Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

33 Pages«<678910>»
CÁM ƠN ANH ! NGƯỜI CHIẾN SĨ VÔ DANH
Ngoc N Hao
#147 Posted : Friday, September 2, 2011 2:58:10 PM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,706
Points: 8,185
Location: France

Thanks: 2255 times
Was thanked: 1524 time(s) in 874 post(s)


NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ


"ĐÂY LÀ TIẾNG NÓI NƯỚC VIỆT NAM
PHÁT THANH TỪ THỦ ĐÔ SÀIGÒN..."


Cho đến nay, tiếng nói đó vẫn còn
Vang vọng mãi trong trái tim "Người Lính".

Là hình ảnh của một thời ổn định
Là tiền đồn của Thế giới tự do
Của miền Nam nước Việt rất ấm no
Là thành luỹ mang hồn thiêng sông núi.

"Người Lính" trẻ đã một thời dong ruỗi
Đem Tình người, Tình lính trấn biên cương
Vẫn một lòng chung thuỷ với quê hương
Dù oan nghiệt rẽ đời qua trăm hướng.

"Người Lính" chúng tôi tuy không Sinh Vi Tướng
Cũng hiên ngang chấp nhận Tử Vi Thần
Trọn một lòng chỉ vì Nước, vì Dân
Dâng hiến cả đời mình cho Tổ Quốc.

Từ QUảng Trị rét căm mùa gió bấc
Đến Cà Mau mưa, lũ ngập đồng sâu
Vết giầy saut lội bất cứ nơi đâu
Để mang lại Tin Yêu và Lẽ Sống.

"Người Lính" chúng tôi mang trái tim hào phóng
Của tuổi đời đẹp nhất: lúc đôi mươi
Làm nguồn vui nơi tuyến đầu lửa bỏng
Trong gian truân vẫn nồng ấm nụ cười.

Dù đôi lúc có hoang mang, phẫn nộ
Hay chán chường vì dấu ấn chiến tranh
Nhưng nỗi buồn cũng tan biến rất nhanh
Khi đối diện với kẽ thù ngoài mặt trận.

Rồi cũng đến lúc chào thua số phận
Khi tàn vong đành nước mất, nhà tan
Vì thế cùng, lực tận phải sang bang
Thân nhược tiểu, xót thầm, ôi ngang trái

"Người Lính" chúng tôi không hề chiến bại
Chỉ chào thua định mệnh đã an bài
Bởi cô thế đành nương thân hải ngoại
Chờ bình minh quang phục của ngày mai.



Huy Văn



Hạ Vi
#148 Posted : Sunday, September 4, 2011 10:44:12 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,640
Points: 14,706
Location: CỏThơm

Thanks: 2605 times
Was thanked: 7175 time(s) in 1914 post(s)


Phi đoàn F-5 đầu tiên của KQ VNCH
Phi đoàn 522 Thần ưng



Sau khi 31 trong số 33 phi công đầu tiên được gửi đi xuyên huấn về F-5 tại Hoa Kỳ, tốt nghiệp trở về nước (ngày 11 tháng 4 năm 1967). KQ VNCH đã tiến hành việc tiếp nhận các phi cơ F-5 và tổ chức lại Phi đoàn 522 để Phi đoàn này trở thành Phi đoàn F-5 tiên khởi. Số 27 phi công còn lại đều về Phi đoàn 522.

Ngay từ cuối tháng 4 năm 1967, Không quân Hoa Kỳ đã bắt đầu chuyển giao một số F-5 để các phi công thuộc PĐ 522 bay huấn luyện , duy trì khả năng trong khi chờ ngày chính thức ra quân. (trong khoảng thời gian này, Tướng Kỳ đã có dịp bay thử F-5, khi bay chung với Thiếu Tá Võ văn Sĩ trên một chiếc F-5B).

Trong suốt khoảng thởi gian từ ngày thành lập (1 tháng 6 năm 1967) cho đến năm 1973, Phi đoàn 522 là phi đoàn duy nhất của KQVNCH sử dụng phản lực cơ F-5 các loại gồm F-5A, B và RF-5 dùng trong các phi vụ không ảnh.

Vài hoạt động của Phi đoàn 522 :

- Ngay trong tháng đầu tiên chính thức hoạt động, PĐ 522 với 20 chiếc F-5 đã bay được 388 phi xuất; Sang tháng 7/1967 số phi xuất tăng lên đến 436 và trong tháng 12/1967, con số phi xuất lên cao nhất với 527 phi xuất tấn công các mục tiêu cộng quân.

- Tết Mậu Thân (1968) : lực lượng phi cơ chiến đấu của KQVN gồm 69 chiếc Skyraiders, (trong tình trạng hoạt động được) và 17 chiếc F-5 thuộc PĐ 522 tại Biên Hoà. Riêng trong ngày 29 tháng Giêng, tổng số phi xuất cùa KQ VNCH là 211, và tăng lên 258 trong ngày kế tiếp, Số phi xuất trong ngày 31 tháng Giêng là 368. Trong số các phi xuất của 3 ngày này, các A-1 và F-5 bay được 268 phi xuất.

- Tháng 5 năm 1970 : các F-5 của PĐ 522 đã cùng các A-1 và A-37 tham dự Cuộc Hành quân qua Kampuchea, yểm trợ các Chiến đoàn VNCH tảo thanh các mật khu CSBV trong vùng Mỏ Vẹt..

- Phi đoàn 522 là Phi đoàn phản lực đầu tiên của KQ VNCH đã có dịp thực tập nghênh cản phi cơ MiG : Trong ngày Không Quân 1970, KQ Kampuchea đã gửi 2 phi cơ : 1 MiG 15 và 1 MiG 17 sang thăm viếng xã giao VNCH. 8 chiếc F-5 cùa PĐ 522 đã bay lên đón và đưa các MiG này về Phi trường Biên Hòa.

- Từ năm 1971, các đơn vị KQ HK lần lượt được chuyển sang Thái Lan, và PĐ 522 đã phải gửi ra hoạt động tại Đà Nẵng trong nhiệm vụ đề phòng các cuộc xâm nhập của KQ BV..Nhiệm vụ này sau đó được trao lại cho PĐ 538 (Hồng Tiễn), trú đóng tại Đà Nẵng.

- Năm 1972, CSBV mở cuộc Tấn công Mùa Hè (Easter Offensive) trong đó tại Chiến trường Vùng 2 nhất là tại Kontum, KQ VNCH đã đóng góp rất nhiều chiến công : Vào lúc cao điểm của cuộc tấn công :tháng 4 năm 1972, các phi cơ oanh tạc chiến đấu của KQVN đã bay mỗi ngày trên 150 phi xuất yểm trợ tiếp cận hành quân, trong đó các F-5 đã được sử dụng đến mức tối đa, do vận tốc siêu thanh và nhanh nhẹn, các F-5 với 4 quả bom 500 lbs đã gây các tổn thất cho các điểm tập trung của Cộng quân, phá vỡ các hệ thống tiếp liệụ F-5 với các ống phóng rocket 2.75 inch đã giúp bắn hạ một số chiến xa và xe vận tải của CSBV. Tại Vùng 1, trận chiến tại Quảng Trị cũng không kém phần ác liệt và các F-5 cũng sát cánh với các Skyraider để ngăn chặn Cộng quân. Với 150 phi cơ chiến đấu (A-1, F-5 và A-37) KQ VN đã bay mỗi ngày 200 phi xuất. Từ 10 đến 28 tháng 3 : KQ VNCH bay tổng cộng 3500 phi xuất yểm trợ hành quân và thả trên 5000 tấn bom đạn các loại.

Cho đến đầu năm 1973, KQ VNCH có tổng cộng 35 chiếc F-5

Đến năm 1973, khi KQ VNCH tiếp nhận một số lượng ồ ạt các loại phi cơ, trong đó có F-5 thì các phi đoàn F-5 mới được lần lượt thành lập và các phi công kỳ cựu của Phi đoàn 522 được phân tán, bổ nhiệm để tạo thành khung sườn cho các Phi đoàn tân lập : 536, 538, 540, 542 và 544.





Vài nhận xét của các Phi công và Chuyên viên Hoa kỳ về các phi công của PĐ 522 :

- Trung Úy Phi công George Swannman, thuộc KQHK đã ghi lại cảm tưởng của Ông trong thời gian hoạt động với PĐ 522 (1970) như sau (trích trong Air War South Viet Nam của Robert Dorr) . Tr/U Swannman đã bay chung với một phi công VN trên một chiếc F-5B, 2 chỗ ngồị Phi cơ tuy dùng trong các phi vụ huấn luyện, nhưng trong các phi vụ chiến đấu, F-5B vẫn có thể mang 2 quả bom HE loại 750 lb (340 kg). Phi vụ này gồm 4 F-5. Mục tiêu oanh kích là nơi tập trung của Cộng quân tại một vùng cách Biên Hòa khoảng 23 km :

"..Người phi công bay chung với tôi là một Trung Úy trẻ, đã tốt nghiệp về F-5 tại Hoa Kỳ.. Anh ta người mảnh khảnh, nhưng khi ngồi vào chiếc F-5 , anh trở thành một con mãnh hổ..Quý vị có bao giờ nghe nói đến phi công khu trục mà bị..say sóng khi bay không ? Tôi đã gần như bị.. say khi ngồi chiếc ghế sau, để bay chung với anh ta. Phi cơ F-5 có thể đạt đến 6G tương đối dễ dàng..và tay phi công này.. kéo đến 6 G khi bay.."

Tr/U Swannman cũng rất..ngạc nhiên về khả năng bay.. ngoài sách vở của các phi công VN, 4 chiếc F-5 tấn công mục tiêu từ mọi hướng.. Các phi công đã liên kết chặt chẽ..Đối với một quan sát viên, thì hình như các F-5 tấn công loạn xạ, không có kế hoạch.. nhưng thật ra họ bay rất chính xác..giống như một cuộc phi diễn trong các ngày biểu diễn..

- Trong những ngày cuối cùng của VNCH, Anthony Tambini, một kỹ sư cơ phi, giữ vai trò cố vấn kỹ thuật về F-5, đã ghi lại trong tập ?~F-5, Tigers over VietNam về : Một ngày của Phi công F-5 KQ VNCH trong tháng 4 năm 1975 như sau (Tambini ghi rõ là của một Phi công thuộc PĐ 522):

..Phòng hành quân của PĐ 522 được đặt tại cuối phi đạo, nơi tận cùng về phía Nam của Phi trường Biên Hoà. Các phi công sẽ đến trình diện tại Phòng hành quân trước khi được thuyết trình về mục tiêu, đơn vị bạn mà họ sẽ yểm trợ, cùng loại hỏa lực của CQ mà họ sẽ phải đối phó. Họ nhận Ký hiệu vô tuyến, vị trí quân bạn, cùng vị trí quân địch. Nếu phi vụ được FAC điều hành thì họ sẽ được chỉ định tần số liên lạc..Sau khi cuộc thuyết trình chấm dứt, các phi công được xe lái đưa đến nơi phi cơ đang chờ sẵn tại bãi đậu.

Phi công sẽ phải kiểm soát chiếc phi cơ cùng vỏ khí trang bị. Mặc chiếc áo bay, buớc quanh phi cơ dưới trời nắng nóng và không khí ẩm..phi công kiểm soát lại ngòi nổ, bom đạn, ống phóng rocket..Kiểm soát võ khí trang bị là vấn đề tối quan trọng..cần biết chắc là các giây nối điện giữa võ khí và nút bấm..hoạt động tốt, và súng đã lên đạn sẵn. Ống phóng rocket cũng cần xem kỹ..(ống phóng rocket có thể chứa đến 24 rocket cỡ 2.75 inch)

Trước khi leo vào phòng lái, phi công phải đeo dù. Các phi cơ F-5 của KQ VNCH không được trang bị ghế thoát hiểm tự phóng Martin Baker có gắn sẵn dù cho phi công. Máy được khởi động và phi công sẽ đưa phi cơ ra khỏi bãi đậu, do tình trạng phi trường bị pháo kích thưòng xuyên, phi công còn phải chú ý đến các..hố nhỏ nơi bãi đậu.. Khi đến đầu phi đạo, các chuyên viên võ khí sẽ kiểm tra lại tình trạng bom đạn trang bị, các ngòi nổ được tháo chốt an toàn..tất cả sẳn sàng. Trong suốt thời gian vừa kể, nắp phòng lái vẫn mở, gió ẩm và nóng lùa vào khiến phi công đổ mồ hôi nhễ nhại..Tình trạng đậu, chờ..không thể giúp phòng lái được mát hơn..

Phi công sửa soạn cất cánh : Bật nút kiểm soát nơi bảng phi cụ, áp suất thủy lực sẽ đưa mũi phi cơ hướng lên cao khoảng 13 inch..để cất cánh. (Môt F-5E, trang bị 4 quả bom 500 pound, đeo thêm một bình xăng phụ 175 gallon nơi bụng, với bình xăng JP-4 đầy, cần phi đạo dài khoảng 5,800 feet để cất cánh) Phi đạo của phi trường Biên hòa dài đến 10,000 feet, nên không đặt thành vấn đề. Một F-5A, trong điều kiện trang bị tương tự, cần khoảng 7,800 feet để cất cánh..

Khi bay lên, phi công có thể sẽ phải đối phó với hoả lực súng nhỏ của CQ, và khi bay đến mục tiêu họ sẽ phải đương đầu với đụ loại sùng phòng không từ loại 30 ly đến hỏa tiễn cầm tay Strela.. chưa kể các dàn SA-2 điều khiển bằng radar mà CSBV đã chuyển vào chiến trường miền Nam.

Các phi công KQVNCH, trước các nguy hiểm này, chỉ còn một phương thức tự vệ là ..phải kịp nhìn thấy các hỏa tiễn này khi chúng vừa phóng lên! Vào những ngày trong tháng 4 năm 1975, thời gian bay đến mục tiêu thường chì trong vài chục phút, vì CQ đã áp gần Căn cứ Biên Hoà. Khi bay gần đến mục tiêu, các F-5 sẽ được các FAC hướng dẫn, chỉ định một mục tiêu đặc biệt hay các điểm tập trung quân, xe cộ của CQ.. và đôi khi phi công tự tìm mục tiêu thích hợp không có FAC hướng dẫn. Phi công có thể, nói trực tiếp với đơn vị bộ binh đang hành quân hay đang cần yểm trợ dưới đất ..các phi cơ liên lạc loại Cessna bay chậm, vào những ngày cuối cuộc chiến đã bị bắn hạ khá nhiều.

Tuy thả bom ở cao độ 10,000 feet được xem là tương đối an toàn cho phi cơ, nhưng các phi công VNCH muốn yểm trợ quân bạn chính xác hơn, thường thả bom ở các cao độ thấp hơn, chấp nhận mọi nguy hiểm..Và trong các cuộc không kích này, vận tốc cùng hình dạng thon nhỏ của phi cơ chính là những ưu điểm giúp phi công thoát hiểm.

Hỏa tiễn cầm tay cải tiến Strela, vào thời điểm 1975 quả là một mối đe doạ đáng kể : Phi công sau khi thả bom, múc lên..sẽ phải chú ý nhìn quay lưng lại phía sau, và quay đủ hướng.. để coi chừng..chưa kể các loại phòng không bắn lên từ đủ mọi hướng.. Ngoài ra nếu chẳng may phi cơ trúng đạn quá nặng, phi công phải nhẫy dù thoát hiểm thỉ họ cũng sẽ phải tư lo..Việc tiếp cứu sẽ không còn được nhanh chóng như trước đây..Và nếu phi công may mắn bay được trở về Căn cứ.. Anh sẽ sẵn sàng để bay.. một phi vụ kế tiếp..





Các phi công của Phi đoàn 522 đã ra đi cùng con tàu :

1- Trung Úy Nguyễn Trí Kiên : Tr/U Kiên, một trong các phi công F-5 đầu tiên cũng là phi công F-5 đầu tiên hy sinh trong khi thi hành phi vụ oanh kích CQ (1967 ?). Phi cơ của Tr/U Kiên gặp trục trặc máy, bom đeo dưới cánh không rơi ra được. Tuy được lệnh nhảy dù như Tr/U Kiên quyết định cố tìm cách đưa phi cơ ra khỏi khu vực dân cư.. và phi cơ đã phát nổ trước khi Anh kịp nhảy dù. Sự hy sinh của Anh đã được dân Hố Nai, Biên Hòa tri ân và đám ma của Anh là một trong những đám ma được dân chúng tham dự đông nhất.

2- Trung Úy Lê Thiện Trung : tử nạn trong khi cất cánh tại Biên Hòa (năm ?). Theo cuộc điều tra kỹ thuật thì đồng hồ vận tốc (speed indicator) của phi cơ bị hỏng nên Tr/U Trung hủy bỏ chuyến bay nhưng trên thực tế phi cơ lại tăng tốc khá caọ Với tốc độ nhanh, thắng phi cơ bị hỏng, phi cơ cắt hàng rào cản cuối phi đạo và phóng xuống sông Biên Hòa.

3- Thiếu Úy Nguyễn Anh Tuấn : tử nạn tại Phi trường Đà Nẵng (1974) trong một phi vụ không ảnh trên chiếc RF-5C

4- Thiếu Úy Nguyễn Thăng Long tử nạn trong một phi vụ huấn luyện tại Biên Hòa (1974 ?). Hai phi cơ đụng nhau khi cất cánh (phi cơ thứ 2 do Nguyễn Thành Trung điều kiển)




Trần Lý
(Phi cơ Phản lực và KQ VNCH)






xuan hoang
#149 Posted : Thursday, September 8, 2011 5:36:58 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702
Points: 2,148

Thanks: 376 times
Was thanked: 192 time(s) in 137 post(s)
DẤU TRÒN





Trời xanh nhạt nắng bóng trăng treo

Chiếc bóng thương binh dấu bơ tròn

Vẽ nét ngày về trên chân gỗ

Vàng xưa trở gót bước anh qua

Đong đưa bụi cỏ bên bờ vắng

Róch rách biển reo bóng ai về

Ấm áp bên bờ vai con trẻ

Ngày về biển lặng sóng lăn tăn ...


NKC
Ngoc N Hao
#150 Posted : Sunday, September 11, 2011 10:27:17 AM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,706
Points: 8,185
Location: France

Thanks: 2255 times
Was thanked: 1524 time(s) in 874 post(s)
Biệt Hải trên vùng biển bão tố





Sau khi hay tin 15 lính Biệt Hải thuộc Tuần Dương Hạm HQ 16 Lý Thường Kiệt được một ngư thuyền cứu vớt tại eo biển Qui Nhơn, cách đảo Cù Lao Xanh (hay còn gọi là Mũi Yến) 55 cây số về phía Đông và vẫn còn ở ngoài hải phận quốc tế, nhiều phóng viên quân đội đã chạy đôn chạy đáo tìm mọi cách để đến gặp và nhìn tận mắt những người lính biển đầu tiên đã viết những dòng hải sử chiến đấu chống quân Trung cộng, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam. Chỉ với 15 người lính, các anh đã phải đối đầu với một lực lượng hung hãn địch gấp gần 20 lần hơn trên đảo Vĩnh Lạc. Trong lúc những chiến hạm của Hải Quân Việt Nam còn đang giáp chiến với hải quân Trung cộng, tiếng đại bác của hai bên nổ rền mặt đại dương, thì 15 chiến sĩ Biệt Hải đã kiệt liệt đối súng với hàng trăm lính bộ chiến của Trung cộng trên hòn đảo nhỏ này. Giữa cơn lửa đạn mù rời, toán Biệt Hải nhận được lệnh rút bỏ Vĩnh Lạc, vì cấp chỉ huy mặt trận Hoàng Sa không thể hy sinh oan uổng những đoàn viên ưu tú nhất của quân chủng. Không có một chiếc tàu nào đến đón, vì lúc đó 14 tàu chiến Trung cộng đang vây đánh Tuần Dương Hạm HQ 16 Lý Thường Kiệt, Tuần Dương Hạm HQ 5 Trần Bình Trọng, Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 và Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ 4. Chiếc xuồng đổ bộ giờ đây đã trở thành chiếc phao cứu sinh duy nhất của toán chiến sĩ lạc loài này. Cuộc hành trình vượt chết trên vùng biển bão tố bắt đầu.

Một toán thám sát Biệt Hải được chiếc HQ 16 Lý Thường Kiệt thả xuống gần đảo Vĩnh Lạc, rồi các anh dùng thuyền nhỏ chèo vào và đổ bộ lên bờ biển. Đảo Vĩnh Lạc (còn gọi là đảo Quang Ảnh hay Money) thuộc chủ quyền Việt Nam từ thời triều đình nhà Nguyễn, nhưng đã bị hải quân Đài Loan lợi dụng lúc ra giải giới quân Nhật khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh ngày 21.8.1945, đã ngang ngược chiếm lấy và tuyên bố chủ quyền từ năm 1946. Đến lượt Trung cộng đoạt lấy đảo Vĩnh Lạc cuối năm 1949, sau khi đánh bại quân Quốc Dân Đảng Trung Hoa ở lục địa. Đảo Vĩnh Lạc, cũng như hầu hết các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa (còn gọi là Paracel) có cấu tạo san hô rất kiên cố, nên địa thế rất khó khăn cho tàu bè cặp bến. Đây là đảo có nhiều cây cối và là nơi chim biển đến sinh sống nhiều nhất. Số phân phosphate từ phân chim ước lượng phải gần 1,200,000 tấn. Đó là một trong những lý do tại sao thu hút lòng tham lam bất chính của cả Đài Loan và Trung cộng.

Trung Úy Lâm Trí Liêm, Trưởng Toán Biệt Hải, khi anh dẫn 15 chiến sĩ đổ bộ lên Vĩnh Lạc, đã khám phá bốn ngôi mộ với bốn cái bia đá do Trung cộng dựng nên để xác nhận chủ quyền của chúng. Những ngôi mộ chẳng biết có bộ xương nào ở dưới hay không, nhưng những tấm bia chỉ là biểu trưng của sự giả trá quỉ quái của bọn cộng sản, với dụng ý chứng tỏ đã có dấu chân của chúng từ lâu. Trung Úy Liêm ra lệnh cho đoàn viên Biệt Hải nhổ những tấm bia đá này chuyển xuống HQ 16 để chuyên viên của ta dịch sang Việt ngữ xem chúng khắc cái quái gì trên đó, rồi đem về Sài Gòn. Ngoài nhiệm vụ phá hủy những di chứng giả tạo của Trung cộng, Toán Biệt Hải còn có công tác cắm cờ Việt Nam và bảo vệ cờ để xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa.

Khi Trung Úy Liêm cùng chiến sĩ Biệt Hải của anh đặt chân lên đảo Vĩnh Lạc, hòn đảo hoàn toàn hoang vắng không một bóng người, chỉ có mỗi bốn nấm mộ nằm chơ vơ giữa vùng trời nước. Quân ta nằm bố trí trên đảo chờ chuyến tiếp tế, nhưng vì các chiến hạm còn đang theo dõi thám sát những hành động của tàu Trung cộng, nên mãi đến chiều ngày 17.1.1974 mới có tàu đến đổ xuống một khối lượng lương khô cho 93 ngày, có nghĩa là Bộ Tư Lệnh Mặt Trận Hoàng Sa của Hải Quân Đại Tá Hà Văn Ngạc đã dự định phải giữ đảo ít nhất là ba tháng. Tiếng súng hải chiến bắt đầu nổ trên vùng biển Hoàng Sa ngày 19.1.1974. Lúc đó là 10 giờ 25 sáng. Lúc 10 giờ 22 phút, một hộ tống hạm Trung cộng loại Kronstadt đã hướng mũi tàu đâm thẳng vào Khu Trục Hạm HQ 4 Trần Khánh Dư đang giữ chặt đảo Quang Hòa. HQ 4 nhận được lệnh khai hỏa từ Bộ Tư Lệnh Hải Quân ở Sài Gòn, quả đại bác đầu tiên được bắn ra sau nhiều ngày sẵn sàng tác chiến đã trúng ngay chiếc tàu giặc. Chiếc Kronstadt bị chìm xuống đáy biển. Chiếc HQ 4 bị hư hại nhẹ. Với chiến thắng nức lòng đó, những HQ 5, HQ 10 và HQ16 tuần hành chung quan các đảo Quang Hòa và Duy Mộng đồng nổ súng đánh đuổi địch. Cả một vùng Hoàng Sa ầm tiếng sấm phẫn nộ của người nước Nam. Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 trúng một chiếc hỏa tiễn Styx từ chiến hạm Trung cộng bị hư hại rất nặng và chìm dần. Hải Quân Trung Tá Ngụy Văn Thà trúng đạn giặc ở cầu thang chỉ huy, đã anh dũng hy sinh, 32 chiến sĩ trên tàu bị mất liên lạc. Những thủy thủ của HQ 10 bềnh bồng giữa đại dương đến 6 giờ 30 chiều ngày 22.1.1974 thì được thương thuyền Hòa Lan KOPIONELLA vớt được 23 người, cách phía Đông Đà Nẵng 287 cây số. Sáng hôm sau, chiến hạm Việt Nam đến tiếp nhận số chiến sĩ lưu lạc này, trong số đó có thân xác của Hải Quân Đại Úy Nguyễn Mạnh Trí, Hạm Phó HQ 10, đã chết và 2 chiến sĩ bị thương.

Những chiến sĩ Biệt Hải nằm trên đảo Vĩnh Lạc nhìn về hướng Duy Mộng và Quang Hòa cách đảo chừng 34 cây số đã thấy những đốm lửa sáng lóe lên. Đoàn viên truyền tin liên lạc với Đài Khí Tượng thì được biết một tàu Trung cộng đã bị quân ta bắn trúng đang từ từ chìm xuống biển cả. Những người lính Biệt Hải reo hò vang dậy chào mừng chiến công của đồng đội. Dẫu biết rằng Hải Quân Việt Nam ở thế hạ phong về tàu chiến và vũ khí, nhưng ngay phát súng đầu, HQ 4 Trần Khánh Dư đã nhắc cho giặc Bắc nhớ lại trận hải chiến kinh hoàng ở cửa biển Vân Đồn năm 1287, Tướng Quân Trần Khánh Dư đã đánh chìm hàng trăm chiến thuyền của tướng Ô Mã Nhi và tên hải tặc Trương Văn Hổ, mà đã đẩy đạo quân 20 vạn của Thoát Hoan trên bộ vào thảm cảnh chết đói và hoàn toàn chiến bại. Giao chiến bằng tàu thường không thắng nỗi bốn chiếc HQ thời Đệ Nhị Thế Chiến của ta, Trung cộng phải hối hả điều thêm những chiến hạm tối tân Komar trang bị hỏa tiễn tầm xa. Dù vậy, các HQ của Hải Quân Việt Nam cũng đã hủy diệt thêm một tàu và làm hư hại hai chiếc khác, trước khi nhận được lệnh rút ra khỏi quần đảo Hoàng Sa sau hai giờ pháo chiến. Một kế hoạch đánh tập kích lực lượng địch vài ngày sau đó của Bộ Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam được phác họa, nhưng đã không được thực hiện vì nhiều lý do khác nhau.

*Cuộc hải hành bằng xuồng cao su trên đại dương :

Ba ngày trấn giữ Vĩnh Lạc không thấy có Toán Thám Sát nào đến thay thế, hướng Hoàng Sa đã im tiếng súng mà trên không luôn có nhiều phi cơ rất lạ bay lượn vòng vòng, Trung Úy Liêm nhận định rằng tình hình ngày càng rất bất lợi cho đảo Vĩnh Lạc, với một nhúm chiến sĩ ít ỏi như thế này. Có tin Trung cộng đã điều chiến hạm đến tấn công Cam Tuyền và Vĩnh Lạc. Từng đợt hải pháo của tàu giặc dội ì đùng xuống một diện tích nhỏ bé của hòn đảo, rồi bốn chiếc Mig 21 và Mig 23 xuất phát từ đảo Hải Nam bay đến oanh kích dọn bãi để lính địch đổ bộ. Con số chiến hạm Trung cộng tham chiến đã lên đến 40 chiếc. Trung Úy Liêm quyết định chờ đêm tối dùng xuồng cao su thoát ra khỏi Vĩnh Lạc. Thật không may mắn cho những người lính cô đơn này, chiếc xuồng cao su lại bị lủng một lỗ nơi miệng cao su lót đáy, không biết có phải là do bởi mảnh pháo địch, nước biển tràn vào, các Biệt Hải xé vải nhét lại. Tình thế thật bi đát. Các chiến sĩ phải ngồi rải chung quanh thành ca nô, tránh ngồi tập trung ở giữa tránh tình trạng quá nặng. Trong khi quân ta âm thầm chèo ra ngoài khơi thì bỗng có quang hiệu của tàu Trung cộng gọi trở lại, nhưng Trung Úy Liêm ra lệnh cho các chiến sĩ tiếp tục hướng mũi ra biển. Thà chết vinh giữa biển cả, còn hơn là sống nhục trong lao tù cộng sản.

Chiếc xuống tiếp tục di chuyển về hướng Tây Nam. Sáu mái chèo thay nhau quạt nước. Một cái mền được dùng làm buồm căng trên một cái cột buồm bằng một cành tre tìm thấy trên đảo. Sức gió đã đẩy chiếc xuồng ọp ẹp đó xa dần đảo Vĩnh Lạc. Thêm một mảnh đất của Việt Nam đã lọt vào tay giặc. Tình hình ngày càng tồi tệ, khi lương thực đem theo đã dần cạn, quân ta phải hạn chế ăn uống, bi đát đến nỗi mỗi người chỉ có 6 muỗng nước mỗi ngày. Đến ngày thứ ba, số nước dự trữ chỉ còn có 30 lít, nhưng vì bị sóng nhồi nên đã bị đổ mất 10 lít, nên đành phải chịu giới hạn đến tối đa. Đến ngày thứ năm cuộc hành trình, chỉ uống nước mà không còn thức ăn, chiếc xuồng cao su nhấp nhô trên vùng biển động cấp 5, 6 chỗ bị lủng vẫn luôn luôn là mối đe dọa chết chóc của 15 người lính đã rất yếu sức. Ngày nắng như nung, lượng nước trong cơ thể bốc hơi nhanh chóng tạo ra hiện tượng mất nước (dehydration)., đêm thì lạnh buốt đến tận xương tủy. Chỉ có sức chịu đựng phi thường của những người lính cứng như thép Biệt Hải mới có thể sống sót qua thử thách này.

Ở giữa trùng khơi mênh mông không thấy đâu là bến bờ, dưới những cơn thịnh nộ của thủy thần đại dương, con người bé nhỏ chỉ có thể nguyện cầu xin được che chở. Thật mầu nhiệm, lời cầu nguyện đó của 15 Biệt Hải dường nhưng đã được nghe nhận từ cõi thiêng liêng. Theo lời kể của Trung Sĩ Nguyễn Trọng Tuấn, nhân viên điện tử, lúc đặt chân xuống thuyền, nhiều Biệt Hài đã khấn nguyện xin cho được an lành trở về với đất liền, với đồng bào và với quân đội để tiếp tục chiến đấu. Phép huyền diệu đó đã bắt đầu hiện ra từ ngày thứ sáu, mà tất cả chiến sĩ trên ca nô đều nhận biết như nhau.

Theo Trung Sĩ Tuấn, khi đến vùng biển động, sóng lượn theo chiều ngang rất nguy hiểm. Kinh nghiệm hải hành cho thấy rằng tàu nào gặp những con sóng ngang kiểu này cũng đều lắc lư rất dễ sợ. Nhưng có một điều kỳ dị rất khó giải thích là chiếc xuống lại lướt rất nhẹ nhàng một cách rất bình thản trên đầu ngọn sóng chết người đó. Hơn thế, nó còn chạy vo vo một mạch với tốc độ 40 cây số / giờ. Lợi dụng hiện tượng quái lạ này, anh em Biệt Hải gác mái chèo nghỉ xả hơi. Đặc biệt khi gặp sóng cao thì một lực nào đó giúp hóa giải sức giật ngay. Trung Sĩ Tuấn và nhiều Biệt Hải đã thấy một cái gì đó không phải thuyền chài, mà nó gần giống như cái kỳ cá nhú lên khỏi mặt biển, mà họ tin là cá voi, hay cá ông, những vị thần cứu mạng trong huyền thoại trên biển Nam Hải của giới thuyền bè qua lại trên vùng biển này. Có những con cá voi bị bão tấp vào bờ chết, đã được dân chài vùng biển chôn và lập đền thờ để nhớ ơn chúng đã cứu giúp ghe thuyền lúc hoạn nạn. Nhiều lúc các chiến sĩ nghe thấy nhiều tiếng lục cục dưới đáy chiếc xuồng ca nô, mái chèo thấy nhẹ hổng. Có lẽ một chú cá voi lạc loài nào đó tránh sóng bão đã tựa lưng vào cùng tồn tại với con người, mà nhờ sức mạnh thần kỳ của nó đã đưa chiếc xuồng vượt qua những con sóng chết. Hay đó có phải là phép nhiệm mầu của tạo hóa xót thương những người lính chân chính của một dân tộc tang thương vì nạn xâm lược của loài ác quỷ cộng sản. Không ai có thể giải thích được sự kiện này. Nhưng sáu mái chèo kiệt lực không thể nào đưa chiếc xuống đi phom phom 40 cây số giờ như vậy được.

Giữa cơn bão giật, nhóm chiến sĩ Biệt Hải dường như trông thấy hình dáng một chiếc thuyền, quân ta vui mừng khấn nguyện cho nó tiến đến gần hơn, thì thình lình nó quày đầu chạy ngược trở lại. Vài chiến sĩ quá nóng lòng bèn bắn vài phát súng báo động. Nhưng càng nghe tiếng súng thì chiếc thuyền đó càng phóng dữ. Chẳng mấy chốc nó đã biến mất giữa những con sóng. Nhìn lại đã thấy một dải đất mờ, đối chiếu với hải đồ, thì có lẽ chiếc xuống đã dạt về đến vùng biển Mũi Cù Lao Ré ngoài hải phận Quảng Nam. Nhưng lưỡi hái của thủy thần vẫn còn treo đung đưa trên đầu, thấy đất liền đó mà sóng vẫn kéo chiếc xuồng ra xa dần ngoài khơi, không chèo vào được. Chiến sĩ trên xuồng chắc lưỡi tiếc hùi hụi, nếu đừng bắn súng cho cá ông sợ chạy mất, thì biết đâu ngài đã đưa anh em vào gần bờ hơn. Như vậy, Toán Biệt Hải đã được cá ông đưa vào hướng Đà Nẵng trọn một đêm dài, nhưng định mệnh vẫn còn thử thách chí quật cường của những người lính Hải Quân. Cuộc hành trình về với tổ quốc tiếp diễn.

Chiếc xuống càng lúc càng đến gần hải phận Việt Nam Cộng Hòa hơn. Qua đến ngày thứ bảy, các chiến sĩ Biệt Hải trông thấy nhiều ghe thuyền xuôi ngược liền bắn súng xin tiếp cứu, nhưng những chiếc tàu này hoặc là không nghe được tiếng nổ, hoặc là do một lý do nào khác đã chạy lảng ra xa. Tình trạng sức khỏe của những Biệt Hải trên ca nô đã trở nên rất tồi tệ, các anh như những cái xác còn cử động là nhờ ở ý chí tìm sống, nước uống trên xuồng đã hết sạch từ lâu. Qua đến ngày thứ chín cuộc hải hành chiến sĩ Biệt Hải đã phải uống nước tiểu của mình. Có lúc xuồng chỉ còn cách bờ biển Sa Huỳnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi chừng 100 hải lý, nhưng không thể nào chèo vào được, ca nô vẫn bị cuốn trở ra ngoài khơi. Chiếc buồm được điều chỉnh về hướng Đông Bắc để gió có thể thổi tạt các anh về hướng Tây Nam, hy vọng tấp vào được gần bờ hơn. Mỗi đêm các chiến sĩ Biệt Hải có trông thấy nhiều máy bay lượn vòng thật cao, có lẽ đang hoạt động không ảnh, vì ánh sáng cứ lóe lên từng hồi chiếu xuống mặt biển. Mặc dù không biết những phi cơ này thuộc quốc tịch nào, nhưng quân ta vẫn bám víu vào một hy vọng mỏng manh, nên đã bắn lên nhiều hỏa hiệu để đánh dấu mục tiêu cùng điểm đứng của chiếc ca nô. Nhưng tất cả đều vô hiệu, có lẽ vì phi cơ bay với vận tốc nhanh và quá cao nên không thể thấy rõ những trái sáng.

Sự cố gắng đó cuối cùng rồi cũng được đền bù, ngày thứ mười, chiếc xuống đã giạt vào hải phận tỉnh Bình Định, cách đảo Cù Lao Xanh thuộc xã Phước Ninh, quận Nhơn Bình chừng 30 hải lý. Với khoảng cách này cái sống đã hiện ra rõ nét, nhưng chiếc xuồng vẫn còn nằm ngoài hải phận quốc tế. Trung Úy Lâm Trí Liêm, Trưởng Toán Biệt Hải, là người còn có thể đứng vững trong tình thế tuyệt vọng nhất, anh thật xứng đáng là một cấp chỉ huy tài ba, mà đã cứu được mạng sống của tất cả đoàn viên. Anh đã trông thấy có ba chiếc ghe đánh cá đang hoạt động gần đó, mừng quá anh bắn mấy phát súng cầu cứu. Hai chiếc ghe đầu tiên hoảng sợ bỏ chạy mất, nhưng chiếc ghe thứ ba, trời ơi, nó đã lừng lững tiến đến. Các chiến sĩ Biệt Hải đã có thể trông thấy những khuôn mặt Việt Nam đen rám vì nắng gió biển khơi, những ánh mắt xúc cảm và những nụ cười quá thánh thiện. Toán ngư phủ trên ghe vội vã ném dây cột chiếc xuồng cao su kéo về Qui Nhơn. Lúc đó là khoảng 12 giờ 30 trưa ngày 21.1.1974. Những người lính Biệt Hải sẽ nhớ mãi cái ngày hồi sinh này.

Trong lúc kéo xuồng cao su trở vào hải cảng Qui Nhơn, thì các ngư phủ đã giúp chừng phân nửa số chiến sĩ leo lên thuyền của họ, số còn lại quá mệt mỏi đành phải nằm nghỉ dưới xuồng. Hạ Sĩ Nhứt Nguyễn Văn Duyên, nhân viên Quản Kho hoàn toàn kiệt sức vì hiện tượng mất nước và thiếu ăn, anh đã từ từ chìm vào cơn kích sốc, khi được đưa lên thuyền đánh cá, thì anh đã nhắm mắt ra đi.

*Điều dưỡng tại Quân Y Viện Qui Nhơn :


Hải Quân Trung Tá Nguyễn Ngọc Tĩnh, Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Hải Quân Qui Nhơn khi hay tin một chiếc ghe đánh cá đã vào gần đến hải cảng Qui Nhơn với 15 chiến sĩ Biệt Hải, đã lập tức cho tàu ra đón tại ngọn hải đăng đưa vào Căn Cứ và chờ phương tiện chở các anh về Quân Y Viện Qui Nhơn. Toán Biệt Hải đã được chở vào và được nằm điều dưỡng trong Trại Nội Thương 9. Bây giờ, các Biệt Hải đã đi đến cuối cuộc hành trình của mình sau hơn mười một ngày đêm tham dự cuộc hải chiến Hoàng Sa lịch sử. Nhiều chiến sĩ mê man nằm thiêm thiếp, mặc dù đã được các nhân viên Quân Y truyền cho loại huyết tương màu vàng để bổ sung nguồn protein, khoáng và nước bị mất. Các anh đã được bón cho những loại thức ăn nhẹ. Nửa căn phòng của Trại Nội Thương 9 đã được dành riêng cho nhóm 14 chiến sĩ Biệt Hải, dưới sự chăm sóc tận tụy của Quân Y và đồng đội thuộc Căn Cứ Hải Quân Qui Nhơn.

Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Xuân Cẩm, Chỉ Huy Trưởng Quân Y Viện Qui Nhơn đích thân ra lệnh cho nhân viên Quân Y dành cho các Biệt Hải sự chăm sóc đặc biệt, vì các anh xứng đáng được đối xử như vậy. Mỗi ngày, mỗi chiến sĩ được truyền một chai huyết tương, uống sữa trứng gà ngày hai lần, cam vắt hai lần, uống nước súp xương thịt. Cuộc điều trị sang đến ngày 1.2.1974 thì các Biệt Hải được ăn cháo nấu với tim và cật, tình trạng sức khỏe của các anh đã rất khả quan. Những con người thép mà đã từng vượt qua chương trình huấn luyện “địa ngục” của Người Nhái, chẳng mấy chốc đã có thể ngồi dậy nói chuyện thoải mái và vui vẻ với tất cả những phái đoàn quân và dân tấp nập kéo nhau vào thăm hỏi, tặng quà khích lệ. Đặc biệt, các chiến sĩ Biệt Hải luôn nhớ ơn Bác Sĩ Cẩm Chỉ Huy Trưởng đã túc trực ngày đêm săn sóc các anh.

Phái đoàn đầu tiên đến thăm các chiến sĩ Vĩnh Lạc, Hoàng Sa, do Hải Quân Đại Tá Trịnh Quan Xuân, Tư Lệnh Vùng II Duyên Hải, đã dùng trực thăng đến an ủi và ủy lạo các anh với nhiều tặng vật trong ngày 31.1.1974. Đến 4 giờ chiều cùng ngày, Đại Tá Hoàng Đình Thọ, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Bình Định hướng dẫn một phái đoàn khác vào thăm. Sang ngày 1.2.1974, đến lượt Hải Quân Đại Tá Nguyễn Đức Vân, Trưởng Phòng Kế Hoạch Bộ Tư Lệnh Hải Quân, đại diện Đề Đốc Trần Văn Chơn, Tư Lệnh Hải Quân, đã đến thăm hỏi chiến sĩ trong buổi chiều và trao tặng mỗi anh số tiền 5,000 đồng. Món tiền tuy nhỏ nhưng nói lên cái tình giữa chiến hữu huynh đệ với nhau, và nó còn bày tỏ lòng tri ân của người hậu phương dành cho những chiến sĩ ở mãi tận ngoài đại dương.

* Huy chương trao tặng cho những ân nhân:

Một trong những cuộc viếng thăm có ý nghĩa nhất do Phó Đề Đốc Tư Lệnh Phó Hải Quân, hướng dẫn buổi sáng ngày 1.2.1974. Tư Lệnh Phó đã đại diện Tư Lệnh Hải Quân đến thăm hỏi, khích lệ và ủy lạo 14 chiến sĩ Biệt Hải. Tất cả các Biệt Hải đều vinh dự được tuyên dương công trạng, hãnh diện nhận mỗi người một huy chương cao quí Anh Dũng Bội Tinh. Phòng Tổng Quản Trị Hải Quân cũng trình Bộ Tư Lệnh Hải Quân đề nghị Bộ Tổng Tham Mưu thăng cấp đặc cách cho tất cả 14 Biệt Hải. Không quên những người ngư phủ đã cứu sống chiến sĩ Hoàng Sa, phái đoàn của Tư Lệnh Phó dùng tàu nhỏ di chuyển sang Căn Cứ Hải Quân Qui Nhơn để thay mặt chính quyền và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bày tỏ lòng tri ân với năm công dân Việt Nam Cộng Hòa. Năm vị ân nhân này đã cảm xúc nhận năm chiếc huy chương cao quí của Hải Quân là Hải Vụ Bội Tinh. Buổi lễ tri ân được tổ chức đơn giản nhưng trang trọng. Có thể là năm người ngư dân bình thường và vô danh này nghĩ rằng việc cứu sống những người lính Việt Nam Cộng Hòa là một việc bình thường trên biển cả với nhau. Nhưng chính là ở nghĩa cử này đã nói lên được một ý nghĩa cao cả, thắm thiết từ tận đáy lòng của họ. Đó là Tình Quân Dân gắn bó mà người lính gian nan của chúng ta qua những năm tháng phơi xương trải thịt chiến đấu bảo vệ đất nước và dân tộc đã chiếm được mối tình cảm của đồng bào ở hậu phương. Hải Vụ Bội Tinh vẫn chưa thấy đủ lòng tri ân, Hải Quân Trung Tá Lê Văn Thì, Trưởng Phòng Tổng Quản Trị, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, đã làm tờ trình xin Bộ Tổng Tham Mưu ân thưởng cho ông Dư Thanh Long, chủ nhân chiếc thuyền đánh cá mang số 3874, huy chương Nhân Dũng Bội Tinh. Cuộc trao gắn chiếc Bội Tinh sẽ được tổ chức ngay sau khi nhận được Quyết Định của Bộ Tổng Tham Mưu. Ngoài ông Long là chủ nhân chiếc thuyền, còn lại là những thủy thủ Dư Thanh Dũng, Nguyễn Tâm, Nguyễn Ngọc, Lý Luông, tất cả đều cảm thấy sung sướng khi chính các anh đã cứu vớt kịp thời các chiến sĩ Biệt Hải. Câu chuyện tàu 3874 tìm thấy chiếc xuồng ca nô mà trên đó 14 chiến sĩ của chúng ta đã gần như kiệt lực đã do chính ông chủ tàu kể lại như sau.

Ông Dư Thanh Long đang lái chiếc thuyền đánh cá ngoài khơi Qui Nhơn, lúc đó khoảng 12 giờ 30 trưa. Ông Long chợt nhìn thấy một điểm đen ngoài xa, cách chiếc thuyền đánh cá của ông độ hai cây số. Lúc đầu ông Long tưởng là dân chài đánh cá gặp tai nạn nên dùng thúng chai chèo vào đảo Cù Lao Xanh, nhưng khi đến gần ông nhận thấy không phải, nên đã gọi những thủy thủ thức dậy để sẵn sàng cứu người, vì lúc đó anh em đang ngủ. Chiếc tàu đánh cá càng đến gần, thì nhóm ông Long đã có thể thấy rõ nhiều người ăn mặc rất lôi thôi, nếu không muốn nói là tơi tả, nhiều cánh tay đưa cao lên những khẩu súng. Là một người đánh cá từng trải và gan dạ, ông Long cẩn thận cho tàu của mình cặp sát vào chiếc xuồng cao su, ông đã nhận thấy trong số người lạ mặt này những bộ quân phục quen thuộc, nhưng tất cả kiệt sức nằm rũ riệt trong xuồng. Ông Long nghiêng mình hỏi vói xuống, rằng lại sao lại đến nông nỗi như thế. Trung Úy Liêm còn tỉnh nhất đã gào to lên:

- Tụi tôi đánh Hoàng Sa thoát về đây, xin cứu nhanh và đưa về Căn Cứ Hải Quân.

Ông Long phái mấy thủy thủ khỏe mạnh nhất nhảy xuống chiếc ca nô bồng lên từng người, những chiến sĩ nào còn có thể leo được thì tự leo lấy, nhưng phần lớn các anh đều phải nhờ sự giúp sức của các ngư dân. Khi đã leo lên được hết trên tàu, các Biệt Hải chỉ còn có thể nằm sải tay ra thở dốc và đòi nước như điên. Nhân có ấm nước đang sôi, anh em thuyền chài thi nhau thổi cho nguội bớt và trao cho các Biệt Hải nhấp từng ngụm cầm chừng. Đồng thời, các thủy thủ cũng dùng số thuốc cấp cứu mang theo trên tàu để cho các chiến sĩ dùng tạm. Nhận thấy tình trạng các Biệt Hải quá yếu, ông Long gọi bốn thủy thủ đem nồi cháo hồ đổ cho mỗi người nửa chén. Được một lúc, thấy những người lính có vẻ tươi tỉnh hơn, ông lại cho người đổ cháo tiếp, cứ mỗi nửa giờ đút cháo một lần. Tình hình sức khỏe các anh đã khả quan rất nhiều, trong lúc chiếc thuyền chỉ còn cách hải cảng Qui Nhơn chừng mười cây số. Ông Long đã rất lấy làm xót xa là đã không cứu được Biệt Hải Nguyễn Văn Duyên, vì khi anh được khiêng lên tàu, thì thân thể của anh đã bị tê liệt, anh đang thở những hơi cuối cùng. Chiếc ghe đánh cá đã xả hết tốc lực phóng vào bờ, với một hy vọng mỏng manh chạy đua với thời gian và thần chết, nhưng đã không còn kịp nữa rồi. Biệt Hải Nguyễn Văn Duyên đã anh dũng đền nợ nước. Chắc anh linh của anh cũng đã thanh thản bốc lên trên khoảng trời trong xanh và trên mặt sóng của quê hương. Anh đã về đến hải phận Việt Nam và đã ra đi trong những giọt nước mắt nghẹn ngào của anh em.

Một vài khoảnh khắc sau, một chiếc giang đỉnh của Căn Cứ Hải Quân Qui Nhơn đi tuần đã bắt gặp chiếc thuyền, được biết tự sự, đã khẩn cấp gọi về Bộ Chỉ Huy để chuẩn bị phương tiện cấp cứu. Nhiều chiến đỉnh xuôi ra khơi để hộ tống chiếc tàu đánh cá tiến vào Căn Cứ. Cuộc hành trình của 15 Biệt Hải vượt thoát từ mặt trận Hoàng Sa đã chấm dứt. Tuy rằng các anh và những chiến hạm HQ 4 Trần Khánh Dư, HQ 5 Trần Bình Trọng, HQ 10 Nhật Tảo và HQ 16 Lý Thường Kiệt đã phải đớn đau rút bỏ Hoàng Sa, nhưng ít nhất Hải Quân Trung cộng đã kinh hãi khi phải đối đầu với cơn phẫn nộ của hậu duệ Ngô Vương Quyền, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, dù chúng có tạm thời chiếm được Hoàng Sa nhưng cũng đã phải trả cái giá rất đắt. Hai chiến hạm bị chìm và hai chiến hạm bị hư hại.






Lịch sử bốn ngàn năm chống giặc ngoại xâm phương Bắc của dân tộc Việt Nam đã chứng minh rằng, chưa từng có đế quốc Hán tộc nào có thể hùng cứ lâu dài trên mảnh đất Hoa Lục mà không bị sụp đổ. Trung cộng không ra ngoài định lý ấy. Nền kinh tế của nó hiện nay đang phụ thuộc rất nặng nề vào tư bản Hoa Kỳ, đó là cái tiền đề để dẫn đến một cuộc sụp đổ không tốn một giọt máu kiểu Liên Sô năm 1989. Trung cộng đang giẫm vào vết xe đổ của Liên Sô qua những cuộc chạy đua võ trang và không gian với người Mỹ, ấy vậy mà bọn chúng đang rất kiêu hãnh đẩy mạnh tốc độ cuộc thi tài. Cũng tốt cho nhân loại. Càng chạy nhanh thì cái hố địa ngục càng đến gần hơn. Rồi cũng có một ngày quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ trở về với dân tộc Việt Nam. Đến lúc đó, thế hệ con cháu Việt Nam sẽ giở lại những trang sử hào hùng của cuộc hải chiến Hoàng Sa ngày 19.1.1974, và sẽ thêm một lần cúi đầu ngợi ca ông cha của mình đã đánh giặc phương Bắc kiệt liệt đến như thế nào.


Phạm Phong Dinh.


1 user thanked Ngoc N Hao for this useful post.
phamlang on 11/1/2011(UTC)
Hạ Vi
#151 Posted : Sunday, September 11, 2011 2:17:14 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,640
Points: 14,706
Location: CỏThơm

Thanks: 2605 times
Was thanked: 7175 time(s) in 1914 post(s)


PHI VÂN
MÂY XÁM LƯNG TRỜI



Đã hơn 17 năm kể từ ngày người viết rời bỏ căn cứ Không quân Pleiku. Tên tuổi của các cấp chỉ huy, của các chiến hữu, của bạn bè đôi khi cũng không còn được ghi nhớ trọn vẹn, nhưng hình ảnh thân thương của những ngày tháng cũ có lẽ không bao giờ mờ nhạt.

Nhân dịp sắp ra mắt tập san Lý Tưởng Úc Châu, xin được viết bài này như một sự hoài niệm về về chốn xưa, không phải với mục đích tô son điểm phấn, mà chỉ để ghi lại buồn vui của hơn một ngàn ngày sống với những con người bình thường, rất bình thường, nhưng đã đem cuộc sống, đôi khi cả cái chết của mình, để góp phần tạo niềm tự hào cho những người chung sắc áo, màu cờ quân chủng, trong đó có người viết.



Đường vào Không Quân của tôi rất ngắn và bất chợt. Ngắn đến độ vào căn cứ Tân Sơn Nhất mà không phải qua cổng Phi Long. Bất chợt đến mức về trình diện Bộ Tư Lệnh mà chưa có được con Rồng trên túi áo!

Là một sinh viên có đôi chút “tinh thần phản chiến” cho hợp với thời trang, tôi chỉ lên đường nhập ngũ sau lệnh Tổng Động viên năm 1968. Vào những ngày cuối cùng ở đồi Tăng Nhơn Phú tôi hờ hững với các phái đoàn quân binh chủng đến để tuyển chọn người. Tôi chỉ làm đơn tình nguyện về Không Quân sau khi thằng bạn thân nhất quyết định về làm quân cảnh gác cổng phi trường. Không Quân không có gì hấp dẫn đối với tôi nhưng cô em gái xinh đẹp của hắn thì tôi lại không muốn xa.

Hai ngày sau, những chiếc xe GMC màu xanh đưa chúng tôi về Bộ Tư Lệnh qua cổng Phi Hùng! Khi bốc thăm về đơn vị, tôi bốc phải cái thăm duy nhất có chữ Pleuku…Căn cứ Không quân Pleiku - tức căn cứ 92 – vào thời gian mà ông Phùng Ngọc Ẩn bàn giao lại cho ông Đỗ Trang Phúc là căn cứ nhỏ bé nhất của Không Quân Việt Nam . Quân số lèo tèo hơn 200 chàng “trấn thủ lưu đồn”. Chu vi nếu không kể đài Kiểm Báo trên đồi thì chỉ độ một cây số. Cảnh vật ở đây tiều tụy chẳng thua kém gì con người, khí hậu khắc nghiệt quanh năm, mùa hè bụi đỏ, mùa mưa lầy lội. Cái tên của phi trường: Phi trường Cù Hanh, lại càng làm lòng người thêm ngao ngán, điểm son duy nhất có được là cái tên cổng ra vào của căn cứ: Cổng Phi Vân! Nhưng cái tên thơ mộng đó cũng không thể biến đổi được cuộc sống buồn tẻ và thiếu thốn ở đây.

Ngày ngày hai buổi leo đồi, chiều chiều đón xe lam ra phố, phố Pleiku “đi dăm phút đã về chốn cũ” chỉ có vài quán cà phê và quán thịt cầy Kim Phượng để lui tới, những người em “má đỏ môi hồng” cũng không được nhiều nhặn là bao! Đã buồn tẻ lại thiếu thốn mọi bề, đến độ hàng Quân Tiếp Vụ cũng phải sang C2 của Lực lượng Đặc Biệt mua ké! Về giải trí thì lâu lâu đánh hơi được bên Pháo Binh hoặc Thiết Giáp có nhảy đầm liền qua vi vút, được cái, cả ông Trung tá Tuấn “râu ghi-đông” lẫn ông Đại tá Dung đều là người rộng lượng nên phe ta cũng được nhờ. May mắn nhất là những tay nào quen được cố vấn Mỹ thì mới có hy vọng vào Officer Club hoặc NCO Club của họ .

Ông chỉ huy trưởng căn cứ, Trung tá Đỗ Trang Phúc lại là người rất “réc-lô”, có người nói tại vì ông xuất thân là một sĩ quan Nhảy Dù! Tôi được ông “thương” vì cả hai cùng chung sở thích: nghe nhạc. Một hôm ông hỏi tôi về dư luận trong binh sĩ, tôi trả lời úp mở thì ông cười nói nửa đùa nửa thật: Moa “réc-lô” thật đấy chứ! Cậu coi Pleiku là “tận cùng của Không Quân”, sĩ quan đa số là dân bất mãn hoặc bị “đì” còn lính tráng toàn là lính “ba gai”, không “hắc ám” thì làm sao mà trị các cậu được!

Trong số những người tôi cho là bị “đì” đó, có ông Trưởng phòng CTCT của tôi Thiếu tá Lê Bá Định! Không hiểu ông có bị “đì” thật hay không nhưng chắc chắn một điều ông bất mãn ra mặt: Ông vốn là dân khu trục mà lại bị đưa xuống đất, coi dăm ba mạng lính văn phòng, không bất mãn sao được! Rồi có lẽ vì sầu đời ông đâm ra lập dị (nên có người kêu ông là Định mát); dù tuổi đời chưa tới “băm lăm” ông bắt đầu chống ba toong và ngậm ống vố, trưa chiều ra sân đứng nhìn đăm đăm về hướng phi đạo hoặc ngước mắt theo dõi những chiếc OV-10 của Mỹ lên xuống…

Vào thời gian 68-69, phi trường Cù Hanh gần như là căn cứ không quân của Mỹ, đơn vị phi hành đồn trú thường xuyên duy nhất của ta là Biệt đội Trực thăng 215 Thần Tượng, có nhiệm vụ đổ Biệt Kích. Trong Không Quân có lẽ chỉ có ba phi đoàn 213, 215 và 219 là nổi nhất trong cái nghề nguy hiểm này. Đổ xuống khó một, bốc về khó mười. An nguy của các chiến sĩ B14, B15 tùy thuộc một phần vào Biệt đội 215. Các ông hoa tiêu và xạ thủ phi hành của 215 trông rất ngầu, áo quần lúc nào cũng đầy bụi đỏ, có người lại đeo dao găm Thượng…,họ là những hình ảnh hiếm hoi đại diện cho những chàng phi công “hào hoa phong nhã” ở phố Pleiku, phố Kontum. Cái phù hiệu phi đoàn của họ cũng khác thường “Con voi làm xiệc” đầu đội nón đứng trên trái banh mà có người gọi đùa là “Con voi…ị”.

Về sau có thêm một biệt đội khu trục A-1 từ Biên Hòa ra…và đó là tất cả “lực lượng tác chiến” của một căn cứ mà ngày xưa đã từng là tiền thân của Không đoàn 62, đã từng có những chỉ huy trưởng nay đã lên tướng, trong đó có cả ông Minh Cồ!

*****

Năm 1970, khi tôi rời đơn vị để đi tu nghiệp mấy tháng trở về thì mọi sự đã thay đổi mau chóng không ngờ: Căn cứ 92 đã trở thành Không đoàn Yểm Cứ Pleiku, và quan trọng hơn, một đơn vị tác chiến vừa được thành lập: Không đoàn 72 Chiến thuật. Ông Bá làm Không đoàn Trưởng, ông Trang coi Liên đoàn Tác chiến với 4 phi đoàn: 530 Khu trục của ông Lê Bá Định, 118 Quan sát của ông Võ Ý, 229 và 235 Trực thăng của các ông Lê Văn Bút và ông Vĩnh Quốc, không khí Pleiku tưng bừng với những buổi lễ Xuất Quân, nhộn nhịp với quân số đã lên đến hàng ngàn…
Tôi bắt đầu làm quen với sinh hoạt của giới phi hành, một phần vì nghề nghiệp của một sĩ quan Báo chí, một phần vì tò mò muốn biết về cái sự bay bổng, đánh đấm của các vị mặc “áo liền quần” này.

Từ đó tôi quen biết với những người của 530 như Lê Thanh Hồng Dân, Phạm Văn Thặng, Lê Bình Liêu, Hiệp Vi-xi, Bạch Diễm Sơn, Long, Thanh ‘Ngố”(gọi như thế để phân biệt với ông Thiếu tá Liên đoàn Phó LĐTC Lưu Đức Thanh, hổn danh “Mắt trừu”) và với ông Võ Ý bên 118, với các ông Bông, Quan, Dũng và Tuấn Râu bên 229, 235…thân thiết nhất là với bên 530, một phần vì ông Lê Bá định là xếp cũ, một phần vì Phạm Văn Thặng. Anh có chiều cao và thích thề thao, từ bóng rổ, bóng chuyền cho đến đá banh. Biết anh đã từng là thủ môn cho hội tuyển KQ Biên Hòa, tôi giới thiệu anh bắt gôn cho tiểu khu Pleiku. Khi lên đấu ở Ban Mê Thuột, ai cũng nói Phạm Văn Thặng là người…Thượng vì anh có thể còn đen hơn Đại tá Ya Bah, tỉnh trưởng Pleiku nữa, từ đó Phạm Văn Thặng có biệt hiệu “Thặng Fulro”….

Sau khi phi đoàn đi Thái Lan lấy thêm A1 về tôi thấy mấy chiếc A1-E có hai chổ ngồi liền gạ gẫm anh cho đi theo một chuyến. Anh kiếm cho tôi một cái áo bay số nhỏ nhất, dạy cho cách xử dụng dù thoát hiểm. Đợi đến khi có một phi vụ “liên lạc” tôi lên xin phép ông Lê Bá Định. Sau chuyến đi Nha Trang trở về thấy tôi vẫn còn đủ sức để leo xuống đất, Phạm Văn Thặng lại hù: Nể cậu là dân văn phòng tôi bay êm, chứ gặp Thanh Ngố hay thằng Liêu bay, cậu ói tới mật xanh, mật vàng là cái chắc!





...Sau đó mỗi lần thấy chiếc A1 nào tới 2/3 phi đạo đã vụt đâm thẳng lên trời, tôi biết ngay đó là Thanh Ngố. Nói về Thanh thì tôi cũng không hiểu sao dân khu trục lại đặt cho cái biệt hiệu “Ngố”! Sau khi Lê Thanh Hoàng Dân rời Pleiku thì có lẽ Thanh là người phương phi béo tốt và…đẹp trai nhất phi đoàn! Trước đó hơn một năm, Thanh đã được mặc áo bay, đội helmet để chụp hình bìa cho Tập san Thế Giới của phòng Thông Tin Hoa Kỳ, trông chẳng thua gì tài tử xi-nê-ma! Hơn nữa Thanh bay và đánh rất lỳ, thế mà vẫn bị kêu là Thanh Ngố….Người duy nhất trong 530 mà tôi “được phép” coi ngang hang là Lê Bình Liêu, thứ nhất lúc đó Liêu còn mang lon Trung úy, thứ hai Liêu còn có tài uống rượu như Lệnh Hồ Xung, mà đã là bạn nhậu thì rất dễ thông cảm. Liêu có cái số “nhảy dù”: Hai lần trong một tháng mà vẫn bình yên vô sự!

Từ Phi đoàn 530 Khu Trục tôi mon men qua bên 118 Quan Sát làm quen với ông Võ Ý, ông Thiếu tá Phi đoàn Trưởng này nổi tiếng vì tài…làm thơ! (cái tên Huyền Miêu mà ông đặt cho Phi đoàn đã một phần chứng minh điều đó). Ông sống “độc thân tại chổ” cho nên cái việc kiếm chổ ăn cơm ngày hai bữa đã trở thành quan trọng, chính vì thế mà khi ông Lê Bá Định đem gia đình ra Pleiku thì tôi và ông Võ Ý thường đến “thăm thầy”, để vừa nói chuyện thơ văn vừa…ăn cơm tối! Ông Định – cũng là một nhà văn Không Quân – có lẽ không bao giờ biết đến cái sự thật phũ phàng đó, mà dù ông có biết ông cũng làm ngơ. Sau đó ông Định giới thiệu chúng tôi với nhà thơ Kim Tuấn, lúc đó đang ẩn dật ở Pleiku cùng với bà vợ trông nom một cửa tiệm bán áo lạnh. Bà vợ của nhà thơ thật hiền lành dễ thương nên tôi và ông Võ Ý lâu lâu cũng được ăn nhờ - ăn nhờ nhưng rất thịnh soạn…

Năm 1971, khi chương trình Việt Nam Hóa bắt đầu thì cũng là lúc tình hình vùng Tam Biên trở nên sôi động, Không quân Hoa Kỳ rút khỏi Pleiku chỉ để lại một ít gun-ship Cobra, ở căn cứ Holloway, ngoài ra những sự yểm trợ khác của họ, nếu có, đều từ căn cứ Chu Lai, từ Đệ Thất Hạm Đội hoặc Đệ Thất Không Lực bên Thái Lan…Sau mấy tháng đầu ổn định nơi ăn chốn ở và tiếp nhận quân số, KĐ72CT đã đụng cuộc thử lửa đầu tiên nơi Căn cứ 5 Hỏa Lực (đồi 1001). Trong trận này, Không lực Hoa Kỳ đã “nhường” hết cho phía Việt Nam, không hiểu vì muốn “thử” khả năng của Không Quân ta hay vì các cấp chỉ huy của họ không muốn đưa đàn em vào chỗ chết mà từ ngày đầu đến ngày cuối không hề thấy bóng dáng một phi cơ nào của họ.

Hai người Mỹ duy nhất có mặt trên vùng trời là một cố vấn bên Quân đoàn II, và một ký giả dân sự của Tập san Time (Hoa Kỳ) và ngay trong trận đầu, KĐ72CT đã làm cho bạn bè thán phục và người Mỹ phải kinh ngạc. Phòng không ở đây thì khỏi phải nói, đủ loại, đủ cở, ở 9000 bộ vẫn bị như thường. Trần mây ở xứ “đất trời giao nhau” này thì quanh năm thấp thật là thấp, ở dưới nhìn lên, bên trên nhìn xuống cũng chỉ thấy một màu xám đục, thấy một lỗ hổng là vội nhào xuống ngay. Quân Dù có nhiều thương binh, trực thăng len lỏi thả toán Quân Y xuống, không đủ phương tiện giải phẩu, trục thăng lại phải đáp xuống đưa hết thương binh về Quân Y viện.

Từ lúc đó cho tới khi chiếm lại Căn cứ 5, các chiến sĩ Dù biết mình không bao giờ cô đơn. Trước kia, họ đã từng được sự yểm trợ như vũ bão của Không lực Hoa Kỳ, nhưng lần này sự yểm trợ của Không Quân Việt Nam, ngoài hỏa lực ra nó còn có một cái gì không thể tìm thấy nơi những người đồng minh xa lạ: Đó là cái sống chết bên nhau của những người cùng chung màu da, chung dòng máu, chung bóng cờ. Thành thử khi ông ký giả Mỹ nói các phi công của ta “điên khùng” tôi không có ý kiến, đến khi ông ta gọi họ là “anh hùng” thì tôi khiêm nhượng đáp lại: Các phi công đó của chúng tôi chỉ làm nhiệm vụ của họ với một tinh thần trách nhiệm và với tất cả khả năng của mình, nếu ông gọi họ là anh hùng thì Không Quân Việt Nam chúng tôi là anh hùng hết sao? Ông ta không đồng ý và viết bài ca tụng trên báo Mỹ, coi đó như một thành công điển hình trong việc Việt Nam Hóa cuộc chiến… Cũng từ đó KĐ72CT gắn liền với những địa danh bất tử: Từ Căn cứ 5, Căn cứ 6, Tân Cảnh, Chu Pao v…v…cho đến bên kia biên giới Kampuchia, Lào…

*****

Cũng vào năm 1971, sự bành trướng mau lẹ của Không lực Việt Nam để thay thế những người bạn Mỹ đã đưa đến cái rắc rối nho nhỏ: Hàng trăm sĩ quan trẻ sau khi tốt nghiệp hoa tiêu bên Mỹ về vẫn còn mang “con cá”(sinh viên sĩ quan). Bộ Tổng Tham Mưu đã lập luận như sau: Các SVSQ đó học quân sự giai đoạn một ở Quang Trung xong là về Không Quân học sinh ngữ rồi qua Mỹ học bay. Như vậy, dù có bằng hoa tiêu họ vẫn chưa trở thành “sĩ quan” vì chưa học qua quân sự giai đoạn hai. Dù không thể bắt các hoa tiêu này về lại Thủ Đức hoặc Nha Trang để học, Bộ Tổng Tham Mưu cũng ra một cái lệnh cứng nhắc là các SVSQ này phải học tại đơn vị, xong xuôi mới được mang lon. Có nghĩa là các hoa tiêu trẻ đó phải học về sinh hoạt lãnh đạo chỉ huy, về…chiến tranh chính trị và bắn súng…Colt45. Riêng tại Pleiku không thôi cũng đã có hơn 50 hoa tiêu, từ nay, sáng thì theo thầy đi đánh giặc hoặc bay tập huấn, chiều về học “chữ” và bắn súng colt.

Lúc đó Phòng Huấn Luyện Pleiku thiếu người, thấy tôi lang thang suốt ngày liền “mượn” về phong cho chức Huấn luyện Viên dạy môn CTCT và Lãnh đạo Chỉ huy, cũng may là không bị dạy cả môn bắn súng! Ngày đầu tiên vào lớp học khi thấy Phương (mà tôi đã đi ké trực thăng vài lần) đứng lên trịnh trọng trình diện lớp học tôi thấy bối rối một cách lạ lùng. Biết những “học viên” của mình mệt vì những giờ bay lúc ban sáng nhưng tôi cũng không thể để cho họ ngồi ngủ gục hoặc vừa hút thuốc vừa tán dóc. Sau đó tôi nghĩ ra được một giải pháp dung hòa: Tôi vẫn theo đúng chương trình của Bộ Tổng Tham Mưu, nhưng chỉ sơ lược đại khái trong vòng 15 phút, thời giờ còn lại tôi kể chuyện cho họ nghe. Có lẽ tôi có khiếu về kể chuyện hay sao đó, mà về sau không còn ai ngủ gục hoặc tán dóc nữa, về mục hút thuốc trong lớp thì chỉ còn hai tay ghiền không thể nhịn được: Hùng khu trục và một tay trực thăng trước là dân bên Biệt Kích. Dần dần họ gọi tôi bằng “thầy”, tuyệt nhiên không có ý châm chọc mà đầy tình thân có pha chút vui đùa.

Nhờ vào cái thế “thầy” này mà mỗi khi đi phép hoặc đi công tác tôi khỏi phải xuống Trạm Hàng không Quân sự chờ đợi nữa, buổi sang cứ việc xuống 229 hoặc 235 là thế nào cũng có những phi vụ huấn luyện, liên lạc, hể trông thấy “học trò” của mình ngồi ghế Co-pilot tôi liền tiến lại cười cầu tài là xong ngay. Một lần, cả thảy 4 chiếc UH1 cùng đi về Saigon, có cả ông Bá và ông Bông, tôi ngồi trên tàu của ông Bông. Khi đáp xuống Saigon , đếm đi đếm lại chỉ có 3 chiếc. Ông Bá không nói không rằng, đứng khoanh tay, mặt hầm hầm, nhưng tôi biết lòng ông đang lo cho an nguy của hai hoa tiêu non trẻ. Ông Bông thì vừa vò dầu bứt tai vừa chửi thề: Mẹ, thấy sông Đồng Nai thì phải biết là sắp đáp Saigon rồi chứ. Cái sông Đồng Nai nó chình ình ra đó chứ có nhỏ tí xíu như sông Bé đâu mà không thấy! Gần một tiếng đồng hồ sau, mới thấy những người đi lạc trở về từ căn cứ…Đồng Tâm-Mỹ Tho!

Phải họ còn non trẻ thiếu kinh nghiệm bay bổng nhưng cái can đảm khi đánh giặc họ có thừa. Bởi vì kinh nghiệm thì cần thời gian còn can đảm thì tiềm năng sẵn trong máu…Vào giữa khóa học, tôi bắt đầu kể chuyện Huyền Trân Công Chúa. Dĩ nhiên là tôi phải phịa, và dù lấy lý do “viện dẫn ngoại sử” tôi cũng không thể nào bào chữa cho cái tội “phạm thượng”, thêm mắm thêm muối vào chuyện tình của người xưa, cái người đã đem lại hai Châu Ô, Lý cho giang sơn nước Việt. Tới đoạn Công chúa và Chế Mân đi hưởng tuần trăng mật 6 tháng trong rừng trên lưng voi thì lớp học của tôi vắng thêm hai người: Họ hy sinh trên chiến trường Tam Biên!…Vào những ngày cuối cùng của khóa học, tôi thêu dệt sẵn một kết cuộc ly kỳ cho chuyện tình Huyền Trân - Trần Khắc Chung, coi đó như một món quà chia tay với các học viên, nhất là cho anh chàng ngồi bàn đầu có khuôn mặt giống như con gái, thường hối thúc tôi kể chuyện.

Tôi sẽ để cho Huyền Trân Công Chúa phải vào chùa tu theo lệnh của Vua cha, nhưng sau đó kiếm sĩ Trần Khắc Chung cũng gác kiếm vào chùa làm…sư bác giống như Bát Giới Hòa Thượng trong chuyện Tiếu ngạo Giang hồ vậy! Hai ngày trước ngày mãn khóa, tôi đang vui vẻ bước vào lớp học thì bỗng ngạc nhiên vì cái sự im lặng bất bình thường. Rồi nhìn nét mặt rầu rầu của mọi người, tôi đã đoán được chuyện gì đã xảy ra sang nay: Lại một người đã ra đi! Định thần lại, nhìn xuống cái bàn đầu, tôi thấy chàng trẻ tuổi giống như con gái đó đã vắng bóng: Người hoa tiêu đó, có lẽ là người cuối cùng hy sinh khi còn mang trên người đôi cánh bạc với cái “alpha”, vì hai ngày nữa, tất cả sẽ được chính thức gắn lon Thiếu úy! Và cái đoạn kết ly kỳ của chuyện tình Công Chúa Huyền Trân đã không bao giờ được kể, vì người thích nghe nhất đã không còn sống để mà nghe… Cuối cùng, dù sao đi nữa thì cũng nhờ làm HLV cho một trong những khóa học khác thường và vô ích nhất trong lịch sử quân đội đó mà tôi trở thành thân thiết hơn với những người của 530, 118, 229, 235…

Thấm thoát một năm trôi qua, Phi đoàn 530 ăn thôi nôi bằng một “Đêm Khu Trục” đáng ghi nhớ. Từ ông Kỳ, ông Minh Cồ cho đến các ông Sư đoàn Trưởng, các ông Chỉ huy Trưởng không thiếu mặt ai, cả đến ông Từ Văn Bê cũng phải tạm rời cái “chùa” KTTV ở Biên Hòa để lên chung vui. Không phải tất cả các vị tướng tá đều xuất thân là dân khu trục, nhưng hình như Pleiku luôn được sự ưu ái đặc biệt, giống như một đứa con xa nhà, gửi thân nơi đèo heo hút gió. Còn nhớ mỗi lần về Bộ Tư Lệnh, hể gặp ông Phùng Ngọc Ẩn thì bị chận lại ngay: Sao em, Pleiku hồi này có vui không? Thậm chí đến ông Nguyễn Hồng Tuyền ở tận Sóc Trăng, lâu lâu có UH1 ở Pleiku về chơi cũng không quên tặng cho một tàu khô và mắm, gọi là làm quà cho người nơi xứ Thượng!!!...

Chính vì thế mà trong Đêm Khu Trục, vì sự ưu ái sẵn có chứ không phải thưởng tài ca hát của Bạch Diễm Sơn 530 mà quý vị đó đã xuất quỹ đơn vị để cho Pleiku một cách rộng rải: Tối thiểu là 50 xín, bảnh nhất là ông Phan Phụng Tiên của SĐ5KQ 150 ngàn!...

Sau Đêm Khu Trục, ông Kỳ ra Pleiku thường hơn, có khi ở lại cả tuần, có lẽ ông muốn tránh cái không khí “tiền bầu cử” ở Saigon chăng? Cái ngày KĐ72CT được Đại tá Dung (Thiết Giáp) tặng cho hai con bò đem ra nướng thì ông Kỳ cũng có mặt. Đang ăn thì có một F100 của Mỹ đánh ở Hạ Lào xin đáp khẩn cấp. Xe cứu hỏa chưa kịp chạy ra phi đạo thì đã thấy chiếc F100 đâm bổ xuống với vận tốc khá mau và gảy bánh mũi. Trước khi phi cơ đâm vào ụ chắn cuối phi đạo và nổ tung, phi công đã kịp bấm nút phóng ghế ra, bị phóng về phía trước, dù chưa kịp mở thì người đã chạm đất. Mọi người chạy tới bàng hoàng nhìn xác người phi công Mỹ: Anh ta chết trong tư thế quỳ, mặt úp xuống đất, hai tay co lại chống xuống mặt phi đạo như một phản ứng chống đỡ cuối cùng…Trên trời chiếc F100 còn lại nhào xuống, lượn quanh ba vòng trước khi vĩnh biệt bạn bay về Thái Lan!...Trước cảnh đó, ai cũng như muốn khóc, ông Kỳ nhìn mọi người: Đấy, cuộc đời phi công nó như thế đấy, các cậu còn ham nữa không?...

Đối với những chiến sĩ của các quân, binh chủng khác, một khi xa nhà ra trận tuyến, những người thân phải chịu đựng những ngày tháng dài trong lo âu, hồi hộp đợi chờ, đề rồi cuối cùng một ngày nào đó có thể nhận được tin dữ: Người ra đi sẽ không bao giờ trở lại. Với Không Quân, cái sự chờ đợi đó nó không đến trong một tháng, một tuần, một ngày mà chỉ trong một buổi, đôi khi chỉ trong một giờ ngắn ngủi. Cuộc sống sang đi, chiều về, càng có vẻ an nhàn, điều độ, thì cái đau đớn vì một sự mất mát bất ngờ nó càng mang nặng chất bi thương. Và người yêu của Tuấn Râu, hơn ai hết, đã thấm thía được điều đó, khi nghe tin UH1 của Tuấn nổ tung trên vùng trời Kontum, trước đó một giờ, họ còn ngồi với nhau trong góc quán cà phê quen thuộc…





Vào đầu năm 1972, có một sĩ quan khác ra thay thế tôi trong chức vụ Sĩ quan Báo Chí, tôi đâm ra rảnh rỗi, suốt ngày la cà ở câu lạc bộ sĩ quan do Mỹ bàn giao lại. Lúc này Phạm Văn Thặng đã lên Thiếu tá và rất ít khi đi đánh bi-da độ nữa mà chỉ ngồi uống cà phê, nghe nhạc hoặc tán dóc. Chúng tôi thích ngồi ở cái bàn gần cửa hông, để được nhìn xuống phi đạo, đổ dài về hướng căn cứ trực thăng Holloway của Hoa Kỳ…Hôm đó, tôi đang tán dóc với mấy cô chính huấn của Tiểu đoàn 20 CTCT thì Phạm Văn Thặng vào, chưa uống hết ly cà phê thì có điện thoại của Hiệp “vi xi” gọi về bay thế cho một hoa tiêu vắng mặt vì công chuyện gia đình. Không cự nự một tiếng, Phạm Văn Thặng vội vã trở về phi đoàn. Khi mấy cô chính huấn đã về, tôi đang chơi bi-da thì nghe tiếng xôn xao ngoài cửa, tiến ra, tôi thấy mọi người đang bu quanh một sĩ quan vừa từ phòng Hành Quân Chiến Cuộc lên, anh kể từng câu đứt quãng: Tàu của ổng bị phòng không ở Kontum…Ông Hiệp bay đàng sau thấy cháy dữ dội…nói ổng nhảy dù…Ổng nói: Tàu còn đầy bom, để nó đâm xuống nhà dân đâu có được. Ổng bay ra ngoài vòng đai tiểu khu rồi làm “cash” xuống ruộng, đụng mô đất, tàu nổ luôn!...

Nghe nói bay với ông Hiệp, tôi biết ngay người vừa rớt là Phạm Văn Thặng. Tôi lặng người đi trong giây lát trước khi chạy xuống Phi đoàn 530 để được nghe chính miệng Hiệp “vi xi” kể về chuyến bay định mệnh của Thặng “fulro”…Cuộc đời và cái chết của anh đã được các nhà văn, nhà báo viết lại như một bản huyền sử ca, cố Trung tá Phạm Văn Thặng được tôn vinh làm Anh Hùng của Quân Đội..v.v…Riêng trong tôi, hình ảnh của Phạm Văn Thặng vẫn là một Phạm Văn Thặng bình thường, rất bình thường. Như cái lần đi công tác gặp anh đứng xếp hàng chờ ở Trạm Hàng không Quân Sự, tôi hỏi: Tàu VIP, tàu liên lạc thiếu gì, sao ông không đi? Phạm Văn Thặng đáp: Cậu tưởng lên Thiếu tá là làm cha thiên hạ sao, với lại moa đi phép chứ có phải đi công tác như cậu đâu mà đòi ưu tiên!...Có lẽ cái bông mai bạc không làm cho anh thay đổi, ra khỏi phi đoàn cũng đùa phá như trẻ con…Gọi Phạm Văn Thặng là anh hùng, tôi tự thấy cái yêu mến nể phục trong tôi nó bị ngượng ngập, tôi chỉ muốn nhớ đến anh như một con người đã sống xứng đáng và nay đáng cho mọi người thương tiếc; thế thôi!...

*****

Tôi rời Pleiku vào mùa hè đỏ lửa, vài tuần lễ trước khi căn cứ không quân này trở thành một đại đơn vị: Sư đoàn 6 Không Quân. Về Biên Hòa, tôi được Trung (530 cũ) kể lại cái chết của Thanh Ngố ở sông Bé: Nó bị phòng không cũng chỉ vì cái tội lỳ, điếc không sợ súng!...Khoảng nữa năm sau, gặp lại Phương, (trưởng lớp học quân sự ở Pleiku ngày xưa) tôi hỏi xem ai còn ai mất. Ngoài việc Hùng 530 hy sinh ở Chu Pao, Phương cò kể tôi nghe vụ ông Bút và anh em bên trực thăng cố đáp xuống cứu Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 22 Bộ Binh, trong cái đêm Tân Cảnh bị địch âm thầm tràn ngập. Xuống tới nơi, bị Việt cộng gài bẩy bắn cháy một tàu, ông Bút bị chúng nắm được cổ áo nhưng vùng thoát, chui khỏi hàng rào và leo lên được chiếc UH1 còn lại!...

Cuối năm 1973, nhân dịp có phái đoàn Bộ Tư Lệnh và một số Sư đoàn Trưởng, Chỉ huy Trưởng đi thanh tra các đơn vị, tôi xin tháp tùng ông Từ Văn Bê, ra đến Pleiku tôi thấy sinh hoạt trong căn cứ có phần nhộn nhịp hơn ngày trước, các cấp chỉ huy cũ cũng đã đổi đi gần hết, còn lại chỉ có ông Lê Văn Bút nay là Trung tá Không đoàn Trưởng KĐ72CT - vị KĐT trẻ nhất trong Không Quân cũng như ngày trước, ông ta từng là Phi đoàn Trưởng trẻ nhất vậy. Bạn bè bên trực thăng còn nhiều, nhưng bên khu trục thì hầu hết vắng bóng sau khi các phi cơ A1 bị đình động, nhường bầu trời cao nguyên cho các phản lực A37 vẫy vùng, gầm thét…

Trước khi ra Phù Cát, tôi trở lại câu lạc bộ, nay đã được đặt tên lại là Hội quán Phạm Văn Thặng. Tôi tìm lại cái bàn ngày xưa thường ngồi với Thặng nhưng đã có người chiếm: Họ là những hoa tiêu trẻ, cười nói ồn ào, vô tư như không cần biết đến ngày mai, cái ngày mà họ thành danh như Lê Văn Bút hay thành người hung thiên cổ như một Thặng “Fulro”…
Phi cơ lấy cao độ, tôi nhìn lại phi trường Cù Hanh, liếc qua bên trái là Biển Hồ Pleiku, nơi chiếc A1 mà Lê Bình Liêu bay test vẫn còn nằm dưới đáy, quay qua bên phải, tôi thấy núi Hàm Rồng: Ngọn núi mà dân phi hành gọi bằng một cái tên khác, rất tục nhưng rất tượng hình, vì nó giống “cái đó”, giống một cách lạ kỳ!...

Mùa Xuân năm 1975, cùng với Quân đoàn II, SĐ6KQ được lệnh di tản chiến thuật về căn cứ KQ Phan Rang. Mặc dù chỉ có 48 giờ để chuẩn bị, SĐ6KQ cũng đã di tản rất “đẹp”. Nghe kể lại rằng, trước khi rời phi trường, anh em bên Phân đoàn Tháo Gỡ Đạn Dược và Liên đoàn Phòng Thủ còn đủ thời giờ gài chất nổ vào những phi cơ không đem đi được và những cơ sở quan trọng, có lẽ lúc đó họ đã hiểu được rằng: Dù mang tiếng là “di tản chiến thuật” nhưng chắc chắn sẽ không có một ngày trở lại! Họ đã nghĩ đúng, cổng Phi Vân với mây xám lưng trời, sau gần 15 năm xa cách, những người con yêu giờ đây vẫn còn hoài công ngóng đợi…



Nguyễn Hữu Thiện
Đặc san Lý Tưởng Úc châu






Ngoc N Hao
#152 Posted : Wednesday, September 14, 2011 2:32:16 PM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,706
Points: 8,185
Location: France

Thanks: 2255 times
Was thanked: 1524 time(s) in 874 post(s)
Người lính chưa qua sông



(Cho cháu Trúc Vy khi cháu khôn lớn
để cháu hiểu và thương ngày xưa của ông ngoại)






Ngày thứ mười hai của trận chiến, từ khi lên Bộ Tư Lệnh họp và nhận lệnh trở về, Tiểu Đoàn trưởng luôn trầm tư. Nhiều lần Tiểu Đoàn trưởng nhìn Tiểu Đoàn phó như muốn nói gì đó nhưng rồi lại lắc đầu, yên lặng. Qua vô tuyến, các đại đội báo cáo vẫn tiếp tục hoạt động lục soát trong khu vực trách nhiệm và tìm thấy rất nhiều xác lính CS và các loại vũ khí của họ trong rừng cao su hướng Tây Nam thị xã. Tiểu Đoàn trưởng cho lệnh các Ðại Đội trưởng: “không cần thiết phải thu lượm chiến lợi phẩm.” Ðến sáu giờ chiều, Tiểu Đoàn trưởng họp các Đại Đội trưởng cho lệnh chuẩn bị di chuyển lúc sáu giờ ba muơi phút. Im lặng vô tuyến kể từ giờ phút này. Bảy giờ kém mười lăm, khi Tiểu Ðoàn vừa đến điểm tập trung tại ngã ba Tân Phong sát quận đường Xuân Lộc, Tiểu Đoàn phó và các Đại Đội trưởng mới biết lệnh bỏ Xuân Lộc. Mọi người tái mặt nhưng không ai nói gì. Tiểu Ðoàn Truởng nhìn sâu vào mắt Tiểu Đoàn phó Nguyễn Mạnh Tông như muốn san sẻ nổi buồn và sự lo lắng của bạn mình. Nguyễn Mạnh Tông có vợ và mẹ vợ đang ở Xuân Lộc. Bây giờ quân rút, số phận người thân ở lại sẽ ra sao khi quân lính CS tràn vào phòng tuyến trống nội ngày mai. Nguyễn Mạnh Tông nhìn Tiểu Đoàn trưởng gật đầu và nói trong xúc động:

- Không chỉ riêng gia đình tôi mà còn rất nhiều gia đình vợ con binh sĩ Sư Ðoàn phải chịu ở lại. Buồn và lo thật nhưng đành chịu. Nếu Thiếu Tá có cho tôi biết trước, tôi cũng sẽ không về từ biệt gia đình. Mọi người ai cũng biết đến bài học rút quân đầy cay đắng của quân dân vùng Cao nguyên vừa mới tháng trước đây thôi. Gia đình kéo theo, lính không còn lòng dạ nào để chiến đấu…

Rút bỏ Xuân Lộc theo tình hình biến chuyển của chiến trường, và tình hình chung của đất nước, nhưng dù sao đi nữa, lòng người lính Sư Ðoàn cũng vô cùng đau xót khi phải bỏ vùng đất nhà quen thuộc. Và còn nữa: sự liên hệ mật thiết với người ở lại, ra đi chẳng khác gì ruột cắt làm đôi. Ðêm đó trên đường hành quân, anh em binh sĩ nhận ra được Tư Lệnh Sư Đoàn kiêm Tư Lệnh Mặt Trận Xuân Lộc, Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo, cùng di chuyển đường bộ với họ… Tại sao Tư Lệnh không xử dụng trực thăng riêng của ông? Buổi trưa họp ở BTL, Tiểu Đoàn trưởng nhận thấy Tư Lệnh không được khoẻ, gương mặt hốc hác với đôi mắt sâu và thâm quần của một người mất ngủ. Thế mà đêm nay rút quân ông lại không xử dụng trực thăng riêng của mình để được khoẻ thân và an toàn như nhiều cấp tướng lãnh chỉ huy khác? Thêm một lần nữa, vị Tướng trẻ chứng tỏ tinh thần sát cánh chiến đấu cùng với thuộc cấp, trong mọi hoàn cảnh, nhất là trong những giờ phút sinh tử. Với một cấp chỉ huy như vậy thì anh em binh sĩ làm sao mà không hăng say chiến đấu… Nhìn lại, ba năm giữ chức vụ Tiểu Đoàn trưởng dưới quyền ông, vỏn vẹn chỉ có ba chai Martel mình tặng ông trong dịp Tết. Ðáp lại khi Tiểu Đoàn về trú đóng gần bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, ông đã ưu ái tổ chức tiệc, dạ vũ cho tất cả sĩ quan Tiểu Đoàn và chính ông cùng tham dự, lên sân khấu đàn và hát cho anh em binh sĩ nghe.

Sư Đoàn 18 rút khỏi Xuân Lộc, xe tăng và bộ binh càn qua chốt địch chận trên đường 22 mà đi, về đến Bình Giả vào sáng hôm sau gần như toàn vẹn. Chỉ riêng anh em chiến sĩ Lữ Ðoàn Dù tăng cường cho mặt trận Xuân Lộc rút sau, trách nhiệm đoạn hậu nặng nề đã chạm súng với quân CS bám theo. Trở về căn cứ Long Bình vài ngày để bổ sung vũ khí. Ngày 25 tháng Tư, Tiểu Đoàn theo Trung Đoàn lên lập phòng tuyến tại vùng Trãng Bom, ranh giới Biên Hòa, Long Khánh. Cùng với một Chi Đoàn M113 thuộc Thiết Ðoàn 5 do Đại Úy Nguyễn Sơn chỉ huy, Tiểu Đoàn dàn quân bên này hào sâu cắt ngang Quốc Lộ 1. Quân số Tiểu Ðoàn sau trận Xuân Lộc còn lại trên 300. Một điều khiến các cấp chỉ huy Tiểu Đoàn rất vui là không một người lính nào đào ngũ dù mấy ngày ở Long Bình, Biên Hòa, nơi anh em có nhiều cơ hội để bỏ về Sài Gòn, nơi có gia đình đang trông đợi. Tất cả anh em không đành lòng bỏ lại bạn bè, cấp chỉ huy, tất cả cùng chấp nhận đồng lao cộng khổ cho đến giờ phút cuối cùng.

Sáng ngày 27 tháng Tư, xe tăng địch bò đến phía bên kia phòng tuyến. Hai chiếc M41 của Thiết Ðoàn 5 nguỵ trang chực sẳn bắn đại bác 90 ly trúng một tăng địch. Nhưng, từ hai mặt phải trái cách quốc lộ 1 khoảng trên 100 mét, cùng một lúc lính bộ binh và xe tăng địch xuất hiện. Thì ra lực lượng địch biết không thể băng qua hào sâu nên len lỏi trong rừng, bọc vòng tạo thành thế gọng kềm để kẹp chặt Trung Đoàn 48. Qua vô tuyến, lúc đó mới biết rằng Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn và Tiểu Ðoàn 1 đóng trong đồn điền cao su Trãng Bom đã rút về hướng Nam từ lúc tờ mờ sáng. Như vậy tại tuyến đầu chỉ còn lại Tiểu Đoàn 3 và một Chi Ðoàn M113 trong lúc xe tăng và bộ binh địch ào ào tràn ra từ ba hướng. Sau lưng không còn lực để dựa thì còn đánh đấm gì được nữa!.Nếu không nhanh chân thì chắc chắn sẽ bị quân CS bao vây cắt đường rút và diệt gọn. Tiểu Đoàn trưởng lệnh cho các đứa em phân tán, rút nhanh ra đường. Tội nghiệp Chi Đoàn M113 của Đại Úy Sơn phải tức tốc phân tán để đón những người bạn bộ binh trong lúc tăng địch bắn phá dữ dội. Nếu thiếu tinh thần chiến đấu và đồng đội thì anh em thiết giáp đã bỏ bạn bè bộ binh, vì thật ra M113 đâu phải là đối thủ của tăng T54 CS. Ngay cả M41 của mình cũng đã quá già nua yếu ớt đối với T54. Nhưng nếu M113 mà bỏ chạy thì đâu còn là chiến sĩ Thiết Giáp Quân lực VNCH. Hơn nữa, Tiểu Đoàn 3/48 với Chi Đoàn 3 Thiết Ðoàn 5 đã quá quen biết giao tình qua bao cuộc hành quân chung khắp vùng 3 chiến thuật và bên kia biên giới Campuchea trong năm 1970. Chi Đoàn M113 của Đại Úy Sơn vốn đã quen địa hình nên sau khi đã gom được bộ binh liền rút rất nhanh. T54 địch đuổi theo, nhưng không làm được gì. Ðây thật sự là một cuộc rút chạy. Ðáng buồn thật. Ðáng buồn vì phải bỏ lại hai chiếc M41 anh hùng ở tuyến đầu, đáng buồn vì đơn vị chưa nổ một phát súng đã tìm đường thoát thân. Nhớ lại đêm nào ở mặt trận Bến Cát Bình Dương năm 1973, lính Tiểu Ðoàn đuổi tăng địch, bắn cháy tăng địch, và mới hai tuần trước đây thôi lúc còn ở mặt trận Xuân Lộc, tăng địch là miếng mồi ngon cho M72. Ðáng buồn khi nghĩ đến anh em chiến sĩ Ðịa Phương quân ở căn cứ Bầu Cá chiến đấu trong tuyệt vọng. Tội nghiệp cho những chiến sĩ và gia đình con bị bỏ lại trong căn cứ Bầu Cá nhỏ bé, cô đơn.

Ngày 28 tháng tư, Tiểu Đoàn đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Văn Nô, Thiết Ðoàn Trưởng Thiết Ðoàn 5 làm tuyến án ngữ mặt bắc căn cứ Long Bình. Ngày hôm đó, chỉ có tăng của hai bên bắn nhau, còn bộ binh ngồi chơi, la hét cổ võ mỗi lần tăng địch bị trúng đại bác 90 ly của M41. Lúc này mà có M48 lâm trận thì T54 của địch chắc phải cháy như cây đuốc nhiều hơn nữa. Từ đồi cao nhìn xuống Quốc Lộ, người lính Sư Đoàn hết sức khâm phục những người bạn Nghĩa Quân Hố Nai, chỉ với súng carbin và M16 trong tay cũng bố trí chận đánh bộ binh địch nếu địch dám xâm phạm vào vùng đất xóm làng thân thương của họ.

Ngày 29 tháng tư, lúc 5 giờ chiều, Tư Lệnh gọi Trung Tá Thiết đoàn trưởng Thiết Ðoàn 5 và Tiểu Đoàn trưởng 3/48 đến BTL trong căn cứ Long Bình để họp cùng Tướng Lê Minh Ðảo, Trung Tá Nguyễn Văn Nô và Tiểu Đoàn trưởng Tiểu Đoàn 3/48. Khi đang họp thì chuông điện thoại reo vang . Tướng Tư Lệnh nhấc ống nghe. Một phút sau ông bỏ máy với vẻ chán nản và nói:

- Tổng Thống Dương Văn Minh hỏi chúng ta có giữ được Long Bình Biên Hòa để chờ thương thuyết không?

Ông nhìn thẳng hai thuộc cấp rồi chậm rải từng tiếng một:

- Phải giữ bằng mọi giá, đây là vòng đai cuối cùng để bảo vệ Sài Gòn!

Ông nhướng đôi mắt sáng lên:

- Thiết Ðoàn của Trung Tá Nô chưa suy suyển bao nhiêu phải không? Còn em, quân số Tiểu Đoàn còn được bao nhiêu ?

- Thưa Thiếu Tướng, còn đủ, chưa mất mát người nào từ khi rời khỏi Xuân Lộc!

Nhìn hai anh em chúng tôi, Thiếu Tướng nói với giọng cương quyết:

- Các em phải chiến đấu toàn lực, không được để mất thêm một tấc đất nào!

Trên tấm bản đồ hành quân vùng 3 Chiến Thuật, đầy ký hiệu màu đỏ chỉ các đại đơn vị địch: QĐ 1 từ hướng Bắc theo QL 13, QÐ2 và 4 từ hướng Ðông Bắc đang áp sát Biên Hòa, QÐ 3 từ Tây Bắc theo QL 1 gần Củ Chi, các Sư Đoàn, Trung Đoàn, tổng cộng gần 16 Sư Đoàn quân CS với những mũi tên đỏ cùng chỉ hướng Sài Gòn. Trung Tá Nô lắc đầu khi nhìn khuôn mặt hốc hác vì thiếu ngủ và lo âu của vị Tư Lệnh. Mình cũng vậy thôi phải không Trung Tá, nhưng dù sao thì chúng ta ngày quần thảo với địch quá mỏi mệt, đêm nằm xuống đầu không kịp suy nghĩ đã bị hơi đất xông lên kéo giấc ngủ đến rất mau. Những giấc ngủ mệt nhưng có còn hơn không. Tư Lệnh thì chắc không ngủ được bởi cái đầu chứa đầy hình ảnh những mũi tên đỏ chỉ về Thủ đô. Ngày mai sẽ có giải pháp, Tổng Thống Dương Văn Minh vừa nói như vậy. Giải pháp như thế nào? Giải pháp gì khi chúng ta đang ở trong thế yếu? Nhượng bộ và nhượng bộ mà thôi! Lời nói của Tổng Thống khi ông nhậm chức ngày hôm kia rõ ràng đã tỏ ra quá nhiều nhân nhượng và sợ hãi kẻ thù, làm mất tinh thần toàn quân. Ông dùng hai chữ “anh em” để chỉ kẻ xâm lược như một đòn tình cảm, nhưng chắc chắn ông chẳng bao giờ được phe bên kia đáp ứng trong “tinh thần anh em” đó.

Khoảng 11 giờ đêm 29 tháng Tư, đài phát thanh Sài Gòn phát lời huấn lệnh của Tướng ba sao Vĩnh Lộc, quyền Tổng Tham Mưu trưởng QLVNCH:

- Các cùi cố gắng giúp Tổng Thống hoàn thành nhiệm vụ lịch sử!

Có phải chăng đây là lời giả biệt của vị Tướng ba sao? Linh cảm cho anh em chiến sĩ biết rằng lại thêm một cấp chỉ huy cao cấp đào ngũ, bỏ nước ra đi. Có một chút gì cay đắng, buồn bực và khinh thường trong lòng những người chiến binh. Không! Chúng tôi không bỏ hàng ngũ! Vẫn còn những người lính Bộ Binh và Thiết Giáp đầy gian khổ nguy nan này, vẫn còn rất nhiều đơn vị trên các trận tuyến chung quanh Thủ Đô yêu quý. Sư Đoàn 5 ở Lai Khê của Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Sư Ðoàn 25 ở Củ Chi của Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá, và hàng hàng lớp lớp chiến sĩ anh hùng các đại đơn vị Tổng trừ bị Dù, Thủy Quân Lục chiến, Biệt Ðộng Quân. Những cánh chim đại bàng của Không Quân VNCH vẫn còn bay, những hạm đội của Hải Quân vẫn còn trên sông ngòi, mặt biển Tổ Quốc.

Ðêm đó, pháo địch từ mọi hướng rót xuống Long Bình như không ngừng nghỉ. Khoảng 3 giờ sáng toàn thể các đơn vị được lệnh rút khỏi Long Bình kéo về bờ Nam sông Ðồng Nai làm phòng tuyến. Lúc qua thành phố Biên Hòa, thật ngạc nhiên khi nhìn thấy rất nhiều xe tăng tối tân M48 bố trí khắp nơi trong thành phố. M48 nằm đây để chờ T54 của địch vào thành phố rồi mới nổ súng hay sao ? Biết còn có cơ hội nổ súng hay không? Sao Tư Lệnh Quân đoàn Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn không tăng cường M48 cho chiến tuyến Trãng Bom mà giao trách nhiệm nặng nề cho những chiếc 41 có từ Ðệ Nhị Thế Chiến? Tiểu Đoàn Trưởng nuốt nước bọt đắng khô cổ nhưng nước mắt thì như muốn ứa ra đầy uất ức. Người ta quý những chiếc tăng 48 này hơn những mạng người. Một chiếc tăng M48 giá mấy triệu Mỹ kim trong lúc giá một người lính bằng 12 tháng tiền tử tuất. Thôi đi, đừng suy nghĩ vẩn vơ, ngươi chỉ là một sĩ quan chỉ huy nhỏ, cầm Tiểu Đoàn còn chưa xong, biết gì mà vội trách móc các cấp chỉ huy cao cấp của mình!

Ngày 30 tháng Tư lúc trời vừa hừng sáng, đơn vị vừa xuống xe đang bố trí gần khu Nghĩa Trang Biên Hòa thì quân CS với xe tăng treo cờ MTGP dẩn đầu đoàn Molotova theo xa lộ hướng về Sài Gòn. Họ đi một cách ngang nhiên như đoàn xe diễn hành. Mấy chiếc tăng dẩn đầu, thỉnh thoảng còn nổ súng bắn vu vơ vào hai bên đường, còn bộ binh trên xe Molotova vẫn ngồi yên. Hỏa lực từ vài chiếc M113 trên đồi Nghĩa Trang bắn theo nhưng đoàn xe CS vẫn tiếp tục theo hướng đã định. Lúc này thì Bộ Binh đã tách rời Thiết Giáp. Không biết Thiết Ðoàn 5 sau đó về đâu, còn Bộ Binh gồm Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn 48 với Trung Đoàn trưởng Trung Tá Nguyễn Chí Công và toàn bộ Tiểu Đoàn 3 cùng băng đồng tìm cách về Sài Gòn. Trung Ðoàn phó là Trung Tá Khôi đi cùng Tiểu Đoàn 1/48 cũng trực chỉ hướng Thủ Ðô. Người lính lúc này sốt ruột lắm. Phải di chuyển cho nhanh về tiếp tay với các lực lượng bạn ở Sài Gòn để giữ cho được Thủ Đô yêu quý của người miền Nam. VC từ trong các làng, sau các lùm tre bắn đuổi theo, anh em cũng không cần bắn trả lại. Thỉnh thoảng nghe những tiếng nổ lớn từ hướng Sài Gòn, và nhìn những cụm khói đen bốc cao từ lòng Thủ Đô, bước chân người lính như muốn bốc lên khỏi những cánh đồng đất bùn đang làm chậm bước. Thấy lính Sư Ðoàn, anh em Ðịa Phương Quân bỏ đồn bót, xách súng đạn chạy theo để cùng về Sài Gòn chiến đấu. Ðồn bót làm gì nữa khi Sài Gòn sắp mất.

Nhưng!!!… Lúc đó khoảng mười giờ, cái thời gian lạ hoắc và đáng nguyền rủa. Bàng hoàng, sửng sốt, tuyệt vọng bỗng ào đến giữ chặt cứng những bước chân, làm mắt hoa lên và tim như nghẹt thở khi tiếng nói của một người xa lạ vang lên từ chiếc radio nhỏ người lính mang theo bên mình. Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, ông là ai? Chắc ông không phải là Nguyễn Hữu Hạnh, con cọp Ba Ðầu Rằn nổi tiếng, từng khiến Cộng Sản kinh sợ ở Biệt Khu 41 Phước Bình Thành? Nguyễn Hữu Hạnh này là Nguyễn Hữu Hạnh xa lạ vừa được Tổng Thống hai ngày phong chức Tham Mưu trưởng QLVNCH. Chúng tôi nghi ngờ ông không phải là một vị tướng lãnh của QLVNCH, bởi vì nếu thật ông là Tuớng từng cầm quân trận mạc thì chắc ông đã không quên ý chí kiêu hùng của người lính VNCH. Chúng tôi, những con xe đã ủi hết cuộc đời, những con tốt đã liều lĩnh qua sông, những con mã chạy không kịp thở, những con pháo tự nổ tung xác để làm gì trong bao nhiêu năm tháng qua, để bây giờ phải lắng nghe, tuân thủ cái lệnh buông súng đầu hàng nhục nhã!? Quý vị không thấy nhưng chúng tôi thấy những bạn bè đã hy sinh đang sống lại, khóc lóc và nguyền rủa… Ngay cả những oan hồn người lính CS chết trên đường vào Nam cũng đang cười vào đầu óc ngây thơ của quý vị đang ngồi trong dinh Ðộc Lập, trong bộ Tổng Tham Mưu!! Ðầu hàng! Thật quá dễ. Chúng tôi có thể làm được điều đó ngoài mặt trận, nhưng những người lính trực diện với súng đạn đã không làm vì còn danh dự, trách nhiệm đối với Quân Lực và Tổ Quốc. Không bao giờ chúng tôi nghĩ đến ngày QLVNCH phải đầu hàng. Thực tế tại các chiến trường trong nhiều năm chiến đấu đã cho chúng tôi niềm tin rằng QLVNCH mạnh hơn quân CS Bắc Việt trên mọi mặt. Chúng ta yếu kém hơn họ trên mặt trận tuyên truyền láo khoét mà thôi. Chao ơi, nào ai muốn chiến tranh huynh đệ tương tàn. Nhưng có ai nhận chúng ta là huynh đệ không? Và họ có nghĩ gì đến tổ quốc Việt Nam hay là chỉ phục vụ cho tổ quốc Cộng Sản bạo tàn? Chúng ta không muốn chiến tranh, chúng ta chỉ là kẻ tự vệ. Kẻ tự vệ bao giờ cũng sáng ngời lý tưởng, huống gì lý tưởng chiến đấu của chúng ta là hai chữ Tự Do. Này, các “người anh em”, hãy đến đây nhận lấy vũ khí, rồi trả thù, hành hạ, đánh đập, tù ngục chúng tôi. Khi buông súng là mặc nhiên chấp nhận tất cả. Và để rồi xem ý nghĩa hai chữ “anh em” mà thượng cấp chúng tôi dùng sẽ như thế nào! Anh em đồng đội của tôi ơi, cho đến giờ phút này, tuy lòng đau đớn nhưng chúng ta thật bình thản, không hề mảy may sợ hãi, bởi vì chúng ta đã cầm súng để tự bảo vệ mình. Chúng ta chiến đấu trong tinh thần dân tộc máu đỏ, da vàng, không thẹn với lương tâm bởi tinh thần mã thượng và nhân đạo của con nguời đối với con người nơi trận tuyến. Chúng ta quý mạng sống kẻ thù như mạng sống của mình. Chưa, chưa bao giờ chúng ta nhẫn tâm ném một trái lựu đạn xuống hầm VC vì tiếng khóc của bà mẹ, của người vợ van xin cho đứa con, cho người chồng lầm đường. Chưa bao giờ chúng ta căm thù, hành hạ kẻ vừa bắn ngã đồng đội anh em mình bởi vì chúng ta hiểu đó là quy luật của chiến trường. Những người lính hai bên ai cũng muốn mình chiến thắng. Người lính miền Nam chúng ta nổ súng không có thù hận đem theo. Và đó cũng là một nguyên nhân mà chúng ta thành kẻ chiến bại ngày hôm nay.

* * *

Lúc này là 11 giờ 30, mặt trời và mặt đất như chưa bao giờ biết nhau như những người lính chưa bao giờ phải buông súng đầu hàng. Gần ba trăm tay súng, bỗng chốc tự mình làm cho mình còn lại tay không. Tay không trong hiện tại đớn đau và tay không trong tương lai khốn cùng. Ba trăm con người sắp hàng bước đi trước họng súng của mười du kích CS. Có lẽ trong giây phút này đây quý vị trong dinh Tổng Thống cũng không hơn gì chúng tôi. Nơi đây, những du kích này còn lo sợ chúng tôi phản ứng còn quý vị thì đang ngoan ngoãn vâng lời dạ thưa tôi xin bàn giao, tôi xin đầu hàng. Trong dinh tổng Thống không có mẹ già khóc, không có những em nhỏ nhìn theo mến thương, trước đám đông, nhiều đồng bào còn hoan hô các anh chiến sĩ QLVNCH. Ðây là đồng bào thuộc xã Long Thạnh Mỹ, Thủ Ðức, những con dân miền Nam nhân ái , yêu chuộng tự do. Họ đang đứng thành hàng hai bên đường, không phải để đón tiếp kẻ cầm vũ khí trong tay mà đón tiếp những người vừa bị lột trần giày, nón. Những nụ cười rất quen thuộc, thân thương mà kẻ chiến thắng cũng như quý vị cao chạy xa bay, đầu hàng không bao giờ được trao tặng. Cởi giày, cởi áo phải chăng là khúc cuối của vở bi kịch? Phải, chính là bi kịch, nhưng đoạn cuối thì chưa đến. Vì là bi kịch nên cha, mẹ, anh chị, em đứng hai bên đường rơi nước mắt. Tất cả mọi người đều sợ chiến tranh, giờ đây chiến tranh đã chấm dứt mà sao đồng bào nơi đây không cảm thấy có niềm vui. Phải chăng khi đã thật sự thấy tận mắt những gương mặt hốc hác, những nụ cười không lành lặn, trọn vẹn, những áo bạc màu rách vai, những đôi giày vẹt đế đầy bùn đất… đồng bào mới hiểu được có những chịu đựng tận cùng của con người nơi các chiến sĩ miền Nam của họ. Và chính đó là tình thương chân thật . Mừng cho các con còn sống! Mừng cho các anh yên lành! Chúng con nghe mẹ nói, muốn cầm tay mẹ và thì thầm mẹ ơi, chúng con đang chết từ giây phút này, một cái chết dưới thấp hơn tất cả cái chết trên đời thưa mẹ. Các anh muốn nói với em rằng có những vết thương đang hằn sâu, sâu hơn những vết thương các anh nhận từ chiến trận .




* * *

Một tên xã đội trưởng du kích hỏi:

- Ai là cấp chỉ huy ở đây?

Mọi người chờ đợi. Tiểu Đoàn trưởng trả lời:

- Tôi!

- Anh tập họp tất cả binh lính!

Xã đội trưởng nói, giọng không được tự chủ khi đối diện với mấy trăm con người mắt nhìn hắn như trêu ghẹo… Lúc đó trong sân chùa Long Thạnh Mỹ, những người lính ngồi bệt xuống đất, cởi những chiếc vớ nhà binh rồi đưa lên mũi ngửi, mỉm cười nhìn nhau. Phải không bạn, chúng mình mang những đôi vớ này đã mấy ngày từ hôm rút khỏi Trãng Bom mà không có thì giờ để thay chiếc khác. Cởi những đôi vớ ra, bàn chân thật thoải mái nhưng tâm hồn sao lại u uất. Mùi hôi của vớ không nặng bằng mùi phiền muộn. Khi thấy anh em binh sĩ cởi giày, nhiều bà con chạy về nhà lấy dép ra cho. Lính và dân trao đổi giày nhà binh và dép nhẹ với những nụ cười như muốn nói với nhau: “Cám ơn em đã cho anh đôi dép, đôi dép khiến đôi bàn chân anh nhẹ nhàng. Cám ơn anh đã nhường cho em đôi giày lính, đôi giày này sẽ tiện lợi cho em trong những tháng ngày tương lai.” Thấy đồng bào vui mừng khi nhận đôi bốt mòn đế, người lính ngạc nhiên nhưng rồi chợt hiểu. Phải, chính từ giờ phút này đây, những cuộc đời sẽ thay đổi, những khốn khó đang chực chờ. Tội nghiệp các em đang độ tuổi lớn khôn, chỉ mới ngày đầu mà đã thấy ra con đường tương lai đen tối! Khoảng hai giờ chiều thì đồng bào đem thức ăn đến sân chùa Long Thạnh Mỹ.

- Các con ăn cơm cho đở đói!

- Các chú ăn cho thật no nghe!.

- Các anh cứ tự nhiên như ăn cơm của mình!

Ðồng bào trong xã mời các anh, thương các anh lắm! Ðã lâu lắm rồi, đây là bữa cơm thịnh soạn nhất mà người lính chiến đấu được hưởng. Cơm gạo trắng, thịt heo kho măng thơm phức. Nhiều đồng bào đứng xem lính ăn, cười mãn nguyện.

- “Trưa nay ăn thịt kho, chiều nay ăn cá lóc kho nghe các con!” Mẹ nói.

- “Ra giếng chùa tắm cho mát rồi đi nghĩ cho khoẻ nghe các con!” Cha bảo.

Tội nghiệp vị sư già gần 70 tuổi, không quen mùi thức ăn sinh vật, nhưng cũng đi từ nhóm này đến nhóm khác thăm hỏi như là một người cha sau bao ngày xa xách con mình. Hầu hết anh em binh sĩ đều ăn uống tự nhiên, rất ngon lành. Những sĩ quan chỉ huy thì không bình yên như vậy. Có người không nuốt nổi vì nước mắt lưng tròng. Khóc vì tủi nhục và cũng vì sung sướng. Nếu chiến đấu không có lý tưởng, không vì tự do hạnh phúc của dân tộc thì sao có được bữa cơm đầy tình nghĩa đáp đền hôm nay.

Buổi chiều sân chùa vắng lặng vì anh em binh sĩ vào chơi trong làng. Trung Ðoàn Trưởng, Tiểu Đoàn trưởng và vài sĩ quan ở lại nghe vị sư già nói chuyện. Trước đây, sư đã từng có chức vụ trong ủy ban kháng chiến Liên khu 5 ở miền Trung, nhưng sư bỏ trốn vào Nam khi nhận rõ bản chất của người CS. Sư nói:

- Quân Ðội miền Nam có lý tưởng nhưng không tinh nhuần lý tưởng, lại thiếu khôn ngoan xảo quyệt, nhân nghĩa giả như Cộng Sản.

Khi được hỏi về tương lai của miền Nam thì vị sư lắc đầu:

- Thầy e rằng rồi đây ngay những chiếc áo tu nâu sồng nghèo khó cũng khó được mặc!

Ðôi mắt vị sư buồn nhìn về xa xôi:

- Từ khi cuộc chiến bùng nổ lớn, mất miền Trung, đồng bào hàng hàng lớp lớp chết vì chạy giặc, kinh kệ không vào trong đầu óc thầy nữa!

Ðôi mắt sư nhìn sâu vào mắt mọi người với tiếng thở dài. Giọng một người run run:

-Vì đau khổ của chúng sanh mà tâm thầy không an, đôi mắt thầy hướng ra ngoài cửa Phật, còn chúng con hôm nay có được giây phút an lạc hiếm hoi trong cuộc đời. Chỉ sợ mai đây khi bước ra khỏi bóng chùa…

Sư chắp tay hướng lên bàn thờ Phật:

- Mô Phật! Bây giờ thì mọi chuyện đã xong, chỉ mong rằng họ sẽ khôn ngoan giải quyết trong tình nghĩa huynh đệ, đồng bào ruột thịt thì mới mong oán oán không chất chồng!

Lời Sư trầm hẳn xuống:

- Các con rồi đây phải cố gắng nhẩn nhục chịu đựng, chấp nhận tất cả. Thầy tin rằng đồng bào mình không ai không thương các con. Hãy tạm quên lý tưởng mà luôn luôn nghĩ đến sự tồn tại thực tế của gia đình mình!

Khi nghe Sư hỏi thăm gia cảnh mình, tự nhiên mọi người đều ứa nước mắt. Nước mắt sư cũng ứa ra. Vì thương nhớ quê nhà, lo âu cho đạo pháp hay biết trước số phận sắp tới của những con người còn trẻ đang quây quần trước mặt mà thầy khóc? Có lúc nào đó, lòng chợt nhớ đến mẹ. Không biết mẹ còn ở Huế hay lạc bước đến phương nào từ khi Huế mất.

- Ðêm nay thầy không thỉnh kinh, các con vào chánh điện mà nghỉ!

Sư nói, rồi nhẹ nhàng đứng dậy. Anh em cũng đứng dậy chào người. Sư bước đi, dáng gầy xiêu xiêu. Màu nắng chiều tháng Tư nhạt nhòa trên vai áo nâu sồng, màu nắng loang lổ trên bậc thềm chùa như những mảnh vá của tâm hồn những người tạm nương nhờ cửa Phật đêm nay.

Buổi tối anh em binh sĩ về sân chùa đầy đủ. Dưới ánh trăng mờ mọi người nằm la liệt, có người ngủ say bất động như xác chết. Một vài tiếng ho, ú ớ từ đâu đó vang lên. Không ngủ được, Nguyễn Mạnh Tông ngồi dậy nói :

- Anh Ba ơi, anh em mình đi một vòng trong sân thử xem!*

Trần Văn Minh ÐÐT Ðại Ðội Chỉ huy, nghe nói cũng ngồi dậy:

- Em đi với anh Ba và anh Tư!

Tông hỏi: – Có cần đếm thử xem anh em còn đủ không?

- Thôi khỏi cần. Chắc không có anh em nào bỏ đi đâu! Tiểu Đoàn trưởng nghĩ thầm: “Anh em ai bỏ đi lúc này cũng được nhưng chắc không ai nỡ, anh em biết rằng nếu có người bỏ đi thì ngày mai các sĩ quan chỉ huy sẽ bị làm khó dể. Anh em ở lại để tỏ rỏ tình huynh đệ và tính kỷ luật của đơn vị một lần cuối. Cám ơn các em. Chúng ta chỉ còn với nhau ở nơi yên tỉnh này một đêm thôi. Rồi ngày mai… “

* * *

Mọi người ngước mắt nhìn bầu trời phương xa đang treo lơ lửng một vài trái sáng. Chắc chắn đâu đó, quanh Sài Gòn và ngay trong lòng Sài Gòn giờ phút này vẫn còn có những người vẫn tiếp tục chiến đấu. Còn Vùng 4 Chiến Thuật nữa. Vùng 4 không đầu hàng CS. Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng là những danh tướng, quý vị sẽ không tuân lệnh Tổng Thống Dương Văn Minh. Vùng 4 dân đông, kinh tế phồn thịnh sẽ là nơi quy tụ những anh hùng. Khi ba người trở lại chỗ cũ thì thấy mấy anh em thuộc trung đội Quân Báo của Thượng Sĩ Bé đang ngồi nhìn dáo dác chung quanh. Bé nói:

- Em giật mình thức dậy không thấy Thiếu Tá và hai Đại Úy nên gọi anh em dậy đi tìm!

Tiểu Đoàn trưởng cám ơn rồi bảo mọi người đi ngủ. Tình cảm anh em vẫn còn gắn bó quá, thật không có gì thay đổi dù Tiểu Đoàn trưởng bây giờ không còn là Tiểu Đoàn trưởng, sĩ quan không còn là sĩ quan… Ðặt lưng nằm xuống, nhưng ba người vẫn không ngủ được. Giờ phút này, thật sự chỉ có giờ phút này mới nghĩ đến gia đình vợ con, mấy ngày qua chỉ nghĩ đến sự an nguy của đơn vị. Chỉ có những người lính chiến đấu mới biết rõ điều này hơn ai hết. Một đêm yên lành, thể xác bềnh bồng trôi qua đêm. Sáng 1 tháng 5, nắng đã lên ngoài sân chùa.

- Mời Trung Tá, Thiếu Tá uống trà! Nguyễn Toàn, nguyên là người phụ trách cơm nước cho Tiểu Đoàn trưởng, pha trà và mời.

-Thôi anh Toàn, đừng gọi trung tá, thiếu tá, đại úy gì nữa, mọi người đều như nhau, cùng một hoàn cảnh cả!

- Dạ, nhưng tụi em vẫn xem như không có gì thay đổi!

Tiểu Đoàn trưởng quay qua người lính quân báo bên cạnh, hỏi nhỏ:

- Cây súng nhỏ của tôi cậu còn giữ không?

Người lính nở nụ cười:

- Em xin lỗi, em cố giữ như lời Thiếu Tá dặn, nhưng mấy anh em khuyên em ném nó đi, coi chừng Thiếu Tá nóng nảy làm bậy, khổ cho gia đình. Tụi em thấy mấy người du kích có vẻ nể nang chúng ta, họ không dám làm nhục Thiếu Tá và các vị sĩ quan đâu. Loạng quạng tụi em bẻ họng tụi nó hết!

Khoảng 11 giờ trưa, xã đội trưởng xuống gặp Tiểu Đoàn trưởng, yêu cầu tập trung binh sĩ để nhận giấy chứng nhận cho ra về. Theo lời Tiểu Đoàn trưởng, mọi người kéo nhau xuống tập họp tại sân xã. Tiểu Đoàn trưởng và các sĩ quan nhận giấy rồi phát lại cho anh em binh sĩ . Ðứng trước anh em đang tập họp, xã đội trưởng VC nghiêm sắc mặt rồi nói:

- Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam khoan hồng cho tất cả các binh sĩ nguỵ về với gia đình. Yêu cầu khi về địa phương phải đến trình diện chính quyền Cách Mạng. Các sĩ quan cấp Úy cũng sẽ được ra về nội trong chiều nay. Riêng sĩ quan cấp Tá sẽ được chuyển lên Ủy Ban Quận quyết định. Ai nhận giấy tờ xong bây giờ có thể ra về!

Xã đội tưởng dứt lời, đưa mắt nhìn anh em binh sĩ. Anh em vẫn đứng yên, mắt hướng về những người chỉ huy cũ chờ đợi. Tiểu Đoàn trưởng bước đến trước anh em nhưng miệng như không thốt ra được lời nào. Một phút rồi hai phút, bỗng trong hàng quân có tiếng khóc. Tiểu Đoàn trưởng ứa nước mắt. Anh em ứa nước mắt. Tiểu Đoàn trưởng nói và chớp chớp đôi mắt để làm khô nhanh hạt lệ đang ứa ra.

- Ô kìa, sao lại… Anh em! Từ trước đến nay tôi chưa bao giờ thấy một anh em nào khóc, ngay cả khi chứng kiến sự hy sinh của bạn mình. Bây giờ hết chiến tranh rồi, hết chết chóc rồi, anh em sẽ ra về xây dựng cuộc đời mới, sống hạnh phúc với gia đình vợ con thì tại sao lại làm như đàn bà thế, phải vui cười lên chứ. Cười như tôi đây này! Tiểu Đoàn trưởng nói và cố mỉm cười. Cái mỉm cười lạ lùng nhất mà mọi người chưa bao giờ thấy. Anh em mỉm cười theo, có người cười thành tiếng nhưng vẫn có người còn sụt sùi. “TÐ 3/48 chưa bao giờ bại trận, ngay cả bây giờ cũng vậy, không được tỏ ra yếu đuối trước họ, không thể để họ xem thường tinh thần người lính miền Nam”. Tiểu Đoàn trưởng nói thầm với mình rồi quét đôi mắt sáng đầy cương quyết nhìn mọi người. Tiểu Đoàn phó Nguyễn Mạnh Tông gật đầu nhận hiểu. Anh em nhận hiểu như đã nhiều lần nhận hiểu khi nghe cấp chỉ huy mình nói trước giờ xuất quân . – Bây giờ anh em có thể ra về, nhưng hãy trả lời tôi trước khi chúng ta chia tay! Tiểu Đoàn trưởng chống hai tay vào hông, một cử chỉ quen thuộc mỗi lần đứng trước hàng quân. -Tất cả! Ngồi… – Xuống! – Ðứng… – Dậy! Cả ba trăm người trả lời cùng với động tác ngồi xuống và đứng dậy một lượt, âm thanh hùng hồn vang động làm rung rinh tâm hồn những cán binh VC và đồng bào có mặt khiến họ đều nhất loạt vỗ tay. Khi mọi người bắt tay nhau từ giả, Tiểu Đoàn trưởng quay qua hỏi trung sĩ Lê Văn Tạo:

- Ngoài anh Tạo biết gia đình Sơn, còn có ai biết nữa không?

- Chỉ một mình em biết thôi, em đã chuẩn bị tất cả rồi, xác Sơn đã được đưa lên xe lam, chốc nữa em sẽ đưa Sơn về nhà cho gia đình Sơn!

Giọng Tạo thật buồn và anh nói tiếp:

- Nó cố giữ cái máy truyền tin nên bị hụt cẳng khi qua sông, em kêu nó buông cái máy ra mà nó không chịu nghe… Ðánh nhau không chết bây giờ lại chết, may mà sáng nay xác nỗi lên còn không thì …

- Có mấy trăm đây, em lấy mà trả tiền xe!

- Thưa Thiếu Tá không, người chủ xe lam không lấy tiền!

Sơn ơi! Cái chết của em đau lòng mọi người lắm, nhưng em sẽ bất tử trong lòng anh em bởi vì tất cả chúng ta không ai quên được những giờ phút Tiểu Ðoàn lội qua sông để mong đến với Sài Gòn đang kêu cứu.

* * *

Gã tù binh đứng như trời trồng giữa buổi trưa ngày cuối tháng tư nắng gắt. Gã nhắm mắt lại, tai nghe lao xao những lời từ giã. Tay gã muốn cử động khi có bàn tay ai nắm chặt nhưng bàn tay gã như khô đi và cứng ngắt. Gã đứng đó và thấy một dòng sông đang chảy xiết với hình ảnh những người lính vội vã lội qua sông. “Sơn ơi! Sao em không chịu buông cái máy truyền tin, còn giữ nó làm chi trong giờ phút sau cùng khi không còn gọi được một ai, không nghe ai gọi mình!” Hởi con sông đang chảy xiết và sẽ chảy mãi trong trái tim đau đớn của ta! Ta làm sao quên dòng chảy ào ạt của ngươi đã nhận chìm, cuốn trôi đôi tay người lính đang nâng chiếc máy truyền tin lên cao, lên cao. Hỡi người lính muốn qua sông về với Sài Gòn mà chưa qua được! Anh vẫn thấy đôi mắt em hướng về Thủ Ðô buổi sáng 30 tháng Tư. “Ngày xưa khi anh mở mắt chào đời, Mẹ yêu, theo gương người trước chọn lời,… đặt tên cho người nặng tình yêu nước vào nôi ( Phạm Duy). Không biết con sẽ hát bài ca này bao nhiêu lần trong cuộc đời lưu lạc Mẹ ơi!…



Nguyễn Phúc Sông Hương

Tiểu Đoàn trưởng Sư Ðoàn 18 Bộ Binh.
Tù cải tạo.
Hiện sống lưu vong ở Hoa Kỳ.


Ngoc N Hao
#153 Posted : Friday, September 16, 2011 9:21:31 AM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,706
Points: 8,185
Location: France

Thanks: 2255 times
Was thanked: 1524 time(s) in 874 post(s)
AN LỘC, CHIẾN TRƯỜNG ÐI KHÔNG HẸN



Theo lời cung khai và thú nhận của tù hàng binh Cộng Sản mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bắt được, có ba thứ mà cán binh Cộng Sản lo sợ khi vượt Trường Sơn để xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà. Thứ nhất là B.52, thứ nhì là Biệt Kích số 81, và thứ ba là chạm súng với quân Nhảy Dù. Cả ba thứ đó đều hiện hữu và có mặt tại chiến trường An Lộc.



Liên Ðoàn Biệt Cách Nhảy Dù, dân Miền Nam thường gọi tắt là Biệt Cách Dù, Việt Cộng gọi là Biệt Kích số 81, thực ra là đơn vị Tổng Trừ Bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, với quân số khiêm nhường trên bảng cấp số là 916 người, được đào tạo và huấn luyện thuần thục về chiến thuật phản du kích trong chiến tranh ngoại lệ, nhảy toán, thám sát, đột kích, bắt cóc tù binh, đánh phá vào các cơ sở hậu cần của địch. Nhảy vào lòng đất địch để chiến dấu bằng phương tiện nhảy dù, nhưng phần lớn bằng trực thăng vận, âm thầm hoạt động trong vùng khu chiến, cách biệt xa tầm yểm trợ của pháo binh. Bước chân của người chiến binh Biệt Cách Dù đã lần lượt đi qua các chiến trường sôi động một thời vang danh quân sử.

Từ Làng Vei, A Sao, A Lưới, Tà Bạt, Khe Sanh, Lao Bảo quanh năm sương mờ bao phủ của vùng biên giới Việt Lào, vượt lên phương Bắc hoả tuyến với Mai Lộc, Cam Lộ, Ðông Hà, Quảng Trị và xuôi về vùng núi rừng cận duyên của Tam Quan, Bình Ðịnh, Bồng Sơn, An Lão. Ði miệt mài, hành quân không ngơi nghỉ để về Tây Nguyên với Boloven hùng vĩ, đổ xuống Tam Biên, đi Tân Cảnh, Diên Bình và tạm dừng chân, nâng chén quan hà bên bờ sông Dakbla nước chảy ngược dòng của chiến trường Kontum mịt mờ bụi đỏ. Tây Ninh nắng cháy nung người không làm nao lòng chiến sĩ, Bình Giả, Ðồng Xoài nặc nồng mùi tử khí. Khi chiến trường im tiếng xung phong thì bước chân của người chiến binh Biệt Cách Dù vẫn còn dong ruổi trong cuộc hành trình vô định.

Vào An Lộc, chiến trường nặng độ với trung bình mỗi ngày hơn hai ngàn đạn pháo, chiến trường cô đơn khi tổn thất của quân tử thủ mỗi lúc một gia tăng, đánh đêm đánh ngày, dằng dai khi công, khi thủ ròng rã kéo dài suốt tháng.

Cứ mỗi lần Cộng quân gia tăng cường độ pháo kích vào thành phố lả để chuẩn bị cho cuộc tấn công bằng bộ binh ngay sau đó.

Ðêm 04-05-1972, Cộng quân ồ ạt tấn công vào phòng tuyến phía của Biệt Cách Dù.

Ở thế công thì dù sao cũng có ít nhiều sơ hở nhưng khi Biệt Cách Dù ở vào thế thủ thì một con kiến cũng khó lọt qua. Lựu đạn, mìn thi nhau nổ, AK, súng máy rít vang trời. Trận đánh kéo dài đến sáng tỏ trời. Xác địch nằm la liệt, ngổn ngang bên ngoài phòng tuyến. Lần đầu tiên trong trận địa chiến, Biệt Cách Dù tịch thu được 2 khẩu súng phun lửa do Trung Cộng sàn xuất. Trong túi áo của mỗi xác chết đề có mang theo một mảnh giấy nhỏ bề ngang 5 phân, bề dài 20 phân với câu viết ngắn gọn :”Quyết tâm bắt sống Sư Trưởng Sư Ðoàn 5, dựng cờ chiến thắng”. Thì ra bọn này có học tập trước khi lao mình vào tử địa.

Ngày 10-05-1972, Cộng quân bắt đầu pháo kích dữ dội từ 5 giờ sáng, pháo liên tục dòng rã suốt ngày. Người ta đếm có hơn 8,000 quả đạn pháo rơi xuống thành phố. Nhà cửa đã hoang tàn lại thêm hoang tàn. Người ta tiên liệu một cuộc tấn công lớn của Cộng quân sắp xãy ra và trận đánh lớn nổ tung lúc 5 giờ sáng ngày 11-05-1972 với toàn bộ lực lượng còn lại của 4 Sư Ðoàn đang vây hãm An Lộc.

Ðịch ồ ạt tiến vào thành phố từ nhiều phía. Tuyến phòng thủ phía Ðông Bắc của Biệt Ðộng Quân bị thủng, một số Cộng quân lọt vào Ty Chiêu Hồi. Xe tăng T54 xuất hiện nhiều nơi trong thành phố, có chiếc tiến lại gần bản doanh tử thủ của Tướng Lê Văn Hưng và bị bắn cháy. Xe tăng và quân bộ chiến của Cộng Quân bị chặn đứng tại phòng tuyến của Biệt Cách Dù. Trời sáng tỏ và trận đánh trở nên ác liệt. Phòng tuyến phía Tây của Trung Ðoàn 7 Bộ Binh bị thủng và co cụm lại thành từng ổ kháng cự chung quanh Tiểu Khu. Không Quân can thiệp kịp thời, dội bom bên ngoài, bắn phá bên trong thành phố. Xe tăng của Cộng Sản và bộ đội không phối hợp chặt chẽ với nhau khi tấn công vào thành phố, do đó nhiều chiếc xe tăng chạy lạc đường, bị lẻ loi, dễ bị tiêu diệt. Quân trú phòng nhảy ra khỏi vị trí chiến đấu để săn đuổi xe tăng như thợ săn đang săn đuổi con mồi. Ðây là lần thứ hai xe tăng địch đã vào thành phố để biến thành những khối sắt bất động. Ðơn vị nào cũng bắn cháy được xe tăng, kể cả một số ít Ðịa Phương Quân còn lại cũng hăm hở diệt tăng với khẩu M.72 lần đầu tiên được sử dụng. Trận đánh tàn dần lúc 3 giờ chiều với sự thiệt hại nặng nề của Cộng quân. Người ta đếm được 40 xác chiếc xe tăng rải rác đó đây trong thành phố và ngoài tuyến phòng thủ, không kể đến hàng loạt thi thể không toàn vẹn của những người lính đến từ phương Bắc xa xôi. Tuy nhiên An Lộc vẫn còn nằm trong khả năng pháo kích ngày đêm của Cộng Sản, An Lộc vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề của lực lượng bao vây khi quốc lộ 13 chưa được giải toả.

Sư Ðoàn 21 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà với nhiệm vụ giải toả quốc lộ 13, mặc dù tiến quân chậm và vững chắc cũng bị thiệt hại nhiều.





Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù đã lấy lại sinh lực sau lần thất bại tại Ðồi Gió đã trở lại tham chiến và là đơn vị đầu tiên của lực lượng giải toả tiến về An Lộc sau bao trận đánh phục thù ven quốc lộ 13.

Ngày 08 tháng 06 năm 1972 lúc 5 giờ chiều, Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù đến Xa Cam bắt tay vói Tiểu Ðoàn 8 Nhảy Dù do Trung Tá Ðào Thiện Tuyển đang án ngữ tại đây. Xa Cam, cửa ải địa đầu cực Nam An Lộc, khoảng 2 cây số nằm ven quốc lộ 13, một đồn điền với rừng cao su ngang dọc thẳng tắp đã trở thành chiến địa mà Tiểu Ðoàn 8 Nhảy Dù “nhất kiếm trấn ải” tung hoành trong suốt thời gian gần hai tháng để chiến đấu sống còn với lực lượng địch quân có quân số và hoả lực đông và mạnh gấp nhiều lần.

Cái bắt tay của Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù với Tiểu Ðoàn 8 Nhảy Dù như một tiếng sấm vang trời trong cơn mưa tầm tã báo hiệu trời quang mây tạnh sẽ đến. Những người lính Nhảy Dù truyền hơi ấm cho nhau, mỉm cười với ánh mắt long lanh tin tưởng vào ngày tàn của Cộng quân trong chiến trường An Lộc.

Ngày 10 tháng 06 năm 1972, Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù tung toàn bộ lực lượng quét sạch tất cả các ở kháng cự của Cộng quân trong các khu phố phía Bắc Thị Xã, bắt được một tù binh đang thúc thủ dưới hầm sâu. Ðây là một tên bộ đội thuộc Sư Ðoàn 5 Cộng Sản Bắc Việt, sau hơn 6 tháng vượt Trường Sơn để bổ sung cho chiến trường với nhiệm vụ “anh nuôi”. Anh nuôi là tiếng của Việt Cộng dùng để chỉ những tên lính chuyên lo việc bếp núc, nấu ăn cho đơn vị. Gương mặt hốc hác vì hoảng sợ, nước da xanh như tầu lá vì thiếu ánh nắng mặt trời và tay chân hơi run rẩy vì thiếu ăn, Tên bộ đội lắp bắp khai: “Ðơn vị hết người chiến đấu vì bị chết quá nhiều, cho nên Thủ Trưởng bắt buộc em cầm súng ra trận. Em chưa bắn một phát nào, đến đây đã được ba ngày cứ lo đào hầm để tránh bom”. Lời cung khai của tên bộ đội khoảng 18 tuổi với gương mặt non choẹt còn phơn phớt nét thơ ngây của tuổi học trò đã nói lên tình trạng tổn thất bi đát của lực lượng Cộng quân sau gần 2 tháng bao vây và tấn công mà không chiếm nổi An Lộc.

Ngày 12 tháng 06 năm 1972, Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù tái chiếm đồi Ðồng Long, một cao điểm quan trọng nằm sừng sững phía Bắc, cách An Lộc khoảng 500 thước.

Lực lượng tấn công tái chiếm đồi Ðồng Long gồm Ðại Ðội 2 Xung Kích do Ðại Úy Nguyễn Sơn chỉ huy, Ðại Ðội 3 Xung Kích do Ðại Úy Phạm Châu Tài chỉ huy, và 4 toán Thám Sát do Trung Úy Lê Văn Lợi chỉ huy. Biệt Cách Dù chia làm 3 mũi, bọc trái, bọc phải và chính diện hưóng về mục tiêu trước mặt có cao độ 128 thước. Họ xuất quân và đến lưng chừng đồi lúc nửa đêm, đồng loạt xung phong khi hừng đông vừa ló dạng chân trời. Bị đánh bất ngờ và vô cùng táo bạo, lựu đạn tung vào hầm trú ẩn, đạn bắn xối xả vào công sự chiến đấu, những tiếng hét xung phong vang dội một góc trời. Ðịch quân chủ quan và còn mê mệt trong tình trạng ngái ngủ, trở tay không kịp, khoảng hốt bỏ chạy không có thì giờ xỏ chân vào đôi dép râu, nói chi cầm đến khẩu súng để chống trả.

Một số chạy thoát vào rừng để lại sau lưng chiến địa còn nặng mùi khói súng với nhiều xác chết vương vãi đó đây.

Ðột kích là phương pháp tấn công vô cùng táo bạo, đánh nhanh, đánh mạnh với hoả lực tập trung tối đa được Biệt Cách Dù áp dụng trong thời điểm bất ngờ nhất làm cho địch không có thì giờ xoay trở.

Trung Úy Lê Văn Lợi hãnh diện cắm lá Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hoà trên đỉnh đồi Ðồng Long.

Quốc Kỳ rực rỡ căng gió phất phới bay trên nền trời xanh biếc của mùa hè vùng bão lửa. Ðám mây mờ bao phủ vùng trời An Lộc bấy lâu nay lần lần tan biến. Trung Tá Phan Văn Huấn, con chim đầu đàn của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, vào tần số liên lạc với các cánh quân Biệt Cách Dù đang có mặt trên đỉnh đồi Ðồng Long, giọng cảm động, ông nói : ”Chúng ta đã chu toàn nhiệm vụ cao cả nhất mà quân đội đã giao phó, nhiệm vụ phải trả bằng xương máu của các anh em, của các tử sĩ Biệt Cách Dù đã nằm xuống. Tôi thành thật ca ngợi lòng dũng cảm của anh em trong chiến tích hôm nay”.

Chiếm xong đồi Ðồng Long, Biệt Cách Dù truy kích, lục xoát xung quanh, và phát hiện một căn hầm sâu ven rừng, có tiếng động khả nghi bên trong. Tất cả họng súng đen ngòm hướng vào miệng hầm chờ đợi như con hổ rình mồi. Có tiếng hét lớn từ trong đám lính:

- Chui ra ngay, đầu hàng ngay, tao tung lựu đạn vào chết cả đám bây giờ!

- Khoan, dừng tay, coi chừng bắn lầm vào dân! Tiếng nói khẩn cấp của người chỉ huy từ xa vọng lại. Tất cả đều chờ đợi. Bước lại gần miệng hầm, người chỉ huy nói to:

- Chúng tôi là lính Việt Nam Cộng Hoà. Ai trốn trong hầm thì chui ra mau.

Câu nói được lập lại lần thứ hai. Có tiếng thút thít bên trong hầm vọng ra.

- Ra đi, chui ra đi, không sao đâu!

Tiếng người lính thúc dục. Tiếng động bên trong rõ dần. Những ánh mắt long lanh của những chiến binh Biệt Cách Dù chùng xuống khi thấy hai em bé gái 9, 10 tuổi lê lết tấm thân tàn, chậm rãi bò ra khỏi căn hầm trú ẩn.

- Trời ơi! Hai đứa bé gái! Ba má các em đâu, sao lại như thế này? Còn ai trong đó không?

Người chỉ huy nắc nghẹn giọng nói. Hai em bé mặt mũi lem luốc, mắt mờ đẵm lệ, thân mình khô đét như hai bộ xương biết cử động, chỉ lắc đầu sau những câu hỏi dịu dàng của người chỉ huy Biệt Cách Dù. Hai em bé đã tránh bom đạn trong căn hầm này bao lâu rồi, một tháng, hai tháng, lấy gì ăn để sống đến nỗi thân thể phải xác xơ như thế này!

Ôi chiến tranh! Chiến tranh tàn khốc mà người Cộng Sản đã mang đến cho dân tộc mình như thế đó.



[b]AN LỘC ÐỊA SỬ LƯU CHIẾN TÍCH





Kể từ ngày cắm lá Quốc Kỳ trên đỉnh Ðồng Long, Biệt Cách Dù bung ra khỏi thành phố và án ngữ trong các khu rừng phía Bắc An Lộc. Thành phố tuy sạch bóng quân thù, nhưng mức độ pháo kích vẫn còn rời rạc, vô chừng.

An Lộc đã được giải toả trong điêu tàn và đổ vỡ! An Lộc sụp đổ hoang tàn trong cái hình hài đấy vết đạn bom, nhưng An Lộc đã đi vào huyền thoại của những người tử thủ.

“An Lộc địa sử ghi chiến tích,
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân”


Trong hoang tàn và đổ vỡ của một thành phố đã chịu đựng sức tàn phá hãi hùng của đạn bom, hai câu thơ của cô giáo Pha được Biệt Cách Dù cứu thoát khi bị thương, được khắc trên đài tưởng niệm trước nghĩa trang bên phố chợ đìu hiu, mà trong đó 68 nấm mồ của tử sĩ Biệt Cách Dù được chôn vội vã từng đêm khi chiến trận tàn khốc xảy ra đã làm mủi lòng dân cả nước với lòng ngưỡng mộ và niềm xúc cảm vô biên.

Sau khi đồi Ðồng Long được tái chiếm, thành phố An Lộc xem như được giải toả, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 lần đầu tiên đến thăm An Lộc và Trung Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, là người đầu tiên được vinh thăng Ðại Tá tại mặt trận. Tác giả Sao Bắc Ðẩu, trong cuốn “Một ngày trong An Lộc”, trang 296 và 297 đã ghi lại việc thăng cấp như sau:

“Một ông Ðại Tá mặt trận"

Trung Tướng Minh cẩn thận giải thích rằng không phải chỉ riêng Trung Tá Huấn, Chỉ Huy Trưởng Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù là có công, là xứng đáng được tặng thưởng. Sở dĩ ông cẩn thận như vậy là ngại có người sẽ hỏi: “Tại sao chỉ một mình Trung Tá Huấn được thăng cấp tại mặt trận?”. Tướng Minh cẩn thận như vậy cũng phải, nhưng trên thực tế, không ai có ý phân bì với tân Ðại Tá Huấn cả. Những người lính Biệt Cách của ông đã chiến đấu hơn một người lính và đã giúp đỡ dân chúng hơn một cán bộ Chiến Tranh Chính Trị.

Chính một binh sĩ của Tiểu Ðoàn 2 Nhảy Dù đã xác nhận với chúng tôi rằng đó là “những người lính tuyệt”. Một người khác kể lại rằng nếu không gặp lính Biệt Cách thì hai đứa trẻ nằm trong hầm 70 ngày đã chết vì lựu đạn. Anh này khẳng định:

- Miệng hầm trông khả nghi lắm. Lại nghe văng vẳng có tiếng động. Gặp người nhát là phải tung lựu đạn trước khi xuống.

Nhưng những anh Biệt Cách của Ðại Tá Huấn đã không tung lựu đạn xuống. Họ kiên nhẫn nằm trên miệng hố rình rập vì họ nghĩ rằng dù có lính Bắc Việt phía dưới thì những người này cũng đói lả không còn sức kháng cự nữa. Cuối cùng họ đã cứu sống được hai em nhỏ, nạn nhân chiến cuộc.

Tôi hỏi vị Ðại Tá tân thăng:

- Người ta nóí với chúng tôi rằng dân chúng An Lộc lập một nghĩa trang riêng để chôn những tử sĩ của Ðại Tá. Xin Ðại Tá cho chúng tôi hiểu rõ vì lý do nào, ngưòi lính Biệt Cách lại có một tác phong đặc biệt đối với dân chúng như vậy?

- Tôi thiết tưởng điều này cũng dễ hiểu. Anh nghĩ coi, từ trước đến nay, lính Biệt Cách chúng tôi chỉ nhảy từng toán 5 người vào tác chiến sau lưng địch. Nói một cách khác, chúng tôi đã quen sống với thái độ thù địch của dân chúng trong vùng chiến dấu. Ðây là lần đầu tiên chúng tôi là bạn chứ không phải là thù, dân chúng giúp đỡ chứ không chống lại chúng tôi”.

Biệt Cách Dù nhảy vào An Lộc ngày 16-04-1972 và rời khỏi An Lộc ngày 24-06-1972. tình ra đúng 68 ngày tham chiến.

68 ngày tử chiến với 68 Biệt Cách Dù hy sinh và trên 300 bị thương, trong mưa pháo kinh hoàng, ngày cũng như đêm không tròn giấc ngủ, đục tường, khoét vách, đào hầm để giành lại từng tấc dất trong tay quân thù. Chiến đấu trong từng căn nhà, từng khu phố, từng đoạn đường lỗ chỗ hố bom, vùng lên diệt xe tăng cũng như đồng loạt truy kích khi địch đã tàn hơi, và cuối cùng cắm lá Quốc Kỳ trên đỉnh Ðồng Long tượng trưng cho sự chiến thắng, hình ảnh người chiến binh Biệt Cách Dù mãi mãi sống trong tâm hồn người dân An Lộc, hình ảnh dũng cảm, can trường biểu tượng cho sự chịu đựng bền bỉ, sức chiến đấu hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.

48 giờ sau khi rời khỏi chíến trường An Lộc, ngày 26-06-1972, Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù đã có mặt tại miền hoả tuyến để tham gia chiến dịch “ba tháng vùng lên tái chiếm Quảng Trị”. Còn giặc thù, còn chiến trường, người chiến binh Biệt Cách Dù vẫn còn xông pha tiến bước, dù một lần sảy chân nằm yên trong nghĩa trang hiu quạnh thì đó cũng là một điều vinh quang cho người chiến sĩ để báo đền ơn Tổ Quốc.




[b]Hổ Xám Phạm Châu Tài




Ngoc N Hao
#154 Posted : Sunday, September 18, 2011 11:31:45 AM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,706
Points: 8,185
Location: France

Thanks: 2255 times
Was thanked: 1524 time(s) in 874 post(s)
Những người chết sau cùng trong cuộc chiến .



Tác giả ghi lại những gì diễn ra trước mắt mình, ngay trước nhà mình, ngay trong khu phố mình sống, những giờ phút cuối cùng của miền Nam. Ngày ấy, tác giả vừa tròn 15 tuổi.





Viết cho ngày 30 Tháng Tư năm ấy.
Viết cho những người lính cấp bậc nhỏ, nhưng hy sinh lớn.
Viết cho những người lính vô danh,
Vị quốc vong thân lúc thành mất nước tan.
Ai cũng sống cả một đời, nhưng chết chỉ một lần.
Các anh, những người lính nhỏ,
Các anh, những người lính vô danh, nhưng hy sinh vĩ đại....







Suốt 35 năm qua, tôi đã đọc, đã nghe và cũng đã xem nhiều về những hy sinh của các tướng lãnh, sĩ quan cao cấp Việt Nam Cộng Hòa khi nước mất nhà tan vào tay Cộng Sản trong ngày 30 Tháng Tư đau buồn của năm 1975. Lúc ấy tôi được 15 tuổi, chưa trưởng thành, chưa đủ khôn và đủ hiểu biết chuyện đời, nhất là chuyện thời cuộc. Ở tuổi này, tuy chưa đủ lớn, ký ức mình cũng đủ “già dặn” để không quên điều xảy ra. Và trong ý nghĩ đó, có một câu chuyện cho đến giây phút này vẫn còn in đậm trong ký ức của tôi.

Mấy mươi năm qua, tôi cho đó là “chuyện nhỏ.” Sau này, tôi chợt nhận thức, rằng chuyện nhỏ này lại có ý nghĩa vô cùng to lớn mà hôm nay tôi muốn ghi lại và chia sẻ với những ai quý tự do, yêu độc lập và chuộng hòa bình.

Lúc ấy là 09 giờ sáng ngày 30 Tháng Tư, 1975!
————————————————�� �—————————–

Nhiều tiếng khóc sụt sùi vỡ ra bởi lời lẽ chân thành của bà già. Cảm thấy quá đau lòng trước thảm cảnh thương tâm ấy, tôi thẫn thờ bước ra, chợt trông thấy người lính trẻ còn đang đứng dựa cột nơi quán cơm tháng của Dì Mười, khóc rấm rức như trẻ thơ. Ôi, còn đâu người chiến sĩ anh dũng ngày nào! Ôi, còn đâu bộ đồ trận kiêu hùng một thuở! Ðôi vai run run theo tiếng nấc của anh làm tôi bùi ngùi…

Thời khắc ấy cách đây đúng 35 năm, trong cảnh hỗn mang của ngày tàn cuộc chiến, trong xóm tôi ở Ngã Năm Bình Hòa-Gia Ðịnh, bỗng xuất hiện bốn năm người lính Nhảy Dù. Họ chạy lúp xúp men theo vách tường nhà Dì Sáu của tôi rồi dừng lại trước nhà tôi. Tất cả đều còn rất trẻ và người họ mang đầy súng ống đạn dược. Áo quần họ bám đầy bụi đỏ. Chỉ cần nhìn thoáng qua, ai cũng biết những người lính này mấy ngày trước đây đã từng xông pha trận mạc. Họ đứng trước khoảng đất trống, ngó dáo dác một đỗi, thì người lính có mang một bông mai trên cổ áo nói, như ra lệnh:

- Anh em đào ở đây đi.

- Tuân lệnh thiếu úy!

Một người trong họ trả lời. Thế là các anh tháo gỡ trên vai xuống mấy cái xẻng cá nhân. Với thao tác nhanh lẹ, phút chốc họ đã biến chúng thành những cái cuốc và bắt đầu đào hố cá nhân.
Trong nhà, má tôi lo lắng ra mặt. Bà đang phân vân chẳng biết có nên di tản không và nếu đi thì chưa biết phải đi đâu. Bất ngờ, bây giờ thấy lính tráng chuẩn bị hầm hố chiến đấu trước cửa nhà, bà thêm hoảng sợ.

Tuổi thiếu niên đang lớn, hiếu kỳ, tôi tò mò bước ra sân, tiến gần đến khoảng đất trống ngồi chồm hổm xem mấy người lính làm việc. Lâu lâu có tiếng đại bác vọng về, tiếng súng bắn lẻ tẻ vang lên đây đó làm cho bầu không khí chết chóc thêm ngột ngạt, hình ảnh chiến tranh thêm rõ nét.

Dân trong xóm tôi nhốn nháo chạy tới chạy lui, mặt mày ai nấy đều lấm la lấm lét khi đi ngang qua nơi mấy người lính đang làm việc. Bộ mặt của thành phố Sài Gòn lúc đó như người bệnh nặng sắp mất.

Ðộ chừng nửa tiếng sau, khi hố được đào khá sâu, một người lính đứng lên, mồ hôi nhễ nhại trên mặt. Anh đưa cánh tay lên cao, quẹt lấy mớ tóc bê bết trên trán để lộ một cái sẹo thật to nơi đuôi mắt phải, đoạn nhìn tôi:

- Em trai chạy vô nhà lấy cho anh xin miếng nước uống đi em.

Tôi đứng dậy co giò phóng vào nhà. Ít phút sau tôi mang ra cho các anh một ca nước đá bự, một cái ly và một ít kẹo đậu phọng với bánh in mà má tôi đưa thêm. Họ ăn, họ uống, họ nói cười vui vẻ, cơ hồ như không có chuyện gì xảy ra. Chỉ có người thiếu úy là không ăn uống gì cả. Người thiếu úy này cũng còn trẻ và đẹp trai như Tây lai nhưng dáng dấp rất phong trần, uy dũng. Tôi đoán chừng tuổi đời anh chỉ khoảng 23, 24 gì thôi. Anh có vẻ như đang lo lắng trước tình hình chiến sự lan rộng nên nét mặt luôn phủ một lớp sương mờ căng thẳng.

Nắng lên khá cao…

Bỗng một tiếng nổ lớn từ đâu dội lại rung chuyển cả mặt đất. Tôi hoảng hốt. Mấy người lính ngưng đào, ngẩng đầu nhìn quanh. Viên thiếu úy ngó về cuối xóm một thoáng rồi nói với đồng đội:

- Anh em cứ tiếp tục đi, để tôi xuống dưới này xem sao.

Người thiếu úy xốc khẩu M-16 đang mang trên vai lên cao và bỏ đi trong tư thế sẵn sàng tác chiến. Bên trong, má tôi gọi tôi vào và không cho ra khỏi nhà, vì sợ đạn lạc. Xế trưa, lúc ông Dương Văn Minh ra lệnh cho binh sĩ buông vũ khí và đầu hàng vô điều kiện thì má tôi vội vã kêu tôi cầm cái radio-casette hiệu Sanyo ra cho những người lính bên ngoài nghe. Trong khi họ còn sững sờ thì viên thiếu úy từ dưới đang vội vã đi lên. Một anh lính trẻ giơ chiếc radio về viên sĩ quan, hớt hải, nghẹn ngào. Anh nói như sắp khóc:

- Thiếu úy, thiếu úy, ông Minh đầu hàng rồi. Mình thua rồi!

Viên sĩ quan khựng lại một lúc rồi chăm chú nhìn vào cái radio trong im lặng não nề. Tiếng ông Minh kêu gọi đầu hàng cứ được lập đi lập lại hoài khiến người sĩ quan trẻ nổi cáu:

- Sao chưa đánh đấm gì đã lo đầu hàng?

Người thiếu úy giận dữ quát tháo, gương mặt đan xen nỗi đau và buồn. Sau một đỗi phân vân, cuối cùng thiếu úy hạ giọng:

- Thôi đi.

Thế là họ bỏ chiến hào đang đào dang dở và hấp tấp chạy trở ra đường. Ðộ chừng một tiếng đồng hồ sau, người ta nghe nhiều tiếng súng AK-47 nổ giòn giã rồi tiếng M-16 bắn liên thanh đáp trả. Lẫn lộn trong đó thỉnh thoảng có cả tiếng súng M-79 đệm vào. Ðứng trong sân nhà nhìn ra, tôi thấy có vài cột khói đen bốc lên cao.

Từ bên ngoài, vài người trong xóm tôi tất tả chạy về. Gặp má tôi đang đứng lấp ló nơi cửa, họ báo:

- Ðang đánh nhau ở ngoài Ngã Năm dữ lắm cô Ba.

Ngã Năm Bình Hòa là giao điểm của năm con đường từ năm hướng khác nhau. Năm Mậu Thân 1968, nhiều trận đánh đã diễn ra ở đây khi Lực Lựợng Bảo Vệ Biệt Khu Thủ Ðô của quân đội VNCH ngăn chặn các mũi tiến công của cộng quân từ bên ngoài đổ về qua mấy cửa ngỏ như Gò Vấp, Cầu Bình Lợi, Lò Vôi hay Ðồng Ông Cộ… nên nó trở thành một trọng điểm chiến lược vì là một trong những lộ chính tiến vô thủ đô Saigon.

Chiều cùng ngày, khi lịch sử đã an bài, dân chúng bắt đầu túa ra đường phố. Lớp thì đón quân “Giải Phóng,” lớp khác lại mừng đất nước “Ðộc Lập,” trong khi tôi thì tò mò theo người cậu họ ra xem tình hình ngoài ngõ. Nghe thiên hạ bàn tán xôn xao có lính chết ở chỗ Ngã Năm Bình Hòa, cậu cháu tôi lần bước tới quan sát. Một đám đông đang vây quanh trước Nhà Thuốc Tây Tiến Thành, là nhà thuốc của má thằng bạn tôi. Cố gắng chui vào đám người hiếu kỳ ấy và luồn lách một tí, tôi tới được bên trong. Giữa vòng người nọ là xác một người lính nhảy dù nằm chết cứng. Ngực thủng một lỗ lớn, chiến bào loang đầy máu và đã chuyển sang nâu sậm nhưng đôi mắt anh vẫn mở trừng trừng. Nhìn kỹ, tôi chợt giật mình: người đó chính là viên thiếu úy ban sáng!

Ðang còn ngỡ ngàng, tôi bỗng thấy có một thanh niên vẹt đám đông bước lại gần xác người thiếu úy. Anh mặc một chiếc quần tây đen ngắn củn và áo thì rộng lùng thùng như đồ của ai cho chớ không phải của anh vậy. Anh khom người xuống, giơ tay vuốt nhẹ nhàng lấy khuôn mặt lạnh vô hồn kia. Ðôi mắt từ từ nhắm lại và nơi khóe miệng một dòng máu nhỏ rỉ ra bên mép. Dường như chàng thanh niên lâm râm khấn vái điều gì đó nho nhỏ, đoạn anh đứng lên, bước ra với đôi mắt đẫm lệ. Tôi nhận ra ngay anh chính là người lính xin nước tôi lúc sáng, nhờ vết sẹo to nơi đuôi mắt.

Thiên hạ bàn tán sôi nổi khi dòng máu tươi nơi khóe miệng của thi hài đã lâu kia rỉ ra. Người miền Nam vốn duy tâm, thiên hạ tin rằng đấy là một điều linh thiêng vì vị sĩ quan này có lẽ còn có chuyện chi oan ức. Ðột nhiên, chị Bảy bán tạp hóa sau lưng tôi lên tiếng kể lể với những người xung quanh:

- Ông thiếu úy này và mấy người lính của ông ta nấp ở vách tường bên kia kìa. Ðứng trông cửa sổ nhà nhìn qua, tui thấy mấy ổng bắn xuống phía mấy ông “Việt Cộng” ở dưới Ðồng Ông Cộ quá trời. Cuối cùng chắc thấy không xong, ổng biểu mấy người lính của ổng chạy đi còn ổng thì vẫn ở lại. Rồi hình như ổng bị thương sao đó nên bò sang nấp vô Cổng Ðình Thần Bình Hòa này nè. Hai bên còn bắn nhau một lúc lâu nữa và khi không còn nghe tiếng súng thì tui dòm ra thấy ổng lết tới đây rồi chết luôn.

- Hết chiến tranh rồi mà chết, tội nghiệp quá! Không biết có gia đình vợ con gì không? Thân nhân mà hay được chắc là buồn lắm.

Ông già bên cạnh chị Bảy nói theo làm mọi người mủi lòng trước sự hy sinh oai hùng của viên thiếu úy. Chợt một bà cụ cầm tấm chăn, không biết từ đâu, tách đám đông bước vô phủ trùm lên xác người thiếu úy và mếu máo:

- Dù con không có họ hàng gì với bà nhưng bà thấy con chết thảm bà thương quá. Tội nghiệp, con cái nhà ai vậy không biết nữa. Thôi con chết rồi, con hãy thanh thản ra đi và nếu hồn con có thiêng thì phù hộ cho bà con nơi đây được nhiều an lành nha con!

Nhiều tiếng khóc sụt sùi vỡ ra bởi lời lẽ chân thành của bà già. Cảm thấy quá đau lòng trước thảm cảnh thương tâm ấy, tôi thẫn thờ bước ra, chợt trông thấy người lính trẻ còn đang đứng dựa cột nơi quán cơm tháng của Dì Mười khóc rấm rức như trẻ thơ. Ôi, còn đâu người chiến sĩ anh dũng ngày nào! Ôi, còn đâu bộ đồ trận kiêu hùng một thuở! Ðôi vai run run theo tiếng nấc của anh làm tôi bùi ngùi. Ngẩng mặt lên bắt gặp tôi đang nhìn anh trân trối, anh vụt bỏ đi.

Ngó cho đến khi bóng dáng xiêu vẹo của anh khuất nơi cuối chợ, tôi thấy lòng nao nao buồn. Cảm khái trước một nỗi niềm mất mát bao la của tình đồng đội thiêng liêng cao quý lẫn tiếc nuối cuộc đời binh nghiệp nữa đường gãy đổ, tâm hồn tôi tràn ngập cả một sự chua chát to lớn.

Nhưng tôi đâu biết rằng, đó chỉ là khởi điểm của một trang sử đau thương cho dân tộc, cho hàng vạn sinh linh sau này.


(Charleston, South Carolina, ngày 23 tháng 3, năm 2010)

Triều Phong
Duy An
#155 Posted : Monday, September 19, 2011 7:46:02 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 866
Points: 2,669

Thanks: 126 times
Was thanked: 352 time(s) in 248 post(s)
TIỂU-ĐOÀN 82,
BIỆT-ĐỘNG-QUÂN


Trại Lực-lượng Đặc-biệt Plei Me nằm cách thị trấn Pleiku vào khoảng 50 cây-số về hướng nam, được thành lập vào tháng mười năm 1963. Đến 31 tháng mười năm 1970, trại dược bàn giao cho QL/VNCH và trở thành tiểu-đoàn 82 Biệt-động-quân biên-phòng.

Vào cuối năm 1965, quân bắc việt do tướng Chu-huy-Mân chỉ-huy, xử-dụng trung-đoàn 33 bao vây trại LLĐB Plei Me bắt đàu từ đêm 19 tháng mười. Trong khi đó trung-đoàn 32 cộng sản xâm lược được lệnh di-chuyển đến vị-trí đã lựa chọn để phục-kích các đơn-vị VNCH đến giải-vây. Chiến thuật này địch quân xử-dụng rất công-hiệu trong thời gian đánh nhau với quân đội Pháp trước đây. Mở màn cho trận đánh, quân cộng sản pháo kích nặng nề vào trại, sau đó bộ binh thuộc trung đoàn 33 xung phong tấn công. Các chiến sĩ LLĐB chiến đấu dũng cảm, đảy lui các đợt xung phong và chờ quân tiếp viện đến giải vây. Lực lượng tăng viện của QL/VNCH bị rơi vào nơi phục kích của trung đoàn 32, nhưng vẫn chống trả phá vỡ kế hoạch của đơn vị này. Đến ngày 23 tháng mười, đoàn quân tiếp viện tiến về hướng Plei Mẹ Trung đoàn 33 sau khi bao vây trại một tuần lễ đành phải rút lui khi viện binh VNCH đến.


BDQ tai Khe Sanh


Đầu tháng mười một, các đơn vị Nhẩy-dù VNCH phối hợp với các đơn vị thuộc sư-đoàn 1 kỵ-binh Hoa Kỳ, tảo thanh các khu vực gần trại Plei Me, thung lũng Ia Drang và rặng núi Chu Pong. Cuộc hành quân tiêu diệt tàn quân của trung đoàn 32, 33 và trung đoàn 66 CSBV. Trận Plei Me được coi như chiến thắng lớn nhất trong năm 1965, để kỷ niệm trận đánh này, bộ tư-lệnh quân-đoàn II đặt tên cho đại bản-doanh BTL/QĐ II là thành Plei Mẹ

Tháng sáu 1974, sư-đoàn 320 CSBV hoạt-động trong vùng Đức Cơ bắt đầu dò thám và chuẩn bị tấn công trại Plei Mẹ Các trung đoàn 48, 64 thêm một tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn phòng không bắt đầu di chuyển đến gần trại để tấn công. Bộ tư-lệnh QDII phản ứng cấp thời, cho tăng viện căn cứ hỏa-lực 711 với trung đoàn 42 thuộc sư-đoàn 22 BB, đồng thời oanh-tạc và pháo kích vào các vùng tập trung quân của địch. Điều này làm cho sư đoàn 320 CSBV dình hoãn cuộc tấn công, tuy nhiên địch vẫn để trung đoàn 48 nằm lại gần Plei Mẹ Sau khi bộ tư-lệnh QDII ra lẹnh cho trung đoàn 42 BB quay trở về tỉnh Bình Định, bộ tư-lệnh mặt trận B3 không bỏ lỡ cơ hội ra lệnh tấn công trại Plei Mẹ

Trách nhiệm phòng thủ căn cứ Plei Me được trao cho tiểu đoàn 82 Biệt-động-quân, ngoài bốn đại-đội tác chiến, tiểu-đoàn được tăng cường thêm đại đội 2, tiểu đoàn 81 BĐQ. Biệt-động-quân rải quân ra giữa hai tiền-đồn Chu Hô và đồi 509 (cao độ), phần còn lại phòng thủ trại chính Plei-Mẹ Cuộc tấn công của quân cộng-sản bắt đầu khi đại đội 2 đang hoạt động bên ngoài. Đơn vị này chống cự mãnh liệt với địch quân và lui dần về căn cứ, về được 22 người trươc khi quân cộng sản siét chặt vòng vây.

Trong trận này, sư đoàn 320 xử dụng ít nhất bốn tiểu đoàn thuộc hai trung đoàn cơ-hữu 9 và 48, tăng cường thêm trung đoàn 26 biệt lập của mặt trận B3 và sau đó thêm trung đoàn 64 để dứt điểm 410 biệt-động-quân thuộc tiểu đoàn 82 và quân tăng viện. Lực lượng yểm trợ cho chiến trường Plei Me, quân bắc việt có tối thiểu 2 khẩu đại bác 130 ly, ba khẩu cối 120 ly, thêm một số súng cối 82 ly và súng không dật 75 ly. Ngoài ra còn có thêm đơn vị phòng không vớI hơn 12 khẩu đại liên 12.7 ly, địch dùng những khẩu này bắn máy bay của không quân VNCH vừa bắn trực xạ vào căn cứ.


BDQ tai Khe Sanh

Dưới cơn mưa pháo của địch, các pháo đài phòng thủ bị xập, binh sĩ Biệt-động-quân vẫn tiếp tục chiến đấu dưới giao thông hào. Bên ngoài hàng rào, xác cộng quân nằm chết rải rác xung quanh sau những đợt tấn công biển ngưới. Trong trận này pháo binh bạn từ căn cứ hỏa lực 711 đã yểm trợ quân trú phòng rất hiệu qủa, ngoài ra còn có thêm pháo binh từ Phú Nhơn bắn yểm trợ cho hướng đông và nam của trại. Sau sáu ngày đêm chiến đấu, tiền đồn Chu Hô nằm bên ngoài mất liên lạc với bộ chỉ huy tiểu đoàn hôm 10 tháng tám, năm ngày sau đó tiền đồn 509 cũng mất về tay giặc. Vài quân nhân BĐQ sống sót thuộc hai tiền đồn trên về cho biết là họ phải bỏ chạy vào rừng vì lý do đã hết lương thực và đạn dược đã gần cạn.

Thanh toán xong hai tiền đồn bên ngoài, quân CSBV dồn hỏa lực tập trung tấn công trại Plei Mẹ Mặ dù đã bị vây gần một tháng không được tiếp tế, tản thương, các quân nhân tiểu đoàn 82 Biệt-động-quân vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến ngày 2 tháng chín, các đơn vị tiếp viện VNCH gồm bộ binh, BĐQ và thiết giáp vào đến căn cứ. Các đơn vị thuộc sư đoàn 320 phải rút đi sau 20 lần tấn công không thành công. Các binh sĩ BĐQ sau khi được tiếp tế, củng cố lại hàng ngũ, tiến ra ngoài trại truy kích địch. Trận Plei Me được coi như chấm dứt khi các binh sĩ Biệt-động-quân thuộc tiểu đoàn 82 tái chiếm lại hai tiền đồn Chu Hô và 509.


Theo tài liệu:

Vietnam from Cease Fire to Capitulation, William Le Gro Washington D.C.,1981.
- The Green Berets, Francis J. Kelly, Brasseýs, New York, 1991.
- The Vietnam Story, Will Fowler, New Jersey, 1983.

Dallas - Texas,23-06-1995

Vũ-đình-Hiếu

xuan hoang
#156 Posted : Tuesday, September 20, 2011 6:54:28 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702
Points: 2,148

Thanks: 376 times
Was thanked: 192 time(s) in 137 post(s)


Không một nấm mồ





11 chiếc thẻ bài thu lượm được . Hỡi những vong linh của đồng đội ngày xưa



Quan Dương xin giới thiệu một bài tạp ghi của Huy Phương


Mới đây việc đồng bào thôn An Dương thuộc quận Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên đã giúp cải táng và xây lăng mộ cho 152 quân nhân VNCH bỏ mình trên bãi biển Thuận An vào những ngày cuối tháng 3, 1975, đã gây lên niềm đau xót mà tưởng chừng như 35 năm nay đã ngủ yên trong quên lãng, không còn ai nhớ đến.

Chiến tranh đã qua rồi, không chỉ một vài chục năm ngắn ngủi, mà đã một thời gian quá dài. Những đứa trẻ mới lớn lên không biết gì quá khứ, những ông già đã qua đời ở ngoài quê hương, ngậm ngùi vì những giấc mộng tàn phai. Ngày nay những hố bom đã được san bằng, đồn lũy đã mất dấu dành cho những nương khoai, trận địa ngày trước máu xương đã đem màu mỡ cho ruộng đồng xanh ngát.

Nhưng có những cánh rừng chỉ còn trơ gốc, có những con sông đã ngừng chảy, biển xưa phải chăng nay là nương dâu. Ngày nay, có những đô thị mới mọc lên, những chốn ăn chơi, giải trí mới mở ra, những khách sạn cao tầng vươn cao trong không gian như thách đố với nỗi nghèo khó vẫn còn tồn tại ở sát mặt đất.

Những người ra đi đã trở về vui chơi, đi suốt chiều dài của đất nước, quên hết chiều dài khổ đau của trận chiến mà cha ông họ đã đóng góp máu xương.

Quá khứ phải chăng đã bị chôn vùi, chiến tranh phải chăng đã không còn ai nhớ đến. Không, những nghĩa trang liệt sĩ bây giờ đã có mặt khắp nơi, bia mộ khang trang, gọi là để nhắc nhở những người đã hy sinh trong cuộc chiến tàn khốc trên quê hương kéo dài hơn ba mươi năm. Bây giờ, “khi đất nước tôi thanh bình, mẹ già lên núi tìm xương con mình” (TCS).

Nhưng không còn gì cho những người thất trận và đồng bào trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Bao nhiêu người đã bỏ mình trên quốc lộ 7B trên đường rút về duyên hải từ Pleiku, bao nhiêu người đã chết trên những bãi biển miền Trung trong cơn tuyệt vọng tìm con đường sống về Nam. Sau khi đất nước ngưng tiếng súng, người ta kêu gọi những người miền Nam đang chiến đấu buông súng, nhưng thực chất tại nhiều địa phương, nhiều cuộc trả thù đã xẩy ra, nhiều nhân viên đảng phái, ngành tình báo, cảnh sát đã bị đưa đi thủ tiêu. Ngay cả với nhiều toán chiến sĩ Biệt Cách Dù 81 ra đầu hàng cũng bị bắn và chôn vùi trong những giếng cạn trại địa phận Long Thành. Bao nhiêu năm qua, tội ác được giấu nhẹm, trong nước không ai dám lên tiếng, không ai dám tiết lộ tin tức cho thân nhân.

Tất cả đều bị vùi dập với đất cát, cỏ cây, qua thời gian, nắng gió, xương tàn cốt mục tan nát theo bùn đất. Ai còn nhớ đến họ, phải chăng người mẹ trước khi qua đời, vẫn còn mang nỗi đau về tin tức một đứa con ba mươi lăm năm nay biệt mù, phải chăng chỉ còn là di ảnh đã ố vàng của một người chồng trên bàn thờ, để nói với đàn con đó là người cha thuở trước.

Không bia mộ, không dấu vết, lặng lẽ, phai tàn và quên lãng.

Những người dân làng trên bãi biển Thuận An đã âm thầm chôn cất những người lính, người dân miền Nam nằm lại trên bãi biển, hay từ cơn sóng biển đưa vào, trong cơn vội vã, thương xót mà không hề bộc lộ. Rồi cơn sóng biển dập vùi, bão lụt tràn bờ, kéo xương cốt những người này trả lại cho trùng dương. Tưởng chừng những linh hồn uổng tử, oan khuất theo cơn gió giật, réo gọi, rên xiết trên những hàng dương oằn mình, run rẩy.

Trên quê hương chúng ta có bao nhiêu nấm mồ tập thể như thế và vì tình người, có bao giờ những người thắng trận nghĩ đến việc khuyến khích dân chúng tại những nơi trận địa, cải táng những thi hài này để tìm ra những tin tức cho những gia đình đã mất con, mất chồng trong cuộc chiến. Câu chuyện này, nếu làm trong thời gian vài ba năm sau khi cuộc chiến mới chấm dứt, khi thịt chưa nát, xương chưa tan, khi còn những dấu tích, chúng ta có thể tìm ra căn cước của những người chết, để giao về cho những gia đình ly tán mất mát, thì đâu có lâm vào cảnh muộn màng như thế. Nhưng điều đó đã không xẩy ra. Những danh từ “bỏ qua quá khứ,” “hòa giải dân tộc,” “xóa bỏ hận thù” chỉ là những câu khẩu hiệu chỉ để nói mua vui. Ngay như chuyện Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, đã có bao nhiêu lời hứa hẹn, đã có bao nhiêu tổ chức ở hải ngoại về nước hy vọng sẽ góp công, góp của để giữ gìn lại những hài cốt của các chiến sĩ miền Nam ngày trước, nhưng cuối cùng chỉ nhận lấy sự hụt hẫng vì những lời hứa suông, giả dối. Ngày nay nghĩa trang này rơi vào cảnh điêu tàn, hoang phế, đất nghĩa trang được “dân sự hóa,” không còn được một tên gọi, không được tôn trọng như là một di tích của lịch sử, mặc cho gió dập mưa vùi.

Rồi thời gian sẽ xóa hết dấu vết.

Chúng ta không có hy vọng gì về một đất nước văn minh, nhân ái để có một nghĩa trang chôn cất người lính của cả hai miền, dù là bên thắng bên thua, nhưng ít ra đối với người thắng trận phải có chút lòng nhân, không chỉ có thái độ trả thù đối với những người bại trận còn sống mà còn đối với những người đã chết. Chính quyền Cộng Sản ngày nay đã quay lưng đi với nỗi đau khổ của đại đa số dân chúng, nên chúng ta cũng hiểu rằng rất khó để kêu gọi tấm lòng nhân đối với những người đã chết. Khi chế độ mới có quyền lực trong tay, họ muốn làm những điều ác để bảo vệ chế độ hơn là lấy điều nhân nghĩa để lo cho dân.

Qua các đợt cứu trợ cùng với các tổ chức đang hướng về quê hương, vì hải ngoại đã thương xót mủi lòng khi nghĩ đến cảnh khổ của đồng bào ruột thịt ở trong nước, mà ngày nay những người bỏ nước ra đi, còn có tấm lòng nghĩ đến những người đã nằm lại, qua các công cuộc đi tìm hài cốt hay tu sửa bia mộ cho những người chiến sĩ VNCH. Qua tin tức, phim ảnh chúng ta đã có dịp thấy cảnh đào xới truy tìm hài cốt của những người lính Mỹ chết tại Việt Nam, với sự yểm trợ tối đa của chính quyền, huy động nhân công đông đảo, phương tiện cơ giới để đào sâu, sàng sảy để tìm những mẫu xương cốt. Lại thấy cảnh bốc mộ của đồng bào đối với hài cốt của những người lính miền Nam được tiến hành với những phương tiện thô sơ, góp nhặt những đốt xương, những chiếc răng còn lại mà cảm thấy đau lòng, xót xa.

Ba mươi lăm năm, một thời gian quá dài. Những bậc sinh thành đã không còn sống để đợi chờ tin con. Những góa phụ đã mòn mỏi héo hon. Ký ức của những đứa con đã không còn chút dấu vết của người cha thời trận mạc. Tất cả đều đã mịt mờ trong quá khứ. Những người lính chiến không bao giờ trở về, thân xác theo cát bụi về với hư vô.

Chiến tranh đã tàn khốc ác độc, mà giữa con người với con người cũng chẳng có lòng thương xót, ba mươi lăm năm rồi vẫn còn đối với nhau như kẻ thù không đội trời chung.

Nếu không như thế, chính phủ CSVN đã bảo trì, giữ gìn, tu bổ Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, theo ý nghĩa “không có người thắng, kẻ thua.” Nếu không như thế, chính phủ CSVN đã có chính sách truy tìm, khuyến khích dân chúng phát giác, khai quật những mồ chôn tập thể, sau ngày tàn cuộc chiến để trả hài cốt về cho những người mẹ mất con, những người vợ góa chồng, những đứa con không cha.

Báo chí trong nước không được phép loan tin những chuyện liên hệ đến chế độ cũ hay hình ảnh người lính VNCH, do đó việc thông tin bị hạn chế, gia đình không thể nào tìm ra những người mất tích trong cuộc chiến. Ðó là chính sách bất nhân của những con tim vô cảm.





Hạ Vi
#157 Posted : Saturday, September 24, 2011 9:43:15 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,640
Points: 14,706
Location: CỏThơm

Thanks: 2605 times
Was thanked: 7175 time(s) in 1914 post(s)

Vui Buồn Võ Bị


Chúng ta, những thư sinh vừa rời khỏi ghế nhà trường theo tiếng gọi non sông lên đường làm lịch sử





Ai lên xứ hoa đào đừng quên mang về một cành hoa
Cho tôi bớt mơ mộng chiều chiều nhìn mây trôi xa xa
Người về từ hôm nao mà lòng còn thương vẫn thương
Bao nhiêu năm tháng cũ mà hồn nào thôi vấn vương
Giờ nầy nhìn sương khói mà thầm mơ
Màu hoa trên mắt ai.
(Hoàng Nguyên)



Đà Lạt là nơi sinh của nhiều loài hoa quý, hoa Anh Đào nở rộ mùa Xuân cùng Mimosa, Penseé, Tulipe và những cụm hoa lan rừng. Hãy nhớ đừng quên mang một vài cành hoa tặng người yêu khi về phép. Đà Lạt là nơi chúng ta chập chững bước vào đời quân ngũ với nhiều ước vọng tương lai, mãi mãi vẫn còn in sâu trong ký ức mỗi một cựu Sinh Viên Sĩ Quan xuất thân từ mái trường Võ Bị. Đà Lạt của một thời đáng yêu và đáng nhớ! Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi! Nghe hơi gió len vào hồn người chiều Xuân mây êm trôi. Thông reo bên suối vắng lòng dạt dào bao ý thơ. Đà Lạt thành phố sương mù đã một thời là của tôi, của anh, của chúng ta, của những chàng trai Võ Bị ê a nhịp bước quân hành.

“Bạn ơi! Quan hà xin cạn chén ly bôi, ngày mai tôi đã, đã đi xa rồi, thành đô yêu dấu vắng bước chân tôi, giữa đoàn hùng binh có tôi đi hàng đầu, chỉ về là khi nước non vui bình yên...” mãi mãi là bài hát không thể nào quên của những buổi cơm chiều đầu đời Tân Khóa Sinh ngồi thẳng lưng, quần áo thùng thình, đầu trọc nhẵn lờ quờ, ăn uống hấp tấp vội vàng, đi đứng theo thế vuông góc cùng những lời xỉ vả vô tội vạ, đầy nước mắt nơi phạn điếm vào những buổi cơm chiều.

Đà Lạt với những cô nữ sinh xinh đẹp của Bùi thị Xuân, Couvent Des-oiseaux, Lyceé Yersin... “Em cao nguyên má đỏ môi hồng, ở đây buổi chiều quanh năm mùa Đông” đã một thời làm chúng ta mê mệt si tình đêm nằm thao thức, mơ mộng viễn vông... Đà Lạt thành phố thơ mộng của núi rừng cao nguyên với đồi thông ngút ngàn và nhiều thác nước uy nghi hùng vĩ. Cam Ly, Pren, Suối Vàng, Gougah, hồ Than Thở, Xuân Hương, khu phố Hòa Bình, những con đường ngoằn ngoèo dốc thẳng gập ghềnh, cùng khí hậu tươi mát quanh năm đã từng đắm say trong lòng biết bao lữ khách! “Đà lạt của người tôi yêu. Từng con phố dài như dốc chiều, có mưa phùn giăng theo sương núi và quanh hồ đôi bóng dập dìu. Đà Lạt của người yêu nhau, như con suối và trăng gối đầu. Như hơi lạnh đan trong quan khói. Và giáo đường hai đứa bên nhau! Đà lạt của người trăm năm. Em chim quyên bay xuống đồng bằng. Đem đồi thông vi vu tiếng thở và hoa đào nở giữa hàng cau..!” (Nghiêu Minh)

Khóa 20 Nguyễn Công Trứ nhập trường cuối năm 1963 và mãn khóa ngày 20-11-1965. Chúng ta, những thư sinh vừa rời khỏi ghế nhà trường theo tiếng gọi non sông lên đường làm lịch sử. Thời gian 2 năm quá ngắn so với một đời người, nhưng lại là thời gian khá dài đáng nhớ nhất của đời lính chúng ta với những ngày tháng thương yêu, đùm bọc lẫn nhau trong gian khổ.





Những bài tập chiến thuật, địa hình, những đêm dạ hành, những buổi học văn hoá cùng những lần bị phạt huấn nhục hành xác từ các niên trưởng đàn anh, những đêm dã chiến đầy gian nan vất vả. Làm sao chúng ta có thể quên được cái cảm giác của ngày được phép dạo phố đầu tiên của người SVSQ Võ Bị sau thời gian bị giam hãm kềm kẹp tứ bề. Những khuôn mặt hốc hác phờ phạc sau ngày dạo phố cuối tuần, cùng khung cảnh mệt mỏi rã rời, trộn lẫn nắng nhạt chiều tàn khu doanh trại, nhưng vẫn hăng hái cho một ngày thứ hai đầu tuần “chào cờ” đầy sôi động. Tất cả là những kỷ niệm để đời.

Bốn mươi tám năm là một quãng đường dài. Những mái tóc xanh ngày xưa bây giờ đã bạc. Những đôi chân và đôi tay rắn chắc, hàng trăm cái nhảy xổm hít đất bây giờ đã yếu. Nhiều khoảng không gian trong ký ức đã bị phủ dày dưới lớp bụi thời gian. Tuy nhiên những địa danh quen thuộc ngày nào mãi mãi vẫn còn tiềm ẩn sâu trong ký ức của mỗi một SVSQ xuất thân cùng một mái trường mẹ. Đồi 1515 nơi tọa lạc của một quân trường, miếu Tiên Sư, ấp Thái Phiên thênh thang với cánh đồng carot, bắp cải, nặc nồng mùi phân cá, đồi Bắc nơi tiền đồn chúng ta thường xuyên canh gác hàng đêm. Nào Lapé Nord, Lapé Sud, đồi 1441 bên bờ hồ Than Thở, đồi 1605 những đêm dã trại lạnh thấu xương mùa Đông buốt giá. Nhiều bản làng dân tộc thiểu số núi rừng với các ngày lễ hội chiên trống hàng năm bên ánh lửa bập bùng; đỉnh Lâm Viên, núi Trinh Nữ cao sừng sững giữa trời, sương mù che phủ quanh năm, nơi thử sức cuối cùng sau 8 tuần lễ huấn nhục để bắt đầu cho một ngày mới “Quỳ xuống Tân Khóa Sinh! Đứng dậy Sinh Viên Sĩ Quan!” trong một đêm giá lạnh âm u hồn tử sĩ tại Vũ Đình Trường. Phố Trần Hưng Đạo, Phan Đình Phùng, khu chợ Hoà Bình, và nhất là cổng sau Tôn Thất Lễ nơi chúng ta thường trốn phố đêm qua ngõ Chi Lăng… và hàng trăm địa danh khác sẽ ở lại với chúng ta cho đến giây phút cuối của đời người.

Bởi vì những nơi đó, trên mỗi con đường, trong từng viên gạch, nơi những bãi cỏ xanh mướt tại Vũ Đình Trường trong những buổi chào cờ sáng thứ hai, những căn phòng ta học khu nhà H, dãy nhà 3 tầng thẳng tắp chia làm 4 khu batiments gọn ghẽ xinh đẹp nơi ta ở, phạn điếm chúng ta ăn, những bản nhạc chúng ta nghe... vẫn còn lảng vảng đâu đó hình ảnh của bạn, của tôi, của các niên trưởng đàn anh đầy tình nghĩa ôm ấp thương yệu, chia ngọt xẻ bùi trong những ngày buồn vui lẫn lộn “thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu!”

Trong suốt 21 năm chiến đấu kiên cường, quân dân Việt Nam Cộng Hòa không có con đường nào khác hơn, không có chọn lựa nào khác hơn là phải chung lưng chiến đấu bảo vệ từng con đường, khu phố, từng ngọn núi, con sông của đất mẹ, bảo vệ quyền được nói những điều chúng ta suy nghĩ, quyền được sống nơi chúng ta muốn sống, quyền đi nhà thờ, đi chùa, quyền được hát bài hát chúng ta thích. Người Sinh Viên Sĩ Quan của Trường Võ Bị Quốc Gia chúng ta cùng chung nhịp bước quân hành với các quân trường bạn, đã đóng góp máu xương vào cuộc chiến đầy chính nghĩa nhưng cũng đầy hy sinh gian khổ đó. Các bạn khóa 20 Nguyễn công Trứ chúng ta, cùng biết bao niên trưởng của các khóa đàn anh khác, đã lần lượt nằm xuống để tô thắm cho đất mẹ Việt Nam, để nền tự do dân chủ được đơm bông kết trái! Nhưng tiếc thay chí lớn không thành, ước vọng đã sớm tan tành mây khói, anh hùng trong một lúc sa cơ đã trở nên người thiên cổ. Xưa nay chinh chiến mấy ai về!

Ngày chúng ta mãn khóa cũng là lúc chiến trường miền Nam đang cực kỳ sôi động, bọn Cộng Sản Hà Nội với sự tiếp tay của tập đoàn cộng sản quốc tế, lợi dụng tình hình chính trị sau cuộc đảo chánh nền đệ nhất Cộng Hòa với cái chết oan uổng của anh em vị tổng thống, và thảm cảnh thanh trừng nội bộ của các tướng lãnh, đã là cơ hội tốt để chúng tung toàn bộ lực lượng chính quy xâm nhập miền Nam. Cuộc đổ bộ tại bờ biển Đông Bắc Đà Nẵng ngày 7-3-1965 của 3500 TQLC Hoa Kỳ đã mở một trang sử mới cho một giai đoạn mới trong cuộc chiến Việt Nam. Mỹ thực sự cầm súng dàn trận chiến đấu với xe tăng, đại bác, không còn chỉ đơn thuần là cố vấn. Chiến trận đã xảy ra khắp nơi và những tin tức dồn dập từ các chiến trường, những mất mát bất ngờ quá sớm của các khóa đàn anh đi trước, đã để lại trong lòng mỗi một chúng ta nhiều nỗi buồn thương tiếc không nguôi. Nhưng chúng ta không nản chí, một Nguyễn Anh Vũ thủ khoa khóa 18 Nhảy Dù, Lê Văn Quế người đại đội trưởng đáng kính trong hệ thống tự chỉ huy Đại Đội F Biệt Động Quân, Võ Thành Kháng thủ khoa khóa 19, niên trưởng Nguyễn Văn Hùng Thủy Quân Lục Chiến... và hàng chục niên trưởng khác đã hy sinh trên mọi miền đất nước trong các trận chiến thử lửa đầu tiên, mặc dầu “chí tuy còn mong tiến bước, nhưng sức không kham nổi đoạn đường, chúng ta cần được dắt dìu. Hỡi các chiến sĩ trận vong!”

Toàn thể khóa 20 chúng ta đồng hát khúc ca quân hành: “Đoàn sinh viên ta xiết chặt dây thân ái. Gieo khắp đó đây những mầm sống vui. Đoàn sinh viên ta vui bước lên. Dù gian nan bao nhiêu khó khăn, đi lên, đi! Ta đoàn Sinh Viên Võ Bị Việt Nam!...” Chúng ta không cầu an lạc dễ dàng mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm. Khóa 20 chúng ta tiếp tục lên đường với tất cả nhiệt tâm của người trai thời chinh chiến. Chúng ta hăng hái tranh nhau tình nguyện về các binh chủng hùng mạnh nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Sự tuyển chọn có giới hạn và không ít các bạn trong chúng ta đã thất vọng vì không đúng theo sở thích và nguyện vọng của mình.





Binh chủng Nhảy Dù 50, Thủy Quân Lục Chiến 25, Biệt Động Quân 50, Lực Lượng đặc biệt 10 trong đó có 3 bạn biệt phái thám báo Quân Đoàn II , tất cả không còn chỗ trống. Số còn lại chia đều về các sư đoàn bộ binh trên 4 vùng chiến thuật. Chúng ta đã có mặt ngay trên chiến trường sau 42 ngày thử thách khóa 23 Rừng Núi Sình Lầy tại trung tâm huấn luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ, có nhiều bạn nôn nóng bỏ học nữa chừng về trình diện đơn vị gấp để được ra ngay ngoài mặt trận, dù có bị phạt cũng chẳng sao! Chúng ta là những hiệp sĩ thiếu kinh nghiệm trên chiến trường. “Em hỏi anh bao giờ trở lại! Anh trả lời mai mốt anh về. Anh trở về hàng cây nghiêng ngã, có khi khi là hòm gỗ cài hoa. Anh trở về bằng chiếc băng ca, trên trực thăng sơn màu tang trắng em ơi!”

Võ Phú Hữu Đại Đội A là người tử nạn duy nhất của khóa khi còn là SVSQ, bạn đã bị đuối sức trong bài thực tập “Vượt sông ứng chế” giữa lòng hồ Than Thở. Còn Đỗ Bá, Sư đoàn 5 Bộ Binh, là người tử trận đầu tiên tại chiến trường sau chỉ một tuần về trình diện đơn vị. Nguyễn Thành Trọng, Huỳnh Văn Dinh, Nguyễn Thanh Vân Sư đoàn 18, Nguyễn Đình Khiêm Sư đoàn 7, Thuận Văn Chàng, Đỗ Đức Thành, Lê Phát Lộc, Trịnh Tiến Hùng, Phan Văn Na Nhảy Dù, Nguyễn Quang Minh, Lê Xuân Lộc, Nguyễn Văn Khương, Nguyễn Tuấn Kiệt, Nguyễn Quốc Chính, Nguyễn Xuân Hoà, Nguyễn Hoa TQLC, Hoàng Đại Đồng, Đoàn Văn Chớ, Đỗ Cơ Danh Biệt Động Quân, Phan Gia Lâm, Nguyễn Tâm Hồng, Trịnh Văn Hơn Sư đoàn1. Trương Đình Bảy Sư Đoàn 2...Tất cả các bạn đó đã là những người sớm đền xong nợ nuớc. Chúng ta - những người may mắn còn lại - không có chọn lựa nào khác hơn là vẫn tiếp tục chiến đấu và hy sinh cho đến những trận chiến sau cùng.

Chúng ta hãnh diện về thành tích nhiều chiến công nơi trận mạc và tài chỉ huy của các bạn Hoàng Mão, Lại Thế Thiết, Nguyễn Thái Bửu, Nguyễn Văn Măng, Huỳnh Bá An những cánh chim đầu đàn của khóa. Những Trần Công Hạnh, Nguyễn Văn Nghiêm, Nguyễn Trọng Nhi, Trương Văn Vân, Lê Hữu Chí Nhảy Dù; Phạm Cang, Nguyễn Văn Sử, Nguyễn Cao Nghiêm, Lê Quang Liễn, Phạm Văn Tiền...TQLC; Vương Mộng Long, Quách Thưởng, Trịnh Trân, Đỗ Đức Chiến, Lê Tấn Tài, Nguyễn Văn Nam, Nguyễn Hữu Mạnh, Lê Thanh Phong, Nguyễn Lương Hào, Trương Đình Hà Biệt Động Quân; Trần Lương Tín, Vũ Quý Ánh, Phạm Hưng Long, Phạm Gia Quang… Sư đoàn 5; Nguyễn Bích, Võ Công Danh Thiết Giáp; Đoàn Minh Phương, Hà công Hách... tất cả đều may mắn tồn tại và chiến đấu trong những điều kiện bất lợi cho đến trận chiến sau cùng. Hòang Đình Đạt cựu SVSQ Tham mưu Tiểu Đoàn Đại Đội H, sĩ quan tiếp liệu trung đoàn của Sư Đoàn 18 Bộ Binh và nhiều bạn khác đã hy sinh vào ngày lịch sử bi hùng 30-4 của dân tộc. Tôn Thất Trân, Huỳnh Túy Viên dù nằm trong tay giặc nhưng vẫn tỏ ra tiết tháo của một cấp chỉ huy gan dạ, nên đã bị địch kết án tử hình trong những ngày đầu bọn giặc cưỡng chiếm miền Nam. Còn nhiều bạn khác cũng đã làm rạng danh cho khóa bằng ý chí sắt đá kiên cường, dù đã trở thành người thương binh trong cuộc chiến. Quách Vĩnh Trường là một điển hình đặc biệt, sau khi giải ngũ đã tiếp tục đến trường, tốt nghiệp thủ khoa Cao học Luật tại Đại Học Sài Gòn, Phạm Văn Yêng luật sư, Trương Dưỡng ngồi xe lăn mà cũng đi học và tốt nghiệp kỹ sư Điện Tử, Trần Thanh Quang với bàn tay còn lại vẫn tiếp tục thành đạt nơi xứ người, Nguyễn Trọng Nhi mặc dầu đến Mỹ muộn màng cũng đã trở thành bác sĩ, Vương Mộng Long tù cộng sản 13 năm, định cư năm 1993 cũng đã tốt nghiệp University of Washington năm 2003 với cấp bằng B.A Social Sciences& Communication và còn rất nhiều bạn khác nữa...

Khóa 20 chúng ta hơn một phần ba đã lần lượt hy sinh và đổ máu trong cuộc chiến đấu cho tự do và dân chủ để bảo vệ miền Nam. Chúng ta đã làm hết sức mình trong cương vị chỉ huy thuộc nhiều đơn vị khác nhau. Sau khi đất nước thân yêu bị giặc cưỡng chiếm, cả dân tộc rơi vào vòng nô lệ của chủ nghĩa Cộng sản độc tài, hàng ngàn chiến sĩ QLVNCH trong đó không ít anh em cùng khóa chúng ta bị đày đọa trong lao tù hay bỏ thây ngoài biển cả mênh mông hoặc mất tích trên đường vượt thoát tìm tự do. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào chúng ta cũng ngẩng đầu cao hãnh diện, gìn giữ tiết tháo của một cấp chỉ huy. Lữ đoàn 147 TQLC với các tiểu đoàn tác chiến được chỉ huy bởi các bạn khóa 20 chúng ta, đã để lại sự cảm mến của nhiều đơn vị bạn, ngay cả trong những giờ phút bi thương nhất của lịch sử. Những gì xảy ra tại bãi biển Thuận An trong những ngày tháng Ba Gãy Súng năm 1975, đã chứng tỏ các bạn ta đã hoàn thành tốt đẹp phương châm “Tự Thắng để Chỉ Huy”, thề sống chết thủy chung với binh sĩ thuộc quyền.

Và chúng ta, bầy chim xanh sống còn sau nhiều trận bão tố cuồng phong, đã may mắn tìm lại nhau, sau gần nửa thế kỷ xa cách, từ lúc thủ khoa Quách Tinh Cần giương cung tên bắn đi khắp 4 phương trời tượng trưng cho chí tang bồng hồ thỉ của người sĩ quan xuất thân từ trường Võ Bị trong ngày lễ mãn khóa. Người SVSQ xuất thân từ trường mẹ, đã vượt qua mọi khó khăn để tổ chức nhiều lần hội ngộ. Từ các thành phố Úc Châu, Âu Châu hay tại nơi Hoa Kỳ chúng ta đang sống. Riêng khóa 20 Nguyễn công Trứ đã nhiều lần hội ngộ mỗi hai năm, San José, Santa Ana, Houston qua nhiều đời hội trưởng. Một Tổng Hội Trưởng Đinh Văn Nguyên E/20 sống và hết lòng với tập thể Võ Bị đã từ bỏ anh em quá đột ngột khi chưa hết một nhiệm kỳ. Một Nguyễn Hữu Thọ, người đại diện khóa đầu tiên may mắn thoát nạn cộng sản định cư sớm tại Hoa Kỳ, dù chỉ còn là một thương binh với chiếc chân giả nhưng rất giàu tình đồng đội, đã nhiều lần về Việt Nam lặn lội khắp nơi hầu giúp đỡ bạn bè trong cơn khốn khó từ các trại tù cải tạo trở về. Anh đến với mọi người với tấm lòng chân thật hào sảng đáng quý. Ở đời mấy ai được như anh! Rồi Nguyễn Hữu Phước, Nguyễn Thanh Đức, Trần Kim Bảng, và nay là Lê Tấn Tài. Tất cả các anh đã làm rạng danh tình tự Võ Bị. Những cuộc họp mặt không ngoài mục đích là tạo điều kiện gặp nhau, tương trợ nhau, nhất là thăm hỏi nhau trong giai đoạn cuối của một đời người. Chúng ta đến với nhau từ một tấm lòng nhân ái, từ con tim thổn thức cùng với quá nhiều kỷ niệm đáng yêu của một thuở quân trường. Đó là những cơ hội để hành khúc Võ Bị được hát vang lên trong niềm kiêu hãnh, để bạn bè cùng một tiểu đội, trung đội, đại đội, cùng khóa trong tiểu đoàn, liên đoàn; tưởng đã nghìn trùng cách biệt, cuối cùng đã xúc động ôm lấy nhau, và trong những lần như thế, những giọt nước mắt cũng nhỏ xuống để tưởng nhớ các bạn đồng môn vừa mới ra đi hay đã yên nghỉ từ lâu trong lòng đất mẹ, đã chết trong lao tù cộng sản, chết âm thầm trên biển cả mênh mông, hoặc đang sống khó khăn tủi nhục nơi quê nhà. Những cái bắt tay thật chặt cùng những biệt danh ngày nào Thầy Tử Lộ, Trần Gia Né, Ni cô Diệu Kiệt, Tài Nhậu, Sơn Sữa, Bích Ngựa, Cảng Moto, Đoàn Kim Sơn Đạo Dừa., Trần Đồng Tý, Hai Ngựa, Chân Mốm, Minh Carré, Tri Gù, Nguyễn Phúc Nham (Long), Gà toi Nguyễn Ngọc Tới..... sẽ được nhắc đến trong mừng mừng, tủi tủi sau gần nửa thế kỷ may mắn còn gặp lại nhau. Những tiếng “ĐM!” được liên tục phát ra trong ứa lệ nghẹn ngào: À thì ra mầy còn sống! Hơn 48 năm qua cá nhân người viết bài nầy xin tạ lỗi với bạn Nguyễn Ngọc Tiền C/20, bị hàm oan vì cái tên cúng cơm “Tiền Bụng” mà các bạn đã ưu ái dành cho tôi. Chuyện của Quít làm mà Cam phải chịu! Lỗi do tôi mọi đàng..., tôi cũng chỉ có tiếng mà không có chút miếng nào, nỗi oan Thị Kính! Hòang Gia Tiến, Lê Ngọc Răng, Ngô Văn Tuận, Phạm Văn Tiền, Nguyễn Ngọc Tới cũng một thời chúng ta cùng nhau đều bước không mỏi mệt đi tìm người mình thương “Từng con phố dài như dốc chiều, hai bên đường hoa Penseé nở và tiếng cười như tiếng thông reo!”

Nhiều, rất nhiều bao chuyện cũ ngày nào cùng biết bao kỷ niệm tưởng như đã nghìn trùng xa cách, giờ đây đã được khơi dậy trong lòng chúng ta bằng nhịp đập con tim và tiếng lòng thổn thức. Cả Liên đoàn SVSQ Đại Đội F năm đầu tiên trừ một ít bạn quá giỏi, thành phần còn lại điểm văn hóa kém nhất vì đề thi Toán Lý Hóa “hóc búa” của thầy Trương Đình Ngữ. Nhờ Papa Phát kéo lại trong bài thi tóan Giải tích, như Papa thường nói “chẳng có ma gì!”

Xin ghi nhận bạn Đỗ Đức Chiến Đại Đội “A” là người có điểm cao nhất về quân sự, còn văn hóa thuộc Quách Tinh Cần Đại Đội “E”. Khóa chúng ta đã qua nhiều đời chỉ huy trưởng, nhưng có lẽ thời Thiếu Tướng Trần Tử Oai và Trung Tá Thành với biệt danh Trung tá “Em” là đáng nhớ nhất. Cờ đen, cờ đỏ được thay phiên nhau trong 8 đại đội thuộc Liên Đoàn SVSQ mà đặc biệt nhất cờ đen thường được dành ưu tiên cho 2 Đại Đội F&H. Mỗi lần nhận được cờ đen là đại đội phải bồng súng cầm tay chạy vòng quanh sân trại. Đây là đề tài gây nhiều tranh cãi và bất bình giữa hai vị đại đội trưởng, đại úy Nguyễn Đình Tạo và Phạm Quang Mỹ. Đại Đội F với đội bóng tròn vô địch Liên Đòan SVSQ cùng các hảo thủ Nguyễn Bích, Nguyễn Hữu Ba, Nguyễn Văn Nghiêm, Đoàn Văn Chớ, Nguyễn Văn Liễu, Nguyễn Văn Măng, Phạm Văn Tiền, Dương Đình Chính, Nguyễn Phúc Long… một thời làm đảo điên các danh thủ Đại Đội H. Bên cạnh đó còn có Phạm Cang vua leo núi Lâm Viên, vô địch hầu hết các giải điền kinh của khóa.

Làm sao có thể quên được nhiều đêm cuối tuần dạ hành băng rừng, vượt suối thâu đêm suốt sáng. Chúng ta phải đi diễn hành đều bước với chiếc áo đi mưa giữa trời nắng chang chang nóng bức. Xin chia sẻ buồn nhiều hơn vui với Sinh Viên Sĩ Quan Đại Đội Trưởng Trương Dưỡng Đại Đội F, khi còn là TKS Đại Diện đã bị Thiếu Tướng Trần Tử Oai đích thân phạt cách chức thật oan ức và phải chịu hình phạt trọng cấm (không vô hồ sơ) chỉ vì đại đội đi không đều bước từ bãi tập trở về doanh trại.





Bốn mươi tám năm, nửa thế kỷ một đời người, thoáng nhanh qua như cơn mộng ảo. Những ngày tù tội ta đã nhường cơm xẻ áo cho nhau, làm sao có thể quên được. Bên cạnh Phạm Cang, Lê Quang Liễn bất khuất hiên ngang cùng nhiều bạn tù khác, bất chấp hiểm nguy đã tổ chức đình công phản đối chế độ cay nghiệt của nhà tù, nên đã dẫn đến biến cố đau thương lịch sử đẫm máu của Trại Cải Tạo Bình Điền tháng Tư 1979. Chúng ta còn niềm kiêu hãnh nào hơn với Vương Mộng Long, Đặng Quốc Trụ, Nguyễn Văn Nghiêm, Trương Văn Vân tổ chức vượt trại nhiều lần, tìm sự sống mong manh trong cái chết là điều chắc chắn. Các bạn ta đã thực sự là những người hùng “Can trường trong chiến bại”.

Các bạn ơi! Hãy ôm nhau mà giữ lấy những bảo vật quý hiếm nầy, hãy cố gắng mà tìm đến nhau đi kẻo trễ, chiều hôm tới rồi! Bạn Nguyễn minh Trí vừa mới từ giã anh em vài tháng trước đây, nay được tin Nguyễn Quang Minh vừa mới mất tại quê nhà, sẽ còn ai nữa sẽ tiếp tục khi túi thời gian còn lại quá ít ỏi hiếm hoi. Xin ghi nhận công lao về một thứ tình người tuyệt vời của các bạn khóa 20 NCT về trường hợp Trương Đình Hà G/20 tứ cố vô thân nơi xứ lạ quê người với cơn bạo bệnh, các bạn đã tìm đến tận miền Missouri xa xôi mang về trong vòng tay ôm ấp của khóa. Xin ngưỡng mộ trước tấm lòng vàng của bạn Nguyễn Thanh Đức, và nhất là gia đình anh chị Nguyễn Phú Hữu cùng đại diện khóa Lê tấn Tài. Hình ảnh bạn Tài ngồi bên giường bệnh để cắt móng tay, móng chân cho bạn Hà đã làm nhiều người cảm động, rơi nước mắt!! Và cả khóa chúng ta tại miền Bắc Cali đã lo chu đáo cho bạn mình đến giờ phút cuối cùng, nghĩa tử là nghĩa tận với đủ nghi thức của một cựu SVSQ xuất thân từ trường Võ Bị.

Không những thế khóa chúng ta còn có những người vợ, những bà mẹ tuyệt vời, dù rằng các bạn ta đã ra người thiên cổ. Chị Hoàng Đình Đạt, Chị Vũ Tiến Tường (Maria Châu), Chị Nguyễn Bá Kỳ, Chị Trần Tấn Hòa, Chị Đinh Văn Nguyên, Chị Trần Văn Hải, Chị Trịnh Tiến Hùng, Chị Trần Văn Thọ, Chị Lê Ngọc Ẩn, Chị Hoàng Thúc Kháng, Chị Trần Văn Trương, Chị Nguyễn Thành Nhu... đã là tấm gương sáng cho người phụ nữ Việt Nam, suốt đời ôm ấp, chung thủy, nâng niu và trân trọng những kỷ niệm quý hiếm của chồng, nên đã thường xuyên đến với khóa chúng ta trong mỗi lần hội ngộ. Không những thế các chị còn thường xuyên đóng góp, giúp đỡ gia đình của nhiều người cùng chung hoàn cảnh nhưng rất khó khăn tại quê nhà ngay cả thân nhân của các bạn đã khuất. Gia đình cha mẹ của bạn Huỳnh Văn Dinh, cụ bà mẹ của Nguyễn Quốc Chính. Xin ghi nhận công lao của bạn Hoàng Đình Hiệp và cả khóa chúng ta hết lòng lo cho gia đình bạn Huỳnh Túy Viên với số tiền gây quỹ trên 10 ngàn Mỹ kim để sớm được định cư sang Hoa Kỳ nhưng kết quả không đạt được vì chị Viên đã mất, tuy nhiên với số tiền đó chúng ta cũng vẫn tiếp tục gởi hết về cho các con anh. Bên cạnh đó chúng ta cũng lo cho mồ mả bạn Nguyễn Đức Nhị được tươm tất đàng hoàn theo yêu cầu của gia đình bạn ta ở quê nhà. Nguyễn Đắc Kiên, Lê Thương Mẫn, Nguyễn Thành Vân... sống hết lòng và tròn bổn phận đại diện cho khóa tại quê nhà. Chúng ta vẫn hướng lòng mình với anh em bằng những quà Tết hàng năm, không những chỉ riêng trong khóa mà còn nới rộng thêm ở nhiều khóa khác. Phải thành thật công nhận rằng khóa 20 chúng ta đã thể hiện được tấm lòng của tình bằng hữu. Chúng ta đã làm được nhiều điều tốt qua lòng nhiệt tâm và tận tụy của đại diện khóa Lê Tấn Tài. Tất cả chỉ vì “Tình tự Võ Bị” dù ở hải ngoại hay tại quê nhà, chúng ta luôn gắn bó với nhau như tình anh em ruột thịt, chúng ta dìu dắt nhau cho đến cuối cuộc đời.

Với các bạn dù đã tử trận hay đã từ trần, chúng ta xin dâng một nén nhang thơm cầu xin các anh về chứng giám tình đoàn kết của khóa chúng ta trong ngày hợp mặt, ngày Đại Hội Khóa 20 kỷ niệm “48 Năm Hội Ngộ” 3-4 tháng 9 năm 2011 tại miền Nam Cali, Hoa Kỳ.

Chúng ta đã hay đánh rơi nhiều thứ quý giá trong cuộc đời nầy, nhưng có những thứ chúng ta sẽ không bao giờ mất và luôn giữ trong tim. Đó là tình chiến hữu, tình đồng môn cùng khóa, cùng trường và khát vọng Dân Chủ cho dân tộc Việt Nam.

Chúc các bạn thêm một lần nữa, ngày họp khóa 20 Nguyễn Công Trứ thành công.

Viết cho ngày họp mặt khóa 20 Nguyễn Công Trứ, 48 năm sau ngày nhập trường



SVSQ Phạm Văn Tiền F/20






coffeebean
#158 Posted : Tuesday, September 27, 2011 12:34:07 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,221
Points: 2,676

Thanks: 232 times
Was thanked: 760 time(s) in 350 post(s)



Nhớ anh


Trong thời khắc quê hương đau tủi hận
Nhớ đến anh người lính chiến Việt Nam
Bóng quân đi giữ thôn xóm an lành
Rợp màu cờ tự do tung phất phới

Vẫn nhớ anh những người trai sông núi
Giòng anh hùng đi tiếp nối sử xanh
Giờ quê mẹ đang trong cuộc tử sinh
Nhớ đến anh sáng ngời gương chính khí

Anh hãy về giữa núi sông hùng vỹ
Hun lòng son người quật khởi vùng lên
Cứu non sông thoát bè lũ tham hèn
Đưa đất nước thoát gông xiềng Bắc thuộc

Anh hãy về giữa đồng bào ngơ ngác
Dấy vang lời dân tộc rất thiêng liêng
Đất nước Nam của dân Nam oanh liệt
Hãy đứng lên hào khí sáng trời Nam



Tìm Anh
Hoàng Lan - Hoàng Thi Thơ

http://youtu.be/AZg05rjqESA

Tim anh

Tôi đi tìm anh vì nhớ đến tên anh
Vì nhớ bóng trăng thanh treo đầu cành.
Những đêm trời xanh làng xóm sống yên lành
Dậy tiếng hát quân hành bóng anh qua mành...

Tôi đi tìm anh người lính quá hiên ngang
Cầm súng giữ giang san xây Cộng Hòa.
Tôi đi tìm anh giòng máu thắm vô cùng
Hình bóng những anh hùng thiên thu không nhòa.

Anh ơi bây giờ anh ở đâu: Bến Hải hay Cà Mau ?
Anh ơi bây giờ anh ở đâu, góc biển hay rừng sâu ?
Anh ơi bây giờ anh ở đâu, biên cương hay nông trường ?
Xóm làng đêm ngày, nhớ anh từng phút lại từng giây.

Tôi đi tìm anh vì nhớ đến tên anh
Vì nhớ bóng trăng thanh treo đầu cành.
Tôi đi tìm anh giòng máu thắm vô cùng
Hình bóng những anh hùng thiên thu không nhòa.


Ngoc N Hao
#159 Posted : Friday, September 30, 2011 9:46:36 AM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,706
Points: 8,185
Location: France

Thanks: 2255 times
Was thanked: 1524 time(s) in 874 post(s)
Trảng Bom Bão Lửa



Trảng Bom-Hố Nai ngày 29-4-1975

Bút Ký Chiến Trường
:::Kỵ Binh Vũ Ðình Lưu:::
(Chi đoàn trưởng Chi Ðoàn 2/5 Thiết Kỵ)





Đặc Nhiệm (Sư Đoàn 18 BB) sau những ngày quần thảo ác liệt với Đại binh CSBV tại Quốc Lộ 20, khu vực Dầu Giây, ấp Nguyễn Thái Học bị tổn thất nặng nề. Chiều tối ngày 15-4-75 toàn bộ lực lượng mở đường máu về ấp Bàu Hàm. (xem bài “Quốc Lộ 20, hành lang của Tử Thần” cùng tác giả.)

Với 12 ngày đêm vừa qua, mặc dù chỉ là một khoảng thời gian ngắn ngủi. Nhưng người lính Cộng Hòa đã gánh chịu bao đau thương chồng chất. Lính khổ, gia đình lính chịu nhiều thiệt thòi, lính lấy hai chữ số phận, vì đất nước chưa đến hồi thanh bình để tự an ủi chính mình, nên lính mỉm cười. Nhưng, dân khổ lính không cầm được nước mắt.Vì thế cuộc đã được sắp đặt từ trước của các siêu cường quốc, nên người lính không cản ngăn được sức tấn công điên cuồng của CSBV để cưởng chiếm miền Nam VN.

Nước mắt của người lính tuôn rơi, khi chứng kiến hàng đoàn người vội vàng, tức tưởi gánh gồng thoát vùng lửa đạn Chiến tranh sắp đến trên Quốc Lộ 20. Những cụ già, những em bé hai chân run rẩy, bỏng rát trên mặt đường nhựa bốc khói của nắng tháng 4. Chỉ trên vài ba chục cây số trên Lộ 20, chỉ có một khoảng thời gian ngắn ngủi đã là như thế, huống chi trên khắp quê hương miền Nam trong suốt chiều dài cuộc chiến! Người lính chiến trẻ chúng tôi chấp nhận quá khứ, xếp bút nghiêng để khoác vào người chiếc áo trận.Với hiện tại dù hiểm nguy không sờn lòng và cả tương lai đang mịt mù trước mắt.
Sáng ngày 16-4-75 Trung Đoàn 52 BB còn lại về Long Bình. Chi Đoàn 2/5 Thiết Kỵ (CĐ 2/5 TK) di chuyển ra Trảng Bom tăng phái cho Lữ Đoàn 3 Xung Kích (LĐ 3 XK). Chi Đoàn được Tướng Khôi cho làm lực lượng Trừ bị và tu bổ xe cộ, bổ sung quân số, tiếp tế nhiên liệu, thực phẩm; chờ lệnh mới.

Ngày 18-4-75 CĐ 2/5 TK di chuyển đến Tam Hiệp-Biên Hòa tăng phái cho Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù (TĐ 7 ND) , đóng quân tại hậu cứ Tiểu Đoàn. Liên quân này làm lực lượng phản ứng nhanh cho Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3, có nhiệm vụ chính là tiếp ứng cho các đơn vị bảo vệ thành phố Biên Hòa khi bị CSBV tấn công. Thiếu Tá Nguyễn Lô và tôi còn nhận nhiều lệnh tối mật trực tiếp từ Tư Lệnh Quân Đoàn là Tướng Toàn .

Đây là lần thứ 4 Chi Đoàn tôi tăng phái cho TĐ 7 ND. Lại gặp một người hùng: Thiếu Tá Nguyễn Lô, một Tiểu Đoàn Trưởng mũ đỏ nổi tiếng. Đơn vị tôi đã từng yểm trợ cho Tiểu Đoàn ông ở mặt trận Hố Bò, Bời Lời, Củ Chi, Bến Cỏ. Trước sức tấn công như vũ bão của lính Dù dưới hỏa lực kinh hồn của Thiết Giáp, liên quân lúc nào cũng làm chủ chiến trường. Một người với vóc dáng nhỏ bé, nhanh nhẹn, uống rượu như hủ chìm, nhưng chưa bao giờ say .Người đã vượt trại giam, đón xe đò ra đi tìm tự do khi trên người vẫn hiên ngang khoác chiếc áo trận rằn ri (nay thành áo tù).
Một trong những mật lệnh đó là bất cứ giá nào, phải bảo vệ cho bằng được những nhân vật quan trọng, cao cấp trong Đặc khu Long Biên và Quân Đoàn 3, đặc biệt là các viên chức Dân, Quân sự Ngoại Quốc. Nhưng tình huống xấu đã không xảy ra.

Đến ngày 20-4-75, TĐ 7 ND và CĐ 2/5 TK di chuyển xuống quận Đức Thạnh (Th/tá Giao làm Quận Trưởng) Tỉnh Phước Tuy. Tối ngày 20-4 liên quân Nhảy Dù-Thiết Giáp này hành quân lên hướng Xà Bang để yểm trợ cho SĐ 18 BB,Tiểu Khu Long Khánh, LĐ 1 Nhảy Dù,Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh (Th/Đ 5 KB-Tr/tá Trần Văn Nô Thiết Đoàn Trưởng, Th/tá Nguyễn Đức Đào Thiết Đoàn Phó) gồm có Chi Đoàn1/5 Chiến Xa (CĐ 1/5 CX-Đại úy Lê Đức Việt Chi Đoàn Trưởng) Chi Đoàn 3/5 Thiết Kỵ (CĐ 3/5 TK-Đại úy Lê Sơn Chi Đoàn Trưởng), BĐQ… từ Xuân Lộc rút về Bình Giả.

Sáng ngày 22- 4-75 Th/Đ 5 KB gồm CĐ 1/5 CX và CĐ 2/5 TK di chuyển về Biên Hòa Hố Nai ( trừ CĐ 3/5 TK tăng phái cho TĐ 7 ND vẫn còn có nhiệm vụ hành quân khu vực Bình Ba-Xà Bang yểm trợ cho các cánh quân chưa về đến Bình Giả ,như vài cánh quân của LĐ 1 ND có nhiệm vụ rút ra sau cùng)



Th/Đ 5 KB về đến Hố Nai, phối hợp với TQLC phòng thủ khu vực Bắc sân bắn Hố Nai. Lợi dụng thời gian tương đối yên tỉnh này toàn bộ Thiết Đoàn củng cố lại đơn vị sau 12 ngày đêm quần thảo đẫm máu với CSBV tại Xuân Lộc. (Tôi có gặp Tr/tá Nguyễn Đằng Tống-Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 468 TQLC (LĐ 468 TQLC) khi thị sát vòng đai phòng thủ. Ông là một trong những Đại Đội Trưởng,Tiểu Đoàn Trưởng nổi tiếng của Binh Chủng TQLC.



Những kỹ niệm thân yêu lại hiện về. “Ngũ quái” TQLC (Chữ của bà chị dâu tôi cũng là chị ruột của Tr/tá Tống) gồm: Tống (Quái Điểu),Tùng (Thần Ưng) Phúc (Trâu Điên), Hoàng, Toàn (Tất cả đều là K 16 VBQG.). Các anh khi về phép thường xuyên lưu lại nhà anh tôi tại Sàigòn và…thiệt tình!… đúng nghĩa với 2 chữ “Ngũ quái”. Anh ta có nói: “ Gặp được mày kỳ này, tao vui lắm, TQLC và Thiết Giáp nhất định phải làm cho Tùng, cho Phúc ở bên kia thế giới hài lòng. Khi nào về phép Sàigòn nhớ cho tao biết để anh em mình cùng đi phòng trà”.
Trưa ngày 28-4-75 CĐ 2/5 TK di chuyển lên Trảng Bom, đóng quân gần sân bay nhỏ (của Đồn điền cao su) phía Bắc QL1. Tôi đứng trên xe nhìn về hướng Long Thành nhiều cột khói đen bốc lên cao; được biết các Thiết Đoàn của LĐ 3 XK đang giao tranh với Chiến xa CSBV khu vực Trường Thiết Giáp Long Thành.

Trảng Bom, nằm trên QL1 kế tiếp Hố Nai về hướng đi Long Khánh. Một Thị trấn nhỏ bé, hiền hòa và thơ mộng, bao bọc bởi những rừng cao su xanh mướt. Trảng Bom vốn đã buồn nay lại càng đìu hiu, dân cư đã di tản gần hết, mấy ngày nay chỉ còn lại là lính.
Đồng bào thôn quê miền Nam mình khổ, bất hạnh đến mức đó sao! Dọc đường 20 từ Định Quán đến Ngã Ba Dầu Giây, rồi đến Trảng Bom, Hố Nai nhà nhà kín cửa then cài, người người tất bật tìm về nơi an toàn hơn. Một dấu hiệu báo trước, một cuộc giao tranh sẽ tiếp theo sau.

Đến 8 giờ tối tôi xin Hỏa Long (danh hiệu truyền tin cùa Tr/tá Nô) di chuyển Chi Đoàn qua phía Nam Quốc Lộ1, cách vị trí cũ chừng 300 mét, phòng thủ chung với Bộ Chỉ Huy Thiết Đoàn và CĐ 1/5 CX từ Hố Nai vừa mới di chuyển lên. Như vậy lực lượng tại đây là Th/Đ 5 KB (trừ CĐ 3/5 tăng phái cho Tiểu Đoàn 3/48-Th/tá Phúc) và một Đại Đội Bộ Binh tùng thiết. Tuyến đầu lúc này là Hưng Nghĩa, Hưng Lộc trấn thủ bởi 2 Trung Đoàn 43 và 48 thuộc SĐ18 BB thay thế cho LĐ 3 XK đã có nhiệm vụ mới ở khu vực trường Thiết Giáp Long Thành, Quốc Lộ 15.

Một giờ sáng ngày 29-4-75 trận chiến bắt đầu.Vị trí đóng quân của CĐ 2/5 TK lúc ban ngày, bị hỏa tập bằng đại pháo 130 ly và hỏa tiển 122 ly. Hàng trăm trái đạn trút xuống một vị trí nhỏ bé, bọn chúng tưởng rằng đủ để Thiết Giáp và Bộ Binh tại đây tan nát. Chúng có ngờ đâu đơn vị tôi đã di chuyển và đóng quân cách đó 300 mét. Hướng Hưng Nghĩa lực lượng CSBC cấp Sư Đoàn tấn công dữ dội vào các đơn vị của 2 Trung Đoàn 43, 48 và CĐ 3/5 TK. Đủ loại âm thanh vọng về, hàng trăm ánh Hỏa châu soi sáng, lửa khói mù mịt khu vực Bàu Cá, Hưng Nghĩa. Tất cả mọi người tại đây đều căng mắt nhìn màn đêm, sẳn sàng cho cuộc giao tranh chắc chắn sẽ đến.
Hỏa Long cứ năm ba phút gọi tôi và Đại úy Việt một lần, trong lòng ông lo âu vì biết trận chiến tàn khốc sắp sửa đến với Thiết Đoàn 5 Ky Binh. Sau hai tiếng đồng hồ căng thẳng từng giây từng phút. Hỏa Long cho tôi và Việt biết CĐ 3/5 hạ được 2 Chiến xa tại Hưng Lộc nhưng phải đổi lấy 2 M 41. Mặt trận tuyến đầu này do Tiểu Đoàn 3/48 BB và CĐ 3/5 TK chống trả quyết liệt trước sức tấn công điên cuồng của CSBV với quân số bộ chiến gấp cả chục lần.Và Chiến xa gấp bội so với số Chiến xa của ta. Nhưng nhờ hai đơn vị thiện chiến đã ngăn cản được phần nào sức tiến công nhanh chóng của bọn chúng về hướng Biên Hòa. Trong lúc đó có nhiều đơn vị bạn đã được lệnh và đang rút về hướng vị trí phòng thủ của Thiết Đoàn. Ông ta lập đi lập lại nhiều lần, thật cẩn thận coi chừng lẫn lộn bạn và địch. Chúng tôi vô cùng phấn khởi trước chiến thắng của hai đơn vị trên.

Tính của Tr/tá Nô hay lo lắng, mọi việc ông đều tiên liệu từ trước. Sống và làm việc gần ông, Đ/ tá Trần VănThoàn, Tr/tá Thái Minh Sơn nhiều năm (khi tôi ở Ban 3 HQ) lúc nào các ông cũng rất cẩn thận, giải quyết khéo léo mọi vấn đề. Từ khi làm việc ở Ban Tham Mưu đến khi Chỉ huy Chi Đoàn tôi học hỏi được nhiều điều hay và rất vinh hạnh làm việc gần 3 ông . Tr/tá Nô người miền Nam (Sa Đéc) phúc hậu. Ông và Tr/tá Sơn đều có bản tánh chất phác, hiền hoà và thương lính, các ông thể hiện rõ ràng là một cấp Chỉ huy lẫn Tham mưu dày dạn kinh nghiệm. Tr/tá Nô vui tính, hay khôi hài để giảm sự căng thẳng khi làm việc, nhưng với ông lệnh lạc thật rõ ràng, cấp dưói phải nghiêm chỉnh thi hành. Còn Đại Tá Thoàn , với bản tính tự tin ,can đảm và nhanh nhẹn. Ông có cách điều quân khéo léo, tấn công thần tốc, phản ứng chớp nhoáng nên các đơn vị hành quân dưới quyền ông rất an tâm.

Khoảng 3 giờ sáng, có rất nhiều bóng người xuất hiện cách xa vị trí đóng quân và bị che khuất bởi rất nhiều cây như chuối, chồi, cỏ tranh cao đến cổ. Dưới ánh sáng mờ ảo của Hỏa châu, chúng tôi không thể xác định bạn hay địch vì hệ thống truyền tin của các đơn vị bạn bận rộn, rối ren không liên lạc được. Cũng không thể dùng ánh sáng cơ hữu vì sợ lộ vị trí.Tôi báo cáo cho Hỏa Long biết, ông nhắc lại quan sát thật cẩn thận, phải biết chính xác là địch mới được tác xạ.

Đoàn người càng ngày càng đông như đi biểu tình, và càng ngày càng tiến gần vị trí Chi Đoàn. Bổng trong hệ thống truyền tin, Th/úy Trự Chi Đội Trưởng nói thật nhanh: “Báo cáo Phi Hổ (Danh hiệu truyền tin của tôi) có nghe tiếng người nói: “Tăng ta hay tăng Ngụy?”. Phản ứng của tôi thật nhanh, ra lệnh các Chi Đội bấm mìn và tác xạ. Hàng chục quả Mìn định hướng (mìn Claymore) được kích hỏa bùng nổ. Hàng chục khẩu Đại liên nhả đạn, súng cá nhân M 16, M 79 của Bộ Binh cùng thi nhau bắn xối xả, như một con sóng lửa đẩy dạt bọn chúng về phía sau. Hỏa Long như hét vào tai tôi “Phi Hổ, coi chừng bắn vào bạn”, tôi xác nhận đó là VC, ông mới an tâm. Tôi lệnh cho 3 khẩu 76 ly của Chiến xa M 41, 3 khẩu 106 ly không giật gắn trên xe M 113 bắn đạn chài khoảng cách nổ 30 mét. Ba khẩu súng cối 81ly của Chi Đoàn và 3 khẩu cối 106 ly của Thiết Đoàn thi nhau phóng những quả đạn nổ với không thuốc bồi chung quanh vị trí phòng thủ. Những quả đạn trái sáng bùng cháy, chúng tôi thấy rõ hàng trăm CSBV với trang bị đầy đủ hốt hoảng dội ngược, la hét chạy tán loạn về phía Đông (hướng chi khu Trảng bom) và hướng Nam (có đường rầy xe lửa). Ngay tức thì hướng Bắc, CĐ 1/5 CX bắt đầu nổ súng càng ngày càng dữ dội. Với hỏa lực của Chiến xa đánh bạt chúng về phía sau một cách nhanh chóng.

Như vậy CSBV hoàn toàn không biết vị trí của Thiết Đoàn, di chuyển ngang qua và gặp phải Thiết Giáp. Tao ngộ chiến, như chui đầu vô ổ kiến lửa! Quá bất ngờ và dưới hỏa lực mạnh của Thiết Giáp, chúng không kịp có một phản ứng nào, chỉ biết tháo chạy tán loạn. Chừng 10 phút sau tôi và Việt cho ngưng tác xạ để quan sát tình hình. Hỏa Long nhắc các Chi đội của Bộ Chỉ Huy bố trí ở hướng Nam và Tây sẳn sàng tác chiến.Tình hình trở lại im lặng, ngộp thở. Chúng tôi biết lực lượng CSBV không dưới cấp Trung Đoàn sẽ tấn công chúng tôi sau khi chỉnh đốn lại hàng ngũ. Và nhất là chúng sẽ điều chỉnh pháo cường tập vào chúng tôi vì vị trí đã bị lộ. Thật tình nói rằng chúng tôi rất sợ pháo của CSBV. Hai bên xung trận, chết sống chúng tôi không sợ. Nhưng sợ pháo, trong thời gian qua chúng tôi đã bị hứng pháo quá nhiều. Riêng chi đoàn tôi tất cả các xe đều bị trúng mảnh gang của đạn pháo, thành xe M113 nào cũng rổ chằn rổ chịt! Nhưng nhờ ơn trên che chở nên chưa hề có một trái đạn nào… chui lọt vào trong xe cả!

Nửa giờ sau phòng tuyến phía Nam bị lực lượng CS cấp Tiểu Đoàn tấn công, các Chi Đội Chỉ Huy của Thiết Đoàn chống trả mãnh liệt. Theo lệnh Hỏa Long tôi điều động một Chi Đội Thiết kỵ và 3 Chiến xa M 41 bung ra khỏi vị trí phòng thủ và đánh ngang hông địch. Chừng nửa giờ giao tranh ác liệt chúng rút lui về hướng Nam. Trong trận đụng độ này đơn vị tôi 3 binh sĩ tử thương, một bị thương, một Hạ Sĩ Quan là Tr/sĩ Hiếu bị thương vì một xe M113 bị trúng hỏa tiển B40 bốc cháy. Tôi đưa anh em bị thương về xe Y Tá của Thiết Đoàn để băng bó vết thương và điều 2 Chi Đội trở về vị trí cũ phòng thủ.







Tình hình lại yên tỉnh, không biết địch mưu toan gì kế tiếp. Chúng tôi không biết sự thiệt hại của lực lượng CSBV như thế nào vì không thể kiểm kê. Nhiều cánh quân tại tuyến đầu là Hưng Lộc, Hưng Nghĩa dựa vào đường rầy xe lửa rút về hướng Hố Nai đã qua khỏi vị trí của Thiết Đoàn. Đến 4 giờ sáng ngày 29-4-75, lực lượng CSBV bắt đầu pháo kích bằng Đại pháo 130 ly. Mới đầu một vài trái rơi khá xa; chúng điều chỉnh từ từ lại gần vị trí đóng quân. Và tiếp theo vài trái rơi chính xác trong chu vi phòng thủ. Hỏa Long cho lệnh bung rộng đội hình để tránh pháo. Sau chừng 10 phút CSBV bắt đầu pháo cường tập vào vị trí. Pháo đủ loại 130 ly 122 ly, cối 82 ly đổ ập xuống vị trí. Chúng tôi bung đội hình rộng thêm, ngay lập tức chạm địch. LLCSBV đông đảo bắt đầu tấn công mãnh liệt. Hướng Nam các Chi Đội Chỉ Huy bị tấn công mạnh bằng Bộ Binh và xử dụng nhiều loại súng chống chiến xa .

Tôi bấm ống Liên hợp Truyền tin xin Hỏa Long cho 3 Xe phun lửa làm việc vì phía ngoài chúng tôi toàn cỏ tranh cao đến đầu người. Ba xe M132 phun ra 2,400 lít xăng đặc nén tạo nên những đám cháy dữ dội bùng lên ở khoảnh cách 200 mét. Tiếp liền một Xe phun lửa bị bắn hạ bởi Đại bác 75 ly bốc cháy ngùn ngụt. Xe M 113 (Xe Y Tá) bị B 40 bắn thủng hông. Thật xui cho các anh em bị thương vừa qua ở trên xe này phải một lần nữa… suýt chết! (Tr/sĩ Hiếu, một Hạ Sĩ Quan hành quân, trẻ nhưng can đảm và nhiều kinh nghiệm, mới có nửa tháng bị thương lần thứ 3!).
Hỏa Long và Th/tá Đào tức tốc điều Chi Đoàn tôi đối đầu với địch ở phía Nam (có đường rầy xe lữa Biên Hòa-Long khánh), để trám vào vị trí các Chi Đội Chỉ Huy đang chao đảo. CĐ1/5CX đánh trả ở hướng Bắc và hướng Đông thay đơn vị tôi. Ba hướng: Nam, Đông, Bắc đều bị sức tấn công dồn dập của CSBV. Chúng biết lực lượng đối đầu chúng là Thiết Giáp Binh nên chúng xử dụng toàn các loại súng chống Chiến xa. Những quả đạn hực lửa của B 40, B 41, Đại bác 57 ly, 75 ly không giật, tới tấp bay vào đội hình Thiết Đoàn. Các Chi Đội Chỉ Huy chuyển sang thủ hướng Tây (hướng về Hố Nai). Sau hơn một giờ giằng co bất phân thắng bại. Hỏa Long ra lệnh lui binh.
Lại lệnh lui binh! Lệnh từ trên ban xuống, chúng tôi là những cấp Chỉ huy nhỏ, chỉ biết thi hành.Tấn công thì dễ, nhưng lui quân khó biết dường nào. Trong Binh pháp lui binh trong lúc giao tranh ác liệt là chiến thuật khó khăn nhất. Hai tuần lễ đầu tháng 4-75, CĐ 2/5 TK này đã lui binh nhiều lần với tổn thất không nhỏ. Đến nổi phải mở đường máu để bảo toàn lực lượng, giờ phút này lại nhận lệnh… lui binh khi trận chiến đang ác liệt chưa phân thắng bại. Tôi nghĩ quá nguy hiểm khi địch biết chúng tôi quay đầu xe rút lui dù xử dụng thế “Chân vẹt” đi chăng nữa.

Tất cả các đơn vị đều dùng hỏa lực cơ hữu áp dụng thế “Chân vẹt” tối đa để yểm trợ lẫn nhau và tuần tự lui quân. Phi tuần oanh tạc không thấy, Pháo binh im hơi lặng tiếng. Thật sự chiến đấu trong cô đơn và bị động hoàn toàn, buồn thay! Trước đây không lâu tất cả mọi cuộc hành quân chúng tôi chủ động với Phi Pháo yểm trợ đầy đủ. Các đơn vị Trừ bị sẳn sàng nhảy vào vòng chiến nếu cần, còn bây giờ… “mạnh ai nấy lo”, uất nghẹn thay, tủi nhục thay cho một Quân Đội đang bị bức tử.
Các Chi Đội của Bộ Chỉ Huy Thiết Đoàn dẫn đầu xuôi về hướng Tây ( Hố Nai) . CĐ 1/5 CX chống trả, cản hậu hướng Đông và Bắc. CĐ 2/5 TK đánh trả hướng Nam. Tất cả giữ vững đội hình vừa giao tranh vừa rút lui. Khoảng 6 giờ sáng, mới hừng Đông, chúng tôi nhìn thấy nhiều Chiến xa CSBV xuất hiện và đang đuổi theo đoàn quân của chúng tôi. Tôi biết rằng, Chi Đoàn tôi mặc dù vẫn còn 3 Chiến xa M 41, 3 xe M 113 trang bị súng 106 ly không giật nhưng sẽ không địch lại với nhiều Chiến xa T 54. Còn CĐ 1/5 CX sắp giao tranh với T 54 vì chúng cũng sắp đến trong tầm chính xác của Đại bác 76 ly trên Chiến xa M 41.

Tôi liền điều động Chi Đoàn qua bên phải đường rầy xe lửa để lấy lợi thế về địa hình và tạo khoảng cách giữa ta và địch cũng như dễ bề xoay xở hơn. Nhờ địa thế này tránh đạn đạo Đại bác 100 ly của T 54 trực xạ vào cạnh sườn trái. Tất cả đều di chuyển về hướng Hố Nai, chỉ tác xạ cầm chừng và khi thấy rõ địch. Không bao lâu CĐ 1/5 CX bị T 54 tấn công. Đơn vị tôi cũng bị Bộ Binh CSBV bám sát và tấn công mạnh từ bên kia đường rầy, xa hơn nữa là T 54 đang bám theo. Đủ mọi loại súng thi nhau tác xạ, những luồng đạn lửa đan chéo nhau giữa ta và địch. Tình hình trở nên nguy kịch vì Chiến xa T 54 đã bám theo kịp và bắt đầu khai hỏa . Những tiếng rít rợn người của đạn 100 ly, từng cục lửa đỏ hực bay vút qua đội hình của 2 Chi Đoàn và nổ ngay giữa đội hình của Thiết Đoàn. Cộng với Súng cối 82 ly của địch đang rót đạn vào đoàn quân. Việt và tôi chỉ biết vừa chống trả với tất cả mọi hỏa lực cơ hữu vừa di chuyển theo hai bên trái, phải Bộ Chỉ Huy Thiết Đoàn rút về Hố Nai.
Tôi nhìn qua quan sát vài anh em Bộ Binh và Kỵ Binh trên xe Chỉ Huy,họ đang cầu xin một điều gì đó? Xin một phép lạ đến với họ và cho tất cả mọi người đang đối mặt với Tử thần? Trong cơn nguy biến và tuyệt vọng, nói thật ra tâm linh mỗi người đều dậy lên một niềm hy vọng dựa vào các Đấng Quyền Uy. Riêng tôi, đã làm Dấu Thánh Giá cầu xin Đức Chúa Toàn Năng, cầu xin Mẹ Maria đầy ơn phước bao che cho tất cả mọi người lính nơi đây tai qua nạn khỏi. Cầu mong Phép Nhiệm mầu, Quyền năng của Đấng Tối Cao sai khiến và làm thay đồi tình huống cực kỳ nguy hiểm hiện tại.
Dòng suy nghĩ chợt tắt khi hệ thống Truyền tin, Hỏa Long gọi tôi và Việt tiếp chuyện. Trong lúc thập tử nhất sinh ông cho biết có 2 Phi tuần bom Napalm (Bom xăng đặc) đang bay tới. Tôi và Việt bớt lo phần nào, tôi ngửa mặt lên, nhìn thấy những chiếc Khu trục hùng hổ bay sà sát xuống mặt đất. Chúng tôi chưa kịp nói thêm được gì, yêu cầu đánh ở đâu thì những luồng đạn Đại bác 20 ly nổ tóe lửa cách các xe bìa chừng 50 mét. Tiếp đến, một dòng thác lửa cuồn cuộn bùng lên sát hông trái đội hình Chi Đoàn. Một đám lửa lớn nữa trải dài bên hông phải của CĐ 1/5 CX. Trong đời Binh nghiệp của tôi, tôi chưa bao giờ thấy các Sĩ Quan Không Trợ điều chỉnh chính xác như thế này. Hay các Phi Công tài ba liều lĩnh thả những trái bom hết sức mạo hiểm (không giữ khoảng cách an toàn) như hôm nay.

Tôi tự nhủ rằng lần sau đừng có đánh bom kiểu này nữa nha anh bạn Phi Công Khu Trục. Nhưng oái ăm thay không có một lần sau nào nữa cả. Đó là những Phi vụ cuối cùng của các anh, hay những quả bom cuối cùng được thả xuống cho cuộc chiến? Cả hai đều đúng. Tri ân các anh bạn Không Quân đã làm thay đổi tình huống nguy khốn.
Hai đám lửa lớn trải dài kẹp hai bên trái, phải của hai Chi Đoàn và bạt mạnh về hướng địch. Phải khen rằng những anh Phi Công này có kỹ thuật đánh bom Napalm xuất chúng. Khói lửa mù trời, nghẹt thở. Sức nóng bỏng rát của bom xăng hắt vào mặt mọi người và bao trùm bởi khói đen vì những quả bom lửa nổ quá gần vị trí. Thật quá nguy hiểm nhưng nhờ “Thần Lửa” đã tạo ra một khoảng cách khá xa giữa ta và địch, đã đẩy lùi địch về phía sau và đẩy lực lượng ta… về phía trước.
Tất cả tiếng súng bên ta, bên địch đều ngưng hẳn cùng một lúc. Chưa bao giờ có cái lệnh ngưng bắn cho cả 2 bên hiệu quả như lần này!…Tất cả như hoàn hồn, tôi ngước mắt nhìn lên trời 4 chiếc Khu trục đã cất lên tận trời xanh, xa xa những luồng lửa đạn Thượng liên 12ly8 của địch bắn đuổi theo sau một cách tuyệt vọng.

Hỏa Long ra lệnh cho tất cả tăng tốc độ tiến về phía trước. Bỏ lại sau lưng một biển lửa mênh mông. Bỏ lại trên vùng đất mang địa danh Trảng Bom hiền từ những gì tệ hại nhất của trận chiến tàn khốc. Một sự trùng hợp khá bẽ bàng Trảng BOM với HỎA Long, trọn nghĩa hơn là bom đạn và lửa khói đang hiện hữu nơi đây.
Kết quả trận chiến vừa rồi dưới mắt chúng tôi là 1 Chiến xa M 41, 2 M 113, 1 xe M 132 (xe phun lửa) đổi lấy 3 T 54 của địch. Ta- Địch, thua huề hay thắng? Đến giờ phút này, tất cả đều không còn thành vấn đề nữa, theo lệnh trên miễn sao chúng tôi chiến đấu đến cùng. Và chúng tôi đã làm chùn bước trước sức tiến quân của một lực lượng CSBV cấp Sư Đoàn có Chiến xa, Trọng pháo yểm trợ.

Chúng tôi lại chào tạm biệt thêm một Thị trấn của miền Đông đất đỏ đầy máu lửa chiến chinh!.
Bộ Chỉ HuyThiết Đoàn 5 Kỵ binh ,CĐ 1/5 CX và CĐ 2/5 TK di chuyển về Hố Nai lúc 12 giờ trưa ngày 29-4-75 và bố trí trên một ngọn đồi thoai thoải thấp phía sau Nhà Thờ Tân Bắc. Tuyến đầu bây giờ là LĐ 468 TQLC phụ trách, cách vị trí chúng tôi 2 cây số về hướng Trảng Bom.
Theo lời yêu cầu của Tr/tá Nguyễn Đằng Tống Lữ Đoàn Trưởng. Hỏa Long gọi tôi cùng ông gặp Tr/tá Tống để phối hợp phòng thủ. Ba người họp ở bên hông Nhà Thờ Tân Bắc- Hố Nai để phối hợp chiến thuật giữa TQLC và Thiết Giáp trong thời gian sắp tới.

Tr/tá Nô và tôi xuống xe M 113 Chỉ Huy và đi bộ lại chiếc xe JEEP của Tr/tá Tống. Ông tiến tới đón 2 hai người, ông bắt tay Tr/tá Nô xong quay nhìn tôi chăm chăm một lúc, và hỏi: “Đại úy Lưu có lại không Tr/tá ?”. Tôi liền nói lớn: “Em Lưu nè, anh Tống”, hai mắt anh mở lớn nhìn tôi kinh ngạc, ôm choàng lấy người tôi nói: “Trời! mầy đây hả Lưu”. Tôi chợt nhớ là mình chưa kịp rửa mặt, nhìn xuống bộ đồ trận đã đổi thành màu đen với bụi, tro lốm đốm bám đầy mình. Tôi đi lại soi mặt vào chiếc kính chiếu hậu của chiếc JEEP …tôi cũng không nhận ra tôi vì… không giống ai! Bảng tên trên ngực áo cũng đã mất chữ. Te tua quá đổi! Người lính TQLC nhìn mặt tôi và quay đi với nụ cười lén, anh trao cho tôi một “bình ton” nước. Và tôi xóa đi lớp bụi đen thui, đen thủi. Xóa thêm một cơn ác mộng, cơn ác mộng thứ tư trong vòng chưa đầy nửa tháng!

Cả 3 người Tr/tá Nô,Tr/tá Tống và tôi thả bộ ra đường phố Hố Nai để quan sát tình hình. Nhà dân, phố xá đóng cửa kín mít, hàng quán không còn bày bán một thứ gì cả. Có nhiều anh em Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ trang bị vũ khí chạy ngang chạy dọc chỉ chỏ lung tung. Ngày trước khu vực này sầm uất buôn bán nhộn nhịp, tấp nập, hôm nay vắng vẻ đìu hiu quá. Tôi gọi một anh Nghĩa Quân có vẻ là toán trưởng lại đề hỏi chuyện. Anh ta mặc đồ dân sự tay cầm khẩu súng phóng lựu M 79 với 2 dây đạn đầu màu vàng (đạn nổ) và một dây đạn chống chiến xa. Trên vai mang một khẩu M 16. Anh ta giới thiệu anh là Trung Đội Trưởng Nghĩa Quân đang phân công anh em bố trí phòng thủ. Tôi hỏi anh ta có cần thêm đạn gì không? Anh ta bảo rằng anh em TQLC mới cho đạn M 79 chống chiến xa,và một số đạn M 16 .






Đến giờ phút cuối cùng này. Những người Nghĩa Quân chỉ là Lực Lượng Bán Quân Sự, người lính không có số quân còn vững tay súng để sống chết với quê hương! Thán phục các anh, vì lòng yêu làng, thương xóm một lòng với đồng bào đã từ bỏ xứ Đạo, từ bỏ tất cả để từ miền Bắc di cư vào đây năm 1954. Nay các anh cương quyết gìn giữ xóm Đạo, bảo vệ một vùng Đất Thánh! Một hình ảnh đẹp, khó quên. Cầu xin Đức Mẹ ban bình an cho các anh.
Lợi dụng địa hình để có một chu vi phòng thủ tối ưu. Chín Chiến xa M 41 và 3 M 113 có gắn Đại bác bắn thẳng106 ly không giật bố trí quay súng về hướng Đông chờ Chiến xa T 54 của địch. Tất cả các khẩu Đại bác đều nạp đạn chống Chiến xa và sẳn sàng nhả đạn. Phía dưới thung lủng các Chiến Sĩ Mũ Xanh cũng sẳn sàng nghênh chiến.

Hai giờ chiều ngày 29-4-75, trận chiến mới, bắt đầu bùng nổ dữ dội phía thung lủng giữa TQLC và Bộ Binh CSBV. Khoảng nửa giờ sau từ trên đồi nhìn xuống chúng tôi thấy nhiều đám bụi xuất hiện. Nhiều Chiến xa địch đang áp sát nơi đang giao tranh, tiếp đến những cuộc quần thảo khốc liệt giữa Chiến Sĩ Mũ Xanh và địch có T 54 yểm trợ….2 T 54 cháy vì trúng đạn M 72 của TQLC.
Bất ngờ một đoàn trên 10 chiếc Chiến xa T 54 lù lù xuất hiện từ QL 1 di chuyển đến khoảng giữa vị trí phòng thủ của Thiết Đoàn và nơi đang giao tranh dưới thung lũng.Tôi nghĩ rằng chúng dự trù đánh bọc ngang hông lực lượng TQLC và không thấy chúng tôi vì chúng từ dưới địa hình thấp nhìn lên, chúng tôi được che khuất bởi những mô đất trên ngọn đồi.
Có còn cơ hội nào tốt hơn nữa, các Chiến xa T 54 đang đưa hông trước các họng Đại bác. Với khoảng cách 1 km trong tầm của Đại bác 76 ly của CX M 41 và 106 ly bắn thẳng. Tr/tá Nô, Th/tá Đào đã chỉ thị tôi và Việt phối hợp hành động. Mười hai trái đạn rời nòng bay vút vào các T 54. Hai bốc cháy ,hai bay pháo tháp và lật nghiêng. Sáu chiếc còn lại liền quay đầu chỉa Đại bác 100 ly và tác xạ vào chúng tôi. Những trái đạn nổ tung lưng chừng trên triền đồi thoai thoải. Có những quả bay vút qua đầu với tiếng rít rợn người. Mười hai trái đạn nữa rời nòng, thêm 2 T 54 bị hạ.

Hướng Bắc bên kia QL1, TQLC và cả Trung Đoàn CS có Chiến xa yểm trợ đang giao tranh cũng được một giờ rồi. Bây giờ chúng tôi lại nghe tiếng súng lớn nhỏ nổ liên hồi ngoài đường phố Hố Nai. Tiếng súng càng lúc càng gần. Sự phấn khởi của tất cả mọi người trước những Chiến xa T 54 bị hạ chợp tắt nhanh chóng, khi nhìn thấy một đoàn Chiến xa T 54 và Bộ Binh CS nữa xuất hiện ngoài QL1và đang hùng hổ tiến tới. Tiếp đến chúng tấn công cuồng bạo vào Bộ Chỉ Huy của LĐ 468 TQLC và cả lực lượng của TĐ 5 KB. Một M 41 và 2 M 113 bị T 54 bắn banh xác…Chúng tôi rút lui nhanh chóng để khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn!!! Lại chia tay thêm một Thị trấn,một xứ Đạo-vùng Đất Thánh Hố Nai.

Và từ đó tôi không còn gặp lại một người anh, Tr/tá Nguyễn Đằng Tống. Sau này anh đã để lại thân xác trên núi rừng miền Bắc; với 4,5 khúc ruột bị nối vì chiến trận thì làm sao có thể sống được dưới chế độ lao tù CS. Một nén hương lòng thắp lên để nhớ Anh, anh Tống.
Bộ Chỉ Huy Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh, 2 Chi Đoàn rút về đóng quân tại Ngã 3 Tam Hiệp lúc 7 giờ tối ngày 29-4. Nhìn về hướng Phi trường Biên Hoà nhiều cột lửa bốc cao với khói đen cuồn cuộn. Đêm đó chúng tôi nhìn thấy ngoài xa lộ thỉnh thoảng từng cặp Chiến xa CSBV chạy rất nhanh ngang qua vị trí phòng ngự. Chúng tôi nằm im lìm chờ lệnh…



“Thế, Quốc biến lấy gì lo Chiến chinh
-HY SINH-”

Trong lòng đau đớn tột cùng khi kiểm kê lại sự tổn thất vừa qua. CĐ 2/5 TK bây giờ chỉ còn 10 chiếc M 113. Một chiếc Chiến xa M41 tôi thấy tội nghiệp, lẻ loi quá nên cho về với “mái nhà xưa” là CĐ 1/5 CX. Quân số còn lại chỉ vỏn vẹn 50 Kỵ Binh. Chiến tranh ơi! khốc liệt quá, tàn nhẫn quá, chỉ có 1 ngày CĐ 2/5 TK bị tiêu hủy 2 CX M 41 và 2 M 113, 20 Kỵ Binh các cấp loại khỏi vòng chiến đấu. Mới đây thôi chưa đầy 2 tuần lễ của đầu tháng 4, CĐ 2/5 đã bị mất 1 xe M 41, 8 xe M 113 và hơn 1/4 quân số trên QL 20. Chúng tôi cũng như những đơn vị của QLVNCH và tất cả Dân, Quân, Cán, Chính đã và đang HY SINH. Hy sinh để VNCH sống còn. Nhưng đau thương thay cho vận Nước, VNCH thua cuộc! vì sự xếp đặt trên sân khấu chính trị của các Siêu Cường Quốc.
Ngày 30-4-75 toàn bộ lực lượng rút về đến cầu Bình Phước lúc 1giờ chiều. Từ đây mọi sự liên lạc bị cắt đứt. Nhớ một người Thầy trong Binh chủng mà tôi đã từng học hỏi nhiều nhất, từ lúc chập chững vào đời Binh nghiệp đến ngày hôm nay. Nhất là Thầy trò cùng nhau gánh chịu tất cả đau thương nghiệt ngã của ngày vừa qua. Người Thầy Tr/tá Trần Văn Nô đã về lòng đất mẹ năm 1987.
Ngay tại đây Đơn vị tôi bị lực luợng CS khống chế và leo lên các xe.Tôi cố gắng liên lạc với Thiết Đoàn liền bị một Cán binh CS chụp lấy Ống Liên hợp Truyền tin ném đi. Một binh sĩ kề cận tôi chỉa súng vào anh Cán binh này, bị một Cán binh khác dộng báng súng vào người rớt xuống lòng xe. Nếu không có sự kiềm chế tột đỉnh của anh em Kỵ Binh thì chiếc xe M 113 này đã nổ tung, máu lửa tràn ngập. Thế là hết, mất tất cả rồi. Tất cả các súng Đại liên trên xe thay đổi chủ, chúng dẫn 10 xe M 113(thuộc đơn vị tôi) về tại cổng chính Bộ Tổng Tham Mưu. Chúng tôi chứng kiến một cảnh đau lòng, Thiết Giáp ta, Đại liên ta, xạ thủ địch giao tranh với những đơn vị Biệt Kích 81 Nhảy Dù còn cố thủ trong Bộ Tổng Tham Mưu.Vì họ không chấp nhận sự đầu hàng của Lảnh Đạo cao nhất của đất nước. Đau đớn thay! Nhục nhã thay cho một sự đổi đời từ đây!
Lợi dụng sự hỗn loạn của đồng bào, Quân nhân lũ lượt rời nhiệm sở. Anh em Thương binh vết thương còn rỉ máu bị xô đuổi từ Bệnh Viện Cộng Hòa đi về hướng Sàigòn. Tôi xuống xe bỏ cuộc và tháp tùng theo đoàn người, đi được chừng mấy bước, một họng súng AK 47 đen ngòm chỉa thẳng vào ngực, hét lớn “Quay lại xe, bằng không sẽ bắn bỏ”. Tôi đành phải trở lại xe và tháo bỏ thêm đôi giày trận đã theo tôi gẩn 8 năm trời ròng rã. Tôi xỏ đôi bàn chân vào đôi dép quai dọc, với chiếc quần khaki, và chiếc áo mayô cùng màu ôliu. Một lần nữa tôi và anh em đồng đội thân thuộc trà trộn vào đoàn người đủ mọi thành phần thoát khỏi xe M 113. Trong lòng quặn thắt,tim nhói đau tột cùng, như bị buộc phải thoát khỏi lòng người Mẹ bao năm trời bảo bọc, che chở cho những người con yêu quí, để đi về một phương trời vô định.
Tôi ra đi trong tức tưởi nghẹn ngào; ra đi trong âm thầm lặng lẽ. Không kịp nói một lời từ giã với các cấp Chỉ huy, bạn bè và đồng đội. Đầu óc choáng váng, nước mắt tuôn rơi, với từng bước chân mệt mỏi rã rời. Từng bước uể oải, nhọc nhằn xiêu vẹo (bàn chân trái của tôi đã từng bị thương 2 lần, nay không quen mang dép đi xa).Tôi vừa đi vừa nhìn xuống mặt đường thấy bóng mình chao đao nghiêng ngã! Từ Lăng Cha Cả về đến cầu Công Lý (gần nhà anh ruột tôi) mà tôi đi đến 3 tiếng đồng hồ.
Sáng ngày 2-5-75 tôi mới nhờ người cháu chở về nhà tại Thủ Đức với bộ đồ dân sự của ông anh trên người. Tội nghiệp thay! Ba Mẹ vợ và cả vợ tôi vài phút đầu tiên không thể nhận ra tôi. Rồi sau đó tất cả oà khóc. Các con tôi đứng nhìn ngơ ngác, rồi cũng khóc theo (chúng không thề nào nhận ra tôi, vì từ lâu tôi không mặc đồ dân sự ). Mới ngày hôm qua đây, ông Anh rể và bà Mẹ vợ đi tìm tôi qua từng cái xác mặc đồ trận, nẳm gần các xe Thiết Giáp bị cháy, từ ngã tư Thủ Đức đến cầu Rạch Chiếc. Ôi! có hành động nào cảm động bằng. Thương thay !
Tôi đã trở về trong bình an, làm sao cả nhà cầm được nước mắt sung sướng.Tất cả đều khóc, khóc cho tôi được an lành sau cuộc chiến đẫm máu. Khóc cho tôi thân hình còn nguyên vẹn sau bao lần trên chiến trường nghiêng ngã. Tôi nghĩ rằng tất cả mọi người có con em, có chồng là những người lính VNCH. Hay chính những người lính trẻ như chúng tôi, hai ngày nay đều đã khóc. Khóc mừng cho sự sum hợp. Khóc cho sự mất mát lớn lao. Khóc cho một viễn ảnh Việt Nam Hòa Bình.

Những nén hương lòng được thắp và dâng lên để tưởng nhớ những Người quá cố. Đã cùng chia sẻ với chúng tôi trong cơn hồng thủy:


Cố Tr/tá Trần Văn Nô,
Cố Tr/tá Nguyễn Đằng Tống ,
Cố Th/tá Nguyễn Đức Đào,
Cố Đại/úy Lê Đức Việt,
Cố Đại úy Hồ Thúc Hạ,
Cố Th/úy Đỗ Chinh Chiến,
Cố Th/úy Sơn.
Và tất cả Anh Em Chiến sĩ QLVNCH đã hy sinh cho cuộc chiến tháng 4 năm 1975 dọc theo QL 20 và QL1.




Ngoc N Hao
#160 Posted : Friday, September 30, 2011 10:09:36 AM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,706
Points: 8,185
Location: France

Thanks: 2255 times
Was thanked: 1524 time(s) in 874 post(s)




Cố Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Bích tốt nghiệp Khóa 18/SQTB Thủ Đức và Khóa 13 Sĩ Quan Căn Bản Thiết Giáp. Anh là Chi Đoàn Trưởng Chi Đoàn 218 thuộc Thiết Đoàn 18 Kỵ Binh QL/VNCH. Đơn vị anh đã từng lập công trong trận tái chiếm căn cứ Alpha trên chiến trường Kampuchia và đã được trao tặng huân chương Anh Dũng Bội Tinh Nghành Dương Liễu.



Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, Thiết Đoàn 18 KB được lệnh tăng cường cho chiến trường Quảng Trị, phía bắc sông Thạch Hãn. Một quả pháo 130mm của địch quân CSBV đã rơi ngay chiếc Thiết vận xa M-113 của Đại Úy Bích và anh đã tử trận. Ngày 27/4/1972, thi hài cố Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Bích được di tản về Mỹ Chánh, Quảng Trị bằng quân xa GMC, đến Cầu Ga thì quân xa chở thi hài anh bị trúng đạn hỏa tiễn tầm nhiệt AT-3, anh tử trận lần thứ nhì. Đồng đội đã đóng cho anh một chiếc áo quan tạm thời thứ hai và tiếp tục di tản. Ngày 30/4/1972, quân xa sang sông bị mắc lầy và xe anh trúng đạn pháo kích một lần nữa, anh tử trận lần thứ 3 trước khi thi hài anh được đưa về với gia đình! Cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh nghe được câu chuyện thương tâm này, đã cảm kích và sáng tác bài hát BẮC ĐẨU để tặng người Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân Thiết Kỵ QL-VNCH Nguyễn Ngọc Bích. BẮC ĐẨU là danh hiệu truyền tin của cố Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Bích.






BẮC ĐẨU - Nhạc & Lời: Nhật Trường - Trần Thiện Thanh

Người bỗng trở thành vì sao Bắc Đẩu,
Lẻ loi tinh cầu đêm đen không dấu
Một tối chớm hè đạn pháo chuyển mưa
Cây "Cầu Ga" nhỏ anh qua anh qua

Vì sao Bắc Đẩu trôi dạt đêm mưa,
Người xa cách người nước mắt tiễn đưa
Đã thấy xót xa một lần anh đi
Đã thấy xót xa từ ngày hôm qua

Đây thinh không thiên thần lên tiếng hát,
Chiêu hồn người từ hỏa ngục dương thế.
Kìa bầu trời Ngọc Bích đã thênh thang.
Ôi lời mời gọi anh bước chân sang.

Xin muôn năm như vì sao sáng đó
Hỡi người định mệnh là vì sao lẻ.
Dậy đi Bắc Đẩu! Dậy đi Bắc Đẩu!
Bừng mắt dậy soi sáng thiên thu.

Người tên "Bắc Đẩu" chết trận hôm nao?
Một áo quan đóng vội một chuyến cuối phiêu du
"Có thấy dấu chiến xa của người của hôm qua ?"
"Có thấy chiếc mũ đen của người lạc trong đêm?"

Người tên "Bắc Đẩu" chết trận La Vang,
Liệm xác ba lần Ngọc bích cũng tan
Chỉ còn vì sao thôi chỉ còn vì sao thôi
Cuộc đời vài mươi năm người vội về xa xăm

1 user thanked Ngoc N Hao for this useful post.
phamlang on 11/1/2011(UTC)
Duy An
#161 Posted : Monday, October 3, 2011 4:01:34 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 866
Points: 2,669

Thanks: 126 times
Was thanked: 352 time(s) in 248 post(s)
BIỆT ĐỘNG QUÂN / Q.L.V.N.C.H.




Hiệp định Genève chia đôi đất nước Việt Nam - Cộng Sản VN cai trị từ biên giới Việt - Hoa vào đến vĩ tuyến 17 - Phần còn lại từ vĩ tuyến 17 đến Cà Mâu thuộc Quốc Gia Việt Nam.

Sau hai năm, vào khoảng đầu năm 1956, Chính quyền cộng sản gởi công hàm cho Chính phủ VNCH (do Phạm văn Đồng,Thủ tướng CP/CSVN ký) đề nghị họp giữa hai miền để bàn về hiệp thương, sau đó tiến tới tổng tuyển cử như tinh thần Hiệp định Genève quy định. Biết được ý định giả trá, gian dối, không thật lòng của tập đoàn cộng sản Việt Nam, dù có hiệp thương hay tổng tuyển cử, thì miền Bắc cũng tìm cách gian lận, bịp bợm, nên Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã khước từ đề nghị nêu trên của Phạm Văn Đồng, với lý do chưa thuận tiện và hơn nữa chính phủ Quốc Gia Việt Nam (tên gọi lúc hiệp định Geneve được ký - sau là VNCH) không ký tên trong hiệp định, nên không có trách nhiệm trong vấn đề này.

Khởi đi từ lý do đó và cũng là cái cớ để miền Bắc thực hiện mục đích khởi động chiến tranh xâm lược miền Nam, hầu xích hóa toàn quốc.

- Đảng cộng sản Việt Nam (Bộ chính trị) chỉ thị cho đảng bộ miền Nam tổ chức lại lực lượng nằm vùng, trước khi hiệp định Geneve có hiệu lực. Thay vì đưa cán bộ tập kết ra Bắc, cộng sản Việt Nam đã gài lại người và vũ khí chôn dấu rất nhiều. Nay chúng bắt đầu tái tổ chức chiến tranh du kích, tại các vùng nông thôn hẻo lánh, vùng rừng núi hiểm trở, sát với dãy Trường sơn bí ẩn. Đồng thời cộng sản cũng tổ chức khai thông đường rừng Trường sơn từ Bắc vào Nam, để đưa những cán binh người miền Nam đã tập kết ra Bắc năm 1954 hồi kết, để cùng với bọn địa phương thực hiện chiến tranh du kích trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.

Cũng vì những lý do trên, chiến tranh du kích ngày càng được cộng sản miền Bắc gia tăng quấy phá qua các hình thức ám sát, phục kích, tấn công các đơn vị đồn trú ở nơi xa xôi hẻo lánh. Nhằm mục đích ngăn chặn sự xâm nhập của cộng sản và tiêu diệt du kích cộng sản, cần phải có những đơn vị quân đội được huấn luyện đặc biệt, trang bị đặc biệt thì mới có thể thi hành hữu hiệu nhiệm vụ nêu trên. C ác cố vấn Hoa Kỳ và Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, đề nghị lên và đã được Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm chấp thuận cho thành lập và huấn luyện những đơn vị "quyết tử" và các đơn vị thám sát - Những đơn vị này sẽ thực hiện những công tác bí mật và nguy hiểm. Đây chính là tiền thân của Biệt Động Quân sau này.

Cuối năm 1959, sau cái gọi là đồng khởi, toàn dân nổi dậy v..v.. cộng sản thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, do một số trí thức bất mãn dại dột làm bung xung cho miền Bắc như Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Văn Hiếu, Dương Quỳnh Hoa v...v.. Tiếng súng ngày càng nổ nhiều hơn, lan rộng nhiều hơn, từ bưng biền về tới đồng bằng, từ cận sơn về đến duyên hải. Mức độ xâm nhập người và vũ khí qua đường mòn Hồ chí Minh ngày càng nhiều. Nhất là sau cuộc đột kích đêm 25 tháng 12 năm 1959 tại căn cứ Trảng Lớn (Tây Ninh) của Việt cộng vào một hậu cứ của đơn vị Bộ Binh QLVNCH, gây ít nhiều thiệt hại cho đơn vị đồn trú này.



Ngày 15 tháng 2 năm 1960, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã ra lệnh cho các Sư đoàn thành lập các Đại đội Biệt động quân, (Hoa Kỳ gọi là Ranger) - 50 đại đội đã được thành lập, gồm có 32 đại đội hoàn tất vào đầu tháng 3/60, đặt thuộc quyền xử dụng của các Quân khu và 18 đại đội được giao cho các Sư đoàn điều khiển.

Tuy nhiên vấn đề đặt ra là muốn xử dụng các đơn vị tân lập này - vì các Đại đội BĐQ biệt lập - một cách hữu hiệu, thì việc huấn luyện cũng phải đặc biệt, để đào tạo thành những quân nhân hoàn hảo. Lệnh từ Tổng Thống: Tuyển chọn những cán bộ chỉ huy từ cấp Trung đội trưởng trở lên đến cấp Đại đội trưởng, đều là những quân nhân xuất sắc, giầu kinh nghiệm chiến trường và nhất là lòng can đảm và sức chịu đựng phải được coi là siêu và trên căn bản những cá nhân ấy tình nguyện xin gia nhập. Điều này cũng áp dụng cho tất cả các Hạ sĩ quan, Binh sĩ - Tóm lại toàn thể binh chủng do các quân nhân tình nguyện cấu thành - Binh chủng Biệt Động Quân không nhận binh sĩ quân dịch.

Tháng 5/60, toán huấn luyện đặc biệt dưới quyền Đại Tá William Ewald, từ Liên đoàn 77 Lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ, tại Fort Bragg, North Calorina, được gởi tới Việt Nam ( DAMSG976774) để huấn luyện cho BĐQ về chiến thuật và kỹ thuật.

Ngày 1 tháng 7 năm 1960, chính thức khai sinh Binh Chủng Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hòa, dưới sự hổ trợ của những toán huấn luyện lưu động của Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ (Mobile Training Team) do Đại Tá Lewis Mille chỉ huy.

Song hành với những công việc trên, tại Sàigòn, thủ đô VNCH - Thiếu Tá Nhảy Dù Phan Trọng Chinh (sau là Trung Tướng) được bổ nhiệm là Chỉ Huy Trưởng BĐQ Trung Ương đầu tiên - Thiếu Tá Chinh đã cùng các sĩ quan khác như Đại Úy Nguyễn Thành Chuẩn (sau là Đại Tá) Tham Mưu Trưởng v..v.. tổ chức hoàn chỉnh Binh chủng, soạn thảo các huấn thị, huấn lệnh, chọn phù hiệu binh chủng, lập bảng cấp số v...v...

Tại các địa phương có những Trung tâm Huấn luyện, như ở Đà Nẵng (Hòa Cầm) Vùng I CT- Sông Mao, Nha Trang (TTHL Đồng Đế) cũng đã bắt đầu với những sĩ quan tốt nghiệp từ trường Biệt Động Quân Fort Benning, Georgia, Hoa Kỳ trở về đảm trách - Để đẩy mạnh công tác huấn luyện kịp với đà tăng trưởng của binh chủng và kịp cung cấp cho nhu cầu chiến trường, cuối năm 1960, một toán sĩ quan thuộc Liên đoàn I Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ, đồn trú tại Okinawa (Nhật Bản) do Thiếu Tá John Warren chỉ huy đã được đưa sang tăng cường cho việc huấn luyện BĐQ.

Khoảng giữa năm 1961, Thiếu Tá Warren đã soạn thảo, đệ trình đề án nâng cao và phát triển lực lượng BĐQ lên 86 Đại đội - Tổng Thống Ngô Đình Diệm phê chuẩn và chỉ thị Bộ Tổng Tham Mưu / QLVNCH thi hành .

Việc tổ chức huấn luyện dần dần hoàn chỉnh, các Trung tâm Sông Mao, Đồng Đế chấm dứt nhiệm vụ - Việc huấn luyện được chuyển đến Trung tâm huấn luyện mới - dành riêng để đào tạo quân nhân BĐQ - Trung tâm đồn trú tại Dục Mỹ, một địa danh nằm trên quốc lộ 21, từ Ninh Hòa đi Ban mê thuột - Cũng nên nói thêm về Trung tâm Huấn luyện BĐQ Dục Mỹ - Nơi được các quân nhân VNCH, nếu được đưa đến đây để thụ huấn, đều gọi là Trung tâm tàn phá nhan sắc - Tất cả các cán bộ SQ, HSQ, cơ hữu của binh chủng, mặc dù tình nguyện cũng đều phải trải qua khóa tác chiến Rừng-Núi-Sình lầy - Thời gian 42 ngày, sao đó mới chính thức là BĐQ - Thế nhưng có điều đặc biệt các ông SVSQ trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam , trước khi trở thành "quan" cũng được đưa về cho học lấy bằng tốt nghiệp khóa RNSL, rồi mới về lại Đà Lạt để dự lễ tốt nghiệp.

Thời gian đầu, trung tâm đã tuyển chọn những sĩ quan xuất sắc như Trần Văn Hai, Cao Văn Ủy, Ngô Minh Hồng, Nguyễn Văn Đương, Trần Công Liễu, Trần Bá Tuấn, Nguyễn Ngọc Giao (Đen), Nguyễn Thành Định v...v.. để đảm trách công tác đào tạo cho binh chủng những cán bộ và quân nhân tinh nhuệ.

Đến tháng 2/1962, việc huấn luyện đã chính thức do các SQ/BĐQ có bằng chuyên môn Biệt Động đảm trách, mặc dù nhiệm vụ chính của BĐQ là phản du kích, đột kích, quậy sâu trong lòng địch - Vào tận các mật khu cộng sản. Nhưng chiến sự cũng mỗi ngày một gia tăng cường độ, mức xâm nhập của quân đội Bắc Việt theo đường mòn HCM và duyên hải VNCH ngày càng nhiều, cộng sản đã mở những cuộc đánh phá ở cấp lớn hơn, nên thời gian này Bộ TTM/QLVNCH quyết định nâng cao hơn và phát triển BĐQ lên một bậc - Tại Đà Nẵng, Vùng I/CT, Tiểu đoàn 10 BĐQ - Ở Pleiku, Vùng II/CT, Tiểu đoàn 20 và ở Sàigòn Tiểu đoàn 30 BĐQ - Những đơn vị này thường xuyên được xử dụng trong các nhiệm vụ đặc biệt truy lùng địch tại các mật khu như "chiến khu D" gần Sàigòn, các toán Viễn Thám nhảy sâu vào lòng địch để phát giác sự tập trung của địch, cung cấp những tin tức hoạt động của địch, theo dõi, kiểm soát mọi sự di chuyển của địch.

Và, cho đến năm 1964, nhiệm vụ căn bản của Mũ Nâu vẫn là quấy rối, đột kích, ngăn chặn xâm nhập và làm trì trệ các hoạt động của địch - Các Tiểu đoàn 10, 20, 30 nêu trên, đã được cải danh thành TĐ 11, TĐ 21, TĐ 31/BĐQ để tương ứng với các thứ tự từng vùng chiến thuật - Xuyên qua các chiến công và nhiệm vụ mà BĐQ đã tạo được, Bộ TTM quyết định tất cả các Đại đội biệt lập gom lại để trở thành các Tiểu đoàn BĐQ, với danh số theo vùng, khu chiến thuật và các đơn vị BĐQ được đặt trực thuộc các Tư Lệnh Vùng, trừ bị cho các Quân đoàn, Quân khu, nhưng cũng có lúc đã được đặt cả dưới sự xử dụng của các Tiểu khu .

Cuối năm 1964, đầu năm 1965 thì binh chủng BĐQ đã cải tổ và phát triển hoàn chỉnh và có được 20 Tiểu đoàn BĐQ tác chiến gọi là lực lượng BĐQ tiếp ứng, đảm trách trừ bị Quân đoàn - Phản ứng nhanh, thích ứng tuỳ theo tình hình - Binh chủng BĐQ đã cùng các đơn vị bạn trong QL/VNCH như Nhảy Dù, TQLC v...v... tham dự những trận đánh lớn, ít nhiều cũng đã tạo được những chiến công vẻ vang như các trận Ba Gia (Vùng I CT) Bình Giả, Đồng Xoài (Vùng III CT) và BĐQ cũng là đơn vị VNCH duy nhất tham dự hành quân tại Khe Sanh, cùng với TQLC Hoa Kỳ, đó là TĐ 37/BĐQ - Hành quân Dân Chí 92, DC 100, Kinh Thác Lác (Vùng IV/CT) v..v.. Trong đó có những đơn vị đã được ân thưởng những huy chương cao qúy của QL/VNCH, của Tổng Thống Hoa Kỳ ....

Dĩ nhiên, với mục đích phải chiếm cho được miền Nam tự do, cộng sản Bắc Việt đã lấy chiêu bài "chống Mỹ cứu nước", "giải phóng miền Nam" để đưa quân, chiến cụ, do khối cộng viện trợ xâm nhập vào Nam ngày càng nhiều, càng đông. Mức độ giao tranh cũng mỗi ngày một lan rộng và lớn đến mức gần như trở thành chiến tranh quy ước. Để thích ứng, năm 1967, Bộ TTM/VNCH và MACV đã cùng thỏa thuận phát triển, nâng lực lượng BĐQ lên cấp Liên đoàn - Khởi đầu là Liên đoàn 5/BĐQ, Tổng Trừ bị cho Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH - đặc trách chiến trường bảo vệ Biệt khu Thủ đô, nơi các cơ quan đầu não quan trọng của chính thể VNCH trú đóng và cũng là Thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa - Mỗi vùng chiến thuật/ Quân đoàn sẽ do các Liên đoàn trực thuộc làm lực lượng trừ bị, lực lượng xung kích của quân khu.

Nếu kể về thành tích thì tuy là một binh chủng mới mẻ, so với các bạn như Dù, TQLC v..v.. nhưng mũ Nâu đã có những trận đánh gây cho đối phương những đòn đau nhớ đời và khiếp hãi như trận Thạch Trụ (TĐ 37/BĐQ), trận phản phục kích tuyệt vời của TĐ 52 tại Bà Rịa - Nhất là vào dịp Tết Mậu Thân 1968, VC đã phản bội hưu chiến đầu xuân - đích thân Hồ chí Minh ra lệnh từ Hà Nội cho lực lượng CS tổng tấn công đồng loạt trên toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam - Kể cả Thủ đô Sàigòn, nhưng CSBV đã ôm đầu máu và thành phần địa phương mà chúng gọi là "mặt trận dân tộc giải phóng" thì được coi như xóa sổ, gần như bị diệt trọn - Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã phản công ngoạn mục, đẩy chúng ra khỏi những nơi tạm chiếm, mà còn truy đuổi, tiêu diệt đám tàn quân tận các mật khu. Tất nhiên BĐQ cũng là một trong những đơn vị lập chiến công đầu, nhất là tại mặt trận Biệt Khu Thủ Đô.

Thời gian 1970 - Binh chủng Mũ Xanh, lực lượng đặc biệt được coi như chấm dứt nhiệm vụ, một lần nữa, BĐQ lại vươn mình lớn mạnh nhận thêm nhiệm vụ nữa, đó là tất cả các căn cứ biên phòng - chặn tuyến xâm nhập địch quân từ Bắc vào Nam, dọc theo biên giới Lào-Việt, Campuchia-Việt Nam, do Lực lượng đặc biệt trách nhiệm, nay được cải tuyển thành các Tiểu đoàn BĐQ Biên Phòng - Như vậy ngoài 20 Tiểu đoàn BĐQ tiếp ứng, giờ đây BĐQ có thêm 39 Tiểu đoàn BĐQ Biên Phòng - Đồng thời gian này, BĐQ cũng lên đường tham dự các cuộc hành quân ngoại biên, tấn công, truy quét lực lượng chính quy CSBV và cái gọi là quân giải phóng tận chiến trường Campuchia và Hạ Lào.

Cũng trong năm 1970 đến 1971, để có thể xử dụng, điều động BĐQ được hiệu quả và thích hợp với lưu động tính của binh chủng - Bộ TTM/QLVNCH cùng với BCH/BĐQ Trung Ương đã sắp xếp lại những TĐ/BĐQ Biên Phòng , được đưa đi huấn luyện bổ túc và sau đó trở thành các đơn vị tiếp ứng - nghĩa là lập thêm một số Liên đoàn BĐQ, tính đến khoảng cuối năm 1971, binh chủng BĐQ đã có 15 Liên đoàn, trong đó các LĐ 4, 7 và 6/BĐQ là tổng trừ bị Tổng Tham Mưu.

Mùa hè đỏ lửa 1972, từ chiến trường Trị Thiên, An Lộc, Kontum, binh chủng BĐQ đã có mặt để chặn đứng đà xâm lược của CSBV, sau đó cùng với các đơn vị bạn phản công mãnh liệt, dành lại từng thước đất do VC chiếm giữ lúc đầu, như mặt trận Chư Pao, trên tuyến đường Pleiku-Kontum, mặt trận An Lộc (sau mùa hè 1972, BĐQ hoàn toàn trách nhiệm chiến trường Bình Long-An Lộc mà vị Tư Lệnh mặt trận là Đại Tá Nguyễn Thành Chuẩn, CHT/BĐQ/QK III, đảm nhận đến tháng 4-75).





Hiệp định ngưng bắn Paris đã được ký kết, dưới danh nghĩa tái lập hòa bình, quân lực đồng minh rút dần về nước - Chiến trường miền Nam nay do một mình QLVNCH phải tự cáng đáng, giữ đất, chặn địch, truy kích, tất cả đều do QLVNCH gánh vá . Tuy là đình chiến, ngưng bắn, nhưng thực tế trên khắp lãnh thổ, tiếng súng giao tranh gia tăng hơn, mức độ thương vong, tổn thất chẳng sút giảm mà còn trầm trọng hơn - Cũng do tình hình đó, Quân lực VNCH lại một lần nữa quyết định nâng cấp binh chủng BĐQ lên cao hơn: thành lập các Sư đoàn BĐQ - Đến cuối tháng 3, đầu tháng 4-75, đã thành lập được 2 Sư đoàn BĐQ, đó là Sư đoàn 101/BĐQ (do các LĐ 31, 32 và 33/BĐQ họp thành), vị Tư lệnh đầu tiên, cũng là cuối cùng là Đại Tá Nguyễn Thành Chuẩn - Sư đoàn 106/BĐQ, do Đại Tá Nguyễn Văn Lộc là Tư lệnh.

Tiếc thay, hai Sư đoàn BĐQ vừa thành lập xong, chưa kịp ra tay đánh bọn CSBV, thì ngày 30-4-75, đã đành chịu đau đớn cùng toàn quân buông súng theo lệnh đầu hàng.

Trải dài tuổi đời của binh chủng BĐQ, lấy ngày khai sinh chính thức 1-7-1960 đến tháng 4-1975 vừa đủ 15 năm - Thăng trầm theo cuộc chiến, binh chủng đã được các vị sĩ quan tài giỏi của quân đội chỉ huy, dẫn dắt - Khởi đầu lúc thành lập là:

Thiếu Tá Phan Trọng Chinh , (sau là Trung Tướng)
Đại Tá Lam Sơn Phan Đình Thứ
Thiếu Tướng Tôn Thất Xứng
Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận
Đại Tá Trần Văn Hai (sau là Chuẩn Tướng Tư lệnh SĐ7/BB, tuẫn tiết ngày 30-4-75)
Đại Tá Trần Công Liễu
Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai - (vị Chỉ huy trưởng sau cùng của binh chủng, cũng là người chịu khổ nạn trả thù đúng 17 năm trong trại lao cải của cộng sản cùng với các Đại Tá BĐQ Nguyễn Kim Tây, Cao Văn Ủy)

Bây giờ QLVNCH không còn nữa - Biệt Động Quân cũng không còn là một binh chủng đã gây cho quân CSVN những trận đòn khiếp đảm - Nhưng trên tháng ngày lưu lạc xứ người - để cùng nhau nung nấu ý chí không cùng cộng sản đội chung một trời và cũng để nuôi dưỡng tình đoàn kết tương thân - Ở hải ngoại, hàng năm đến tháng 7 thì BĐQ lại tổ chức ngày họp mặt, để mừng sinh nhật binh chủng, nơi tổ chức sẽ do Tổng hội BĐQ ủy thác cho các Khu hội BĐQ tại các Tiểu bang tổ chức - Năm nay 2005, để mừng 45 năm BĐQ chào đời - Đại hội họp mặt sẽ do Khu hội BĐQ Houston, Texas tổ chức vào ngày 16-7-2005 và cũng để bầu Tổng Hội Trưởng cho nhiệm kỳ 2005-2007 .

Ghi chú: Chúng tôi viết theo trí nhớ và tham khảo tài liệu của một Cố vấn BĐQ/Hoa Kỳ. Nếu có sai sót, xin các Niên trưởng, Chiến hữu bổ túc và sửa sai - Dĩ nhiên, đây chỉ là phần tóm lược.

Tổng Hội BĐQ/QLVNCH Hải Ngoại
Hạ Vi
#162 Posted : Saturday, October 8, 2011 8:26:03 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,640
Points: 14,706
Location: CỏThơm

Thanks: 2605 times
Was thanked: 7175 time(s) in 1914 post(s)
CÁI NÔI CỦA KHÔNG QUÂN VIỆT NAM CỘNG HÒA














TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN KHÔNG QUÂN NHA TRANG


Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1975 cho đến nay vẫn còn nhiều uẩn khúc tuy rằng nếu xét cho cùng thì vẫn còn nhiều yếu tố mà chúng ta không lường được, nhất là trong khi quân lực chỉ là một trong những công cụ nằm trong tay những người lãnh đạo dùng để đạt được mục tiêu quốc gia, những trang thiết bị chúng ta dùng đều do bạn Ðồng Minh viện trợ nên khi họ đã đạt được một thỏa thuận nào đó trên bàn cờ quốc tế thì họ bỏ đi, nhưng với trên 50,000 quân nhân Mỹ và trên một triệu quân nhân Việt Nam đã hi sinh cho một "chính nghĩa đã mất", nước Mỹ, một cường quốc chưa bao giờ thua trận, đã có một trách nhiệm tinh thần sau cuộc chiến tại Việt Nam, nên nhân dân Mỹ đã hào phóng tiếp đón chúng ta hầu đền đáp một phần nào những mất mát đau thương mà quân dân ta phải hứng chịu.

Nhưng riêng cho Không quân VNCH, ngày 30 tháng tư 1975 có thể nhìn dưới khía cạnh như một trang thanh niên đang ở lứa tuổi đôi mươi, lứa tuổi sung mãn nhất thì bị cố sát, đó là nhận xét của Thiếu tướng Nguyễn cao Kỳ, khi viết phần nhập đề cho cuôn sách "Flying Dragons, the South Vietnamese Air Force" tác giả là Robert C Mikesh, một Sĩ Quan Ðiều Không Tiền Tuyến ( Forward Air Controller) tại Việt Nam trong nhửng năm 60.


Sự phát triển của KQVN gắn liền với những biến chuyển của thời cuộc, vào năm 1951 với 4 phi đoàn gồm những loại phi cơ quan sát bà già và vận tải cơ cánh quạt cũ kỹ thường dùng cho những phi vụ liên lạc, cho tới năm 1975 KQVN đã trưởng thành với hơn 60 phi đoàn phần lớn là phản lực cơ đủ loại hiện đại, đứng hàng thứ tư trên thế giới, sau Hoa Kỳ, Liên Sô và Trung Cộng, và từ quân số hơn 1,000 đã lên đến 70,000 người, từ cấp phi đoàn đã lên đến cấp sư đoàn KQ, với trên 2,000 phi cơ đủ loại.

Ngay từ khi Quân Ðội Việt Nam được thành lập vào năm 1950, một Trung tâm huấn luyện Không quân, dưới sự bảo trợ của Không Quân Pháp, đươc thiết lập tại Nha trang vào năm 1951 để đào tạo một số chuyên viên về bảo trì, về vô tuyến và những ngành khác cho KQVN, chủ yếu là có khả năng bảo trì loại phi cơ đơn giản như phi cơ Morane Saulnier 500 mà KQ Pháp dự trù sẽ chuyển giao cho KQVN, phi cơ MS.500 có thể nói là cái "phôi" của Không Lực VNCH, tuy rằng nó xấu xí, chậm chạp, tôc lực khoảng 60 mph, bộ bánh đáp dài thoòng thiếu thẩm mỹ nhưng chịu đựng được những vụng về của khóa sinh khi hạ cánh, hoặc những lồi lõm của những sân bay hành quân, nhưng đó là những bước đi chập chững của một Không Lực hùng mạnh nhất Ðông Nam Á sau này, khiến nhiều quốc gia sau này trên đà tiến triển đã lấy đó làm gương mẫu để thành lập Không quân của mình.

Cùng thời gian này một số khóa sinh được tuyển chọn gởi đi du học tại các trường huấn luyện của Pháp như tại Salon de Provence (Học viện Không Quân Pháp), Avord (vận tải), Aulnat (bay vỡ lòng trên phi cơ Stamps), Rochefort và Chamberry (cơ khí), Auxerre(truyền tin) và tại Bắc Phi như Marrakech, Meknes, Khouribga, Blida và Fez (khu trục, oanh tạc, điều hành viên), sau này họ đều nắm những chức vụ quan trọng tiêu biểu như các niên trưởng Trần văn Hổ, Nguyễn xuân Vinh, Ðặng đình Linh, Nguyễn cao Kỳ, Huỳnh hữu Hiền, Hà xuân Vịnh, Nguyễn ngọc Loan, Vũ thượng Văn, Dương thiệu Hùng ...





Căn cứ Không Quân Nhatrang là một căn cứ lâu đời nhất trong các căn cứ quân sự tại Việt Nam, với ưu điểm về địa thế có núi và biển, khí hậu ôn hòa thời tiết tốt lý tưởng cho việc huấn luyện phi hành nên vào tháng ba 1952, khóa hoa tiêu quan sát đầu tiên được khai giảng tại Nha trang do các huấn luyện viên người Pháp đảm nhận gồm 14 khóa sinh (4 sĩ quan và 10 dân sự), những sĩ quan khóa sinh, những người tiên phong có vinh dự đưa màu cờ của Không quân Việt Nam vào không gian góp mặt với Không quân thế giới là niên trưởng Nguyễn ngọc Oánh, Võ Dinh, Từ bộ Cam, Phạm long Sửu Nguyễn thế Anh cùng những bạn của khóa 1 hoa tiêu năm 1952. Trong khóa học, một tai nạn đáng tiếc đã khiến khóa sinh Nguyễn tam Ðăng tử nạn khi đơn phi, anh được truy thăng Thượng sĩ, mặc nhiên trở thành người đầu tiên hi sinh cho KQVN. Khi mãn khóa vị khóa sinh thủ khoa, Th/úy Phạm long Sửu mang văn bằng hoa tiêu quân sự số 1 của KQVN, các khóa sinh dân sự tùy theo thứ bực khi thi mãn khóa được mang cấp bậc từ thiếu úy tới thượng sĩ. Với những chuyên viên kỹ thuật và nhân viên phi hành tốt nghiệp, sau một thời gian thực tập trong những đơn vị KQ Pháp, tháng 10 năm 1953, một trong những đơn vị đầu tiên được bàn giao cho KQVN là Ðệ Nhất Phi Ðoàn Quan Sát và Trợ Chiến đồn trú tại Tân Sơn Nhất, Ðại Úy Nguyễn ngọc Oánh là vị chỉ huy trưởng đầu tiên của phi đoàn này.

Về tổ chức KQVN chỉ được gọi là Phòng Không Quân trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu do Th/tướng KQ Pháp Cuffaut chỉ huy, sau Ðại Tá Sagon thay thế. Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân là một đại đơn vị trực thuộc Phòng Không Quân và đồn trú trong căn cứ không quân Pháp mang tên Base Aérienne No. 194 Nhatrang, TTHLKQ được gọi tắt là CIAVN (Centre d'Instruction Aérienne du Viet Nam)

Căn cứ không quân Nhatrang còn có tên là căn cứ Colonna, bộ chỉ huy nằm tại địa điểm của TTHL sau này, còn TTHLKQ lúc đầu chỉ gồm trong khu U và mấy dẫy nhà bên cạnh phi cảng dân sự mà thôi. Vị chỉ huy trưởng Th/ta Carret và hai sĩ quan phụ tá Ð/uy Sai và Ð/úy Nhiêu phụ trách Ðại đội hành chánh và khối huấn luyện gồm ba trường: hoa tiêu, quan sát và cơ khí. Sân cờ và vừa là sân tập thao diễn cơ bản quân sự chỉ cách đường lộ có hàng rào kẽm gai nên những hành khách trên xe đò Nhatrang Cầu Ðá có thể nhìn thấy những sinh hoạt của TTHLKQ nhất là những buổi chào cờ vào sáng thứ hai mỗi tuần hoặc những buổi lễ mãn khóa.

Trường hoa tiêu do Tr/úy Fatio phụ trách và trường quan sát do Tr/úy Desbordes cùng một số hạ sĩ quan huấn luyện viên như Th/sĩ Vallière, Th/sĩ Tocken..., sau này được bổ sung thêm những hoa tiêu mới như Th/úy Dương thiệu Hùng, Mai văn Hạnh, Trần bá Quy, Nguyễn văn Khánh...

Với những phương tiện huấn luyện cũ kỹ và có thể nói là thô sơ KQVN đã khắc phục được nhiều khó khăn lúc ban đầu, nhất là về mặt tinh thần khi các khóa sinh mới chân ướt chân ráo bước vào ngưỡng cửa của Không Quân đã phải chứng kiến và tham dự buổi đưa đám theo đúng lễ nghi quân cách của một bạn đồng đội mới tử nạn trong lúc đơn phi, máy truyền tin liên lạc giữa phi cơ và đài kiểm soát khi bay tập trong vòng phi đạo thường hay trục trặc nên khóa sinh phải dùng cờ hiệu xanh đỏ tại đầu phi đạo để báo cho biết là "được phép đáp" "clear to land" hoặc là "tống ga bay lại" "go around", sự việc trên đôi khi gây trở ngại cho những phi cơ khác khi đi và đến Nhatrang, nhất là phi cơ dùng cho huấn luyện lại không sơn màu vàng cho dễ nhận, khi phải thực tập đáp sân ngắn các khóa sinh phải bay xuống Trại Cá, một phi đạo nhỏ phía Tây thị xã Ba ngòi Cam Ranh, những ngày này thường được tổ chức như một buổi picnic, sáng sớm một số khóa sinh và các bạn cơ khí viên đi bằng đường bộ mang các dụng cụ cần thiêt để sửa chữa cùng với những y tá của bệnh xá với đồ ăn thức uống ...tuy vậy các khóa đào tạo hoa tiêu vẫn tiếp tục cho đến khi mãn khế ước với KQ Pháp và TTHL tiếp nhận loại Phi cơ Cessna L-19 vào năm 1956 sau khi các phi đoàn quan sát thay thế các phi cơ MS 500 bằng loại phi cơ mới này, về khía cạnh an phi TTHL đã có rất ít tai nạn trong khi huấn luyện, Th/úy Trương Hiệp khóa sinh tử nạn năm 1955, Tr/úy Nguyễn đình Huệ huấn luyện viên và một khóa sinh tử nạn vào năm 67 khi vào cận tiến đường bay 30, phi cơ bị cuốn vào vòng gió xoáy của một chiếc vận tải cơ C-130's vừa mới cất cánh trước đó năm phút, nhưng thành phố Nha Trang lại phải chấp nhận những tai họa của những thành phố gần sân bay như vào tháng 8 năm 1965, một oanh tạc cơ B-57 Canberra của KQ Mỹ đã rớt vào ngay trung tâm thành phố trên đường Ðộc Lập gây tử thương cho hơn 12 thường dân, Phi hành đoàn đã nhảy dù vô sự, và cuối năm 1970, một chiến đấu cơ F-100's Super Sabre đáp khẩn cấp trên phi đạo 12 đã trườn qua tỉnh lộ Nha trang Cầu Ðá chém ngang một chiếc xe Lam không may vừa chạy tới khiến một số hành khách chết và trọng thương, một phi cơ của Hàng Không Việt Nam, hư thắng khi hạ cánh đường bay 30 phát hỏa khi đâm vào một xóm nhà trong khu Xóm Mới ...


Ðầu năm 1955 các hoa tiêu huấn luyện tại Pháp bắt đầu về nước, việc bàn giao quyền chỉ huy KQVN cho các sĩ- quan Việt Nam được diễn ra vào ngày 1 tháng bảy 1955 tại Nhatrang sau một buổi duyệt binh, Thủ tướng Ngô đình Diệm đã tuyển chọn Tr/úy Trần văn Hổ , đặc cách thăng cấp Th/tá, giữ trách vụ chỉ huy KQVN, Phòng KQ trước kia nằm trong khuôn viên của Bộ Tổng Tham Mưu tại đường Trần Hưng Ðạo được chuyển về một khu biệt thự số 110 đường Testard, sau đổi tên là đường Trần quý Cáp, rồi tới năm1957 được đổi danh xưng là Bộ Tư Lệnh KQVN và chuyển vào căn cứ Tân Sơn Nhất. Ngày 1 tháng bảy là một ngày đầy ý nghĩa của KQVN, là ngày Không quân VN trở thành một quân chủng riêng biệt tách rời khỏi Lục quân, là ngày KQVN tách rời khỏi KQ Pháp và quan trọng hơn cả, đó là ngày ra đời của KQVN.

Một tuần lễ sau , Th/tá Nguyễn ngọc Oánh tiếp thu toàn bộ căn cứ Nhatrang, mang tên căn cứ 12 (căn cứ đầu tiên của KQVN) và KQVN bắt đầu đi vào giai đoạn phát triển, hàng ngàn sinh viên, học sinh ưu tú đua nhau gia nhập Không Quân vì lý tưởng cao đẹp cũng như hào khí của sĩ phu thời chiến luôn được nêu cao trong cuốn Ðời Phi Công của Toàn Phong Nguyễn xuân Vinh, cũng như những hình ảnh của "nghiệp bay" được thi vị hóa và mô tả như một bức tranh đẹp, "các anh sẽ cười vang trong khói súng và quay tròn trong mây biếc. Ánh lửa lòe bên cánh phải rực rỡ hơn màu hoa phượng và đồn địch nổ tung trời phải huy hoàng hơn vạn ánh nến liên hoan.."


TTHLKQ bắt đầu tiếp nhận những trang thiết bị tối tân hơn, những phi cơ North American T-6G được dùng cho việc nâng cấp sau khi các khóa sinh qua lớp vỡ lòng trên phi cơ L.19, sau đó là loại Cessna Skywagon với cái tên quen thuộc là U.17, cho đến khi các phi đoàn quan sát mới được thành lập sử dụng thêm loại U.17 thì TTHL lại tiếp nhận loại Cessna Skyhawk 172 được cải biến là T.41D và sau cùng để huấn luyện chuyển tiếp lên các loại phản lực cơ A-37 và F-5, đang được trang bị cho các phi đoàn khu trục của KQVN một số phản lực cơ huấn luyện T-37 và trực thăng UH-1 được chuyển giao cho TTHLKQ, đồn trú tại căn cứ Phan rang, Phi đoàn 920 với phản lực cơ T-37 do Th/tá Ðàng thiện Ngươn phi đoàn trưởng, là ngưỡng cửa của các hoa tiêu bước vào giai đoạn phản lực.

Các trường khác được tuần tự thành lập theo đòi hỏi của nhu cầu như trường Anh ngữ chuẩn bị ngoại ngữ cho những khóa sinh sẽ đi du học và tu nghiệp tại Hoa Kỳ, trường Kỹ thuật, Trường Truyền tin điện tử, trường Quân sự , truờng Quan sát, trường Mưu sinh và Thoát Hiểm, nhiều lớp hoặc khóa học bổ túc được khai giảng tùy theo nhu cầu, trường Chỉ Huy và Tham Mưu Trung cấp tiêu chuẩn hóa khả năng lãnh đạo các cấp Ðoàn trong Không Quân. Ngoài ra những hoạt động của Không Quân cũng gia tăng theo nhịp độ của chiến trường, nên TTHLKQ phải đưa các khóa sinh đi bay tập tại phi trường Dục Mỹ để dành phi đạo Nha trang cho các đơn vị hành quân.

Với phương châm "Luyện Cần Huấn Cẩn", TTHLKQ từ thuở ban đầu với những trang bị có thể nói là của thời "đồ đá" đã dần dần trưởng thành, đã đào tạo được hàng chục ngàn chuyên viên cho đất nước, góp phần vào việc bảo vệ tổ quốc và bầu trời, từ cái "Flintstone Airforce" ấy"Vietnamese Airforce"đã giật được giải "Topgun" khi thi đua với các bạn Ðồng Minh tại xạ trường Okinawa vào đầu thập niên 70. Ðược như vậy, thiết tưởng cũng là nhờ sự lãnh đạo khéo léo của những niên trưởng tài ba đã đem những kinh nghiệm trên chiến trường áp dụng và cải tiến các chương trình huấn luyện cho phù hợp với đà lớn mạnh của Không Quân.

Có một sự trùng hợp ngẫu nhiên của thời cuộc, niên trưởng Nguyễn ngọc Oánh là vị chỉ huy trưởng đầu tiên và cũng là vị chỉ huy trưởng sau cùng của TTHLKQ Nhatrang.






Ðã gần ba chục năm qua, thời gian trôi qua mau, nhưng chưa đủ để chúng ta không khỏi cay đắng ngậm ngùi nuối tiếc một sự mất mát to lớn cùng với những hi sinh của nhiều bạn đồng đội, để những hi sinh những mất mát này không phải là vô ích và tàn theo thời gian, thiết tưởng anh em Không Quân chúng ta, những người sống sót của một thời khói lửa trong cuộc đấu tranh vì một lý tưởng cao đẹp, vì lý tưởng tự do, có bổn phận và nhiệm vụ duy trì tình đồng đội, gìn giữ những truyền thống tốt đẹp của một quân chủng hào hùng, phảng phất đôi nét lãng mạn của những trang hiệp sĩ thời Trung cổ, đã không xá gì những hiểm nguy, xông pha nơi trận mạc, dẹp bất công và bạo tàn đem lại ấm no hạnh phúc cho toàn dân, để rồi tuy chúng ta chưa làm được gì cho đất nước thì con cháu chúng ta vẫn tự hào và hãnh diện vì cha ông chúng đã một thời đưa Tổ Quốc vào Không Gian.




Virginia, mùa Ðông năm 2003
Ðằng Vân


thunder
#163 Posted : Sunday, October 9, 2011 1:30:05 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 3,998
Points: 12,191

Thanks: 1569 times
Was thanked: 852 time(s) in 565 post(s)



Một chuyến bay đêm

Sáng tác : Song Ngọc & Hoài Linh
Trình bày : Quốc Khanh

http://www.youtube.com/watch?v=vU2rOOvutZg

Giữa lòng trời khuya muôn ánh sao hiền,
người trai đi viết câu chuyện một chuyến bay đêm.
Cánh bằng nhẹ mơn trên làn gió.
Đời ngây thơ xưa lại nhớ lúc mình còn thơ.
Nhìn trời cao mà reo, mà mơ ước như diều
để níu áo hằng nga, ngồi bên dẫy ngân hà.

Giờ sống giửa lưng trời,
đôi khi nhớ chuyện đời mỉm cười thôi
Đêm nay chuyến bay trời xanh như màu áoĐường Minh Đế nhàn du khắp tinh cầu,
chạnh thương hai đứa giờ gối súng nơi nào
lâu lắm chẳng gặp nhau.

Bạn bè dù cách xa nào hay,
tình nàng chưa nói nhưng mà say.
Giai nhân hởi khóe mắt em u hoài
theo tìm trong chuyến bay.
Có người hỏi phi công ước mơ gì,
người ơi nhân thế muôn màu nào biết mơ chi.

Ước rằng từ khi tung nhịp cánh,
tình ta yêu thương là gió nhân tình của mâỵ
Ở đời ai hiểu ai, người bay trắng đêm dài,
người sống giửa đại dương,người yên giấc ven rừng.
Bạn có biết chuyện này tôi ghi lúc vũ trụ còn ngủ say.
ước như diều để níu áo hằng nga,ngồi bên dẫy ngân hà.


Ngoc N Hao
#164 Posted : Thursday, October 13, 2011 10:52:13 AM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,706
Points: 8,185
Location: France

Thanks: 2255 times
Was thanked: 1524 time(s) in 874 post(s)
Những hình ảnh hiếm về Quân Cảnh ,Lực lượng giám sát Quân Kỷ QLVNCH




Trường đào tạo Quân Cảnh /QLVNCH tại Vũng Tàu




Là Lực Lượng giám sát Quân Phong Quân Kỷ của QLVNCH











Là gương mẫu chuẩn mực của Quân Đội VNCH



Quân cảnh Việt Nam và Quân Cảnh Mỹ



Là lực lượng trị an tại hậu phương (cùng CSQG)



Quân Cảnh và Cảnh Sát Quốc Gia cùng sát cánh bảo vệ trật tự an ninh ở hậu phương



Mậu thân 1968, ngoại ô Sài Gòn



Những hình ảnh về cuộc trao đổi tù binh bên sông Thạch Hãn, Quảng Trị năm 1973













1 user thanked Ngoc N Hao for this useful post.
phamlang on 10/20/2011(UTC)
Hạ Vi
#165 Posted : Friday, October 14, 2011 3:47:37 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,640
Points: 14,706
Location: CỏThơm

Thanks: 2605 times
Was thanked: 7175 time(s) in 1914 post(s)




Một Chuyến Bay Đêm


Chiều xưa tình cờ gặp
Trước ngõ nhà bạn quen
Em trường về qua đó
Anh tươi chào rạng rỡ
Lượm được nụ cười duyên
Xin ai tặng cái tên
Mùa này Ngọc Lan nở
Mùi hương mà đã nhớ
Nắng chiều vương trên cây
Em áo trắng vai gầy
Anh trong quân phục bay
Bước cùng vui hôm ấy

Bạn bè đề nghị hát
Anh giọng ấm buồn êm
Bài Một Chuyến Bay Đêm
Cuối phần điệp khúc tặng
Người con gái mới quen
Rồi anh nhìn em nói
Đang mua được nụ cười
Theo hoài theo chuyến bay
Anh là Đường Minh Đế
Em được làm ái khanh
Anh vua thăm tinh cầu
Em được là giai nhân
Chuyện đời nghe người kể

Khi còn trong trường Luật
Những ngày xuân đầu năm
Giặc tràn về thành phố
Vào một đêm không trăng
Bắt cha đi chôn sống
Bởi lũ người ác tâm
Niềm đau còn hụt hẩng
Giặc pháo kích vào nhà
Mẹ và chị tan xác
Thù riêng vẫn còn gần
Hận nước đâu đã xa
Mỗi lần trời nghiêng ngã
Cánh thép gầm xé mây
Mỗi lần trời nghiêng ngã
Cánh thép quần hăng say

Anh giờ vào lòng quê
Hay thân là cát bụi
Con tàu còn bay mãi
Tinh cầu lỗi hẹn về
Hay lưu lạc ngàn phương
Để mắt em tím buồn
Bởi trời còn giông bão
Cánh thép cũng ngừng bay
Em giờ buồn ngồi đây
Nhìn theo cánh nhạn gầy
Thèm nghe một bài hát
Kỷ niệm xưa còn quen


Bài Một Chuyến Bay Đêm
Người lính Không Quân buồn
Có biết em mơ luôn
Vai gầy bên cánh thép



TeaLan 26B





1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 10/20/2011(UTC)
xuan hoang
#166 Posted : Wednesday, October 19, 2011 5:05:49 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702
Points: 2,148

Thanks: 376 times
Was thanked: 192 time(s) in 137 post(s)


Cám Ơn Anh














Users browsing this topic
Guest
33 Pages«<678910>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.