Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

7 Pages«<34567>
Options
View
Go to last post Go to first unread
phamlang  
#81 Posted : Saturday, April 4, 2015 7:39:34 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Trịnh Công Sơn – Một nhà thơ lớn

UserPostedImage
Trịnh Công Sơn (1939-2001)

Thế là trên bầu trời nghệ thuật Việt Nam một vì sao sáng đã tắt. Khoảng trống này không có gì lấp được.

Tôi ra tù năm 1976, nhưng còn bị quản thúc bằng lệnh miệng của nhà cầm quyền mãi cho tới mùa thu năm 1980 mới được phép vào Nam. Ở Sài Gòn người đầu tiên tôi tới thăm là Trịnh Công Sơn. Nhà thơ Dương Tường vào trước đã kể về tôi cho Sơn nghe, Sơn đã biết tôi là thế nào nên anh đón tôi không chút e dè. Chúng tôi nói chuyện với nhau cả một buổi sáng. Bên bàn trà, như một cuộc hàn huyên giữa hai người bạn sau thời gian dài xa cách, chúng tôi nói với nhau đủ thứ chuyện, nhiều nhất là về sáng tác, về thiên chức của nghệ sĩ, chỗ đứng của anh ta trong lòng dân tộc… Giữa câu chuyện tôi hỏi Sơn tại sao anh không đi ra nước ngoài, mà ở lại để sống trong kìm kẹp? Sơn trầm ngâm:

– Mình có nghĩ tới chuyện đó chứ. Nhưng mình không thể đi. Người nghệ sĩ không thể sống xa quê hương. Xa nó, anh ta sẽ cạn nguồn cảm hứng, mà cái đó thì chẳng khác gì cái chết.

Sơn nghĩ đúng. Mặc dầu ở lại Sơn phải sống trong một thế giới xa lạ, ở đó không còn cách nào khác là hoặc tự nguyện nhập vào nó, hoặc tự tạo ra một thế giới tự do cho mình. Mà tạo ra cái thế giới đó, ai cũng biết, chẳng dễ gì. Cần phải có cái tâm của đạo sĩ mới có thể thiền giữa chợ.

Cũng trong lần gặp ấy, Sơn đọc cho tôi nghe một số bài thơ anh mới viết, mở băng cho tôi nghe một số ca khúc mới làm xong. Nhiều bài tôi được nghe hôm ấy, có bài rất hay, có bài không đặc sắc cho lắm, về sau tôi không thấy Sơn cho chúng ra đời. Ở Văn Cao cũng vậy. Số lượng những gì mà các nghệ sĩ mà chúng ta yêu mến đã sáng tác thường lớn hơn rất nhiều so với những gì mà chúng ta được biết. Có trời biết số phận chúng ra sao? Rất có thể chúng đã làm mồi cho lửa trong một cơn buồn cô quạnh, khi nghệ sĩ lấy rượu để dập tắt nó, và chán chường tất cả, không trừ chính mình. Người ta dễ biết con số người bị giết hơn là số những sáng tác bị bách hại, bị bức tử. Ở đâu tội ác vẫn cứ là tội ác.

Cũng hôm đó Sơn nói với tôi:

– Mình nhiều lúc ngã lòng, nhất là khi mình thấy người ta chẳng hiểu gì về mình, chửi bới mình, hành hạ mình. Ðến nỗi muốn thoả hiệp cho xong. Nhưng nghĩ lại thấy không được. Nghệ sĩ không thể thoả hiệp với cái Xấu, cái Ác. Có thể tạm lui bước, nhưng thoả hiệp thì không bao giờ.

Và Sơn đã không thoả hiệp. Anh sáng tác ít hơn. Những ca khúc mất dần tính triết lý. Sơn sợ những hiểu lầm. Rồi anh quay sang vẽ tranh. Những bức tranh siêu thực, tặng nhiều hơn bán. Và vùi nỗi buồn trong rượu. Bè bạn khuyên can, Sơn bỏ rượu, nhưng không ngừng uống bia. Rồi quay lại rượu lúc nào không biết.

Tôi yêu Trịnh Công Sơn – con người có dễ nhiều hơn Trịnh Công Sơn – nhạc sĩ. Nhưng là nói thế thôi, chứ ở anh ranh giới này gần như không có. Trường hợp tương tự không nhiều, khi con người nhân thế và con người nghệ sĩ nhập làm một.

Cha tôi cũng rất yêu Sơn. Một lần ra Hà Nội, nghe tin cha tôi lâm bệnh, Sơn đã vác đàn đến bên giường hát cho ông nghe. Cha tôi nói rằng ông cảm thấy hạnh phúc khi được nghe Sơn hát. Những ca khúc của Sơn hoá ra còn có tác dụng chữa bệnh. Bởi vì chúng là những lời chân thành của con người nói với con người, những lời tâm tình, những lời an ủi, những lời chia sẻ…

Có một sự nhất trí hình như không được đúng lắm, rằng nhạc Trịnh Công Sơn chỉ là nhạc phản chiến. Tôi nghĩ nhạc của anh là một cái gì hơn thế. Nó là lời chia sẻ những suy ngẫm về ý nghĩa nhân sinh, về tình thương yêu giữa con người và con người. Anh nói với mọi người những lời này vào mọi lúc, mọi nơi, chứ không phải chỉ trong chiến tranh để trở thành phản chiến.

Xét cho cùng, Trịnh Công Sơn là một nhà thơ. Một nhà thơ lớn. Nhạc là cái xe tải anh lắp lấy để chở thơ anh đến với chúng ta.

Khi tôi viết những dòng này thì Sơn đã an nhiên trở về với cát bụi, như anh đã nói trước. Mộ anh phủ đầy hoa của những người hiểu anh và yêu mến anh. Khi anh qua đời, có những kẻ đã coi thường anh, đã hành hạ anh khi anh còn sống, đến nghiêng mình trước linh cữu anh, và có cả những kẻ vẫn hát lời anh viết, bây giờ nhai nhải chửi anh là nhạc tặc, là tên phản quốc trên những bài báo không ai muốn đọc. Nhưng nếu Sơn còn biết những chuyện đó, anh cũng sẽ an nhiên mỉm cười. Và không nói gì hết.

Warszawa 4.2001
Vũ Thư Hiên

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 2 users thanked phamlang for this useful post.
CatLinh on 4/5/2015(UTC), ASIAlcoholic on 4/8/2015(UTC)
CatLinh  
#82 Posted : Sunday, April 5, 2015 5:44:16 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 2 users thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 4/8/2015(UTC), ASIAlcoholic on 4/8/2015(UTC)
phamlang  
#83 Posted : Wednesday, April 8, 2015 5:28:45 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Lời cuối Trịnh Công Sơn

UserPostedImage
Trịnh Công Sơn
Đinh Trường Chinh

Cõi tạm trần gian chừ viễn biệt
Lời thiên thu gọi đón ta về
Nhưng trước ngày đi xin gởi tặng
Cho người dăm ca khúc tình quê

Đời vốn u buồn hơn tiếng hát
Từ xưa thiên hạ đã nói rồi
Nay ta dù chuyển cung cầm mới
Vẫn điệu sầu chung cũng thế thôi

Em có vì ta mà thương tiếc
Thì hãy quay nhìn lại quanh đây
Chính nơi em đó là thơ nhạc
Là rung cảm nọ mến yêu này

Suối nhạc nguồn thơ trôi chảy mãi
Nghìn năm trên mặt đất bao dung
Thôi nhé ! Ta đi hòa cát bụi
Cười theo sương khói cõi vô cùng

Tâm Nhiên

Edited by user Wednesday, April 8, 2015 5:35:11 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
ASIAlcoholic on 4/8/2015(UTC)
ASIAlcoholic  
#84 Posted : Wednesday, April 8, 2015 6:59:00 PM(UTC)
ASIAlcoholic

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 12/21/2011(UTC)
Posts: 1,213
Location: USA

Thanks: 2319 times
Was thanked: 1592 time(s) in 850 post(s)
UserPostedImage


XIN MẶT TRỜI NGỦ YÊN (Trịnh Công Sơn, 1967)


Một ngày, ngày đã qua
Ôi một ngày, ngày chóng qua
Một chiều một ngày âm thầm đã
Đã trôi đi không còn gì
Ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè
Ngựa hồng đã mỏi vó
Chết trên đồi quê hương
Còn có ai, không còn người
Ôi nhân loại mặt trời và em thôi
Này đôi môi xin thương người
Ôi nhân loại mặt trời trong tôi

Một ngày, ngày đã qua
Ôi từng ngày từng xót xa
Một chiều, một ngày tay người đã
Thả mây bay cho đường dài
Sau chinh chiến ôi quê hương thần thoại
Thuở hồng hoang đã thấy
Đã xanh ngời liêu trai
Còn có ai trên cuộc đời
Ôi nhân loại còn người và tôi thôi
Rồi lang thang như mây trời
Ôi nhân loại còn người trong tôi

Mặt trời đã ngủ yên, xin mặt trời hãy ngủ yên
Người hãy nhớ mang theo hành trang
Qua khoang trời vắng chân mây địa đàng
Người hãy nhớ mang theo hành trang
Qua khoang trời vắng chân mây địa đàng
Người hãy nhớ hãy nhớ hoài,
Người hãy nhớ hãy nhớ đời,
Người hãy nhớ hãy nhớ người
Hãy nhớ người!
Hãy nhớ người!
Hãy nhớ người!

thanks 1 user thanked ASIAlcoholic for this useful post.
phamlang on 4/14/2015(UTC)
phamlang  
#85 Posted : Tuesday, April 14, 2015 12:52:29 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Triết lý sống của Trịnh

UserPostedImage


Trước thềm Xuân, tôi nghĩ đến một người mà đầu năm 2004 này nhẽ ra sẽ kỷ niệm ngày sinh lần thứ 65, nhưng cách đây gần 3 năm đã vội vã chia tay sớm với hàng triệu người yêu mến anh. Đó là Trịnh Công Sơn

Đã có quá nhiều người viết về anh, về các ca khúc của anh, về các kỷ niệm đối với anh. Tôi thì lại nghĩ về triết lý sống của anh. Phải chăng cái triết lý ấy gần gũi với đông đảo quần chúng cho nên mới có hàng nghìn người, trong đó có nhiều người anh không hề quen biết, lặng lẽ nối nhau chật một đoạn đường Phạm Ngọc Thạch để tiễn đưa anh lần cuối về miền cực lạc.

Tôi đồng tình với những xúc cảm của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm: Không có gì ngăn cản anh/ Đến với Tình yêu/ Đến với Đồng bào/ Đến với Tương lai... Con người ấy đã nằm xuống dưới hàng trăm nghìn bông hoa trắng, mà không một chức tước, danh hiệu, không một học hàm, học vị, không một huân chương, huy chương, không gia đình riêng, không của cải, không đất đai, không tài khoản ngân hàng... Vậy mà đúng như lời khóc anh của giáo sư Trần Văn Khê: “Những gì em để cho đời, đời sẽ giữ mãi, không chỉ ngày nay mà đến cả mai sau”.

Đối với tôi - một người chưa một lần được gặp anh - thì cái anh để lại cho tôi là rất lớn. Đó là những triết lý sống mà tôi thường ghi vào sổ tay khi đọc các bài viết của anh, đọc các câu chuyện giữa anh với bè bạn và qua phần lời trong các ca khúc rất hay của anh. Tôi vẫn thường có thói quen nghe một mình hằng đêm trước giấc ngủ các bài hát của Trịnh Công Sơn. Tôi rất tâm đắc với nhận xét tài hoa của cố nhạc sĩ Văn Cao: Cái quyến rũ của nhạc Trịnh Công Sơn có lẽ chính là ở chỗ không định tạo ra một trường phái nào, một triết lý nào, mà vẫn thấm vào lòng người như suối tưới.

Trịnh Công Sơn đã từng viết:

... Một đêm, tôi nhìn trời đất để học về lòng bao dung. Nhìn đường đi của kiến để biết về sự nhẫn nhục. Sông vẫn chảy đời sông. Suối vẫn trôi đời suối. Đời người cũng để sống và hãy thả trôi đi những tị hiềm...

... Người ta có thể yêu nhau và ghét nhau nhưng xin đừng hãm hại nhau. Tôi sợ lắm những gì mang lại bất hạnh cho con người. Hãy cố gắng mang đến cho nhau những giấc mơ, những giấc mơ làm nên hạnh phúc. Đi đâu, đến đâu cũng chỉ thấy những nụ cười. Những nụ cười như đóa hồng đứa bé cầm trên tay đi qua đường phố rực rỡ một lòng yêu thuơng vô tận. Chúng ta hình như thừa bạo lực nhưng lại thiếu lòng nhân ái...


... Tôi yêu cuộc đời và cuộc đời cũng đã yêu tôi. Đó là niềm an ủi lớn trong cuộc sống này. Vì thế trong lòng tôi không có giây phút nào oán hận đối với cuộc đời. Dù có tới khi nhân gian bạc đãi mình, và con người phụ rẫy mình, nhưng cuộc đời rộng lớn quá và mỗi chúng ta chỉ là những hạt bụi nhỏ nhoi trong trần gian mà thôi. Giận hờn trách móc mà làm gì bởi vì cuộc đời sẽ xóa hết những vết bầm trong tâm hồn chúng ta, nếu lòng ta biết độ lượng. Ta biết tha thứ những điều nhỏ thì cuộc đời sẽ tha thứ cho ta những điều lớn hơn...

... Tôi yêu cuộc sống và cuộc sống cũng mở hết vòng tay cho tôi... Tôi cũng đã là một thành phần nhỏ bé của xứ sở, của quê hương... Đừng mơ ước gì xa xôi vì giấc mộng của chúng ta là có thật hoặc sẽ có thật trong bờ cõi nhỏ nhắn nhưng đôn hậu và tình tứ này... Tôi mở lòng tin vào tương lai. Tôi tự nhủ mình không bao giờ lặp lại những điều đã cũ. Đừng để hồn mình mòn đi vì những tổn thương tưởng có thật mà không có thật... Với tôi cái xấu, cái ác không bao giờ có thật. Vì thế cái tình yêu đất nước, quê hương trong tôi không có gì làm suy suyển được... Sống mà không còn biết oán hờn thì đương nhiên là hạnh phúc quá. Tôi biết tôi hạnh phúc mà có lúc không biết chia sẻ với ai. Tôi tin rằng sẽ có lúc tất cả mọi người đều cảm thấy mình thật sự hạnh phúc khi biết xóa đi cái biên giới thù nghịch trong lòng mình... Cứ mỗi ngày tôi càng thấy yêu cuộc đời hơn... Đã hết rồi cái ngàn năm, trăm năm, ba mươi năm chia lìa loạn lạc, còn mơ ước gì nữa... Chỉ tiếc là không nhiều thời gian để làm được những lợi ích cho đời. Đời sống thì đẹp và rộng dài quá, còn đời người thì hạn hữu. Biết làm sao bây giờ...

... Cờ nối gió đêm vui nối ngày/ Dòng máu nối con tim đồng loại/ Dựng tình người trong ngày mới/ Thành phố nối thêm xa vời vợi/ Người chết nối linh thiêng vào đời/ Và nụ cười nối trên môi...

... Xin cảm ơn cuộc đời và cảm ơn tất cả mỗi chúng ta đang có mặt mỗi ngày bên nhau. Ly rượu nồng nàn của đời biết bao giờ uống hết được... Cố gắng tránh đừng than thở. Thử thở dài một mình và quên lãng. Ta không thể níu kéo một cái gì đã mất... Cuối cùng, không có gì khác hơn là sống và chết. Sống làm thế nào cho tròn đầy sự có mặt và chết cho ngập tràn cõi hư không. Phải đi đến tận cùng hai cõi sống chết để làm tan biến tất cả những giấc mộng đời không thực...

... Tôi thấy màu xanh hát trong lời gió/ Và thấy bình minh thắp trên ngọn lá/ Tôi thấy ngày thật lạ/ Xao xuyến từng nỗi nhớ/ Cho nên tôi yêu trái tim không nặng nề/ Những con tim bạn bè bao la/ Tôi thấy chiều kông nói lời lặng lẽ/ Và thấy hoàng hôn áo vàng rực rỡ/ Đêm bước về thật nhẹ/ Sương khoác mềm vai phố...

... Em về đâu hỡi em/ Có nghe tình yêu lên tiếng/ Hãy chôn vào quên lãng/ Nỗi đau hay niềm cay đắng/ Đời nhẹ nâng bước chân em / Về lại trong phố thênh thang/ Bao buồn xưa sẽ quên/ Hãy yêu khi đời mang đến / Một cành hoa giữa tâm hồn...

... Tôi không phải là kẻ nuôi dưỡng một thứ đam mê buồn tẻ muốn khóc than cho số phận con người, những qua cá khúc, tôi muốn đánh lên những tiếng chuông mai, chuông chiều, mượn ánh nắng của trời đất để soi tỏ cái số phận đó cho mỗi người có thể nhìn mình và nhìn người rõ hơn, chăm chú hơn. Cho đến một lúc nào đó thì mọi sự tốt lành, thì tình yêu sẽ khiến chúng ta thấy rằng con đường duy nhất đi đến với người khác trên mảnh đất này không phải là sự độc ác mà chính là một lòng nhân ái vô biên...

... Thường người ta vẫn nghĩ rằng kẻ làm việc từ thiện phải là kẻ giàu có. Thật sự không phải như vậy. Ai cũng có thể làm việc thiện. Người ca sĩ hát một suất và hiến hết số tiền lãnh được. Nguời nhạc sĩ tổ chức một chương trình nhạc của mình và tặng hết số tiền thu được. Đó là cách dùng tài sản vừa trời ban cho, vừa chính bản thân mình tạo dựng để chia sẻ cho đời. Không ai tự nhiên mà giàu có. Phải làm việc bằng cách này hay cách nọ. Nhưng giàu có cũng có lắm cách. Không phải ai cũng giống ai. Có kẻ quá giàu mà không muốn cho, không muốn san sẻ của cải cho bất kỳ một ai khác. Có kẻ không giàu nhưng tràn đầy hạnh phúc bố thí. Hạnh bố thí tưởng dễ mà rất khó. Cho nhưng cách cho như thế nào để sự cho trở thành một đức hạnh, một sự mầu nhiệm của lòng nhân từ, một thứ hạnh phúc chan chứa lòng yêu thương. Khi ta cho mà tâm ta vô cầu thì mầm từ bi đã đâm chồi và quả hân hoan đã kết trái. Lòng ta vui sướng, tràn trề hạnh phúc mà không hiểu vì đâu.

Không hiểu vì đâu vì cái ta cho đã được trả lại gấp nhiều lần hơn và làm ta mất phương hướng. Khi làm việc thiện người ta không chờ kẻ xin. Người làm việc thiện chân chính là kẻ phải tự mình mang đến một cách tình nguyện để dâng hiến những của cải dù khiêm tốn hoặc tráng lệ cho đời. Ngược lại, người người chờ lòng từ thiện cũng không nên tự biến mình thành kẻ xin. Từ đó, cho và nhận đã trở thành một vấn đề khiến ta cần suy nghĩ... Để biết cho thì sẽ được nhận.

Thuờng cái quà nhận được lớn hơn gấp vạn lần cái điều mình đã mang cho. Sống trong cuộc đời vì vậy phải mang trái tim ra mà sống, để đừng bao giờ phải ân hận là mình chưa sống hết lòng. Làm việc thiện không phải là lưu trữ một thứ của cải riêng cho mình. Nếu cần tích lũy thì hãy tàng trữ cái kho báu ngọt ngào mà đời đã ban tặng cho ta. Chính điều ấy đã nuôi sống ta và làm cho trái tim trở thành bất hoại...

... Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui/ Chọn những bông hoa và những nụ cười/ Tôi nhặt gió trời mời em giữ lấy/ Để mắt em cười tựa gió bay/ Và như thế tôi đến trong cuộc đời / Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim tôi...

Tôi không đủ sức hiểu hết tư duy triết học của Trịnh Công Sơn, ông còn kém tôi tới 1 tuổi đời, nhưng lại quá mức thông thái. Ông đã chịu đựng nhiều nỗi thiệt thòi mà tôi may mắn không gặp phải. Ông có nhiều nỗi buồn mà tôi may mắn không có. Chính vì vậy, hiểu được ông thật là khó. Những lời của ông mà tôi rất tâm đắc ghi lại trên giấy chỉ như là một sự tự nhắc nhở đối với tôi: hãy biết yêu quý cuộc sống, hãy sống xứng đáng với đời và hãy sống tử tế với mọi người.

Theo Nhịp Cầu

Edited by user Tuesday, April 14, 2015 12:53:04 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#86 Posted : Monday, April 20, 2015 11:39:13 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Bùi Giáng và Trịnh Công Sơn

Ngô Văn Tao, Tết Đinh Hợi, 2007.


Bùi Giáng bản chất là nhà thơ. Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ nhưng lời ca rất thơ. Hai nghệ sĩ, với sự nghiệp trải dài từ những năm 60 cho đến tận cuối thế kỷ thứ 20, cùng chìm đắm trong nghệ thuật. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (TCS) làm thơ rất nhiều và đặc biệt những năm cuối đời say mê vẽ: ký hoạ và vẽ sơn dầu những bức chân dung thơ mộng. Ngoài là nhà thơ, thi sĩ Bùi Giáng (BG) còn là một tư tưởng gia. Ông đã nhận định cùng với M. Heidegger rằng thi ca và nghệ thuật mới thật là “bản thể” của vũ trụ hiện sinh con người (chứ không phải lý tính, khoa học, lý luận cò ke đo đếm một hai). BG cũng đã từng vật lộn với “cái cọ sơn dầu” (nhưng gần như thôi hẳn, chỉ còn nâng cọ một đôi khi từ năm 1967, sau một trận hoả hoạn cháy tan nhà trọ với những bức tranh của nhà thơ). Và bức tranh mực màu trên giấy: “Quê chàng là Ithaque” - một trong hai ba bức tranh may còn lưu lại – đã chứng tỏ tiềm năng nghệ thuật thật sự của nhà thơ.

Nghệ thuật của BG và TCS có chung một điểm là sự hồn nhiên lãng mạn trước cuộc đời. Mọi sáng tác nghệ thuật của TCS, những câu ca, một bài thơ hay một bức hoạ, đều tràn trề tình cảm sống thật của chính mình, nuối tiếc một mối tình, nhớ thương một người thân, đau lòng trước sự phù du của đời người, tiếc thương mạng sống mong manh quý báu giữa cái tàn bạo của chiến tranh (TCS đã nhiều năm trốn lính). Những áng văn thơ của BG suy tư sâu xa, khó hiểu hơn, nhưng thật cũng vô cùng hồn nhiên lãng mạn: hồn nhiên lãng mạn trong cái bay bổng ngôn từ say mê diễn giải tư tưởng đến tự bốn phương, say mê sống tràn trề trong vũ trụ hiện sinh của chính mình. Cái đặc điểm rõ nhất là hai nghệ sĩ, hai nhà thơ của chúng ta, là họ đều rất thân thuộc với thể thơ lục bát của thi ca Việt Nam : một thể thơ tự nó, với truyền thống của ca dao và của Nguyễn Du, có nhịp điệu bình dị thi ca, dàn trải tình tứ. Trong thơ BG thì những nét này đã rõ. Còn ở TCS, ngoài những bài hát đều hàm chứa chất thơ, thơ TCS thường là thơ tự do, tự nó có vần điệu và nhịp hát không bắt buộc phải theo một luật âm vận nào, nhưng một phần lớn cũng là những bài thơ lục bát, hai hay bốn câu, hồn nhiên tràn trề tình yêu hay lãng mạn tình cảm:

Mùi hương má cũ muộn màng
Ghé môi tư lự nỗi bàng hoàng xưa
Nắng phai lời giã biệt từ
Nhớ thêm một chút hương mù mịt xa
(TCS, Montréal, 17.5.1992)

Trong những năm 60, thời mà BG với “Mưa nguồn”, TCS với những bài ca tình yêu và phản chiến bắt đầu sôi nổi trong đời sống văn nghệ, còn có một trường phái văn nghệ đáng kể: “Nhóm Sáng Tạo”. Nhóm Sáng Tạo gồm nhiều văn nghệ sĩ. Trong hội hoạ - theo tôi biết - có Thái Tuấn, Ngọc Dũng, trong văn thơ phải nói tới Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên, Cung Trầm Tưởng... Nhóm văn nghệ sĩ này có lẽ đầu tiên theo thuyết hiện sinh của J.P. Sartre, nhưng về sau cốt yếu là canh tân, hay nói một cách khác sâu xa hơn, họ chính là tiền thân của những nhà văn thơ “hậu hiện đại” của Việt Nam. Nhưng nhóm Sáng Tạo có một lịch trình suy tư lý thuyết, có một bối cảnh lịch sử rõ rệt, tranh đấu chống lại Chủ Nghĩa Xã Hội, chống lại “Đề cương Việt Minh – Văn nghệ vị nhân sinh, hiện thực xã hội chủ nghĩa” (Trường Chinh). Nhóm này thân thuộc với BG, mà BG cũng rất tâm đắc với lý thuyết thi ca nghệ thuật hiện tượng học của Hiedegger, triết lý tư tưởng tiền bối của thuyết hiện sinh. Đại diện cho nhóm Sáng Tạo chính là Mai Thảo và Thanh Tâm Tuyền. Mai Thảo là tiểu thuyết gia duy mỹ chủ thể hình thức. Thanh Tâm Tuyền viết văn và làm thơ với lập trường lý thuyết. Dĩ nhiên là nhóm Sáng Tạo xa lánh TCS, mà nghệ thuật lời ca hồn nhiên bình dị đi thẳng vào lòng quần chúng. Tôi nhớ mãi bữa cơm chiều (Bún Bò Huế) mà hai vợ chồng hoạ sĩ Đinh Cường đãi Thanh Tâm Tuyền, TCS và tôi tháng 5 năm 1988 ở một chung cư tại Sài Gòn. Tôi nhớ mãi cái bữa gặp gỡ tẻ nhạt, bầu không khí nặng nề Thanh Tâm Tuyền không nói thẳng với TCS một lời. Sau rồi tôi biết Thanh Tâm Tuyền đã bị cầm giam mấy năm trời trong trại cải tạo của nhà nươc xã hội chủ nghĩa, trong khi TCS năm ấy đã là uỷ viên trong ban thường trực của “Hội Nhạc Sĩ thành phố Hồ Chí Minh”. Khi TCS đi thăm Canada 1992, những văn nghệ sĩ Việt Nam lưu vong, thường tự nhận là thuộc nhóm Sáng Tạo, công khai cách ly TCS. Nếu không nói tới sự khác biệt trong quan niệm nghệ thuật, theo tôi nghĩ tất cả đã hiểu lầm nhau. Bài ca “Em còn nhớ hay em đã quên” chẳng hạn, với câu “em ra đi nơi này vẫn thế” (mà theo đám văn nghệ sĩ lưu vong đáng nhẽ phải nói rõ rằng “nơi này đã thành một chốn đoạ đầy lao ngục”), không nói gì khác là đau lòng nhớ thương các em gái của mình (đã liều lĩnh lên thuyền ra đi tị nạn) và nhạc sĩ vẫn thầm tự nhủ rằng cái cõi tạm đen tối này tuy nhiên bao giờ cũng thế với thiên nhiên với tình người dù dưới áp chế của bất cứ một sức mạnh nào (mà thật vậy, Sài Gòn ngày nay với kinh tế tư bản thị trường đâu còn khác Sài Gòn của ngày xưa!).

Giữa BG và TCS trái lại có một thâm tình tương giao thị tôn kín đáo. Cũng trong tháng 5 năm 1988, tôi còn giữ một kỷ niệm không bao giờ quên. Một buổi chiều, TCS đãi một bữa cơm rượu vodka dưới gốc cây si ở nhà Trịnh Xuân Tịnh, em trai cuả nhạc sĩ (cái biệt thự thời Tây mà nay là quán ăn Ba Miền của Sài thành). Bữa cơm cốt để cho tôi làm quen với BG:

Chịu chơi Hộ Trịnh Công Sờn
Cửa trời rộng mở rập rờn hoàng hoa
Chào nhau giữa những vốc-ka
Liên Xô số dzách ngộc ng
...
(Bùi Giáng, 5.1988)

Đó là mấy câu thơ Bùi Giáng viết trên bức ký hoạ TCS vẽ chân dung BG ngay chiều hôm ấy! Một chân dung sâu sắc, lộ hết tinh thần của nhà thơ, tài nghệ vượt hẳn các chân dung người ta vẽ BG mà chúng ta thường thấy. Chính bữa cơm rượu từ đó đã mở cho tôi cả một hành trình dài học hỏi tràn trề cảm hứng, giao lưu thâm tình đàm thoại với BG suốt mười năm, cho đến tận khi nhà thơ rời bỏ cõi đời. Mười hai giờ trước khi đột quỵ, BG tuy rất yếu, vẫn để lại cho tôi ba câu thơ, ba câu đó đã được khắc trên bia bên mộ nhà thơ:

Đương thì nhật nguyệt trôi qua
Tha hương cố quận lạc hoa một nhành
Trường miên nguyện ngủ dưới ngành tùng trăng
(14 tháng Tám Mậu Dần -1998) (phỏng dịch ba câu Hán Tự Hài Cú: Nhật nguyệt đương thì quá/ Tha hương cố quốc lạc chi mai/ Tùng hạ nguyện trường miên- NVT).


Cũng trong mấy tháng hè năm 1988 đó, nhân sẵn có tôi, BG thường lại ăn cơm trưa uống rượu vang đỏ ở sân nhà của TCS. Ở TCS, tôi thu nhận sự trầm lặng suy tư thật lâu rồi mới hạ bút sáng tác của anh; và một khi sáng tác rồi, nếu đấy là một bài ca, TCS không ngần ngại hát đi hát lại mấy ngày liền, và cũng không đắn đo sửa chữa một vài nốt nhạc hay từ ngữ... Trái lại, BG một khi đã cầm bút thì tức khắc viết tràn lan như không suy nghĩ hay đúng hơn như mang sẵn trong tâm trí từ lâu rồi cả một kho tàng tư liệu văn chương triết lý, giờ chỉ cần cho ý thơ và tư tưởng tự tuôn trào. Tôi nhớ một sự kiện điển hình: một lần, tôi nhờ nhà thơ đề tặng TCS một quyển thơ, BG không một giây suy nghĩ, hạ bút viết ngay trên trang nhất những chữ Hán tượng hình:

Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ
Trùng lai sơn hạ Quế giang thâm
(Nguyễn Du) (Tôi có chút tâm tình không đủ lời giãi tỏ, xin trở về như sông Quế nằm sâu dưới chân núi (Sơn)).

Hai nghệ sĩ tài danh của chúng ta vừa có những điểm chung và cũng có những khác biệt rất riêng. Trước hết là BG và TCS đều có quan niệm rằng nghệ thuật không thể ẩn dụ một lý thuyết nào - trái ngược với nhóm Sáng Tạo, khi cho rằng nghệ thuật phải là tư duy nằm ngoài thời sự, ngoài những chuyện nhân sinh tức thời hay những xu thế thời thượng. Người nghệ sĩ phải có hoài bão vượt thời gian, tìm về cái uyên nguyên vĩnh hằng của con người như tình yêu, khắc khoải, cô đơn và vị tha, tự cảm nhận sự khiếm khuyết trong thân phận làm người. Người nghệ sĩ phải biết thương cho những kẻ sa đoạ, khóc cho những người ngã ngựa, phủ nhận những chiến công... BG thường tự nói:

Quan tâm ngày thu lượm
Bàng quan với ngày mai thế sự
(BG dịch René Char).
Những bài ca phản chiến của TCS tưởng là nói đến chiến tranh nhưng sự thật là nói về cái khát vọng hoà bình thân ái của con người sống với đau khổ và chết chóc tang thương.Trong những bài ca của TCS không có thù và bạn, những chọn lựa này chỉ có tính cách giao thời, thay biến mỗi khi chúng ta nhìn lại lịch sử. BG mãi mãi là hành giả chân đất, áo quần tả tơi lang thang ngoài ước lệ xã hội của con người, lững thững qua các thời đại. TCS, trái lại, chấp nhận dửng dưng vui chơi hoà đồng, nên vì thế biết rõ mặt trái không hay ho gì của những quân nhân, chính trị gia của miền Nam Việt Nam và cũng biết rõ mặt thật tham lam nhỏ nhen, bề ngoài đạo đức nhưng đầy tham muốn tiền tài danh vọng của những cán bộ quan liêu bàn giấy của cách mạng. Vì thế thái độ TCS có tính cách thoả hiệp với cuộc đời, cũng chỉ vì nếu một nghệ sĩ chân chính nhất định không chấp nhận những tục luỵ bi thương của con người thì gia đình anh cũng như chính anh sẽ không còn chỗ dung thân.

Nghĩ cho cùng, có cả một hố sâu ngăn cách BG với TCS. BG chọn làm thi sĩ cùng với thảm kịch nhân sinh của thi nhân, của Phạm Thái xa lánh cõi đời:

Ba mươi sáu tuổi là bao nả
Năm sáu đời vua khếu chán ghê
Một tập thơ sầu ngâm sang sảng
Vài nai rượu kết ních tì tì ...
(những câu thơ của Phạm Thái mà BG thường tự đọc lại),
của Nguyễn Bính khi chết “miệng vẫn tòm tem thèm miếng cơm”
(thơ của Trần Mạnh Hảo).

Từ cuối năm 1988 – khi chính trị và kinh tế Việt Nam bắt đầu đổi mới, sự giàu sang được bộc lộ - TCS đã sống trong một thế giới xa hoa quyền quý mà không một nghệ sĩ Việt Nam nào từng được hưởng thụ. Nhưng trước khi sự giàu sang đến ngăn cách con người, BG vẫn thường bất chợt lui tới nhà TCS và được mẹ Sơn hay các em sẵn sàng đãi bữa cơm, chén rượu...Cái thời khó khăn vừa sau 1975 với cái nên thơ tình người, nhà thơ vẫn giữ những hồi tưởng êm dịu của sự bao dung nhân ái, hiền hoà thân thiết:

Trịnh Công Sơn
(...)
Ồ bạn ạ! Ồ người ôi!
Ai đi vô tận tôi ngồi ngu ngơ
Chẳng bao giờ kể chẳng ngờ
Rằng tình mộng tưởng không giờ xẻ chia
Không từ sương sớm trăng khuya
Không trăm năm cõi một rìa mép mao
Tuy nhiên ngoài luỹ trong hào
Còn rơi rớt chút hoàng mao A Đầu ...
(B.G. trong tập “Vào chung cục thơ”). (hoàng mao A Đầu: con nhỏ hầu bên, với chỏm tóc vàng)

Có thể nói, từ cuối năm 1988, BG không còn lui tới gặp TCS nữa. Nhất là từ ngày tang lễ mẹ Sơn năm 1991, các em Sơn đã có thái độ rất rõ : không cho nhà thơ của chúng ta tham dự sợ làm lạc bầu không khí tôn kính trang nghiêm với những quan khách hệ trọng. Việc này, tôi nghĩ, TCS đã không hề biết! Mãi đến năm 1994, với tập “Hán Tự Hài Cú” mà BG và TCS mỗi người phỏng dịch độ một trăm bài, tôi đã gián tiếp là sợi dây liên lạc giữa hai nghệ sĩ. TCS đã nhờ tôi đưa đến BG chỉ một câu tám chữ mà BG đã trả đáp bằng câu sáu chữ:
(thì rằng)

Trùng dương viễn biệt muôn vàn

(ấy ai ấy ai)

Ghé qua lục địa muộn màng hỏi thăm.
Thật là mang mang một sự ngậm ngùi nhân thế! Tang lễ BG tháng tám năm Mậu Dần (1998), TCS đã đến lễ và hát trước linh cữu bài ca “Cát bụi”. Mấy tháng sau, nhân đọc bài hán tự hài cú:

Thi nhân quy thiên khứ
Lưu tồn điên đảo nhiễm trần ai
Xử ngã sầu bất tận
(NVT)
TCS tức khắc viết ra bốn câu bảy chữ tưởng nhớ đến nhà thơ:

Thi nhân vĩnh viễn chân trời ấy
Đảo điên điên đảo bụi trần gian
Từ ấy tôi buồn như cỏ dại
Buồn vì một chút bụi lang thang
(TCS, 9.5.1999)

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
CatLinh  
#87 Posted : Tuesday, April 21, 2015 8:11:18 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 4/29/2015(UTC)
CatLinh  
#88 Posted : Sunday, April 26, 2015 10:39:28 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 4/29/2015(UTC)
phamlang  
#89 Posted : Wednesday, April 29, 2015 5:54:31 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Người Du Ca Chính Hiệu

UserPostedImage

Trịnh Công Sơn là một người du ca. Thế nào là người du ca?

Người du ca là một nghệ sĩ đặc biệt đứng giữa âm nhạc và thi ca, đúng hơn, người du ca là một thi sĩ nhiều hơn là một nhạc sĩ.

Người du ca thường khi xuất hiện và nổi bật trong những thời đại được coi là u uất nhiễu nhương, những thời đại mà tiếng nói con người bị lấn át, tự do con người bị cường chế, giá trị con người bị hạ thấp, hạnh phúc con người bị tước đoạt và ước vọng con người bị bao vây.

Ðó là một nghệ sĩ hơn tất cả các nghệ sĩ, thong dong như gió thoảng, thoát vượt ra ngoài mọi ước lệ thường tình của xã hội.

Ngao du từ làng thôn đến thị trấn, lang thang nơi cỏ hoa và trăng sao, len lỏi trong các tầng lớp quần chúng, trình diễn lấy những sáng tác của mình.

Ở những sân khấu bất chợt, trong ngõ hẻm, ngoài phố chợ, nơi sân đình, giữa vòng vây của những đám đông được kết hợp liên lạc bằng những đau khổ chung và những ước vọng chung.

Với một nhạc khí mộc mạc, những âm thanh đạm bạc và những lời lẽ hồn nhiên, người du ca là người tình của đám đông thua thiệt, là nỗi lòng của quần chúng uất ức: một biến cố sát cận, một bất bằng bên đường đập mạnh vào tâm não người du ca và trở thành nhúng tác phẩm, nhanh chóng và dễ dàng như nắng mưa đổi thay nơi miền nhiệt đới.

Người du ca là gã bán rong âm nhạc cho nhũng người tiêu thụ nghèo hèn nên ý tưởng trong du ca phải diễn đạt qua những ngôn từ dân gian với những hình ảnh nhan nhản hằng ngày, nhận ngay và hiểu ngay, nên âm nhạc trong du ca cũng phải là những phảng phất của những âm điệu dân ca, với những nhạc đồ giản dị mong manh, dễ hát và dễ nhớ.

Thành thử những tác phẩm du ca có thể là những tác phẩm yếu hơi, dễ dãi, sơ sài, những tác phẩm thành hình trong một thoảng cảm hứng nhất thời, những tác phẩm như những ký tự ghi chép vội vàng trên một trang giấy tình cờ, và thả bay ngay theo thời thế.

Quan niệm về người du ca tuy đã biến đổi rất nhiều qua mỗi thời đại, nhưng tựu trung, tinh thần du ca vẫn vậy.

Du ca vẫn là những thể hiện sống động vì là những thể hiện đầu tiên của tâm tình một quần chúng đông đảo trong một xã hội bi đát, tang thương.

Trong tinh thần này, Trịnh Công Sơn là một người du ca chính hiệu.

Tô Thùy Yên

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
CatLinh on 5/14/2015(UTC)
phamlang  
#90 Posted : Wednesday, April 29, 2015 6:00:43 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Trịnh Công Sơn, Nơi Vùng Ưu Tư Thành Tiếng Du Ca

UserPostedImage


Như một sợi chỉ luồn theo cây kim, tin Trịnh Công Sơn mất đến với chúng tôi trong buổi tưởng niệm ngày giỗ thứ 40 năm của nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị tại nhà văn học nghệ thuật ở đường Lê Lợi Huế. Tối ấy anh em nghệ sĩ đến nghe bình thơ khá đông, chúng tôi, chị Hỷ Khương, Bửu Ý, Gia Phàm, Như Ngân, Xuân, Xuân Quế, tôi và một số anh chị em nghệ sĩ khác đứng xúm vào nhau, nghe sợi chỉ theo cây kim níu mình xích lại gần hơn một tí với người bạn bên mình trong nỗi nhói đau một chút nơi tim.

Bỗng nhiên ít lời, một chút cay nơi mắt, một chút rã rời nơi vai, chúng tôi đứng như thế quây quần chôn chân, hình như có ai nói như một lời vĩnh biệt nửa buồn nửa vui : "Thôi rứa là từ nay hắn bỏ mình đi rong chơi chỗ khác... hắn bỏ đi thiệt rồi!"

Cái tên lãng tử nhu mì này! Tiếng hát lênh đênh, "chén rượu say uống hoài", rong chơi cả một kiếp người, bây giờ dứt áo ra đi "lìa bầy, chim bỏ đường bay", thõng tay viễn du nơi chốn nghìn trùng...

Sơn ra đi ! Cái vòng quây quần - như chúng tôi đang đứng với nhau chiều hôm ấy, nhiều đứa tóc đã rối bời sương muối - cái vòng bạn bè hay cái vòng tử sinh của thế hệ thập niên 40-60 chúng tôi, như chúng tôi đã thường đứng hay ngồi như thế mỗi khi gặp nhau ở lứa tuổi 20, như sút đi chốt mộng, chùng giây, tuột phím... cái vòng lỏng lẻo, rã rời!

Dẫu biết rằng trong mấy mươi năm hễ ở đâu có Sơn và tiếng hát của Sơn thì cái vòng này càng nới rộng ra, như những làn sóng, khởi đầu từ một điểm xoáy nơi nào đó ở Huế, có thể nơi khúc sông Bến Ngự, hay nơi hồ Tịnh Tâm, hay ở bến Bao Vinh, hay ở đồi Vạn Niên, ở đó Sơn ném một viên sỏi là tiếng hát của mình vào đấy và làn sóng lan ra, từ thế hệ chúng tôi cho đến thế hệ trẻ ngày hôm nay, từ Huế đến Sài Gòn, Hà Nội, Cà Mâu hay Lạng Sơn, vượt qua mấy lần đại dương và cái vòng quây quần quả đất bao la, hôm qua, ngày nay và có lẽ mai sau...

Sơn là Tiếng Hát Trịnh Công Sơn của Mọi Người.

Nhưng chiều hôm ấy tôi vẫn thấy - hay bởi mình muốn thấy như vậy - Sơn như vừa mới đứng dậy ra ngoài châm điếu thuốc, rồi sẽ trở lại ngồi giữa chúng tôi, trong vòng bạn bè, có thể chỉ là ba, hay bốn, hay mười, hay hai mươi đứa, ở Huế, tại nhà một người bạn nào đó, Chỉ, Ý, Tường, Tôn, Hùng, MLan, KLan, Điền, Hạnh, Thọ, Kỳ, Lý... ở nơi điểm xoáy sâu nhất của sông Hương, là vùng tâm tư của những người bạn đang tuổi thanh xuân, ngồi yên, ít lời, đôi môi mỏng thoáng nụ cười, mi mắt chớp sau gọng kính trên chiếc mũi thanh, lắng nghe những nổi sôi, những phiền muộn quanh mình, như lắng nghe chính con tim mình... trong vùng tôi xin gọi là vùng ưu tư của Huế những năm 60.

Vòng Bạn Bè

Chính trong những năm tháng ấy lần đầu tiên tôi gặp bộ ba - chữ của HPNTường - Tường - Cường - Sơn. Nguyên do thật là rất Huế, có thể tìm thấy rải rác đâu đó trong các bài hát của Sơn.

Một buổi chiều nắng vàng chiếu nghiêng trên nón lá, đường phố chính vắng người, không gian yên tĩnh có thể nghe thấy cả tiếng thời gian, chỉ có rộn rã tiếng guốc của mấy cô nữ sinh viên - đã có thể là BDiễm, TMai, Han, KLan hay MH, NB, DL, KL - đi dạo phố mua sách vở, tà áo lụa lướt bay trong nắng, bụi mờ đàng xa, và có một chàng trai xa lạ nào, có lẽ từ xứ Quảng ra, "chiều một mình qua phố ", đang đứng ngơ ngác nhìn đường phố, bỗng tà áo lụa như có sức hút nam châm, chàng trai thấy mình thơ thẩn bước theo.

Chiều hôm sau nghe báo có anh Tường đến thăm mượn sách, lúc ấy anh Tường tuy đã đi dạy văn nhưng học thêm môn cử nhân triết cùng khóa với tôi, anh đến với hai người bạn nữa, cái người hôm qua đi theo tà áo lụa và người kia là Sơn, "đi theo cho vui" như Sơn bảo. Chiều hôm sau nữa thì tôi cũng biết thêm là trong nhóm bạn của mình, có đứa là bạn của Sơn.

Huế nhỏ bé là như thế ấy, người này là bạn của bạn của bạn của bạn... và bạn bè thành ra những vòng tròn quây quần với nhau. Chỉ cần một tiếng "Ới!" của thằng bạn ở trước ngõ là đứa trong nhà đã vội vàng với cái mũ bê-rê dắt xe đạp ra mà đi rong suốt ngày làm cho cả nhà chới với chờ cơm... HPNTường hôm ấy thao thao, vì lấy cớ đi mượn sách nên phải nói về sách. Chúng tôi trao đổi với nhau một vài đoạn về chủ nghĩa hiện sinh trong cuốn Hữu Thể và Hư Vô của J. P. Sartre, một chút về ý niệm thời gian của Heidegger, mà chúng tôi đang đọc ở trường.

Sơn ngồi nghe chúng tôi bàn cãi, phân tích, hình như Sơn không bao giờ thay đổi dáng ngồi của mình, khi nào cũng như thế, tham dự nhưng không ồn ào, hiền hậu và luôn luôn thoải mái như khi ở giữa đám bạn thân, lắng nghe, chú ý mà không chút chi cố gắng, ít tranh cãi, dễ thân thiện tự nhiên, một chút phù phiếm và mỏi mệt nơi dáng người, và ánh mắt xa xôi với những chuyện cãi vã cốt dành phần lý về mình cũng như với mục đích khoa danh mà mỗi người sinh viên Huế thời ấy thường đặt ra cho mình.

Gió Phương Tây

Chủ nghĩa Hiện Sinh với Heidegger, Sartre, A. Camus, phong trào điện ảnh với Jean-Luc Godard, thể điệu chanson với Juliette Greco, Françoise Hardy ở phương Tây đã đến với lớp trẻ chúng tôi trong những năm của thập niên 60 như một làn gió chướng thổi qua cái thành phố Huế, nhỏ bé, đóng khung, còn rất cổ kính trong cách nghĩ, cách làm ấy.

Những danh từ như hiện sinh buồn chán, xao xuyến, hư vô, thời gian, hữu hạn và vô hạn, buồn nôn, thân phận con người, sự vô nghĩa của cuộc đời, nỗi hoài công phi lý của Sisyphus(1), ý niệm về siêu hình, bản thể học đã như những tiếng gõ bí ẩn vào cánh cửa tâm hồn của lớp thanh niên trẻ chúng tôi thời ấy như những mời gọi phiêu lưu vào những vùng đất lạ của tri thức. Bây giờ nhìn lại thì thấy mình dại khờ, bởi chính những tư tưởng mới này chẳng có chi là mới so với triết lý Phật giáo cả - thế nhưng lúc ấy chúng có một sức thu hút quyến rũ kỳ lạ trong cái khung cảnh đều đều êm đềm của xứ Huế, thành trì của thủ cựu và khuôn sáo, là những hàng rào ước lệ mà lớp trẻ thường hay muốn vuợt qua.

Chúng tôi thường gặp nhau để kể cho nhau nghe về một quyển sách đã đọc, soạn bài, tranh luận. Và có lần với cây đàn ghi-ta, Sơn bắt đầu hát cho chúng tôi nghe.

Ưu Tư và Du Ca

Khi nghe Sơn hát tôi giật mình. Vì Sơn hát... môn siêu hình học về cuộc đời, về tình yêu đó ! cái môn mà những con sâu gạo triết - như Đinh Cường vừa nhắc lại, là chúng tôi đang còn điên đầu vật lộn với nó, nhưng ngược lại, chẳng có một chút khô khan, trừu tượng, gượng ép hay kỳ quặc gì cả, Sơn đã hát triết học như một bà mẹ Huế có giọng nói hay nhất trên đời kể câu chuyện cổ tích Tấm Cám.

Như một con ve vừa mới thoát xác lần thứ mấy mươi nghìn năm từ lòng đất của Huế, đã đi về thường xuyên trong tâm thức Huế, đã rung động và cảm ứng với trời đất Huế, với một âm điệu giản đơn thoát từ gam trầm của giọng Huế, Sơn đã trả lời trong cảm ứng vô thức những tiếng gõ cửa từ phương xa và giải thể chúng tôi ra khỏi ngõ bí của tư duy.

Trong cái không khí sôi nổi của tuổi trẻ đô thị ham mê siêu hình, Sơn đã bắt đầu hát thay vì cãi nhau, thay vì lý luận dông dài với đám bạn bè, với cả thiên hạ, Sơn hát cho vui với anh em như Sơn thường nói, Sơn hát như một sự tham dự vào những đàm luận của bạn bè thuở đó và về sau của cả thiên hạ, mà đúng thật, Sơn hát với những ưu tư thâm kín nhất của tuổi hai mươi chúng tôi, với những tư duy của thế hệ trẻ chúng tôi và với một cách đặt vấn đề - biệt ngữ của phong trào học triết học siêu hình thời ấy, khác với những người nhạc sĩ đi trước.

Sơn hát như cách thế cổi dép đội lên đầu đi ra khỏi giảng đường của Thiền sư Triệu Châu(2) không phải là để bỏ đi, từ chối, mà là một cách thế mở ngỏ cho sự sống như Triệu Châu.

Hãy xem : Sơn hát đề tài có cái gì là khởi đầu, có gì là cái cuối cùng - ngõ bí của triết học đấy, nhưng với chất keo của một điệu ca bông đùa diễu cợt, và một chút ranh mãnh hiền triết của một thiền sư thõng tay vào chợ, Sơn hát "không có chi đâu này, là có cái chết đầu tiên, không có chi đâu này, là có cái chết cuối cùng...", hát như con bê điên cứ đánh lưỡi tùy theo cảm hứng của nó lúc chạy theo chế diễu mọi người ở trên một đường phố nhỏ của Huế. Người nghe có thấy mâu thuẫn hay không cũng phải mỉm cười, và bỗng ngộ được tính phi lý của sự đối nghịch trước sau.

Sơn hát đề tài bản thể và hư vô và nhắc chúng tôi tìm về dòng sông Hương nhìn nước chảy, để thấy hay nghe "tay hư vô thắp nến, chiều chơi vơi lên cao, rồi dòng sông cũng qua mau, đưa người gợi mối sầu... " trong một giai điệu tiếng nước chảy ngược về nội tâm, để thấy sông không chảy mà tâm mình đang chảy. Ai định nghĩa được hư vô ? Khổng tử cũng đã đến dòng sông để thể nghiệm với tiếng thở dài : Nước trôi mãi như thế ư ? Phạm Duy hát "im nghe nước chảy về đâu" trong một cảm giác buồn bã trôi xuôi. Với ý niệm hư vô, Sơn đặt lại vấn đề và giải mã sự biến đổi, sự trôi chảy của giòng sông với cảm tính triết học của mình trong âm giai sâu lắng, giữa tỉnh và mê, giữa buồn bã và giác ngộ.

Sơn hát đề tài nỗi hoài công của Sisyphus bằng tiếng vang của vết lăng trầm... phiến đá... ưu phiền... của một cuộc đời phiêu lãng quên tuổi xanh... quê nhà xa vời vợi... cô liêu vây quanh, của mùa thu bay đi với vòng tay buồn ôm nuối tiếc và đưa ta về với khung cảnh Huế - không phải Huế thơ mộng mà là một Huế như chốn lưu đày đồng thời là quê nhà trong nỗi nhớ, bằng một tiếng than dài như xâu chuỗi âm hưởng quấn quýt luân hồi.

Cũng phải nói thêm rằng thuở ấy, việc đi hát đối với các vị cha mẹ người Huế là một chuyện đáng nghi ngờ, nền nếp gia phong được rào lại kín cổng cao tường, không ai muốn cho con mình đi hát... hỏng đàn đúm rong chơi với những kẻ lãng tử giang hồ. Những bài hát mới do đó đối với chúng tôi thường như những trái cấm.

Cho nên bài hát đầu tiên của Sơn mà chúng tôi hát là một bài hát chuyền tay nhau : Nhìn Những Mùa Thu Đi.

Nhìn Những Mùa Thu Đi và Huế 1963

Bài ca có lẽ đã bỏ trong túi lâu ngày, chưa được phổ biến, đến tay chúng tôi thì mực đã nhạt nhoè. Để tập hát, chúng tôi xúm nhau lại trên thềm xi măng của một gian phòng rộng lớn gọi là hội trường của Nha Cảnh Sát Trung Nguyên Trung Phần (bây giờ là Đại Học Sư Phạm Huế) lúc ấy tạm sử dụng làm phòng giam những thành phần trí thức Phật tử trong phong trào đòi bình đẳng tôn giáo do việc cấm treo cờ Phật giáo vào ngày Phật Đản 1963 và việc xe tăng cán chết 14 em Gia Đình Phật Tử vào đêm Phật đản tại thành phố Huế. Chúng tôi, sinh viên Phật tử, Gia Đình Phật Tử, các giáo viên và giáo sư đều đồng thời bị bắt một loạt trong đêm 20.08.63, đêm các chùa bị tổng tấn công trên khắp miền Nam Việt Nam. Có người đang ngủ ở nhà cũng bị mời vào, như trường hợp của HPNTường, hồi ấy HPNT không nằm trong Đoàn SVPT. Mảnh giấy ghi bài Nhìn Những Mùa Thu Đi trong túi áo của HPNTường đã trở thành bài hát cho đỡ buồn (cũng như Sơn đã nói hát cho vui) trong suốt những ngày tháng bị giam cầm của chúng tôi.

Huế dạo ấy đang độ vào thu, ban đêm mưa sầm sập trên mái nhà, buổi sáng sớm trời trong trẻo, một thứ trong suốt như đóng đinh vạn vật dừng lại ở một điểm cố định, cây bàng độc nhất trong sân đứng với mấy chiếc lá đỏ trên cành, chúng tôi ngồi... "tay trơn" trên nền nhà - trẻ măng là mớ tóc và vầng trán, trẻ măng là sự ôm ấp những lý tưởng, những hoài vọng, những ước ao, những đợi chờ của tuổi hai mươi, và chúng tôi đã đếm ngày tháng bằng Nhìn Những Mùa Thu Đi...

Hội trường là nơi tạm giam chung nam nữ những thành phần trí thức và sinh viên, học sinh Phật tử đã biểu tình, tuyệt thực chưa được định tội rõ ràng. Vì tội trạng chưa được rõ ràng và được xem là những thành phần không đáng để ý nên chúng tôi có thể di chuyển thoải mái trong phòng và được đối xử tương đối tử tế. Ban đầu có đến hơn 500 người, sau đó được thả ra dần hoặc chuyển đi nơi khác, còn lại khoảng năm mươi, sáu mươi người, được chúng tôi lấy ghế ngăn lại làm hai trạm nghỉ : phần trên sân khấu dành cho phụ nữ cắm lều mùng mền, phần dưới sân khấu dành cho nam giới cắm trại. Buổi sáng sớm, khi mưa vẫn còn rỉ rả ngoài sân, nhóm phụ nữ còn nằm trên... sân khấu của hội trường thì chúng tôi thường đã được điểm tâm bằng tiếng huýt sáo của ai đó đứng ngoài hiên nhìn mưa. "Nhìn những mùa thu đi, em nghe sầu lên trong nắng, và lá rụng ngoài song...", buổi xế trưa bỗng nghe có ai cao giọng lê thê : "gió heo may đã về, chiều tím loang vỉa hè, và gió hôn tóc thề, rồi mùa thu bay đi..." và buổi tối có giọng ai âm thầm ở trong một góc phòng của hội trường : "và lá rụng ngoài song, nghe tên mình vào quên lãng, nghe tháng ngày chết trong thu vàng... thương cho người... lạnh lùng riêng". Chưa bao giờ trong đời tôi, đã nghe và đã hát một bài hát nhiều lần và trong một quãng thời gian dài liên tiếp ba tháng như thế.

Bài nhạc thật là đơn giản về âm giai thể điệu, đề tài mùa thu, một đề tài quen thuộc trong thi ca rất dễ bị rơi vào sáo ngữ, đã có Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư không tiền khoáng hậu, đã có Giọt Mưa Thu của Đặng Thế Phong khó quên trong lòng người, Thu Vàng của Cung Tiến âm vang, nhưng Nhìn Những Mùa Thu Đi đã là bước đầu thành công của cuộc hành trình ca khúc TCS. Có thể nói hành trình ca khúc TCS thực sự bắt đầu từ Nhìn Những Mùa Thu Đi chứ không phải Ướt Mi, dù Ướt Mi đã làm cho người ta biết đến Sơn.

Bởi vì với Nhìn Những Mùa Thu Đi, Sơn đã đưa chúng ta đến một cảm nhận mới, một thể cách tân thanh đến từ chính ý thức của người nghe : chúng ta hát Nhìn Những Mùa Thu Đi bằng mỗi cái nhìn mùa thu như một thể cách mình biết riêng cho mình, một thể nghiệm riêng cho mỗi cảm nhận lời ca của mỗi một cá nhân. Chúng ta hát cái nhìn của chúng ta, vào một buổi sáng mai thức dậy bỗng nghe gió heo may lùa vào khe cửa hay vào một buổi trưa nắng le lói trên vỉa hè của đường phố thưa thớt người qua lại hay vào buổi chiều tím bên song. Nỗi nhìn mùa thu trở thành sự rung động mùa thu.

Tôi nhớ đến chữ kiến tính của Huệ Năng khi ngài xây dựng quan điểm thiền học mới mẻ của mình, thay vì "Thân thị bồ đề thụ, tâm như minh cảnh đài" của Thần Tú, Huệ Năng đã đổi cách nhìn cuộc đời một cách vật lý so sánh thụ động bằng cái nhìn sinh động vào bản chất thực sự của sự vật trong tính chuyển đổi sáng tạo của nó "Bồ đề bổn vô thụ, minh cảnh diệt phi đài". Với cái nhìn vô niệm vào diệu dụng của vô và phi Huệ Năng đã đưa Thiền học vào một con đường dẫn đến giác ngộ đầy sinh động và sáng tạo.

Cũng thế, trong hành trình ca khúc của Sơn, với Nhìn Những Mùa Thu Đi, theo tôi nghĩ Sơn đã mở ra bằng cái nhìn của mình một thế giới âm thanh mới và khác lạ, thể cách và âm điệu sinh động vượt ra khỏi những cảm nghĩ khuôn sáo cũ, đi thẳng vào tâm thức người nghe, làm tiền đề cho tiếng hát TCS, và có lẽ đã là không phải một trùng hợp ngẫu nhiên mà trong tiếng hát TCS chữ vô (hư vô, vô thường) đã được ngâm nga một cách tân kỳ so với lời ca của những người đi trước và người đồng thời, ngoại trừ âm nhạc Phật giáo.

Chỉ khác nhau ở một cách đặt vấn đề, với bài hát mùa thu bằng cái nhìn mùa thu, có thể nói hành trình ca khúc TCS đã từ giã khuôn khổ của âm nhạc Việt Nam trước đó để cảm ứng được những trầm tư, thao thức và khát vọng của thế hệ của chính mình và thế hệ kế tiếp mà khởi sắc giai điệu riêng tư của mình.

Mỗi khi nghe giai điệu ca khúc TCS, âm hưởng của tiếng ca đi vào lòng người một cách tự nhiên như dòng nước chảy, ta có thể nghe và hát mấy mươi lần một bài mà không chán, tôi cứ nghĩ rằng Sơn đã nắm được yếu tố cốt tủy của âm thanh trong lòng đất Huế, đã triển khai được âm giai trầm của tiếng Huế làm thành thể chất căn bản cho ca khúc, như có lần tôi đã nghe được một công án của Phật : "Có vị Sa môn ban đêm tụng kinh tiếng nghe rất buồn, có vẻ hối tiếc, lưỡng lự, muốn trở về thế tục. Phật gọi mà hỏi, khi ông ở nhà thì đã làm gì ? Thưa thường đánh đàn. Dây đàn dùi thì thế nào? Thưa không kêu. Dây đàn cao thì thế nào? Thưa mất tiếng. Cao dùi vừa phải thì thế nào ? Thưa âm điệu phát ra đủ cả. Phật nói, học đạo cũng phải như vậy, giữ tâm trí chừng mực thì đạo phải được." (Bài kinh số 33 trong Kinh 42 Chương, Trí Quang dịch)

Âm điệu trong nhạc TCS cũng thế, đã tùy tâm để thể hiện âm thanh, cho nên nốt nhạc không bao giờ bức xé cũng như không bao giờ quá thấp để không có thể hát được, âm thanh chậm rãi, lưu luyến chảy vào tâm thức như một ý tưởng, một suy tư đang được ánh trăng thanh lọc khỏi những nứt rạn khô khan, cằn cỗi, gượng ép của tư tưởng mà trở thành dòng suối tâm thức tuôn chảy không ngừng.

Nhiều đêm nằm thao thức, nghe bài ca đi về xuôi ngược dội vào tim, tôi như trực cảm rằng trong bước đầu sáng tạo, Sơn đang từ trong giảng đường đi ra, vừa đi vừa làm một tiểu luận về - nghe buồn cười nếu tôi nói tiếp, Hữu Thể và Thời Gian của Heidegger và Nhìn Những Mùa Thu Đi là một bài tiểu luận về ý niệm thời gian mà TCS đã điểm nhãn bằng giai điệu rung cảm của Huế và của tất cả những gì đã diễn biến và lưu lại trong lòng của mảnh đất đã biến thành vùng khổ nạn kể từ năm 1963.

Tình Huế

Ở Huế có lẽ có một mối tình thủy chung duy nhất không bao giờ tàn phai, đó là tình yêu cảnh Huế của người Huế, như núi Kim Phụng mãi mãi đứng đó mà yêu hoài sông Hương bạc tình chảy xuôi, sông núi đã un đúc mối tình keo sơn của ngưới Huế với cảnh vật quanh mình ngay từ khi nằm trong nôi nghe mẹ hát "ru con cho tới làng Hồ..." "thuyền về Đại Lược, duyên ngược Kim Long...", hay "ru em cho thoét cho muồi, để mẹ đi chợ... mua vôi chợ Quán chợ Cầu, mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh".

Huế có lẽ là thành phố duy nhất trên quả địa cầu có cả núi và sông nằm ngay trong lòng, để cho người Huế dù cho đi xa mấy mươi năm, mấy mươi nghìn vạn dặm vẫn cứ mỏi mòn mong ngày trở lại dòng sông, trở về với núi.

Và tình nhớ Huế hầu như trở thành một cơn "mê chiều" của cảnh thức Huế lan khắp năm châu bốn bể từ Cali cho đến Sidney cho đến Paris cho đến Muenchen, Saigon, Hanoi, và ở nơi đâu khác nữa trên địa cầu có mặt người Huế, hiện tượng Nhớ Huế như một khủng hoảng căn niên của Huế hôm nay, và trong giờ phút đứng ngay trong lòng đất Huế chính tôi cũng thấy như mình đang đứng trong một bức tranh vẽ một người đang nhớ Huế...

Vườn cây, hoa lá, nắng mưa, mây gió, cảnh chùa đã ôm ru thời thơ ấu và tuổi niên thiếu của mỗi con người Huế, đã uốn nắn trong tâm thức sức nhạy cảm của người Huế trước thiên nhiên, đã trở thành những âm vang gợi cảm trong suốt cả đời người mỗi khi nghe mưa rơi, nghe lá đổ, nhìn nắng lên hàng cau, nghe hoa bưởi bắt đầu lên hương trong khu vườn buổi sáng...

Huế bốn mùa đã đưa chúng tôi quanh quẩn đi những con đường Thành Nội, Đông Ba, Ngự Viên, Lê Lợi, Bến Ngự, Nam Giao, An Cựu, Vĩ Dạ, Kim Long, Linh Mụ, Tịnh Tâm, Đại Nội... Những cuộc đi dạo thơ thẩn trên những con đường nhỏ, thường là đi bộ hay đi xe đạp chậm rãi - cuộc sống ở Huế dạo ấy không có cách chi khác hơn là chậm rãi, từ từ, thong thả, hình như song song với đi học, đi dạo là một thứ giải trí không thể thiếu trong thời khóa biểu của mỗi một người Huế ở thị thành.

Đi dạo, đi bộ, đi lang thang vì thế đối với chúng tôi đã là những cuộc hành thiền ngẫu nhiên, ở đó mỗi viên sỏi trên đường đi, một dòng nước nhỏ sau cơn mưa, mỗi chiếc lá rơi tan tác trên đường, mây chiều lãng đãng trên sông, nắng le lói trên vỉa hè, sự yên tĩnh của vườn cây, một đóa hoa vừa mới nở, một tiếng chim kêu, đã là những tín hiệu về cõi đời, về ý nghĩa của thân phận làm người, về sự phù du của thời gian và về ý nghĩa của sự đợi chờ, về tình yêu... Và mỗi cuộc đi, bên cạnh những sôi nổi ồn ào của tuổi trẻ, thường có những bước lắng nghe, chìm đắm trong cảnh vật, đã có những chiêm nghiệm trước núi và sông, "con chim nó đậu cành tre, mưa nắng ở trọ bên trong mắt người".

Ca khúc của Sơn, nhất là ca khúc tình yêu, thường đã mang nặng cảnh thức Huế như một nguồn sống cho ý thơ và âm điệu.

Cho nên khi nghe nhạc của Sơn, người nghe nhất là người Huế thường có cảm giác mình đang đi trên một con đường nào đó ở quê hương, hay đang ở trên đường đi trong cơn mưa "thì thầm dưới chân ngà", trong "mùa hạ khói mây" hay "mùa đông vời vợi", để đến thăm người yêu, chỉ đến một thoáng rồi đi, chỉ để nhìn mặt hay không nhìn mặt người yêu rồi quay trở về trên đường sỏi đá bên khúc sông Bến Ngự, để vùi trong cơn sốt thương yêu "gọi thân hao gầy, gọi hồn ngất ngây".

"Diễm xưa" là mối tình đầu của Diễm Xưa - sau Ướt Mi một thời mê say giang hồ, Diễm Xưa đã trở thành ca khúc tình đầu của Sơn và "Diễm" đã trở nên một huyền thoại "Xưa" như chuyện Từ Thức gặp tiên, như một câu chuyện tình cổ lụy cho đời và cho cả chính Sơn.

Tình yêu đã đến với Sơn như một huyền thoại bất ngờ, như một cơn mưa đến từ cõi hoang sơ rơi trên tháp cổ, nên thật bàng hoàng. Có lần Sơn bảo, con gái Huế yêu thật lạ lùng, trong cơn đau vẫn trốn mẹ, tung mền mặc áo mưa băng qua cầu chạy như bay đến để chỉ đặt một trái cây hoặc một bông hoa trước cửa, không cần gặp người yêu, rồi ra về. Để cho người con trai sững sờ, ngạc nhiên và lặng người trong nỗi nhớ nhung "buổi chiều ngồi ngóng những chuyến mưa qua, trên bước chân em âm thầm lá đổ, chợt hồn xanh buốt cho mình xót xa"... nỗi nhớ vết chim gi, bay qua vùng đất rộng, ước sao bờ sông Bến Ngự nối liền. "Chiều này còn mưa sao em không lại, nhỡ mai trong cơn đau vùi làm sao có nhau... hằn lên nỗi đau, bước chân em xin về mau". Diễm ơi, Sơn ơi, những mối tình ở Huế !

Tôi nghĩ rằng không ai cả ngoài "Diễm xưa" vẫn luôn luôn là bóng dáng người tình trong những tình khúc TCS. Trong Như Cánh Vạc Bay, Quỳnh Hương, Tình Nhớ, Hạ Trắng, Mưa Hồng, Gọi Tên Bốn Mùa, Tình Sầu v.v... vẫn thấp thoáng những nét đan thanh, chấm phá của Diễm : mảnh khảnh đến gió thổi bay, vai gầy guộc như đôi cánh cò (chúng tôi thường chế diễu nhau như thế), tay gầy lêu khêu, nét xanh xao, mái tóc rối quăn ôm gương mặt trái xoan nhỏ nhắn, bóng dáng chợt đến chợt đi chợt ẩn chợt hiện như trong Liêu Trai, dáng điệu thì yếu đuối như lúc nào cũng có thể ngất đi, nhưng trong lòng thì đầy cả đam mê bão táp.

Cái hình ảnh mảnh mai ẻo lả, lãng đãng như gần như xa, như có thực mà như không có thực ấy, khác hẳn với các khuôn mặt tình và khuôn mặt đẹp theo ước lệ trong những ca khúc tình yêu thường nghe, vẻ đẹp hao gầy mong manh trở nên nguồn cảm hứng không ngừng trong ca khúc tình yêu của TCS, xúc cảm từ một cuộc tình đam mê, trong trắng, mối tình học trò ngây thơ đầy hương sắc và ánh sáng mà Sơn chưa kịp nhận được thì đã thoáng bay.

Nếu tình yêu cảnh Huế keo sơn bao nhiêu thì tình yêu của người con gái Huế lại càng phù du như đám mây trời, như cơn mưa mùa hạ bấy nhiêu. Hình như là một thông lệ cho những người yêu nhau ở Huế : yêu ai thì rất mực yêu ai, nhưng khi tính cuộc trăm năm với người nào thì cha mẹ hay tiếng nói của mẹ cha đã nằm sẵn trong tiềm thức của mỗi người quyết định, và thường khi quyết định một cách thực tế là không lựa chọn người mình yêu, dù "nỗi lòng anh đầy" nhưng "lời ca anh nhỏ" bé đơn sơ quá cho nên ước mơ "ngày nào mình còn có nhau xin cho dài lâu" đã phôi pha để chỉ còn "Này em em hãy phụ người, này em xin cứ phụ tôi" "em cứ phụ đời" bởi vì trời đã sinh ra con gái Huế là để "yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau" (Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Ai bảo Sơn không khổ vì yêu, thứ tình "mật ngọt trên môi" trở thành "mật đắng trong đời" ? Cho cả cuộc đời, suốt cả bốn mùa mưa nắng "đôi khi thấy trong gió bay lời em nói, đôi khi thấy trên lá cây ngày em đã xa tôi". Có khổ tận trong tình yêu, có đạt đạo trong nỗi khổ mới thể nghiệm được nghĩa vô thường của "yêu là chết" và có thể đồng cảm với niềm vui và nỗi khổ của những ngưòi đang yêu. Trong tất cả ca khúc tình yêu của Sơn luôn luôn có tấm tình riêng chia với tấm tình chung, như đã "yêu em" thì "yêu thêm tình phụ", như "trên lá khô" chảy ra "dòng suối" tình yêu không tuyệt vọng...

Và đền bù lại cho những mối tình mây nổi, đã có tình bạn hữu thật chí thiết, đưa vai hứng đỡ những cơn tuyệt vọng chết người "đừng tuyệt vọng, ai ơi đừng tuyệt vọng!" "Bạn bè ở Huế thương nhau lắm, một đứa vợ la chín đứa kinh", có một nhà thơ nhận xét như vậy sau này. Cô đơn vì người tình hờn dỗi lắm khi không cô liêu bằng khi "bạn bè rời xa chăn chiếu". Và khi bạn yêu người nào thì hình như mình cũng yêu người ấy, khi bạn thất tình thì mình cũng đau khổ không kém gì nỗi đau của bạn. Trong những lúc Sơn lụy vì tình, đã nhiều lần thay bạn đi thuyết khách, giải thích, hóa ra ai yêu nhau ai giận nhau thì bạn bè đều mau mau đứng ra chịu trận như chính mình là người trong cuộc. Và chính Sơn cũng đã tâm sự với tôi như thể tôi cũng là người trong cuộc của hai người. Sơn ơi, người trong cuộc hay người ngoài cuộc, ai bỏ đi ai ở lại với tình, ai buồn hơn ai ?

Trong rất nhiều tình huống của những năm sáu mươi ở Huế, Sơn thường đứng ngoài cuộc, trong lúc chúng tôi dấn thân trong vòng khổ nạn của Huế 1963, nhưng mãi đến hôm nay mới biết được - dù hãy còn mơ hồ - người trong cuộc hay người ngoài cuộc, ai sầu ai thảm, ai thương ai cảm hơn ai, và tình bạn hữu đã khắn khít như thế nào giữa người đứng trong và người đứng ngoài hàng rào dây kẽm gai.

Mái Chùa

Đối với người Huế, và đối với chúng tôi, yêu cảnh Huế hầu như cũng đồng nghĩa với yêu cảnh chùa ở Huế. Hình như trong tất cả những lần đi ngoạn cảnh hay đi lang thang ở Huế, vô tình hay hữu ý nơi đến cuối cùng thường là bước vào cổng chùa, đứng nghỉ nắng hay chờ tạnh mưa dưới mái tam quan hay vào xin một chén nước chè tươi đỡ khát hoặc một chén trà ướp sen cho ấm lòng, tiện thể vào chiêm ngưỡng tượng Phật, thắp hương cho vị tổ sáng lập chùa, thăm thầy trụ trì, nghe một câu chuyện thiền trong một không khí ít lời, thong thả, mát dịu.

Thế rồi bóng nắng mời gọi, hoa trái trong vườn mời gọi, cỏ cây trong sân mời gọi là chân bước theo chân, là mắt đưa theo mắt, là tai chìu theo tai, ngẩn ngơ trong vườn sắn, vườn chè, rừng cây cổ thụ, nơi hồ sen, nơi tiếng ve kêu, nơi chùm khế sây trái, dừng lại nơi lá xanh reo, nơi suối róc rách, nơi hoa sen nở, nơi hoa mộc thơm hương - dù chỉ một vài giây vô niệm, không chủ ý - nhưng cũng đủ để thể nghiệm sự tĩnh lặng thường còn trong vạn vật, ở đó thong dong đi về không còn ngăn cách là thấy và nghe, cảm và nghĩ, xúc giác và khứu giác trong một toàn thể bao hàm tất cả những mâu thuẫn của sự trôi đi và dừng lại..

Buổi dừng chân có thể chỉ đủ để bóng nắng nghiêng trên triền đồi hay cơn mưa vừa tạnh hạt, nhưng cũng có thể để ngả lưng đợi giờ tắt cơn nắng gắt hay cơn mưa dai dẳng chưa dứt, để thấy hơn một lần hư không là nắng và vô thường là mưa.

Hay nhiều khi có thể lưu lại chùa vào một đêm trăng sáng, nghe tiếng hòa điệu rộn ràng của trăm thức hương lồng bóng nguyệt hay cảm được tiếng kinh Phổ Môn cầu an tẩm ướt ánh trăng thấm đượm thân thể như giọt nước cành dương, rồi bỗng chiêm nghiệm được trong khoảnh khắc tiếng yêu đương và tiếng yêu người cũng chỉ là một, "yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ".

Có lẽ trong tất cả những người thanh niên trẻ của thế hệ chúng tôi, Sơn là người đã bắt gặp được sự đốn ngộ bất ngờ ấy sớm hơn ai cả, không phải nghĩa "sớm" của "trước sau" mà là đã "từ bao giờ" không ai hay - trong vòng tay của người mẹ mộ đạo Phật ru đứa con đầu lòng, của gia đình thành tâm thương Phật anh em có nhau khắn khít, của cả mấy đời người Huế thương chùa, của cả mảnh đất thần kinh thâm u miệt mài hai chữ tu tâm - nên đến bây giờ, chỉ cần một chút "run rẩy" của lá là đã chuyển động "Phật tâm viên tròn thể tánh" trong ý nghĩa đơn giản nhất : chứng ngộ, thấy được chữ "thương ai" (ta và người= từ bi) viết đậm nét trên chiếc lá "hư không".

Mỗi ca khúc của Sơn vì thế - như ít có nơi những kẻ đi trước và những người đồng thời với Sơn trên lãnh vực âm nhạc - có thể nghe và cảm nhận như những công án thiền về cuộc đời, mà mỗi câu hỏi siêu hình về nó đều bị trả đũa bằng một hay hai điều tầm thường, vớ vẩn trong chính cuộc đời ; ở đó chữ nghĩa mất hết tính cách ước lệ, qui luật văn phạm, sự vô nghĩa nằm sát bên có nghĩa. Có ai không bất ngờ khi nghe câu hỏi đạo đức "Sống trong đời sống phải có một tấm lòng, để làm chi em có biết không?" được Sơn phổ thành bài ca với câu trả lời: "Để cho nước cuốn đi", cũng chẳng khác chi công án thiền: "Ý nghĩa thật sự của Bồ Đề Đạt Ma đi về phương Đông là gì?" Trả lời: "Cây trắc bá trong sân!" Trong bài ca, vô nghĩa đứng cạnh có nghĩa mà vẫn không nghịch lý, người nghe không thấy chõi tai mà ngược lại cảm thấy cảm xúc lăn tròn theo tiếng hát, và trong chuỗi âm thanh theo đuổi nhau, mọi nghịch lý, phi lý làm cho con người nghẹt thở của một Sisyphus hì hục lăn tảng đá cuộc đời đều được giải tỏa bằng một hơi thở dài trút hết ưu phiền của tiếng hát lênh đênh.

Edited by user Wednesday, April 29, 2015 6:03:46 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
CatLinh on 5/14/2015(UTC)
phamlang  
#91 Posted : Wednesday, April 29, 2015 6:02:54 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
tt

Mỗi tiếng mỗi chữ trong các ca khúc trở thành những đơn thể của tâm thức trong tính cách hiện sinh duy nhất, tràn đầy sinh động của chúng đã được Sơn xử dụng một cách sáng tạo như những phương tiện "tiếng vỗ của một bàn tay"(3) nhằm đánh thức âm hưởng nội tâm của mỗi người nghe, từ đó người nghe có thể đưa thêm vào bàn tay của mình để gây âm thanh cho chính cảm xúc của mình. Và tiếng ca, từ những cọng lá khô không lời, những viên sỏi vô tri im tiếng, bỗng xôn xao "cây lá vào mùa", bỗng lao xao sóng vỗ bờ xa...

Những ý niệm, những ngôn từ trong đạo Phật - hư vô, hư không, cõi tạm, vô thường, cõi đi về, tiền kiếp, từ bi... thường được xem như những món "cơm chay" khắc khổ, đã được Sơn hóa giải rất tài tình trong lời ca theo nguyên tắc suốt cả 49 năm Phật không thuyết một lời nào, bỏ hết tất cả những chất khô cứng đóng khung của ngôn ngữ dù đó là lời kinh, chúng được lắng nghe và linh cảm trong bản chất âm giai nội tâm đối đãi nguyên sơ nhất của chúng. "Tôi đã lắng nghe im lặng dòng sông... tôi đã lắng nghe im lặng ngọn đồi... tôi đang lắng nghe im lặng của tôi... tôi đã lắng nghe im lặng thở dài". Bài hát sâu lắng như một buổi toạ Thiền quán sát hơi thở.

Hư vô, cõi tạm do đấy được xử dụng như tiếng thô "đục" của mõ và "thanh" bổng của chuông, hai phương tiện của nghe kinh ngộ đạo đơn sơ nhất, căn cứ vào tầng rung cảm âm thanh bẩm sinh của mỗi con người, nói nôm na là tiếng lòng của mỗi người mà âm vang của tiếng mõ và tiếng chuông có thể làm nở "đoá hoa vô thường", có thể chở ta ra đi viễn xứ và mang chúng ta trở lại quê nhà.

Có thể nói tính cách tân kỳ của ca khúc TCS nằm ở chỗ trong khi Sơn chuyển ý niệm sắc không vào âm nhạc, Sơn đã làm mềm chúng bằng cách dựa vào giai từng cơ bản đối đãi giữa giải thoát và cõi trần cát bụi, trong tương quan chuyền qua đối lại giữa đục - thanh, trầm - bổng của mõ và chuông, từ đó tùy tâm mà chuyển đổi và ứng dụng tất cả những phương tiện khác của âm nhạc - tứ đại cảnh, ru em, hò hay điệu blue buồn hoặc điệu soul của phong trào tân nhạc Âu châu chẳng hạn, để sáng tạo nên thể cách riêng tư của mình. Trong tất cả dòng chảy của âm nhạc TCS, sự tĩnh lặng thoát ra từ âm thanh "chuông mõ" luôn luôn làm nền tảng cho sự cảm nhận nét nhạc của mỗi bài ca, dù cho bài ấy có dồn dập đến đâu.

Chính nhờ nguyên tắc đối đãi, mà lời và nhạc của Sơn luôn luôn biến chuyển không ngừng, trong nắng hư vô đã thấy tóc em dài, đường xa áo bay, và lời ru của mẹ lời ru cho em thường dẫn ta đi vào cõi đời thường như một cõi đời mộng, để cho mộng thực luân lưu trong nội tâm quyện tròn thành một lời êm dịu như tiếng kinh dỗ dành giấc ngủ.

Có thể so sánh sức mạnh sáng tạo trong thơ nhạc của TCS với một công án của Hakuin, thiền sư và họa sĩ ngộ đạo nhất của Nhật Bản:

Tay không mà có cầm cán mai;
Đi bộ mà ngồi lưng trâu;
Người đi qua trên cầu,
Cầu trôi, nước chẳng trôi !

Cái cầu cố định hóa mềm dưới chân, nỗi ưu tư hóa mềm trong tiếng du ca. Trong cái nhìn của người nghệ sĩ, năm căn hay lục căn được cởi bỏ mọi giới hạn, để chỉ còn tự do sáng tạo, ở đó nghe là nhìn "đôi khi thấy trong gió bay lời em nói", ngửi là nghe, vị giác cũng là nghe, "tôi đã lắng nghe im lặng mặt người", mà Hakuin (Thiền sư Bạch Ẩn) gọi là phạm trù "kikan" của mỗi công án, phạm trù của cơ cấu mềm dẻo và tự do. Trong cái nghe sáng tạo, tiếng rơi thô kệch của hòn đá rớt xuống cành mai bỗng hóa thành tiếng chim ca thánh thót hát khúc qua đời ! Đứng dưới mái chùa, TCS đã trả lời Sisyphus bằng một công án như thế !

Một Niềm Vui, Một Giọt Nước Mắt

Trong tất cả các bài hát của Sơn, có một bài duy nhất mà tôi ít thích nghe cũng như ít thích hát, đó là bài Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui sáng tác sau 1975. Không phải vì âm điệu buồn tẻ hay lời ca không hay, nhưng vì mỗi khi nghe hát bài này tôi lại nhớ đến Sơn của lần gặp lại năm 1977, khi tôi trở về Huế thăm nhà sau 12 năm du học.

Trở về Huế sau mười mấy năm xa cách, tôi đã gặp lại một Huế thật là - người Huế thường chỉ tình trạng này bằng bốn chữ tả chân..."xanh xương mét máu", một Huế đang giật mình, một Huế đang run sợ kinh hãi cho ngày mai, bên cạnh một Huế rất nghèo, rất khổ. Đi trên đường phố ít ai ngẩng đầu lên, có trao đổi một nụ cười với ai thì nỗi gượng gạo nơi người ấy đã ngăn vành môi bên kia không cho cười hết miệng.

Khác hẳn với một Huế ngày trước mà mỗi nụ cười là ánh sáng thân hữu hiếu khách, mà mỗi cái nhìn có phản chiếu sự trong trẻo của nước sông Hương trên khúc sông Linh Mụ mời gọi tha nhân đi sâu vào một câu chuyện mới làm quen, Huế 1977 mà tôi gặp lại là một Huế lơ đãng, sầu hận và nghi ngờ, một Huế bị phá sản hết mọi thiết tha.

Hãi kinh và ngơ ngác đọng trong mắt, trên nét mặt của mỗi người những vòng sâu thâm quầng. Lần trở về Huế năm ấy cho tôi một nỗi bơ vơ còn hơn những nỗi bơ vơ ở xứ người, vì đâu đâu hình như ai chẳng tin ai, ai cũng nghi ngờ lẫn ai, ai cũng oán hờn với ai, ai cũng sợ ai.

Chỉ có một niềm vui duy nhất : gặp lại gia đình và gặp lại bạn cũ. Trong khoảng thời gian mấy mươi ngày ở Huế, Sơn là người bạn đến thăm tôi nhiều lần nhất. Khác với ngày trước thường đi bộ ba, bộ bốn, lần này Sơn đến một mình. Vẫn dáng người gầy, mũ caskette nâu như năm nào, gọng kính trên mũi thanh, ánh mắt thân thiện như chưa bao giờ có một khoảng trống vắng trong tình bạn. Chúng tôi kể cho nhau nghe những điều đã làm đã học trong mười mấy năm không gặp.

Tuy xa nhau rất lâu, nhưng hình như lúc nào Sơn cũng có mặt không những chỉ cho riêng tôi mà cho thế hệ chúng tôi, ở những nơi xa xôi nhất như cái thành phố Âu châu mà tôi đang ở. Nhạc tình, nhạc về chiến tranh và hòa bình của Sơn trong những năm trước 1977 đã nở rộ và âm vang đến cộng đồng người Việt khắp năm châu. Ở nơi quê người chúng tôi đã hát nhạc của Sơn như nỗi ưu tư của mình về số phận của đất nước và con người Việt Nam, về nỗi khổ chiến tranh, về khát vọng hoà bình.

Khác với những ca khúc khích động xuống đường thời ấy như "dậy mà đi", "cỏ cú", ca khúc về cuộc chiến của Sơn thường gây ý thức, đặt vấn đề hay trình bày vấn đề, hoàn cảnh, số phận để mỗi một người chúng ta lấy quyết định mà hành động. Và khi đã lấy quyết định rồi thì tự mình gánh lấy trách nhiệm của mình, chứ không thể đổ tội cho bài ca. Bởi thế tôi nghĩ rằng những trách cứ về Sơn, buộc tội Sơn có hơi vội vàng do sự ngộ nhận bản chất thật sự của những ca khúc TCS mà có lẽ trong một dịp khác phải được phân tích và đánh giá lại một cách trung thực.

Trở lại 1977. Cả một công trình sáng tác nhạc mười mấy năm đang bị đe dọa phải chối bỏ, kiểm soát, tự phê bình, Sơn đã tâm sự với tôi nỗi khó khăn cho một người nghệ sĩ trong hoàn cảnh chế độ xã hội chủ nghĩa đang được thực hành trong tính cách tuyệt đối, khai trừ mọi ý kiến khác biệt. Đã kể cho tôi nghe những buổi "đi thực tế", những lần phải viết bài tự phê bình về tác phẩm của mình, và Sơn bảo, họ không đồng ý với mình nhưng họ bảo mình viết rất hay. (Không biết những tài liệu ấy ngày nay có còn không?) Tôi đã ngạc nhiên trước những nhận xét sắc bén của Sơn, mà hồi trước vì thấy Sơn ít nói, tôi cứ đinh ninh là Sơn đơn giản.

Sơn đã chạm mặt với hai vấn đề : ý thức con người trong Xã Hội Chủ Nghĩa và lý thuyết Mác-xít. Vấn nạn thứ nhất làm cho một người nghệ sĩ chân chính phải kinh hoảng là sự không thành thực với chính mình - thành thật với chính mình là điều kiện tiên quyết cho sự đạt đạo trong sáng tác nghệ thuật. Trong hai năm trường Sơn đã chạm mặt với một hiện tượng mà Sơn gọi là nhị trùng bản ngã - danh từ lần đầu nghe ở Sơn, bên ngoài nói một đằng mà bên trong nghĩ khác, mà cả hai, bên trong và bên ngoài đều được chủ nhân của chúng tưởng là đúng một cách giáo điều như nhau, chứ không phải một mặt đúng thì mặt kia phải sai, không, giáo điều là sự tin tưởng cả hai thứ sai đều đúng !

Vấn nạn thứ hai là sự tò mò siêu hình cố hữu, Sơn hỏi tôi ở Âu châu đã có triết gia nào dùng lý luận để bác bỏ lý thuyết Mác-xít một cách toàn diện, tương tự như Marx đã phê bình Hegel. Câu hỏi thắc mắc triết học này đã biểu lộ nỗi lo âu trí thức của một người nghệ sĩ thức tỉnh. Không băn khoăn lo âu sao được khi ở đâu cũng bị vây quanh bởi những bích chương giáo điều quá vĩ đại và hằng ngày phải điểm tâm bằng những buổi phát thanh ca ngợi chủ nghĩa như kinh nhật tụng và những buổi học tập lý thuyết Mác-Lê loại trừ mọi phê phán ? Lo âu cho sức sáng tạo của mình bị tắt nghẽn khi phải đánh đổi sự yên tâm trí thức về chân lý bằng quyết đoán giáo điều nông cạn và hời hợt.

Một lần khác trong một cuộc đi xem triển lãm tranh tại Huế, Sơn chỉ cho tôi một bức tranh hiện thực được giải nhất, vẽ cảnh công nhân cùng với mọi tầng lớp nhân dân đang lao động, người nào cũng vai u thịt bắp mặt mày hồng hào, em bé thì bụ bẫm. Nỗi khổ của nghệ sĩ miền Nam nằm ở nơi "người người hồng hào, em bé bụ bẫm" ấy! Vì nếu vẽ hiện thực thực sự thì chỉ tìm thấy thực tế "đói dơ xương" đầy rẫy. Phải sống trong một ảo tưởng lạc quan nào đó mới có thể vẽ hay hát hiện thực "mơ mộng ngây thơ" trong hoàn cảnh Việt Nam thời ấy. Cho nên không vẽ được, không sáng tác được. Cho nên khổ !

Không có bài hát nào của Sơn trong quá khứ được ban giam khảo văn học nghệ thuật thời ấy cho lọt sổ. Nhạc Sơn bị cấm phổ biến.

Sáng tác theo chiều hướng qui định đó như một cực hình, mà không sáng tác - lẽ sống của người nghệ sĩ, thì như cây giữa mùa xuân rụng lá. Trong một hoàn cảnh như thế Sơn đã chọn lựa sáng tác và bắt đầu lượm từng chiếc lá xanh vừa rụng xuống chắp lại lên cành với bài Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui.

Trong đêm họp mặt bạn bè cũ nhân cuộc trở về Huế của tôi (hôm ấy có mặt bộ ba của thời trước - Sơn, HPNTường, Đinh Cường) và những bạn cũ, cùng một vài khách mới, Sơn đã hát cho chúng tôi nghe ngoài những bài hát cũ, bài hát vừa mới sáng tác nói trên. Về âm điệu và lời ca, thoạt nghe, thì cảm thấy bài hát thật là bỡ ngỡ nếu được nhìn trong toàn thể ca khúc TCS.

Đến 1977 ca khúc TCS đã lớn mạnh và đạt đến trình độ tinh luyện, xuất thần về âm giai cũng như về ý nhạc, cho nên khi nghe Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui tôi có cảm tưởng đau đớn là Sơn đang tập đi lại những bước nhạc ấu trĩ trong sự nghiệp ca nhạc của mình, như "kìa đàn vịt ngoi dưới ao hồ" hát hồi lớp Năm, đang phải quên tình sầu, tình nhớ, mưa hồng, cõi tạm để hiện thực trong những niềm vui không có thực, đang phải tập đi những bước đoạn trường để qua cái cầu Xã Hội Chủ Nghĩa.

Và không những chỉ Sơn, tất cả những nghệ sĩ miền Nam đều đã phải trải qua cay đắng ấy, trong khi họ gần nửa đời người sáng tác, họ phải bắt đầu lại từ đầu với một cảm giác đang bị cặp mắt của ban kiểm duyệt văn hoá quan sát ở sau lưng.

Ai nói Sơn ca ngợi niềm vui (trong lúc mọi người đang buồn đang đói) trong bài hát này? Người ấy đã nghe quá vội, chỉ nghe chữ "vui" mà không nghe chữ "chọn" đi trước. Ai vui thì nói tôi vui như bài "vui ca lên nào anh em ơi" còn một người đang ngồi "chọn" niềm vui thì người ấy chưa vui, bởi vì trong lúc chọn, "cái vui" còn là một đối tượng bên ngoài chứ chưa phải là niềm vui bên trong, cái vui nghẹn ngào, mới chỉ là một nửa, mới chỉ là "vui gượng kẻo mà" đó thôi. Âm hưởng của chữ "vui" sau chữ "chọn" nghe như có vết lăn của giọt nước mắt không nức nở của nàng Kiều !

Trong hoàn cảnh bấy giờ có người bảo không thể tìm ra một niềm vui nào cả và trách Sơn tại sao có thể xa thực tế, đi nói chuyện vui trong lúc cả nước khổ, ngược lại đài phát thanh Huế ngày nào cũng kể ra hàng vạn tin vui, và người ta trách Sơn sao chỉ chọn một niềm vui, và chọn một con đường để đi, trong lúc vui đã có và đường đã sẵn ?

Trả lời chất vấn thứ hai, Sơn hát "tôi chọn một niềm vui" ấy là thái độ tích cực đó chứ, tích cực nhưng không giáo điều vì sự chọn lựa là của tôi và như thế tôi trung thành với tôi, trả lời chất vấn thứ nhất, Sơn cho thấy sự bất bình thường của việc đi chọn một niềm vui như đi lựa một chiếc áo chưa mặc, như đi mua vé xem hát mà chưa đi. Trong Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui vẫn có chữ vui, nhưng là nỗi vui được chọn lựa trong cảnh ngộ "dùi mài một thân" của người nghệ sĩ phải tìm một niềm vui để sống, phải chọn một con đường để đi giữa "gió trúc mưa mai", chọn và tìm cho được mỗi ngày một niềm vui thật sự giữa những niềm vui nhị trùng bản ngã không phải là dễ.

Và niềm vui mà Sơn kể ra lại không dính líu chi với những niềm vui loan ra của các đài phát thanh của cả nước thời bấy giờ cả, mà là những niềm vui tìm được trong cảnh thức Huế đã ghi đậm một thời : những bông hoa, những nụ cười, "tôi chọn gió trời mời em giữ lấy", chọn tiếng ru con để chờ nắng đầy, chờ cơn mưa tới và "nhìn gió quê hương ngồi nghĩ đời mình".

Tôi nhớ nàng Kiều trong "Nỗi lòng đòi đoạn xa gần, chẳng vò mà rối chẳng dần mà đau" đã nhớ về quê cũ với những kỷ niệm đầm ấm khó quên như một niềm vui an ủi cho hiện tại và cảm được tâm trạng của Sơn trong những năm sau 1975 một phần nào : Chọn ở lại trên mảnh đất quê hương như là một nhu cầu tất yếu của người nghệ sĩ - có con ve nào hát được tiếng hát trung thực của nó khi bay khỏi vùng đất mà nó vừa thoát xác ? - Chọn cho được một con đường riêng cho mình để sáng tác mà không phản bội với chính mình. Chỉ với những niềm vui trong "giấc hương quan" mà đó là "gió quê hương" của tâm thức Huế, tác giả của Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui khi "nghĩ lại đời mình" đã tạo cho cuộc đời mới của mình một mảnh đất sáng tạo dù cho hạn hẹp, ở đó anh có thể chọn một niềm vui như một thứ tự do dù cho chỉ là khoảnh khắc phù du như gió, như mưa, như nắng nhưng lại trung thực với con tim, bởi lẽ "đất nước đang cần một trái tim" trung thực như thế.

Ngày rời Huế lúc chia tay Sơn đã đem đến tặng ba bài hát viết tay trên trang giấy học trò - hồi ấy giấy viết tốt hầu như không có, bài hát nói trên, và hai bài Con Chim Nó Đậu Cành Tre, Em Đi Qua Chuyến Đò hai sáng tác mới phối hợp điệu dân ca và nhạc soul mà Sơn rất đắc ý. Hành lý mang theo hôm ấy là tình bạn hữu và một nỗi xao xuyến lo âu cho người ở lại. Ở nơi xa mỗi khi nghe ai hát những bài hát ấy tôi lại thấy xót xa với niềm vui như một giọt nước mắt khô không chảy ấy.

Trong những năm kế tiếp, sau một khoảng thời gian bặt tiếng, nhạc của Sơn như một luồng nước ngầm chảy đến miền Bắc và chinh phục mọi tầng lớp thính giả, mặc dù bị cấm phổ biến, trong những chuyến xe đò từ Nam ra Huế, ra Bắc, du khách bỗng nghe ấm lòng khi nghe Tình Nhớ, Quỳnh Hương như cuộc trùng phùng bằng hữu bất ngờ, thấp thoáng, quấn quýt bên tai.

Tiếng hát TCS đã trở thành tiếng hát của mọi người. (Sự thành công của Sơn sau 1977 là việc nghiên cứu trong tương lai). Sơn thường bảo "đời đã đãi ngộ" Sơn đó, tôi thì nghĩ, không chỉ do thế, chính trái tim chân thật đầy đạo vị của Sơn đã gặp gỡ trái tim của mọi người dù Bắc hay Nam, hữu hay tả, đó là nguồn suối thành công của Sơn.

Trái Tim Trung Thực Từ Bi - Lẽ Sống Văn Hóa

Lần cuối gặp Sơn tại Sài-Gòn vào tháng 9 năm 2000, tôi đến thăm Sơn với ý định nhờ Sơn phổ nhạc cho vở kịch của B. Brecht do tôi dịch và Minh Ngọc làm đạo diễn. Một sự tình cờ, hôm ấy Thầy Tuệ Sĩ cũng đến chơi, lại nghe có Đinh Cường ở Mỹ về cũng sắp đến. Chúng tôi ba người ngồi nói chuyện với nhau đợi Cường, và một đề tài cố hữu lại được đề cập - một cách thoải mái, chuyện làm văn hoá tại Việt Nam.

Sơn nói với Thầy Tuệ Sĩ - hôm nay mới thấy là một ngẫu nhiên lạ lùng, như một kết luận cho hành trình ca khúc của mình : nên làm văn hóa và có thể làm văn hóa trên đất nước này, có thể sống văn hóa trên đất nước này miễn là mình vẫn trung thành với chính mình, với con tim của mình, với cảm xúc sáng tạo của mình, và với tình thương, thì sẽ thuyết phục được thiên hạ và có niềm vui. Rồi chỉ vào mình Sơn bảo : "Như Sơn!", không một chút tự cao mà nhân hậu như một thiền sư đã chứng ngộ mọi sự khổ của cuộc đời, mọi nỗi vui của cuộc đời, với ly rượu cố hữu (khổ nạn và đam mê của Sơn) trong tay.

Tôi nghĩ đến cách thế cởi dép đội lên đầu mà đi của Thiền sư Triệu Châu(4), câu trả lời duy nhất có thể cứu sự sống qua bao nhiêu tranh luận ý thức hệ, bao nhiêu giáo điều chủ nghĩa, bao nhiêu sự chém giết đày đọa hận thù lẫn nhau mà Việt nam đã trải qua và thế hệ của chúng tôi đã trầm luân trong ấy.

Ngoảnh mặt lại nhìn thì đến bây giờ chúng tôi chỉ có TIẾNG HÁT TRỊNH CÔNG SƠN như tiếng của cõi lòng thế hệ 40 - 60.

Vĩnh Biệt

Ngày đưa đám Sơn, anh em ở Huế, một số vào Sài-Gòn, một số người ở lại Huế, trong đó có tôi. Nghe báo tin ra hàng ngày là đám tang sẽ rất lớn, người ái mộ đem hoa đến không kể xiết, bỗng chùn chân không muốn đi.

Ở lại Huế, hội văn nghệ tổ chức lễ truy điệu, bạn hữu, người ái mộ đến rất đông, nhưng cũng có người không đến. Hỏi tại sao. Trả lời, tui không tới, không đi mô hết, tui đã từng thao thức nhiều đêm với hắn ở trên chùa, thời nhỏ đã từng lăn lóc với hắn trong vườn dâu trong bụi sắn, chừ tui ở nhà tui khóc với hắn, tui nói với hắn là đủ rồi - một chiêu bằng hữu kiểu Huế kỳ quái! không phải khóc cho Sơn mà với Sơn, không phải điếu văn cho Sơn mà nói với Sơn trong nỗi "bạn bè rời xa chăn chiếu". Ô hay, sao nỗi cô liêu bỗng vô tận thế này?

Ngày đưa đám Sơn, tôi đã đi lại những con đường ở Huế, đường qua Trường Tiền đường lên Bến Ngự, vòng xuống Ngự Viên, những con đường chúng tôi đã đi thời thanh xuân, bỗng vấp chân trên đường, hòn đá lăn rơi khô khan như tiếng đất rơi tiễn biệt trên một quan tài, những viên sỏi đá! một thời tuổi xuân! đã muốn nhìn vô tri đồng nghĩa với chữ TÂM, với chữ THƯƠNG!

Sơn ơi, nơi cõi "đêm chưa qua mà ngày chưa tới" trong kinh Bát Nhã có phải "ngày sau sỏi đá vẫn cần có nhau"!

Thái Kim Lan

GHI CHÚ

(1)Sisyphus: nhân vật trong huyền thoại Hy Lạp, con của Aiolos và nữ hoàng Korinth, nổi tiếng là tinh ranh quỉ quyệt đã dám bắt thần chết trói lại để cho con người khỏi phải chết, sau đó bị trừng phạt vì tội ấy suốt đời phải lăn một tảng đá lên núi, nhưng khi đến nơi thì tảng đá lại rớt xuống, và Sisyphus lại phải bắt đầu lại công việc lăn đá lên núi.
(2) và (4) Công án Triệu Châu: "Một hôm trong tự viện của Hoà Thượng Nam Tuyền, tăng chúng ở đông và tây đường tranh nhau một con mèo. Nam Tuyền cầm con mèo giơ lên nói: "Đại chúng nếu có ai nói được (đắc đạo) thì cứu mạng cho mèo, bằng nói không được (đạo bất đắc) thì ta sẽ chém mèo vậy!" Chúng chẳng ai nói được, Nam Tuyền bèn chém mèo. Chiều đến, Triệu Châu về, Nam Tuyền đem chuyện kể lại cho Triệu Châu. Triệu Châu bèn cởi giầy đội lên đầu rồi đi ra. Nam Tuyền nói: "Nếu như có ông ở đó, hẳn đã cứu được mạng cho mèo rồi."
(3) Một công án Thiền học nổi tiếng của Hakuin: "Khi ta vỗ hai tay vào nhau, ta nghe tiếng vỗ tay. Hãy lắng nghe tiếng vỗ của một bàn tay !"

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
CatLinh  
#92 Posted : Friday, May 1, 2015 2:25:28 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
Wikipedia:
Diễm xưa là một bài hát nổi tiếng của cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn viết năm 1960[1], được phát hành trong băng nhạc Sơn Ca 7, lấy từ ý "Diễm của những ngày xưa". "Diễm xưa" cũng được dịch ra tiếng Nhật dưới nhan đề 美しい昔 (Utsukushii mukashi) và được Khánh Ly trình bày ở hội chợ Osaka năm 1970. "Diễm xưa" còn được đưa vào chương trình giáo dục về môn văn hóa Việt tại một trường đại học ở Nhật Bản. Đại học Kansai Gakuin cũng có một cuốn sách viết về bài "Diễm xưa" có kèm theo DVD để tiện cho việc nghiên cứu của sinh viên. Bài hát còn được đài truyền hình NHK chọn làm bản nhạc chính cho một bộ phim về cuộc hôn nhân giữa một người đàn ông Nhật lấy người vợ Việt Nam.

UserPostedImage
Nhạc và lời: Trịnh Công Sơn
Thể loại: Nhạc Vàng

Giới thiệu

2 phiên bản ca khúc Diễm xưa của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (có phần lời bằng tiếng Nhật) do nữ ca sĩ thể loại enka (dân gian Nhật) nổi tiếng nhất nước Nhật hiện nay, Tendo Yoshimi thể hiện đều lọt vào vòng 10 bài hay nhất theo thăm dò của Oricon Entertainment Site tháng 3/2004.
Nhạc phẩm Diễm xưa của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được một nữ ca sĩ Việt Nam hát tại Nhật lần đầu tiên vào năm 1970 nhân Expo Osaka. Bài hát này và một số bài khác của Trịnh Công Sơn như Hạ trắng (Gekkabijin, Nguyệt hạ mỹ nhân) sau đó đã được hãng Columbia thu vào đĩa. Năm 1978, đài NHK số 1 đã thực hiện phim truyện nhiều kỳ Sài Gòn Kara Kita Tsuma To Musuko dựa trên cuốn sách do ký giả Kondo Koichi viết về câu chuyện chính gia đình ông. Tuy không có liên hệ gì với bộ phim, nhưng bài Diễm xưa đã được dùng làm nhạc chủ đề của phim truyện này. Năm 1998, Đài NHK lại phát ca khúc Diễm xưa lần nữa. Nữ ca sĩ Tendo Yoshimi (Thiên Đồng) 45 tuổi, từng đến Việt Nam đã mặc "áo dài", hát bài Diễm xưa bằng tiếng Nhật (tựa đề Utsukushimukashi, Mỹ tích) vào tháng 8/2002, cũng do NHK thu và phát hình.

Đến ngày 31/12/2003, Tendo tiếp tục trình diễn Utsukushimukashi trong chương trình Hồng Bạch (chương trình văn nghệ tổng kết thành tích nghệ sĩ trong năm) do NHK tổ chức. Năm nay chương trình bước vào lần thứ 54, được tiếp vận tới khoảng 50 quốc gia khác trên thế giới. Bà Tendo đã hát và thu đĩa bài Utsukushimukashi phiên bản 1 vào tháng 9 năm 2003 và phiên bản 2 vào tháng 2 năm 2004 với lối hòa âm dễ hát karaoke hơn. Việc cả hai phiên bản của 1 ca khúc cùng lọt vào "top 10" là chuyện lạ chưa từng có ở Nhật và có lẽ cả trên thế giới.

Mưa vẫn bay bay trên tầng tháp cổ
Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao
Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ
Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu
Mưa vẫn hay mưa trên hàng lá nhỏ
Buổi chiều ngồi ngóng những chuyến mưa qua
Trên bước chân em âm thầm lá đổ
Chợt hồn xanh buốt cho mình xót xa
Chiều nay còn mưa sao em không lại
Nhớ mãi trong cơn đau vùi
Làm sao có nhau hằn lên nỗi đau
Bước chân em xin về mau
Mưa vẫn hay mưa cho đời biến động
Làm sao em biết bia đá không đau
Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng
Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau
Mưa vẫn hay mưa cho đời biến động
Làm sao em nhớ những vết chim di
Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng
Để người phiêu lãng quên mình lãng du

Nhạc Trịnh Công Sơn trên xứ Phù Tang

Ở ngoài Việt Nam, Nhật Bản là nơi mà Trịnh Công Sơn được người bản xứ biết đến nhiều nhất. Bài Diễm Xưa được dịch ra tiếng Nhật dưới nhan đề Utsukushii Mukashi và được Khánh Ly trình bày ở hội chợ Osaka năm 1970. Bài Utsukushii Mukashi cũng được phổ biến rộng rãi vào quần chúng Nhật qua tiếng hát của Yoshimi Tendo, một ca sĩ nổi danh ở Nhật.
Từ đó đến nay Utsukushii Mukashi và một vài bài khác của Trịnh Công Sơn như Ca Dao Mẹ đã được phát trên các đài phát thanh ở Nhật khá đều đặn.

Năm 1980 ca khúc Diễm Xưa và bản dịch Utsukushii Mukashi được đài truyền hình lớn nhất ở Nhật NHK chọn làm nhạc phẩm chính cho một bộ phim nội dung trình bày những khác biệt văn hóa giữa một người Nhật có vợ Việt Nam.
Tháng 7 2004 Diễm Xưa trở thành nhạc phẩm Á Châu đầu tiên được viện đại học Kansai Gakuin đưa vào chương trình giáo dục của viện đại học trong bộ môn Văn Hoá và Âm Nhạc.

Dưới đây là bài Diễm Xưa bằng tiếng Nhật cùng với cách phát âm.

UserPostedImage

•Diễm Xưa - Khánh Ly
http://www.youtube.com/watch?v=zBFrLYJ5KOY

Diễm Xưa (Japanese Version) - Yoshimi Tendo
http://www.nhaccuatui.co...mi-tendo.TtUsUZQM8u.html

UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 5/17/2015(UTC)
CatLinh  
#93 Posted : Thursday, May 14, 2015 2:33:13 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
Quán Văn - Khánh Ly - Trịnh Công Sơn

http://www.nhaccuatui.co...ng-son.1CNhURJDeGyP.html

Nghe nhac Trịnh! YEU nhac Trịnh Applause Applause Wub Sneaky Love Love
Nghe bạo! Khèkhe Love Love LOL LOL BigGrin BigGrin Boo hoo! Boo hoo! Whistle Boo hoo! Dancing Dancing Dancing
Nghe quòi nghe ưuy, nghe nghe Boo hoo! Boo hoo! Whistle
Flapper leu leu!RollEyes Sneaky Flapper RollEyes Will continue, Nghe! Khakhaka LOL LOL Love Love ThumpUp Scared Scared Applause Applause Razz RollEyes Flapper
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 5/17/2015(UTC)
phamlang  
#94 Posted : Sunday, May 17, 2015 5:23:15 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

Từ “Diễm Xưa” đến “Một Cõi Đi Về”

Lê Hữu

Gió trời xin ngủ bình yên
coi như giấc mộng ưu phiền đấy thôi
Nguyễn đình Toàn

Nói về Trịnh Công Sơn (TCS) thì chẳng bao giờ hết chuyện. Chỉ cần ghi lại một buổi tranh luận giữa bạn bè về nhạc, về con người TCS, là đã có biết bao điều để nói. Người ta cũng có thể viết những cuốn sách rất dày nói về ông, về nhạc của ông, với những phê phán, nhận định, khen chê hay dở... Cái khó bao giờ cũng vẫn là bắt đầu như thế nào...

Khi ấy là vào những năm 66-67 thì phải. Tôi nhớ, lần đầu nghe tình khúc TCS, cái cảm giác ấy lạ lắm, thú vị lắm. Một vài ca sĩ đã trình bày Diễm Xưa trước đó, nhưng phải đợi đến lúc TCS tìm ra được Khánh Ly, người nghe mới thực sự nghe ra Diễm Xưa. Sau đó là những Nhìn Những Mùa Thu Đi, Lời Buồn Thánh, Tuổi Đá Buồn, Hạ Trắng, Mưa Hồng, Nắng Thủy Tinh..., tất cả đều rất mới, rất lạ, rất là cuốn hút người nghe. (Những Ướt Mi, Thương Một Người trước đó ít được biết đến dù được thể hiện qua những giọng ca khá nổi tiếng thời ấy).

Người ta chờ đón những tình khúc tiếp theo nữa của TCS, và ông đã không làm mọi người thất vọng. Những Biển Nhớ, Tình Nhớ, Tình Xa, Tình Sầu, Như Cánh Vạc Bay, Ru Ta Ngậm Ngùi... lần lượt theo nhau ra đời, lần lượt được người nghe tán thưởng. Có thể nói đây là thời kỳ viết nhạc sung sức nhất của TCS, và những tình khúc hay nhất, phổ biến nhất, quyến rũ người nghe nhất đã ra đời trong thời kỳ này. Nhạc tình TCS đã hoàn toàn chinh phục trái tim người nghe vì cái mới, cái lạ, cái đẹp, đến mức có một lúc nào đó mọi người tưởng như đã quên đi tên tuổi của các nhạc sĩ khác, quên đi những ca khúc thịnh hành trước đó, và chỉ còn lại có nhạc TCS. ở mỗi quán café, mỗi góc phố, mỗi con đường đều nghe vẳng ra tiếng đàn guitar bập bùng, những nốt nhạc đệm rời rạc, và giọng hát khao khao cất lên những lời buồn bã kể lể về thân phận, về quê hương chiến tranh và cả về tình yêu của những lứa đôi trong thời buổi ấy nữa. (Ngày nay không còn ai hát nữa những Ca Khúc Da Vàng của một thời, chỉ nhạc tình TCS là còn ở lại).

Nhạc TCS có ma lực gì mà cuốn hút, mê hoặc người nghe đến như vậy. Chắc không phải là một loại “thời trang nhạc tuyển”. Nếu chỉ là nhạc thời trang hoặc một cái mốt thời thượng thì đâu có sống lâu đến vậy, nhiều lắm cũng chỉ qua được mấy mùa. Thử nghe lại bài Diễm Xưa xem sao. Về giai điệu, cũng chẳng có gì đặc biệt lắm, cũng là tiết tấu chầm chậm, dễ dãi, những ngắt câu ngắt nhịp, lặp đi lặp lại. Câu nhạc đầu lại na ná câu đầu một bài hát thể điệu slow rock phổ biến từ những năm trước đó (Bước Chân Chiều Chủ Nhật, Đỗ kim Bảng). Không có gì đặc biệt. Vậy thì cái hay, cái lạ của nhạc TCS, của bài hát, là ở lời chứ đâu phải ở nhạc. Đến cái tựa “Diễm Xưa” cũng đã là lạ, cũng đã gợi ra nhiều dấu hỏi. Tại sao là Diễm, Diễm nào vậy, Diễm xưa thế nào, Diễm nay ra sao? Diễm xưa, mà sao lại chỉ kể toàn chuyện mưa. (Hạ trắng, mà sao lại chỉ kể toàn chuyện nắng). Mưa TCS cũng lạ, không giống những cơn mưa của những bài nhạc khác. “Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ...”, rồi lại “trên bước chân em âm thầm lá đổ...” Vậy thì mưa rơi hay lá rơi, nghe tiếng mưa hay nghe tiếng lá? Ngôn ngữ TCS nghe cũng lạ với những “tầng tháp cổ, vết chim di, xanh buốt, đau vùi, bia đá, đá sỏi, phiêu lãng, lãng du...” Người ta vẫn nói chuyến xe, chuyến tầu, chuyến đò, chuyến phà, chưa thấy có ai nói “buổi chiều ngồi ngóng những chuyến mưa qua”. Lại còn những câu hỏi: “Làm sao em biết bia đá không đau? Làm sao em nhớ những vết chim di?”. Biết đâu mà trả lời. Những ý tưởng có khi chẳng dính dấp, liền lạc gì với nhau. “Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động” thì có liên hệ gì đến chuyện bia đá đau hay không đau. “Xin hãy cho mưa qua vùng đất rộng” thì có liên quan gì tới vụ “người phiêu lãng quên mình lãng du”. Nghe như ông nói gà bà nói vịt, hoặc lấy câu trong bài hát này bỏ vào bài hát kia vậy. Vậy mà tuổi trẻ ngày ấy đã phải lòng Diễm Xưa, đã nghe đi nghe lại, nghe mãi nghe hoài không biết chán. Diễm Xưa, Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn, Diễm Xưa. Tôi không rõ từ thành đến tỉnh đã có bao nhiêu quán café mang tên Diễm Xưa, bao nhiêu quán café mang tên Tình Nhớ, Hạ Trắng, Mưa Hồng..., và những cô chủ quán hay những cô cashier xinh đẹp không đợi khách yêu cầu đã tự động cho chạy liên tục hết cuốn băng này đến cuốn băng khác những Ca Khúc Da Vàng, những Tình Khúc Trịnh Công Sơn, mà không cần phải bận tâm lắm đến chuyện café ngon hay không ngon.

Nhạc TCS quyến rũ người nghe đến như vậy, nhưng có một điều lạ là không phải ca sĩ nào cũng hát được nhạc TCS. Con số những ca sĩ hát nhạc họ Trịnh này nghe được không có nhiều, chỉ một vài. Ngay đến những ca sĩ tên tuổi thời ấy, hát thử TCS vài bài, cũng không thành công, cũng không nghe ra TCS. Từ đó, biết là không ăn, thôi không hát thêm nữa. Những ca sĩ khác, tự lượng sức mình, không chơi nhạc TCS, vì không muốn “như cánh chim chìm xuống”. Làm sao biết được giọng hát nào là thích hợp, là thể hiện được nhạc TCS? Cứ thử hát đi, thính giả sẽ nói cho biết, người nghe sẽ trả lời. Nghe nhạc TCS từ một giọng ca không phải để hát nhạc TCS giống như là uống rượu giả vậy. Từ khi những giọng ca chuyên hát nhạc TCS bỏ nước ra đi, ở trong nước người ta vẫn loay hoay tìm kiếm, cố gắng tìm cho bằng được những giọng ca khác để thay thế, cố gắng lăng-xê một vài tên tuổi, nhưng kết quả vẫn là “gần như niềm tuyệt vọng”, và người nghe vẫn nhắc nhở đến tên những ca sĩ cũ gắn liền với nhạc TCS. Có vẻ nhạc TCS thích hợp với giọng nữ nhiều hơn, chỉ một vài nam ca sĩ thể hiện được một đôi bài... Phải nghe Khánh Ly hát Diễm Xưa mới biết thế nào là “trong cơn đau vùi”, mới thấy đau xót “làm sao có nhau”, mới thấy “hằn lên nỗi đau”, mới hiểu được tại sao “sỏi đá cũng cần có nhau”. Còn phải nghe “sầu thôi xuống đầy” bằng những nốt nhạc luyến láy mềm mại ở chữ “xuống”, và bằng chính giọng hát ấy, mới thấy được cánh lá khô lả tả xoay vòng trước khi chạm đất, là dấu chấm “cuối cùng cho một tình yêu”. Phải nghe Lệ Thu hát Hạ Trắng mới nghe ra được tận cùng cái thê thiết của “gọi tên em mãi suốt cơn mê này” trong tiếng kèn saxo réo gọi. Và còn phải nghe cả “Ru Ta Ngậm Ngùi”, bằng chính giọng hát ấy, mới nghe ra nỗi cô đơn sâu thẳm của “người về soi bóng mình, giữa tường trắng lặng câm”.

Cái mới trong ngôn ngữ TCS:

Trong những lời nhạc TCS, người ta nhặt ra được rất nhiều cái mới, từ cách dùng chữ cho đến những ý tưởng. Về màu sắc chẳng hạn, trước đây ta đã có xuân hồng, hạ đỏ, thu tím, thu vàng... thì nay lại có thêm “hạ trắng”, và cả những cơn “mưa hồng” (của những cánh phượng rơi), “mưa xanh” (của những lá me bay) cho đủ sắc màu. Về nắng thì có “nắng thủy tinh vàng”. Sau tóc mềm, tay mềm, vai mềm, nay lại có thêm “ngoài kia không còn nắng mềm” (Chiều Một Mình Qua Phố). Đôi lúc cái mới được đẩy đi quá đà: hết nắng sớm, nắng chiều, lại đến “có khi nắng khuya chưa lên” (vẫn Chiều Một Mình Qua Phố). Tại sao không? Nhạc sĩ họ Trịnh có thể nói, “Có mưa khuya thì cũng phải có nắng khuya chứ.” Và “nắng như môi hoàng hôn trên phố” (Chiều Trên Quê Hương Tôi) cũng phải được kể là... nắng mới.

Ta có nghe bể mắt, hồ mắt, giếng mắt, giòng mắt... chứ chưa nghe ai nói “chiều đã đi vào vườn mắt em” (Nắng Thủy Tinh).

Ta có nghe giọt buồn (chắc là giọt café), sợi buồn (con nhện giăng mau) chứ chưa thấy ai nói “ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ khô” (Rừng Xưa Đã Khép). Nghe hay hơn là “cọng cỏ khô buồn”. Tương tự, “tóc xanh mấy mùa”, “hoa vàng mấy độ”, “sen hồng một nụ”, “quỳnh hương một đóa” nghe hay hơn là mấy mùa tóc xanh, mấy độ hoa vàng, một nụ sen hồng, một đóa quỳnh hương.
Ta cũng đã nghe giọt mưa, giọt nắng, giọt đắng, giọt sầu... nay lại có thêm “giọt chiều trên lá, như mắt người cười giữa chiều phai” (Chiều Trên Quê Hương Tôi).

Có rất nhiều những cái mới như vậy trong lời nhạc TCS.
Lối sử dụng tính từ như một danh từ, và ngược lại, trước ông vẫn có người dùng, thế nhưng những chữ ông dùng nghe vẫn cứ mới và thú vị, như “nghe những tàn phai”, “tôi là ai mà còn trần gian thế?...”

Có những chữ dùng rất cũ, qua tay TCS, như được làm mới lại, vì được sử dụng với những ý mới mẻ:
Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt, rọi suốt trăm năm một cõi đi về... (Một Cõi Đi Về).
“Nhật, nguyệt” là những chữ thật xưa cũ, đi với “trên hai vai ta” và “rọi suốt trăm năm” lại nghe như có vẻ mới.

Chữ “cõi” trong cõi sống, cõi chết, cõi nhân gian, cõi người ta..., dùng trong “một cõi đi về” như được khoác cho chiếc áo mới. Nói “một chốn đi về” nghe vừa hẹp, vừa không được trọn ý.
Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng... (Một Cõi Đi Về)
“Nhân gian” thì cũ, nhưng “đôi tay nhân gian” quả là chưa có ai dùng, và cũng không thể tìm ra được chữ nào hay hơn để thay thế.

Em theo đời cơm áo, mai ra cùng phố xôn xao... (Yêu Dấu Tan Theo).

“Cơm áo” là chữ dùng quá thường, nhưng “đời cơm áo” thì nghe lại mới, nhất là đi với “phố xôn xao”.
Thôi em đừng khóc nuối, cho môi còn chút thanh tân... (Yêu Dấu Tan Theo).
Thực khó tìm ra được chữ nào hơn “thanh tân” để chỉ đôi môi chưa hôn ai một lần.
Chữ “chút” ở câu trên cũng hay được ông dùng. Cái gì cũng chỉ chút chút thôi, không nhiều lắm, chỉ là một thoáng mong manh. Chữ ấy tuy cũ mà lại mới, làm đẹp thêm câu hát:

Có chút tình thoảng như gió vội... (Như Một Lời Chia Tay)
Có chút nắng trong tiếng gà trưa... (Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên)
Đi về đâu hỡi em, khi lòng không chút nắng... (Đời Gọi Em Biết Bao Lần)
Tôi xin làm chút gió, mát thêm những bờ vai... (Vì Tôi Cần Thấy Em Yêu Đời)
Tóc nào hãy còn xanh, cho ta chút hồn nhiên... (Ru Ta Ngậm Ngùi)
Dịu dàng trao chút hương hoa mùa xuân... (Vẫn Có Em Bên Đời)
Cho ta còn mãi mãi, chút mùi phấn hương bay... (Yêu Dấu Tan Theo)
Có rất nhiều “chút” như vậy trong những lời nhạc TCS.


Khi nói “tự do như gió thổi trên đồng rộng”, hoặc “hạnh phúc như đón mẹ đi chợ về” là mượn hình ảnh để cụ thể hóa những ý niệm trừu tượng. ở TCS, ta gặp rất nhiều những lối diễn đạt như vậy.

Sau mỗi chữ “như” là mỗi hình ảnh, mỗi ý tưởng giàu tính sáng tạo:
Tôi như từng cánh diều vui... (Nguyệt Ca)
Chuyện trò với lá cây, rồi buồn như lá bay... (Tình Sầu)
Nhìn người đi như mây vô danh... (Hãy Cứ Vui Như Mọi Ngày)
Em cười em nói, như sóng đùa biển khơi... (Tuổi Đời Mênh Mông)
Đời sao im vắng như đồng lúa gặt xong, như rừng núi bỏ hoang... (Ru Ta Ngậm Ngùi)
Cho con mắt người tình, ấm như lời hỏi han... (Những Con Mắt Trần Gian)

Có rất nhiều, rất nhiều những cái “như” như vậy trong lời nhạc TCS.

Ta còn gặp những cách ví von khác: “Chiều nay em ra phố về, thấy đời là những quán không” (Nghe Những Tàn Phai), hoặc: “Đời ta có khi tựa lá cỏ, ngồi hát ca rất tự do” (Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ).

Trái tim TCS dễ bắt được những rung động của thiên nhiên. Trong những lời nhạc của ông, hoa cỏ, núi đồi, sông suối, nắng gió, mùa màng... cũng đều biết cảm xúc, biết nhớ biết thương, biết cười biết khóc, biết vui biết buồn...

Tóc em cười trong gió... (Yêu Dấu Tan Theo)
Gió đến chơi từ bờ biển xa... (Chiều Trên Quê Hương Tôi)
Gió sẽ mừng vì tóc em bay, cho mây hờn ngủ quên trên vai... (Như Cánh Vạc Bay)
Suối đón từ bàn chân em qua, lá hát từ bàn tay thơm tho... (Như Cánh Vạc Bay)
Dưới chân ngày cỏ xót xa đưa... (Cỏ Xót Xa Đưa)
Nhớ gì mà nắng vàng cánh rừng... (Vẫn Có Em Bên Đời)
Ngày mai em đi, đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ, sỏi đá trông em từng giờ... (Biển Nhớ)

Phải có một trái tim thật là nhạy cảm, những giác quan thật là bén nhạy, mới có thể đọc được, nghe được và hiểu được ngôn ngữ kỳ diệu của thiên nhiên, mới có thể “chuyện trò với lá cây”, hay “hôn một nụ hồng, hỏi thăm về giọt nắng”, hoặc “đi trong sương mù, gọi cây lá vào mùa”.

Thử làm một sự so sánh giữa TCS và các nhạc sĩ khác trong cách diễn đạt lời nhạc: Trong lúc Phạm Duy viết: “Nghìn trùng xa cách, người đã đi rồi...” (Nghìn Trùng Xa Cách), thì ông viết: “Từ lúc đưa em về, là biết xa nghìn trùng...” (Như Cánh Vạc Bay). Cung Tiến viết: “Lòng cuồng điên vì nhớ...” (Hoài Cảm), thì ông viết: “...chợt từng bước em là từng mũi đinh cuồng điên” (Tưởng Rằng Đã Quên). Phạm đình Chương viết: “Người đi qua đời tôi...” (Người Đi Qua Đời Tôi, thơ Trần Dạ Từ), thì ông viết: “Đời tôi có ai vừa qua...” (Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ).

Ngôn ngữ TCS đôi lúc cũng được đi vào những sinh hoạt thường ngày trong cuộc sống. Bạn hỏi thăm sức khỏe: “Hồi này có gì lạ?”, trả lời: “Thì cũng một ngày như mọi ngày thôi.” Bạn rủ ra quán nhậu, không muốn đi, bèn nói: “Ngồi nhà nhậu thoải mái hơn, đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt.”

Cái lạ trong ngôn ngữ TCS:

Cái mới được đẩy đi xa chút nữa dễ trở thành cái lạ. Cái lạ dễ thấy trong lời nhạc TCS trước tiên là những điều không lý giải được. Những ý tưởng trong một bài nhạc lại như có vẻ chắp vá, thiếu mạch lạc, thậm chí đứt đoạn, rời rạc, thường tạo những khó hiểu hoặc bất ngờ cho người nghe:

“Tim nào có bình yên” mà sao lại “ta rêu rao đời mình”?
“Từ khi trăng là nguyệt” mà sao lại “trong tôi có những mặt trời”? (mà không phải là mặt trăng).
“Đôi khi thấy trăm vết thương” mà sao lại “rồi như đá ngây ngô”?
“Mặt trời nào soi sáng tim tôi” mà sao lại “để tình yêu xay mòn thành đá cuội”?
“Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng” mà sao lại “ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”?

Người nghe tuy có thích nhạc TCS nhưng lại ít khi thuộc được trọn bài nào của ông cũng vì những chỗ khó hiểu và những ý tưởng không liền lạc như vậy.

Ta còn gặp những cái bất ngờ thú vị khác. “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không?” Ông hỏi vậy, và người nghe chưa kịp suy nghĩ để trả lời thì ông đã giải đáp luôn: “Để gió cuốn đi”. Lát sau lại hỏi tiếp: “Sống trong đời sống cần có một mối tình, để làm gì em biết không?” Câu trả lời vẫn là “để gió cuốn đi”. Một người bạn tôi gọi những câu hát này là “đố vui để học”.

Đến cả những cái tựa bài hát nghe cũng là lạ. “Gần Như Niềm Tuyệt Vọng” nghĩa là sao? Mới chỉ gần gần thôi, chưa đến nỗi tuyệt vọng lắm, vẫn còn có chút hy vọng (?). Vậy thì cũng được an ủi phần nào. “Cỏ Xót Xa Đưa” nghe cũng hay hay, nhưng đến “Tình Xót Xa Vừa” thì lại hơi khó hiểu. Biết thế nào là vừa. Là xót xa vừa phải thôi, không nhiều lắm chắc? “Nghe Những Tàn Phai” nghe cũng hay hay, nhưng đến “Xanh Lòng Phai Tàn” thì lại hơi lấn cấn. Nghe giống như ... “xanh vỏ đỏ lòng”.

Có những chữ TCS hay dùng đi dùng lại nhiều lần, đôi lúc có hơi lạm dụng, nghe không được ổn lắm. “Khói trời mênh mông” hoặc “tuổi đời mênh mông” nghe vẫn hay và dễ hình dung hơn là “mắt cười mênh mông giữa đôi bàn tay” (Vẫn Có Em Bên Đời). Dù là mắt cười hay môi cười thì cũng khó mà mênh mông được (không giống như “mắt em mênh mông buồn”). Tương tự, không dễ gì hình dung được thế nào là một tiếng hát... rực rỡ, xanh xao, hay vàng vọt, như là “nghe tiếng hát xanh xao của một buổi chiều” (Lời Buồn Thánh). Nhưng cũng không hề gì, người hát vẫn cứ hát, người nghe vẫn cứ nghe, có khi lại thấy thích vì những cái là lạ ấy.

Có khi những cái sai vẫn cứ được mọi người chấp nhận, và đấy cũng là một cái lạ nữa. “Một trăm năm đô hộ giặc Tây” (Gia Tài Của Mẹ), câu ấy một đứa bé lên mười ở Việt nam cũng biết là sai, vậy mà vẫn cứ được hát đi hát lại một thời nào ở trong nước. Lỗi ấy hoặc vì thiếu chữ (để sánh đôi với “môt ngàn năm nô lệ giặc Tầu” ở câu trước), hoặc vì trong lúc đặt lời phải chịu gò ép theo những nốt nhạc cao thấp, trầm bổng. (Phạm Duy chẳng hạn, cũng không vượt qua được cái khó tương tự. “Chuyện đôi ta... buồn ít hơn vui” là câu hát mà ông rất muốn viết ngược lại để kể về một chuyện tình buồn thảm mà hai kẻ yêu nhau nay đã “Nghìn Trùng Xa Cách”). Hoặc, trong một lúc vội vàng, nhạc sĩ họ Trịnh đã viết nhầm một chữ trong câu hát, đọc thành “công viên chiều qua rất... ngắn” (Nhìn Những Mùa Thu Đi), và đến nay nhiều người vẫn cứ hát theo như vậy mà không bao giờ chịu đổi lại thành “rất nắng”, cũng không bao giờ tự hỏi đâu là sự khác biệt giữa... công viên ngắn và công viên dài.

Sau một quá trình nhiều năm nghe nhạc TCS, và lắm lúc còn hát nghêu ngao nữa, tôi thấy cần phải thú nhận một điều, có đôi khi nghe những lời nhạc của ông, tôi thực tình không hiểu ông muốn nói điều gì, và tôi nghĩ may ra chỉ có ông mới giải thích nổi. Tôi nói “may ra” là bởi vì, nói thật, nhiều khi tôi chắc ông cũng không hiểu gì... hơn tôi lắm. Có khác một điều, ông viết ra những lời ấy là xong, là “thân nhẹ nhàng như mây”, còn lại người nghe là chúng tôi thì cứ phải suy gẫm, phải loay hoay giải đoán này nọ, thật là mệt mỏi.

Tôi có đứa cháu thích nhạc TCS. Có hôm cháu hỏi: “Cháu thích bài này. Nhưng mà có mấy câu cháu không sao hiểu được. Tại sao “trong khi ta về lại nhớ ta đi”? Nghe giống như “Vân Tiên cõng mẹ chạy vô chạy ra” quá. Còn “từng lời bể sông nghe ra từ độ suối khe” nghĩa là sao?” Sau khi loay hoay giải thích những đối nghịch và tương quan giữa đi, về, sông, biển mà đứa cháu có vẻ vẫn không chịu hiểu, tôi đành phải nói: “Vấn đề là cháu thích nghe hay không thích nghe, thế thôi. Nếu thích là tốt, cứ tiếp tục nghe. “Đừng băn khoăn, đừng nghi ngại”. Nhạc TCS là nhạc “đừng hỏi tại sao”. Tất nhiên là câu trả lời không làm đối tượng thỏa mãn, nên sau đó tôi lại phải đưa ra lối giải thích khác: “Câu hỏi của cháu là những “lời bể sông”, mà cách đây ba mươi năm, nghĩa là “từ độ suối khe”, chú cũng đã từng hỏi như vậy.” Không rõ đối tượng có thỏa mãn hơn, nhưng từ đó không thấy hỏi han gì thêm nữa, trong lúc nghe thì vẫn cứ nghe. Nói điều này để thấy rằng đã có đến hai thế hệ nghe và yêu thích nhạc TCS.

Cái lạ được nâng lên một bậc nữa lại đi đến chỗ cầu kỳ, lập dị, hoặc sáo rỗng, vô nghĩa, thường thấy trong những bài nhạc TCS viết ở thời kỳ đầu, như: “Ngựa hồng đã mỏi vó, chết trên đồi quê hương...”, hay “người hãy nhớ mang theo hành trang qua khoang trời vắng chân mây địa đàng” (Xin Mặt Trời Ngủ Yên); hoặc như: “Có khi nắng khuya chưa lên, mà một loài hoa chợt tím...” (Chiều Một Mình Qua Phố); hoặc như: “Bài ca dao trên cồn đá, trên ngai vàng quê nhà... (Vết Lăn Trầm), hoặc như: “Rồi dòng sông cũng mang theo tên người vào huyền thoại, tay hư vô che dấu, chiều qua truông mây sâu...” (Lời Của Dòng Sông). Những lời lẽ khiến người nghe cứ phải suy gẫm mãi và dễ cảm thấy mình... “rồi như đá ngây ngô”.

Tôi nhớ có lần nghe TCS loay hoay giải thích ý nghĩa về cái tựa một bài hát của ông và câu “giật mình ôi chiếc lá thu phai”, và về chữ “da du” do ông sáng chế trong câu “chờ ta da du một chuyến” (Vết Lăn Trầm). Ông sợ người nghe không hiểu rõ ý nghĩa những từ này, thế nhưng, ông càng cố gắng giải thích, người nghe là tôi lại càng... thấy khó hiểu. Ông muốn nói gì thì nói, với tôi, chiếc lá thu phai là... chiếc lá thu phai. Như thế là đủ, như thế là hay rồi, đâu có cần lời giải thích nào thêm nữa. Ngày xưa chúng tôi đã không đòi ông phải cắt nghĩa thế nào là “lời buồn thánh” với lại “vết lăn trầm”, thì bây giờ có lẽ nào lại đi thắc mắc vớ vẩn về chữ nghĩa của TCS.

Cái đẹp trong ngôn ngữ TCS

Có người gọi TCS là thi sĩ. Tôi không cho là như vậy. Ông có làm thơ, và trong những câu nhạc của ông ta nhặt được những ý thơ và cả những câu thơ thật là đẹp nữa, nhưng ông mãi mãi là nhạc sĩ, không phải là thi sĩ. (Cũng như ông có vẽ tranh, nhưng không phải họa sĩ). Nếu ông chỉ làm thơ, tôi không chắc ông sẽ được bao nhiêu người biết tên. Không có ông, ta còn nhiều thi sĩ khác. Nhưng chỉ có một TCS thôi. Tôi có đọc ít bài thơ ông, có bài hay, nhưng vẫn không gây cho tôi ấn tượng nào rõ nét lắm, nghĩa là dưới mỗi bài thơ ông không để lại dấu ấn đậm nét nào có khắc tên ông. Thế nhưng nhạc của ông thì đúng là nhạc TCS. Dường như chỉ khi ông viết lời nhạc, cái thi hứng mới trào ra, những lời ấy như hóa thành thơ, và nhạc lẫn thơ bay lên. Người nghe đôi lúc khó phân biệt những câu dưới đây là nhạc hay thơ, là thơ hay nhạc, vì nhạc thơ, thơ nhạc quyện lẫn vào nhau:

Ta vẫn mong, ta chờ mãi trong từng ngày quạnh hiu
Ta vẫn mong em về đây cho đời bày cuộc vui...
(Rừng Xưa Đã Khép)

Vườn năm xưa em đã đến, nay trăng quá vô vi
Giọt sương khuya rụng xuống lá, như chân ai lần về...
(Nguyệt Ca)

Ta nghe nghìn giọt lệ, rớt xuống thành hồ nước long lanh...
(Như Cánh Vạc Bay)

Những giọt mưa, những nụ hoa, hẹn hò gặp nhau trước sân nhà...
(Bốn Mùa Thay Lá)

Sau lưng ngày con gái. Môi son đừng biếng lười. Cho ta còn mãi mãi.
Chút mùi phấn hương bay... (Yêu Dấu Tan Theo)

Lời TCS hay đến mức, ở một đôi bài, nhạc không bắt kịp lời. Gặp phải những bài như thế tôi vẫn cứ tiếc, và đôi lúc nghĩ rằng ông ghép nhạc vào lời hơn là ghép lời vào nhạc. Những Nắng Thủy Tinh, Như Cánh Vạc Bay, Ru Ta Ngậm Ngùi, Yêu Dấu Tan Theo, Nguyệt Ca, Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ... là những bài thơ hơn là những bài nhạc. “Nắng Thủy Tinh” hoặc “Nhìn Những Mùa Thu Đi” chẳng hạn là những bài đẹp cả về lời thơ lẫn ý nhạc. Những nốt nhạc mềm mại rót xuống ở cuối câu “đưa em về nắng vương nhè nhẹ...”, nghe sao mà “nhè nhẹ”. Và tiếng hát Khánh Ly, Lệ Thu quấn quýt, đan quyện vào nhau đã luôn luôn là những tiếng hát của một mùa nào lãng mạn, ru tôi trong chiếc nôi đời êm ái, nhìn những cụm mây mùa thu bay đi, bay đi.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#95 Posted : Sunday, May 17, 2015 5:27:55 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
t.t.

Trong nhạc TCS không phải chỉ có thơ mà còn có cả tranh vẽ nữa, và những bức tranh sinh động của ông cũng thể hiện qua những lời nhạc giàu hình ảnh, có khi chỉ là những nét ký họa, có khi là những bức tranh cảnh vật đầy mầu sắc, có khi là những bức chân dung của... “người về soi bóng mình, giữa tường trắng lặng câm”, hoặc những tranh tĩnh vật như “... thấy đời là những quán không, bàn im hơi bên ghế ngồi”, và còn có cả những bức vẽ trừu tượng nữa. Thử dạo qua một vòng phòng tranh TCS:

Hồ Tây chiều thu mặt nước vàng lay, bờ xa mời gọi. Mầu sương thương nhớ, bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời... (Nhớ Mùa Thu Hà Nội)

Mây và tóc em bay trong chiều gió lộng, trời làm cơn mưa xanh dưới những hàng me... (Tuổi Đời Mênh Mông)

Trong lòng phố mưa đêm trói chân, dưới hiên nhìn nước dâng tràn, phố bỗng là dòng sông uốn quanh... (Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên)

Một vài bức khác, đòi hỏi cần có chút tưởng tượng:

Ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ khô. Ta thấy em đang ngồi khóc khi rừng chiều đổ mưa... (Rừng Xưa Đã Khép)

Giòng nước mắt sẽ bay trong trời, làm cơn mưa rớt trên chăn gối, lời cỏ cây hát trên da người... (Hãy Khóc Đi Em)

Có rất nhiều những bức vẽ giàu hình ảnh và màu sắc như vậy.

Cái đẹp, cái hay có khi chỉ nằm ở một chữ trong câu hát, như là chữ “suốt” trong những câu dưới đây chẳng hạn:

Ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì... (Một Cõi Đi Về)
Gọi tên em mãi suốt cơn mê này... (Hạ Trắng)
Đường đi suốt mùa nắng lên thắp đầy... Hạ Trắng)
Hãy nghiêng đời xuống, nhìn suốt một mối tình... (Để Gió Cuốn Đi)
Lá hát như mưa suốt con đường đi... (Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên)
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về... (Một Cõi Đi Về)

Chữ “suốt” ở câu trên hay đến vậy lại bị một số ca sĩ đổi thành “xuống” thì quả là “nỗi đau phiền muộn” cho những người yêu nhạc TCS. Tương tự, trong “Hướng Về Hà Nội” của Hoàng Dương, ở câu hát “thanh bình tiếng guốc reo vui...”, tiếng “guốc” bị một số ca sĩ đổi thành tiếng “hát” cũng là một “nỗi đau” khác, vừa vô nghĩa (tiếng hát làm sao mà reo được), vừa không nghe ra được những âm thanh rộn rã rất “thanh bình” trong tiếng guốc khua vang trên những vỉa hè, đường phố Hà nội, và hình ảnh thướt tha của những tà “áo mầu tung gió chơi vơi”. Hát sai một chữ làm hỏng một câu nhạc, có khi cả một bài nhạc.

Có những bài nhạc tôi chắc là TCS thích, vì vẫn nghe ông nhắc đến, nhưng lại ít có người hát, ít có người nghe. Có khi ông muốn nói nhiều quá, người nghe lại ít chịu nghe. Những bài hát được ông lồng vào những triết lý, những thiền vị chẳng hạn, dường như ít được thành công, hiểu theo nghĩa ít được phổ biến. Người nghe dễ đón nhận hơn nếu chỉ một vài nét chấm phá và một chút thi vị: “Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ...” (Ru Em), hoặc “Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ...” (Mưa Hồng).

Cái đẹp còn ở những lời tả tình tả cảnh về một quê hương, một nơi chốn thân quen trong mỗi trái tim người Việt:

Chiều trên quê hương tôi, có những chốn riêng cho mọi người, những con đường lứa đôi, những góc hè phố vui... (Chiều Trên Quê Hương Tôi)

Hoặc: ... quê nhà đó năm xưa có em, có bóng dừa, có câu hò, có con đò chở nắng mưa đi.” (Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên)

Thật khó mà viết được những lời đẹp đến vậy nếu không có trái tim nặng trĩu tình yêu quê hương. “TCS đã hát về quê hương đất nước bằng cả tấm lòng của một đứa con biết vui tận cùng những niềm vui, và đau tận cùng những nỗi đau của tổ quốc mẹ hiền,” Văn Cao đã viết về ông như vậy.

“Đời Gọi Em Biết Bao Lần”, “Vì Tôi Cần Thấy Em Yêu Đời”, và “Tuổi Đời Mênh Mông” nữa...., là những bài hát thể hiện cái đẹp của lòng nhân ái.

Tôi có nghe đâu đó nói rằng nhạc TCS được cả người Nhật yêu thích, hoặc được dịch ra thứ tiếng này tiếng nọ. Tôi không tin lắm. Phải đau cái đau của thân phận máu đỏ da vàng, của một đất nước chìm ngập trong khói lửa chiến tranh, phải mang trong tim mình một quê hương rách nát, phải nghe được những lời “đại bác ru đêm”, phải thấy được “từng vùng thịt xương có mẹ có em”, phải thấy được xác những người lính chết vội chết vàng, “nằm chết như mơ”, và còn phải sống phải yêu thiết tha, sôi nổi trong những máu xương lửa đạn ấy, nghĩa là phải có trái tim hòa cùng một nhịp đập với trái tim người Việt mới nghe ra được từng lời nhạc TCS thấm vào từng mạch máu, từng tế bào. Nếu họ có tìm đến TCS, nhiều lắm cũng chỉ để “khảo sát một hiện tượng” được nhiều người Việt nói đến. Còn nếu nói rằng họ chỉ yêu thích những tình khúc TCS, tôi cũng còn chút ngờ vực cho đến khi có ai đó nói rằng có thể chuyển dịch được những lời nhạc của ông sang thứ tiếng nào đó để người ngoại quốc có thể hiểu được thế nào là “tóc em từng sợi nhỏ, rớt xuống đời làm sóng lênh đênh”.

Ngôn ngữ TCS quả đã làm giàu và đẹp thêm cho kho tàng tiếng Việt, hoặc ít ra có thể nói mà không sợ lầm, ông là người viết lời đẹp nhất cho những ca khúc. Những lời đó trước đây và cả về sau nữa, tôi tin vậy, chưa từng có ai viết, và cũng không ai bắt chước, không ai làm giả được. (Nếu có hàng mạo hóa, người nghe sẽ nhận ra ngay những TCS “giả”). Như thế thì cái chết của ông, ít nhiều gì cũng gây nên những mất mát và thiệt thòi, ít ra là đối với những người có cái nhìn khách quan về những đóng góp của ông.

Tất nhiên không phải mọi ca khúc TCS đều hay cả. Có một số những bài hay, một số những bài trung bình, có bài chỉ nhặt ra được một hai câu, có bài không được kể là nhạc vì không bắt nguồn từ một cảm xúc nào, hoặc được làm theo đơn đặt hàng, như bài hát về công trình xây đắp thủy điện Trị an: “Dòng điện như dòng sông, cho đời một tấm lòng...” chẳng hạn. Cũng nói đến “dòng sông”, cũng nói về “tấm lòng”, nhưng người nghe thấy gượng ép, giả tạo. Những bài nhạc ấy không tồn tại được, không được ai hát. Chúng biến mất ngay khi vừa mới ra đời, và không được người đời nhắc tên. Những bài hát mang một số phận khác.

Nghe nhạc TCS giống như là nhấm nháp từng ngụm café hay từng ngụm trà nhỏ, từng ngụm nhỏ thôi, để nghe được cái hương vị đậm đà chầm chậm, từ từ thấm vào đầu lưỡi. Nghe nhạc TCS là phải nghe trong những lúc thư thả, không bận rộn, nghe “không cần vội vã”, nghe với “trái tim thật thà”, để nghe được từng câu, từng chữ, từng lời nhạc khe khẽ, nhẹ nhàng len lỏi, luồn lách vào mọi ngóc ngách trong cơ thể, thấm vào từng mạch máu, chạm khẽ đến trái tim.

Tình yêu trong nhạc TCS

Mùa xuân thay lá mùa đông, để nghe chim hót chuyện tình...
(Thành Phố Mùa Xuân)

Câu hát ấy là một trong những câu tôi thích trong những ca khúc TCS. Có hai lý do: thứ nhất, câu ấy làm nhớ tới câu thơ ngày xưa củaVũ Thành:

Đàn chim về hót trong thành phố
kể chuyện hai người xa cách nhau

Thứ hai nữa, đấy là một câu hiếm thấy trong những câu viết về tình yêu trong nhạc TCS: có mùa xuân, có cây lá đâm chồi nẩy lộc, có chim hót líu lo kể chuyện tình. Tình yêu trong nhạc TCS có một khí hậu riêng, có một bộ mặt khác, không giống như những ca khúc viết về tình yêu của những người viết nhạc khác. Dường như ông ít khi viết một chuyện tình nào trọn vẹn, tròn đầy, ông chỉ viết phần cuối, hoặc về một tình yêu đã mất. Cứ đọc thử những cái tựa bài hát là đủ thấy: Cuối Cùng Cho Một Tình Yêu, Hãy Khóc Đi Em, Tình Nhớ, Tình Xa, Tình Sầu... Ông viết về những hạnh phúc buồn bã, những nỗi vui ngậm ngùi, những bất an và bất trắc của những cuộc tình không may... Những kẻ yêu nhau trong nhạc TCS có vươn tay về phía nhau nhưng không chạm tay vào nhau được.

Nghe nhạc TCS cũng là nghe những lời đau xót, những nỗi dằn vặt, giằng xé, dày vò, những “mưa quanh chỗ nằm”, những “đêm đổ xuống đời ta”, “đêm thì thầm tiếng buồn”... ở những lời ông viết ta đọc thấy những lần chia tay, những nỗi chia lìa:

Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ... (Tình Xa)
Dù ngày mai em như chim bay, bỏ quên đây một người... (Hãy Cứ Vui Như Mọi Ngày)
Từ lúc đưa em về, là biết xa nghìn trùng... (Như Cánh Vạc Bay)
Đâu ngờ tình như lá úa, khiến tôi chia lìa từng giấc mơ... (Trong Nỗi Đau Tình Cờ)

Ông cũng có những lần tự thú trong tình yêu, trái tim ông quá đỗi yếu mềm đến độ lắm lúc ông rất muốn quên đi một hình bóng mà vẫn không sao quên được. “Tưởng Rằng Đã Quên” chỉ là “Tình Nhớ” nối dài. Chỉ có khác một điều, “những bước chân mềm mại đã đi nhẹ vào đời” ở “Tình Nhớ”, đã đổi thành “chợt từng bước em là từng mũi đinh cuồng điên” ở “Tưởng Rằng Đã Quên”. Ông đã phải thú nhận, “Tưởng rằng có thể quên đi dễ dàng một cuộc tình, nhưng hóa ra chẳng bao giờ quên được.” Trái tim ông cũng đầy những mảnh vá. “Mượn cuộc tình này để xóa cuộc tình kia chỉ là một sự vá víu cho tâm hồn,” ông nói, “những mảnh vá ấy chỉ đủ để làm phẳng lặng bên ngoài mà thôi....”

Có lắm lúc ông thật hồn nhiên trong tình yêu: “Tôi đã yêu em như trẻ thơ...”, hoặc “tôi đã yêu em bao ngày nắng, tôi đã yêu em bao ngày mưa, yêu em bên đời lặng lẽ..., yêu em trái tim thật thà” (Trong Nỗi Đau Tình Cờ). Cách yêu của ông cũng có vẻ hơi khác thường. Ông yêu thật từ tốn, thật chậm rãi, không phải vội vàng, như người ngồi nhấm nháp và thưởng thức từng ngụm trà nhỏ, hoặc ngồi nhìn từng giọt café rót xuống từng giọt, từng giọt, trong lúc lắng nghe từng nốt nhạc... “Yêu em không cần vội vã, yêu trong nỗi vui đợi chờ.” (Trong Nỗi Đau Tình Cờ). Thậm chí, còn có những khi “yêu em, yêu thêm tình phụ, yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ.” (Ru Em) nữa. Những lời lẽ nghe thì dịu dàng, nhẹ nhàng và đơn sơ như vậy, nhưng lại có bao nhiêu là vết thương. Những vết thương sâu mà ông gọi là... “vết thương hồn nhiên”. Những nỗi đớn đau mà ông gọi là... “niềm đau ngọt ngào” hay “nỗi đau tình cờ” (trong khi ông cũng biết chắc là khó mà ngọt ngào hay tình cờ nổi). Trong lòng ông luôn luôn dâng lên nỗi khát khao muốn được đi lại từ đầu, muốn được yêu thêm một lần nữa, muốn được bắt đầu lại một chuyện tình với trái tim mới biết yêu. Ông khẩn khoản: “Cho tôi đi xây lại chuyện tình...” (Xin Cho Tôi), những chuyện tình chắc hẳn đã để lại trong ông rất nhiều hối tiếc.

Trong những tình khúc TCS, tình yêu vừa là mật ngọt, vừa là mật đắng, “mật ngọt trên môi, mật đắng trong đời”. Tại sao lại như vậy? Người viết những ca khúc ấy không có lời giải thích, chỉ nghe ông nói, “Con người không thể sống mà không yêu. Có người yêu thì hạnh phúc, có người yêu thì đau khổ. Nhưng dù dau khổ hay hạnh phúc, con người vẫn muốn yêu. Tình yêu vì thế mà tồn tại.”

Những chuyện tình ông viết thường là những chuyện tình lặng lẽ, không sóng gió, không sôi nổi, nhưng không phải là không đắm say, nồng nàn.

Tôi xin làm cây xa, đứng nhìn em rực rỡ. Tôi xin làm nụ cười, chờ em giữa đôi môi. Tôi xin làm mộng nhỏ, em vừa giấc ngủ say... (Vì Tôi Cần Thấy Em Yêu Đời).

Trong nhạc tình TCS, không có những lời thề non hẹn biển, mà chỉ có “ta gặp tình cờ như là cơn gió”, và những lời hẹn thề chỉ “là những cơn mưa”. Cũng không có những lời thở than, sướt mướt “duyên kiếp lỡ làng rồi”, mà chỉ có những lời cố làm ra vẻ hững hờ, dửng dưng như “ừ thôi em về...”, hoặc là “em về hãy về đi, ta phiêu du một đời...” Chuyện gì cũng cho là tình cờ, như cơn mưa bất chợt, vội vàng đến vội vàng đi. Ngay đến cả tuổi thọ của những chuyện tình xem ra cũng chẳng dài lâu, chỉ “mong manh như nắng” và “thoảng như gió vội”.

Ta gặp tình cờ như là cơn gió... (Hoa Vàng Mấy Độ)
Em ra đi như thoáng gió thầm... (Tạ Ơn)

Tình đến lặng lẽ, “tình đi âm thầm, lạnh lùng như dấu chim...”, trong khi ông còn ngồi lại đó, “bên đời hiu quạnh”, khi mà hạnh phúc đã khô queo như một dòng suối cạn, nhưng vẫn cứ mong đợi hoài những giấc mơ sẽ không bao giờ đến.

Ta vẫn mong, ta chờ mãi trên từng ngày quạnh hiu.
Ta vẫn mong em về đây cho đời bầy cuộc vui... (Rừng Xưa Đã Khép).

Ông cũng hay nói về những giấc mơ. Một bài hát có những lời và hình ảnh thật là đẹp nhưng lại ít được người nghe ở đây đón nhận chỉ vì có những câu mà người ta không muốn nghe chút nào, chẳng hạn “thành phố vẫn có những giấc mơ...” Nghĩ cho cùng, chẳng ai ngăn cấm được những giấc mơ. Ngay cả khi thân ta bị giam hãm tù đày, những giấc mơ vẫn còn được tự do. Người ta đã không thể nhốt được gió thì cũng không thể nào giam giữ, bỏ đói, hay giết chết được những giấc mơ. Và cuộc sống không thể nào thiếu được những giấc mơ. TCS có một cái tội mà ngay chính ông cũng khó lòng tha thứ cho ông được (vì có tha thứ rồi cũng sẽ tái phạm): đó là ông đã có những giấc mơ (chẳng hạn giấc mơ về thành phố mà ông đang sống, và giấc mơ nối được một vòng tay lớn). Ông đã sống cùng những giấc mơ đó, và đã chết cùng những giấc mơ đó. Chính những giấc mơ đó, chứ không phải ai khác, không phải điều gì khác, đã khiến ông bị oán ghét. Nhưng ông không thể nào đổ lỗi cho những giấc mơ, mặc dầu ông đã phải trả giá cho những giấc mơ ấy. Đã có người nào đó nói rằng ca khúc TCS là “những bản tình ca không có hạnh phúc”, tôi nghĩ, đấy còn là những bản tình ca về những giấc mơ rạn vỡ.

“Sống mà giữ mãi trong lòng những hờn oán thì cũng nặng nề... Ta biết tha thứ những điều nhỏ thì cuộc đời sẽ tha thứ cho ta những điều lớn hơn,” ông nói vậy, và ta cũng nhận là đúng thôi. Khi còn sống, trong những năm cuối đời, ông có được lắm kẻ yêu và cũng nhiều người ghét, ông nhận được cả những lời ngợi ca và những câu nguyền rủa, cho ông thấy “những con mắt thù hận, cho ta đời lạnh câm” (Những Con Mắt Trần Gian). Yêu và ghét, cũng như tốt và xấu, hai mặt của cuộc sống, có khi chỉ là một. Những người ghét ông, là bởi vì trước đó họ đã trót yêu ông quá đấy thôi. Nếu không yêu ông lắm người ta đã không ghét ông nhiều đến vậy. Tình yêu biến thành tình hận. Ông giống như một người tình phụ bạc vậy. Đúng là do lỗi ông thôi, ông không thở than vào đâu được. “Đời tôi ngốc dại, tự làm khô héo tôi đây...” (Chiếc Lá Thu Phai), ông cũng chẳng từng đấm ngực tự thú đó sao. Nhưng cũng đâu có phải vì mối hận tình đó mà tấm nhan sắc kia bỗng đổi thành xấu xí, những bản tình ca kia chẳng còn ai muốn nghe... Còn những người yêu ông thì lại càng yêu ông hơn sau ngày ông lặng lẽ rời bỏ “một cõi đi về” này...

Thế còn ông, vì ông đã nói những lời trên, tôi chắc ông cũng chẳng cay đắng, hờn trách chi cuộc đời. Một người từng có những lúc “chuyện trò với lá cây” thì khó mà có thể giận hờn ai được. “Đời Cho Ta Thế,” ông nói trong một ca khúc, có nghĩa là, dẫu có hay dở, tốt xấu thế nào ông cũng sẵn sàng và vui vẻ mở gói quà tặng của cuộc đời. TCS, ông là ai vậy? “Tôi biết rõ rằng tôi chỉ là một loài chim nhỏ hót chơi trên đầu những ngọn lau,” ông nói. Nếu không muốn nghe những lời chim hót, tôi chắc cũng chẳng ai đành lòng ném đá xua đuổi để con chim nhỏ ấy phải bay đi nơi khác.

Tôi có người bạn, nghe tin TCS mất và thấy nhiều người tỏ lòng thương tiếc người nhạc sĩ tài hoa, anh nhún vai nói: “Chẳng nên bi lụy thái quá. Có những kẻ chết nhiều lần trước khi chết thật. Cái tin này chẳng qua chỉ là xác nhận lại một cái chết từ năm bảy mươi lăm mà thôi.” Thế nhưng sau đấy, có một lúc nào đó tôi nghe được từ miệng anh câu hát vu vơ: “Tình mong manh như nắng, tình còn đầy không em?...” Như vậy là anh bỏ TCS, chứ TCS đâu có bỏ anh. Tôi nghĩ là chúng ta sẽ dễ dàng quên TCS thôi nếu một ngày nào đó không còn ai hát nữa những câu nhạc tình vu vơ như vậy. Chắc là phải đợi cho đến lúc ở quanh ta không còn có những cặp tình nhân, không còn có những kẻ yêu nhau và phụ nhau, cũng không còn ai muốn nói với ai những lời tình tự ngọt ngào. Và nếu như thế, cuộc sống sẽ buồn tẻ biết chừng nào.

Nghe nhạc TCS có được chút hạnh phúc là có ông chia sớt, san sẻ cùng ta những nỗi vui, niềm đau. Ông nói hộ ta những điều ta muốn nói. Ông cũng bày tỏ, thố lộ dùm ta những tình cảm sâu kín nhất trong ta. Khi nghe những lời ông tự vỗ về, an ủi, ta như cũng được vuốt ve, xoa dịu. Trong những ca khúc TCS, ông đã vừa nói với ông lại vừa nói với ta nữa. Nhạc TCS, như vậy, cũng có thể được gọi là những “tự tình khúc”, như là tựa một bài hát của ông vậy.

Có ai trong mỗi chúng ta lại chẳng có mộạt chút TCS, theo cái nghĩa đó. Chỉ cần một chút thôi (nói theo chữ ông hay dùng) cũng đủ giúp ta có lúc tạm quên đi cái gánh nặng “đời cơm áo”. Vậy thì cũng nên cám ơn ông lắm chứ, vì ông đã gánh nhẹ dùm ta những nỗi phiền muộn của đời sống, và cũng vì chút lẽ công bằng (biết đâu lại chẳng khiến ông phải ân hận mà rút lại lời trách móc nhẹ nhàng “đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng”). Và, cuộc đời như thế cũng sẽ đẹp thêm lên một chút.

Nỗi cô đơn và cái chết trong nhạc TCS

Như hầu hết các nhạc sĩ sáng tác, TCS không có giọng ca tốt. Ông chỉ là người soạn ca khúc, muốn những ca khúc đó tới được người nghe, ông phải mượn đến những giọng ca khác. Ông nói giọng Huế và khi hát, ông không thoát ra được âm hưởng nằng nặng của chất giọng địa phương đó. Những ca sĩ khác làm được nhưng ông không làm được. Điều này cũng hơi bất tiện cho ông, chẳng hạn khi ông muốn giới thiệu một ca khúc mới, người nghe không dễ gì “cảm” được ca khúc ấy khi nghe ông hát lần đầu. Có thể người ta vẫn chịu khó nghe ông vì họ muốn được nghe bằng chính giọng ca của người làm nên ca khúc đó. Còn nếu ông có ý định thực hiện một đĩa nhạc chỉ với giọng hát của ông thôi, tôi e rằng đấy sẽ là một trong những đĩa nhạc bán chậm nhất. Tuy nhiên, có một lần nào đó được nghe ông hát “Một Cõi Đi Về”, tôi lại có cái cảm giác thật khác với những lần tôi nghe những ca sĩ khác hát cùng bài hát ấy. Khi ông cất giọng, giọng của ông nghe vốn đã yếu, lại như vẳng ra nỗi cô đơn thăm thẳm từ một đáy vực nào. Cái giọng hiu hắt ấy theo tôi từ câu đầu tới cuối bài hát. Lại thêm tiếng đàn đệm guitar nữa, không rõ có phải tiếng đàn của ông, nghe sao thật rã rời. Cùng với những lời buồn bã của bài hát ấy, tất cả như toát lên nỗi tuyệt vọng thảm sầu... Rõ ràng là tôi chưa hề nghe một giọng hát nào cô đơn đến vậy.

Nếu những ca khúc ông viết ra từ những bài đầu tiên đến những bài cuối cùng, là những bài gần đây nhất, đã trải dài suốt cuộc đời ông, đọc lại lời nhạc trong những ca khúc đó, ta như thấy nỗi cô đơn ấy cũng trải suốt những năm tháng cuộc đời ông, cũng chẳng khác chi “ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì” vậy. Những chữ “hoang vu”, “âm u” được ông dùng nhiều lần trong lời nhạc của ông. Ông như một người bước đi chập choạng trên nỗi cô đơn từng ngày. Ta tưởng tượng chỉ có một mình ông thôi trên “con đường dài vắng người” ấy. Ông hay nói “một mình”, cái gì cũng chỉ “một mình” thôi. “Một ngày như mọi ngày, đi về một mình tôi”, “bóng đổ một mình tôi” (Một Ngày Như Mọi Ngày), hoặc “trời cao đất rộng, một mình tôi đi; đời như vô tận, một mình tôi về, một mình tôi về với tôi” (Lặng Lẽ Nơi Này). Câu hát “làm sao em biết đời sống buồn tênh” nghe như tiếng thở dài thật nhẹ, nhưng cũng đủ thấy lòng chùng xuống. Ông từng trải qua những nỗi cô đơn cùng tận đến có lúc ông phải tự thốt lên lời vỗ về, an ủi chính mình: “Tôi ơi, đừng tuyệt vọng”, nghe như lời kêu cứu thảm thiết để ông phải chạy lại mà cứu lấy chính ông ra khỏi vũng lầy tuyệt vọng.

Không phải là thế giới quanh ông không mang đến được cho ông chút ý nghĩa nào để ông thấy cuộc đời đáng sống, hoặc chẳng có ai chia sớt cùng ông những niềm vui nỗi buồn trong cõi sống mịt mùng này, ông vẫn có những khi hạnh phúc, vẫn có những thú vui, thế nhưng ngay cả khi ông nói về những nỗi vui, ta vẫn nghe pha chút ngậm ngùi: “Hãy cứ vui chơi cuộc đời, dù ngày mai em như chim bay...” (Chim bay xa rồi làm sao vui được!), hoặc “hãy cứ vui như mọi ngày, bên trời còn nắng, lá trời còn xanh, phố còn người đông, rồi quên rồi quên...” (Quên được chắc cũng còn lâu lắm!), hoặc “ôi trái tim phiền muộn, đã vui lại một giờ...” (Một giờ thì có ăn thua gì!).

Những ý tưởng trong bài “Một Cõi Đi Về” thực ra không mới, chỉ là tổng hợp những ý đã từng được ông lập đi lập lại nhiều lần, rải rác trong những bài trước đó. Trong những lời của bài hát ấy, có một câu khiến tôi phân vân. “Chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà”. ở ngoài nước người ta đã hát như vậy, ở trong nước người ta cũng hát như vậy. Vậy thì quê hương thực sự ở đâu? ở trong tim mỗi người có lẽ. Tôi chắc là ý ông cũng muốn nói như vậy. Ông không nói ra điều này với những người lớn, nhưng với những em bé thì ông bảo rằng: “Tim mỗi người là quê nhà nhỏ” (Em Là Hoa Hồng Nhỏ), và còn dặn dò, khuyên nhủ: “Này em trong mỗi con tim, nhớ mang quê hương của mình” (Như Hòn Bi Xanh). Còn riêng ông thì sao? Liệu có đúng là mỗi người đều cần có một quê hương, một nơi chốn để mà trở về...(?)

Ta cũng nghe ông hay nói về gió, những làn gió bay, những hơi gió thoảng... “Em ra đi như thoáng gió thầm...” (Tạ Ơn). “Lòng tôi có khi mơ hồ, tưởng mình đang là cơn gió...” (Lời Thiên Thu Gọi). “Một ngày kia đến bờ, đời người như gió qua...” (Phôi Pha). “Đường trần rồi khăn gói, mai kia chào cuộc đời, nghìn trùng con gió bay...” (Những Con Mắt Trần Gian). Và ông cũng hay nói đến những hẹn hò: “Những hẹn hò từ nay khép lại, thân nhẹ nhàng như mây...” (Như Một Lời Chia Tay). “Đất hoang vu khép lại hẹn hò...” (Hát Cho Người Nằm Xuống). Và ông cũng đã sắp đặt lại mọi thứ mọi việc cần làm: “Về thu xếp lại..., vội vàng thêm những phút yêu người...” (Chiếc Lá Thu Phai). Và sau cùng, ông cũng ngỏ lời cảm tạ cuộc đời, cảm tạ mọi người, như cách mà người ta vẫn làm trước một chuyến đi xa: “Dù đến rồi đi, tôi cũng xin tạ ơn người, tạ ơn đời, tạ ơn ai đã cho tôi còn những ngày ngồi mơ ước cùng người...” (Tạ Ơn). Cái chết như một nỗi ám ảnh, như được báo trước, hay ít ra cũng đã được chuẩn bị. Chết là hẹn hò với lòng đất, là nói lời chia tay với cuộc đời mà ông đã sống, đã yêu thiết tha, “dù còn phút cuối, xin em nụ cười...” (Vẫn Nhớ Cuộc Đời), và cũng là nói lời chia tay với hết thảy mọi người, những người yêu ông và ghét ông. Cái chết, thật là nhẹ nhàng đối với ông, như là “một hôm buồn ra ngắm dòng sông, một hôm buồn lên núi nằm xuống” (Tự Tình Khúc).

Sau cái chết của ông, ta có chút hụt hẫng. Không hụt hẫng sao được. Lâu nay vẫn có ông bên cạnh mà ta không để ý, đến lúc ông bỗng nhiên bỏ đi ta mới ngơ ngác. Ta đã cùng đi với ông một đoạn đường dài, đã lỡ theo chân ông tới đây. Rồi bỗng nhiên ông đột ngột chia tay, “bỏ mặc con đường”. Trước đây, ta cảm thấy có ông đứng cạnh ta, mỉm cười nói: “Hãy cứ vui chơi cuộc đời...”. Còn bây giờ, ta thấy ông như đứng phía trước ta, đứng giữa con đường, và ông khẽ quay lại, khẽ mỉm cười, lắc lắc đầu nói: “Thôi về đi, đường trần đâu có gì...”. Rồi ông biến mất, trong lúc ta còn đứng giữa con đường. Biết làm sao bây giờ? Chắc là phải quay về thôi, phải đành nghe theo lời ông vậy. “Đường trần đâu có gì,” ông nói vậy. Nhưng biết làm sao quay về. Ông “đi bỏ lại con đường, bỏ mặc tôi ngồi giữa đời tôi...”

Từ khi ông mất, ta nghe cái chết có vẻ như nhẹ nhàng hơn, biên giới giữa sống và chết có vẻ như cận kề hơn, và ta nghe nhạc của ông dường như cũng “thấm” hơn.

Con chim đau, và giấc mộng ưu phiền

Nói đến TCS, không thể nào không nhắc đến tiếng hát đã gắn liền với tên ông, gắn liền suốt chiều dài của những năm tháng mà những ca khúc ông viết ra còn được nhiều người biết đến. Tiếng hát ấy đã không ở lại cùng ông sau ngày ông chọn ở lại, nhưng đã không có lúc nào ngưng hát nhạc của ông. Tiếng hát ấy đã từng là chiếc cầu bền chắc nối liền những ca khúc của ông với trái tim người nghe. Không có tiếng hát ấy, không ai biết chắc số phận những ca khúc của ông sẽ ra sao. Và ngược lại, không có những ca khúc ấy, không ai biết chắc số phận của tiếng hát ấy sẽ như thế nào. Dù sao, nghe lại một lần nữa tiếng hát ấy sau ngày ông mất, trong băng hình của một chương trình ca nhạc, cũng thấy được rằng trước sau giọng hát ấy vẫn gắn liền với ông. Chị đã thật có lý khi chọn hát Diễm Xưa. Qua bao nhiêu là năm tháng, bao nhiêu là tang thương dâu bể, bao nhiêu là vật đổi sao dời, và như cánh chim sau một vòng bay quá dài, chị vẫn muốn tìm về Diễm Xưa. Giọng hát chị không còn trẻ nữa, làn hơi chị không còn khỏe nữa, nhưng những cảm xúc ngày ấy, tôi nghe vẫn còn nguyên vẹn. Diễm Xưa bây giờ lại còn xưa hơn cả ngày xưa. Và tôi nghe lại những “cơn đau vùi”, những “làm sao có nhau..., bước chân em xin về mau”. Còn bước chân ai nữa? Biết làm sao cho có nhau? Giọng hát ấy, tôi nghe như tiếng chim kêu bi thương, thảm thiết. Tiếng chim kêu ấy ngày xưa nghe đã bi thiết, nay lại càng bi thiết hơn. Chị đứng đó mộỳt mình trông trơ trụi quá. Sân khấu chỉ còn lại những cây guitar và những nốt nhạc đệm rời rạc, những cây guitar của hơn ba mươi năm về trước. Tôi tưởng trông thấy được những giọt nước mắt chị, (như vẫn thấy ở những ca sĩ khác trong những màn trình diễn tương tự), nhưng chị không khóc, cho dù chị vẫn có thể khóc mà không ai cấm được. Vì nhạc TCS không phải để sụt sùi, hay vì trái tim “hằn lên nỗi đau” đã khiến chị tê dại. Chị không nói lời tình yêu, chị nói đến “định mệnh”, đến “bóng với hình”, đến “một nửa cuộc đời” chị, những lời ấy tôi nghe gấp nhiều lần tình yêu. Chị đã hát sai lời, đã quên cả lời trong những bài sau đó. Nhưng không hề gì, khán giả vẫn xúc động, vẫn có những giọt nước mắt... Gọi là liên khúc nhưng những câu hát ấy đôi lúc chẳng có liền lạc gì với nhau, nghe sao đứt đoạn, gãy vụn... như là những giấc mơ rạn vỡ. Tôi đã nhận ra chị, tôi đã nhận ra Khánh Ly. Chị là con chim đau trong lời nhạc TCS. Đã từ lâu lắm, ở một góc nào đó thật sâu kín trong trái tim chị “con chim đau nằm yên, ngủ dài lâu mang theo vết thương sâu”. Tôi cầu mong “một sớm mai chim bay đi triền miên, và tiếng hót tan trong trời gió lên”.

Có một chỗ chị hát sai lời mà tôi muốn được nhắc. Chị không cần thiết phải thêm chữ “vùi” vào cuối câu hát “không có ai từng ngày, không có ai đời đời ru anh ngủ...” Thêm hoặc bớt, dù chỉ một chữ, sẽ không còn là ngôn ngữ TCS. Và hơn nữa, TCS, ông không ngủ vùi đâu. Ông chỉ ngủ trong chốc lát. Chị có thể cầu cho ông giấc ngủ bình yên. Như thế là đủ. Có lẽ ông cũng chẳng muốn gì hơn. Tôi nhớ là ngày xưa, ông đã từng có lúc ước mơ được là trẻ thơ, ước mơ được “ngủ trong vòng nôi”, để được nghe những lời mẹ ru theo nhịp võng đong đưa. “Xin cho tôi, xin một lần thôi...,” ông khẩn khoản. (Giấc mơ ấy hình như có được ông kể lại trong bài hát nào, lâu lắm rồi tôi không còn nhớ tên). Thế nhưng cuộc sống ông thì lại khác, chẳng có nhịp võng đong đưa, chẳng có lời mẹ ru ngọt ngào, chỉ có những lời “ta ru ta ngậm ngùi”... “Đừng tuyệt vọng, tôi ơi! Tôi ơi, đừng tuyệt vọng!...” Ông cô đơn đến mức chỉ còn trò chuyện được với chính mình, và phải tự đánh lừa mình để biến niềm tuyệt vọng thành “thú đau thương”, biến nỗi đớn đau thành những “niềm đau ngọt ngào”. Nhớ có lần ông nói, “Hãy đi đến tận cùng của tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa.” Quả là có thứ hạnh phúc buồn bã đến như vậy sao?

Tôi thực tình không định cầu chúc ông hái được những bông hoa của tuyệt vọng, nói như vậy nghe sầu thảm quá. Thôi nói chuyện gì khác vậy. Vì ông vẫn hay nói đến gió, và vì ông cũng là gió của trời nữa, tôi muốn đọc ông nghe chơi câu thơ của Nguyễn đình Toàn:

Gió trời xin ngủ bình yên
Coi như giấc mộng ưu phiền đấy thôi...

Vì ông vẫn hay nói đến gió, thôi thì hãy để gió cuốn đi, cuốn đi cho sạch hết mọi nỗi buồn phiền và “những giấc mơ đời hư ảo”. Riêng tôi, nếu có nhớ đến ông, nhiều lắm cũng chỉ là thỉnh thoảng ngồi hát chơi cho vui mấy câu nhạc tình ông để lại cho đời, cũng như là ngày xưa, tôi vẫn nghêu ngao trong những lúc thất tình: “Người ngỡ đã đi xa, nhưng người vẫn quanh đây...”

Trịnh Công Sơn, tôi chắc là ông còn ở lại với chúng ta lâu lắm. Ông chỉ quanh quẩn đâu đây thôi. Ông chưa đi xa lắm đâu.


Lê Hữu
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#96 Posted : Sunday, May 17, 2015 7:06:26 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và những cảm xúc đầu đời


UserPostedImage

Có nhiều tài liệu cho rằng giữa nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh và "Người em sầu mộng" Thanh Thúy có một mối giao tình đặc biệt ở "cái thủa ban đầu lưu luyến ấy".
Trong giới nữ ca sĩ thành danh và nổi tiếng trước năm 1975 có một giọng ca rất đặc biệt, không lẫn lộn với ai dù khán thính giả chỉ nghe thôi không cần nhìn thấy mặt người nữ ca sĩ đó cũng nhận biết rõ ràng, chính xác là Thanh Thúy. Cô ca sĩ này là người Huế, nói rặt tiếng Huế nhưng hát giọng Bắc, chất giọng trộn lẫn giữa Huế và Hà Nội vốn đã đặc biệt, nhưng khi con chim họa mi Thanh Thúy cất lên bằng giọng hát thì càng đặc biệt hơn. Đó là một chất giọng hơi khàn nhưng không đục, được Thanh Thúy luyến láy như phù thủy, nhấn nhá nhiều cung bậc trầm bổng rất liêu trai. Dường như Thanh Thúy sinh ra là để hát boléro và nếu nói Thanh Thúy là "nữ hoàng của điệu boléro" cũng không ngoa.

Hình ảnh Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và những cảm xúc đầu đời số 1

<> Nữ hoàng của điệu boléro

Thanh Thúy tên họ đầy đủ là Nguyễn Thị Thanh Thúy, cô sinh năm 1943 là người con xứ Huế thơ mộng, thuộc gia đình nền nếp theo đạo Phật. Do thân mẫu cô bị bệnh nan y nên Thanh Thúy cùng với gia đình vào sống ở Sài Gòn để tìm cách chữa trị. Gia đình Thanh Thúy ngụ tại một ngôi nhà phía sau chùa Kỳ Viên đường Phan Đình Phùng (Nguyễn Đình Chiểu ngày nay). Ca sĩ Thanh Thúy đi hát rất sớm, năm 16 tuổi. Lần đầu tiên Thanh Thúy xuất hiện trên sân khấu phòng trà Đức Quỳnh cạnh rạp chiếu bóng Việt Long đường Cao Thắng vào cuối năm 1959, khi vừa 16 tuổi. Rạp Việt Long sau được xây lại mang tên mới là rạp Văn Hoa Sài Gòn, bây giờ là rạp Thăng Long. Thanh Thúy xuất hiện ở đây cùng với ca sĩ Minh Hiếu và lập tức tiếng hát "liêu trai" của cô đã chinh phục được khán thính giả phòng trà vốn rất khó tính trong việc thưởng thức âm nhạc.

Sau đó Thanh Thúy thường xuyên xuất hiện ở phòng trà Anh Vũ rồi các chương trình Đại nhạc hội, chương trình phụ diễn Ca nhạc kịch của các rạp chiếu bóng. Những năm đầu của thập niên 1960 tên tuổi của ca sĩ Thanh Thúy đã lẫy lừng không chỉ trên các sân khấu phòng trà mà cả trên sóng đài phát thanh, đĩa nhạc, băng nhạc. Những ca khúc đã gắn liền với tên tuổi Thanh Thúy lúc bấy giờ như: Nửa đêm ngoài phố, Kiếp nghèo, Người em sầu mộng, Ngăn cách, Tàu đêm năm cũ… Hầu hết những tác phẩm âm nhạc được Thanh Thúy thể hiện thành công đều là điệu boléro của nhạc sĩ Trúc Phương và một số ca khúc của Y Vân.

Giữa lúc tiếng hát Thanh Thúy đang bay cao cùng với tên tuổi của cô trên bầu trời nghệ thuật và trong lòng khán thính giả ái mộ thì mẹ cô đột ngột lâm bạo bệnh và qua đời. Cái chết của mẹ đã ảnh hưởng rất nhiều tới con đường sự nghiệp và cuộc sống của Thanh Thúy trong giai đoạn này. Đêm đêm dưới ánh đèn sân khấu, trong tà áo dài tha thướt, mái tóc buông vai, đôi mắt sâu buồn, Thanh Thúy cất giọng hát đầy tâm trạng ấy khiến người nghe như nghẹn đi và Thanh Thúy quả thật là "Người em sầu mộng" của… bao người.

Hình ảnh Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và những cảm xúc đầu đời số 2

<>"Nghi án tình yêu" với nhạc sĩ họ Trịnh

Trong số lượng sáng tác khổng lồ của người nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn để lại cho đời có hai ca khúc mà dư luận cho rằng chàng nhạc sĩ họ Trịnh viết để gửi gấm tâm sự mình đến với ca sĩ Thanh Thúy từ năm cô 16 tuổi, lúc mới bắt đầu đi hát. Đó là hai ca khúc đầu tay "Ướt mi" và "Thương một người". Trong hai ca khúc này, có nhiều ca từ khiến người ta liên tưởng đến hình bóng Thanh Thúy như "đừng khóc trong đêm mưa, đừng than trong câu ca…", "thương ai về ngõ tối, sương rơi ướt đôi môi, đôi vài gầy ướt mềm, người lạnh lắm hay không?", "thương ai tà áo trắng, trông như ánh sao băng, thương ai cười trong nắng, nhẹ nhàng áng mây tan".

Nhạc sĩ họ Trịnh thì đã mất, ca sĩ Thanh Thúy chắc không bao giờ nói ra uẩn khúc này nên có lẽ "nghi án" sẽ không bao giờ được làm rõ và cũng sẽ đi vào quên lãng. Tuy nhiên trong lúc tìm tư liệu để viết về ca sĩ Thanh Thúy, người viết bài này đã may mắn tìm thấy trong tác phẩm "Về một quãng đời Trịnh Công Sơn" của Nguyễn Thanh Ty có đề cập một giai thoại liên quan tới ca sĩ Thanh Thúy và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng như hai ca khúc "Ướt mi" và "Thương một người".

Theo tư liệu này thì có lần Trịnh Công Sơn đã tâm sự rằng lúc ông đang ở trọ tại Sài Gòn để đi học, đêm nào cậu học trò mê giọng ca Thanh Thúy cũng tìm đến phòng trà cô cộng tác để nghe cô hát. Theo thời gian, hình ảnh cô ca sĩ có giọng hát như hút hồn người này đã in đậm vào lòng Trịnh Công Sơn, chính ông cũng tự hỏi rằng có phải mình đã yêu cô ca sĩ ấy chăng? Ông không dám trả lời vì lúc đó Trịnh Công Sơn chỉ là một anh học trò nghèo, chưa phải là nhạc sĩ, lại nhút nhát, trong khi Thanh Thúy đã là cô ca sĩ đang nổi tiếng, mỗi đêm kẻ đón người đưa tấp nập.

Không thể khẳng định được tình cảm của mình nhưng đêm đêm cậu học trò nghèo chỉ đủ tiền mua ly đá chanh cũng không thể thiếu vắng được tiếng hát và hình ảnh của Thanh Thúy. Một đêm nọ, Trịnh Công Sơn tới nhà hàng nổi Mỹ Cảnh nghe Thanh Thúy hát và đánh bạo viết vào mảnh giấy nhỏ yêu cầu Thanh Thúy hát bài "Giọt mưa thu" của Đặng Thế Phong. Lời yêu cầu của Trịnh Công Sơn được Thanh Thúy đáp ứng hết sức bất ngờ với cảm xúc mãnh liệt. Và trong lúc hát bài này, Thanh Thúy đã không cầm được nước mắt khi tới đoạn: "Vài con chim non chiêm chiếp kêu trên cành như nhủ trời xanh, gió ngừng đi, mưa buồn chi cho cõi lòng lâm ly…".

Có lẽ Thanh Thúy nhớ tới mẹ cô với chứng bệnh nan y đang mỏi mòn chờ cô trở về nhà trong con hẻm nhỏ. Những giọt nước mắt xúc động mà Thanh Thúy cố kìm giữ đã đọng lại trên hai hàng mi đen dài của người ca sĩ đã khiến Trịnh Công Sơn vô cùng thương cảm. Sau đêm ấy nhạc sĩ họ Trịnh đã thức trắng để viết ca khúc đầu tay "Ướt mi" điệu slow, với ca từ rất buồn, rất đẹp và tuyệt hay.

Chàng nhạc sĩ đa tình họ Trịnh đã nắn nót chép ca khúc này cẩn thận luôn mang theo bên mình để có dịp là đưa tặng ca sĩ Thanh Thúy. Nhưng do tính nhút nhát, rụt rè, có chút mặc cảm nên bài hát "Ướt mi" cứ mang đi rồi lại mang về mấy lượt. Một hôm không dằn lòng được nữa, Trịnh Công Sơn đã đánh bạo tới ngồi sát sân khấu để chờ dịp thuận tiện đưa tặng bài hát. Sau vài lần "quyết tâm" thì dịp thuận tiện đã tới, Trịnh Công Sơn vội vã tiến lên sân khấu chỉ kịp đưa bài hát tặng Thanh Thúy, nói lí nhí mấy câu không rõ lời, rồi quay xuống hàng ghế khán giả với sự hồi hộp khó lường. Đêm đó Trịnh Công Sơn không ngủ được vì hồi hộp, lo lắng, không biết số phận "đứa con tinh thần " của mình ra sao, có được Thanh Thúy đón nhận? Phải mất đến 3 tuần lễ, giữa lúc hoàn toàn tuyệt vọng thì một đêm kia đến phòng trà nghe Thanh Thùy hát, Trịnh Công Sơn hoàn toàn bất ngờ khi Thanh Thúy xuất hiện, ra hiệu cho ban nhạc ngưng khúc dạo đầu để cô nói mấy lời.

Hình ảnh Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và những cảm xúc đầu đời số 3


Thanh Thúy đã nói rằng đêm nay sẽ trình bày một ca khúc mới của một nhạc sĩ rất lạ, chưa có tên tuổi đã có nhã ý gửi tặng cho cô. Đó là nhạc phẩm "Ướt mi" của Trịnh Công Sơn và hy vọng đêm nay sẽ có mặt tác giả ngồi phía dưới để Thanh Thúy được nói mấy lời cảm ơn. Thế rồi Thanh Thúy đã đưa bản chép tay bài hát "Ướt mi" cho ban nhạc đệm và cô cất giọng hát: "Ngoài hiên mưa rơi rơi, lòng ai như chơi vơi. Người ơi nước mắt hoen mi rồi, đừng khóc trong đêm mưa, đừng than trong câu ca…". Khỏi phải nói, người sung sướng nhất chính là tác giả bài hát đang ngồi phía dưới. Thanh Thúy hát xong, cố ý nán lại sân khấu để chờ người đã tặng nhạc. Lúc này, Trịnh Công Sơn thu hết can đảm bước lên nói lời cám ơn Thanh Thúy vì đã hát bài hát "Ướt mi" rất hay. Thanh Thúy đã rất ngạc nhiên và tỏ ý muốn nói chuyện riêng với tác giả. Cô mời luôn Trịnh Công Sơn về nhà và cả hai ra đón taxi. Nhà Thanh Thúy ở sâu trong con hẻm nhỏ và đây chính là hình ảnh, cảm xúc để chẳng lâu sau đó Trịnh Công Sơn sáng tác ca khúc " Thương một người".

Như vậy, về phần tư liệu đã có đủ cơ sở để chứng minh giữa Trịnh Công Sơn và Thanh Thúy có một mối giao tình đặc biệt khi tên tuổi cô vừa mới nổi lên dưới ánh đèn sân khấu. Đồng thời, Trịnh Công Sơn cũng báo hiệu một tài năng âm nhạc qua hai tác phẩm đầu tay "Ướt mi" và "Thương một người". Sau này cả hai đều nổi tiếng. Còn chuyện tình cảm, yêu đương phát triển hay dừng ở mối duyên văn nghệ thì chỉ có người trong cuộc mới biết rõ. Dư luận đã đặt ra nghi án có một chuyện tình thật đẹp gữa nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và ca sĩ Thanh Thúy từ lúc hai người còn khá trẻ có lẽ cũng từ giai thoại và tư liệu này chăng?

<>Giọng hát "không đụng hàng"

Có thể nói cuối thập niên 1950 đầu thập niên 1960 ca sĩ Thanh Thúy nổi lên như một hiện tượng đặc biệt và độc đáo bởi giọng hát thiên phú của cô. Thật sự, trước năm 1975, giới ca sĩ không có hiện tượng trùng lắp, mỗi người sở hữu một giọng ca riêng không ai giống ai mà ngôn ngữ bây giờ gọi là " không đụng hàng" ở giọng ca nam cũng như nữ. Từ Anh Ngọc, Duy Trác, Sĩ Phú, đến Jo Marcel, Evis Phương… từ Thái Hằng, Thái Thanh, Lệ Thanh, Kim Tước, Hà Thanh, Quỳnh Dao đến Thanh Thúy, Minh Hiếu hay Lệ Thu, Khánh Ly sau này khi nghe giọng ca họ cất lên không cần nhìn thấy mặt cũng biết ca sĩ ấy là ai. Trong đó, giọng ca Thanh Thúy là một sự độc đáo hiếm có, bởi lẽ sau giọng ca Thanh Thúy khó tìm được một giọng ca thứ hai nào tương tự như vậy.

Năm 1962 Thanh Thúy được bầu chọn là Hoa hậu Nghệ sĩ. Đến giữa thập niên 60, chính xác là năm 1964 người ái mộ giọng hát của cô bất ngờ khi được tin Thanh Thúy "theo chồng bỏ cuộc chơi". Những tưởng giọng hát Thanh Thúy sẽ chỉ còn vang vọng trong băng, đĩa, còn "người em sầu mộng" sẽ không bao giờ xuất hiện trở lại. Nhưng không ngờ, sau khi sinh con trai đầu lòng, Thanh Thúy đã trở lại với sân khấu ca nhạc và đêm đêm đứng dưới ánh đèn màu tiếp tục sự nghiệp ca hát của mình. Thanh Thúy cùng gia đình sang Mỹ định cư những ngày cuối tháng 4/1975.

<>Từ Kế Tường

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#97 Posted : Friday, May 22, 2015 5:46:51 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Chất thơ trong ca từ nhạc Trịnh
Hà Thúc Hoan

UserPostedImage


Thơ thường nói điều chưa nói bằng cách phủ nhận điều đã nói. Chất thơ trong ca từ nhạc Trịnh được "chế tác" bằng cách diễn đạt mang đặc trưng ấy của văn chương. Cách thể hiện này thường tạo cho lời ca của nhạc Trịnh một nét nghĩa nhoè. Ca từ của Trịnh Công Sơn vì thế có khi làm cho người nghe nhạc cảm thấy khó hiểu. Cũng vì lẽ này mà sau năm 1975, có người đã phê phán nhạc Trịnh là "vague" . Đúng là lời ca của nhạc Trịnh Công Sơn thường "mơ hồ". Không chấp nhận tính không xác định này của ca từ là phủ nhận nét đặc trưng đã làm nên giá trị nghệ thuật độc đáo của nhạc Trịnh.

Trong giới hạn của bài viết này, với một ít dẫn chứng lấy ra từ những ca khúc quen thuộc, tôi thử làm một công việc không ít khó khăn là tìm hiểu Chất thơ trong ca từ nhạc Trịnh.
1.Tại thành phố Huế, vào đầu năm Canh Dần vừa qua, khi lên sân khấu nhận giải thưởng đặc biệt của cuộc xổ số tổ chức trong lần họp mặt đầu xuân của cựu giáo chức Đồng Khánh, Cô Tôn Nữ Lý đã ứng khẩu trình bày ca khúc Quỳnh hương của Trịnh Công Sơn. Nói ứng khẩu vì tôi nghĩ rằng trước đó Cô Lý không chuẩn bị để "trình diễn" tiết mục văn nghệ này, nên bây giờ Cô hát mà như đọc lời ca và nhớ câu nào thì Cô đọc câu ấy. Vậy mà phần giúp vui của Cô Lý đã đem lại cho bạn đồng nghiệp nhiều hứng thú, vì Cô đã đưa vào ca từ của nhạc Trịnh nét trào lộng, hóm hỉnh thường có của mình.

Nghe Cô Lý đọc lời ca bài Quỳnh hương, tôi chợt nhận ra rằng nhạc sĩ họ Trịnh đã dùng ngôn ngữ thơ để nói điều khó nói. Điều khó nói ấy, một tác giả vô danh đã diễn đạt một cách có nghệ thuật qua câu ca dao:

"Có trầu mà nỏ có cau,
Làm sao cho đỏ môi nhau thì làm ..."

Viết lời ca cho bài Quỳnh hương, Trịnh Công Sơn đã gợi tả vấn đề một cách sinh động và đầy đủ ý nghĩa hơn :
"Ta mang cho em một đoá quỳnh,
Quỳnh thơm hay môi em thơm ?...
Môi em cho ta một cánh hồng,
Lụa là phút ấy chưa quên."

Một người bạn của Trịnh Công Sơn cho biết, thay vì đặt tên cho bài hát là "Quỳnh hoa" hay "Hoa quỳnh", nhạc sĩ đã chọn tên Quỳnh hương. Không ngờ có người con gái cũng có tên Quỳnh Hương, nên khi nghe bản nhạc này, nàng phải lòng rồi tìm tới làm quen và làm thân ...
Tôi nghĩ sở dĩ Quỳnh Hương "phải lòng" và chủ động tìm đến "làm quen và làm thân" là vì cô đã bị hấp dẫn, bị chinh phục bởi ca từ có nghệ thuật diễn đạt bằng ngôn ngữ hình tượng của thi ca. Ở đây, nụ hôn đã thành nụ hoa "quỳnh thơm", môi hôn đã thành "cánh hồng" với tất cả "lụa là phút ấy"...
"Lụa là" là một danh từ, đã được nhạc sĩ họ Trịnh chuyển đổi từ loại để sử dụng như một tính từ diễn tả tính dịu dàng, êm ái của sự xúc chạm say mê... "Lụa là" chính là từ sáng tạo hiểu theo nghĩa là từ gọi tên sự vật lần thứ nhất. Chất thơ trong ca từ nhạc Trịnh được tạo thành bằng những từ sáng tạo như thế. Nhờ cách diễn đạt có tính sáng tạo, ca từ của bài Quỳnh hương còn có một ý nghĩa ở dạng tiềm năng mà nếu tác giả không giải thích thì người nghe nhạc Trịnh có thể không hiểu hoặc hiểu theo một cách khác nhau :

"Em mang cho ta một chút tình,
Miệng cười khúc khích trên lưng."(1)

2. Trong một lần phụ trách giảng dạy tiếng Việt cho một lớp đại học tại chức ở Đà Lạt, tôi gặp lại một người học trò cũ ở trường Đồng Khánh - Huế. Em này hiện là cô giáo Anh văn đang giảng dạy tại một lớp tại chức khác. Vui câu chuyện, người nữ học sinh trường Đồng Khánh năm xưa nhắc lại chuyện cũ : Lớp đệ nhị ( lớp 11) của chúng em ngày ấy có hai Minh Nguyệt, Minh Nguyệt họ Trần là em, còn một Minh Nguyệt nữa, cô này là nguồn cảm hứng để nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sáng tác bàiNguyệt ca. Thầy "còn nhớ " hay thầy "đã quên"? (2) Đúng là còn nhớ, vì thời gian tôi làm liên đoàn trưởng Gia đình Phật tử Phú Lâu ở Huế thì em Minh Nguyệt thứ hai này là một đoàn sinh oanh vũ. Khi chúng tôi về trường Đồng Khánh dạy Việt văn, Minh Nguyệt đã trở thành một thiếu nữ hát hay, có nét đẹp thanh tú phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ của nhạc sĩ họ Trịnh.
Bài Nguyệt ca có những câu hát có nét nghĩa nhoè của thơ :

"Từ khi em là nguyệt, trong tôi có những mặt trời....
Từ em thôi là nguyệt, tôi xin đứng đó một mình."

Mấy ngày thỉnh giảng ở Đà Lạt, vì thói quen nghề nghiệp, tôi suy nghĩ mãi để tìm cách "mở cái nếp gấp" ( explication ) của những câu "thơ" khó hiểu này. Nói "Từ khi em là nguyệt" thì có lẽ nào trước "khi" đó em không phải là Nguyệt ? Nói "Từ em thôi là nguyệt" thì phải chăng cha mẹ đã có lúc thay đổi tên em? Tôi nghĩ rằng, muốn "giải mã" ca từ có vẻ không hợp lý này, chúng ta cần phân biệt "em viết thường" với "Em viết hoa". Nếu em là đại từ thay thế cho Nguyệt thì từ khi em ra đời và được cha mẹ đặt tên, em mãi mãi là Nguyệt. Nguyệt với em là một và luôn luôn là một. Nếu Em là người đẹp lý tưởng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thì có khi Em là Nguyệt mà cũng có khi Em không phải là Nguyệt. Nguyệt với Em có khi là một, có khi là hai. Theo tôi, chúng ta nên hiểu từ "em" trong Nguyệt ca và trong nhiều nhạc phẩm khác của Trịnh Công Sơn theo cách thứ hai này. Trước và sau khi Em là Nguyệt, với Trịnh Công Sơn, Em có thể là Bích Diễm, là Dao Ánh, là Khánh Ly, là Hồng Nhung và nhiều người đẹp khác nữa. Tôi nghĩ trong thế giới ý niệm, Trịnh Công Sơn có một "Em viết hoa" là hình mẫu về một người đẹp kết tinh sắc nước hương trời. Trong cõi tạm là chốn trần gian này, vào một thời điểm nào đó, nhà nghệ sĩ đã gặp một "em viết thường" nào đó là một mô phỏng gần đúng của "Em viết hoa" ấy. Cho nên, trong hơn sáu mươi năm "ở trọ trần gian", nhạc sĩ họ Trịnh mãi hoài đi tìm người tình trong mộng của mình, như một nhà toán học vẽ nhiều vòng tròn trên cát, trên bảng, trên giấy,v.v. nhưng không có vòng tròn nào giống vòng tròn định nghĩa là quỹ tích những điểm cách đều một điểm cố định gọi là tâm. Trịnh Công Sơn với "Em viết hoa" làm chúng ta nhớ Hoàng Cầm với Lá diêu bông.(3)

3. Trong lần thỉnh giảng khác ở Rạch Giá, tôi được nghe một bạn đồng nghiệp trẻ cùng đi dạy tại chức hát nhạc Trịnh. Anh bạn trẻ này dạy toán mà thích nhạc Trịnh Công Sơn và hát say sưa một số câu trong bài Như cánh vạc bay của Trịnh Công Sơn. Bài ca này, tuy đã nghe nhiều lần qua đài phát thanh hay truyền hình, nhưng lúc đó, trong cái im vắng của nhà trọ, chỉ có một người hát cho một người nghe, tôi mới cảm nhận hết chất thơ trong ca từ của nhạc Trịnh. Như cánh vạc bay mở đầu bằng bốn câu :

"Nắng có hồng bằng đôi môi em ?
Mưa có buồn bằng đôi mắt em ?
Tóc em từng sợi nhỏ,
Rớt xuống đời làm sóng lênh đênh."

Trong bài viết Hồng Nhung và Trịnh Công Sơn ngày mới quen nhau, ca sĩ Hồng Nhung cho biết năm 20 tuổi, đọc bài "tứ tuyệt" này, cô đã buột miệng hỏi : "Anh Sơn ơi, có người phụ nữ nào đẹp đến thế này?" Thay vì trả lời, Trịnh Công Sơn "bỏ sang phòng ngủ một chốc rồi quay lại với một cuốn album dày. Từng trang ảnh cứ lật qua, người phụ nữ trẻ trong ảnh đang mỉm cười. Cô đẹp thật, một kiểu đẹp e ấp ngày xưa. Lần đầu tiên tôi ý niệm Như cánh vạc bay là có trong đời thật. Rồi anh chỉ cho tôi người đẹp Diễm xưa ".
Vậy, có thể nói cô nữ sinh Đồng Khánh xinh đẹp Bích Diễm ngày xưa là nguồn cảm hứng để Trịnh Công Sơn sáng tác bài Như cánh vạc bay. Thế nhưng, vào thời điểm tác giả viết ca khúc này, cũng như lúc sáng tác Diễm xưa trước đó, người "em" có đôi vai "gầy guộc nhỏ" đã thuộc về quá khứ, "Như cánh vạc về chốn xa xôi". Ở lại với nhà nghệ sĩ tài danh là kỷ niệm đẹp mà buồn về một cuộc tình với một và chỉ một "Em viết hoa" - bóng hình kiều diễm sống mãi trong thế giới ý niệm của nhạc sĩ họ Trịnh.

Mở đầu nhạc phẩm Như cánh vạc bay, tác giả nêu hai câu hỏi để tạo nghĩa không xác định của ngôn ngữ thơ. Chất thơ sẽ không còn nữa nếu chúng ta chuyển đổi hai câu nghi vấn này thành hai câu xác định : "Môi Em hồng hơn nắng / Mắt Em buồn hơn mưa." Mặt khác, hai câu "thơ" này là hai câu hỏi tu từ được viết theo lối đối. Hỏi tức là đã khẳng định câu trả lời. Với hai câu hỏi tu từ dồn dập, tác giả như muốn gợi mở, như muốn thúc giục chúng ta tự tìm lấy lời giải đáp: "Nắng không thể nào hồng hơn môi Em / Mưa không thể nào buồn hơn mắt Em."
"Tóc em từng sợi nhỏ / Rớt xuống đời..." có nghĩa là Em ở trên đời. Em là nàng tiên của ta. Ta ở trong đời, nên tóc của ta rơi xuống đất và trở thành cát bụi. Em ở trên đời nên tóc Em "Rớt xuống đời làm sóng lênh đênh". Sóng lênh đênh là sóng trôi nổi mãi vì không có bến bờ làm chỗ dừng. Quen với tư duy khoa học chính xác, có người sẽ nghĩ sóng nước mênh mang ấy không thể nào có trên mặt đất mà chỉ có thể xuất hiện ở trong hồ, ở trên sông hay đúng hơn là ở ngoài biển khơi. Nhưng nhà nghệ sĩ thiên tài có sở trường với lối diễn đạt hàm ẩn của thơ đã phủ nhận điều đã nói ra là sóng nước của thiên nhiên để nói điều chưa nói ra là sóng nước của lòng người. Sóng lênh đênh ở đây là con sóng tình cảm dạt dào miên man bất tận ở trong lòng nhà nghệ sĩ. Một sợi tóc "nhỏ" của Em cũng có thể làm cho ta xao xuyến mãi hoài, huống chi môi "hồng", mắt "buồn" và tất cả tâm hồn Em...
Có một nhà văn phương Tây đã nói: Thượng đế thật mầu nhiệm khi tạo dựng cho con người bé mọn này hai gương mặt!. Một gương mặt tầm thường để người ta xuôi ngược trên đường đời mà kiếm áo cơm, và một gương mặt thứ hai rất đẹp, người ta mang gương mặt khả ái này để ngồi nói chuyện với người yêu...

Những cuộc tình của Trịnh Công Sơn đều kết thúc bằng một cuộc chia ly. Có khi đó chỉ là một tình yêu chết yểu, vì "Từ lúc đưa em về / Là biết xa nghìn trùng". Chịu chia cách nhưng không có khổ đau và bi luỵ, nhạc sĩ họ Trịnh đã biết chủ động chấp nhận chia xa để dừng lại ở chỗ đáng dừng, để giữ cho tình đẹp mãi với những lưu luyến của thuở ban đầu, khi người yêu "ngồi nói chuyện với người yêu". Cho nên, không những ca từ của Trịnh Công Sơn có chất thơ mà những cuộc tình của Trịnh Công Sơn cũng có chất thơ. Nhờ vậy, khi anh và em mỗi người đã ở một phương, chẳng những không oán trách, không giận hờn, người ta còn quý trọng nhau, cùng giữ gìn những kỷ niệm đáng yêu đáng nhớ của một thời, để ít ra cũng biết sống lương thiện và tử tế với một tấm lòng, nếu không thể làm được điều gì cao đẹp hơn :
"Ông Trịnh Công Sơn không của riêng ai. Ông là của tất cả mọi người. Ông yêu dân tộc và quê hương. Việc ông ở lại và nằm xuống trên quê hương là điều đúng. Từ ông, tôi đã thành danh, và quan trọng hơn là thành nhân, sống cùng với tên tuổi của ông gần 40 năm với những lời ông dặn bảo phải sống giữa đời với một tấm lòng, và sống với người bằng sự tử tế . Ông là một nửa đời sống của tôi." (4)

[size=6]Chú thích
(1) Trong một lần dùng chung một chiếc xe đạp để đi " loanh quanh" trên những con đường vắng của cố đô, nghe nhạc sĩ họ Trịnh tỏ bày tình cảm, một cô gái Huế ngồi ở phía sau đã gục đầu vào lưng nhà nghệ sĩ mà cười khúc khích.
(2) Ca từ của Trịnh Công Sơn có câu " Em còn nhớ hay em đã quên ?".
(3) Hà Thúc Hoan, Về chiếc Lá diêu bông ấy, Văn hoá Phật giáo, số 106, ra ngày 1-6-2010, tr. 34-36.
(4) Ca sĩ Khánh Ly bày tỏ cảm tưởng khi hay tin nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua đời vào ngày 1 tháng 4 năm 2001.

Edited by user Friday, May 22, 2015 5:49:37 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#98 Posted : Sunday, May 24, 2015 1:19:05 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Thông điệp thương yêu của Trịnh Công Sơn
Bài viết của Thiền sư Nhất Hạnh


http://vanthonhactrieuch...-cua-trinh-cong-son.html

UserPostedImage














Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#99 Posted : Saturday, May 30, 2015 6:32:23 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
UserPostedImage

Trịnh Công Sơn và những phố xa

Ngự Thuyết


UserPostedImage

Gác mái ngư ông về viễn phố
Gõ sừng mục tử lại cô thôn


Hai câu thơ trên của Bà Huyện Thanh Quan không dính dáng gì đến nhạc Trịnh Công Sơn (TCS) cả. Thế mà lạ, mỗi khi lẩm nhẩm những bài ca của anh nói đến phố phường, những bài ca loại này nhiều lắm, tôi liên tưởng ngay đến viễn phố của Thanh Quan. Mà viễn phố đâu có nghĩa là phố xa.
Hay là vì thơ Thanh Quan thường buồn, hai chữ viễn phố càng gợi nên cảnh tượng hoang sơ, cô liêu? Và nhớ. Hai câu thơ trên nằm trong bài Chiều Hôm Nhớ Nhà. Nhà thơ nhớ, chứ không phải ngư ông nhớ. Ngư ông sau một ngày lênh đênh trên sông nước lại trở về bến xa (viễn phố), bến cũ, buông tay, gác mái. Trở về như chàng mục tử chiều hôm lùa đàn trâu, đàn bò về chuồng nghỉ ngơi, trở về như con chim buổi tối bay về tổ ấm, về nơi trú ẩn an toàn để ngủ qua đêm. Trở về như có một chốn nhất định để đi về.
Chứ đâu phải như TCS trong Một Cõi Ði Về:

Ði đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt...
Chẳng biết nơi đâu là chốn quê nhà


Chứ đâu phải như những phố xa, phố lạ, phố hoang tàn như trong nhiều bài nhạc của TCS vào những tháng năm về sau của cuộc đời.
Thế mà “phố xa” của TCS vẫn khiến tôi liên tưởng đến “viễn phố”. Có lẽ ngôn ngữ trong ca từ của TCS thường sử dụng liên tuởng cho nên khi nghĩ đến nhạc của anh tôi không khỏi liên tưởng đến nhiều tình huống khác. Hay cũng có thể trong tư duy, liên tưởng nhiều khi có tính cách tình cờ, tùy tiện, thất thường - và TCS cũng thường có lối liên tưởng như thế.

Lẽ dĩ nhiên liên tưởng chỉ là một trong những lối diễn ý của nhạc sĩ tài ba đó. Trong nhạc TCS còn có những nét tượng trưng, siêu thực, hiện thực v.v... hoặc một chút thiền vị vào lúc cuối đời. Và ngay cả kỹ thuật collage (tạo hình bằng cách kết hợp những yếu tố, những mảnh rời khác nhau và có vẻ không ăn nhập gì với nhau, như thực tế cuộc sống vốn là như vậy) cũng được sử dụng. Có lẽ cũng vì thế ngôn ngữ của anh có khi bị phê bình là phi lý, mơ hồ, tối tăm, chắp vá, bừa bãi, tản mạn, không theo một lô-gích nào cả. Tuy nhiên ta có nên đòi hỏi một bài ca phải chuyên chở một tư tưởng thâm trầm, một nội dung phong phú, một mẩu chuyện có đầu, có đuôi, có lý, có lẽ? Hay một bài ca thường chỉ cần nói lên một xúc động, hoặc chụp bắt một tia chớp, một âm ba, một tiếng vang, một bóng dáng của cuộc sống, hoặc chỉ cần gợi lên một cảm nghĩ, tạo nên một ấn tượng, là đủ.

Thử nghe vài ca khúc phổ biến của Tây phương. Bài Yesterday chẳng hạn. Bài này rất nổi tiếng của nhóm The Beatles trong đó nhạc và lời quyện vào nhau làm một làm say mê nhiều thế hệ thanh niên trên khắp thế giới. Có gì trong bài ca đó? Chàng và nàng yêu nhau, rồi xa nhau. Tại sao? Có lẽ tại chàng đã nói điều gì lầm lỗi (Why she had to go I don’t know she wouldn’t say - I said something wrong now I long for yesterday). Thế thôi. Lời ca dễ dãi, bình dị. Một bài nổi tiếng khác của Neil Diamond, Alan Bergman, Marilyn Bergman, You Don’t Bring Me Flowers, do Neil Diamond cùng hát với danh ca hàng đầu của Mỹ là Barbra Streisand. Cũng bằng những lời lẽ rất đơn sơ:

You don’t bring me flowers
You don’t sing me love songs
You hardly talk to me anymore
When you come through the door
At the end of the day ...
(Anh không mang hoa cho em
Anh không hát cho em nghe những bài ca yêu đương
Anh dường như không nói với em nữa
Cuối ngày khi anh về bước qua khỏi cửa...)


Những lời hờn trách đại khái như thế lặp đi lặp lại cho đến cuối bài. Và thế là họ chia tay. Vâng, một ca khúc thường thường chỉ cần nói lên như thế là đủ.
Mấy bản nhạc đầu tiên của TCS, khoảng 1957- 1959, cũng có lối phô diễn giản dị như hai thí dụ nói trên – Ướt Mi, Lời Buồn Thánh, Thương Một Người ... và một số ca khúc “phản chiến”. Về sau nhạc TCS, như ta đã nêu ở trên, được viết bằng ngôn ngữ phức tạp hơn nhiều.

Nhạc Trịnh Công Sơn? Nhạc mà thôi hay ngụ ý nhạc và lời? Có thể tách lời ra khỏi nhạc, và ngược lại, hay không?
Có người cho rằng lời của TCS hay quá, hàm súc quá, nhiều chất thơ quá, nên thường nhạc không bắt kịp lời. Có người còn nói rằng TCS là nhà thơ, một nhà thơ lớn. Có thể như thế không? Nhưng thử tách riêng lời ca ra khỏi điệu nhạc, điều không nên làm đối với bất cứ nhạc sĩ nào, ta không thể nào gặp đuợc những bài thơ hay, cho dù, công bình mà nói, rải rác trong nhiều ca khúc của TCS, ta gặp nhiều chất thơ. Thỉnh thoảng, điều này rất hiếm đối với bất cứ nhạc sĩ nào kể cả TCS, ca từ mang dáng dấp một bài thơ nho nhỏ, khá hoàn hoàn chỉnh, nằm gọn trong một ca khúc:

Một hôm bước chân về giữa chợ
chợt thấy vui như trẻ thơ
Ðời ta có khi là đốm lửa
một hôm nhóm trong vườn khuya
Vườn khuya đóa hoa nào mới nở
đời ta có ai vừa qua...
(Ðêm Thấy Ta Là Thác Ðổ)

hoặc:

Ghế đá công viên dời ra đường phố
Người già co ro chiều thiu thiu ngủ
Người già co ro buồn nghe tếng nổ
Em bé lõa lồ khóc tuổi thơ đi ...
(Người Già Em Bé)


hoặc:

Trên đời người trổ nhánh hoang vu
Trên ngày đi mọc cành lá mù
Những tim đời đập lời hoang phế
Dưới mặt trời ngồi hát hôn mê
Dưới vòng nôi mọc từng nấm mộ
Dưới chân ngày cỏ xót xa đưa
(Cỏ Xót Xa Ðưa)


Chép xong đoạn ngắn trên, tôi lại liên tưởng ngay đến bài thơ của Du Tử Lê mới đăng trên báo Văn số Xuân Giáp Thân:

em thinh lặng, và hàng cây cũng thế
chở thời gian đàm tiếu ở trên cành
rụng xuống: Cho mầm non chuyển dạ
tôi qua đời: Ðể có lại em, xanh!
(nghiệp đôi ta: thinh-lặng-bướu-ân-tình)


Hai đoạn thơ trên đều hay, đều có cành, có cây, có lá, có nói đến chết chóc, nhưng ý tưởng hoàn toàn khác nhau. Trong khi Du Tử Lê bình thản, đôn hậu thì ở TCS bi kịch đã xuất hiện và đang bao trùm lên trên thân phận con người.
Hãy trở lại câu hỏi trên: Có thể tách lời ra khỏi nhạc, và ngược lại, hay không? Hãy chọn một bài ca thật hay làm thí dụ. Nhiều người đồng ý rằng Thiên Thai của Văn Cao là một trong những bài ca hay nhất trong tân nhạc Việt Nam. Nhưng thử hỏi lời ca của bài đó có thể đứng riêng rẽ mà vẫn mang một giá trị tự tại? Không, một khi tách ra khỏi nhạc, ca từ có chỗ hụt hẫng, lạc lõng, có chỗ cũn cỡn như con chim bị cắt đôi cánh. Nhiều bài ca của Phạm Duy hay của Trịnh Công Sơn cũng nằm trong trường hợp ấy. Nhưng khi nhạc và lời quyện vào nhau, nâng niu nhau, bài ca sẽờ có đời sống khác, rất phong phú, rất lôi cuốn. Con chim đã được trả đôi cánh để bay bổng lên trời cao.

Ngoài ra, lời ca của một ca khúc không nhất thiết phải là ngôn ngữ đàm thoại hằng ngày, hoặc ngôn ngữ của văn xuôi, ngôn ngữ của thơ. Nó đã có lãnh thổ riêng của nó, ngôn ngữ riêng của nó, nó nằm trong một phạm trù khác, không nhất thiết phải lệ thuộc vào ngôn ngữ bình thường, vào văn phạm hay ngữ pháp thông dụng. Lời ca đôi khi nghe như tiếng nói của người cổ sơ, của trẻ thơ bập bẹ, của tiềm thức, của vô thức, của loài cầm thú, của Mẹ Thiên Nhiên. Lời ca còn có khi muốn vươn đến cõi vô ngôn. Và nó quyện vào nhạc làm thành một thể nhất quán. Vô ngôn trong ca khúc để vươn đến thế giới huyền nhiệm của âm điệu mà thôi, đó là giấc mơ của nhạc sĩ.

Bài Gánh Lúa của Phạm Duy là một kiệt tác trong đó lời và nhạc bất khả phân. Tương tự như thế, bài Bống Bồng Ơi! của TCS.
Ðó là vấn đề của ca từ. Còn phần nhạc của bài ca có thể đứng riêng ra được không? Lẽ dĩ nhiên ở đây ta đang nói đến nhạc trong ca khúc chứ không phải nhạc thuần túy, hay nhạc cổ điển. Những bản nhạc của Văn Cao như Thiên Thai, Suối Mơ, Trương Chi, của Phạm Duy như Con Ðường Cái Quan, Cỏ Hồng, Dạ Lai Hương, của Lê Thương như Hòn Vọng Phu I, II, III, của Ðỗ Nhuận như Tiếng Hát Sông Thao, của Nguyễn Mỹ Ca như Dạ Khúc, của Phạm Ðình Chương như Hội Trùng Duơng, của Hùng Lân như Hè Về, của Dương Thiệu Tước như Thuyền Mơ, của Nguyễn Văn Thương như Ðêm Ðông, của Cung Tiến như Nguyệt Cầm, của Ngô Thụy Miên như Dấu Tình Sầu v.v... khi được độc tấu hay hòa tấu (chứ không phải đơn ca hoặc hợp xướng) đều có thể tạo nên xúc động lớn trong lòng người yêu nhạc. Như thế có nghĩa là trong một ca khúc, phần âm điệu, thanh nhạc, trong nhiều trường hợp, có thể đứng riêng một mình. Nói một cách khác, phần nhạc đóng vai chủ chốt. Phần này nếu hỏng, bài ca sẽ không còn giá trị nữa. Ngay cả một bài thơ hay được một nhạc sĩ bất tài nào đó phổ nhạc, thì kết quả là ca khúc ấy sẽ rất gượng gạo, sống sượng. Người nghe chỉ muốn gạt bỏ cái cùm là phần nhạc đi để có thể được tự do đọc lên bài thơ theo cảm hứng, ngẫu hứng cuả mình, hoặc theo vần, điệu đã có sẵn trong thơ. Trong trường hợp này, rõ ràng là nhạc không chắp cánh cho thơ bay bổng, mà đã biến thành của nợ.

Những nhận xét trên đưa đến kết luận rằng một nhạc sĩ thành công khi phần nhạc trong bài ca có giá trị. Một nhạc sĩ được yêu chuộng khi phần nhạc đóng vai cốt cán. Nếu lờợi ca cũng hay, tức là lời ca ăn khớp với ngôn ngữ riêng biệt của khúc nhạc, càng tốt.

Nhiều người thích nhạc TCS, hay nói cho chính xác hơn, thích những ca khúc của anh. Tại sao? Là vì, trước hết, phần nhạc trong những ca khúc đó rất hay. Có thể nói rằng nhạc của anh khá đơn giản. Những bài nổi tiếng thường được viết bằng nhịp điệu nhẹ nhàng, êm ái, hoặc chầm chậm, trầm trầm, những blues, slow, boston, với một giọng buồn buồn như tiếng thở dài, kể lể, và thường sử dụng âm giai (gam) la thứ, la trưởng, mi thứ, mi trưởng. Rất ít bài nhanh nhẹn, giục giã như Biết Ðâu Nguồn Cội (nhịp 2/4, đô trưởng), Ở Trọ (nhịp 2/4, la trưởng), Con Mắt Còn Lại (nhịp 4/4 điệu swing, la trưởng) chẳng hạn. Trong Hồi Ký Phạm Duy, Phạm Duy nhận định “Toàn thể ca khúc Trịnh Công Sơn không cầu kỳ, rắc rối, vì nằm trong một số nhạc điệu đơn giản, rất phù hợp với tiếng thở dài của thời đại.” Ở một đoạn khác, Phạm Duy viết tiếp: “Toàn bộ âm nhạc của anh đẹp như một bức họa trừu tượng hơn là tả thực. Cả nhạc lẫn lời, cả xác lẫn hồn thơ, nghe lãng đãng, mơ hồ khó phân định cho đúng nghĩa.” Ðó là những nhận xét xác đáng.

Như trên đã nói, một ca khúc hay, trước hết phần nhạc phải hay. Nhạc TCS cũng không ra ngoài định lệ đó. Tôi còn nhớ một lần về thăm quê hương, một buổi tối ngồi một mình trong phòng lễ tân của một khách sạn chờ một người bạn, quanh đó có nhiều du khách Tây phương, Nhật, Ðài Loan v.v... đang ngồi uống rượu và chuyện trò rì rầm giữa những điệu nhạc huyên náo và những tiếng động tạp âm khác. Bỗng tiếng dương cầm, chứ không phải tiêng hát, trổi lên từ một đĩa CD. Tôi nhận ra ngay đó là bài Tuổi Ðá Buồn của TCS. Cả phòng bớt ồn ngay, người ta có vẻ chú ý dần. Tiếp theo, cũng tiếng dương cầm, là bài Ru Ta Ngậm Ngùi, cũng của TCS, khi thì trầm lắng, khi thì thánh thót, réo rắt, khi thì kéo dài như tiếng than. Căn phòng bỗng trở nên hoàn toàn im lặng, những cái ly được nhẹ nhàng đặt xuống mặt bàn, những ánh mắt trầm ngâm. Ðiệu nhạc dứt mà dư âm của nó trong lòng người nghe là tôi vẫn xôn xao. Một dịp khác, ở hải ngoại, trong một bữa tiệc tất niên đang ồn ào náo nhiệt, thì một một vị quan khách lên sân khấu xin góp vui bằng tiếng kèn. Vị đó dùng saxophone thổi bài Hạ Trắng. Tiếng kèn, điệu kèn ai buốt trong tôi, chữ của TCS trong Chiếc Lá Thu Phai, làm mọi người bàng hoàng. Tiếng kèn chấm dứt bằng những tràng pháo tay vang dội. Ðược yêu cầu biểu diễn thêm, vị khách tài hoa ấy thổi bài Chiều Một Mình Qua Phố. Không khí bữa tiệc hoàn toàn đổi khác, mọi người như được tiếng nhạc đưa vào một cõi khác, huyền ảo, say đắm, mơ màng, bâng khuâng. Âm thanh ấy, lại quyện với những lời, ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ (nhận xét của Văn Cao về TCS: Nhạc TCS ... thấm vào lòng người như suối tươi. Với những lời, ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt ...) đã khiến cho nhạc của anh không những có một sức thu hút lớn lao đối với chúng ta đã đành, mà còn chinh phục lòng ngưỡng mộ của người nước ngoài.

Những người mê nhạc TCS bảo rằng nhạc của anh không có bài nào dở cả, hầu hết đều hay hoặc trên trung bình mà thôi. Người viết bài này chỉ mong trong 10 bài của anh có một bài hay là đủ, và nếu được thế, đóng góp của anh cho nền âm nhạc Việt Nam đã lớn lao lắm rồi. Với một công trình đồ sộ khoảng 600 ca khúc, TCS có thể có đến 60 bài hay chăng! Tôi có chủ quan và lạc quan lắm không? Có người suốt đời chỉ viết được mươi bài mà vị tất đã có được vài ba bài giá trị.
Phần trình bày vừa rồi hơi dài dòng nhằm nêu lên sự kiện rằng khi nghe nhạc của TCS, hay bất cứ nhạc của ai, người thưởng ngoạn cần phải quan tâm tính cách nhất quán của nhạc và lời. Dùng con dao mổ xẻ để tìm cách cắt lời ra khỏi nhạc, rồi đem ngôn ngữ phê bình văn học để phân tích một cách chi ly, gò ép từng câu, từng chữ, trong ca từ thì chỉ có thể tạo nên những chướng ngại không vượt qua nổi khi muốn tiếp cận lãnh vực nghệ thuật vô cùng tinh vi, và kỳ diệu này.

TCS đề cập đến rất nhiều vấn đề – chuyện tình, chuyện phản chiến, chuyện quê hương, chuyện đời, chuyện thân phận con người, chuyện siêu hình, vài nét hiện sinh trong giai đoạn đầu, một ít thiền vị v.v... trong giai đoạn cuối. Bài viết ngắn này không có tham vọng nhận định tổng quát những vấn đề vừa nêu. Người viết bài này chỉ thử ném một cái nhìn vào một góc nhỏ của bức họa toàn cảnh của TCS: Những phố phường, những phố xa.

Văn Cao, nhạc rất hay, nhưng quá ít ỏi, và không hề đề cập đến phố xá, chỉ có lần mô tả ngôi làng cũ trong bài Làng Tôi (Làng tôi xanh bóng tre/Từng tiếng chuông ban chiều/Tiếng chuông nhà thờ ngân... ). Ngay cả Phạm Duy với cả ngàn bài ca đã có mấy bài nhắc nhở đến đô thị. Trái lại TCS là nhạc sĩ đầu tiên nói đến phố phường nhiều nhất. Nếu chuồn chuồn, châu chấu bay lượn, nhảy nhót nơi hoa đồng cỏ nội, nếu loài ếch nhái lặn lội thong dong trong các ao chuôm, đầm lầy, nếu cái cò, cái vạc, cái nông dang rộng đôi cánh trên các thửa ruộng, mảnh vườn nơi thôn dã, thì TCS là con sâu của thành phố, là loài sâu ngủ quên trong tóc chiều. Con sâu đánh kén, làm tổ, con sâu rạo rực muốn biến thành cánh bướm, rồi con sâu cô đơn, con sâu bị hắt hủi, con sâu lạc lỏng, bơ vơ... để sẽ có ngày nó đục khoét cả trái tim của chính mình. Thật khó nói cho hết tâm tư của TCS đối với phố phường.

Xưa, người chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm nhớ chồng, không biết làm gì hơn là lên lầu cao nhìn ra xa tìm bóng dáng của chiếc chiến xa đưa chồng mình ra trận:

Vui có một tấm lòng chẳng dứt
Vốn theo chàng giờ khắc nào nguôi
Lòng theo nhưng chửa thấy người
Lên cao mấy lúc trông vời bánh xe...


Nhìn quanh, trông bến nam, đường bắc, non đông, lũng tây nhưng nào thấy tăm hơi. Ðành phải tìm chàng ở những chốn cũ nơi đôi lứa từng đặt chân đến – tìm trong giấc mơ:

Duy còn hồn mộng được gần
Ðêm đêm thường đến giang tân tìm người
Tìm chàng thuở dương đài lối cũ
Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa...


Trong Truyện Kiều, Kim Trọng, may mắn hơn, có thể trở lại nơi gặp Kiều lần đầu dù không còn tìm được dấu vết gì:

Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người
Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi
Một vùng cỏ mọc xanh rì
Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu!
Gió chiều như giục cơn sầu
Vi lô hiu hắt như màu khơi trêu

Người xưa tương tư như thế đó thì nay TCS cũng không khác mấy. Cũng bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người, cũng đi tìm những nơi kỳ ngộ. Có khác chăng, thay vì lẩn thẩn đi tìm trong mộng như người chinh phụ, hay đi tới những vùng mới hôm nào cỏ non xanh tận chân trời bây giờ đã ngả qua màu xanh rì, lác đác đám vi lô hiu hắt như chàng Kim, TCS lại một mình qua phố. Ta thử hát lên trong lòng những lời ca của anh thời còn trẻ – phải hát lên, chứ không chỉ đọc ca từ, nhạc và lời quấn quýt nhau. Nếu được, cầm cây saxo lên mà thổi thì khỏi phải hát. Nếu không, hát nhè nhẹ trong cổ họng cho ngực cồn cào lên một chút, cho tim nhói lên từng hồi. Và phải hát một mình trong buổi chiều có một ít nắng và gió. Trước khi hát, một ngụm rượu mạnh nhé:

Chiều một mình qua phố âm thầm nhớ nhớ tên em
Có khi nắng khuya chưa lên mà một loài hoa chợt tím
...
Chiều qua bao nhiêu lần môi cười cho mình còn nhớ nhau
Chiều qua bao nhiêu lần tay rời nghe buồn ghé môi sầu
(Chiều Một Mình Qua Phố)


Nhớ tên em quay quắt, nhớ khiến hai dòng nước mắt của anh muốn trào ra, nhưng cố nén lại, chỉ muốn nhớ âm thầm, chỉ muốn có một cơn gió tình cờ nào nổi lên . Ðể làm gì? Ðể gió tung bụi vào làm cay mắt, để chàng tự đánh lừa mình không quá mềm yếu khóc sướt mướt vì nhớ. Mà nhớ tên em chứ không phải nhớ em! Chàng cả thẹn hay còn có tâm sự u uẩn nào khác:

Chiều một mình qua phố âm thầm nhớ nhớ tên em
Gió ơi gió ơi bay lên - Ðể bụi đường cay lòng mắt
(Chiều Một Mình Qua Phố)


Trong nhạc TCS nếp sống nông nghiệp đã phai mờ lắm rồi. Dường như không còn dấu vết. Sinh hoạt của thị dân, nhịp đập của phố phường, trái tim của Sài Gòn, hiện lên rõ rệt:

Nhớ Sài Gòn mưa rồi chợt nắng
Nhớ phố xưa quen biết tên bàn chân
Nhớ đèn đường từng đêm thao thức
...
Nhớ đường dài qua cầu lại nối
Nhớ những con sông nối bao dòng kinh
Nhớ ngựa thồ ngoại ô xa vắng
Nối xôn xao hàng quán đêm đêm
...
Nhớ bạn bè chào nhau quen tiếng
Phố em qua gạch ngói quen tên
...
Có bóng dừa, có câu hò, có con đò chở mưa nắng đi.
(Em Còn Nhớ Hay Em Ðã Quên)


Và còn nhiều nữa, những góc phố thân yêu, những đường phố cười, những đường rất tình, những đường rất gần ( Có Những Con Ðường), những giây phút thần tiên đã trôi qua bên người mình yêu, những công viên nghe tiếng bước chân người đẹp giẫm trên lối đi, nhìn đôi mắt to ngỡ ngàng - Em qua công viên bước chân âm thầm ... em qua công viên mắt em ngây tròn (Nắng Thủy Tinh). TCS của giai đoạn này còn mang một linh hồn tươi mát, một cung cách rất lãng mạn và trữ tình của tuổi thanh xuân muôn thuở. Nhưng hãy lắng nghe cho kỹ, đằng sau những lời yêu đương ấy hình như còn có thêm những điều gì đó khác hẳn những người đi trước.
Xưa, người chinh phụ nhớ chồng, tìm chồng trong mộng, mong ngày về vinh quang của chồng. Và hết chuyện. Chàng Kim nhớ Kiều, đi tìm nơi gặp gỡ cũ cho đỡ nhớ, nhưng làm như vậy nỗi nhớ càng tăng, nên chỉ còn cách là dọn nhà đến gần nhà Kiều mong có dịp thấy lại giai nhân. Ta phải khâm phục quyết tâm của chàng Kim:

Song hồ nửa khép cánh mây
Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông
Tấc gang động khóa nguồn phong
Tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra...


CuốÔi cùng dịp may tất nhiên phải đến, Kim gặp Kiều, thế là tha hồ hẹn biển thề non. Người xưa trắng đen rõ ràng, dứt khoát, giản dị.

Gần chúng ta hơn, Xuân Diệu cũng có khi nhớ người yêu:

Anh một mình nghe tất cả buổi chiều
Vào chầm chậm ở trong hồn hiu quạnh
Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh.
Anh nhớ em, anh nhớ lắm, em ơi! ...


Nhưng lời lẽ trong hai câu dưới “hùng hồn” và “kêu” quá, e gặp phải hiệu quả ngược: hai câu thơ ấy không gợi lên được một cảm xúc nào cảƯ, chữ nghĩa nghe có vẻ hài hước, vừa dóng lên đã chết đứng. Làm hỏng cả đoạn thơ. Lẽ dĩ nhiên Xuân Diệu còn có những bài thơ tình khác hay hơn bài đó, nhưng tựu trung cũng chỉ những chuyện anh anh em em khá hời hợt thế thôi. Thơ tình từ Xuân Diệu đến Thanh Tâm Tuyền (tình cay đắng) hay Nguyên Sa (tình ngọt ngào) chẳng hạn là cả một khoảng cách lớn về thời gian cũng như về giá trị. Tôi không muốn nói người sau tất yếu phải hơn người trước (nỗi nhớ nhung của Kim Trọng, của Thúc Sinh đối với Kiều hẳn là đậm đà, da diết hơn Anh nhớ em, anh nhớ lắm, em ơi dù Nguyễn Du sống trước Xuân Diệu hơn một thế kỷ), nhưng tôi lấy làm lạ mỗi lần nói đến thơ tình, tình yêu nam nữ, người ta có thói quen nhắc đến Xuân Diệu. Thật ra, thơ tiền chiến của Xuân Diệu thành công ở những lãnh vực khác hơn. Sau 1945, Xuân Diệu không còn là nhà thơ nữa.

Trong TCS ngay vào những buổi đầu đời, ta thử lắng nghe cho kỹ như trên đã nói, cùng với điệu nhạc lời ca dìu dặt, khi thì nồng nàn, êm ái, khi thì bâng khuâng, bồi hồi, ta còn mơ hồ cảm thấy những âm vang khác, với một chút thê lương, một chút áo não, và rất nhiều hoang mang, bơ vơ. Xưa không có thế. Phải chăng đó là tiếng buồn của thời đại, ám ảnh của chiến tranh, của chết chóc, nỗi cô đơn, ngắn ngủi, bất hạnh của kiếp người, của thân phận. Chẳng bao lâu sau đó những tiếng buồn không nguôi ấy càng đậm nét dần theo năm tháng.
Hãy để ý đến hai tình huống hoàn toàn tương phản dưới đây giữa hai người yêu nhau. Trong khi nàng:

Em đến bên đời hoa vàng một đoá.
Một thoáng hương bay bên trời phố hạ.
...
Em cười đâu đó trong lòng phố xá đông vui.
thì chàng:
Một cõi bao la ta về ngậm ngùi.
(Hoa Vàng Mấy Ðộ)


Tại sao thế? Tại sao anh phải trở về ngậm ngùi một mình? Tại sao anh không cùng người yêu đến những phố xá đông vui? Tại sao phải tìm về một cõi bao la? Cõi bao la là cõi nào? Cõi chết chăng đã bắt đầu lấp ló ở đầu đường, hay giữa đường, hay ở cuối đường?
Trong một ca khúc khác anh cũng ở lại một mình tưởng tượng ra nơi người yêu sắp đến, và ngồi nghe nghìn giọt lệ rơi xuống:

Nơi em về ngày vui không em
Nơi em về trời xanh không em
Ta nghe nghìn giọt lệ
Rớt xuống thành hồ nước long lanh
(Như Cánh Vạc Bay)


Hình như anh không bao giờ nắm giữ được tình yêu, hình như mỗi lần chia tay với người yêu là mỗi lần vĩnh biệt:

Nắng có còn hờn ghen môi em
Mưa có còn buồn trong mắt trong
Từ lúc đưa em về
Là biết xa nghìn trùng
(Như Cánh Vạc Bay)


Trong Ru Ta Ngậm Ngùi nỗi đau buồn của TCS đã đến mức ngoài sức chịu đựng. Cho nên anh phải sục sạo đi tìm, đi xin. Ai trong chúng ta có thể dửng dưng được khi chứng kiến một người đang cố gắng tìm vui! Mà tìm vui trên đường phố nào? Còn phố nào vui nữa hay không cho chàng được phép tới? Thật là bi thiết, thật là một cố gắng đau đớn và tuyệt vọng:

Có đường phố nào vui
Cho ta qua một ngày.
Có sợi tóc nào bay
Trong trí nhớ nhỏ nhoi.
Không còn không còn ai
Ta trôi trong cuộc đời.
Không chờ không chờ ai.


Có lần TCS đã thảng thốt bộc lộ:

Trên quê hương còn lại
Ta đi qua nửa đời
Chưa thấy được ngày vui
(Những Con Mắt Trần Gian)


Thành phố của TCS, càng lúc càng ảm đạm. Ðó là những thành phố buồn:

Ðường phố buồn một đường phố buồn
Ðường phố buồn mọi người đi vắng
Trong kinh đô tiêu điều dấu ngựa hồng
Ðường im lìm.
(Có Những Con Ðường)

Có khi đó là một thành phố lạ đang thiêm thiếp ngủ :

Một hôm bước qua thành phố lạ
Thành phố đã đi ngủ trưa
...
Nhiều khi bỗng như trẻ nhớ nhà
Từ những phố kia tôi về
(Ðêm Thấy Ta Là Thác Ðổ)


Cũng có hôm anh ghé qua phố hoang tàn mà anh cảm thấy quen thuộc như đã có lần tới. Câu ca khá hàm hỗn. Thế thì thật ra anh đã từng đến phố ấy nên có cảm tưởng quen quen, hay chưa từng đến nhưng đối với anh phố nào thì cũng hoang tàn thế thôi:

Bỗng một hôm qua phố hoang tàn
Tôi quen như tôi đã có lần.
(Gần Như Niềm Tuyệt Vọng)


Con người sầu khổ, cô đơn và bơ vơ ấy lòng ngổn ngang trăm mối, đứng ngồi không yên, không biết đi đâu, về đâu. Về phố xưa nằm xuống tưởng mình đã chết bên cạnh cánh đồng vắng nhé. Ðồng vắng hay bãi tha ma! Hay lên phố cao nguyên ngồi xuống nghe tiếng gà gáy trưa, không còn tiếng người, loài người. Ngồi chán, một mình đứng dậy lầm lũi bước hoài. Hay lần mò đến con phố xa – phố đã biến thành một loài thú, con phố, một lối nói hơi lạ, con phố đã bỏ đi xa - trong đêm khuya đứng ngoài nhìn vào. Hay cứ thử quay về ngồi yên dưới mái nhà:

Về trong phố xưa tôi nằm
Có lần nghe tiếng ru bên vườn
Chợt như xác thân không còn
Và cạnh tôi là đồng vắng
Về trên phố cao nguyên ngồi
Tiếng gà trưa gáy khan bên đồi
Chợt như phố kia không người
Còn lại tôi bước hoài
...
Nhiều khi đứng riêng ngoài
Nhiều đêm muốn đi về con phố xa
Nhiều đêm muốn quay về ngồi yên dưới mái nhà.
(Lời Thiên Thu Gọi)


Phố phường không còn là nơi trú ẩn, không còn là chốn về ấm cúng, dù loài người có còn đó đi nữa. Không, chỉ còn những mặt người thôi, chứ không phải con người, làm cho phố hoang mang. Mà sao lại mặt người? Hai tiếng đó có thể gây liên tưởng đến thành ngữ “mặt người dạ thú” hay không:

Có nỗi bùi ngùi bay đi thầm lặng
Có những mặt người giữa phố hoang mang.
(Bay Ði Thầm Lặng)

Thì về đâu?
Không lẽ về bên núi nghe đá ngậm ngùi!
Cuồng phong cánh mỏi
Về bên núi đợi
Ngậm ngùi ôi đá cũng thương thay.
(Chiếc Lá Thu Phai)


Không lẽ về cõi chiêm bao, cồn bãi hoang vu!

Anh đi đâu về đâu?
Về cõi chiêm bao
Lìa những cơn đau
...
Anh đi đâu về đâu?
Ngọn gió hư hao thổi suốt đêm thâu
Ðời sẽ lênh đênh nơi nao
Cồn bãi hoang vu bạc đầu
(Có Một Ngày Như Thế)


Thế nhưng cũng có lần bàn chân, chứ không phải chính bản thân con người lạc lõng ấy, theo quán tính, mang thân xác anh đi trở lại phố phường. Anh thấy phố xa lạ nhiều, thấy người ta như sóng lao xao trên biển rộng mà mình chỉ đứng trên bờ trông ngóng:

Mười năm sau áo bay đường chiều
Bàn chân trong phố xa lạ nhiều
...
Có lần bàn chân qua phố
Thấy người sóng lao xao bờ tôi.
(Có Một Dòng Sông Ðã Qua Ðời)


Phố phường thân yêu thuở nào, những bạn bè chào nhau quen tiếng, phố em qua gạch ngói quen tên, những phố xưa quen biết tên bàn chân, có mặt đường vàng hoa như gấm, có không gian màu áo bay lên, có em đi tà áo phiêu bồng, có những hàng quán xôn xao, có món ăn quen, có ly chè thơm, có én nô đùa, có đèn đêm thao thức ... nghĩa là có biết bao nhiêu là “phẩm vật của trần gian”, rốt cuộc đã trở thành phố lạ, phố xa, phố hoang tàn, phố hoang mang. Con sâu của thành phố biết đi về đâu? Ðó là tấn bi kịch của Trịnh Công Sơn, của một kiếp sống lưu đày ngay trên quê hương của mình.

Edited by user Saturday, May 30, 2015 6:46:04 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#100 Posted : Saturday, May 30, 2015 6:44:27 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

Phác Thảo Chân Dung Tôi

Trịnh Công Sơn

UserPostedImage



Mỗi sáng nhìn vào mặt gương soi lại thấy thêm rất nhiều những sợi tóc bạc...

Thuở ấy, tôi là một đứa bé thích ca hát. Mười tuổi biết solfège, chép lại những bài hát yêu thích đóng thành tập, chơi đàn mandolin và sáo trúc. Mười hai tuổi có cây đàn guitar đầu tiên trong đời và từ đó sử dụng guitar như một phương tiện quen thuộc để đệm cho chính mình hát.

Tôi không đến với âm nhạc như một kẻ chọn nghề. Tôi nhớ mình đã viết những ca khúc đầu tiên từ những đòi hỏi tự nhiên của tình cảm thôi thúc bên trong... Ðó là những năm 56 - 57, thời của những giấc mộng ngổn ngang, của những viễn tưởng phù phiếm non dại. Cái thời tuổi trẻ xanh mướt như trái quả đầu mùa ấy, tôi rất yêu âm nhạc nhưng tuyệt nhiên trong tôi không hề gợi lên cái ham muốn trở thành nhạc sĩ...

Dạo ấy ba tôi đã mất, mẹ tôi ở xa, tôi một mình giữa Sài Gòn này phải tự quyết định mọi chuyện về đời mình. Cái gánh đời tuổi tác còn quá nhẹ. Có lúc tôi đã bỏ dở cái trò lãng mạn viết lách này với nỗi ám ảnh ngu ngốc "xướng ca vô loại". Tôi trằn trọc đêm này qua đêm khác, ray rứt ngày này qua tháng nọ. Nhưng càng cố lãng quên thì tiếng hát trong tôi càng vang lên rõ rệt, tràn ngập cả lúc đứng ngồi, cả trong giấc ngủ.

Dần dà những năm về sau, mới bắt đầu hình thành trong tôi một quan niệm rõ rệt: Sống là sống với người khác và muốn có cảm thông chúng ta phải luôn luôn diễn đạt mình. Trong những cách diễn đạt bằng tiếng nói, bằng chữ viết và nhiều phương tiện khác, tôi thấy tâm hồn mình có khuynh hướng nghiêng về phía ca khúc. Trên mảnh đất nghệ thuật nhỏ nhắn này, tôi tìm thấy tự do và tôi nghĩ rằng ở đây tôi có thể bày tỏ được với người khác về những niềm vui nỗi buồn của cuộc sống.

Nhìn lại quãng đường mình đã đi, tôi cảm thấy không có gì phải ân hận. Tôi vẫn là đứa trẻ thơ trong nghệ thuật, lòng còn tràn đầy cảm hứng. Tôi vẫn còn ham mê học hỏi quanh mình và còn đủ hào hứng mở ra những cuộc đối thoại, độc thoại với cây cỏ thiên nhiên, với con người qua ca khúc dưới ánh sáng hiền hòa nhân hậu của những ngày tôi đang sống.

Phải chờ đến lúc soi gương nhìn thấy tóc không còn mang mầu xanh cũ nữa, mới nhận ra được hết nỗi khát khao được yêu thương mãi mãi con người vàcuộc sống. Yêu thương con người cũng là yêu thương tiếng hát bởi vì tiếng hát mang trong nó tâm hồn của con người. Tiếng hát sẽ mọc lên xanh tươi trên cuộc đời này như những cây tử đinh hương mọc tràn thơm tho trên những cánh đồng vô tận.

Với ca khúc, tôi là người tình của thiên nhiên, là người bạn của những em bé. Qua ca khúc, tôi đã đến gần và đã đi xa những chuyện tình, đã tham dự những nỗi hân hoan của đời người và cũng đã gánh nhẹ giùm những phiền muộn.

Ca khúc là đời sống thứ hai sau cái thân thể mà cha mẹ đã sinh thành...

Trịnh Công Sơn
(Trích từ Nhạc và đời - NXB Tổng hợp Hậu Giang)

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Users browsing this topic
Guest (6)
7 Pages«<34567>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.