Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

106 Pages«<8081828384>»
SÀI GÒN, lịch sử, văn hoá, và kỷ niệm
Cat' Linh
#1687 Posted : Sunday, February 16, 2014 1:01:47 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 701
Points: 2,256
Location: fa la la

Thanks: 939 times
Was thanked: 860 time(s) in 461 post(s)


1 user thanked Cat' Linh for this useful post.
Hạ Vi on 2/20/2014(UTC)
Duy An
#1688 Posted : Monday, February 17, 2014 5:09:59 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Những mảng tối cuối đời nhạc sĩ tài hoa Thanh Bình!


Du Tử Lê

Trong sinh hoạt VHNT miền Nam 20 năm, dường như chỉ có một tác giả là nhà văn, trước khi trở thành nhạc sĩ, đó là nhạc sĩ Thanh Bình.



Nhạc sĩ Thanh Bình và ca sĩ Ánh Tuyết. (Hình Bạch Mai)

Nhắc tới hai chữ “Thanh Bình,” có thể nhiều người không biết đó là ai? Làm gì? Nhưng nếu những người này được nghe lại một vài khúc nhạc, đẹp từ giai điệu tới ca từ của ông, nhiều phần họ sẽ nhận ra, đó là những ca khúc họ đã nghe qua, thậm chí đã ở lại và, từng hát thầm, hoặc hát theo ca sĩ. Như:

“...Con đường mình đi sao chông gai
Bước vào đời nhau qua bao nay
Em ơi! Em ơi! Sao đắng cay
Thôi dành vùi sâu tâm tư thôi
Hết rồi còn chi đâu em ơi
Hết rồi còn chi đâu em ơi.”
(Thanh Bình, trích “Tình Lỡ” (1)

Hoặc:
“Nghe như mùi hương xưa từ quá khứ đưa về
Lâng lâng hồn bay đi, lùi về xa dĩ vãng
Hay người xưa trong nắng thấy thu vàng mênh mông
Lá đò qua sông vắng mây mù trong mắt trong.

“Bao nhiêu thời gian qua đường nét đã phai mờ
Ôi bóng hình xa xưa chỉ còn trong quá khứ
Lâu rồi nhưng vẫn nhớ vẫn rong hồn bơ vơ
Cánh hồng bay theo gió chết đi còn tương tư...”
(Thanh Bình, trích “Tiếc một người.”( 2)

Hoặc nữa:
“Những nẻo đường về đâu?
Bóng chiều chậm rơi bờ lúa nương dâu
Ôi những nẻo đường về đâu?
Ôi những nẻo đường về đâu?”
(Thanh Bình, trích “Những nẻo đường Việt Nam”)

Chẳng những có nhiều người không biết Thanh Bình là tác giả của những ca khúc vừa kể mà, đôi người viết về ông, cũng không biết rõ tiểu sử ông. Có người biết trước khi trở thành nhạc sĩ, Thanh Bình từng là một nhà văn khi còn rất trẻ. Nhưng những người này cũng không biết, ông có tác phẩm gì? Ðã từng cộng tác với báo nào?

Phải đợi tới gần đây, đầu Tháng Giêng 2014 vừa qua, bằng vào một bài viết từ lòng trân quý của nữ ca sĩ Ánh Tuyết, dành cho lớp nhạc sĩ đàn anh đi trước, lúc đó, người ta mới có được những hiểu biết cần thiết và cuộc đời của người nhạc sĩ tài hoa, nhưng bất hạnh vào cuối đời này.

Nữ ca sĩ Ánh Tuyết, trong bài viết của cô, cho biết:

“Nhạc sĩ Thanh Bình tên thật là Nguyễn Ngọc Minh, sinh năm 1932, nguyên quán Bắc Ninh. Mồ côi mẹ khoảng 10 hay 11 tuổi sau vài năm cha mất. Ông có một chị và hai em gái. Nay chị và em gái út đã mất, còn cô em kế sống ở Pháp nhưng không có liên lạc gì. Năm 19-20 tuổi ông viết truyện dài Gió dập mưa vùi, Mình còn trẻ lắm. Khoảng 1952-1953, ông viết truyện ngắn và đưa tin văn hóa văn nghệ cho nhiều tờ báo: Tia Sáng, Liên Hiệp, Tin Sớm, Bình Minh, Văn Nghệ... với bút danh Thanh Bình. Nhạc sĩ Phó Quốc Thăng là cậu ruột của ông nhưng ông lại say mê cảm hứng học nhạc từ giáo sư âm nhạc Phạm Sửu tại Thanh Hóa. Từ năm 1950-1954, ông xuôi ngược các vùng miền Bắc Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Sầm Sơn, Hà Nội rồi sau đó vào Nam...” (Wikipedia-Tiếng Việt)

Bước vào nội dung chính của bài viết, ca sĩ Ánh Tuyết phác họa những đóng góp tinh thần của tác giả “Tình lỡ,” khiến nhiều người trong chúng ta mắc nợ nhạc sĩ Thanh Bình một món nợ tinh thần lớn. Ca sĩ Ánh Tuyết nghiêm chỉnh đặt câu hỏi: “Ðã mấy ai? Ngay cả các ca sĩ nổi danh, từng hái ra tiền nhờ hát những ca khúc của Thanh Bình, còn nhớ hay thoáng nghĩ về người nhạc sĩ đó?”

Trong chúng ta, những người từng mắc một món nợ tình thần với nhạc sĩ Thanh Bình, trước 1975, vốn đã biết rất ít về ông! Thì sau biến cố tháng 4, 1975, chúng ta lại càng không biết gì về những khốn đốn, ngặt nghèo mà tác giả “Tiếc một người” đã và đang trải qua, nếu không có bài viết của ca sĩ Ánh Tuyết.

Người nữ ca sĩ nổi tiếng với bộ video nhạc Văn Cao nói riêng, nhạc tiền chiến nói chung, hiện ở Saigòn ghi nhận:
“...Các tác phẩm của nhạc sĩ Thanh Bình được ông viết bằng cả tình yêu ngọt ngào, dung dị của hồn quê, tình yêu thương sâu sắc quê hương đất nước mình, với những cảm xúc đầu đời hồn nhiên của chàng trai lãng mạn, đau đến tận cùng những mối tình đã lỡ...

“Chỉ vậy thôi nhưng cũng quá đủ để đong đầy tình người hâm mộ dành cho ông. Âm nhạc của ông thật gần gũi với tâm tư tình cảm, đời sống con người qua các ca khúc mà ông đã âm thầm góp phần trong gia tài âm nhạc Việt Nam.

“Sáng tác đầu tay của ông là ‘Những nẻo đường Việt Nam’ - viết từ tình yêu quê hương đất nước khi ông còn đang ở xứ Thanh: Những nẻo đường Việt Nam. Suốt từ Cà Mau thẳng tới Nam Quan. Ôi những nẻo đường Việt Nam. Ơ! Ta đắp đường làng ta. Nhắn ai đi, xin chớ quên quê nhà. Con đường về thôn vui quá! Tiếp đó, ‘Lá thư về làng’ cũng viết từ Thanh Hóa đã khiến bà con từ làng Thanh kéo đến thăm ông sau khi nghe ‘Lá thư về làng’ qua làn sóng phát thanh của Pháp thời ấy. Với lời ca chân chất, cách dùng từ mộc mạc, cùng giai cảm đơn thuần nhẹ nhàng luyến thương sâu sắc, sao mà không đi thăm ông cho được: ‘Từ miền xa, viết thư về thăm xóm làng. Sắt son gửi trong mấy hàng. Thăm bà con dãi dầu năm tháng’... Hay một bức tranh quê rất Việt: ‘Em thơ ơi! Có còn học hành sớm tối? Áo nâu tươi, gái làng còn che môi cười. Và đàn bò còn nghe chim hót lưng đồi... ’ ’

“Ông có hàng loạt tác phẩm nổi tiếng đáng nhớ đã lần lượt ra đời trong những thập niên 1950, 1960 và 1970 của thế kỷ trước như: Tiếc một người, Chiều vàng trên sóng, Còn nhớ hay quên, Ðừng đến rồi đi, Gặp gỡ duyên nhau, Hợp đoàn mà ca lên, Mưa qua sông, Kẻ ở (thơ Quang Dũng), Bông súng đồng quê, Thương nhau hát lý qua cầu...

“Nổi tiếng nhất vẫn là ‘Tình lỡ’ - bản tình ca đã được nhiều thế hệ ca sĩ Việt Nam cất cao tiếng hát chinh phục trái tim khán giả mộ điệu, đã biết bao nước mắt, nụ cười xúc cảm theo lời ca. Cái thời khắc phân ly kẻ đi người ở đã để lại cho đời một tác phẩm mà mãi đến bây giờ hầu như ai ai cũng biết, cũng nghêu ngao thấm thía đến từng từ của cái phận đời đen bạc:

“Thôi rồi, còn chi đâu em ơi!
Có còn lại chăng dư âm thôi
Trong cơn thương đau men đắng môi
Yêu rồi tình yêu sao chua cay,
Men nào bằng men thương đau đây
Hỡi người! Bỏ ta trong mưa bay
Phương trời mình đi xa thêm xa
Nghe vàng mùa thu sau lưng ta
Em ơi, em ơi thu thiết tha”...

“Bài hát ông viết cho chính cuộc đời mình và cho một cuộc tình đẹp không phần kết. Họ lạc nhau khi đất nước chia cắt để rồi trọn đời ly biệt. Nhưng cuộc tình ấy, người con gái ấy đã theo đuổi nỗi nhớ trong ông đến tận bây giờ...”

(Kỳ sau tiếp)

Chú thích:

(1), (2), (3) dactrung.com
1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 2/20/2014(UTC)
Ngoc N Hao
#1689 Posted : Tuesday, February 18, 2014 12:37:18 PM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Points: 8,485
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
SÀI GÒN, MỘT THỜI QUÀ VẶT SAY SƯA MÊ ĐẮM




Tôi không sinh ra, cũng không có mối tình yêu nào hoặc hôn nhân nào với người Sài Gòn hay tại Sài Gòn, nhưng lớn lên và được thành phố này cho tới ba thứ. Những tháng năm học hành thành người có nghề nghiệp, những bài thơ từ bấy đến nay cũng do báo ở Sài Gòn đăng lên cho tôi thành người cầm bút tài tử, nghiệp dư. Cái thứ ba mà Sài Gòn trang bị cho tôi là bệnh ăn quà vặt hay văn hóa quà vặt thì cũng thế. Nhận nhiều thứ, nhưng chưa khi nào tôi thấy Sài Gòn là quê hương thứ hai của mình, vô duyên với nó thật. Bây giờ, xa nó 45 km vẫn ùng ục nhớ xứ kêu là Bến Nghé này, lao phóng về vài ngày không còn chỗ để buồn nhưng thật oải và nhanh chóng rút, để những ngày tỉnh lẻ lại nghe dòng âm thanh cuồn cuộn sôi sùng sục của Sài Gòn trong lòng. Cứ vậy, và hôm nay nhớ đến quà vặt Sài Gòn.

Gọi là “quà” để phân biệt với “bữa”, một đằng ăn bất cứ khi nào, ở đâu còn đằng kia “cơm có bữa chợ có chiều”. Và gọi là “vặt” vì nó chỉ là một món nhỏ không “ra tấm ra món”, không quán sá mà là vỉa hè, cái ghế con con, có khi đứng và cả khi bệt, tất nhiên đó là những giờ phút tung cánh chim ngoài một cái hộp giam hãm nào đó. Người ăn vặt rất đa dạng nhưng chiếm tỉ lệ cao là con gái, đàn bà không kể tuổi tác, và làm sao thiếu đàn ông trong những người thực hành một thứ văn hóa bình dân đại chúng vừa…làm đẹp phố phường, vừa góp phần… cải thiện đời sống xóa đói giảm nghèo cho một số dân nghèo đô thị này? “Tụ điểm văn hóa” ăn vặt tự phát mà tồn tại như quy luật này là các cổng trường từ tiểu học đến đại học, người ta phê phán đòi giải tỏa chẳng là đã vội quên một thói quen không xấu mà lại đầy kỷ niệm của tuổi học trò?

Sài Gòn là một trong hai “kinh đô” của quà vặt.

Về cơ cấu, lấy Sài Gòn là tiêu chí thì quà vặt kể vô số nhưng có thể chia theo nhóm. Nhóm có nước chấm như thịt bò khô đu đủ, lòng vịt khìa, bì cuốn, gỏi cuốn, bò bía ( Pò pía?), bánh tôm, bột chiên, cá viên chiên…Nhóm ngọt như đậu đỏ bánh lọt (lọc), chè trứng gà, sâm bổ lượng, nước mía, tàu hũ, chè tú xọn…Nhóm có tinh bột gồm mấy thứ bánh mè, bánh bò, bánh tiêu…Và nhóm gốc thực vật như cóc, me, ổi, chùm ruột dầm, chuối chiên, khoai lang nướng, bắp nướng, bắp xào…Không thể quên những quà vặt gốc động vật như trứng cút, trứng vịt lộn…

Với tôi, có thể quên nhiều thứ của Sài Gòn nhưng quên thế nào được khúc đường Nguyễn Huệ chỗ gần đến tòa Đô Chánh trước 75, đối diện với rạp chiếu bóng Rex, có một cái quán nhỏ, gần như cái hầm rượu nhưng sạch sẽ tươm tất- quán Thảo- của ba người một mẹ hai con gái đều tên là Thảo, chỉ bán có hai thứ mà tôi mê cả hai. Bún bì và bì cuốn xén gọn gàng hai đầu nhỏ nhắn , trong có mùi lá lốp và nước chấm thì chỉ có…Thảo mới có được! Hồi còn học đại học, thường chiều hay trốn học ra vỉa hè ngã ba Pasteur- Lê Lợi. Vỉa hè khá rộng, cây cối nhiều mà lại có tới hai thứ quà nổi tiếng. Những chiếc tủ kính nhỏ bán bò khô của người Bắc, không dát mỏng nhuộm phẩm đỏ như khô bò Chợ Lớn mà từ Hà Nội mang vào. Nó dày và mềm màu hơi xỉn vì nướng ăn với đu đủ sống bào thành sợi. Lách cách tiếng kéo của người bán, xúyt xoa cay của người ăn đủ dạng, đủ tuổi. Không biết cái nào có trước nhưng hai thứ quả là dìu nhau cùng nổi tiếng và đông nghẹt, bò khô ăn xong có ngay nước mía chen và đứng- nước mía Viễn Đông!

Thử đi một vòng Sài Gòn, điều dễ thấy nhất và nếu đi nhiều ngày thì điều quen mắt nhất chính là những thứ quà vặt bán trên hè phố. Có thể nói hè phố mà không có quà vặt thì không còn là hè phố Sài Gòn nữa! Nó là một đại siêu thị open air dành cho những ai mang bệnh ăn vặt. Một cô gái sau mấy năm du học nước ngoài trở về, nói khi ở nước người ta điều cô nhớ da diết là Sài Gòn nơi cô ra đi. Và nhớ hai thứ của đất này, cái ồn ào sôi sục và sự gần gũi cởi mở của người Sài Gòn không đâu có, hai là quà vặt của đất này. Là một tay sành ăn quà vặt có nghề ngay từ nhỏ, du học về cô gái mở luôn cửa hàng có máy lạnh chuyên bán quà vặt! Qua cách nói thấy cô đầu tư đúng hướng và có tầm nhìn sáng suốt!

Cánh đàn bà thường dùng chiêu “cơm nhà quà vợ” để chấm điểm đức ông chồng tức là chỉ nhắm vào có một mục tiêu là chịu giam chân ở nhà! Nhưng với tôi, đàn ông “cơm nhà quà vợ” là loại đàn ông hơi khó chơi, kỹ tính, nhiều khi hơi ky bo và nhất là…baby lac hay Ký Cóp khó giao du!

Quà vặt là một nét rất đặc trưng Sài Gòn, mùi vị nước chấm thì khó tìm ra một nơi nào, một nội trợ nào có thể làm thay. Quà vặt Sài Gòn nhiều vô kể làm vừa lòng mọi loại người từ kẻ lang thang trốn học đến những cặp tình nhân sắp đến ngày cưới chả còn gì e thẹn bẽn lẽn và cả những cặp vợ chồng đồng bệnh lâu lâu đưa nhau về “chốn cũ” vừa khoái khẩu vừa đỡ được bữa ăn chiều hì hục. Tuy nhiên ngắm phụ nữ Sài Gòn ăn quà vặt là không nên bởi hình ảnh ấy có cái gì đó làm mất đi một phần tính hình tượng nhiều sức biểu cảm của phái đẹp.

Cái gì của số đông, tồn tại gắn với người tạo ra một nét của đất không bị sàng lọc thải loại bởi thời gian thì cái đó phải chăng là văn hóa? Mọi thứ có thể mất đi nhưng cái còn lại là văn hóa, về Sài Gòn những năm sau này tôi thấy rất nhiều thứ không còn nữa. Cái bộc trực hào phóng của người Bến Nghé mất dần cho cái láu cá, những rạp chiếu bóng permanente máy lạnh mua một vé giá bèo coi suốt ngày cũng để ngủ một tic giờ không còn nữa. Và nhiều ngôi trường một thời lừng lẫy giờ mang tên và mang ruột khác, không hoài cổ cũng thấy lòng xót xa…Những thứ này dần mai một nhưng đố ai không thấy quà vặt trên vỉa hè Sài Gòn?

Cao Thoại Châu ( Pleiku Phố Núi )
2 users thanked Ngoc N Hao for this useful post.
Hạ Vi on 2/20/2014(UTC), phamlang on 2/23/2014(UTC)
Hạ Vi
#1690 Posted : Thursday, February 20, 2014 6:51:25 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,333
Points: 16,885
Location: CỏThơm

Thanks: 4126 times
Was thanked: 9969 time(s) in 2470 post(s)





Sài gòn


Tuổi 19 học Văn khoa,
Quẩn quanh đâu cũng thấy là văn chương
Sẩy chân là đụng chiến trường,
Đụng bom đạn … khắp bốn phương bộn bề

Sài Gòn đâu bóng trăng quê,
Đâu hoa bưởi ướp tóc thề đẫm hương.
Bụi phồn hoa lấm phố phường
Kẽm gai giăng mắc điệu buồn sinh viên

Già đâu mà đã đọc thiền,
Suzuki khiến mình thêm mịt mờ…
Theo Bùi Giáng lạc cõi thơ,
Biển đời trôi bến giạt bờ mênh mang.

Nửa đêm đọc Động hoa vàng,
Ngỡ mình là gã từ quan…si tình
Ngẩn ngơ đâu bóng đâu hình,
Nam hoa kinh bướm hóa mình ngẩn ngơ…

Yêu Sài gòn mãi đến giờ,
Một đời ta gã làm thơ thất thời
Đẹp hồn nhiên tuổi đôi mươi.
Đêm mơ còn gọi ới ơi ...Sài gòn



Trần Ngọc Hưởng






Hạ Vi
#1691 Posted : Thursday, February 20, 2014 6:52:20 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,333
Points: 16,885
Location: CỏThơm

Thanks: 4126 times
Was thanked: 9969 time(s) in 2470 post(s)


Thanh Lan Tuổi biết buồn , Phạm Duy & Ngọc Chánh

Hình ảnh trích trong Phim Trường Tôi (1973)









Ngoc N Hao
#1692 Posted : Saturday, February 22, 2014 8:06:08 AM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Points: 8,485
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Báo Chiến Sĩ Cộng Hòa


Báo Chiến Sĩ Cộng Hòa, do Cục Tâm Lý Chiến xuất bản, tòa soạn KBC 3.168, có lúc phát hành 1 tháng/ kỳ (nguyệt san) hoặc nửa tháng/kỳ (bán nguyệt san). Khi quân viện (từ Hoa Kỳ) còn dồi dào thì có lúc báo Chiến Sĩ Cộng Hòa ấn bản nhiều đến mức cấp phát tới đơn vị trung đội 1 tờ (để các quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có báo xem chung).













Phạm Thắng Vũ
Feb 21, 2014

1 user thanked Ngoc N Hao for this useful post.
phamlang on 2/23/2014(UTC)
phamlang
#1693 Posted : Sunday, February 23, 2014 12:35:00 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,513
Points: 4,755

Thanks: 1669 times
Was thanked: 998 time(s) in 646 post(s)
Trí thức văn nghệ sĩ Sài Gòn trước 1975 với Vũ Trọng Phụng

Trần Hữu Tá




Một trong những hoạt động chính của văn học Sài Gòn (nói rộng ra, của văn học trong các thành thị miền Nam) trước 1975 là giới thiệu, đánh giá văn học trước Cách mạng tháng Tám 1945, trong đó giai đoạn 1932 – 1945 (mà các nhà nghiên cứu Sài Gòn qui định là 1932 – 1945) được đặc biệt chú ý. Hiện tượng này là một tất yếu, vì thành tựu và kinh nghiệm sáng tác của giai đoạn văn học phát triển rất phong phú này quả là cần thiết cho bất cứ ai muốn hiểu biết văn học dân tộc, nhất là lúc nền văn học ấy đang vận hành với công suất lớn trên con đường hiện đại hóa.

Vì vậy hầu hết các tác phẩm có tên tuổi của giai đoạn này được tái bản, và không chỉ một lần. Nhiều nhà văn tiêu biểu của giai đoạn này được giới sáng tác và giới nghiên cứu văn học đi sâu tìm hiểu. Nhưng có thể nói, trừ hiện tượng Nhất Linh rộ lên trong năm 1963 (năm ông tự tử và sau khi Ngô Đình Diệm bị đảo chánh, ông được tổ chức tưởng niệm hết sức trọng thể), thì ít ai được giới trí thức văn nghệ sĩ quan tâm một cách đặc biệt như Vũ Trọng Phụng.

Hầu hết tác phẩm của Vũ Trọng Phụng được tái bản trong đó đáng kể đến nhiều tác phẩm lẽ ra chỉ có thể lục tìm trong các chồng báo cũ của thư viện, như các truyện ngắn (non 40 truyện), các kịch ngắn (non 10 vở) như vở kịch dài Giết mẹ (dịch từ nguyên tác Lucrèce Borgia của V.Hugo), hoặc như 3 chương di cảo, trong tiểu thuyết Người tù được tha.

Các báo chí chuyên ngành văn học như Tập san Văn, tạp chí Văn học, tạp chí Thời nay, Giai phẩm văn học, tạp chí Nghiên cứu văn học cho ra những tờ đặc biệt về Vũ Trọng Phụng. Có tờ, như tạp chí Văn học, 3 lần ra số đặc biệt để tưởng niệm nhà văn quá cố.

Bên cạnh những bài viết mới, các tập san, báo chí nói trên còn cho đăng lại rất nhiều bài viết về Vũ Trọng Phụng, đã công bố trên báo chí Hà Nội trước năm 1945 của Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, Thế Lữ, Tam Lang, Lưu Trọng Lư, Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật, Lê Văn Trương, Ngọc Giao, Trương Tửu, Nguyễn Thanh, Thanh Châu, Lê Thanh, v.v…

Đã có nhóm văn nghệ sĩ tổ chức những đêm kịch Vũ Trong Phụng. Một số vở hài kịch ngắn của ông cũng như hai tiểu thuyết Giông tố, Số đỏ được chuyển thể, được lên sàn diễn.

Xem lại danh sách những trí thức văn nghệ sĩ viết về Vũ Trọng Phụng, chúng tôi thấy có thể phân thành ba nhóm. Thứ nhất, đó là những nhà văn đã thành danh từ trước năm 1945, vì những lý do khác nhau, tập trung sống và viết ở Sài Gòn như Vũ Bằng, Tam Lang, Nguyễn Vỹ, Đinh Hùng, Thiết Can, Lê Tràng Kiều…

Thứ hai, đó là các nhà nghiên cứu như Nguyễn Duy Diễn, Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung, Bùi Xuân Bào…

Thứ ba, đó là các nhà văn hoặc những người vừa sáng tác vừa hoạt động nghiên cứu, như Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu…

Nếu căn cứ vào quan điểm nhân sinh, thái độ chính trị của các cây bút này, chúng ta thấy họ khá khác biệt, thậm chí đối lập nhau. Có người chống đối cách mạng từ căn bản ý thức hệ, như Doãn Quốc Sỹ. Có người không nhất quán về chính trị như Dương Nghiễm Mậu. Số đông đậm sắc thái “trung tính”, ngược lại có một số người giác ngộ cách mạng, và với các vị ấy văn học là mặt trận đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân mới, tất nhiên bằng những phương cách khác nhau, với những tư thế khác nhau, như Vũ Bằng, Lữ Phương, Vũ Hạnh…Có người đã hy sinh trên chiến trường Tây Ninh năm 1986, lúc đã thoát ly khỏi vùng giải phóng như Trần Triệu Luật.

Trong số 46 bài báo và cuốn sách mà chúng tôi có trong tay, viết về Vũ Trọng Phụng ở Sài Gòn trước năm 1975 (một con số chắc chắn chưa đầy đủ so với thực tiễn hoạt động của xuất bản báo chí ở một địa bàn rất nhộn nhịp và phức tạp như Sài Gòn và các thành thị miền Nam suốt 21 năm trước ngày giải phóng), có thể phân ra hai loại:

Loại thứ nhất, gồm 17 bài viết dưới dạng hồi ức, kỷ niệm. Người viết đều là các bạn văn, thậm chí chí cốt với Vũ Trọng Phụng lúc sinh thời. Đáng chú ý là các bài viết của Tam Lang (Vài kỷ niệm về Vũ Trọng Phụng – Giai phẩm văn học số 170, ngày 05/8/1973), Nguyễn Vỹ (Vũ Trọng Phụng, chương 4 cuốn Văn thi sĩ tiền chiến, trang 49-66, Nhà xuất bản Khai Trí, Sg, số 1969), Đinh Hùng (Nhớ Vũ Trọng Phụng, Tạp chí Văn học, Sg, số 44, ngày 15/8/1965) và sáu bài viết của Vũ Bằng đăng trên các Tạp chí Văn học (Sg) (15/10/1969), Giai phẩm văn học (05/8/1973) hoặc in trong các cuốn Bốn mươi năm nói láo (Phạm Quang Khai xuất bản, Sg, 1971). Ngoài ra còn có các bài viết khác của Lê Tràng Kiều, Thiết Can, Đồ Nam, v.v…

Loại thứ hai, gồm 29 bài hoặc chương sách nghiên cứu về sự nghiệp sáng tác của Vũ Trọng Phụng. Có những bài khảo sát dưới góc độ thể loại, như của Doãn Quốc Sỹ (Văn học và tiểu thuyết – Nhà xuất bản Sáng tạo, Sg, 1973), Vũ Bằng (Khảo về tiểu thuyết – Phạm Văn Tươi xuất bản, Sg, 1955), v.v… Có một số bài nghiên cứu căn cứ khuynh hướng nghệ thuật của ông, như các bài Vũ Trọng Phụng nhà văn tả chân bất hủ (Nguyễn Duy Diễn – Tạp chí Hiện đại, Sg, tháng 4/1960), Vũ Trọng Phụng, nhà văn hiện thực xã hội (Bùi Ngọc Dung – Tạp chí Văn học, Sg, số 44, ngày 15/8/1965), Kỹ thuật tả chân của Vũ Trọng Phụng (Đỗ Long Vân, Tạp chí Nghiên cứu văn học, Sg, 5/1968), Nhóm tả chân xã hội (Nguyễn Văn Trung, trong Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết – Nam Sơn xuất bản, Sg, 1965). Cũng có một số nhà nghiên cứu dưới góc độ văn học sử, như Phạm Thế Ngũ (Vũ Trọng Phụng, trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập III, Quốc học tùng thư xuất bản, Sg, 1965).

Xin hãy nói về các bài hồi ký. Thể ký đặc sắc này hấp dẫn người đọc trước hết vì với tư cách là người trong cuộc, hay ít nhất là chứng nhân, người viết đã lọc lựa trong kho kỷ niệm những chi tiết vừa xác thực, gợi cảm, vừa có ý nghĩa sâu sắc, giúp cho độc giả hiểu được sự việc, con người mà họ đang quan tâm – các thiên hồi ký chỉ có thể được coi là thành công khi nó làm người đọc giàu có thêm nhận thức xã hội và phong phú thêm về tình cảm đậm chất nhân văn.

Mười bảy bài hồi ký nói trên, chất lượng không phải đều cao. Có bài vụn vặt và tẻ nhạt (Đồ Nam – Năm cái bí mật của Vũ Trọng Phụng). Không ít chi tiết trùng lặp trong năm bài viết của Vũ Bằng. Nhưng điều đáng quý là ở chỗ, các nhà văn nhà báo cựu trào này đã làm rõ một cách xúc động hai vấn đề lớn của con người nghệ sĩ Vũ Trọng Phụng. Đó là nhân cách và tài năng.

Cái cốt lõi nhất của nhân cách Vũ Trọng Phụng theo Vũ Bằng là “Một điều tưởng như vô lý, tưởng như không thể thực hiện được, nhưng Vũ Trọng Phụng đã đem áp dụng trong suốt cả cuộc đời: Dù không đủ ăn, không đủ mặc, không đủ ở, Vũ Trọng Phụng vẫn âm thầm sống để mà viết” (Cảm nhớ Vũ Trọng Phụng). Vũ Trọng Phụng vượt lên mọi eo sèo phiền toái, thậm chí cực nhọc của nợ áo cơm, trước hết vì trách nhiệm của ông với bốn thế hệ phụ nữ mà ông phải cưu mang: bà, mẹ, vợ và con gái còn thơ dại. Cho nên “Vũ Trọng Phụng không mấy tán thành nếp sống của chúng tôi lúc đó: nhiều khi anh em đi hát hay chè, rượu, phiện phò thì anh ngồi uống nước, hút thuốc lào một mình và viết bài cho báo khác để kiếm thêm giúp bà, nuôi mẹ” (Vũ Bằng – Tôi, thằng vô lại). Vì vậy, như Nguyễn Vỹ nhớ lại một chi tiết xúc động: có khi Vũ Trọng Phụng đau khổ chỉ vì một chuyện quá nhỏ nhặt, đó là không có lấy năm hào chỉ để mua cho người con gái độc nhất chiếc đèn con cá trong dịp tết Trung Thu, để cháu khỏi thèm thuồng khi nhìn đồ chơi trong tay các trẻ hàng xóm.

Nét đẹp của nhân cách Vũ Trọng Phụng còn là ở chỗ, dù bị sự nghèo túng ghì sát đất nhưng ông vẫn sống trong sạch, thanh cao, không để các ông chủ kinh doanh chữ nghĩa coi thường, xúc phạm. Với những tay chủ xuất bản keo kiệt, nhập nhằng việc thanh toán nhuận bút, Vũ Trọng Phụng đòi ráo riết, thậm chí khi cần ông đã giáng đòn sâu cay, ê ẩm (Nguyễn Vỹ – Văn thi sĩ tiền chiến). Để đối phó với loại chủ báo, chủ xuất bản tàn nhẫn thiếu lương tâm, lạnh lùng bóc lột những nhà văn cộng tác, Vũ Trọng Phụng cùng các văn hữu đấu tranh đến cùng (Đinh Hùng – Nhớ Vũ Trọng Phụng). Ông sẵn sàng từ chối chỗ làm lương cao bổng hậu, khi đã biết rõ chất trọc phú của người mời nhưng trái lại rất sẵn sàng xin bạn một hào đi xe, “vì quần áo diện như thế này mà đi bộ trông ê lắm” (Vũ Bằng – Cái tài, cái tật của Vũ Trọng Phụng). Nói là “diện”, nhưng như các bạn văn của ông cho biết, Vũ Trọng Phụng không bao giờ có một bộ quần áo đẹp. Mùa rét có một bộ tím kẻ sọc, mùa nực chỉ có hai bộ trắng.

Với tư cách là tri kỷ với người đã khuất, các nhà văn cao niên còn giúp người đọc hiểu rõ hơn những chuyện “bếp núc” trong suốt 10 năm cầm bút của Vũ Trọng Phụng. Tài năng của nhà văn được các bạn ông chân thành ca ngợi. Chẳng hạn, năm 1971, Tam Lang nhắc lại một ý ông đã từng viết năm1939, lúc Vũ Trọng Phụng qua đời “Vũ Trọng Phụng viết sau tôi, mà sắc bén hơn tôi” (Tam Lang – Vài kỷ niệm về Vũ Trọng Phụng). Sắc bén là phải, bởi vì Vũ Trọng Phụng lao động hết sức cần mẫn, nghiêm túc. Vũ Bằng làm ta ngạc nhiên, cảm phục khi kể lại cung cách viết văn như đánh vật của Vũ Trọng Phụng “nằm phủ phục xuống mà viết”, “suy nghĩ kỹ trước khi viết, đến khi cầm bút là chỉ việc viết thôi”, “lúc viết, mắt anh liếng, miệng anh há ra viết nhanh, nhưng tướng trông rất vất vả, nên anh em thường đùa gọi là bộ Việt Nam vong quốc sử” (Vũ Bằng – Cái tài, cái tật của Vũ Trọng Phụng).

Đồ Nam, trong bài viết của mình cũng cho ta rõ cách thức tích lũy vốn sống của Vũ Trọng Phụng, ngoài cái vốn sống trực tiếp, ông đã rất có tài trong việc khai thác tư liệu từ các nguồn gián tiếp, từ ông anh họ Trưởng Ca thạo nghề cờ bạc để viết Cạm bẫy người; từ người bạn Nguyễn Như Hoàn rất gần gũi và hiểu biết các me Tây để viết Kỹ nghệ lấy Tây, từ những câu chuyện của Ngô Tất Tố – con đẻ của đồng ruộng – để có những trang viết sinh động về thực trạng bi đát, đáng phẫn hận của nông thôn trong Giông tố v.v…

Vũ Bằng, cũng như Lê Tràng Kiều, Thiết Can, cho chúng ta biết tinh thần tự học rất đáng ca ngợi của Vũ Trọng Phụng “Dù bận rộn viết lách đến mấy đi nữa, tuần nào anh cũng đọc hàng chục tờ báo Pháp để học thêm. Trong anh em, có thể nói anh là người hiểu rõ tinh thần của giọng văn Canard Enchainé (Con vịt bị xiềng, tên một tờ báotrào phúng nổi tiếng của Pháp – THT) nhất, mà anh cũng am hiểu nhất chính trị ở nước Pháp và thế giới lúc bấy giờ” (Vũ Bằng – Tôi, thằng vô lại).

Tóm lại, có thể nói, cùng với các bài viết dưới dạng cảm xúc, hồi tưởng, viết lúc Vũ Trọng Phụng qua đời của Nguyễn Tuân, Tam Lang, Lan Khai, Ngô Tất Tố… và những bài hồi ký công bố rải rác trong những năm miền Bắc chống Mỹ của Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng; đặc biệt những bài viết trong những năm đầu đất nước ta đổi mới (1987 – 1990) của Bùi Huy Phồn, Lưu Trọng Lư, Đỗ Tất Lợi, Mạnh Quỳnh, Thanh Châu, Vũ Ngọc Phan v.v… chùm hồi ký của các nhà văn nhà báo Sài Gòn viết trước 1975 giúp người đọc hôm nay và mai sau hiểu chính xác về con người công dân và con người nghệ sĩ Vũ Trọng Phụng. Tất nhiên có ngoại lệ, nhưng quả là tính cách phẩm hạnh của người viết đã quyết định giá trị những trang viết của ông; sâu xa hơn, từ những hiểu biết tích cực ấy người đọc tin vào sự trong sáng, chân thành của những đứa con tinh thần của người nghệ sĩ.

Xin được nói về chùm bài nghiên cứu. Dễ nhận thấy tình trạng chất lượng không đồng đều của những bài này. Một số bài, sức khái quát chưa cao, công phu khảo sát chưa đạt đến độ sâu cần có, còn thiên về ấn tượng, cảm tưởng. Ít có công trình nghiên cứu nào thực sự qui mô, đầy đặn, có tầm cỡ của chuyên luận.

Tuy vậy giới nghiên cứu Sài Gòn trước đây cũng đã có những đóng góp rất đáng ghi nhận về thành quả lao động nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng. Để khảo sát, nhận định, nhiều người có những định hướng tiếp cận khác nhau. Từ góc độ tư tưởng nghệ thuật, Nguyễn Văn Trung so sánh Vũ Trọng Phụng và các nhà văn trong nhóm tả chân với Tự lực văn đoàn để thấy sự khác biệt chủ yếu. Theo ông, “Trong ý hướng viết của nhiều nhà văn trong Tự lực văn đoàn, người ta ghi nhận sự tự giác của nhà văn, sự ý thức được quyền lợi cá nhân của cái tôi và họ đã thể hiện sự ý thức đó trong hầu hết các nhân vật của họ”. Thế còn Vũ Trọng Phụng và nhóm tả chân? Theo Nguyễn Văn Trung “Ý hướng viết không còn bao hàm một lo lắng phục vụ một cái tôi vị kỷ, nhưng chan chứa một nỗi băn khoăn về số phận của người khác, về quyền sống của tha nhân” (Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết, tr. 98, NXB Nam Sơn, 1965).

Từ góc độ chính trị, với suy nghĩ của một thanh niên giác ngộ cách mạng đang hoạt động hăng say trong phong trào tranh đấu của sinh viên thành phố, Trần Triệu Luật ca ngợi tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, cả phóng sự lẫn tiểu thuyết, đặc biệt là hai kiệt tác Giông tố và Số đỏ. Anh khẳng định tác dụng của tác phẩm trong việc tố cáo hiện thực xấu xa tệ hại trước 1945 và theo anh dù ba thập kỷ qua đi, đối với người đọc sống giữa Sài Gòn những tác phẩm ấy hoàn toàn giữ nguyên giá trị thời sự. (Vũ Trọng Phụng – Hiện diện cần thiết của xã hội ngày nay – Tạp chí Văn học (Sài Gòn, số 44, ngày 15/8/1965). Một số nhà nghiên cứu như Lê Văn Siêu, Doãn Quốc Sỹ tiếp cận Vũ Trọng Phụng từ góc độ thể loại.

Trong Văn học sử thời kháng Pháp (1858 – 1945), Lê Văn Siêu lần lượt nhận xét tác phẩm của Vũ Trọng Phụng ở hai thể loại.

Về phóng sự, theo Lê Văn Siêu, Vũ Trọng Phụng khác Tam Lang, Trọng Lang ở “cái duyên kể chuyện hiếm có”, ở “ngòi bút thật đáo để chanh chua”, nghĩa là ở “cách điệu văn riêng của Vũ Trọng Phụng”. Nét độc đáo của Vũ Trọng Phụng, theo Lê Văn Siêu còn vì “văn của ông còn chất dâm, một chất muối đậm, hơi có phần tục tĩu để đùa dai, đùa nhả, nó khiến độc giả có hứng thú theo dõi câu chuyện cho đến hết, như cái hứng thú đọc thơ Hồ Xuân Hương hay truyện tiếu lâm” (Sdđ, tr 310).

Về tiểu thuyết, nhà nghiên cứu này xếp Vũ Trọng Phụng cạnh Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng, Nguyên Hồng và đánh giá không cao. Ông nhận xét về sự hòa hợp giữa chất phóng sự và chất tiểu thuyết, về thành công của Vũ Trọng Phụng trong việc xây dựng nhân vật điển hình, ông tán thưởng kỹ thuật tả chân của Vũ Trọng Phụng “đã dựng nổi cho hư thành thực”, “sắc sảo khi nhận xét thực tại xã hội và diễn biến tâm lý cùng sự việc trong cuộc sống” . Nhưng Lê Văn Siêu tỏ ra nghiệt ngã khi khái quát “nhiều đoạn thì gần như quanh quẩn ở vụ tình dục bỡn cợt nhố nhăng, vụng dại. Nó là sự cố ý pha trò cho đại chúng, hay những người dễ tính đọc lấy vui qua một lúc thì thôi”. Và vì thế, theo Lê Văn Siêu: “Nói rằng nó đồng loại với những truyện cổ Trạng Quỳnh, Tú Xuất, Ba Giai hay những truyện mới về Lý Toét, Xã Xệ của Phong hóa, thì có lẽ cũng chỉ sai lệch ở phần sỗ sàng, tục tĩu…” (Sđđ, tr. 311).

Nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận tác phẩm Vũ Trọng Phụng từ trào lưu nghệ thuật, từ khuynh hướng tả chân. Nổi trội, có nhiều ý kiến chín chắn, sắc sảo hơn cả là ba bài viết của Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Duy Diễn và Dương Nghiễm Mậu.

Bài viết của Phạm Thế Ngũ là một chương trong bộ lịch sử văn học khá qui mô bề thế – bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (3 tập). Nhà nghiên cứu này có cách viết chân phương, qui phạm. Ông chủ yếu đi sâu vào hai lĩnh vực thành công nhất của Vũ Trọng Phụng – phóng sự và tiểu thuyết để từ đó phân tích hai phương diện vừa tách bạch vừa gắn bó: Vũ Trọng Phụng – nhà văn xã hội và nhà văn tả chân. Ông đánh giá cao Vũ Trọng Phụng, vì nhà văn “dám phanh phui những nhơ nhớp xã hội, nêu cao lá cờ tả chân triệt để vào một lúc mà cơn gió lãng mạn êm đềm vẫn còn thổi lên nhiều tâm trí” (Sđđ, Tập 3, tr. 516). Nhưng theo Phạm Thế Ngũ, chỗ đứng của Vũ Trọng Phụng khá chông chênh và giao động – “Sự mỉa mai căm hờn (của nhà văn) không phải chỉ hướng vào lớp thượng lưu trưởng giả mà hướng vào tất cả những kẻ xấu xa trong xã hội. Ông lố bịch hóa hạng người bé nhỏ với một ngòi bút cũng tàn ác như khi ông chửi bọn bệ vệ giàu sang. Ông chế giễu những cái hủ lậu của xã hội cũ và cũng ác liệt như ông chế giễu những lố lăng của xã hội mới” (Sđđ, tr. 518) cho nên nhiều lúc Vũ Trọng Phụng quyết liệt dữ dội, nhưng “nhiều chỗ lại nghĩ và viết như các cụ lớp trước vậy, như Tản Đà, Tương Phố, hơn nữa như Nguyễn Bá Học trong những đoản thiên cảnh thế” và Lời khuyên học trò – Phạm Thế Ngũ đã khái quát: “Đó là cái cảm tưởng rõ rệt của người đọc đi từ Giông tố đến Lấy nhau vì tình” (Sđđ, tr. 519).

Hai bài của Nguyễn Duy Diễn (Vũ Trọng Phụng – nhà văn tả chân bất hủ – TạpchíHiện đại, số1/1960) và Dương Nghiễm Mậu (Viết về Vũ Trọng Phụng – Tạp san Văn, số 67,ngày 01/10/1966) có phong cách viết khá tương đồng: cảm xúc chân thành, nhận xét tinh sắc, giọng điệu tâm sự. Hai ông ca ngợi khả năng khái quát, tái hiện hiện thực bậc thầy của Vũ Trọng Phụng. Theo Dương Nghiễm Mậu, người đọc có thể “thấy những lạc hậu, nghèo đói khổ ải, những tráo trở, biến động, thét gào trong các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Lạp, Nam Cao, Ngô Tất Tố…nhưng để lại cho chúng ta một bức họa sâu sắc, đầy đủ hơn hết tình trạng xã hội ấy thì phải nói đến những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng. Có người nói rằng khi còn ở Pháp, Tạ Thu Thâu đã nói muốn biết xã hội Việt Nam ra sao chỉ cần đọc Vũ Trọng Phụng thì biết. Nếu thế thì quả Tạ Thu Thâu đã có con mắt tinh đời”.

Nguyễn Duy Diễn còn nhấn mạnh hơn “Quái lạ! Trong bất cứ hoàn cảnh nào, trong xã hội nào, tiền chiến, đương chiến cũng như hậu chiến, cái hay của Vũ Trọng Phụng đã không hề bị suy giảm mà còn, với thời gian, tăng gấp lên mãi”.

Tại sao vậy? Theo nhà nghiên cứu, vì Vũ Trọng Phụng đã “trình bày bằng cái cười trào lộng, cả một xã hội mục nát, đểu cáng mà ở bên ngoài đã được sơn phết bằng một nước sơn “văn minh” bóng loáng. Cái xã hội đó không chỉ là xã hội tiền chiến, mà còn có thể là xã hội ở mọi nơi và trong mọi thời đại – Thực vậy, khi nào mà một số phụ nữ vẫn còn tấp tểnh động cỡn, một số người vẫn dựa vào uy thế để bợ đỡ quan trên và hống hách với người dưới, khi mà còn có những thằng người vô liêm sỉ, coi sự nhục nhã vì tiền là một danh dự, coi sự lừa lọc là một thắng lợi, coi việc hiếp được một thiếu nữ quê mùa chất phác là một chiến công oanh liệt, v.v… thì ngày ấy tư tưởng căm hờn của Vũ Trọng Phụng trong Giông tố, Số đỏ, Trúng số độc đắc,v.v… vẫn còn đủ những lý do để tồn tại, để đứng vững”.

Hai ông đều đặc biệt lưu ý đến thành công của nhà văn trong việc xây dựng những điển hình bất hủ, “không điển hình cho một thời đại mà là điển hình cho mọi thời đại” (Nguyễn Duy Diễn) cũng như tỏ ra rất tâm đắc với “ngòi bút trào lộng hiếm có” của Vũ Trọng Phụng. Với những thủ pháp nghệ thuật độc đáo, nhà văn “đã trở nên một ảo thuật gia đảo lộn mọi tình tiết, bày đặt và phóng đại tất cả những sự việc, mà người đọc vẫn không hề thấy dấu vết của sự bịa đặt, phóng đại” (Nguyễn Duy Diễn).

Hai nhà nghiên cứu này còn gặp nhau, khi nhấn mạnh giá trị cơ bản của tác phẩm Vũ Trọng Phụng: giá trị nhân văn. Theo Nguyễn Duy Diễn “Vũ Trọng Phụng đã lật tẩy tất cả những cái mặt nạ của đời để chúng ta nhìn thẳng vào mà suy nghĩ. Bởi vì, đúng như Chúa Cơ Đốc đã phán: “Chỉ có sự thật mới giải thoát được cho chúng con mà thôi”.

Còn với Dương Nghiễm Mậu, thì “Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng như một bức thông điệp nhân đạo gửi cho nhân loại với cả yêu thương và tin tưởng của một con người đã sống và chết đi trong đau khổ, đói rét, bệnh tật. Chắc Vũ Trọng Phụng không muốn loài người phải như thế nữa”.

Khi đọc lại những bài viết về Vũ Trọng Phụng của tri thức văn nghệ Sài Gòn trước 1975, một câu hỏi cứ như treo lơ lửng trong tôi: tại sao các vị ấy lại quan tâm một cách đặc biệt, rất nhiều cảm tình với Vũ Trọng Phụng đến như thế?

Có động cơ thương mại chăng, bởi vì đây là món hàng văn chương đất khách? Chắc cũng có, nhưng chỉ là sự toan tính của các ông chủ xuất bản.

Trí thức văn nghệ sĩ Sài Gòn đánh giá cao Vũ Trọng Phụng một cách chân thành. Cũng như đánh giá cao Nhất Linh, Khái Hưng, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Thạch Lam… một cách chân thành. Hơn thế nữa, họ muốn tìm ở đây một bài học quý giá về lao động nghệ thuật, vì nói như Dương Nghiễm Mậu, thành công của Vũ Trọng Phụng “minh chứng rằng một tác phẩm bám sát thời đại, cuộc sống của một xã hội nào đó không có nghĩa chỉ sống trong một thời, một hoàn cảnh mà nó vẫn vượt thoát ra, vẫn thành công”.

Ở một cấp độ cao hơn, một số tri thức văn nghệ sĩ yêu nước tiến bộ như Trần Triệu Luật mà chúng tôi trình bày ở trên, muốn qua tác phẩm Vũ Trọng Phụng để nhìn rõ bản chất xã hội Sài Gòn, nói rộng ra xã hội thành thị miền Nam lúc đó. Nhìn rõ để có thể xác định thái độ sống đúng đắn. Tự nhiên tôi lại nhớ đến phát biểu của nhà thơ Tố Hữu trong Hội nghị tranh luận văn nghệ ở Việt Bắc năm 1949: “Vũ Trọng Phụng không phải là nhà cách mạng, nhưng cách mạng cám ơn Vũ Trọng Phụng”.

Làm công việc “kiểm toán” nhũng thành tựu nghiên cứu văn học dân tộc nói chung, từ ngày Đất nước đổi mới đến nay, chúng ta không quên sự đóng góp của những trí thức Sài Gòn chân chính trong 21 năm đất nước cắt chia (1954 – 1975).

Nguồn: khoavanhoc – ngonngu.edu.vn/Tạp chí ĐH Sài Gòn, Bình luận văn học, niên giám 2012


Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 3/2/2014(UTC)
hophien
#1694 Posted : Monday, February 24, 2014 10:13:14 AM(UTC)
hophien

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 5/1/2011(UTC)
Posts: 14
Points: 42
Location: VN

Thanks: 4 times
Was thanked: 1 time(s) in 1 post(s)
Topic Saigon toàn hình đẹp - có những điều mình chưa biết
Ngoc N Hao
#1695 Posted : Wednesday, February 26, 2014 1:02:15 PM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Points: 8,485
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Đọc lại Sài Gòn ơi..! Ngày Xưa Ấy Vẫn Còn Đây ...

Kính dâng hương hồn anh NTN . Riêng tặng chị Thế Mỹ và những ai đã một lần là người yêu của lính




Tiếng nhạc văng vẳng từ chiếc máy Cassette phòng kế bên đánh thức tôi dậy …"Sài gòn đẹp lắm SàiGòn ơi SàiGòn ơi !". Chẳng biết mấy giờ nữa . Trời đêm nay lạnh hơn mọi đêm . Kéo chăn lên phủ kín người . Tôi đưa mắt nhìn qua khung cửa sổ . Cửa kính một màu trắng đục . Tôi không nhìn thấy gì cả ngoài những hình ảnh một đời dấu yêu của Sài Gòn đi về …
Còn hơn nửa tháng Tết mới về mà Sài Gòn chừng như đã vào xuân . Các lớp học đều ở tình trạng vắng học trò ở giờ cuối . Các vị tướng thiếu quân cũng đâm ra hờ hững với bài giảng . Rạo rực cùng với những rạo rực của đám học trò xôn xao đó Tết về . Nắng trải vàng ngoài đường phố . Chiều nay có hai giờ Kinh Tế . Tôi muốn ở nhà phụ Mẹ làm cho xong mấy lọ kiệu để Ba ăn Tết , song vẫn tiếc giờ học của thầy Mẫu . Tôi đạp xe đến trường . Con đường Duy Tân cây dài bóng mát đã là người tình muôn thuở của dân trường Luật rồi . Con đường dễ thương chi lạ . Từng đôi , từng đôi đang chụm đầu vào nhau uống nước dừa bên đường . Đang lúi cúi khóa xe , nghe tiếng ai gọi . Tôi giật mình ngước lên . Thì ra là con nhỏ Dung
- Gì đó nhỏ
- Mau lên . Anh Nghiệm đang đợi mầy ở Thư Viện
Tôi bàng hoàng khẽ hỏi:
- Ủa ! Sao Nghiệm về giờ nầy
Dung nắm tay tôi . Liếng thoắng giục
- Nhanh lên công chúa ơi . Người hùng chờ mầy dài cổ sắp khóc rồi . Nhờ tao dỗ nãy giờ đó
Tôi cùng Dung bước vào thư viện . Thư viện của những ngày sắp Tết buồn thiu . Học trò đã lãng quên sách vở hết rồi . Nghiệm đón tôi vẫn với nụ cười dễ thương muôn đời của chàng
- Anh mới về .Ghé nhà Mẹ bảo Vy đã đến trường . Anh đi ngay . Sao Vy đến muộn vậy ?
Tôi vẫn chưa hết bàng hoàng , vân vê tà áo
- Xe Vy hư máy dọc đường đó anh
- Anh Nghiệm đừng tin . Nhỏ Vy đụng mấy cây si dọc đường nên đến trễ đó .
Nghiệm cười thật tươi và bảo Dung:
- Dung chỉ anh đi , anh đốn hết cho mà coi
Tiếng chuông reo vang ,Vy hốt hoảng bảo Dung :
- Chết ! Tới giờ học rồi Dung ơi
Dung nheo mắt chọc ghẹo
- Đi với Dung vào lớp hay đi với anh Nghiệm nè hở nhỏ ?
Nghiệm cười hiền hòa
- Cho anh bắt cóc Vy chiều nay đi nghe Dung . Tết anh lì xì Dung thiệt nhiều
Vy nhẹ nhàng khẽ nói:
- Dung vào học nha . Nhớ ghi bài cho kỹ cho Vy mượn . Vy cũng tiếc giờ học lắm , nhưng Dung thương Vy nha . Lâu lâu anh Nghiệm mới về một lần mà ..
Trong câu nói của bạn dường như như có tiếng khóc . Dung nghe ngậm ngùi thương Vy làm sao . Những mối tình trong thời chiến là thế ấy . Gặp được nhau là mừng . Là hạnh phúc .Còn ngày mai ? Chẳng ai dám nghĩ "Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi" mà . Dung thấy buồn buồn chào Vy và Nghiêm .
- Vy yên tâm đi chơi với anh Nghiệm vui nha . Ghé Viễn Đông ăn dùm Dung hai cuốn bò bía với
Bóng Dung khuất sau hai hàng cây trong sân trường . Thư viện chỉ còn Vy và Nghiệm .Vy chớp mắt nhìn Nghiệm nhỏ nhẹ hỏi :
- Sao thơ cho Vy anh bảo 28 Tết anh mới về cơ ?
Vy nghe một thoáng buồn nào đó trong câu trả lời của Nghiệm
- Tình hình sôi động . Có công văn khẩn trực Tết 100%. Do đó anh phải về sớm ăn Tết trước với Vy .Tết anh không về được bé ạ ! Sao hôm nay còn học nữa Vy. Mọi năm giờ nầy đã nghỉ rồi mà
- Ông thầy Vy bảo dạy rút cho hết chương trình . Có thể năm nay thi sớm đó anh
- Thì ra thế…
Vy đứng lên nắm hai tay Nghiệm . Nàng nghiêng đầu nũng nịu :
- Cho Vy nhìn lại anh cái đã
Nghiệm làm bộ đứng nghiêm . Hất cầm lớn tiếng:
- Đây kẻ đã về xin trình diện Hoàng hậu
Vy cười . Nghiệm vẫn là một hình ảnh thật đẹp . Đẹp hơn bất cứ người đàn ông nào trên cõi đời nầy
- Xong chưa ? Sao Vy ? Thế nào ?
- Anh đẹp nhất thế giới
- Anh nhường cho Vy đó
Chúng tôi cười vang . Vy ôm cập lên và bảo :- Bây giờ mình về nhà nghe anh
- Chưa được . Anh đã thăm người yêu của anh rồi . Bây giờ Vy phải cho anh đi thăm người tình của anh nữa chớ .
Vy nhìn Nghiệm ngơ ngác . Nghiệm choàng tay qua người Vy khẽ bảo :
- Vy là người yêu . Sài Gòn là người tình . Bỏ xe Vy ở trường đi . Lên xe với anh đi thăm một vòng Sài Gòn nha Vy



Vy sung sướng gật đầu . Gío chiều lồng lộng thổi . Tôi nép người bên lưng chàng thật thương yêu . Tiếng chàng văng vẳng :
- Anh về Vy mừng không Vy ?
Vy nũng nịu :
- Gặp lại anh vẫn là một hạnh phúc lớn nhất trong đời Vy
Chúng tôi đi ra Nguyễn Huệ .Sài Gòn rực rỡ khi Xuân về . Tiệm hoa vải Bạch Tuyết muôn màu muôn sắc . Chiều nay hạnh phúc thật bất ngờ đến với tôi . Chàng đã về . Và bên chàng tôi không còn mơ ước nào hơn nữa
- Vy đói bụng không Vy
- Vy muốn đến Pagode uống cà phê với anh
Pagode đã là nơi chốn kỷ niệm của tôi và chàng . Pagode của những chiều mưa . Pagode của những chiều nhạt nắng . Tôi bên chàng thì thầm nói chuyện tình yêu. Quán chiều nay thật vắng . Chỉ có vài bàn có khách . Hình như họ cũng là người yêu của nhau như tôi và chàng . Chúng tôi vẫn ngồi ở chiếc bàn mọi lần
- Anh uống phin đen . Vy thêm sữa nghe
- Dạ
Hai cà phê phin được mang ra . Từng giọt cà phê nhỏ xuống . Tôi thật yêu những buổi chiều mưa ngồi với chàng nơi đây . Ngồi bên chàng nhìn ngoài trời mưa giọt vắn giọt dài . Nghe tiếng cà phê nhỏ giọt tôi thấy ấm áp lạ thường . Chiều nay trời không mưa . Nắng vẫn vàng ngoài lòng đại lộ
- Vy nghĩ gì đó Vy ?
- Vy nghĩ anh có quà gì cho Vy
- Đâu Vy đoán thử coi
- Anh ép hoa rừng về tặng Vy phải không ?. Vy khẽ hát nho nhỏ “Nếu em không là người yêu của lính . Ai mang cánh hoa rừng về tặng em”. Đúng không anh ?
Nghiệm cười trêu Vy
- Trật rồi bé ơi
Chàng đưa tay vào túi áo lấy ra một chiếc hộp nhỏ trao tôi
- Quà của Vy nè . Vy mở đi
Tôi tần ngần giở nắp hộp . Tự nhiên nghe xao xuyến lạ thường .Chiếc nhẫn đính hôn lấp lánh trên nền vải gấm đỏ
- Đưa tay đây anh đeo cho Vy
Tay tôi run run trong tay chàng .Chiếc nhẫn đã lồng vào ngón tay tôi tự bao giờ. Chàng thì thầm :
- Vy có sung sướng không Vy ?
Nước mắt tôi đong đầy bên khóe .Tôi vẫn thường khóc khi sung sướng . Tôi không biết làm gì hơn nữa trong lúc nầy . Chàng kéo ghế sát tôi hơn .Vòng tay qua bờ vai người yêu . Tiếng chàng êm êm
- Qua Tết ba má anh sẽ qua nhà thưa chuyện với Ba Mẹ hỏi Vy cho anh . Mà sao anh sợ Mẹ quá hà Vy
Vy ngước mắt nhìn Nghiêm vời vợi yêu thương
-Mẹ cũng thương anh . Nhưng Mẹ thương Vy hơn . Mẹ sợ Vy khổ một đời nếu Anh có mệnh hệ nào .. Ba cũng ở quân đội . Mẹ khổ vì những lo lắng đêm ngày cho Ba . Vì vậy Mẹ chần chờ . Mẹ không muốn Vy làm vợ anh sớm . Mẹ cứ bảo “Vy còn nhỏ . Đợi thanh bình Mẹ cho Nghiệm cưới Vy”
Nghiệm âu yếm vuốt tóc Vy :
- Số anh cao lắm .Vy đừng lo .Nhưng dù sao anh cũng ráng xin Mẹ cho anh hỏi Vy . Bao giờ Mẹ cho cưới là quyền của Mẹ .Anh chờ Vy suốt đời anh mà
Nhà năm nay ăn Tết buồn hiu . Nghiệm đã về đơn vị sáng 22 Tết . Ba cũng chẳng về được .Mấy ngày Tết vội vã qua đi .Mùng 4 Tết Ba mới ở đơn vị về . Ba không được vui như những lần về phép thăm nhà . Ba hỏi thăm Nghiệm . Tôi tíu tít kể chuyện chàng về ăn Tết sớm với Bé Vy . Trong buổi cơm chiều bỗng Mẹ bảo Ba
- Ba má Nghiêm nhờ người đến xin hỏi bé Vy . Ba Vy nghĩ sao?
Tôi giật mình lo sợ .Tôi sợ ba chối từ . Tôi sợ phải xa Nghiêm .Vì đời sống của tôi bây giờ là của chàng mất rôi . Ba xoa đầu tôi khẽ bảo:
- Làm vợ lính bé Vy sợ khổ không con .
Tôi gục đầu vào lòng Ba nước mắt ràn rụa
- Ba Mẹ thương con . Thương Nghiệm nữa nha …
Thế mà mau quá . Chỉ còn dăm ngày nữa là đến ngày lễ hỏi của Vy và chàng . Tôi lăng xăng với trăm thứ việc . Chiếc áo dài đã lấy về từ chiều hôm qua . Hàng áo gấm vàng Nghiệm đã chọn cho tôi trước ngày chàng trở về đơn vị . Nghiệm vẫn thích bé Vy mặc màu vàng .Chàng thương màu vàng từ ngày hôm ấy .Chàng cứ bảo “ màu vàng chỉ để cho một mình Vy mặc mà thôi” . Tôi còn nhớ hôm đó đang đứng trước sân trường chờ nhỏ Dung đi về bỗng có tiếng người hỏi:
- Cô bé ơi hôm nay có còn ghi danh nữa không?
Tôi ngước mắt nhìn lên . Chàng trai nầy lạ . Chẳng phải bạn cùng lớp với Vy mà . Vy đáp nhẹ
- Dạ ông ghi danh năm thứ mấy hở ?
-Năm cùng năm cô bé đang học đó
Tôi cười:
- Ông xạo ghê , biết Vy học năm thứ mấy mà nói
Chàng thật tự nhiên :
- Vy học năm thứ mấy nói đi . Mà đừng gọi ông nữa . Nghe già lắm . Bộ Vy thấy tôi già lắm hở Vy ?
Vy luống cuống:
- Vy đâu biết gì . Vy đâu có quen ông lần nào đâu . Vy biết gọi là gì ?
Chàng thân mật hơn . Giới thiệu ngay
-Tôi là Nghiệm - Hoàng xuân Nghiệm - nghề nghiệp :lính . Hôm nay về phép đến thăm trường cũ ngày xưa . Xong rồi đó cô bé . Bây giờ đến phiên Vy nè
Vy thấy tự nhiên hơn :
- A! Vậy thì ngày xưa anh Nghiệm học ở đây hả ? Vui ghê . Vy học năm thứ nhứt .Tên Vy là Nguyễn Vy Lan song bạn bè và gia đình vẫn gọi là Vy . Mà anh Nghiệm đi ghi danh thiệt hôn ?
Nghiệm cười:
- Anh đi thăm Vy đó



…. Thế là chúng tôi quen nhau từ hôm ấy và tình yêu kéo dài gần 4 năm nay . Nhà thực bận rộn. với ngày lễ hỏi sắp đến của Vy . Mẹ thì không hài lòng lắm trong cuộc hôn nhân nầy . Tôi nghe Mẹ bảo nhỏ với các cô: Chiều Vy . Chớ tình hình lộn xộn quá . Đời quân ngũ biết ra sao . Có gì nó khổ một đời .Nhưng tôi vững tâm với lời chàng nói hôm nào “ Số anh cao lắm mà Vy”. Tôi yên lòng và tôi nghĩ chúng tôi sẽ ở bên nhau đến suốt cuộc đời !
Chiều nay Nghiệm vẫn chưa về . Mai là lễ hỏi rồi . Tôi đã lấy bộ đồ Veste về cho chàng như lời chàng dặn .Nhà Nghiệm cũng sốt ruột . Ai cũng trông ngóng chờ đợi chàng về . Tôi buồn rầu ai cũng thấy . Má Nghiệm đến bên tôi dỗ dành :
- Chắc trễ xe . Vy đừng lo. . Tối Nghiệm sẽ về mà
Tự nhiên tôi òa lên khóc
- Nhỡ Nghiệm không về sao Bác
- Không ! Tối Nghiệm sẽ về
Đêm càng khuya . Hơn 12 giờ tôi cùng chưa về nhà .Tôi đợi chàng từng giờ từng phút .Tôi thầm gọi chàng trong đêm "Nghiệm ơi ! Nghiệm ơi ! Về với Vy đi"
Chợt có tiếng gõ cửa thật nhẹ . Tôi cuống lên "Nghiệm về . Nghiệm về". Tôi vội nép vào góc tủ . Tôi muốn gây cho Nghiệm một sự bất ngờ . Bỗng tôi nghe tiếng òa khóc lên của Má Nghiệm . Tôi ló đầu ra . Mắt tôi nhòa đi . Tôi chỉ nghe tiếng khóc thét của mình và ngất đi ….
…Tôi nghe tiếng Mẹ khóc và bảo
- Bé Vy tỉnh rồi anh
Tôi đưa mắt nhìn chung quanh .Nhà cửa rộn rịp quá . Hôm nay là lễ hỏi của Vy mà . Đầu óc tôi vẫn còn mê man :
- Nghiệm về chưa Mẹ
Mẹ ôm tôi khóc nhiều hơn và không trả lời
- Mẹ thương con quá Vy ơi
Tôi nắm tay Mẹ lắc mạnh
- Cho con biết Nghiệm về chưa Mẹ
Tiếng Mẹ đứt quãng , xót xa :
- Nghiệm về rồi con
Tôi bật ngồi dậy
- Nghiệm về sao không thăm con . Cho con gặp Nghiệm đi
Mẹ tôi dìu tôi đứng lên .Bên kia là Mẹ Nghiệm . Tôi đi ra phòng khách . Không khí yên lặng bao trùm căn phòng . Chàng đâu ? Nghiệm đâu ? Mẹ chỉ cho con đi . Ba chỉ cho con đi . Bác ơi chỉ cho con đi . Không ai biết Nghiệm ở đâu để chỉ cho Vy bây giờ . Chàng đã đi thật xa rồi . Tôi gục dầu trên nắp quan tài phủ lá quốc kỳ đã lịm kín hình hài người tôi yêu dấu và tôi lại ngất đi …
Chiều nào ở trường ra tôi cũng vào nghĩa trang thăm chàng . Con đường Mạc đỉnh Chi muôn đời sầu muộn . Tôi mang cặp sách đi thăm người yêu . Tôi thì thầm kể chuyên với anh trong khói nhang lãng đãng bay bay theo gió chiều hiu hắt trong khung cảnh buồn bã , ảm đạm của Nghĩa trang. Ly caphê đây . Anh uống với em đi . Em mua cho anh từ Pagode đó . Uống đi anh . Thuốc nè, em đã đốt cho anh rồi đó . Thuốc Salem của anh đó . Anh hút đi rồì nghe em kể chuyện chúng mình nha anh . Tôi cứ say sưa , thỏ thẻ với chàng cho đến khi đêm xuống tôi mới giã từ chàng ra về . Mẹ tôi vỗ về khuyên lơn nhưng giờ nầy đời sống tôi không còn gì nữa .Chẳng ai khuyên nhủ được tôi . Bạn bè nhìn tôi lắc đầu thương xót . Ba buồn rầu thương cho con gái chịu nhiều đau đớn xót xa …
Tháng tư tình hình rất sôi động . Đêm đêm nghe tiếng hỏa châu từ xa vọng về tôi nhớ chàng sao là nhớ . Chàng đã nằm xuống . Nợ nước đã đền . Cho tròn phận sự của kẻ nam nhi . Cho khăn sô quấn lên đầu tôi một đời góa phụ . Rồi Đà Nẵng mất . Ban Mê Thuộc mất . Dân quân trên đường di tản . Ba cho người đưa tin về dặn Mẹ thu xếp đồ đạc cho gọn . Tôi cũng chẳng hiểu thế nào . Đầu óc tôi lúc nầy chẳng còn là của tôi nữa …
Dân Sài gòn đã nhốn nháo hẳn lên . Xuân Lộc ngút trời khói lửa . VC đã về đến Biên Hòa . Quốc Lộ 4 đã bị cắt đứt . Sài Gòn có thể đổ máu . Tôi nghe người ta bàn tán . Mẹ tôi như điên chẳng biết đưa chị em tôi đi đâu .. Tôi , chàng và tất cả những đứa con VN đều là nạn nhân của chiến cuộc . Tôi thu xếp thư từ của Nghiệm . Chiếc ảnh bán thân của chàng cùng những kỷ niệm dấu tích một đời yêu nhau của hai đứa cho vào một cái túi nhỏ . Mẹ bảo thu xếp quần áo .Tôi chẳng cần gì cả . Đời tôi chỉ còn bao nhiêu đó thôi . Tôi không vơi nhớ chàng và trong giây phút đất nước ngả nghiêng, tôi nhớ chàng hơn bao giờ hết
Sài Gòn đêm nay trong kinh hoàng . Lịnh giới nghiêm đã được ban hành .Tổng Thống Thiệu đã ra đi đêm qua và một số tướng lãnh khác đã lên phi cơ hết rồi . Các vị lãnh đạo sinh mệnh dân tộc đã buông tay , để lại nhục nhằn cho đám dân đen .
Phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích dữ dội . C S đã về tới Hàng Xanh . Có tiếng hỏa tiễn rớt vào thành phố . Mẹ bảo tất cả xuống hầm núp .. Mẹ cứ mếu máo bảo “ Chẳng biết ba có làm sao không”. Nửa đêm nghe tiếng đập cửa thật lớn . Tôi rón rén bước ra . Tôi nghe tiếng hốt hoảng của Ba
- Mở cửa mau lên Mẹ Vy
Tôi nhanh tay mở chốt . Ba lách người vào thật nhanh . Mẹ và chị em tôi vây quanh Ba . Tôi nghe tiếng Ba thật nhỏ
- Mẹ Vy và các con nhanh lên . Mỗi người mặc hai bộ đồ . Mang theo những giấy tờ cần thiết của gia đình . Bỏ lại tất cả . Ra xe ngay
Tôi khóc trong tiếng nấc
- Đi đâu bây giờ hở Ba
- Ít ra Ba phải ẩn trong giai đoạn nầy .Bỏ nước ra đi trong lúc nầy là cái nhục lớn của những người cầm súng như Ba .Song Quân đội giờ nầy đã tan rã hết rồi .Chẳng còn ai để chỉ huy nữa . Các tướng lãnh đã bỏ anh em mà đi hết rồi . Đã bỏ đi hết rồi con ơi !
Ba gục đầu trên thành ghế . Tôi khóc to hơn . Ba đứng lên giục
- Nín đi Vy . Mau lên . Có chuyến bay đêm nay và Ba đã dành được chỗ cho gia đình . Ba đưa tay kéo lá Quốc Kỳ trên tường xuống . Ba xếp lại cho vào chiếc cặp nhỏ .Tôi thấy những giọt nước mắt chảy dài trên đôi gò má sạm nắng của người chiến sĩ già đã nửa đời trong quân ngũ
Tôi nhìn căn nhà lần cuối .Nước mắt ràn rụa . Đường phố Sài Gòn vắng tanh , ghê rợn . Xe chạy thật nhanh trong đêm . Tôi mở mắt thật to như muốn thu hết những gì còn lại của SàiGòn đêm nay vào tâm hồn . Tiếng đại bác nổ ròn . Có tiếng người la , khóc … Thành phố diễm lệ ngày nào giờ kinh hoàng thế đó . Tôi mong xe chạy qua nghĩa trang Mạc đỉnh Chi để tôi vẫy tay chào chàng lần cuối . Song xe chạy hướng khác . Nhắm phi trường Tân Sơn Nhất .
Phi trường hỗn độn .Người ta chen lấn nhau để lên phi cơ . Ba dặn chị em tôi ôm nhau kẻo lạc . Mẹ nước mắt đầm đìa .Tôi không còn nước mắt để khóc nữa . Đau đớn đến tận cùng cuộc đời rồi , tôi đã mất tất cả . Ước mơ của đời con gái . Niềm tin tuổi trẻ cùng lúc chắp cánh bay cao . Chỉ còn lại trong tôi một tâm hồn đổ nát, hoang tàn
Ba giục đẩy chị em tôi lên phi cơ . Tiếng động cơ nổ đều cùng tiếng đại bác hỏa tiễn ầm vang phi trường . Phi cơ đã cất cánh . Nghiêng mình nhìn qua khung cửa tôi nhìn Sài Gòn lần cuối cùng . Thành phố nhỏ dần ,nhỏ dần cho đến lúc tôi không còn thấy gì nữa . Tôi gục đầu vào lòng Mẹ nức nở .
Tiếng đồng hồ thong thả ngân lên trong đêm đưa tôi trở về thực tại . Đã 12 giờ . Giao thừa rồi đó anh . Giao thừa của em nơi xứ người bao nhiêu năm nay vẫn là những trống vắng mông mênh không bến bờ .Thời gian vẫn chưa làm em nguôi ngoai niềm thương nhớ xa xưa . Dù chúng mình chưa một lần ân ái , Nhưng chiếc nhẫn đính hôn anh trao em một chiều nào nơi Pagode năm xưa vẫn còn đó . Như một định mệnh . Như một khẳng định . Em đã là của anh trọn đời trọn kiếp .
Đã 32 năm trôi qua . Em vẫn chưa một lần về thăm chốn cũ . Con đường dẫn về khuôn viên Đại học những chiều mưa bay . Bến tàu chiều lộng gió . Kỷ niệm ngày xưa của chúng mình vẫn đong đầy trong hồn em . Từ ánh mắt , môi cười . Như anh vẫn còn đây . Thế mà chúng mình đã muôn đời vĩnh viễn cách chia . Về với em đêm nay đi anh . Hát cho em nghe bản tình ca thật buồn của chiều cuối năm xưa

“ Ngày em thắp sao trời...
Chờ trăng gió lên khơi
Mà mưa bão tơi bời...
Một ngày mưa bão không rời

Trên vai đôi thanh xuân
Ướp hương nồng trên gối đắm say
Ánh sao trời theo gió rụng rơi đầy
Cùng rót bao nhiêu ngày hoang

Cùng đếm bao nhiêu mộng tàn
Ru người yêu dấu trong vòng trời đêm
Vừa hoa nở tươi môi
Tình nhân đã xa rồi

Đời ngăn cách nhau hoài
Yêu nhau trong lo âu
Biết bao lần tha thiết nhớ mong .
Lá hoa rừng mau xóa đường quay về …”.


Bài hát không hợp với khung cảnh ngày Tết chút nào song em yêu vô cùng . Bài hát như đã vận vào đời em , đời anh và bây giờ chúng mình nghìn trùng mãi mãi cách xa . Đêm nay trong giờ phút thiêng liêng của đêm trừ tịch hình ảnh anh là một vuốt ve đầm ấm hơn bao giờ hết . Vy nghe như tiếng chàng văng vẳng đâu đây: "Anh về ăn Tết với Vy nè Vy ơi !"
Ngoài trời tuyết vẫn rơi ….


Winnipeg cuối năm 2007
Ngày xưa Hoàng Thị
1 user thanked Ngoc N Hao for this useful post.
Hạ Vi on 3/2/2014(UTC)
Duy An
#1696 Posted : Thursday, February 27, 2014 8:26:49 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Nhạc sĩ Thanh Bình: từ bi kịch tình trường, tới bất hạnh đời thường


Du Tử Lê

(Tiếp theo kỳ trước)

Tuy nhiên, căn cứ theo bài viết có từ những “phút nói thật” của nhạc sĩ Thanh Bình, dành riêng cho ca sĩ Ánh Tuyết thì, bi kịch hay bất hạnh tình trường không chỉ tìm đến một lần với chủ nhân của những ca từ chân thiết, tới nao lòng như:

“Hỡi hương nào gây nhớ mới hay tình thật bền
Tình ngủ yên trong tim
Ðã thấy tàn cuộc đời, còn tiếc hoài một người
Ngổn ngang tâm sự đắng (...)
Hôm qua hồn bay xa hồn đã tới bên người
Nghe dòng lệ tuôn rơi nhạt nhòa bên chăn gối
Sau cùng cơn yêu dấu vẫn hay là thương đau
Hỡi người xa xăm đó biết nhau thì xa nhau.”
(Thanh Bình, trích “Tiếc một người”) (5)

Mà, định mệnh tàn khốc vẫn đeo đẳng ông, như chiếc bóng thứ hai, tựa bất hạnh mới là con bài chủ của cuộc đời người nhạc sĩ tài hoa, nhưng kém may mắn này.




Nhạc sĩ Thanh Bình thời trẻ. (Hình Hà Ðình Nguyên)


Cụ thể, khi tâm sự với ca sĩ Ánh Tuyết, tác giả “Tình Lỡ” đã kể lại như sau:

“...Ðời nghệ sĩ đưa ông lang bạt kỳ hồ. Cứ Hải Phòng, Nam Ðịnh, Thanh Hóa, ra Hà Nội rồi lại vào Nam, nhưng cũng chẳng tránh khỏi phận long đong... Rồi nhiều cuộc tình dâu bể không thành. Có lần ông lại thành ‘chú rể bỏ trốn’ ngay trước giờ hôn lễ. Mãi đến năm 1973 ông mới chính thức lập gia đình với một người phụ nữ xinh đẹp, sống trong căn hộ chung cư ở đường Tự Do (nay là Ðồng Khởi), Q.1, Sài Gòn. Cuộc sống khá đơn sơ, sáng ông dạy lớp tiếng Anh, chiều lớp tiếng Pháp. Và có lẽ cũng hạnh phúc được vài năm. Sau năm 1975, vợ chồng ông mở quán cơm ven đường Ðồng Khởi.

Những tưởng đâu sẽ an lành bên vợ đẹp con xinh, nhưng rồi cũng đến lúc cơm không lành canh không ngọt. Bà đã bỏ đi khỏi nhà, bỏ lại ông khi con gái mới hơn 3 tuổi. Ông rơi vào cảnh gà trống nuôi con mọn, kinh tế túng quẫn, cuộc sống vá víu đắp đổi qua ngày. Ông mơ hồ nói: ‘Có lẽ cô ấy đã rẽ sang bước khác, tôi không chắc cũng chẳng nhớ nữa...’"

Khi ca sĩ Ánh Tuyết nêu câu hỏi tại sao tình trường của nhạc sĩ Thanh Bình, một con người tài hoa, phong nhã như vậy, lại có thể nổi trôi hết từ vùi dập này, tới vùi dập khác thì ông không giải thích (không muốn nhắc?), chỉ nhận lỗi về phía mình!

Nhưng lúc Ánh Tuyết hỏi tới đứa con gái, bị mẹ bỏ rơi khi mới 3 tuổi thì tác giả “Tiếc Một Người” lại nồng nàn, tựa như ông luôn khao khát, hân hoan được nói về hạt máu duy nhất có được, của đời mình:

“...Chỉ khi nhắc đến con gái thì tự nhiên ông lại nhớ, lại kể: 'Con gái gần 40 tuổi, nó lận đận lắm, đời chồng trước thì hợp pháp nhưng không bền. Ðời thứ hai thì không hôn thú nhưng cũng là chồng. Bây giờ con gái đang ở tù, vướng vào vòng lao lý của vòng đời cơ cực mà ra!... Do nó ham tiền, hùn vốn làm ăn với người ta rồi gặp xui nên mắc họa (...)”

“Thế rồi ông lại bơ vơ. Hai cô cháu gái của ông xót xa kể: ‘Khi con gái đi tù mới khoảng một năm, ông bị bỏ rơi ở bến xe miền Ðông. Ông già 81 tuổi gầy gò, ốm yếu đang mắc nhiều bệnh nguy nan với thùng quần áo cùng cái quạt máy cũ kỹ. Ông sống lay lất gần tháng trời với bánh mì hay ăn tạm miếng cháo qua ngày.’ Những ngày lang thang đó, ông kể: 'Tôi đưa chứng minh nhân dân thuê được chiếc chiếu 500 đồng/ngày, tìm đại chỗ trống ngả cái lưng, sáng ra thấy người ta cũng ngủ đông nghẹt xung quanh.’”

“Cũng may còn một chút an ủi, ông còn có những người cháu gọi là cậu ruột. Họ cũng mồ côi cha mẹ. Và họ sẵn sàng đón ông về chăm lo nuôi dưỡng. Cũng gần một năm rồi, họ túm tụm đùm bọc nhau trong căn nhà chỉ 21m2 mà có tám nhân khẩu, nay lại nuôi thêm ông. Cô cháu tên Châu ngắt lời cô Phượng: ‘Cũng may qua thông báo của công an khu vực, chúng tôi biết được công an bến xe miền Ðông đang giữ một ông già ngày nào cũng ôm cái quạt máy cũ đi qua đi lại nơi đây. Họ định đưa ông về trại dưỡng lão nhưng may quá có chứng minh nhân dân, họ biết địa chỉ chúng tôi. Chúng tôi xin đưa cậu về nuôi dưỡng nhưng cậu không chịu đi. Có lẽ cậu sợ bị mang đi bỏ nơi khác xa hơn, rồi không có cơ hội được gặp con gái. Cậu cứ một mực muốn tìm đường xuống trại giam để được ở gần con gái vì quá nhớ.’”

“Nỗi nhớ thương con trong vô vọng. Liệu ông có đủ sức chờ đợi khi tuổi già sức yếu lắm bệnh nguy nan đeo bám, nào là tim, cao huyết áp, giờ lại thêm bệnh phổi và bệnh nghễnh ngãng... Không biết khi con gái được mãn tù, ông có còn sống để nhớ mà nhận ra con không?...” (6)

Tôi không nghĩ một người nào, có thể trả lời câu hỏi điếng lòng của ca sĩ Ánh Tuyết! Nhưng khi thuật lại đêm nhạc “Tình Lỡ” do Ánh Tuyết và một số bằng hữu nghệ sĩ tổ chức tối ngày 3 tháng 1, 2014, tại phòng trà “We”, ở thành phố Saigon, ký giả Quỳnh Nguyễn trong bài tường thuật trên nhật báo Tuổi Trẻ đã có đoạn như sau:

“...Họ đến không chỉ để nghe Tình Lỡ - một bài tình ca thuộc hàng bất hủ của nhạc sĩ Thanh Bình, nghe thêm những tác phẩm ít được biết đến nhưng rất đáng nghe khác của ông và hơn hết là để quyên góp, gây quỹ gửi tiết kiệm cho vị nhạc sĩ lão thành tài năng với cuộc đời nhiều trắc trở, sóng gió.

“Gần 140 triệu đồng (trong đó có hơn 60 triệu đồng từ doanh thu và quyên góp tại đêm diễn) là số tiền mà bạn yêu nhạc, người hảo tâm đã gửi về cho ban tổ chức, ca sĩ Ánh Tuyết trong hai tuần qua, kể từ bài viết của ca sĩ Ánh Tuyết về nhạc sĩ Thanh Bình trên Tuổi Trẻ số ra ngày 22 tháng 12. Ðó tuy không phải là số tiền quá lớn nhưng lại rất đáng trân quý, nhất là trong hoàn cảnh hiện nay của nhạc sĩ Thanh Bình - không có vợ con bên cạnh, may mắn được các cháu con người chị đã mất tìm thấy và nhận cưu mang từ đầu năm 2012 đến nay.

“81 tuổi, khá yếu vì bệnh tim và đi lại tương đối khó khăn nhưng nhạc sĩ Thanh Bình cũng đã có mặt trong đêm nhạc Tình Lỡ để nói những lời tri ân khán giả. Ông run run chia sẻ: ‘Tôi rất hân hạnh và cảm động khi biết mọi người còn nhớ đến tôi và thực hiện đêm nhạc cho tôi. Lâu lắm rồi tôi mới được nghe những bản nhạc của mình được hát trên sân khấu. Cảm ơn ca sĩ Ánh Tuyết đã mang đến cho tôi niềm vinh dự này, mang lại cho tôi niềm hứng khởi để tôi cảm thấy yêu đời.’(...)”

“Cô Dung và cô Phượng - hai cháu gái đang sống cùng và chăm sóc cho nhạc sĩ Thanh Bình - thổ lộ: ‘Cậu chúng tôi vui lắm! Khi nghe ca sĩ Ánh Tuyết nói là sẽ thực hiện đêm nhạc của ông, ông không nói gì nhiều nhưng lòng lại rất mong chờ, chộn rộn, mong đến đêm diễn. Hôm nay khi chuẩn bị đến đây, ông cứ hỏi sắp đến giờ chưa và ông mặc đồ thế này trông có được không?. ’ ’” (7)

Và, nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, một trong những ca, nhạc sĩ tham dự đêm diễn, cũng phát biểu:

“Những nhạc sĩ trước đây viết nhạc chỉ để giãi bày tâm sự, tình cảm của mình chứ không vì danh lợi hay để được biết đến. Người đời thấy tác phẩm hay thì hát. Và với những tác giả thì việc được người đời hát nhạc phẩm của mình đã là một nguồn động viên, một món quà rất lớn rồi. Thật sự tôi thấy ấm lòng khi được góp mặt trong đêm nhạc này, được tận mắt chứng kiến những tình cảm chân thành mà công chúng dành cho nhạc sĩ Thanh Bình và những đứa con tinh thần của ông.” (8)

Với tôi, những giây phút “ấm lòng” đó, sẽ ở với nhạc sĩ Thanh Bình tới phút cuối đời ông. Và, người con gái duy nhất hiện còn trong lao lý, khi biết được cha cô, cuối cùng, chẳng những không bị đời lãng quên mà, còn trao tặng ông những vòng nguyệt quế rực rỡ, mang tính biết ơn thì, đó cũng là niềm hãnh diện to lớn của cô. Nó sẽ giúp cô vượt qua được, những ngày đen tối hiện tại.

Du Tử Lê
(Còn tiếp một kỳ)

Chú thích:
(5), (6), (7), (8) Nđd.
1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 3/2/2014(UTC)
Hạ Vi
#1697 Posted : Sunday, March 2, 2014 7:44:07 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,333
Points: 16,885
Location: CỏThơm

Thanks: 4126 times
Was thanked: 9969 time(s) in 2470 post(s)



Phim tư liệu về Sài Gòn xưa.









1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
Ngoc N Hao on 3/3/2014(UTC)
Ngoc N Hao
#1698 Posted : Monday, March 3, 2014 11:17:22 AM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Points: 8,485
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Ngày Phụ Nữ 03/03/1960 tại Sài Gòn Năm Xưa



Sài Gòn 1960 - Nữ sinh Trưng Vương diễn hành trong ngày Phụ Nữ


Xe hoa trường Nữ Trung Học Trưng Vương


Nữ sinh Gia Long diễn hành trong ngày Phụ Nữ


Xe hoa trường Nữ Trung Học Gia Long


Ngày lễ Phụ Nữ tại công trường Lam Sơn - Sài Gòn 1960




Khán đài trong ngày lễ Phụ Nữ. Bà Ngô Đình Nhu mặc áo dài ngồi kế bên 1 phụ nữ mặc váy dài (sarong) là Phu Nhân của Cố Tổng Thống Aung San của Miến Điện, bà cũng được gọi là bà quả phụ Maha Thiri Thudamma Daw Khin Kyt.


Bà Ngô Đình Nhu đọc diễn văn khai mạc ngày lễ Phụ Nữ


1 đại diện phụ nữ đang nêu những thành tích của phụ nữ VNCH và những quyết tâm trong tương lai


Các phụ nữ đang đặt vòng hoa tại đài tưởng niệm Hai Bà Trưng tại công trường Mê Linh


Ca đoàn trường Nữ Trung Học Trưng Vương đang hợp ca bài "Trưng Nữ Vương"


Hai Bà Trưng oai phong lẫm liệt trên 2 con voi


Các Nữ Tướng và quân sĩ của 2 bà Trưng












Nữ Hướng Đạo Việt Nam.


Xe hoa Ký Nhi Viện


Xe hoa Phát Triển Cộng Đồng


Xe hoa Liên Đoàn Công Chức Quốc Gia


(Còn Tiếp...)
2 users thanked Ngoc N Hao for this useful post.
Hạ Vi on 3/4/2014(UTC), phamlang on 3/9/2014(UTC)
Ngoc N Hao
#1699 Posted : Monday, March 3, 2014 12:43:43 PM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Points: 8,485
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Trong dịp lễ Phụ Nữ, nhiều cuộc thi và giải thưởng được tổ chức cho phụ nữ tham dự.

Thi Em Bé Đẹp







Một bà mẹ vóc dáng mảnh mai đang trình diện em bé khỏe.




Bà quả phụ của Cố Tổng Thống Aung San của Miến Điện đang trao giải thưởng cho Em Bé Đẹp. Bà quả phụ này chính là thân mẫu của bà Aung San Suu Kyi, là nữ lãnh tụ rất nổi tiếng của Miến Điện hiện nay. Tấm hình bên dưới là bà quả phụ Aung San đang nhận 1 bó hoa hồng từ 1 thiếu nữ VN


A portrait of Khin Kyi and her family in 1948. Aung San Suu Kyi is seated on the floor.



*****

Thi Làm Bánh





Bánh thời đó làm rất thật thà với nhiều công phu và phẩm chất trong lành, ăn chỉ thấy thơm ngon thôi...




Thi thêu, phải công nhận kỹ thuật thời đó kém bây giờ rất xa, hiện nay các tranh thêu đã đạt được phẩm chất và mỹ thuật rất cao.


Thi áo dài đẹp , yểu điệu, dịu dàng thục nữ..., phải bước đi trình diễn trên băng ghế cao như vậy... (sợ té')


*****

Thi Văn Chương





Các phụ nữ đang dự thi viết văn


Lễ trao giải thưởng các cuộc thi tổ chức nhân Ngày Phụ Nữ VN, tại Tòa Đô Chánh Sài Gòn 03/03/1960




Người đoạt Giải Viết Văn : Cô Phạm Thị Nguyệt trường Huỳnh Khương Ninh


Các nữ sinh Trung Học Đồng Khánh, Huế, trong ngày lễ Hai Bà Trưng


Trước năm 1952 tại Hà Nội, các sinh viên Hà Nội mặc áo dài nhiều màu sắc khác nhau để đến trường,trông thật lịch sự nhã nhặn. Sau khi chia đôi vỹ tuyến năm 1954, áo dài bỗng dưng hiếm hoi tại miền bắc, Nhưng trong Nam áo dài vẫn phổ biến khắp mọi nơi.

Sau 30-4-1975, thì miền Nam cũng như miền Bắc, áo dài bỗng dưng hiếm thấy trên đường phố ..!


Nguồn honviet.co.uk
2 users thanked Ngoc N Hao for this useful post.
Hạ Vi on 3/4/2014(UTC), phamlang on 3/9/2014(UTC)
Hạ Vi
#1700 Posted : Tuesday, March 4, 2014 6:37:19 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,333
Points: 16,885
Location: CỏThơm

Thanks: 4126 times
Was thanked: 9969 time(s) in 2470 post(s)





Merci Ngọc Hảo nhiều lắm lắm nha, đã post 2 posts về những tấm hình thật đẹp của Sài Gòn xưa và áo trắng học trò.






1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
Ngoc N Hao on 3/4/2014(UTC)
phamlang
#1701 Posted : Sunday, March 9, 2014 4:44:30 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,513
Points: 4,755

Thanks: 1669 times
Was thanked: 998 time(s) in 646 post(s)
TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT




Vào ngày 1/8 âm lịch hang năm, tại Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt (Lăng Ông – Bà Chiểu) đều có Hội Lăng, kỷ niệm ngày mất của ông.

Đức Tả quân Lê Văn Duyệt (tên chữ Hán: 黎文悅, 1764-1832) là một công thần trụ cột của nhà Nguyễn. Ông giữ nhiều chức vụ quan trọng, trong đó có lần nhận mệnh tôn vua mới, và hai lần làm Tổng trấn Gia Định Thành.

Lê Văn Duyệt sinh năm 1764 tại vàm Trà Lọt, làng Hòa Khánh, châu Định Viễn, dinh Long Hồ (nay thuộc xã Hòa Khánh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang). Ông nội của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Hiếu từ làng Bồ Đề, huyện Mộ Đức – Quảng Ngãi vào đây sinh sống. Sau khi ông Lê Văn Hiếu qua đời, cha ông là Lê Văn Toại rời vùng Trà Lọt đến ở tại vùng Rạch Gầm, làng Long Hưng (nay thuộc huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang). Lê Văn Toại có tất cả 4 người con trai. Lê Văn Duyệt là con trưởng. Sử cũ mô tả ông là người thấp bé, nhưng lại có sức mạnh hơn người, từng được coi là một trong “ngũ hổ tướng”.

Theo chúa Nguyễn, chống Tây Sơn

Khi chúa Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi chạy đến Rạch Gầm, có ngụ tại nhà thân sinh của ông là Lê Văn Toại, nhân đó ông được Nguyễn Phúc Ánh tuyển dụng làm thái giám năm ông 17 tuổi. (có nghĩa quan thái Giám trong triều)

Theo Quốc triều sử toát yếu, thì trong trận đánh tại Đồng Văn, ông bị quân Tây Sơn bắt, nhưng sau đó trốn về được. Tháng 11AL năm 1784, ông gặp lại Nguyễn Phúc Ánh, rồi gắn bó chặt chẽ với vị chúa này, trong đó có hai lần ông hộ giá sang XIêm (Thái Lan).

Tháng 11AL năm 1793, cho Lê Văn Duyệt làm chức Thuộc nội Vệ úy, vì “tuy sinh ra là người giám, (nhưng là) người mạnh dữ mà đánh giỏi, có công tùng chinh”. Kể từ đó, chúa Nguyễn thường bàn việc binh với Lê Văn Duyệt.

Tháng 11AL năm 1800, ông được cử theo Tiết chế Nguyễn Văn Thành. Hai ông hợp quân đánh thắng một trận lớn, nhưng sau đó nảy sinh hiềm khích. Tháng Giêng AL năm 1801, Lê Văn Duyệt cùng chúa Nguyễn và các tướng là Nguyễn Văn Trương, Võ Di Nguy, Tống Phước Lương đánh chiếm cửa biển Thị Nại năm 1801. Khi lâm trận, tướng Võ Di Nguy bị trúng đạn chết, ông Duyệt càng gắng sức đánh, đốt phá gần hết binh thuyền Tây Sơn. Trận ấy được khen là “Võ công đệ nhất”.

Tháng 4 AL cùng năm, ông theo chúa Nguyễn ra đánh Phú Xuân – Huế. Tháng sau, đại binh vào cửa Tư Hiền, ông và Lê Chất phá được đồn quân Tây Sơn ở núi Quy Sơn (tức núi Linh Thái), bắt sống được Phò mã Nguyễn Văn Trị và đô đốc Phan Văn Sách. Đến ngày 3/5 (tức ngày 15/6/1801), ông cùng chúa Nguyễn Phúc Ánh tiến vào nội thành Phú Xuân sau khi đánh tan đội thủy quân của nhà Tây Sơn, khiến vua Cảnh Thịnh phải tháo chạy ra Bắc.

Sau đó, chúa Nguyễn sai Tiết chế Lê Văn Duyệt (có Lê Chất đi theo) đem quân bộ vào Quảng Nam, Tống Viết Phúc đem quân thủy, chia đường vào cứu thành Bình Định. Dọc đường, Lê Văn Duyệt đánh thắng nhiều trận, nhưng không kịp cứu Quận công Võ Tánh và Lễ bộ Ngô Tùng Châu. Vì lương hết, hai ông đều đã tuẫn tiết vào cuối tháng 5 AL năm 1801. Xét công, chúa Nguyễn phong Lê Văn Duyệt làm “Thần sách quân Chưởng tả dinh Đô thống chế Quận công”. Lại cho Lê Chất làm tướng dưới quyền, để cùng mang quân đi thu phục các nơi.

Ngày mồng 1 tháng 5 năm Nhâm Tuất (31/5/1802), chúa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi tại Phú Xuân, đặt niên hiệu là Gia Long. Lê Văn Duyệt được phong làm “Khâm sai Chưởng Tả quân dinh Bình tây tướng quân, tước Quận công” để cùng với Lê Chất đem bộ binh ra Bắc truy diệt vua quan nhà Tây Sơn. Theo phối hợp còn có binh thuyền do tướng Nguyễn Văn Trương chỉ huy. Đến tháng 6 (âm lịch), thì quân bộ sang sông Linh Giang (tức song Gianh ở Quảng Bình) rồi hiệp với quân thủy đánh lấy Nghệ An, Thanh Hóa và Thăng Long. Đến lúc ấy, nhà Tây Sơn như bị diệt.

Làm đại thần nhà Nguyễn

Tháng 3 AL năm 1803, Lê Văn Duyệt phá tan cuộc nổi dậy của người dân thiểu số ở Vách Đá (Quảng Nghĩa, nay là Quảng Ngãi), được vua khen thưởng. Tháng 8 AL năm đó, cha ông Duyệt là Lê Văn Toại được vua cho mời ra Huế ban khăn áo.Năm 1808, lại sai Lê Văn Duyệt mang quân đến Đá Vách. Thấy Phó quản cơ Lê Quốc Huy, vì nhiễu hại quá, nên dân mới nổi dậy. Ông Duyệt bèn xin lệnh chém chết viên quan này, từ đó Quảng Nghĩa lại được yên.

Tháng 6 (âm lịch) năm 1812, nhà vua cho triệu Tổng trấn Gia Định Thành Nguyễn Văn Nhơn về, cử Lê Văn Duyệt vào thay, và cho Trương Tấn Bửu làm Phó tổng trấn, Ngô Nhân Tịnh làm Hiệp trấn.

Tháng 2 (âm lịch) năm 1813, nhận lệnh vua, Lê Văn Duyệt và Hiệp trấn Ngô Nhân Tĩnh đem 13.000 quân thủy đưa Nặc Chân về nước Chân Lạp (Campuchia ngày nay). Tại đây, ông thấy quân Xiêm cứ dòm ngó Chân Lạp, bèn xin vua Gia Long cho đắp thành Nam Vang cho vua nước này ở (trước đó ở thành La Bích), đắp thành Lô Yêm để trữ lương, đồng thời lưu binh ở lại bảo hộ (Nguyễn Văn Thoại được cử ở lại). Tất cả đều được vua nghe theo.

Năm 1816, Lê Văn Duyệt được chỉ triệu về kinh để bàn nghị về ngôi Thái tử. Khi ấy, Nguyễn Huỳnh Đức thay ông làm Tổng trấn, và Trịnh Hoài Đức làm Hiệp trấn. Tháng 4 (âm lịch) năm đó, nhà vua ra lệnh thâu ấn của Nguyễn Văn Thành, giam Nguyễn Văn Tuyên (con ông Thành) vào ngục, vì ông Tuyên có làm một bài thơ bị Lê Văn Duyệt (vốn có hiềm khích với ông Thành từ trước) cho là có ý mưu phản.

Sang tháng 5 (âm lịch), dân thiểu số ở Vách Đá lại nổi dậy, Trấn thủ Phan Tấn Hoàng đánh bị thua. Vua Gia Long lại phải sai Lê Văn Duyệt đem quân tới đàn áp.

Tháng Giêng (âm lịch) năm 1819, Lê Văn Duyệt nhận mệnh đi kinh lược các vùng: Thanh Hóa, Nghệ An và Thanh Bình (nay đổi là Ninh Bình). Vì các nơi ấy thường mất mùa, sinh ra nhiều trộm cướp, quan sở tại không kiềm chế được. Đến nơi, ông dâng sớ về triều “nói việc khổ của dân, xin tha thuế cho dân, lại phải lựa quan trấn để an tập dân”, được vua y cho. Ở Thanh Hóa, ông nhận Lê Văn Khôi làm con nuôi. Ông Khôi nguyên là người ở Cao Bằng, vì khởi binh chống Nguyễn, bị quan quân đuổi đánh, phải chạy vào Thanh Hóa, gặp ông Duyệt đang làm Kinh lược ở đấy, bèn xin ra đầu thú.

Tháng 9 (âm lịch), triệu Lê Văn Duyệt về triều. Sang tháng 12 (âm lịch), vua Gia Long cho đòi ông và Phạm Đăng Hưng vào cung lãnh di chiếu, tôn Nguyễn Phúc Đảm lên ngôi (tức vua Minh Mạng). Đồng thời nhà vua cho ông Duyệt cai quản quân 5 dinh Thần sách.

Cũng trong năm này, theo Vũ Man tạp lục của tướng Nguyễn Tấn và Viêm Giao trưng cổ ký của Cao Xuân Dục, thuận theo lời tâu của Lê Văn Duyệt, nhà vua cho xây Trường lũy (Tĩnh Man trường lũy), dài xấp xỉ 200 km, bắt đầu từ huyện Trà Bồng (Quảng Ngãi) đến huyện An Lão (Bình Định), để phòng ngự các cuộc nổi dậy của người thiểu số ở đây.

Dưới triều Minh Mạng

Năm 1820, vua Minh Mạng cử Lê Văn Duyệt vào Nam làm Tổng trấn Gia Định Thành lần thứ hai, thay cho Nguyễn Huỳnh Đức vừa mất hồi tháng 9 (âm lịch) năm 1819.

Lúc bấy giờ, ở nước Chân Lạp có thầy tu tên Kế vận động dân nổi dậy, cướp phá nhiều nơi thuộc trấn Phiên An. Quan trấn là Đào Văn Lý cản ngăn không được. Khi ông Duyệt đến, bèn cử Phó tổng trấn Huỳnh Công Lý đem quân đi đánh, đuổi quân Sư Kế chay về Chân Lạp. Tháng 9 (âm lịch) năm ấy, Sư Kế xua quân vây hãm thành Nam Vang, làm vua nước ấy phải đưa thư sang cáo cấp. Xem thư, Tổng trấn Lê Văn Duyệt liền sai Thống chế Nguyễn Văn Trí đem quân sang cứu viện, đến tháng 10 (âm lịch) thì giết được Sư Kế và đánh tan quân nổi dậy.

Cũng vào tháng 9 (âm lịch) năm đó, Phó tổng trấn Huỳnh Công Lý tham lam trái phép, bị quân nhân tố cáo hơn mười việc. Lê Văn Duyệt đem việc ấy tâu lên. Sau khi tra án, Huỳnh Công Lý bị khép vào vào tội chết (1821).

Tháng 10 (âm lịch) năm 1822, nhà vua sai Lê Văn Duyệt điều động quân và dân (được hơn 39.000 người) để tiếp tục đào kênh Vĩnh Tế (đến tháng 5 âm lịch năm 1824 thì xong).

Tháng 8 (âm lịch) năm 1823, Lê Văn Duyệt về kinh chầu, Phó tổng trấn là Huỳnh Văn Năng coi thay. Sau đó, ông về ở luôn Gia Định cho đến chết.

Tháng 11 (âm lịch), Thị đốc học sĩ Trần Văn Tuân bị án giảo giam hậu, vì lời tâu của ông Duyệt. Trước đây, ông Tuân đi công cán ở Chân Lạp, được người Chân Lạp tin yêu; đến khi về lại Gia Định, người Chân Lạp vẫn thường qua lại đưa đồ và hỏi thăm. Sau, nhân bắt được lá thư của vua Chân Lạp gửi cho ông Tuân, Lê Văn Duyệt bèn đem việc ấy chiểu theo luật “Giao thông ngoại cảnh” (tức luật ngoại giao với nước ngoài) mà tâu lên.

Đêm 30 tháng 7 năm Nhâm Thìn (tức 28 tháng 8 năm 1832), Chưởng tả quân lãnh Gia Định Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất tại chức, thọ 69 tuổi. Sau đó, triều đình truy tặng ông chức “Tá vận công thần đặc tấn Tráng võ tướng quân – Tả quân đô thống phủ chưởng phủ sự, Thái bảo quận công”, thụy là “Oai Nghị”.

Lược kể vụ án Lê Văn Duyệt

Sau khi Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất, vua Minh Mạng cho bãi chức Tổng trấn Gia Định Thành, và đổi 5 trấn ra thành 6 tỉnh, là : Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Hà Tiên. Lại đặt các chức Tổng đốc, Tuần phủ, bố chính, Án Sát, Lãnh binh như các tỉnh ở ngoài Bắc.

Đến khi Bạch Xuân Nguyên đến làm Bố chính ở Phiên An (tức tỉnh Gia Định), nói rằng phụng mật chỉ truy xét việc riêng của Lê Văn Duyệt, rồi đòi hỏi chứng cứ, đồng thời trị tội các tôi tớ của ông Duyệt. Vì bị bức, con nuôi ông Duyệt là Lê Văn Khôi bèn khởi binh chống lại.

Nhận được tin cáo cấp, vua Minh Mạng liền sai quân đi đánh dẹp, đồng thời ban trách Lê Văn Duyệt đã “che chở quân phỉ đảng, để gây nên bọn loạn”. Tuy nhiên, theo một số tài liệu thì vua Minh Mạng vốn có thù hằn lâu ngày với Tả quân Lê Văn Duyệt, rất có thể vì :

- Ông Duyệt không ủng hộ việc Minh Mạng lên ngôi mà ủng hộ con của Hoàng tử Cảnh khi vua Gia Long băng hà.

- Lê Văn Duyệt nhiều lần lạm quyền, hoặc làm sai ý triều đình trung ương, đặc biệt là sau khi vua Gia Long qua đời.

- Lê Văn Duyệt ít học, bản chất quan võ nóng nảy, nói năng cộc lốc, chẳng biết chiều đón ý vua, khi tấu đối thường không vừa ý Minh Mạng.

- Ông Duyệt tỏ ý ủng hộ các nhà truyền đạo Cơ đốc Châu Âu làm nghịch ý vua Minh Mạng.

- Ông Duyệt được hưởng quyền “nhập triều bất bái” (vào triều không phải lạy) từ thời Gia Long, nên sau này ông không lạy vua Minh Mạng. Điều này đã làm nhà vua khó chịu.

Dù không ưa nhưng vua Minh Mạng chưa thể làm gì Lê Văn Duyệt, vì công lao và uy quyền của ông quá lớn. Cho nên sau khi triều đình dẹp xong cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi (1835), nhân Phan Bá Đạt ở Đô Sát Viện dâng sớ kể tội Tả quân, Minh Mạng liền dụ cho đình thần nghị xử. Đến khi nghị án xong, có bảy tội nên trảm (chém), hai tội nên giảo (thắt cổ), một tội phải sung quân.

Án đệ lên, sau đó, vua Minh Mạng ra dụ có đoạn rằng :

Tội Lê Văn Duyệt nhổ từng cái tóc mà kể cũng không hết, nói ra đau lòng, dù có bửa quan quách mà giết thây cũng là đáng tội. Song nghĩ hắn chết đã lâu và đã truy đoạt quan tước, xương khô trong mả, chẳng cần gia hình chi cho uổng công. Vậy cho tổng đốc Gia Định đến chỗ mả hắn cuốc bỏ núm mộ san bằng mặt đất và khắc đá dựng bia ở trên viết to mấy chữ : “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ” (Chỗ này là nơi quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp) …

Sau đó, lệnh được thực hiện theo như lời dụ. Ngoài ra, mộ cha mẹ ông ở Long Hưng (nay thuộc Châu Thành, Tiền Giang) cũng bị đục bỏ tước hiệu khắc trên bia.

Không chỉ có tài quân sự, Lê Văn Duyệt còn là một nhà chính trị. Làm Tổng trấn Gia Định Thành hai lần (lần 1: 1812-1816, lần 2: 1820 -1832), ông đã thực hiện chính sách trị an tốt, và có công lớn trong việc giữ gìn an ninh cho xứ sở. Ông cho đắp đường, đào kênh, củng cố thành lũy, lập hai cơ quan từ thiện là “Anh hài” và Giáo dưỡng… Đồng thời ông cũng có cách ứng xử khéo léo, rộng rãi đối với những người phương Tây đến buôn bán ở Sài Gòn. Bấy giờ, nhiều người kính phục, gọi ông là “Ông Lớn Thượng”, hay “ Đức Thượng Công”… Một vài nước lân cận cũng tỏ ra kiêng nể ông.

Được phục hồi danh dự

Năm Tân Sửu (1841) vua Thiệu Trị lên ngôi, ban lệnh tha tội các thân thuộc của Lê Chất và Lê Văn Duyệt.

Tháng 2 (âm lịch) năm đầu Tự Đức (1848), Đông Các đại học sĩ Võ Xuân Cẩn dâng sớ xin lục dụng những con cháu của Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt và Lê Chất. Lời tâu làm vua cảm động, bèn cho con cháu ông Thành làm Chánh đội. Tuy nhiên, mãi đến năm tháng 4 (âm lịch) năm 1868, nhà vua mới chính thức ban lệnh truy phục chức hàm cho Nguyễn văn Thành (là Chưởng trung quân Đại tướng quân Quận công) và Lê Văn Duyệt (là Chưởng tả quân Đại tướng quân), đồng thời cho thờ trong miếu Trung hưng công thần ở Huế.

Thông tin liên quan

Đời tư : Lê Văn Duyệt là người ái nam ái nữ bẩm sinh chứ không phải tự hoạn để làm thái giám. Thuở trẻ, ông thích đá gà, nuôi gà chọi. Ngoài ra, ông cũng là người sành thưởng thức hát bội và thường tự tay cầm chầu.

Sau này, do ông lập được nhiều công lao, khi lên ngôi, vua Gia Long đã gả một người cung nhân tên là Đỗ Thị Phẫn (hay Phấn) về làm vợ ông, dù ông là người yêm hoạn.

Với oan án Tống Thị Quyên : Sách Đại Nam chính biên liệt truyện (Sơ tập, Quyển 2) chép : “Năm Minh Mạng thứ năm (1824), có người bí mật tố cáo rằng Mỹ Đường thông dâm với mẹ ruột là Tống thị (Quyên). Tống thị vì thế thị dìm nước cho chết, còn Mỹ Đường thì phải giao trả hết ấn tín và dây thao, đồng thời bị giáng xuống làm thứ dân, con trai con gái chỉ được biên chép phụ ở phía sau sổ tôn thất…”

Lúc bấy giờ có tin đồn người mật tâu là Lê Văn Duyệt. Tuy nhiên, có người lại cho rằng đây là mưu sâu của nhà vua nhằm làm mất uy tín ông, đồng thời ly gián ông với phe ủng hộ “dòng trưởng” nối ngôi (tức ủng hộ Hoàng tôn Đán, tên thật là Nguyễn Phúc Mỹ Đường, con Hoàng tử Cảnh) .

Ngôi mộ của Tả Quân : Nhà nghiên cứu Huỳnh Minh, trong sách Gia Định xưa cho biết : “Theo lời các cố lão, ngôi mộ tại Gia Định – Bình Hòa xã là ngôi mộ chôn bằng hình sáp, còn hài cốt thật thì về an táng tại làng Long Hưng, thuộc tỉnh Định Tường. (Tiền Giang ngày nay)”. Tuy nhiên, tháng 4 năm 2006, sau một cuộc khảo sát ông Lý Việt Dũng đã đưa ra kết quả ngược lại.

Vinh danh : Ngày 4 tháng 2 năm 2008, tượng Tả quân Lê Văn Duyệt đã được đặt trang trọng tại điện thờ ông tại Lăng Ông Bà Chiểu (số 1, Vũ Tùng, quận Bình Thạnh. Tượng được đúc bằng đồng nguyên chất, cao 2,65m, nặng 3 tấn do nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng thực hiện. Đây là ý tưởng của tạp chí Xưa & nay và Hội Khoa học lịch sử Việt Nam trong chương trình Đúc tượng đồng cho lăng Ông.

Xuân Mai post (theo Wikipedia và tổng hợp)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 3/12/2014(UTC)
Duy An
#1702 Posted : Tuesday, March 11, 2014 6:14:48 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Vài ghi nhận về tính sáng tạo trong ca từ nhạc Thanh Bình



Du Tử Lê


(Tiếp theo và hết)

Mặc dù tài hoa của nhạc sĩ Thanh Bình đã được thực chứng qua giai điệu tha thiết, dễ đi vào lòng người và, ca từ mộc mạc, chân tình, dễ nhớ như:

“Những nẻo đường Việt Nam / Suốt từ Cà Mâu thẳng tới Nam Quan / Ôi những nẻo đường Việt Nam / Ôi những nẻo đường Việt Nam...” (9) (Thanh Bình, “Những nẻo đường Việt Nam”)

Hoặc:

“Từ miền Nam viết thư về thăm xóm làng / sắt son gửi trong mấy hàng / thăm bà con dãi dầu năm tháng / Từ Tiền Giang thương qua Ðèo Cả thương sang / Ðêm đêm nhìn vầng trăng sáng / thương những già khuya sớm lang thang / em thơ ơi có còn học hành sớm tối / áo nâu tươi gái làng còn che môi cười? / Và đàn bò còn nghe chim hót lưng đồi? / Nhớ nhung rồi thương quá lắm bé thơ ơi...” (10) (Thanh Bình, “Thư về làng”)

Nhưng dường như ít người chú ý tới những nỗ lực làm mới ca từ của người nhạc sĩ tài hoa này.





Nhạc sĩ Thanh Bình. (Hình: ThanhNien.com.vn)



Với trích đoạn ngắn kể trên của ca khúc “Thư về làng,” nhạc sĩ Thanh Bình viết khoảng đầu thập niên 1960s, khi ông dùng hai chữ “những già” (chỉ người lớn tuổi) thì hai chữ này, với tôi, đã là một cung cách sử dụng từ ngữ rất mới mẻ - tựa như lần đầu trong ca từ và, trong cả thi ca nữa.

Cũng vẫn với ca từ của ca khúc ấy, khi tác giả viết “áo nâu tươi, gái làng còn che môi cười?” - Ðứng về phương diện ngữ cảnh thì chữ “tươi” không thể tương thích, gắn bó tốt đẹp hơn giữa hình ảnh mang tính liên tưởng với thôn nữ. Chưa kể, hình ảnh người thiếu nữ thẹn thùng, dùng vạt áo, để che dấu phần nào nụ cười của mình, lại là một ghi nhận tính tế khác.

Tôi không biết, khi viết xuống những ca từ này, nhạc sĩ Thanh Bình có chọn lựa hoặc cân nhắc sâu xa không? Nhưng ở vị trí người thưởng ngoạn, tôi thấy đó là một liên tưởng thơ mộng và, phản ảnh tâm lý khác biệt giữa thiếu nữ làng quê và, thiếu nữ ở thành thị.

Tuy nhiên, khả năng làm mới ngôn ngữ, hình ảnh, để ca từ của ông có được nhiều tính thi ca hơn, đi xa hơn nữa, một khi ta lắng nghe, chú ý tới một vài từ ngữ khác, như hai chữ “lá đò” ông dùng trong câu:

“Lá đò qua sông vắng mây mù trong mắt ở” trong ca khúc “Tiếc một người.”

Cụm từ “trong mắt trong” của câu nhạc này không có gì mới mẻ, nếu không muốn nói là đã cũ, bởi nó từng được dùng trong thơ Quang Dũng ở những năm cuối 1940s, đầu thập 1950's (11) Nhưng hai chữ “lá đò” thì tôi nghĩ, trước ông, chưa một nhà thơ, nhạc sĩ nào nghĩ tới và sử dụng...

Cũng phần ca từ của ca khúc này, tác giả còn cho chúng ta những cụm từ rất mới và, rất gợi hình như “rong hồn bơ vơ” trong câu “lâu rồi nhưng vẫn nhớ vẫn rong hồn bơ bơ.” Ðộng từ “rong” mà tác giả dùng, có thể hiểu theo nghĩa: Thả nổi, thả trôi hay, buông trôi...

Qua tới phần ca từ của câu kế tiếp:

“Cánh hồng bay theo gió chết đi còn tương tư”

Thì năm chữ “chết đi còn tương tư” của tác giả “Tiếc một người,” vẫn theo tôi, không thể thơ hơn và, cũng không thể cực tả hơn, lòng đắm đuối, thủy chung của ông, trong bi kịch tình yêu chia ly, tuyệt vọng...

Là người thưởng ngoạn, căn cứ vào những tư liệu phổ cập, tôi được biết nhạc sĩ Thanh Bình sáng tác không nhiều lắm.

Thế nhưng ở bất cứ một ca khúc nào, được nhiều người yêu thích, còn tồn tại tới ngày hôm nay của Thanh Bình, nếu chú ý, ít nhiều gì chúng ta cũng tìm được những hình ảnh đầy thi tính, hiểu theo nghĩa sáng tạo, mới lạ.

Lại nữa nếu đi ngược thời gian, trở lại thời điểm khi những ca từ đó được viết xuống, ta sẽ càng thấy rõ hơn mức độ tài hoa trong sáng tác của ông!

Ở ca khúc “Tình lỡ” vốn được nhiều người nhắc nhở nhất, như thể đó là ca khúc nổi tiếng hay tiêu biểu nhất của nhạc sĩ Thanh Bình, người lắng nghe nhạc ông, cũng bắt gặp nhiều hình ảnh, đúng hơn, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đặc biệt của tác giả. Thí dụ:

“Phương trời mình đi xa thêm xa
“nghe vàng mùa thu sau lưng ta”

Nếu để ý, ta sẽ thấy cái mới của cụm từ “nghe vàng mùa thu sau lưng ta” nằm ở chữ “SAU.”

Bình thường, với thiên nhiên, con người có khuynh hướng nhìn tới chứ ít ai vừa đi vừa quay nhìn phía sau. Thêm nữa, cũng bình thường, câu nhạc này, nếu trong tay một nhạc sĩ sĩ khác, có thể nó sẽ được viết là “nghe vàng mùa thu trong tim ta.” Hoặc “nghe vàng mùa thu nơi phương xa”... Nhưng khi tác giả “Tình lỡ” dùng giới tự (preposition) hay trạng tự (advert) “SAU” thì:

Thứ nhất, ông chủ tâm nói về quá khứ: Mùa thu đã qua.

Thứ nhì: chữ “Sau” còn cho thấy tính chất phiếm định - Tức không chỉ rõ là một hay, nhiều mùa thu đã qua trong của cuộc tình lỡ kia. Nó như một cánh cửa mở rộng, cho người nghe cơ hội tham dự vào cấu trúc của ca từ, bằng cảm nhận chủ quan riêng, của mỗi người.

Cũng vậy, câu hát khởi đầu cho phần điệp khúc của ca khúc, tác giả viết: “Một vầng trăng vỡ đã thôi không theo nhau”

Ðây là một trong những ẩn dụ đẹp, dẫu tuyệt vọng trong “Tình lỡ.”

Một vầng trăng chẳng những đã “vỡ” mà, lại còn “thôi không theo nhau,” khiến tính chất bi thảm trở nên ai oán hơn câu thơ cổ mà chúng ta đều biết; đó là câu: “Vầng trăng ai xẻ làm đôi / nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường” (12)

Từ nửa vầng trăng “in nơi gối chiếc” tới nửa vầng trăng “soi nơi dặm trường,” dù sao cũng vẫn có một tương quan nào đấy. Những với một vầng trăng đã vỡ và, cũng không còn theo nhau nữa thì, nó đã không cho một trong hai người yêu nhau, dù ảo tưởng tới đâu, chút hy vọng mong manh, ánh sáng cuối đường hầm nào!

Ngoài ra, chúng ta cũng nên ghi nhận, Thanh Bình là người gần như đầu tiên, lập lại nguyên văn một câu nhạc (không thay đổi dù chỉ một chữ), mang ý nghĩa nhấn mạnh, xác quyết bất biến, trong một số ca khúc của ông.

Ở ca khúc “Những nẻo đường Việt Nam” là:

“Ôi những nẻo đường về đâu?
“Ôi những nẻo đường về đâu?”

Và ở “Tình lỡ” là:

“Hết rồi còn chi đâu em ơi...
“Hết rồi còn chi đâu em ơi...”

Nếu áp dụng câu nhạc kể trên vào thực tế đời thường của nhạc sĩ Thanh Bình thì, mọi thứ liên quan tới cuộc tình (những cuộc tình) của người nhạc sĩ tài hoa (nhưng bất hạnh cuối đời) này, đã thật sự không còn gì!

Tuy nhiên, dư âm của ca khúc, lại chọn cho nó một đường đi riêng. Con đường đến với tâm hồn người nghe. Và con đường đó, tôi tin, là con đường bất hoại!

(Calif. Tháng 2, 2014)


Chú thích:

(9), (10), (13) Nđd.
(11) Xem thêm bài “Kẻ ở” thơ Quang Dũng.
(12) Trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.

1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 3/12/2014(UTC)
Hạ Vi
#1703 Posted : Wednesday, March 12, 2014 6:59:41 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,333
Points: 16,885
Location: CỏThơm

Thanks: 4126 times
Was thanked: 9969 time(s) in 2470 post(s)
.





Đọc lại Kỷ Vật Cho Em


Trước và sau thập niên 70, chiến tranh Việt Nam bùng phát dữ dội và đó cũng là hệ quả tất yếu khiến hàng hàng lớp lớp thanh niên, sinh viên học sinh đến tuổi phải từ giã sự nghiệp, sách vở, giảng đường để tham gia cuộc chiến với nhiều cách khác nhau. Đó cũng là thời gian xã hội Miền Nam có nhiều biến động nhất: chiến tranh lan rộng sâu tận thành phố, những cuộc biểu tình lớn nhỏ dưới nhiều chiêu bài, khuynh hướng hỗn tạp, đã ít nhiều làm cho thanh niên tỏ vẻ hoài nghi về những hoài bão, lựa chọn của mình. Và chính sự khủng hoảng chính trị, xã hội dẫn tới một hiện tượng không thể phủ nhận: văn đàn Miền Nam xuất hiện những khuôn mặt trẻ đầy bất ngờ, mới mẻ, phần nào làm mới sinh khí văn chương vốn dĩ bị che mù bởi dòng văn học hiện sinh, bị lấn át bởi những đàn anh tên tuổi. Đó là những Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Bắc Sơn, Trần Hoài Thư, Hoàng Ngọc Tuấn, Y Uyên, Vũ Hữu Định, Trần Thị Ngh… Công chúng, nhất là giới trẻ đã đón nhận họ như đón nhận một luồng gió mới, một sinh khí mới trong dòng văn học Miền Nam.

Thật ra luồng gió hay sinh khí mới kia cũng chẳng có gì lạ. Họ, những người trẻ viết văn, làm thơ không mang kiểu cách buồn nôn, chán nãn xa lạ mà, họ viết bởi cảm xúc chân thật bắt nguồn từ những gì xảy ra chung quanh, gắn liền với tình cảm, đời sống: một chút nhớ nhung về mối tình thời trai trẻ “anh theo Ngọ về/đường mưa nho nhỏ” hay một chút giận dỗi “nghe nói em vừa thi rớt Luật/môi trâm anh tàn héo nụ xa vời…rớt đi Duyên, rớt để thương người”. Và lắm khi là ngông nghênh, ngang tàn của người “lính thư sinh” sau những lần hành quân “mai ta đụng trận ta còn sống/về ghé sông Mao phá phách chơi/chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm/đốt tiền mua vội một ngày vui” và “xin cảm ơn một mái tóc mềm/mai xa lắm trên đồn biên giới/còn một chút gì để nhớ để quên”. Và một tiếng kêu não lòng, xé ruột của Y Uyên: “chiến tranh mẹ gì mà lâu dữ vậy?”…

Những tâm tình bùi ngùi như thế lại được âm nhạc tiếp sức, đẩy lên một bậc khiến giới công chúng càng yêu thích luồng gió mới kia nhiều hơn.

Rồi theo trào lưu thơ phổ nhạc ngày càng thịnh hành, bất ngờ công chúng lại được nghe trên đài phát thanh Sài Gòn, trong các phòng trà đô thành, các quán cà phê: “em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại…xin trả lời mai mốt anh về… anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa…” khiến mọi người ngơ ngác hỏi: Linh Phương, tác giả bài thơ, là ai vậy? Hắn trong bưng làm thơ địch vận hay trong nhóm phản chiến? Thần hồn và tứ trong bài thơ cứ bình-thản-nức-nở, bình-thản-nghẹn-ngào, coi như không có gì ghê gớm. Rồi khi cái tứ đó đi qua những cung bậc cao thấp của nhạc sĩ Phạm Duy, cộng với chất giọng của Thái Thanh lại càng run rẩy, thê thiết hơn. Những năm tháng ấy, kẻ viết bài này chỉ mới là anh sinh viên trong giảng đường, tình cờ đọc trên tờ nhật báo Độc Lập đã thoáng giật mình! Càng giật mình hơn khi được biết Linh Phương viết bài Kỷ vật cho em trong lúc đang hành quân ở Chương Thiện khoảng đầu năm 1970!

Trong khi đó, những người bạn tôi đang có mặt trên khắp bốn vùng chiến thuật lại cười ha hả từ những kbc có con tem anh chiến binh bồng súng xông tới, phong bì lấm lem bùn đất, sờn rách: “… mình chắc mẩm hắn cũng là lính. Hắn mô tả tâm trạng, hoàn cảnh sao đúng hoàn cảnh tụi mình quá trời. Mai mốt tụi mình có về trên đôi nạng gỗ có về hòm gỗ cài hoa hay trên trực thăng sơn màu tang trắng… thì các cậu chớ có ngạc nhiên, chớ có buồn! Đời trai chinh chiến mấy thằng sống sót trở về?”. Mấy câu ngắn ngủn kia mãi ám ảnh tôi. Ám ảnh bởi vẻ lạc quan, coi sống chết như chuyện có không của người bạn. Mà hắn đâu để mắt tới Ngũ uẩn giai không, hắn đâu biết gì về tâm kinh đâu ảnh hưởng gì về triết học Phật giáo? Chẳng qua khi đối mặt quá nhiều với cái chết, luôn rình rập bên cạnh, không báo trước thì con người ta chẳng còn buồn để ý đến nó? Cứ chờ đón nó một cách thản nhiên như trong bài thơ Kỷ vật cho em của Linh Phương.

Vào độ tuổi ra trận mạc ấy, hẳn ai cũng có người yêu, ít ra cũng em gái hậu phương, thản hoặc một Dạ Lan từ trời cao thầm thì, chia sẻ với các anh mỗi đêm. Ấy vậy nhưng khi em của Linh Phương hỏi: Em hỏi anh bao giờ trở lại thì nhà thơ cứ thẳng đuột trả lời mai mốt anh về, có thể bằng nhiều cách về khác nhau:



…Anh trở về hòm gỗ cài hoa
Anh trở về bằng chiếc băng ca…
…Mai trở về bờ tóc em xanh
Vội vã chít khăn sô vĩnh biệt…
…Mai anh về trên đôi nạng gỗ
Bại tướng về làm gã cụt chân…



Về bằng con đường nào thì thân thể thế hệ các anh không còn nguyên vẹn như lúc ra đi. Họ đã chắc chắn như vậy, nên chi cứ tạo một tâm thế trong những tình huống khắc nghiệt để em chuẩn bị đón nhận những bất toại trong cuộc sống chỉ có khói lửa trước mặt!

Những tình huống Linh Phương đặt ra trong bài thơ là sự thường tình, vì tự cổ kim các tình huống đó đã đến với mọi chiến binh, như trong Lương Châu Từ của Vương Hàn:


…Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?


Nhưng sự “không trở về” của người xưa có vẻ nhẹ nhàng, thanh thản còn với Linh Phương thì lại ưu uất, dằn xé tâm can:

Thì thôi! Hãy nhìn nhau xa lạ
Em nhìn anh ánh mắt chưa quen
Anh nhìn em anh sẽ cố quên
Tình nghĩa cũ một lần trăn trối.


Một sự chia cắt bi thảm, không phải lỗi ở nơi hai người, anh và em gây ra, mà chỉ vì một viên đạn màu đồng và hàng triệu viên đạn vô tình hay cố ý như thế trong giai đoạn máu lửa kinh hoàng bất ngờ găm thẳng vào ngực, từ những tranh chấp về chủ nghĩa và quyền lực điên cuồng!

Những bài khác trong tập Kỷ Vật Cho Em, giọng điệu thì bớt đi vẻ đau xót, bi thương nhưng những cách nhà thơ đưa hiện tượng cuộc sống vào thi ca, thì bức tranh nguệch ngoạc kia lại có vẻ tàn nhẫn hơn nhiều, dưới những góc cạnh khác nhau trong xã hội chiến tranh...
.....

Có người vợ nào không tủi thân
Trước giờ sinh đẻ
Được tin chồng nằm xuống
Trận Đakto-Đồng Xoài-Bình Giã
Đức Cơ-Phù Cũ-Tam Quan
Có người mẹ nào không tủi thân
Khi đứa con đầu lòng mở mắt
Đã để tang cho bố.
(Làm vợ người cầm súng)






Càng kinh khủng hơn nữa, khi nàng góa phụ đã chấp nhận mọi cái giá phải trả, thì sợi dây cuối cùng còn lại của tình yêu giữa chàng và nàng là đứa con trai đầu lòng. Hẳn rằng đứa con trai ấy còn rất nhỏ, chưa biết giận hờn, chưa biết yêu ghét, đầu óc sáng trưng như tờ giấy trắng. Vậy nhưng, vì những tai trời ách nước giáng xuống, khiến nàng mất tất cả, đến nỗi ngày sinh nhật con nàng phải tặng:


Mẹ cho con viên đạn AK còn ngời sáng
Mẹ cho con quả lựu đạn M.26 còn thơm mùi thép mới tinh
Mẹ cho con mảnh mìn Claymore nằm trong lồng ngực bố
vừa chết trận U Minh
Con ơi con!
(Cho đứa con trai đầu lòng)



Trên đời này hiếm có người mẹ nào hành động như vậy. Rất có thể người mẹ giữ được tất cả các vật dụng vũ khí gây chết chóc kia, nhưng hành động và thái độ tặng cho con những thứ giết người dã man ấy, nhân ngày sinh nhật, thì không hẳn là hận thù chồng chất lên mãi. Nó mang tính chất tố cáo nhiều hơn. Cách dàn trải ngôn ngữ liệt kê như trên, nhà thơ chỉ muốn phơi bày bộ mặt thật, tàn nhẫn của hậu quả chiến tranh. Đó là tiếng gào bi thống, là sự phản kháng không cân sức giữa một góa phụ hay nhiều góa phụ với chiến tranh. Họ biết rõ họ không thể ngăn được cuộc chiến dừng lại, họ cũng không đủ sức trả thù. Và sự trả thù ngọt ngào nhất là sự phản kháng bằng những hành động tưởng chừng phi nhân bản, nhưng kỳ thực đó là tiếng kêu bi thương của loài người đang đứng bên bờ vực hủy diệt, tàn sát phi nhân.

Tâm trạng não nề, chán ngán của tầng lớp thanh niên, trí thức thời kỳ ấy như một đám mây u ám, cứ vần vũ mãi trên bầu trời, che lấp khoảng không gian không xanh, không hồng. Họ chán ngán bởi cuộc chiến kéo dài khủng khiếp, tranh chấp triền miên. Họ tuyệt vọng bởi ngày nối tiếp năm là bom rơi đạn nổ, sự bình yên, niềm hạnh phúc như một miền mơ ước không bao giờ có thực: “Đại bác đêm đêm dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe…”.

Hệ lụy của những tháng năm khói lửa triên miên là thái độ buông thả, thất vọng. Họ hối hả sống, hối hả yêu, hối hả bấu víu mỗi sáng thấy thân thể còn nguyên vẹn:



Tuổi trẻ tôi biết yêu và yêu rất vội
Sợ không kịp yêu đến ngày mai
Sợ chiến tranh còn dài
Đời người thì quá ngắn
(Giấc mơ màu đỏ)


.........................
.........................

Phải sống mãi trong những hoài nghi, thất vọng… cũng có lúc lóe lên chút niềm tin, hy vọng. Họ tin ngày mai sẽ có hòa bình, ngày mai tiếng súng sẽ im, sẽ mở ra những viễn tượng tươi sáng trên quê hương. Họ, những chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt sẽ nghĩ gì, làm gì trong những ngày tươi đẹp mai sau?


Một ngày mìn định hướng không đặt
Lựu đạn không gài
Máy bay không bỏ bom
…Tôi vui mừng như lần cắp sách đến trường.



Nhưng đó mới chỉ là một ngày tạm yên tiếng súng. Còn mai kia, nếu hòa bình sẽ đến trên quê hương khốn khổ này thì sao? Và Linh Phương đã vẽ ra:


Ngày với chuyến tàu suốt từ Sài Gòn ra Hà Nội
…Ngày em hân hoan mặc áo dài dạo phố
Ngày em hân hoan ngồi trong rạp Rex xem phim lãng mạn ái tình…
…Ngày tôi không còn mặc đồ quân nhân ở nhà nuôi vợ đẻ.
(Trong ngày hòa bình)



Câu thơ như câu nói giữa hai người với nhau. Chất thơ mất đi và thay bằng ngôn ngữ đời thường để tỏ bày một ước vọng nhỏ nhoi, như thể tiếng kêu cứu của những kẻ bị đắm tàu giữa biển khơi mênh mông, trùng trùng sóng dập!

Đó cũng là khuynh hướng chung của những người làm thơ trẻ thuộc thế hệ anh. Những Nguyễn Bắc Sơn, Vũ Hữu Định hay Đinh Trầm Ca, Nguyễn Dương Quang… đều có cùng một tâm trạng như vậy, và bày tỏ niềm hy vọng, mơ ước mong manh như vậy, để cuối cùng chút ánh sáng ở cuối đường hầm vẫn cứ lùi xa tít và tắt ngấm đâu đó trong các trận chiến ngày càng tàn khốc hơn.



Hỡi hòa bình lạ mặt yêu dấu
Sao người cứ kiêu hãnh như giai nhân
Hoài hoài lỗi hẹn
Khi tuổi xuân chúng tôi chỉ có một lần
Làm sao chờ được trăm năm
Mà đến trăm năm còn gì xương máu anh em
(Hà Thúc Sinh – Xin hãy đến Hòa Bình)






Cảnh chiến tranh tàn khốc đã biến các nhà thơ trẻ thành những người cà khịa, ngông nghênh, bất cần đời nhuốm chút ngang tàng dễ thương, trở thành những bài thơ khẩu khí, ví như Nguyễn Bắc Sơn:


Bốn chuyến di hành một ngày mệt ngất
Dừng quân đây nói chuyện tiếu lâm chơi
Hãy dựa gốc cây hãy ngắm mây trời
Hãy tưởng tượng mình đi picnic
Kẻ thù ta ơi các ngài du kích
Hãy tránh xa ra đừng chơi bắn nheo
…Lúc này đây ta không thèm đánh giặc.
(Nguyễn Bắc Sơn – Chiến tranh Việt Nam và tôi, nxb Đồng Dao, SG 1971)



Họ ăn nói, sử dụng ngôn ngữ thơ một cách thoải mái tự do, như giỡn như đùa, không vì chính kiến, không lý tưởng này nọ mà nếu như ở một thể chế khác, các nhà thơ không thể có gan trời như thế!

Còn một Phan Xuân Sinh thì:



Hãy rót cho ta thêm cốc nữa đi
Ngồi với bạn hôm nay làm ta hứng chí
Chuyện ngày mai có chi đáng kể
Dẹp nó đi cho khỏi bận tâm
Thằng lính nào mà không rét lúc ra quân
Khi xung trận mà không té đái
…Uống với bạn hôm nay ta phải uống thật say
Để không phải còn nhìn nhau hận thù ngun ngút
(Phan Xuân Sinh – Uống rượu với người lính Bắc phương)



Có trời mới giải thích tại sao người lính Bắc phương lại dám ngồi “đối ẩm” với người lính phương Nam? Họ đã nhận ra điều gì trong những ngày điên cuồng bắn nhau? Họ đã nhận ra điều gì trong câu khẩu hiệu: “Nhắm thẳng đầu thù mà bắn”. Là anh em với nhau rồi sao? Là máu mủ ruột thịt rồi sao? Hay là chiến tranh làm họ mệt mỏi, buông xuôi là hệ lụy của một thái độ, một chọn lựa từ ý thức trong sạch?

Có thể đó là thái độ bất cần. Nhưng thái độ bất cần đó đâu hẳn là tính vô kỷ luật trong quân đội? Cũng chưa phải là tinh thần phản chiến đang bắt đầu nhẩn nha, đậm đặc trong đầu óc họ? Mà chỉ là sự bày tỏ cách nhìn, cách nghĩ của tuổi trẻ về cuộc chiến tranh quái gở phi lý kia. Tuổi trẻ Bắc Nam can cớ chi mà thù hận nhau? Tôi nhớ rất rõ một truyện ngắn của Lê Văn Thiện trên tạp chí Bách Khoa trước 75, có tựa “Xuất ngoại bằng trực thăng võ trang” có đoạn viết đại ý: Không biết Quốc Vương Shihanouk có ngồi ỉa như tụi mình?… Sao cứ bắt ra trận đánh nhau hoài? Muốn tranh bá đồ vương thì lãnh tụ hai bên chọn bãi đất đẹp, hai người tha hồ quần thảo, kẻ thắng thì được, ai thua thì mất hết. Sao lại bắt dân đen phải hứng chịu?

Nếu chỉ có vậy thì đâu có E.M. Remarque, đâu có E. Hemingway hay một P. Gallico với những tác phẩm viết về chiến tranh hay đến vậy? Và nếu như thế thì làm gì có một Phan Nhật Nam với Mùa Hè Đỏ Lửa, Thế Uyên với Tiền Đồn, Y Uyên với Bão Khô, Bảo Ninh với Nỗi Buồn Chiến Tranh hay một Kiều Mỹ Duyên với Chinh Chiến Điêu Linh…?

Chiến tranh thật quái gở, bởi không do nhân dân chọn lựa, không phát khởi từ ý thức của nhân dân, mà từ những chủ nghĩa quái gở, từ những quyền lợi của kẻ cả khống chế.

Nhìn nhận được chỗ phi lý kia, lớp người trẻ tuổi bị bắt buộc tham chiến bắt đầu chửi đổng. Chỉ là chửi đổng sau những cuộc hành quân, chửi đổng trong mấy ngày phép được về thành phố… và rồi bật ra những câu “không thể tha thứ” đối với quân kỷ, chủ nghĩa…



Dăm thằng đánh trận. Dăm thằng chết
Chỉ sót mình ta cứ sống nhăn
Đù má nhiều khi buồn hết biết
Lo mãi sau này cụt mất chân
Mấy tháng hành quân chưa ngơi nghỉ
Tóc tai dài thượt giống người rừng
Kinh Kha vác súng qua Dịch thủy
Thề chẳng trở về với tay không
Chiến hữu ta toàn dân thứ dữ
Uống rượu say chửi đổng dài dài
Bồ bỏ. Tức mình xâm bốn chữ
“Hận kẻ bạc tình” trên cánh tay
Chiều qua sém chết vì viên đạn
Du kích bên sông bắn tỉa hù
Cũng may gặp phải thằng cà chớn
Thấy mặt ta ngầu bắn đéo vô
Nhớ hôm bắt được em Việt Cộng
Xinh đẹp như con gái Sài Gòn
Ta nổi máu giang hồ hảo hán
Gật đầu ra lệnh thả mỹ nhân
Mai mốt này đây ra trận tuyến
Gặp ta em bắn chớ ngại ngùng
Cuộc chiến đâu dành cho nhân nghĩa
Đời nào đạo lý với bao dung
(Hành quân)



Trích trọn bài, bởi tôi nghĩ, đây là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Linh Phương, và có thể là tiêu biểu cho cả thế hệ anh trong cuộc chiến tranh không có lối thoát. Hẳn nhiên sẽ có người không đồng tình theo cách nghĩ của tôi, vì trong hàng ngàn bài thơ của hàng trăm nhà thơ thời kỳ đó cũng hay, cũng tiêu biểu? Đồng ý. Tuy nhiên cái hay cái tiêu biểu của những bài thơ kia là những cảm xúc, những phơi bày ở khía cạnh khác; trong khi hành quân, Linh Phương đã phác họa thành công khuôn mặt méo mó của thế hệ anh, đầu óc méo mó với cái nhìn cũng méo mó và chân thực không kém của hàng triệu người hai bờ Nam Bắc phải cúi đầu, nén lòng cầm súng.

Nơi xứ người giá rét, đọc được tập thơ này, bỗng nhói đau một thời kỳ đen tối hiển hiện trước mặt và không thể dằn lòng, bèn thốt lên vài tiếng, vẽ vời vài dòng về Linh Phương về tuổi trẻ và chiến tranh Việt Nam kéo dài, tàn phá mọi nhân phẩm đạo đức, đảo lộn mọi trật tự xã hội suốt hai mươi năm trời: Hai mươi năm nội chiến từng ngày. Và để lại một gia tài “di căn mụt nhọt” cho nhiều thế hệ tiếp theo!



Nguyễn Lệ Uyên
(Seattle, đầu đông tuyết phủ mịt mù)
Trích Trang sách và những giấc mơ bay – tập I (Thư Ấn Quán, 2010)



______________________________________________________________________________________


Tiểu sử Linh Phương





Tên thật Đoàn Văn Nhơn. Sinh năm 1949 tại Sài Gòn. Cha người Phong Điền (Thừa Thiên – Huế). Mẹ người Cần Thơ. Trưởng nhóm văn nghệ Hoa đông phương (Sài Gòn).
Nguyên thư ký tòa soạn tuần báo Tinh Hoa Nữ Sinh phát hành tại Sài Gòn năm 1967. Trước 1975 là quân nhân thuộc Tiểu đoàn 6 Thần Ưng Cảm Tử Thủy Quân Lục Chiến.
Đang phụ trách blog văn học Hoa phương đông, qui tụ nhiều nhà văn nhà thơ trong và ngoài nước.

Tác phẩm đã xuất bản:

- Thơ tình Linh Phương (Thơ, Ngựa Hồng xb, 1967)
- Kỷ vật cho em (Thơ, Động Đất xb, Sài Gòn,1971, Thư Ấn Quán tái bản tại Hoa Kỳ 2006)
- Lời tự tình phương Đông (Thơ, Đồng Nai xb, 1995)
- Lời ru của gió (Thơ,Thanh Niên xb, 2000)
- Tuyển tập Linh Phương (Thơ, Phương Nam xb, 2006)




.


Hạ Vi
#1704 Posted : Wednesday, March 12, 2014 10:33:59 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,333
Points: 16,885
Location: CỏThơm

Thanks: 4126 times
Was thanked: 9969 time(s) in 2470 post(s)





Tản mạn về bài thơ Kỷ Vật Cho Em


Nhận được email của anh Nguyễn Hòa đề nghị viết về những sự kiện quanh bài thơ "Kỷ vật cho em" mà nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc gây xôn xao giới yêu thơ, yêu nhạc một thời trước năm 1975, thực tình tôi không biết khởi đầu từ đâu và viết những sự kiện gì, bởi rất nhiều sự kiện và mình có nên viết hay không?

Thôi thì kể lan man một vài chuyện về bài thơ đó vậy! Xuất xứ bài thơ của tôi đăng trên nhật báo Độc Lập vào năm 1970 với tựa đầu tiên "Để trả lời một câu hỏi", để tặng người con gái tên Hương. Trang sáng tác của tờ báo này do Âu Lăng (tức nhà thơ Trần Dạ Từ, chồng của nhà văn Nhã Ca) phụ trách. Tôi thường xuyên đăng bài ở trang báo này, có thể nói một tháng 30 ngày thì bài của tôi xuất hiện khoảng hơn 20 ngày với tên Linh Phương, Vương Thị Ái Khanh và Phạm thị Âu Cơ.

Khi nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc với duy nhất tên ông, tôi không có phản ứng gì. Nhưng tôi có người bạn làm việc ỡ hãng tin THT đã đưa vấn đề tác quyền lên trang tin tức của 1 tờ báo đại ý "Tác giả Kỷ vật cho em" sẽ kiện nhạc sĩ Phạm Duy ra tòa. Tiếp theo là tờ tuần báo Sân Khấu Truyền Hình của Phan Bảo Quân cho in nột bài viết đề cập tác quyền và tên Linh Phương phải được để là đồng tác giả bản nhạc "Kỷ vật cho em".

Thời đó ở Sàigon có trên 20 tờ Nhật báo và 30 tờ Tuần báo và rất nhiều Tạp chí, bán Nguyệt san, Nguyệt san. Và chuyện tác quyền giữa tôi và nhạc sĩ Phạm Duy đều có bài viết, thư nhạc sĩ Phạm Duy gởi tôi, thư tôi trả lời... hầu hết trên báo chí lúc ấy.

Cuối cùng thì một người cháu của nhạc sĩ Phạm Duy là Phạm Duy Nghĩa tìm gặp tôi tại địa chỉ 104/231 đường Yersin nhà người bạn thân của tôi là Vũ Trọng Quang.

Phạm Duy Nghĩa đưa tôi đến phòng trà ca nhạc Đêm Màu Hồng nơi ban Thăng Long thường xuyên trình diễn.

Ở đây, tôi và nhạc sĩ Phạm Duy đã có sự thông cảm với nhau về vấn đề bài thơ "Kỷ vật cho em". Nhạc sĩ Phạm Duy chở tôi trên chiếc xe "trắc xông" đen đến phòng trà ca nhạc Queen Bee do nhạc sĩ Ngọc Chánh làm chủ. Ở Queen Bee, nhạc sĩ Phạm Duy đã giới thiệu tôi trước công chúng về tác giả bài thơ "Kỷ vật cho em". Sau cái bắt tay giữa tôi và nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ Ngọc Chánh, quái kiệt Trần văn Trạch, nữ ca sĩ Thái Thanh đã trình bày bài thơ phổ nhạc này.

Sáng hôm sau, tôi đến tư gia của nhạc sĩ Phạm Duy ở 215 E/2 đường Chi Lăng Phú nhuận ăn cơm và ký hợp đồng bài thơ "Kỷ vật cho em" tại đây. Trong bản hợp đồng tiền tác quyền là 30,000 đồng (thời điểm đó giá vàng - nếu tôi nhớ không lầm là khoảng 10,000 đến 12,000 đồng) nhưng thực tế thì nhạc sĩ Phạm Duy trả tôi 50,000 đồng (30,000 đồng chèque nhận ở Pháp Á Ngân hàng - 20,000 tiền mặt).

Lúc bản "Kỷ vật cho em" được hát là lúc cuộc chiến tranh Việt Nam trở nên dữ dội, nên đã gây những chấn động lớn lao vào tâm hồn của những Quân nhân Sàigòn cũng như trong tầng lớp dân chúng. Như trong hồi ký của nhạc sĩ Phạm Duy phát hành ở hải ngoại đã dành chương 20 viết về "Kỷ vật cho em" và tác giả có đoạn... "Tôi hát bài này trước tiên ở phòng trà Ritz của Jo Marcel với ban nhạc Dreamers rồi hầu hết các ca sĩ từ Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Thanh Lan và Nhật Trường đều thu thanh vào băng nhạc. Bài hát trở thành một hiện tượng lớn thời đó. Ở phòng trà - khi ca sĩ hát bài đó lên bao giờ cũng có sự náo động nơi khán thính giả, nếu là thường dân thì phản ứng cũng vừa phải, nhưng vì hồi đó dân nhà binh ở 4 vùng Chiến thuật về Sàigòn là đi phòng trà và khi trong đám thính giả có 1 sĩ quan đi nghỉ phép hay 1 thương phế binh là có sự phản ứng ghê hồn nơi người nghe. Có thể nói bài này gây một không khí phản chiến nhưng có một cái gì cao hơn chính trị. Nó nói đến định mạng của con người VN mà ai cũng phải chấp nhận cuộc chiến tranh càng ngày càng trở nên khốc liệt, nhất là cuộc hành quân Lam Sơn 719 qua bên kia Hạ Lào".

Có nguồn tin tôi đã nằm lại ở Hạ Lào, không biết xuất phát từ đâu và cái chết của Linh Phương, tác giả "Kỷ vật cho em" còn có bài viết của tác giả Trần Tường Trình đăng trên nhật báo Sóng Thần của Chu Tử và một số phân ưu chia buồn trên các báo khác. Rồi mặt trận Kampuchea bùng nổ - tôi lại được khai tử lần nữa tại chiến trường này.





Lúc đó anh Thiện Mộc Lan, ký giả báo Đuốc Nhà Nam đã có công tìm sự thât về cái chết của tôi. Sau nhiều ngày tìm hết chỗ này đến chỗ khác qua nhiều người, ký giả Thiện Mộc Lan đã đến nhà nhạc sĩ Phạm Duy - như tác gỉa bài báo kể... Chúng tôi chợt nhớ nghĩ đến nhạc sĩ Phạm Duy, hy vọng rằng giữa nhạc sĩ và nhà thơ có nhiều liên hệ từ "Kỷ vật cho em" ra đời , thế nào nhạc sĩ Phạm Duy cũng biết rõ về Linh Phương. Khi nghe chúng tôi báo tin Linh Phương chết, nhạc sĩ Phạm Duy sửng sốt. "Linh Phương mới thăm tôi cách đây nửa tháng mà... lẽ nào... như vậy được. Ôi dzời, tôi nghĩ anh ta chưa chết đâu...".

Được nhạc sĩ Phạm Duy ghi cho địa chỉ, ký giả Thiện Mộc Lan tìm đến tư gia nhà thơ Vũ Trọng Quang và gặp tôi tại đây.

Báo Đuốc Nhà Nam đã đăng loạt bài 4 kỳ báo qua những tít:
- Nhà thơ có nhiều huyền thoại, tác giả "Kỷ vật cho em" Linh Phương còn sống hay đã vĩnh viễn ra đi.

- Liên lạc khắp nơi Đuốc Nhà Nam mới tìm ra tông tích tác giả "Kỷ vật cho em".

- Linh Phương thích làm thơ nhưng không mang danh thi sĩ.

Thực ra, không chỉ bài thơ "Kỷ vật cho em" tốn nhiều giấy mực báo chí, mà còn có 2 bài thơ đăng cùng một số báo trên tờ tuần báo Khởi Hành của Hội văn nghệ sĩ Quân Đội Sàigon đó là bài thơ "Bài cho chiến trường Đông Dương" nói về cái chết của người Việt Nam trên đất Kampuchea, Hạ Lào và bài thơ "Từ giã bọn mày" nói về thân phận của những lao công đào binh. Tôi chỉ còn nhớ 3 khổ thơ của bài này như sau:


Từ giã bọn mày

Từ giã bọn mày tao lên núi
Mặc áo lao công đập đá xây thành
Làm bạn vắt mòng chống với muỗi
Đáp lũy thông hào chờ cuộc giao tranh

Từ giã bọn mày tao đi nhặt nốt
Vỏ đạn đồng rơi rớt giữa quê hương
Từ giã bọn mày tao đi nhặt nốt
Dưới ruộng - dưới đồng - những máu - những xương

Từ giã bọn mày xin đừng đưa tiễn
Dù một lần tao làm gã tội nhân
Từ giã bọn mày tao xuống biển
Tay ngoằn ngoèo vẽ trọn chữ Việt Nam


Khi báo phát hành khoảng 2 giờ sau thì bị cảnh sát tịch thu tất cả những số báo còn lại. Đấy là một trường hợp không hai vì đây là tờ báo của Hội văn nghệ sĩ Quân Đội.

Sau 1975, đúng hơn là năm 1978, tôi từ Côn Đảo lăng bạt về Cà Mau - ba chìm bảy nổi, bị người ta "đánh" tơi tả, không có chỗ dung thân, dạt về Kiên Giang, cho đến bây giờ.

Có những lúc tôi chảy nước mắt khi tự hỏi tại sao người ta không sống với nhau bằng tấm lòng để cư xử với nhau tử tế hơn?

Có lẽ tôi lan man hơi nhiều, dù còn biết bao chuyện quanh bài thơ "Kỷ vật cho em", mà tôi chưa kể hết. Chỉ hy vọng một ngày nào đó tôi viết một cuốn hồi ký, họa may mới dàn trải được số phận của "Kỷ vật cho em".



Linh Phương


Kỷ vật cho em (Thơ Linh Phương)

Em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời mai mốt anh về
Không bằng chiến trận Pleime
Hay Đức Cơ - Đồng Xoài - Bình Giả

Anh trở về hàng cây nghiêng ngã
Anh trở về hòm gỗ cài hoa
Anh trở về bằng chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn màu tang trắng

Mai trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh
Mai trở về bờ tóc em xanh
Vội vã chít khăn sô vĩnh biệt

Mai anh về em sầu thê thiết
Kỷ vật đây viên đạn mầu đồng
Cho em làm kỷ niệm sang sông
Đời con gái một lần dang dở

Mai anh về trên đôi nạng gỗ
Bại tướng về làm gã cụt chân
Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân
Bên người yêu tật nguyền chai đá

Thì thôi hãy nhìn nhau xa lạ
Em nhìn anh - ánh mắt chưa quen
Anh nhìn em - anh sẽ cố quên
Tình nghĩa cũ một lần trăn trối.






Kỷ vật cho em - Khánh Ly / Anh Ngọc (thu âm trước 1975)






phamlang
#1705 Posted : Thursday, March 13, 2014 4:23:13 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,513
Points: 4,755

Thanks: 1669 times
Was thanked: 998 time(s) in 646 post(s)
Saigon đâu cần nhập tịch



Vũ Thế Thành

Đã nhiều lần tôi ước mình sinh ra đâu đó ở miền quê, có sông suối, núi đồi, vườn cây hoa lá, để lâu lâu về quê lại có những “đêm buồn tỉnh lẻ”, về Sàigòn kể chuyện làm quà ra cái điều lãng mạn.

Sinh ra, lớn lên và sống gần hết đời ở cái đất Sàigòn này mới thấy nó chán phèo. Hồi nhỏ thì chơi tạc lon, đánh đáo, giựt cô hồn…Thả diều không được vì ông già Mười, nhà có xe hơi xách baton rượt, sợ vướng dây điện. Tụi tui lấy kẹo cao su gắn dính vô chuông cổng nhà ổng rồi bỏ chạy. Lớn hơn chút nữa thì chơi bầu cua, cát tê, xập xám…

Mỗi tối mẹ sai tôi xách thùng rác ra gốc me ngoài đường đổ. Tối cúp điện, tôi vừa xách thùng rác vừa nghêu ngao:“…Đường về hôm nay tối thui, gập ghềnh em không thấy tui, em đụng tui, em nói tui đui…”. Tội nghiệp bản “Kiếp nghèo” của Lam Phương, tôi chỉ cám cảnh a dua hát theo chứ đâu biết sửa lời. Trời nóng, để tạm thùng rác ở gốc me, chạy ra phông- tên nước gần đó, năn nỉ mấy chị ma-ri-sến gánh nước thuê, cho em thò cái đầu vô vòi nước một chút. Mát đầu có sức quậy tiếp.

Xóm nhỏ đôi khi lầy lội. Thỉnh thoảng mấy bà trong xóm cũng cãi nhau ầm ĩ. Hôm sau hai ông chồng lại ngồi khề khà nhậu với nhau, còn mấy bả đon đả tiếp mồi. Cãi nhau là chuyện nhỏ, chuyện hôm qua cho nó qua luôn. Đời sống nghèo ở Sàigòn là vậy, có gì thơ mộng đâu?

Mà nói thiệt, tôi là dân Bắc kỳ…chín nút. Nhưng đó là chuyện của ba má tôi, dù sau này có về thăm quê nội ngoại tôi vẫn thấy hụt hẫng và hờ hững thế nào ấy. Tôi lớn lên ở Sàigòn, không khí Sàigòn, cơm gạo Sàigòn, đầu Sàigòn, tim Sàigòn,… bao nhiêu thứ buồn vui với nó. Trong tôi cứ bám riết cái Sàigòn chán phèo này, dù đôi lúc mặc cảm mình không phải là dân Sàigòn.

Hồi 54, cả trăm ngàn dân di cư mang theo đủ loại kiểu sống bó trong lũy tre làng đem nhét hết vô mảnh đất nhỏ xíu này, cũng gây xáo trộn cho người ta chứ. Phong tục, tập quán, ở đất người ta mà cứ như là ở đất mình. Nhưng người Sàigòn chỉ hiếu kỳ một chút, khó chịu một chút, rồi cũng xuề xòa đón nhận.

Lúc đầu tụi bạn ghẹo tôi là “thằng Bắc kỳ rau muống”. Con nít đổi giọng nhanh mà, trong nhà giọng Bắc, ra ngoài giọng Nam. Thế là huề hết. Rủ nhau đi oánh lộn phe nhóm là chuyện thường. Khỏi cần biết đúng sai, mày đánh bạn tao, thì tao đánh lại, Oánh lộn tưng bừng. Vài ngày sau lại rủ nhau đi xem xi nê cọp. Dễ giận dễ quên.

Hè, tụi bạn về quê, Bến Lức, Vĩnh Long, Kiến Hòa… cũng chia tay hứa hẹn, tình cảm ra rít: “ Tao về quê sẽ mang lên cho mày ổi xá lỵ, xoài tượng…”. Tôi ngóng cổ chờ bạn, chờ quà. Thực ra, tôi thèm có quê để về.

Tết đến, thầy cô, bạn bè về quê, nhiều người Sàigòn xôn xao về quê. Tôi ở lại Sàigòn mà thấy hình như mình vẫn không phải là dân Sàigòn. Vây ai là dân Sàigòn chính hiệu đây? Chẳng lẽ phải tính từ thời mấy ông Pétrus Ký hay Paulus Của?

Sàigòn trẻ măng, mới chừng hơn 300 tuổi tính từ thời Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền ở đây. Sàigòn khi cắt ra khi nhập vào, to nhỏ tùy lúc. To nhất có lẽ khi nó là huyện Tân Bình, kéo dài đến tận vùng Biên Hòa. Nhỏ nhất là vào thời Pháp mang tên Sàigòn. Ngay trước 1975, Saigòn rộng chừng 70 km2, có 11 quận, từ số 1 đến 11. Hồi đó Phú Nhuận, Tân Bình, Thủ Đức,.. còn được xem là nhà quê (tỉnh Gia Định). Bây giờ Sàigòn rộng tới 2.000 km2.

Sàigòn đắc địa, có cảng nối biển, là đầu mối giao thương quốc tế, tiếp cận với văn minh Tây phương sớm. Đất lành chim đậu. Người miền Nam đổ về nhiều. Dân Sàigòn không có địa giới rõ rệt. Nói tới họ có vẻ như là nói tới phong cách của dân miền Nam. Họ là những lưu dân, khai phá, hành trang không có bờ rào lũy tre nên tính tình phóng khoáng, trọng nghĩa khinh tài, nói năng bộc trực… Ai thành đại gia thì cứ là đại gia, ai bán hàng rong thì cứ bán.

Sàigòn không tự hào mình là người thanh lịch, không khách sáo, không mời lơi. Họ lấy bụng thiệt mà đãi nhau. Sàigòn có mua bán chém chặt? Có, đúng hơn là nói thách. Cứ vô chợ Bến Thành xem mấy bà bán mỹ phẩm, hột xoàn hét giá mát trời ông Địa luôn. Đối tượng nói thách của họ là khách hàng, chứ không cứ gặp khách tỉnh mới nói thách. Dân Sàigòn lơ mơ cũng mua hớ như thường. Thuận mua vừa bán mà.

Ít nơi nào nhiều hội ái hữu, hội tương tế, hội đồng hương như ở Sàigòn. Dân tứ xứ về đây lập nghiệp nhiều. Có máu lưu dân trong người, dân Sàigòn thông cảm đón nhận hết, không ganh tị, không thắc mắc, không kỳ thị. Người ta kỳ thị Sàigòn, chứ Sàigòn chẳng kỳ thị ai. Nhiều gia đình người Bắc người Trung ngại dâu ngại rể Sàigòn, chứ dân Sàigòn chấp hết, miễn sao ăn ở biết phải quấy là được

Dân Sàigòn làm giàu bằng năng lực hơn là quyền lực. Người ta nói “dân chơi Sàigòn”. Trời đất! Sàigòn mà “tay chơi” cái nỗi gì. Tay chơi dành cho những đại gia mới giàu lên đột xuất từ đâu đó đến. Đổi đời, Sàigòn biết sợ. Sàigòn a dua thì có, nhưng a dua biết chọn lọc. Coi vậy chứ dân Sàigòn đâu đó còn chút máu “ kiến nghĩa bất vi vô dõng giả”. Cứ xem dân Sàigòn làm công tác xã hội thì biết, cứu trợ lũ lụt thấy người ta lạnh quá, cởi áo len đang mặc trên người tặng luôn. Họ làm vì cái bụng nó thế, chứ không phải vì PR, đánh bóng bộ mặt.
Biết bao văn nghệ sĩ miền Bắc, miền Trung vào đất Sàigòn này “quậy” tưng, tạo ra cái gọi là văn học miền Nam hậu 54 coi cũng được quá chứ? Nhạc sĩ Lam Phương, quê Rạch Giá, 10 tuổi đã lưu lạc lên Sàigòn kiếm sống. Năm 17 tuổi nổi danh với bản “Kiếp nghèo” và khá giả từ đó.

Tiếp cận văn minh phương Tây sớm, nên dân Sàigòn có thói quen ngả mũ chào khi gặp đám ma, xe hơi không ép xe máy, xe máy không ép người đi bộ, chạy xe lỡ va quẹt vào nhau, giơ tay chào ngỏ ý xin lỗi là huề. Những thói quen này giờ đây đang mất dần, nhưng dân Sàigòn không đổ thừa cho dân nhập cư. Họ cố gắng duy trì (dù hơi tuyệt vọng) để người mới đến bắt chước vì lợi ích chung. Chợ hoa là một chút văn hóa của Sàigòn, có cả nửa thế kỷ nay rồi, có dân nhập cư nào “yêu” hoa mà ra đó cướp giựt hoa đâu.

Sàigòn nhỏ tuổi nhiều tên, nhưng dù thế nào Sàigòn vẫn là Sàigòn. Nhiều người thành danh từ mảnh đất Sàigòn này. Sàigòn nhớ không hết, nhưng mấy ai nhớ đến chút tình của Sàigòn? May ra những người xa Sàigòn còn chút gì nhức nhối. Tôi có người bạn Bắc kỳ chín nút, xa Việt Nam cũng gần 40 năm. Tên này một đi không trở lại, vừa rồi phone về nói chuyện lăn tăn, rồi chợt hỏi: “ Sàigòn còn mưa không?”. “Đang mưa”. Đầu phone bên kia thở dài: “Tao nhớ Sàigòn chết…mẹ!”. Sàigòn nay buồn mai quên, nhưng cũng có nỗi buồn chẳng dễ gì quên.

Mới đây đi trong con hẻm lầy lội ở Khánh Hội, chợt nghe bài hát “ Kiếp nghèo” vọng ra từ quán cà phê cóc ven đường. Tôi ghé vào gọi ly cà phê. Giọng Thanh Thúy sao da diết quá : “Thương cho kiếp sống tha hương, thân gầy gò gởi theo gió sương…”. Chủ quán, ngoài 60 cầm chồng báo cũ thẩy nhẹ lên bàn “ Thầy hai đọc báo…”. Hai tiếng “thầy hai” nghe quen quen…Tự nhiên tôi thấy lòng ấm lại. Sàigòn từ tâm, Sàigòn bao dung. Tôi chợt hiểu ra, mình đã là người Sàigòn từ thưở bào thai rồi, cần gì xin nhập tịch.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Duy An
#1706 Posted : Sunday, March 16, 2014 9:48:19 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Nhà thơ Tô Kiều Ngân với di cảo ‘Mặc Khách Sài Gòn’



Viên Linh


Những ngày giữa tháng 3 này tôi nhận được hai ấn bản của cùng một cuốn sách từ Sài Gòn gửi qua: “Mặc Khách Sài Gòn” của Tô Kiều Ngân, một do con gái tác giả là cô Quỳnh Hương (hay bà Nguyễn Tôn Nhan), một do nhà xuất bản Nhã Nam-Hồng Ðức do anh Dương Thanh Hoài, gửi tặng.

Một bản gửi bảo đảm qua bưu điện từ ngày 21 tháng 2, 2014, một bản cầm tay chuyển lại, hai bản đến tay người nhận xê xích nhau 3 ngày. Tôi đã đọc ngay, bởi vì Tô Kiều Ngân là người bạn vong niên quá cố mới cách đây hai năm, bởi vì nhan đề “Mặc Khách Sài Gòn,” bốn chữ gợi nhớ nhiều tới tâm tư tình ảnh về một thời đã qua, nơi tôi có mặt toàn thời gian 1954-1975, và bởi vì bản thân sản phẩm của Nhã Nam: sách trình bày mộc mạc khác thường, bìa in chỉ một màu đen trên giấy các-tông mỏng màu gỗ, có lai xếp trước sau, suốt cuốn sách 270 trang viết về 15 văn nghệ sĩ miền Nam, mà những người tên tuổi nhất trong sách là Nguyễn Vỹ, Lê Thương, Vũ Hoàng Chương, Ðinh Hùng, Tạ Tỵ, Bùi Giáng, Mai Thảo, in kèm với những hình ảnh đen trắng quí hiếm, những hình ảnh ít thấy trên báo chương từ mấy chục năm qua. Ít có những cuốn sách mà hình thức thể hiện một cách ý tứ và nhã nhặn đến thế, với tranh phác họa chân dung các nghệ sĩ bằng bút sắt (của Hữu Khoa) ở cả bìa trước lẫn bìa sau. Chỉ với bề ngoài, người đọc sách đã có thể tin: đây là sản phẩm được thực hiện bởi những người yêu sách, quí sách, tôn trọng tác giả, tôn trọng độc giả.





Tô Kiều Ngân (1926-2012), bên trái, ngồi cạnh nhà thơ Ðinh Hùng thời Thi Văn Tao Ðàn của Ðài Phát Thanh Quốc Gia, những năm 60. (Hình trích trong hồi ký Mặc Khách Sài Gòn, Nhã Nam, 2014)


Cuốn sách nữa cùng lúc đến từ nhóm anh em văn nghệ miền Thất Sơn Châu Ðốc, ký tên Ngô Nguyên Nghiễm, cũng viết về các văn thi sĩ miền Nam thành danh trước 75, đa số là lớp trẻ tuổi, là những người còn tiếp tục viết, với nhan đề Tác Giả Tác Phẩm-Người Ðồng Hành Quanh Tôi. Ðây là tập cuối cùng của bộ sách 6 cuốn, còn có tên là Viên Mãn, dày hơn 6,000 trang, lần lượt ra mắt từ tháng 2, 2010 tới tháng 1, 2014 thì xong hẳn. Rất nhiều tác giả miền Nam được đề cập, nổi tiếng trước 1975 có Trần Tuấn Kiệt, Nguyễn Hải Chí (CHÓE), Nguyễn Văn Hầu, Nguyễn Bá Thế, Viên Linh, Dương Hà, Nguyễn Tất Nhiên, Dương Trữ La, Nguyễn Thụy Long, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trương Ðạm Thủy, Phạm Thiên Thư. Vì số tác giả trong bộ này rất đông, khoảng 200 người, nên chúng tôi sẽ viết riêng và viết thêm sau.

Trở về với Tô Kiều Ngân, trong Lời Nói Ðầu, ký tên “Tác giả,” ông viết: “‘Mặc khách’ là từ chỉ các văn nhân, thi sĩ cùng những người hoạt động nghệ thuật, mong muốn đem tài hoa, tim óc ra tô đẹp cho đời. Chữ ‘khách’ hàm ý chỉ những người của đám đông, những người được lưu tâm hay ngưỡng mộ.” Cuốn sách có mục đích gì? Tác giả viết: “Gió bụi thời gian, chiến tranh chia cắt, khói lửa triền miên đã vùi dập, làm thất lạc không ít tác phẩm văn học của một thời tại miền Nam. Ðiều đó gây khó khăn không ít cho những ai muốn nghiên cứu văn học sử. Lớp hậu sinh có thể hoàn toàn không biết gì về diện mạo của mảng văn học nghệ thuật lúc họ chưa ra đời. Mong rằng tập sách này sẽ cung ứng cho họ một ít tư liệu giúp tìm đến với những mặc khách của Sài Gòn, để biết rằng có một thời, có những người đã sống như thế, suy nghĩ như thế và viết như thế.”

Ðọc xong cuốn sách, người ta có thể kết luận khái quát: Tô Kiều Ngân chỉ muốn nói đến cái đẹp cái vui của những người ông viết, mà không phê bình, phán xét, hay cả khen ngợi các chủ đề, như ông đã minh định là ông không phê bình văn học, “mà chủ yếu là những kỷ niệm vui buồn mà tác giả có được.”

Tuy thế, ngay trong chương thứ nhất, Nhà Văn An Nam Khổ Như Chó viết về Nguyễn Vỹ, Tô Kiều Ngân đã làm một việc rất phải, rất chính xác, phê bình hai ông Hoài Thanh Hoài Chân đã “thật ác” khi viết trong cuốn Thi Nhân Việt Nam như sau: “Nguyễn Vỹ đã đến giữa làng thơ với chiêng, trống, sập xoèng inh cả tai. Chúng ta đổ nhau ra xem. Nhưng chúng ta lại tưng hửng trở vào vì ngoài cái lối ăn mặc và những điệu lố lăng, lúc đầu ta thấy con người ấy không có gì.” Tô Kiều Ngân phản bác ngay ở dòng thứ chín của bài viết đầu tiên, và trưng ra những tác phẩm cũng như con người đáng phục của Nguyễn Vỹ. Năm 1999 khi viết về thi sĩ Nguyễn Bính, [Trên Khởi Hành số 29, 3.1999], người viết bài này cũng đã viết rằng Hoài Chân Hoài Thanh “đã làm hại Nguyễn Bính” khi gọi thơ Nguyễn Bính là “lố lăng;” và Vũ Ngọc Phan đã “làm hại Nguyễn Bính nhiều hơn” khi nhắc đến một thi sĩ đã có 8 thi phẩm in ra với chỉ có 6 dòng trong tập Nhà Văn Hiện Ðại, trong đó lại có câu này: “nhiều câu của ông [NB] gần như vè.” Trong khi đó thì Vũ Ngọc Phan đã dành các tiết mục riêng để ca ngợi hai “thi sĩ” Nguyễn Giang (con trai Nguyễn Văn Vĩnh) và Nam Hương nức nở, nhưng không ai biết hai thi sĩ này là ai, trong khi hơn nửa thế kỷ qua, thơ Nguyễn Bính vẫn được tái bản, không ai gọi đó là vè cả. Tô Kiều Ngân viết rất chi tiết về Nguyễn Vỹ, nhất là câu sau đây: “Tôi chắc nhiều người quan tâm tìm hiểu đời sống xã hội những năm đầu thế kỷ XX thì khó có thể bỏ qua hai tập đặc sắc “Tuấn, Chàng Trai Nước Việt,” [của Nguyễn Vỹ], cuốn sách tuy được viết theo thể loại tiểu thuyết nhưng cung cấp cho người đọc nhiều tư liệu lịch sử văn hóa giá trị không thua một cuốn sách biên khảo nào.” (tr. 10).

Tiếp theo, “Mặc Khách Sài Gòn” còn viết về những văn nghệ sĩ thuộc nhiều bộ môn, như Ai Xuôi Vạn Lý (nhạc sĩ Lê Thương), Ðể Ta Tròn Một Kiếp Say (thi bá Vũ Hoàng Chương), Trời Cuối Thu Rồi Em Ở Ðâu? (thi sĩ Ðinh Hùng), Thương Về Năm Cửa Ô Xưa (họa sĩ Tạ Tỵ), Tấm Thân Với Mảnh Hình Hài (nhà thơ Bùi Giáng), Cho Tôi Về Ký Con (nhà văn Mai Thảo), Thôi Ngủ Gối Ðầu Lên Ðại Bác (nhà thơ Hoàng Trúc Ly), và một số tác giả trẻ hơn ông nhiều, như Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng, Phạm Thiên Thư, song với những người này, ông viết thoảng qua, không thể xếp cùng loại với những bài ông viết nơi chín chương đầu, như kể ở bên trên. Nhưng chỉ với chín chương đầu, “Mặc Khách Sài Gòn” là một cuốn sách hào hứng, và chắc chắn có một giá trị mà chỉ người trong cuộc mới viết được. Tuy sách mới ra, các sự việc kể lại chưa thể có dư luận phản bác tức thời, nhưng tôi tin rằng nếu có sai sót nào, thì không do chủ ý của người viết. Tô Kiều Ngân không phải là người cầm bút viết hồi ký để làm việc ấy. Những hình ảnh riêng tư được dùng trong cuốn sách cho thấy tác giả đã lưu giữ từ lâu, và lưu giữ với lòng ưu ái, trân trọng.

Tô Kiều Ngân viết nhiều loại, song được biết tiếng nhiều như một nghệ sĩ thi sĩ ngâm thơ với sáo trúc trong ban Tao Ðàn của Ðinh Hùng bên cạnh Hồ Ðiệp, Quách Ðàm, Hoàng Thư, Thanh Nam, Thái Thủy. Ông từng cộng tác với nhà văn Thanh Nam từ những năm đầu thập niên '50 trong tờ tuần báo Thẩm Mỹ. Ông tên thật là Lê Mộng Ngân, sinh năm 1926 tại Huế, viết cho nhiều báo và nhiều thể loại như thơ, văn, tạp luận trên Văn Nghệ Tiền Phong, Tiểu Thuyết Thứ Năm, và các báo của quân đội. Trong Ban Chấp Hành Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Ðội, cùng người viết bài này. Ông cũng là thư ký tòa soạn nguyệt san Khởi Hành nhưng ra được 8 số thì đình bản. Khi Khởi Hành chuyển qua tuần báo, nhằm vào độc giả cả trong lẫn ngoài quân đội, thư ký tòa soạn là Viên Linh, sống qua năm thứ tư, được 156 số. Trong sinh hoạt, Tô Kiều Ngân luôn luôn tươi cười, vui vẻ, và sẵn sàng hòa hợp với mọi người mỗi khi có chuyện phải thảo luận. Trong Lời Nói Ðầu của Mặc Khách Sài Gòn, ông đã tỏ ý ấy: “Ðây không phải là một tập sách phê bình, cũng không phải ‘chân dung văn học,’ mà chủ yếu là những kỷ niệm vui buồn... đôi chỗ tác giả có cao hứng mà múa bút lạm bàn thì cũng chỉ là để minh họa cho câu chuyện mà thôi.”

Users browsing this topic
Guest (3)
106 Pages«<8081828384>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.