Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

108 Pages«<8586878889>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Ngoc N Hao  
#1721 Posted : Friday, June 6, 2014 11:46:54 AM(UTC)
Ngoc N Hao

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
VỀ LẠI SÀI GÒN

UserPostedImage

Mai ta về lại Sài Gòn
Đường xưa phố cũ vẫn còn có em
Có hàng me nhớ tóc mềm
Phượng rơi áo trắng bên thềm đắm say
Em đừng rời bỏ mây bay
Bỏ quên guốc mộc vòng tay ân tình
Đừng quên dáng nhỏ em xinh
Quyện trong tà áo đoan trinh ngọc ngà
Đừng quên tóc vấn đuôi gà
Thuở xưa mẹ dạy em tà lụa yêu
Đừng quên sông nước hắt hiu
Bờ quên bờ nhớ chắt chiu lở bồi
Đừng quên câu hát tao nôi
Nuôi con cơm mớm, hồng môi ngọt ngào
Đừng quên nắng gió Hạ Lào
Hóa thành điệu võng, ca dao sớm chiều
Sao em mệnh số nàng Kiều
Bước chân lạc lõng ít nhiều đắng cay
Quê hương em đợi một ngày
Đón em về lại chốn này như xưa...

Như Thương
thanks 1 user thanked Ngoc N Hao for this useful post.
Hạ Vi on 6/9/2014(UTC)
phamlang  
#1722 Posted : Friday, June 6, 2014 7:23:15 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,543

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Sàigòn đâu cần nhập tịch

Vũ Thế Thành


UserPostedImage


Đã nhiều lần tôi ước mình sinh ra đâu đó ở miền quê, có sông suối, núi đồi, vườn cây hoa lá, để lâu lâu về quê lại có những “đêm buồn tỉnh lẻ”, về Sàigòn kể chuyện làm quà ra cái điều lãng mạn.

Sinh ra, lớn lên và sống gần hết đời ở cái đất Sàigòn này mới thấy nó chán phèo. Hồi nhỏ thì chơi tạc lon, đánh đáo, giựt cô hồn…Thả diều không được vì ông già Mười, nhà có xe hơi xách baton rượt, sợ vướng dây điện. Tụi tui lấy kẹo cao su gắn dính vô chuông cổng nhà ổng rồi bỏ chạy. Lớn hơn chút nữa thì chơi bầu cua, cát tê, xập xám,…

Mỗi tối mẹ sai tôi xách thùng rác ra gốc me ngoài đường đổ. Tối cúp điện, tôi vừa xách thùng rác vừa nghêu ngao: “…Đường về hôm nay tối thui, gập ghềnh em không thấy tui, em đụng tui, em nói tui đui…”. Tội nghiệp bản “Kiếp nghèo” của Lam Phương, tôi chỉ cám cảnh a dua hát theo chứ đâu biết sửa lời. Trời nóng, để tạm thùng rác ở gốc me, chạy ra phông- tên nước gần đó, năn nỉ mấy chị ma-ri-sến gánh nước thuê, cho em thò cái đầu vô vòi nước một chút. Mát đầu có sức quậy tiếp.

Xóm nhỏ đôi khi lầy lội. Thỉnh thoảng mấy bà trong xóm cũng cãi nhau ầm ĩ. Hôm sau hai ông chồng lại ngồi khề khà nhậu với nhau, còn mấy bả đon đả tiếp mồi. Cãi nhau là chuyện nhỏ, chuyện hôm qua cho nó qua luôn. Đời sống nghèo ở Sàigòn là vậy, có gì thơ mộng đâu?

Mà nói thiệt, tôi là dân Bắc kỳ…chín nút. Nhưng đó là chuyện của ba má tôi, dù sau này có về thăm quê nội ngoại tôi vẫn thấy hụt hẫng và hờ hững thế nào ấy. Tôi lớn lên ở Sàigòn, không khí Sàigòn, cơm gạo Sàigòn, đầu Sàigòn, tim Sàigòn,… bao nhiêu thứ buồn vui với nó. Trong tôi cứ bám riết cái Sàigòn chán phèo này, dù đôi lúc mặc cảm mình không phải là dân Sàigòn.

Hồi 54, cả trăm ngàn dân di cư mang theo đủ loại kiểu sống bó trong lũy tre làng đem nhét hết vô mảnh đất nhỏ xíu này, cũng gây xáo trộn cho người ta chứ. Phong tục, tập quán, ở đất người ta mà cứ như là ở đất mình. Nhưng người Sàigòn chỉ hiếu kỳ một chút, khó chịu một chút, rồi cũng xuề xòa đón nhận.

Lúc đầu tụi bạn ghẹo tôi là “thằng Bắc kỳ rau muống”. Con nít đổi giọng nhanh mà, trong nhà giọng Bắc, ra ngoài giọng Nam. Thế là huề hết. Rủ nhau đi oánh lộn phe nhóm là chuyện thường. Khỏi cần biết đúng sai, mày đánh bạn tao, thì tao đánh lại, Oánh lộn tưng bừng. Vài ngày sau lại rủ nhau đi xem xi nê cọp. Dễ giận dễ quên.

Hè, tụi bạn về quê, Bến Lức, Vĩnh Long, Kiến Hòa… cũng chia tay hứa hẹn, tình cảm ra rít: “ Tao về quê sẽ mang lên cho mày ổi xá lỵ, xoài tượng…”. Tôi ngóng cổ chờ bạn, chờ quà. Thực ra, tôi thèm có quê để về.

Tết đến, thầy cô, bạn bè về quê, nhiều người Sàigòn xôn xao về quê. Tôi ở lại Sàigòn mà thấy hình như mình vẫn không phải là dân Sàigòn. Vây ai là dân Sàigòn chính hiệu đây? Chẳng lẽ phải tính từ thời mấy ông Pétrus Ký hay Paulus Của?

Sàigòn trẻ măng, mới chừng hơn 300 tuổi tính từ thời Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền ở đây. Sàigòn khi cắt ra khi nhập vào, to nhỏ tùy lúc. To nhất có lẽ khi nó là huyện Tân Bình, kéo dài đến tận vùng Biên Hòa. Nhỏ nhất là vào thời Pháp mang tên Sàigòn. Ngay trước 1975, Saigòn rộng chừng 70 km2, có 11 quận, từ số 1 đến 11. Hồi đó Phú Nhuận, Tân Bình, Thủ Đức,.. còn được xem là nhà quê (tỉnh Gia Định). Bây giờ Sàigòn rộng tới 2.000 km2.

Sàigòn đắc địa, có cảng nối biển, là đầu mối giao thương quốc tế, tiếp cận với văn minh Tây phương sớm. Đất lành chim đậu. Người miền Nam đổ về nhiều. Dân Sàigòn không có địa giới rõ rệt. Nói tới họ có vẻ như là nói tới phong cách của dân miền Nam. Họ là những lưu dân, khai phá, hành trang không có bờ rào lũy tre nên tính tình phóng khoáng, trọng nghĩa khinh tài, nói năng bộc trực… Ai thành đại gia thì cứ là đại gia, ai bán hàng rong thì cứ bán.

Sàigòn không tự hào mình là người thanh lịch, không khách sáo, không mời lơi. Họ lấy bụng thiệt mà đãi nhau. Sàigòn có mua bán chém chặt? Có, đúng hơn là nói thách. Cứ vô chợ Bến Thành xem mấy bà bán mỹ phẩm, hột xoàn hét giá mát trời ông Địa luôn. Đối tượng nói thách của họ là khách hàng, chứ không cứ gặp khách tỉnh mới nói thách. Dân Sàigòn lơ mơ cũng mua hớ như thường. Thuận mua vừa bán mà.

Ít nơi nào nhiều hội ái hữu, hội tương tế, hội đồng hương như ở Sàigòn. Dân tứ xứ về đây lập nghiệp nhiều. Có máu lưu dân trong người, dân Sàigòn thông cảm đón nhận hết, không ganh tị, không thắc mắc, không kỳ thị. Người ta kỳ thị Sàigòn, chứ Sàigòn chẳng kỳ thị ai. Nhiều gia đình người Bắc người Trung ngại dâu ngại rể Sàigòn, chứ dân Sàigòn chấp hết, miễn sao ăn ở biết phải quấy là được

Dân Sàigòn làm giàu bằng năng lực hơn là quyền lực. Người ta nói “dân chơi Sàigòn”. Trời đất! Sàigòn mà “tay chơi” cái nỗi gì. Tay chơi dành cho những đại gia mới giàu lên đột xuất từ đâu đó đến. Đổi đời, Sàigòn biết sợ. Sàigòn a dua thì có, nhưng a dua biết chọn lọc. Coi vậy chứ dân Sàigòn đâu đó còn chút máu “ kiến nghĩa bất vi vô dõng giả”. Cứ xem dân Sàigòn làm công tác xã hội thì biết, cứu trợ lũ lụt thấy người ta lạnh quá, cởi áo len đang mặc trên người tặng luôn. Họ làm vì cái bụng nó thế, chứ không phải vì PR, đánh bóng bộ mặt.

Biết bao văn nghệ sĩ miền Bắc, miền Trung vào đất Sàigòn này “quậy” tưng, tạo ra cái gọi là văn học miền Nam hậu 54 coi cũng được quá chứ? Nhạc sĩ Lam Phương, quê Rạch Giá, 10 tuổi đã lưu lạc lên Sàigòn kiếm sống. Năm 17 tuổi nổi danh với bản “Kiếp nghèo” và khá giả từ đó.

Tiếp cận văn minh phương Tây sớm, nên dân Sàigòn có thói quen ngả mũ chào khi gặp đám ma, xe hơi không ép xe máy, xe máy không ép người đi bộ, chạy xe lỡ va quẹt vào nhau, giơ tay chào ngỏ ý xin lỗi là huề. Những thói quen này giờ đây đang mất dần, nhưng dân Sàigòn không đổ thừa cho dân nhập cư. Họ cố gắng duy trì (dù hơi tuyệt vọng) để người mới đến bắt chước vì lợi ích chung. Chợ hoa là một chút văn hóa của Sàigòn, có cả nửa thế kỷ nay rồi, có dân nhập cư nào “yêu” hoa mà ra đó cướp giựt hoa đâu.

Sàigòn nhỏ tuổi nhiều tên, nhưng dù thế nào Sàigòn vẫn là Sàigòn. Nhiều người thành danh từ mảnh đất Sàigòn này. Sàigòn nhớ không hết, nhưng mấy ai nhớ đến chút tình của Sàigòn? May ra những người xa Sàigòn còn chút gì nhức nhối. Tôi có người bạn Bắc kỳ chín nút, xa Việt Nam cũng gần 40 năm. Tên này một đi không trở lại, vừa rồi phone về nói chuyện lăn tăn, rồi chợt hỏi: “ Sàigòn còn mưa không?”. “Đang mưa”. Đầu phone bên kia thở dài: “Tao nhớ Sàigòn chết…mẹ!”. Sàigòn nay buồn mai quên, nhưng cũng có nỗi buồn chẳng dễ gì quên.

Mới đây đi trong con hẻm lầy lội ở Khánh Hội, chợt nghe bài hát “ Kiếp nghèo” vọng ra từ quán cà phê cóc ven đường. Tôi ghé vào gọi ly cà phê. Giọng Thanh Thúy sao da diết quá : “Thương cho kiếp sống tha hương, thân gầy gò gởi theo gió sương…”. Chủ quán, ngoài 60 cầm chồng báo cũ thẩy nhẹ lên bàn “ Thầy hai đọc báo…”. Hai tiếng “thầy hai” nghe quen quen…Tự nhiên tôi thấy lòng ấm lại. Sàigòn từ tâm, Sàigòn bao dung. Tôi chợt hiểu ra, mình đã là người Sàigòn từ thưở bào thai rồi, cần gì xin nhập tịch.


Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 6/8/2014(UTC)
Hạ Vi  
#1723 Posted : Sunday, June 8, 2014 6:34:16 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,589
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)
.


UserPostedImage

TRÚC MAI.

thụyvi
(với chương trình Con Người, Và, Những Chuyện Chung Quanh )




vào khoảng thập niên 1950 tại miền nam Việt Nam, ca sĩ chỉ đếm trên đầu ngón tay, và một trong những ca sĩ đẹp, hát hay thời đó mà thụyvi sẽ kể hôm nay đó là nữ ca sĩ TRÚC MAI.
Thưa quý vị, khi soạn tư liệu để viết về người nữ ca sĩ này, thú thật là chưa có một người nào viết về tiểu sử của cô, cuối cùng, chỉ tìm được trên trang của Julie Quang có mấy hàng Trúc Mai kể đại khái về mình như sau:

“ Trong trí nhớ của tôi miền nam Việt Nam có một thời yên bình , nên Saigon rất phồn thịnh. tôi lớn lên trong một gia đình nghèo nhưng không túng thiếu, nhà tôi ở trong một xóm đạo , năm 12 tuổi tôi gia nhập ca đoàn nhà thờ nên biết mình có khả năng ca hát . Cái duyên với âm nhạc đến thật tình cờ như một định mệnh được đặt ra để tôi cứ thế mà đi....”

“Những năm cuối thập niên 50 miền nam Việt Nam ngoài trường Quốc Gia âm nhạc thì không có trường tư nào đào tạo ca nhạc sĩ.... mãi đến những năm sau này mới xuất hiện những lò đào tạo như...ban Tuổi xanh của Kiều Hạnh , ban Nguyễn Đức , ban Trịnh Toàn ( dạy ca múa )trong lĩnh vực này ông đào tạo vũ đoàn "liên minh phượng" gồm 5 cô tuyệt đẹp với khả năng ca múa ...thế hệ ca sĩ chúng tôi phần đông do có năng khiếu và tự luyện, thường phải tập luyện cho quen với âm thanh của tiếng đàn dưới sự hướng dẩn của một ngưòi Thầy ,hay được sự dìu dắt bởi đàn anh đàn chị văn nghệ . Trong thời gian đó, hầu hết các ca sĩ đều xuất thân từ những ban văn nghệ quân đội, như ban Tâm lý chiến có Kim Vui , Minh Tuyết ( chị của 2 con mèo Uyên Ly &Kim Anh ) trong ban Công Binh có Lệ Thu, ban Quân cụ có Tuyết Hương, ban Thiết Giáp có Thanh Thúy , Bích Chiêu . ...Tôi nhớ, sau đó, vào tháng 6 năm 1959 tôi từ giã sân chơi ở các ban ngành trong quân đội, và tôi gia nhập hàng ngũ với các đồng nghiệp đi trước....tôi bước vào thế giới ánh đèn màu của vũ trường phòng trà ca nhạc . Tôi muốn được công nhận là một ca sĩ chuyên nghiệp” vì thế tôi chọn phòng trà Hoà Bình là điểm tiến thân.

Nhắc đến phòng trà Hoà Bình, những người sống tại Saigon vào thời thủ đô còn được mệnh danh là " Hòn ngọc viễn đông" hẳn còn nhớ ngay trên đường Phạm Ngũ Lão trước đấy, nơi này, là trạm xe lửa, sau họ biến thành phòng trà Hòa Bình. Địa điểm của Hòa Bình thật lý tưởng, nằm ngay mũi tàu chỉa vào bùng binh tượng nữ sinh Quách thị Trang ngay trước chợ Bến thành. Trên lầu là phòng trà ca nhạc, tầng trệt là nơi giữ xe hai bánh. Người ta tìm đến đây để được nghe nữ ca sĩ Bích Chiêu (chị của ca sĩ Tuấn Ngọc) thổi hồn nhạc jazz vào những ca khúc trữ tình, trong đó bài hát Nỗi lòng của Nguyễn Văn Khánh được coi là ca khúc thành công nhất của Bích Chiêu.

Nhưng phòng trà Hòa Bình không phải chỉ có một Bích Chiêu mà còn có nam ca sĩ Cao Thái, với làn hơi dài đã chinh phục người nghe bằng những bài hát ngoại quốc mà tiêu biểu nhất là bài Mexixo.Ở đây, còn có thêm một Trúc Mai mà chất truyền cảm khó có giọng hát nào sánh được trong những ca khúc mang điệu bolero – rumba. Tuy nhiên, theo như ông Hồ Trường An còn nói Trúc Mai có một nhan sắc để đàn ông thương mến nhưng chỉ đứng xa nhìn, chứ không dám bởn cợt. Cô có vóc vạc không cao không thấp, khuôn mặt tròn, sống mũi dọc dừa, cặp mắt lóng lánh ánh thu ba.... Thuở đó, các phụ nữ Sài Gòn theo thời trang sát nút thường vẽ cặp mày dầy cỡ 5 ly để được giống Elizabeth Taylor, nhưng Trúc Mai vẫn tỉa cặp mày hơi mỏng, uốn theo nét cong của đôi mắt. Ông ấy còn so sánh, giữa lúc Thái Thanh đeo cả một hiệu kim hoàn vào người để xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu, thì, Trúc Mai chỉ đeo loại nữ trang rất mỏng manh ,Trúc Mai không ăn diện theo nữ sinh mà cũng không ăn diện theo kiểu nghệ sĩ. Cô ăn diện theo các thiếu nữ thuộc giai cấp trung lưu vừa rời khỏi nhà trường để trở thành các công chức, các cô giáo dạy các trường trung tiểu học. Thuở đó, phụ nữ ưa mặt áo in những bông hoa không rõ nét. Trúc Mai trái lại mặc áo dài chỉ một màu thuần nhất, không in hoa, không thêu hoa, và cũng không đính sao lấp lánh. Tuy thế, cô vẫn chọn màu tươi sáng để may mặc, Cách ăn mặc và trang điểm của cô dù trên sân khấu nhỏ của phòng trà hay trên sân khấu lớn trong chương trình Đại nhạc hội, màu áo và nhân dáng của cô chẳng những không bị ánh đèn nuốt chững mà trái lại chúng còn lồ lộ vẻ thắm thiết và tươi tắn, biến cô thành một bông hoa nổi bật trên nền huyết dụ của bức màn nhung.

Người ta còn nhớ, hồi còn cộng tác với phòng trà Hòa Bình, Trúc Mai nổi tiếng qua bản “ Bambino ”, một bản ruột của danh ca Dalida. Bản này cũng đã được Kim Vui và Tuyết Hương hát, vậy mà chỉ có Trúc Mai được khán thính giả tán thưởng và được báo chí nói tới dù tiếng hát của Kim Vui rất là vang lộng. Có lẽ khi hát bản nầy, ngoài giọng hát dễ thương ra, Trúc Mai còn có dáng dấp tươi trẻ, khuôn mặt thật xinh xắn dễ thương chăng ? Tiếng hát của Trúc Mai thanh thanh và mỏng nhẹ. Cách trình bày các bản nhạc khác ngoài bản “ Bambino ” cô hát rất dễ dàng giống như thờ ơ uể oải.... Có lẽ cô tin tưởng ở tiếng hát của mình vốn đã có sẵn tính chất gợi cảm rồi, cô cần chi than van nức nở, cần chi ưỡn ẹo làm nũng làm duyên với khán thính giả. Cô cũng ngân nga ; chuỗi ngân kéo dài tới đâu cô cũng chẳng quan tâm. Khán thính giả sở dĩ yêu mến giọng hát của cô ở chỗ thanh ngọt như nước cam vắt pha mật ong mà không một dấu vết điệu đà nũng nịu nào. Và khi cô hát, cô cũng không cười cầu tài với khán giả, cũng chẳng liếc mắt tống tình với phe mày râu, cũng chẳng làm mặt đưa đám ma khi hát một bài ai oán não nùng. Cô chỉ tạo một niềm vui đằm thắm, một chút ánh sắc linh hoạt trên khuôn mặt điềm đạm của mình. Dường như cô hát cho cô, chứ không nhắm vào một đối tượng nào, một thành phần nào để hát....

Sau 40 năm qua, nhắc tới Trúc Mai trong một cuộc điện đàm, nữ ca sĩ Quỳnh Giao còn cho biết: “ Theo Quỳnh Giao, Trúc Mai hát khá hơn một cô ca sĩ sinh viên đã từng nổi tiếng từ 1962 trở về sau. Chị ấy hát trước sau bằng giọng thật, không bẻ qua giọng mái. Giọng Trúc Mai ấm áp. Ngặt một nỗi chị ấy cứ chọn hát các ca khúc theo thể điệu Bolero, nên khán thính giả sành điệu không biết được cái đẹp của giọng hát chị ấy ”.... Mặc dù ca sĩ Quỳnh Giao nói như thế, nhưng nếu chúng ta chịu khó nghe lại những ca khúc điệu Boléro thì thụyvi lại thấy giọng hát của Trúc Mai khiến những điệu này trở nên sang cả lạ thường!

Ca sĩ Trúc Mai, khi hát đã là một dáng dấp sang cả, thì đời thường của cô cũng khiến ca sĩ Khánh Ly trong một bài viết đã tả như sau: " Hàng đêm, tôi ngồi một góc lén nhìn chị Trúc Mai đẹp, qu ý ph ái như một mệnh phụ. Chị Kim Chi đẹp như... đầm lai. Hai chị ngồi với nhau, chủ, khách và bồi bàn rối rít xúm quanh hầu hạ. Ngàn đời sau, tôi không bao giờ quên cái cử chỉ thanh thoát của chị Trúc Mai khi ăn xong môt trái nhãn, chị khẽ khàng dùng chéo khăn bàn... lau mấy ngón tay, mặt vẫn ngẩng cao, mắt nhìn thẳng và rất nghiêm. Tôi cứ ngồi chiêm ngưỡng các bậc đàn chị như thế đêm này qua đêm khác. Không ganh tỵ - không mơ ước. Điều đặc biệt là các chị chưa bao giờ tỏ ý xem rẻ tôi, trái lại đôi khi trong những lời hỏi thăm, tôi cảm thấy được sự thương cảm, tội nghiệp... khiến tôi ấm lòng và giữ mãi sự kính trọng cho đến bây giờ....

Vào năm 1965, trong một buội Đại nhạc hội do ông bầu Duy Ngọc tổ chức, Trúc Mai đã làm cho giới yêu nhạc phải bàng hoàng sửng sốt khi hát bài “ Hàn Mặc Tử ” của Trần Thiện Thanh. Khi cô hát dứt, tiếng vỗ tay, tiếng la hét tán thưởng nổi lên như dậy sóng li ên hồi. Vài hôm sau, báo chí nồng nhiệt ca tụng cô. Tuy bài HÀN MẶC TỬ không có phẩm chất g ì đặc biệt nhưng cô diễn tả bằng một giọng hát đằm thắm, bằng một ý tình súc tích, bằng một sắc thái gợi cảm, một cách tiềm ẩn và thâm thúy. Bài hát này tháp vào tên tuổi cô như Tôn Hành Giả c ó ph ép đằng vân để c ô bay lên đỉnh danh vọng cao chót vót mà tới nay chưa có người nào thay thế cô hát bài này.

Không ai lấy làm lạ rằng về sau, Trúc Mai ưa hát các ca khúc theo thể điệu Bolero của Trần Thiện Thanh, Hoài Linh, Minh Kỳ, Anh Bằng, Lê Dinh, Anh Chương, Anh Thy ..v..v.. . Ở bài “ Tuyết Trắng ” của Anh Chương, cô hát cũng khá quyến rũ. Cho nên càng lúc cô càng xa những nhạc phẩm có giá trị. Tuy c ác nhạc phẩm theo thể điệu bolero đã đưa tiếng hát cô đi sâu vào tâm hồn quần chúng, đi sâu vào niềm ái mộ của họ, tiếc thay chúng cũng trì níu cặp cánh của tiếng hát đó, không cho nó bay lên giới sành điệu và không cho nó trở lại những nhạc phẩm có giá trị về chiều sâu....

Tiếng hát của Trúc Mai êm như mộng đẹp, lộng lẫy sắc màu như cõi ảo tưởng của những kẻ đang độ yêu đương, đang độ nhìn đời qua những trang sách thần tiên. Tiếng hát đó có cái sang trọng quý phái riêng, có cái trong ngời làm người nghe thanh thản. Họ nhìn thấy chung quanh mình ánh nắng thêm tươi vàng, cỏ cây thêm thắm biếc, bông hoa thêm ý nhị, con người thêm dễ thương. Dù cô hát những bản buồn đi nữa thì nỗi buồn trong bài hát quá mơ hồ cho nên thính giả chỉ tìm gặp cái đằm thắm ý tình ở trong ấy mà thôi..... Nó đến với chúng ta bằng cơn gió không phơi phới xôn xao, cũng không thê thiết lạnh lùng mà chỉ hiu hiu mỏng nhẹ mơn trớn tà áo thiếu nữ, âu yếm vuốt mái tóc bồng của chàng thi sĩ mới sáng tác những bài thơ như trái chín đầu mùa.

Trúc Mai đem tiếng hát dễ thương của mình ra hải ngoại để ca hát thêm 15 năm nữa rồi Cô giải nghệ .... Nhưng đâu đó, tiếng hát của cô rải rác trong một số băng nhạc hùng hậu của các trung tâm ở hải ngoại. Nó vẫn còn gợi lại cho họ thời tân nhạc bắt đầu đi sâu vào t âm hồn mọi người..

Ngoài điệu BOLÉRO, Giọng hát Trúc Mai lại rất lôi cuốn với thể điệu Mambo, chẳng thế mà một thời báo giới mệnh danh cô là nữ hoàng Mambo đấy sao!

thụyvi kính mời quý thính giả thưởng thức bản Bambino lời Việt của Tô Huyền Vân qua giọng hát của nữ ca sĩ Trúc Mai.

http://www.youtube.com/watch?v=ds0kMtX5as0

thụyvi xin trân trọng cảm ơn sự theo dõi của quý vị và xin hẹn vào chương trình kỳ tới với đề mục NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐI BÊN CẠNH HỌC GIẢ NGUYỄN VĂN VĨNH. Trước khi chấm dứt chương trình, nhân đây, mời chúng ta cùng nghe lại bản Saigon Thứ Bảy của nhạc sĩ Anh Bằng mà thưở đó trong giới báo chí ca tụng tiếng hát của Trúc Mai đã ghi một vết son tươi thắm trong lịch sử ca nhạc của miền Nam Việt Nam.



http://www.nhaccuatui.co...truc-mai.uAAKVQVO0d.html



.

Edited by user Sunday, June 8, 2014 6:35:48 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 6/15/2014(UTC)
Hạ Vi  
#1724 Posted : Tuesday, June 10, 2014 5:33:41 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,589
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage





UserPostedImage
tieng Viet  
#1725 Posted : Thursday, June 12, 2014 3:12:51 PM(UTC)
tieng Viet

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 515

Thanks: 1041 times
Was thanked: 464 time(s) in 237 post(s)
Chia tay trung vệ tài hoa Tam Lang
Saturday, 07 June 2014

Sáng Thứ Hai 2-6-2014, cựu thủ quân Phạm Huỳnh Tam Lang của đội banh quốc gia Việt Nam Cộng Hòa đã qua đời trên đường đến nhà thương Chợ Rẫy (Quận 5 Sài Gòn) cấp cứu, thọ 72 tuổi. Tên tuổi ông gợi nhắc một thời vang bóng của nền đá banh VNCH nhiều tài hoa và thành công. Tam Lang gốc người Gò Công, sớm nổi tiếng từ thời đá banh học đường, chơi vị trí trung vệ trong màu áo trường Trung Học Petrus Ký thời cuối thập niên 1950. Từ năm 18 tuổi, Tam Lang đã được gọi vào đội banh quốc gia VNCH, dần dần với uy tín được chọn giữ vai thủ quân. Dưới sự chỉ huy của Tam Lang, đội banh Việt Nam Cộng Hòa đã giật cúp Merdeka năm 1966, đá bại Miến Điện 1–0 trong trận chung kết (giải Merdeka thường niên mừng lễ Độc Lập của Mã Lai, những thập niên 1950 đến 1980 được kể vào hàng thế giá bậc nhất Á Đông thời đó).

Có thể nói Tam Lang là một trong những trung vệ cự phách nhất của Việt Nam và cả Á Đông xưa nay. Ngoài sân cỏ, cuộc hôn nhân ngắn giữa Tam Lang và “Cải lương chi bảo” Bạch Tuyết từng khiến hao tốn vô số giấy mực của báo giới một thời. Sau cuộc đổi đời 1975, Tam Lang là một trong vài chân sút tài hoa của miền Nam năm xưa còn tiếp tục gắn bó với nghiệp đá banh. Trong nhiều năm lận đận thời đá banh XHCN, ông huấn luyện đội Cảng Sài Gòn rất được lòng khán giả với phong cách mã thượng, lối chơi kỹ thuật đẹp, nhuyễn, có 4 lần vô địch quốc gia.

UserPostedImage
Tam Lang (giữa) thời trai trẻ trong màu áo đội Cảnh Sát Quốc Gia.

baotreonline
UserPostedImage
thanks 3 users thanked tieng Viet for this useful post.
Duy An on 6/13/2014(UTC), phamlang on 6/15/2014(UTC), Hạ Vi on 6/19/2014(UTC)
Duy An  
#1726 Posted : Friday, June 13, 2014 3:48:58 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,286

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Nhớ thầy Vũ Khắc Khoan


Ðào Ngọc Phong

Năm 1953, tôi học đệ thất trường Chu Văn An Hà Nội, năm 1954 di cư vào Sài Gòn học ba năm đệ lục, đệ ngũ, đệ tứ trường Nguyễn Trãi. Sau kỳ thi Trung Học đệ nhất cấp tôi lại trở về trường Chu Văn An năm 1957 học ba năm cuối cùng đệ tam, đệ nhị, đệ nhất và rời trường năm 1960.

Lớp đệ tam B2 nằm ở lầu hai ngay cầu thang. Cứ mỗi lần kẻng báo hiệu giờ học thì cả thầy lẫn trò đều cùng từ dưới nhà leo cầu thang lên lầu. Một tuần hai ba lần tôi bước sau thầy Vũ Khắc Khoan, dáng người thấp nhưng vạm vỡ, khuôn mặt như tượng đồng, mái tóc hơi gợn sóng. Thầy không dạy lớp tôi, nhưng tôi đoán thầy chẳng bao giờ cười. Nhiều bạn tôi học thầy môn Sử Việt cho biết cả một năm thầy chỉ dạy về Hòa ước 1884 mà vẫn chưa hết. Cứ mỗi lần đi sau thầy trên cầu thang, tôi lại nghĩ “ đây là ông Thần Tháp Rùa, đây là người đợi Giao Thừa.” Hồi còn ở Hà Nội, bố tôi thường mua nguyệt san Phổ Thông trong đó tôi được đọc Kịch Giao Thừa, Thằng Cuội Ngồi Gốc Cây Ða của thầy Vũ Khắc Khoan. Hồi đó mới học đệ thất, tất nhiên đọc mà chẳng hiểu gì nhưng ký ức về nhà viết kịch đã hằn sâu trong tâm khảm. Ðến năm 1958-1959 lên đệ nhất trí óc trưởng thành đôi chút, đã tìm đọc Thần Tháp Rùa (xuất bản 1957), Vụ án Nhân Văn Giai Phẩm do Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hóa xuất bản 1959 dưới tựa đề “Trăm Hoa đua nở trên đất Bắc.”


UserPostedImage
Thầy Vũ Khắc Khoan. (Nguồn: Google)


Trong tập truyện Thần Tháp Rùa có truyện Trương Chi, trong “Trăm Hoa” có truyện “Con Ngựa Già của Chúa Trịnh” tác giả Phùng Cung. Quả thật hồi đó tôi chỉ lờ mờ thấy hình như hai truyện này có một điểm nào đó giống nhau mà không thể nào nêu ra được. Hai tác giả sống ở hai miền dưới hai chế độ tương khắc tương tranh, cả hai không quen biết nhau mà sao tư tưởng gặp nhau.

Từ đó về sau, cứ mỗi lần nhớ đến thầy Khoan là tôi liên tưởng ngay đến Phùng Cung nhưng tâm tư tôi vẫn chưa làm sáng tỏ được sự giống nhau về tư tưởng; cho đến khi sau 1975 thì mọi sự bừng sáng.

Tác giả Phùng Cung kể một câu chuyện từ thời chúa Trịnh. Một người buôn ngựa tên là lão Nông ở làng Phương Lộ dưới chân núi Tản Viên (núi Ba Vì thuộc trấn Sơn Tây xưa), hẻo lánh xa kinh kỳ. Lão Nông tậu được một con ngựa quí thắng mọi trận đua trong vùng. Vì lông nó trắng như bông nên lão đặt tên nó là Kim Bông. Thời đó Chúa Trịnh đang thành lập một đội kỵ binh hùng hậu, nghe tiếng đồn con Kim Bông là tuấn mã, bèn cho Mã quan trưng dụng về. Từ khi về phủ Chúa, con Kim Bông không còn phải ăn cỏ núi, uống nước suối mà được ăn thóc thượng hạng trộn mật ngọt bùi, nhai những bó lá trúc thơm sậm sựt. Nó được lính hầu tắm, chải lông mượt mà, được khoác những bộ dây cương sang trọng, và được... đóng hai miếng sắt to che hai bên mắt, khiến nó chỉ nhìn thấy một phía. Bây giờ nó không còn được chạy đua trên đấu trường nữa mà được gông cổ vào hai càng xe để kéo xe cho Chúa. Nó vẫn nghĩ tài năng nó còn hùng dũng như xưa, nhưng cứ thế kéo xe hầu Chúa lâu ngày khiến nó đã cùn nhụt mọi sức lực và tài nghệ, đến độ nó gục ngã sớm trong một cuộc đua.

Con Kim Bông tượng trưng cho những văn nghệ sĩ đầy sức sáng tạo khi được tự do sáng tác, nhưng khi trở thành những ông quan văn hóa nghệ thuật quyền cao chức trọng, bổng lộc thừa thãi, suy nghĩ và viết theo chỉ thị thì dần dần đã biến thành những hình nộm không còn tâm hồn.

Trong truyện Trương Chi, tác giả Vũ Khắc Khoan cũng kể một câu chuyện dân gian cổ xưa. Trương Chi được tác giả mô tả là một chàng trai tuấn tú, có thiên khiếu ca hát, lại được thụ giáo một vị thầy âm nhạc nên lời ca chàng sáng tạo sâu xa mà giọng ca lại phong phú quyến rũ mê hoặc lòng người. Một ngày trên đường phiêu lãng, chàng ghé qua một quán rượu ven sông. Chàng ngạc nhiên thấy chủ quán chỉ dọn rượu mà không đồ nhắm, thịt bò thịt gà thịt heo đã không có mà ngay cả cá cũng không. Chủ quán buồn rầu cho biết đó là lệnh của vị trưởng giả họ Trần trong vùng. Tổ tiên vị trưởng giả này có công lớn với triều đình nên con cháu được hưởng lộc thâu thuế trên khúc sông này. Con gái của ông tên Mỵ Nương mê ca hát, được một ả đào ngày đêm hát cho nghe. Chẳng may ả này vì ỷ thế trưởng giả mà nhảy xuống thuyền của một bạn chài đánh người, sảy chân chết đuối. Mỵ nương không có ai ca hát cho nghe nên sinh bệnh. Trưởng giả họ Trần nổi giận trừng phạt phường chài không được đánh cá, khiến cho dân chài cả vùng khốn đốn. Trương Chi nghe kể bất bình, trong lòng nổi lên tình cảm thương xót dân nghèo yếu thế, bèn cất tiếng hát hào sảng thống thiết khiến phường chài mừng rỡ, mang Trương Chi đến nhà trưởng giả thay thế ả đào hát cho Mỵ Nương nghe; và nhờ vậy Trần trưởng giả lại cho phép phường chài đánh cá như xưa. Trần trưởng giả bắt Trương Chi ngồi trong một phòng riêng che kín để giữ gia phong nghiêm ngặt

Chỉ sau hai ngày nghe chàng hát, Mỵ Nương đã say mê muốn được cùng chàng kết duyên phu phụ. Trưởng giả bàn với phường chài làm thế nào cho Trương Chi vẫn hát mà khiến cho tiểu thư ghê sợ. Thế là phường chài bèn bắt chàng che mặt, nói dối tiểu thư là chàng mắc bệnh phong hủi. Nhưng tại sao chàng nghệ sĩ tài hoa kia lại chịu mang tiếng nhục nhã như vậy? Chính vì chàng một lần qua kẽ vải che đã thấy mặt tiểu thư đẹp tuyệt trần sinh lòng si mê nên phải ép lòng làm tôi mọi cho phường chài. Phường chài dùng chàng như một công cụ cho sinh kế của họ.

Nhưng dần dần lời ca, giọng hát của chàng càng ngày càng tệ. Ý tưởng, lời ca hình như càng lúc càng hạ thấp xuống cùng hàng thuyền chài với những đợt cá hàng ngày, những ngôn ngữ chợ búa. Rồi một đêm chàng thức giấc giữa khuya thấy mình mẩy khác thường, đau đớn như sắp lột xác. Chàng lê cái thân đau ra bờ sông soi mặt trong dòng nước. Dưới ánh trăng vằng vặc chàng bỗng kinh hoàng thấy một khuôn mặt cục cằn, trán thấp, mũi tẹt, răng hô, đôi vai thô kệch của một bạn chài suốt đời chỉ thấy cá và cá. Trương Chi ôm mặt khóc nức nở. Chàng đã đánh mất cả tâm hồn lẫn thể xác cho một tình yêu vô vọng. Chàng lặng lẽ bỏ đi mất tăm mất tích.

Cũng như con ngựa già của chúa Trịnh, Trương Chi đã mang thân và tâm mình làm công cụ cho một phường chài mà kết cuộc thê thảm là đã làm mất hết tài năng sáng tạo.

Có sự khác biệt về số phận sau cùng của hai nghệ sĩ: Con ngựa già chết trong nhung lụa sủng ái. Chàng Trương Chi may chưa chết thì đã phản tỉnh và bỏ đi. Ông trưởng giả tượng trưng cho giai cấp tư sản, phường chài tượng trưng cho giai cấp vô sản. Chàng nghệ sĩ họ Trương bị kẹt giữa hai bánh của cái cối xay đá. Nhà văn Vũ Khắc Khoan muốn ám chỉ thân phận “ngột ngạt” của tầng lớp trí thức “chẳng là bên này cũng chẳng là bên kia.” Thế thì chàng bỏ đi đâu, cơ cấu xã hội nào dung chứa được chàng?

Năm 1986, nghe tin thầy Khoan mất ở tiểu bang Minnesota, tôi mừng cho thầy đã ra đi với thân tâm an lạc, thầy không còn phải vướng vào cái nghiệp con ngựa già và chàng Trương Chi. Năm nay 2013, 27 năm sau khi thầy qua đời, học trò nhớ đến thầy như một nhà tư tưởng của tầng lớp trí thức tỉnh táo, vững vàng và sống suốt đời với lập trường của mình.

Cali., ngày 9 tháng 6 năm 2013

UserPostedImage
thanks 2 users thanked Duy An for this useful post.
phamlang on 6/15/2014(UTC), Hạ Vi on 6/19/2014(UTC)
phamlang  
#1727 Posted : Sunday, June 15, 2014 6:26:07 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,543

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Nhớ Phở Xưa Saigon

Phan Nghị


UserPostedImage


Phở là một đặc sản của miền Bắc. Người ta cho rằng nó chỉ mới xuất hiện ở Saigon vào những năm 1951-1952, cùng một thời gian với hai nhà hát ả đào, một ở xóm Monceau và một ở xóm Đại Đồng.

Cả hai thứ ấy đều rất xa lạ với người Saigon thuở đó… Người ta chỉ thích hủ tíu, hoành thánh, bánh xếp nước… Chỉ có độc một tiệm phở được gọi là “Phở Tuyệc”, nằm trên đường Turc (đường Tự Do thời trước) là kiên trì bám trụ.

Phải đợi tới sau năm 1954, phở mới thực sự thực hiện một bước nhảy vọt từ Bắc vào Nam. Phở khởi đầu sự bành trướng của nó vào giữa thập niên 50 tới giữa thập niên 60. Có cả một dãy phố phở nằm trên hai con đường Pasteur và Hiền Vương.

Thơ phở…

Những nhà hàng phở ngon của Saigon thuở ấy nhiều vô số. Nhưng được người ta chiếu cố nhất chỉ có bốn hoặc năm tiệm, trong đó có phở Trần Minh ở hẻm Casino. Trong cái ngõ cụt ấy, ê hề các hàng quà: phở, bún ốc, bún ốc sườn… Từ đầu ngõ, người ta đã chạm trán với khách ẩm thực, kẻ ra người vô tấp nập. Phở Minh ngon thiệt là ngon. Nó không giống như kẹo kéo “ăn một lại muốn ăn hai, ăn ba ăn bốn lại nài ăn năm”. Người ta chỉ có thể ăn một bát để cho nó thòm thèm rồi mai lại ăn nữa! Có một người nghiện phở của ông ta, và nghiện luôn cả truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Đó là ông X, chủ một tiệm giày ở đường Lê Thánh Tôn. Ông vừa ăn phở vừa theo dõi cuộc tình của Triệu Minh – Vô Kỵ, hoặc của Doanh Doanh – Lệnh Hồ Xung trên mặt báo. Và tình bằng hữu giữa ông chủ tiệm giày với ông chủ tiệm phở đã thắm thiết hơn lên nhờ một bài thơ phở của ông chủ tiệm giày. Gọi là thơ phở vì đọc lên nghe thấy… toàn mùi phở. Tuy nhiên nó được làm theo thể Đường thi, và chữ nghĩa đối nhau chan chát. Rất tiếc, người viết chỉ còn nhớ được có bốn câu:

Nổi tiếng gần xa khắp thị thành
Trần Minh phở Bắc đã lừng danh
Chủ đề: tái, chín, gầu, gân, sách
Gia vị: hành, tiêu, ớt, mắm, chanh…

Sau đó, “mông xừ” Trần Minh đã nhờ một người nhái những nét chữ rồng bay phượng múa của Vũ Hoàng Chương để viết bài thơ ấy và treo ở trong tiệm.

… và câu đối phở
Saigon thuở ấy chỉ có một tiệm duy nhất ở đường Võ Tánh, gần Ngã Sáu, có món tái sách tương gừng và phở tái sách: tiệm Y. Thịt tái mềm, sách ròn nhai gau gáu, chấm với tương Cự Đà thì tuyệt cú mèo. Người ta bèn đổ xô tới để thưởng thức một món ăn lạ miệng. Và tiệm Y phất lên như diều. Từ ngôi nhà lụp xụp, ông đã sửa sang lại cho khang trang và mua thêm một nhà khác để ở cho thoải mái. Phú quí sinh… máu văn nghệ, ông bắt đầu giao du thân mật với cánh nhà văn, nhà báo.

Sau cuộc đảo chính của Dương Văn Minh, trong làng báo có hiện tượng “trăm hoa đua nở”, hễ có tiền là có quyền làm chủ một tờ báo. Thế là ông chủ tiệm phở Y bèn ra báo. Từ tái, chín, nạm, gầu, sụn, nhảy sang địa hạt chữ nghĩa, ông hoàn toàn bỡ ngỡ. Cho nên báo của ông chỉ có thể đến với độc giả bằng con đường ve chai. Dĩ nhiên nó phải chết. Và ít lâu sau ông cũng chết theo nó. Người vợ góa trẻ đẹp kế tục “sự nghiệp” của ông chồng quá cố. Tiệm Y phát đạt trở lại. Những người bạn văn nghệ của ông Y vẫn lui tới ăn phở như xưa, nhưng mục đích chính của họ là… ngấp nghé ngôi vị chủ tiệm. Sau mấy năm trời theo đuổi mà chẳng đi tới đâu, một người trong bọn họ, tức cảnh sinh tình, bèn mượn danh nghĩa bà quả phụ để ra một vế câu đối như có ý thách thức thiên hạ rằng: “Nếu ai đối được thì em xin nguyện lấy làm chồng”.

“Nạc, mỡ nữa làm chi, em nghĩ chín rồi không tái giá”

Câu đối sặc sụa mùi phở, nhưng hắc búa nhất là cụm từ “tái giá”, nó vừa có nghĩa là “đi bước nữa” lại vừa có nghĩa là “phở tái giá”. Cũng như “da trắng vỗ bì bạch” của bà Đoàn Thị Điểm đố Trạng Quỳnh vậy, hơn ba mươi năm trôi qua, câu đối ấy hiện nay vẫn chỉ có một vế.

Phở gà trống thiến
Ngay cả Hà Nội – quê hương của phở – từ trước đến nay cũng chưa bao giờ có phở gà trống thiến, cho dù ở phố Huyền Trân Công Chúa, vào đầu những năm 1950, đã có một hàng phở gà ngon nổi tiếng khắp Hà thành, đến nổi cụ Nguyễn Tuân ăn xong đã phải khen rằng “tuyệt phở!”. Người bán phở tên là Chí. Ông ta mới hồi cư, không có đủ tiền để mướn mặt bằng, phải làm phở gánh. Con đường mang tên vị công chúa nhà Trần bé bằng cái lỗ mũi, với cái vỉa hè rộng hơn một mét, khách ăn kẻ đứng, người ngồi, húp xì xụp.

Phở gà trống thiến xuất hiện ở Saigon vào những năm 1960, ở phía chợ Vườn Chuối – tuy chưa được liệt vào loại tuyệt phở, nhưng cũng được khách ẩm thực đặc biệt chiếu cố. Phở ngon là một lẽ: thịt gà trống thiến thơm và mềm như gà mái tơ, nước phở trong hợp với khẩu vị của những người kén ăn, nhưng cũng còn một lẽ khác: người ta vừa ăn, vừa ngắm cái vẻ thướt tha yêu kiều của con gái ông chủ tiệm, thỉnh thoảng đi ra đi vô, mỉm cười với người này, gật đầu chào người kia, giơ tay ‘bông rua’ người nọ, tự nhiên như một cô đầm non.

Đó là nữ ca sĩ Y.V., một giọng ca lả lướt của các phòng trà. Ban ngày, nàng giao thiệp với phao câu, đầu cánh, thịt đùi; ban đêm, chìm đắm trong ánh đèn màu. Thế rồi, không kèn không trống, nàng tuyệt tích giang hồ. Người ta bảo rằng nàng đi Tây. Đi Tây thật chứ không phải Tây Ninh. Tiệm phở vắng khách dần và ít lâu sau thì phải dẹp.

Phở không rau không giá


Tiệm này nằm trên đường Công Lý – cách ngã tư Công Lý – Yên Đỗ khoảng 100m – trong một cái hẻm rộng. Người ta gọi là phở Bà Dậu. Nó có những đặc điểm không giống bất cứ một tiệm phở nào: không rau, không giá và rất sạch, và nhất là không có cái mùi phở kinh niên. Thịt thái mỏng và bánh phở to bản thích hợp với cái gu của người Hà Nội. Vì ở sâu trong hẻm, nên thoạt đầu khách tới ăn uống rất lơ thơ tơ liễu buông mành, chỉ có dăm bảy mống. Sau đó, nhờ sự cổ động của người Hà Nội, người ta mới bắt đầu chiếu cố tới hương vị không rau không giá đó.

Trải qua hơn 30 năm, Phở Bà Dậu sau vẫn tồn tại và có phần phát đạt hơn xưa…

Từ phố phở đến… Bắc Huỳnh

Hà Nội, quê hương của phở vậy mà chưa có một phố nào chuyên bán phở, trong khi Saigon lại có cả một dãy phố phở. Đó là khu Hiền Vương – Pasteur. Hiền Vương chuyên bán phở gà, còn Pasteur phở bò. Nhưng dù gà hay bò, các tiệm phở ở khu này chưa có một tiệm nào – nếu nói về phở bò – có thể so với phở Tàu Bay ở Lý Thái Tổ, còn nếu nói về phở gà, thì thua xa phở Vọng Các (đường Trần Quý Cáp).

Những tiệm phở bò nổi tiếng thời ấy còn có phở Tàu Thủy ở Nguyễn Thiện Thuật, phở Quyền và phở Bắc Huỳnh ở miệt Phú Nhuận. Sau khi ông Tàu Thủy qua đời, người con trai không có đủ khả năng kế nghiệp ông bố, bèn dẹp tiệm để chuyển sang nghề khác. Còn phở Bắc Huỳnh nguyên là phở Ga Đà Lạt một thời nổi tiếng. Sau 75 ông mò về Saigon, mở tiệm phở Bắc Huỳnh trên đường Võ Tánh góc Trương Tấn Bửu đối xéo góc với nhà thờ Nam. Chỉ mấy tháng sau, Bắc Huỳnh lại nổi tiếng như cồn. Hằng ngày, từ 6 giờ sáng khách mộ điệu phở đã nườm nượp nối đuôi kéo vào. Và chỉ tới 10 giờ là bánh, thịt, nước phở đã láng coóng. Phải công nhận phở Bắc Huỳnh hết chỗ chê. Nước trong vắt thơm lừng; miếng thịt chín mùi thơm như pa-tê, thái tay vừa đủ dày để cắn ngập răng. Miếng gầu sữa trắng toát mịn như miếng thạch, vừa thơm vừa bùi lại ròn tan, không một chút hôi. Đặc biệt tiệm Bắc Huỳnh không bán phở toàn tái. Thế mới là chính thống. Phở bò mà lại ăn phở tái thì đúng là nhà quéo.

Đang phát đạt như thế, chẳng biết sao khoảng năm 1982 bỗng dưng ông dẹp tiệm. Dân ghiền phở cứ tiếc hùi hụi. Trong số này có ông cao thủ bóng lông (*) Trần K., khi đó đang chủ trì sân quần vợt đường Lê Duẩn. Ông này ghiền phở Bắc Huỳnh không thua gì mấy anh ghiền thuốc phiện. Sáng sáng, sau khi dợt cho đệ tử mà không được bồi dưỡng hai tô phở Bắc Huỳnh là ông ngáp lên ngáp xuống. Ông bèn gạ một người bạn ông để người bạn này yêu cầu cô con gái ông Bắc Huỳnh mượn nồi niêu soong chảo bát đũa của ông già ra sân quần vợt mở một tiệm phở xe. Dân ghiền phở lại kéo tới ăn đông như trẩy hội. Hồi đó nữ ca sĩ Thái Thanh và nữ ca sĩ Tâm Vấn ở tít trong Chợ Lớn, sáng nào cũng ngồi xích lô ra sân quần vợt – không phải để đánh banh lông – mà là để đớp phở.

Cao thủ Trần K. có ông anh cũng tên Trần K. và cũng là cao thủ bóng lông, còn mê phở hơn cả ông em. Sáng nào ông K. anh cũng gò lưng đạp chiếc xe đạp ọp ẹp chở người tình 200 pao từ Chợ Lớn ra sân quần với mục đích cao quý duy nhất là đớp phở của con gái ông Bắc Huỳnh. Có nhiều lần, có lẽ tại tối trước ông K. anh chơi bóng lông hơi nhiều và hơi khuya, sáng ra chân chùn gối lỏng, ông đạp xe hơi chậm, tới hơi trễ, đã thấy cái thùng nước phở chổng mông lên trời. Phở chính thống là thế: bao nhiêu thịt là bấy nhiêu nước. Hết nước là hết thịt, hết thịt là hết nước. Và hết là hết, chứ không có cái trò đổ vài lon nước lèo hộp, hay ném mấy cục bouillon vào nước, thêm tí mắm tí bột ngọt, đun sôi lên bán với thịt tái. Sau mấy lần đạp xe phờ râu tôm tới nơi lại hụt ăn, ông K. anh đành thương lượng với cô chủ phở như thế này:

Mỗi sáng cô cứ vui lòng để riêng ra hai tô, cất đi cho tôi. Tôi tới kịp để ăn hay không tới ăn được cũng kệ cha tôi. Tôi vẫn cứ trả tiền như thường. Ấy thế mà, chỉ được hơn năm, chả biết lý do gì, tiệm phở xe này cũng bỗng mất tích. Ít lâu sau thấy tiệm Bắc Huỳnh lại tái xuất giang hồ. Được ít năm rồi lại dẹp không kèn không trống. Ngày nay nghe đâu ông Bắc Huỳnh và cô con gái đẹp như mơ đã mở hai tiệm phở bên Calgary, Canada. Chả biết còn giữ tên Bắc Huỳnh nữa không.

…Phở ngầu pín
Dạo ấy, cả Saigon chỉ có độc một tiệm của chú Woòng ở đường Lý Thái Tổ bán phở ngầu pín. Chú là người Quảng Đông, trước khi di chuyển vào Nam đã mở tiệm phở ở phố Huế, Hà Nội. Vào đầu thập niên 50, phở ngầu pín đối với dân thủ đô, thật hoàn toàn xa lạ. Có mà nhử thính các tiểu thư Hà Nội cũng không dám tới ăn.

Phở ngầu pín vào tới Saigon cũng chả khấm khá gì hơn. Vẫn cái tiệm xập xệ tối thui, như ở phố Huế. Khách tới ăn toàn những ông râu ria xồm xoàm hoặc lún phún râu dê hoặc nhẵn nhụi bảnh bao chẳng có một sợi râu nào. Nhưng tuyệt nhiên không hề có bóng dáng đàn bà…

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 6/19/2014(UTC)
phamlang  
#1728 Posted : Sunday, June 15, 2014 5:57:58 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,543

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Tuần Báo Nghệ Thuật (1965-1967) Một rực rỡ khác của văn chương miền Nam...


Hai Mươi năm văn học Miền Nam có những thành tựu to lớn mà những thế hệ về sau phải nhìn nhận cho dù chính quyền CS hiện nay tìm cách bôi xóa. Chúng tôi đã có dịp giới thiệu tạp chí Sáng Tạo với độc giả. Hôm nay xin giới thiệu Tuần Báo Nghệ Thuật, tài liệu của Huyvespa, một tác giả trẻ ở trong nước.

UserPostedImage

Huyvespa viết trong blog của mình.

Nếu như nhìn được tận mắt những tờ NGHỆ THUẬT, cái “còn là tinh anh”… còn lại này của một nền văn học bị hư vô hóa thì có lẽ bất cứ ai cũng sẽ cảm nhận được không khí rực rỡ của một thời văn chương – tư tưởng phóng khoáng & tự do, phơi phới như gió trời và ấm nồng như những con nắng phương Nam…

Nghệ Thuật xuất hiện rất tưng bừng (theo nghĩa đen và cả nghĩa bóng) trong thập niên 60, đó là tờ tạp chí văn học nghệ thuật duy nhất của miền Nam ra hàng tuần, bìa in offset nhiều màu. Cho tới lúc đó miền Nam chỉ có các bán nguyệt san, hai tuần mới ra một lần: Bách Khoa, Văn, Tân Văn, Văn Học.

Nhà văn VIÊN LINH trong một bài phỏng vấn đã nói:

“Năm làm thư ký tòa soạn Nghệ Thuật (1966) tôi chưa đến ba mươi, chưa lập gia đình, và còn làm bên tờ Kịch Ảnh, cũng ra hàng tuần, nhưng như cái tên, chuyên về nghệ thuật trình diễn, mạnh nhất về tân nhạc, và xi-nê, cũng có kịch nói và cải lương. Tờ Kịch Ảnh chỉ có ba người làm biên tập thường trực, ông chủ nhiệm kiêm chủ bút Quốc Phong, ông tổng thư ký Mai Thảo, và tôi. Ngoài việc viết bài, kể chuyện phim, phỏng vấn ca sĩ, tôi còn kiêm trình bày offset tờ báo, vì đã có vài năm kinh nghiệm qua tờ Kịch Ảnh. Trình bày bằng phim, bài vở hình ảnh chụp ra phim, trình bày bằng negatives trên bàn kính (light table), kể cả bài viết cũng chụp ra phim, sau đó thợ in đốt ra bản kẽm. Như thế là tân kỳ nhất Việt Nam thời đó. Khi Mai Thảo và nhóm các anh Vũ Khắc Khoan, Thanh Nam, Phạm Đình Chương, Anh Ngọc được ông Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ tài trợ cho khoảng một triệu bạc thì tôi được mời làm thư ký tòa soạn Nghệ Thuật, vì các anh muốn có một tờ báo vừa văn học nghệ thuật, lại vừa in offset nhiều màu.”

UserPostedImage

NGHỆ THUẬT nổi bật nhờ những series bài của tuần báo này, ngay từ những trang đầu - GHI NHẬN CỦA MAI THẢO, hàng tuần, với phong cách khó lẫn của ông, tường thuật lại các hoạt động văn nghệ trong tuần của Thủ đô Saigon, bằng những nhịp chân theo bước các mặc khách Saigon ấy mà chúng ta được dịp thở lại một lần nữa, nhìn lại một lần nữa... cái không khí “tưng bừng phố xá” mà cũng rất đằm thắm của Saigon…

Loạt bài MƯỜI TÁC GIẢ VIẾT VỀ MƯỜI TÁC GIẢ / THẢO LUẬN VỀ THỰC TRẠNG VĂN NGHỆ VIỆT NAM / NGƯỜI ĐỌC VIẾT VỀ CÁC NHÂN VẬT TIỂU THUYẾT...

Và trong suốt 57 số báo, tiêu chí của tòa soạn luôn là như lời “tuyên ngôn” của những người làm nên tờ báo này như trong thư tòa soạn từ số đầu

“… những người nhận trách nhiệm xây dựng và hình thành diễn đàn này đều cùng một dự tưởng, chung một nhận thức: Nghệ Thuật phải là một nơi chốn họp mặt thân ái và đông vui chưa từng thấy giữa tất cả những tác giả, nhà văn nhà thơ hiện đang làm nên linh hồn, tiếng nói, đời sống và sức mạnh của văn học nghệ thuật miền Nam. Họp mặt trước đã. Bởi chúng tôi nghĩ rằng đã đến lúc những khả năng sáng tạo chói lọi nhất, những cá nhân ý thức tiến bộ nhất, những đại diện cho từng thế hệ tiêu biểu nhất của đất nước này phải liên kết lại, trước đòi hỏi của xã hội và lịch sử ta về vai trò văn học nghệ thuật chúng ta.”

Tuần báo NGHỆ THUẬT, đứng riêng ra, cũng có thể là một biểu trưng cho 20 năm văn học miền Nam với đầy đủ những khai phóng, rộng tay và đón nhận những trào lưu… Nơi đó, văn học đã gắn liền với vận mạng dân tộc, hay cũng có thể nói… những gương mặt ấy, những tiếng nói ấy… cũng chính là một mảnh hồn của dân tộc – một dân tộc thơ, một dân tộc yêu cái đẹp, một dân tộc coi trọng chữ nghĩa…nhưng… gánh chịu nhiều hệ lụy…

UserPostedImage

NGUYỄN & BẠN HỮU
Nguồn: Huyvespa.blogspot.com
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 6/19/2014(UTC)
CatLinh  
#1729 Posted : Monday, June 16, 2014 3:05:55 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage

UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
Hạ Vi on 6/19/2014(UTC)
CatLinh  
#1730 Posted : Tuesday, June 17, 2014 4:12:43 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage

Edited by user Tuesday, June 17, 2014 4:27:14 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
Hạ Vi on 6/19/2014(UTC)
Duy An  
#1731 Posted : Wednesday, June 18, 2014 5:41:03 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,286

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
UserPostedImage


GIẢI KIM KHÁNH NGHỆ THUẬT


Bài Nguyễn Việt

Vào thời Đệ nhất Cộng Hòa ở miền Nam (khoảng đầu thập kỷ 60 thế kỷ trước), ký giả Trần Tấn Quốc chủ nhiệm báo Tiếng Dội (sau tái bản có tên báo Đuốc Nhà Nam, thời kỳ này không còn Giải Thanh Tâm nữa) cho ra đời Giải Thanh Tâm, chỉ trao giải thưởng cho những nghệ sĩ bên sân khấu cải lương, do vào thời gian đó sân khấu cải lương đang hưng thịnh hơn cả ngành điện ảnh và sân khấu ca nhạc kịch. Giải Thanh Tâm là một giải thưởng nghệ thuật đánh giá đúng đắn về tài năng nghệ sĩ với mục đích phát huy nền văn hóa nghệ thuật nói chung sân khấu cải lương nói riêng.

Đến thời Đệ Nhị Công Hòa, từ cuối năm 1972 tờ nhật báo Trắng Đen đi theo con đường Đuốc Nhà Nam qua Giải Thanh Tâm, cho ra đời Giải Kim Khánh Nghệ Thuật, nhưng hình thức tổ chức lại khác biệt.

Tờ Trắng Đen có chủ trương, mời đọc giả tham dự cuộc thi bằng hình thức điền tên nghệ sĩ mà mình hâm mộ yêu thích vào phiếu tham dự để đề cử, rồi gửi về tòa báo chờ kiểm phiếu. Nghệ sĩ nào có số phiếu cao nhất sẽ được trao tặng từ Huy chương vàng đến huy chương bạc và đồng. Riêng đọc giả dự đoán trúng hoặc gần trúng với tổng số phiếu tham dự, được nhận giải thưởng bằng hiện kim.

Giải Kim Khánh có danh hiệu dành cho các nghệ sĩ đoạt giải mang những tên gọi như, về Điện ảnh là Ảnh Hậu, Ảnh Đế theo danh từ điện ảnh Hong Kong thường bầu chọn. Tân nhạc có Giọng ca vàng hay bên cải lương được mệnh danh là Cải lương chi bảo v.v… ngoài ra có những giải trao cho Quái kiệt sân khấu, nhạc phẩm đang thịnh hành, phim VN hay nhất, đạo diễn xuất sắc nhất, và các tài năng mới được ưa chuộng nhất v.v…

Chính vì hình thức đọc giả tham gia bỏ phiếu, có một số tên tuổi đang lu mờ phải cần đến Giải Kim Khánh, họ cắt phiếu điền tên để được hàng ngày có tên trên mặt báo qua những bài tường thuật sau những buổi kiểm phiếu nhằm giúp đọc giả đánh giá và tham khảo.

Lúc đó người viết là thư ký thường trực của Giải Kim Khánh Nghệ Thuật, trong một Hội đồng Giám Khảo nhưng không có chức năng Giám khảo, nói đúng hơn chỉ làm nhiệm vụ quan sát và tiện liên hệ với các nghệ sĩ theo ngành nghề của mình. Chủ khảo tức chủ nhiệm báo, còn các vị khác gồm các ký giả như Thiên Hà, Quỳnh Như, Ngọc Hoài Phương và các người viết phụ trách bộ môn Điện ảnh – Tân nhạc; ký giả Trọng Viễn, Huy Trường, soạn giả Trần Hà, thi sĩ Cẩm Thi Lý Dũng Tâm coi về bộ môn Cải lương; ký giả Phong Vân, Hoài Ngọc làm phụ tá cho chủ khảo, cùng với soạn giả Duy Lân và ông Tam Mộc nguyên chủ nhiệm báo Buổi Sáng làm cố vấn.

Người viết được ông chủ khảo phân công dự kiến các nghệ sĩ sẽ đoạt giải như vòng sơ tuyển, sau đó Ban Giám Khảo sẽ bình chọn như vòng chung kết. Cuối cùng danh sách cũng đã có, nhìn chung có giá trị về chất lượng khi công bố giải thưởng cho các nghệ sĩ trúng giải.

Dự kiến sơ lược gồm :

Các giải về điện ảnh :

- Ảnh hậu : Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương, Thanh Nga

- Ảnh đế : Trần Quang, Huỳnh Thanh Trà, Hùng Cường, Thành Được (Thành Được đóng một hai phim như trong Chiếc Bóng Bên Đường của Kim Cương).

- Nữ tài tử nhiều triển vọng : Lệ Hoa, Như Loan

- Đạo diễn : Lê Dân, Bùi Sơn Duân, Lê Mộng Hoàng. Lê Hoàng Hoa

- Phim được yêu chuộng nhất : Như giọt sương khuya, Loan Mắt Nhung, Vết thù trên lưng ngựa hoang, Anh Yêu em.

Các giải về tân nhạc :

- Nữ ca sĩ : Thanh Thúy, Khánh Ly, Lệ Thu, Mai Lệ Huyền

- Nam ca sĩ : Elvis Phương, Nhật Trường, Thái Châu

- Nhạc phẩm được yêu thích nhất : Hàn Mặc Tử của Trần Thiện Thanh, Bao giờ biết tương tư của Ngọc Chánh, Mai của Quốc Dũng, Rước tình về với quê hương của Hoàng Thi Thơ.

- Ban nhạc được ưa thích nhất : Shotguns, Phạm Mạnh Cương, Phượng Hoàng, Mây Trắng.

Các giải về thoại kịch :

- Nam kịch sĩ : La Thoại Tân, Vân Hùng, Ngọc Phu

- Nữ kịch sĩ : Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Túy Hồng

Các giải sân khấu cải lương & hồ quảng :

- Nữ nghệ sĩ cải lương : Bạch Tuyết, Thanh Kim Huệ, Thanh Nga, Phượng Liên.

- Nam nghệ sĩ cải lương : Hùng Cường, Thành Được, Thanh Tú, Dũng Thanh Lâm

- Nữ nghệ sĩ Hồ Quảng : Bạch Lê, Thanh Thế, Bạch Mai

- Nam nghệ sĩ Hồ Quảng : Thanh Bạch, Bửu truyện, Đức Lợi

- Quái kiệt sân khấu : Thanh Việt, Phi thoàn, Tùng Lâm, Văn Chung, Bảo Quốc

- Nữ quái kiệt sân khấu : Kim Ngọc, Kiều Mai Lý, Mỹ Chi, Diễm Kiều

HĐGK Giải Kim Khánh Nghệ thuật sẽ qua danh sách dự kiến trên đều không muốn ai bị loại, bởi những nghệ sĩ đều “kẻ tám lạng người nửa cân”. Nhưng vì giải thưởng cho mỗi đề mục có giới hạn về huy chương vàng, bạc, đồng nên chỉ có từ một đến ba người đoạt giải cho mỗi bộ môn.

Kết thúc cuộc thi các giải thưởng được trao tặng :

Về Điện ảnh :

- Ảnh hậu : Thẩm Thúy Hằng, Ảnh đế :Trần Quang

- Tài tử nhiều triển vọng : Lệ Hoa

- Phim được ái mộ nhất : “Như giọt sương khuya” của hãng Việt Ảnh của Bùi Sơn Duân giám đốc sản xuất kiêm đạo diễn; với tài tử Bạch Tuyết, Trần Quang)

- Đạo diễn xuất sắc : Bùi Sơn Duân

Về Tân Nhạc :

- Nữ ca sĩ : Thanh Thúy – Nam ca sĩ : Elvis Phương

- Ban nhạc được mến chuộng : Ban Shotguns do Ngọc Chánh làm trưởng ban, cùng Cao Phi Long, Hoàng Liêm, Đan Thọ, Tuấn trống

- Nhạc phẩm được ưa thích nhất : Mai của Quốc Dũng

Về Thoại kịch :

- Nữ nghệ sĩ : Kim Cương – Nam nghệ sĩ : La Thoại Tân

Về Quái kiệt :

- Bên thoại kịch : Thanh Việt – Mỹ Chi

- Bên Cải lương : Văn Chung – Kim Ngọc

Về Cải Lương :

- Nam nữ “Cải lương chi bảo” : Hùng Cường – Bạch Tuyết

- Nam nữ nghệ sĩ Hồ Quảng : Thanh Bạch – Bạch Lê

Một danh sách phù hợp với sự bỏ phiếu, được trao cho những nghệ sĩ hiện đang thành đạt nhất lúc đó, chỉ có một vài giải có hơi chệch choạc, như nhạc phẩm Mai của Quốc Dũng so với những nhạc phẩm của Trần Thiện Thanh, Lam Phương, Mạnh Phát, Hoàng Thi Thơ lúc bấy giờ thật không thể sánh là được ưa thích nhất.

Hay phim Như giọt sương khuya của Bùi Sơn Duân đã chiếu cách đó vài năm so với phim Xóm Tôi của đạo diễn Lê Dân mới xứng đáng, do các phim của Lê Dân hiện đang ăn khách. Nhưng Ban Giám Khảo phải tôn trọng ý kiến đọc giả đã bình chọn.

Giải Kim Khánh Nghệ Thuật tổ chức được hai lần. Năm 1973 là lần đầu tiên trao giải thưởng tại rạp Quốc Thanh trên sân khấu của đoàn cải lương Hùng Cường – Bạch Tuyết (năm đó Phượng Liên cũng ở trong đoàn, đoạt Huy Chương Bạc nhưng không ra nhận giải vì cho rằng mình nổi tiếng mà chỉ về nhì); năm thứ hai 1974 được tổ chức làm hai buổi, đêm đầu ở nhà hàng Champions góc đường Trần Hưng Đạo – Nguyễn Khắc Nhu bây giờ. Đêm sau trao giải Huy chương vàng tại nhà hàng Maxim’s nằm trên đường Tự Do. Tượng vàng và các loại huy chương do họa sĩ Nguyễn Tăng của đoàn Dạ Lý Hương thiết kế tạo mẫu, được mạ vàng 24K rất giá trị. Nói chung Giải Kim Khánh Nghệ Thuật có tiếng vang từ các giới nghệ sĩ từ điện ảnh, tân nhạc, thoại kịch và cải lương cho đến người hâm mộ bộ môn nghệ thuật bấy giờ.

Những năm đó báo Trắng Đen còn tổ chức những giải thưởng khác như Giải Kim Khánh Khiêu Vũ, như tại các nhà hàng khiêu vũ trường Nam Đô của ông Võ Văn Ứng (một mạnh thường quân trong làng thể thao) đang do Phương Hồng Quế khai thác, đến Tự Do của ông Nguyễn Văn Cường, Maxim’s của ông Diệp Bảo Tân, International của Ngọc Chánh – Thanh Thúy, QueenBee của ông Tuất v.v…

Giải thưởng khiêu vũ này rất được mọi người đăng ký tham dự cũng như khán giả đến thưởng ngoạn đông đảo để nhìn từng cặp lã lướt trên sàn nhảy qua những điệu nhạc từ slow đến samba đầy sôi động, hoặc nhìn những cặp biểu diễn khiêu vũ tung ném (acrobatic) qua các điệu tango, chachacha, bebop… từ một đến hai ba đào. Hai đứa con của vũ sư Nguyễn Trọng là Nguyễn Hưng – Ánh Mai cũng biểu diễn không kém những đàn anh đàn chị, hay những “nam nữ đệ tử” trong lò dạy nhảy của bà Jackie khiến mọi người luôn phải khen ngợi…


Băng nhạc Phát Thưởng Giải Kim Khánh


Sau khi phát giải Kim Khánh năm 1974, ban tổ chức có cho sản xuất một musictape lấy tên “Đại hội Phát Thưởng Giải Kim Khánh” qua hai loại băng lớn và nhỏ.

Cuốn băng nhạc này do cơ sở Nguồn Sống của nhạc sĩ Ngọc Chánh ban Shotguns thực hiện, tại phòng thu âm của Pat Lâm trên đường Á Nam Trần Tuấn Khải Q5 gần chợ Hòa Bình. Sản xuất mỗi loại 1.000 băng, do kiosque Khai sáng nằm ở 91 ter Công Lý (dưới nhà hàng vũ trường International Quốc Tế) độc quyền phát hành, mà chủ nhân là bà Phúc vợ nhạc sĩ Ngọc Chánh phụ trách.

Trên những trang web chỉ đề cập khoảng 10 nhạc phẩm như

- Tôi Muốn của Nguyễn Trung Cang : Elvis Phương,

- Tình Vỗ Cánh Bay của Anh Sơn : Thanh Thúy,

- Mai do chính Quốc Dũng tác giả trình bày,

- Cucurrucucu :- Cao Thái,

- Tiếc Thương (Donna, Donna lời Việt của Tuấn Dũng) : Thanh Châu (em Thanh Thúy);

Hay cặp Hùng Cường – Mai Lệ Huyền với một ca khúc kích động v.v… phần hòa âm của Lê văn Thiện, phần nhạc đệm do ban Shotguns đãm trách; cùng nhiều bài tân cổ giao duyên do Thanh Sang – Bạch Tuyết, Cải lương Hồ Quảng với cặp Thanh Bạch – Bạch Lê trình bày do dàn nhạc của Đức Phú, Văn Vĩ, Bảy Bá…

Theo dư luận bấy giờ cuốn băng được nhiệt liệt tán thưởng. Trước ngày 30/4/1975 đang được yêu cầu tái bản loại băng cassette thì miền Nam đã đổi chủ, mọi sinh hoạt đều ngưng hoạt động, vì thế không thể tái bản.

NHỮNG GIẢI THƯỞNG KHÁC

Năm 1974 nhóm Thân Hữu Ký Giả Điện Ảnh Tân Nhạc cũng tổ chức giải thưởng điện ảnh lấy tên cố tài tử lão thành Lý Quốc Mậu, hình thức tổ chức như Giải Thanh Tâm, tức thành lập một hội đồng duyệt xét các giải thưởng nhằm trao cho các nam nữ tài tử đang hoạt động, gồm các ký giả chuyên mục điện ảnh kịch trường trên các báo như Huy Vân, Văn Lương, Thiên Hà, Quỳnh Như, Đặng Tường Vi, Trần Quân, Phạm Hồng Vân, Nguyễn Toàn, Tương Giang, Huy Trường, Phi Sơn, Ngọc Hoài Phương, Trọng Minh… cho hai bộ môn điện ảnh và tân nhạc

Giải thưởng Lý Quốc Mậu đặt dưới sự bảo trợ của Nghiệp đoàn khai thác điện ảnh VN (lúc đó NĐ này có nhiệm vụ chia quota xuất nhập phim ảnh cho các hãng phim có môn bài 13 – thời chính quyền cũ ngành xuất nhập cảng được chia thành 18 ngành, nơi nào được cấp loại môn bài nào thì được chia quota theo tỉ lệ loại đó qua vốn đã đăng ký, để không dẫm chân hay tranh thương lẫn nhau). Ngoài ra còn có sự bảo trợ của hãng phim Mỹ Vân của ông Lưu Trạch Hưng, hãng phim Lido của Quách Thoại Huấn v.v.. việc bảo trợ của các nơi trên được thỏa thuận mang tính không vụ lợi.

Tiếc rằng giải thưởng đã hình thành được cái sườn, chỉ chờ dịp lễ lớn trong năm 1975 thì công bố, nhưng 30/4/75 miền Nam đã phải đình đốn lại tất cả.


UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 6/19/2014(UTC)
Ngoc N Hao  
#1732 Posted : Wednesday, June 18, 2014 11:09:59 AM(UTC)
Ngoc N Hao

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
CƠN MƯA NGÀY HẠ

UserPostedImage

Có thể chiều nay em không đến
Mưa buồn ngày hạ rất vô thường
Ta ngồi nhẫm lại nghìn thương mến
Tình học trò mà cũng khói sương...

Từ dạo thả hồn ngây ánh mắt...
Cái chiều lớp học xối mưa giông
Gió tạt vô tình bay cọng tóc...
Khiến ta lập cập điếng gan lòng

Bối rối em nhìn ra cửa sổ...
Nhập nhòa giọt nước đọng khung gương
Nhấp nhô bờ ngực vầng giông bão
Làm tim con gái rộn tơ vương...

Rồi chiều nay nghe lòng hụt hẫng...
Ai biết phượng đơn nghẹn giấc sầu
Năm năm ủ mộng đành quên lãng...
Em trở mặt tình hóa bể dâu

Từ đó hiên trường thưa tiếng guốc
Hiên đời ta lạc ngõ phù vân
Vạn nẽo đường trần xa hun hút...
Em ...ta đâu dễ gặp hai lần …

Nguyễn Miên Thượng
thanks 1 user thanked Ngoc N Hao for this useful post.
Hạ Vi on 6/19/2014(UTC)
Hạ Vi  
#1733 Posted : Thursday, June 19, 2014 3:02:34 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,589
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)


UserPostedImage


Mưa Xuân


Trời đã vào Xuân mưa ướt vai
Sông xa xao xác nước dâng đầy
Thuyền chiều nhẹ lướt trên dòng trắng
Da diết bên lầu tiếng sáo ai

Ta ở bên nầy nhớ cảnh xưa
Đời bao dâu bể có đâu ngờ
Mưa Xuân có nhắc ngàn lưu luyến
Kỷ niệm theo về trong giấc mơ

Ôi những ngày xanh của tuổi thơ
Giờ đây bạc thếch bước sông hồ
Mưa rơi buốt lạnh hồn cô lữ
Nhớ mãi hiên chiều góc phố xưa

Chiều xuống mưa giăng trời viễn xứ
Nhớ nhau mơ ước chuyện sa trường
Đường xưa nằm đó trong tâm thức
Người cũ về đâu buổi gió sương

Ta mãi thầm mong một chuyến về
Con đường lưu luyến vết chân đi
Cố nhân đứng đó chiều tưởng vọng
Ngấn lệ hồi hương đẩm ướt mi



Hương Saigon




UserPostedImage
Duy An  
#1734 Posted : Friday, June 20, 2014 2:48:54 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,286

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Sài Gòn 1950 qua ống kính phóng viên Mỹ


Thiếu nữ Pháp ngồi xích lô, tàu sân bay ở cảng SG, xe hơi..
là loạt ảnh sinh động về Sài Gòn 1950 qua ống kính PV Mỹ Harrison Forman.

UserPostedImage
Khu vực ngã tư Tự Do - Lê Thánh Tôn. Hình ảnh được đăng tải trên trang Collections.lib.uwm.edu.

UserPostedImage
Khách sạn Continental Palace

UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage


UserPostedImage

Phía trước khách sạn Caravelle.

Edited by user Thursday, July 10, 2014 5:14:56 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 7/2/2014(UTC)
Duy An  
#1735 Posted : Sunday, June 22, 2014 7:07:31 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,286

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Thư viết từ tiền đồn Nora


nguồn baotreonline

Y Uyên ra đi trong chiến tranh, giữa lúc tuổi đời còn rất trẻ. Thương ôi, cái chết của Y Uyên đã kết thúc một chuyện tình... Hai người dạy cùng trường, gặp nhau rồi yêu nhau, rồi chia tay khi Y Uyên lên đường vào quân ngũ. Y Uyên viết thư này cho Thị, người yêu, từ tiền đồn Nora. Đúng một năm sau anh ra đi. “Một mối tình giữa thời ly loạn. Tình yêu, tuổi trẻ..., trong ngọn lửa hung tàn của chiến tranh.” Lá thư được Mang Viên Long dùng lại trong truyện ngắn Một Câu Chuyện Tình để tưởng nhớ Y Uyên.

UserPostedImage

Bìa Thư Quán Bản Thảo, số Tưởng Nhớ Y Uyên

Nora, ngày 1.2.1968

Thị,

Tháng này coi như em không có thư cho anh. Nhiều buổi chiều có người từ Phan Thiết mang sách báo và thư lên, không thấy có tuồng chữ em, buồn. Hồi hôm, trăng sáng đến độ không ngủ được, hết ngồi trên xe GMC coi đánh bài (chớ không đánh bài) lại trèo lên “lốc” nằm, bốn giờ sáng mơ thấy em với nhiều chuyện lộn xộn không mạch lạc, tỉnh dậy nhớ quá, uống trà rồi viết được ít hàng lại xé bỏ. Anh chợt thấy một “câu hỏi” có thể giải thích tại sao em không viết cho anh: Có phải vì anh quá thành thực (nói đủ mọi chuyện) nên anh bị nghi ngờ và làm em nản? Nếu đúng vậy, cũng chẳng có gì đáng trách về phần em. Còn phần anh có lẽ cũng... không đáng trách nốt. Cái tính vốn dễ gây xa cách vì ngộ nhận, quen thói rồi, thây kệ. Còn nhớ số 13/12 anh bảo em ghi sau tấm hình đầu tiên đưa anh? Khi nhận thư này, biết đâu cũng là ngày tháng đó. Khác chăng, mùa lạnh năm nay mỗi đứa một nơi. Riêng anh, thì núi đồi này, chim chóc và rừng cây khô lá này làm anh viển vông thêm và không ngớt mơ mộng. Trong nỗi mơ mộng dông dài đó, chuyện tình chúng mình vẫn là thứ dễ hồi tưởng và có rất nhiều ngậm ngùi (như thể tình yêu là những tội nghiệp và dễ thương) tuy cũng rất nhiều dịu dàng xao xuyến: Mấy hôm rồi, đầu tuần trăng, anh xuống xóm uống tới tối mới lên, tới giữa dốc anh nằm dài và muốn nằm dài thế mãi. Những lời muốn đi xa, muốn quên hết của em, những cách xa giữa anh và những thân tình ở chỗ này, chốn nọ, đã tạo cho anh những đêm như vậy. Nằm dài trên dốc bất kể bạn bè và lính chờ, anh vui thích nghĩ là đang sống những phút quên thôi, cho anh, cho em. Những gì em ao ước nhưng không thể thực hiện thì anh đang sống thế cho em, đừng có ham và cũng đừng có đòi nữa.

Nói như vậy cũng chưa hết cái lạ trong mùa này đâu (lạ ở đây có nghĩa: Những gì anh sống khác hồi này năm ngoái). Những buổi ngồi trên cái xe xọc xạch chạy về Phan Thiết, ào vào nhà quen tìm lại chút thân thuộc gia đình rồi lại dời thành phố cùng những mớ hàng hoá vợ lính cười giỡn ồn ào, anh cho đó là những buổi chiều tự thấy mình xa xôi, biền biệt nhất. Bình thường thì sau những lúc đó phải viết cho em. Nhưng hồi này, dường như em cứ bướng bỉnh cố tự tạo một không khí riêng mà buồn, anh “bất khả” can thiệp, khiến anh đã nghĩ em hết còn muốn anh phiền hà để riêng em, em sống? Nếu đúng vậy, em không nói ra, em dở hết cỡ. Mình vốn “tôn trọng luật pháp công minh, 2 + 2 = 4” mà. Còn nhớ câu danh ngôn: “Sự học như con thuyền trên dòng nước ngược, không tiến thì lùi”? Tình yêu là một sự học không? Trả lời thử coi, đừng làm biếng. Không đâu. Những cái học được trong tình yêu đắt giá quá, học chi cho mệt. Nhưng nó giống sự học ở chỗ không tiến thì lùi phải không?

Anh vừa viết xong khúc đầu một cuốn sách. Em được mô tả một cách hết sức kỳ cục. Chừng nào có báo Xuân anh gửi cho coi sẽ rõ. Giờ thì anh viết một cuốn khác. Còn cuốn kia, định chừng nào về gặp lại em, hỏi ý em rồi viết tiếp. Em có muốn cái nhân vật giống em đó có... một đứa con để dẫn đi phố cho vui vào cuối cuốn sách?

Em vẫn còn ở chỗ cũ? Nói rõ em sống lúc này ra sao? Bạn bè đi lính vừa rồi có ghé về Tuy Hòa? Chắc bây giờ họ chịu đời lính hơn đời dạy học. Tâm trạng chung mà. Sống thì sống đời lính mới là tuổi trẻ và bay bướm. Trừ anh, anh chỉ cần một chỗ ngồi tán dóc với bè bạn, một xó xỉnh để ngồi một mình mà viết, nên rất mong về dạy lại. Mỗi ngày một buổi qua cầu, về làng dạy học, còn lại là của mình. Em chịu đựng được lối sống đó?

Bắt đầu nói chuyện về quê ăn Tết và... lấy chồng chưa? Tết năm nay chắc không phải chạy mỏi chân và sợ máy bay như Tết năm rồi đâu. Sống ở Tuy Hòa thì dường như chẳng có gì, nhưng đi xa mới thấy có nhiều thứ lẩm cẩm đáng nhớ. Sao Tết này chính phủ không phát động một chiến dịch các cô giáo đi thăm các tiền đồn để chúng mình gặp nhau trong hoàn cảnh lắt léo, ly kỳ?

Nhớ là phải viết ngay cho anh sau khi nhận được thư này. Em bắt đầu phải mặc áo ấm mùa lạnh năm ngoái chưa?

Anh.

Y UYÊN
UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 7/2/2014(UTC)
CatLinh  
#1736 Posted : Tuesday, June 24, 2014 4:12:41 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
Hạ Vi on 7/2/2014(UTC)
CatLinh  
#1737 Posted : Thursday, June 26, 2014 4:56:13 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 2 users thanked CatLinh for this useful post.
Hạ Vi on 7/2/2014(UTC), phamlang on 7/5/2014(UTC)
Duy An  
#1738 Posted : Saturday, June 28, 2014 7:27:19 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,286

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
UserPostedImage

Mưa Sài gòn, nắng Hạ Cali


Giờ này
Sài gòn đang mưa
Lại nhớ tháng sáu
Tháng sáu trời mưa
Mưa của Nguyên Sa
Một thời áo lụa
Đẹp. Buồn. Ấp ôm kỷ niệm.

Tháng sáu mười ba [1]
Tháng sáu của tôi
Cũng là mùa mưa
Mưa Sài gòn
Đưa tôi vào tử lộ

Đánh mất tuổi xuân
Trên rừng Việt Bắc
Sống với loài chim
Một loài chim độc thoại
Chỉ biết thốt ra
Oan khuất của đời [2]

Trở về thành phố
Cũng lại mùa mưa
Đúng một chu kỳ
Mười hai con giáp
Những hàng me xanh
Những con đường cũ
Sài gòn đổi chủ
Lặng lẽ nhìn tôi
Như nhìn kẻ lạ

Rồi tôi lại đi
Bỏ lại quê hương
Một thời yêu dấu
Sang đất Cali
Ngập tràn nắng hạ
Lại nhớ Sài gòn
Tháng tư nắng úa
Lại nhớ Sài gòn
Tháng sáu trời mưa…

Đỗ Xuân Tê

[1] Ngày sĩ quan trình diện đi tù cải tạo.
[2] Một loài chim chỉ biết hót ‘bắt cô trói cột’ âm hưởng một đàn bà chết oan.
UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 7/2/2014(UTC)
Duy An  
#1739 Posted : Saturday, June 28, 2014 7:33:13 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,286

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)

Ai là cha đẻ của cụm từ 'Xin đừng gọi anh bằng chú’?



Du Tử Lê


Tôi trộm nghĩ, thế hệ sinh trưởng sau biến cố 30 tháng 4, 1975, có thể không biết nhà văn Chu Tử là ai. Nhưng tôi tin, đôi lần, trong đời thường, họ cũng có nghe qua đâu đó cụm từ “Xin đừng gọi anh bằng chú!” Hoặc đảo ngược lại là “Xin đừng gọi chú bằng anh!”

Cha đẻ hay tác giả của câu nói trở thành phổ cập này là nhà văn Chu Tử, trong tiểu thuyết “Yêu” đi ra từ chuyện tình giữa “chú Ðạt và cháu Diễm.” Tiểu thuyết đó xuất bản đầu thập niên 1960s tại Saigon; từng một thời được nhiều người tìm đọc, gây xôn xao dư luận. Chu Tử cũng là nhà văn chủ trương chỉ chọn một chữ cho tất cả mọi sáng tác của mình. Như tiểu thuyết đầu tiên xuất hiện trên thị trường, có tên là “Yêu.” Sau đó là một loạt những tiểu thuyết có nhan đề một chữ như “Huyền,” “Loạn” rồi “Tiền,” “Nắng”...


UserPostedImage

Chu Tử và Thanh Lan trong phim “Yêu.” (Hình: Hồ Ðình Vũ)



Theo lời nhà xuất bản Ðường Sáng thì mặc dù “Yêu” được ấn hành trước “Sống,” nhưng “Sống” mới thực sự là sáng tác đầu tay của nhà văn và cũng là nhà báo tài hoa, nhiều sáng kiến Chu Tử.

Giải thích về sự việc vừa kể, trong “Lời Nhà Xuất Bản” trước khi vào nội dung tiểu thuyết “Sống,” nhà Ðường Sáng viết:

“‘Sống’ là tác phẩm thứ hai của Chu Tử do Ðường Sáng xuất bản sau ‘Yêu’... Thực ra ‘Sống’ là tác-phẩm ‘đầu tay’ của Chu Tử, và nhiều văn hữu vẫn theo dõi tác giả, tỏ ý ngạc nhiên không hiểu sao tác giả và nhà xuất bản lại cho phát hành ‘Yêu’ trước ‘Sống’; vì theo ý các bạn đó, ‘Sống’ mới là tác phẩm ‘ruột’ của Chu Tử. Sở dĩ ‘Yêu’ được phát hành trước ‘Sống’ không phải vì giá trị của ‘Yêu’ hơn 'Sống’, nhưng chính vì tác giả cũng như người xuất bản nhận thấy nhan đề 'Yêu’ dễ hấp dẫn hơn 'Sống.’ Lý do kể trên là lý do duy nhất khiến 'Yêu' được phát hành trước 'Sống'”... (1)

Nhân lời nói đầu của Ðường Sáng, nhà văn Chu Tử cũng đã nhờ nhà xuất bản gửi tới bạn đọc vài tâm tư của ông, để những người đọc ông nắm được phần cốt lõi của tiểu thuyết “Sống” như sau:

“...‘Sống’ là một chuyện ghi đậm sắc thái, tâm tính của thời đại. Nhưng 'Sống' không thuộc loại 'tiểu thuyết có chìa khóa' (roman à clef). Vì vậy, các bạn đừng mất công tìm tòi, khám phá xem những nhân danh trong truyện là những nhân vật ‘bằng xương và thịt’ nào trong thực tại xã hội. Bất cứ tác phẩm nào bắt nguồn từ một không gian, thời gian nhất định, tất nhiên phản ảnh nếp sống và suy tư của thời đại, nhưng một sáng tác nghệ thuật đúng với danh nghĩa đó, phải vượt lên trên không gian và thời gian để tái tạo sự sống, tái tạo thời đại, tái tạo con người& Vì vậy, nếu một vài sự kiện, nhân vật trong ‘Sống’ có hao hao giống những sự kiện và nhân vật có thực ở xã hội, thì điều đó không có nghĩa là các nhân vật có thực bị ám chỉ; một nhân danh trong ‘Sống’ có thể là sự tổng hợp của năm, mười nhân vật có thực mà tác giả có dịp gặp và quan sát trong đời sống, thiên hình vạn trạng.

“‘Sống’ vì là tác phẩm ‘đầu tay’, nên có những ưu, khuyết điểm, cái hùng khí, hứng khởi cũng như cái vụng về, sơ hở của một tác phẩm ‘đầu tay.’ Tác giả ước mong bạn đọc sẽ đón đọc ‘Sống’ với những cảm nghĩ mà bạn đọc dành cho một tác phẩm ‘đầu tay’...” (2)

Ghi nhận về “Sống,” tiểu thuyết “đầu tay” của Chu Tử, Linh mục, Giáo sư Cao Văn Luận, viện trưởng Viện Ðại Học Huế đã có những đánh giá, so sánh cẩn trọng, nhất là khi giáo sư bác bỏ quan điểm của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, khi họ Nguyễn so sánh Chu Tử với J. P. Sartre và Dostoievsky. Nguyên văn phát biểu của Linh mục, Giáo sư Cao Văn Luận, viện trưởng Viện Ðại Học Huế, như sau:


UserPostedImage
“Yêu” của Chu Tử (Hình: Hồ Ðình Vũ)



“‘Sống’ quả là một tác phẩm ‘sống’ rất linh động, sâu sắc, mà gần mười năm nay, mới thấy xuất hiện trên mảnh đất văn-nghệ hời hợt, giả tạo của chúng ta.

“Tôi thường tự hỏi, thời đại chúng ta đầy những quần quại, bi thương hoặc hùng tráng, mà tại sao chưa có một ‘chứng nhân’ nào ghi chép, diễn tả một cách trung thực những băn khoăn của lớp người đang sống. Chu Tử chính là ‘chứng nhân’ mà ta đang tìm kiếm. Không biết Chu Tử là một ‘chứng nhân’ trung thực đến mực nào, nhưng ít nhất Chu Tử là một ‘chứng nhân’ có tâm hồn! Một tâm hồn ngang trái như thời đại ngang trái! Một tâm hồn quằn quại, đầy mâu thuẫn, tàn bạo mà tha thiết, ngổ ngáo mà thâm trầm, cay độc mà vẫn xót thương đời, trào lộng mà cười ra nước mắt... Và nhất là đau khổ! Vì, cũng như văn hào Keats có thể sờ mó thấy sự đau khổ của nhân loại, Chu Tử là nhà văn của Ðau Khổ. Tất cả những nhân vật trong 'Sống': từ Huyền, Tuyết, Phi Yến v.v... đến nhà trí thức chống Cộng Pháp, thích đàn bà và tiền, giáo sư lừng khừng Văn, thanh niên theo Việt Cộng Thịnh v.v... tất cả đều là những kẻ đau khổ, đáng thương, nạn nhân của hoàn cảnh, hay của chính họ... Dưới ngòi bút của Chu Tử, cả tội lỗi cũng đáng thương& Tuy nhiên, Chu Tử cho ta niềm an ủi là, với Chu Tử, sự đau khổ không phải sự tuyệt vọng, và cái bi quan của Chu Tử bắt nguồn từ lòng tha thiết yêu đời, chứ không phải cái bi quan tuyệt vọng của kẻ không tìm thấy sự cứu rỗi, ở bất cứ đâu...

“Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn đã so sánh Chu Tử với J. P. Sartre và Dostoievsky, nhưng theo nhận định của tôi, những nhân vật của Chu Tử không phải là những kẻ tuyệt đối phủ nhận luân lý theo thái độ 'buồn nôn' của J. P. Sartre, hoặc hư vô 'nihiliste' như các nhân vật của Dostoievsky. Những nhân vật của Chu Tử không thừa nhận nền luân lý hiện tại, nhưng vẫn tin là có thể có một nền luân lý - 'une morale est possible' - như lời Camus. Những nhân vật của Chu Tử chưa tìm thấy sự cứu rỗi, nhưng vẫn tin là có sự ‘cứu rỗi’... Cũng như ‘Sống’ không đề ra một triết lý nhân sinh, nhưng buộc người đọc phải tự tìm cho mình một nhân sinh quan.

“Do đó, tôi nghĩ Chu Tử là một nhà văn đáng cho ta cảm mến, gửi nhiều tin tưởng nơi ông.” (3)

Ðược biết, nhà văn Chu Tử tên thật là Chu Văn Bình. Ông sinh năm 1917. Tốt nghiệp Ðại Học Luật Khoa năm 1939, khi ông mới 22 tuổi. Trước sự kiện này, ngay khi còn rất trẻ, nhà văn Chu Tử đã được ngưỡng mộ như một người thông minh xuất chúng. Tuy nhiên, ông không chọn con đường làm quan khi đất nước còn trong ách cai trị của người Pháp mà, ông chọn con đường dạy học, viết văn, rồi viết báo và làm báo... Ở lãnh vực nào, ông cũng cho thấy tài ba và, nhất là nhiệt tâm cống hiến trí tuệ, tim óc mình cho dân tộc và đất nước.

Sáng 30 tháng 4 năm 1975, trên chiếc tàu Việt Nam Thương Tín, di tản khỏi Saigon, ông là người duy nhất tử nạn vì một trái đạn B-40 bắn trúng, trước khi tàu ra khỏi cửa Cần Giờ.

(Kỳ sau tiếp)

Chú thích:

(1) Theo Tự điển Bách khoa toàn thư mở - Wikipedia.
(2) (3): Nđd.

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 7/2/2014(UTC)
Duy An  
#1740 Posted : Saturday, June 28, 2014 7:36:14 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,286

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Nhà văn Chu Tử: ‘chết dữ dằn và trầm hà’


Du Tử Lê

(Tiếp theo kỳ trước)

Dù nổi tiếng ở nhiều lãnh vực khác nhau, nhất là lãnh vực báo chí, nhưng chi tiết về nhân thân, cũng như lộ trình làm báo dài đẵng, nhiều sóng gió của nhà văn Chu Tử không có được bao nhiêu. Rất may, nhân dịp kỷ niệm 29 năm ngày tử nạn trên đường đi tản của tác giả “Yêu,” nhà văn Ðào Vũ Anh Hùng (hiện cư ngụ tại thành phố Dallas, Texas), đã có một bài viết nhan đề “30 tháng 4, tưởng nhớ nhà văn Chu Tử.”


UserPostedImage
Hình bìa tác phẩm “Sống” của Chu Tử. (Hình: Hồ Ðình Vũ)



Ðược coi như là một người thân trong gia đình, nếu không muốn nói, được nhìn như con nuôi, họ Ðào đã ghi nhận về những oan nghiệp, những thăng trầm một đời tài hoa họ Chu và, nhất là những thời kỳ làm báo của nhà văn kiêm nhà báo Chu Tử như sau:

“...Ðịnh mệnh nào tai ác đã thù hằn theo đuổi để hại cho bằng được con người khốn khổ tài hoa ấy, trong quãng giờ khắc điêu linh bất hạnh ấy của quê hương, và bằng cung cách gớm ghê thảm khốc dành cho một hình hài yếu đuối như hình hài Chu Tử, trưa ngày 30 tháng 4, 1975 - khi ông buồn bã đứng dựa thành tàu, nhìn Saigon lần cuối, nhìn quê hương lần cuối...

“Chu Tử bị bắn một lần hồi tháng 4, 1966 ngay trước nhà trong con hẻm trường Hoài An, Phú Nhuận - vỡ một mảnh hàm - nhưng ông sống sót và hồi phục chóng vánh kỳ diệu trong thương yêu phẫn nộ của công luận. Viên đạn oan khiên nghiệp chướng ngày 30 tháng 4, 1975 cũng đã thổi bay hàm dưới và là viên đạn chí tử, dứt điểm mà định mệnh đã dành cho đời Chu Tử.

“Tôi như nhìn thấy ông nằm ngay trước mặt, đau đớn, quằn quại trên vũng máu và kêu rên, và gọi tên thống thiết đứa con gái thương yêu Chu Vị Thủy đã cùng mẹ, cùng em và chồng con ở lại... Tôi như nghe được cả tiếng ông giục Sơn dốc trọn ống thuốc ngủ cho ông nuốt chửng để khỏi kéo dài cơn thảm thiết. Chu Tử đã chào thua định mệnh, chết dữ dằn và phải chết trầm hà. Số mệnh tham lam đã bắt ông phải trả cả vốn lẫn lời quá nặng.

“Tôi đã vô cùng gần gụi và có quá nhiều kỷ niệm với nhà văn Chu Tử. Ðầu năm 1964, tờ Ngày Nay của ông Hiếu Chân bị đóng cửa, tôi đã rời Ngày Nay, theo ông trong cái ê-kíp đầu tiên viết mướn cho cho những vị chủ báo, có vị không bao giờ viết báo. Từ tờ Tương Lai, Tiền Tiến của ‘vua thầu khoán’ Ðỗ Cường Duy. Rồi tờ Thân Dân của cụ Nguyễn Thế Truyền, Tranh Ðấu của ông ‘vua đái đường’ Ngô Ðức Mão, Bến Nghé của ‘vua bóng bàn’ Ðinh Văn Ngọc... cho đến khi Chu Tử xin được măng-xét ra riêng tờ Sống, đứng tên chủ nhiệm, tất cả kéo nhau về tòa soạn cũ trên đường Hồ Xuân Hương.


UserPostedImage

Anh Ngọc và Thanh Lan trong phim Yêu. (Hình: Hồ Ðình Vũ)



“Cái ‘ê-kíp Chu Tử’ đầu tiên ấy chỉ vỏn vẹn có vài người. Ngồi thường trực trong tòa soạn có Hoàng Anh Tuấn, Trọng Tấu, Ðằng Giao và tôi. Vợ chồng Trần Dạ Từ-Nhã Ca và Tú Kếu mỗi đêm đến làm tin, dịch tin. Duyên Anh phụ trách trang thiếu nhi. Vũ Dzũng, Ðỗ Quý Toàn trang Thanh Niên, Sinh Viên. Nguyễn Ang Ca ký giả thể thao, kịch trường. Võ Hà Anh phóng viên chạy ngoài. ‘Cô’ Kim Chi Hoàng Anh Tuấn lo giải đáp tâm tình và tử vi đẩu số! Anh Hợp, Nguyễn Thụy Long, Tuấn Huy, Nguyễn Ðức Nam, Lương Quân, Tiền Phong Từ Khánh Phụng viết tiểu thuyết trang trong, lâu lâu mới ghé một lần đưa bài và lấy tiền nhuận bút. Nhân vật ‘ngoại hạng’ phải kể là ‘chí sĩ’ Minh Vồ đặc trách mua bông giấy và ngoại giao với phòng kiểm duyệt Bộ Thông Tin, xin lại giấy phép mỗi khi bị chính quyền đóng cửa...

“Tôi đã gần gụi ông Chu Tử trong cả đời sống bên ngoài tòa báo, can dự vào nhiều biến cố của gia đình ông như một thành phần ruột thịt. Ông cũng coi tôi như ruột thịt của gia đình và dành cho tôi một tin cậy, mến thương sâu đậm. Tôi đã chứng kiến ông hoan lạc, bi thương, vui, buồn, hờn giận... Chứng kiến một Chu Tử hồn nhiên đúng như Nguyễn Mạnh Côn nhận xét, ‘Một tâm hồn đứa trẻ trong thể xác ông già.’ Nhưng có lẽ tôi thấy đời ông thống khổ nhiều hơn hạnh phúc. Thể xác ông phải chịu những đớn đau nhiều và quá độ đối với hình hài yếu mảnh nhưng mạnh mẽ tinh thần phấn đấu. Như chứng kiến lần Minh Vồ chở ông sau chiếc vespa, bị taxi đụng gẫy chân để Chu Tử phải chống nạng và có bút hiệu Kha Trấn Ác trong mục 'Ao Thả Vịt'. Lần ông bị bắn bốn viên đạn, phải đóng đinh trong hàm để giữ bộ răng giả, tay run lật bật khó khăn cầm bút và mất ngủ đến rên la kêu trời réo đất hàng đêm...

“Nhưng tất cả những đau đớn thể xác ấy gom lại cũng không bằng cái đau thương thống khổ của ông ngày Chu Trọng Ly, đứa con trai út ông đặt lòng thương quý đã hủy mình bằng viên đạn carbine nổ vào đầu năm 14 tuổi. Nhà thơ Hà Thượng Nhân, dịch giả Phan Huy Chiêm và tôi đã ở bên ông, trong căn phòng cho mượn của ông Thẩm Phán Phạm Hải Hồ đằng sau khu chợ Bà Chiểu, mủi lòng, bối rối, cảm thương, cực cùng xúc động trước cơn vật vã và tiếng khóc thê lương của người cha cô khổ.

“Bao nhiêu năm đã trôi qua. Bao nhiêu ngày 30 tháng 4 đánh dấu Việt Nam quốc hận. Bao nhiêu năm tôi đã ngậm ngùi tưởng niệm Chu Tử chết cùng vận nước. Tôi day dứt nhớ và tiếc nhiều điều chưa trọn vẹn cùng ông. Chu Tử sống mang không biết bao nhiêu ngộ nhận và ân oán. Một con người có văn tài và khí phách, sống giữa đám đông mà lúc nào cũng cô đơn thê thảm, cũng muốn bung phá và nổi loạn vì cái đớn hèn khiếp nhược ở chung quanh... Tôi nghĩ, thôi thà Chu Tử chết trầm hà như thế là yên phận...” (4)

(Còn tiếp một kỳ)

Chú thích:
(4) Nđd.

Edited by user Wednesday, July 16, 2014 4:11:03 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 7/2/2014(UTC)
Users browsing this topic
Guest (2)
108 Pages«<8586878889>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.