứu thêm và quan sát thực tế tại những địa danh như Đông Hà, Quảng Trị, Ái Tử, Khe Sanh.

Một phần tiền bán sách “Ride The Thunder” sẽ được tặng cho hội “Injured Marine Semper Fi Fund”.

Cưỡi Ngọn Sấm (Tập I) là bản tiếng Việt do nhóm Lý Văn Quý (California), Nguyễn Hiền (Netherlands), Nguyễn Hoàng Diệu (California) là những cựu sĩ quan Quân Y của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và Trịnh Bình An (Maryland) lớn lên sau chiến tranh, dịch và phát hành. Bạn đọc có thể đặt mua sách hiện bán ở Amazon hoặc liên lạc với người dịch qua điện thư: Trịnh Bình An tại: ustrinhbinhan@gmail.com.


UserPostedImage
Cưỡi Ngọn Sấm (Tập I). Nguồn: Lý Văn Quý, Nguyễn Hiền, Nguyễn Hoàng Diệu và Trịnh Bình An.



Ride The Thunder được hãng phim KostersFilms bắt đầu dàn dựng vào tháng Tư 2014 và dự tính sẽ trình chiếu vào cuối tháng Giêng 2015. Trang nhà của “Ride The Thunder Movie”.


UserPostedImage
Một cảnh trong “Ride The Thunder Movie”. Nguồn: KostersFilms



coffeebean  
#720 Posted : Sunday, May 31, 2015 3:03:06 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)


Nói với những Người nằm xuống cho Tổ Quốc Việt Nam
Ngô Minh Hằng


Kính dâng Anh Linh Tử Sĩ VN.



UserPostedImage




Anh vẫn đó, oai hùng như dáng núi
Ánh căm hờn trong lũng mắt đau thương
Hăm mốt năm qua, trời sầu đất tủi
Nơi đáy mồ anh khóc chuyện quê hương !

Tôi vẫn nhớ trong niềm đau mất nước
Nhìn Hiền Lương máu ngập đến Cà Mau
Vẫn anh dũng, anh kiên cường tiến bước
Viên đạn thù tàn nhẫn réo thương đau !

Tuổi thanh xuân anh oai hùng khí thế
Trái tim hồng đỏ thắm máu Tiên Long
Cổ thành xưa anh đã từng ngạo nghễ
Gương hào hùng oanh liệt bốn nghìn năm !

Ôm hoài bảo và tình yêu sông núi
Anh hiên ngang đối diện với quân thù
Dù ngã xuống, bia vàng không tên tuổi
Nhưng trong lòng dân tộc đã thiên thu !

Anh không chết, muôn đời anh không chết
Và muôn đời Tổ Quốc mãi ghi công
Hỡi các anh ! những người trai tuất kiệt
Lấy máu đào anh rửa hận non sông !

Tôi nợ anh một lễ nghi quốc táng
Lời tuyên dương, truy điệu bậc anh hùng
Hăm mốt năm qua làm thân tỵ nạn
Tôi cúi đầu nghe nước mắt rưng rưng …

Tôi nợ anh khúc quân hành rộn rã
Ánh đuốc thiêng và tiếng hát khải hoàn
Món nợ đó tôi rất mong được trả
Trả cho anh và Tổ Quốc VIỆT NAM!





Đi Về Phía Mặt Trời (Anh Việt Thu - Hoàng Oanh)

Tôi đưa anh đi! Đi về phía mặt trời
Đưa ngày về, đưa ngày về bóng xế trưa trưa
Đưa tuổi thơ ! đưa tuổi thơ tiếng hát xa xưa

Tôi đưa anh trong cơn mê ngủ
Hiu hiu buồn làm sao
Bên bờ ao gió đưa gió đẩy sau hè

Thương bạn bè! thương bạn bè.
Qua sông, qua suối không có đò !

Tôi đưa anh đi! Đi về phía có sông dài
Giòng sông nào mang phù sa cho nước đi qua
Ôi giòng sông mang phù sa ấp ủ quê ta

Tôi đưa anh đi về phía có núi đồi
Tôi đưa anh về phía có ruộng đồng
Đồng rạ vàng, đồng rạ vàng!
Nơi bạn bè rong chơi! An nghỉ lần cuối cùng...



Users browsing this topic
Guest (2)
39 Pages«<3435363738>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.